Y nhận được trọng dụng, đồng thời cũng khiêu khích một bọn giáo sĩ trong cung đình đế quốc Áo Tư Mạn đố kỵ ghen ghét rồi. Bọn giáo sĩ này thuộc về giáo hội chính thống. Từ lúc Hy Lạp cùng bán đảo Ba Nhĩ (Baltic) bị quân đội đế quốc Áo Tư Mạn chinh phục, giáo hội chính thống vẫn là một phe phái trọng yếu nhất trong cung đình đế quốc Áo Tư Mạn, cũng được hưởng địa vị đặc quyền.
Những giáo sĩ chính giáo này vô cùng bài xích giáo sĩ giáo hội Thiên Chúa Tây Âu, nhận thấy người đế quốc Áo Tư Mạn trọng dụng Lộ Dịch như thế hiển nhiên y sẽ trở thành đối tượng bị bọn họ khích bác và bài xích rồi. Tuy rằng Lộ Dịch cũng mấy lần tỏ thái độ mình không phải là đến đây để truyền giáo, hơn nữa cũng không quan tâm đến khác biệt giữa chính giáo và Thiên Chúa Giáo, hơn nữa còn nói to mình quy y chính giáo thậm chí là Đạo Hồi. Nhưng như thế vẫn là vô dụng, y nhanh chóng mất đi niềm tin kiến cố lúc ban đầu, cuối cùng được cử đến vùng duyên hải Hy Lạp làm đốc công phụ trách việc tạo tàu chiến. Thời khắc y rời khỏi Quân Sĩ Thản Đình Bảo kia là y đã biết hết thảy những thứ y muốn lấy đều đã hóa thành bọt biển cả rồi.
Cuộc sống ở bờ biển buồn chán vô vị vô cùng, nhàm chán đến mức khiến Lộ Dịch suýt quên mất giấc mộng ban đầu của mình là gì.
Trong những lúc hy vọng những đại thần đổi ý, y đã vô số lần ngồi trên bờ cát bên cạnh bờ biển Ái Cầm (Aegean) bồi hồi. Gió lười biếng mang theo một ít cát và một chút mùi tanh của biển cả thổi nhẹ lên trên mặt y, khiến y chỉ muốn ở dưới bầu trời xanh này nhanh chóng ngủ một giấc. Ở chỗ này mà không cảm nhận được loại tình cảnh của hạnh phúc, cũng sẽ lãnh hội, loại bỏ dã tâm và những lo lắng trăn trở, sau đó hưởng niềm vui của đời yên tĩnh không ham danh lợi. Trong làn không khí và tiếng sóng ấy toát lên giấc mộng đẹp. Bờ cát như đang thì thầm, thi thoảng sầu muộn, chốc chốc lại hoan hỉ, lúc ánh vàng lập lòe, tức thì ảm đạm tối tăm, nhưng lại không cách nào khiến Lộ Dịch thấy đồng cảm.
Vào đầu năm thứ ba tới nơi này, Lộ Dịch cuối cùng cũng hiểu được rằng những đại thần kia không có khả năng thay đổi thái độ rồi, giấc mộng của y không còn có khả năng thực hiện ở đế quốc Áo Tư Mạn rồi. Vào một buổi chiều, nhìn ánh mặt trời chìm dần vào lòng biển và rạng mây khắp trời, y bất đắc dĩ phát hiện ra, y ở đế quốc Áo Tư Mạn này đã không còn ngày nổi danh rồi.
Y gọi người hầu của mình lại, nói người đó sửa soạn ít hành trang cho mình. Vào một buồi chiều nào đó, y mang theo một ít tiền của không nhiều lắm, Lộ Dịch và người hầu im lặng rời bờ biển này, nghênh đón một cuộc đời mới đang đón chào.
Sau khi cẩn thận đo lường được tình hình của bản thân, Lộ Dịch cảm thấy ở đất liền Châu Âu đã không còn cơ hội để mình trở nên nổi bật, vì thế y phóng tầm mắt xa hơn ra ngoài Châu Âu, y lại tính đi Châu Mỹ.
