Tô Lộc quốc cận đại được thành lập vào thế kỷ XV, nhưng trong các tài liệu sử học của triều Nguyên ở thế kỷ XIV đã có ghi chép về quốc gia này. Khi đó, quần đảo Tô Lộc chưa thống nhất mà do nhiều vị quốc vương cai trị.
Năm Vĩnh Lạc thứ mười lăm, Đông vương của nước này là Ba Đô Cát Bả Cáp Lạt, Tây vương Ma Cáp Lạt Sất Cát Cát Ma Đinh, cùng thê tử của Đổng vương là Ba Đô Cát Bả Lạt Bốc đã dẫn theo gia quyến và thủ lĩnh tổng cộng hơn ba trăm bốn mươi người, vượt biển triều cống, dâng biểu văn khắc vàng, hiến tặng trân châu, bảo thạch, đồi mồi cùng nhiều vật phẩm khác.
Chuyến thăm Đại Minh lần này của Tô Lộc quốc hoàn toàn nhờ vào sự thúc đẩy của công trình vĩ đại Trịnh Hòa hạ Tây Dương. Khi đó, các nước Đông Nam Á đều kinh ngạc trước quốc lực hùng mạnh của Đại Minh, nên lũ lượt phái sứ đoàn đến triều cống. Vị quốc vương Tô Lộc này lại là người nhiệt tình nhất, dứt khoát thân chinh đến tận nơi.
Minh Thành Tổ thấy kẻ này thật biết điều, lại nể mặt mình như vậy, nên đã hạ lệnh tiếp đón long trọng. Quốc vương Tô Lộc được mở mang tầm mắt, tận mắt chứng kiến thế nào là phong thái của thượng quốc.
Thế nhưng, nơi giàu sang đến mấy cũng không thể ở lại lâu, dù sao đây cũng chẳng phải nhà mình. Trên đường về nước, có lẽ vì quá luyến tiếc vinh hoa phú quý nơi đây, không đành lòng quay về hòn đảo nhiệt đới để ăn chuối, gã này liền lăn đùng ra bệnh chết tại Sơn Đông!
Sống không thể ở lại Đại Minh, chết cũng phải chết ở đây... Thủ đoạn "ăn vạ" này thật cao tay, đúng là chịu chơi!
Minh Thành Tổ vô cùng thương tiếc, hạ lệnh an táng tại chỗ. Đây chính là mộ vua Tô Lộc nổi tiếng ở Đức Châu, Sơn Đông, vẫn còn tồn tại đến tận ngày nay.
Con trai cả của vua Tô Lộc về nước kế thừa vương vị, con trai thứ và con trai thứ ba ở lại, nhập quốc tịch Đại Minh, hậu duệ đời đời nối tiếp đến tận bây giờ. Trong đó, hậu duệ của người con thứ đổi sang họ Ôn, hậu duệ người con thứ ba đổi sang họ An.
Do hậu kỳ nhà Minh thực hiện chính sách bế quan tỏa cảng, liên hệ giữa Tô Lộc quốc và Đại Minh ngày càng thưa thớt. Chính trong khoảng trống lịch sử này, thế lực phương Tây bắt đầu thâm nhập vào.
Đến thời nhà Thanh, Tô Lộc quốc ngày càng chật vật trong cuộc đối đầu với người Tây Ban Nha. Lúc này, họ bất đắc dĩ phải tìm kiếm viện trợ từ phương Bắc. Trong những năm Ung Chính và Càn Long, Tô Lộc quốc đều từng phái sứ đoàn đến Bắc Kinh cầu xin bảo hộ, nhưng đều bị từ chối.
Thậm chí vào năm Càn Long thứ mười tám, Tô Lộc quốc dâng biểu "Thỉnh phụng nạp bản đồ biểu văn", nghĩa là ngay cả thân phận phiên quốc cũng không làm nữa, trực tiếp dâng đất nhập vào Trung Quốc. Mọi đất đai, nhân khẩu đều lập sổ dâng lên Đại Thanh, mong được sát nhập vào bản đồ.
