Trung Quốc cổ đại lấy nông nghiệp lập quốc, làm nông chú trọng thời tiết, xuân trồng, hạ mọc, thu thu, đông nghỉ, tất cả đều vận hành theo thời tiết.
Sự thay đổi thời tiết thì bách tính chỉ có thể biết bằng quan sát hiện tượng tự nhiên, người có tri thức thông qua quan sát thiên tượng xác định. Đại Tống có hẳn Ti thiên giám, không phải chỉ quan sát trăng sao đoán cát hung, nhiệm vụ trọng yếu là phục vụ mùa màng nông canh.
Cáp Mật không có Ti thiên giám, may mà sở học của A Nhị bác tạp, nhìn sao trời xong, hắn liền chuẩn bị an bài bách tính xuân canh.
Nhưng thiên tượng này đúng vụ mùa ở Đại Tống, chứ tới Cáp Mật không phải rồi, nên khi A Đại cầm lê chuẩn bị xuân canh bị liền bị lão nông khinh bỉ.
Bọn họ không nói ra, ai nấy đều đợi kẻ mọc hai cái đầu bêu xấu.
Lưỡi cày xuống đất, nhưng không ăn sâu được, chỉ được nửa thước, ngựa ra sức kéo, cày được một đoạn chưa tới ba mươi bước thì rắc một cái, gãy luôn.
Đám nông dân ngoài ruộng tức thì cười rộ lên với nhau, khiến A Nhị mặt đỏ rần.
Vương Nhu Hoa hay chuyện nhi tử của mình bị bắt nạt dẫn theo Thiết nha đầu và hồ ly, được Bao Tử hộ vệ ra tới ruộng, nhìn thấy cảnh đó không nói gì, chẳng bao lâu sau một cáo thị dán ở tường phủ thành chủ, khiến rất nhiều người vây xem.
Bọn trẻ con biết chữ đọc cho người lớn ở xung quanh nghe, thì ra phủ thành chủ chuẩn bị tuyển một nông nhân biết viết chữ, hiểu cày cấy, rõ mùa vụ để làm nông quan.
Đãi ngộ cao, quyền lực lớn, chỉ cần nông quan này dẫn dắt mọi người làm ra lương thực, mỗi năm thưởng một trăm kim tệ.
Nhưng nông nhân mà cũng có thể làm quan à?
Đây trở thành một đề tài nóng hổi trong nông nhân Thanh Hương cốc.
Mọi năm Cáp Mật muốn trồng trọt đợi tuyết tan, đất mềm, thế là ai nấy ra đồng cầm gậy gỗ chọc lỗ xuống đất, thả mầm, thế là xong. Dù người làm nông nhiều năm ở Cáp Mật cũng không có thời gian trồng trọt chuẩn xác, đều dựa vào cảm tính cá nhân.
Nếu không thống nhất gieo trồng thì không thể thống nhất thu hoạch, lãng phí nhiều nhân lực.
Ở Trung Nguyên không có vấn đề này, ngạn ngữ nông canh ngàn năm tổng kết ra giải quyết một cách nhẹ nhàng, còn lịch sử nông nghiệp Cáp Mật không lâu, hơn nữa giới hạn phạm vi nhỏ bình nguyên bên sông.
Nông vụ không đợi người, thế là mười sáu nông phu có tuổi tự động đứng ra, nhận lệnh tới mười sáu mảnh đất thí nghiệm.
Sau một hồi tranh cãi, kết quả nhanh chóng đưa ra, ở Cáp Mật vì địa hình khác nhau nên không thể có thời gian trồng trọt thống nhất được.
Thế là ở bình nguyên gieo mạ trước, sau đó tới hai bờ Cáp Mật, rồi Ba Lý Khôn Hồ, cuối cùng mới tới đất đai phía dưới Đại Tuyết Sơn.
Tính cả bách tính Đại Tuyết Sơn, Thanh Hương cốc, và di dân các nơi chạy tới Cáp Mật tránh chiến tranh và đói kém thì dân số của Thanh Hương quốc đã đạt tới mười sáu vạn, bằng một trung huyện ở Đại Tống.
Do đã có kinh nghiệm trước kia ở Hoành Sơn, A Nhị không can thiệp quá nhiều vào cuộc sống di dân, cung cấp cho họ một ít nông cụ, phân cho họ ruộng đất, giúp đỡ họ lương thực vừa đủ duy trì tới khi có thu hoạch, chuyện còn lại họ tự làm.