Sau khi đưa ra quyết định này, y lập tức vét hết tiền bạc của mình, sau đó mang theo người hầu lên đường. Nhà thám hiểm khí khái ngụy trang mình thành một thầy tu truyền giáo. Y còn ăn mặt như thể một thầy tu thực sự, cứ như thế mà chạy tới Châu Mỹ.
Lúc này Châu Mỹ đang từng bước bị người Tây Ban Nha chinh phục. Ở Mễ Tây Cơ ở Bí Lỗ, văn minh vỗn dĩ huy hoàng đều tan thành tro bụi, người dân vốn cư trú ban đầu hoặc bị tàn sát bằng hết, hoặc bị ép sửa đổi đức tin vào Thiên Chúa Giáo. Mà đòi của của đế quốc Tây Ban Nha đối với giáo sĩ truyền giáo càng ngày càng lớn. Bọn họ cần giáo sĩ để cải tạo lại tư tưởng của người dân nơi đây, cũng là thuận để mình thám hiểm.
Ở Ni Đức Lan Lộ Dịch đã từng hợp tác với quân đội Tây Ban Nha, dĩ nhiên đối với lần này không có bất kỳ vấn đề gì đáng ngại. Y vừa đến Châu Mỹ, liền bắt đầu tích cực thăm dò vùng đất quân đội Tây Ban Nha còn chưa đặt chân đến. Núi thẳm cao nguyên, hay rừng rậm nguyên thủy một chút cũng không có ngăn y lại, y không chỉ là vì tìm được con chiêng vẫn chưa được Thượng Đế cảm hóa, mà còn phải tìm số của cải chưa bị ai phát hiện ra.
Vì không tin lời đồn, y không tiếc đặt chân đến nơi rừng rậm nguy hiểm nhất, muốn làm người cuối cùng tìm được kho báu được chôn giấu. Y mang theo người hầu của mình, dấu chân đã rải khắp những nơi hẻo lánh hoang vắng trên đất Châu Mỹ rồi. Những giáo sĩ trên đất ấy đều cảm thấy tình thần truyền giáo của y thực bền bỉ.
Thế nhưng, sau khi nổ lực rất lâu, Lộ Dịch cũng không tìm được thành quả mình mong muốn. Y giống như người điên đi quanh bốn phía các di chỉ người Ấn Gia (Inca) lưu lại, muốn tìm được vàng, hoặc là tìm được vật gì đó đáng giá ở nơi đó, nhưng cuối cùng y lại thất vọng rồi. Giống như người Ấn Gia bị giết chết không còn sót một người vậy, của cải nơi này sớm đã không còn thấy bóng dáng, chỉ còn một chút dấu vết sót lại để chứng minh đã từng có một nên văn minh tồn tại ở đây.
Hơn một trăm năm xâm lược khai phá, người Tây Ban Nha nói chung đã khống chế Châu Mỹ, từng thuyền từng thuyền bạc vàng từ Châu Mỹ không ngừng chuyển đi các nơi trên thế giới, đồ vật để lại cho y khai quật ngày càng ít đi, cho dù là ruộng đất cũng sớm đã biến thành trang viên của những kẻ có tiền ở đấy.
Mấy năm thám hiểm nhưng không hề phát tài, đối với giấc mộng tiền vàng đã sớm ăn mòn lý trí của Lộ Dịch rồi. Có một lần tình cờ, y có ý đồ ngầm cướp bảo vật của một vị quan quân Tây Ban Nha, sau đó lại bị vị kia phát hiện. Trong lúc kinh hãi sợ bị đuổi giết, Lộ Dịch buộc phải bước lên một chuyến tàu rời khỏi Châu Mỹ, lên đường đi Châu Á.
Con thuyền này chở rất nhiều hành khách và một số lượng lớn bạc trắng, chạy thẳng từ Tây Ban Nha về phía thuộc địa Phi Luật Tân (Philippines) ở Châu Á.
