Thời đại Đại hàng hải thực chất là một lịch sử thuộc địa hóa toàn cầu, chỉ là con đường thuộc địa hóa thời đó vô cùng máu me và thô bạo. Những kẻ thực dân châu Âu như một đàn châu chấu tràn sang khắp thế giới, cướp đi mọi thứ có giá trị, thậm chí là cả tính mạng của những nô lệ da đen.
Vàng, bạc, bông vải, lương thực, diêm tiêu, than sắt, kim loại màu... vô số nguyên liệu thô được vận chuyển về các quốc gia mẫu quốc ở châu Âu với chi phí cực thấp, sau đó hàng loạt sản phẩm công nghiệp lại không ngừng được đổ dồn sang các thuộc địa để bán phá giá.
Đây là thời đại mà logistics đường biển lên ngôi, kẻ nào chiếm giữ được các tuyến đường hàng hải vàng, kẻ đó sở hữu nhiều tàu thuyền hơn, kẻ đó có nhiều thuộc địa hơn, thì kẻ đó nắm giữ cả thế giới.
Đối với những căn cứ cung cấp nguyên liệu thô và thị trường bán phá giá hàng hóa đó, sự thống trị của người châu Âu không nghi ngờ gì là vô cùng máu me và tàn bạo. Nhưng đối với những thuộc địa phụ trợ như Tahiti, châu Âu lại áp dụng một mô hình quản lý cực kỳ thô sơ.
Các cường quốc châu Âu thế kỷ XVIII, XIX cũng giống như quân Bát Kỳ của Mãn Thanh khi mới nhập quan Trung Nguyên, đi khắp nơi khoanh vùng cắm đất. Trên biển, hễ phát hiện một hòn đảo, một quần đảo hay thậm chí là một lục địa, bất kể trên đó có người bản địa hay không, họ cứ đánh dấu lên bản đồ rồi cắm lá cờ quốc gia mình lên trước đã.
Đó là thời đại chỉ biết cướp bóc mà không biết xây dựng. Các quần đảo trên đại dương hoặc là sở hữu nhiều tài nguyên nên trở thành thuộc địa hạng nhất, do các tổng đốc châu Âu đem quân đội đến trực tiếp cai trị. Hoặc là chiếm giữ vị trí địa lý đắc địa có thể tạo ra uy thế chiến lược cho các tuyến đường hàng hải vàng, những nơi đó sẽ trở thành thuộc địa hạng hai, nơi châu Âu đóng quân để bảo vệ các đội tàu.
Còn thuộc địa hạng ba chính là những nơi cung cấp nhu yếu phẩm đơn thuần như Tahiti. Tuy phong cảnh nơi đây tươi đẹp nhưng thời đó ngành du lịch còn lâu mới khởi sắc, nơi này lại không có vật tư quan trọng, cũng chẳng nằm gần tuyến đường hàng hải vàng, vì thế quần đảo Tahiti thuộc về những thuộc địa bị gạt ra rìa nhất của châu Âu.
Khi Tiêu Lạc Thiên đàm phán với người Pháp để đòi chủ quyền quần đảo này, vị đại sứ đàm phán thậm chí còn không nghĩ tới sự tồn tại của mảnh đất này. Cuối cùng phải lật tập bản đồ ra xem mới biết hóa ra nước Pháp vẫn còn một quần đảo như vậy ở đó.
Dùng những hòn đảo vô dụng để thay thế cho tiền bồi thường chiến phí bằng vàng bạc thực sự, trong mắt người thời bấy giờ, Pháp đã chiếm được món hời lớn, bởi lẽ quần đảo Tahiti lúc này chẳng có chút giá trị nào.
Không có tài nguyên để khai thác, không có dân số để bán phá giá hàng công nghiệp, càng không gần tuyến đường hàng hải vàng Thái Bình Dương. Thời đại này chỉ có một số ít các nhà khoa học tự nhiên, thi sĩ, họa sĩ và lữ khách châu Âu trú ngụ ở đây, ngoài ra thậm chí không có lấy một binh một tốt nào được phái đến.
Việc chuyển giao chủ quyền các quần đảo kiểu này chẳng cần phải tổ chức nghi thức gì cả. Sau khi ký kết hiệp ước tại Bắc Kinh, Lưu Cầu phái quan viên dẫn theo hàng ngàn người di cư trực tiếp đi tàu tới, đọc hiệp ước cho người châu Âu và người bản địa ở mỗi hòn đảo nghe, sau đó tháo dỡ dấu hiệu của Pháp, dựng bia đá của Lưu Cầu lên là coi như hoàn thành việc chuyển giao quyền lực.
Đợi đến khi các nước châu Âu biết tin này, mọi người cũng chỉ sửa đổi vài chữ trên bản đồ chính thức, thậm chí còn lười không muốn tái bản lại bản đồ thế giới.
Thực ra, yêu cầu chủ quyền của Tiêu Lạc Thiên đối với quần đảo Tahiti, vào thời điểm đó cũng giống như việc Mỹ mua lại Alaska, bị gọi là hai hành động ngu xuẩn nhất.