Tiếc thay, vua Càn Long cho rằng Hoa kiều đều là "Hán gian", chết không đáng tiếc, thực dân giết Hoa kiều còn có lợi cho Đại Thanh hơn. Từ đó, Tô Lộc quốc hoàn toàn tuyệt vọng, cho đến năm 1851, người Tây Ban Nha đánh hạ kinh đô Hòa Lạc, Tô Lộc quốc hoàn toàn thần phục người Tây Ban Nha. Đáng nói là, năm đó cũng chính là lúc nổ ra khởi nghĩa Kim Điền của Thái Bình Thiên Quốc!
Tô Lộc quốc đã thoát ly khỏi hệ thống phiên thuộc với Trung Quốc được hai mươi năm. Hai mươi năm không phải là quãng thời gian ngắn, đến cả người Tây Ban Nha cũng đã quên mất chuyện này. Phải biết rằng quốc vương Tô Lộc vẫn chưa bị phế truất, họ vẫn thực thi quyền cai trị trên vùng đất Tô Lộc cổ, chỉ là quan hệ phiên thuộc đã chuyển sang Tây Ban Nha.
Quốc vương Tô Lộc lúc này, xét về mặt pháp lý, thuộc về tiểu vương do vương thất Tây Ban Nha sắc phong, là một phiên quốc nhỏ dưới quyền vương quốc Tây Ban Nha.
Hai mươi năm quy thuộc liệu có thực sự xóa sạch sự thâm nhập ngàn năm của văn minh Trung Nguyên? Ý niệm này vừa hiện lên trong đầu Tổng đốc Bách Đề Lạp và Thiếu tướng Ân Mỗ, sống lưng họ đã toát mồ hôi lạnh.
"Lạy Chúa! Quả nhiên là vậy, việc dâng đất của Lan Phương Cộng hòa chính là điềm báo. Những người Trung Quốc này muốn từ Nam chí Bắc nuốt trọn Philippines và đảo Kalimantan!"
"Lạy Chúa! Thật quá kinh khủng, thực sự quá kinh khủng! Dã tâm của Tiêu Lạc Thiên quá lớn!"
Tổng đốc dùng khăn tay lau mồ hôi lia lịa, Thiếu tướng Ân Mỗ cũng cảm thấy bắp chân mình run rẩy.
Đẩy bản đồ ra, Thiếu tướng run rẩy nói: "Brunei chính là trung tâm, người Trung Quốc tập trung trọng binh ở đây là có mục đích chính trị của họ!"
"Tại sao lại điều hạm đội Lưu Cầu tập trung về Brunei? Họ muốn tích lũy lực lượng để yểm hộ lục quân từ Manila!"
"Thậm chí những người Trung Quốc này còn muốn quyết chiến với chúng ta trên biển. Lực lượng hải quân hiện tại của chúng ta quá yếu, mười hai chiến hạm chủ lực một khi bị tiêu diệt, mấy chục pháo hạm ven biển còn lại căn bản không thể chặn nổi hải quân Hoa tộc..."
"Ân Mỗ... tướng quân của ta... Trung Quốc có bao nhiêu chiến hạm? Ông còn tin tức tình báo nào không?"
Thiếu tướng Ân Mỗ lắc đầu: "Trời mới biết người Trung Quốc có bao nhiêu chiến hạm. Chúng ta căn bản không có đầu mối tình báo ở Lưu Cầu, còn người Anh và người Pháp cũng không chia sẻ với chúng ta..."
"Nhưng chắc chắn số lượng nhiều hơn chúng ta! Vì mấy năm nay họ không ngừng mua sắm, hơn nữa trong chiến tranh họ còn bắt được một loạt chiến hạm của Pháp và Nga hoàng..."
