Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 70
TẠO HIẾN LỆNH, KHUẤT BÌNH NHẬN VƯƠNG MỆNH
MƯU ĐẠI SỞ, TRƯƠNG NGHI TỚI SÍNH ĐÔ

❊ ❊ ❊

Hoài Vương suốt đêm không về.

Thực khéo trùng hợp, đêm ấy đúng đêm Nam hậu thị tẩm. Trịnh Tụ từ sớm đã tắm gội xông hương, đợi tới tận sáng, vẫn chưa thấy bóng Hoài Vương, sai người đi thăm dò, mới biết Hoài Vương không có ở trong cung.

Trịnh Tụ đang lúc ruột gan như lửa đốt thì Hoài Vương trở về. Hẳn bởi suốt đêm không ngủ, vừa về tới cung, Hoài Vương đã vào ngay thư phòng nghỉ ngơi.

Trịnh Tụ tìm gặp nội doãn, hỏi ra mới biết Hoài Vương cả đêm qua ở nhà cỏ của Khuất Bình.

Thế thì kiểu gì cũng có chuyện mây mưa lâm hạnh! Trịnh Tụ càng nghĩ càng cảm thấy sự tình nghiêm trọng, bèn lệnh cho thân tín mời Ngận Thượng tới.

Ngận Thượng vừa vào Nam cung, đã thấy không khí vô cùng căng thẳng, cung nữ nhất loạt quỳ mọp dưới đất, như thể chết cha chết mẹ. Loáng thoáng nghe có tiếng khóc từ bên trong vẳng ra, Ngận Thượng vội rảo bước vào, thì thấy Trịnh Tụ đang ôm Tử Lan khóc thảm thiết.

“Nương nương,” Ngận Thượng không cả kịp khấu đầu, cứ thế bước thẳng tới, “dám hỏi, có chuyện gì ư?”

“Ngận đại nhân,” Trịnh Tụ gạt lệ, “đại vương…không cần ta, không cần mẹ con ta nữa!”

“A?” Ngận Thượng kinh ngạc kêu lên.

“Ngận đại nhân,” Trịnh Tụ nức nở, “tâm trí đại vương giờ đã để hết chỗ con yêu nữ núi Vu Hàm, bảo hai mẹ con ta phải sống thế nào đây!”

Tử Lan lúc này cũng oà lên khóc.

Nghe thấy là chuyện này, Ngận Thượng lại thở phào một tiếng, vái mà nói: “Nương nương, đây quả là chuyện lớn, xin nương nương hãy kể, đã xảy ra chuyện gì?”

Vừa nghe Ngận Thượng nói là “chuyện lớn”, Trịnh Tụ càng khóc nghẹn ngào.

Ngận Thượng đưa mắt nhìn sang cung nữ.

“Bẩm đại nhân,” cung nữ khẽ giọng bẩm báo, “đêm qua vốn do nương nương hầu đại vương, nhưng đại vương cả đêm không về, đến tận sáng mới thấy hồi cung, giờ đang nghỉ trong tiền điện. Nương nương hỏi thăm mới biết, té ra đại vương nghỉ lại phủ Khuất đại nhân!”

Đại vương nghỉ lại suốt đêm trong phủ Khuất Bình! Thân là cận thần được đại vương sủng ái bao năm, vậy mà Ngận Thượng chẳng hề hay biết.

Ngận Thượng cũng bàng hoàng chết sững.

Sau đêm Hoài Vương nghỉ lại nhà cỏ của Khuất Bình, Sính Đô bắt đầu đồn đại, rằng phủ tả đồ đã đặt mua lượng lớn muối Tề, sắp sửa về tới Sính Đô. Người Sính một đồn mười, mười đồn trăm, các hiệu buôn muối vắng tanh vắng ngắt.

Cùng lúc này, Tử Khải cũng đã nhận được tin báo từ biên ải, vội vã tới phủ Kỷ Lăng Quân.

Xạ Cao Quân, Bành Quân cùng không ít vương thân đã chực sẵn trong phủ, sắc mặt ai nấy đều bồn chồn nôn nóng, oán hận sục sôi.

“Khải Nhi, cháu tới thật đúng lúc!” Vương thúc vẫn rất điềm tĩnh, mỉm cười chìa tay, chỉ vào chiếu bên cạnh, “ngồi đi.”

Tử Khải bèn ngồi xuống.

“Hẳn có tin tốt lành?” Vương thúc hỏi.

“Chỉ có tin xấu.” Tử Khải buông thõng hai tay, đôi mày chau tít, “cháu đã nghe ngóng kỹ rồi, chuyện này là Khuất Bình nghĩ ra, Chiêu Dương xuất vốn, Trần Chẩn góp mưu, quản gia Hình Tài của Chiêu phủ đặt hàng, chuyến muối đầu tiên gồm năm chục xe, hôm qua đã vào đất Sở.”

“Thật không ngờ, gã tả đồ này đầu óc cũng tinh ranh thực!” Vương thúc lấy làm thú vị, tấm tắc khen ngợi.

“Anh hai,” Bành Quân cuống lên, “đầu óc hắn tinh ranh, thì chúng ta chết chắc đấy!” Đoạn giận dữ trỏ ra bên ngoài, “đến khi muối Tề về đến, giá muối há chẳng rớt xuống tận đáy…”

“Phải đấy, anh hai,” Xạ Cao Quân mặt đầy nôn nóng, “phải nghĩ cách ngăn chuyện này lại mới được. Cái khác chưa nói, nếu Chiêu phủ thừa cơ mở hiệu muối khắp Sính Đô, ngày sau ta biết sống thế nào?”

Rõ ràng, mối lo của Xạ Cao Quân mới là cốt yếu. Mọi ánh mắt đều đổ dồn vào vương thúc.

“Chú nói chí phải, quả thực ta chưa nghĩ tới chuyện này.” Vương thúc gật gù với Xạ Cao Quân, đoạn quay sang Tử Khải, “giá muối ở chợ hiện là bao nhiêu?”

“Tám thù.”

“Tám thù?” Vương thúc lẩm bẩm, đoạn khép mắt, hồi lâu sau, nhìn sang Bành Quân, “giao cho người Tần được bao nhiêu rồi?”

“Chưa được bao nhiêu.” Bành Quân đáp, “là tiểu đệ giữ lại, vốn định đợi tăng giá lên mười thù mới xuất.”

“Muối đã chở tới nơi chưa?”

“Thưa, tới rồi, cách biên ải không xa, chúng tôi đã trưng dụng rất nhiều nhà kho, trữ sẵn hàng hoá, chỉ chờ thị giá…”

“Tốt lắm.” Vương thúc quay sang Tử Khải, “cháu hãy đi gặp Xa Vệ Tần, thực hiện khế ước đi.”

“Thế còn chuyện muối Tề?” Tử Khải ngẩn ra một thoáng, rồi hạ giọng hỏi.

“Muối Tề về thì tốt chứ sao!” Vương thúc cảm khái, “gã tả đồ ranh kia, phen này quả đã giúp ta đắc lực!”

“Gì kia?” Đám Bành Quân, Xạ Cao Quân đều trợn mắt kinh ngạc.

“Các người trợn mắt cái gì?” Vương thúc quét mắt khắp lượt, đoạn nhìn xa xăm, thở dài một tiếng, giọng như trách móc, “than ôi, các người đúng là một đám vô tâm vô tính. Các người không thử nghĩ mà xem, muối ăn của ta đáng giá bao nhiêu? Vốn dĩ chỉ một thù một cân, bị các người đẩy lên tám thù một cân, tăng vọt gấp tám lần. Thế mà các người vẫn chưa thoả mãn, còn muốn tăng lên mười thù. Chờ tăng tới mười thù rồi, liệu các người đã thoả mãn chưa? Nếu vẫn chưa, thì thế nào? Phải chăng còn muốn tăng tới hai mươi thù?”

Nghe vương thúc nói thẳng thừng, tất cả chỉ biết cúi đầu im bặt.

“Này các anh em, các vị thân hữu,” vương thúc thực lòng cảm khái, “muối là để ăn. Chớ nói là người, dù là con vật, cũng không thể thiếu muối. Ta tăng giá muối, vốn dĩ là để ứng phó vói người Tần, nào ngờ đâu lại thành ra dồn ép người Sở ta, khắp một Sính Đô rộng lớn nhường này, mà không còn lấy hạt muối mà mua nữa. Suối muối khai thác không kịp, ta đang lo lắng không biết phải làm sao, thì tả đồ đã nghĩ tới muối Tề, quả là trợ giúp đắc lực cho ta, vậy mà các người chỉ biết tức tối oán hận người ta, đúng là không biết thế nào là hay dở!”

“Chú Bành, chú Xạ Cao,” Tử Khải bừng hiểu trước tiên, phấn chấn ra mặt, “vương thúc nói chí phải, ta hãy chớp lấy thời cơ này, mang toàn bộ số muối dự trữ trong kho tàng chuyển hết đi, giao cả cho người Tần, xoá sạch nợ nần cũ. Giao dịch xong xuôi rồi, ta sẽ hạ ngay giá muối, quay về giá cũ một thù một cân, cho Chiêu Dương kia tức chết!”

Bành Quân chau mày: “Dân chúng oán hận ta, sẽ không tới mua đâu!”

“Muốn tới mua cũng chẳng có mà mua!” Tử Khải cười nói, “muối dự trữ trong kho ta sẽ chuyển đi hết, giao cả cho người Tần! Tranh thủ thời cơ, có bao nhiêu cứ bán hết kiếm tiền cái đã!”

“Vậy thì sẽ không còn hạt muối nào nữa, rồi chúng ta lấy gì mà bán?” Xạ Cao Quân nhìn sang vương thúc.

Tạm thời đóng cửa hết, cứ để cho phủ tả đồ bán đi!” Vương thúc đáp, “giờ ta hãy tập trung toàn lực để giải quyết với người Tần, cho yên chuyện đã. Còn về muối Tề, để sau hãy tính. Nói gì thì nói, người Sở vẫn quen dùng muối Ba chứ không phải muối biển.”

“Anh hai,” Xạ Cao Quân lo lắng, “nhưng vấn đề ở đây là chuyện có tiếp tục kinh thương nữa hay không, chứ không phải là chuyện tả đồ có bán muối hay không. Sự việc là do tả đồ khơi ra, nhưng kinh thương lại do Chiêu Dương thực hiện. Chiêu Dương nằm mơ cũng muốn nhúng tay vào chuyện buôn muối ở Sính Đô, giờ thì đã được thoả nguyện rồi. Nếu các hiệu muối của ta ở Sính Đô hết muối bán, dân chúng cũng không tin ta nữa, một khi muối Tề về tới Sính Đô, họ sẽ đến đó mua cả. Thế thì hiệu muối của chúng ta sẽ hết đường làm ăn, cho dù có muối, dù bán ngang giá, dân chúng vẫn sẽ ghi hận chuyện tăng giá lần này!”

“Phải đấy, anh hai,” Bành Quân tiếp lời, “nơi khác có thể nhường, riêng Sính Đô dứt khoát không được. Họ Chiêu sẽ được đằng chân lân đằng đầu!”

Vương thúc nhắm mắt lại.

Bành Quân, Xạ Cao Quân nhìn sang Tử Khải, Bành Quân hất hàm ra hiệu.

“Vương thúc,” Tử Khải đảo con ngươi vài vòng, “hai chú nói rất phải, không thể để muối Tề vào Sính!”

“Mọi người có kế hay nào chăng?” Vương thúc ngẩng lên hỏi.

“Cháu đã nghĩ ra một kế, có thích hợp hay không, xin các chú định đoạt giúp.” Tử Khải thoáng ngập ngừng rồi tiếp, “ta một mặt chuyển muối dự trữ trong kho sang Tần trừ nợ, một mặt chuyển muối Ba mới khai thác từ suối muối về Sính Đô, đồng thời, ngăn cản không cho chuyến muối Tề đầu tiên vào Sính. Đợi tới khi chuyến muối Tề thứ hai về tới, thì kho lẫm của ta đã sẵn muối rồi, hắn bán một thù một cân, ta bán một thù hai cân, đánh bạt muối Tề của hắn đi!”

“Ý hay đấy!” Bành Quân vỗ tay, “ta hiểu người Sính, ai cho bú thì gọi mẹ, cứ thấy lợi là sáng mắt, chẳng còn nhớ gì đến ân oán tình thù nữa!”

“Cháu hiền,” vương thúc mở bừng mắt, nhìn sang Tử Khải, “ngăn cản muối Tề vào Sính bằng cách nào?”

“Đi nước cờ hiểm, cướp!”

Tất cả mọi người có mặt đều bàng hoàng sửng sốt.

Bành Quân, Xạ Cao Quân đưa mắt nhìn nhau, rồi cùng nhìn sang vương thúc.

“Cướp thế nào?” Vương thúc bình thản hỏi.

“Sắp xếp gia binh giả làm kẻ cướp, huy động thêm đám du thủ du thực tham gia.”

“Vẫn phải có người cầm đầu mới được.” Hiển nhiên, vương thúc đã tán đồng kế sách này, “tốt nhất là người đáng tin!”

“Cháu đã nghĩ đến một người, Chiêu Thử.” Tử Khải đáp, “mấy bữa nay, hắn thường lui tới nhà cháu, trò chuyện rất thân mật. Cháu đã nhận lời, vài ngày nữa sẽ bổ hắn vào chức huyện doãn đang khuyết, hắn đương khấp khởi!”

Để người họ Chiêu cướp muối của họ Chiêu, quả là diệu kế, ba vị vương thúc thi nhau gật đầu.

Kế sách đã định, mọi người chia nhau hành sự.

