“ Buổi tối thái hậu Cáp Mật mời tiệc, đại bạn hẳn là không cần tham gia.” Vương Đại Dụng thấy để một tên thái giám xuất hiện ở bữa tiệc chính thức là xỉ nhục:
Vương Tiệm vuốt râu cười:” Cha gia không đi, đợi sau yến tiệc tới tẩm cung thái hậu Cáp Mật uống trà ôn chuyện cũ cũng được.”
Vương Đại Dụng nhếch mép cười nhạt, cho rằng Vương Đại Dụng nói câu ấy giữ sĩ diện thôi.
Trước khi tới Cáp Mật, Vương Đại Dụng chẳng coi cái quốc gia mới thành lập còn chẳng lớn bằng một châu phủ của Đại Tống vào đâu. Nếu không phải vì đây là ý nguyện chung của các vị tướng công trung xu, ông ta thèm vào mà tới chỗ rách nát này.
Nhưng khi vượt qua sa mạc vào địa phận Cáp Mật, Vương Đại Dụng nhanh chóng điều chỉnh vị trí và phương thức tư duy của mình.
Lúc ở sa mạc, ông ta bị quân đội kiểm tra, sau đó nhờ quốc thư mà có chỗ nghỉ chân thoải mái ở dịch trạm trong sa mạc.
Sau đó khi đi qua Đại Tuyết Sơn bị cảnh tượng thu hoạch tưng bừng nơi đó làm ông ta không dám xem thường tiểu quốc này nữa.
Chỉ bằng hai việc đấy thôi chứng tỏ Cáp Mật thực sự là quốc gia rồi, có biên phòng, có nông nghiệp, không phải quốc gia nào ông ta biết cũng làm được điều đó.
Ngồi thuyền ở Cáp Mật hà ngược dòng đi bốn ngày qua hơn hai trăm dặm đường tới được thành Cáp Mật, hai bên sông là nông điền nối tiếp, dân cư đông đúc, ngay cả Khiết Đan cũng không có cảnh tượng này.
Là người Tống mang tư duy nghìn năm nông nghiệp làm gốc, ông ta thực sự thừa nhận Cáp Mật.
Đặt chân lên bến tàu, có một đám nông phu tranh nhau tới bán hàng, nghe thấy đám người nhốn nháo dùng tiếng Hán chào hàng. Vương Đại Dụng thiếu chút nữa ứa nước mắt, ông ta đi bốn năm nghìn dặm qua Khiết Đan, ở đó không mấy người nói tiếng Hán nữa, kể cả người Hán cũng chuyển sang dùng tiếng Khiết Đan rồi, nên sao không cảm động cho được.
Vì thế dù hàng hóa rất kém, ông ta vẫn mua rất nhiều, từ mũ cỏ tới giày cỏ, rồi chiếu cỏ, cả áo tơi nữa, ngay cả mấy món đồ gia dụng nhỏ do nông phu làm cũng không bỏ qua.
Nếu không có gì bất ngờ những thứ tầm thường ấy sẽ theo ông ta về Đại Tống, thậm chí còn đặt ở giữ điện Đại Khánh.
Những đồ vật này có tác dụng hơn trăm ngàn lời nói, các tướng công đều là từ quan chăn dân lên tới trung xu, họ có thể thông qua những món đồ nhỏ để hiểu hiện trạng Cáp Mật.
Khi quan thuyền cập bờ ở cái bến tên là Hồng Liễu Loan, vừa vặn nơi đó mở chợ phiên.
Ông ta chuyên môn ra chợ, chợ thì ở Tống hay Tây Vực không khác nhiều, mọi người dựng tạm lán cỏ, tập trung lại đem thứ mình có bán đi, mua vào thứ mình cần thôi, ngạc nhiên là gặp được thuế quan.
Hai đại hán cao lớn khiêng một cái sọt, thuế quan béo ú người Tống nghênh ngang đi trước, thi thoảng đuổi theo tóm lấy tiểu phiến ý đồ bỏ trốn, bắt kẻ đó nộp thuế. Tiểu phiến tuôn một tràng tiếng Tây Vực, quan viên thì chửi lại bằng tiếng Hán, chửi nhau một hồi vô nghĩa, cực kỳ không tình nguyện ném tiền thuế vào sọt.
Cảnh này làm Vương Đại Dụng thích lắm, ông ta thậm chí theo sau thuế quan đó xem hắn thu thuế.