Lúc này ở Phi Luật Tân, bởi vì cùng thương mại của Châu Á mà trở nên phồn hoa hưng thịnh, rất nhiều bạc trắng được chở từ Châu Mỹ tới đây, sau đó đổi thành gốm sứ phương Đông, tơ lụa cùng hương liệu được chuyển tới Châu Âu, hình thành một mạng lưới thương mại cực lớn. Sau khi tới Phi Luật Tân, bởi vì giấu kín lai lịch của bản thân, nên Lộ Dịch cùng bọn giáo sĩ bàn tròn Thiên Chúa giáo ở đất ấy không hợp nhau, phải bỏ ra rất nhiều công sức mới khiến bọn giáo hội trên đất ấy công nhận thân phận tu sĩ truyền giáo của mình.
Sau khi đứng vững, Lộ Dịch lại bắt đầu theo đuổi giấc mộng của mình. Bởi vì đã bị người Tây Ban Nha thống trị nhiều năm, cho nên dù Phi Luật Tân (Philippines) có giống Châu Mỹ thế nào cũng không cho một người ngoại lai như y bao nhiêu khoảng trống để phát triển, vì vậy Lộ Dịch càng không ở đất Châu Á tìm được cái gì.
Sau nhiều lần trăn trở, y đi theo một tàu buôn đến cảng Trường Khu (Nagasaki) của Nhật bản, sau đó ngụy trang thành người truyền giáo, bắt đầu sống ở Nhật, một khắc cũng không ngừng tìm kiếm có hội phát tài.
Mặc dù mới đầu y muốn tự học tiếng Nhật, nhưng rất nhanh y liền phát hiện tiếng Nhật là một ngôn ngữ cực kỳ khó học. Ngoài chữ cái của tiếng Nhật còn hỗn tạp thêm chữ Hán từ Trung Quốc truyền đến, vốn dĩ khiến người khác không biết bắt đầu làm từ chỗ nào. Vì không buông bỏ cái ý tưởng này, còn phải trà trộn vào giáo sĩ Thiên Chúa Giáo trên đất này.
Cũng may trong giáo sĩ nhiều năm truyền giáo ngang qua Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, Nhật Bản ở Bắc Cửu Châu cùng Trường Khu và những nơi khác đã có một lượng lớn giáo đồ Thiên Chúa Giáo, cũng không thiếu người học hiểu tiếng Tây Ban Nha và tiếng Latinh. Do đó Lộ Dịch cũng không gặp phải chướng ngại gì lớn, rất nhanh là có thể thành một hội với giáo đồ Thiên Chúa Giáo ở vùng đó rồi, cũng bước đầu có được tiếng nói tại đó rồi.
Vì giấc mộng phát tài của mình, cùng đại đa số giáo sĩ lúc đó đều giống nhau, Lộ Dịch cũng dùng chính nhưng kiến thức y học của mình để chuẩn bệnh mấy lần. Đánh bậy đánh bạ cũng chữa khỏi cho mấy người, trong số đó còn có cả những thương nhân bản xứ, cho nên cũng nhận được sự cảm kích của những thương nhân. Lợi dụng những ảnh hưởng mà bản thân gầy dựng được, Lộ Dịch động viên vị thương nhân kia đến mậu dịch trên biển, giúp vị thương nhân kia kiếm được một số tiền lớn, sau đó tự y cũng thu được không ít của cải.
Gã tu sĩ truyền giáo, nhà thám hiểm, này đến năm nay cũng đã bốn mươi tuổi rồi, nhưng bởi nhiều năm dãi gầu sương gió ở bên ngoài, nên thoạt nhìn càng thấy già nua hơn chút, mái tóc màu vàng kim đã bắt đầu điểm bạc rồi, trên trán cũng bắt đầu xuất hiện nếp nhăn, nhìn qua quả thực so với người năm mươi tuổi chẳng khác là bao. Bất quá là tinh thần y vẫn rất minh mẫn nhanh nhẹn, ánh mắt tràn đầy dã tâm, nếu không người khác nhìn vào sẽ nghĩ y đã già yếu tai ù mắt hoa rồi.
Trán của y tương đối rộng, sắc mặt tái nhợt, hơn nữa lúc nào cũng khoát cái áo màu đen, xứng cùng vẻ mặt nghiêm túc, thành kính lại trang nghiêm, hơn nữa còn được dân bản xứ kính trọng đã đưa đến một khoản tiền, cho nên ánh mắt của y bắt đầu trở nên trang nghiêm hơn, cả người dường như cũng được coi là khuôn mẫu của tu sĩ truyền giáo.