“Khải Nhi,” vương thúc giữ Tử Khải lại, “bên núi Vu Hàm có tin gì chăng?”

“Núi Vu Hàm?” Tử Khải ngẩn người, “rất thuận lợi, vừa nghe được tăng tiền công, đám diêm dân làm việc hăng hơn hẳn.”

“Chuyện tư tế!” Vương thúc bực bội ngắt lời.

“A!” Tử Khải vỗ trán, tỏ vẻ hối lỗi, “cháu nhất thời mải nghĩ chuyện muối, quên không bẩm báo việc này. Cháu đã điều tra rõ, đúng như vương thúc đã nói, Bạch tư tế đích xác là con gái của tiền tư tế miếu Vu Hàm, tiền tư tế mười tám năm trước đã nhảy xuống vực sâu tự tận, con gái do ông ngoại nuôi lớn, ông ta là ẩn sĩ, rất được người Ba trọng vọng, do thường đội mũ lông chim trĩ nên mọi người gọi là Hát Quan Tử!” Chợt cười cười, “nghe nói Hát Quan Tử đang nôn nóng dò hỏi tin tức của cô cháu ngoại.” Vương thúc bỗng loạng choạng, đưa tay ôm ngực. “Vương thúc?” Tử Khải sửng sốt nhìn sang.

Vương thúc gắng trấn tĩnh lại, cười gượng một tiếng, lần trong ngực áo, lấy ra nửa miếng ngọc bội: “Mảnh ngọc này, bao nhiêu năm qua ta cất kỹ dưới đáy rương, bữa trước nhìn thấy Vân Nhi, mới lại lấy ra mang!”

Tử Khải đón lấy ngọc bội, ngắm nghía kỹ lưỡng.

Vương thúc khẽ khép mắt lại, cảnh tượng năm xưa lại như hiện về trước mắt:

Trong miếu Vu Hàm, thiếu niên Kỷ Lăng Quân phong lưu tài tuấn, khoác áo diêm thương, tới miếu Vu Hàm tế bái, bàng hoàng trước tư tế nhan sắc tuyệt luân.

Tư tế gảy đàn cầm bên vực, gió núi thổi tung bay mái tóc mây. Kỷ Lăng Quân tay dạo đàn sắt, ngồi đối diện nàng, cầm sắt giao hoà, ý tình tha thiết.

Bên bờ suối vắng, hai người ngồi dựa bên nhau, tràn trề hạnh phúc. Kỷ Lăng Quân lấy ra hai miếng ngọc bội, đeo một chiếc vào cổ nàng, một chiếc tự đeo lên cổ.

Trong miếu Vu Hàm, Kỷ Lăng Quân cùng đông đảo người Ba quây quần quanh đống lửa, say sưa chúc rượu, hát múa rộn ràng.

Vừa rạng sáng hôm sau, Kỷ Lăng Quân dẫn quân Sở đánh vào trại Ba, lửa cháy rừng rực bốn bề, tiếng hô sát phạt vang rền dậy đất, máu người Ba nhuộm đỏ suối muối.

Kỷ Lăng Quân đẩy mở cổng miếu Vu Hàm, thấy tư tế đứng ngay giữa cửa, đầu bù tóc rối, chỉ mặt Kỷ Lăng Quân giận dữ hét lớn: “Cút đi…”

Tiếng hét tựa sấm rền trên chín tầng mây, khiến vương thúc toàn thân lảo đảo, nước mắt ứa ra, rơi xuống lã chã.

“Vương thúc?” Tử Khải khẽ gọi.

“Khải Nhi,” vương thúc lại định thần lần nữa, đưa tay gạt lệ, nhìn thẳng vào hắn, “không nghi ngờ gì nữa, Bạch tư tế trong phủ tả đồ, chính là giọt máu của chú, cũng là em họ của cháu đây. Chú cậy nhờ cháu hiền, hãy bảo vệ cho con bé, chớ để nó phải tổn thương!”

Tử Khải thoạt tiên kinh ngạc, sau đó gật đầu: “Khải Nhi đã nhớ.”

Khi đoàn xe chở muối Ba với mức giá cao gấp tám lần thị giá nước Sở nối đuôi nhau vào Tần, người Hàm Dương thảy đều giận dữ. Nhất là đám vương công quý tộc, bởi vàng để mua muối tuy nói là lấy từ quốc khố, song về danh nghĩa, vẫn là của cải của toàn vương thất. Hơn nữa, khi quốc khố thiếu hụt, nhà nào cũng góp vào không ít vàng.

Thế nhưng, số muối Ba kia phải bán thế nào ở Tần?

Sau hôm muối Ba vào Tần, lúc chập tối, Trương Nghi nhận được chỉ dụ của Tần Huệ Vương, vào cung dự yến.

Được mời dự yến, có cả thảy sáu người, ngoài Trương Nghi, còn có công tử Tật, công tử Hoa, Cam Mậu và Tư Mã Thác, đều là những nhân vật quá quen thuộc với Trương Nghi.

Thức ăn được dọn lên, hết món này đến món khác, đều là sơn hào hải vị. Rượu ngon cũng đã rót sẵn, chỉ ngửi hơi rượu, đã biết là loại rượu lâu năm mà Trương Nghi rất thích.

Huệ Vương vén ống tay áo, cầm dao tự tay cắt lấy một miếng đùi hươu, đưa cho Trương Nghi: “Tướng quốc đại nhân, xin mời nếm thử tay nghề của quả nhân!”

“A?” Trương Nghi đón lấy, kinh ngạc nhìn miếng thịt, “đại vương đích thân chế biến ư?”

Huệ Vương bật cười vài tiếng: “Quả nhân bao năm nay chưa từng xuống bếp, là vụng hay khéo, còn chờ tướng quốc bình giá!”

Trương Nghi bỏ tọt miếng thịt vào trong miệng, nhai ngon lành.

“Hương vị thế nào?” Huệ Vương ra vẻ trông chờ. Mọi người có mặt cũng đổ dồn ánh mắt nhìn lại.

Nuốt xong miếng thịt, Trương Nghi mới chép miệng vài cái thật lớn: “Nấu thêm một chút thì nhừ quá, nấu thiếu một chút thì sống quá!”

Mọi người cùng cười rộ.

“Tướng quốc hãy nếm thêm một món!” Huệ Vương cầm đũa gắp một món khác, bỏ vào bát Trương Nghi.

Trương Nghi ăn xong, Huệ Vương lại gắp món nữa. Chẳng mấy chốc, nhờ sự tiếp đãi ân cần của Huệ Vương, Trương Nghi đã nếm hết một lượt tất cả các món ăn bày trên án.

“Tướng quốc đại nhân, những món này thế nào?” Huệ Vương hỏi.

“Đại vương muốn biết hương vị thế nào,” Trương Nghi đưa mắt nhìn sang mọi người, “chỉ hỏi một mình thần thì không công bằng.”

“Phải rồi,” Huệ Vương mỉm cười, nhìn khắp lượt chúng thần, “quả nhân không gắp nữa, các khanh hãy tự nếm đi.”

Mọi người cùng nâng đũa gắp thức ăn, vừa nhai, ai cũng nhăn mặt.

“Các khanh đều đã nếm xong rồi chứ?” Huệ Vương cũng gắp một miếng, ăn xong lại hỏi, “thử nói xem, mùi vị thế nào?”

Mọi ánh mắt đều đổ dồn vào Trương Nghi.

“Tướng quốc đại nhân,” Huệ Vương cũng nhìn sang, “mọi người đang chờ khanh đó.”

“Sắc, hương, vị đều tuyệt diệu, Nghi uống như uống cam lộ, ăn như ăn thức tiên!” Trương Nghi đáp rồi, lại chép miệng thêm vài cái.

“Không cảm thấy còn thiếu gì ư?” Huệ Vương ngả người lại hỏi.

Trương Nghi lắc đầu.

“Các khanh,” Huệ Vương nhìn sang quần thần, “tướng quốc đại nhân uống như uống cam lộ, ăn như ăn thức tiên, các khanh có thấy vậy chăng?”

“Đại vương,” Tư Mã Thác thoáng lưỡng lự, đoạn vòng tay đáp, “lượng thứ cho thần bất kính, tất cả các món đều thiếu một vị!”

“Vị gì?” Huệ Vương lấy làm phấn chấn, gõ đũa xuống mặt án mà hỏi.

“Muối Ba!” Đám Tư Mã Thác lập tức hiểu ra dụng ý của Huệ Vương, không hẹn mà gần như đồng thanh đáp.

“Các khanh nói xem, quả nhân cớ sao không dùng muối Ba?” Huệ Vương lại gõ đũa xuống án.

“Bởi muối Ba quá đắt!” Đám Tư Mã Thác lại đồng thanh trả lời.

“Các khanh nói rất đúng,” Huệ Vương liếc sang Trương Nghi, bật ra một tiếng thở dài rất đỗi phô trương, “hỡi ôi, muối Ba nước Sở, quả nhân thực sự không ăn nổi!”

“Chúng thần càng không ăn nổi!” Mấy người lại đồng thanh hưởng ứng.

Hiển nhiên, yến tiệc đêm nay, là để dành riêng cho Trương Nghi.

“Đại vương, chư vị đại nhân,” Trương Nghi thủng thẳng lần trong ống tay áo, lấy ra một cuộn da dê, trải xuống mặt án, “nếu Nghi thêm vào một vị này, chắc hẳn chư vị sẽ đều ăn nổi!”

Mọi người cùng nhìn, là một tấm địa đồ nước Sở. Tất cả đều xúm lại xem, đều ngơ ngác không hiểu.

“Xin đại vương cho thần mượn cây bút son!” Trương Nghi nhìn sang Huệ Vương.

Huệ Vương đưa bút son lại, Trương Nghi đón lấy, khoanh hai vòng tròn trên địa đồ, một vòng ở đất Thượng Dung tiếp giáp Hán Trung, một vòng ở đất Kiềm Đông Nam nước Sở.

Mọi người đều há hốc miệng.

Nhìn vào hai vòng tròn Trương Nghi vừa khoanh, Thượng Dung tiếp giáp với Phòng Lăng, nếu từ Thượng Dung xuôi theo Hán Thuỷ tiến thẳng xuống, có thể đánh thốc tới Sính Đô. Còn vùng núi non rộng lớn ở Kiềm Đông Nam, không chỉ có hai suối muối lớn, mà còn có thể từ phía nam đánh bọc sườn Sính Đô. Nếu cả hai nơi này đều thuộc về người Tần, thì Sính Đô nước Sở sớm muộn cũng bị công chiếm.

Huệ Vương bừng hiểu, quay sang nhìn Trương Nghi: “Tướng quốc không phải đang vẽ ra hai cái bánh lớn để an ủi quả nhân đấy chứ?”

“Dám hỏi đại vương, thần đã từng vẽ bánh?”

“Vậy quả nhân phải làm sao mới có được hai vòng tròn này?”

“Dựa vào thứ này của thần!” Trương Nghi há miệng, thè lưỡi ra.

Chúng nhân lại một phen ngỡ ngàng.

Tướng quốc nói vậy, là muốn đích thân xuất chinh ư?” Huệ Vương hít vào một hơi.

“Thần xin đi sứ Sính Đô!” Trương Nghi rành rọt từng tiếng.

Đã sang canh hai. Chiêu Dương đang say giấc nồng thì Hình Tài dẫn Chiêu Thử tới gõ cửa.

“Thưa chú, cháu tới quấy quả chú đây!” Chiêu Thử thì thào gọi.

Chiêu Dương xuống giường, bước ra mở cửa, đoạn quay lại ngồi xuống bên giường, dụi mắt hỏi: “Có chuyện gì vậy?”

“Chuyện rất hệ trọng.” Chiêu Thử tiến lại gần, hạ giọng thì thào, “vừa nãy Ngạc Quân gọi cháu tới, sai cháu đi cướp muối.”

“Cướp muối?” Chiêu Dương sửng sốt, “cướp muối gì?”

“Chính là năm chục xe muối biển chú đang chuyển từ Tề về Sính.”

Chiêu Dương lập tức tan ngay cơn ngái ngủ, thở hắt ra một tiếng, nhắm mắt suy nghĩ.

“Cháu đã nhận lời rồi ư?” Chiêu Dương ngẩng đầu, nhìn sang Chiêu Thử.

“Vẫn chưa.”

“Vì sao kia?”

“Cháu nói việc này quá nguy hiểm, lại liên quan tới người trong gia tộc, nhất là còn có chú, không dám ra tay.”

“Hắn nói sao?”

“Ngạc Quân không nói gì, bảo cháu cứ suy nghĩ cho kỹ. Lúc ra về, Ngạc Quân còn nói, hắn đã bàn với vương thúc, sẽ sắp xếp cho cháu một chân huyện doãn. Cháu hỏi ở đâu, hắn nói ở Đặng Huyện hoặc Đan Dương, tuỳ cháu chọn. Cháu nói Đan Dương là nơi trọng yếu, e khó mà tranh được. Hắn nói, vậy thì Đặng Huyện. Cháu hỏi lúc nào có thể nhậm chức, hắn nói, vương thúc đã ghi tên cháu vào danh sách, muộn thì cuối năm, còn nếu thuận lợi, một tháng là xong.”

“Nếu đã là vậy, thì cháu không thể không cướp muối.” Chiêu Dương cười gượng.

“Cướp hay là không cướp, do chú quyết định.” Chiêu Thử đáp liền.

Chiêu Dương trầm ngâm rất lâu, đoạn dứt khoát bật ra một chữ: “Cướp!” Rồi nhìn thẳng vào Chiêu Thử: “Cháu hãy hỏi thẳng Ngạc Quân về chuyện huyện doãn Đặng Huyện, bảo hắn lập giao kèo rõ ràng.”

