Cái chết của Đại giám mục Darboy đã gióng lên hồi chuông báo tử cho toàn bộ Công xã Paris. Khi tin tức này lan truyền, cả châu Âu đều chấn động!
Dù sao đây cũng là cuối thế kỷ mười chín, nhân loại vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi sự ràng buộc của tôn giáo, và các quốc gia vẫn đang được cai trị bởi những vương triều tôn trọng Chúa. Mặc dù thế giới Cơ Đốc giáo đã tan đàn xẻ nghé, dù cho Tin Lành, Chính Thống giáo và Công giáo vốn chẳng ưa gì nhau, thậm chí còn nổ ra những cuộc chiến tranh tôn giáo, nhưng dù thế nào đi nữa, phẩm vị của Darboy vẫn quá cao quý. Ông là Đại giám mục của giáo khu Pháp, người có uy tín cao nhất trong toàn bộ giới Công giáo Pháp.
Một nhân vật như vậy mà nói giết là giết, khiến toàn thể tín đồ Cơ Đốc trên thế giới bàng hoàng, danh tiếng của Công xã Paris lập tức sụp đổ!
Khi Thiers nhận được tin này, ông ta đã ngồi liệt trên ghế suốt nửa tiếng đồng hồ không nói nên lời. Ông ta chợt nhận ra mình đã phạm phải một sai lầm tày đình. Tính toán đủ đường nhưng lại không ngờ rằng đám người này thực sự dám giết một vị Đại giám mục có uy tín lớn như vậy. Vốn tưởng rằng lũ điên này giết vài sĩ quan, quý tộc, tư bản là cùng, ai ngờ lại dám giết cả Darboy?
Đó là vị giám mục mặc áo tím, chưa kể còn có năm vị Hồng y giám mục khác cũng bị xử bắn!
Thế này thì biết ăn nói thế nào với Tòa thánh, biết giải thích ra sao với những tín đồ Công giáo trên toàn nước Pháp? Phải biết rằng trước đó chính ông ta đã từ chối yêu cầu trao đổi con tin. Vốn tưởng Darboy cùng lắm chỉ chịu chút khổ sở, bị giam trong ngục một thời gian, cuối cùng quân chính phủ cứu ông ra là mọi chuyện đều vui vẻ. Không ngờ họ lại dám xử bắn thật!
Giờ đây, hành động từ chối trao đổi người của ông ta sẽ khiến các tín đồ Công giáo trên toàn thế giới nhìn nhận mình như thế nào đây?
"Báo thù! Phải báo thù cho Đại giám mục! Tắm máu Paris... giết sạch đám khốn đó... đi bảo MacMahon, báo thù cho Đại giám mục!"
Chẳng cần Tổng thống phải gào thét, MacMahon lúc này cũng đã biết tin chấn động đó. Những điệp viên của phái Bảo hoàng ẩn mình sâu trong lòng địch đã truyền tin tức về quá trình tử vì đạo của Đại giám mục ra ngoài.
Nguyên soái MacMahon vô cùng căm phẫn, ông đích thân đi đến tiền tuyến, bất chấp nguy hiểm từ đạn lạc của kẻ thù để khích lệ tinh thần binh sĩ.
"Các con! Lũ bạo đồ đã giết hại Đại giám mục Darboy, chúng không chỉ phản bội nước Pháp mà cuối cùng còn phản bội cả Chúa!"
"Hành vi như vậy khiến người phẫn nộ, thần cũng chẳng dung! Ngoài việc báo thù, chúng ta không còn lựa chọn nào khác..."
"Từ giây phút này, từ chối mọi sự đầu hàng của lũ vũ trang, tất cả những tên bạo đồ cầm vũ khí tấn công... giết không tha!"
"Raoul Rigault chính là tên đao phủ sát hại Đại giám mục, cái đầu của hắn trị giá mười vạn franc, đi chém đi! Các con... hãy báo thù cho Đại giám mục!"
Những lời lẽ hùng hồn đầy khí thế đã khích lệ toàn bộ binh sĩ. Họ hô vang khẩu hiệu báo thù, hàng vạn người tập hợp lại cùng nhau tấn công vào các chướng ngại vật trên phố ở Paris.
Cuộc chiến đến nước này đã hoàn toàn hỗn loạn. Binh sĩ chiến đấu dựa vào kinh nghiệm bản thân, chẳng tướng lĩnh nào còn thiết lập kế hoạch gì nữa. Paris nằm dưới chân, kẻ địch ẩn nấp trong đống đổ nát, cứ thế qua lại chém giết, giống như sàng lọc từng đợt để lôi những tên bạo đồ ẩn nấp ra mà giết sạch.
Thà giết lầm còn hơn bỏ sót, đó là chiến lược duy nhất của quân chính phủ!
Điều mà MacMahon và thuộc hạ phải làm là đích thân đến tiền tuyến, bất chấp nguy hiểm để cổ vũ tinh thần cho binh sĩ. Năm xưa ở Crimea, Nguyên soái từng đứng ở hàng ngũ đầu tiên, hứng chịu làn mưa đạn của quân Nga để dẫn đầu xông lên, dẫn dắt anh em tiến công! Những cựu binh này vô cùng kính phục Nguyên soái. Hôm nay, cảnh tượng quen thuộc đó lại tái hiện, không một binh sĩ nào lười biếng, tất cả đều bộc lộ dũng khí như khi huyết chiến với quân Nga năm nào để tàn sát những cư dân Paris này.
