Âu Dương Tu có thể thắng thắn, nhưng Thiết Tâm Nguyên không thể dốc hết gan ruột ra, không thể nói quân đội của y kỳ thực gồm hai loại, một là quân đội tuyển từ trong bách tính của Thanh Hương tộc, chính là võ sĩ Thanh Hương cốc bên cạnh y.
Loại còn lại thì y coi như lính đánh thuê, thứ quân đội này bất kể tới từ Tống, Liêu, Tây Hạ, Hồi Hột cũng được. Giờ quân đội chính quy của y còn yếu, không đánh được trận lớn, không chịu nổi tổn thất, bọn họ cần thời gian trưởng thành, trong thời gian đó chuyện đánh đông dẹp bắc sẽ do đám lính đánh thuê đảm nhận.
Đợi quân đội chính quy của y trưởng thành có thể đảm nhận trọng trách, thì lính đánh thuê không còn giá trị tồn tại nữa, nên giải tán thì giải tán, thích về nhà thì cứ về, đương nhiên nếu muốn ở lại thì y vẫn giang rộng tay chào đón, vì đó đều là người đã trải qua sinh tử huyết chiến.
Thiết Tâm Nguyên thở dài:” Tiên sinh cũng thấy rồi, xung quanh ta không thiếu người đổ máu giết địch cho ta, nhưng thiếu người có tầm nhìn như tiên sinh, giúp bách tính an cư lâu dài, nếu tiên sinh ở lại hẳn Cáp Mật, bản vương cầu mà chẳng được.”
Âu Dương Tu nói nước đôi:” Lão phu cũng rất muốn nhìn xem Cáp Mật Thanh Hương quốc của đại vương thành thế nào.”
Tới đây mọi công tác chuẩn bị coi như đã hoàn tất.
Hôm sau Trạch Mã dẫn Úy Trì Chước Chước và Úy Trì Lôi lên đường trước, làm nhiệm vụ đánh lạc hướng.
Đội ngũ của họ lớn hơn nhiều Thiết Tâm Nguyên tưởng tượng, xe hàng cùng hộ vệ kéo dài tới hơn năm dặm, y tin người Thanh Đường sẽ hài lòng với lượng hàng hóa do thương đội cực lớn của mình mang tới.
Cướp bóc thương đội là hành vi hủy hoại lớn nhất với mục nhân có kinh tế yếu ớt, có xuất có nhập mới là bình thường, một khi tiếng cướp bóc lan đi, sẽ không có thương đội nào muốn tới Thanh Đường, trừ khi là muốn biến thành Tây Vực, cướp bóc toàn thời gian duy trì giang sơn.
Đến cả cường đạo Tây Vực khi lập quốc còn biết không cướp bóc ở lãnh địa của mình nữa.
Thương đội kinh doanh ở Thanh Đường tất nhiên là phải nộp thuế, theo thông lệ của Thanh Đường, là một phần ba gia trị tổng hàng hóa.
“ Đừng để bị kẹt lại ở Thanh Đường, ta được Thiết Tam Bách và Lạp Hách Mạn báo cáo lại tên thái giám Hạt Chiên không có ý tốt với cô.” Thiết Tâm Nguyên đích thân đi dắt ngựa tới bên cạnh Trạch Mã dặn dò nàng:
Trạch Mã cười khẽ:” Đại vương đã nói hắn là thái giám, còn lo gì nữa, Trạch Mã gặp đủ loại nam nhân rồi, sẽ đối phó được thôi.”
“ Cứ cẩn thận, kẻ biến thái không suy luận theo lẽ thường được đâu.”
“ Hì hì, nếu thế ta nói mình là phi tử của ngài, Hạt Chiên không dám làm bữa.” Trạch Mã mặc nam trang thích hợp cho việc cưỡi ngựa, ngoài khoác áo choàng, đi giày cao bằng ra hươu, làm vẻ đẹp điên đảo chúng sinh lại có thêm chút anh khí hào hùng:
Thiết Tâm Nguyên cười khổ:” Nếu hết cách có thể dùng cách này, nhưng về nhớ giải thích cho vương phi, nếu không ta sẽ khó sống.”
Trạch Mã đi rồi, vung roi da phóng ngựa quát lên yêu kiều chỉ huy đội ngũ gần hai nghìn người, áo choàng bay bay mang khiến không ít trái tim non trẻ như mất nửa hồn vía.
Tô Thức nhìn theo ngẩn ngơ mãi, thời gian qua hắn tránh mặt Thiết Tâm Nguyên, bây giờ thì sán tới dò hỏi:” Tuyệt sắc giai nhân như vậy mà ngươi không thích à?”