“Hắn sẽ không chịu lập đâu. Nhưng vương thúc đã đồng ý, có lẽ sẽ thành.”

“Cũng được. Có điều, cháu phải cùng hắn tới gặp vương thúc, để vương thúc xác thực cho rõ ràng.”

“Vâng.” Chiêu Thử thoáng ngập ngừng, “thưa chú, chú sẽ bắt cháu chứ?”

“Chú sẽ không bắt cháu, nhưng tả đồ thì có đấy.”

“Vậy phải làm sao đây? Liệu có giống như lần trước, muốn lấy đầu cháu?”

“Có vương thúc, sẽ không có chuyện đó đâu. Tuy nhiên, muốn bình an vô sự, e là khó.”

“Vâng.” Chiêu Thử gật đầu, “bởi vậy, cháu mới chưa chịu nhận lời. Giờ chú bảo cháu đồng ý, hẳn đã có kế hay?”

“Vương thúc cướp muối, là muốn cản ta đưa muối Tề vào Sính Đô. Muối Tề mà vào Sính Đô, suối muối trong tay vương thúc chắc chắn sẽ mất giá. Đất Sở tuy rộng lớn, song Sính Đô là đầu não, vương thúc kiểu gì cũng sẽ không chịu từ bỏ Sính Đô. Giờ đây, các hiệu muối của họ đều trở mặt giở trò, chính là cơ hội trăm năm một thuở của ta. Nếu vương thúc không muốn chúng ta mở hiệu muối ở Sính Đô, chỉ còn cách sinh sự phá ngang. Ngược lại, với ta, lại cần phải để cho họ sinh sự, càng ồn ào càng rầm rĩ càng tốt, như thế đại vương mới nổi giận, chúng ta cũng mới có cơ hội.”

Hiển nhiên, Chiêu Dương suy tính rất sâu xa.

“Vâng.” Chiêu Thử gật đầu.

“Hãy nhớ, việc này phải tuyệt đối bí mật, không được hé lộ với ai, càng không được phép sơ hở. Nếu bị tả đồ bắt được, cháu phải thà chết cũng không được khai nhận. Chỉ cần họ không có bằng chứng, vương thúc sẽ cứu cháu ra, chú cũng sẽ dễ dàng xử trí.”

“Cháu xin ghi nhớ.”

Theo như dự tính, chỉ một ngày nữa thôi, chuyến muối Tề đầu tiên gồm năm chục xe sẽ về tới Sính Đô.

Dân chúng Sính Đô hân hoan sung sướng, ngỏng cổ trông ngóng muối Tề. Cùng lúc này, miếu Vu Hàm ở hậu cung Sở do Ngận Thượng chủ trì xây dựng cũng sắp hoàn thành, Hoài Vương lấy làm phấn chấn, buổi chiều hôm đó triệu Khuất Bình, Bạch Vân nhập cung.

Hoài Vương hồ hởi dẫn hai người đi xem một lượt khắp trong ngoài miếu, sau đó giữ Bạch Vân lại, để cùng Trịnh Tụ, Ngận Thượng bàn việc chuẩn bị cho đại lễ khánh thành đại miếu, còn mình kéo Khuất Bình lên tiền điện.

“Khuất ái khanh,” Hoài Vương tươi cười nói, “không giấu gì khanh, từ khi lên ngôi đến giờ, quả nhân chưa lúc nào vui mừng như mấy hôm nay.”

“Dám hỏi đại vương, vui mừng vì chuyện gì?” Khuất Bình cười hỏi.

“Bởi vì tứ hỷ lâm môn!” Hoài Vương gập ngón tay tính, “chuyện vui thứ nhất, người Sính sắp có muối ăn; chuyện vui thứ hai, miếu Vu Hàm sắp hoàn thành, đại thần Vu Hàm trấn ở hậu cung, Sở Ba tới đây sắt cầm hoà hợp, mưa thuận gió hoà, ban phúc dài lâu; chuyện vui thứ ba, Chiêu Tuy tấu thỉnh, binh xưởng đã chế được vũ khí ô kim, quả nhân đã tự tay thử, thấy không hề thua kém vũ khí của Tần, nếu ta giao chiến với Tần lần nữa, người Tần không còn thế thượng phong về binh khí; chuyện vui thứ tư, Trần Chẩn gửi tiệp báo, nói rằng Tề Vương không chỉ lập minh ước giao hảo, còn gửi tặng quả nhân năm chục xe muối biển, hẹn quả nhân sau tiết Lập thu cùng đi săn ở Từ Châu!”

“Chúc mừng đại vương!” Khuất Bình vòng tay, “tứ hỷ lâm môn, quả là đại vương hồng đức sâu dày, Đại Sở ta thời vận may mắn!”

Hoài Vương phá lên cười lớn, đoạn nhìn thẳng vào Khuất Bình: “Hồng đức gì kia, thời vận gì kia, quả nhân chỉ thấy một điều, chính là đã dùng đúng một người, là Khuất ái khanh đây!”

Khuất Bình vòng tay: “Thần vô cùng e sợ, hổ thẹn không dám nhận!”

“Đáng nhận, đáng nhận,” Hoài Vương hân hoan ra mặt, “quả nhân có được khanh, khác nào năm xưa Tần Công có được Thương Ưởng!”

“Tạ ơn đại vương yêu lầm!” Khuất Bình đáp, “đại vương nếu đã ví thần với Thương Ưởng, thì thần lại xin được tấu một câu!”

“Khuất Tử,” Hoài Vương chìa tay, “chớ nói là một câu, dù có mười câu, trăm câu, khanh cũng hãy nói ra đi!”

“Ô kim, muối Ba, đều chỉ là bề ngoài, động bên ngoài mà không động bên trong, cũng chỉ uổng công. Nước Sở tật xấu tích luỹ, như người mắc bệnh trầm kha, đại vương nếu không kiên quyết tới cùng, e là nỗ lực trước đây sẽ đổ sông đổ bể!” Khuất Bình sắc mặt ưu tư.

Hoài Vương đang định lên tiếng, bỗng một cung nhân bước vào, khấu đầu hô: “Đại vương, nước thơm đã chuẩn bị xong!”

“Được!” Hoài Vương đáp rồi quay sang Khuất Bình, khẽ cười vài tiếng, “cái bên trong mà khanh vừa nói, cần phải xử trí thế nào, là chuyện vô cùng trọng đại, ta hãy tắm gội xông hương trước, rồi hãy bàn tiếp.” Nói đoạn chìa tay, “tả đồ đại nhân, mời!”

Khuất Bình hiển nhiên không ngờ tới chuyện này, còn đang do dự, Hoài Vương đã tiến lại gần, níu lấy tay áo Khuất Bình, dẫn thẳng vào phòng thay y phục bên hồ tắm hậu cung. Cung nhân đã đứng hầu sẵn, nhanh nhẹn giúp hai người cởi bỏ trang phục.

Hồ tắm nằm trong phòng kín, chia thành hai bên nóng lạnh. Hồ lạnh rất lớn, lát đá cẩm thạch, rộng hai trượng, dài năm trượng, đủ cho hai chục người bơi lội thoải mái, vốn là nơi Hoài Vương cùng phi tử vui chơi vào mùa hè thu. Bên cạnh hồ lạnh có một gian phòng đơn, trong phòng có bể nước nóng, rộng chừng một trượng vuông, dưới bể đặt lò lửa, đốt than suốt ngày, khiến nước bể luôn ấm nóng. Trong bể thả đủ loại thảo dược và cỏ thơm, là nơi xông hơi thư giãn, Hoài Vương gọi đó là bể thơm.

Khuất Bình mình trần, e dè sợ sệt, đang lúc lúng túng, đã bị Hoài Vương lôi tuột xuống bể nóng. Nước bể nóng sực, chưa đầy một khắc, Khuất Bình đã mồ hôi đầm đìa. Hoài Vương cũng mồ hôi đẫm trán, nhưng trông rất thư thái, sảng khoái tận hưởng làn hơi nóng.

“Khuất ái khanh, hãy kỳ lưng cho quả nhân!” Hoài Vương quay lưng lại phía Khuất Bình, “nghe nói con người do cát bụi tạo ra, nghĩ cũng đúng thực. Quả nhân hôm nào cũng kỳ lưng, vậy mà cáu bẩn không bao giờ hết.”

“Thần tuân chỉ!” Khuất Bình cầm khăn, kỳ cọ trên lưng Hoài Vương. Mới được vài cái, cáu ghét đã bong từng vệt, vun lại thành nhúm trên vai Hoài Vương.

Hoài Vương đưa tay lên sờ thấy, lấy làm kinh ngạc: “Chao ôi, cung nhân hôm nào cũng kỳ lưng cho quả nhân, nhưng có bao giờ kỳ ra nhiều cáu ghét thế này?”

“Hẳn là họ sợ làm đại vương đau!” Khuất Bình cười đáp.

“Khanh không sợ ư?”

“Đại vương lệnh cho thần kỳ ghét, trong mắt thần, chỉ có cáu ghét mà thôi!”

“Trả lời hay lắm!” Hoài Vương ngâm mình xuống nước, xối sạch cáu ghét, đoạn cầm lấy khăn, “khanh quay lưng lại đây!”

Khuất Bình quay lưng lại. Hoài Vương ra sức kỳ cọ, cũng kỳ ra từng vầng cáu ghét. Hoài Vương bật cười lớn, nói: “Khuất Tử, xem này, cáu ghét trên người khanh cũng đâu có kém quả nhân!”

Khuất Bình cũng bật cười.

Hai người kỳ cọ xong xuôi, Hoài Vương chỉ vào người mình, lại chỉ vào Khuất Bình, cất giọng đầy ẩn ý: “Khuất ái khanh, trong số các bề tôi, người đầu tiên, e rằng cũng là người cuối cùng được tắm chung với quả nhân, chính là khanh đấy!”

“Tạ ơn đại vương yêu mến!” Khuất Bình vòng tay đáp.

“Không giấu Khuất Tử, quả nhân trước đây đã hiểu sai về khanh rồi.”

“Đại vương?” Khuất Bình ngơ ngác.

Hoài Vương bật cười vài tiếng, giọng nửa đùa nửa thật: “Quả nhân cứ ngỡ khanh chỉ là người nội tâm thông tuệ, giỏi nghề thi phú văn từ, đến nay mới thấy, khanh quả là nội ngoại hoàn mỹ, toàn thân không chút tì vết, thật xứng danh là đệ nhất mỹ nhân trong thiên hạ!”

“Đại vương quá lời, thần không dám!”

“Mỹ nhân chính là mỹ nhân, có gì không dám?”

“Đệ nhất mỹ nhân trong thiên hạ, phải là đại vương mới đúng!”

“Vì đâu mà nói vậy?”

“Đại vương thể rồng vóc ngọc, tiếp nhận đạo của đất trời, kế thừa đức của Nghiêu Thuấn, không giận mà uy, không xung mà cương, trong uy có nhân, trong cương có nhu, bên trong trí tuệ, bên ngoài đẹp đẽ, trong ngoài như một, danh xưng đệ nhất mỹ nhân thiên hạ, ngoài đại vương ra, ai dám tranh giành?”

Hoài Vương phá lên cười sảng khoái: “Thật không ngờ miệng lưỡi của Khuất ái khanh mà nói ngọt, đến Ngận Thượng, Trịnh phi cũng không địch nổi!”

“Cùng là lời nói ngọt, song tính chất lại khác.”

“Ồ,” Hoài Vương ngạc nhiên, “nói ngọt cũng chia ra tính chất ư? Khanh nói thử xem, khác nhau ở đâu?”

“Hồi bẩm đại vương,” Khuất Bình đáp, “thượng quan đại nhân và nương nương nói ngọt, là cho đại vương hôm nay, còn thần nói ngọt, là cho đại vương ngày sau, tính chất khác hẳn!”

Hoài Vương ra chiều ngẫm ngợi, hồi lâu sau, bước lên khỏi bể, cung nhân đứng hầu liên tiến lại, lau người khoác áo cho Hoài Vương. Khuất Bình cũng bước lên, mặc áo, ngồi xuống đôn gỗ đối diện vói Hoài Vương.

“Khuất ái khanh,” Hoài Vương xua cung nhân đi, nhìn thẳng vào Khuất Bình, “hai ta tắm chung một bể, trần trụi nhìn nhau. Có thể trần trụi nhìn nhau, không chút giấu giếm, chính là tri kỷ, chính là gan ruột, ngay đến anh em ruột thịt, chưa chắc đã bằng!”

“Đại vương…” Khuất Bình cuối cùng đã hiểu tại sao Hoài Vương lại kéo mình tắm chung, nhất thời cảm động không nói nên lời.

“Khuất Bình,” Hoài Vương thu thần, khẽ ngả người lại, nhìn Khuất Bình chăm chú, “hai ta giờ đây, còn hơn cả anh em ruột thịt, vậy thì chuyện bên trong mà khanh nhắc đến, đã có thể bàn đến được rồi. Thường có câu, việc có tuần tự, được tấc đòi thước. Đã có bốn hỷ sự trải đường, vua tôi chúng ta coi như đã tiến được một tấc, tiếp theo đây, cần tính xem, phải làm thế nào để tiến thêm một tấc!” Dừng lại một thoáng, nhìn thẳng vào Khuất Bình, “còn nhớ lần trước, khanh đã nhiều lần thúc giục, muốn quả nhân biến pháp trị gốc, quả nhân vẫn chưa phê chuẩn. Không phải là quả nhân không muốn phê chuẩn, mà là cơ duyên chưa tới. Mấy ngày nay, quả nhân cứ hễ rảnh rỗi, lại nghiền ngẫm bản tấu của khanh, càng đọc càng muốn đọc nữa, càng đọc càng xúc động khôn nguôi. Tất cả, đều đúng như lời khanh tấu, biến pháp cải chế, xoá bỏ đặc quyền, phải động tới tận nền móng phong quân, không biết sẽ có bao nhiêu người không cam chịu!”

