Thiết Tâm Nguyên không dám xem thường hắn nữa, cẩn thận tổ chức ngôn ngữ rồi đáp: “ Nước Tống tuy hay có chiến sự ở biên cảnh, nhưng nhìn tổng thể cả nước là an lạc hòa bình, vì thế người Tống có thời gian thong thả ăn một bữa cơm, không chỉ có khách khứa làm bạn, có ca vũ để hân thưởng, âm nhạc để nghe.”
“ Người Tây Vực do bần hàn, chiến loạn liên miên, cuộc sống vất vả, bữa ăn chỉ qua loa cho xong, còn nhiều việc quan trọng hơn liên quan tới vấn đề sinh tồn, chứ không có thời gian lãng phí vào lễ nghi rườm rà của bữa ăn.”
“ Ngoài ra khi ăn uống, con người sẽ bất giác thả lỏng, tức là mất cảnh giác, tạo cơ hội cho kẻ địch lợi dụng. Không biết quý nhân có để ý không, người Tống và người Tây Vực uống nước cũng hoàn toàn khác nhau.”
A Tát Lan phẩy tay:” Nói tiếp, nói tiếp, thú vị lắm.”
“ Người Tống khi uống nước mà không có dụng cụ thường chống hai tay rồi ghé miệng vào mặt nước uống đến no thì thôi. Người Tây Vực không làm thế, mà một chân quỳ xuống, lấy tay vốc nước uống, đầu ngẩng lên, tư thế này rất dễ dàng bỏ chạy ...” Thiết Tâm Nguyên vừa nói vừa minh họa:
“ Ha ha ha, đúng là rất hay, người Tống là cừu dê, nên uống nước chẳng suy nghĩ gì, chỉ có sói mới nhìn ngang ngó dọc khi uống nước.” A Tát Lan vỗ bàn thích thú:” Người Tống, ngươi tên là gì?”
Thiết Tâm Nguyên chưa kịp trả lời thì từ cầu thang có giọng nói đậm khẩu âm Thổ Phồn vang lên:” Sư tử vương, ngài gặp đại nạn tới nơi rồi, đừng có chiêu lãm thêm những kẻ chỉ biết ăn uống hưởng thụ, lúc này phải sửa soạn quân đội, chuẩn bị chiến đấu mới đúng.”
A Tát Lan và Trạch Mã đồng loạt nhìn lên, chỉ thấy thần sư áo đen trọc đầu thong thả xuống lầu.
Mấy tên thân vệ tức thì đưa tay rút đao định cho kẻ ngông cuồng này một bài học.
“ Khoan!” A Tát Lan là người từng trải qua mưa gió rồi, nhiều năm qua hắn gặp không ít loại tự xưng là cao nhân, luôn nói những lời đáng sợ hòng gây ấn tượng với mình, vì thế ung dung nói:” Bản vương rất thích có người chỉ ra sai lầm của mình, nếu có lý, không thiếu đáp tạ, nếu không thể, đao bản vương chém vô số đầu lâu chưa mẻ đâu.”
Trạch Mã nhận ra Tát Già, chỉ là vị thần sư này nhìn thấy lúc mình không may nhất, vì thế chỉ lắng nghe mà không nói ra.
Tát Già giọng bi khổ:” Ngài hà tất phải giết người nhiều như thế, hà tất phải trừ danh Cao Xương tộc khỏi thế giới này.”
“ Có những kẻ không biết chênh lệch giữa sư tử và chó săn, chọc giận sư tử chỉ có một kết cục thôi.”
“ Vương tử sao không nghĩ, người Khiết Đan rốt cuộc sẽ quay lại Cáp Mật, ngài cho họ cái cớ tốt nhất rồi đấy.”
Con sư tử cái đi tới bên cạnh Tác Già, không ngừng ngửi qua ngửi lại, Tát Già không thề tỏ ra sợ hãi.
Thiết Tâm Nguyên rất hiểu chuyện dẫn hỏa kế rời đại sảnh, Bất Tất Mật đóng cửa lại.
Cầu vồng biến mất, chân trời rực lên nắng chiều, dưới hành lang Thiết Tâm Nguyên thay áo gai của cửa hiệu, mặc bộ trường bào màu lam, thong thả uống trà.
Bộ nho sam này do Úy Trì Chước Chước nhờ tỷ muội có tay nghề khéo nhất làm, kỹ thuật hoàng gia sao có thể kém được.