Thiết Tâm Nguyên cảm khái:” Ta không mù, cũng không phải là thái giám, sao không thích nàng? Huống hồ nàng lại không phải nữ nhân chỉ có vẻ ngoài xinh đẹp.”
“ Vậy vì sao?”
“ Ta có lão bà rồi.”
“ Thế thì sao?” Tô Thức ngoan cố hỏi:” Một ấm trà phối với bảy tám chén trà là bình thường.”
“ Chén trà nhà ta to lắm, một chén chứa cả ấm trà.” Thiết Tâm Nguyên không phí lời thảo luận vấn đề này với tên phong lưu thành thói như Tô Thức, y còn nhiều việc phải làm:
Ngày hôm sau tới lượt Trương Thông dẫn đội ngũ tiên phong rời Trường An, năm nay mưa nhiều, quân tiên phong có trách nhiệm gặp núi mở đường, gặp sông bắc cầu.
Thiết Tâm Nguyên đợi thêm ba ngày nữa đảm bảo mọi an bài đều đạt mục đích mới lên đường.
Đứng ở ngoài thành Trường An có thể thấy được chóp nhọn hoắt của Thanh Chân tự do người Đại Thực xây dựng, một vầng trăng cong treo trên đỉnh tháp, khiến người ta sinh lòng kính ngưỡng.
Kỳ thực thân phận tháp lợi ban của y còn kha khá tác dụng, đáng tiếc Phú Bật hạ nghiêm lệnh không cho Thiết Tâm Nguyên vào thành.
Bất kỳ tôn giáo nào tới mảnh đất Hoa Hạ này đều phát sinh biến hóa kỳ diệu.
Phật giáo, Áo giáo đều như thế, còn có vô số tôn giáo lặng lẽ biến mất trên mảnh đất này.
Mảnh đất giàu có này có thể nuôi dưỡng tất cả những tôn giáo trên đời, vì thế những bậc trí giả của các tôn giáo chế định phương thức thích hợp với nơi này.
Chỉ đáng tiếc thánh giáo mà Mục Tân thờ phụng cực kỳ nghiêm khắc, không cho phép giáo nghĩa có bất kỳ sai lệch nào.
Trong Cổ Lan kinh của bọn họ có tất cả chuẩn tắc cho thành vi đạo đức, lần trước Mục Tân tới đây, bọn họ đã có cuộc tranh luận, kết thúc không vui vẻ gì, sau đó Mục Tân tiếp tục tiến về phía tây thực hiện hàng loạt vụ giết chóc.
Từ đó có thể thấy Mục Tân và toàn bộ lãnh tụ tôn giáo ở Trường An có vết nứt không thể vượt qua, điều này có thể lợi dụng, tiếc là Phú Bật hạn chế hành động của y. Giờ ở Đại Tống, y hoàn toàn là một quốc vương ngoại quốc rồi.
Người không thể vào, thư thì có thể, Thiết Tâm Nguyên dùng tiếng Ba Tư viết một bức thư thật dài, kể lại toàn bộ hành vi của Mục Tân sau khi rời Đại Tống, y viết rất thành thật, không sử dụng từ hình dung, đơn thuần thuật lại những gì mình thấy.
Trên đời này nếu nói người Thiết Tâm Nguyên hận nhất là ai, thì đó chắc chắn là Mục Tân, cũng là người y dè chừng nhất.
Khách Lạt Hãn vì sao đột nhiên phát động chiến tranh vào thời điểm không thích hợp với lý luận quân sự như thế, nếu thế chỉ có thể xuất phát từ góc độ chính trị hay tôn giáo thôi.
Rõ ràng chiến tranh vào mùa đông không phù hợp với yêu cầu chính trị, thế thì chỉ có tôn giáo, chỉ tôn giáo mới khiến quân đội bất chấp hi sinh, nối tiếp nhau xông vào chiến trường không có nhiều ý nghĩa thực tế.
Thiết Tâm Nguyên rất lo gặp phải Mục Tân trên chiến trường, ông ta còn đáng sợ hơn khả hãn Khách Lạt Hãn giết người như khóe.
Đợi hai ngày không thấy có người Thanh Chân tự tới, Thiết Tâm Nguyên không quá hi vọng kế ly gián đơn giản có hiệu quả, tin này truyền đi là tốt rồi.
Thời gian ly biệt cũng đã tới, trong tiếng chửi bới của Phú Bật, sự nuối tiếc của thương cổ Trường An, và cơn mưa mưa sướt mướt cuối xuân, Thiết Tâm Nguyên rời Kinh Triệu phủ tiến vào bình nguyên Quan Trung bao la.