Tất cả các quốc gia đều cho rằng đây là một phi vụ lỗ vốn không có chút ý nghĩa nào, ngay cả Bismarck cũng tiếc nuối lắc đầu cho rằng Tiêu Lạc Thiên có chút hồ đồ.
Pháp có rất nhiều lãnh thổ hải ngoại, Bismarck vẫn luôn cho rằng Tiêu Lạc Thiên sẽ đi tranh giành thuộc địa của Pháp ở An Nam tức Việt Nam, nhưng vạn vạn không ngờ tới, hắn lại hướng ánh mắt về phía Thái Bình Dương. Ở thời đại đó, ý nghĩa chiến lược của Thái Bình Dương cực kỳ thấp, còn xa mới bằng Ấn Độ Dương.
Tuy nhiên, khi Hạng Anh tận mắt nhìn thấy quần đảo xinh đẹp này, tâm hồn anh đã bị chấn động sâu sắc. Chưa cần xét đến ý nghĩa địa chính trị, chỉ riêng phong cảnh này thôi đã đủ khiến người ta say đắm.
Trời xanh, mây trắng, biển biếc, cát san hô trắng mịn... gió biển dịu nhẹ, điệu múa mang phong vị ngoại lai, hải sản tươi ngon, cây dừa, ánh nắng... tất cả những thứ đó hợp lại chính là một thiên đường nhân gian.
Năm vị trưởng lão hiểu được ánh mắt của Hạng Anh, họ cười nói: "Chúng tôi đều là những kẻ lưu dân không thể sống nổi ở mẫu quốc, tay trắng không xu, lại càng chẳng có đất đai tài sản gì. Khi Đường Cô và Lưu Cầu chiêu mộ người khai phá, tất cả chúng tôi đều ôm tâm thế chín chết một sống mà đến đây..."
"Khi đó chúng tôi căn bản không biết nơi này trông như thế nào, còn tưởng là địa ngục trần gian gì đó, tưởng rằng có bao nhiêu việc khổ cực vất vả đang chờ mình làm. Nhưng không ngờ, ngoài việc chịu chút cực khổ trên đường, đến nơi rồi thì tất cả chúng tôi đều ngẩn người!"
"Chúng tôi không thể ngờ trên đời lại có thiên đường như vậy, không cần trồng trọt mà người ta vẫn có cái để ăn! Trên đảo không thiếu gì trái cây, dưới biển không thiếu gì hải sản. Tuy lúc đầu ăn không quen nhưng được cái là không mất tiền!"
"Ở đây không phân chia bốn mùa, quanh năm đều nóng bức. Mỗi ngày chỉ cần động tay một chút là có thể no bụng. Chẳng trách những người bản địa đó đều có vẻ mặt thản nhiên chẳng chút bận tâm, họ căn bản không biết thế nào là đói khát, sống như vậy chẳng phải là hưởng phúc mỗi ngày sao?"
Những lão nhân đến từ nước Thanh không thích nghi được với cuộc sống nơi đây. Trong lòng họ, xuân gieo thu hoạch đông tàng là chuyện thiên kinh địa nghĩa. Thế nhưng đến đây họ mới phát hiện, căn bản không có nhiều đất canh tác để họ cày cấy, càng không có mùa đông dài đằng đẵng cần tích trữ lương thực. Kinh nghiệm sinh tồn từ nền văn minh nông nghiệp bấy lâu nay bỗng chốc mất đi ý nghĩa.
Mọi người không thể quên ánh mắt kỳ lạ của người bản địa lần đầu tiên họ khai khẩn ruộng đồng. Trong mắt người bản địa, những người Trung Quốc này vẫn rất dễ gần, vì dù sao màu da, đôi mắt, mái tóc và khuôn mặt của hai bên cũng rất giống nhau, tự nhiên đã có một sự gần gũi.
Hơn nữa nhóm người Trung Quốc này rất văn nhã, họ không lén lút dùng vài hạt cườm thủy tinh để dụ dỗ các cô gái trong bộ lạc, cũng không dùng súng lục ép người bản địa làm việc. Hai bên không ai can thiệp vào ai, cũng chẳng có xung đột gì nghiêm trọng. Dần dần, nơi này trở thành một chốn đào nguyên trong miệng người Trung Quốc.
Một lượng nhỏ ruộng đồng cung cấp một ít gạo và rau xanh, đây không phải để chống đói, mà chỉ vì thói quen ăn uống của người Trung Quốc, thiếu đi tinh bột thì người Trung Quốc thực sự không sống nổi.
Đáng tiếc là lượng gạo ít ỏi chỉ đủ để mọi người thỉnh thoảng giải thèm, phần lớn thời gian vẫn phải dựa vào nghề chài lưới. Đi câu cá bên bờ biển, bắt cua, lái thuyền đánh cá nhỏ ra khơi, hải sản phong phú có thể khiến người Trung Quốc no bụng nhưng lại không thể lấp đầy tâm hồn họ.
Rất nhanh, một cuộc cải tạo Tahiti "mưa dầm thấm lâu" đã bắt đầu!
Chú thích: Nickname WeChat: Mã Tự Cơ Tâm Tịnh