“Vâng!”

“Nếu như cải chế, sẽ là một trường ác chiến, quả nhân sẽ ủng hộ khanh, nhưng khanh cũng nên chuẩn bị chu đáo. Chó cùng dứt dậu, nếu bị ta ép tới đường cùng, họ sẵn sàng làm ra đủ chuyện liều lĩnh! Năm xưa Ngô Khởi cải chế, kết cục ra sao, khanh cũng biết rõ cả rồi.”

“Tấm lòng tri ngộ của đại vương, thần có chết vạn lần cũng không đủ báo đáp!”

“Khuất ái khanh,” Hoài Vương xua tay, cười nói, “từ hôm nay trở đi, chớ nên nhắc tới chuyện chết chóc nữa, bởi hai người chúng ta, không ai được chết! Trước tiên là quả nhân không được chết. Nhớ năm xưa, Điệu Vương vừa băng hà, Ngô Khởi liền chết dưới muôn tên; Hiếu Công vừa quy tiên, Thương Ưởng liền chịu năm xe xé xác. Còn khanh, khanh cũng không được chết. Không có khanh, quả nhân khác nào Điệu Vương không có Ngô Khởi, Hiếu Công không có Thương Ưởng, trước thói tệ lâu năm của Đại Sở, quả nhân cũng chỉ biết than thầm vô vọng mà thôi.”

“Thần…” Khuất Bình đứng dậy, khấu đầu mà nói, “xin tuân lệnh!”

“Để cho chắc chắn,” Hoài Vương nhìn thẳng vào Khuất Bình, chậm rãi nói tiếp, “chúng ta chớ gọi đó là biến pháp, cũng chớ gọi đó là cải chế, hãy gọi là chế hiến lệnh. Lần lượt lập ra từng hiến, lần lượt thực thi từng lệnh, vua tôi chúng ta cứ từ tốn mà làm, tiến chắc từng bước, lặng lẽ âm thầm mà thành đại nghiệp!”

Khuất Bình vòng tay: “Đại vương thánh minh!”

“Danh có chính thì ngôn mới thuận.” Hoài Vương dừng một chốc, dõi mắt xa xăm, “Chiêu Dương già rồi, không làm nổi đại sự. Quả nhân có ý để khanh tiếp nhận chức lệnh doãn của ông ta. Trong cung có quả nhân, ngoài cung có Khuất ái khanh, vua tôi hợp sức, tương lai của Đại Sở sẽ được an định. Khanh phải tâm niệm rõ trong lòng, phàm mọi sự mọi việc, đều phải tính toán lầu dài, bao quát toàn cục!”

Khuất Bình bàng hoàng chết sững, quên cả khấu tạ.

Nhìn bộ dạng kinh hãi của Khuất Bình, Hoài Vương phá lên cười lớn: “Giờ nói chuyện này vẫn hơi sớm, quả nhân đang tìm cơ duyên thích hợp. Muốn động tới Chiêu Dương, không phải chuyện dễ dàng.”

Vua tôi lại bàn bạc thêm một hồi về chuyện tạo hiến lệnh và thi hành hiến lệnh, rồi mới thay đổi phục trang, quay về tiền điện, thấy ba người Nam hậu, Ngận Thượng và Bạch Vân đang ngồi chờ.

Hoài Vương cười vui vẻ, nhìn sang Bạch Vân: “Bạch tư tế, bàn thế nào rồi?”

“Nhờ hống phúc của đại vương,” Bạch Vân mỉm cười đáp, “việc miếu Vu Hàm đều đã ổn thoả, chỉ cần lựa chọn ngày lành, cử hành lễ tế!”

“Đã là lễ tế Vu Hàm,” Hoài Vương dõng dạc tiếp lời, “vậy thì ngày lành giờ tốt, sẽ do tư tế quyết định!”

“Lễ tế miếu Vu Hàm, xưa nay vẫn cử hành vào giữa trưa ngày vọng hàng tháng, song miếu này ở trong cung của đại vương, có thể lựa chọn giờ bình đán^[Bình đán, cách tính giờ thời cổ đại, tức thời điểm mặt trời sắp mọc, tương đương với giờ Dần, tức khoảng từ 3 đến 5 giờ sáng.] ngày sóc hàng tháng!”

“Bình đán ngày sóc?” Hoài Vương ngẫm nghĩ chốc lát, lại nhìn sang nàng, “tư tế chọn thời điểm này, hẳn có nguyên do?”

“Ngày sóc là ngày đầu tiên của tháng, bình đán là giờ đầu tiên của ngày sóc. Ngày sóc là ngày đứng đầu một tháng, bình đán là giờ đứng đầu một ngày, đại vương đứng đầu một nước, đại vương tế lễ vào giờ bình đán ngày sóc, là khởi đầu một tháng mới, đại thần Vu Hàm cảm kích trước thành ý của đại vương, sẽ ban mưa thuận gió hoà, ơn huệ khắp bốn phương. Trong triều ngoài nội đều đắc lợi, bèn tới ngày vọng, cùng nhau tế lễ, để tạ ơn đại thần Vu Hàm cùng đức dày của đại vương!” Bạch Vân điềm đạm giải thích.

“Nói hay lắm!” Hoài Vương vòng tay, nhìn sang nội doãn, “soạn chỉ, phong tư tế Bạch Vân núi Vu Hàm làm tế doãn miếu Vu Hàm của vương thất, cai quản việc cúng tế của toàn bộ miếu Vu Hàm trên đất Sở, Ba!”

“Thần lĩnh chỉ!” Nội doãn đáp.

Tạ ơn đại vương hậu đãi!” Bạch Vân vòng tay đáp, “có điều, đất Sở mênh mông, nhưng miếu Vu Hàm thưa thớt như sao sớm, Bạch Vân không biết cai quản thế nào!”

“Đây chính là việc tới đây phải cậy nhờ tế doãn!” Hoài Vương nhìn sang Trịnh Tụ và Ngận Thượng, “ái phi, Ngận ái khanh, hai người hãy trợ giúp tế doãn, truyền chỉ lệnh của quả nhân, trên khắp đất Sở, cứ ấp vạn người, đều phải lập một miếu Vu Hàm, cúng tế đại thần Vu Hàm theo nghi lễ tế Đông Hoàng của ta, cầu đại thần phù hộ Đại Sở ta mưa thuận gió hoà, quốc thái dân an!”

Hai người thụ mệnh. Trịnh Tụ mỉm cười vòng tay. “Đại vương, thần thiếp có tấu!”

“Cứ nói.” Hoài Vương nhìn sang Trịnh Tụ.

“Miếu thờ vừa mới xây xong, ngày sóc lại sắp tới gần, muốn tế đại lễ miếu Vu Hàm, có trăm nghìn việc phải làm, thần thiếp lực bất tòng tâm, muốn mời tế doãn lưu lại trong cung, để tiện bàn bạc thương lượng.”

“Khuất ái khanh,” Hoài Vương quay sang Khuất Bình, tươi cười nói, “nương nương thỉnh cầu để tế doãn lưu lại trong cung, ý khanh thế nào?”

“Thần kính cẩn vâng lệnh nương nương!” Khuất Bình vòng tay đáp.

Đang lúc bàn bạc, cung nhân trong phiên trực dẫn Chiêu Dương hối hả bước vào.

Hành lễ xong, Chiêu Dương ngồi vào chỗ.

“Chiêu khanh,” Hoài Vương nhìn Chiêu Dương dò xét, “trông thần sắc của khanh, hẳn là có chuyện?”

“Hồi bẩm đại vương, đúng là đã có chuyện!” Chiêu Dương vòng tay đáp.

“Chuyện gì?”

“Muối biển đã bị đạo tặc chặn cướp!”

“A!” Cả mấy người không hẹn mà cùng buột kêu lên, nhất là Hoài Vương, bàng hoàng đến chết lặng.

“Chuyện xảy ra tối qua!” Chiêu Dương chậm rãi tấu báo, “thần phái gia nô Hình Tài đôn đốc việc chuyển muối. Đoàn xe đi qua Kinh Môn thì sắc trời đã tối, bèn tìm chỗ rộng rãi gần đó nghĩ lại. Ngủ tới nửa đêm, bỗng một toán người hung hãn xông vào, dùng dao uy hiếp, bắt trói toàn bộ người chuyển muối, nhét giẻ vào miệng, vứt vào trong rừng, rồi chuyển toàn bộ muối trên năm chục xe đi mất.”

Đạo tặc dám ngang nhiên cướp muối Tề phụng vương mệnh chuyển về ngay trong Kinh Môn, lại cướp sạch trơn không sót một bao, thực là ngoài sức tưởng tượng, liều lĩnh ngông cuồng tới cực điểm.

Hoài Vương giận dữ tới tay chân run bắn, nhất thời không thốt nổi một lời.

“Đến khi trời sáng, có người vào rừng, mới thấy đám người bị trói nghiến ở đó mà giải cứu cho họ. Hình Tài lập tức phái người đi báo quan, sau đó gấp rút về Sính, báo lên vi thần. Thần biết là chuyện nghiêm trọng, nên vội vào cung bẩm tấu đại vương!”

Hoài Vương nhìn sang Khuất Bình.

“Có chắc là chúng đã khiêng hết toàn bộ số muối?” Khuất Bình hỏi lại.

“Nghe Hình Tài bẩm báo, xe và ngựa chúng đều không động đến, chỉ khiêng các bao muối đi. Bọn chúng thảy đều bịt mặt, sau khi xử trí họ xong, lập tức tẩu tán theo đường mòn, loáng cái đã lẩn vào trong rừng mất hút, không còn dấu vết. Thần đã phái hình doãn tới hiện trường, điều tra truy bắt đạo tặc!”

Khiêng được hết những năm chục xe muối, số người đương nhiên không ít.

“Khanh hãy truyền dụ hình doãn,” Hoài Vương nhìn sang Chiêu Dương, gằn mạnh từng tiếng, “cấp tốc truy bắt đạo tặc, tống hết vào tử lao!”

Trương Nghi đi sứ sang Sở.

Trương Nghi chưa vội tới Sính Đô ngay, mà đi thẳng tới đất phong của Kỷ Lăng Quân, cũng như lần trước, đi lẫn trong thương đoàn, không giương cờ hiệu.

Đám Kỷ Lăng Quân, Ngạc Quân, Bành Quân đã nhận được tin từ trước, đều tới Kỷ Lăng, cung kính chờ sẵn.

Trong tiệc tẩy trần, Trương Nghi gác đũa, thở dài thườn thượt, không ăn không uống.

Là khách chính, Trương Nghi chưa động đũa, nào ai dám động.

Mấy người bồi tiếp đưa mắt nhìn nhau, vương thúc ngồi chiếu chủ, không khỏi sượng sùng: “Trương Tử, thế này là…”

“Than ôi…” Trương Nghi lại thở dài một tiếng, vẫn chưa động đũa.

“Vương thúc,” Xa Vệ Tần tiếp lời, “hẳn là tướng quốc đang nghĩ tới chuyện ở Hàm Dương, nên mới không thiết ăn uống.”

“Chuyện ở Hàm Dương?” Vương thúc nhìn sang Xa Vệ Tần.

Xa Vệ Tần bèn kể lại một lượt chuyện đám quyền quý Hàm Dương, nhất là Tần Vương, đã trách cứ Trương Nghi về chuyện giá muối ngất ngưởng ra sao, chúng nhân nghe vậy, chỉ biết tặc lưỡi xuýt xoa.

“Chư vị có điều không biết,” Trương Nghi cười nhăn nhó, “tối hôm đó, Tần Vương bày yến trong cung, mời các vương công trọng thần tới dự,” chỉ vào Xa Vệ Tần, “hắn đương nhiên không đủ tư cách dự yến…” đoạn dừng lại nửa chừng.

“Yến tiệc gì vậy?” Tử Khải sốt sắng hỏi.

“Sơn hào hải vị, không thiếu món gì.” Trương Nghi lại cười gượng gạo, “ai nấy chỉ muốn ăn ngay cho thoả thích, song Tần Vương lại thủng thẳng cầm dao, cắt một miếng thịt, bảo tại hạ nếm thử. Tại hạ ăn xong, Tần Vương lại gắp một lượt thức ăn cho tại hạ, rồi hỏi mùi vị thế nào.”

“Trương Tử trả lời ra sao?” Tử Khải càng nghe càng nôn nóng.

“Tại hạ chỉ biết có sao nói vậy, tất cả đều ngon, chỉ thiếu một vị.”

“Vị gì?” Bành Quân cũng không nén nổi tò mò.

“Vị muối.”

“Sao lại không nêm muối?” Tử Khải ngạc nhiên hỏi.

“Phải,” Trương Nghi chậm rãi nói tiếp, “Nghi cũng hỏi như vậy, Tần Vương mới đáp, muối Sở mà tướng quốc buôn về quá đắt, quả nhân không ăn nổi.”

Thấy hắn vòng vo một hồi, lại là chuyện giá muối, mọi người đều ngắc ngứ, không biết nói gì, trong tiệc một bầu trầm nặng.