Không ngoài dự đoán, sau khi phân phối lương thực xuống, bách tính vô cùng tự giác tích cực kiến thiết nơi ở của mình.
Vốn thành Cáp Mật chỉ vẻn vẹn xây thành quan, làm một số công trình giao thông, cơ sở thống trị, sau khi lượng lớn di dân từ nước Liêu tràn vào, chỉ hơn một tháng, bọn họ cùng nhau tự phát tổ chức hoàn thành kiến thiết tường thành.
Sau khi yên tâm có tường thành che chở, bọn họ chuyển sang làm nhà ở.
Lý Xảo dẫn ba nghìn người xây dựng tổng cộng bảy bảo lũy ở Thiên Sơn lộ, hắn tự tin tuyên bố, cho dù là một con ruồi cũng đừng hòng không nộp thuế mà bay qua được Thiên Sơn. Ngày ngày hắn cầm đao đứng trên tường thành khoái trá nhìn thương đội ngoan ngoãn nộp thuế đi qua, cảm thấy trừ không hô khẩu hiệu " đường này ta mở, cây này ta trồng", thế này không khác gì ăn cướp.
Một tòa thành thị mới xuất hiện, đại biểu cho vô vàn cơ hội mới.
Khi tin tức về Thanh Hương thành và Cáp Mật thành truyền đi bốn phương, thương nhân nô nức kéo đến, đặc biệt là người Hồi Hột bị chiến tranh uy hiếp bắt đầu đổ về Cáp Mật lánh nạn.
Cho dù giữa đêm lạnh, dòng người đi qua Thiên Sơn lộ vẫn liên miên không ngớt.
Di trú với người Tống nói riêng và người Hán nói chung là một lựa chọn gần như sinh tử, không tới lúc đường cùng thì bọn họ vẫn bám lấy quê hương, cắn răng chịu đựng sự bóc lột của người thống trị.
Còn với người Tây Vực mà nói di cư giống như chuyến lữ hành, chỉ cần có nơi tốt hơn ở sinh sống là bọn họ sẽ thu thập hành trang tới nơi ở mới.
Bởi thế tài phú mà họ mang tới cũng dư dả hơn di dân người Hán rất nhiều, chẳng cần ai giúp đỡ họ điều gì, chỉ phần phân chia cho họ một mảnh đất trong thành là đủ. Trong khi người Hán còn chạy đi xây thành, còn xây nhà để ở, người Hồi Hột dựng mỗi cái lều tạm là bắt đầu bày hàng kinh doanh kiếm tiền tưng bừng rồi.
Tốc độ của đám thương nhân Ba Tư, Hồi Hột nhanh tới mức khiến đám Lý Xảo, A Nhị đều trở tay không kịp. Chẳng mấy chốc mà thanh lâu lẫn đổ trường đã xuất hiện, kinh doanh náo nhiệt, nay trong Cáp Mật thành đã có tới mười vạn người Hồi Hột, bọn họ thậm chí tự tụ tập thành tập đoàn thế lực với thủ lĩnh có sức ảnh hưởng không nhỏ.
Thậm chí đã xảy ra một số va chạm nhỏ giữa thế lực mới thành lập nên với người Thiết tộc, dù sao người Hồi Hột mới tới, còn lạ nước lạ cái nên không tỏ ra quá cứng rắn, nhanh chóng đưa ra nhường nhịn. Thế nhưng phía sau lưng, các thủ lĩnh kia ngầm liên hợp với nhau.
Thoáng cái, người Hồi Hột thành chủng tộc có số lượng đông đảo nhất ở một dải Cáp Mật.
Thế này không ổn rồi, cứ như vậy khách đoạt chủ, Thanh Hương Cốc có nguy cơ mất quyền kiểm soát thành Cáp Mật còn đang xây dựng dang dở là rất cao.
Sau một cuộc hội nghị khẩn cấp diễn ra ở Thanh Hương cốc, đám Lý Xảo đều nhất trí cho rằng, Thiết Tâm Nguyên phải nhanh chóng trở về thôi, bọn họ ngoại từ tăng cường huấn luyện võ sĩ bảo vệ an ninh ra thì không biết phải làm gì nữa.
Cáp Mật phát triển vượt mọi kế hoạch dự đoán trước đó, nguy cơ lớn cũng đi kèm theo nó.