Đúng lúc này, ở trong hậu cung Chu thất, nơi chỉ cách học cung một bức tường, đang diễn ra một tình cảnh khác hẳn. Chu vương hậu hôn mê bất tỉnh, Chu thiên tử đứng bên giường vương hậu, lớn tiếng trách mắng các ngự y.
Trưởng công chúa Cơ Tuyết đau buồn tuyệt vọng, ngồi khóc sụt sùi trên giường trong khuê phòng, đôi vai thon thả khẽ rung lên theo tiếng nấc. Cơ Vũ mắt đỏ hoe bước tới sau lưng Cơ Tuyết, đặt hai tay lên vai chị, khẽ gọi: “Chị ơi…”
Cơ Tuyết sau một hồi khóc lóc, giọng đã khản đặc, nói: “Vũ Nhi, nếu như mẫu hậu không tỉnh lại, chắc chị… hối hận đến chết!” Nói xong lại cúi mặt, nước mắt ròng ròng.
Cơ Vũ an ủi: “Chị ơi, chị đừng nghĩ quẩn. Bệnh của mẫu hậu là do hai nhà Tần, Ngụy ép bức mà nên nỗi, đâu có liên quan gì tới chị?”
Nghe những lời này, Cơ Tuyết càng khóc lóc thương tâm, giọng nấc nghẹn: “Vũ Nhi, em thử nghĩ xem, nếu không có chị, Tần, Ngụy liệu có ép cầu thân chăng, phụ vương có phải khó xử như vậy chăng, mẫu hậu cũng sẽ không…” Nói rồi nghẹn lại nửa chừng, khóc nấc lên.
“Chị ơi, chị trách móc bản thân như vậy, thật không công bằng. Dù có chị hay không, chuyện gì tới vẫn cứ tới!”
“Vũ Nhi, em nói xem, mẫu hậu…”
“Chị ơi, vừa rồi Vũ Nhi chợt nghĩ ra một cách, có thể thử xem sao. Mẫu hậu thích nghe đàn, nhất là hai khúc Cao sơn, Lưu thủy. Chúng ta hãy mời cầm sư lại, gảy thử một bản xem sao. Biết đâu nghe thấy tiếng đàn, mẫu hậu có thể tỉnh lại.”
Cơ Tuyết như bừng tỉnh, đứng ngay dậy, lau vội nước mắt, kéo Cơ Vũ đi qua cửa bên của hậu cung, xăm xăm bước tới Thái học viện. Tiến vào trong cửa chưa được bao xa, chợt nghe từng tràng cười rộ vọng lại từ phía cầm thất. Hai người sững lại một thoáng, bất giác rảo bước nhanh hơn. Sau khi ngoặt qua một góc tường, từ xa đã nhìn thấy đám học trò đang túm tụm lại một chỗ, cười ngả ngớn trên bãi cỏ.
Cơ Tuyết, Cơ Vũ không biết xảy ra chuyện gì, vội vã tiến lại xem, khi đã hiểu rõ sự tình, không hẹn mà cùng dừng bước, đưa mắt nhìn nhau, mặt hoa sầm lại, đưa ánh mắt lạnh lùng chiếu thẳng về phía đám học trò.
Đám học trò vây kín lấy Tô Tần, đang đu đẩy rất hăng. Đột nhiên, gã cầm đầu đứng khựng lại, rồi như chuột nhìn thấy mèo, toàn thân co rúm, lẩn sang một bên. Những gã học trò khác đa phần là đám công tử bột xuất thân từ gia đình giàu có quanh Lạc Dương, tới đây học chẳng qua là lấy tiếng, thực chất chẳng học hành gì, nhìn thấy bộ dạng lấm lét của gã cầm đầu, lấy làm ngạc nhiên, đều quay người lại nhìn. Rồi tất cả tựa như trúng tà, đứng ngây thuỗn như một bầy phỗng đất.
Tô Tần bị đám học trò xô đẩy tới hoa mắt chóng mặt, đột nhiên không bị đẩy nữa thì lập tức lảo đảo, đứng không vững, ngã sấp mặt xuống bãi cỏ. Do hai tay bị trói quặt ra phía sau nên cú ngã khác nào trời giáng, lại thêm cơ thể lúc này đã rời rã, gắng gượng mấy lần không thể đứng dậy nổi.
Khi đám học trò hành hạ Tô Tần, Trương Nghi tuy cũng cảm thấy quá đáng, song cũng ham vui, nên đứng ở bên ngoài xem. Tự dưng thấy đám học trò đột nhiên rúm ró như gà con thấy quạ, Trương Nghi hết sức ngạc nhiên, lại thấy tất cả đều đang nhìn về phía mình, bất giác cũng quay đầu lại. Và ngay lập tức, hắn cũng biến thành một ông phỗng ngây thộn, bởi lẽ trước mắt hắn là hai thiếu nữ tuyệt sắc tựa thần tiên, đứng ngay mé trái sau lưng hắn, cách hắn chưa đầy năm bước, mặt lộ sắc giận.
Cầm sư cũng đã trấn tĩnh lại, vội sải bước tới gần, cúi gập người vái dài mà nói: “Lão hủ xin bái kiến nhị vị công…”
Lời còn chưa dứt, Cơ Tuyết đã lập tức chặn ngang, đáp lễ mà nói: “Tiểu nữ tử bái kiến tiên sinh!”
Cầm sư lập tức hiểu ra, biết họ không muốn để lộ thân phận, lại vội vái tiếp mà nói: “Lão hủ xin bái kiến Cơ cô nương!”
Cơ Vũ bản tính lãnh đạm kiêu kỳ, lúc này càng mặt hoa nghiêm nghị, không giận mà uy, chỉ tay vào Tô Tần đang nằm sấp dưới đất, đưa ánh mắt sắc như ánh kiếm quét qua một lượt đám học trò, nghiêm giọng quát: “Là ai trong các ngươi làm trò này?”
Đám học trò đưa mắt nhìn nhau, không hẹn mà cùng nhìn vào Trương Nghi.
Cơ Vũ chuyển ánh mắt lạnh lùng sang Trương Nghi: “Là ngươi ư?”
Trương Nghi đứng ngây ra, bình thường miệng lưỡi trơn tru là thế, lúc này không nói nổi một lời, lùi về phía sau vài bước, lắp bắp: “Tôi… tôi…”
Cơ Vũ mày ngài dựng đứng, lạnh lùng: “Còn không mau cởi trói cho sĩ tử?”
Hệt như ma xui quỷ khiến, Trương Nghi không dám nhiều lời, vội vội vàng vàng bước tới bên Tô Tần, cởi trói cho hắn. Cơ Vũ lại lừ mắt nhìn khắp đám học trò, rồi quát lớn: “Nhìn cách hành sự của các ngươi xem, liệu có giống học trò Thái học không? Còn không mau cút vào cầm thất?”
Đám học trò tựa như bị sét đánh trúng, ai nấy rụt đầu rụt cổ, lủi vội vào trong cầm thất. Trương Nghi đã cởi trói xong cho Tô Tần, vẫn đứng như trời trồng bên cạnh, lúng túng không biết phải làm gì.
Cơ Vũ trừng mắt nhìn Trương Nghi: “Ngươi còn không đi?”
Trương Nghi nghệt ra tại chỗ, mãi mới hiểu giai nhân đang mắng mình, vội vàng quay đi, cun cút chạy về cầm thất.
Thấy đám học trò đã đi hết, Cơ Tuyết quay sang cầm sư, hỏi khẽ: “Tiên sinh, có chuyện gì mà ầm ĩ đến vậy?”
“Than ôi!” Cầm sư thở dài một tiếng, “đều là lão hủ đây vô dụng!” Rồi chỉ vào Tô Tần, “vị này ngồi ngoài cửa sổ nghe lén lão hủ dạy đàn, không ngờ bị đám học trò phát hiện, mới xảy ra chuyện vừa rồi!”
Cơ Tuyết trong lòng xúc động, chăm chú nhìn Tô Tần, rồi tiến lại gần, vòng tay vái dài một vái, cất giọng dịu dàng: “Sĩ tử xin chớ chấp đám công tử phách lối kia!” Rồi quay sang, hai mắt ngấn lệ nhìn cầm sư, “tiên sinh, bắt đầu từ ngày mai, xin hãy cho vị công tử này theo học tiên sinh!”
Cầm sư cúi gập người đáp: “Lão hủ vâng lời cô nương!”
Nghe thấy lời này, Tô Tần lồm cồm đứng dậy, quỳ xuống đất, dập đầu lia lịa: “Thảo… thảo dân… Tô… Tô Tần… tạ… tạ… ơn cô… cô… cô nương!”
Cơ Tuyết thấy Tô Tần nói lắp, bèn dịu dàng hỏi: “Sĩ tử tên gọi Tô Tần?”
“Thảo… thảo… thảo dân tên là Tô Tần, sống ở… ở… thôn Hiên… Hiên Lý… phía… phía… đông… đông thành.”
“Tô Tần!” Cơ Tuyết nhắc lại đi nhắc lại mấy lần, như thể muốn ghi nhớ cái tên này, “Tô Tần… Tô Tần…”
Còn Tô Tần ngẩng mặt, nhìn Cơ Tuyết chăm chú, tựa hồ muốn ghi lòng tạc dạ dung nhan của ân nhân. Một lát sau, Tô Tần lại khấu đầu, lắp bắp nói: “Dám hỏi quý… quý… tính… cô… cô… cô nương… đây, sau này nếu… nếu… có… có cơ hội… Tô Tần… nhất… nhất định… sẽ… sẽ báo… báo đáp.”
Đã rơi vào tình cảnh trớ trêu này, lại còn muốn báo đáp, Cơ Tuyết bất giác liếc nhìn Tô Tần, thấy dung mạo đoan chính, nghèo mà không hèn, một thân khí phách, trong lòng bỗng thấy xao động. Lại đưa mắt nhìn vào thanh kiếm gỗ bị Trương Nghi vứt chỏng chơ một bên, bước lại gần, cúi xuống nhặt lấy, chăm chú nhìn ngắm một lúc, hỏi khẽ: “Xin hỏi, kiếm này phải chăng là của Tô Tử?”
Thấy Cơ Tuyết cầm thanh kiếm gỗ đồ chơi của mình, Tô Tần xấu hổ đỏ bừng mặt, cúi gằm xuống, một lúc sau mới khẽ gật đầu.
“Tô Tử tự tay làm ư?”
Tô Tần lại gật đầu.
Cơ Tuyết rút kiếm ra, vuốt ve một hồi, lại tra vào bao kiếm, tấm tắc khen: “Tô Tử thực khéo tay, lại chuyên tâm trau chuốt, quả là một thanh kiếm đẹp!” Rồi tiến tới trước mặt Tô Tần, nâng hai tay đưa kiếm cho hắn, “Cơ Tuyết nể phục chí tiến thủ của Tô Tử, mong rằng Tô Tử sẽ ở đây học hành chăm chỉ, sớm ngày đạt chí, công thành danh toại.”
Tô Tần ôm kiếm trước ngực, nước mắt bỗng ứa ra, lại vái liên hồi: “Tô… Tô Tần… tạ… tạ ơn… Cơ… Cơ… Cơ cô … cô nương!”
Thấy Tô Tần chảy nước mắt, Cơ Tuyết khẽ thở dài, lấy từ trong tay áo ra một mảnh khăn lụa, cúi xuống lau nước mắt cho Tô Tần. Tô Tần không dám tin vào cảnh tượng trước mắt, hai mắt nhắm nghiền, dòng lệ cứ thế trào ra, càng không cầm được.
Cơ Vũ có lẽ cảm thấy Cơ Tuyết hơi quá trớn, vội bước lại níu cánh tay chị: “A tỷ!”
Nhìn thấy Tô Tần bị áp bức mà không chịu khuất, cảm ân mà rơi lệ, Cơ Tuyết bất giác liên tưởng tới vận mệnh của mình, nghĩ tới bản thân mình cũng đang phó mặc cho người đưa đẩy, không thể tự quyết, số phận chẳng khác nào gã nói lắp kia, trong lòng đau xót, không những không đi, mà còn nước mắt tuôn tràn, châu lệ thánh thót, rơi lã chã xuống đầu Tô Tần.
Tô Tần ngạc nhiên, đưa tay lên vuốt đầu, thấy toàn nước mắt, sửng sốt ngẩng mặt lên, thấy Cơ Tuyết đang nước mắt đầm đìa, cứ ngỡ nàng khóc vì mình, không biết phải nói thế nào, chỉ biết liên tục dập đầu xuống cỏ, khóc lớn mà nói: “Cơ… Cơ… Cơ cô nương…”
Cơ Tuyết không nhẫn nhịn thêm được nữa, vội quay người che mặt bước đi. Mảnh khăn lụa phất phơ rơi xuống, vừa hay rơi đúng vào lòng Tô Tần.
Cơ Vũ thấy Cơ Tuyết đột nhiên bỏ đi, bèn gọi với theo: “Chị ơi!”
Cơ Tuyết không quay đầu lại, cứ thế đi thẳng.
Cơ Vũ đứng khựng lại một lát, rồi tiến lại gần cầm sư, khẽ giọng nói rõ lý do tìm tới. Cầm sư nghe xong, khẽ gật đầu, đi theo Cơ Vũ, vội vã vào cung.
Trong cầm thất, Trương Nghi và đám học trò đứng thập thò bên cửa, hoặc chen chúc nơi cửa sổ, kiễng chân hết cỡ, nín thở, trợn mắt nhìn trộm sự việc xảy ra ngoài bãi cỏ. Thấy cầm sư và Cơ Vũ đã đi xa, đám học trò mới định thần trở lại, bắt đầu bàn tán xôn xao: “Trời ơi! Đúng là tiên nữ giáng trần! Tiểu tử thối kia thực là có đại phúc!”