“Trương Tử, khổ cho Trương Tử rồi.” Hồi lâu sau, vương thúc mới lên tiếng, đoạn nâng chén, “Mị Thu xin mượn chén rượu nhạt này, giúp Trương Tử xua tan cơn kinh sợ.”

“Không giấu vương thúc,” Trương Nghi nâng chén uống cạn, đoạn cười nói, “kinh sợ thì không có, chỉ là tại hạ có miệng cũng khó phân trần mà thôi. Nói gì thì nói, thương vụ lần này là do tại hạ thương thảo, khế ước cũng là do tại hạ bảo Xa Vệ Tần lập, rượu mình tự ủ, cay đắng đến mấy cũng phải nuốt thôi!” Lắc đầu thở dài, “than ôi, người ta cứ bảo tại hạ lưỡi dẻo tựa lò xo, vậy mà tối đó, tại hạ miệng lưỡi cứng đờ, không biện bạch nổi một câu, thực là mất mặt.”

Trương Tử xem thế này có được không?” Vương thúc ngẫm nghĩ một thoáng, rồi tiếp lời, “để ta bàn với mọi người, bồi thường cho Trương Tử năm trăm hoàn vàng, gọi là bù đắp phần nào.”

“Vương thúc, không được!” Trương Nghi vội vã ngắt lời, “buôn bán là buôn bán, khế ước là khế ước. Hôm đó khi lập khế ước, Nghi chỉ nghĩ tới thị giá, mà nào ngờ thị giá lại tăng vùn vụt, bài học này, có bao nhiêu vàng cũng không mua được. Nghi đời này đã nói là phải làm, đã hứa là phải thực hiện, đâu có thể vì năm trăm hoàn vàng mỏn mọn mà phá bỏ quy tắc?”

“Trương Tử nói phải lắm,” vương thúc cũng thở dài một tiếng, “lúc lập khế ước, thị giá đúng là một cân một thù thực. Nhưng bởi khoản bồi hoàn quá lớn, Trương Tử lại không muốn thứ khác, chỉ muốn muối ăn, hiệu muối các nơi chẳng biết làm sao, chỉ biết vét hết muối Ba, dốc sạch kho lẫm, để chở sang Tần. Người Sở không thể thiếu muối Ba, đều đổ tới hiệu muối tranh mua, hiệu muối lại không thể nói không còn muối bán, đành phải tăng giá, tăng tới tăng lui, thị giá mới lên vùn vụt. May sao đại vương mua được ít muối biển từ Tề, bằng không Mị Thu thực không biết phải làm sao để cứu vãn sự việc.

“Thật không ngờ, sai lầm của tại hạ lại đẩy vương thúc vào chỗ khó xử.” Trương Nghi nâng chén, “chúng ta cùng chung hoạn nạn, xin cạn chén này!”

Chúng nhân cùng nâng chén.

“Dám hỏi Trương Tử, lần này tới Sở, hẳn có điều muốn Mị Thu dốc sức?”

“Việc muối Ba lần này, quả thực đã khiến Tần Vương giận dữ, vừa trách cứ tại hạ không biết buôn bán, vừa chê trách người Sở gian trá, bày mưu lừa gạt. Tại hạ ra sức giải thích, rằng vương thúc không phải người như vậy, rằng người Sở không thể thiếu muối Ba, rằng muối Ba phải vét sạch bán cho người Tần theo khế ước, giá muối tự khắc tăng cao, vân vân. Nhưng Tần Vương nhất quyết không nghe, một hai đòi khởi binh phạt Sở, để đòi lại món nợ này. Việc này không chỉ liên quan tới thể diện của tại hạ, mà còn liên quan tới thể diện của vương thúc cùng chư vị vương thân, tại hạ trong lúc cấp bách, mới buột miệng mà rằng, sao đại vương có thể xuất binh thảo phạt nhà cha vợ. Tần Vương sửng sốt, hỏi cha vợ ở đâu ra. Tại hạ mới kể về Nguyệt công chúa, ca ngợi nàng chẳng khác thiên tiên. Tần Vương không tin, dò hỏi Xa Vệ Tần, thấy Vệ Tần cũng nói vậy, mới bắt đầu động lòng, đòi tại hạ lập tức đi sứ sang Sở cầu thân.” Trương Nghi nói đoạn, lấy từ trong tay áo ra tờ danh sách lễ vật, hai tay trình lên, “sính lễ ở đây, mong vương thúc hạ cố nhận cho!”

“Đáng quý thay, Trương Tử không tính toán được mất, dốc lòng giúp rập, không chút quản công để mong Sở Tần hoà thuận, Mị Thu xin tỏ lòng tôn kính!” Vương thúc vòng tay nói.

“Vương thúc,” Trương Nghi vòng tay đáp lễ, chỉ vào lưỡi mình, “Khổng Tử có câu, quân tử khiêm nhường, động khẩu không động thủ, tại hạ nhờ vào thứ này để kiếm cơm ăn, thực tình không muốn thấy cảnh giao tranh. Sở Tần láng giềng hoà mục, bất luận với Tần hay là với Sở, cũng đều có lợi lâu dài, vương thúc thấy có phải không?”

“Quả là một vị quân tử khiêm nhường!” Vương thúc mỉm cười, nhưng trong lòng biết tỏng câu nói của Khổng Tử kia là do Trương Nghi bịa tạc. Vương thúc nhận lấy sính lễ, đưa cho Xa Vệ Tần, “đã là Tần Vương cầu thân, chính là quốc sự, sính lễ này, Trương Tử vẫn nên đích thân dâng lên đại vương mới phải.” Quay sang Tử Khải, “ngày mai, chúng ta sẽ theo sứ Tần về Sính, cháu hiền hãy đi trước một bước, bẩm lên đại vương chuyện Tần Vương cầu hôn Nguyệt công chúa!”

“Khải Nhi xin vâng lệnh!”

Giữ Bạch Vân lại trong cung là chủ ý của Ngận Thượng. Hậu cung mỹ nữ như mây, ghen tuông tranh sủng ái trước mặt đại vương thực không phải việc sáng suốt. Bất kể là ai, dù quý đến như Nam hậu, cũng phải chiều theo ý đại vương, mới có thể mưu tính lâu dài.

Trinh Tụ hễ đã nghĩ thông, làm việc gì cũng sẽ làm đến nơi đến chốn. Vì muốn giúp đại vương tác thành chuyện tốt, Trịnh Tụ tính toán kỹ lưỡng, sẽ tìm cách để Bạch Vân nghi lại Nam cung, ngủ chung một phòng với mình, rồi mời đại vương tới Nam cung lâm hạnh, cho Bạch Vân tận mắt chứng kiến hùng phong của đại vương, bảo nàng ta không xiêu lòng mới lạ.

Màn đêm buông xuống, Trịnh Tụ y kế, mời Bạch Vân tới ngủ cùng phòng. Nào ngờ vừa mở lời, Bạch Vân đã dứt khoát khước từ, nói mình là người của đại thần Vu Hàm, từ nhỏ chỉ ngủ trong thần miếu, phụng sự đại thần Vu Hàm, không quen ngủ chung với người. Miếu Vu Hàm giờ đã xây xong, thân là tư tế, Bạch Vân lưu lại trong miếu cung phụng đại thần là chuyện hợp lý hợp tình. Trịnh Tụ nài nỉ không được, đành phải từ bỏ ý định, đồng thời với đó, cũng hiểu được tấm lòng kiên trinh của Bạch Vân, mới ngỡ ra rằng chuyện trước kia chỉ bởi mình ghen tuông thái quá mà thôi.

Song Hoài Vương lại không nghĩ vậy.

Từ lúc Bạch Vân ở lại hậu cung, Hoài Vương đã thần hồn bấn loạn, hễ vừa nhắm mắt, hết mường tượng thấy cảnh Bạch Vân múa điệu vu khúc, bóng hình diễm lệ, dáng điệu say lòng, lại mơ mòng tưởng nhớ đến giấc mộng cùng nàng mây mưa trên núi Vu Sơn.

Đại lễ khánh thành miếu Vu Hàm đã được cử hành đúng hạn. Mọi việc do đích thân Nam cung Trịnh Tụ lo liệu, lại rất được Hoài Vương chú trọng, vậy nên toàn bộ hậu cung đều tới dự lễ. Chủ tế Bạch Vân đăng đàn hiến vũ, vai vu dương vẫn là Khuất Bình. Hoài Vương không biết phải nói gì, trong lòng bất giác có đôi phần thất vọng.

Vài ngày sau đại lễ, Hoài Vương lại càng tinh thần rầu rĩ, có lúc thậm chí không thiết ăn uống, cũng chẳng buồn vời bất cứ hậu phi nào hầu hạ, cả ngày bận rộn việc triều chính, tối đến lại ngồi trong ngự thư phòng nghĩ ngợi vẩn vơ, nghĩ mệt rồi thì ngủ ngay tại đó.

Tới đêm thứ năm, cuối cùng thì Hoài Vương đã không nhẫn nhịn nổi nữa, bèn sai nội doãn kín đáo đi mời Bạch Vân tới.

Lúc này, đêm đã về khuya, không gian lặng phắc như tờ, trong ngự thư phòng, ánh đèn mờ tỏ.

Khi Bạch Vân bước vào, Hoài Vương đang giả bộ chăm chú đọc duyệt tấu chương, trên án đặt một chén trà.

“Đã khuya lắm rồi, đại vương còn chưa nghỉ ư?” Bạch Vân đứng một lát, thấy Hoài Vương vẫn cắm cúi đọc, bèn lên tiếng, nửa là hỏi han, nửa là đánh tiếng.

“Ồ, tế doãn đấy ư?” Hoài Vương buông bút son, ngẩng lên nhìn nàng, “mấy hôm nay, quả nhân có chút muộn phiền, thần hồn bất định!”

“Đại vương có gì phiền muộn, đến nỗi thần hồn bất định?” Bạch Vân nghiêng đầu hỏi.

“Muộn phiền, là bởi chuyện cướp muối; thần hồn bất định, là bởi những tấu chương này!” Hoài Vương chỉ vào chồng tấu sớ trước mắt.

“Đạo tặc vẫn chưa bắt được ư?” Bạch Vân hỏi.

“Mới bắt được vài tên, vẫn đang tiếp tục tróc nã.”

“Vậy đại vương cho gọi tiểu nữ, là bởi chuyện thân hồn bất định?”

“Chính phải,” Hoài Vương cười buồn, chỉ vào đống tấu chương trước mặt, “nhất là mấy bản tấu của Khuất Bình, quả nhân xem đi xem lại, càng xem càng không tài nào ngủ được.”

“Khuất đại nhân tấu báo những gì?” Vừa nghe nhắc tới Khuất Bình, Bạch Vân liền tỏ ra chăm chú.

“Tấu báo về việc khiến Sở nội trị. Khuất Bình nói rất đúng, nước đa phần mất bởi nội bất trị, nước Ngụy biến pháp trị nội, khiến thế Ngụy hưng thịnh sáu mươi năm, độc bá Trung Nguyên. Nước Tần biến pháp trị nội, khiến thế Tần trỗi dậy, thiên hạ phải e dè. Thiên hạ đều đã biến pháp, duy có Đại Sở ta, thói tệ tích tụ lâu ngày, tụt hậu hơn người. Tiên vương cũng từng cải chế, nhưng tế doãn biết đấy, Ngô Khởi biến pháp, đứt gánh giữa chừng…”

“Đại vương, nếu là quốc sự,” Bạch Vân cắt ngang, “sao không mời Khuất đại nhân vào cung bàn bạc? Thân là tư tế, Bạch Vân chỉ biết phụng sự thần linh, nào có hiểu chuyện thiên hạ trị loạn!”

“Than ôi,” Hoài Vương khẽ thở dài, “tế doãn nói phải.

Quả nhân mời tế doãn tới đây, là muốn…là muốn cùng chuyện trò chốc lát.”

“Đại vương có chuyện gì, xin hãy nói đi.”

“Tế doãn, mời ngồi,” Hoài Vương chỉ vào chỗ đối diện, quay sang nội doãn, “dâng trà mời tế doãn!”

“Tạ ơn trà thơm của đại vương,” Bạch Vân vòng tay đáp, “Bạch Vân sớm đã có thói quen, quá ngọ không ăn, tối đến không uống!”

“Vậy ư?” Hoài Vương cười gượng, “được, vậy quả nhân sẽ không mời tế doãn dùng trà nữa. Dám hỏi tế doãn, có thể cho quả nhân xem một vũ điệu được chăng?”

“Vũ điệu gì kia?” Bạch Vân hỏi.

“Ồ…” Hoài Vương ngập ngừng chốc lát, “chính là vũ điệu mà tế doãn đã nhảy múa trên đàn tế vào hôm xảy ra chuyện của Tử Khải.”

“Vũ điệu đó là để dâng hiến lên thần Vu Hàm, không phải tế lễ, không được phép nhảy múa. Lúc này không phải lúc tế lễ, xin đại vương chớ ép Bạch Vân.”

“Bình thường chẳng phải tế doãn cũng nhảy múa đó ư?” Hoài Vương nheo mắt nhìn nàng, “cái hôm ở nhà cỏ của Khuất Bình.”

“Đó là bởi Khuất đại nhân muốn học đại vũ Vu Hàm, cầu Bạch Vân dạy, Bạch Vân thỉnh thị đại thần Vu Hàm, đại thần giáng dụ, cho phép truyền dạy, nên Bạch Vân mới nhảy để dạy cho Khuất đại nhân.”

“Hay lắm!” Hoài Vương phấn chấn ra mặt, “quả nhân cũng muốn học vũ điệu đó, xin tế doãn dạy cho quả nhân!”

“Đại vương thì không được.”

