Thiết Tâm Nguyên nhếch mép cười, Phú Bật đã đề phòng thì y biến chiêu, trò chơi càng lúc càng thú vị, bắt tên quan thống chế kia ký tên trên văn thư là đã nhận ba nghìn ngựa giống, dùng quan ấn, sau đó ném cho hắn một bản, dẫn người của mình dẫm ánh trăng sáng bỏ đi.
Sáng hôm sau khi Phú Bật nhìn thấy ngựa hoang chạy khắp sơn cốc, mặt không hề vui vẻ gì.
Thống chế quân trại Hoàng Thổ lĩnh run run khoe khoang hôm qua mình cùng bộ hạ chiến đấu với người Hồ quyết liệt ra sao, người Hồ dũng mãnh thế nào.
“ Vậy người Hồ đâu?” Viên chủ bạ lạnh lùng cắt ngang:
“ Đánh tan rồi, bọn chúng chạy vào đêm tối, ti chức sợ ngựa bị tổn thất nên không truy kích.”
“ Chặt đầu bao nhiêu?”
Tên thống chế há mổm một lúc, trở giọng:” Người Hồ giảo hoạt, thấy quân ta thế lớn là chạy ngay.”
Phú Bật không kiên nhẫn nghe tên thống chế này phun ra những lời vô nghĩa, phất tay, hộ vệ xông tới trói nghiến lại.
Trong thư của Mật điệp ti nói rất rõ ràng, người Hồ Thiết Mộc Nhĩ đó có năm trăm mục nô và năm trăm chiến mã, đó mới là thứ Phú Bật thực sự muốn, còn ngựa hoang với ông ta là gánh nặng.
Ông ta biết ngựa hoang tốt có thể đem phối giống, thuần hóa hai ba đời sẽ có chiến mã tốt, liên tục cung cấp chiến mã cho triều đình, nhưng đó là quá trình tốn kém lâu dài, ông ta không nghĩ mình đợi được tới lúc thu hoạch.
Nhìn quan viên mã giám mừng phát điên chạy đi chạy lại sờ hết con ngựa này tới con ngựa kia, mặt Phú Bật càng thêm khó coi.
Tin tức mình được một đàn ngựa không thể che dấu, dù Phú Bật không nói, người Mật điệp ti ẩn thân xung quanh cũng bẩm báo cho triều đình.
“ Bẩm phủ doãn, chúng ta nên chuẩn bị mục trường, ở Nhạc Du Nguyên là tốt nhất, tổng cộng có ba nghìn một trăm linh ba con ngựa, trong đó ngựa đực là ...”
Phú Bật mặt lạnh tanh theo đuổi suy nghĩ riêng, không quan tâm báo cáo của quan viên mã giám.
Mắc bẫy rồi!
Một đám sương quân vô dụng đánh bại được đội ngũ võ sĩ Tây Vực hung hãn đã đáng nghi, chưa kể trong đó còn có đội ngũ mục nô.
Phú Bật nhìn quanh, chỉ nhìn thấy từng khuôn mặt mừng rỡ, không nhìn ra được ai là thám tử của Mật điệp ti.
Chưa nói tới người Mật điệp ti, đám bộ hạ dùng để chế ước mình cũng sẽ bẩm báo lên triều đình, có thể đoán ra chúng thêm hoa thêm gấm, thêm dầu thêm mỡ, đánh bại mấy chục người Tây Vực e sẽ thành cả nghìn cường đạo Tây Vực.
Ba nghìn con ngựa hoang, e thành bắt được ba nghìn chiến mã, hoặc chúng chỉ mập mờ nói là ngựa thôi cũng đủ nguy rồi.
Người vui vẻ nhất chỉ có quan viên thiếu thừa mã giám.
Trong mã giám ở Kinh Triệu phủ căn bản là không có ngựa, bao năm qua thiếu thừa chỉ bận rộn đem lừa và ngựa kéo giao phối với nhau, sản xuất ra từng đàn la cường tráng, nhưng giờ thể chất ngựa thồ càng kém, không bằng cả một con la, nên phân phối cho quân chỉ có la.
Thế nên những bức tranh quan viên Đại Tống cưỡi la chẳng thi vị, phải nói là bi kịch mới đúng.
Thân là thiếu thừa mã giám, suốt ngày đi nuôi dưỡng thứ này, hắn rất không cam tâm.
