Bái tướng xong, đến màn vũ nhạc theo thông lệ. Tô Tần đích thân lựa chọn, cả thảy có sáu màn, do sáu nước hội thề cung cấp. Nước Ngụy đầu tiên, sau đó đến Sở, Tề, Triệu, Hàn, Yên.
Khác với đại hội Mạnh Tân lần trước, vũ nhạc lần này mang phong vị riêng của từng vùng đất, không hề có bóng dáng binh đao sát phạt, có chăng chỉ là tiếng chuông khánh ngân nga, tiếng sáo đàn réo rắt, ca ngợi cảnh đất trời hoà thuận, mùa màng bội thu, mẹ cha từ ái, con cái hiếu thuận, trên đài dưới đài tươi cười hớn hở, bầu không khí rất mực hài hoà.
Khi màn vũ nhạc kết thúc, đã sang đến nửa chiều.
Tô Tần cắt đặt xong xuôi mọi chuyện, bèn trở về trại. Trên đường, từ xa đã nhìn thấy trước hành dinh nước Sở tiếng người như sóng, vô cùng náo nhiệt. Phái người đi hỏi, được biết là ba vị quân chủ nước Hàn, Tề, Ngụy được Sở Vương mời đến làm khách. Sở Vương mời khách, chỉ mời ba nước Tề, Ngụy, Hàn, bỏ qua hai nước phát động hợp tung là Triệu, Yên, khiến Tô Tần cảm thấy bất an.
Trở về đến trại, Tô Tần đang trầm ngâm nghĩ ngợi thì có người mang thiệp mời đến, nói là bạn cũ mời dự tiệc.
Tô Tần theo người này đi đến hành dinh nước Triệu, mới biết “bạn cũ” chính là Triệu Túc Hầu và Yên Văn Công. Chiếu tiệc được bày ra, hai vị quân chủ cùng ngồi ở ngôi chủ, Tô Tần ngồi ở chiếu khách, Phì Nghĩa, Tử Chi, Lâu Hoãn, công tôn Khoái bồi tiếp. Rượu thịt được đưa lên, quân thần cùng ăn uống sảng khoái. Yên Công, Triệu Hầu nói cười vui vẻ, liên tục kính rượu, chúc Tô Tần toại nguyện sự nghiệp hợp tung.
Rượu được mấy tuần, cũng đã gần đến canh hai, Tô Tần lo Yên Công tuổi cao sức yếu không kham nổi, song không tiện nói thẳng, nên lấy lý do mình không thể uống thêm được nữa, xin bãi tiệc.
Lão Yên Công còn chưa tận hứng, trong lòng băn khoăn, từ biệt Tô Tần và Túc Hầu xong, liền trở về hành dinh, đi thẳng vào phòng ngủ.
Lúc này đã đầu canh hai, phu nhân Cơ Tuyết vẫn đang ngồi đợi, thấy Yên Công quay về, liền bước tới giúp Yên Công cởi mũ áo, bảo Xuân Mai mang nước lại, rồi hầu Yên Công thay quần áo ngủ, tháo tất rửa chân.
“Chúa thượng!” Cơ Tuyết vừa xoa bóp đôi chân cho Yên Công, vừa hỏi. “Nhìn khí sắc của chúa thượng, dường như không được vui! Lẽ nào Tô Tử không đến?”
“Than ôi!” Văn Công lắc đầu nói. “Quả nhân không sao, chỉ là Tô Tử, dường như có tâm sự gì thì phải!”
“Tô Tử… làm sao kia?” Bàn tay của Cơ Tuyết bất giác khựng lại.
“Hôm nay Tô Tử thân đeo sáu ấn, địa vị hiển hách tột bực trong hàng thần tử, đáng lẽ phải là chuyện đại hỷ trong đời, song quả nhân không hề thấy người này tỏ ra vui mừng, mà ngược lại trông rất đỗi ưu sầu, xem ra trùng trùng tâm sự. Quả nhân bèn hỏi, Tô Tử nói rằng thấy tức ngực, hẳn là đã uống quá nhiều!”
“Tức ngực? Phải chăng là bị bệnh rồi?”
“Nhìn thần sắc thì không giống! Triệu Hầu muốn mời thầy thuốc đến chẩn trị, nhưng Tô Tử từ chối, nói là không nghiêm trọng, ngược lại còn liên tục chúc rượu hai ta.”
“Hay là mệt rồi?”
“Có lẽ vậy! Những ngày này, theo như quả nhân thấy, người lao lực nhất trên đời không ai hơn Tô Tử. Hôm nay lại càng vất vả, sáu nước hợp tung là đại sự của thiên hạ, tuyệt không được phép xảy ra sơ suất, chỉ nghĩ đến đó thôi, đã đủ căng thẳng lắm rồi. May mà Tô Tử tuổi trẻ, mới có thể kham nổi!”
“Vâng!” Cơ Tuyết gật đầu, thoáng chau mày, tiếp tục xoa bóp đôi chân cho Yên Công thêm một lúc, rồi khẽ nói. “Chúa thượng bận bịu cả ngày, hẳn đã mệt rồi, hãy sớm nghỉ ngơi!” Rồi thong thả đứng dậy, đưa mắt cho Xuân Mai.
Xuân Mai bèn quỳ xuống, cầm khăn lau khô chân cho Văn Công, mang giày mềm vào, sau đó cùng Cơ Tuyết dìu Văn Công đến bên giường nằm xuống, đắp chăn cẩn thận. Văn Công quả thực đã thấm mệt, vừa nằm một lúc đã ngáy pho pho.
Cơ Tuyết thở dài một tiếng, cùng Xuân Mai đi ra gian ngoài, mỗi người nằm xuống một chiếc giường.
Sáng sớm hôm sau thức dậy, Cơ Tuyết bảo Xuân Mai gọi Cơ Khoái đến, dò hỏi nguyên nhân khiến Tô Tần suốt ngày ủ rũ. Cơ Khoái kể lại một lượt câu chuyện bên bờ sông hôm đó, cuối cùng nói thêm: “Hợp tung tuy là việc tốt, nhưng sáu nước lại cùng hưng binh động chúng, dẫn theo đại quân rầm rộ mà đến, Tô Tử vì điều này mà thấy lo âu.”
“Than ôi!” Cơ Tuyết đã hiểu rõ nguyên do, khẽ thở dài một tiếng. “Chúa thượng vốn định không dẫn quân theo, sau đó nghe nói liệt quốc đều phát đại binh, một là lo bị người ta coi thường, hai là muốn giữ thể diện cho Tô Tử, nên mới đưa theo, không ngờ lại khiến Tô Tử càng thêm đau đầu!”
“Không phải Tô Tử lo lắng về chúng ta, mà là lo về người Sở và người Ngụy. Sở và Tần có mối hận Thương Ư, Ngụy và Tần có mối nhục Hà Tây. Nghe nói tối qua Sở Vương đã gạt Triệu, Yên sang một bên, chỉ mời ba nước Tề, Ngụy, Hàn đến dự tiệc, e rằng Tô Tử đang vì việc này mà sầu muộn.”
“Tại sao Sở Vương không mời Triệu, Yên?”
“Tôn nhi cũng không biết, bên trong chắc hẳn có điều khuất tất. Nghe Tô Tử nói, điều Tô Tử lo lắng chính là họ nhân cơ hội này cấu kết thành một, cùng nhau diệt Tần.”
“A?” Cơ Tuyết kêu lên kinh ngạc, sững sờ mất một chốc, nhưng vẫn băn khoăn. “Tô Tử hợp tung, chẳng phải nhằm mục đích chống Tần ư?”
“Tôn nhi cũng hỏi Tô Tử như vậy, Tô Tử nói rằng, hợp tung là để chế Tần, không phải diệt Tần. Lúc đầu tôn nhi cũng thấy khó hiểu, suy nghĩ liền mấy hôm, cuối cùng cũng đã hiểu ra. Nếu như nước Tần thực sự bị tiêu diệt, sáu nước sẽ tự loạn, tung thân cũng không thể thành công.”
“Phải rồi!” Cơ Tuyết đột nhiên bừng tỉnh, liên tiếp gật đầu. “Vẫn là Tô Tử nhìn xa trông rộng. Sáu nước quả thực là như vậy, bằng mặt mà không bằng lòng!” Nói đoạn, ngẩng lên mỉm cười. “Khoái Nhi, được rồi, nếu lại có chuyện gì mới mẻ, chớ quên kể cho ta nghe đấy. Nơi đây bốn phía chẳng có ai thân quen, thực khiến ta buồn chán!”
“Tôn nhi tuân chỉ!”
Sau khi Cơ Khoái đi rồi, Cơ Tuyết ở trong trướng đứng ngồi không yên, cứ thế khổ sở đến tận gần trưa mà vẫn chưa nghĩ được ra cách nào để giúp Tô Tần, bất giác đau lòng ứa lệ.
“Công chúa!” Xuân Mai thấy vậy cũng thấy buồn lây, bèn nói. “Nhìn công chúa thế kia, thực khiến người ta xót ruột. Hay là để nô tỳ đi gọi Tô Tử đến, công chúa hãy hỏi thẳng Tô Tử xem có mong muốn gì không?”
Cơ Tuyết lườm Xuân Mai: “Tô Tử có đâu chịu nói?”
“Bất kể thế nào, chúng ta cũng phải gặp mặt Tô Tử một lần. Lần này công chúa đến đây, chẳng phải cũng vì có ý đó hay sao?”
“Giờ Tô Tử đang bận tối tăm mặt mũi, làm sao mà gặp được? Hơn nữa, nếu để chúa thượng biết, cũng thực không hay!”
“Vậy…” Xuân Mai im bặt, ngẫm nghĩ một hồi, lại nói. “Hay là xin với chúa thượng mời Tô Tử đến đây, nói là… nói là công chúa nhớ nhà, muốn nhờ Tô Tử gửi lời nhắn!”
Ý kiến này thật chẳng ra sao. Cơ Tuyết muốn gửi lời nhắn, việc gì phải nhờ tới Tô Tần? Tệ hại hơn là Xuân Mai lại nhắc đến Chu thất, cũng chính là nhắc tới người thân đang ở ngay trước mắt. Nghĩ tới phụ vương cô khổ một mình không ai bầu bạn, Cơ Tuyết càng thêm đau đớn trong lòng, lúc đầu còn sụt sùi, sau đó òa lên nức nở.
Xuân Mai không còn cách nào khác, bèn cất bước định đi ra ngoài, nhưng Cơ Tuyết chợt gọi lại: “Mai Nhi!”
Xuân Mai vội dừng bước.
“Chúa thượng đâu? Xem thử chúa thượng đang ở đâu!”
Xuân Mai vâng một tiếng rồi vội vã bước đi, một lát sau quay lại bẩm báo: “Chúa thượng và Tử Chi tướng quân đang bàn quốc sự trong hành dinh, hình như là có việc gấp!”
Cơ Tuyết nhìn ra ngoài trướng.
“Công chúa, hay là, nô tỳ tiếp tục đi nghe ngóng xem sao?”
Xuân Mai chưa kịp cất bước, phía ngoài đã có tiếng bước chân vọng lại, nghe rất gấp gáp, nhưng vẫn nhận ra được là tiếng bước chân của Văn Công. Cơ Tuyết thoáng giật mình, vội chỉnh đốn xiêm y, cùng Xuân Mai ra ngoài cửa nghênh đón.
Văn Công thở hổn hển, dường như là vừa chạy đến.
Cơ Tuyết đang bước lên định đỡ lấy ông ta, thấy vậy liền dừng bước, khẽ cúi người hành lễ: “Chúa thượng?”
Văn Công không nhìn đến nàng, cứ thế đi đi lại lại liên hồi trong trướng, hơi thở vẫn hổn hển, bước chân nặng mà có lực, hoàn toàn không giống một ông già đã quá lục tuần.
Đi lại một lúc, bước chân của Văn Công chậm dần, hơi thở cũng điều hoà trở lại.
Cơ Tuyết chậm rãi bước tới, đỡ lấy cánh tay Văn Công, dìu ông ngồi xuống chiếu.
Văn Công liếc nhìn Xuân Mai.
Cơ Tuyết xua tay, Xuân Mai bèn lui ra.
Cơ Tuyết nhìn thẳng vào Văn Công, dịu dàng hỏi: “Chúa thượng sao lại tức giận đến vậy?”
Văn Công cũng đưa mắt nhìn Cơ Tuyết, rồi nghiến răng trèo trẹo mà nói: “Phu nhân hãy xem cái này!” Rồi rút từ trong tay áo ra một bức mật thư.
Cơ Tuyết mở ra, đọc một lượt, kinh ngạc kêu lên: “Điện hạ muốn lấy vợ Tần?”
Văn Công nộ khí lại bốc lên bừng bừng: “Nghịch tử hại ta! Sáu nước tung thân, tông chỉ là chế Tần. Trong lúc nước sôi lửa bỏng thế này, mà nghịch tử lại gửi thư đến, nói là muốn lấy gái Tần làm vợ, thực không thể hiểu được nó muốn gì?”
“Chúa thượng bớt giận!” Cơ Tuyết khuyên nhủ. “Điện hạ hành động như vậy, chắc hẳn có điều uẩn khúc!”
“Uẩn khúc gì?” Văn Công đập bàn giận dữ. “Là người Tần dùng kế, muốn khiến chúng ta nội bộ lục đục. Nghịch tử có mắt như mù, không biết phân biệt thị phi, làm sao có thể đảm đương quốc sự?”