“Sao kia?” Hoài Vương sầm ngay nét mặt, “xin hỏi tế doãn, cớ sao Khuất Bình học được mà quả nhân thì không?”

“Bởi Khuất Bình là Khuất Bình, còn đại vương là đại vương.”

“Ồ…” Hoài Vương không hiểu.

“Khuất Bình là con dân của đại vương, Bạch Vân là con dân của đại thần Vu Hàm. Đại thần Vu Hàm là chúa tể của bầu trời Ba Sở, đại vương là chúa tể của mặt đất Sở Ba. Khuất Bình học vũ điệu, là để cung phụng đại thần Vu Hàm, để đại thần giáng phúc cho dân Sở, vậy nên Bạch Vân mới dạy. Còn đại vương, thân là vua của đất Sở Ba, đại vương dù có muốn học, Bạch Vân cũng không dám dạy!”

Hoài Vương bật cười hài lòng: “Vậy thì xin tế doãn hãy múa một khúc cho quả nhân thưởng thức, hẳn là được chứ?”

“Đại vương nếu muốn thưởng thức vũ điệu, xin hãy vời Khuất đại nhân nhập cung, có đại nhân làm vu dương, Bạch Vân mới múa được.”

“Ồ…” Hoài Vương chép miệng.

“Đại vương, nếu không còn chuyện gì, Bạch Vân xin được cáo lui. Bạch Vân xưa nay quen ngủ sớm, để sáng ngày còn phải luyện công.” Vừa dứt lời, Bạch Vân lập tức quay người, khoan thai bước đi.

Hoài Vương đứng dậy, tiễn ra cửa điện, rồi lại tiễn tới hậu cung, dõi mắt nhìn theo Bạch Vân bước qua cổng miếu, lách người vào trong, rồi đóng cổng cài then kín mít.

Bạch Vân cũng biết Hoài Vương đang ở phía sau, cố tình cài then lớn tiếng.

Hoài Vương khẽ thở dài, quay đi, chậm chạp nhấc bước trở về ngự thư phòng.

Đoàn xe Trương Nghi giương đủ các loại cờ hiệu đề chữ “sứ”

“Tần” “cầu thân”, rầm rộ suốt dọc đường, tiến thẳng tới Sính Đô. Cùng lúc đó, Tử Khải đã về cung thành trước, bẩm báo tường tận với Hoài Vương chuyện vua Tần muốn kết tình thân, phái tướng quốc Trương Nghi đi sứ cầu hôn Nguyệt công chúa.

Hoài Vương sững sờ kinh ngạc.

Hiển nhiên, nước cờ này của Tần Vương, Hoài Vương chưa từng nghĩ tới. Trận chiến Tích Thuỷ còn chưa dứt, mối thù Thương Ư còn chưa trả, mà Tần Vương lại đi trước một bước, phái trọng thân đi sứ cầu thân, hơn nữa đối tượng cầu thân lại không phải con gái Hoài Vương, mà là con của chị gái Hoài Vương, Mị Nguyệt, mà nói đúng ra, phải gọi là Ngụy Nguyệt, quả thực đã khiến Hoài Vương như sa vào trăm dặm sương mù.

Hoài Vương lập tức cho vời Khuất Bình và Ngận Thượng vào cung, bàn cách ứng phó.

Trương Nghi đi sứ sang Sở, Ngận Thượng là người mừng nhất. Nhớ năm xưa, hắn từng cứu Trương Nghi một mạng, lúc này Trương Nghi sang Sở, với hắn chỉ có lợi chứ không có hại. Hơn nữa, lần trước phạt Tần, vốn dĩ hắn cũng phản đối. Từ sau trận chiến Tương Lăng, Ngận Thượng ngày càng đối địch với họ Chiêu, xét về ngoại sách, cũng từ từ ngả sang hướng kết Tần chế Tề, gần đây lại cùng chung lợi ích với đám vương thân, đương nhiên nhiệt liệt tán thành chuyện Trương Nghi cầu thân lần này.

Ngận Thượng biết rõ Khuất Bình cực lực kết Tề chế Tần, nên không đả động tới chuyện kết Tần chế Tề, chỉ kể sơ qua những việc Trương Nghi đã làm cho Sở, cuối cùng kết luận một câu: “Đại vương, nếu không có Trương Nghi giúp sức, đất Việt giờ đây có lẽ đã là của người Tề.”

“Khanh nói phải!” Hoài Vương vô cùng cảm khái, cất lời than thở, “than ôi, chỉ đáng tiếc người này không dung cho họ Chiêu!”

“Không phải Trương Tử không chịu dung thứ, mà là họ Chiêu đố kỵ hiền tài, vì ngôi lệnh doãn mà bày mưu gian hãm hại Trương Tử, chuyện này, đại vương cũng biết rõ kia mà.”

“Được rồi, chuyện trước đây không nhắc tới nữa.” Hoài Vương nhìn sang Khuất Bình, “tả đồ, sứ Tần tìm tới cầu thân, khanh định ứng phó thế nào?”

“Thần chúc mừng đại vương, chúc mừng Nguyệt công chúa!” Khuất Bình vòng tay nói.

Hoài Vương bật cười vài tiếng, quay sang Ngận Thượng: “Thượng quan đại nhân, Nguyệt Nhi là cốt nhục của chị gái quả nhân, số mệnh trắc trở, nay được gả vào Tần thất, cũng coi là có nơi chốn tốt. Quả nhân biết khanh cùng sứ Tần Trương Nghi từng có giao hảo, lần này sứ Tần tới đây, khanh hãy lo liệu tiếp đón. Giờ khanh hãy lập tức đi chuẩn bị, sao cho thật chu đáo, chớ để khách nghĩ ta lạt lẽo.”

“Thần tuân mệnh!” Ngận Thượng cáo lui.

Khuất Bình cũng đứng dậy toan đi, Hoài Vương bèn giữ lại.

“Khuất ái khanh, hãy nói thử xem, sứ Tần tới đây, cớ sao khanh không phản đối, lại nói chúc mừng?”

“Vì Đại Sở ta, cũng vì đại vương.”

“Hãy nói rõ.”

“Bình thường đại vương vẫn ví mình với Hiếu Công, ví thần với Thương Ưởng,” Khuất Bình nhìn thẳng vào Hoài Vương, “dám hỏi đại vương, hẳn biết Hiếu Công, hẳn biết Thương Ưởng?”

“Ồ…” Hoài Vương ngơ ngác, “hãy nói xem, Hiếu Công, Thương Ưởng làm sao?”

“Hiếu Công vì muốn báo mối thù Hà Tây, giấu mình ẩn nhẫn mười sáu năm ròng, cho đến tận hội thề Mạnh Tân. Theo như thần biết, vào hội thề Mạnh Tân, Hiếu Công biết trước Ngụy Hầu muốn mượn cớ gây hấn, cũng tự tin vào thực lực của mình, nên muốn quyết chiến một phen với Ngụy. Chính Thương Ưởng đã ngăn cản Tần Công vào thời khắc sau cùng. Thương Ưởng lấy lùi để tiến, đích thân tới đô thành nước Ngụy, mượn danh nghĩa Tần Công để xúi giục Ngụy Hầu xưng vương, Tần Công tình nguyện xưng thần. Ngụy Hầu không biết là kế, bắt đầu ấp ủ giấc mơ cường quốc hội minh, sau đó xưng vương tại Phùng Trạch, kết quả về sau, đại vương đã biết.”

“Ý khanh là…” Hoài Vương ánh mắt dò hỏi.

“Ý thần muốn nói, bất kể người Tần muốn kết thân cầu hoà, hay nói ra những lời hoa mỹ bằng trời, đại vương cũng nhất quyết chớ tin, nhất là lời của Trương Nghi kia. Kẻ này chỉ chuyên gieo tai rắc hoạ, đi tới đâu, phá hoại tới đấy.”

“Năm xưa hắn ở Sở, chẳng phải đã giúp ta diệt Việt đó sao?”

“Năm xưa hắn tới Sở, là muốn lấy Sở làm gốc, thực hiện tráng chí tự thân, nên mới một lòng phò Sở. Nào ngờ sự việc không như sở nguyện, bởi Chiêu đại nhân, mà hắn sinh lòng oán hận nước Sở, bèn chạy sang Tần. Giờ đây, hắn đang một lòng phò Tần đó!”

“Nếu quả nhân thuyết phục hắn, giữ hắn ở lại đất Sở thì sao?”

“Ngụy Vương cũng từng thuyết phục hắn, giữ hắn lại Ngụy, kết quả thì sao? Hắn thân ở Đại Lương mà tâm ở Hàm Dương, xúi giục Ngụy Vương từ bỏ mối thù Hà Tây, trước phạt Triệu, sau phạt Hàn. Nước Ngụy hai lần chiến hai lần bại, nguyên khí hao tổn nặng nề, cả thái tử Ngụy và Bàng Quyên đều tử chiến, rồi tới Ngụy Vương cũng chết bất đắc kỳ tử!”

Khuất Bình chỉ vài lời ngắn ngủi, đã khiến Hoài Vương lạnh toát tâm can, bất giác rùng mình kinh hãi.

“Nếu đã là vậy, cớ sao khanh còn…” Hoài Vương định thần lại, ngờ vực nhìn sang Khuất Bình.

“Thần cho rằng,” Khuất Bình tiếp lời, “bất kể thế nào, Trương Nghi lần này tới đây, cũng là cầu thân, hơn nữa lại là cầu hôn cho Tần Vương. Cầu hôn là chuyện đáng mừng, nên thần mới chúc mừng đại vương. Đó là lý do thứ nhất. Lý do thứ hai, việc cấp thiết của đại vương lúc này, đó là biến pháp trị nội. Tự cổ chí kim, chỉ một đạo lý, nếu muốn trị nội, không thể ngoại chiến. Hồi Thương Ưởng biến pháp, nước Tần gần như không ngoại chiến, chỉ nghỉ ngơi dưỡng sức. Đại vương cũng nên như vậy. Sở dĩ thần đề nghị kết minh với Tề, kỳ thực cũng bởi lý do này. Tam Tấn thế yếu, kình địch của ta chỉ có hai chỗ, đông bắc là Tề, tây bắc là Tần. Tần, Tề ngăn cách bởi Tam Tấn, hai bên với nhau, đều là roi dài khó vói, duy có Đại Sở ta, đông bắc giáp Tề, tây bắc giáp Tần. Nước lớn giao tranh, không thể hai bề thọ địch. Kế sách lâu dài của ta, hoặc là kết Tề chế Tần, hoặc là kết Tần chế Tề. Hiện ta đã kết minh với Tề, nếu lại kết minh với Tần nữa, thì trong thời gian trước mắt, ta không lo chiến sự bên ngoài, đại vương có thể dốc sức trị nội! Chờ đại vương trị nội xong rồi, thế lớn lực mạnh, lúc đó, dù Tần hay Tề, cũng chỉ có thể phái sứ tới chầu, răm rắp nghe theo đại vương sai khiến!”

Hoài Vương phá lên cười sảng khoái, tấm tắc khen ngợi: “Khanh quả là một tả đồ tuyệt diệu, xứng là bậc trụ quốc của Đại Sở ta!”

“Đại vương quá khen, thần không dám nhận!” Khuất Bình vòng tay đáp.

Rất xứng đáng!” Hoài Vương lại cười vài tiếng, “có điều, khanh là bậc đại tài, trụ quốc chỉ là danh hão, không xứng với khanh, quả nhân sẽ không phong thưởng chức này. Trước tiên khanh hãy quay về, an tâm chế hiến tạo lệnh, mặc kệ cho Trương Nghi kia tha hồ uốn ba tấc lưỡi, ta và khanh vẫn cứ vững như bàn thạch, chuyên tâm trị nội, thế nào?”

“Thần tuân lệnh!”

Trương Nghi tới Sính, vẫn theo thông lệ, ở tại dịch quán dành cho sứ thần hệt quốc.

Sứ đoàn Trương Nghi vừa tới chưa lâu, Ngận Thượng đã phụng vương mệnh tới thăm. Trương Nghi ra đón, vái chào Ngận Thượng, nắm tay dắt vào bên trong. Sau vài câu hàn huyên, Trương Nghi lấy ra một cặp ngọc bích, đưa cho Ngận Thượng, vòng tay nói: “Ngọc bích này, tại hạ lấy được khi phạt Thục, chút quà mỏn mọn, không đủ để tỏ lòng thành, mong Ngận đại nhân chớ chê!”

Ngận Thượng đón lấy, ngắm nghía một hồi, ngẩng lên cười nói: “Dám hỏi sứ Tần, bảo bối nhường này, có tính là hối lộ chăng?”

“Đại nhân quá lời rồi,” Trương Nghi bật cười, bình thản đáp, “chẳng qua chỉ là một chút tình riêng của tại hạ mà thôi. Nếu coi đây là hối lộ, thì ngọc bích này chẳng phải sẽ làm ô uế danh giá của đại nhân mất!”

“Ồ, theo như lời sứ Tần, giá trị của Ngận Thượng thực không hề nhỏ!”

“Phải.”

“Dám hỏi sứ Tần, tại hạ đáng giá bao nhiêu?”

“Một viên Hoà thị bích, cộng thêm một mạng hèn của sứ Tần đây!”

Thấy Trương Nghi vừa mở lời đã nhắc lại chuyện năm xưa, Ngận Thượng cảm khái khôn xiết, trước mắt bất giác hiện lên tấm thân ngọc ngà của Hương Nữ lúc tới khẩn cầu, hồi lâu sau, mới vòng tay hỏi: “Chỉ là chuyện vặt, nào đáng để Trương huynh đây nhắc đến. Nói tới chuyện này, dám hỏi Trương huynh, lần này dằng dặc đường xa, sao không đưa Hương phu nhân cùng tới?”