Thế nhưng, đang lúc Lộ Dịch nghĩ rằng lần này giấc mộng của mình rốt cục cũng trở thành hiện thực rồi, như thể là Thượng Đế cố tình ngăn y lại, tai họa mới lại bất ngờ ập đến.
Nhật Bản lúc này, đang từ thời kỳ chiến quốc chém giết rối loạn chuyển qua thời kỳ Đức Xuyên Mạc Phủ ổn định rồi, quân phiệt trong nước đang giao chiến cũng từ từ kết thúc. Nhất là vào năm một ngàn sáu trăm mười lăm, Chinh di đại tướng quân Nhật Bản Đức Xuyên Gia Khang công phá thành Đại Phản (Osaka), sau khi giết sạch những gia tộc tự phong thần tộc thống trị, Đức Xuyên Mạc Phủ từng bước thống trị vững chắc Nhật Bản.
Sau khi dùng đao kiếm thống trị Nhật Bản, Đức Xuyên Gia Khang bắt đầu tìm kiếm những cách khác để củng cố thống trị của mình, mà tư tưởng thống trị xem như rất trọng yếu, đương nhiên không có tránh được khống chế của Đức Xuyên Mạc Phủ. Vì để cũng cố tư tưởng thống trị, Đức Xuyên Gia Khang cố ý tìm đến Phật Giáo, hơn nữa bài trừ những tư tưởng Thiên Chúa Giáo truyền bá.
Hơn nữa, mặc dù Nhật Bản đã tiến vào thời kỳ tương đối hòa bình, nhưng lãnh chúa áp bức và bóc lột nông dân vẫn giống như trước kia, nông dân Nhật Bản không chịu nỗi đàn áp bắt đầu đứng lên chống lại, đồng thời xem Thiên Chúa Giáo làm nơi gửi gắm tinh thần của mình, Nhật Bản lúc đó, có nảy sinh khởi nghĩa do bọn giáo chúng Thiên Chúa Giáo phát động.
Mạc Phủ đương nhiên sẽ không ngồi yên, hơn nữa bọn họ cũng không cho là vì bọn họ áp bức mà dẫn đến việc nông dân nổi dậy đấu tranh, ngược lại bọn họ cho rằng chính Thiên Chúa Giáo đã làm ô uế lòng người, vì thế quyết định ban lệnh cấm Thiên Chúa Giáo truyền giáo ở trên đất Nhật Bản.
Năm một ngàn sáu trăm mười lăm, Mạc Phủ Nhật Bản ở trên đất quản hạt Mạc Phủ của mình ban bố sắc lệnh cấm, cấm không cho phép giáo sĩ Tây Dương truyền giáo, năm thứ hai liền đem pháp lệnh ban bố thi hành khắp cả nước. Đến năm một ngàn sáu trăm mười sáu, Mạc Phủ Nhật Bản càng mở rộng thêm lệnh cấm này với thương mại bên ngoài, quy định tàu thuyền của Châu Âu chỉ được là hộ dân bình thường, cặp bến hai cảng Trường Khu để giao dịch.
Là một giáo đồ Thiên Chúa Giáo, Lộ Dịch cũng bị Mạc Phủ xem như là một phần tử nguy hiểm, quan viên địa phương lập tức triệu kiến y, lệnh y không được truyền giáo ở Nhật Bản, nếu có gan làm trái thì hãy tự lo liệu cho tính mạng của mình.
Vốn Lộ Dịch cũng không bận tâm lắm tới việc truyền giáo, đương nhiên dễ dàng đáp ứng lệnh này, nhưng Mạc Phủ Nhật Bản còn ban bố chính sách hạn chế buôn bán ngoài biển, chính sách này làm cho y thống khổ không thôi. Mạc Phủ dùng đao kiếm để thúc ép, y đành cắn răng ngừng mọi việc làm của mình ở Nhật Bản, về cảng Trường Khu, tính toán lần nữa xem tiếp tục sự nghiệp của mình ở đâu.