“Chúa thượng!” Cơ Tuyết thấy Văn Công nặng lời, liền cất giọng ôn tồn. “Đọc trong thư, thấy là do người Tần chủ động kết thân, điện hạ do dự chưa quyết, nên mới gửi thư hỏi ý chúa thượng. Nếu chúa thượng thấy không ổn thoả, có thể hạ lệnh cho điện hạ tạm thời chớ có kết thân!”
Văn Công cũng từ từ bình tâm trở lại: “Phu nhân nói rất phải. Quả nhân đã hạ chỉ, cho ngựa hỏa tốc đưa về rồi!”
“Chúa thượng thánh minh!”
“Phu nhân,” Văn Công nhìn Cơ Tuyết, “hãy nhanh chóng sắp xếp, chúng ta sẽ lập tức khởi hành!”
“Trở về?”
Văn Công thở dài: “Than ôi, nếu không trở về, quả nhân không thể yên tâm! Đứa con này chẳng có chí xa, tâm thuật bất chính, lại có người Tần ở bên, không biết sẽ gây ra chuyện gì. Hiện giờ tung thân mới thành, tuyệt đối không được để vì nước Yên mà phá hỏng đại sự của thiên hạ!”
“Có cần hiểu dụ cho Tô Tử hay không?”
“Sáu nước mới hợp tung, muôn việc rối bời, đều đang chờ vào Tô Tử. Việc của nước Yên, quả nhân sẽ tự lo, không được để Tô Tử thêm bấn loạn!”
Cơ Tuyết liên tiếp gật đầu.
“Than ôi!” Văn Công lại thở dài buồn bã. “Quả nhân già rồi, đi được một chuyến thực chẳng phải dễ dàng. Lần này đến hội thề, quả nhân vốn định nhân dịp đưa phu nhân tới Lạc Dương yết kiến bệ hạ, ai ngờ lại bị nghịch tử phá ngang!”
Cơ Tuyết bật khóc mà nói: “Chúa thượng có tâm ý này, phụ vương biết được cũng đã thấy mãn nguyện rồi!”
Công tôn Khoái bẩm báo với Tô Tần việc Yên Công về nước, Tô Tần kinh ngạc kêu lên: “Chúa thượng muốn trở về? Lúc nào khởi hành?”
“Lúc gà gáy sáng sớm mai!” Công tôn Khoái đáp.
Tô Tần nhìn thẳng vào Công tôn Khoái: “Công tôn có biết nguyên do chăng?”
Công tôn Khoái lắc đầu.
“Còn Tử Chi tướng quân?”
“Ông nội căn dặn, Tử Chi tướng quân cùng binh lính nước Yên, và cả tại hạ, vẫn sẽ ở đây, nghe theo sự điều động của Tô Tử.”
Tô Tần nhắm mắt suy nghĩ.
Màn đêm vừa buông xuống, Trâu Phi Đao liền đi vào trong trướng, thắp sáng hai ngọn đèn đồng.
Tô Tần mở mắt, gọi khẽ: “Trâu huynh!”
Trâu Phi Đao vội bước lại gần, khom lưng đáp: “Chúa công có điều gì căn dặn?”
“Mời Lâu Tử đến đây!”
Trâu Phi Đao đi ra cửa trướng, sai người hầu đi mời Lâu Hoãn. Đang định quay trở vào, bỗng thấy phía xa có bóng người lướt qua, rồi biến mất sau một gốc cây. Trâu Phi Đao giật thót, rút mũi phi đao ra, âm thầm vòng sang, thấy bóng đen vẫn núp sau gốc cây, thò đầu ngó nghiêng vào trong đại trướng của Tô Tần, liền áp sát lại gần, quát lớn: “Kẻ nào?”
Bóng đen giật bắn mình, sợ hãi quay đầu lại, té ra là một thiếu nữ vận trang phục cung nữ nước Yên.
Trâu Phi Đao lui lại một bước, ngữ khí cũng ôn hoà hơn: “Cô nương ở đây làm gì?”
Thiếu nữ chính là Xuân Mai, lúc này cũng đã định thần trở lại, vội vòng tay vái, rồi khẽ dẩu môi về phía trước, hỏi: “Xin hỏi quân uý, phía trước phải chăng là đại trướng của Tô đại nhân?”
Trâu Phi Đao nhìn Xuân Mai một chốc, gật đầu, lại hỏi: “Cô nương là ai?”
Xuân Mai hỏi vặn lại: “Vậy quân uý là ai?”
Trâu Phi Đao lại quan sát cô ta lát nữa, mới đáp: “Tại hạ họ Trâu!”
“Là Phi Đao đại hiệp ư?” Xuân Mai mở to mắt, nhìn chằm chằm vào Trâu Phi Đao.
“Chính tại hạ! Ồ, tại sao cô nương lại biết?”
Xuân Mai cười nói: “Quân uý họ Trâu, trên người lại không có kiếm, thiết nghĩ hẳn là Phi Đao đại hiệp danh tiếng lẫy lừng!”
“Danh tiếng lẫy lừng?” Trâu Phi Đao nghe mà ngẩn người.
Xuân Mai hạ giọng nói: “Trong cung chúng tôi, có ai không biết tới uy danh của đại hiệp. Mọi người đều đồn rằng, đại hiệp…”
“Đồn… đồn gì về ta?” Trâu Phi Đao kinh ngạc hỏi.
“Tạm chưa nói vội!” Xuân Mai mỉm cười nói. “Tiểu nữ có việc gấp cần cầu kiến Tô Tử, phiền đại hiệp báo giúp!”
Trâu Phi Đao vẫn đứng bất động.
Xuân Mai giục: “Việc rất gấp, nhờ đại hiệp mau cho!”
Trâu Phi Đao ấp úng: “Ta… còn chưa biết cô nương tên họ là gì, là người ở đâu, làm sao báo được?”
Xuân Mai tiến lại gần, nói khẽ: “Tiểu nữ không có họ, chỉ gọi là Xuân Mai, là người hầu của phu nhân nước Yên. Phu nhân sai tiểu nữ truyền tin cho Tô Tử, rằng có việc gấp.”
Trâu Phi Đao cũng khẽ giọng đáp: “Bây giờ thì không được. Chúa công đang bàn đại sự với công tôn nhà cô!”
“Là công tôn Khoái ư?”
Trâu Phi Đao gật đầu.
“Đại hiệp có thực là Trâu Phi Đao?” Xuân Mai nhìn thẳng vào mắt hắn, hỏi.
“Cái này có giả được chăng?” Trâu Phi Đao rút ra một mũi phi đao, chìa ra trước mặt Xuân Mai.
Xuân Mai liền lấy từ trong tay áo ra một túi gấm, đưa cho Trâu Phi Đao: “Tôi tin đại hiệp! Đây là vật phu nhân muốn gửi cho Tô Tử, rất hệ trọng, xin hãy lập tức chuyển cho Tô Tử, tôi sẽ ở đây đợi tin.”
Trâu Phi Đao nhận lấy túi gấm, trở vào trong trướng, đúng lúc công tôn Khoái vòng tay cáo từ Tô Tần.
Thấy công tôn Khoái đã bước ra, Trâu Phi Đao hạ giọng bẩm báo: “Chúa công, có người đến gửi túi gấm này, nói là có chuyện hệ trọng!” Rồi dâng túi gấm lên.
Tô Tần nhận lấy, mở ra, thấy bên trong là một vuông lụa, trên có thêu một bài thơ, cùng hình một thiếu phụ đứng quay lưng vào núi, mắt nhìn ra sông, đang dõi về nơi xa thẳm. Bài thơ viết rằng:
“Cây non Yên xanh xanh chừ,
Người ấy ra ải.
Cây non Yên khô úa chừ,
Sao chẳng thấy về.”
Mặc dù không đề tên, nhưng Tô Tần biết vuông lụa được thêu bởi tay Cơ Tuyết. Tô Tần cố nén nhịp tim thổn thức, nhắm nghiền hai mắt hồi lâu, mới từ từ mở mắt ra, ngắm nghía bức tranh thêu. Thấy đường kim tỉ mỉ, hẳn nàng đã phải bỏ ra rất nhiều thời gian, từng mũi từng mũi thêu thành.
Tô Tần gắng nuốt lệ, lần tìm một hồi trong lớp áo, lấy ra mảnh khăn lụa đã ố vàng bởi mồ hôi, cẩn thận trải bên cạnh vuông lụa, thẫn thờ nhìn ngắm hồi lâu.
“Chúa công!” Trâu Phi Đao khẽ gọi.
Tô Tần dường như không nghe thấy, mắt vẫn nhìn sững vào hai vuông khăn một cũ một mới.
Trâu Phi Đao đợi thêm một lúc, lại bẩm báo: “Người đến vẫn đang đợi ở ngoài!”
Tô Tần bừng tỉnh: “Có phải Xuân Mai không?”
Trâu Phi Đao gật đầu.
Tô Tần lấy bút mực ra, ngẫm nghĩ một lúc, rồi đề một bài thơ lên tấm da dê, là một bài cổ phong nước Vệ do Trọng Ni người nước Lỗ biên soạn:
“Ném cho ta mộc đào,
Ta tặng lại quỳnh dao.
Phải đâu vì báo đáp,
Vì mãi hết tâm giao.”(1)
Viết xong, Tô Tần đọc lại một lượt, rồi cẩn thận gấp lại, cho vào phong thư, cũng không niêm phong mà đưa luôn cho Trâu Phi Đao: “Đưa cho Xuân Mai, nói rằng… rằng tại hạ đa tạ nàng ấy!”
Trâu Phi Đao vừa ra khỏi trướng, Lâu Hoãn đã nối gót đi vào. Tô Tần chẳng kịp nói lời khách sáo, lập tức đi thẳng vào đề: “Lúc nãy công tôn Khoái đến, nói rằng sáng sớm mai Yên Công sẽ lên đường về nước.”
Lâu Hoãn chau mày: “Công tôn Khoái có nói nguyên nhân không?”
Tô Tần lắc đầu.
“Tại hạ nghe nói lần này phu nhân nước Yên đến đây là có ý muốn yết kiến thiên tử, sao lại nói về là về ngay được?”
Tô Tần nhắm mắt trầm tư.
Lâu Hoãn lẩm bẩm một mình: “Thật kỳ lạ! Theo tính cách của Yên Công, tuyệt đối không thể vội vàng như vậy. Hơn nữa, làm thế cũng bất lợi cho sức khoẻ của ông ta. Vừa mới từ nước Yên đến nơi, đi đường vất vả, Yên Công tuổi tác lại cao, còn chưa kịp nghỉ ngơi lại sức kia mà!”
Tô Tần đột nhiên mở choàng mắt: “Lần này họp mặt ăn thề, nước Tần có động tĩnh gì không?”
“Chưa thấy có động tĩnh gì khác thường. Việc phòng bị ở Tây Hà chưa thấy tăng cường, ngay cả ải Hàm Cốc cũng vẫn qua lại thông thương như cũ, dường như họ không hề quan tâm.”
Tô Tần tiếp tục khép mắt lại.
“Tô Tử!” Lâu Hoãn chần chừ một lát. “Nhưng các nước tung thân lại có chút chuyện ồn ào.”
“Ồ?” Tô Tần mở mắt.
“Tại hạ vừa được biết, Sở Vương đột nhiên nổi hứng, phái công tử Như đến mời Hàn Hầu, nói rằng muốn đi thăm Hổ Lao, chiêm ngưỡng nơi nuôi hổ của Mục Vương năm xưa. Hai vương Tề, Ngụy hay tin, cũng hưởng ứng đi cùng, Hàn Hầu đích thân dẫn đường. Nghe nói chư vương cũng sẽ rời trướng vào sáng mai.”
“Còn chúa thượng thì sao?”
Vì đang nói chuyện với Lâu Hoãn, nên vị “chúa thượng” này rõ ràng là chỉ Triệu Túc Hầu. Lâu Hoãn lập tức đáp liền: “Sở Vương chưa thấy mời chúa thượng, chúa thượng cũng chưa hưởng ứng!”
“Ta biết rồi!” Tô Tần chau mày hồi lâu mới thở dài một tiếng. “Phiền Lâu Tử chuyển tấu với chúa thượng, nói rằng Tô Tần khẩn cầu chúa thượng hãy nán lại vài ngày rồi hãy trở về!”
“Xin nghe theo lời Tô Tử!”
Trâu Phi Đao quay lại bên gốc cây, Xuân Mai vẫn đang đợi ở đó.
“Cô nương, đây là thư phúc đáp của chúa công, hãy cất cho kỹ!” Trâu Phi Đao đưa bức thư cho Xuân Mai.
Xuân Mai đưa hai tay nhận lấy, cẩn thận cho vào tay áo, vòng tay vái chào Trâu Phi Đao, vừa quay người định đi thì Trâu Phi Đao gọi lại: “Cô nương, chúa công còn có một lời nhắn cho cô!”
Xuân Mai quay người lại, ngạc nhiên hỏi: “Nhắn cho tôi ư?”
“Chúa công nói, bảo với Xuân Mai, rằng ta đa tạ nàng ấy.”
“Ngài hãy chuyển lời lại cho Tô Tử, nói rằng Xuân Mai cũng đa tạ Tô Tử.”
Trâu Phi Đao mỉm cười: “Cô nương giúp đưa tin, chúa công đa tạ cô là khách khí, là lễ phép. Nhưng cô nương lại đa tạ chúa công, hẳn phải có lý do?”
Xuân Mai ngẩng đầu nhìn Trâu Phi Đao: “Tiểu nữ là người hèn mọn, là kẻ hạ nhân; Tô Tử là đại nhân, là quý nhân. Đại nhân quý nhân lại đa tạ tiện nhân hạ nhân trước, tiểu nữ không nên đa tạ lại hay sao?”