“Các anh em nói xem, hai vị cô nương kia, ai xinh đẹp hơn ai?”
“Thế mà cũng phải hỏi, đương nhiên là cô nương không mắng chửi kia rồi. Các vị có biết nàng là ai không?”
“Phải rồi, phải rồi, cô nương ấy là ai vậy?”
“Cô nương ấy chính là đệ nhất mỹ nữ trong thiên hạ hiện thời, là trưởng công chúa Cơ Tuyết của Đại Chu thiên tử, thường gọi là Tuyết công chúa! Anh em biết không, người mà hai nhà Ngụy, Tần đang tranh nhau xin cưới, chính là nàng ấy đấy!”
Lời gã vừa dứt, toàn bộ đám học trò đều kinh ngạc đến há hốc miệng, cầm thất bỗng chốc lặng phắc như tờ, dường như không ai dám thở. Một lát sau, đám học trò mới định thần trở lại, đưa mắt nhìn nhau, dường như không ai tin vào sự thực mà họ vừa chứng kiến.
Một hồi lâu, gã cầm đầu mới thẽ thọt lên tiếng: “Chà chà, thảo nào vừa rồi tại hạ hồn xiêu phách lạc! Thế còn cô nương còn lại?”
Gã học trò hiểu biết kia vênh mặt đắc ý, dõng dạc nói: “Đương nhiên là em gái của Tuyết công chúa, chính là nhị công chúa của Đại Chu thiên tử, gọi là Vũ công chúa.”
Gã cầm đầu nuốt nước bọt đánh ực, hít sâu một hơi, rồi từ từ thở ra, hết ngó bên trái lại bên phải mà nói: “Không giấu các vị, bản công tử tới đây, mượn danh là học kỹ nghệ, kỳ thực chính là muốn được một lần chiêm ngưỡng phong tư của đệ nhất mỹ nữ trong thiên hạ! Hay quá, hôm nay đã được toại nguyện rồi!”
Một học trò khác gật gù hưởng ứng: “Tại hạ cũng vậy! Bị mắng một trận, cũng đáng!”
Một học trò khác bỗng chỉ tay ra ngoài cửa sổ: “Nhìn tên nói lắp kìa!”
Đám học trò lúc này mới sực nhớ tới Tô Tần, không hẹn mà cùng nhìn ra bãi cỏ bên ngoài cửa sổ, thấy Tô Tần chậm rãi đứng dậy, tay cầm mảnh khăn lụa mà Cơ Tuyết đánh rơi, ngẩn ngơ chốc lát, rồi nhét khăn vào trong ống tay áo. Sau đó, như biến thành một người khác hẳn, nhanh nhẹn đeo ngược kiếm trên vai, sải bước đi ra.
Có người nói: “Các anh em nhìn rõ cả chưa? Vừa rồi Tuyết công chúa còn lau nước mắt cho hắn!”
Gã cầm đầu tức tối nói: “Mẹ kiếp, thằng ăn mày này ăn may quá. Các anh em, chúng ta mau đuổi theo hắn, nện cho hắn một trận cho bõ tức!”
Gã học trò hiểu biết kia uể oải thở hắt ra, nói: “Nhân huynh muốn đi thì cứ đi, bản thiếu gia chỉ muốn về nhà trọ đánh một giấc say, để gặp hai nàng đó trong giấc mộng!” Quay người nhìn thấy Trương Nghi vẫn đang mở to đôi mắt, nhìn chằm chằm vào bóng hình mỹ miều đã đi tít phía xa, thì bật cười, “này Trương huynh, người đã đi xa, huynh làm gì mà vẫn đứng như trời trồng thế kia?”
Trương Nghi vẫn dán mắt vào Cơ Vũ, miệng tấm tắc không ngớt: “Ồ, quả nhiên là công chúa, tại hạ phục rồi!”
Tô Tần đã đi dọc theo bức tường tới cổng chính, Quỷ Cốc Tử dõi mắt trông theo, khẽ gật đầu, rồi chậm rãi đứng dậy, vươn vai duỗi tay, cười nói với tiểu đồng: “Tiểu tử, đã nhìn thấy công tử vương tôn chưa?”
Tiểu đồng vẫn đang ngẩn ngơ trước tình cảnh vừa chứng kiến, bàn tay siết lại thành nắm đấm: “Tiên sinh, khi đám học trò ức hiếp anh chàng kỳ quặc kia, tiểu đồng muốn đi cứu hắn, tại sao tiên sinh lại ngăn cản?”
Quỷ Cốc Tử cười vang mà nói: “Nếu tiểu tử ngươi xông vào, không biết là ai cứu ai đâu! Đi thôi!”
“Đi đâu?”
“Đi kiếm lấy một đồng tiền! Không có tiền, biết lấy gì bỏ vào bụng tiểu tử ngươi đây?”
Từ lúc phát bệnh, vương hậu nằm liệt giường đã nửa tháng trời, không ăn không uống, hôn mê bất tỉnh, nếu không phải trên người vẫn còn toả ra hơi ấm, mũi vẫn có hơi thở khe khẽ, thì chẳng khác gì một cái xác vô hồn. Tận mắt chứng kiến vương hậu nằm bất động trên giường, Chu Hiển Vương chẳng thiết ăn uống, ngày ngày lệnh cho ngự y theo dõi sát sao bệnh tình để kịp thời chữa trị. Ngự y trong cung, người nào có tài thì sớm đã sang nước khác mưu sinh, người ở lại đa phần là thầy thuốc tầm thường, gặp phải chứng bệnh kỳ lạ này, đừng nói là tìm nguyên nhân, dù là bắt mạch cũng khó mà tìm ra mạch. Khi Cơ Vũ dẫn cầm sư bước vào cung Tịnh An, mấy ngự y đang túm tụm ở ngoài cung bàn bạc, người nào người nấy mặt mày rầu rĩ âu sầu, nỗi lo lắng hiện rõ trên nét mặt.
Cơ Vũ và cầm sư bước vào cửa chính, bên ngoài tấm mành châu đã đặt sẵn một giá kê đàn. Cung chính nhìn thấy, trong lòng chợt hiểu, truyền lệnh cho ngự y tạm thời trở về Thái y viện bàn tiếp, còn mình trở vào cung, sắp xếp cung nữ hầu hạ, rồi sai cầm sư gảy đàn.
Biển người mênh mông, tri âm khó tìm. Đối với cầm sư, vương hậu không những là chủ nhân đem lại cho ông cơm ăn áo mặc, mà còn là tri âm khó gặp. Phàm có chuyện gì, bất luận vui buồn, vương hậu thường sai người mời cầm sư tới gảy đàn, hơn nữa, lần nào cũng chỉ thích nghe khúc Cao sơn, Lưu thủy của Bá Nha. Khúc nhạc này, đừng nói là Cơ Tuyết hay Cơ Vũ, mà tất cả người trong cung ai cũng thuộc làu. Do vậy, hễ tiếng đàn vang lên, nhận ra khúc nhạc này, mọi người đều biết là cầm sư đã tới.
Lúc này, nhìn thấy vương hậu mấy ngày trước còn cười cười nói nói, giờ nằm im lìm bất động, trong lòng cầm sư muôn mối thương tâm, hai tay vỗ đàn, một khúc Cao sơn, Lưu thủy bỗng chốc ngân nga bi thiết, trong bầu không tĩnh lặng như tờ, càng thêm ai oán thê lương, khiến người nghe không khỏi rung động cõi lòng.
Cơ Vũ quỳ trước giường vương hậu, nắm chặt tay mẹ, nghiêng tai áp bên ngực bà, lắng nghe tiếng tim đập khe khẽ. Khi cầm sư sắp gảy xong khúc nhạc, Cơ Vũ đột nhiên nghe thấy nhịp tim bất chợt rộn ràng, mạnh mà có lực, bỗng chốc kích động khôn tả, run rẩy kêu lên: “Tiên sinh, mau, hãy mau gảy nữa, gảy lại từ đầu!”
Cầm sư nghe nói vương hậu đã có phản ứng, càng thêm xúc động, phấn chấn tinh thần, hai tay lướt phím, lại bắt đầu từ khúc Cao sơn, rồi tới Lưu thủy. Mới gảy hết một lượt Cao sơn, còn chưa gảy xong Lưu thủy, Cơ Vũ bỗng cảm thấy ngón tay vương hậu khẽ động đậy, bèn nắm chặt tay bà hơn nữa, áp khuôn mặt sát bên má vương hậu, gọi khẽ: “Mẫu hậu, mẫu hậu…”
Cơ Vũ gọi liên mấy tiếng, vương hậu cuối cùng cũng đã từ từ tỉnh lại khỏi giấc ngủ dài, khó nhọc mở mắt. Cơ Vũ mắt lệ chan hoà, nghẹn ngào gọi: “Mẫu hậu, người đã tỉnh rồi! Mẫu hậu, cuối cùng thì người cũng đã tỉnh lại rồi!”
Vương hậu đưa mắt nhìn Cơ Vũ, khẽ mỉm cười, rồi lại khép mắt lại. Cung chính vui mừng không để đâu cho hết, vội rời khỏi cung, chạy như bay tới ngự thư phòng, muốn đích thân thông báo tin mừng cho bệ hạ. Cơ Vũ ra hiệu cho cầm sư, tiếng đàn lập tức trở nên thư thái, bớt đi một chút bi thương, thêm vào một chút hoan hỷ.
Lại một lúc sau, vương hậu một lần nữa mở mắt, nhìn Cơ Vũ mỉm cười, chậm rãi gọi: “Vũ Nhi!”
Vũ Nhi run giọng gọi: “Mẫu hậu!”
Giọng vương hậu vô cùng yếu ớt: “Vũ Nhi, mẫu hậu… mẫu hậu đang ở đâu?”
“Mẫu hậu, người đang ở trong cung!”
“Thật ư?” Vương hậu ngoảnh đầu, đưa mắt liếc nhìn xung quanh, thấy quả là vậy, bèn khẽ gật đầu, lại nhìn Cơ Vũ mỉm cười. “Đúng là đang ở trong cung! Xem ra những điều ta vừa trải qua, đều là hư ảo!”
“Đúng vậy, thưa mẫu hậu, người đã hôn mê suốt nửa tháng trời!”
“Nửa tháng?” Vương hậu không khỏi ngạc nhiên hỏi lại, dường như đã hoàn toàn trở về hiện thực, khẽ thở dài một tiếng não nề.
Cơ Vũ ngồi bên mép giường, nhìn cầm sư ngồi sau bức rèm, nói: “Mẫu hậu, nhờ có tiếng đàn của cầm sư, mới gọi được người tỉnh dậy.”
“Đúng vậy!” Vương hậu mỉm cười, “mẫu hậu đã nghe thấy rồi. Vũ Nhi, con hãy thay mẫu hậu cảm tạ cầm sư!”
Cơ Vũ “vâng” một tiếng, lắng nghe một lúc, nói khẽ: “Mẫu hậu, người hãy nghe đi, tiếng đàn của cầm sư thực thần kỳ! Mẫu hậu đã tỉnh lại, tiên sinh không biết vui mừng tới nhường nào!”
Vương hậu chăm chú lắng nghe. Cầm sư đang thả hồn vào khúc nhạc, hai mắt nhắm lại, mười ngón tay lướt nhẹ như bay, quên bẵng cả bản thân. Vương hậu lắng nghe một lúc, đột nhiên sực nhớ ra một chuyện, bèn nói với Cơ Vũ: “Vũ Nhi, có một việc này, con hãy mau chóng đi làm giúp mẫu hậu!”
“Con xin nghe lời căn dặn của mẫu hậu!”
“Con đi ra phố, giúp mẫu hậu tìm một người. Mẫu hậu đoán rằng, người này có lẽ đã tới!”
Cơ Vũ vô cùng ngạc nhiên: “Tìm người thế nào?”
“Một ông lão mày trắng.”
“Ông lão mày trắng?”
Vương hậu gật đầu, Cơ Vũ hỏi tiếp: “Nếu gặp được người này, Vũ Nhi sẽ mời vào cung ư?”
Vương hậu khẽ lắc đầu.
“Nếu gặp, con không cần phải nói gì, chỉ cần lập tức về bẩm báo với mẫu hậu là được.”
Cơ Vũ gật đầu, đứng dậy định đi, song lại quyến luyến bịn rịn, không nỡ rời xa.
Vương hậu thúc giục: “Đi mau, việc này rất gấp!”
Cơ Vũ buông tay vương hậu, vội vã bước ra khỏi cửa cung, từ xa đã nhìn thấy ba người Chu Hiển Vương, cung chính, nội thần đang từ ngự thư phòng hấp tấp bước lại. Từ một lối khác, Cơ Tuyết và đám ngự y cũng đang chạy như bay về phía này. Cơ Vũ cảm thấy yên tâm, tức tốc trở về khuê phòng, gọi cung nữ thân tín Xuân Mai cùng mình ra phố. Hai người cải trang thành dân thường, lặng lẽ lẻn ra ngoài vương cung theo lối cổng phụ, đi qua Thái học viện, chạy ra phố lớn.
Trên phố, người qua kẻ lại tấp nập, đâu đâu cũng thấy quầy hàng la liệt.
Cơ Vũ đầu đội một chiếc nón rộng vành, vai quàng khăn lụa, trông như một nữ thương khách, vai đeo bảo kiếm, đi dọc theo phố, hai mắt mở to, tìm kiếm ông lão có đôi mày trắng. Xuân Mai cải trang thành người hầu, theo sát Cơ Vũ không rời nửa bước.
