Từ xưa đến nay, châu Âu hiếm khi có quan niệm về quê cha đất tổ như ở Trung Quốc. Bởi lẽ, kinh tế châu Âu suốt hàng ngàn năm qua đều dựa vào thương mại chứ không phải nông nghiệp; nông nghiệp chỉ là ngành song hành cùng thương mại chứ không phải là nền tảng tuyệt đối.
Thương mại cần sự lưu động, trong khi nông nghiệp lại cần sự gắn kết dân cư. Đây là hai mô hình kinh tế khác biệt, vì vậy khi hai hệ thống này cùng vận hành, tất nhiên sẽ tạo ra hai vòng tròn văn hóa khác nhau trong xã hội.
Trước thời đại Khám phá Địa lý, dù thương mại châu Âu khá phát triển nhưng vẫn chỉ khu trú ở các vùng ven biển. Kinh tế nội địa thiên về nông nghiệp, khiến chế độ phong kiến vô cùng vững chắc. Các lãnh chúa và nông dân phụ thuộc đã tạo nên những đơn vị xã hội cơ bản nhất.
Thế nhưng, tất cả đã thay đổi sau thời đại Khám phá Địa lý. Những cảng biển hải ngoại đầy rẫy huyền thoại về sự giàu sang được các nhà thám hiểm tìm thấy, những thuộc địa tràn ngập cơ hội vẫy gọi những nông dân nghèo kiết xác. Một lượng lớn dân cư bắt đầu rời bỏ quê hương để tiến ra biển lớn.
Đến lúc này mới thấy được lợi thế của nền kinh tế song hành. Do nông nghiệp không chiếm thế độc tôn, nên không xuất hiện hệ thống văn hóa bám rễ vào đất đai như Nho giáo ở Trung Quốc. Nói cách khác, không có tư tưởng nào trói buộc người châu Âu không được rời bỏ quê nhà.
Đặc biệt là đạo hiếu, thứ vốn không tồn tại ở châu Âu. Con cái đối với cha mẹ chỉ chú trọng vào tình yêu thương chứ không phải sự hiếu thuận. Tình yêu là thứ không thể định lượng, trong khi đạo hiếu lại là những quy tắc cụ thể có thể đong đếm được!
Chỉ riêng câu "Cha mẹ còn thì không đi xa" đã trói buộc đôi chân của biết bao người trẻ. Đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến Trung Quốc không thể mở ra thời đại Đại hàng hải và tiến hành mở rộng thuộc địa.
Trung Quốc không thiếu dân số, nhưng căn bản là không thể huy động được. Nguồn nhân lực cần thiết để khai phá thuộc địa lại cứ co cụm trong đại lục sống những ngày tháng bình lặng. Dựa vào chút ít dân cư ở vùng ven biển thì chẳng khác nào muối bỏ bể.
Người châu Âu không màng chuyện đạo hiếu, họ rời xa cha mẹ, thậm chí cả đời không gặp lại cũng chẳng có gánh nặng tâm lý gì quá lớn. Quan trọng nhất là chẳng ai vì hành vi đó mà lên án họ cả.
Vì thế, những người trẻ tuổi dưới đáy xã hội, những người khao khát cuộc sống tốt đẹp hơn và muốn thay đổi vận mệnh, sẽ không chút do dự mà lao mình về phía các thuộc địa xa xôi.
Chính vì lượng lớn thanh niên bắt đầu ly hương, lượng lớn vốn liếng châu Âu đổ vào các dự án thuộc địa có lợi nhuận cao hơn, nên mới dẫn đến việc kinh tế nông nghiệp tại chính quốc suy thoái trên diện rộng.
Không những không nhận được sự hỗ trợ về vốn, mà ngay cả nhân lực cơ bản cũng bắt đầu không đáp ứng nổi. Chính trong bối cảnh đó, chính phủ các nước bắt đầu thực hiện buôn bán nô lệ da đen.
Họ dùng nô lệ da đen không tốn phí và nô lệ từ những nơi khác để lấp đầy lỗ hổng thiếu hụt nhân lực nông nghiệp trong nước.
Đây là thời đại của sự hỗn loạn và điều chỉnh kinh tế kéo dài hàng trăm năm. Tư bản đang chọn hướng đi mới, thanh kiếm của nhà vua cũng hướng về những vùng đất mới, thậm chí Giáo đình còn nới lỏng sự kiểm soát ở châu Âu để truyền giáo ở những vùng đất mới.
Hỗn loạn, hỗn loạn, sự hỗn loạn vô tận! Chính trong thời kỳ đại biến động về kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự, tôn giáo... này đã thai nghén nên thời đại lính đánh thuê điên rồ nhất trong toàn bộ lịch sử châu Âu.
Thời loạn tất có miếng cơm cho kẻ cầm kiếm. Những thanh niên không kiến thức, không kỹ năng mà chỉ có sức mạnh cơ bắp, muốn sinh tồn thì chỉ có thể bán rẻ sức lực.
Thời kỳ đầu, khi ngành cướp biển phát triển mạnh mẽ, nó đã thu hút rất nhiều thanh niên như vậy. Thế nhưng, khi thời đại Đại hàng hải bước vào giai đoạn cuối, nghề cướp biển không còn dễ sống, những người này thuận lý thành chương trở thành các đội quân đánh thuê.
Họ không phải là những kẻ thổ phỉ hay phường vô lại theo nghĩa thông thường. Số phận của những người này thực chất cũng rất bi thảm. Có kẻ là hải tặc đường cùng, may mắn thoát khỏi án treo cổ nên bất đắc dĩ phải lên bờ kiếm sống.
