Thiết Tâm Nguyên bản tính vốn là kiểu người sống qua loa, gặp chuyện lớn nhỏ gì chỉ tặc lưỡi sao cũng được, vì y sống cô độc, đi tới đâu thì nơi đó là nhà.
Sau khi tới Đại Tống, nhà với y mà nói có khác biệt rất lớn, nó có thêm nhiều sợi tơ quấn lấy tâm linh của y, vấn đề trực tiếp nhất là, mình đi rồi thì mẹ làm sao? Triệu Uyển làm sao? Con hồ ly không biết đi săn chết đói thì sao?
Chỉ ba sợi tơ vô hình đó đủ trói chặt Thiết Tâm Nguyên ở Đông Kinh, chẳng làm gì nổi.
Nhưng Thiết Tâm Nguyên thích sự trói buộc đó.
Nhắm rượu hát ca, nhân sinh mấy ngả, có vẻ tự do tự tại lắm, chỉ đến khi đêm dài đằng đẵng, chỉ biết mượn chén rượu để xua đi u buồn, nhưng rượu vào dạ buồn càng buồn thêm, lúc đó đa phần làm ra những chuyện ngu xuẩn. Những chuyện đó Thiết Tâm Nguyên trải qua rồi, nên trên đời luôn có người nhớ tới mình, có người để mình nhung nhớ, với y mà nói là hạnh phúc lớn nhất.
Suốt hơn năm trời chỉ có thể gửi tin một chiều tới Đại Tống, rồi sau khi Hứa Đông Thăng mất tích, sợi dây liên hệ mỏng manh cũng đứt. Úy Trì Lôi đi Thanh Đường là để thiết lập lại kênh thông tin này, ai ngờ ông ta truyền ngay tới một tin choáng váng, mẹ đã vào hoang mạc, thế là mỗi ngày Thiết Tâm Nguyên lòng cồn cào đứng ở tường thành Thanh Hương cốc nhìn về phía mẹ đang tới, đôi khi nhìn suốt cả một ngày.
Nếu như chẳng phải bây giờ Cáp Mật toàn loạn quân, bại quân, chúng đang đi khắp nơi tìm người để giết để cướp thì y đã chạy đi đón mẹ rồi, dù vậy Thiết Tứ đã dẫn toàn bộ tinh nhuệ nhất từ số mười một tới hai trăm chín chín đi đón mẹ cho y.
“ A Sử Na Triết Bạng đã chiến tử, bộ tộc của ông ta tới xin thu nạp.” Úy Trì Chước Chước rất cẩn thận nhìn sắc mặt Thiết Tâm Nguyên rồi mới nói:
Thiết Tâm Nguyên thu hồi ánh mắt lại, giọng nguy hiểm:” Làm sao bọn họ biết Thanh Hương cốc?”
“ A Sử Na Triết Bạng trước khi dẫn người đi đã tìm kiếm vị trí của chúng ta, ông ta biết trước kia có bộ tộc sống ở sơn cốc này, giờ không cách nào tới gần được nên đoán ra chúng ta ở Thanh Hương cốc. Ông không tiết lộ ra ngoài, chỉ bảo với lão bà, nếu ông ta chiến tử, đem nữ nhân trẻ nhỏ trong tộc tới đây.”
“ Nói cách khác nếu chúng ta không tiếp nhận, thì chuyện ở Thanh Hương cốc sẽ truyền khắp sa mạc?”
Ánh mắt lóe lên trong phút chốc của Thiết Tâm Nguyên làm Úy Trì Chước Chước sợ hãi:” Hẳn, hẳn là thế.”
“ Hừm, nam nhân trong tộc ông ta hẳn là chết hết rồi, nếu không đã chẳng ngang nhiên uy hiếp ta như thế.”
“ Kỳ thực những người đó rất đáng thương ...” Úy Trí Chước Chước nói được một nửa vội ngậm miệng:
“ Nếu thế thì cô đi bố trí cho họ, nhưng nhớ, những nữ nhân không có nam nhân thì mau chóng phân phối cho nam nhân độc thân ở sơn cốc, kể cả lão bà của A Sử Na Triết Bạng, không ngoại lệ.”
Thiết Tâm Nguyên nói xong tiếp tục nhìn về phương xa, một lúc sau không thấy tiếng Úy Trì Chước Chước rồi đi, lạnh nhạt nói thêm:” Bây giờ yêu cầu bức thiết nhất của chúng ta là đồng hóa người dị tộc vào Thiết tộc, tăng cường thực lực của mình, nếu không dù có tính cả vương tộc Vu Điền cô, người của chúng ta còn chưa tới một vạn, chút nhân thủ như thế chẳng đáng kể ở Tây Vực, sóng gió lớn một chút là lật thuyền người chết.”