Do cầm sư đã rời đi, lớp học không còn ai dạy, Trương Nghi cũng lẳng lặng chuồn ra phố. Lúc này, hắn đang vừa đi vừa ngó nghiêng, bất chợt thấy trước mắt sáng bừng, định thần nhìn kỹ, nhận ra ngay nàng công chúa vừa gặp trong Thái học, bất giác tim đập thình thịch như muốn bắn ra khỏi lồng ngực. Sau một hồi suy nghĩ, Trương Nghi cố gắng trấn tĩnh lại, giật áo Tiểu Thuận, lẳng lặng bám sát theo sau.
Cơ Vũ chỉ chăm chú tìm kiếm ông lão mày trắng, bởi vậy đừng nói là Trương Nghi đang bám sát phía sau, mà ngay cả Tô Tần đang đi phía trước có hai mươi bước chân, cũng không hề nhận thấy.
Là Xuân Mai phát hiện ra trước. Trong lúc đang đi, Xuân Mai bỗng kêu lên: “Công…” chữ “chúa” còn chưa kịp phát ra, cô nàng đã sực tỉnh, lập tức đổi lại, “tiểu thư, hãy nhìn người kia!”
Cơ Vũ nhìn theo tay Xuân Mai, phát hiện ra gã nói lắp vừa mới bị làm nhục ở Thái học.
Tô Tần cúi đầu chậm rãi bước đi, thanh kiếm gỗ đeo ngược trên vai, quả thật trông rất nực cười. Xuân Mai hạ thấp giọng nói khẽ: “Nhìn kiếm của hắn kìa, đeo ngược trên vai!”
Cơ Vũ lần đầu tiên để ý thấy bộ dạng đeo ngược kiếm của Tô Tần, khẽ bật cười một tiếng, rồi chậm rãi bước đi, kéo sụp nón xuống thấp hơn, tránh để Tô Tần nhận ra, cứ thế lẳng lặng đi theo sau hắn, trong khi hai mắt vẫn ngó nghiêng tìm ông lão mày trắng.
Tô Tần bước tới ngã ba, đứng đó đăm chiêu suy nghĩ. Lát sau, bèn lôi mảnh khăn lụa của Cơ Tuyết từ trong ống tay áo ra, đặt trên lòng bàn tay ngắm nghía một hồi, rồi nâng lên trước ngực, nhắm mắt lại lầm rầm vài câu gì đó, như thể đang cầu nguyện. Sau đó cẩn thận gập lại, nhét vào trong ống tay áo, ngẩng đầu bước đi.
Ở cách đó không xa, một cây phướn xem tướng đang giương cao, tiểu đồng tay cầm cán phướn, đứng thẳng một bên. Quỷ Cốc Tử ngồi ngay ngắn dưới đất, hai mắt khép hờ, giống như đang ngủ gật.
Người qua kẻ lại tấp nập, có người cứ thế đi qua, có người liếc mắt nhìn lá phướn, song không ai dừng lại xem tướng. Tiểu đồng bụng đói réo sôi ùng ục, không thể nhịn thêm được nữa, cúi đầu xuống, nói khẽ với Quỷ Cốc Tử: “Tiên sinh, bụng tiểu đồng kêu réo dữ quá!”
Quỷ Cốc Tử liếc mắt nhìn thấy Tô Tần, liền bật cười: “Tiểu tử mau đứng thẳng lên, có người mang tiền tới rồi!” Tiểu đồng phấn chấn, đứng thẳng người dậy, đưa mắt trông ra phía trước, thấy Tô Tần đang nhìn lá phướn, thì không cả cúi người chào, lập tức kêu lên: “Tiên sinh, chính là anh chàng kỳ quặc đó!”
Quỷ Cốc Tử gật đầu.
Tiểu đồng nhịn không nổi, hạ giọng cãi lại: “Tiên sinh, nhưng anh ta chỉ có một đồng, tiểu đồng thấy anh ta cũng đói lắm rồi!”
Quỷ Cốc Tử lại bật cười: “Tiểu tử đúng là có trái tim nhân từ, song người nhân từ không cần no bụng ư? Nếu tiểu tử không đói, ta sẽ thu phướn lại không xem tướng nữa!”
Tiểu đồng chưa kịp nói gì, Tô Tần đã bước lại gần. Quỷ Cốc Tử từ từ nhắm mắt, tiểu đồng cũng mau chóng dựng thẳng cây phướn lên.
Bước chân Tô Tần chậm lại, hai mắt nhìn chằm chằm vào hàng chữ lớn trên lá phướn: “Xa coi tiền đồ vạn dặm, gần đoán phúc họa sớm chiều”.
Tô Tần không nhận ra ông lão xem bói trước mặt chính là người mình đã gặp trong miếu đêm hôm trước. Cũng có lẽ do hai chữ tiền đồ quá ư thu hút, nên sau một hồi do dự, cuối cùng vẫn quyết định bước tới trước mặt Quỷ Cốc Tử, ngồi xuống, ngập ngừng gọi: “Tiên… tiên sinh…”
Mắt Quỷ Cốc Tử nheo lại thành hai khe hẹp, thủng thẳng: “Khách quan xin cứ nói!”
“Vãn… vãn sinh muốn… muốn… cầu tiên… tiên sinh… một quẻ!”
Quỷ Cốc Tử vẫn khép hờ hai mắt: “Xa có thể đoán quá khứ, tương lai; gần có thể xem phúc họa sớm tối; nhiều có thể hỏi thời vận đời người, ít có thể đoán trước chuyện hiếu hỷ! Không biết khách quan muốn xem chuyện gì?”
“Là… là muốn tiên… tiên sinh… xem… xem giúp vãn sinh… đời này có thể… có thể…”
Không đợi Tô Tần lắp bắp hết câu, Quỷ Cốc Tử đã cắt ngang, chậm rãi nói: “Xin khách quan đặt tiền xem quẻ trước!”
Người qua đường nhìn thấy có người coi bói, bèn xúm xít lại xem. Cơ Vũ liếc thấy cặp mày dài trắng toát của Quỷ Cốc Tử, trong lòng mừng rỡ, tim đập rộn ràng, thở phào một cái, vuốt lại mớ tóc, kéo Xuân Mai đứng lẫn vào trong đám đông đứng xem.
Tô Tần không để ý tới đám người vây quanh, vừa thò tay vào ống tay áo lần tiền, vừa hỏi: “Vãn… vãn sinh… dám hỏi… hỏi tiên sinh, cần… cần… trả bao nhiêu tiền?”
“Muốn biết thời vận đời người, một lượng vàng; muốn biết chuyện hiếu hỷ, mười xu tiền đồng!”
Tô Tần mặt biến sắc, bàn tay phải đang lần tìm trong ống tay áo chợt khựng lại: “Vãn… vãn… vãn sinh…”
Người vây quanh mỗi lúc một đông, Trương Nghi cũng dẫn Tiểu Thuận lách vào trong, chen lên đầu hàng. Tô Tần muốn bỏ mà không được, sắc mặt lúng túng, ấp a ấp úng nói: “Tiên sinh… vãn… vãn sinh… không… không có…”
Đám đông thấy Tô Tần lắp bắp, thì cười ồ cả lên. Tô Tần càng luống cuống, đang định đứng dậy bỏ đi thì Quỷ Cốc Tử thủng thẳng nói: “Nhìn dáng vẻ của khách quan, hẳn là muốn cầu thời vận đời người! Mau đưa tay ra đây!”
Giọng Quỷ Cốc Tử như có thần lực, Tô Tần vô thức chìa ngay tay trái ra. Bàn tay già nua của Quỷ Cốc tử lần bắt mạch của Tô Tần, hai mắt khẽ nhắm lại, giống như đang chẩn bệnh.
Có người nói to: “Hơ hơ, mọi người nhìn kìa, trên phướn viết rõ là xem tướng, không ngờ lại là khám bệnh!”
Có người phụ họa: “Này các vị, các vị đã nhìn thấy ai bắt mạch xem bói bao giờ chưa? Đây gọi là thầy bói biến thành thầy thuốc, ha ha ha!”
Mọi người lại cười rộ lên.
Trương Nghi dường như đã quên bẵng mất công chúa Cơ Vũ đang đứng ngay bên cạnh, hai mắt mở to nhìn chằm chằm vào bàn tay bắt mạch của Quỷ Cốc Tử.
Bắt mạch được một lúc, Quỷ Cốc Tử bèn buông tay, hai mắt nhắm lại, cất giọng sang sảng: “Khách quan có tư chất dị thường, sau này quý đến hàng khanh tướng, lão hủ xin được chúc mừng!”
Đám đông thảy đều trợn mắt kinh ngạc. Có người chỉ vào Tô Tần, cười ngặt nghẽo mà nói: “Hắn mà cũng quý đến hàng khanh tướng ư? Ha ha ha, mọi người thử nhìn hắn mà xem, thô kệch quê mùa, còn nói lắp nữa chứ! Ha ha ha, mọi người đã từng thấy khanh tướng nào nói lắp chưa?”
Đám đông lại cười ầm ĩ.
Có người nhận ra Tô Tần, lập tức kinh ngạc kêu lên: “Đây chẳng phải là cậu con trai thứ hai của Tô gia ở thôn Hiên Lý sao? Quý tới hàng khanh tướng? Giờ đang nổi tiếng chơi bời lêu lổng, khiến cha hắn suýt tức chết kia kìa!”
Có người giễu cợt: “Đấy chẳng phải là tư chất dị thường là gì?”
Tiếng cười chê càng lúc càng ồn ã.
Tô Tần vẫn thản nhiên như không, không xấu hổ cũng không tức giận, từ từ quỳ xuống, hướng về Quỷ Cốc Tử, vái liền ba vái: “Tạ… tạ ơn… những lời… may… may mắn… của… của tiên sinh! Vãn… vãn sinh… không có… một… một lượng vàng…” Rồi lần trong ống tay áo móc ra đồng tiền bố vừa kiếm được nhờ vác gạo thuê, cung kính đặt trước mặt Quỷ Cốc Tử, “vãn sinh chỉ… chỉ có đồng tiền này… không… không đủ… trả tiền công… cho… tiên… tiên sinh!”
Quỷ Cốc Tử mở mắt, nhìn Tô Tần một lát, lại khép mắt lại, thủng thẳng nói: “Khách quan đứng dậy đi! Lão hủ chỉ nhận đồng tiền này thôi, số tiền công còn thiếu, đợi khi khách quan làm tới chức khanh tướng, trả lại cho lão hủ cũng chưa muộn!”
Tô Tần lại lạy liền ba lạy: “Vãn… vãn… vãn sinh tạ… tạ ơn tiên sinh!”
Quỷ Cốc Tử còn chưa kịp đáp lại, bỗng từ trong đám đông vang lên tiếng cười chế giễu. Mọi người đồng loạt nhìn về phía đó, chính là tiếng cười của Trương Nghi.
Cơ Vũ quay sang nhìn, chợt nhận ra Trương Nghi, ngạc nhiên sửng sốt, bèn kéo sụp nón che kín mặt. Trương Nghi thấy nhị công chúa đã nhận ra mình, hiểu rằng cơ hội trổ tài đã tới, lập tức hào khí bừng bừng, vừa kín đáo liếc nhìn Cơ Vũ, vừa vòng tay hướng vào Quỷ Cốc Tử, dõng dạc nói: “Lão thầy tướng kia, lão khoác lác quá đà rồi đấy!”
Quỷ Cốc Tử từ từ mở mắt, liếc nhìn Trương Nghi, nhận ra ngay gã học trò ngông cuồng trong học cung hôm nọ, lập tức lên tiếng: “Khách quan dựa vào đâu mà nói vậy?”
Trương Nghi chỉ vào lá phướn: “Trên lá phướn của lão viết rành rành: Xa coi tiền đồ vạn dặm, gần đoán phúc họa sớm chiều. Tiền đồ đời người nhất thời không thể kiểm nghiệm, ai cũng có thể phán bừa. Vậy vãn sinh muốn hỏi phúc họa sớm chiều, liệu tiên sinh có đoán đúng được chăng?”
Quỷ Cốc Tử chậm rãi nói: “Tất nhiên!”
Trương Nghi chớp mắt một cái: “Nếu nói tới phúc họa sớm chiều, vãn sinh xin làm khó tiên sinh một chuyện. Vãn sinh xin hỏi, trong vòng một tháng tới, tại hạ có phúc họa nào chăng?”
Quỷ Cốc Tử không bắt mạch nữa, mở mắt nhìn Trương Nghi, quan sát kỹ một lượt, rồi nhắm mắt lại, nói: “Khách quan sắp gặp chuyện đại hung trong đời!”
Nghe nói gặp quẻ hung, Trương Nghi cho rằng Quỷ Cốc Tử cố ý chọc giận mình, hằm hằm tức tối: “Lão… lão ăn nói hồ đồ! Được rồi, vãn sinh hỏi tiếp lão, theo lão thì vị khách quan quý tới hàng khanh tướng này trong vòng một tháng tới có họa phúc nào chăng?”
Quỷ Cốc Tử cũng nhìn Tô Tần một lượt, trả lời ngay: “Hắn sắp gặp chuyện đại hỷ trong đời!”
Trương Nghi nổi giận đùng đùng: “Sao kia? Vãn sinh gặp đại hung, hắn lại đại hỷ, các vị nói thử xem, liệu trong thiên hạ có chuyện này chăng? Hừm, đích thị là ăn nói hồ đồ, cũng chỉ là vì một đồng xu kia mà thôi, Trương Nghi đã nhìn thấu bụng dạ lão rồi!”