"Trời mới biết đã sửa chữa xong chưa, chuyện này chỉ có thể cầu Chúa phù hộ!"
Ân Mỗ xoa gò má tê dại: "Giờ đã rất rõ kế hoạch của người Trung Quốc rồi. Trước tiên điều động hải quân tập kết tại Brunei, sau đó lục quân cũng bắt đầu tổ chức chỉnh biên tại đây để chuẩn bị chiến đấu!"
"Tôi không rõ người Trung Quốc có thể tổ chức bao nhiêu quân đội. Hiện tại chúng ta biết ở Brunei có hơn ba vạn quân có thể điều động, phía Bắc đảo Luzon trong tương lai ít nhất cũng phải có ba vạn tên bạo đồ!"
"Lưu Cầu có thể chi viện bao nhiêu? Nghe thương nhân Anh nói, báo chí của Hoa tộc đã đưa tin, quốc vương ở Viễn Đông xa xôi đã phái hai vạn Long Kỵ Binh!"
"Ít nhất mười vạn lục quân! Đây là con số khiêm tốn nhất... Về hải quân, tôi ước tính số lượng chiến hạm cuối cùng của Trung Quốc cũng sẽ vượt quá chúng ta, trên mười hai chiếc!"
"Tôi đang nói đến những chiến hạm lớn có thể quyết chiến trên đại dương, chứ không phải mấy chiếc pháo hạm nhỏ!"
"Tổng đốc đại nhân, thay đổi chiến lược đi, mối đe dọa lớn nhất hiện nay không phải là phương Bắc! Mà là phương Nam của chúng ta!"
Tổng đốc Bách Đề Lạp đã sợ đến ngây người, cả đời ông ta chưa từng đánh trận quy mô lớn như thế này, chưa từng trải qua bao giờ!
Mười vạn lục quân đổ bộ Manila, toàn bộ binh lực của Philippines cộng lại cũng không đủ số đó! Dù thổ dân có thể cung cấp một phần binh lực, nhưng lũ khỉ đó đánh đấm gì được? Sao có thể so với đội quân sắt của Hoa tộc, những kẻ từng đối đầu trực diện với Pháp và Nga hoàng!
"Đổi... đổi đổi đổi... tôi nghe ông tất cả, chúng ta lập tức đổi chiến lược!"
"Lạy Chúa, xin hãy cứu con. Nếu có thể giúp con bình an vượt qua kiếp nạn này, con nguyện xây một nhà thờ cảm tạ tại Manila!"
Thiếu tướng Ân Mỗ thầm thở dài: "Đế quốc thực sự suy tàn rồi, kẻ hèn nhát vô năng thế này cũng có thể làm Tổng đốc sao?"
"Kế sách hiện nay, chỉ có thể tập trung binh lực ít ỏi của chúng ta ở phía Bắc Manila để lập phòng tuyến, tạm thời từ bỏ phía Bắc đảo Luzon, tập trung bảo vệ an toàn cho Manila..."
"Sau đó... sau đó hãy để hải quân xuất kích! Tranh thủ lúc hạm đội Trung Quốc chưa tập kết xong, tấn công Brunei, giết được bao nhiêu hay bấy nhiêu..."
"Hiện tại Brunei chỉ có bốn chiến hạm của Trung Quốc, chỉ cần chúng ta hành động nhanh, ra tay trước khi sáu chiếc chiến hạm từ Hồng Kông đến, thì vẫn còn cơ hội lật ngược tình thế!"
"Hạm đội cấp tốc xuống phía Nam, tiêu diệt bốn chiến hạm ở Brunei, rồi vòng lên phía Bắc chặn đứng hạm đội chi viện của Hoa tộc trên biển Đông... Trước tiên là mười hai đánh bốn, sau đó là mười hai đánh sáu..."
"Tính thế nào chúng ta cũng thắng!"
Tổng đốc mở đôi mắt mờ mịt: "Thật sao? Ông chắc chứ? Nhất định thành công chứ?"