Có kẻ là hậu duệ của nô lệ da đen, vốn chẳng có quyền lựa chọn cuộc đời, từ nhỏ đã bị chủ nô huấn luyện thành những tên tay sai trông nhà giữ cửa.
Lại có những cựu binh xuất ngũ, vì không có kỹ năng chuyên môn nên chỉ có thể dựa vào kinh nghiệm quân sự để đổi lấy miếng ăn.
Thậm chí, có người đơn giản chỉ là vật tế thần cho những cuộc chinh phạt của nhà vua. Chiến tranh bắt đầu, nhà vua mở rộng quân đội, rất nhiều thanh niên vì miếng cơm manh áo mà bước vào doanh trại.
Mười năm, tám năm sau, chiến tranh kết thúc, nhà vua bắt tay giảng hòa, kết cục duy nhất của những người lính này là bị sa thải. Thế nhưng mười năm thanh xuân đã lãng phí, họ chẳng còn biết làm gì khác nữa.
Chính vì sự đặc thù trong thành phần của lính đánh thuê, nên họ mới khác biệt với tội phạm, kẻ vô lại hay phường lưu manh thông thường. Trong thế giới ngầm của mỗi thành phố, chỉ cần có tiền là bạn có thể thuê được sát thủ, vệ sĩ và những kẻ liều mạng, nhưng những kẻ đó bạn có thể dùng chứ tuyệt đối không thể tin tưởng.
Tại sao ư? Bởi vì những kẻ đó không giống lính đánh thuê. Mỗi một người lính đánh thuê, dù trước đây xuất thân là thổ phỉ hay quân đội, họ đều đã qua huấn luyện của những tổ chức có kỷ luật nghiêm minh.
Họ từng có cảm giác thuộc về, từng có niềm kiêu hãnh của riêng mình, họ hiểu về kỷ luật và sự hy sinh cống hiến. Chỉ là vì biến động xã hội và sự trêu ngươi của số phận mới khiến họ lâm vào cảnh phải bán mạng lấy tiền.
Còn những kẻ liều mạng, sát thủ, phường vô lại trong thành phố... phần lớn đều là những kẻ lăn lộn từ đám lưu manh trẻ tuổi mà ra. Trong hệ giá trị của họ không có niềm kiêu hãnh hay quy tắc, mà chỉ đầy rẫy những mánh khóe vặt vãnh đậm mùi phố thị.
Dù bạn có đưa cho họ bao nhiêu tiền đi chăng nữa, có lẽ chỉ cần đối phương đưa nhiều hơn bạn một xu, họ sẵn sàng phản bội bạn ngay lập tức. Cho nên, tận sâu trong cốt cách, họ chỉ là một lũ vô lại ích kỷ mà thôi.
Đối diện với những nhóm người khác nhau thì phải chọn phương thức ứng phó khác nhau. Đây là đạo lý mà Tiêu Lạc Thiên luôn truyền đạt cho thuộc hạ, và Pierre cũng vô cùng tâm đắc. Ngay lúc này, anh chợt nhớ đến một vài vụ án tuyệt mật mình từng xem trong Cục Tình báo Trung ương.
Nhìn những tên lính đánh thuê trước mắt, anh bỗng nảy ra ý định muốn thử nghiệm kinh nghiệm của Nguyên thủ. Kết quả không ngờ rằng câu hỏi của anh lại khiến đám lính đánh thuê xôn xao.
Tên người da đen Bắc Phi cầm đao đầu chó ngẩn người ra một lúc, rồi biểu cảm buồn bã lắc đầu: "Thưa ông, xin đừng đùa nữa. Thị trường lính đánh thuê không có quy tắc như vậy. Chúng tôi đã nhận tiền bán mạng, chuyện tăng giá bất ngờ thì chúng tôi không làm đâu..."
"Nếu ông nghi ngờ chúng tôi sẽ rút lui vào thời khắc mấu chốt... thì đó là sự sỉ nhục đối với tác phong nghề nghiệp của chúng tôi. Nếu không tin tưởng chúng tôi, chúng tôi có thể trả lại tiền và rời đi ngay bây giờ..."
"Không, không, không!" Pierre vội xua tay: "Các anh hiểu lầm tôi rồi. Tôi không hề nghi ngờ đạo đức nghề nghiệp của các anh. Ở châu Á, chúng tôi thực sự có chính sách như vậy!"
"Ha ha, lừa quỷ à!" Một thanh niên cao gầy tay cầm khẩu Spencer, đang dùng vải bông lau chùi liên tục: "Thị trường lính đánh thuê có quy tắc của thị trường lính đánh thuê. Tôi đã thực hiện không dưới hai mươi nhiệm vụ rồi, chưa từng thấy chủ thuê nào tự nguyện tăng tiền cả!"
"Đừng nói đến chuyện chăm sóc người thân của chúng tôi, ai lại tự chuốc lấy rắc rối lớn như vậy chứ? Chưa kể đến chuyện giáo dục, tôi chưa bao giờ dám mơ tưởng mình có thể có hậu duệ... Ha ha ha!"
Trong kho hàng vang lên những tiếng cười lạnh lẽo, trong tiếng cười đầy rẫy sự bất lực của những kẻ bán mạng. Pierre hiểu được, đó là tiếng cười giễu cợt đầy tuyệt vọng đối với số phận.