Tiếng súng, tiếng kêu thảm thiết, tiếng cầu xin... thậm chí cả tiếng khóc lóc vọng ra từ mỗi đống đổ nát. Không chỉ Vệ binh Quốc gia cầm súng bị tàn sát, mà rất nhiều dân thường vô tội cũng bị cướp bóc, cưỡng hiếp và giết hại.
Sống sót thật quá gian nan, đó là tiếng lòng chung của Eugene và Andrew!
Nếu Tiêu Lạc Thiên biết Eugene và Andrew lúc này vẫn còn ở trong thành Paris, chắc chắn ông sẽ mắng nhiếc hai kẻ này là đồ ngu xuẩn hết thuốc chữa. Hai tay buôn cổ vật này nhờ giúp Tiêu Lạc Thiên thu gom đồ cổ ở Paris mà kiếm được một khoản tiền chiến tranh khổng lồ, số tiền đó đủ để họ trở thành những thương nhân hàng đầu nước Pháp, từ đó về sau sống cuộc đời nhung lụa, chỉ riêng tiền lãi ngân hàng thôi cũng tiêu không hết.
Thực tế, việc buôn lậu cổ vật kéo dài cho đến trước khi đại quân của MacMahon tiến vào. Trong suốt thời gian nội chiến ở Paris, hai tay buôn này vẫn đang hốt bạc. Sau đó, quân đoàn cựu binh tinh nhuệ của MacMahon trở về, Tiêu Lạc Thiên lập tức ra lệnh dừng mọi giao dịch buôn lậu vì quá nguy hiểm.
Ai cũng nghĩ Eugene và Andrew đã rời khỏi Paris đến thành phố khác để hưởng phúc, nhưng không ngờ hai kẻ tham tiền này vì bốn hòm vàng mà lén lút quay lại.
Dưới hầm của tiệm cầm đồ nhà họ còn một không gian bí mật, bên trong chứa những báu vật quý giá nhất và số vàng dùng để mua cổ vật. Đủ bốn hòm vàng được giấu ở đó, hai người lén quay lại chỉ vì muốn đổi chỗ giấu vàng, dù sao tiệm cầm đồ của họ cũng đã trở thành tiêu điểm chú ý của nhiều thế lực. Một khi tình hình có biến, rất có thể kẻ địch sẽ lục soát kỹ lưỡng, dù ngăn bí mật có kín đáo đến đâu thì nếu tìm kỹ cũng không khó phát hiện.
Hai người quả thực đã giấu vàng xong, nhưng khi quay đầu lại thì không thể ra ngoài được nữa!
Quân đoàn cựu binh của MacMahon không phải hạng xoàng, một khi đã phát động tổng tấn công thì dữ dội như bão táp mưa sa, không ngừng nghỉ! Tất cả các khu phố ở Paris đều biến thành chiến trường, không thể đi ra khỏi bất kỳ con phố nào. Eugene và Andrew bị nhốt chặt trong cao điểm Montmartre.
Hai người trơ mắt nhìn hai phe giao chiến ngày càng tàn bạo, thậm chí Công xã Paris cũng bắt đầu giết người vô tội. Thân phận của họ đặc biệt như vậy, nếu rơi vào tay Raoul Rigault thì chẳng phải chắc chắn sẽ chết sao?
Cả hai mang theo lượng lớn tiền vàng, bắt đầu lén lút hối lộ một số cư dân, ngày ngày ẩn nấp trong những đống đổ nát khác nhau, khổ sở chờ đợi cuộc chiến kết thúc như những con chuột trong cống rãnh.
Những ngày tháng khốn khổ này dường như không có hồi kết. Trốn trong đống gạch vụn, có khi cả ngày không được ăn, không được uống, cũng chẳng thể đại tiểu tiện, người ngợm hôi hám. Ban đêm ngủ cũng phải liên tục đổi chỗ, ngay cả ngáy cũng không dám. Hai người chỉ có thể một người ngủ, một người canh gác, hễ phát hiện đối phương ngáy là lập tức bịt miệng lại.
Ăn uống thì càng đừng mơ tưởng, bắt được hai con chuột ăn thịt sống đã là xa xỉ. Tiền vàng trong túi dù có nhưng biết tiêu cho ai? Chỉ khi gặp gương mặt quen thuộc, người đáng tin cậy mới dám bỏ giá cao mua lấy một hai miếng bánh mì đen.
Cứ khổ sở chịu đựng như vậy... họ đã đợi được sự can thiệp của Hoa tộc, họ đã nhìn thấy khí cầu Zeppelin bay trên bầu trời, và cũng nhìn thấy hy vọng được sống tiếp.
"Chúng ta không thể tiếp tục trốn thế này được nữa, nếu không sẽ chết đói mất... chỉ còn cách đánh cược một phen thôi..."
"Anh có nhận ra không, việc khí cầu cứu người cũng có quy luật, họ sẽ cố gắng bao phủ mỗi khu phố. Nghĩa là những khu phố chưa từng có khí cầu ghé qua thì khả năng được lên khí cầu lại càng lớn..."
"Từ chỗ chúng ta, đi về phía đông qua hai khu phố... tôi cảm thấy ở đó có thể đợi được khí cầu!"
"Được... cứ làm thế đi, chúng ta không thể cứ thế chết đói được..."