Thấy Ngận Thượng đổi sang gọi Trương huynh, Trương Nghi cũng thay đổi theo: “Không giấu Ngận huynh, lúc này, tẩu phu nhân của huynh có lẽ đang ru con trong núi Chung Nam!”

“Chúc mừng Trương huynh và tẩu phu nhân!” Ngận Thượng đáp lễ, cười hỏi, “xin hỏi Trương huynh, tẩu phu nhân hạ sinh công tử hay công chúa?”

“Hiện tại là công tử, đợi thêm một vài năm nữa, sẽ có công chúa!”

Ngận Thượng cười lớn: “Chắc chắn rồi, có trai có gái mới vẹn toàn!”

“Thế còn Ngận huynh?”

“Phu nhân có ba, đều là công tử. Hai thiếp kém cỏi, mỗi người hai con gái, sớm tối về nhà, lớn bé bảy đứa, cộng thêm ba bà, nhà cửa lúc nào cũng như chợ vỡ, gà chó không yên!”

“Ngận huynh quả là có phúc!” Trương Nghi vòng tay chúc mừng, lại lục tìm trong đống rương hòm, kéo ra một rương, chỉ vào mà nói, “Ngận huynh, xin hãy xem thử rương này!”

Ngận Thượng mở ra xem, thấy toàn gấm vóc.

“Đây là vải gấm cung đình nước Thục, mềm mại óng nuột, xứng là hàng tơ thượng phẩm, do vua Thục Thông Quốc tặng cho tại hạ khi thu phục Thục. Tổng cộng có ba rương, một rương tặng cho Hương phu nhân, một rương tặng cho một tẩu phu nhân khác của huynh, chính là công chúa Tử Vân nước Tần. Còn một rương này, Hương phu nhân căn dặn, không được tặng bất kỳ ai khác, chỉ được tặng cho Ngận phu nhân mà thôi! Tại hạ cất công gìn giữ tới tận hôm nay, vật đựng trong rương, đến một sợi tơ cũng không thiếu!”

“Chà chà,” Ngận Thượng hướng lên không trung, vái liền hai vái, “tạ ơn tẩu phu nhân!” Nhìn sang Trương Nghi, “Không giấu Trương huynh, bất luận huynh có phát tài đến đâu, đạt quan cỡ nào, tại hạ cũng không thèm muốn, duy có Hương phu nhân của Trương huynh, thực khiến tại hạ ngưỡng mộ vô cùng! Thông tuệ kiều diễm, hiền thục đoan trang, lại một lòng trung trinh với Trương huynh. Than ôi, so với Hương phu nhân, thì kẻ trong nhà tại hạ,” nhìn vào rương gấm Thục, lắc đầu, “thật không xứng với báu vật này!”

Trương Nghi phá lên cười lớn: “Ngận huynh, tại hạ tới đây là để cầu thân cho Tần Vương, chứ có phải là tới cướp tẩu phu nhân trong quý phủ đâu, sao huynh phải khiêm nhường quá thế? Tại hạ chỉ cần biết trong phủ của huynh có một phu nhân là được rồi!”

Ngận Thượng cũng bật cười.

Hai người trò chuyện vui vẻ một hồi, Ngận Thượng thu lại nụ cười, nhìn thẳng vào Trương Nghi hỏi: “Trương huynh nhớ ơn đến vậy, hẳn cũng nhớ oán. Nay đã khác xưa, bên là tướng quốc bên là lệnh doãn, bên là Đại Tần bên là Đại Sở, Trương huynh lần này tới Sính, ngoài là cầu hôn, còn trong lòng, hẳn là còn muốn phục thù cũ?”

“Ngận huynh nói đùa rồi.” Trương Nghi cười đáp, “đại trượng phu hành sự, thiên hạ làm đầu, tiếp đến là xã tắc, sau nữa là nhà, sau nữa mới là bản thân. Tại hạ tuy lòng dạ hẹp hòi, nhưng cũng đủ chứa được vài nhát gậy. Hơn nữa, dù có báo thù, cũng không liên quan tới lệnh doãn đại nhân. Không giấu Ngận huynh, tại hạ sớm đã điều tra rõ, sở dĩ lệnh doãn đại nhân hiểu nhầm tại hạ, là vì nghe theo lời xúi giục của kẻ tên Trần Chẩn!”

“Ồ, chuyện này giờ tại hạ mới biết đấy.” Ngận Thượng vội hỏi, “Trương huynh và họ Trần kia từng có khúc mắc gì ư?”

“Chà, nói ra dài lắm.” Trương Nghi thở hắt ra, “hồi Trần Chẩn còn làm quan ở Ngụy, từng gây mối thù giết cha với sư đệ của tại hạ là Bàng Quyên. Sau khi Bàng Quyên xuống núi, được Ngụy Vương trọng dụng, Trần Chẩn nhanh chân chạy trốn, mới thoát được một kiếp nạn. Vì muốn điều tra lai lịch của Bàng Quyên, Trần Chẩn đã vào tận Quỷ Cốc dò la, vừa hay gặp tại hạ, bị tại hạ giễu cợt một phen, nên mới kết thành oán hận.”

“Chao ôi,” Ngận Thượng hiểu ra, lấy làm khoái chí, “ân oán giang hồ cũng nhiều thật đấy.” Lại nhìn thẳng vào Trương Nghi, “nghe nói lúc ở Tần, Trần Chẩn và Trương huynh từng giao tranh, Trần Chẩn thất bại, nến mới chạy sang Sở, có chuyện này không?”

“Ngận huynh lại nói đùa rồi, Trần đại nhân sao có thể thất bại cho được? Chẳng qua là Trần đại nhân không thèm làm quan cùng triều với Nghi mà thôi!”

“Chà chà, Trương huynh đúng là quá giữ thể diện cho họ Trần kia rồi!” Ngận Thượng gật gù, “nói tới đây, tại hạ cũng có một lời này muốn nhắc nhở Trương huynh!”

Trương Nghi vòng tay: Tại hạ kính cẩn lắng nghe!”

Theo tại hạ thấy, Trần Chẩn đã đi đúng nước cờ, còn Trương huynh đây, lại là ngọc sáng ném vào chỗ tối.”

“Than ôi,” Trương Nghi lại thở dài một tiếng, “tại hạ lâm vào bước đường này, người khác không biết đã đành, Ngận huynh chẳng lẽ lại không biết?”

“Mỗi thời mỗi khác.” Ngận Thượng tiếp lời, “Trương huynh chưa được tiên vương trọng dụng, nhưng đại vương đương triều, lại rất trọng vọng huynh!” Nói đoạn ngả người lại, hạ giọng thì thào, “không giấu Trương huynh, đại vương nhiều lần nhắc lại chuyện năm xưa với tại hạ, nói rằng tài của Trương huynh lẫy lừng liệt quốc, không ai sánh kịp!”

“Ồ?”

Ngận Thượng sắc mặt khẩn thiết: “Chiêu Dương tuy là lệnh doãn, song đại vương tự đáy lòng đã không tin tưởng, chức lệnh doãn kia, chỉ là hữu danh vô thực. Nếu như Trương huynh bỏ tối tới sáng, đại vương chắc chắn sẽ giao phó năm ngàn dặm giang sơn Đại Sở cho huynh!”

“Ngận huynh…” Trương Nghi hai mắt sáng rực, tràn đầy ngưỡng vọng.

“Chủ nhân của ngôi lệnh doãn, ngoài Trương huynh ra, không còn ai khác!”

Vẻ nhiệt huyết trong ánh mắt Trương Nghi từ từ nguội lạnh, hắn khẽ lắc đầu: “E rằng chỉ mình Ngận huynh nghĩ vậy mà thôi!”

“Tại hạ xin lấy danh dự gia tộc ra đảm bảo!”

“Theo tại hạ biết,” Trương Nghi hạ giọng, “vị trí lệnh doãn, đại vương sớm đã nhắm sẵn một người!”

Ngận Thượng sửng sốt: “Ai kia?”

“Tả đồ Đại Sở, Khuất Bình!”

Ngận Thượng trong lòng giật thột, nhưng ngoài miệng lại phì cười: “Trương huynh đang tưởng tượng đó ư, đại vương mắt sáng như sao, gã ranh kia chẳng qua chỉ viết được dăm bài từ phú, sao có thể sánh với Trương huynh đây?”

Trương Nghi phá lên cười vài tiếng, lại hạ giọng nói tiếp: “Mắt đại vương có sáng hay không, người khác không biết đã đành, Ngận huynh lẽ nào không nhìn ra?”

“Trương huynh?” Ngận Thượng sững sờ.

“Ngận huynh theo đại vương nhiều năm, đã lập không biết bao nhiêu công lao vì đại vương, với tài của Ngận huynh, chẳng lẽ không xứng với chức tả đồ? Vậy mà đại vương đã làm gì? Đùng một cái đặt một gã oắt con chỉ biết văn từ thơ phú lên ngôi cao, đó mà gọi là mắt sáng như sao ư?”

Một câu của Trương Nghi điểm trúng tử huyệt, Ngận Thượng cúi gục đầu không nói được gì.

“Ngận huynh,” Trương Nghi được đà lấn tới, “rất nhiều sự việc, không tranh thì không thể có. Ví như năm xưa, tại hạ chưa rành thế sự, không tranh giành với Chiêu Dương, kết quả thất bại thảm hại. Sau đó sang Tần, tại hạ có được bài học, quyết ra đòn hiểm, thẳng tay bức Công Tôn Diễn rời Tần, sau đó lại ép Trần Chẩn bỏ đi. Sau đó sang Ngụy, tại hạ lại đuổi Huệ Tử…” Dừng lại nửa chừng, ánh nhìn xa xăm.

“Dám hỏi Trương huynh, đã bức ép họ bằng cách nào vậy?” Ngận Thượng lấy làm hào hứng với chuyện này.

Trương Nghi lần lượt kể lại những thủ đoạn đã dùng để bức mấy người kia ra đi, Ngận Thượng nghe mà phục sát đất, vòng tay nói: “Trương huynh tài cao, tại hạ không bì kịp!”

“Cái gì mà tài cao,” Trương Nghi cười nhạt, “chỉ là độc địa mà thôi. Không giấu Ngận huynh, trong thâm tâm, tại hạ vẫn rất khâm phục Công Tôn Diễn, Trần Chẩn và Huệ Tử, song một máng không thể hai ngựa, một núi không thể hai hổ, để chỗ cho họ, tại hạ đến một miếng cỏ cũng không có mà ăn!”

“Trương huynh nói chí phải,” Ngận Thượng vòng tay, “xin hỏi Trương huynh, sự việc trước mắt, tại hạ nên ứng phó thế nào với phường thơ phú kia?”

“Thì cũng giống như tại hạ lúc ở Tần, Nguỵ thôi, bức Khuất Bình bỏ đi, độc chiếm máng cỏ!”

“Ồ…” Ngận Thượng ngập ngừng, “bức bằng cách nào?”

“Ngận huynh chỉ cần nhớ kỹ ba chữ!”

“Chữ gì?”

“Chất cho cao.”

“Chất cho cao?” Ngận Thượng ngơ ngác, nhìn trân trân vào Trương Nghi, “nghĩa là gì kia?”

“Thi có câu, muốn khiến cho đổ, chồng chất cho cao.”

“Ồ…” Ngận Thượng vẫn chưa nghĩ ra, vò đầu bứt tóc.

Trương Nghi cười phá lên nói: “Thơ này không thuộc ba trăm bài thơ trong Thi, Ngận huynh không biết cũng phải. Toàn bộ bài thơ này là: Muốn khiến cho đổ, chồng chất cho cao; muốn quật xuống đất, phải nâng quá đầu. Trị quân tử phải chính, để họ hành nhân đức; trị tiện nhân phải khoan, để họ tận lực. Phải theo phép tắc, mới định được nước.”^[ Ðây là một bài thơ khuyết danh được trích trong sách Lã thị xuân thu.]

Thảo nào chưa nghe thấy bao giờ.” Ngận Thượng mỉm cười, vòng tay, “tại hạ ngu muội, ba chữ này phải giải thích thế nào, vẫn xin Trương huynh chỉ giáo!”

“Chồng chất, tức là lặp đi lặp lại nhiều lần, tức là sử dụng lặp đi lặp lại.”

“Sử dụng gì kia?”

“Cái này!” Trương Nghi há miệng, thè lưỡi thật dài, “chính là lời nói.”

“Lời nói gì kia?”

“Lời nói có thể đẩy đổ.”

“Ý Trương huynh là, tại hạ cần lặp đi lặp lại những lời sàm báng hắn trước mặt đại vương?”

“Không, không, không,” Trương Nghi xua tay, “Ngận huynh quên mất phía sau câu này còn một câu nữa ư, đó là muốn quật xuống đất, phải nâng quá đầu rồi ư?”

“Ý Trương huynh là, cần nói tốt về hắn?”

“Chính phải!” Trương Nghi gật đầu, “đây là bí thuật mà tiên sinh đã truyền dạy cho tại hạ khi cầu học ở Quỷ Cốc, gọi là thuật phi kiềm, tức nâng cao và kiềm kẹp. Phi, cũng chính là chồng chất cho cao, cũng chính là nâng quá đầu. Nâng lên, chỉ nhằm một mục đích, chính là khiến cho đổ, chính là quật xuống đất.”

Ngận Thượng há hốc miệng, hồi lâu sau, mới chầm chậm thở ra một hơi, chép miệng mấy cái: “Ồ, tại hạ hiểu rồi.” Dừng một chốc, lại hỏi, “phải kẹp bằng cách nào?”

