- Một khi đã như vậy, nếu trường đại loạn này là chúng ta phát hiện. Sau khi diệt giặc làm loạn luận công ban thưởng, chúng ta có phải sẽ có công lớn hay không?
- Chiếu theo quy củ luận công đích thật như thế.
- Vậy chúng ta có sẽ bởi vì công lao này cất nhắc được mấy bậc, hoặc là về kinh phục chức hay không?
Mã Xung Hạo cả mặt đều hưng phấn, Mã Lục trầm mặc một lát mới chậm rãi gật đầu giọng điệu không sao nắm chắc được nói.
- Có khả năng này, nhưng quá mức mạo hiểm.
Mã Xung Hạo cười hung tợn nói.
- Sợ lung tung cái gì? Người chết rồi sợ cái gì. Chỉ cần chúng ta về được kinh sư, hoặc là tiến thêm một bước. Bận tâm nhiều như vậy làm chi. Về phần mạo hiểm, chúng ta lại không gấp gáp nhất thời, theo dõi sít sao thì được rồi. Ta cũng không tin y nhẫn nhịn được.
Sau khi Hoàng Hà hòa mình vào sông Hoài, đoạn sông xuôi về phía bắc Đại Vận Hà dần dần tắc nghẽn, tàu thuyền qua lại càng lúc càng ít, chỉ còn bảo đảm được tào thuyền tới lui, thuyền dân chúng phải xếp hàng chờ đợi.
Tào lương là việc cấp bách nhất của nước nhà, nhưng hàng hóa của người dân lưu thông các nơi nam bắc cũng không được chậm trễ. Bọn họ sẽ chọn cách tiện lợi nhanh và tối ưu nhất vận chuyển hàng hóa đi xa, kẻ có điều kiện thì ngồi tào thuyền, kẻ không điều kiện thì phải cần chỗ bốc xếp đón xe ngựa lên phía bắc.
Lúc mới ban đầu, Từ Châu chính là chỗ đổi sang ngồi xe ngựa, nhưng mở ra Ca Hà, Từ Châu lụn bại, chỗ đổi sang dùng xe ngựa cũng không có chuyển hướng sang trấn Ngung Đầu của Bi Châu, mà đi về hướng một nơi đầu mối then chốt khác là cửa sông Thanh Giang.
Phía bắc có Lâm Thanh, Tế Ninh, phía nam có Dương Châu và Thường Châu, nhưng những chỗ này địa vị trên tào vận đều không qua được cửa sông Thanh Giang, nơi này mới là chỗ hội tụ bốn phương chân chính.
Triều đình vốn ban đầu bố trí riêng Tổng đốc tào vận điều tới trú đóng ở nơi này, về sau quan chức và Tuần phủ Phượng Dương hợp lại thành một, chỗ trú đóng cũng đổi thành Thái Châu, được đổi thành nơi đặt quan thự của đại quan đặc cách cai quản bậc ấy, bản thân đã nói rõ địa vị của nó.
Cửa sông Thanh Giang kiểm soát tào vận, diêm vận, đê điều Hoàng Hà, trạm gác trên sông, dịch trạm, thuyền bè tụ tập, phố phường đông đúc, tào thuyền giương buồm nối đuôi, kéo dài liên miên mấy dặm, trên bến sông "nắng chiếu Tam Xoa Khẩu*, thuyền tụ trên ngàn chiếc", mỗi lượt qua tào vận "cột buồm như rừng, hàng chất cao như núi". Bóng thuyền che lấp mặt sông, nối liền không dứt, thương nhân thiên hạ ngồi thuyền tụ tập ở cửa sông Thanh Giang, "thuyền nam tụ tập như vảy cá, buôn bán tiện lợi hưng thịnh", "bốn phương trăm loại hàng hóa, hơn cả thời trước".
(nay là thành phố Thiên Tân)
Triệu Tiến ở Từ Châu xây dựng chợ muối, thu hút thương khách bốn phương tới lui trao đổi, dần dần hình thành mấy cái chợ, khiến cho xung quanh Hà Gia Trang vô cùng thịnh vượng, nhưng cái này so với cửa sông Thanh Giang bởi vì là nơi đầu mối của tào vận tụ tập lái buôn thiên hạ tới, đó chính là chênh lệch như đom đóm và ánh mặt trời, mặt trăng.
Bàn về phồn hoa giàu có và đông đúc, mấy chỗ Tô Châu, Thường Châu, Tùng Giang ở Giang Nam hiển nhiên nổi danh thiên hạ, nhưng Dương Châu của Giang Bắc dựa vào cái lợi của muối ăn và đường xá, chẳng chút nào kém cỏi. Cửa sông Thanh Giang này cũng như thế, dựa vào đầu mối then chốt nằm giữa tào vận, cùng với tiện lợi kho lúa trung chuyển của thiên hạ, so với các nơi Giang Nam và Dương Châu không kém lấy nửa phân.