Trâu Phi Đao không biết đối đáp thế nào.
Xuân Mai cười khúc khích, rồi quay người đi luôn.
Đi được mấy bước, Trâu Phi Đao lại gọi: “Cô nương…”
Xuân Mai dừng bước.
Trâu Phi Đao tiến lại gần: “Tại hạ… muốn hỏi thăm một chuyện.”
“Ồ!” Xuân Mai mỉm cười. “Đại hiệp cứ hỏi!”
“Trong cung… đồn tại hạ như thế nào?”
“Đồn nhiều lắm! Nói rằng đại hiệp phi đao xa trăm bước xuyên qua lá dương liễu, là thiên hạ đệ nhất binh khí; nói đại hiệp bay nhảy trên nóc nhà như chạy trên đất bằng; nói đại hiệp miệng phun ra lửa, mắt nhìn nghìn dặm; nói đại hiệp trên Kế Thành một mạch phi trăm mũi đao, đao đao xuyên trúng yết hầu, khiến xác quân phản loạn chồng chất dưới chân thành như gò đống…”
Trâu Phi Đao mặt đỏ bừng: “Đúng là… đồn nhảm!”
Xuân Mai nhìn Trâu Phi Đao chăm chú một hồi, rồi mỉm cười nói: “Hôm nay gặp mặt, thấy quả là đồn nhảm! Đại hiệp chẳng hề giống với tưởng tượng của tiểu nữ!”
Trâu Phi Đao nhìn Xuân Mai hỏi: “Cô nương hẳn thấy thất vọng?”
“Không! Không! Không!” Xuân Mai liên tiếp xua tay. “Ý tiểu nữ là nói diện mạo của đại hiệp…”
“Xấu xí lắm ư?”
Xuân Mai lắc đầu, cười khúc khích mà nói: “Cứ ngỡ đại hiệp ba đầu sáu tay, tướng mạo dị thường tựa thần nhân, không ngờ đại hiệp chẳng hề khác với người thường, lại còn… lại còn…”
“Còn làm sao?”
Xuân Mai đỏ bừng mặt không đáp, cúi đầu liếc trộm Trâu Phi Đao một cái rồi ngoắt người chạy đi mất.
Chẳng hiểu sao, vừa bắt gặp ánh mắt của Xuân Mai, Trâu Phi Đao bỗng tim đập thình thịch, đứng ngẩn ngơ tại chỗ, cho đến khi Xuân Mai hoàn toàn biến mất trong màn đêm mênh mang.
***
Rời khỏi Mạnh Tân, dọc theo bờ nam Hà Thuỷ đi về phía đông hơn trăm dặm, sẽ thấy Y Thuỷ. Lại đi thêm mấy chục dặm nữa là đến Tỵ Thuỷ. Ở bờ đông Tỵ Thuỷ, phía nam Hà Thuỷ, chính là Hổ Lao quan, nơi chư vương hẹn nhau đến chiêm ngưỡng.
Hổ Lao quan còn được gọi là Tỵ Thuỷ quan, bắc giáp Hà Thuỷ, nam dựa Trung Nhạc Tung Sơn, ở giữa là ba ngọn núi Đại Phi, Phù Hý, Quảng Vũ trập trùng nối liền, khe núi rãnh sâu xen kẽ, địa thế vô cùng hiểm trở. Một con đường cái quan cổ xưa chạy qua quan ải đi về phía tây, có thể dẫn đến Lạc Dương, sang Hàm Cốc, nối thông với Tần; ra khỏi quan ải đi về phía đông, có thể qua Huỳnh Dương, Trung Mâu, Diễn, thẳng tới Đại Lương. Nhờ địa thế đặc biệt nên sau khi diệt Trịnh, Hàn Hầu đã ban chỉ xây dựng cửa ải tại đây, dựa vào địa thế hiểm trở để xây dựng thành lũy. Cửa ải này vẫn được gọi là Hổ Lao, còn thành được đặt tên là Thành Cao.
Nơi mà Uy Vương muốn tới chiêm ngưỡng chính là Quan Hổ đồn nằm ở phía tây nam Hổ Lao quan, cách cửa ải chừng ba dặm. Dưới sự dẫn đường của quan thủ lệnh Thành Cao, bốn vương Sở, Tề, Ngụy, Hàn bỏ lại tuỳ tùng, hăm hở leo lên đỉnh phía đông của Quan Hổ đồn, đứng trước một gò đất nhỏ tròn trịa như chiếc bánh bao lớn.
“Khởi tấu chúa thượng, trước mặt chính là nơi nuôi hổ của Mục thiên tử!” Thành Cao lệnh chỉ vào gò đất, nói lớn.
Hàn Chiêu Hầu khẽ xua tay: “Biết rồi, lui xuống đi!”
“Vi thần tuân chỉ!” Thành Cao lệnh khom người lui xuống, đứng hầu cách đó một tầm tên bắn.
Hiện đang là mùa thu, trời cao mây nhạt.
Mấy vị quân chủ đứng trước gò đất, ngắm nghía hồi lâu. Trên gò không có lấy một gốc cây lớn, chỉ thấy các bụi gai cao ngang thắt lưng và táo dại um tùm ken đầy trên dốc, rất dễ vướng víu áo quần. Trên dốc cỏ dại tạp nham, phần nhiều đã úa vàng, trong gió thu se sắt, càng thêm xơ xác héo hon.
Ngụy Huệ Vương nhìn vào một vùng đất trũng cách đó không xa, chỉ lớn bằng một gian phòng, trông giống như tổ chim. Hiển nhiên, đây là nơi năm xưa nhốt con mãnh hổ đã bị vệ sĩ của Mục Vương là Cao Bôn Tuất bắt sống. Ngắm nhìn một lúc, có lẽ vẫn chưa thích chí, Ngụy Huệ Vương bèn vạch gai góc, đi thẳng tới nơi. Khi ngang qua một bụi táo gai, một góc áo bào bị cành táo gai găm chặt lấy. Ngụy Huệ Vương đưa tay ra gỡ, chẳng may một mũi gai táo nhọn hoắt đâm trúng ngón giữa, đau đến nhăn mặt.
Huệ Vương bản tính hài hước, có lẽ muốn dọa mọi người cho vui, liền quay đầu lại, làm bộ làm tịch hét toáng lên: “Ở đây có cạm bẫy, chư vị nhân huynh mau đến cứu ta!”
“Này Ngụy huynh!” Sở Uy Vương phá lên cười lớn. “Rõ ràng huynh biết phía trước có hổ, mà vẫn cố lao đầu vào!” Tề Uy Vương, Hàn Chiêu Hầu đều cười vang.
Chiêu Hầu bước lại gần, cẩn thận gỡ cành gai ra. Huệ Vương thoát thân, nhìn xuống ngón tay, thấy máu ứa ra, liên cho lên miệng mút đánh chụt, cười ha hả đáp lời Sở Vương: “Hùng huynh không biết đấy thôi, cái này gọi là không vào hang hổ, sao bắt được hổ con?” Lại mút thêm cái nữa, liếc mắt nhìn Tề Vương, Sở Vương. “Nào, hai vị nhân huynh, chúng ta đã đến tận đây rồi, cớ sao lại không đi thêm mấy bước, xem xét cho cặn kẽ?”
Sở Uy Vương liếc nhìn Tề Uy Vương, nửa đùa nửa thật: “Ngụy huynh muốn bắt hổ con, Điền huynh có hứng thú không?”
Tề Uy Vương hỏi vặn lại: “Ý Hùng huynh thế nào?”
Sở Uy Vương khẽ chau mày: “Đương nhiên là muốn bắt hổ con, có điều…” chỉ vào cây táo gai trước mặt, “đây là giống cây gì, sao lại gớm ghê đến vậy?”
Tề Uy Vương liếc sang Hàn Chiêu Hầu: “Hàn huynh, đây là địa bàn của huynh, Hùng huynh muốn hỏi!”
Hàn Chiêu Hầu mỉm cười đáp: “Điền huynh cười chê rồi! Hùng huynh hiểu nhiều biết rộng, sao có thể không biết giống cây này?”
Sở Uy Vương tiến thêm mấy bước, ngắm nghía cây táo một lúc, khẽ lắc đầu: “Cây này kỳ lạ, táo chẳng phải táo, sơn trà chẳng phải sơn trà, Hùng Thương kiến thức hạn hẹp, thực sự không biết là cây gì!”
Hàn Chiêu Hầu cười nói: “Hùng huynh đã nói ra rồi, còn bảo là không biết?”
Sở Uy Vương hỏi: “Ý huynh là, cây này là cây táo?”
Lúc này đang vào mùa táo chín, trên cành táo gai chi chít những quả, to chừng quả anh đào, xanh xanh đỏ đỏ, lớn bé đan xen. Hàn Chiêu Hầu tiện tay hái lấy một quả, đưa cho Sở Uy Vương: “Nếu không tin, Hùng huynh có thể nếm thử!”
Sở Uy Vương nhận lấy, xoay qua xoay lại ngắm nghía, nhưng không đưa lên miệng.
Ngụy Huệ Vương thấy vậy cũng hái lấy một quả, bỏ tọt vào miệng, nhai vài cái, cười nói: “Hùng huynh sợ gì thế? Táo này còn được gọi là táo thọ, các vùng núi Trung Nguyên đều có, vỏ dày hạt lớn ruột ít, mùi vị thơm ngon, thường ăn nó có thể bổ huyết dưỡng gan, kéo dài tuổi thọ.”
Sở Uy Vương tiện tay nhét luôn quả táo vào trong tay áo, lui về bên cạnh Tề Uy Vương.
“Ồ, cớ sao Hùng huynh lại cất đi mà không ăn?” Ngụy Huệ Vương ngạc nhiên hỏi.
“Vật này đã là do Hàn huynh ban tặng, Hùng Thương sao nỡ ăn? Hùng Thương muốn mang vật này về Kinh Sở, trồng ở vườn sau, ngày ngày chăm sóc, thưởng thức từ từ, để lại cho con cháu vạn đời sau, mới không phụ ý tốt của Hàn huynh!” Sở Uy Vương nửa đùa nửa thật.
Hàn Chiêu Hầu sao có thể không nghe ra ẩn ý, lập tức đốp lại: “E rằng đó chỉ là mong muốn đơn phương của một mình Hùng huynh mà thôi!”
“Ồ?” Sở Uy Vương liền liếc mắt lại.
“Hùng huynh có còn nhớ chuyện Án Anh người Tề đi sứ nước Sở hay chăng?”
Thấy ông ta nhắc tới sự việc năm xưa, Sở Uy Vương hơi nóng mặt, liền vặc lại: “Án Anh đi sứ Sở thế nào?”
Hàn Chiêu Hầu nheo mắt lại, giống như đang đọc sách: “Án Anh đi sứ nước Sở, quan quân trói hai người dẫn lại, nói với Sở Vương, đây là người nước Tề, phạm tội trộm cướp. Sở Vương bèn hỏi Án Tử, ‘người Tề giỏi trộm cướp lắm ư?’ Án Tử bèn đáp, ‘quýt mọc ở Hoài Nam thì là quýt, mọc ở Hoài Bắc lại là cam, cành lá giống nhau, nhưng mùi vị lại khác biệt.’ Tại sao lại như vậy? Là do thuỷ thổ khác nhau.” Nói đoạn khẽ hé mắt, khoé miệng nhếch một nụ cười. “Hùng huynh muốn mang táo ở núi này về trồng tại Kinh Sở, há chẳng phải cũng là thuỷ thổ khác nhau ư? Hơn nữa, dù táo này có thể bổ huyết dưỡng gan, nhưng lại nhiều gai ít thịt, nếu như bất cẩn…” liếc sang Ngụy Huệ Vương, “Hùng huynh sẽ giống như Ngụy huynh, phải dùng miệng mút máu đấy!”
“Ha ha ha!” Sở Uy Vương phá lên cười lớn. “Hàn huynh thực khéo ăn nói!” Rồi lấy quả táo ra, ném toẹt xuống đất. “Nếu là như vậy, quả táo nhỏ này của Hàn huynh, Hùng Thương chẳng cần ăn nữa!” Lại liếc nhìn gò đất. “Tuy nhiên, Hùng Thương cũng có một câu, không biết Hàn huynh có muốn nghe chăng?”
“Hùng huynh cứ nói!”
“Theo Hùng Thương được biết,” Sở Uy Vương lại nhìn gò đất, “nơi này vốn là vùng đất của nước Quắc. Sử Bá từng nói, ‘Quắc Thúc ỷ thế, Cối Trọng cậy hiểm’,” Lại ngoảnh đầu phóng mắt nhìn khắp cảnh tượng phía xa xăm, nam nhìn Tung Nhạc, bắc ngắm Hà Thuỷ, “hôm nay được tận mắt chứng kiến, vùng đất này quả nhiên hùng vĩ hiểm trở. Quắc Thúc vì ỷ vào thế, nên đất này bị người Trịnh chiếm đoạt. Người Trịnh lại ỷ vào hiểm trở, nên đất này đã rơi vào tay Hàn huynh. Hôm nay đến đây, nhìn xưa mà ngẫm nay, thực là cảm khái vạn phần!”
Lời này khác nào nói nước Hàn chỉ cậy hiểm yếu chứ không tu đức, nên đất này sẽ không thể giữ được lâu dài.
Hàn Chiêu Hầu hiểu rõ ẩn ý, muốn phản kích, nhưng nhất thời không biết phải nói thế nào, đang lúc tức giận thì Tề Uy Vương cười nói: “Ha ha ha, Hùng huynh nói hay lắm! Lên tới đất này, Nhân Tề cũng nhớ tới một chuyện cũ, gọi là ‘mượn đường phạt Quắc’. Mặc dù Quắc này không phải Quắc đó, nhưng câu chuyện cũng thực thú vị!”
