Từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX là giai đoạn quan trọng chuyển giao từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất sang lần thứ hai. Trong thời kỳ này, các loại hình công nghệ mới mọc lên như nấm sau mưa, chính sự bùng nổ của khoa học kỹ thuật đã mở ra một chương mới cho bánh xe thời đại.
Người ngoài nghề xem náo nhiệt, người trong nghề mới hiểu quy luật. Sự bùng nổ công nghệ—thứ vinh quang hiếm thấy trong lịch sử nhân loại—không phải tự nhiên mà có, mà chắc chắn đã được gieo hạt từ hàng chục năm trước, để rồi gặp thời cơ mà bén rễ, nảy mầm và phát triển mạnh mẽ.
Gladstone không thể thấu thị lịch sử, nhưng Tiêu Lạc Thiên thì có thể. Ông hiểu rất rõ rằng vài chục năm sau, tức là thời kỳ Thế chiến thứ nhất, vị thế quốc gia dẫn đầu về công nghệ của Anh quốc đã không còn giữ vững được nữa.
Xu hướng này kéo dài đến tận sau Thế chiến thứ hai, và chính sau cuộc chiến đó, Hoa Kỳ đã thiết lập sự thống trị tuyệt đối với tư cách là trung tâm công nghệ toàn cầu.
Mặc dù trong thời gian diễn ra Thế chiến I và II, Anh quốc vẫn đội chiếc mũ cường quốc số một thế giới, nhưng thực chất họ đã bắt đầu "ăn mày dĩ vãng". Quốc gia có năng suất cao nhất lúc đó không phải là họ, mà là Đức và Mỹ.
Mỹ trở thành cường quốc công nghệ nhờ ưu thế độc nhất vô nhị của mình. Nhờ vị thế địa lý, họ có thể duy trì chính sách cô lập trong thời gian dài. Sự hòa bình lâu dài cùng lãnh thổ rộng lớn đã cho họ thời gian và không gian để "luyện nội công".
Vô số nhân tài nhập cư vào Mỹ vì chiến loạn và nghèo đói, cộng thêm việc phổ cập giáo dục bắt buộc trong nước, đã giúp Mỹ tích lũy được một đội ngũ nhân viên nghiên cứu khoa học hùng hậu. Đây chính là lý do họ đứng đầu ngọn sóng trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ hai.
Thế nhưng, Mỹ lúc đó so với Đức vẫn còn một khoảng cách khá xa. Máy phát điện thực dụng đầu tiên trên thế giới là do người Đức Siemens phát minh, động cơ đốt trong bốn kỳ đầu tiên cũng do người Đức Otto phát minh. Những công nghệ đại diện cho cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ hai như điện lực và động cơ đốt trong đều do người Đức tạo ra.
Chưa kể Đức còn sở hữu khả năng vượt trội đáng kinh ngạc. Rất nhiều công nghệ do các quốc gia khác khởi xướng, khi vào tay họ đều có thể được nâng cấp, cải tiến để trở nên thực dụng hơn.
Có thể nói, trong thời kỳ Cách mạng công nghiệp lần thứ hai, Đức và Mỹ là hai đầu tàu chạy song song, còn Anh quốc đã tụt xuống vị trí thứ ba, thứ tư, hào quang không còn nữa.
Đó mới chỉ là giai đoạn trước và sau Thế chiến thứ nhất. Nếu tính thêm những loại "công nghệ đen" mà Đức tạo ra quanh thời điểm Thế chiến thứ hai, thì càng chứng minh được trình độ khoa học kỹ thuật của dân tộc Đức thời bấy giờ.
Công nghệ tên lửa, nghiên cứu hạt nhân, động cơ phản lực... thậm chí có tin đồn họ còn nghiên cứu cả đĩa bay. Trời mới biết có phải ai đó đang cố tình bôi nhọ người Đức hay không.
Sự trỗi dậy công nghệ của Đức tuyệt đối không phải là do may mắn. Nguồn gốc của mọi công lao phải kể đến lãnh đạo tôn giáo Martin Luther. Chính ông là người đưa ra khái niệm giáo dục bắt buộc, với mong muốn người dân toàn châu Âu có thể tự đọc Kinh Thánh, trả lại quyền giải thích duy nhất của Giáo hoàng cho nhân dân.
Sự tăm tối của thời Trung Cổ thực chất đáng sợ nhất chính là sự tăm tối trong tâm hồn con người. Khi đó, Giáo hội Công giáo độc quyền, yêu cầu Kinh Thánh phải được viết bằng tiếng Latinh mỹ miều.
Thế nhưng, tiếng Latinh là hệ thống ngôn ngữ rất cổ xưa, ở châu Âu chỉ một bộ phận nhỏ học giả và các tu sĩ chuyên trách trong Giáo hội mới có thể nắm vững.
Điều này thực chất là tước đoạt quyền tự đọc Kinh Thánh của người dân. Họ buộc phải thông qua các tu sĩ mới có thể lắng nghe tiếng Chúa, từ đó củng cố sự kiểm soát của Giáo hội đối với lòng dân.