Chiếu theo quy của của Hộ bộ "lệnh cho dân chúng Giang Tây, Hồ Quảng, Chiết Giang vận chuyển một trăm năm mươi vạn thạch lương vào kho Hoài An. Dân chúng Tô, Tùng. Ninh, Trì, Lư, An, Quảng Đức chuyển hai trăm bảy mươi tư vạn thạch lương vào kho Từ Châu". Đợi khi Vận Hà chuyển từ Từ Châu sang Bi Châu, trấn Ngung Đầu lại có khả năng tích chứa lớn như thế, lương thực tồn trữ trong kho Từ Châu này cũng đổi sang kho Hoài An.
Kho Hoài An chính là nằm ở cửa sông Thanh Giang, tên gọi trong sổ sách của quan phủ gọi là kho Thường Doanh, mặc dù hằng năm vạn chiếc thuyền tới lui chuyển đi, nhưng lương thực chứa đựng trong kho, thường có không dưới trăm vạn thạch.
Đầu mối vận chuyển trọng yếu như vậy, kho lương khổng lồ như vậy, lại càng không cần nói tới, Đại Minh còn đặt ở cửa sông Thanh Giang các trạm gác thu thuế má. Tào vận, lương thực, tiền thuế, mấy loại này đều là "nghề kiếm sống" chí mạng của Hộ bộ, dĩ nhiên phải sắp đặt quan viên trông coi riêng biệt. Phân ti Vân Nam của Hộ bộ cũng nằm ở cửa sông Thanh Giang, phân ti nơi khác chẳng qua chỉ do một gã quan thất phẩm chủ quản, nơi này lại phải đặt một Viên ngoại lang tòng ngũ phẩm.
Càng thú vị hơn chính là, số hộ dân cửa sông Thanh Giang đã xấp xỉ sáu mươi vạn, gần như chiếm mất ba phần năm số hộ dân phủ Hoài An. Thành trấn khổng lồ như thế, trên danh nghĩa quan phủ chỉ là một ngôi chợ bên trong địa phận huyện Sơn Dương phủ thành phủ Hoài An, nơi này nhiều nhất bố trí một vị Tuần kiểm và mấy vị tiểu lại, nhưng không có quan viên quản hạt theo lệ thường.
Huyện lệnh Sơn Dương chẳng qua chỉ thất phẩm, cho dù là Tri phủ Hoài An tứ phẩm cũng không có quyền quản hạt đối với Viên ngoại lang Bộ hộ đưa tới, như vậy xem ra, vị Viên ngoại lang này thật sự ra chính là quan viên quản hạt cả cửa sông Thanh Giang.
Trong kho lương và tào vận có quyền hành mới có lợi lộc, lại có hai cánh võ lực tào đinh và khố binh (binh lính trông coi kho lương) cũng sai khiến được, vị Viên ngoại lang này cũng coi như là có quyền, có tiền, có binh lực. Có mấy thứ như vậy, hiển nhiên thành chúa tể ở cửa sông Thanh Giang này. Dĩ nhiên, thương hội, nghiệp phường và bang hội vốn ở cửa sông Thanh Giang thì thuộc một cấp bậc khác, tất cả cùng nhau trông coi nơi phồn hoa thứ hai Giang Bắc này.
Kể từ khi có nhà Minh, đều cho rằng quan lại kinh thành cao quý, mặc dù một lần nhậm chức ở cửa sông Thanh Giang chỗ tốt cũng rất nhiều, uy phong bốn phương tám hướng. Nhưng những văn sĩ quyền quý truy cầu vào kinh làm quan kia vẫn không sẵn lòng tới nơi này, kẻ tới đều là tuổi tác lớn không còn hi vọng vào kinh thành. Những kẻ này không cần tiếng tăm quan tốt gì, tất nhiên làm việc không có gì kiêng nể, trắng có đen có trước giờ không màn tới.
Tạm không nhắc tới vị Viên ngoại lang phân ti Hộ bộ này. Tháng chạp tới tháng giêng ở cửa sông Thanh Giang là lúc nhàn rỗi nhất trong một năm, tào vận thẳng một đường không cần phải nói, lúc Vận Hà không thuận lợi cho tàu thuyền qua lại, thường thường phải tu sửa kho bãi, phơi ráo lương thực tích trữ, còn phải thẩm tra đối chiếu các khoản mục. Cứ cho là bận rộn không ngừng đi nữa cũng chỉ tới tháng chạp mọi người đã có được nhàn rỗi.
Gia đình giàu gặp gỡ tiệc tùng ăn uống, người nhà nghèo vét sạch hết của cải cũng phải đón mừng cuối năm, bọn tào đinh dừng lại ở nơi này đi các nơi tìm vui hưởng lạc, bọn khố binh thì lại mua đồ tết đút lót từ trên xuống dưới. Được trông coi kho lương lớn này, vào vào ra ra không biết moi móc được bao nhiêu lợi lộc, nhất định phải bảo đảm sang năm được lưu lại.