Giờ thì tốt rồi, có thêm ba nghìn ngựa hoang, chỉ cần dụng tâm, vài ba năm nữa mục trường của mình sẽ sinh ra chiến mã thực sự.
Thiếu thừa mừng hơn nữa là một khi có ngựa vào mục trường, triều đình sẽ cấp tiền lương xuống, khi đó có thể cắt xẻo ít nhiều, nghĩ tới đó tay vuốt ve ngựa càng thêm ôn nhu.
Phú Bật hạ lệnh một tiếng, rút sáu nghìn sương quân ra, mỗi con ngựa hai người chiếu cố, rầm rộ về Kinh Triệu phủ.
Tối hôm đó cắm trại, thống lĩnh sương quân Hoàng Thổ lĩnh thành quỷ xui xẻo bị Phú Bật trút giận.
Chết tới nơi rồi, viên thống chế biết mình không có chút hi vọng sống nào, càng thêm trấn định, la hét nhất định khiến Phú Bật trả giá đắt, hò hét ông ta muốn cướp công của công thần, là gian tặc triều đình.
Thân binh của Phú Bật cho rằng kẻ này dọa dẫm thôi, đến khi thống chế lấy văn thư tiếp nhận ngựa ra, Phú Bật cuống ngay, không chút do dự hạ lệnh chặt đầu, lập tức dâng tấu, xin triều đình hỏi tội sứ giá nước Vu Điền.
Bản tấu đi được nửa ngày, Phú Bật bình tĩnh lại, phái thân binh truy cản chặn tấu chương lại.
Ông ta quyết định xem tình thế rồi tính.
Khi Phú Bật đang rối bời vì đàn ngựa hoang, Thiết Tân Nguyên đã tới Thái Nguyên, tòa thành này rất mới, sông hộ thành nước trong vắt, cá bơi tung tăng, chưa bị nước bẩn sinh hoạt làm ô nhiễm, nên bên sông có nhiều người câu cá, nữ sĩ du xuân.
Gạch tường thành cũng không bám đầy rêu như Đông Kinh mang đầy vẻ cổ kính, vẫn nhìn rõ khe trét vôi trắng, nhìn xa xa giống cái giỏ trúc lớn.
Năm Thái Bình hưng quốc thứ tư, Tống Thái Tông Triệu Quang Nghĩa diệt Bắc Hán Lưu Kế Nguyên lấy Thái Nguyên làm đo thành, hoàn thành trạm cuối cùng chinh phục phương bắc.
Chỉ là trận chiến này vô cùng thảm liệt, quân Tống chết mấy vạn người, do căm hận quân dân Thái Nguyên ngoan cường kháng cự quân Tống, và danh tiếng "Long thành" của nó, nên hạ lệnh hỏa thiêu tỏa thành có hơn nghìn năm lịch sử này, ba năm sau thành mới được xây lên từ đống đổ nát.
Thái Nguyên là tòa quân thành, ở đây không có phủ doãn, chỉ có Hà Đông tiết độ sứ, quản lý Thiên Binh quân, Đại Đồng quân, Hoành Dã quân, Khả Lam quân tổng cộng binh mã lên tới năm vạn năm nghìn người.
Tiết độ sự nơi này không ai không là tâm phúc của hoàng đế.
Vị hiện nhiệm Tào Túc, tổ phụ Tào Bân, cha Tào Vi, vị đầu là chiến thần khai quốc, phong Vũ Uy quận vương, vị sau tòng quân bốn mươi năm chưa từng thất bại, được hoàng đế kính trọng, sau khi chết linh cữu không an táng, đợi hoàng đế ngự long đăng thiên cùng an táng trong hoàng lăng.
Tướng môn nhiều đời, có thể nói phong quang vô hạn.
Thiết Tâm Nguyên dẫn lượng lớn mục nô và chiến mã tới Thái Nguyên khiến Tào Túc chú ý.
Mã giám trong quân lén tới khách sạn kiểm tra, về báo không con nào không phải bảo mã, Tào Túc lệnh bộ hạ không được quấy nhiễu, không được bắt chẹt. Bất kể Thiết Tâm Nguyên bán ngựa hay làm gì trong thành cũng tạo điều kiện thuận lợi, chỉ một điều, dứt khoát không để y mang chiến mã rời thành Thái Nguyên.