Tông phái Luther do Martin Luther sáng lập đã phá vỡ quy tắc ngầm này. Ông đề nghị dùng thứ ngôn ngữ mà mọi người đều hiểu để viết Kinh Thánh: tiếng Đức cũng được, tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga hay tiếng Trung cũng đều được.
Không chỉ vậy, ông còn đề xướng đẩy mạnh in ấn cơ khí và giáo dục bắt buộc toàn dân, nâng cao tỷ lệ biết chữ, để mỗi người dân đều có thể mua và tự đọc Kinh Thánh tại nhà.
Có thể thấy, ngay từ ngày mới ra đời, đạo Tin Lành đã có mâu thuẫn không thể hòa giải với Giáo hội. Thậm chí có thể nói, thời kỳ Phục Hưng và sự khởi đầu của thời đại lý tính chính là ngọn nến đầu tiên do đạo Tin Lành thắp lên.
Nhờ sự đề xướng của Martin Luther, các đời quốc vương Đức sau này đều rất coi trọng giáo dục dân chúng. Năm 1619, Công quốc Weimar của Đức đã ban hành sắc lệnh giáo dục bắt buộc sớm nhất thế giới. Dù việc phổ cập chưa thực sự triệt để, nhưng nó đã dẫn đầu thời đại.
Giáo dục bắt buộc phát triển đến đầu thế kỷ XIX, Phổ là quốc gia tiên phong hoàn thành giáo dục bắt buộc toàn dân theo đúng nghĩa, trẻ em từ 6 đến 12 tuổi bắt buộc phải tiếp nhận giáo dục.
Ở thời điểm đó, chính sách này quả thực là gây tốn kém tiền của, mà Phổ lúc bấy giờ không phải là quốc gia giàu có ở châu Âu, trái lại họ còn rất nghèo.
Thế nhưng, Wilhelm I từng nói, so với lợi ích lâu dài của giáo dục bắt buộc đối với dân tộc, thì chút khó khăn trước mắt này chẳng đáng là bao.
Sự tích lũy giáo dục bắt buộc qua hàng chục, thậm chí hàng trăm năm, cuối cùng đã giúp dân tộc Đức—vốn tụt hậu so với toàn thế giới—dẫn đầu cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ hai.
Dù vì hai lần can thiệp quân sự của Mỹ mà Đức không thể chiếm lấy vị trí cường quốc số một thế giới, nhưng ít nhất họ đã thành công trong việc kéo "Đế quốc mặt trời không bao giờ lặn" xuống ngựa. Điểm này đã là một kỳ tích không nhỏ.
Tiêu Lạc Thiên đương nhiên sẽ không nói chuyện quá chi tiết với Gladstone, những ký ức mang theo từ kiếp trước không thể tùy tiện phô bày. Tiêu Lạc Thiên chỉ chọn lọc những điểm có thể công khai để trình bày với đối phương.
Thế nhưng, chỉ những phân tích rời rạc ấy thôi cũng đã khiến Gladstone phải động tâm.
Tiêu Lạc Thiên tâm huyết nói: "Thực ra tôi không hoàn toàn phản đối chính sách thực dân của Benjamin. Đối với Đế quốc mặt trời không bao giờ lặn, thuộc địa quả thực là một bộ phận không thể thiếu trong toàn bộ vòng tròn kinh tế của đế quốc!"
"Nhưng ngài càng nên hiểu rằng, chúng ta phải nhìn vấn đề bằng con mắt phát triển, các thời kỳ lịch sử khác nhau phải có chính sách khác nhau để cân bằng..."
"Khi công nghệ của Anh đã dẫn trước các quốc gia khác nhiều thời đại, nội chính trong nước rất ổn định mà ở nước ngoài lại có vô số cơ hội bành trướng thuộc địa, thì nên kiên quyết thực hiện bành trướng thuộc địa..."
"Nội công đã luyện đến mức vô địch thiên hạ, thì phải chuyển sang dùng thuật bá đạo, đi chiếm lấy những thuộc địa giàu có. Chiến lược này không sai! Không sai một chút nào..."
"Thế nhưng! Khi khoảng cách công nghệ của Anh so với các dân tộc khác không còn quá rõ rệt, dân sinh trong nước đã xuất hiện nhiều mâu thuẫn, cộng thêm việc các thuộc địa trên toàn cầu đã bị chia cắt gần hết..."
"Đến lúc này, quý quốc còn cố chấp giữ khư khư chính sách bành trướng thuộc địa cũ kỹ, liệu có còn đúng đắn?"
Nhìn đôi mắt của Gladstone ngày càng sáng lên, Tiêu Lạc Thiên hiểu rằng mình đã nói trúng điểm then chốt. Thừa thắng xông lên: "Xin ngài hãy tỉnh lại đi, đừng để Benjamin tiếp tục làm hại vận mệnh quốc gia của Đại Anh Đế quốc như thế nữa!"
"Thời đại này mà còn muốn bành trướng thuộc địa? Hãy tính toán tỷ lệ chi phí đầu vào và lợi nhuận đầu ra đi!"