Bản thân Thiết Tâm Nguyên có tướng mạo rất xuất chúng, thế nên chỉ một ấm trà đơn giản, một bộ thanh sam, chút ráng chiều chiếu lên người, cùng phong thái điềm đạm thong thả ấy khiến y càng như hạc giữa bầy gà. Dù những hỏa kế trong cửa hiệu đều vô cùng xuất sắc, nhưng luận khí chất thua kém không chỉ một bậc.
Khi A Tát Lan bàn việc trọng đại, Trạch Mã bị đuổi ra ngoài, đang buồn chán nhìn thấy Thiết Tâm Nguyên uống trà, trái tim cảm giác như lỗi nhịp, đuổi hai người Y Tái Đặc đi theo bên cạnh, giống như thiếu nữ thẹn thùng, nấp sau cột hỏi:” Người Tống đều ưa nhìn như ngươi sao?”
Thiết Tâm Nguyên quay lại nhìn thẳng vào Trạch Mã, nở nụ cười phong độ, hơi nâng chén trà lên:” Ta là kẻ lười biếng mà thôi, người Tống lúc này làm gì có thời gian uống trà, lúa mạch ở Quan Trung đã bắt đầu thu hoạch, rau cải cũng có thể đem ép dầu, cả hoàng đế và hoàng hậu đều phải ra ruộng.”
Người này nói tiếng Tây Vực không sõi lắm, nhưng giọng lên xuống trầm bổng dễ nghe, Trạch Mã càng thêm hứng thú.” Ngươi không mời ta uống trà sao?”
“ Là không dám mời, vừa rồi con sư tử kia cứ quanh quẩn bên ta, ta sợ nó xé xác.”
“ Trước khi thành khả đôn của A Tát Lan, ta là người tự do.” Trạch Mã bước ra, ngồi xuống bên cạnh Thiết Tâm Nguyên:
Thiết Tâm Nguyên mỉm cười, rót nước trà màu vàng nhạt vào chiếc cốc sứ trắng, làm động tác mời rồi tiếp tục ngắm ráng chiều.
“ Hình như ta gặp ngươi ở đâu rồi.” Trạch Mã hai tay cầm chén trà đưa lên môi nhấp khẽ, mắt nhìn y không chớp:
Thiết Tâm Nguyên kiêu ngạo nói:” Rất nhiều thiếu nữ từng nói câu đó.”
Trạch Mã bật cười khúc khích:” Ngươi có rất nhiều nữ nhân sao?”
Thiết Tâm Nguyên mỉm cười nhẹ:” Vì quá được các vị tiểu thư hoan nghênh, nên ta mới phải trốn tới sa mạc.”
Trạch Mã lần nửa cười như chuông bạc, hứng thú ngả người tới:” Sự thực là gì?”
Thiết Tâm Nguyên thở dài, ánh mắt đượm buồn xa xăm, giọng chán chường:” Nhà ta vốn mở cửa hiệu ở Đông Kinh, Bánh canh Thất ca không ai không biết, hai mẹ con ta nương tựa nhau mà sống, vô cùng vui vẻ. Một ngày có nữ khách tới hiệu, nhìn nàng một cái là ta biết mình xong rồi, nên nghĩ mọi cách lấy lòng nàng.”
“ Mất nửa năm liên tục cuối cùng cũng cùng nàng hưởng trọn giấc xuân, chỉ là khi đó nàng ấy lại nói mình là ngoại thất của Hạ Tủng. Chuyện bại lộ, mẹ ta thu thập tế nhuyễn trong đêm, bảo ta chạy càng xa càng tốt, sau đó ta gặp đội lạc đà, đi theo họ tới được Cáp Mật.”
Trạch Mã ôm bụng cười, cười chảy nước mắt, danh tiếng "Hạ Tủng chưa từng tủng" truyền tới sa mạc, người Tây Hạ còn đưa vào ca hát truyền nhau.
(*) Tủng ở đây là nhấc lên.
Thiết Tâm Nguyên nhún vai:” Ta biết cô không tin mà.”
Trác Mã lau nước mắt:” Thế nên ngươi tránh ta thật xa phải không?”
Thiết Tâm Nguyên thở dài: “ Cô có dung mạo khiến người khác phạm sai lầm, may ta đã bị thua thiệt một lần, không muốn dẫm vào vết xe đổ, nếu lần này đắc tội với Sư tử vương chỉ còn đường chạy tới tận cùng phía tây không người ở thôi.”