Một thuế quan khẩu âm Đông Kinh lại đi thu thuế ở Tây Vực, cảnh này nhìn thế nào cũng thấy thoải mái, đợi khi quan viên đó rảnh rỗi rồi mới tới báo danh và chức vụ của mình, thuế quan béo ôm Vương Đại Dụng khóc rống lên như trẻ lạc mẹ, sau đó nhất quyết kéo ông ta tới quan sở của mình.
Cách cái chợ phiên không xa có một tòa thành nhỏ, tuy thành nhỏ cũng làm bằng đá, xem ra vừa hoàn thành không lâu.
Cổng thành viết hai chữ "Thảo Quan", bút lực rắn rỏi.
“ Đó là chữ của Âu Dương tướng công, Thảo Quan mới được xây xong hai mươi ngày, bản lề cửa cũng mới, mở ra đóng vào kêu ken két, trước kia nơi này có bách tính tự phát xây thành, xây cả năm không xong, rồi lưu dân người Hồi Hột tới ...”
Thuế quan tháp tùng Vương Đại Dụng đi khắp toàn thành, chưa có gì cả, đa số các công trình vẫn đang xây dựng, dẫn ông ta tới tiểu viện tử mới hoàn thành, treo biển thuế quan, nhiệt tình nói không biết mệt:” Thành Thảo Quan là trị sở của huyện Minh Viễn, tướng công trong huyện nha cũng là người Tống chúng ta, hiện là vụ thu hoạch, đã xuống nông thôn thu lương thực, nếu không biết ngài tới, chẳng biết vui mừng thế nào.”
Vương Đại Dụng uống một ngụm trà, hài lòng nói:” Thu hoạch ở đâu cũng là đại sự, minh phủ xuống nông thôn là vất vả quốc sự, có gì mà tiếc, khi lão phu quay về bái phỏng là được.”
Thuê quan Lý Thôi gật đầu liên hồi, kích động khoe:” Khi tướng công về nước, nói không chừng không phải đi qua Khiết Đan nữa, đi qua Tây Hạ càng nhanh hơn, thoải mái hơn.”
“ Hả? Lời này là sao?”
“ Lý tướng quân và Mạnh tướng quân đã dẫn ba mươi vạn quân chinh phạt Tây Hạ, mấy ngày trước có quân báo nói đã đoạt được thành Qua Châu, nay đang hướng về Túc Châu. Đoán chừng không bao lâu nữa đả thông được Hà Tây, đến khi đó bớt tới nửa đường.”
Vương Đại Dụng hít một hơi khí lạnh, con số ba mươi vạn đại quân làm ông ta vô cùng khiếp sợ:” Thật sao?”
Lý Thôi thấy Vương Đại Dụng không tin, đảm bảo:” Quân lương một doanh trong số đó do huyện Minh Viễn lo liệu nên hạ quan rõ lắm.”
Vương Đại Dụng không quan tâm chuyện binh, trực tiếp hỏi:” Nay Cáp Mật có bao nhiêu hộ?”
“ Nơi khác hạ quan không biết, riêng huyện Minh Viễn có tám nghìn bốn trăm bảy mươi lăm hộ, đó là con số mới thống kê tháng trước.”
Những lời đối thoại với thuế quan Lý Thôi được Vương Đại Dụng ghi từng câu từng chữ, không thêm thắt gì hết, đó là nội dung cho triều đình xem.
Cuối cùng cũng tới thành Cáp Mật, đó là một công trường cực lớn, một khi xây xong sẽ không thua kém gì bất kỳ tòa thành trọng yếu nào của Đại Tống, nhìn quy mô sẽ là tòa thành vài chục vạn người.
Âu Dương Tu làm việc ở công trường này, Vương Đại Dụng đi bái phỏng vị văn thần số một Đại Tống.
Đáng tiếc ông ta không gặp được Âu Dương Tu, vì vụ thu hoạch, nên Âu Dương Tu tới vựa lúa số một Cáp Mật là hồ Ba Lý Khôn rồi, chỉ có Tô Thức ở lại Cáp Mật.
Vị tài tử trứ danh của Đại Tống đã gầy gò hơn nhiều, khi gặp Vương Đại Dụng luôn mồm than vãn chuyện ăn uống ở nơi này.
Chi tiết nhỏ đó Vương Đại Dụng không ghi lại, ông ta càng chú ý chuyện Cáp Mật vương và bách tính đồng cam cộng khổ.
Quốc gia có nạn, tất nhiên là phải chịu khổ, vả lại ông ta tháy Tô Thức gầy đi trông có tinh thần hơn nhiều, an ủi qua loa vài câu rồi tới Thanh Hương thành.