“ Cô thử nghĩ nếu A Sử Na Triết Bạng không chết, bây giờ ông ta sẽ uy hiếp chúng ta thế nào? Ông ta cũng như vô số tộc trưởng, đầu nhân ở nơi này, lợi dụng nguy cơ trói buộc người khác dưới tay mình thôi.”
Úy Trì Chước Chước dè dặt nói:” Tộc trưởng, Chước Chước biết nói đỡ cho tộc nhân của A Sử Na là không thỏa đáng, không có ý từ gì khác, chỉ mong tộc trưởng có thể khác những tộc trưởng khác, sau khi thắng lợi, có thể thêm chút nhân từ.”
Nói xong cúi đầu một cái rồi chạy mất.
….. ……
Từ khi tiến vào hoang mạc, bốn phương tám hướng chỉ có gió lùa và cát đá, chẳng thấy nổi một dấu hiệu của con người chứ đừng nói là thành trì, nhưng vì thế mà thần sắc A Nhị nhẹ nhõm hơn nhiều, A Đại suốt ngày nhắm mắt ngủ say, bù lại thời gian vất vả trước đó.
“ Quý tổ Ất Tăng Công từng vẽ bức ( Tây phương tịnh thổ biến), lấy A Di Đà Phật làm trung tâm, bố cục hoạt bát, nhạc vũ huyên náo, mấy trăm người cầm cầm thất bảo liên trì xung quanh, cho dù người không hiểu Phật giáo cũng hiểu đó là bức tranh phản ánh sinh hoạt.”
“ Kỳ thực đó mới là chân ý của Phật đà vào nhân gian, lúc đó Ất Tăng Công đã tự hóa thân thành Phật đà giáo hóa tứ phương. Buồn cho quý thích Trường An chỉ biết tranh họa của ông ta ngàn vàng mà không hiểu chân ý trong đó, khiến Ất Tăng Công về sau vẽ bức nào đốt bức ấy, nhân gian không hiểu, ông ấy đành đốt cho quỷ thần xem ...”
Úy Trì Lôi rất thích trò chuyện với A Nhị, người này kiến thức mênh mông như biển cả, nhất là tri nhắc tới thư họa, ông ta kinh ngạc phát hiện người hai đầu này nắm rõ toàn bộ trường phái hội họa sau thời Ngũ Đại trong lòng bàn tay.
Chỉ là hôm nay Úy Trì Lôi tìm A Nhị là có ý khác, nửa ngày quanh co, cuối cùng không kìm được khẽ hỏi:” Nhị tiên sinh, lão phu nghe nói thủ lĩnh chưa có hôn phối nhưng cùng công chúa Đại Tống thanh mai trúc mã tình đầu ý hợp. Lão phu cũng có chất nữ bằng tuổi thủ lĩnh, người tang quốc vong mệnh không dám leo cao, dù làm thiếp thất cũng được, Nhị tiên sinh bảo nếu ta đặt vấn đề với phu nhân có quá đường đột không?”
Chuyện này A Nhị trong trả lời thẳng hỏi:” Chuyện Lý Xảo thời gian qua làm mọi người nhốn nháo ông có biết chứ?”
Úy Trì Lôi phất tay khinh bỉ:” Đám man di chẳng có lễ nghi gì, làm ra mấy chuyện hoang đường là bình thường.”
A Nhị chỉ Lý Xảo đi bên xe của Vương Nhu Hoa thủ hộ:” Chớ để lộ tâm tư này của ông ra, Trác Mã cho dù trăm ngàn điều không không phải thì cũng chắc chắn thành chính thê của Lý Xảo.”
“ Vì sao? Xin Nhị tiên sinh cho biết.”
“ Trác Mã sinh cho Lý Xảo một đôi song sinh nữ, Trương ma ma đoán định hai đứa bé đó là huyết mạch Hán gia.”
Úy Trì Lôi ngạc nhiên:” Làm sao biết được?”
A Nhị vuốt chóp mũi:” Không rõ, mẫu thân không nói, nhưng Trương ma ma xuất thân hoàng cung Đại Tống, là ma ma giáo dưỡng có phẩm cấp rất cao, lời bà ta nói hẳn có lý.”
Úy Trì Lôi “ừm” một tiếng, trong lòng đã có tính toán.