“Nâng cao, là để đạp đổ. Làm thế nào để đạp đổ được? Chính là phải dùng tới chữ kẹp này.”

“Dùng như thế nào?” Ngận Thượng mở to mắt hỏi.

“Ngận huynh hãy sử dụng lặp đi lặp lại thuật phi, Khuất Nguyên ắt sẽ sung sướng hoan hỉ, ắt sẽ càng thêm hăng hái, càng thêm cần mẫn tích cực, chỉ tiếc không thể làm việc gấp mười. Làm nhiều rồi, kiểu gì cũng có sơ sảy. Chờ tới lúc đó, Ngận huynh chẳng cần phải làm gì cả, chỉ cần mở to mắt, theo dõi mọi việc hắn làm, nhắm đúng sơ suất, thủng thẳng kẹp chặt.” Trương Nghi giơ hai ngón tay ra, kẹp liền mấy cái, “đánh rắn phải đánh giập đầu!”

“Chà chà chà!” Ngận Thượng xuýt xoa thán phục.

“Có điều,” Trương Nghi nói tiếp, “nếu dùng thuật này, chỉ dựa vào một mình Ngận huynh, e là không đủ. Ngận huynh cần phải tìm thêm trợ thủ.”

“Trợ thủ?” Ngận Thượng khép mắt ngẫm nghĩ, hồi lâu sau, nhìn sang Trương Nghi, “theo ý Trương huynh, người nào thích hợp?”

“Nam cung Trịnh hậu.”

“Than ôi!” Ngận Thượng thở dài đánh sượt.

“Ngận huynh cớ sao lại thở dài?”

“Không giấu Trương huynh, nương nương đang lúc tâm tư phiền muộn, e rằng chẳng có lòng dạ nào mà giúp.”

“Nương nương phiền muộn, là bởi một vị tư tế?” Trương Nghi nói thẳng.

“Phải!” Ngận Thượng sửng sốt, “đến cả chuyện này mà Trương huynh cũng biết ư?”

Trương Nghi bật cười: “Lần này đi sứ, trước có Chiêu Dương, sau có Khuất Bình, lại thêm một Trần Chẩn hô phong hoán vũ, tại hạ khác nào bước trên băng mỏng bên mé vực sâu, không dám không biết!”

“Trương huynh nhìn thấu rồi, hẳn đã có sẵn tuyệt chiêu hoá giải?”

“Ngận huynh có thể chuyển lời tới Nam hậu, chỉ cần Nam hậu chịu nghe Nghi, chớ nói là đoạt lại ân sủng hiện thời, mà dù hậu cung của Sở Vương có rộng đến mấy, cũng chỉ có một mình Nam hậu mà thôi!”

Ngận Thượng hít vào một hơi dài: “Trương huynh có diệu kế gì?”

“Tám chữ, nghĩ điều vua nghĩ, thích điều vua thích.

Với Nam cung mà nói, phạm vi vua nghĩ, vua thích, chỉ giới hạn trong hậu cung mà thôi, bằng không sẽ thành vượt phận.

Đối với hậu cung, Hoài Vương có hai niềm tâm sự lớn, thứ nhất là miếu Vu Hàm xây vì Bạch Vân, việc này Trịnh Tụ đã lo liệu ổn thoả. Thứ hai là sau trận Tích Thuỷ, Hoài Vương nhất thời kích động, mở rộng ngân khố, cấp phát không ít tiền bạc để phủ tuất thương vong, thuế khoá các nơi lại chưa kịp bổ sung về, khiến chi dùng trong cung thiếu thốn. Nội doãn cai quản hậu cung xoay xở mọi cách, mà vẫn kéo gấu lộ khuỷu. Nội doãn chẳng biết làm sao, đành cắt giảm chi tiêu của các cung. Cung nhân xa hoa đã quen, giờ khoản chi dùng bỗng chốc bị cắt gần nửa, người người oán thán, hoặc than thở với Hoài Vương, hoặc là tố cáo cung doãn bớt xén tiền son phấn. Là chủ tể cung Sở, Hoài Vương không thể để lộ chuyện triều đình khốn quẫn trước mặt đàn bà, nên càng nghe càng buồn bực. Cũng chính vì thế nên Hoài Vương gần đây chỉ muốn ở một mình trong thư phòng, không muốn triệu vời ai hết.

Hiển nhiên, nội tình cung Sở, Trương Nghi sớm đã dò la tường tận, nên hiến kế lên Nam hậu, cho hậu cung nuôi tằm dệt vải, chia sẻ gánh ưu phiền với đại vương.

“Ồ…” Trịnh Tụ chau mày, “có được không vậy?”

“Trương Nghi đã hiến kế, nương nương sao không thử xem?” Ngận Thượng cười nói.

“Thôi được,” Trịnh Tụ nghiến răng, “vì Tử Lan, bản cung quyết liều một phen. Nhưng còn khung cửi…”

“Nương nương yên tâm, mọi vật cần thiết, thần đã chuẩn bị xong cả. Thần lo nương nương chưa thạo, nên đã tìm sẵn hai người thợ khéo.”

“Việc nuôi tằm dệt vải, thêu thùa may vá, bản cung từ nhỏ đã thành thạo, chỉ là nhiều năm không động tới, cũng hơi bỡ ngỡ. Giờ có hai thợ khéo này, thực tốt.”

Trịnh Tụ đã quyết là làm, chưa đầy vài ngày, đã sắp xếp xong xuôi, hậu cung lúc này chẳng khác nào phường dệt. Cung nữ đa phần tuyển lựa từ dân gian, cho họ nuôi tằm dệt vải, vốn chẳng phải chuyện khó khăn. Có Nam hậu đôn đốc, chẳng mấy chốc, khắp Nam cung đã rộn ràng tiếng thoi, cung nhân tất bật luôn tay, không khí hối hả suốt đêm ngày.

Đương nhiên, việc ở Nam cung nhanh chóng đến tai nội doãn. Nội doãn đích thân đến thăm dò, đoán ra tâm ý của nương nương, bèn bóng gió xa xôi với Trịnh Tụ, đêm nay có lẽ đại vương sẽ tới.

Đêm xuống, Hoài Vương đọc sách tới canh một, hẳn đã buồn ngủ, bèn ngáp dài, đứng dậy vươn vai.

“Đại vương có muốn ra ngoài đi dạo chốc lát? Đêm nay trời rất đẹp!” Nội doãn khẽ giọng tấu.

“Đi!” Hoài Vương phẩy tay, lời vừa thốt, chân đã bước khỏi cửa phòng.

Bên ngoài, quả nhiên trời quang mây tạnh, sao sáng đầy trời. Vua tôi hai người men theo đường mòn, thong thả dạo bước.

Đi một chốc thì tới hậu cung, đến trước miếu Vu Hàm. Hoài Vương dừng bước, nhìn cổng miếu đóng im ỉm, nặng trĩu suy tư. Kể từ hôm bị Bạch Vân mượn cớ thờ thần uyển chuyển khước từ, lần đầu tiên trong đời, Hoài Vương sinh lòng kính sợ trước một người con gái, không dám tuỳ tiện gọi nàng tới hầu trà hay nhảy múa nữa. Còn chuyện thị tẩm, lại càng không dám mơ tưởng.

Tuy nhiên, con người quả là kỳ lạ, càng không có được, lại càng tưởng nhớ khôn nguôi. Hoài Vương cứ đứng thẫn thờ ngoài cửa miếu hồi lâu, thấy trong miếu lặng phắc như tờ, không chút động tĩnh, biết rằng tư tế đã đi ngủ, bèn khẽ thở dài quay đi, toan trở về thư phòng.

Nội doãn tươi cười hỏi: “Đại vương, có muốn đi dạo quanh hậu cung, xem thử các nương nương đã ngủ hết hay chưa?”

Hoài Vương nghe vậy, bất chợt nổi hứng, bèn tiện đường tiến về phía các cung viện.

Tất cả các cung đều đã tắt đèn, duy chỉ một nơi vẫn thấy ánh lửa thấp thoáng.

“Cung nào thế?” Hoài Vương nhìn về phía đó, tỏ vẻ không vui, “đã nửa đêm rồi, sao còn chưa tắt đèn, thật vô phép!”

Nội doãn nhìn một chốc, hạ giọng nói: “Hình như là Nam cung!”

“Trịnh Tụ?” Hoài Vương buột miệng lẩm bẩm, rồi sải bước tiến về phía đó.

Cổng không cài then, nội doãn khẽ đẩy mở, Hoài Vương bước vào, thấy các phòng trong cung đều thắp đèn sáng trưng, ồn ào lách cách, dụng cụ bày biện khắp nơi. Đám cung nữ đang cắm cúi bận rộn, hoặc chọn kén, hoặc kéo tơ, động tác thuần thục, luôn tay luôn chân, không ai lên tiếng. Đồ đạc đều được sắp xếp gọn gàng, trong hai gian phòng rộng nhất, mỗi phòng đặt một khung cửi, một chiếc đang lắp dở, một chiếc đã giăng tơ.

Hoài Vương bước về phía khung cửi đã giăng tơ, thấy Trịnh Tụ ngồi bên khung cửi, mình mặc áo ngắn kiểu nhà nông, đang cùng hai cung nữ chăm chú sửa sang.

Hoài Vương hết sức bất ngờ, vội rảo bước tiến lại phía trước khung cửi, gọi giật: “Tụ Nhi?”

Trịnh Tụ làm bộ kinh ngạc, cuống quýt xuống khỏi khung cửi, quỳ xuống: “Đại vương…”

“Nàng…đang làm gì vậy?” Hoài Vương chỉ vào khung cửi hỏi.

“Đại vương,” Trịnh Tụ thỏ thẻ bẩm báo, “thiếp nghe nói quốc sự khó khăn, trong cung chi dùng ngặt nghèo, đại vương vì đó mà lo nghĩ. Thần thiếp lấy làm đau xót, mà không thể giúp được điều gì. Mấy hôm trước, thần thiếp sực nhớ hồi nhỏ từng được mẹ dạy thêu thùa dệt vải, nên mong giúp chút sức mọn cho đại vương!”

“Hiền phi!” Hoài Vương xúc động khôn xiết, nắm lấy tay nàng, “bàn tay yếu ớt nhường này…”

Trịnh Tụ vội rụt tay về, cười dịu dàng: “Đại vương chớ coi thường thần thiếp, nếu là chuyện dệt vải vá may,” chỉ vào hai cung nữ bên cạnh, “họ còn xa mới theo kịp thần thiếp. Đại vương nếu không tin, cứ thử hỏi họ xem!”

“Tin, tin chứ.” Hoài Vương phấn chấn ra mặt, “ái phi đã nói, quả nhân sao có thể không tin?” Nói đoạn, quay sang hai cung nữ, “đêm đã khuya rồi, bảo mọi người đi nghỉ cả đi, sáng sớm mai làm việc cũng không muộn!” Lại nắm lấy bàn tay Trịnh Tụ, cùng sánh vai nhau bước vào phòng ngủ.

Nội doãn cười mủm mỉm nhìn theo.

Sáng sớm hôm sau, Hoài Vương dậy rất sớm, đi quanh Nam cung xem xét một vòng, thấy có một bãi cỏ bằng phẳng, bèn cho cuốc xới, khai khắn thành một vườn rau.

Có Hoài Vương và Nam cung khởi xướng, các cung khác cũng không dám biếng nhác, cung nào cũng tìm nghề sở trường mà làm. Cung Sở mênh mông, trước sau vỏn vẹn mười ngày, chẳng khác nào nông trang vào mùa, nam cày nữ dệt, náo nhiệt rộn ràng, cũng không còn cung phi nào oán trách đại vương bớt xén tiền son phấn nữa.

Việc Trịnh Tụ đôn đốc hậu cung Đại Sở chăm nghề tằm tang canh cửi mau chóng lan truyền ra ngoài cung, văn võ bá quan trong triều cùng trăm họ Sính Đô đều hết lời ca ngợi Trịnh phi hiền thục.

Khuất Bình hay tin, cảm động ứa lệ, tráng chí lại càng thêm dạt dào.

Bất luận thế nào, đây chính là thời cơ tốt đẹp để phát động cải chế.

Khuất Bình hiểu rõ, nếu Hoài Vương thực sự cải cách tổ chế, sẽ khiến khắp cõi nước Sở kinh thiên động địa. Khuất Bình cũng hiểu, Hoài Vương đã chuẩn bị sẵn sàng, tâm ý cũng đã quyết, bước tiếp theo, chính là đến việc của Khuất Bình, ra mặt cải chế biến pháp, cường Sở chế Tần.

Đây là một cuộc chiến khốc liệt, cũng là một cuộc chiến gian nan, Khuất Bình không đánh thì thôi, đã đánh, phải đánh đến cùng.

Nhưng muốn đánh thắng trận này, chỉ dựa vào sức của một Khuất Bình, quả thực lực bất tòng tâm.

Bởi lẽ, Trương Nghi đã tới.

Khuất Bình hiểu rõ, mình còn lâu mới là đối thủ của Trương Nghi. Suy ngẫm hồi lâu, Khuất Bình cầm bút, soạn một bức thư dài, kể rõ một lượt tình hình nước Sở gần đây, nhất là chuyện ô kim, chuyện muối Ba, chuyện Trương Nghi đi sứ, rồi mời Tô Tần đến Sở.

Viết xong, Khuất Bình giao thư cho Khuất Dao, dặn hắn hãy sai tâm phúc thẳng tới Hàm Đan, trao tới tận tay Tô Tần.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử