Huệ Thi buồn phiền nín nhịn đã nhiều năm, khó khăn lắm mới gặp được người để thổ lộ, đương nhiên trân trọng từng chút thời gian, ngày nào cũng bám riết lấy Trang Chu đàm đạo đủ điều.
Huệ Thi vốn cũng chẳng phải người cầu kỳ, lại lây nhiễm bản tính trời sinh của Trang Chu, nên chẳng mấy ngày mà đã nhếch nhác chẳng khác gì nhau. Vì bận rộn việc triều đình, Huệ Thi không thể đi xa, nên hễ có thời gian rảnh rỗi, lại kéo Trang Chu tới hậu hoa viên biện luận.
Vì trời dần chuyển ấm, nên hai người tranh luận đến đoạn hưng phấn, tới đêm vẫn không về phủ, mà nằm ngay bên dưới một gốc ngô đồng to đến một vòng ôm ở trong hoa viên. Quản gia sợ có âm tà xâm nhập, đợi khi hai người ngủ say liền sai tỳ nữ nhẹ nhàng đắp chăn cho họ.
Sáng sớm hôm sau thức dậy, hai người lại biện luận từ lúc mặt trời mọc cho đến giữa trưa. Huệ Thi quanh co qua lại, song chủ đề biện luận trước sau vẫn không rời khỏi danh thực. Thực tức là sự vật, danh tức là tên gọi của sự vật, đây gọi là “vật thì có hình, hình thì có tên”. Danh có trước hay thực có trước? Danh thực nhất thiết phải phù hợp hay là có thể không phù hợp? Từ thời Xuân Thu đến nay, không ít học giả vẫn không ngừng tranh luận. Đến Huệ Thi, lại càng đến cực điểm, xoay quanh sự giống và khác giữa danh và thực đã diễn biến ra vô số lý luận. Trang Chu bị ông ta vặn qua vặn lại đến hoa mắt chóng mặt, may là luôn được giải vây, lúc thì người này đến thăm, lúc lại người khác gõ cửa, dường như tất cả đều đã được sắp đặt từ trước, cứ mỗi khi đến thời khắc gay go, quản gia lại đến ghé tai Huệ Thi thì thầm mấy câu, khiến cho Huệ Thi bực bội đến trợn mắt thở phì phì, song cuối cùng vẫn phải thở dài sườn sượt, chau mày đứng dậy, để lại Trang Chu một mình thảnh thơi ngồi dựa vào chạc ngô đồng ngủ khò khò.
Quá trưa chừng một canh giờ, thông thường đây là khoảng thời gian nghỉ trưa của Huệ Thi, triều thần không được làm phiền. Đoán rằng sẽ không còn bị ai quấy nhiễu, Huệ Thi lại hào hứng kéo tuột Trang Chu từ trên cây xuống.
Trang Chu dường như cũng đã ngủ thỏa thích, thoải mái vặn vẹo người mấy cái, rồi trở về dưới gốc cây. Huệ Thi đã nhanh chân chiếm lấy địa thế có lợi là gốc cây ngô đồng, đang dựa lưng vào thân cây, bắt chân chữ ngũ, hai mắt nheo nheo vẻ vô cùng đắc ý. Trang Chu mỉm cười, đành phải nhún nhường một bước, đi tới thảm cỏ chênh chếch trước mặt ngồi xuống.
“Mùa xuân năm kia,” Huệ Thi hé mắt, đưa khoé mắt liếc nhìn Trang Chu, chưa đợi ông ta ngồi vững đã khai đề, “Ngụy Vương tặng tại hạ một giống bầu lớn,” chỉ vào đống đất ở bên cạnh, “đã được tại hạ tiện tay trồng ở chỗ đó. Đến mùa thu, giống này kết được một quả bầu, treo lủng lẳng trên cành cây kia!” Chỉ vào một cành lớn ở trên cây, xuýt xoa mấy tiếng. “Đúng là một quả bầu cực lớn, đựng được năm thạch. Tuy nhiên, đến khi tại hạ hái xuống thì lại gặp chuyện đau đầu. Quả bầu bổ ra có thể làm gáo, khổ nỗi dùng gáo này múc nước thì không đủ cứng, không thể nhấc lên được. Tại hạ nghĩ đi nghĩ lại, cảm thấy vật này thực là vô dụng, nên đành phải đập bỏ nó đi.” Rồi lắc đầu quầy quậy, trông rất khoa trương. “Than ôi, tại hạ bỏ công vất vả, thật là phí hoài.”
“Ha ha ha ha!” Trang Chu lúc này cũng đã yên vị, thấy Huệ Thi chuyển chủ đề từ danh thực sang thể dụng, bỗng chốc thấy nhẹ cả người, bèn cười dài mấy tiếng rồi đáp. “E rằng tướng quốc chỉ biết dụng nhỏ, song lại vụng về trong dụng lớn!”
“Lời này có nghĩa gì?”
“Tại hạ nghe nói, một người Tống có được phương pháp bí truyền của tổ tiên, chuyên trị chứng tay nứt nẻ vào mùa đông, nên yên tâm đời đời làm nghề giặt giũ. Có người khách biết được, đã dùng trăm lượng vàng để mua lấy bí quyết đó. Người Tống sung sướng đồng ý. Khách có được bí quyết, liền đến nước Ngô, được Ngô Vương trọng dụng làm tướng. Khách chọn ngày giá lạnh nhất trong mùa đông để phạt Việt, đánh bại quân Việt ở trên sông, chiếm đất phong hầu, tất cả đều là nhờ vào bí quyết này. Cùng một phương pháp, có người nhờ nó mà chiếm đất phong hầu, rạng rỡ tổ tông, có người vì nó mà đời đời giặt giũ, được trăm lượng vàng đã hoan hỷ lắm. Tướng quốc có được quả bầu năm thạch, tại sao không buộc nó bên hông, thoả thích phiêu diêu khắp sông hồ?”
“Ồ…” Huệ Thi hai mắt chớp liền mấy cái, lại mở ra chủ đề mới. “Tại hạ có một cây sư lớn, thân to vô kể, nhưng thân cây cong queo, mắt bướu xù xì đầy thân, cành cây vặn vẹo, không theo khuôn phép. Vô số thợ mộc đi qua, chẳng ai thèm ngó ngàng tới nó. Hỡi ôi,” thở dài một tiếng lắc đầu, “tại hạ biết dùng để làm gì đây?”
“Hỡi ôi!” Trang Chu cũng thở dài một tiếng, lắc đầu còn khoa trương hơn cả Huệ Thi.
“Tại hạ than thở là vì cái cây này, Trang huynh cớ sao cũng than thở?”
“Than thở là vì tướng quốc đại nhân!”
“Ồ?”
“Đã từng thấy cáo và chồn chưa? Chúng nép mình ẩn phục để đợi con mồi, thấy có chuột đến liền đuổi ráo riết, không đếm xỉa đến thấp cao. Vậy mà chẳng may rơi vào cạm bẫy, lại chỉ còn nước chờ chết trong hầm trong lưới. Lại nhìn con trâu mộng, dùng để cày ruộng kéo nặng, sức khoẻ vô cùng, nhưng dùng để bắt chuột thì lại thành vô dụng. Vạn vật trong trời đất, đều có đặc tính riêng, đều có cái nó không làm được, cũng đều có cái nó làm được, tướng quốc đại nhân sao lại buồn vì cái cây này vô dụng? Sao không ngả mình dưới gốc cây, nhờ vào bóng mát của nó mà tận hưởng thú tự tại?”
“Đa tạ Trang huynh đã tìm ra chỗ hữu dụng cho cái cây này!” Huệ Thi sảng khoái cười vang, đổi vị trí hai chân bắt chéo cho nhau. “Theo lời của Trang huynh, vạn vật đều có sở trường, cũng đều có sở đoản, dám hỏi nếu coi tâm là vật, vậy sở đoản của nó ở đâu, sở trường của nó lại ở đâu?”
“Này Huệ huynh!” Trang Chu chép miệng mấy cái. “Biện luận thì cứ biện luận, làm sao lại khuấy đảo lộn nhào lên thế?”
“Dám hỏi Trang huynh, tại hạ khuấy đảo lộn nhào ở chỗ nào?”
“Tâm không phải là vật, tâm là dụng của vật.”
“Vậy ư?” Huệ Thi cố tình ra vẻ không hiểu. “Xin Trang huynh chỉ giáo, tâm là dụng của vật nào?”
“Tính! Chữ ‘tính’ này, gồm hai chữ ‘tâm’ và ‘sinh’(1) ghép lại, sinh tâm là tính. Tính là thể của tâm, tâm là dụng của tính, nên gọi là tâm tính.”
“Lĩnh giáo, lĩnh giáo!” Huệ Thi vỗ tay mấy cái. “Tại hạ có thể lấy một ví dụ chăng?”
“Ví dụ đi!”
“Ví dụ như sóng nước.” Huệ Thi chớp mắt vài cái, ánh mắt trở nên ranh mãnh. “Nếu theo lời của Trang Tử, sóng là chữ ‘ba’, do chữ ‘thuỷ’ và chữ ‘bì’ ghép thành(2). ‘Thuỷ’ và ‘bì’ ghép thành chữ ‘ba’ là sóng, sóng là thể của nước, nước là dụng của sóng, nên mới gọi là sóng nước.”
Trang Chu thoạt tiên thoáng sững người, sau đó đưa tay gãi đầu, trầm tư hồi lâu, rồi lắc đầu quầy quậy. “Không đúng, không đúng, huynh lại khuấy đảo lộn nhào lên rồi, thể, dụng đảo lộn hết cả!”
“Đảo lộn chỗ nào?”
“Tâm tính không phải sóng nước. Nói về sóng nước, sóng do nước tạo ra, nước động sóng sinh. Sóng không rời nước, nước không rời sóng, nước là thể của sóng, sóng là dụng của nước.”
“Thì đúng thế, lời tại hạ vừa nói cũng chính là cái lý của Trang huynh. Tâm theo tính mà khởi, tính động tâm sinh, tính không rời tâm, tâm không rời tính. Tâm là thể của tính, tính là dụng của tâm. Ha ha ha, không phải là Trang huynh đảo lộn đấy chứ?”
“Ồ…” Trang Chu nghe Huệ Thi nói mà đầu óc quay cuồng, nhất thời tắc tị, lại trầm tư một hồi lâu mới ngộ ra, chỉ tay vào Huệ Thi nói. “Sai rồi, sai rồi! Sự vật thuộc thể loại khác nhau, ví dụ này không thoả đáng.”
“Vạn vật đều giống nhau, chỗ này tại sao lại khác? Hơn nữa, theo nguyên lý y học, tâm chứa thần, thần thông linh, linh thông tính, tâm là nơi trú của thần, tự nhiên cũng là nơi ở của tính linh. Tâm đã là nơi ở của tính linh, tại sao tại hạ lại không thể ví với sóng nước?”
Huệ Thi vòng qua kéo lại, cuối cùng đã khiến Trang Chu nhận ra sơ hở, lập tức vỗ tay cười mà nói: “Hay, hay lắm! Cuối cùng cũng đã hiểu ra tướng quốc đại nhân biện luận thế nào, thủ thắng bằng cách nào rồi. Huynh đang dùng thuật đổi trắng thay đen!”
“Đổi trắng thay đen?” Đến lượt Huệ Thi ngẩn người.
“Nguyên lý y học, tâm chứa thần, thần thông linh, song linh không thông tính. Ngược lại, linh do tính sinh ra, tính là thể, linh là dụng. Linh thông thần, thần thông linh, còn tính là cái thể sinh ra tâm, ba thứ tâm, thần, linh, đều là dụng của tính. Ha ha ha ha, tướng quốc đại nhân, xem ngài còn nói được gì đây?”
Huệ Thi gãi đầu gãi tai, đang định cãi cùn, bỗng nghe thấy tiếng bước chân gấp gáp, quản gia lại rảo bước đi tới.
Huệ Thi bực bội, mặt chảy xuống, chưa kịp trách mắng thì quản gia đã đến trước mặt, hạ giọng bẩm báo: “Chúa công, điện hạ đến, đang đợi trong phòng khách.”
Nghe thấy điện hạ giá lâm, Huệ Thi không biết nói gì hơn, đành phải quay sang cười nhăn nhó với Trang Chu, rồi đứng dậy vội vã rời đi, phải tới hơn nửa canh giờ sau mới quay trở lại, thấy Trang Chu đã chiếm lĩnh mất cây ngô đồng, đang dựa vào thân cây mà nheo nheo đôi mắt, đành phải ngồi xuống mô đất mà Trang Chu vừa ngồi lúc trước, sắc mặt đầy phiền muộn.
“Tướng quốc đại nhân!” Trang Chu lại như không nhận ra, học theo Huệ Thi, cũng đổi chỗ hai cẳng chân đang vắt chữ ngũ cho nhau, bàn chân không biết đã bao lâu chưa rửa duỗi thẳng ra, bốc mùi nồng nặc, cứ đung đưa qua lại nhịp nhàng ngay trước mắt Huệ Thi. “Nhìn bộ dạng của huynh, tâm không chứa thần, hồn lìa khỏi chỗ, chắc không phải vì không nghĩ được ra lời xảo quyệt ngụy biện mà sinh buồn phiền đấy chứ?”
“Than ôi!” Huệ Thi thở dài một tiếng, rồi vòng tay nói. “Bỏ đi, bỏ đi, tại hạ đến đây là muốn nói với huynh, hôm nay đình chiến!”
“Ồ!” Trang Chu bỗng nổi thói gàn, ngồi bật ngay dậy kêu lên. “Tại hạ đang lúc cao hứng, mà huynh lại đột nhiên treo thẻ ngừng chiến?” Rồi lắc đầu quầy quậy. “Không được, không được!”
“Hãy tha cho tại hạ!” Huệ Thi vòng tay, ra vẻ khẩn cầu.
“Tha thì có thể, chỉ có điều cái gì thì cũng phải có nguyên nhân! Huynh nói xem, là vì chuyện gì?”
“Vì Đại Ngụy bệ hạ!”
“Đại Ngụy bệ hạ làm sao?”
Huệ Thi bèn kể lại chiến sự phạt Tần ở Hàm Cốc và chuyện Ngụy Huệ Vương đổ bệnh liệt giường, nhiều tháng nay không lên triều, sau cùng than thở: “Than ôi, khiến cho tại hạ phải bận rộn lo lắng, đều là những việc vặt vãnh này, đâu có giống như Trang huynh suốt ngày tiêu dao tự tại!”
Trang Chu hỏi tỉ mỉ về bệnh tình của Ngụy Vương, rồi cười dài mấy tiếng: “Cái gì mà cơm nước không thiết? Bệ hạ của huynh chắc chắn là ăn no giả bệnh, cứ giao cho tại hạ, đảm bảo ông ta lập tức xuống giường, nhảy nhót tung tăng!”
“Cái gì?” Huệ Thi hai mắt trợn trừng, nhìn Trang Chu chòng chọc. “Trang huynh nói thật chứ?”
“Thôi đi, thôi đi!” Trang Chu nhắm hai mắt lại, xua tay. “Ta cứ ngủ việc ta, cứ mơ việc ta thôi! Cái gì mà bệ hạ với chả bệ thượng, chẳng có liên quan gì đến Trang Chu ta hết!” Nói đoạn, lại dựa người vào thân cây, chớp mắt đã ngáy o o.
Huệ Thi dường như sực nhớ ra điều gì, lập tức đứng phắt dậy, đến vụn cỏ bám trên mông cũng không kịp phủi, vội vã co cẳng chạy phăm phăm về phía sân trước.
Bệnh của Ngụy Huệ Vương đã nặng hơn trước, tâm thần uể oải, không màng cơm nước, đừng nói là sách, ngay cả đàn ca nhảy múa cũng chẳng còn tâm trạng thưởng thức, người ngoài lại càng không muốn gặp.
Thấy Ngụy Huệ Vương đã nằm liệt giường suốt hai mươi mấy ngày trời, nói năng có hơi mà không có lực, tỳ nhân lo lắng cuống quýt, đã mời đến rất nhiều ngự y nổi tiếng, nhưng đều không thể chẩn ra được bệnh gì, chỉ biết kê bừa vài thang thuốc bổ. Tỳ nhân sợ có điều bất trắc, đành phải bẩm báo với thái tử Thân.
Thái tử Thân lúc này đang phiền não vì chuyện triều chính. Ngụy Huệ Vương độc đoán chuyên quyền thành tính, nên thái tử Thân biết rõ mình chỉ chấp chính trên danh nghĩa, chuyện nhỏ còn có thể quyết đoán, nhưng gặp chuyện lớn thì bắt buộc phải xin ý chỉ của phụ vương.
Điều trùng hợp là mấy ngày nay trong triều việc nhỏ không thấy đâu, nhưng việc lớn lại dồn dập đến. Đầu tiên là Bàng Quyên lại khơi chiến hoả ở Hàm Cốc, tấu xin tăng binh. Tiếp đó, nạn đói mùa xuân càng thêm trầm trọng, nhiều nơi đã xuất hiện người chết đói, Chu Uy tấu xin mở kho phát lương, giải quyết nỗi lo trước mắt. Tiếp đó, Bạch Hổ đi sứ nước Triệu trở về, tấu rõ rằng Triệu, Tần không hề ngấm ngầm cấu kết, lời đồn trong quân là kế ly gián của người Tần. Tiếp theo lại có ngựa hoả tốc về bẩm báo nước Tần cho sứ thần tới, sứ thần chính là tướng quốc đầu tiên của nước Tần Trương Nghi, đã gần đến Đại Lương, mục đích chưa rõ.
Mọi chuyện đều vô cùng hệ trọng, thái tử Thân không thể tự quyết, đang định vào cung xin ý chỉ định đoạt, thì tỳ nhân lại đến cấp báo, quả thực là lòng như lửa đốt, không còn cách nào khác mới đích thân tìm đến tận cửa, đem mọi việc ra thỉnh giáo Huệ Thi, lại càng khiến Huệ Thi lòng dạ rối bời.
Mấy lời bâng quơ của Trang Chu lập tức khiến Huệ Thi vụt nảy ra một ý. Huệ Thi chạy thẳng ra sân trước, lên xe vào thẳng vương cung, kéo theo điện hạ cùng đến ngự thư phòng thăm Huệ Vương.
Huệ Vương lúc này chẳng khác gì cây cà tím gặp sương, từ trong ra ngoài đều héo hon ủ rũ, nhợt nhạt thất thần, nằm thõng trên giường, trước mặt bày đủ các loại sơn hào hải vị, còn có mấy bát thuốc, tất cả đều đã nguội ngắt.
Huệ Vương hai mắt nhắm nghiền, biết điện hạ và Huệ Thi bái kiến, vẫn nằm yên bất động.
“Bệ hạ!” Tỳ nhân ghé sát bên tai Ngụy Huệ Vương, hạ giọng bẩm tấu. “Điện hạ và Huệ tướng quốc yết kiến!”
Ngụy Huệ Vương vẫn không nhúc nhích.
Thái tử Thân đưa mắt nhìn Huệ Thi, sắc mặt đầy lo lắng.
“Bệ hạ!” Huệ Thi nói khẽ. “Huệ Thi đến đây để cáo từ!”
Nghe thấy hai chữ “cáo từ”, Huệ Vương bất giác giật mình ớn lạnh, lập tức quay đầu lại, hai mắt mở choàng, nhìn sững vào Huệ Thi.
Huệ Thi lại bái lạy.
“Khanh…” Huệ Vương chỉ vào Huệ Thi, ngón tay run lẩy bẩy, “cáo từ?”
“Đúng vậy, bệ hạ. Vi thần đến là để cáo từ!”
Huệ Vương sững sờ, gắng gượng muốn ngồi dậy. Tỳ nhân vội chạy tới đỡ, song đỡ liền mấy lần mà ông ta vẫn chưa thể ngồi thẳng lên được. Huệ Vương thở hổn hển, dùng khuỷu tay chống đỡ thân mình, hai mắt vụt sáng, nhìn xoáy vào Huệ Thi mà hỏi: “Nói mau, ái khanh đi đâu?”
“Mùa xuân đến rồi, có một quái nhân hẹn thần ra ngoại thành du ngoạn.”
Thấy Huệ Thi chỉ là ra ngoại thành du ngoạn, trái tim treo ngược của Huệ Vương mới trở về vị trí, thở phào một hơi dài, cơ thể phốp pháp cũng đồng thời hạ xuống, nặng nề rơi phịch xuống giường, hai mắt nhắm lại.
Bầu không khí ngưng trệ trong chốc lát, Huệ Vương dường như lại sực nhớ ra điều gì, mắt lại mở ra, nhìn thẳng vào Huệ Thi: “Quái nhân nào?”
“Một người trong mắt không có ai!”
“Trong mắt không có ai?” Huệ Vương chớp chớp mắt. “Vậy… có phải vật hay không?”
“Không có!”
“Vậy hắn hẳn là người mù?”
“Không phải!” Huệ Thi lắc đầu. “Không những không mù, ngược lại còn có cặp thiên lý nhãn, xa ngoài nghìn dặm, có thể nhìn rõ tơ hào.”
“Cái gì?” Huệ Vương phì cười. “Xa ngoài nghìn dặm, có thể nhìn rõ tơ hào? Điều này không thể, quả nhân nhất quyết không tin!”
“Bệ hạ, thiên hạ rộng lớn, không có gì là không thể!”
“Người này ở đâu?”
“Ở ngay trong phủ của vi thần.”
“Mời hắn đến đây!” Huệ Vương dừng lại một thoáng, rồi tinh thần phấn chấn hẳn lên. “Quả nhân muốn xem thử, đôi mắt của người này khác thường đến mức nào!”
“Thần lĩnh chỉ!”
Huệ Thi cáo lui, vội vàng quay về phủ, lập tức kéo Trang Chu dậy, mặt mũi nhăn nhó: “Trang huynh ơi, tại hạ… đại hoạ đến đầu... rồi!”
“Đại hoạ đến đầu?” Trang Chu ngạc nhiên hỏi lại. “Đại hoạ gì?”
“Tội khi quân!”
“Ồ?”
“Nói đến tội này, có liên quan đến Trang huynh đấy!”
“Ồ?”
“Tại hạ muốn ra ngoài ngao du cùng Trang huynh, lúc nãy yết kiến bệ hạ, đã xin bệ hạ cho nghỉ vài bữa. Bệ hạ hỏi tại sao tại hạ lại có ý nghĩ này, tại hạ đành phải nhắc đến Trang huynh. Bệ hạ lại hỏi về Trang huynh. Cũng là do mấy ngày nay cùng Trang huynh tranh biện đến hồ đồ mất rồi, nên tại hạ buột miệng nói khoác, kể lể Trang huynh giỏi giang thế này thế kia, đặc biệt là có một đôi thiên lý nhãn, xa ngoài ngàn dặm có thể nhìn rõ tơ hào. Bệ hạ phấn chấn, lập tức hạ chỉ cho Trang huynh yết kiến. Bây giờ… bây giờ tại hạ phải làm thế nào đây?”
“Ha ha ha ha!” Trang Chu phủi áo, chỉ tay vào Huệ Thi cười ngặt nghẽo. “Tướng quốc vòng vo qua lại, chẳng phải là muốn tại hạ đi trị bệnh cho chúa thượng của tướng quốc hay sao? Đi thôi, đừng phí lời nữa!”
Hai người quay về phòng khách. Nhìn bộ dạng rách rưới lôi thôi của Trang Chu, Huệ Thi lắc đầu, bảo quản gia mang tới một bộ quần áo mới, nhưng Trang Chu lại ném toẹt xuống đất, vung tay đi ra khỏi cửa.
“Ôi ôi…” Huệ Thi cuống lên, vội nhặt lấy bộ quần áo chạy đuổi theo. “Trang huynh, thế này thì không thể vào cửa cung được!”
“Không vào được thì không vào nữa!” Trang Chu lại quay ngoắt người đi về phía hậu hoa viên. “Ta cũng chẳng muốn vào đâu.”
“Được rồi, được rồi!” Huệ Thi hết cách, đành phải đưa lại bộ quần áo cho quản gia, kéo Trang Chu lên xe, tiến thẳng tới vương cung.
Thấy Trang Chu cùng đi với Huệ Thi, thị vệ canh cửa không hề ngăn cản. Hai người thuận lợi đi tới ngự thư phòng, tỳ nhân vào bẩm báo, Huệ Vương vẫn nằm nghiêng trên giường, truyền yết kiến. Huệ Thi vào trước, bái lạy xong liền ngồi xuống chiếu bên cạnh, nhưng mãi vẫn không thấy Trang Chu vào.
Huệ Vương sốt ruột, lại truyền chỉ: “Tuyên Trang Chu người Tống!”
Tỳ nhân lớn giọng truyền chỉ: “Bệ hạ có chỉ, tuyên Trang Chu người Tống vào yết kiến!”
Trang Chu vẫn không vào.
Tỳ nhân ngẩn người, vội đi ra ngoài cửa, thấy Trang Chu vẫn đang ung dung ngắm cảnh ngoài đó, liền vòng tay nói: “Tiên sinh, bệ hạ có lời mời!”
Trang Chu lúc này mới thu thần, rồi khệnh khạng bước lại gần, vừa đi vừa liếc ngang ngó dọc. Tỳ nhân trông thấy, đôi mày khẽ chau lại. Bề tôi yết kiến quân chủ, theo nghi lễ, phải bước mau mà vào, tức là phải bước bước nhỏ mà nhanh, mắt không được liếc ngang để tỏ lòng kính trọng, nhưng người này lại tuỳ tiện chẳng khác gì đang ra vào nhà mình.
Tuy nhiên, đây là khách của Huệ Thi, lại được bệ hạ triệu kiến, tỳ nhân không tiện nói gì, chỉ rảo bước đi sát theo sau.
Trang Chu đi vào sân, theo sự chỉ dẫn của tỳ nhân, tiến vào cửa chính. Vừa bước qua ngưỡng cửa, Trang Chu bỗng khựng lại, đứng bất động tại chỗ, hai mắt nhìn thẳng vào Huệ Vương, vừa không tiến lại gần, cũng chẳng quỳ xuống khấu bái.
Huệ Vương cũng nhìn ông ta chằm chằm.
Đợi một lúc, thấy Trang Chu vẫn đứng sững tại chỗ, Huệ Vương bèn ra hiệu, tỳ nhân tiếp tục ra mời. Trang Chu không những không tiến vào, mà ngược lại còn ngồi ngay xuống đó.
Điện đường cao rộng, Trang Chu đứng cách xa mấy trượng, Huệ Vương bệnh tật lâu ngày, nhãn lực suy yếu, chỉ lờ mờ nhìn thấy Trang Chu áo quần rách rưới, đầu tóc bẩn thỉu, bộ râu dường như chưa cắt tỉa bao giờ, còn đôi giày vải thì càng chẳng phải nói, trông còn rách nát thậm tệ hơn của Tuỳ Sào Tử năm xưa. Mấy ngón chân thò hẳn ra ngoài, đen đúa cáu bẩn không biết đã bao lâu rồi không rửa. Tuỳ Sào Tử mặc dù nghèo túng, áo quần mụn vá dọc ngang, nhưng trên dưới sạch sẽ chỉnh tề, còn con người trước mắt kia, thật chẳng khác một gã ăn mày lang thang ngoài phố.
Tuy nhiên, người này lại là khách quý của tướng quốc, còn có con mắt nhìn xa nghìn dặm…
Sự tương phản quá lớn khiến Huệ Vương bất giác hít ngược một hơi dài, hai mắt vụt sáng, chiếu thẳng lại.
Hai người đối mắt nhìn nhau.
Hồi lâu, Huệ Vương thu ánh nhìn lại, khẽ gật đầu: “Quả là cao sĩ. Nghe Huệ ái khanh nói, cao sĩ có nhãn lực không ai bì kịp, xa ngoài nghìn dặm có thể nhìn rõ tơ hào, có chuyện này chăng?”
“Quả có chuyện này, Trang Chu bẩm sinh đã có đôi mắt thần kỳ.”
“Tốt quá!” Huệ Vương lập tức tinh thần phấn chấn, bật ngồi ngay dậy. “Xin cao sĩ hãy giúp quả nhân xem thử, hiện Triệu Ngữ đang làm gì?”
“Triệu Ngữ?” Trang Chu hơi sững lại, rõ ràng là không biết người này.
“Chính là Triệu Hầu. Hắn đang ở Hàm Đan.”
“Hàm Đan cách đây chưa đầy nghìn dặm, Trang Chu không thể nhìn được.”
“Vậy… còn Hùng Thương? Chính là Sở Vương.”
“Sở Vương ở Sính, đã xa quá nghìn dặm, Trang Chu cũng không thể nhìn thấy.”
“Vậy còn Tần Vương Doanh Tứ? Hắn ở Hàm Dương.”
“Đã quá nghìn dặm!”
“Còn Điền Nhân Tề?” Ngụy Huệ Vương vò đầu bứt tai một lúc, rồi đưa tay đập bàn. “Chính là Tề Vương! Theo quả nhân được biết, Lâm Truy cách đây vừa tròn nghìn dặm.”
“Là chín trăm chín mươi chín dặm chín, chưa đủ nghìn dặm.”
“Ngươi…” Ngụy Vương sững người, chỉ tay vào Trang Chu, “chín trăm chín mươi chín dặm chín, còn không phải nghìn dặm hay sao?”
“Hồi bẩm đại vương, chín trăm chín mươi chín dặm chín là chín trăm chín mươi chín dặm chín, không phải là nghìn dặm.”
“Vậy… ngươi có thể nhìn được nơi nào?”
“Nơi Trang Chu nhìn thấy, là nơi phải tròn nghìn dặm, nhiều hơn một phân không được, ít hơn một phân cũng không xong.”
“Nói như vậy… chẳng phải là giảo biện ư?” Huệ Vương thở phì phò mấy hơi, rồi quay sang nhìn Huệ Thi, lộ vẻ không vui, thì thấy Huệ Thi hai mắt nhắm nghiền, dường như đã ngủ.
“Trang Chu không hề giảo biện, đại vương có thể phái người đi đo đúng một nghìn dặm, rồi đặt một cọng lông tơ ở ngay chỗ đó, cứ thử sẽ biết ngay.”
Kiểm nghiệm kiểu này, rõ ràng không thể thực hiện được. Huệ Vương bắt đầu thấy giận, song vẫn không chịu bỏ cuộc, lại nhìn chằm chằm vào Trang Chu một hồi, rồi phá lên cười hai tiếng thật dài.
Huệ Thi mở mắt, vội vàng nhìn sang.
“Trang cao sĩ!” Huệ Vương chỉ tay vào bộ quần áo rách rưới của Trang Chu. “Quả nhân muốn hỏi, cao sĩ đã thần thông đến vậy, cớ sao lại phải thất thểu nhường này?”
“Ha ha ha ha!” Trang Chu cất một tràng cười còn vang hơn, dài hơn cả Huệ Vương.
“Cớ sao cao sĩ lại cười? Là quả nhân nói không đúng ư?”
“Không phải không đúng, mà là sai lầm, sai bét.” Trang Chu giũ giũ bộ quần áo. “Trang Chu như thế này là bần cùng, chứ không thể nói là thất thểu! Lòng ôm chí lớn mà không thể thi triển, đầy bụng đạo đức mà không thể thực thi, người như vậy mới gọi là thất thểu. Trang Chu vừa không có chí lớn để thi triển, cũng chẳng có đạo đức để thực thi, sao có thể gọi là thất thểu được? Còn về quần áo rách rưới, giày thủng long đế, chỉ bởi bần cùng mà thôi. Trang Chu vì đâu mà bần cùng? Là sinh không gặp thời, tình cảnh bất lợi. Đại vương đã từng thấy khỉ vượn hay chưa? Trên núi cao rừng thẳm, trên vách dốc cheo leo, chúng nhảy nhót giữa rừng cây cao lớn, vùn vụt qua lại, tiêu diêu tự tại, cho dù là Hậu Nghệ thiện xạ, Phùng Mông tái thế cũng chẳng thể làm gì được chúng. Thế nhưng, một khi sa chân vào bụi gai, chúng chỉ có thể cẩn thận dè dặt, run rẩy lách qua. Tại sao lại như vậy? Không phải vì gân cốt của chúng không mềm dẻo, mà là tình thế bất lợi, khó triển lộ tài năng! Sinh ra trong thời hôn quân loạn thần lộng hành, Trang Chu chẳng khác nào khỉ vượn sa vào bụi gai, muốn không bần cùng, làm sao có thể?”
Bốn chữ “hôn quân loạn thần” giống như nhát gậy giáng thẳng xuống đầu, khiến Huệ Vương nhất thời choáng váng, đợi khi định thần trở lại, muốn nổi cơn thịnh nộ, nhưng nghĩ lại thấy không ổn, dù sao cũng là do mình khơi mào, chê bai người ta thất thểu; muốn nhẫn nhịn, nhưng lại không cam tâm, đôi con ngươi đảo mấy vòng, rồi chậm rãi vỗ tay, nói: “Cao sĩ quả nhiên lời lẽ thú vị, lại đây, lại gần hơn nữa, để quả nhân được nhìn cho kỹ!”
“Trang Chu đứng đây, đại vương muốn nhìn thảo dân, có thể đến gần.”
“Gì kia?” Huệ Vương hai mắt trợn trừng, nhìn sững vào Trang Chu.
“Trang tiên sinh!” Tỳ nhân thấy chướng mắt, bèn cất lời khuyên can. “Lễ nghi quân thần, phải là tiên sinh bái kiến mới phải!”
“Không đúng, không đúng!” Trang Chu lắc đầu quầy quậy. “Đại vương là quân chủ nước Ngụy, Trang Chu là người dân nước Tống. Trang Chu đến Ngụy là đến thăm bằng hữu, không phải để yết kiến quân chủ. Huệ tướng quốc là bằng hữu của Trang Chu, kéo Chu đến đây, cũng là đến thăm bằng hữu, vì sao lại nói đến chuyện quân thần?”
Trang Chu giải thích nghe cũng hợp tình hợp lý, coi là bằng hữu thì cũng là chỗ thân cận, sắc mặt Huệ Vương hơi giãn ra, thấy tỳ nhân vẫn muốn tranh cãi, liền khẽ xua tay, đoạn vòng tay nói với Trang Chu: “Được rồi, được rồi, không nói đến quân thần nữa, hãy nói về tuổi tác! Quả nhân năm nay sáu mươi ba, thiết nghĩ hẳn là lớn tuổi hơn cao sĩ ít nhiều, có thể khiến cao sĩ lại gần mấy bước hay không?”
“Dựa theo Chu lễ, tôn ti lễ nhượng phải dựa vào vai vế, không dựa vào tuổi tác. Chúng ta đã là bằng hữu, thì phải coi nhau là cùng vai vế, đại vương sao lại tự kiêu đến vậy?”
“Quả nhân…” Huệ Vương ấp úng một lúc mới tìm được lời biện luận. “Được rồi, được rồi, chúng ta không luận theo tuổi tác, không luận theo thân phận, song cũng phải luận theo chủ khách chứ? Cao sĩ đến thăm quả nhân, quả nhân là chủ, cao sĩ là khách. Thế nên lễ chủ khách…”
“Dám hỏi đại vương, phải chăng trước nay vẫn nằm trên giường tiếp khách?”
“Chuyện này…” Huệ Vương ngắc ngứ một lúc, rồi thở dài một tiếng. “Than ôi, không phải là quả nhân không tuân theo lễ tiết, mà sự thực là quả nhân bệnh tật khó kham, đã mấy chục ngày không thể xuống giường.”
“Ha ha ha ha!” Trang Chu phá lên cười lớn một tràng dài, rồi chỉ tay vào Huệ Vương mà nói. “Đại vương sai rồi! Trang Chu thấy đại vương cơ thể khoẻ mạnh, cớ sao lại nói là bệnh nặng?”
Huệ Vương cuống lên, chỉ tay vào bát thuốc đặt trên bàn bên cạnh: “Cao sĩ hẳn đã nhìn thấy rồi chứ? Nếu quả nhân khoẻ mạnh, phải dùng tới nhiều thuốc đến vậy làm gì?” Rồi lại lần lượt chỉ vào đầu, ngực, tứ chi. “Không giấu cao sĩ, mấy ngày nay, quả nhân nhức đầu, đau tim, tứ chi rời rã, nằm thì trằn trọc, ăn thì vô vị, bao nhiêu thầy thuốc chữa trị mà vẫn không thuyên giảm… Than ôi!” Rồi lắc đầu buồn bã. “Quả nhân thực sự không thể cử động!”
“Không đúng, không đúng!” Trang Chu vẫn lắc đầu nói. “Cơ thể đại vương không có bệnh, mà là tâm bệnh.”
“Không đúng, không đúng!” Huệ Vương lại biện bạch. “Quả nhân đúng là cơ thể có bệnh, không thể cử động được nữa!” Rồi đưa tay sờ đầu gối, sờ bụng, ấn chỗ nọ, xoa chỗ kia. “Ái chà, ái chà! Cái cơ thể này đã già cả quá rồi, từ trên xuống dưới không chỗ nào không đau đớn, đau chết quả nhân mất thôi!”
“Đại vương đã nói dối bao giờ chưa?” Trang Chu nhìn thẳng vào Huệ Vương hỏi.
“Gì kia?” Huệ Vương chợt quên bẵng những đau đớn vừa nãy. “Cao sĩ bảo quả nhân nói dối? Quân chủ không nói đùa, cao sĩ hãy hỏi văn võ bá quan trong triều, hãy hỏi Huệ ái khanh, quả nhân đã nói dối bao giờ chưa?”
“Không giấu đại vương, con mắt thần của Trang Chu, không những có thể nhìn xa nghìn dặm, mà còn có thể nhìn thấu thần xác. Lúc nãy Trang Chu đã nhìn thấu đại vương, thấy đại vương cơ thể không hề có bệnh, chỉ có tâm bệnh, nhưng đại vương cứ nói cơ thể có bệnh, há chẳng phải là nói dối hay sao?”
Lời Trang Chu vừa thốt ra, không những Huệ Vương, mà ngay cả tỳ nhân cũng chấn động, bất giác xoay nghiêng người về phía Trang Chu, rõ ràng là e sợ vị thần nhân này nhìn thấu chỗ khó nói trong lòng.
Huệ Vương bị dồn đến chân tường, trở nên lúng túng: “Nếu đã nói vậy, dám hỏi cao sĩ, tâm bệnh của quả nhân có thể chữa được hay không?”
“Có bệnh tự nhiên sẽ có chữa!”
“Kính mong cao sĩ hãy chẩn trị giúp quả nhân!” Huệ Vương vòng tay nói.
“Chẩn trị không khó, nhưng đại vương phải đồng ý với Trang Chu một việc.”
“Dám hỏi là việc gì?”
“Khi chẩn trị, đại vương phải nhất nhất nghe theo lời Trang Chu.”
“Chuyện này là đương nhiên. Cao sĩ chẩn trị cho quả nhân, chính là thầy thuốc; quả nhân có bệnh, chính là người bệnh, trên đời này làm gì có chuyện người bệnh không nghe lời thầy thuốc?”
“Vậy Trang Chu sẽ lập tức chẩn trị, đại vương hãy nghe đây!” Trang Chu ngồi nghiêm ngắn, hai mắt nhắm lại, trong miệng lầm bầm gì đó, chẳng khác nào thầy mo đất Sở đang làm phép.
Không khí trong phòng bỗng chốc trở nên rất đỗi trang nghiêm. Huệ Vương, tỳ nhân bắt đầu phấp phỏng lo sợ.
Một lúc sau, Trang Chu thình lình lên tiếng: “Xin mời xuống giường, đứng ở trước giường!”
Huệ Vương giống như bị ma xui quỷ khiến, lập tức bước luôn xuống giường bệnh, đứng ở trước giường.
“Đại vương hãy đi về phía trước, đi lại phía Trang Chu đây, trước tiên bước chân trái, sau đó đến chân phải, trái phải trái… trái phải trái…”
Khẩu lệnh vừa vang lên, Huệ Vương đã tiến lên phía trước. Tiếng “dừng bước” vừa hô ra, đã đứng ngay trước mặt Trang Chu.
Trang Chu chỉ vào nền gạch trước mặt: “Ngồi!”
Huệ Vương chưa bao giờ gặp phải tình cảnh này, cứ như bị yểm bùa, hoàn toàn quên khuấy cái bẩn thỉu, cứng lạnh của nền gạch, chỉ nghe “phịch” một tiếng, đã ngồi vững vàng trên nền gạch, khiến tỳ nhân nhìn mà hai mắt trợn tròn, nhưng lại không dám lên tiếng.
Trang Chu khẽ mở mắt ra, nhìn Huệ Vương cười cười: “Bệnh của đại vương đã khỏi được một nửa rồi. Một nửa còn lại, đại vương còn muốn chữa hay không?”
“Dám hỏi cao sĩ, nửa còn lại phải chữa thế nào?” Đến lúc này Huệ Vương cũng đã định thần, ôm quyền liên tục.
“Phải dựa vào chính đại vương!”
“Dựa vào chính quả nhân?” Huệ Vương ngẩn người. “Quả nhân ngu muội, xin cao sĩ chỉ giáo!”
“Muốn chữa trị tận gốc, có được thân thể trường thọ, đại vương nhất định phải quên đi một chuyện.”
“Có được thân thể trường thọ?” Huệ Vương tim đập thình thình, hai mắt phát sáng, đầy vẻ thèm muốn, chúi người về trước hỏi. “Dám hỏi cao sĩ, quả nhân phải quên đi chuyện gì mới có được thân thể trường thọ?”
“Cần quên đi bản thân mình là một quả nhân!”
“Chuyện này…” Huệ Vương cười gượng một tiếng, vẻ mặt hoang mang. “Quả nhân làm sao mới có thể quên đi bản thân mình là một quả nhân được?”
“Lúc nãy chẳng phải đại vương đã quên rồi hay sao?” Trang Chu hỏi vặn lại.
“Phải rồi!” Sực nhớ mình đã bước xuống khỏi giường bệnh, đi được những mấy trượng, lại ngồi bệt xuống nền gạch cứng lạnh cùng với một kẻ rách rưới hệt ăn mày mà bản thân lại không hề phát giác, Huệ Vương cũng bật cười.
“Năm xưa Trang Chu ngao du đất Sở, khi ở Sính đã gặp được Nam Quách tiên sinh, cảm thấy đó là kỳ nhân số một trên đời.”
“Kỳ nhân số một?”
“Đúng thế! Đại vương có muốn biết người này kỳ lạ ở chỗ nào không?”
“Quả nhân…” Huệ Vương lại vội vàng đổi giọng, vòng tay. “À không, Ngụy Anh xin lắng nghe!”
“Người này tướng mạo khác hẳn người thường, hai tai trễ đến tận vai, trên mặt có ba con mắt giống hệt chuông đồng, mũi khoằm như mỏ ưng, trước trán có sừng, dài chừng mấy tấc, nhìn giống như sừng tê giác, nhưng cứng mà không sắc, nhọn mà không bén…” Trang Chu dừng lời, hai mắt nhắm lại.
“Thực là người trời!” Huệ Vương tấm tắc liên hồi, buột miệng khen ngợi.
“Không phải người trời!” Trang Chu tựa như đang đắm chìm trong hồi tưởng thuở xưa, chậm rãi kể lại. “Trang Chu tiến lại bái kiến, thoạt đầu trông thấy hình dạng kỳ quái của người này mà khiếp sợ, nhưng định thần nhìn kỹ, lại thấy ông ta ngồi tựa bên bàn, ngửa mặt lên trời mà than thở, hình dáng như cây khô, giống như thế này.”
Trang Chu lập tức mô phỏng lại bộ dạng kỳ quái của Nam Quách tiên sinh, vì bắt chước quá giống, khiến Huệ Vương nhìn mà hai mắt tròn xoe, trong lòng càng căng như dây đàn.
“Trang Chu cung kính chờ đợi hồi lâu, nhưng tiên sinh vẫn không đếm xỉa tới, cứ làm như không nhìn thấy. Trang Chu sốt ruột, bèn mở miệng hỏi: ‘Này người ngồi tựa bàn kia, hình như cây khô, lẽ nào tâm cũng đã như tro tàn?’”
“Nam Quách tiên sinh trả lời thế nào?”
“Tiên sinh đột nhiên quay lại, chĩa thẳng cái sừng vào tại hạ, thản nhiên đáp lời: ‘Hỏi hay lắm! Hôm nay ta chôn ta, ngươi có biết chăng?’”
“Ta chôn ta?” Huệ Vương kinh ngạc hỏi. “Lời này có ý gì?”
“Tiên sinh đáp: ‘Trước tiên hãy nói về chữ ta. Ta là ai? Ai lại là ta? Nếu không có ngươi, không có người, thì lấy đâu ra ta? Thiên hạ vạn vật, vừa đối lập vừa nương tựa lẫn nhau, không có cái này thì chẳng có cái kia, không có ngươi cũng chẳng có ta. Tại sao lại như vậy? Là vì cái đạo trong cõi vô hình ư? Đạo lại là vật gì? Hãy nhìn cái ta này xem! Ta là vật gì? Ta là hàng trăm khúc xương, da thịt, chín khiếu, ngũ tạng, lục phủ, lông tóc, thể dịch. Ngoài những thứ đó ra, ta còn có những gì? Lẽ nào là tâm ư? Được rồi, chính là tâm. Trong tâm có ta, ta nghĩ là ta sống. Ta chính là tâm, tâm chính là ta. Tuy nhiên, trong những xương cốt, da thịt, chín khiếu, ngũ tạng, lục phủ, lông tóc và thể dịch này, cái tâm của ta nên gần gũi tất cả, hay là yêu quý riêng một số nào đó? Nếu chỉ yêu quý một số nào đó, thì cái tâm của ta lại nên xa lánh những gì? Nếu như cái tâm của ta vừa có thể yêu quý chúng, lại có thể xa lánh chúng, vậy giữa chúng và ta là tâm có quan hệ như thế nào với nhau? Là vua tôi ư? Nếu là vua tôi, vậy đâu là vua, đâu là tôi? Nếu ta là vua, tại sao chúng không hoàn toàn nghe lời ta? Nếu ta là bề tôi, tại sao chúng lại không hoàn toàn mệnh lệnh ta? Giữa chúng lại có quan hệ như thế nào? Là các bên bình đẳng, tương sinh tương khắc ư, hay là vua tôi của nhau? Nếu là vua tôi, vậy thì giữa chúng, kẻ nào là vua, kẻ nào là tôi? Một khi được tiếp nhận tinh khí, tạo thành hình thể, cho đến khi tinh khí hao tận, có cái ta nào có thể quên được cái ta mà nó đã nhận định đây? Đời người dằng dặc, cái ta này không lúc nào ngừng đấu đá với người, tranh giành với vật, tranh đấu không ngừng, há chẳng đáng buồn ư? Cả đời mệt nhọc, thành tựu ở chỗ nào? Chốn về ở đâu? Cả đời mệt nhọc mà không biết chốn về của mình ở đâu, một ta như vậy há chẳng đáng buồn ư? Một ta như vậy cho dù không chết, thì cũng ích gì? Tâm và ta nương tựa vào nhau, ta sinh ra vì tâm, khi thân xác của ta suy kiệt, cái tâm này của ta cũng sẽ bỏ đi theo. Nếu tâm đi rồi, cái gọi là ta này sẽ ở nơi đâu? Một đời người, lẽ nào đều mông lung như vậy, khó hiểu như vậy? Hoặc giả là chỉ có một mình ta mông lung, một mình ta khó hiểu…’”
Trang Chu bắt chước giọng điệu của Nam Quách tiên sinh, lúc thì tự hỏi tự đáp, lúc lại lấy hỏi làm đáp, từng bước tiến lên, câu hỏi nào cũng khiến người ta kinh động, thế như cầu vồng xuyên suốt ngang trời, giọng như tiếng sấm rền động trên không, Huệ Vương bị bủa vây trong một trường khí không thể thoát ra, miệng há hốc mắt trợn trừng, khác nào đang nghe thần linh giáo huấn.
Đúng vào lúc Huệ Vương đang chăm chú lắng nghe, ngẩng đầu chờ đợi, Trang Chu thình lình đứng vụt dậy, chẳng nói chẳng rằng, lừ lừ đi thẳng ra khỏi cửa.
Sự việc quá ư đường đột, lúc đầu Huệ Vương cho rằng Trang Chu ra ngoài một chốc sẽ quay lại, nhưng mãi vẫn không thấy đâu, bèn phái tỳ nhân đi xem thử, song chẳng thấy tăm tích đâu cả. Tỳ nhân hỏi người trong cung, mới biết Trang Chu đã đi về phía cửa cung rồi.
Huệ Vương kinh ngạc quá đỗi, vội bảo Huệ Thi đi tìm.
“Bệ hạ!” Lúc này Huệ Thi mới mở mắt ra, vòng tay mà nói. “Trang Chu tự do tự tại đã quen, thích đi đâu thì đi đấy, đến đi đều không ràng buộc, lần này đi không quay về, thiết nghĩ hẳn là hắn đã nói hết những gì cần nói!”
Huệ Vương lại sững sờ thêm một lúc, hít vào một hơi dài, tinh khí thần bỗng chốc dồi dào hơn hẳn, bèn đứng vụt dậy, sải bước ra sân, ung dung thư thái đi đi lại lại một hồi, rồi vẫy tay gọi tỳ nhân đến: “Tới ngự thiện phòng tìm chút đồ ăn, quả nhân… à không!” Chỉ tay vào mình, ngữ điệu vô cùng phấn chấn. “Chính ta, cái ta này vẫn chưa chôn ta, nó đói rồi!”
Tỳ nhân vui mừng khôn xiết, vâng một tiếng rồi xong xóc chạy đi.
***
Trương Nghi đi sứ nước Ngụy, ắt phải qua ải Hào Quan, nên Bàng Quyên trấn thủ ở đại doanh Thằng Trì đã biết tin từ sớm.
Là vị tướng quốc đầu tiên của nước đối địch, Trương Nghi đích thân giương cờ sứ đi sứ nước địch, điều này khiến Bàng Quyên có đôi chút ngỡ ngàng. Có hai điều mà Bàng Quyên không hiểu, một là người này đã dùng thủ đoạn gì để loại trừ Công Tôn Diễn, chiếm lấy chức tướng quốc nước Tần; hai là người này tại sao vừa lên làm tướng quốc đã đi sứ nước Ngụy. Tần, Ngụy quan hệ căng thẳng, huyết chiến chưa ngưng, lần này Trương Nghi đến, ý đồ hẳn chẳng tốt lành, nhưng không tốt lành ở chỗ nào, thực khiến hắn phải suy nghĩ.
Nhớ đến những xích mích giữa mình và Trương Nghi khi còn ở trong Quỷ Cốc, nghĩ tới Trương Nghi là kẻ quỷ kế mưu mô, trước nay vốn chẳng phải người quang minh lỗi lạc, Bàng Quyên càng không thể ngồi yên, một mặt phái người theo dõi dọc đường, thăm dò khắp nơi, một mặt âm thầm bám sát theo sau.
Trương Nghi vừa bước chân tới Đại Lương, trình lên quốc thư, được thái tử Thân sắp xếp nghỉ ngơi trong dịch quán, thì Bàng Quyên cũng đã tiến vào cổng thành, trở về trong phủ.
Bàng Quyên tắm rửa sạch sẽ, vừa khoác tấm áo lên người, chưa kịp thân mật cùng phu nhân thì Bàng Thông đã vào thông báo, nói là sứ giả nước Tần Trương Nghi cầu kiến, đang đợi ngoài cổng phủ.
“Ồ!” Bàng Quyên kinh ngạc. “Thông đệ hãy nói với hắn, ta không có nhà, vẫn ở trong quân chưa về.”
“Tiểu đệ nói rồi, nhưng người này không tin, nói đại ca đang ở trong phủ, nếu không chịu gặp, hắn sẽ không đi!”
“Ồ…” Bàng Quyên bực bội đi qua đi lại một hồi. “Toàn Đại Lương đều biết ta đang ở trong quân xử lý công việc, tại sao hắn lại biết ta đã hồi phủ?”
Bàng Thông ngơ ngác lắc đầu.
“Thôi được!” Bàng Quyên dừng bước, nét mặt sầm xuống. “Thông đệ hãy mời hắn vào, để ta cho hắn phải nhục nhã một phen!”
Bàng Thông đi ra, mời Trương Nghi vào phòng khách, sau đó lấy cớ bỏ đi. Trương Nghi đợi đến nửa canh giờ, Bàng Quyên mới từ cửa bên đi vào, trên người vẫn khoác áo tắm.
Mặc áo tắm để tiếp khách, trên quan trường là vô cùng bất kính, nhưng ở trước mặt đồng môn lại là chuyện khác, bởi vậy Trương Nghi coi như không nhìn thấy, cười lớn mấy tiếng, đứng dậy vòng tay mà nói: “Đúng là rùa đã ngoi lên khỏi nước, Bàng huynh cuối cùng cũng chịu ra mặt rồi!”
Vừa nghe thấy chữ “rùa”, Bàng Quyên lập tức nhớ tới trò đùa quái ác ở trong núi năm xưa, lập tức mặt mũi đỏ rần, khí huyết sôi sục. Thế nhưng, dù sao cũng là đồng môn gặp gỡ, mình lại thân mặc áo tắm, là người bất kính trước, còn ở ngay trong phủ của mình, giờ Trương Nghi lại tươi cười nghênh đón, Bàng Quyên có giận dữ cũng không thể phát tác, đành cố nhẫn nhịn, hờ hững vòng tay: “Hổ thẹn, hổ thẹn! Tại hạ mới từ tiền tuyến trở về, vừa tắm táp tẩy trần xong, nghe nói Trương huynh giá đáo, chưa kịp thay áo đã vội vàng ra đón lập tức!”
“Hân hạnh, hân hạnh!” Trương Nghi lại vòng tay, coi như đáp lễ, thu nụ cười lại, đi thẳng vào chuyện chính. “Sau khi từ biệt trong Quỷ Cốc, huynh đệ chúng ta mỗi người một phương, gặp mặt một lần thực khó hơn cả lên trời!”
“Ha ha ha, chẳng phải bây giờ đã gặp rồi ư?” Bàng Quyên dừng lại một thoáng, chỉ tay vào chiếu, hời hợt nhường chỗ, phân ngôi chủ khách ngồi xuống, rồi hỏi thẳng thừng. “Dám hỏi Trương huynh, trong thành Đại Lương không ai là không biết tại hạ đang ở Thằng Trì, tại sao Trương huynh lại khẳng định tại hạ đang ở trong phủ?”
“Không giấu Bàng huynh,” Trương Nghi chậm rãi đáp, “tại hạ không những khẳng định Bàng huynh đang ở trong phủ, mà còn biết chắc Bàng huynh đã hộ tống tại hạ trên suốt dọc đường đến Đại Lương.”
Bàng Quyên giật thót mình: “Sao huynh lại khẳng định như vậy?”
“Bởi vì…” Trương Nghi cười ranh mãnh, “trên đời này người hiểu được Bàng huynh, e rằng chỉ có một mình tại hạ.” Rồi ghé sát lại, hạ thấp giọng nói. “Biết Trương Nghi đi sứ, nếu không bám sát theo dõi, liệu có còn là Bàng huynh nữa không?”
“Ha ha ha ha!” Bàng Quyên phá lên cười lớn. “Thật sảng khoái!” Rồi quay sang phía bình phong. “Người đâu, dâng trà!”
Bàng Thông nghe tiếng liền đi vào, châm trà ra chén, rồi cúi đầu lui ra.
“Trương huynh, mời dùng trà!” Bàng Quyên bưng chén trà lên, khẽ vòng hai tay, rồi nhấp một ngụm, đặt chén trà xuống, hai mắt nhìn thẳng tới. “Trương huynh đến đây cũng thực hay! Từ sau khi từ biệt, tại hạ có nhiều khúc mắc còn bỏ ngỏ, đang định thỉnh giáo Trương huynh.”
“Không cần khách sáo!” Trương Nghi cũng nhấp một ngụm trà, đặt chén xuống, nhìn vào Bàng Quyên, chìa tay mời. “Bàng huynh xin cứ hỏi.”
“Trương huynh sẽ không giấu giếm chứ?” Bàng Quyên lại hỏi.
“Tại hạ nếu biết sẽ không dám giấu!”
“Hay lắm!” Bàng Quyên nắn nắn bàn tay. “Giờ tại hạ sẽ hỏi câu đầu tiên” Rồi xích gần lại, hạ thấp giọng. “Trương huynh tại sao lại nỡ từ bỏ sư tỷ, đến chốn phàm trần ô uế này để kiếm chác công danh?”
“Hồi bẩm Bàng huynh!” Trương Nghi tuy trong lòng cũng hơi chấn động, nhưng lập tức định thần, khoé miệng nở một nụ cười, cũng hạ thấp giọng. “Công danh rất tốt đẹp. Bàng huynh chẳng phải là người đầu tiên từ bỏ sư tỷ, đắm thân vào nơi ô uế hay sao?”
Dường như Bàng Quyên không thể ngờ Trương Nghi lại đối đáp như vậy, thoạt tiên sững sờ mất một thoáng, rồi dựng ngón tay cái lên: “Trương huynh trả lời hay lắm. Câu hỏi thứ hai là…” dừng lại một lát, cố ý ngưng tụ khí thế. “Nghe nói Trương huynh thất tình xuống núi, buồn bã mà mượn rượu giải sầu, ở đất Sở đã uống đến say khướt, trong lúc mụ mị lú lẫn đã lấy bừa một cô vợ, có chuyện này chăng?”
“Đúng vậy! Nàng ấy tên là Hương Nữ, theo như vai vế trong cốc, Bàng huynh phải gọi nàng ấy là tẩu tẩu mới phải.”
“Ha ha ha ha!” Bàng Quyên cười vang mấy tiếng. “Hương Nữ? Hương Nữ? Tẩu phu nhân có cái tên thật hay!” Cố ý đưa tay véo mũi, hạ thấp giọng hỏi. “Nghe nói tẩu phu nhân là người mổ lợn, chuyện này có thật không?”
“Lời này không sai!” Trương Nghi cười khẽ một tiếng. “Trời đất xoay vần, ngày sau nếu như Bàng huynh đến hàn xá, tại hạ nhất định sẽ bảo nàng ấy làm thịt một con lợn, bày một bữa tiệc toàn lợn cho Bàng huynh, được chăng?”
“Được, được lắm, tại hạ rất thích ăn thịt lợn!” Bàng Quyên cười âm hiểm, hơi ngả người về phía sau. “Câu hỏi thứ ba của tại hạ là, nghe nói Trương huynh ở đất Sở, thích thú một viên ngọc bích của Sở Vương, định mang đi nhìn ngắm cho kỹ, không may bị lệnh doãn của Đại Sở tưởng lầm là kẻ trộm, bắt ngay tại chỗ, nhốt vào đại lao, đánh cho toạc da nát thịt, chuyện này có thật không?”
“Bàng huynh nghe nhầm rồi!” Trương Nghi vẫn thản nhiên như không, rồi đính chính lại. “Không phải tưởng lầm, mà là làm thực! Tại hạ đã bị ngục tốt Đại Sở đánh cho không còn chỗ nào lành lặn, suýt chút nữa đã không còn cơ hội gặp lại Bàng huynh nữa!”
“Chà chà chà!” Bàng Quyên tặc lưỡi xuýt xoa liền mấy tiếng, rồi vòng tay nói. “Đại nạn không chết, tất có phúc về sau, tại hạ xin được chúc mừng Trương huynh!” Rồi lại nhổm người ghé sát lại gần, hạ thấp giọng mà nói. “Tại hạ rất muốn tận mắt nhìn thấy vật Trương huynh trộm được, à không, là viên ngọc bích mà huynh đã lấy, dám hỏi Trương huynh có nể mặt hay chăng?”
“Khiến Bàng huynh phải thất vọng rồi!” Trương Nghi lắc đầu, nhún vai đáp. “Tại hạ không trộm, cũng chẳng lấy.”
“Ồ?” Bàng Quyên giả bộ ngạc nhiên. “Nói như vậy, Chiêu Dương đã… đã đổ oan cho Trương huynh?”
Trương Nghi cười khẽ một tiếng, gạt đi nhẹ tênh. “Oan cũng chẳng oan, chẳng oan cũng oan, đây là một vụ án không tìm ra lời giải.”
“Trương huynh thật độ lượng!” Bàng Quyên lại giơ ngón cái lên. “Đúng là mỗi người có một chí riêng. Nếu như có kẻ vu oan cho tại hạ, tại hạ nhất định sẽ không đội trời chung, một mất một còn với hắn!”
“Bàng huynh còn muốn hỏi gì nữa chăng?”
“Còn, còn, còn!” Bàng Quyên lại quay về chuyện chính. “Tại hạ rất đỗi hiếu kỳ, còn rất nhiều điều muốn hỏi. Câu hỏi thứ tư là, nghe nói Trương huynh không thèm lưu lại đất Sở, đến Triệu dựa dẫm Tô huynh, nhưng lại bị Tô huynh ngỡ là ăn mày, thí cho mười lượng vàng rồi đuổi đi, có chuyện này chăng?”
“Đích thực có chuyện này!”
“Than ôi!” Bàng Quyên thở dài một tiếng. “Khi còn ở trong cốc, Tô huynh trông thật thà đôn hậu biết nhường nào, thật không thể ngờ sau khi xuống núi lại trở nên nhỏ mọn như vậy, chỉ thưởng có mười lượng vàng. Nếu như Trương huynh đến phủ tại hạ xin tiền, chắc chắn sẽ thưởng cho huynh trăm lượng!” Rồi nhổ phì một tiếng. “Chính vì điều này mà tại hạ thấy khinh thường hắn!”
“Còn câu hỏi thứ năm?” Trương Nghi mặt không hề có vẻ giận, điềm tĩnh hỏi.
“Ha ha ha, Trương huynh vẫn cứ nóng vội như thế!” Bàng Quyên cười phì một tiếng, nói tiếp. “Nghe nói Trương huynh và người Tần có mối thù giết cha, mối hận nhục mẹ, có chuyện này chăng?”
Bàng Quyên cố ý đổi chữ “bức” thành chữ “nhục”, lẳng lặng quan sát phản ứng của Trương Nghi.
“Có!”
“Hỡi ôi!” Bàng Quyên càng thở dài sườn sượt. “Nho gia Trọng Ni có câu, ‘thù giết cha không đội trời chung’, mà nay lại cộng thêm mối hận mẹ bị làm nhục. Than ôi, hôm nay tại hạ mới biết, Trương huynh quả thực chẳng dễ dàng gì, chỉ vì công danh lợi lộc mà đem thân phụng sự kẻ thù, mối thù giết cha, mối hận nhục mẹ, đều vứt bỏ sạch không!” Lại than ngắn thở dài thêm mấy tiếng, lắc đầu, cất giọng châm chọc. “Than ôi, Trương huynh, có đáng không? Hay không đáng?”
Trương Nghi không tiếp lời, cũng chẳng tức giận, hai mắt cứ nhìn Bàng Quyên không chớp.
“Trương huynh không cảm thấy hổ thẹn ư?”
Trương Nghi mỉm cười, khẽ lắc đầu.
“Trương huynh không cảm thấy nhục nhã ư?”
Trương Nghi lại mỉm cười, vẫn lắc đầu.
“Lớp da mặt của Trương huynh…” Bàng Quyên vụt một cái đổi ngay sắc mặt, giọng nói lạnh lẽo, bưng chén trà lên, làm ra bộ đuổi khách, “dày đến mức đó ư?”
“Bàng huynh bớt giận!” Trương Nghi sờ lên mặt, miệng vẫn nở nụ cười. “Lớp da mặt này nếu không đủ dày, thì làm sao có thể chia bớt cho người khác?”
“Chia bớt cho người khác?”
“Chia cho Bàng huynh đấy!”
“Chia cho ta?” Bàng Quyên giật mình, hai mắt nhìn xoáy lại. “Ta làm sao?”
“Bàng huynh thứ gì cũng tốt cả, chỉ có điều…” Trương Nghi chỉ tay vào mặt Bàng Quyên, “chỗ này không có da!”
“Họ Trương kia!” Bàng Quyên nổi giận, đập bàn, gằn từng chữ. “Lời này phải giải thích thế nào?”
“Đương nhiên là giải thích được!” Đến lượt Trương Nghi tinh thần phấn chấn, lúc lắc cái đầu. “Thân là tướng quân vô địch, cầm đầu đội quân sáu nước, đánh vào cửa ngõ một nước, cửa chưa vỡ mà sáu quân đã quăng giáp bỏ mũ, kinh hoàng tháo chạy, dám hỏi Bàng huynh, thân là chủ soái, trên mặt liệu có da hay không?”
“Ngươi…” Bàng Quyên chỉ tay vào Trương Nghi, sắc mặt trắng bệch, giận dữ tột độ.
“Còn nữa!” Trương Nghi không nhanh không chậm, giọng điệu trầm bổng hùng hồn, song lời lời chấn động tâm can. “Không nghe lời khuyên của tướng quốc sáu nước, cố chấp ý mình phạt Tần, mà không nhận ra hai vương Tề, Sở sớm đã cấu kết với nhau, đều muốn bán đứng Ngụy, cực lực xúi bẩy quân chủ dấn thân vào nguy hiểm, thân là chủ tướng một nước, trên mặt Bàng huynh liệu có da hay không?”
Cánh tay của Bàng Quyên bắt đầu run rẩy, toàn thân cũng rung động kịch liệt, giọng nói vì quá tức giận mà tắc nghẽn trong cổ họng.
“Bàng huynh!” Trương Nghi khẽ cười, vòng tay nói. “Lần này tại hạ đến đây, không phải để vạch mặt người khác, cũng chẳng để ca ngợi ai, chỉ là để tặng Bàng huynh một bộ da mặt, mong Bàng huynh vui vẻ nhận cho.”
“Bộ da mặt gì?” Bàng Quyên cuối cùng cũng bật ra được một câu, hai con mắt như muốn toé lửa.
“Liên hoành!”
“Liên hoành?” Đây rõ ràng là lần đầu tiên Bàng Quyên nghe nói tới từ này, ánh mắt như dò hỏi.
“Chính là hợp tác với tại hạ, giúp tại hạ thuyết phục Ngụy Vương, cùng kết minh hoà mục với Tần!”
“Điều này có liên can gì tới liên hoành?”
“Bàng huynh chẳng phải là bậc cao cờ ư? Thế cờ có dọc có ngang, Tô Tần dụ dỗ liệt quốc hợp tung, tại sao huynh đệ chúng ta không liên thủ, tạo ra một cái gọi là liên hoành?”
“Ha ha ha ha!” Bàng Quyên phá lên cười vang vài tiếng. “Con cáo cuối cùng cũng đã chịu lòi đuôi. Trương huynh vòng vèo qua lại, cuối cùng cũng đã vòng đến chuyện chính!” Rồi sắc mặt sầm xuống, mũi ưng quặp lại, giọng nói như rít qua kẽ răng. “Nể tình huynh là khách từ xa tới, niệm tình đồng môn trong mấy năm trời, tại hạ sẽ không làm huynh phải mất mặt!” Rồi gạt chén trà, đứng dậy, quát lớn. “Người đâu, tiễn khách!” Không đợi Trương Nghi đứng dậy, đã đi thẳng ra khỏi cửa bên.
Trương Nghi nhìn theo bóng Bàng Quyên, bật ra một tiếng cười nhạt, rồi chậm rãi đứng dậy, lắc đầu mấy cái, nghênh ngang bước ra khỏi phòng khách.
***
Từ khi Trang Chu đến, bệnh tình của Ngụy Huệ Vương đã thuyên giảm rất nhiều, ăn ngon miệng, ngủ ngon giấc, dậy sớm, năng đi lại, như đã biến thành một người khác hẳn. Tuy nhiên, mặc dù bệnh cũ đã qua, nhưng bệnh mới lại đến. Huệ Vương cho dù là mở mắt hay nhắm mắt, vẫn không thể xoá được bộ dạng nhếch nhác rách rưới của Trang Chu.
“Thần nhân, đúng là thần nhân!” Huệ Vương đi đi lại lại trong hậu hoa viên, cứ lẩm nhẩm mãi một câu.
“Bệ hạ!” Huệ Vương khỏi bệnh, tâm trạng của tỳ nhân cũng vui vẻ hơn nhiều, cười hớn hở mà nói. “Theo lão nô thấy, Trang tiên sinh không phải thần nhân, mà là một quái nhân! Tuy nhiên, học vấn của tiên sinh đúng là rộng lớn, chẳng trách Huệ đại nhân lại tỏ ra cung kính đến vậy.”
Nghe thấy hai chữ “học vấn”, Huệ Vương lại nổi hứng, sải bước rảo nhanh về phía tàng thư viện, cùng tỳ nhân lục tìm những trước tác của Trang Chu. Tàng thư viện quá lớn, quá nhiều giá sách, chưa được bao lâu, hai người đều đã mệt lử. Tỳ nhân sai cung nữ mang nước sạch đến để rửa tay, rồi dìu Huệ Vương về chính điện nghỉ ngơi, gọi thái sử lệnh đến, bảo ông ta tìm lấy hai mươi mấy tên hoạn quan biết chữ, kiểm tra lần lượt từng dãy sách bày trên các giá, bận bịu đến tận tối mịt mà vẫn không tìm ra một cuốn sách nào của Trang Chu.
Thái sử lệnh cáo từ, Huệ Vương buồn bã không vui.
“Bệ hạ!” Tỳ nhân hạ giọng bẩm báo. “Có lẽ là Trang Chu tiên sinh chưa từng viết sách. Thư phòng của bệ hạ rất đầy đủ, sĩ tử liệt quốc, phàm là người nổi tiếng đều thấy có sách, duy chỉ Trang Chu…”
Huệ Vương lại nhìn vào từng dãy giá sách, thở dài một tiếng, rõ ràng cảm thấy thất vọng vì chưa thể có được sách của Trang Chu.
Mấy tháng nay, Huệ Vương không lên triều, ở chỗ tỳ nhân tấu báo chất chồng thành đống, lúc này cũng muốn nhân đà kéo Huệ Vương trở về hiện thực, liền cười mà nói: “Có lẽ Trang tiên sinh chỉ giỏi nói mà thôi, Huệ đại nhân mời tiên sinh đến đây chẳng qua là để giải khuây cho bệ hạ!”
“Ngươi nói cũng phải!” Huệ Vương gật đầu. “Thánh nhân từ xưa chỉ thuật lại mà không trước tác, Trang Chu cũng là một thánh nhân đương thế.”
“Thánh nhân ai cũng thông hiểu đạo trời đất, thuật trị quốc. Bệ hạ cớ sao không triệu Trang tiên sinh yết kiến, để hỏi về việc nước. Trang tiên sinh có phải là thánh nhân hay không, hỏi là sẽ biết ngay thôi!”
“Phải lắm! Quả nhân cũng đang có một số việc bế tắc. Truyền chỉ Huệ ái khanh, mời Trang tiên sinh!”
Giờ Mão hôm sau, Huệ Thi lại dẫn Trang Chu vào cung, Huệ Vương đã bày sẵn yến tiệc ở ngự hoa viên để khoản đãi.
Rượu qua mấy tuần, Huệ Vương cung kính vòng tay: “Lần trước nghe tiên sinh nói, giống như nghe lời thần nhân, Ngụy Anh trong ngoài chấn động, cơ thể mắc bệnh lâu ngày đột nhiên khỏi hẳn, giống như thoát thai hoán cốt. Tiên sinh quả là nhã sĩ siêu phàm thoát tục, nhưng Ngụy Anh lại là người phàm tục, có một số việc thế tục muốn hỏi tiên sinh, dám mong tiên sinh chớ tiếc lời chỉ giáo.”
“Đại vương muốn hỏi chuyện gì?” Trang Chu cũng không khách sáo, vòng tay đáp lễ, cười mà nhìn ông ta.
“Quả nhân kế thừa cơ nghiệp tổ tông, mấy chục năm không dám lơ là. Tuy nhiên, phía tây có họ Doanh xâm phạm ta, phía đông có họ Điền làm nhục ta, phía bắc có họ Triệu chống lại ta, phía nam có họ Hùng lừa gạt ta, khiến ta trong lòng bực bội. Chuyện này mà nhẫn nhịn được, thì còn chuyện gì không nhẫn nhịn được?”
“Dám hỏi đại vương, họ xâm phạm, làm nhục, chống lại và lừa gạt đại vương như thế nào?”
“Một lời khó hết. Nói ngay đến việc hiện tại, họ Doanh giết hại tám vạn tướng sĩ của ta, chiếm Hà Tây của ta. Để thu phục Hà Tây, Ngụy Anh đã nghe theo kế sách hợp tung phạt Tần của Tô Tần, tập hợp quân sáu nước tại Hàm Cốc, ai ngờ nảy sinh sự biến, Yên, Tề xung đột, chưa đánh đã rút quân, người Sở án binh bất động, người Triệu thông đồng với Tần bán rẻ ta, khiến ta sắp thành lại bại, uất ức đến tận ngày nay.”
Trang Chu nghe vậy, chỉ phá lên cười nghiêng ngả.
Huệ Vương cứ để ông ta cười cho đã, hồi lâu sau mới hỏi: “Dám hỏi cao sĩ, lời Ngụy Anh nực cười lắm ư?”
“Nực cười, nực cười!” Trang Chu lại cười thêm vài tràng, rồi nghiêng người hỏi. “Đại vương đã từng nghe chuyện người ốc sên hay chưa?”
“Người ốc sên?” Huệ Vương lắc đầu.
“Chính là giống người sống trên đầu con ốc sên đó!”
“Ồ?” Huệ Vương hai mắt mở tròn. “Trên đầu con ốc sên, người làm sao có thể ở được?”
“Có thể, có thể!” Trang Chu khẳng định chắc nịch. “Trên đầu con ốc sên có hai cái sừng, sừng bên trái là một nước, tên là Xúc, sừng bên phải là một nước, tên là Man, hai nước vì tranh giành mảnh đất trên trán con ốc sên, đã giao chiến kịch liệt suốt mấy ngày trời, xác chết trăm vạn, máu chảy thành sông!”
“Ai thắng ai bại?” Huệ Vương quên phắt cả thật giả, vội vàng hỏi ngay kết quả.
“Man thắng, Xúc bại, nước Man truy sát bại quân của nước Xúc, đuổi suốt năm ngày mới quay về!”
“Chà chà!” Huệ Vương kinh ngạc kêu lên, cúi đầu ngẫm nghĩ một hồi, rồi phì cười nói. “Tiên sinh, chắc hẳn đây là chuyện bịa?”
“Nếu nói như vậy, đại vương hẳn là muốn nghe lời thực?”
“Muốn nghe lời thực!”
“Xin hỏi đại vương, bốn phương, trên dưới, có điểm tận cùng hay không?”
“Không có!”
“Các vùng trong thiên hạ, có điểm tận cùng hay không?”
“Có!”
“Cái tâm của đại vương, có tự do không?”
“Có!”
“Nếu cái tâm tự do của đại vương lúc lại ngao du trong vũ trụ bao la không có điểm tận cùng, lúc lại gò bó trong thiên hạ có điểm tận cùng, liệu có phải sẽ có một thứ cảm giác như sống như chết, như mất như được hay không?”
Huệ Vương nhắm mắt hồi lâu, rồi khẽ gật đầu: “Ừm, chắc chắn sẽ có cảm giác này.”
“Trong cái thiên hạ có điểm tận cùng này, có một mảnh đất tên là nước Ngụy. Trong nước Ngụy này, có một mảnh đất tên là thành Đại Lương. Trong thành Đại Lương này, có một mảnh đất gọi là vương cung. Trong vương cung này, có một người gọi là đại vương, có phải không?”
“Phải!”
“Từ đó mà suy ra, đại vương có khác gì so với hai vua Xúc, Man hay không?”
“Ơ…” Huệ Vương gãi đầu, “dường như không có gì khác biệt.”
“Vậy thì đúng rồi!” Trang Chu nhắm mắt lại.
Trong điện lặng phắc như tờ.
Tất cả những người đang có mặt đều đã bị Trang Chu lôi kéo vào trong câu chuyện thú vị về cuộc tranh chấp giữa nước Man và nước Xúc.
“Tiên sinh đúng là thần nhân!” Huệ Vương định thần lại đầu tiên, thành kính vòng tay. “Kiến giải của tiên sinh, người thường không thể sánh bằng. Ngụy Anh có một thỉnh cầu, kính mong tiên sinh tác thành!”
“Đại vương xin cứ nói!”
“Ngụy Anh tài mọn, thành tâm cầu bái tiên sinh làm quốc sư, khẩn cầu tiên sinh đừng từ chối!”
“Ha ha ha ha!” Trang Chu ngửa mặt lên trời cười lớn.
“Tiên sinh?”
“Bệ hạ có điều không biết,” Huệ Thi vẫn ngồi nhắm mắt từ đầu, lúc này bỗng lên tiếng, “không lâu trước đây, Sở Vương tới thỉnh cầu Trang Chu làm quốc sư, Tống Vương thỉnh cầu Trang Chu làm tướng quốc, Trang Chu chạy đến đây, chính là để lẩn tránh hai vị vương này!”
“Ồ?” Huệ Vương kinh ngạc, băn khoăn nhìn Trang Chu. “Tại sao tiên sinh lại phải lẩn tránh?”
“Không có lý do nào khác, chỉ vì bất lợi cho an dưỡng.” Trang Chu điềm đạm đáp.
“An dưỡng?” Huệ Vương nghe mà hào hứng, hít vào một hơi dài, nghiêng người hỏi. “Tiên sinh có thể chỉ dạy cách an dưỡng hay không?”
“Vứt bỏ tri thức!”
“Vứt bỏ tri thức?” Huệ Vương băn khoăn. “Người ta đều cầu tri thức, không có tri thức làm sao có thể an dưỡng?”
“Đời người có hạn, mà tri thức lại vô cùng. Lấy cái có hạn để theo đuổi cái vô cùng, há chẳng phải hoang đường lắm ư?”
“Ồ, chí lý!” Huệ Vương trầm ngâm một lúc, rồi dựng ngón tay cái lên. “Lời tiên sinh thực chí lý. Ngoài vứt bỏ tri thức, còn có cách nào khác không?”
“Bỏ thiện ác!”
Huệ Vương ngơ ngác: “Từ bỏ cái ác còn có thể hiểu được, nhưng tại sao lại từ bỏ cái thiện?”
“Phúc hoạ nương tựa, thiện ác theo nhau, không có thiện sẽ không có ác. Nếu không từ bỏ thiện, sao có thể vứt bỏ ác?”
“Ừm, cũng là có lý!” Huệ Vương đột nhiên bừng tỉnh, nghiêng người về phía trước. “Còn gì nữa không?”
“Thuận theo đạo trời, ứng theo mệnh người, gọi là thiên nhân hợp nhất. Nếu đại vương làm được đến độ thiên nhân hợp nhất, sẽ được trường thọ vĩnh cửu!”
Nghe thấy hai chữ “trường thọ”, Huệ Vương lại hít vào một hơi dài, ánh mắt sáng rực: “Quả nhân, à không, không, Ngụy Anh phải làm thế nào mới có thể thuận theo đạo trời, ứng theo mệnh người?”
“Đại vương đã từng thấy đầu bếp mổ trâu hay chưa?”
“Ngụy Anh không nhẫn tâm thấy cảnh đổ máu, nên luôn tránh xa nhà bếp.”
“Năm đó Trang Chu ngao du tới nước Triệu, tận mắt nhìn thấy đầu bếp mổ trâu. Mà nhìn người đầu bếp ấy, lúc chạm tay, lúc dựa vai, lúc đạp chân, lúc tì gối, hướng dao đưa, trâu bị xẻ, không gì không theo tiết tấu, không hợp âm luật, giống như đang múa theo nhịp điệu tuyệt mỹ của những khúc ‘Tang lâm’, ‘Kinh thủ’.”
“Tài nghệ thần kỳ!” Huệ Vương tán thưởng. “Hắn làm thế nào để đạt đến cảnh giới đó?”
“Trang Chu cũng hỏi hắn như vậy, đầu bếp liền đáp: ‘Không có gì khác, hợp với đạo mà thôi. Khi tại hạ mới mổ trâu, trong mắt chỉ nhìn thấy trâu. Ba năm sau, trong mắt không còn thấy con trâu nguyên lành. Cho đến nay, tại hạ chỉ dùng thần để cảm, không dùng mắt để nhìn. Khi mổ trâu, tại hạ thuận theo lý trời, tránh cứng cắt mềm, cắt trúng chỗ trọng yếu, dựa theo trực giác, cắt đâu đứt đấy. Đầu bếp tốt một năm thay một con dao, vì anh ta cắt. Đầu bếp tầm thường một tháng thay một con dao, vì anh ta chặt. Dao của tại hạ đã dùng mười chín năm rồi, mổ hàng ngàn con trâu, lưỡi dao vẫn như vừa mới mài xong. Tại sao lại như vậy? Giữa xương khớp có khoảng trống, lưỡi dao lại không dày; lấy không dày lách vào khoảng trống, tại hạ sẽ nhẹ nhõm thong dong, đưa dao ngọt xớt. Tuy nhiên, cho dù là như vậy, mỗi khi gặp phải chỗ xương gân chằng chịt, tại hạ vẫn phải toàn thần tập trung, cẩn thận đưa dao, đợi cho khớp tự tách rời, thân trâu rời rã như đất rải trên nền, lúc này tại hạ mới thở phào một hơi, cầm dao đứng dậy, đưa mắt nhìn quanh, thoả lòng đắc chí, lau dao mà cất đi.’”
Trang Chu kể liền một mạch, Huệ Vương nghe xong, tấm tắc khen ngợi: “Sảng khoái, sảng khoái!”
Mọi người bỗng quên bẵng việc triều chính, bắt đầu bàn tán về chuyện an dưỡng, lúc thì đi lại chỗ này, lúc lại đứng ngồi chỗ kia, bất giác trời tối mịt lúc nào không biết.
Thấy không còn sớm nữa, Huệ Thi đứng dậy cáo lui, nhưng Huệ Vương dường như vẫn chưa tận hứng, bèn giữ Trang Chu lại để trò chuyện thâu đêm.
Sau khi Trương Nghi đi rồi, Bàng Quyên không thể ngồi yên được nữa. Lần này Trương Nghi đến, rõ ràng không phải để giảng hoà. Mối huyết thù giữa Tần và Ngụy ngày càng thêm sâu sắc, Hàm Cốc khói lửa chưa tắt, vẫn kiếm tuốt cung giương, nay lại tới rêu rao hoà mục, đúng là chuyện nực cười.
Không phải giảng hoà, vậy mục đích là gì?
Bàng Quyên ngồi trong tĩnh thất, thức trắng một đêm để nghiền ngẫm xâu chuỗi lại các sự việc từ khi Trương Nghi xuống núi, đến Sở thì diệt Việt, sang Tần thì lập tức đánh bại Công Tôn Diễn mà thành tướng quốc, lại tính toán kỹ lưỡng về ý đồ liên hoành của hắn, càng chắc chắn hắn có ý đồ bất thiện, sáng sớm hôm sau thức dậy, lập tức đánh xe thẳng tới vương cung.
Bàng Quyên đi thẳng vào hậu cung, nội thần túc trực bèn vào trong bẩm báo. Một lát sau, tỳ nhân đi ra, vòng tay nói: “Bệ hạ suốt đêm không ngủ, lúc này vừa mới chợp mắt, dám hỏi Vũ An Quân có chuyện gì hệ trọng?”
“Suốt đêm không ngủ?” Bàng Quyên giật mình. “Long thể của bệ hạ…” Hỏi rồi lại ngập ngừng.
“Hồi bẩm Vũ An Quân.” Tỳ nhân mỉm cười. “Long thể của bệ hạ đã tốt hơn nhiều, đêm qua trò chuyện sảng khoái với người ta, nên mới suốt đêm không ngủ.”
“Trò chuyện sảng khoái với người ta?” Bàng Quyên lại giật nảy mình, con ngươi khẽ đảo, rồi nở một nụ cười. “Dám hỏi các lão, bệ hạ trò chuyện cùng người nào, sao lại có hứng như vậy?”
“Là bạn của Huệ tướng quốc, họ Trang tên Chu, rất giỏi ăn nói.”
“Ồ?” Bàng Quyên thầm ớn lạnh trong lòng, mặt cũng biến sắc. “Lẽ nào còn giỏi ăn nói hơn Huệ tướng quốc?”
“Phải! Chỉ cần người này có mặt, sẽ chẳng còn chỗ cho Huệ tướng quốc xen vào nữa!”
“Chà chà!” Bàng Quyên tặc lưỡi, hạ giọng. “Dám hỏi các lão, Trang tiên sinh đã nói với bệ hạ những gì?”
“Đều là những vấn đề về dưỡng sinh kéo dài tuổi thọ, cái gì mà trời đất, âm dương, khiến lão nô nghe mà xây xẩm cả đầu óc.”
Nghe thấy chỉ là nói về những chuyện này, Bàng Quyên mới thở phào một hơi, đổi mặt thành cười: “Tốt quá, tốt quá, chẳng trách bệ hạ lại vui như vậy. Long thể của bệ hạ cần được an dưỡng chu đáo.”
“Đúng vậy! Vũ An Quân không có chuyện gấp gì chứ?”
Nghĩ tới việc cần tấu cũng không quá gấp, vừa nãy là bản thân quá đỗi nóng vội bất an, giờ cũng đã thấy yên dạ, bèn vòng tay cười nói: “Không gấp, không gấp, tại hạ chỉ là vừa mới từ Thằng Trì trở về, muốn bẩm báo với bệ hạ một số việc trong quân, cho bệ hạ an tâm.”
“Nếu như không gấp, vậy xin Vũ An Quân mấy hôm nữa hãy tới. Xem tình hình này, bệ hạ còn muốn trò chuyện với Trang tiên sinh khá lâu nữa.”
“Được, được, được! Bệ hạ vui vẻ là được!”
Bàng Quyên vòng tay từ biệt, sải bước ra khỏi cung, đang định lên xe, bỗng từ bên cạnh có một người đi thẳng đến, hai tay dâng lên một bức thư. Bàng Quyên mở ra, thấy bên trong là tấm da dê, có viết một địa chỉ và vài nét vẽ nguệch ngoạc.
Ánh mắt của Bàng Quyên dừng lại trên bức vẽ, cứ nhìn qua nhìn lại một hồi, mà vẫn không nhận ra ẩn ý gì. Bức hình chằng chịt các nét vạch, tất cả đều chỉ về địa chỉ kia. Các đường nét hoặc quanh co, hoặc gấp khúc, hoặc giao cắt, hoặc chồng chéo lên nhau, cứ như tiện tay vẽ bậy, lại giống như có ẩn ý khéo léo. Bàng Quyên chau mày ngẫm nghĩ một lúc, định hỏi người đưa thư, không ngờ lại là một gã câm.
Bàng Quyên đuổi gã câm đi, tiếp tục suy ngẫm về bức vẽ, càng suy ngẫm lại càng thấy tức giận, liền ném toẹt bức thư xuống đất, bảo phu xe đánh xe về phủ. Đi được một lúc, Bàng Quyên lại quát dừng xe, sai phu xe quay trở lại, tự tay nhặt lấy tấm da dê vẫn còn nằm chỏng chơ trên đất, lại nghiền ngẫm một hồi, rồi dứt khoát bảo phu xe đánh xe đến địa chỉ viết trong thư.
Là một quán trọ bình thường.
Đã có người đứng đợi sẵn ở cửa, thấy Bàng Quyên đến, liền vòng tay mời vào.
Ở gần quán trọ này chính là hình ngục, khách trọ phần lớn đều có liên quan đến hình ngục, người khác rất ít khi tới đây. Nghĩ tới nơi này cảnh giới nghiêm ngặt, hình ngục lại thuộc phạm vi cai quản của Bạch Hổ, Bàng Quyên không hề sợ hãi, sải bước đi thẳng vào bên trong, liên tiếp đi qua hai tầng cửa, tiến vào một khu nhà khang trang.
Người kia dẫn Bàng Quyên vào trong sân, chìa tay mời vào sảnh đường, rồi vòng tay lui ra. Bàng Quyên thoáng do dự, rồi cũng sải bước đi vào trong cửa, thấy bên trong có một người đang ngồi ngay ngắn, chiếu khách vẫn còn để trống, rõ ràng là dành cho Bàng Quyên.
Bàng Quyên nhìn thẳng tới.
Người này y phục một màu trắng tuyền, tóc dài xoã vai, dáng dấp phong lưu nho nhã, trên người không có vũ khí, ngồi quay lưng về phía Bàng Quyên. Bàng Quyên đảo mắt nhìn khắp xung quanh, thấy không có gì bất thường, mới từ từ bước vào, vén áo ngồi xuống vị trí khách, cố tình đặng hắng một tiếng.
Người đó quay lại.
Là Trương Nghi!
“Bàng huynh, tại hạ chờ đã lâu rồi!” Trương Nghi vòng tay, nheo mắt cười.
“Trương huynh…” Bàng Quyên lúc này cũng đã định thần trở lại sau cơn kinh ngạc, đưa tay chỉ vào Trương Nghi, “mời tại hạ đến đây làm gì?”
“Uống rượu!” Trương Nghi nói đoạn, liền vỗ tay.
Lập tức vọng tới những tiếng bước chân rậm rịch, một hàng người hầu nối đuôi nhau tiến vào, mỗi người bưng theo một đĩa thức ăn, thảy đều là sơn hào hải vị, người cuối cùng bưng một hũ rượu lớn.
Tất cả bày đặt xong xuôi, người hầu rót rượu cho hai người, sau đó lui ra.
Trương Nghi nâng chén, nói với Bàng Quyên: “Bàng huynh, mời!”
“Nếu tại hạ không uống thì sao?” Bàng Quyên không nhìn chén rượu, chỉ nhìn chằm chằm vào Trương Nghi.
Trương Nghi một hơi uống cạn, đoạn đặt chén xuống rót rượu, đưa mắt liếc xéo Bàng Quyên, chậm rãi nói: “Như vậy là không nên không phải với rượu!”
Bàng Quyên cười lớn mấy tiếng, bưng chén rượu lên, một hơi uống cạn, rồi cũng tự mình rót rượu, vừa rót vừa hỏi: “Tại sao huynh cho rằng tại hạ nhất định sẽ đến?”
“Lòng hiếu kỳ, ai ai cũng có!” Trương Nghi tiếp tục nâng chén, vòng tay nói.
Bàng Quyên mấp máy môi mấy cái, rồi lấy tấm da dê từ trong tay áo ra, chỉ vào hình vẽ trên đó, nói: “Được thôi, tại hạ đành nhận mình xui xẻo. Huynh hãy nói xem, bức hình này có thâm ý gì không?”
“Có chứ!” Trương Nghi liếc xéo Bàng Quyên một cái, rồi lại hất hàm về phía tấm da dê. “Là một bàn cờ, ngang dọc đều có đường riêng, Bàng huynh cũng là người thích chơi cờ, đáng lẽ phải nhìn ra mới đúng.”
“Bàn cờ?” Bàng Quyên hết sức kinh ngạc, lại chăm chú nhìn vào những đường vạch vẽ cong queo gấp khúc kia, nửa như tự nhủ, nửa như muốn hỏi. “Bàn cờ phải là ngang dọc giao nhau mới phải, nhưng bức hình này…”
“Ha ha ha!” Trương Nghi cười nói. “Chẳng phải chúng cũng là ngang dọc giao nhau hay sao?”
“Nhưng chúng là những đường cong queo gấp khúc.”
“Bởi vì…” Trương Nghi cười âm trầm, “chúng là do tại hạ cố ý vẽ riêng cho Bàng huynh. Giả sử là vẽ cho Tô huynh và Tôn huynh, thì chúng sẽ được vẽ thành đường thẳng.”
“Tại sao lại như vậy?”
“Vì cái tâm của họ ngay thẳng, còn cái tâm của Bàng huynh, lại giống hệt như những nét vẽ kia.”
Bàng Quyên lại phá lên cười lớn, tự mình rót một chén rượu, một hơi uống cạn, rồi dằn chén lên mặt bàn đánh cạch: “Sảng khoái, sảng khoái! Lần này mời tại hạ đến, dù sao cũng phải có một lý do chứ?”
“Đấu cờ!”
“Mang cờ tới đây!”
“Bàn cờ ở kia đấy thôi!” Trương Nghi dẩu mỏ về phía tấm da dê. “Mời Bàng huynh hạ cờ.”
Bàng Quyên nhìn chằm chằm vào bức vẽ nguệch ngoạc trên tấm da dê, băn khoăn không biết phải làm gì, hồi lâu sau mới khẽ chau mày, ngẩng đầu nhìn Trương Nghi: “Hạ cờ thế nào, mong Trương huynh chỉ điểm!”
“Nếu Bàng huynh muốn hạ cờ, thì phải nhìn rõ thế cờ.”
“Ồ…” Bàng Quyên tiếp tục ngắm nghía những ô cờ biến dạng trên bức vẽ, lại chau mày. “Thế cờ nằm ở đâu?”
Trương Nghi cười ha hả, rồi rút từ dưới mông lên một tấm da trâu, là một bàn cờ ngang dọc rõ ràng hơn nhiều.
“Bàng huynh hãy xem!” Trương Nghi cầm lấy một quân cờ, đặt vào vị trí Thiên nguyên. “Đây là Đại Ngụy, nằm ở giữa thiên hạ.” Lại bày thêm hơn chục quân cờ nữa, lần lượt đặt ở bốn bên. “Đây là liệt quốc, nằm ở rìa thiên hạ.”
“Cái này không cần phải nói!” Bàng Quyên xua tay. “Hãy nói thẳng vào đề đi.”
“Chủ đề là,” Trương Nghi chỉ tay vào các quân cờ ở bốn phía, “xung quanh Đại Ngụy, kẻ địch vây kín, xa tạm chưa nói, chỉ tính riêng mấy năm gần đây, Tề có mối nhục Hoàng Trì, Sở có mối nhục Hình Sơn, Triệu có mối hận Triều Ca, Hàn có tranh chấp Nam Dương, Tần thì không cần nói nữa. Ngụy nằm ở giữa mà chẳng có bạn, bốn mặt là thù, còn Bàng huynh lại là thượng tướng quân của nước thù. Đây là đại thế của liệt quốc.”
“Như vậy thì đã sao?” Bàng Quyên liếc nhìn bàn cờ, cười lạnh nhạt.
“Bàng huynh lại nhìn xem!” Trương Nghi bỏ tất cả các quân cờ ra, đặt một quân ở vị trí Thiên nguyên. “Đây là Đại Ngụy bệ hạ!” Lại cầm lên mấy quân cờ, lần lượt bày sang một bên, vừa bày vừa nói. “Đây là thái tử điện hạ, đây là Tô Tần, đây là Huệ tướng quốc, đây là Chu thượng khanh, đây là Bạch tư đồ, đây là những quyền thần khác trong vương thất!” Lại đặt một quân đứng một mình ở một bên. “Đây là Bàng huynh, Vũ An Quân đại nhân!” Rồi nghiêng người ngắm nghía bàn cờ. “Đây là đại thế triều đình Đại Ngụy.”
Trương Nghi một đòn chỉ thẳng vào điểm yếu. Bàng Quyên bàng hoàng, ngơ ngẩn nhìn vào bàn cờ.
“Đại thế đã rõ, là dọc là ngang, mời Bàng huynh hãy hạ cờ!” Trương Nghi từ từ thu quân cờ lại, chỉ vào bàn cờ trống không.
Lúc này, Bàng Quyên cũng thấy chấn động trước trận thế trực quan này, khẽ vòng tay hỏi: “Theo ý của Trương huynh, thế cờ này tại hạ nên đi như thế nào?”
“Đại thế thiên hạ, cờ đi dọc ngang, nếu đường dọc đã không thông, đối với Bàng huynh mà nói, không còn con đường nào khác, chỉ còn đường ngang có thể đi!”
“Tại sao đường dọc lại không thông?”
“Người khác không hiểu Tô huynh, Bàng huynh cũng không hiểu hay sao? Tô huynh là người cố chấp, huynh cũng hiểu rõ. Tô huynh đã vạch ra kế sách hợp tung, coi Tần là một chiêu bài, muốn hợp nhất liệt quốc thiên hạ thành một đường dọc, thực hiện giấc mộng liệt quốc cùng trị. Bàng huynh thông kim bác cổ, từ thời Nghiêu Thuấn đến nay, giấc mộng thiên hạ cùng trị, kỳ thực đã tan vỡ từ lâu. Tại sao lại tan vỡ? Bởi vì cái tâm của con người vốn là ích kỷ, quân chủ liệt quốc đều có mưu riêng, bề tôi liệt quốc ai vì chủ nấy, thiên hạ giống như một đĩa cát rời rạc, đĩa rung cát động, thôn tính lẫn nhau, kẻ yếu mong tồn tại, kẻ mạnh mong bá chủ, mà Tô huynh vẫn khư khư ôm giấc mộng tàn, há chẳng đáng buồn ư? Bàng huynh thử nghĩ xem, nếu thiên hạ có thể hợp tung, lấy sáu để phạt một, thì Bàng huynh cớ sao lại phải chiến bại ở Hàm Cốc?”
Bàng Quyên hít vào một hơi dài, rồi từ từ thở ra, gật đầu nói: “Xin nói về thế cờ ngang, Trương huynh sẽ đi như thế nào?”
“Bàng huynh đã nhìn thấy con cua hay chưa?”
“Con cua như thế nào?”
“Con cua luôn bò ngang, thấy cá giết cá, thấy tôm giết tôm, dùng hai càng tám cẳng lập uy chốn sông hồ, mọi vật ở dưới nước đều phải kính sợ nó, nghe lời nó, phục tùng nó.”
“Thế cờ ngang của Trương huynh là…” Bàng Quyên hai mắt trợn trừng, nín thở.
“Thế cờ ngang của tại hạ, chính là cách đi mà Bàng huynh ưa thích, nói một cách đơn giản, chỉ có một chiêu, chính là đi như con cua, dùng tám cẳng hai càng quét ngang thiên hạ, kẻ theo ta thì sống, kẻ cản ta thì chết!”
“Không sai, không sai!” Bàng Quyên khẽ vỗ tay. “Cách đi này rất hợp với ý của tại hạ!” Rồi nhổm người về phía trước. “Có điều, thế cờ ngang này của Trương huynh, dù sao cũng phải có nguyên tắc chứ?”
“Nguyên tắc không có gì khác, là kẻ mạnh liên thủ. Liệt quốc thiên hạ ngày nay, kẻ mạnh không ngoài Tần, Ngụy. Nếu Tần, Ngụy liên hoành hợp nhất, thử hỏi thiên hạ còn ai địch nổi?”
“Tần, Ngụy đời đời huyết thù, cái nhất này, phải hợp bằng cách nào?”
“Bàng huynh sai rồi!” Trương Nghi lắc đầu. “Liệt quốc thiên hạ, không hề có thù oán mãi mãi, cũng không có yêu thương mãi mãi. Từ xưa đến nay, kẻ trị thiên hạ, không gì ngoài bốn chữ nhân, nghĩa, lợi, lực. Nhân được thi hành ở thời Tam Hoàng, nghĩa được thi hành ở thời Nghiêu Thuấn, bắt đầu từ Hạ Khải, thiên hạ chỉ còn lại hai chữ lợi và lực mà thôi. Nếu nói về huyết thù, giữa Ngụy và liệt quốc xung quanh, có nước nào không có huyết thù? Cho dù là huyết thù Tần, Ngụy, lại là vì đâu? Chẳng phải vì một tấc đất Hà Tây hay sao? Đất trong thiên hạ rộng lớn như vậy, Bàng huynh nơi nào chẳng thể chiếm lấy, sao cứ phải kỳ kèo một tấc đất Hà Tây?”
“Nói hay lắm!” Bàng Quyên cười nói. “Tài miệng lưỡi của Trương huynh, xem ra đã có được chân truyền của tiên sinh!”
“Không phải có được chân truyền, là hợp với tình, thuận với lý mà thôi!”
“Được thôi! Dám hỏi Trương huynh, nếu tại hạ đi nước cờ ngang, có lợi ở chỗ nào?”
“Có xa có gần!
“Xin hãy nói rõ hơn!”
“Lợi xa nằm ở chỗ Tần, Ngụy hợp nhất, phía bắc thôn tính Triệu, phía nam tiêu diệt Hàn, trước tiên phân chia Tam Tấn, sau đó cắt xẻ Đại Sở, tiếp nữa thôn tính đất Tề, Yên, cùng chia đều thiên hạ.”
“Nếu như hai vị quân chủ không chịu chia đều thì sao?”
“Bài binh bố trận, tiếp tục quyết trận thư hùng.”
“Thật sảng khoái!” Bàng Quyên đập bàn đánh chát. “Hãy nói về cái lợi gần!”
“Tần Vương hứa rằng, chỉ cần Tần, Ngụy hoà mục liên hoành, Tần sẽ trả lại Thiểm, Tiêu, Khúc Ốc và bến đò Thái Dương, trở về trạng thái trước khi giao chiến, song Ngụy không cần phải trả lại ải Lâm Tấn.”
“Ồ?” Bàng Quyên vô cùng kinh ngạc. “Tại sao Tần Vương lại rộng lượng đến vậy?”
“Vì Tần Vương thông suốt thế đạo, hiểu lẽ thường tình.”
“Hiểu lẽ thường tình như thế nào?”
“Người Ngụy ở Hà Tây đã thiệt mạng không ít, cũng nên có một vùng đất để truy điệu mới phải.”
Giải thích thế này kể cũng hợp tình hợp lý.
Bàng Quyên khẽ gật đầu, rồi vòng tay nói: “Tần Vương có tấm lòng như vậy, thật khiến tại hạ cảm kích. Có điều…” Dừng lại một chốc, “việc liên hoành không thể vội vàng, hiện giờ chưa tiện nêu ra. Lần này Trương huynh đến, hãy lấy giảng hoà làm đầu.”
“Đa tạ Bàng huynh chỉ giáo!” Trương Nghi cũng vòng tay nói. “Có lời này của Bàng huynh, ngày mai tại hạ lập tức lên triều đường yết kiến đại vương, thỉnh cầu kết tình hoà mục với đại vương.”
“Ngày mai không được!”
“Ồ?”
“Bệ hạ đang lúc hào hứng nồng nhiệt với một người, e rằng mấy hôm nay sẽ chẳng có thời gian rảnh rỗi. Đừng nói là Trương huynh, cho dù là tại hạ, cũng chẳng thể đến gần.”
“Dám hỏi Bàng huynh, người nào mà có phúc như vậy?”
“Trang Chu người Tống!”
“Trang Chu?” Trương Nghi hai mắt trợn tròn, miệng há hốc.
“Thế nào? Trương huynh biết người này ư?”
“Ồ, không!” Trương Nghi định thần lại, cười khẽ. “Khi còn trong Quỷ Cốc, tại hạ đã đọc qua bút tích của người này, cũng được chút lợi ích. Thiên hạ rộng lớn, kẻ cùng họ cùng tên nhiều vô số kể. Nếu như Trang Chu này chính là Trang Chu đó, tại hạ rất muốn gặp mặt một lần. Có điều…” vòng tay với Bàng Quyên, “vẫn phải làm phiền Bàng huynh giới thiệu mới được.”
“Ờ…” Bàng Quyên nhăn nhó, “nghe nói người này là khách của Huệ tướng quốc, tại hạ…”
“Đa tạ Bàng huynh chỉ điểm!” Trương Nghi lại vòng tay, nâng chén mà nói. “Nào, Bàng huynh, vì sự liên thủ giữa hai ta, quét sạch thiên hạ, cạn chén!”
Biết được Trang Chu cũng đang ở Đại Lương, Trương Nghi vui mừng khôn xiết trong lòng. Khi còn trong Quỷ Cốc, tiên sinh nói về người này không chỉ một lần, lời lẽ vô cùng cung kính, nhiều lần còn đặt Trang Chu sánh ngang với Liệt Ngự Khấu. Sau khi xuống núi, Trương Nghi chỉ dùng một thiên diệu văn “Luận kiếm” của Trang Chu, mà đã khéo léo thuyết phục được Việt Vương, chiến thắng ngay trận đầu, danh tiếng lẫy lừng thiên hạ. Trong thời khắc này, Trang Chu sánh với thần nhân kia lại ở ngay trước mặt, bảo Trương Nghi làm sao có thể cầm lòng cho đặng?
Tuy nhiên, phải dùng thân phận nào để đến phủ Huệ tướng quốc cầu kiến, thật cũng khiến Trương Nghi phải khổ tâm suy nghĩ. Nếu như bàn về quốc sự, phải lên triều đình, mọi việc thái tử Thân đều giao cho Chu Uy bàn bạc. Nếu là gặp gỡ bang giao giữa tướng quốc hai nước, chẳng qua cũng chỉ cần nói vài câu khách sáo. Chuyện trò không hợp nửa câu cũng nhiều, với thân phận của Trương Nghi hiện nay, Huệ Thi chắc chắc sẽ không muốn nói nhiều. Trực tiếp cầu kiến Trang Chu lại càng không ổn. Trang Chu chẳng qua chỉ là khách của Huệ Thi, mình lại vì một người khách mà đến thăm phủ tướng quốc Đại Ngụy, thì thể diện của tướng quốc nước Tần biết bỏ vào đâu?
Đang khổ tâm tìm kiếm lý do, thì phó sứ Sư Lý Tật bèn mách nước: “Theo tại hạ được biết, các sĩ tử đi nam về bắc, kẻ không thông danh thực sẽ chẳng có duyên đến cửa phủ Huệ tướng quốc. Sao tướng quốc không dùng danh thực để biện luận với ông ta? Chỉ cần là thỉnh giáo về học vấn, thiết nghĩ Trang Chu kia hẳn sẽ không thể ngồi yên, không mời cũng sẽ tự tìm đến.”
“Diệu kế!” Trương Nghi vốn bản tính hiếu thắng đập bàn reo lên. “Sư Lý huynh hãy nói xem, tại hạ phải biện luận với ông ta như thế nào?”
Sư Lý Tật chẳng nói chẳng rằng, lập tức viết ra “Quan vật thập sự” của Huệ Thi lên một tấm gỗ, chỉ tay vào mà nói: “Trong phủ Huệ Tử, quanh năm có treo tấm bảng này, phàm là sĩ tử tìm đến, nếu giải thích được một điều, tự sẽ được mời vào cửa. Nếu giải thích được ba điều, thưởng trà và điểm tâm. Nếu giải thích được năm điều, khoản đãi cơm rượu thịnh soạn. Nếu giải thích được tám điều, coi như quý khách. Nếu giải thích được cả mười điều, coi là tri kỷ. Nếu không giải thích được điều nào, tống cổ khỏi cửa.”
Trương Nghi liếc nhìn tấm bảng, toàn thần chuyên chú.
“Còn có một điều tướng quốc cần phải biết!” Sự Lý Tật xích lại gần, hạ thấp giọng nói. “Tính cho đến hiện tại, kẻ vào phủ tướng quốc để giải đề, phần lớn đều bị đuổi ra khỏi phủ, kẻ có thể uống trà chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay, còn kẻ được thiết đãi cơm rượu thịnh soạn thì…”
“Hiểu rồi!” Trương Nghi xua tay, rồi chỉ ra ngoài cửa. Sư Lý Tật biết ý lui ra. Trương Nghi bèn chốt cửa phòng lại, ngồi đối diện với tấm bảng, vận dụng công phu tĩnh định đã rèn được khi còn ở trong Quỷ Cốc, chìm vào suy tưởng, suốt cả một đêm mà vẫn chưa thể lý giải. Đến khi gà gáy, bỗng một tia sáng loé lên trong trí não, Trương Nghi bèn sử dụng cái đạo bài hạp mở khép mà Quỷ Cốc tiên sinh đã truyền dạy để khai mở huyền cơ, thoắt nhiên có điều lĩnh ngộ, bèn lần lượt dẫn chứng, cuối cùng đã tỏ ngộ hoàn toàn. Đến khi trời sáng bảnh, Trương Nghi đã có sẵn kế sách trong đầu, liền nằm xuống ngủ ngon lành. Đến giữa trưa, Trương Nghi tỉnh giấc, lại nghiền ngẫm tỉ mỉ một lượt những điều lĩnh ngộ ban sáng, rồi khoác lên mình bộ trang phục sĩ tử, hớn hở lên đường xuất chinh.
Nghe nói Trương Nghi tìm đến, Huệ Thi không dám chậm trễ, lập tức đón vào phòng khách, phân ngôi chủ khách ngồi xuống.
Huệ Thi vốn cho rằng lần này Trương Nghi đến là để nghị bàn quốc sự, nên tiếp đón có phần không vui vẻ, vừa ngồi xuống chỗ đã nói thẳng thừng, trong lời nói ẩn hiện ý tứ đuổi khách: “Nghe nói đặc sứ thân bận trăm công nghìn việc, nay quang lâm hàn xá, dám hỏi Huệ Thi có thể giúp được gì chăng?”
“Tiên sinh khách sáo rồi!” Trương Nghi không gọi là tướng quốc, mà gọi thẳng là tiên sinh, đồng thời chỉnh sửa nếp áo, ngồi ngay ngắn, bày ra tư thế luận chiến, có đuổi cũng không đi. “Nghe nói tiên sinh thông đạt danh thực, tại hạ bất tài, lần này đến là mong muốn được thỉnh giáo học vấn của tiên sinh, mong tiên sinh chớ tiếc lời chỉ bảo.”
Huệ Thi thoáng kinh ngạc, ánh mắt dừng lại trên bộ y phục sĩ tử của Trương Nghi. Từ lúc Trương Nghi vào cửa, ông ta vẫn không đoán được tại sao người này lần đầu tiên tìm đến đã tự hạ thấp thân phận, thật không thể ngờ hắn đến là để khiêu chiến.
Cho dù đối thủ là cao đồ Quỷ Cốc danh chấn thiên hạ, chỉ uốn ba tấc lưỡi mà tiêu diệt cả nước Việt, nhưng lúc này là luận về danh thực, nên Huệ Thi không chút e dè, khép mắt một lúc, rồi khẽ mỉm cười nói: “Nếu đã đến đây để biện luận, vậy quy tắc của tại hạ, ngài đã hiểu chưa?”
“Đã hiểu!”
Huệ Thi vỗ tay bồm bộp ba cái, thư đồng hầu bên cạnh nghe tiếng bước vào, đi tới phía trước phòng khách, sột soạt vài tiếng đã kéo ra một cần câu, đầu cần câu nối với hai sợi dây lụa, treo một tấm bảng sơn rộng chừng một thước, dài chừng ba tấc. Thư đồng kéo bảng gỗ lên một độ cao nhất định, rồi cố định lên tường.
Được viết rành rọt trên tấm bảng từ trái qua phải chính là “Quan vật thập sự” danh chấn tám phương của Huệ Thi:
1. Cái cực lớn không có gì ở ngoài, cái cực nhỏ không có gì ở trong.
Vật không có bề dày, ngàn dặm.
Trời thấp như đất, núi ngang với đầm.
Mặt trời vừa đứng bóng vừa xế bóng, vật vừa sống vừa chết.
Vạn vật đều giống đều khác.
Phương nam không có tận cùng mà có tận cùng.
Hôm nay đến Việt mà hôm qua đã tới.
Vòng tròn nối liền nhau có thể gỡ.
Trung tâm của mặt đất ở phía bắc nước Yên, phía nam nước Việt.
Trời đất một thể.
Huệ Thi liếc qua tấm bảng, rồi quay sang nhìn Trương Nghi, chìa tay mà nói: “Trương Tử, mời!”
“Tiên sinh!” Trương Nghi nhìn chăm chú vào tấm bảng, một lúc sau thì vòng tay nói. “Tại hạ bạo gan thử giải thích, mong tiên sinh chỉ giáo giúp cho.”
“Trương Tử bất tất phải khách khí!”
“‘Quan vật thập sự’, chìa khoá là ở điều thứ tám, vòng tròn nối liền nhau có thể gỡ!” Trương Nghi nói rành rọt từng tiếng.
Trương Nghi vừa mở miệng đã điểm trúng yếu huyệt, khiến Huệ Thi phải âm thầm giật mình kinh ngạc, nhưng lập tức trấn tĩnh, khẽ cười một tiếng, quay sang thư đồng: “Dâng trà!”
Trước đây phải giải đúng ba điều mới được dâng trà. Người này mới chỉ nói một câu, chủ nhân đã sai dâng trà, rõ ràng đã khiến thư đồng phải bất ngờ, bất giác mở to mắt nhìn Huệ Thi, thấy ông ta cũng nheo mắt nhìn lại, thì không dám chậm trễ, vội vàng dâng trà rồi cúi đầu lui ra.
“Trương Tử, mời!” Huệ Thi bưng chén trà lên, vòng tay nói.
Hai người cùng dùng trà.
“Vòng tròn nối liền nhau có thể gỡ, vẫn mong Trương Tử giải thích rõ hơn!” Huệ Thi đặt chén trà xuống, hai mắt nhìn Trương Nghi chăm chú.
“Mười việc liên hoàn, từ một mà sinh mười, gỡ một có thể giải được mười.”
“Một ở chỗ nào?”
“Một ở việc thứ mười, trời đất một thể.”
Huệ Thi hít vào một hơi dài, hồi lâu sau mới nghiêng người hỏi: “Xin hỏi Trương Tử, trời đất sao lại là một thể?”
“Cái cực lớn không có gì ở ngoài, cái cực nhỏ không có gì ở trong, nên trời đất là một thể. Cái không có bề dày không thể chồng xếp lên nhau, nhưng rộng đến ngàn dặm, nên trời đất là một thể. Trời thấp như đất, núi ngang với đầm, nên trời đất là một thể. Mặt trời vừa đứng bóng vừa xế bóng, vật vừa sống vừa chết, nên trời đất là một thể. Phương nam không có tận cùng mà có tận cùng, nên trời đất là một thể. Hôm nay đến Việt mà hôm qua đã về, nên trời đất là một thể. Trung tâm của mặt đất ở phía bắc nước Yên, phía nam nước Việt, nên trời đất là một thể…”
“Không hổ danh là cao đồ của Quỷ Cốc tiên sinh!” Huệ Thi khen ngợi, rồi quay sang thư đồng. “Báo cho nhà bếp, chuẩn bị cơm rượu thịnh soạn!” Rồi chậm rãi đứng dậy, chìa tay mời. “Lão hủ xin mời Trương Tử đến hậu hoa viên ngắm cảnh xuân, mong được Trương Tử nể mặt.”
“Đa tạ tiên sinh hậu ái!”
Hai người cùng đi đến hậu hoa viên, không ai nhắc đến quốc sự, cũng chẳng nói về đạo lý trị thiên hạ, chỉ bàn luận về danh, thực, nghĩa, lý, cứ thế trò chuyện cho tới tận khi trời tối mịt, Trương Nghi mới cơm no rượu say, tận hứng quay về.
“Chà chà chà!” Sư Lý Tật chờ đợi đã lâu, lúc này luôn miệng tấm tắc. “Tại hạ còn cho rằng tướng quốc đi lần này, giật được chén trà đã là giỏi lắm rồi, thật không ngờ đại nhân còn kiếm được cả cơm ngon rượu ngọt nữa!”
“Không những kiếm được, mà tại hạ còn trở thành bạn tri giao của Huệ tướng quốc!”
“Thật ư?” Sư Lý Tật vội vàng lấy tấm gỗ ra. “Không giấu đại nhân, sau khi đại nhân đi rồi, tại hạ cũng vắt óc nghĩ ngợi, đến giờ đã suy ngẫm quá nửa ngày trời, càng ngẫm càng cảm thấy đau đầu chóng mặt.”
“Đừng nói là hơn nửa ngày, cho dù là ba năm, hẳn huynh cũng chẳng thể ngẫm ra được.”
“Ha ha ha, đúng thế!” Sư Lý Tật cười hì hì mấy tiếng, rồi chỉ tay vào tấm gỗ hỏi. “Đại nhân hãy mau giải thích, thế nào là ‘cái cực lớn không có gì ở ngoài, cái cực nhỏ không có gì ở trong?’”
“Đây là cương lĩnh, nên được đặt ở hàng đầu tiên. Lớn đến nỗi không có cái gì ở ngoài, tức là không thể lớn hơn được nữa, cũng chính là cái rộng lớn của chân trời; nhỏ đến nỗi không có cái gì ở trong, tức là không thể nhỏ hơn được nữa, cũng chính là cái nhỏ bé của chân trời. Cái lớn vô biên và cái nhỏ vô biên tức cái lớn lớn nhất và cái nhỏ nhỏ nhất, đây là hai số không thể xác định được, nhưng ở giữa hai số không thể xác định được này, tất cả những chữ số khác đều có thể xác định được. Đã có thể xác định được, vậy sẽ là tương đối, tất cả những đáp án ở phía sau, đều nương theo cái tương đối này.”
“Ờ…” Sư Lý Tật gãi đầu gãi tai. “Đại nhân không nói, tại hạ còn hiểu một chút, đại nhân càng nói tại hạ lại càng rối tinh rối mù!”
“Vậy thì hãy nói về điều tiếp theo! ‘Vật không có bề dày, ngàn dặm’. Vật không có bề dày tức là vật mỏng nhất, mỏng đến nỗi không thể mỏng hơn được nữa, nhưng vật có mỏng đến đâu, cũng có thể hình thành một mặt phẳng, kéo dài mặt phẳng này ra, có thể dài đến nghìn dặm.”
“Thôi không nói chuyện này nữa, cái đầu của tại hạ thực ngu dân.” Sư Lý Tật gãi đầu gãi tai, vẫn mơ hồ không hiểu, lại chuyển sang mệnh đề tiếp sau. “Thế còn ‘trời thấp như đất, núi ngang với đầm’? Tại hạ nghĩ kiểu gì vẫn không hiểu nổi, trời phải cao hơn đất mới đúng chứ?”
“Trời ở đâu?”
“Ờ… trời ở trên đỉnh đầu!”
“Có nghĩa là, trên đất là trời, đúng không?”
“Đúng!”
“Sư Lý huynh hãy lên trên núi ngắm trời, thấy đất trên đỉnh núi cao hơn, hay trời dưới chân núi cao hơn?”
“Ờ… đúng thực! Trời dưới chân núi, đương nhiên phải thấp hơn so với đất trên đỉnh núi!”
“Vậy thì đúng rồi. Cao và thấp cũng chỉ là tương đối. Cứ suy luận tương tự như vậy, không có mặt trời đứng bóng tuyệt đối, và cũng chẳng có mặt trời xế bóng tuyệt đối. Sống và chết cũng như vậy, sống tức là chết, chết tức là sống.”
“Ồ… ồ… sống là sống, chết là chết, sao có thể giống nhau được?”
“Ví dụ hãy nói về huynh nhé. Ngày mà huynh sinh ra, là số nhỏ nhất, không tuổi, ngày mà huynh chết đi, là số lớn nhất, ví dụ là tám mươi tuổi. Ở giữa không tuổi và tám mươi tuổi, huynh cứ sống thêm một tuổi, sẽ bớt đi một tuổi, hay nói cách khác, sẽ chết đi một tuổi. Huynh năm nay ba mươi lăm tuổi, cách lúc chết còn bốn mươi lăm tuổi nữa, vì vậy huynh có thể nói rằng, ta đã sống được ba mươi lăm tuổi, còn có thể sống tiếp bốn mươi lăm tuổi nữa. Cách khác, huynh cũng có thể nói, ta đã chết mất ba mươi lăm tuổi, còn có thể chết tiếp bốn mươi lăm tuổi nữa.”
“Quả là có cái lý này ư?” Sư Lý Tật gãi đầu, đột nhiên có chút tỏ ngộ. “Vậy… ‘phương nam không có tận cùng mà có tận cùng’, câu này phải giải thích thế nào?”
“Bốn phương không có giới hạn, đúng không?”
“Đúng!”
“Bốn phương đã không có giới hạn, thì nơi nào là phương nam? Ví dụ lấy đây làm chuẩn, vùng đất ở phía nam gọi là phương nam. Nhưng sau khi tới phương nam, huynh vẫn sẽ nhìn thấy phương nam, vì vậy phương nam là vô cùng. Nhưng phương nam cũng là có tận cùng, vì vậy phương nam mãi mãi là tương đối, cho dù là phương nam kiểu gì cũng là tương đối so với phía bắc của nó, nên nó sẽ có tận cùng.”
“Phải, phải lắm!” Sư Lý Tật vỗ trán, luôn miệng khen ngợi. “Đúng là đạo lý lớn! ‘Hôm nay đến Việt mà hôm qua đã tới’, câu này phải giải thích thế nào? Hôm nay đến Việt, tại sao hôm qua đã tới rồi?”
“Câu này huynh giải thích sai rồi. Hôm nay tức là lúc này, bây giờ, vì nay và qua là đối lập. Thế nào là nay? Nay chính là hiện tại. Thế nào là qua? Qua chính là phía trước của hiện tại. Hiện tại luôn luôn chỉ là khoảnh khắc, ngắn đến mức không thể ngắn hơn. Huynh vừa mới nói hiện tại, nhưng lúc này nó đã thành ra quá khứ. Huynh nói bây giờ đến Việt, lời nói còn chưa rơi xuống đất, nó đã lại trở thành quá khứ, thành trước đây rồi.”
“Chà chà!” Sư Lý Tật lại đưa tay vỗ đầu. “Như vậy chẳng phải là vòng vo ngoắt ngoéo lắm ư? Còn ‘vòng tròn nối liền nhau có thể gỡ’? Đây là câu tại hạ khó hiểu nhất.”
“Nếu huynh nói theo cách khác, vòng tròn vừa nối vừa gỡ, có lẽ sẽ hiểu được.”
“Vòng tròn vừa nối vừa gỡ?” Sư Lý Tật chìm vào suy tư, hồi lâu bỗng mở choàng mắt, hào hứng reo lên. “Có nghĩa là, chiếc vòng khi mối nối liền, cũng chính là khi gỡ nó ra?”
Trương Nghi cười lớn, đáp: “Nếu huynh đến Huệ phủ, chỉ dựa vào lời này, hẳn cũng không đến nỗi bị ông ta tống cổ ra khỏi cửa!”
“Nói đến Huệ phủ,” Sư Lý Tật cười một lát rồi đi vào việc chính, “lần này đại nhân tới, có gặp được Trang tiên sinh không?”
“Vẫn chưa! Hiện giờ Trang tiên sinh còn đang ở trong cung giúp vui cho Huệ Vương.”
“Nếu như Huệ Vương vui vẻ, chưa biết chừng sẽ trọng dụng người này? Lúc đó Huệ Thi…”
“Huynh bất tất phải lo xa đến vậy!” Trương Nghi cười vang mấy tiếng, rồi giơ tay ngắt lời Sư Lý Tật. “Trang tiên sinh không phải con chim trong lồng, không chịu nổi gò bó quá ba ngày, chắc chắn sẽ tìm cách bay đi. Tại hạ đã nhắn Huệ tướng quốc, hai ngày sau sẽ lại ghé thăm.”
Trương Nghi quả nhiên đã đoán đúng. Trang Chu bị Huệ Vương giữ chân đến ngày thứ ba, đã chán ngấy khu ngự hoa viên rộng hơn hai trăm mẫu, đến tư thế ngồi trò chuyện cũng dần trở nên uể oải. Nhưng Ngụy Huệ Vương lại khác, từ sau khi được nghe câu chuyện đầu bếp mổ trâu, liền cảm thấy vô cùng hứng thú với đạo dưỡng sinh của Trang Chu, cứ giữ rịt lấy Trang Chu hỏi hết câu này đến câu khác.
Quả là Ngụy Huệ Vương có lý do để làm như vậy, vì thân thể xương cốt của Huệ Vương đã không còn được như trước. Đặc biệt là sau trận chiến Hàm Cốc, giấc mộng bá chủ đã tan như bọt sóng, cơ thể vốn dĩ tráng kiện cũng suy sụp theo hùng tâm tráng chí. Nhưng Huệ Vương không muốn chết. Với Huệ Vương, ý nghĩa của sinh mệnh hiện giờ, không phải ở chỗ chết hay không chết, mà là lúc này, ông ta chưa thể chết. Thái tử Thân vẫn chưa thể tự lập, còn các công tử khác, xét về hiền đều không bằng thái tử Thân, xét về tài đều không bằng công tử Ngang, chẳng có ai khiến ông yên tâm, Huệ Vương thực sự không dám tưởng tượng tới một nước Ngụy không có mình, chí ít là trong lúc này.
Tuy nhiên, dưỡng sinh là một vấn đề cao viễn và huyền diệu. Trang Chu hết biện luận lại ví von, từ nhập môn cho đến chỗ huyền vi, Huệ Vương càng nghe càng thấy cao vời. Trang Chu lo lắng, quyết định không tiếp tục giảng giải đạo lý nữa, mà chỉ dẫn Huệ Vương tu thực, bắt đầu tu từ trai tâm.
“Được, được, được!” Huệ Vương luôn miệng đồng ý. “Xin hỏi tiên sinh, trai tâm phải bắt đầu từ đâu?”
“Trai tâm là thế này!” Trang Chu ngồi nghiêm ngắn, hai tay đặt ở đan điền. “Khí phải trầm, hơi thở phải ổn, ý nghĩ không được tán loạn, phải giữ ở đan điền; thần không được phiêu hốt, phải giữ ở tâm điền.”
“Thế thì không khó!” Huệ Vương nôn nóng hỏi. “Tiên sinh, phải trai bao lâu mới được?”
“Trai tâm càng lâu càng tốt. Có điều, đối với đại vương hiện tại, nếu trai được hai canh giờ, tại hạ đã kính phục lắm rồi!”
“Hai canh giờ?” Huệ Vương ra vẻ xem thường, hít vào một hơi dài, rồi quay sang tỳ nhân. “Giờ là giờ nào?”
“Vừa vào giờ Thân!”
“Được!” Huệ Vương lớn tiếng căn dặn. “Bây giờ quả nhân sẽ cùng Trang tiên sinh so tài trai tâm, lấy một ngày một đêm làm giới hạn, ngươi hãy làm chứng, từ giờ đến giờ Thân ngày mai, ai đứng dậy trước sẽ thua.”
“Bệ hạ!” Tỳ nhân cuống lên.
Nhưng Huệ Vương không để tâm tới tỳ nhân, mà quay sang Trang Chu, vòng tay nói: “Tiên sinh, mời!”
Thấy Huệ Vương hiếu thắng đòi tỷ thí, Trang Chu khẽ cười, rồi đứng dậy, giúp ông ta sửa sang tư thế cho đúng đắn, sau đó chỉnh lại y phục, trịnh trọng ngồi xuống cách Huệ Vương không xa.
Trong mấy canh giờ sau đó, Trang Chu càng tĩnh toạ càng yên ổn, ngồi vững như chuông, không mảy may xê dịch, hình tựa cây khô, song Huệ Vương lại chẳng khác nào đang chịu cực hình.
Huệ Vương vốn cũng có chút công phu tu luyện, chỉ là gần đây tâm trạng bất ổn, nay lại gặp phải Trang Chu, hiển nhiên càng thua kém thấy rõ. Hai canh giờ đầu tiên, Huệ Vương còn có thể gắng gượng, đến canh giờ thứ ba, Huệ Vương mày râu rung động, đốt tay co giật, nghiến răng nghiến lợi, vặn vẹo nhúc nhích mỗi lúc một thường xuyên. Gắng gượng đến quá nửa đêm, Huệ Vương vò đầu bứt tai, hơi thở lúc dài lúc ngắn, trông vô cùng khổ sở.
Tỳ nhân đứng hầu bên cạnh thấy vậy, lòng như lửa đốt, ngẫm nghĩ hồi lâu, cho rằng là do khí lạnh ban đêm ngấm vào người, liền sai cung nữ mang hai tấm chăn đến, một tấm choàng lên vai Huệ Vương, một tấm choàng lên vai Trang Chu. Cứ như phản xạ, vai Trang Chu khẽ giật một cái, tấm chăn rơi ngay xuống đất. Huệ Vương thấy vậy, cũng đành phải khẽ nhún vai mấy cái, tấm chăn không những không rơi xuống, ngược lại còn quàng chắc hơn nữa. Huệ Vương đành phải nhìn sang tỳ nhân, vốn định ra hiệu cho gỡ chăn xuống, không ngờ tỳ nhân lại quỳ luôn xuống, nhặt tấm chăn của Trang Chu lên, nhẹ nhàng phủ lên hai chân Huệ Vương.
Huệ Vương khẽ thở dài một tiếng, nhắm mắt mặc kệ.
Một ngày một đêm chỉ vì trai tâm, song cái tâm của Huệ Vương không thể nằm yên lấy một giờ một khắc, cứ bay nhảy tán loạn như vượn núi, ngựa hoang. Tâm mệt thân cũng mệt, Huệ Vương không thể chịu đựng thêm được nữa. Gắng gượng bám trụ đến giờ Ngọ ngày hôm sau, Huệ Vương hiếu thắng cuối cùng cũng phải từ bỏ trận tranh đua, cơ thể rũ gục, đầu vẹo sang bên, dựa vào thân cây ngủ mê mệt.
Còn Trang Chu dường như đã tính sẵn từ trước, đúng vào giờ Thân thì xuất định. Thấy Huệ Vương đã ngáy pho pho, Trang Chu cười khẽ một tiếng, rồi đứng dậy, ung dung dạo bước quanh hoa viên.
Khi Huệ Vương tỉnh lại, trời đã sắp hoàng hôn.
Tỳ nhân hầu hạ rửa mặt xong xuôi, dùng qua chút cơm, Huệ Vương cũng thấy ái ngại, bèn vòng tay nói với Trang Chu: “Ngụy Anh coi như đã hiểu rồi, việc này thoạt nhìn tưởng dễ, nhưng kỳ thực không hề dễ. Quả nhân thấy tiên sinh lập tức nhập định, còn cái tâm của Ngụy Anh lại như ngựa phi vượn nhảy, suy nghĩ tán loạn triền miên. Dám hỏi tiên sinh là duyên cớ gì?”
“Đại vương tâm tư không định, tâm khiếu không khai, bởi vậy tâm không thể tĩnh.”
“Tiên sinh có đạo định tâm, khai khiếu chăng?”
“Không có gì khác, thuận theo trời ứng theo người!”
“Làm thế nào mới có thể thuận theo trời ứng theo người?”
“Ôm nguyên giữ một!”
“Ồ…” Huệ Vương chau tít đôi mày. “Làm thế nào mới có thể ôm nguyên giữ một?”
“Ngưng thần tại tâm, tụ chí không phân.”
“Ngưng thần tại tâm, tiên sinh có cách nào chăng?”
“Đại vương đã từng nghe câu chuyện người Sở bắt ve sầu chưa?”
“Người Sở bắt ve sầu?” Huệ Vương lắc đầu. “Ngụy Anh chưa từng nghe thấy.”
“Ngày trước Trọng Ni đến Sở, thấy một người bị gù lưng dùng tơ nhện để bắt ve sầu trong rừng, hễ ra tay là bắt được, không trượt lần nào. Trọng Ni lấy làm tò mò, tiến lại gần hỏi: ‘Lão tiên sinh thật tài giỏi. Dám hỏi tiên sinh làm thế nào mà luyện được tài này?’ Người gù bèn đáp: ‘Không có gì khác, tôi nhờ vào cách chồng bi mà luyện thành. Nửa năm đầu, khi tôi xếp chồng hai viên bi trên đầu cây sào bắt ve mà hai viên bi không bị rơi, thu hoạch đã được không ít. Khi chồng ba viên bi mà không bị rơi, rất ít khi bắt trượt. Khi tôi chồng được năm viên bi mà không bị rơi, tự nhiên cũng đạt đến chỗ tay thuận theo tâm. Ông hãy nhìn tôi, khi bắt ve sầu, thân như cây khô, cánh tay cầm gậy như cành cây khô. Trời đất tuy lớn, vạn vật tuy nhiều, nhưng tôi tuyệt đối không để tâm, chỉ một lòng tập trung vào cánh ve, không bao giờ ngó nghiêng trái phải. Bắt ve như vậy, muốn bắt trượt e rằng cũng khó’.”
Huệ Vương hít vào một hơi dài, hồi lâu sau mới khẽ gật đầu: “Đa tạ tiên sinh chỉ điểm, Ngụy Anh đã hiểu được cách ngưng thần tụ chí rồi!”
“Hiểu được là một chuyện, làm được lại là chuyện khác!”
“Phải lắm!” Huệ Vương gật đầu tán thành. “Cách chồng viên bi của người gù, chỉ có thể mong mà không thể cầu, tiên sinh có cách nào dễ thực hiện hơn không?”
“Người gù nếu không thể cầu, có thể cầu Tử Khánh.”
“Tử Khánh?” Huệ Vương vẻ ngạc nhiên. “Tử Khánh là ai?”
“Là người nước Lỗ, giỏi đẽo gỗ làm giá treo chuông, giá treo chuông do ông làm ra tinh xảo tuyệt luân, người nhìn thấy thảy đều kinh ngạc, cho là quỷ thần. Lỗ Công hiếu kỳ, liền triệu ông ta đến hỏi: ‘Sao ngươi có thể làm được như thế?’ Tử Khánh đáp: ‘Không có gì khác, trai tâm mà thôi. Khi sắp đẽo giá chuông, vi thần sẽ không hao tổn tâm thần, mà trai tâm để chờ đợi. Trai đến ngày thứ ba, vi thần không còn nghĩ đến phú quý tước lộc nữa. Trai đến ngày thứ tư, vi thần không còn nghĩ đến khen chê vinh nhục nữa. Trai đến ngày thứ bảy, vi thần ngay cả hình thể của mình cũng quên bẵng hoàn toàn, tự nhiên cũng quên hết triều đình, công thất, trong lòng chỉ còn lại giá treo chuông. Lúc này, thần mang theo dụng cụ sắc bén lên núi, quan sát bẩm tính của cây gỗ, dùng bẩm tính của nó để làm thành giá treo chuông của vi thần.’”
“Hay lắm, hay lắm!” Huệ Vương trong lòng chấn động, vòng tay nói. “Ngụy Anh sẽ bắt đầu từ việc đẽo giá treo chuông. Bắt đầu từ hôm nay, sẽ bái tiên sinh làm thầy, khổ luyện trai tâm, được chăng?”
“Được thì có được!” Trang Chu liếc mắt nhìn cảnh sắc tô vẽ hoa lệ xung quanh, nhìn đám cung tần mỹ nữ đang cười đùa đằng xa, cuối cùng, ánh mắt dừng lại trên người tỳ nhân vẫn cần mẫn đứng hầu bên cạnh. “Chỉ có một điều không ổn.”
“Tiên sinh cứ nói!”
“Tử Khánh đẽo gỗ làm giá treo chuông trong rừng sâu núi thẳm. Đại vương nếu cứ ở trong hoa viên này, trong có công tử vương tôn, phi tần mỹ nữ, ngoài có văn võ bá quan, vương thân quốc thích, đừng nói là bảy ngày, cho dù là bảy tháng, bảy năm, e rằng cũng khó đẽo thành.”
“Theo ý tiên sinh, Ngụy Anh nên đến đâu để đẽo giá chuông?”
“Rời khỏi cung này, đến với trời đất bao la.”
“Vậy…” Huệ Vương khẽ chau mày, “xin hỏi tiên sinh, Ngụy Anh sẽ ngủ ở đâu?”
“Trời đất là nhà, nơi nào không phải là chỗ ngủ?”
“Được!” Huệ Vương trầm tư hồi lâu, rồi nghiến chặt hàm răng, giáng mạnh nắm đấm xuống đùi. “Ngụy Anh sẽ cùng tiên sinh xuất cung!”
“Bệ hạ…” Lời Huệ Vương còn chưa nói dứt, tỳ nhân đã quỳ phịch xuống, khóc toáng lên.
“Ngươi… ngươi… ngươi… ngươi khóc cái nỗi gì?” Huệ Vương đứng dậy, bực bội nhìn tỳ nhân, một lúc sau thì xua tay. “Phải rồi, phải rồi, quả nhân biết ngươi không nỡ xa quả nhân. Được rồi, ngươi hãy đi theo! Đợi khi quả nhân đẽo giá chuông, cũng có người giúp việc, có người thưởng thức!” Nói đoạn, liền cất bước đi luôn.
“Bệ hạ, tuyệt đối không được!” Tỳ nhân lao vọt lên mấy bước, vòng tay ôm chặt lấy chân Huệ Vương.
Trang Chu nhìn vua tôi hai người, nghe thấy cuộc đối thoại giữa họ, liền cười dài mấy tiếng, sải bước đi luôn.
“Tiên sinh, đợi ta với…” Huệ Vương hốt hoảng, giơ tay gọi lớn, rồi vội vã đuổi theo.
Không ngờ, tỳ nhân lúc này giống như phát cuồng, bất chấp cả tính mạng, cố sống cố chết ôm chặt lấy đôi chân to béo của Huệ Vương.
Sáng sớm ngày thứ ba, Trương Nghi lại đến thăm phủ Huệ Thi, vô tình được biết tướng quốc và Trang Chu từ sớm đã ra ngoài du ngoạn. Trương Nghi hỏi rõ nơi họ tới, rồi đánh xe đi tìm, quả nhiên tìm được một cỗ xe tứ mã dưới một sườn đồi phía ngoài thành Đại Lương. Trong xe không thấy có người, ngựa đã được tháo, bốn con ngựa đang ung dung gặm cỏ trên bãi rộng, phu xe ngồi chồm hỗm trên đất, nheo nheo hai mắt ngắm nhìn.
Trương Nghi chẳng cần hỏi nhiều, chỉ cần nhìn mui xe đã biết đó là xe ngựa của phủ tướng quốc, liền nhảy xuống xe, tự báo danh tính. Phu xe dường như đã biết trước Trương Nghi sẽ đến, vái đáp lễ xong, bèn chỉ lên trên sườn dốc, nói là chúa công đang đợi ở đó. Trương Nghi mừng rỡ, vòng tay cảm tạ xong, dặn phu xe của mình cũng thả ngựa ở chỗ này, sau đó hối hả rảo bước đi lên con dốc.
Trên dốc không thấy một ai.
Trương Nghi trèo lên đỉnh dốc, phóng mắt nhìn khắp xung quanh, chỉ thấy mặt nước Phùng Trạch mênh mông bất tận, sóng biếc dập dờn, bên bờ trăm hoa khoe sắc, chim hót bướm lượn, chỉ có điều không có lấy một bóng người.
Trương Nghi vội bước lên mấy bước, đi sang chỗ khác tiếp tục đưa mắt kiếm tìm, mãi cũng nhìn thấy bên mé nước dưới con dốc có vài gốc liễu, dưới cây loáng thoáng như có bóng người, vội vàng tìm đường đi đến, quả nhiên là hai người họ, mỗi người dựa lưng vào một thân cây, quay mặt ra đầm nước, ngồi yên không nói.
Trương Nghi đi thẳng lại gần, cúi đầu vòng tay chào: “Vãn sinh Trương Nghi bái kiến hai vị tiên sinh!”
Hai người dường như không nhìn thấy, vẫn chăm chú nhìn sững vào mặt nước mênh mang trước mặt.
Trương Nghi hít vào một hơi dài, khẽ đảo mắt một vòng, liếc thấy ở giữa hai người có một thân cây, vừa hay cùng với hai cây của Trang Chu, Huệ Thi xếp thành hình tam giác, thì hiểu ngay cây đó là để dành cho mình, liền bước tới, điềm nhiên ngồi dựa vào gốc cây, nhưng không phải là quay nhìn ra mặt nước, mà là đối diện với hai người.
Thế ngồi này, rõ ràng không phải để ngắm cảnh, cũng chẳng phải để tỉnh định, vừa nhìn đã biết là tư thế luận chiến.
Huệ Thi khẽ hé mắt thành hai khe hẹp, liếc nhìn Trương Nghi, hơi vòng tay: “Lão hủ đợi đã lâu rồi!” Rồi chỉ vào Trang Chu. “Vị này chính là Trang Chu, chẳng phải sĩ tử nói rằng đến nằm mơ cũng muốn được diện kiến hay sao?”
“Chính phải!” Trương Nghi bèn đổi từ ngồi sang quỳ, dập đầu xuống đất khấu lạy. “Tiên sinh ở trên, xin nhận của vãn sinh Trương Nghi ba lạy!”
Trang Chu cười lên mấy tiếng, cũng mở mắt ra: “Huệ Thi nói rằng sĩ tử miệng lưỡi lợi hại, những người khác cũng đều nói như vậy cả, Trang Chu vẫn chưa được lĩnh giáo, ngươi vừa gặp đã cúi đầu bái kiến là lý làm sao? Là tiên lễ hậu binh ư?”
“Trước mặt tiên sinh, vãn sinh không dám khua môi múa mép! Sở dĩ vãn sinh khấu bái tiên sinh, là vì một áng diệu văn!”
“Ồ!”
“Khi vãn sinh còn ở Quỷ Cốc, có duyên đọc được tuyệt tác luận kiếm của tiên sinh, vô cùng say mê. Sau khi rời sơn cốc, vãn sinh đã dùng chính áng văn này để khắc chế được Việt Vương Vô Cương trên núi Lang Nha, giúp Sở diệt Việt, lập được công đầu sau khi xuống núi.”
“Ha ha ha ha!” Trang Chu phá lên cười lớn mấy tiếng, rồi thu nụ cười lại, trầm giọng, bấm ngón tay đếm mà nói. “Những lời luận đạo của Trang Chu lại bị ngươi sử dụng bừa bãi như vậy, là điều đáng buồn thứ nhất. Đất Ngô Việt khoảng mười vạn sinh linh, chỉ trong một sớm đã bị diệt vong trong tay ngươi, là điều đáng buồn thứ hai. Dùng máu tươi của người khác để lập công cho mình mà không biết tự tỉnh ngộ, đó là điều đáng buồn thứ ba. Có ba điều đáng buồn này mà không tự biết, lại khoe công lao trước mặt Trang Chu, là điều đáng buồn thứ tư.”
Trương Nghi vốn định dùng bài văn này làm cái cớ để lấy lòng mà cầu kiến, không ngờ Trang Chu không những không vui lòng, mà còn lập tức bổ xuống mấy rìu, nhát nào cũng toé máu, cho dù Trương Nghi đã có công phu tu luyện cao thâm, nhưng nhất thời cũng chết lặng, còn lại một lạy ba dập đầu vẫn chưa kịp hành xong, cơ thể đã ngây đơ tại chỗ, vừa không lạy được, cũng chẳng khấu nổi. Không khí phút chốc trở nên hết sức sượng sùng.
Huệ Thi liếc nhìn Trương Nghi, khoé miệng khẽ động mấy cái, dường như muốn nói gì đó nhưng lại thôi, hai mắt nheo lại, ánh nhìn di chuyển về phía mặt hồ.
“Đa tạ lời bình phẩm của tiên sinh!” Trương Nghi cuối cùng cũng đã định thần trở lại, nghiến răng hành nốt đại lễ, lễ xong mới đứng dậy, cẩn thận phủi hai tay, vén áo ngồi xuống, vòng tay đáp. “Khi ở Quỷ Cốc, thường nghe ân sư nhắc đến tiên sinh. May mắn được ông trời ưu ái, nay vãn sinh đã hân hạnh được gặp, thành tâm mong tiên sinh chớ tiếc lời chỉ giáo.”
Thấy Trương Nghi “khiêm tốn” như vậy, Trang Chu cũng không tiện trấn áp, giọng điệu có phần hoà hoãn trở lại: “Trang Chu xưa nay đơn độc đi về, không quan hệ gì với người đời, ân sư của ngươi sao vô duyên vô cớ lại nhắc đến Trang Chu?”
“Không phải vô duyên vô cớ!” Trương Nghi đáp. “Ân sư dùng lời luận đạo của tiên sinh để mở lối chỉ đường cho những đệ tử như vãn sinh tu thân ngộ đạo.”
“Ngươi hãy nói thử xem, lão già Quỷ Cốc Tử kia đã dùng lời của tại hạ để mở lối chỉ đường cho các ngươi như thế nào?”
“Hồi bẩm tiên sinh!” Thấy thời cơ đã đến, Trương Nghi bèn nghiêng người đáp. “Nghe ân sư kể lại, có người từng hỏi tiên sinh đạo ở chỗ nào, tiên sinh đáp rằng, đạo ở con kiến, đạo ở đám cỏ dại, đạo ở đống gạch vụn, đạo ở đống phân, mỗi một tỷ dụ đều khiến người ta nghe mà líu lưỡi. Tiên sinh luận đạo, tỷ dụ chính xác, khai tắc thông khiếu, vãn sinh vô cùng thán phục, mỗi khi ngẫm ngợi, lại thấy dư vị vô cùng.”
Thấy Trương Nghi càng muốn lấy lòng, Trang Chu khẽ chau mày: “Nghe Huệ Thi nói, ngươi rất muốn gặp ta. Ngươi đến gặp ta, lẽ nào chỉ để nói những lời nịnh bợ đó ư?”
“Không, không, không!” Trương Nghi cuống quýt. “Lần này vãn sinh đến, là muốn hỏi tiên sinh về đạo, mong tiên sinh chỉ điểm chỗ mê muội.”
“Ha ha ha ha!” Trang Chu cười dài mấy tiếng. “Nếu muốn hỏi về đạo, thì ngươi xuống núi làm gì? Nghe nói Quỷ Cốc Tử đạo hạnh thâm hậu, ngươi lại bỏ gần cầu xa, há chẳng phải hoang đường?” Nói đoạn liền đổi giọng. “Có thể thấy, hỏi về đạo không phải tâm của ngươi.”
“Không đúng!” Trương Nghi trầm giọng đáp. “Ân sư có đạo của ân sư, tiên sinh có đạo của tiên sinh. Đạo của ân sư vãn sinh đã được lĩnh ngộ sơ qua, còn đạo của tiên sinh, vãn sinh lại ít được nghe nói, nay may mắn được gặp tiên sinh, mong tiên sinh đừng tiếc lời chỉ giáo.”
“Chỉ sợ ngươi nghe đạo của ta rồi, lại phải trở về Quỷ Cốc, tu lại đạo của Quỷ Cốc Tử từ đầu.”
“Cũng chưa hẳn!” Trương Nghi khẽ mỉm cười, rũ tay áo mấy lần, làm ra tư thế chuẩn bị tranh luận, đưa hai tay lên xoa mạnh lên tai, đoạn vòng tay nói. “Vãn sinh đã rửa tai, xin tiên sinh chỉ giáo!”
“Tử Tang Hộ, Mạnh Tử Phản, Tử Cầm Trương là bạn tri giao của nhau, Tử Tang Hộ chết, Khổng Tử sai Tử Cống đến viếng, thấy Mạnh Tử Phản, Tử Cầm Trương gõ trống gảy đàn đi quanh xác chết mà hát, Tử Cống ngạc nhiên, trách hai người thất lễ, ngược lại bị hai người cười chê, bèn trở về bẩm lại với Khổng Tử, Khổng Tử khảng khái than rằng: ‘Người ta là kẻ tiêu dao ngoài thế tục, Khâu là kẻ gò bó trong thế tục, trong ngoài không tương hợp, Khâu lại sai trò đến viếng, thật là thiển cận.’ Ngươi và ta, cũng là người bên trong lễ tục và bên ngoài lễ tục, trong ngoài đã không hợp nhau, ngươi nay cầu xa bỏ gần, cầu đạo của Trang Chu, há chẳng phải hoang đường ư?”
Trang Chu kể ra câu chuyện này, rõ ràng là muốn nói với Trương Nghi, không cùng đường khó cùng mưu sự, ý là chuyện trò không hợp nửa câu cũng nhiều.
“Đa tạ tiên sinh giáo huấn!” Trương Nghi đã hiểu rõ ẩn ý, bèn khẽ mỉm cười. “Vãn sinh ngu muội, dám hỏi về sự khác biệt giữa bên trong và bên ngoài lễ tục?”
“Người ở bên ngoài, giống như ba người bạn tri giao kia, cùng sinh với trời, cùng thể với đất, coi sinh là mụn nhọt, coi tử là vỡ nhọt, bên ngoài gửi gắm cho vạn vật, bên trong quên bẵng hình hài, quanh quẩn bên ngoài bụi trần, tiêu dao trong cảnh vô vi. Người ở bên trong, giống như Khổng Khâu kia, cái tâm lo âu, cái hình lao nhọc, bên ngoài trái ngược với trời, bên trong trái ngược với tính, làm cái mình không thể làm, hành cái mình không thể hành, bận rộn bôn tẩu khắp liệt quốc, đơn độc đề xướng nhân nghĩa, thất thểu như chó nhà có tang, hoang mang như bèo trôi mặt nước.”
“Ha ha ha ha!” Trương Nghi cười lớn mấy tiếng. “Tiên sinh có điều không biết, Nghi vừa không phải là Khổng Khâu, cũng chẳng phải ba người kia, Nghi vừa có thể tiêu dao ngoài thế tục, cũng có thể quẩn quanh trong thế tục, là một chân giẫm ba sông.”
“Ngươi ư,” Trang Chu liếc mắt nhìn Trương Nghi, lắc đầu dứt khoát, “chẳng qua là một lòng muốn ba sông mà thôi, chứ không phải giẫm. Thiên đạo âm dương, không âm thì là dương, không dương thì là âm. Phương của đạo người, không trong thế tục thì là ngoài thế tục, không ngoài thế tục thì là trong thế tục. Ngươi chỉ có hai cái chân, làm sao có thể giẫm lên ba sông được?”
“Ồ…” Trương Nghi không biết đối đáp ra sao, ấp úng mất một chốc. “Vậy cứ cho là vãn sinh vẫn ở trong vòng lễ tục. Nếu theo ý của tiên sinh, muôn việc đều vô vi mà trị. Trong loạn thế hiện nay, nếu như cũng cứ ứng theo vô vi, để thuận theo tự nhiên, há chẳng phải sẽ chiến loạn triền miên, mãi mãi chẳng có được ngày yên bình hay sao?”
Trang Chu phá lên cười lớn, quay sang Huệ Thi: “Lão Huệ Tử, nghe thấy rồi chứ, đây chính là tướng quốc Đại Tần đến từ Quỷ Cốc!” Rồi nheo mắt lại. “Theo Chu được biết, Quỷ Cốc Tử cũng được coi là người có đạo thời nay, vậy mà lại dạy ra hạng đệ tử thế này, thật khiến người ta không thể hiểu nổi!” Nói xong, lắc đầu quầy quậy, trông rất khoa trương.
Bị sỉ nhục đến sư môn, Trương Nghi mặt mũi đỏ bừng, hai mắt trừng trừng nhìn lại, giọng nói nặng trịch, không còn vẻ thành tâm cung kính nữa: “Dám hỏi Trang tiên sinh, Trương Nghi sai ở chỗ nào?”
“Ngươi chẳng có gì sai cả, chẳng qua là không biết đạo mà thôi!” Trang Chu quay đầu lại, hai mắt rừng rực như đuốc, khoé miệng lộ một nét cười khó đoán.
Theo tiên sinh tu đạo trong Quỷ Cốc năm năm, kinh qua không biết bao nhiêu khổ sở, nhưng lại bị người ta quy chụp là không biết đạo, Trương Nghi vốn bản tính hiếu thắng sao có thể giữ nổi bình tĩnh, lập tức đôi mày nhíu chặt, miệng nhếch lên một nụ cười nhạt, cất giọng lạnh lẽo: “Vãn sinh có chỗ nào không biết đạo, kính mong tiên sinh nói rõ!”
“Người biết đạo, sẽ biết thuận thiên ứng mệnh!” Trước sự thay đổi thái độ của Trương Nghi, Trang Chu làm như không nhìn thấy, không nghe thấy, vẫn cứ rành rọt tiếp lời. “Tính trời tự nhiên, mệnh lý vô vi. Nhưng đệ tử Quỷ Cốc các ngươi, bôn tẩu khắp liệt quốc, hô hào giữa triều đường, chia rẽ triều nội, gây chuyện thị phi, đảo lộn trắng đen, kích động chinh phạt, bên trong thì không màng tính mạng, khoe khoang tài khéo miệng lưỡi, bên ngoài thì coi thường sinh linh, phô trương binh khí hung tàn, khiến cho thế gian vốn đã bệnh đến xương tuỷ giờ lại như tuyết phủ thêm sương, khiến cho mặt đất vốn đã ám muội nay lại càng thêm u tối. Hành sự như vậy, có thể gọi là biết đạo hay chăng?”
Nếu những lời trách cứ này là do Quỷ Cốc Tử nói ra, Trương Nghi còn vì cái lễ thầy trò mà không dám cãi. Nhưng đối với Trang Chu, Trương Nghi vốn chỉ có cung kính, không hề khiếp sợ, nay lại bị dồn tới đường cùng, nên đành phải trở giáo phản công.
“Theo ý của tiên sinh,” Trương Nghi im lặng một chốc, lấy lùi để tiến, “việc gì cũng có thể vô vi mà trị ư?”
“Đạo trời vô vi!”
“Thế còn đạo người?”
“Trời người là một, đạo người tự nhiên cũng sẽ vô vi.”
“Vãn sinh không dám tán đồng!” Trương Nghi đã chụp được cơ hội, bèn khẽ vòng tay, cất giọng dõng dạc. “Đạo người nếu là vô vi, thì ai sẽ nếm trăm loại cỏ? Ai sẽ trồng ngũ cốc? Ai sẽ thu phục trăm thú? Không có người nếm trăm loại cỏ, làm sao có thể trừ bệnh? Không có người trồng ngũ cốc, lấy gì để nuôi dưỡng sinh mệnh? Không có người thu phục trăm thú, làm sao có thể sống yên? Bởi vậy, vãn sinh cho rằng, đạo người phải là hữu vi. Vô vi sẽ chỉ dung túng thói lười biếng, sùng chuộng ngồi không hưởng lợi, cứ thế lâu dài, dân không được sống, nước không được trị, thiên hạ không được yên ổn.”
“Phi lý, quá ư phi lý!” Trang Chu lắc đầu quầy quậy. “Không có người nếm trăm loài cỏ, trăm loài cỏ sẽ được toàn vẹn. Không có người trồng ngũ cốc, ngũ cốc sẽ được sống lâu. Không có người thu phục trăm thú, trăm thú sẽ được yên ổn.”
“Trăm loài cỏ được toàn vẹn, nếu như người bị bệnh thì sao? Ngũ cốc được sống lâu, nếu như người bị đói thì sao? Trăm thú được yên ổn, nếu như người yếu đuối thì sao?”
“Trời sinh vạn vật, con người chỉ là một trong số đó. Ngươi câu nào cũng không rời khỏi con người, tự tiện tôn mình lên cao cực điểm. Cho dù là vậy, nếu theo như lời ngươi nói, trước khi nếm trăm loài cỏ, chẳng phải con người đã ốm chết hết rồi hay sao? Trước khi trồng ngũ cốc, chẳng phải con người đã đói chết hết rồi hay sao? Trước khi thu phục trăm loài thú, chẳng phải con người đã bị thú ăn thịt hết rồi hay sao? Sự thực lại không phải vậy, con người tu thân ngộ đạo, đối xử tốt đẹp với vạn vật, sẽ được di dưỡng tuổi trời, đó là chuyện trước khi nếm trăm loài cỏ, trồng ngũ cốc, thuần hoá trăm thú. Với sự tu dưỡng của Quỷ Cốc Tử, không thể không biết.”
Trương Nghi chớp mắt một cái, cứng đầu cãi lại: “Chuyện thời thượng cổ, đều là suy diễn, khó thành định luận, hãy phân tích chuyện hiện nay thôi. Thời nay phong khí suy đồi, lòng người không còn chất phác, lễ băng nhạc hoại, tư dục lan tràn, chư hùng tranh bá, quần long múa vuốt nhe nanh, sinh linh đồ thán, dân chúng đau thương, những điều như vậy, đều là sự hỗn loạn của thời nay. Đã là hỗn loạn, ắt có người trị. Tính trời thì công bằng, tính người thì tư lợi. Nếu như mọi người trong thiên hạ đều như tiên sinh, cứ để vô vi mà trị, thì sự hỗn loạn này ngày nào mới kết thúc đây?”
“Than ôi!” Trang Chu thở dài một tiếng. “Xem ra ngươi vừa không biết thế nào là vô vi, cũng chẳng biết thế nào là hữu vi. Không biết mà làm bừa, thiên hạ há chẳng đáng buồn ư? Khi trời đất mới hình thành, vua Nam Hải là Thúc, đế Bắc Hải là Hốt, đế trung ương là Hỗn Độn. Thúc và Hốt thường xuyên gặp gỡ ở nơi của Hỗn Độn, Hỗn Độn cũng luôn tiếp đãi trọng hậu hai vị đế. Thúc và Hốt cảm kích ơn đức của đế Hỗn Độn, có ý báo đáp, cùng bàn nhau rằng: ‘Người có bảy khiếu, nên mới có thể nhìn, nghe, ăn, thở, song Hỗn Độn lại không có. Tại sao chúng ta không giúp ông ta một tay, đục cho ông ta bảy cái lỗ?’ Hai đế nói là làm, mỗi ngày đục một lỗ, đến khi bảy lỗ đục xong, Hỗn Độn bèn lăn ra chết.”
Sự tích Hỗn Độn là do Trang Chu tiện miệng đặt ra, Trương Nghi chưa bao giờ nghe nói tới, đương nhiên cũng không thể tra cứu ở đâu. Lời trách móc “không biết mà làm bừa”, càng khiến Trương Nghi rùng mình ớn lạnh, trong lòng nhói buốt. Nhớ lại những lời giáo huấn sâu xa và niềm hy vọng tha thiết của Quỷ Cốc Tử đối với Trương Nghi và Tô Tần trong ngày xuống núi, Trương Nghi rất không phục, trong lòng muôn mối cảm xúc lẫn lộn, giống như đợt đợt sóng dồn dập cuộn trào, hồi lâu mới vòng tay nói: “Đa tạ tiên sinh giáo huấn! Mặc dù vậy, vãn sinh vẫn không cho rằng đó là lời giải thích!”
“Vậy ngươi giải thích thế nào?”
“Lão Tử nói, ra sống vào chết. Nói ngược lại, ra chết mà vào sống. Trước khi bị đục lỗ, Hỗn Độn không sống không chết, gọi là sống mãi. Sau khi bị đục lỗ, Hỗn Độn từ chỗ sống mãi đến chỗ chết. Song cái lý của đạo, vừa sống vừa chết, vừa chết vừa sống, sau khi Hỗn Độn chết đi ắt lại được sống, sau khi sống ắt lại phải chết, sống chết liên tục, cũng là sống mãi. Cùng là sống mãi, vậy Hỗn Độn sao lại chết?”
Trương Nghi dẫn một câu nói của Lão Tử để mở đầu, biện luận ra cái lý này, lại khiến Trang Chu không thể xem thường, mắt nhìn Trương Nghi chăm chú hồi lâu, rồi hít vào một hơi dài, khẽ vòng tay mà nói: “Hậu sinh khả uý!” Rồi quay sang Huệ Thi, hồ hởi. “Ha ha ha, thú vị, thật thú vị! Lời này nghe ra không giống như tướng quốc nước Tần, mà đã có được chút khí độ của Quỷ Cốc!”
“Đa tạ tiên sinh khen ngợi!” Trương Nghi đã kịp thở lấy một hơi, không đợi Huệ Thi kịp đáp lời, đã lập tức vòng tay đa tạ, rồi thuận thế phản bác. “Đạo trời vô vi, không tạo tác song cũng không gì không tạo tác, không gì không tạo tác tức là có tạo tác, là hữu vi. Theo như lời của tiên sinh, đạo không chỗ nào không có. Con người là tinh hoa hoá sinh từ vạn vật, đạo người cũng là đạo trời, nên trong ngoài lễ tục đáng ra không nên phân chia mới đúng, trong thế tục cũng chính là ngoài thế tục. Đã không phân chia trong ngoài thế tục, thì vô vi cũng chính là hữu vi, hữu vi cũng chính là vô vi. Những điều chúng vãn bối làm, tự nhiên cũng sẽ là thuận theo đạo, bên ngoài không nghịch với trời, bên trong không nghịch với tính. Còn về thế đạo đen tối, sinh linh lầm than, tiên sinh lại quy tội là tại đám đệ tử Quỷ Cốc vãn sinh làm xằng làm bậy, lại càng là thiếu công bằng. Trước khi vãn bối xuống núi, thế đạo có được thái bình hay không? Sinh linh có được yên ổn hay không? Sau khi chúng vãn bối xuống núi, đã phụng mệnh ân sư, dốc tận sức mình, dẫn dắt đại thế của thiên hạ, dẹp loạn để quay về chính, khiến cho loạn tượng lại trở về với trật tự, đưa thiên hạ bước theo đường chính, nên phải là thuận thiên ứng mệnh mới đúng, không ngờ lại bị tiên sinh khinh thị, thực khiến vãn sinh cảm thấy đau lòng.”
Trang Chu phá lên cười dài mấy tiếng: “Đã là đạo trời, thì không thể dẹp bỏ. Đã là đại thế, thì không thể dẫn dắt. Tề Trang Công đi săn, có con côn trùng chặn đường, giơ càng định đẩy bánh xe. Trang Công hết sức kinh ngạc, hỏi phu xe rằng: ‘Đây là giống côn trùng gì thế?’ Phu xe đáp: ‘Giống côn trùng này tên là bọ ngựa, chỉ biết tiến mà không biết lui.’ Bọ ngựa giương càng để chặn bánh xe, mà không biết rằng nó không đủ sức chống đỡ. Các ngươi muốn dốc tận sức mình để dẫn dắt đại thế của thiên hạ, nào có khác gì con bọ ngựa kia?”
Trương Nghi cũng cười vang: “Tiên sinh sai rồi! Trời dốc hết tác dụng, người dốc hết tài năng. Con muỗi tuy nhỏ, có thể chế ngự trâu mộng. Coi voi tuy lớn, nhưng chẳng làm gì được chuột đồng. Trị loạn nếu đúng cách, hẳn có cách xoay chuyển đất trời. Trị loạn nếu không đúng cách, tâm có thừa mà sức chẳng đủ. Đám đệ tử Quỷ Cốc như vãn sinh đây, thuận thiên ứng thời, dùng thuật tung hoành để chỉnh hợp thiên hạ, dẫn dắt loạn thế đi vào chính đạo, khiến thiên hạ quy về chính thống, giúp vạn dân được yên ổn, khiến hậu thế được thái bình, thân dù chết mà lòng không hối hận. Đời người nếu được như vậy, chẳng phải hào hùng lắm thay!”
Trương Nghi nói đến chỗ kích động, người khẽ run lên.
“Chà chà chà!” Trang Chu khẽ lắc đầu. “Không tiếc thân mình mà yêu thiên hạ, ngoài Mặc gia ra, từ xưa đến nay chưa từng có. Lẽ nào đệ tử của Quỷ Cốc cũng quy phục theo đám Mặc gia rồi ư? Các nhà lập tông, chư tử lập thuyết, tranh luận cãi vã, ầm ĩ ồn ào, chẳng qua cũng như thầy bói xem voi mà thôi, đệ tử của Quỷ Cốc dựa vào đâu mà tự tôn đến vậy, coi cách của mình là chính đạo, coi cách của người khác là lầm đường? Thiên hạ vừa không có đúng, cũng chẳng có sai, vừa không có chính, cũng chẳng có tà, đệ tử của Quỷ Cốc sao lại có thể luận định đúng sai, chính tà bừa bãi như vậy được?”
“Ý tiên sinh là, thiên hạ không có đúng sai ư? Thiên hạ không có chính tà ư? Đúng là đúng, sai là sai, chính là chính, tà là tà. Đúng sai, chính tà, không phải không có liên quan gì đến nhau, cớ sao tiên sinh lại xoá sạch sự khác biệt giữa chúng?”
Trang Chu lại lắc đầu: “Thật là những lời khảng khái! Trang Chu hỏi ngươi, thế nào là đúng, thế nào là sai?”
“Thuận trời thì đúng, nghịch trời thì sai; thuận thế thì đúng, nghịch thế thì sai.”
“Hay cho câu thuận trời nghịch trời, thuận thế nghịch thế!” Trang Chu cười nhạt một tiếng, giọng điệu trở nên bén nhọn. “Được thôi, giờ Trang Chu sẽ cùng ngươi luận bàn về đúng sai. Hãy nói về cuộc tranh luận này giữa chúng ta, giả sử ngươi biện luận thắng ta, thì ngươi nhất định là đúng, ta nhất định là sai ư? Giả sử ta biện luận thắng ngươi, thì ta nhất định là đúng, ngươi nhất định là sai ư? Giữa chúng ta, lẽ nào chỉ có một người đúng, chỉ có một người sai ư? Tại sao không phải là ta với ngươi cùng đúng, ngươi với ta cùng sai? Phàm là người đều cố chấp kiến giải của mình, bất kể là một người đúng, một người sai, hay là hai người đều đúng, hai người đều sai, ngươi và ta đều là người trong cuộc, nên đều không thể xác định. Ai đúng ai sai, nếu ngươi và ta không thể xác định, theo lý cần phải có bên thứ ba. Vậy thì, xin hỏi người nào là bên thứ ba? Trước tiên hãy mời đến một người có ý kiến giống ngươi. Nhưng mà, đã là người có ý kiến giống ngươi, hắn làm sao có thể phán quyết được? Vậy thì, tiếp theo lại mời một người có ý kiến giống ta. Nhưng mà, đã là người có ý kiến giống ta, hắn lại làm sao có thể phán quyết được? Được thôi, hai người đều không được, vậy thì hãy đi mời một người có ý kiến vừa không giống ngươi vừa không giống ta. Thế nhưng, đã là người có ý kiến khác ngươi và ta, hắn lại làm sao có thể phán quyết đúng sai giữa ngươi và ta được? Vậy thì, đổi một người có ý kiến cùng giống cả ta và ngươi, là được chứ gì? Ồ, đã là người có ý kiến giống ngươi và ta, hắn lại làm sao có thể phán quyết đúng sai giữa ngươi và ta đây? Từ đó mà thấy, ngươi, ta và bất kỳ một người thứ ba nào, đều không thể phán quyết về sự đúng sai giữa ta và ngươi. Nếu như ngươi và ta đều không thể xác định, thì ngươi làm sao có thể xác định ai đúng ai sai?”
Dường như bị choáng ngợp trước một tràng giang đại hải những câu hỏi ngược hỏi xuôi và những lập luận kín kẽ không thể phản bác của Trang Chu, Trương Nghi há miệng cứng lưỡi mất một hồi lâu mới lắp bắp được một câu: “Vậy… theo ý của tiên sinh, chúng ta phải nhìn nhận thế nào về đúng sai?”
“Vạn vật đều có hai mặt!” Trang Chu lại rành rọt luận giải. “Nhìn từ bên kia, không gì không phải là bên kia; nhìn từ bên này, không gì không phải là bên này. Bên kia có đúng sai, bên này cũng có đúng sai. Quả thực có bên này bên kia ư? Quả thực không có bên này bên kia ư? Quả thực có đúng sai ư? Quả thực không có đúng sai ư? Khi nhìn từ bên kia không rõ ràng, nhìn từ bên này, có lẽ sẽ rõ. Khi nhìn từ bên này không rõ ràng, nhìn từ bên kia, có lẽ sẽ rõ. Bởi vậy, bên kia hình thành từ bên này, bên này hình thành từ bên kia, nhờ có bên này mà tồn tại bên kia, nhờ có bên kia mà tồn tại bên này, đôi bên đối lập mà nương tựa, tương khắc mà tương sinh. Nhờ đúng mà có sai, nhờ sai mà có đúng, không có đúng cũng không có không đúng, không có sai cũng không có không sai. Bên này cũng là bên kia, mà bên kia cũng là bên này. Đúng cũng là sai, mà sai cũng là đúng. Bởi vậy, thánh nhân không câu nệ ở tranh luận đúng sai, mà soi sáng bởi đạo trời. Soi sáng bởi đạo trời, đôi bên đều trống không, đúng sai đều hư ảo, bên này và bên kia, đúng và sai, cùng tồn tại song song, đạo ngụ ở trong, nên là mấu chốt của đạo. Giữ lấy mấu chốt của đạo mà đứng trong vũ trụ, có thể thuận ứng vô cùng. Đúng cũng là vô cùng, sai cũng là vô cùng. Đúng không có cái đúng nhất định, sai không có cái sai nhất định. Nếu soi sáng bằng ánh sáng của tự nhiên, sẽ có thể không khư khư giữ ý lấy ý mình, trừ bỏ những luận định đúng sai!” Ánh mắt liếc xéo sang Huệ Thi, hất hàm về phía ông ta. “Tất cả quả thực như lời người kia đã nói, trời đất một ngón tay, vạn vật một con ngựa. Hợp với ta thì cho là được, không hợp với ta thì cho là không được. Đúng với ta thì cho là đúng, không đúng với ta thì cho là không đúng. Vốn dĩ không có đường, có người đi mà thành đường. Vật vốn không có tên, được gọi mà thành tên. Vật vốn dĩ có nguyên nhân khiến nó là được, vật vốn dĩ có nguyên nhân khiến nó là đúng, vật vốn dĩ có nguyên nhân khiến nó là không đúng. Không vật nào là không như vậy, không việc nào là không như vậy. Bởi thế, to nhỏ, xấu đẹp, ngay lệch, cong thẳng, đúng sai, thành bại, hợp chia… đều giống hệt nhau, chẳng có khác biệt, không gì không thông với đạo, không phải người khoáng đạt sẽ không thể biết được. Nếu như mọi vật mọi việc không gì không thông đạt với đạo, hợp lại làm một, mà ngươi và ta lại ở nơi đây biện luận đúng sai cong thẳng, há chẳng phải nực cười lắm ư?”
Lời vừa dứt, Trang Chu đã bật ra một tràng cười lớn.
Lập luận của Trang Chu, văn vẻ tuôn trào như suối, khí thế tựa cầu vồng, lồng lộng tựa trời mây, khác nào Thái Sơn ập xuống đỉnh đầu, Trương Nghi nghe mà ngây dại, không còn phản bác thêm được câu nào, bèn cúi đầu nói: “Diệu luận của tiên sinh, vãn sinh phục rồi!”
Trang Chu rõ ràng đã thấy hài lòng với Trương Nghi, bèn lắc lư cái đầu mà nói: “Ngươi trong lòng không phục, chỉ là nhất thời bế tắc mà thôi. Trang Chu chẳng qua chỉ là một thảo dân, ngươi lại là quan cao hiển quý, nên cái cúi đầu này ta không dám nhận. Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương thông, quan sát bẩm tính của ngươi, cũng có thể đồng hành với Chu. Đi nào đi nào, nếu cứ ở đây hao tâm tổn trí, biện luận mấy chuyện không đâu, chẳng thà hãy cùng Trang Chu đi đùa giỡn với bọn rùa bên mép nước.
Nghe nói đến đùa giỡn với rùa, Huệ Thi, Trương Nghi đều nổi hứng vui chơi, liền đứng cả dậy.
Trang Chu một tay kéo Trương Nghi, một tay kéo Huệ Thi, đi thẳng tới bên mép nước. Ở chốn đồng không vắng bặt bóng người, ba người cùng cởi mở hết tính trời, giống như ba đứa trẻ nít, đối mặt với khói sóng mênh mang, mặc tình hát múa, thoả sức điên cuồng, chơi đùa đến tận chập tối mới chịu quay về.
Sau khi Trang Chu đi rồi, bệnh của Huệ Vương đã khỏi hẳn, chỉ có điều lúc nào cũng nhớ tới Trang Chu, liên tục hai ngày liền mất ngủ, trong đó có một ngày, ông ta cứ ngồi ủ ê suốt từ sáng đến tối dưới gốc cây long não nơi đã từng cùng trai tâm với Trang Chu.
Tuy nhiên, tỳ nhân biết rõ, chúa thượng của ông ta tuyệt đối không thể rời khỏi cung, vì nếu như Huệ Vương rời đi, đối với quốc gia hay quân chủ, đều sẽ là đại hoạ.
Cứ thế giày vò đến sáng sớm ngày thứ ba, Huệ Vương quả thực không thể chịu đựng thêm được nữa, liền bảo tỳ nhân đi mời Trang Chu. Tỳ nhân hết sức miễn cưỡng tìm đến phủ tướng quốc, Huệ Thi ngước mắt nhìn trời, nói e rằng Trang Chu vẫn đang say ngủ. Tỳ nhân bèn kéo Huệ Thi tới trước giường của Trang Chu, nhưng không thấy người đâu, đồ đạc tuỳ thân của Trang Chu cũng đã không cánh mà bay. Huệ Thi thoáng sững sờ, nhưng rồi lập tức hiểu ra Trang Chu đã tù túng quá lâu, giờ lại lên đường tiêu dao tự tại, liền ngước nhìn trời mà tiễn biệt.
Tỳ nhân thở phào nhẹ nhõm, hớn hở về cung phục chỉ.
Nghe nói Trang Chu đã không từ mà biệt, Huệ Vương buồn bã than thở hồi lâu, rồi truyền chỉ lên triều. Bàng Quyên tấu xin làm hoà với Tần, Huệ Vương truyền gặp Trương Nghi. Thấy Trương Nghi tuyên bố trả lại vùng sơn cốc Khúc Ốc để thể hiện thành ý cầu hoà, quân thần nước Ngụy vô cùng hoan hỷ. Ngụy Vương không đánh mà có được Khúc Ốc nên cũng rất vui lòng, lập tức đồng ý ngay trên triều, truyền chỉ cho Chu Uy trao đổi quốc thư với người Tần, tiến hành nghi thức tiếp nhận.
Đến đây, màn kịch sáu nước phạt Tần rùm beng được khơi mào từ việc Tô Tần hợp tung, do Bàng Quyên nuôi chí phát động đã được kết thúc bởi việc Trương Nghi liên hoành, Tần, Ngụy giao hảo. Không thể không nói rằng đây chính là sự trêu cợt của thần vận mệnh đối với các đệ tử Quỷ Cốc.