Mượn đường phạt Quắc là một điển cố kể về việc Tần muốn diệt nước Tây Quắc, nên mượn đường đi qua đất Ngu. Ngu Công tham phần thưởng của người Tần nên đã đồng ý cho mượn đường. Sau khi mượn đường diệt được Quắc, Tần lại tiện tay dắt dê, diệt luôn cả Ngu. Sở Vương ví Hàn Hầu với Quắc, Tề Vương lại ví nơi này với Ngu, bất kể là Quắc hay Ngu, Hàn Chiêu Hầu cũng nghe mà mất mặt. Tuy nhiên, trong lúc này, ông ta tuy giận dữ cũng không thể phát tác lộ liễu. Thứ nhất đối phương là khách, Hàn Hầu là chủ nhà; thứ hai là Tề, Sở đều là nước lớn, lúc này lại hùa về một giuộc, trong khi Hàn Hầu lại thế đơn lực mỏng.
Giận dữ mà không thể phát tác, không phát tác thì ấm ức trong lòng, Hàn Chiêu Hầu trong ngoài đều khó chịu.
Huệ Vương phát giác ra, bèn cười lớn giải nguy: “Chư vị nhân huynh, xin nghe Ngụy Anh nói một câu. Quắc hay Ngu cũng đều là chuyện cũ, táo hay quýt cũng đều là quả cây. Chư vị nhân huynh đến đây là để ngắm cảnh, sao lại để những chuyện cổ lỗ kia làm tổn thương hoà khí?”
“Ha ha ha, Ngụy huynh nói đúng lắm!” Sở Uy Vương thấy cơ hội đã đến, vừa nói vừa vỗ tay.
“Đúng thế, đúng thế!” Tề Uy Vương cũng phụ hoạ. Hai vị quân vương mấy năm về trước từng đối đầu kịch liệt vì tranh giành nước Tống, lúc này đây lại cùng đứng về một phe, mục tiêu chẳng đâu xa, mà chính là nước Hàn. Hàn Chiêu Hầu bất giác hít ngược một hơi khí lạnh.
Chỉ có Ngụy Huệ Vương là chưa nghĩ sang chuyện khác. Mấy ngày nay, lòng dạ Ngụy Huệ Vương lúc nào cũng chỉ chăm chăm nghĩ tới ba lộ quân phạt Tần của Bàng Quyên và đại nghiệp thống nhất thiên hạ của bản thân. Gặp thời cơ tốt nhường này, ông ta sao có thể bỏ qua, lập tức cười ha hả, chuyển sang chuyện chính: “Hôm nay trời cao gió mát, chư vị quân chủ đều tề tựu ở núi này, xứng đáng là gió mây hội tụ, thực hiếm có. Vì vậy, Ngụy Anh có ý này, chúng ta hãy cùng ca một khúc tỏ chí, coi như không uổng chuyến đi này. Chư vị thấy sao?”
Sở Uy Vương, Tề Uy Vương cùng phụ hoạ: “Hay lắm!”
Ngụy Huệ Vương quay sang Hàn Chiêu Hầu: “Còn Hàn huynh thì sao?”
“Được!” Hàn Chiêu Hầu dường như cũng đã bình tâm trở lại sau cơn bàng hoàng, đờ đẫn đáp lời.
Ngụy Huệ Vương lấy lùi để tiến: “Chư vị nhân huynh, xin hãy nói thử xem, tình này cảnh này, chúng ta nên hát khúc nào?”
Mọi người đều đồng thanh: “Xin nghe theo ý tung ước trưởng!”
“Nếu đã là vậy,” Ngụy Huệ Vương khẽ đặng hắng một tiếng lấy giọng, “Ngụy Anh xin bạo gan đề xuất, nay sáu nước tung thân, cùng phạt bạo Tần, chúng ta hãy cùng hát khúc ca phạt Tần, chư vị thấy thế nào?”
“Hay lắm!” Tề Uy Vương vỗ tay đen đét. “Dám hỏi Ngụy huynh, sẽ hát khúc nào?”
“Chính là khúc ca Việt Vương Câu Tiễn thống lĩnh tướng sĩ liệt quốc phạt Tần.”
“Ngụy huynh sai rồi!” Tề Uy Vương sửa lại. “Khúc ca đó không gọi là khúc ca phạt Tần, mà gọi là ‘Hà lương ca’!”
“Mặc kệ!” Ngụy Huệ Vương cười lớn mà nói. “Dù sao cũng là bài ca phạt Tần! Nào, mọi người cùng hát, dùng nhạc Quân trận, Ngụy Anh sẽ hát câu đầu!” Khẽ đặng hắng một tiếng, rồi cất giọng: “Tùng cheng, tùng cheng, tùng tùng… cheng! Vượt cầu, vượt cầu sông Hà…”
Có Ngụy Huệ Vương bắt nhịp, trên con dốc Quan Hổ đồn lập tức vang lên những tiếng ca ngâm loạc choạc chẳng hề nhịp nhàng của bốn con người uy quyền nhất liệt quốc Sơn Đông:
“Vượt cầu, vượt cầu sông Hà,
Dấy quân chinh phạt tận nhà Tần Vương.
Tháng mười đông chớm tuyết sương,
Rét căm căm nỗi dặm trường gian lao.
Quân ta chưa kịp qua cầu,
Quân Tần hàng phục, chư hầu hoang mang.
Lẫy lừng đến tận ngoại bang,
Xưng bá cùng Sở Tề Trang Mục Hoàn.
Thiên hạ trường cửu bình an,
Bi thương trở gót muốn sang không cầu.”
Lời ca vừa dứt, Sở Uy Vương thấy mọi người cao hứng, cố ý thở dài một tiếng não nề: “Than ôi, tung ước trưởng, chư vị nhân huynh. Chúng ta ở đây ca hát, tuy cũng tận hứng, nhưng vẫn không sảng khoái bằng Việt Vương năm xưa hành quân ngàn dặm, đánh thẳng tới Hà Tây!”
Tề Uy Vương đưa mắt nhìn sang Ngụy Huệ Vương: “Đúng thế, đúng thế! ‘Vượt cầu, vượt cầu sông Hà, dấy quân chinh phạt tận nhà Tần Vương’, khí thế nhường này, ngùn ngụt tận mây xanh, chấn động đến vũ trụ!”
Ngụy Huệ Vương nhiệt huyết sôi trào, quay người lại, dõi mắt nhìn hút về phía tây: “Hùng huynh, Điền huynh, và cả Hàn huynh, Ngụy Anh bất tài, may được chư vị yêu quý, nên mới tạm giữ ngôi tung ước trưởng. Đã ngồi ở vị trí này, thì phải hoàn thành trách nhiệm này. Lúc nãy Ngụy Anh muốn hát khúc ca kia, tuyệt không phải là ngẫu hứng hát bừa. Nay sáu nhà hợp tung, tề tựu tại Mạnh Tân, thề cùng chế Tần, ngay cả Câu Tiễn ngày trước cũng không thể sánh tày. Cớ sao chúng ta không nhân cơ hội này dấy binh phạt Tần, một trận đạp bằng Tần Xuyên, xoá bỏ hậu hoạn vĩnh viễn?”
“Hay lắm!” Sở Uy Vương siết chặt nắm tay. “Không giấu Ngụy huynh, lần này Hùng Thương đến đây, cũng chỉ là đợi câu nói này của tung ước trưởng! Người Tần chiếm đoạt Thương Ư của Sở, mối thù này không đội trời chung. Cho dù sáu nước không hợp tung, Hùng Thương vẫn sẽ hưng binh phạt Tần, rửa sạch mối nhục ngày trước!”
Ngụy Huệ Vương quay sang Tề Uy Vương: “Hùng huynh muốn phạt Tần, ý Điền huynh thế nào?”
Tề Uy Vương vòng tay: “Sáu nước đã hợp tung, Nhân Tề xin nghe theo lệnh tung ước trưởng!”
Ngụy Huệ Vương chậm rãi quay sang Hàn Chiêu Hầu.
Hàn Chiêu Hầu tim đập thình thịch, từ tốn đáp lời: “Sáu nước đã hợp tung, phạt Tần cũng là việc chung của sáu nước. Chỉ bốn chúng ta quyết định, e rằng không ổn!”
“Ừm, Hàn huynh nói rất đúng!” Ngụy Huệ Vương ngẫm nghĩ một lúc rồi đáp. “Nghe nói lão Yên Công đã về nước, chỉ còn lại Triệu huynh. Giờ Ngụy Anh sẽ đi phát thiệp, mời Triệu huynh ba ngày nữa đến đây uống rượu, cùng chư vị quân chủ luận bàn đại sự, được chăng?”
“Xin nghe theo sắp đặt của tung ước trưởng!” Mọi người đồng thanh đáp.
Hàn Chiêu Hầu bỗng dưng bị làm nhục trên Hổ Lao quan, mặt mũi hầm hầm trở về Thành Cao, ngồi ủ ê trong chính đường của phủ quận thú, sắc mặt vì quá giận dữ mà thành ra đỏ bầm. Tướng quốc Khuông Nghĩa, thượng tướng quân Công Trọng không hiểu nguyên do, chỉ biết nơm nớp đứng hầu bên cạnh.
Thấy Chiêu Hầu hơi thở nặng nề, Khuông Nghĩa bèn hạ giọng bẩm: “Dám hỏi chúa thượng, vì chuyện gì mà không vui?”
Hàn Chiêu Hầu thình lình đập mạnh tay xuống mặt bàn: “Lão thất phu, khinh ta quá lắm!”
“Phải chăng là Ngụy Vương?”
Hàn Chiêu Hầu rít qua kẽ răng: “Hùng Thương!”
Công Trọng xoa hai tay vào nhau, vặn thành một nắm đấm: “Chúa thượng, mạt tướng đang thấy trong lòng ngứa ngáy, xin chúa thượng cứ hạ lệnh!”
Hàn Chiêu Hầu dường như không nghe thấy, lại bật ra mấy tiếng từ trong cổ họng: “Còn Điền Nhân Tề!”
Thấy là hai nước lớn, Công Trọng, Khuông Nghĩa liếc mắt nhìn nhau, sau đó lại quay sang nhìn Chiêu Hầu.
Bầu không khí như ngưng đọng. Không biết bao lâu sau, hơi thở của Hàn Chiêu Hầu mới từ từ hoà hoãn trở lại, Khuông Nghĩa đang định khởi tấu, thì Chiêu Hầu đột ngột bật lên một tràng cười sằng sặc: “Ha ha ha…”
Công Trọng, Khuông Nghĩa đều sững người.
“Hừm!” Chiêu Hầu cười dứt, cất giọng lạnh lẽo. “Hai lão thất phu, chút bản lĩnh quèn, cũng muốn mưu đoạt ta ư?”
Hai bề tôi càng thêm ngơ ngác, cứ nhìn sững vào Hàn Chiêu Hầu, rồi đồng thanh lên tiếng: “Chúa thượng…”
Chiêu Hầu thay đổi sắc mặt, kể lại toàn bộ sự việc xảy ra ở Hổ Lao quan, cuối cùng nói thêm: “Mối hoạ lớn của Tề là Sở, Ngụy, ham muốn lớn nhất của Tề là Tống, Yên, vốn không hề có liên quan gì đến Tần, nhưng lần này phạt Tần, cớ sao Điền Nhân Tề lại hào hứng đến vậy? Mối nhục Hình Sơn đâu có kém mối nhục Thương Ư, nhưng Hùng Thương cớ sao lại bỏ qua để cầu cái khác? Hai khanh nói xem, rốt cuộc hai lão cáo già kia có âm mưu gì?”
Thấy hai người vẫn ngẩn ngơ như ở trên mây, Chiêu Hầu gõ tay xuống bàn, vẻ đầy đắc ý: “Hai khanh đúng là đầu óc trì độn! Quả nhân sẽ nói trắng ra vậy, hai lão đó hào hứng phạt Tần, mục đích không phải ở Tần, mà là ở Ngụy!”
“Ý chúa thượng là,” Khuông Nghĩa đã lơ mơ hiểu ra, “Tề, Sở đều muốn mượn sức của người Tần để làm suy yếu Ngụy?”
“Hừm!” Hàn Chiêu Hâu hai mắt sáng rực. “Hai lão cáo già cứ cho rằng mình thông minh, nhưng chút khôn vặt này chỉ có thể qua được mắt tên ngốc Ngụy Anh, còn muốn lừa quả nhân, đừng hòng!”
“Chúa thượng,” Công Trọng thoáng do dự, nói nhỏ, “mạt tướng cho rằng, với sức của sáu nước, cộng với tài của Bàng Quyên, lần này phạt Tần, chắc chắn sẽ mã đáo thành công. Giả sử thủ thắng, người Ngụy ắt sẽ thu lợi lớn!”
Hàn Chiêu Hầu cao giọng: “Nếu không nằm ngoài dự đoán của quả nhân, Sở, Tề sẽ chỉ bỏ người chứ không bỏ sức. Cho dù thành công, người Ngụy cũng sẽ phải xung phong trận đầu, tổn thương nguyên khí là điều khó tránh, còn sức đâu mà tranh giành với Sở, Tề được nữa? Lần này phạt Tần, đối với Tề, Sở mà nói, thành công cũng thắng mà không thành công cũng thắng. Hừm, hai lão cáo già tính toán thật sâu xa!”
“Chúa thượng thánh minh!” Khuông Nghĩa thực lòng thán phục. “Hiện giờ, mối hoạ trước mắt của ta không phải là Sở, Tề, mà là người Tần. Tần từ khi chiếm được Hàm Cốc, nhiều lần nhòm ngó Nghi Dương của ta, ta có thể nhân cơ hội tốt này để diệt trừ hậu hoạn, rồi sẽ tiếp tục tính toán với Sở, Tề sau.”
“Ái khanh nói phải lắm!” Hàn Chiêu Hầu gật đầu. “Thượng tướng quân, khanh thấy Bàng Quyên dùng binh như thế nào?”
“Liệt quốc không ai địch nổi!”
“Ý ái khanh là, quả nhân sẽ đánh cược vào người này? Người Tề, người Sở đều không thể tin được, theo về một giuộc để lừa gạt lão ngốc Ngụy Anh. May mà tung thân đã thành, cho dù họ không góp sức, cũng không dám phá hoại sau lưng. Thượng tướng quân nghe lệnh!”
“Có mạt tướng!”
“Quả nhân điều động cho khanh thêm năm vạn tinh binh từ Nghi Dương, hợp với tám vạn đại quân, toàn lực trợ giúp Bàng Quyên lập được kỳ công này, để hai lão cáo già biết mùi lợi hại của người Hàn ta!”
“Mạt tướng tuân lệnh!”
Hai vị Sở Vương, Tề Vương đều chủ động bày tỏ ý muốn phạt Tần, Ngụy Huệ Vương vô cùng hoan hỷ. Đùa giỡn với hợp tung như thế này, mới chính là điều Huệ Vương thực lòng mong muốn.
Vào lúc chập tối, Huệ Vương vội vã triệu mấy vị trọng thần gồm Bàng Quyên, Huệ Thi, công tử Ngang, Chu Uy đến, hai mắt sáng rực: “Chư vị ái khanh, buổi chiều hôm nay, quả nhân đã cùng với ba nhà Tề, Sở, Hàn quyết định một việc lớn, giờ mời chư vị ái khanh đến là để bàn xem nên thực hiện ra sao.”
Ai cũng hiểu việc lớn ở đây là gì, tất cả đều hưng phấn sục sôi, chỉ có Huệ Thi vẫn nhắm mắt ngồi yên như cũ, tựa như đang ngủ gật. Chu Uy liếc xéo ông ta, rồi quay sang Huệ Vương.
Huệ Vương hơi ngả người về phía sau, rồi nói thẳng thừng: “Việc lớn này, chính là phạt Tần!” Liếc nhìn mọi người một lượt, hít một hơi đầy lồng ngực, rồi thở ra thật mạnh, nhổm người về phía trước, vung quyền, cất giọng hào hùng. “Chư vị ái khanh, quả nhân đã chờ đợi ngày này suốt bao năm! Quả nhân biết, các khanh cũng đã chờ đợi nhiều năm, tất cả người Ngụy cũng đã chờ đợi nhiều năm! Chúng ta không thể tiếp tục chờ đợi thêm nữa!”
Bàng Quyên, công tử Ngang, Chu Uy, cả ba đều bị lôi cuốn theo hào tình sôi nổi của Huệ Vương.
Công tử Ngang nói lớn: “Xin phụ vương hạ chỉ, tấn công bạo Tần, nhi thần nguyện đánh trận đầu!”
Nhưng ánh mắt Huệ Vương lại quay sang Bàng Quyên: “Bàng ái khanh, phạt Tần ra sao, quả nhân trông cậy cả vào khanh!”
Bàng Quyên trầm giọng, dằn mạnh từng tiếng: “Thần đã chuẩn bị sẵn sàng, chỉ đợi bệ hạ xuống lệnh!”
Ngụy Huệ Vương nhịp ngón tay xuống bàn: “Lần này phạt Tần, sáu nước cùng xuất binh, ái khanh phải điều động nhiều phía, tấn công nhiều đường, đạp bằng Tần Xuyên!”
“Vi thần tuân chỉ!”
Huệ Vương quay sang Chu Uy: “Chu ái khanh, sáu nước phạt Tần, binh mã tụ hội đông đảo. Có thành công hay không, còn phải xem lương thảo của khanh!”
“Bệ hạ yên tâm!” Chu Uy bẩm tấu. “Lương thảo vi thần đã chuẩn bị đầy đủ, chỉ đợi dịp sử dụng mà thôi!”
“Binh mã chưa động, lương thảo đi trước. Ái khanh hãy lập tức hành động, chuyển lương về An Ấp!”
“Vi thần tuân chỉ!”
Ngụy Huệ Vương lại quay sang nhìn Huệ Thi, bật cười mà hỏi: “Huệ ái khanh, sao khanh lại ngủ gật trong lúc này? Việc lớn nhường đó, khanh cũng phải nói vài lời mới phải!”
Huệ Thi như không nghe thấy, vẫn nhắm mắt gật gù.
Chu Uy huých khuỷu tay vào ông ta, khẽ giục: “Tướng quốc, bệ hạ đang hỏi đấy!”
Hai mắt Huệ Thi vẫn không nhúc nhích, chỉ khẽ lầm bầm như tự nhủ: “Bệ hạ hỏi lầm người rồi!”
Huệ Vương kinh ngạc, chúi người về phía trước: “Huệ ái khanh, khanh… nói vậy là có ý gì?”
Huệ Thi từ từ mở mắt ra: “Việc trong thì hỏi nội tướng quốc, việc ngoài thì hỏi ngoại tướng quốc. Bệ hạ đã bái ngoại tướng quốc, vậy thì phải đi hỏi ngoại tướng quốc mới đúng!”
“Phải, ái khanh nói rất đúng!” Huệ Vương cười vang mấy tiếng, rồi quay sang Chu Uy. “Nghe nói Tô Tử còn ở Mạnh Tân, ái khanh hãy mau phái người đến triệu, nói rằng quả nhân có lời mời!”
“Vi thần tuân chỉ!”
Lời của Huệ Thi ẩn ý chưa tận.
Sau khi ra khỏi hành dinh, Chu Uy vội đuổi theo Huệ Thi, hỏi nhỏ: “Tướng quốc, dường như lúc nãy lời ngài còn có ẩn ý gì khác.”
Huệ Thi liếc nhìn Chu Uy, rồi lại tiếp tục bước đi.
Chu Uy lại đuổi thêm mấy bước: “Lẽ nào bạo Tần không nên phạt hay sao?”
Huệ Thi liền dừng bước: “Những gì cần nói, ta đã nói cả rồi. Sáu nước đã tung thân, bạo Tần có nên phạt hay không, ông hãy đi hỏi tướng quốc của sáu nước, cớ sao cứ xoắn lấy ta?” Nói xong, quay người đi thẳng.
Huệ Thi tỏ thái độ như vậy, đương nhiên không phải do đố kỵ. Chu Uy càng nghĩ càng khó hiểu, trở về doanh trại liền chuẩn bị xe ngựa, quyết định tới gặp Tô Tần.
Bên bờ Y Thuỷ, Tô Tần và Túc Hầu đang ngồi lặng lẽ, ánh mắt dán vào chiếc phao đang bập bềnh trên mặt nước. Phao thi thoảng lại máy động, nhưng chẳng ai giật cần, rõ ràng tâm tư của hai người đều không ở câu cá.
Bên cạnh Túc Hầu đặt một tấm thiếp mời, do Ngụy Huệ Vương vừa gửi đến. Ánh mắt Túc Hầu từ từ nhìn sang tấm thiếp, đưa tay nhặt lên, sắc mặt giận dữ, thở dốc liền mấy hơi, rồi cười gượng một tiếng: “Tô Tử, khanh đã thấy rõ rồi phải không?”
Tô Tần sắc mặt trầm trọng, ánh mắt vẫn nhìn chăm chăm vào chiếc phao.
Túc Hầu giũ tấm thiếp mấy cái: “Lúc này mới gửi thiếp đến, mời quả nhân tới dự tiệc! Mấy ngày trước, khi kéo nhau đi Hổ Lao quan, sao ông ta chẳng nói lời nào?”
“Chúa thượng…” Tô Tần từ từ quay sang nhìn Túc Hầu.
“Tô Tử, khanh không cần khuyên nữa, ngày mai quả nhân sẽ lập tức lên đường trở về Hàm Đan! Mấy người họ thích uống rượu thì cứ để họ uống! Mấy người họ thích đi chơi ngắm cảnh thì cứ mặc họ đi! Tung thân cái gì? Trong mắt mấy người họ vốn dĩ chẳng hề có quả nhân!”
“Than ôi!” Tô Tần thở dài sườn sượt.
“Cớ sao khanh lại thở dài?”
“Nếu không nằm ngoài dự liệu của vi thần, Ngụy Vương mời chúa thượng dự tiệc, mục đích không phải là để uống rượu, mà là để phạt Tần!”
“Ồ?” Túc Hầu kinh ngạc.
“Mấy ngày nay, ba nhà Sở, Tề, Ngụy đều đã phát đại binh, cung giương kiếm tuốt, rõ ràng không đơn thuần là đến họp mặt ăn thề. Tông chỉ của hợp tung là chế Tần, hiển nhiên là đổ thêm dầu vào lửa, giúp họ có được lý do phạt Tần.”
“Ý ái khanh là… không nên phạt Tần?”
“Không phải không nên phạt, mà là thời cơ chưa đến!”
“Ái khanh hãy nói rõ!”
“Người Tần bốn mặt có bốn ải hiểm yếu, trên dưới đồng tâm, vững như thành đồng. Sáu nước mặc dù hợp tung, những mỗi nhà lại có ý đồ riêng, vẫn chưa thể hình thành hợp lực. Lấy đội quân ô hợp để đối phó với tường đồng kiên cố, vi thần thấy khó lòng thủ thắng.”
Nghe nói vậy, Túc Hầu không cho là đúng, khẽ hừ mũi một tiếng: “Theo như ái khanh nói, ta sẽ không thể thắng được Tần ư?”
“Chúa thượng!” Tô Tần hạ giọng đáp. “Khi còn ở trong Quỷ Cốc, vi thần thường được nghe Tôn Tẫn bàn luận về binh pháp. Tôn Tẫn nói, ‘Binh pháp Tôn Tử’ có câu: ‘Không đánh mà khuất phục được người, mới là người tài giỏi nhất trong số những người tài giỏi. Nên dùng binh giỏi nhất là dùng mưu, sau đó là dùng bang giao, sau đó mới đến đánh trận, sau nữa là đánh thành.’ Sáu nước vừa mới hợp tung đã muốn dẫn quân đi đánh thành, không dùng thượng sách mà dùng hạ sách, đó là không trí. ‘Binh pháp Tôn Tử’ lại viết, ‘biết người biết ta, trăm trận trăm thắng’. Sáu nước mới hợp, đã chưa biết ta cũng chẳng biết người, đúng là làm xằng. Theo vi thần thấy, nếu như sáu nước phạt Tần, không chiến thì thôi, hễ chiến thì biết ngay thắng bại.”
Túc Hầu hít ngược một hơi khí lạnh, nhổm người về phía trước hỏi: “Theo ý của Tô Tử, nên làm thế nào?”
“Ngăn chặn phạt Tần, đợi thời cơ đến!”
“Ngăn chặn thế nào?”
“Chúa thượng hãy đến dự tiệc, tuỳ cơ mà hành sự, nói rõ lợi hại với chư vị quân chủ. Với uy vọng và tài đức của chúa thượng, may ra có thể ngăn chặn được.”
Túc Hầu trầm ngâm hồi lâu, lắc đầu cười khổ mà nói: “Theo như lời ái khanh, lần này mấy người họ đến Hổ Lao quan, chắc chắn là để bàn chuyện phạt Tần. Ngay từ đầu họ đã gạt quả nhân sang một bên, quả nhân nào có uy đức gì đâu? Người đã không thèm đếm xỉa đến ta, ta lại chen ngang cấm cản, quả nhân có đức có tài gì đây?”
Lời của Túc Hầu, không thể bắt bẻ.
Tô Tần cúi đầu, ánh mắt từ từ quay trở lại với cái phao.
Đúng vào lúc này, Lâu Hoãn đi tới bẩm báo: “Chúa thượng, thượng khanh nước Ngụy Chu Uy cầu kiến!”
“Ồ?” Túc Hầu kinh ngạc. “Ông ta gặp quả nhân có việc gì?”
Lâu Hoãn thoáng ngần ngừ: “Khởi bẩm chúa thượng, Chu thượng khanh nói… có việc hệ trọng cần gặp Tô Tử!”
Túc Hầu sầm mặt, từ từ đứng dậy, nói với Tô Tần: “Người này hẳn là đến để mời khanh. Khanh hãy nói với Ngụy Anh, rằng quả nhân thân tâm không ổn, không thể bồi tiếp, ông ta hãy cứ tự tiện!” Rồi quay sang nói với Lâu Hoãn. “Truyền chỉ cho Phì Nghĩa tướng quân, ngày mai khởi giá, trở về Hàm Đan!”
Trên đường đến Hổ Lao quan, Chu Uy, Tô Tần cùng ngồi một xe. Chu Uy kể sơ lược về việc bốn vị vương Sở, Tề, Ngụy, Hàn cùng hoà giọng ca ngâm tại Hổ Lao quan, sau đó quyết định phạt Tần.
Rõ ràng đây là việc nằm trong dự liệu, vì vậy Tô Tần không hề tỏ ra kinh ngạc, chỉ bình thản hỏi: “Bốn vị quân chủ hát khúc ca gì?”
“Hà lương ca.”
“Hà lương ca?” Tô Tần nhắc lại, khẽ chau mày.
“Có gì không ổn ư?” Chu Uy nhìn thẳng vào Tô Tần.
“Nếu như là bài này, không thể phạt Tần!” Giọng Tô Tần kiên định như sơn.
“Ồ!” Chu Uy kinh ngạc, buột miệng bật ra một tiếng. “Mặc dù khúc ca viết về phạt Tần, nhưng chinh phạt lại chưa thành. Các vị quân chủ chưa xuất quân đã hát khúc ca này, thực không cát lợi!”
“Chinh phạt chưa thành?” Chu Uy gãi đầu gãi tai. “Sao lại chưa thành? Chẳng phải có câu ‘Quân ta chưa kịp qua cầu, quân Tần hàng phục, chư hầu hoang mang’ ư? Quân Tần hàng phục, chứng tỏ phạt Tần đã thành công!”
“Chu huynh có điều không biết,” Tô Tần thoáng ngẫm nghĩ, rồi giải thích, “đây là khúc ca do người Việt làm ra. Năm xưa người Việt phá Ngô, khí thế cực thịnh, Việt Vương bèn bắc phạt Trung Nguyên, đánh bại cả Tề lẫn Tấn, muốn xưng bá thiên hạ, nhưng lại lo liệt quốc không phục, nên đã lấy danh nghĩa tôn Chu, hiệu lệnh bốn nước Tề, Tấn, Sở, Tần cùng phò tá Chu thất. Tần Lệ Công không theo, Việt Vương tức giận, đã hiệu lệnh thiên hạ phạt Tần. Ba nước Tề, Tấn, Sở không dám không hưng binh, nhưng chỉ bàng quan đứng nhìn. Việt Vương hết cách, đành phải khởi đầu dẫn binh tây tiến, xua quân Ngô, Việt vượt qua Hà Thuỷ tiến đánh Tần. Người Tần khiếp sợ, đã viết biểu xin hàng. Quân Việt bèn lui về, làm khúc ca này để ghi nhớ.”
“Đây là không chiến mà thắng!” Chu Uy vẫn cảm thấy khó hiểu.
“Đúng là người Việt không chiến mà thắng!” Tô Tần tiếp tục giải thích. “Tuy nhiên, nhìn lại chiến sự năm xưa, quân Việt phải hành quân đường xa gian khổ, không quen thuỷ thổ, lương thảo gián đoạn, lại thêm gặp đúng mùa đông giá rét, quân sĩ đau ốm chết nhiều vô kể, sĩ khí giảm sút. May sao quân Tần lâm trận không đánh, nên người Việt mới có thể an toàn trở về. Nếu người Tần nghênh chiến, quân Việt chắc chắn sẽ bại!”
“Tại sao người Tần không đánh?”
“Một là khiếp sợ trước uy thế của Câu Tiễn, hai là giao chiến với người Việt sẽ chẳng thu được lợi gì. Đánh người Việt, một là không được đất, hai là không được tiền, ba là không được người, chẳng qua chỉ được hư danh. Cho dù có thắng, người Tần cũng chẳng được mấy lợi lộc. Hơn nữa, người Việt không sợ chết, là cánh quân liều mạng, cho dù người Tần có đánh thắng, hy sinh hẳn cũng rất lớn.”
“Nếu đã như vậy, cớ sao người Tần không xin hàng sớm hơn?”
“Người Tần không tin người Việt sẽ vượt đường dài đến đánh, nên mới cậy mạnh huênh hoang, kết quả đã khiến Câu Tiễn nổi giận. Thấy người Việt đánh tới thật, người Tần thấy đánh thì thiệt thòi, mà không đánh thì ngượng. Cuối cùng người Tần quyết định đầu hàng, tức là lựa chọn thoả hiệp, nhưng cũng không thiếu phần sáng suốt. Sau khi vượt qua Hà Thuỷ, người Việt thuỷ thổ không hợp, không còn sức chiến đấu, thấy người Tần hàng phục, nên cũng lập tức bắt tay làm hoà. Bởi vậy, nhìn một cách tổng quát, bề ngoài là người Tần hàng phục, nhưng thực chất lại là người Việt thất bại!”
“Tại sao người Việt lại bại?”
“Lương thảo phí tổn, người ngựa tiêu hao, lao lực một trận mà chẳng thu được gì, dù không bại cũng là thất bại!”
“Ý Tô Tử là, lần này phạt Tần, có thể sẽ sa vào vết xe đổ năm xưa?”
Tô Tần cười gượng một tiếng: “Câu cuối cùng của khúc ca này là thế nào? ‘Bi thương trở gót muốn sang không cầu!’”
“Ờ…” Chu Uy đắn đo hồi lâu. “Tô Tử dường như đã lo xa thái quá! Nay đã khác xưa, ngày trước Việt Vương vượt đường dài chinh chiến, dùng thế bức bách, liệt quốc có giận mà không dám nói, đương nhiên sẽ chỉ khoanh tay đứng nhìn. Nay sáu nước đã hợp tung, cùng chung kẻ thù, tạm chưa nói đến Tề, Yên, cả ba nhà Hàn, Triệu, Sở đều coi Tần là kẻ thù, thiết nghĩ chắc hẳn họ sẽ không vượt sông rồi mà không đánh!”
“Cũng có lẽ! Tuy nhiên, tại hạ cho rằng, Tần Công ngày nay đã không giống Tần Công năm xưa, và Sở, Tề, Hàn cũng không giống Sở, Tề, Hàn ngày trước. Nếu như không nằm ngoài dự liệu của tại hạ, bệ hạ muốn làm Câu Tiễn, hậu quả thực khó lòng thu xếp. Chu huynh nếu không tin, cứ chờ xem sẽ biết!”
Tô Tần đã từng làm ra những việc kinh thiên động địa, mà nay lại nhìn nhận sáu nước phạt Tần vậy, lại nhớ tới thái độ khó hiểu của Huệ Thi khi nãy, Chu Uy bấy giờ cũng đã ý thức được sự tình nghiêm trọng: “Tô Tử, bây giờ phải làm thế nào?”
“Ngăn chặn phạt Tần, chờ đợi thời cơ!”
“Ngăn chặn thế nào?”
“Chu huynh hãy đi hẹn Huệ tướng quốc, còn tại hạ sẽ cầu kiến Bàng Quyên. Bệ hạ may ra sẽ nghe lời hai người này. Nếu như họ có thể nhìn xa trông rộng, việc này hoặc giả có thể ngăn chặn được!”
“Tại hạ xin nghe theo lời Tô Tử!”
Do Yên Công quay về sớm, Triệu Túc Hầu chưa đến, nên khi Huệ Vương mở tiệc đãi khách, vốn dự tính là yến tiệc năm quân chủ, thì chỉ còn bốn quân chủ Tề, Sở, Ngụy, Hàn. Trước đó một ngày, Hàn Chiêu Hầu vốn không cam chịu dưới người một bậc, còn chưa kịp trở về nước, lập tức tại hành cung Thành Cao bố cáo thiên hạ, quay mặt về nam xưng tôn, chính thức làm vương ngang hàng với Sở, Tề, Ngụy, vì vậy buổi yến tiệc này hẳn nên gọi là thịnh hội bốn nước tương vương.
Bốn vị vương ngồi trong hành dinh nước Ngụy, bàn định kế sách phạt Tần, cùng tiến cử Bàng Quyên là chủ tướng phạt Tần. Ngày hôm sau, Sở Uy Vương, Tề Uy Vương cùng khởi giá hồi đô, Hàn Chiêu Hầu ở lại Thành Cao ba ngày rối cũng lên đường trở về Trịnh Thành.
Khi Tô Tần và Chu Uy đến Hổ Lao quan, yến tiệc kết thúc từ lâu. Huệ Vương đã rời khỏi Hổ Lao quan, đến phía bắc Hà Thuỷ thị sát ba quân Đại Ngụy ở Hình Khưu, Bàng Quyên cũng đi theo. Huệ Thi nói thác rằng mình không am hiểu quân tình, xin trở về Đại Lương trước.
Thị sát ba quân xong, Huệ Vương cùng Bàng Quyên trở về đại trướng. Bàng Quyên chỉ vào một tấm sa bàn tinh xảo, giải thích tỉ mỉ với Huệ Vương về phương sách phạt Tần, Huệ Vương nghe mà hởi lòng hởi dạ.
“Bệ hạ, hiện nhi thần đã chuẩn bị xong xuôi, chỉ còn duy nhất một trở ngại.”
Huệ Vương vội hỏi: “Là trở ngại gì?”
“Tô Tần!”
“Ồ, sáu nước phạt Tần, Tô Tử phải vui mới đúng, cớ sao lại coi là trở ngại?”
“Bệ hạ! Nhi thần hiểu rất rõ Tô Tần. Người này nói miệng thì được, nhưng chinh phạt lại không phải sở trường. Đó là còn chưa kể người này vốn lòng dạ mềm yếu như đàn bà, không nỡ nhìn thấy cảnh giết chóc. Bệ hạ có để ý thấy không, trong buổi hội thề, các màn ca vũ của liệt quốc, chỉ rặt là cảnh trai cày gái dệt, cha hiền con hiếu, đúng là thiên hạ ca múa thái bình, không thấy một chút binh đao. Toàn bộ các màn ca vũ đều do một tay người này lựa chọn, từ đó có thể thấy được lòng dạ của người này. Lại nhìn vào yếu lĩnh của hợp tung, là chế Tần chứ không phải phạt Tần. Từ đó có thể thấy, lần này phạt Tần sẽ đi ngược với ý nguyện của người này, người này nhất định sẽ ra sức ngăn cản!”
“Một thư sinh trói gà không chặt, có thể khuấy động được bao nhiêu bọt sóng?”
“Bệ hạ, người này là tướng quốc sáu nước, danh tiếng lẫy lừng. Triệu, Yên lại là những nước khởi xướng tung thân, nên nhất nhất nghe theo người này. Nếu như người này ngăn cản, Yên, Triệu chắc chắn sẽ không tham gia. Sáu nước nội bộ bất hoà, đại quân tung thân chưa chiến đã tan, e rằng bất lợi!”
“Ừm, nếu là vậy, cũng thật phiền phức. Theo ý hiền tế, ta nên giải quyết thế nào?”
“Nhi thần có một kế, may ra có thể giải quyết được!”
“Hiền tế mau nói!”
Bàng Quyên hạ thấp giọng thì thào một chặp, Ngụy Huệ Vương hớn hở cười vang: “Ha ha ha, nếu việc này là thực, đúng là trời đã giúp ta!”
Khi Tô Tần yết kiến, Huệ Vương mới từ doanh trại trở về, còn chưa kịp cởi áo bào, tâm trạng vô cùng phấn chấn.
“Tô Tử miễn lễ!” Huệ Vương chỉ vào chỗ đối diện. “Ngồi đi! Quả nhân đã đợi khanh suốt hai ngày rồi!”
Tô Tần ngồi xuống, vòng tay nói: “Vi thần đang ở Mạnh Tân xử lý những việc còn lại, nhận được khẩu dụ của bệ hạ nên lập tức lên đường, nhưng vẫn chậm trễ. Nghĩ rằng bệ hạ triệu kiến, hẳn có việc gấp, vi thần chưa kịp tắm rửa thay đổi trang phục đã lập tức đến yết kiến, có gì đường đột, xin bệ hạ lượng thứ!”
“Tô Tử bất tất phải khách khí!” Huệ Vương lập tức đổi giọng, nửa đùa nửa thật. “Còn Triệu Hầu đâu? Quả nhân nhầm rồi, giờ phải gọi ông ta là Triệu Vương mới phải! Triệu Vương đâu rồi, tại sao không thấy đến? Sáu nước hợp tung, thiên hạ nức lòng, quả nhân mở tiệc chiêu đãi, có ý mời ông ta uống vài chén, đã cho ngựa hoả tốc đến mời, thế mà đợi đến dài cổ, đầu bếp đã hâm rượu đến mấy lần, Sở Vương, Tề Vương, Hàn Vương đói đến bụng sôi sùng sục, ngồi đợi suốt hai canh giờ mà vẫn không thấy bóng dáng ông ta đâu!”
“Khởi bẩm bệ hạ,” Tô Tần nghe ra ẩn ý, liền bào chữa giúp Triệu Túc Hầu, “Triệu Hầu long thể bất an, lần này hợp tung, là đã gắng gượng đến dự. Yên Công vừa mới rời đi, Triệu Hầu cũng lập tức cáo từ. Vi thần lo lắng cho long thể của Triệu Hầu nên đã nghĩ cách giữ lại hai ngày, cùng Triệu Hầu nghỉ ngơi bên bờ Y Thuỷ. Khi nhận được thiếp mời của bệ hạ, Triệu Hầu đã nhổ trại, nên sai người nhờ vi thần chuyển lời cáo lỗi với bệ hạ!”
“Ông ta cáo lỗi gì?” Huệ Vương không cười nữa, đổi giọng châm biếm. “E rằng là quả nhân danh tiếng thấp, đức vọng mỏng, không đủ tư cách mời được người ta. Người ta là nước phát động hợp tung, bây giờ lại đã xưng vương, cao kỳ lắm rồi!”
“Bệ hạ!” Thấy Ngụy Vương vô duyên vô cớ nổi giận, Tô Tần cũng kinh ngạc trong lòng.
“Được rồi, không nói chuyện này nữa!” Huệ Vương xua tay. “Cho dù người đã đi, nhưng hẳn cũng phải nhắn lại lời gì chứ?”
“Nhắn lời?” Tô Tần lại ngẩn người.
Huệ Vương lập tức nói thẳng toẹt nguyên do: “Tô Tử, khanh hãy nói xem, mặc dù hợp tung là do khanh khởi xướng, nhưng lại là do Triệu Ngữ phát động. Nay thiên hạ đã hợp tung thành công, người này lại khua chiêng lui quân, bảo quả nhân phải nhìn ông ta thế nào đây? Cho dù quả nhân không để bụng, thì mọi người trong thiên hạ sẽ nhìn ông ta thế nào đây?”
Tô Tần hít vào một hơi dài, đôi mày chau tít: “Bệ hạ nói vậy có nghĩa là gì? Vi thần ngu muội, xin bệ hạ giải thích rõ hơn!”
“Tô Tử, khanh nhất định muốn ép quả nhân nói trắng ra ư?” Huệ Vương lắc lắc đầu, ngả người về phía sau. “Quả nhân nghe nói, chủ tướng quân Triệu là Phì Nghĩa và ba vạn đại quân hợp tung đã rời đi cả rồi. Nếu người này long thể bất an, có thể trở về, nhưng còn ba vạn binh mã của ông ta lẽ nào cũng bị bệnh cả lượt? Nếu đã hợp tung, quân hợp tung chỉ cần ra khỏi đất nước sẽ được quy vào tung ước. Hiện giờ quả nhân là tung ước trưởng, đại quân của ông ta khi nào rời đi, rời đi như thế nào, cũng nên nói với quả nhân một tiếng mới phải? Hơn nữa, quân hợp tung của liệt quốc đều chưa rời đi, tại sao nước Triệu của ông ta chưa chiến đã tan?”
“Bệ hạ hiểu lầm rồi!” Tô Tần thấy Ngụy Vương thái độ ngang ngược, cưỡng từ đoạt lý, thì cười nhăn nhó. “Bây giờ vi thần sẽ nói rõ nguyên nhân!”
“Nói đi!”
“Trước buổi hội thề, ba quân nước Triệu nhận được chiếu lệnh của bệ hạ, đóng quân ở Thượng Đảng thuộc địa phận nước Triệu, chỉ có ba nghìn quân hộ vệ được đi theo Triệu Hầu tham dự hội thề. Nay hội thề đã kết thúc, một là Triệu Hầu quý thể bất an, hai là vì thái tử còn nhỏ, Triệu Hầu không yên tâm, vội vàng trở về nước cũng là chuyện thường tình. Cùng theo Triệu Hầu trở về cũng chỉ có ba nghìn binh sĩ, đại quân hợp tung vẫn chưa rời đi, hiện còn đóng trại ở Thượng Đảng. Hơn nữa, không chỉ có một mình nước Triệu làm như vậy. Đại quân nước Hàn đóng ở Nghi Dương, đại quân nước Sở đóng ở Phương Thành, đại quân nước Tề đóng ở Vệ, tất cả đều chưa tham gia hội thề. Chỉ có đại quân hợp tung nước Yên là đã vào biên giới Ngụy, đóng ở Thiếu Thuỷ, đây cũng là phụng theo chỉ ý của bệ hạ.”
“Ờ…” Huệ Vương nghe mà á khẩu, chớp mắt liền mấy cái mới nghĩ ra lời đối đáp. “Nếu đã như vậy, thì Triệu Hầu cũng nên nhắn lại một vài lời, chỉ rõ ai là người nhận lệnh mới phải. Hiện giờ đã sắp chinh phạt, nếu quả nhân muốn điều động đại quân của ông ta, thì phải truyền lệnh cho người nào đây?”
“Đã sắp chinh phạt?” Tô Tần vờ như không biết, sắc mặt ngỡ ngàng.
“Là thế này!” Ngụy Huệ Vương nhịp tay xuống bàn, nói thẳng vào chuyện. “Hôm trước quả nhân mở tiệc ở Hổ Lao quan, mời ba vương Sở, Tề, Hàn đến dự. Chúng ta uống rượu sảng khoái, đã cùng ước định nhân cơ hội tốt đẹp này, cùng chinh phạt bạo Tần. Quả nhân cấp tốc triệu khanh đến đây, cũng chính là để bàn bạc việc này. Từ thời Công Tôn Ưởng, người Tần nhiều lần bội ước, liên tục làm điều bất nghĩa. Đầu tiên là lừa mất Hà Tây của quả nhân, tiếp đó là đoạt lấy vùng sơn cốc Thương Ư nước Sở, lại xuất binh đánh Tấn Dương của Triệu, phạt Nghi Dương của Hàn, khiến cho bách tính trong thiên hạ không được yên ổn, chư vị quân chủ ăn ngủ không yên. Nay đã hợp tung, cần phải hợp sức lại để dạy cho tiểu tử kia một bài học, cho hắn biết được chút ít lễ nghĩa Trung Nguyên!”
“Bệ hạ dự định lúc nào phạt Tần?”
“Chẳng bao lâu nữa!” Huệ Vương trầm giọng đáp. “Không giấu Tô Tử, quả nhân đã điều động ba quân, hợp sức với liệt quốc, trù tính phát hơn bốn mươi vạn đại quân, trong vòng ba tháng sẽ đạp bằng Tần Xuyên!”
“Bệ hạ!” Tô Tần vòng tay nói. “Vi thần cho rằng, mặc dù bạo Tần đáng phạt, nhưng hiện giờ chưa phải thời cơ!”
“Ồ?” Huệ Vương nhìn thẳng vào Tô Tần. “Theo ý của khanh, lúc nào mới là thời cơ?”
“Bệ hạ!” Tô Tần cất lời can gián. “Vi thần nghe nói, đi xa trăm dặm, giã gạo thâu đêm; đi xa nghìn dặm, ba tháng dồn lương. Hiện giờ nước Tần bốn mặt quan ải kín kẽ, phía đông có Hà Thuỷ ngăn cách, có Hàm Cốc, Vũ Quan hiểm trở. Nếu vội vã chinh phạt, vi thần cho rằng không thoả đáng!”
Ngụy Huệ Vương cười lớn, chỉ tay vào Tô Tần: “Khanh đây, đúng là chỉ giỏi đánh võ miệng, còn luận về hành quân bố trận, giao chiến chinh phạt, lại chẳng hiểu gì. Bàng ái khanh nói rất đúng, ngày trước Ngô Khởi từng cùng tiên quân ngao du trên Hà Thuỷ, tiên quân cảm thán rằng, ‘tuyệt diệu thay, núi sông vững chãi.’ Ngô Khởi bèn đáp lại rằng, ‘núi sông vững chãi, tại đức không tại hiểm.’ Mấy hôm trước đến thăm Hổ Lao quan, quả nhân và chư vương bỗng nhớ đến lời của Sử Bá, ai nấy đều nhìn cửa quan mà cảm thán. Sử Bá nói: ‘Quắc Thúc ỷ thế, Cối Trọng cậy hiểm’, kết quả thì sao? Quắc, Ngu cũng vậy, Trịnh cũng vậy, một kẻ ỷ thế, một kẻ cậy hiểm, có kẻ nào giành được Hổ Quan? Tần dùng bạo lực trị dân, lừa dối khắp nơi, từ lâu đã xa đức lìa đạo, khiến thần người đều giận dữ, vài nơi hiểm trở đâu có thể giúp được họ?”
“Bệ hạ…”
Huệ Vương xua tay cắt lời: “Việc này bất tất phải nói thêm nữa! Chư vương tung ước đã quyết định rồi, không phải một mình quả nhân có thể định đoạt. Còn về việc điều động liệt quốc ra sao, Tô Tử hãy lấy danh nghĩa tướng quốc sáu nước hợp tung để tập hợp phó sứ các nước, trù hoạch kế sách khả thi, sau đó bẩm tấu lại cho quả nhân biết!”
“Vi thần…”
Huệ Vương lại xua tay: “Những chuyện còn lại, hôm khác sẽ bàn tiếp!” Rồi quay sang tỳ nhân. “Mau cởi áo giáp cho quả nhân. Than ôi, đúng là già rồi, mới mặc có mấy canh giờ mà đã không chịu nổi!”
Ra khỏi hành dinh của Ngụy Huệ Vương, Tô Tần đờ đẫn như người mất hồn. Rõ ràng Huệ Vương đã bị che mắt bịt tai, tâm tư nôn nóng, không để lọt tai lời can gián, càng không nhìn thấy hậu quả đáng sợ của việc phạt Tần. Huệ Thi đã bỏ đi, hiện giờ chỉ có một người duy nhất có thể giúp Huệ Vương tỉnh táo trở lại, đó là Bàng Quyên. Nhưng chí bình sinh của Bàng Quyên lại ở chiến trường, trận đánh này chắc chắn hắn đã khao khát từ lâu, bảo hắn đi khuyên Huệ Vương, chẳng khác nào đổ thêm dầu vào lửa.
Nhưng ngoài cách này ra, Tô Tần thực sự cũng chẳng còn cách nào khác. Nghĩ đi nghĩ lại, cuối cùng Tô Tần đành phải đánh liều tới cầu kiến Bàng Quyên.
Tới đại doanh quân Ngụy, Bàng Quyên bèn ra đón.
Vừa thấy Tô Tần, Bàng Quyên đã mở to hai mắt: “Ồ, Tô huynh, huynh chưa trở về ư?”
“Trở về?” Tô Tần ngẩn người. “Trở về đâu?”
“Về nhà!”
“Về nhà?” Tô Tần cười buồn. “Lúc này, thời gian đâu mà nghĩ đến nhà nữa!”
“Than ôi!” Bàng Quyên thở dài, dắt tay Tô Tần, cùng bước vào trong trướng.
Hai người cùng ngồi xuống, Bàng Quyên vẫn nhìn Tô Tần chằm chằm, thái độ rất đỗi khác lạ, một lúc sau, thì chậm rãi lắc đầu. Tô Tần thấy hắn có vẻ kỳ quặc, liền phì cười hỏi: “Bàng huynh làm sao vậy, chưa nhìn thấy tại hạ bao giờ ư?”
Bàng Quyên vẻ như bừng tỉnh, cười gượng một tiếng, lại lắc đầu.
“Bàng huynh?” Tô Tần ngơ ngác không hiểu hắn có ý gì.
“Người ta đều nói Bàng mỗ là hán tử cương cường, nhưng nay gặp Tô huynh, Bàng mỗ so sánh mà cảm thấy hổ thẹn!” Bàng Quyên bắt đầu úp mở.
“Bàng huynh, cớ sao lại nói vậy?”
“Tại hạ tuy mang chí lớn trong lòng, nhưng lại không dứt bỏ được gia quyến. Năm xưa gia phụ bị gian tặc Trần Chẩn hãm hại, tại hạ vì muốn cứu gia phụ, mấy lần không màng sống chết. Về sau, gia phụ chết thảm trong tay gian tặc, tại hạ đã thề không đội trời chung với hắn. Mặc dù tại hạ chưa tận tay giết được Trần Chẩn, nhưng cũng đã khiến hắn sợ mất mật, chạy trốn khắp nơi, không dám đặt nửa bàn chân vào địa phận nước Ngụy. Còn về hai con ưng khuyển đã đích thân sát hại gia phụ, chính là Thích Quang và Đinh Tam, không một tên nào trốn thoát, đều đã phải đổ máu để tế gia phụ!”
Tô Tần vẫn không hiểu ý: “Bàng huynh có gì xin cứ nói thẳng!”
“Tô huynh có phải người thôn Hiên Lý, Đông Chu?” Bàng Quyên hỏi thẳng.
Tô Tần gật đầu.
“Vậy bá phụ, cũng chính là lệnh tôn, phải chăng đã nằm liệt giường mấy năm rồi?”
Tô Tần gật đầu.
“Hiên Lý cách Mạnh Tân chưa đầy trăm dặm, ngựa phi nhanh chỉ nửa ngày là tới. Trong mấy ngày nay, Tô huynh có bớt chút thời gian về thăm bá phụ chưa?”
Tô Tần lắc đầu.
“Tình hình bá phụ gần đây ra sao, Tô huynh biết chăng?”
Tô Tần lắc đầu.
“Than ôi!” Bàng Quyên thở dài một tiếng. “Khi còn trong Quỷ Cốc, tại hạ có nghe Trương huynh kể lại chuyện nhà của Tô huynh, cảm thấy vô cùng cảm thán. Hội thề lần này, tại hạ nghĩ rằng ở ngay trước cửa nhà của Tô huynh, vốn định đích thân đến thăm bá phụ, ngặt vì việc quân bận bịu, đành phải sai thuộc hạ đến thăm. Nửa canh giờ trước, thuộc hạ trở về, nói rằng…”
Tô Tần bỗng thấy tim mình thắt lại, sắc mặt tái mét, hít vào một hơi thật dài rồi mới từ từ thở ra, hai mắt nhìn trừng trừng vào Bàng Quyên: “Gia phụ thế nào rồi?”
“Bá phụ… bá phụ…”
Tô Tần con tim treo ngược, hai mắt trợn trừng nhìn Bàng Quyên không chớp.
“Không ăn không uống, đã hôn mê suốt mấy ngày trời. Nghe nói mấy hôm nay, trong nhà đã chuẩn bị lo hậu sự. Tại hạ nhận được tin dữ, đang cuống lên định báo với Tô huynh, thì Tô huynh đã đến đây.”
Tô Tần nhắm nghiền hai mắt, hàm răng nghiến chặt, gắng gượng không để nước mắt trào ra. Hồi lâu sau, mới chậm chạp mở mắt, ngẩng đầu nhìn Bàng Quyên, vòng tay nói: “Hậu nghĩa thịnh tình của Bàng huynh, Tô Tần… xin ghi nhớ!”
“Tô huynh!” Bàng Quyên vòng tay đáp lễ. “Nói những lời này để làm gì? Việc không thể chậm trễ, giờ tại hạ sẽ cho người đi mời quân y, cùng đi với Tô huynh một chuyến. Một là để thăm bá phụ, hai là Tô huynh coi như đã được áo gấm về quê, nhân cơ hội này hãy lập tông miếu, làm rạng danh tông tổ!”
Tô Tần cười buồn một tiếng, rồi lắc đầu.
“Tô huynh không trở về?” Bàng Quyên vô cùng kinh ngạc. “Giờ tại hạ sẽ bỏ hết mọi việc, lập tức cùng đi với Tô huynh!”
“Bàng huynh, tại hạ hỏi huynh, việc nhà lớn hơn hay việc nước lớn hơn?” Tô Tần nhìn thẳng vào Bàng Quyên.
“Việc nước lớn hơn!”
“Việc nước lớn hơn, hay việc thiên hạ lớn hơn?”
“Việc thiên hạ lớn hơn!”
“Thiên hạ ngày nay, việc gì được coi là lớn?”
“Liệt quốc hợp tung!”
“Hỡi ôi!” Tô Tần thở dài buồn bã. “Liệt quốc vừa mới hợp tung, mà đã thấy có nguy cơ đổ vỡ trong sớm tối, Bàng huynh bảo tại hạ còn đầu óc đâu mà nghĩ tới gia phụ đây?”
“Đổ vỡ trong sớm tối?” Bàng Quyên giật mình. “Tại sao huynh lại nói vậy?”
“Tại hạ phụng chiếu yết kiến bệ hạ, bệ hạ liền hạ chỉ cho tại hạ điều động liệt quốc, cùng chinh phạt bạo Tần!”
“Phạt Tần?” Bàng Quyên vờ kinh ngạc, kêu lên. “Việc lớn nhường này, cớ sao tại hạ lại không được biết?”
Rõ ràng Bàng Quyên đang cố vờ vịt diễn trò.
Tô Tần trong lòng nguội ngắt, do dự một lát mới nói tiếp: “Tại hạ ra sức khuyên ngăn, nhưng bệ hạ không nghe, nói rằng đã cùng với ba vương Sở, Tề, Hàn quyết định, không thể thay đổi. Tại hạ càng nghĩ càng thấy tình thế khẩn cấp, nhưng chẳng còn cách nào khác nên mới đến nhờ Bàng huynh giúp đỡ. Bàng huynh, hiện người có thể khuyên giải bệ hạ, có thể cứu được hợp tung, chỉ có duy nhất Bàng huynh mà thôi!”
“Xin hỏi Tô huynh, cớ sao lại không thể phạt Tần?”
“Không phải không thể phạt Tần, mà là hiện tại chưa phải thời cơ!”
“Xin Tô huynh nói rõ hơn!”
“Khi ở trong Quỷ Cốc, tiên sinh từng nói, muốn thành đại sự, cần phải có đủ ba yếu tố thiên, địa, nhân hài hoà. Tung thân mới thành, khí của sáu nước mới bắt đầu tương thông, còn khí của Tần đã ngưng tụ thành một khối, ta chưa chiếm được thiên thời. Nước Tần bốn mặt kiên cố, là nơi dễ thủ khó công, ta chưa chiếm được địa lợi. Mặc dù sáu nước hợp tung, nhưng nội tranh vẫn chưa trừ bỏ, mỗi bên đều giữ thiên kiến, quân lực không đều, tướng soái nghi kỵ lẫn nhau, khó lòng điều phối, quân mã rối loạn, chẳng khác gì đội quân ô hợp. Dùng đội quân ô hợp để đánh lại kẻ địch dựa vào nơi hiểm trở để tử thủ, nếu cứ nôn nóng hấp tấp, thì phần thắng ở đâu?”
Thực ra, điều mà Tô Tần vừa nói mới chỉ là bề ngoài, còn nguyên nhân nội tại khiến ba vị Sở Vương, Hàn Vương, Tề Vương cực lực kích động Ngụy Vương phạt Tần, Tô Tần mới chỉ lờ mờ dự cảm, nhưng không dám nói ra, đặc biệt là đối với Bàng Quyên. Hợp tung mới thành, nếu như lúc này lại nói thẳng ra những suy đoán ấy, chẳng khác nào lại gây thêm nghi kỵ giữa liệt quốc, rất có thể sẽ khiến các nước hợp tung bất hoà, mà bao nhiêu công lao trước đó vỡ như bong bóng.
Đương nhiên, những lý do này không thể thuyết phục được Bàng Quyên. Nhưng Bàng Quyên cũng không nói toạc ra, mà chỉ nói: “Tô huynh nhìn xa trông rộng, tại hạ khâm phục! Về việc phạt Tần, tại hạ thực sự không hề hay biết. Tuy nhiên, giả sử đó là sự thực, giả sử bệ hạ đã quyết định cùng liệt quốc, thì sự tình quả là rất đỗi nan giải. Tại hạ chỉ là bề tôi của nước Ngụy, cho dù có thuyết phục được bệ hạ, nhưng cũng không thể thuyết phục được liệt quốc!”
“Bàng huynh chỉ cần thuyết phục bệ hạ là được, còn những nước khác, tại hạ sẽ tự nghĩ cách.”
“Được thôi, tại hạ sẽ lập tức cùng Tô huynh đi khuyên bệ hạ!”
Tới hành dinh của Huệ Vương, trời đã chập tối.
Thấy hai người đến, Huệ Vương đã hiểu rõ sự tình, song ngoài mặt vẫn cố tình ra vẻ kinh ngạc: “Ồ, quả nhân đang định triệu kiến hai vị, còn chưa kịp truyền chỉ thì hai vị đã đến rồi!”
Bàng Quyên bật cười, chỉ vào Tô Tần, đáp lời. “Tâm tư của bệ hạ, Tô Tử sớm đã đoán ra. Lúc nãy vi thần đang bẩm báo với Tô Tử một việc gấp, còn chưa kịp nói xong, Tô Tử đột nhiên ngắt lời vi thần, nói rằng bệ hạ có lời mời, giục vi thần mau đến. Vi thần không tin, nói bệ hạ đã mời, cớ sao lúc nãy không nói? Tô Tử nói, lúc nãy bệ hạ không mời, bây giờ mới mời. Vi thần kinh ngạc hỏi, bây giờ bệ hạ mới mời, tại sao Tô huynh lại biết? Tô Tử bèn nói, khi còn ở Quỷ Cốc, đã được tiên sinh truyền cho thuật thông tâm, nên đoán biết được, nếu không tin, cứ đi sẽ rõ. Vi thần bán tín bán nghi, nên mới cùng Tô Tử đến đây, nào ngờ bệ hạ quả thực có mời!”
“Ồ?” Huệ Vương quay sang Tô Tần. “Lần trước Thuần Vu Tử đến thăm quả nhân, ông ta luôn đoán đúng tất cả những điều quả nhân nghĩ trong lòng. Quả nhân vặn hỏi ông ta tại sao lại biết, ông ta chỉ cười mà không nói, cứ trêu ngươi quả nhân. Sau khi Thuần Vu Tử đi khỏi, quả nhân nghĩ mãi mà không tìm ra câu trả lời, quả nhân thực không biết đó là thuật thông tâm!”
Tô Tần vòng tay nói: “Thuật thông tâm chỉ có ở người đắc đạo, vi thần không dám mong cầu. Là Bàng tướng quân cười chê vi thần, bệ hạ chớ coi là thực!”
Huệ Vương thở phào một hơi dài, cười vang vài tiếng: “Không phải thì tốt. Chứ nếu đó là sự thực, quả nhân sẽ chẳng dám nghĩ gì nữa!”
Mọi người đều bật cười.
“Bàng ái khanh!” Ngụy Huệ Vương quay sang Bàng Quyên. “Lúc nãy khanh nói, khanh có việc gấp cần bẩm báo với Tô Tử, là việc gấp gì, có thể nói cho quả nhân nghe được chăng?”
Bàng Quyên bèn nghiêm mặt đáp: “Khởi bẩm bệ hạ, Tô huynh quê nhà ở Lạc Dương, lần này hội thề, vì công việc quá ư bận rộn, nhiều lần đi qua cửa nhà mà không kịp vào thăm. Vi thần nghĩ tới chuyện này, tưởng nhớ người nhà của Tô huynh, nên đã phái thuộc hạ đến thăm, vô tình biết được tôn phụ của Tô huynh, cũng chính là bá phụ của vi thần, hiện đang… hiện đang…”
“Hiện đang sao kia?” Huệ Vương nhổm người về phía trước hỏi.
“Nghe thuộc hạ nói, mấy năm nay, bá phụ mắc bệnh nằm liệt giường, mấy ngày trước bệnh tình đột nhiên trở nặng, xem tình hình này, e rằng lành ít dữ nhiều, nguy… nguy trong sớm tối mất thôi!” Bàng Quyên nói đoạn, đưa tay áo lên quẹt mắt.
“Ồ, thì ra là vậy!” Ngụy Huệ Vương lẩm bẩm, lắc đầu than thở. “Than ôi, tất cả đều trách quả nhân, mấy ngày nay chỉ mải lo tới đại sự thiên hạ, không hề hỏi han đến việc nhà của Tô ái khanh, quả nhân… quả nhân thật hổ thẹn!”
Thấy quân thần hai người hùa vào diễn kịch, Tô Tần trong lòng đắng ngắt, khẽ thở dài một tiếng, rũ đầu không nói gì.
Ngụy Huệ Vương nghe thấy rõ ràng, lập tức quay đầu nhìn Tô Tần: “Tô ái khanh!”
Tô Tần ngẩng đầu: “Có vi thần!”
“Lệnh tôn mắc bệnh liệt giường đã lâu ngày, ái khanh đi qua trước cửa mà không thể tận hiếu, đó là lỗi của quả nhân. Trọng Ni nói: ‘Các loài trong trời đất, duy có người là quý nhất. Việc của con người, lớn nhất không gì bằng hiếu.’ Trước mắt, tất cả mọi việc đều là chuyện nhỏ, quý thể của lệnh tôn mới là quan trọng. Ái khanh hãy mau chóng chuẩn bị, sáng mai khởi hành, về quê thăm lệnh tôn!”
“Bệ hạ…” Tô Tần trong lòng lo sợ, vội vàng quỳ xuống cầu xin, nhưng vừa mới mở miệng, phía ngoài đã có tiếng bước chân rậm rịch vọng lại, rồi công tử Ngang quýnh quáng chạy vào.
Vì đang mặc nhung phục, nên công tử Ngang chỉ quỳ một gối xuống đất theo thân phận võ quan, lớn giọng bẩm báo: “Khởi bẩm phụ vương, nhi thần Ngụy Ngang đến cầu chiến!”
Tất thảy đều kinh ngạc sững sờ, Tô Tần lời đã ra đến miệng đành phải nuốt xuống.
“Cầu chiến?” Ngụy Huệ Vương nhìn thẳng vào công tử Ngang. “Con cầu chiến với ai?”
“Phạt Tần! Nhi thần nguyện làm tiên phong, dẫn đội quân cảm tử đi trước, đánh trận đầu tiên, thề đoạt lại Hà Tây!”
Ngụy Huệ Vương quay sang nhìn Bàng Quyên, rồi lại ngoảnh nhìn Tô Tần, sau đó lại nhìn công tử Ngang, bật ra một tràng cười lớn: “Ha ha ha…”
“Phụ vương?” Công tử Ngang nghe mà ngơ ngác.
“Ngang Nhi!” Ngụy Huệ Vương thu nụ cười lại, lắc lư cái đầu. “Con cũng đến thật đúng lúc! Chẳng phải con muốn đánh trận đầu ư? Quả nhân sẽ tác thành cho con!”
“Đa tạ phụ vương!”
“Ngụy Ngang nghe chỉ!”
“Có nhi thần!”
“Sáng sớm mai, ngoại tướng quốc sáu nước Tô Tần trở về quê thăm nhà, để tận hiếu với cha. Quả nhân dùng danh nghĩa tung ước trưởng, phong cho con làm chuyên sứ, hộ vệ Tô tướng quốc về Lạc Dương thăm nhà, mang theo ngự y của quả nhân để trị bệnh cũ cho lão tiên sinh, không được phép xảy ra sơ suất!”
Ngụy Huệ Vương thình lình hạ chỉ lệnh này, hoàn toàn nằm ngoài sức tưởng tượng của công tử Ngang. Chết lặng mất một hồi lâu, hắn mới định thần trở lại, quýnh quáng đến hai mắt đỏ sọc: “Phụ vương?”
“Còn nữa!” Huệ Vương xua tay ngắt lời. “Tô Tử là con dân của Chu thất, thân làm tướng quốc sáu nước, lần này coi như cũng là áo gấm về quê. Trong đội ngũ sứ đoàn tung thân trước đây, ngoài mấy vị công tử, công tôn đang bận việc ra, tất cả những người khác không được phép vắng mặt một ai, phải giữ thể diện cho Tô Tử và liệt quốc, không được để người Chu coi thường! Con còn phải chuẩn bị đầy đủ ngân lượng, lựa chọn vùng bảo địa phong thuỷ, lập tông miếu cho Tô Tử. Tô Tử khởi xướng hợp tung, tạo phúc cho thiên hạ, nhà họ Tô phải được biểu dương mới là phải lẽ!”
“Phụ vương…” Công tử Ngang quỳ cả hai gối xuống, ra sức khấu đầu bình bịch.
“Con dám không nghe chỉ?” Ngụy Huệ Vương đột nhiên đổi giọng, sắc mặt hung hãn.
Công tử Ngang khóc lóc, khấu đầu đáp: “Nhi thần… lĩnh chỉ!”