Tiểu đồng nghe Trương Nghi ăn nói ngông cuồng vô lễ, trừng mắt tức giận, nhìn chòng chọc vào Trương Nghi. Quỷ Cốc Tử mở mắt, liếc Trương Nghi một cái, rồi lại khép mắt lại như cũ, nói chắc như đinh đóng cột: “Số mệnh đã định, tin hay không là tuỳ khách quan!”
Trương Nghi hừ mũi một tiếng, lên giọng: “Lão tiên sinh hãy khoan nhắm mắt. Vãn sinh hỏi lão, trong vòng một tháng tới, nếu lời phán của tiên sinh không linh nghiệm, sẽ thế nào đây?”
Quỷ Cốc Tử không thèm lý tới Trương Nghi, vẫn nhắm nghiền hai mắt.
Trương Nghi cười ha hả, nói: “Biết ngay là lão nói xằng nói bậy! Nếu không, cớ sao không dám trả lời!”
Quỷ Cốc Tử có vẻ đã nhập định, song từ trong miệng lại bật ra một câu: “Chàng trai, lão hủ sẽ ở đây một tháng chờ cậu!”
“Tốt!” Trương Nghi quay sang phía đám đông, vòng tay sang hai bên trái phải, “các vị, xin các vị hãy làm chứng giúp. Trong vòng ba mươi ngày tới, nếu linh nghiệm, vãn bối sẽ khấu đầu ba cái trước lão tiên sinh đây! Còn nếu không linh nghiệm, ha ha ha…” Liếc mắt nhìn lá phướn bên cạnh tiểu đồng, nói tiếp, “e rằng lá phướn nhỏ bé của lão tiên sinh đây sẽ thành trăm mảnh vụn!”
Tiểu đồng trừng mắt nhìn Trương Nghi: “Ngươi dám?”
Đám đông lại cười ồ lên.
Quỷ Cốc Tử lại nói tiếp: “Chàng trai, đợi tới lúc đó, e rằng cậu không còn mạnh miệng như hôm nay được nữa!”
Trương Nghi lại phá lên cười: “Được, chúng ta quân tử nhất ngôn!”
Nói xong lời này, Trương Nghi hăng máu như gà chọi đá thắng, ngẩng đầu ưỡn ngực, ngoảnh đầu tìm Cơ Vũ, nhưng thấy nàng và tỳ nữ đã ở tít phía xa. Trương Nghi vô cùng thất vọng, định đuổi theo, bỗng khoé mắt liếc thấy Tô Tần cũng đang đi ra phố theo chiều ngược lại, trong đầu bỗng nảy ra một ý, lập tức quên ngay nhị công chúa, kéo Tiểu Thuận, bám theo Tô Tần từ phía xa.
Đúng như tiểu đồng nói, Tô Tần đang bụng đói cồn cào. Mặt trời đã lặn xuống trời tây, đang là giờ cơm tối, mùi thức ăn từ các hàng quán trên phố toả ra thơm nức, tiếng rao mời khách của các chủ quán vang lên không ngớt bên tai. Tô Tần dừng bước, nhìn một vị khách đang ngồi ăn mà nuốt nước bọt, muốn bỏ đi, song hai chân nặng trịch.
Tô Tần lại nuốt nước bọt, đang dằn lòng định bước đi, bỗng có một bàn tay vỗ nhẹ lên vai. Tô Tần giật nảy mình ngoái đầu nhìn lại, thấy có hai người đang đứng ở sau lưng, chính là Trương Nghi và Tiểu Thuận.
Do đã gặp hai lần, Tô Tần nhận ra ngay, cúi gập người vái chào mà nói: “Tô… Tô Tần… bái kiến… sĩ… sĩ tử!”
Trương Nghi cất giọng châm biếm: “Nên gọi Tô Tử là Tô khanh hay là Tô tướng nhỉ? Tô khanh tướng nhé, như vậy mới đầy đủ. Tại hạ họ Trương tên Nghi, người Ngụy.” Rồi khoa trương vái đáp lễ, “Trương Nghi người Ngụy bái kiến khanh tướng đại nhân!”
Tô Tần đỏ bừng mặt: “Trương… Trương Tử chớ… chớ cười đùa! Tô… Tô Tần… không gánh… nổi tội…”
Trương Nghi tiếp tục giễu cợt: “Ồ, Tô khanh tướng nói gì lạ thế? Trương Nghi thấy Tô khanh tướng nấn ná mãi ở đây, có phải đã đói rồi chăng?”
Tô Tần bị Trương Nghi nhìn thấu tình trạng quẫn bách, mặt đỏ như gấc: “Tại… tại hạ…”
Trương Nghi cười vang: “Khanh tướng đại nhân, có thể khuất phục trời, khuất phục đất, khuất phục người, khuất phục mình, song không khuất phục nổi cái bụng đâu. Chỉ có điều… quán ăn ở đây quá dở, chỉ thích hợp để thoả mãn cái bụng của đám hạ nhân. Tôn quý như Tô khanh tướng đây, nên chọn chỗ tao nhã hơn mới phải!” Rồi quay sang nhìn Tiểu Thuận, “tiểu tử, có biết trong vương thành có chỗ nào thích hợp cho Tô khanh tướng dùng bữa chăng?”
Tiểu Thuận đảo con ngươi một vòng: “Bẩm thiếu gia, gần Văn miếu có quán Vạn Bang, nghe nói chuyên phục vụ quan lại quyền quý, sứ thần liệt quốc, nổi tiếng hạng nhất vương thành!”
Trương Nghi gật đầu: “Ồ, quán Vạn Bang, tên gọi hay lắm, rất phù hợp để khanh tướng đại nhân đây dùng bữa. Tô khanh tướng, tại hạ muốn mời đại nhân một chén rượu nhạt ở quán Vạn Bang, mong đại nhân nể mặt!”
Tô Tần nghe những lời này, biết là nói giễu mình, mặt đỏ bừng, lắp bắp từ chối: “Tôi… tôi… không… không…”
Trương Nghi không chịu buông tha: “Tô khanh tướng, tại hạ có lòng thành, xin đại nhân nhận lời, coi như để tại hạ chuộc lỗi!”
Tô Tần vô cùng ngạc nhiên: “Chuộc… chuộc lỗi?”
Trương Nghi nghiêm túc gật đầu: “Lúc trước ở Thái học, là Trương Nghi đã làm khó khanh tướng đại nhân!”
Tô Tần thấy Trương Nghi nói vậy, có phần xúc động, lắp bắp mà nói: “Tô… Tô Tần… không… không trách sĩ… sĩ tử!”
Trương Nghi lắc đầu quầy quậy: “Khanh tướng đại nhân có thể không trách, song xét về lễ, Trương Nghi cần phải tạ tội. Tô khanh tướng, mời!”
Tiểu Thuận cũng bước lại, kéo tay Tô Tần, cười hì hì mà nói: “Tô đại nhân, thiếu gia có lời mời, ngài không ăn thực là uổng phí, mà ăn cũng là miễn phí, hà tất phải sĩ diện để bụng đói meo? Đi thôi, quán Vạn Bang ở ngay phía trước kia rồi!”
Tô Tần thấy hai người không còn giễu cợt mình nữa, lại thấy Trương Nghi có vẻ hối lỗi thực lòng, bèn cúi gập người nói: “Tấm thịnh… thịnh tình của Trương… Trương Tử, Tô… Tô Tần xin… cảm… cảm tạ!”
Trương Nghi nhìn Tô Tần, cười vang, kéo tay hắn mà nói: “Ồ, như vậy mới giống khanh tướng chứ! Đi nào!”
Một lát sau, ba người đã tới trước quán Vạn Bang. Liếc mắt nhìn vào trong, thấy bài trí cực kỳ hoa lệ, Tô Tần dụi mắt như thể đang ngủ mơ.
Thấy Trương Nghi ăn mặc sang trọng, tiểu nhị tươi cười hớn hở, dẫn họ vào nhã thất ở tầng trên. Trương Nghi chìa tay, cung kính nói: “Khanh tướng đại nhân, mời!”
Tô Tần chưa hết ngỡ ngàng, cũng chìa tay mà nói: “Trương Tử, mời!”
Trương Nghi nhìn sang Tiểu Thuận, mắng khẽ: “Còn không mau dẫn khanh tướng đại nhân vào chỗ ngồi!”
Tiểu Thuận kéo ghế mời Tô Tần ngồi xuống, Trương Nghi cũng ngồi xuống theo.
Tiểu nhị bước lại gần, quỳ xuống đất nói: “Tiểu nhân kính mời hai vị thiếu gia chọn món!”
Trương Nghi xua tay nói: “Khỏi cần chọn món, ngươi tự đi chuẩn bị đi, cần tám món nóng tám món nguội. Mà này, nhớ kỹ, bốn thứ tay gấu, vi cá, môi báo, tim nai, không được thiếu món nào!”
Tiểu nhị nghe vậy, như mở cờ trong bụng, dõng dạc nói: “Thiếu gia yên tâm, đây đều là những món đặc biệt của bản quán, chắc chắn không thể thiếu được. Chư vị muốn dùng rượu gì?”
Trương Nghi nheo mắt lại: “Ở đây có những rượu gì?”
“Bẩm thiếu gia, toàn là rượu lâu năm của Đại Chu!”
“Rượu lâu năm của Đại Chu?” Trương Nghi ngẫm nghĩ một lát, “được bao nhiêu năm rồi?”
“Có loại ba năm, năm năm, bảy năm, mười năm, mười hai năm, mười lăm năm, còn có loại tám mươi năm, thiên hạ hiếm có, là cực phẩm!”
“Hay quá!” Trương Nghi cất giọng sang sảng, “cho một vò rượu tám mươi năm!”
Tiểu nhị phấn khởi ra mặt, cao giọng đáp lời: “Có ngay, có ngay!”
Chỉ một lát sau, thức ăn đã được dọn lên, hết đĩa này tới đĩa khác, cho tới khi bày chật kín cả mặt bàn, không còn một chỗ hở. Tô Tần không biết đây là những thứ gì, chỉ trố mắt ngẩn người nhìn đủ món sơn hào hải vị, lắp bắp nói: “Trương… Trương Tử… gọi nhiều… nhiều món như vậy, chẳng phải… lãng… lãng phí quá ư?”
Trương Nghi mở nắp vò rượu, hương rượu thơm nức xộc vào tận mũi. Trương Nghi rót đầy hai chén, cười sảng khoái, tiếp lời Tô Tần: “Tô khanh tướng thân phận cao quý, chỉ vài đĩa thức ăn, một hũ rượu lâu năm, sao có thể nói là lãng phí?” Lại quay sang Tiểu Thuận, “ta và khanh tướng đại nhân ngồi đây uống rượu, tiểu tử ngươi đứng đó làm gì? Mau ra ngoài đợi!”
Tiểu Thuận thấy Trương Nghi nháy mắt với mình thì hiểu ý, đành nuốt nước bọt ừng ực, vội vã đi ra khỏi cửa.
Tô Tần vội nói: “Trương… Trương Tử, nhiều… nhiều thức ăn như… như thế này… chúng… chúng ta ăn làm sao hết, sao… không… không bảo… bảo anh ta cùng… cùng ăn?”
Trương Nghi cười vang mà nói: “Kẻ hầu người hạ như hắn, sao có thể ngồi cùng mâm với khanh tướng đại nhân?” Rồi cầm một chén rượu lên, đẩy chén còn lại tới trước mặt Tô Tần, “khanh tướng đại nhân, mời!”
Tô Tần do dự một lát, rồi nâng chén lên, nói: “Trương… Trương Tử, mời!”
Trương Nghi liên tục rót rượu, hai người uống hết chén này đến chén khác, chỉ một loáng sau, vò đã trơ đáy. Rượu ủ lâu năm, uống đến đâu ngấm đến đấy, Tô Tần bình thường hiếm khi uống rượu, giờ không trụ nổi, vừa uống đã say mèm.
Trương Nghi bưng cả vò rượu lên, dốc nốt những giọt cuối cùng vào đầy một chén, đưa cho Tô Tần: “Chén rượu cuối cùng này, mời khanh tướng đại nhân thưởng thức!”
Tô Tần mặt đỏ phừng phừng, nhờ có men rượu mà cũng bạo gan hơn, đưa tay giật lấy chén rượu, lớn tiếng nói: “Trương… Trương Tử… thật… thật là… là hào kiệt… xuất… xuất chúng. Xem… xem… tại hạ đây!” Nói xong đưa chén rượu lên uống một hơi cạn sạch.
Trương Nghi cảm thấy đã đủ, đặng hắng liền ba tiếng. Tiểu Thuận đợi sẵn bên ngoài, nghe thấy, bèn đẩy cửa bước vào, thầm thì vài câu vào tai Trương Nghi. Trương Nghi nghe xong, vòng tay nói với Tô Tần: “Bên ngoài có người tìm tại hạ, khanh tướng đại nhân hãy ngồi chờ ở đây một lát, tại hạ ra ngoài có chút việc, lát nữa sẽ quay lại uống thêm vò nữa!”
Tô Tần đứng dậy, vòng tay nói: “Trương… Trương Tử cứ… cứ đi đi, Tô… Tô Tần sẽ… sẽ đợi… đợi Trương Tử quay… quay lại uống thêm vò… vò nữa.”
Trương Nghi làm bộ dạng say xỉn, vịn vai Tiểu Thuận ngật ngưỡng bước ra khỏi nhã thất, đi xuống dưới lầu.
Bên ngoài, trời tối đen như mực, đã tới canh hai. Tiểu nhị nhìn thấy Trương Nghi bước ra khỏi cửa thì vội vã đuổi theo, chặn ngang trước mặt: “Bẩm, thiếu gia đi đâu đấy?”
Trương Nghi miệng nồng nặc hơi rượu: “Bản thiếu gia mót tiểu!”
Tiểu nhị cười tít mà nói: “Thiếu gia, trong quán có chỗ tiểu tiện, để tiểu nhân dẫn thiếu gia đi!”
Trương Nghi sầm mặt lại, quát lớn: “Bản thiếu gia muốn tiểu tiện ở đâu còn cần ngươi chõ mũi vào ư?”
Tiểu Thuận vội kéo tiểu nhị lại, nói khẽ: “Thiếu gia uống say rồi, muốn ra ngoài hít thở khí trời cho tỉnh rượu, lát nữa sẽ quay lại. Nếu ngươi còn lằng nhằng gây sự với thiếu gia, thiếu gia dám phá luôn nhà hàng của ngươi đấy!”
Tiểu nhị nhớ ra trên lầu còn một người, hẳn họ sẽ không thể chạy làng, lại cười niềm nở mà nói: “Thiếu gia muốn tiểu tiện ở đâu, xin cứ tuỳ ý!”
Trương Nghi chỉ tay lên lầu, nói trong hơi rượu: “Ngươi nghe đây! Vị thiếu gia trên kia uống nhiều rồi, ngươi nhớ thay bản thiếu gia phục vụ cho chu đáo!”
“Thiếu gia yên tâm, tiểu nhân sẽ cho thiếu gia kia uống một bát canh giải rượu, đảm bảo không có chuyện gì!”
Trương Nghi gật gù, vịn vào người Tiểu Thuận, lảo đảo bước ra khỏi cửa.
Hai người đi tới một góc khuất, thấy tiểu nhị không nhìn theo nữa thì ba chân bốn cẳng chạy thẳng. Một lát sau, về tới phòng trọ, Tiểu Thuận vừa mở cửa phòng, Trương Nghi đã nằm vật ra giường, cười sằng sặc.
Cười một chập, Trương Nghi quay sang nói với Tiểu Thuận: “Ngươi thử chạy ra ngoài, nghe ngóng tình hình xem sao!”
Tiểu Thuận gật đầu, mở cửa đi ra ngoài. Chưa đầy nửa canh giờ sau đã thấy Tiểu Thuận tất tưởi trở về, Trương Nghi nghe thấy tiếng bước chân, vội bước ra hỏi: “Thằng oắt đó thế nào rồi?”
Tiểu Thuận thở hổn hển nói: “Khởi bẩm thiếu gia, có hai gã to con đứng chắn trước cửa nhã thất, bắt tên nói lắp đó trả tiền ăn!”
“Tên nói lắp đó đang làm gì?”
“Đang ngồi trong nhã thất đợi thiếu gia, nghe nói, hắn vẫn luôn mồm lải nhải đòi uống thêm vò nữa với thiếu gia, không say không về!”
Trương Nghi suy nghĩ một lát, gật gật đầu: “Được rồi, mau đi nghe ngóng tiếp!”
Tiểu Thuận quay người chạy đi. Khoảng nửa canh giờ sau lại quay trở về, phì phò nói: “Bẩm thiếu gia, ông chủ nhà hàng nổi trận lôi đình, đã treo tên nói lắp lên xà nhà, nói là sáng sớm mai sẽ áp giải lên quan huyện.”
Trương Nghi mỉm cười, hừ mũi một tiếng: “Quý tới hàng khanh tướng cái nỗi gì? Đại hỷ trong đời cái nỗi gì? Bản công tử thực sự muốn xem, tên nói lắp đó đại hỷ ở đâu, phú quý ở đâu?”
Tiểu Thuận hỏi thêm: “Thiếu gia, còn cần tiểu nhân làm gì nữa không?”
Trương Nghi ngáp một cái, nói: “Mau bưng nước rửa chân lại đây!”
Trời đã sáng bảnh, trên phố người qua kẻ lại tấp nập. Trong quán Vạn Bang, một trang hán mở cổng chính, ông chủ quán và tiểu nhị bước vào đại sảnh, hai hán tử theo sau. Ông chủ nhìn Tô Tần đã bị treo cả đêm trên xà nhà, hất hàm ra hiệu cho một hán tử. Hán tử tiến lại, tháo dây thừng buộc trên xà. Tô Tần rơi đánh “bịch” xuống đất như cái bao tải gai, đau quá kêu la ầm ĩ.
Tiểu nhị tiến lại, hằm hằm nhìn Tô Tần, chửi rủa: “Tên nói lắp thối tha kia, dám tới ăn không ở quán Vạn Bang, lại còn đòi ăn sơn hào hải vị, ngươi đúng là chán sống!”
Tô Tần lúc này đã tỉnh rượu, nghe thấy lời chửi mắng thì mặt mũi đỏ rần, cúi gằm mặt, im thin thít.
Tiểu nhị quát lớn: “Mau mang tiền đến trả, nếu không, ông chủ sẽ giải ngươi lên quan huyện, nhẹ thì giam vào đại lao ba năm, nặng thì thích chữ lên mặt, cho ngươi cả đời không thể làm người!”
Nghe những lời này, Tô Tần sợ hãi cuống quýt: “Tôi… tôi… tôi… không ăn… ăn không…”
Ông chủ lạnh lùng nói: “Hừm, đã tới nước này rồi, còn già mồm. Vả vào miệng hắn!”
Một hán tử nghe vậy, sải vài bước tới trước mặt Tô Tần, giơ tay lên đang chuẩn bị vả, thì từ ngoài cửa chợt vang lên một giọng nói: “Khoan!”
Mọi người đều ngạc nhiên, quay đầu lại nhìn, thì ra là Trương Nghi và Tiểu Thuận đang đứng trước cửa.
Nhìn thấy Trương Nghi, Tô Tần cảm kích khôn tả: “Trương… Trương Tử… đã tới!”
Trương Nghi mặt lạnh tanh, chậm rãi tiến tới trước mặt ông chủ, chỉ vào Tô Tần, nghiêm giọng trách mắng: “Sao các người lại cư xử như vậy với vị thiếu gia này?”
Ông chủ nhìn thấy Trương Nghi tới, lông mày đã giãn ra, vội cười tít mắt: “Bẩm thiếu gia, tại hạ… tại hạ…” Rồi vội quay người lại, nghiêm mặt quát hán tử, “còn đứng đần ra đó? Không mau cởi trói cho thiếu gia?”
Hán tử vội vã cởi trói cho cho Tô Tần.
Trương Nghi vẫn lạnh lùng nói: “Tổng cộng hết bao nhiêu tiền?”
Ông chủ quay sang tiểu nhị: “Điếc à? Thiếu gia hỏi ngươi, tổng cộng hết bao nhiêu?”
Tiểu nhị vội cầm một tấm thẻ tre, trình lên Trương Nghi: “Bẩm thiếu gia, tổng cộng đồ ăn thức uống đêm qua là tám lượng vàng, hai mươi tám xu đồng, đây là bản kê chi tiết, mời thiếu gia xem!”
Trương Nghi xua tay, nói với Tiểu Thuận: “Trả tiền!”
Tiểu Thuận móc ra chín lượng vàng, đưa cho tiểu nhị. Tiểu nhị đang tìm tiền lẻ trả lại, Trương Nghi đã xua tay nói: “Không cần!”
Ông chủ thấy vậy, gật đầu, khom lưng nói: “Sĩ tử gia, việc ngày hôm nay, tại hạ quả thực đắc tội, xin thiếu gia lượng thứ!”
Trương Nghi lừ mắt nhìn ông ta, cười khẩy mà nói: “Đắc tội với bản thiếu gia đây thì không sao, song đắc tội với Tô đại nhân đây, ông chủ sẽ phải trả giá!”
Ông chủ đảo mắt, quay sang tiểu nhị và hai hán tử: “Đêm qua, ai trong các ngươi đã treo Tô gia lên?”
Tiểu nhị và hai hán tử đưa mắt nhìn nhau, ông chủ lại đảo mắt, xỉa tay vào tiểu nhị quát lớn: “Chính là ngươi! Người đâu, treo hắn lên xà ngang cho ta, để cho Tô đại nhân đây hả giận!”
Hai hán tử chẳng nói chẳng rằng, bước tới bên tiểu nhị, loáng cái đã treo phắt hắn lên xà ngang, bất chấp hắn kêu la om sòm.
Ông chủ liếc mắt nhìn tiểu nhị, tỏ vẻ hài lòng, lại cúi gập người trước Trương Nghi, cười nịnh nọt mà hỏi: “Thiếu gia đây đã hả giận chưa?”
Trương Nghi gật đầu, giọng lạnh tanh: “Được rồi, ngươi treo Tô gia bao lâu thì cũng phải treo hắn bấy lâu!” Quay sang Tô Tần, “Tô đại nhân, đi thôi!”
Tô Tần muốn đi, song do hai chân bị trói đến tê dại, vừa bước một bước đã loạng choạng, ngã sấp xuống đất. Trương Nghi ra hiệu, Tiểu Thuận bèn dìu Tô Tần dậy, bước đi, ba người chậm rãi rời khỏi quán Vạn Bang.
Đi ra tới phố, Trương Nghi quay sang Tô Tần, vòng tay nói: “Tô khanh tướng, tối qua tại hạ có việc gấp, vốn chỉ định đi một lát, nào ngờ uống rượu say, ra cửa gặp gió thổi, người mềm nhũn như sợi bún, tới sáng nay mới tỉnh rượu. Chết thật, không ngờ đã làm khổ khanh tướng đại nhân!”
Tô Tần vòng tay đáp lễ, trong lòng đã hiểu rõ mười mươi, song miệng vẫn lắp bắp: “Sĩ… sĩ tử… chớ nên… tự… tự trách mình! Sĩ tử… đã cho Tô… Tô Tần này… hiểu được… thế… thế nào là… là phú quý chốn nhân… nhân gian, sao… sao có thể nói… nói là khổ?”
Trương Nghi cười: “Tô khanh tướng khoan dung độ lượng, Trương Nghi khâm phục!”
Tô Tần lại vòng tay nói: “Tạ… tạ ơn… bữa cơm thịnh… thịnh soạn của Trương… Trương Tử, Tô… Tô Tần … cáo… cáo từ!”
Trương Nghi cũng vòng tay nói: “Tô khanh tướng đi cẩn thận!”
Tô Tần quay người, loạng choạng bước đi. Nhìn theo bóng Tô Tần xa dần, Trương Nghi đảo mắt qua lại, lẩm bẩm một mình: “Không được! Nếu để kẻ này đi mất, làm sao có thể kiểm chứng được lời phán đoán hồ đồ của lão già mày trắng?” Rồi giơ tay lên gọi lớn. “Khanh tướng đại nhân, xin dừng bước!”
Tô Tần dừng lại, ngoảnh đầu nhìn Trương Nghi: “Trương… Trương Tử có… có gì dặn… dặn dò?”
“Tại hạ muốn biết, Tô khanh tướng sống ở đâu?”
“Thôn Hiên… Hiên Lý… phía… phía đông thành!”
“Tô khanh tướng lần này ra đi, có muốn về nhà không?”
Tô Tần ngẫm nghĩ một lát, lắc đầu.
Trương Nghi ngạc nhiên: “Không về nhà, thế khanh tướng đại nhân muốn đi đâu?”
Nghĩ tới thiên hạ bao la rộng lớn, mà mình lại không có chỗ nào nương thân, Tô Tần bất giác thấy hoang mang, cắn chặt môi một lúc, thở dài một tiếng, lắc đầu mà nói: “Tại… tại hạ… cũng… cũng… không biết!”
Trương Nghi dường như đã hiểu ra, ngẫm nghĩ một lát, bỗng nảy ra một ý, vòng tay mà nói: “Chỗ tại hạ vẫn còn rộng rãi, khanh tướng đại nhân nếu không ngại, có thể tới ở cùng tại hạ.”
Tô Tần mừng rỡ, cúi gập người vái Trương Nghi: “Tô… Tô Tần… tạ .. tạ ơn… thành ý của sĩ… sĩ tử!”
***
Khi Cơ Vũ trở về tới cung Tịnh An, bên cạnh vương hậu chỉ còn một mình cung chính. Thái y và Cơ Tuyết đều đã về cả, đến Hiển Vương cũng không còn ở đó. Cơ Vũ lấy làm lạ, nhìn thấy cung chính ra đón, vội hỏi ông ta: “Phụ vương, chị ta và ngự y đâu?”
Cung chính bẩm báo: “Nương nương muốn yên tĩnh, nên bảo họ về hết rồi!”
Cơ Vũ vội hỏi: “Mẫu hậu sao rồi?”
Cung chính nói khẽ: “Nương nương đỡ nhiều rồi, đang đợi công chúa!”
Cơ Vũ gật đầu, bước tới bên giường. Vương hậu hai mắt nhắm hờ, vẫn rất yếu ớt, có điều, khí sắc trông đã tốt hơn.
Cơ Vũ tiến lại gần, nói khẽ: “Mẫu hậu, Vũ Nhi đã về!”
Vương hậu từ từ mở mắt: “Mau đỡ mẫu hậu dậy!”
Cơ Vũ đỡ vương hậu dậy, để bà tựa lưng vào gối, phấn khởi nói: “Mẫu hậu, Vũ Nhi đã nhìn thấy ông lão mày trắng.”
“Ồ?” Vương hậu khẽ mỉm cười, gật đầu, trìu mến vuốt nhẹ mái tóc mượt mà của Cơ Vũ. “Nào, hãy lại ngồi cạnh mẫu hậu, kể rõ cho mẫu hậu nghe!”
Cơ Vũ ngồi xuống cạnh vương hậu, ngả vào lòng bà, kể lại từ đầu tới cuối sự việc mà mình đã gặp trên phố. Vương hậu nghe xong, thở phào một tiếng, mỉm cười nói: “Nghe con nói như vậy, chắc hẳn đúng là người này rồi!”
Cơ Vũ băn khoăn hỏi: “Mẫu hậu, lão trượng mày trắng là ai thế? Vì sao mẫu hậu lại muốn gặp?”
Vương hậu ngẫm nghĩ một lát, rồi chậm rãi nói: “Lão trượng là cao nhân đắc đạo, sống ở núi Vân Mộng, hiệu là Quỷ Cốc Tử.”
Cơ Vũ kêu lên thất thanh: “Lão trượng chính là Quỷ Cốc Tử ư?”
Tới lượt vương hậu ngạc nhiên: “Sao thế, con biết lão trượng ư?”
Cơ Vũ gật đầu: “Vâng, con vẫn thường nghe cầm sư nhắc tới cái tên này, nói rằng lão trượng chính là đương kim cầm thánh. Cầm sư còn nói, cho dù Bá Nha tái thế, e rằng vẫn kém lão nửa cái đầu!”
Vương hậu mỉm cười, nói: “Quỷ Cốc tiên sinh không chỉ là một cầm thánh!”
Cơ Vũ mắt tròn xoe, càng thêm kinh ngạc: “Mẫu hậu, lẽ nào lão trượng là bậc thần tiên?”
Vương hậu gật đầu: “Trong mắt mẫu hậu, lão trượng quả là bậc thần tiên!”
“Vâng!” Cơ Vũ cười nói, “lão trượng xem ra quả cũng có chút đạo cốt tiên phong. Mẫu hậu, sao người biết lão trượng đã đến Lạc Dương? Có phải lão trượng đã báo mộng cho mẫu hậu?”
Vương hậu lắc đầu: “Không phải, là mẫu hậu thỉnh cầu lão tới.”
Cơ Vũ có vẻ không tin: “Mẫu hậu quen lão trượng ư?”
Vương hậu gật đầu.
Cơ Vũ vô cùng phấn khích: “Mẫu hậu, người mau nói đi, làm sao người lại quen biết vị thần tiên này?”
“Ồ!” Vương hậu vỗ nhẹ vào đầu Cơ Vũ, dường như đang hồi tưởng lại chuyện năm xưa, “đó là chuyện nhiều năm về trước, khi đó mẫu hậu còn nhỏ, da sần sùi, tóc vàng quạch, xấu xí nổi tiếng trong cung. Song ông ngoại con đã nhiều tuổi mới có được một mụn con gái, bởi vậy vô cùng yêu thương mẫu hậu. Năm mẫu hậu mười hai tuổi, đột nhiên mắc một chứng bệnh lạ, sốt cao không giảm, tóc vàng gãy rụng, thần trí mê man, hôn mê liền bốn mươi tám ngày. Ông ngoại con vô cùng lo lắng, tìm kiếm thầy thuốc giỏi ở khắp nơi về trị bệnh cho mẫu hậu, song bệnh tình không chút thuyên giảm. Tới ngày thứ bốn mươi chín, bên ngoài cung có một lão trượng có đôi mày bạc trắng cầu kiến, nói là chuyên trị chứng bệnh này. Ông ngoại con nghe vậy, hết sức vui mừng, xuống tận bậc thềm nghênh đón lão trượng. Lão trượng đưa ra một yêu cầu, nói rằng mẫu hậu là nhân tài tu đạo bẩm sinh, sau khi trị khỏi bệnh, cần theo lão trượng lên núi tu đạo. Ông ngoại con chỉ mong chữa khỏi bệnh cho mẫu hậu, nên lập tức đồng ý. Lão trượng châm rất nhiều kim lên người mẫu hậu, để lại mười túi thảo dược, rồi cáo từ. Mẫu hậu cứ đúng giờ uống thuốc, bốn mươi chín ngày nữa trôi qua, sức khoẻ của mẫu hậu không những hồi phục như thường, mà tóc mọc đen bóng, lớp da sần sùi toàn thân bong tróc, thay thế bằng lớp da mới mịn màng, sau này, nghe mọi người nói đây gọi là ‘thoát thai hoán cốt’. Không chỉ có vậy, từ đó về sau, cơ thể mẫu hậu luôn toả hương thơm ngào ngạt, hết sức thần kỳ!” Nói tới đây, bà chợt dừng lại, thở dài.
Cơ Vũ đang chăm chú lắng nghe, vội hỏi: “Sau này thế nào? Mẫu hậu vì sao không theo Quỷ Cốc tiên sinh vào núi tu đạo?”
“Than ôi!” Vương hậu lại thở dài, “đều trách ông ngoại con! Một trăm ngày sau, Quỷ Cốc tiên sinh đúng hẹn tới đón, ông ngoại con bỗng nhiên đổi ý, tìm cách thoái thác, xin Quỷ Cốc tiên sinh đợi thêm ba năm nữa. Ba năm sau, Quỷ Cốc tiên sinh lại đúng hẹn tìm tới, ông ngoại con vẫn không chịu, bất chấp mẫu hậu năn nỉ cầu xin, nhất quyết gả mẫu hậu cho Chu thất. Ngày mẫu hậu xuất giá, Quỷ Cốc tiên sinh đứng bên ngoài cung, nhìn mẫu hậu nước mắt lưng tròng bước lên xe đón dâu. Quỷ Cốc tiên sinh thở dài thườn thượt, rồi quay người bước đi. Chỉ ba năm sau, người Sở khởi binh tiêu diệt nước Sái, ông ngoại con cũng qua đời vì chiến họa!”
“Sau đó thì sao?”
“Quỷ Cốc tiên sinh từ đó không còn thấy xuất hiện. Sau này, mẫu hậu sinh ra hai chị em con, dần dần cũng thôi không còn nghĩ đến việc tu đạo nữa. Ba năm trước, mẫu hậu đột nhiên mơ thấy Quỷ Cốc tiên sinh, tiên sinh nói rằng, nếu mẫu hậu muốn, tiên sinh sẽ lập tức tới đón mẫu hậu lên núi. Mẫu hậu tỉnh dậy, nghĩ tới những lỡ dở trong đời, cảm thấy thực xót xa!”
“Mẫu hậu, phải chăng người… người vẫn muốn tu đạo?”
Vương hậu lại thở dài: “Than ôi, tu đạo trước tiên phải vứt bỏ toàn bộ ý phàm. Tuy mẫu hậu có lòng này, song không thể dứt bỏ phụ vương của các con, cũng không thể dứt bỏ hai chị em con. Trước mắt Tần, Ngụy tranh nhau cầu hôn Tuyết Nhi, phụ vương con tiến thoái lưỡng nan, mẫu hậu khổ sở vì không có kế hay, mới cầu Quỷ Cốc tiên sinh giúp đỡ. Thật không ngờ tiên sinh vẫn còn nhớ tới mẫu hậu, đã tới đây thật rồi!” Nói tới đây, trên mặt bà thoáng lộ nét cười.
“Mẫu hậu, Quỷ Cốc tiên sinh thực sự có thể giúp chúng ta vượt qua cửa ải khó khăn này ư?”
Vương hậu khẽ gật đầu, giọng đầy tự tin: “Mẫu hậu tin rằng, trong trời đất này, không có chuyện gì tiên sinh không làm được. Chỉ cần tiên sinh ở đây, mẫu hậu đã thấy vững tin!” Rồi lại nằm xuống giường, “Vũ Nhi, con hãy về đi, mẫu hậu mệt rồi, muốn nghỉ ngơi chốc lát. Nên nhớ, chuyện này không được kể với bất cứ ai!”
Cơ Vũ gật đầu, bái lạy lui ra.
Hôm sau, Hiển Vương, Cơ Tuyết, Cơ Vũ tới thăm vương hậu. Bốn người đang trò chuyện, Đông Chu Công đột nhiên dẫn theo Trần Chẩn và ngự y mà Ngụy Huệ Hầu phái đến, xồng xộc xông thẳng vào cung.
Nội tể ngăn họ lại, bước vào cung bẩm báo: “Khởi bẩm bệ hạ, Đông Chu Công dẫn sứ Ngụy Trần Chẩn tới hỏi thăm bệnh tình nương nương!”
Chu Hiển Vương sững sờ, đưa mắt nhìn vương hậu. Vương hậu trầm ngâm một lát, lần tìm viên thuốc thanh huyền dưới gối, lấy nước uống vào. Một lát sau, bèn gật đầu với Hiển Vương.
Cung chính buông rèm, Chu Hiển Vương sắc mặt trầm tư, chậm rãi nói: “Truyền sứ Ngụy bái kiến!”
Chỉ một lát sau, Đông Chu Công, Nhan thái sư dẫn Trần Chẩn và ba vị ngự y bước vào cung, khấu bái ngoài rèm. Trần Chẩn cất giọng sang sảng: “Bệ hạ Đại Ngụy nghe nói nương nương bệnh nặng, có ý tốt phái ngự y tới chẩn trị, xin bệ hạ Đại Chu cho phép!”
Trần Chẩn thản nhiên gọi “bệ hạ Đại Ngụy” ngay trong chính cung Đại Chu, lời lẽ càn rỡ khiến tất thảy những người có mặt đều kinh ngạc. Chu Hiển Vương sắc mặt tím tái, Cơ Tuyết mày ngài nhíu chặt, bàn tay nhỏ bé của Cơ Vũ từ từ siết chặt chuôi kiếm.
Sau một hồi im lặng đầy căng thẳng, Nhan thái sư quỳ bên cạnh Trần Chẩn chậm rãi lên tiếng trách móc: “Ngụy sứ các hạ, đây là cung thất Đại Chu, không được nói năng bừa bãi!”
Trần Chẩn sững lại một thoáng, rồi đổi giọng châm biếm: “Trần Chẩn biết tội!” Sau đó hất hàm về phía tấm rèm. Hai nữ y quỳ trên đất hiểu ý, lập tức đứng dậy, nội tể bèn dẫn họ vào sau rèm để chẩn bệnh cho vương hậu.
Vương hậu vẫn nằm trên giường, thần thái tươi tắn, hai mắt nhắm nghiền. Hai nữ y trước hết bắt mạch, sau đó xem rêu lưỡi, cẩn thận xem xét hồi lâu, sắc vẻ mặt lộ rõ vẻ ngạc nhiên, đưa mắt nhìn nhau khó hiểu, rồi từ từ lui ra.
Thấy hai người đã lui ra, Trần Chẩn khấu đầu mà nói: “Sứ Ngụy Trần Chẩn cáo lui!”
Chu Hiển Vương cười nhạt, nói: “Tiễn khách!”
Đám Trần Chẩn về tới dịch quán, hai nữ y miêu tả lại tỉ mỉ về mạch đập và rêu lưỡi của vương hậu cho một ngự y lớn tuổi khác nghe. Ngự y nghe xong, vẻ cũng mơ hồ, chẳng hiểu ra sao. Trần Chẩn thấy ba người đều cúi đầu suy nghĩ, bèn hỏi nhỏ: “Nương nương mắc bệnh gì vậy?”
Ngự y vòng tay nói: “Khởi bẩm thượng khanh, nương nương mắc một căn bệnh rất lạ, ngờ là chứng hàn, song lại giống chứng nhiệt, hạ quan… hạ quan khó mà suy…”
Chữ “đoán” còn chưa nói ra đã bị Trần Chẩn chặn ngang: “Chứng nhiệt, chứng hàn cái gì? Ta chỉ hỏi ngươi, nương nương mắc bệnh thật hay là giả?”
Ngự y đáp ngay không chút do dự: “Bệnh thật!”
Trần Chẩn kinh ngạc, khẽ phẩy tay: “Biết rồi, lui ra!”
Ba người bèn lui ra.
Hai đầu lông mày của Trần Chẩn càng chau tít lại.
Sự ngông cuồng vô lễ của sứ Ngụy rõ ràng đã khiến Chu Hiển Vương nổi giận. Sau khi sứ Ngụy đi khỏi, Hiển Vương từ từ đứng dậy, mặt đầy nộ khí, nặng nề bước về phía cửa cung. Trước khi ra khỏi cửa, lại quay người lại nhìn cung chính, nói giọng lạnh tanh, gằn từng tiếng một: “Từ nay về sau, bất luận là ai, nếu tới hậu cung, đều phải bái kiến theo nghi lễ Đại Chu. Kẻ nào trái lệnh, trị tội theo luật pháp Đại Chu!”
“Lão nô lĩnh chỉ!”
Chu Hiển Vương thở gấp, trở về ngự thư phòng, ngồi còn chưa ấm chỗ, sứ Tần Sư Lý Tật lại dẫn theo một nữ vu y vào cung cầu kiến. Nữ vu y là một trong những đệ tử của Hàn Tuyền Tử, gọi là Lâm tiên cô, từ nhỏ đã theo Hàn Tuyền Tử học y đạo, tinh thông y thuật. Hoá ra, Công Tôn Ưởng nhận được cấp báo của Sư Lý Tật, đã vào núi thỉnh cầu Hàn Tuyền Tử, Hàn Tuyền Tử bèn sai Lâm tiên cô tới Lạc Dương, chẩn bệnh cho vương hậu Đại Chu.
Nội tể bẩm báo: “Muôn tâu bệ hạ, sứ Tần Sư Lý Tật cầu kiến ngoài cung!”
Chu Hiển Vương chau mày nói: “Nói với sứ Tần, nương nương ngọc thể bất an, quả nhân không muốn tiếp khách!”
“Lão nô cũng đã bẩm báo như vậy, song sứ Tần kiên quyết nói, họ đến đây cũng vì chuyện này. Tần Công nghe nói nương nương ngọc thể bất an, đã vào tận núi Chung Nam mời một vị đạo cô tới. Người này thần thông quảng đại, có thể sẽ chữa khỏi bệnh cho nương nương!”
Nghe nói đạo cô tới từ núi Chung Nam, Chu Hiển Vương suy nghĩ một lát, khẽ gật đầu: “Truyền cáo sứ Tần, dù là thần y được Tần Công mời từ núi Chung Nam tới, cũng phải tuân theo nghi lễ của Đại Chu. Đưa thần y tới hậu cung chẩn đoán bệnh tình nương nương!”
Nội tể đi ra, truyền đạt ý chỉ của Hiển Vương cho Sư Lý Tật. Sư Lý Tật dặn Lâm tiên cô theo nội tể vào Thái y viện, rồi cùng cung chính, nội tể và thái y của vương thất tới cung Tịnh An. Cung chính vén rèm, dẫn Lâm tiên cô bước tới bên giường vương hậu. Vương hậu đầu quấn khăn lụa, nằm im như đang hôn mê.
Lâm tiên cô không bắt mạch, cũng không xem bệnh, mà đứng cách vương hậu một bước chân, nhắm mắt vận công, khai thông thiên mục, quan sát vương hậu từ trên xuống dưới. Lâm tiên cô cứ nhìn như vậy khoảng chừng một khắc, bèn lui trở ra.
Cung chính, nội tể chưa từng nhìn thấy cách chẩn bệnh nào kỳ lạ như vậy, liền đưa mắt nhìn nhau, rồi gọi tiên cô dừng lại.
Nội tể vòng tay vái mà nói: “Xin hỏi thần y, có thể đoán ra bệnh của nương nương chăng?”
Lâm tiên cô không nói là bệnh gì, cũng không nói là không đoán ra bệnh, chỉ mỉm cười, vòng tay đáp lễ một vái, rồi quay người bước đi. Trở về dịch quán, Sư Lý Tật và phó sứ đều chạy ra đón, hỏi ngay: “Xin hỏi tiên cô, nương nương mắc bệnh gì?”
Lâm tiên cô nói khẽ: “Nương nương không có bệnh!”
Khoé miệng Sư Lý Tật khẽ nhếch lên, lộ rõ một nét cười, gật đầu nói: “Tiên cô quả nhiên y thuật cao siêu!” Suy nghĩ một lát, quay sang phó sứ, “mau truyền tin này ra ngoài, nói rõ cho người Ngụy biết!”
“Hạ quan tuân lệnh!”
Một tuỳ tùng sứ Ngụy nhận được mật báo, vội vã tới chỗ Trần Chẩn bẩm lại: “Hạ quan nghe phong thanh được từ chỗ dịch quán Tần, nói là Tần Công mời tiên cô từ núi Chung Nam tới chẩn bệnh cho nương nương, tiên cô nói là bệnh giả.”
“Hừm!” Trần Chẩn khẽ gật đầu, mặt sầm xuống, “ta sớm đã nhìn thấu kế hoãn binh của Chu thất, nên mới mời ngự y tới, không ngờ, ngự y cũng bị họ qua mặt nốt!”
Tuỳ tùng lo lắng hỏi: “Sứ Tần đã nhận ra chân tướng, ắt sẽ tới Chu thất truy hỏi thiên tử. Chu thiên tử cùng đường đuối lý, có lẽ sẽ gả trưởng công chúa cho Tần thất!”
Trần Chẩn cười nhạt: “Hừm, không có chuyện đó đâu! Chuẩn bị xe!”
Trần Chẩn đánh xe thẳng tới Chu cung, cầu kiến Hiển Vương. Ngự sử trực trong cung nhìn thấy sắc mặt tối sầm của Trần Chẩn, không biết có chuyện gì, cũng không dám hỏi nhiều, lập tức tìm gặp nội tể.
Nội tể đắn đo một lát, khấu kiến Hiển Vương nói: “Sứ Ngụy Trần Chẩn cầu kiến!”
Chu Hiển Vương khẽ chau mày: “Chẳng phải ông ta vừa tới hậu cung ư, còn đến đây làm gì nữa?”
“Bẩm bệ hạ, nghe ngự sử nói, Trần Chẩn sắc mặt hằm hằm, có lẽ là tới gây sự!”
“Truyền ông ta bái kiến ở chính điện!”
Trần Chẩn sắc mặt khó coi, bước vào chính điện, tiến thẳng tới triều đường, quỳ xuống khấu đầu nói: “Sứ thần Đại Ngụy Trần Chẩn khấu kiến bệ hạ Đại Chu!”
Chu Hiển Vương liếc nhìn ông ta, nói: “Sứ Ngụy bình thân!”
Trần Chẩn vẫn quỳ dưới đất, cất giọng sang sảng: “Khởi bẩm bệ hạ, Trần Chẩn thân không thể bình!”
Chu Hiển Vương thoáng ngạc nhiên: “Ồ, vì sao không thể bình?”
“Trần Chẩn phụng mệnh bệ hạ Đại Ngụy, tới quý quốc cầu hôn. Nay đã tới Lạc Dương gần một tháng trời, quý quốc vẫn chưa trả lời về hôn sự. Trần Chẩn hổ thẹn với sứ mệnh, nên tới đây thỉnh cầu, bất luận bệ hạ cho phép hay không, Trần Chẩn chỉ cầu một câu trả lời, để còn hồi triều phục mệnh!”
Chu Hiển Vương sắc mặt sa sầm, quay sang nhìn ngự sử. Ngự sử bèn đáp lời: “Sứ Ngụy nghe đây! Theo đại lễ Đại Chu, nếu long thể bệ hạ, ngọc thể nương nương bất an thì vương thất không bàn chuyện hôn nhân. Hiện nay nương nương bệnh nặng chưa khỏi, vương thất trên dưới lo lắng không yên, còn thời gian đâu mà bàn đến hôn sự của công chúa? Nếu sứ Ngụy có lòng thành cầu hôn, xin nhẫn nại chờ đợi, lúc nào ngọc thể nương nương hồi phục, bàn chuyện kết hôn vẫn chưa muộn!”
Trần Chẩn cười khẩy một tiếng: “Nhưng Trần Chẩn nghe nói, ngọc thể nương nương bình yên vô sự, không hề mắc bệnh! Nếu bệ hạ không muốn kết thân với Đại Ngụy, cứ nói thẳng ra, hà cớ phải kiếm cớ thoái thác?”
Tận mắt nhìn thấy vương hậu lâm bệnh nặng, mà sứ thần nước Ngụy lại nói “bình yên vô sự”, Đại Chu thiên tử tức giận tới mặt mày biến dạng, toàn thân run bắn. Ngự sử cũng không thèm nghe nữa, nghiêm giọng nói: “Sứ Ngụy chớ nói năng bừa bãi, hãy tuân theo lễ nghi của thiên triều!”
“Được, Trần Chẩn này sẽ tuân theo lễ nghi của thiên triều!” Trần Chẩn lại giễu cợt một câu, từ từ dập đầu xuống đất, “sứ thần Đại Ngụy Trần Chẩn lần cuối cùng khấu thỉnh bệ hạ Đại Chu, bệ hạ Đại Ngụy thành tâm kết thông gia với bệ hạ Đại Chu, mong tìm kiếm đạo hoà hợp trong thiên hạ. Nếu bệ hạ Đại Chu khăng khăng cố chấp, Trần Chẩn đành phải hồi triều phục mệnh. Bệ hạ Đại Chu nên biết, bệ hạ Đại Ngụy xưa nay coi trọng thể diện, vạn nhất bệ hạ…” Nói tới đây thì cố tình lấp lửng.
Thấy Trần Chẩn một câu “bệ hạ Đại Ngụy” hai câu “bệ hạ Đại Ngụy”, ngự sử sắc mặt tím bầm, đang định khiển trách thì Chu Hiển Vương đã không nhẫn nhịn thêm được nữa, đập mạnh tay xuống bàn, giọng nói tuy chậm rãi, song rất mực uy nghiêm: “Ngụy Hầu đã muốn có câu trả lời, vậy thì mời sứ Ngụy vào giờ Thìn ngày mai, lên điện nghe chỉ!” Rồi cao giọng nói, “tiễn khách!”
Lời nói vừa dứt, liền phẩy ống tay áo bỏ đi.
Sáng sớm hôm sau, Chu thất bỗng tuyên bố đại triều, các quan từ cấp đại phu trở lên đều tập trung ở chính điện. Sứ thần cầu hôn của ba nước là Sư Lý Tật, Trần Chẩn và Thuần Vu Khôn đều tới triều đường, đợi ở trước điện.
Chu Hiển Vương đưa mắt nhìn khắp lượt quần thần, chậm rãi nói: “Chư vị ái khanh, quả nhân đã lâu không lên triều. Hôm nay cho gọi chư vị vào triều là để tuyên một ý chỉ!” Rồi quay sang phía ngự sử, “tuyên chỉ!”
Ngự sử rút chiếu thư từ trong ống tay áo ra, dõng dạc tuyên bố: “Chiếu theo vương chế Đại Chu, trưởng công chúa Cơ Tuyết đã tới tuổi cập kê, đến thì xuất giá. Hôm nay có Yên Công, Tần Công và Ngụy Hầu lần lượt sai sứ thần tới cầu thân, chư công Chu thất tuân theo ý trời, gả trưởng công chúa Cơ Tuyết cho Yên Công Cơ Mẫn. Nhân đây hạ chiếu, bố cáo thiên hạ…”
Quyết định của Chu Hiển Vương nằm ngoài dự đoán của Trần Chẩn và Sư Lý Tật. Hai bên đưa mắt nhìn nhau, rồi kinh ngạc nhìn sững vào sứ thần nước Yên. Thuần Vu Khôn phất ống tay áo, bước tới trước điện, khấu đầu tạ ơn: “Sứ thần cầu hôn nước Yên Thuần Vu Khôn khấu tạ long ân của thiên tử Đại Chu, cung chúc thiên tử bệ hạ vạn thọ vô cương, long thể an khang!”
Chu Hiển Vương giọng khàn đặc, thốt lên hai chữ “bãi triều”, lập tức đứng dậy bỏ đi. Quần thần cũng lục tục ra về. Trần Chẩn, Sư Lý Tật lại nhìn nhau, hậm hực rời khỏi cửa cung, sánh vai bước xuống bậc thềm bên ngoài chính điện.
Trai cò đánh nhau, ngư ông hưởng lợi. Hai nhà Tần, Ngụy tranh chấp kịch liệt, cuối cùng đều thất bại thảm hại, để cho lão Yên Công hưởng lợi, kết cục này, cả Trần Chẩn và Sư Lý Tật đều không thể ngờ tới. Khi cùng bước tới bậc thềm cuối cùng, Trần Chẩn và Sư Lý Tật không hẹn mà cùng dừng bước, bật cười sằng sặc một tràng dài.
Sư Lý Tật quay sang Trần Chẩn, vái dài một cái, giễu cợt mà rằng: “Vẫn nghe có câu, Kẻ hấp tấp không thể ăn đậu phụ nóng. Chuyện ngày hôm nay, câu nói này thật đúng với thượng khanh!”
Trần Chẩn cũng đáp lễ, mỉa mai lại: “Vẫn nghe có câu, Lợn lành chữa thành lợn què. Chuyện ngày hôm nay, câu nói này đã ứng nghiệm với Ngũ đại phu!”
Sư Lý Tật mỉm cười nói: “Thượng khanh đại nhân, là lợn lành hay lợn què, hiện tại nói ra, e vẫn hơi sớm!”
Trần Chẩn cũng cười mà đáp: “Ngũ đại phu, đậu phụ nóng có ăn được hay không, hiện tại nói ra, cũng hơi sớm chăng?”
Hai người nói xong, lại phá lên cười một tràng.
Cười xong, Sư Lý Tật vòng tay nói: “Thượng khanh đại nhân, tại hạ cáo từ, hẹn gặp ở Hà Tây!”
Trần Chẩn cũng vòng tay nói: “Ngũ đại phu, cứ quyết định như vậy, hẹn gặp ở Hà Tây!”
***
Trần Chẩn quay trở về An Ấp, thuật lại chuyện Chu vương hậu giả bệnh thế nào, Chu Vương hứa gả trưởng công chúa cho Yên Công ra sao cho Ngụy Huệ Hầu nghe, cuối cùng tự trách mình: “Đều do vi thần hành sự nóng vội, không thể lo liệu chu toàn mọi việc, xin bệ hạ giáng tội!”
Ngụy Huệ Hầu xuýt xoa mấy lượt, rồi than: “Than ôi, chuyện này cũng thật sự làm khó cho Chu thiên tử! Vương hậu giả bệnh, Cơ Biển gả con gái yêu cho lão Yên Công, đều là cùng bất đắc dĩ mà thôi. Ái khanh lần này đi sứ, không để cho Tần Công toại nguyện, đã là thành công lớn!”
Trần Chẩn đứng dậy, lại khấu đầu nói: “Tạ ân không trách phạt của bệ hạ! Vi thần nghe nói thượng tướng quân ở Hà Tây liên tiếp báo tiệp về triều, quả là chuyện đáng mừng. Công Tôn Ưởng dù mưu kế khôn lường, song chuyện xông pha trận mạc, sao có thể là đối thủ của thượng tướng quân?”
Ngụy Huệ Hầu gật đầu: “Đúng vậy! Gần đây Hà Tây liên tiếp báo tin thắng trận, cũng thu phục không ít thành ấp. Có điều, quả nhân vẫn cảm thấy không yên tâm.”
“Dám hỏi bệ hạ còn vướng mắc điều gì?”
“Nhìn vào toàn cục, tuy Hà Tây liên tiếp thắng trận, song lại đều là thắng lợi nhỏ, quân Tần chẳng qua chỉ sứt sát chút da thịt, đại chiến thực sự vẫn chưa bắt đầu. Điều quả nhân lo lắng, chính là e sợ Ngang Nhi say sưa với những thắng lợi lặt vặt, mà để lỡ mất đại sự!”
“Bệ hạ suy nghĩ sâu xa, vi thần vô cùng khâm phục!”
“Hôm nay ái khanh trở về, cũng vừa hay đúng lúc. Quả nhân muốn khanh tới Hà Tây một chuyến, một là để quan sát tình thế hiện tại, hai là nhắc nhở Ngang Nhi. Khanh hãy truyền khẩu dụ của quả nhân tới Ngang Nhi, nói rằng trận chiến này liên quan tới vận mệnh tương lai của nước Ngụy, căn dặn Ngang Nhi phải tuyệt đối thận trọng, mọi việc đều phải thỉnh giáo Long tướng quân, đánh đến đâu chắc đến đó, không được nóng vội cầu thắng!”
Trần Chẩn lại bái lạy: “Vi thần lập tức lên đường, truyền đạt ý chỉ của bệ hạ tới thượng tướng quân.”
Ngụy Huệ Hầu cười vang: “Cũng không cần gấp gáp quá. Sau chuyến đi Lạc Dương vừa rồi, ái khanh hẳn cũng đã mệt mỏi, hãy về phủ nghỉ ngơi một ngày, sáng mai lên đường cũng chưa muộn!”
“Tạ ơn bệ hạ quan tâm!”
Đúng đêm hôm đó, trong doanh trại quân Ngụy đóng trong một thung lũng rộng rãi trống trải, tiếng trùng rền rĩ, đuốc thắp sáng trưng. Chủ tướng ba quân công tử Ngang đắc ý đứng trước sa bàn, hết nhìn tham tướng, lại nhìn hai lá cờ nhỏ của quân Ngụy cắm trên hai thành trì phía đầu trường thành bên phải. Đứng bên trái công tử Ngang là phó tướng Long Giả, bên phải là tiên phong Bùi Anh.
Đưa mắt nhìn bao quát, trên sa bàn có rất nhiều chấm nhỏ song rời rạc, cắm đầy cờ Ngụy màu xanh, còn cờ đen của quân Tần đã trở nên thưa thớt, gần mười vạn đại quân nước Tần co cụm lại trong tuyến phòng ngự trường thành chỉ vỏn vẹn rộng sáu mươi dặm, dài ba mươi dặm ở phía tây Đỗ Bình. Quân Tần đang phải đối mặt với sáu vạn trung quân của công tử Ngang, bên trái còn có ba vạn võ binh Hà Tây, trong đó có hai vạn lính mới, do phó tướng Long Giả thống lĩnh. Bên phải có ba vạn kỵ mã, là đại quân thiện chiến, do tiên phong tả quân Bùi Anh, ái tướng của công tử Ngang thống lĩnh. Quân Tần gần như đã sa vào bại cục, lúc này chỉ biết dựa vào trường thành kiên cố do người Ngụy xây dựng, quyết liệt chống trả tới cùng.
Tham quân cắm xong cờ, lùi lại tránh sang một bên.
Công tử Ngang dịch chuyển ánh mắt tới hai lá cờ mới cắm, nhìn Bùi Anh khen ngợi: “Bùi tướng quân, hôm nay tướng quân vừa xuất binh đã giành về hai thành ấp Đỗ Bình và Tân Thành, hoàn toàn chặn kín bên phải trường thành, quả là tuyệt diệu!”
Bùi Anh dõng dạc nói: “Là nhờ thượng tướng quân tính toán chu toàn, mạt tướng không dám kể công!”
Công tử Ngang cười vang mà nói: “Có công thì bảo có công, từ chối làm gì?” Rồi quay sang Long Giả, “Long tướng quân, đã đến lúc quyết chiến với người Tần chưa?”
Long Giả do dự một lát: “Khởi bẩm chủ tướng, mạt tướng đã giao chiến nhiều năm với người Tần, chưa từng thấy họ nhẫn nhịn như hiện nay. Mạt tướng e rằng, Công Tôn Ưởng lần này có lẽ là giả vờ bại trận, chúng ta nên thận trọng đề phòng là hơn.”
Công tử Ngang bật cười vài tiếng, quay sang hỏi Bùi Anh: “Bùi tướng quân, Long tướng quân nói người Tần vờ bại trận, ý của tướng quân thế nào?”
Bùi Anh mặt hơi căng lên, dõng dạc nói: “Khởi bẩm chủ tướng, người Tần tuyệt đối không thể vờ bại trận. Theo mạt tướng thấy, người Tần không hề đáng sợ như người ta vẫn đồn. Lần trước, người Tần chẳng qua là bày gian mưu quỷ kế, mới bất ngờ chiếm được Hà Tây. Thế nhưng, vài vạn quân Tần còn không làm gì nổi năm nghìn tàn binh già yếu của Thiếu Lương ta, chứ chưa nói tới Âm Tấn và Lâm Tấn quan. Tới lúc đại quân ta trở về chi viện, quân Tần khác nào lá mùa thu, chưa động vào đã rơi rụng lả tả, gần đây lại liên tục thảm bại, thương vong nặng nề. Người Tần vừa đánh đã thua, mạt tướng mới đầu cũng hơi hoài nghi, song về sau quan sát kỹ dấu vết bại trận của người Tần, thì thấy không hề giả chút nào, đều là toàn quân tan rã, đến cờ hiệu tướng quân cũng bị chúng giẫm đạp lên mà chạy.”
Công tử Ngang gật gù: “Đúng vậy, Bùi tướng quân nói rất hợp tình hợp lý. Nếu quân Tần giả thua, sẽ không có chuyện vứt cả lương thảo, quân nhu và thương binh như vậy!”
Long Giả vội nói: “Chính vì vậy, chúng ta mới phải đề phòng!”
Công tử Ngang khinh khỉnh nhìn Long Giả, cười khẩy mà nói: “Lão tướng quân đã bị người Tần doạ đến mất cả hồn vía rồi chăng? Đúng là thần hồn nát thần tính!”
Long Giả không ngờ công tử Ngang lại nói vỗ mặt như vậy, giận tới run người, miệng lắp bắp: “Thượng tướng quân, tướng quân…”
Công tử Ngang không thèm đếm xỉa đến, quay sang tham tướng bên cạnh, dõng dạc hạ lệnh: “Truyền lệnh, bao vây Đỗ Bình. Sáng mai chuẩn bị một ngày, ngày kia sẽ quyết chiến một trận ở trường thành với quân Tần!”
“Mạt tướng nhận lệnh!”
Công tử Ngang quay sang quân tiền ngự sử: “Soạn chiến thư theo lời bản tướng vừa nói.”
“Mạt tướng tuân lệnh!”
Quân tiền ngự sử dường như đã chuẩn bị sẵn sàng, loáng cái đã soạn xong chiến thư, trình lên công tử Ngang. Công tử Ngang đọc xong, gật gù khen ngợi: “Được lắm, viết rất hay, tám tội trạng liệt kê trong chiến thư đều rất rõ ràng xác đáng. Doanh Cừ Lương, Công Tôn Ưởng lật lọng phản phúc, nói một đằng làm một nẻo, giở thủ đoạn bỉ ổi cướp đoạt Hà Tây, đúng là bất nhân bất nghĩa, không biết liêm sỉ, ai ai cũng muốn tiễu trừ! Có điều, phần cuối cần thêm vào một câu, đó là tuy Tần Công bạc tình bạc nghĩa, khiến người người khinh miệt, song Tử Vân công chúa do hắn sinh ra lại đoan trang hiền thục, rất được bản tướng yêu mến, lần này xuất chinh cũng không nỡ rời xa, nên đã mang theo đến trong doanh trại. Còn Công Tôn Ưởng, bản tướng niệm tình có công mai mối, vào ngày bắt sống, có thể đổi từ hình phạt lăng trì sang chém ngang lưng. Ha ha! Chủ tướng ba quân của Đại Ngụy Ngụy Ngang!”
“Việc này…” Ngự sử do dự, “thượng tướng quân, viết ra những lời này trên chiến thư, e rằng không thích hợp!”
Công tử Ngang quát lớn: “Có gì không thích hợp? Cứ y thế mà viết, một chữ cũng không được cắt bỏ!”
“Mạt tướng tuân lệnh!”
Long Giả trở về doanh trại, nặng nề bước tới trước án, ủ rũ ngồi xuống, một lát sau đập mạnh nắm đấm xuống bàn: “Thằng nhãi ranh đắc chí, thật là tức chết!”
Công Tôn Diễn đang quan sát tình hình chiến trận trên sa bàn, khẽ gọi: “Long tướng quân!”
Long Giả đứng dậy, sắc mặt trầm trọng, tiến tới trước sa bàn. Công Tôn Diễn chỉ tay vào sa bàn, chậm rãi nói: “Tướng quân xem này, phía tây Đỗ Bình là vùng núi, cây cối rậm rạp, gập ghềnh trắc trở, vừa bất lợi cho xe ngựa, vừa không tiện sử dụng vũ khí dài, càng bất lợi cho bài binh bố trận. Chỉ xét riêng về cục diện này, đã thấy võ binh Đại Ngụy ta mất hoàn toàn ưu thế. Ngược lại, quan sát trận thế tuyến phòng thủ trường thành của người Tần ở Đỗ Bình, chiến tuyến rộng sáu mươi dặm, dài ba mươi dặm, lui có thể bảo vệ trường thành, tiến có thể quyết chiến với ta. Hiện tại, thời tiết đang vô cùng oi bức, nguồn nước ở vùng núi đa phần do người Tần chiếm giữ, võ binh của ta toàn thân giáp sắt, chẳng cần tới ba ngày, không chiến cũng tự loạn. Lúc này, nếu như quân Tần nhân cơ hội…” Nói tới đây thì dừng lại, đưa mắt nhìn Long Giả.
Long Giả hít vào một hơi khí lạnh, đứng trơ trơ hồi lâu mới hỏi: “Theo ý Công Tôn huynh, có cách phá giải chăng?”
Công Tôn Diễn gật đầu, nói: “Trận chiến này không thể nôn nóng cầu chiến thắng, chỉ có thể kéo dài. Hơn nữa, quân ta vừa phải vượt đường dài trở về tập kích, sớm đã mệt mỏi, cần được nghỉ ngơi dưỡng sức. Do vậy, tại hạ cho rằng, thượng sách là rút lui năm mươi dặm, dựng thành luỹ cố thủ ở vùng đất bằng phẳng rộng rãi, đối đầu với người Tần. Đồng thời, âm thầm điều động năm vạn tinh binh ra khỏi Hàm Cốc, Âm Tấn, men theo bờ Lạc Thủy đánh vào, cướp lại thành luỹ dọc bờ Lạc Thủy, đặc biệt là cửa khẩu Đại Lệ quan, xây thành luỹ canh phòng cẩn mật. Làm như vậy, thứ nhất có thể cắt đứt đường lương thảo và đường rút lui của kẻ địch, thứ hai có thể ngăn chặn quân chi viện của kẻ địch. Hiện giờ vừa hay là mùa hè, nước sông dâng cao, có thể chống chọi được mười vạn hùng binh. Quân Tần bị chặn đường chi viện, chủ lực lại bị vây khốn ở tuyến phòng thủ trường thành, bên trong không có lương thảo, bên ngoài không có viện binh, muốn tiến không được, muốn lùi chẳng xong. Lại thêm nguồn nước ở vùng núi bị cắt đứt, lương thảo không được tiếp tế, toàn bộ thế trận chẳng khác nào trâu rơi xuống giếng, có sức mà không dùng được, chẳng cần tới ba tháng, tất không chiến mà tự loạn! Lúc đó, bị bức bách tới cùng đường, chỉ có thể tiến về phía đồng bằng, quyết chiến với ta.”
Long Giả nghe vậy, gật đầu lia lịa, chẳng nghĩ ngợi gì thêm, lập tức kéo Công Tôn Diễn dậy: “Chúng ta lập tức tới gặp thượng tướng quân!”
Công Tôn Diễn suy nghĩ một lát, lắc đầu, thở dài mà nói: “Thôi, tướng quân đi một mình đi! Tại hạ không chức không tước, sao dám vào trại trung quân?”
Long Giả giậm mạnh chân một cái, chạy thẳng tới trại trung quân, thuật lại y nguyên lời của Công Tôn Diễn.
Công tử Ngang nghe xong, trầm tư suy nghĩ, một lát sau, mới ngẩng đầu lên hỏi: “Long tướng quân, những lời này của tướng quân, sao vừa nãy lại không nói ra?”
Long Giả do dự một lát: “Không giấu thượng tướng quân, mạt tướng vừa nãy cũng không nghĩ ra.”
“Ồ?” Công tử Ngang kinh ngạc, “chẳng nhẽ những kế sách vừa rồi, đều là của người khác ư?”
Long Giả quyết định nhân cơ hội này tiến cử Công Tôn Diễn, bèn gật đầu nói: “Đúng vậy! Mạt tướng trở về doanh trại, nghe tham tướng bộ hạ Công Tôn Diễn phân tích cục thế, thấy rất có lý, lập tức cầu kiến tướng quân, mong tướng quân nắm lấy thời cơ, y kế tiêu diệt giặc Tần.”
Kế sách của Long Giả hợp tình hợp lý, công tử Ngang vốn đã xuôi tai. Thế nhưng, vừa nghe nói là chủ trương của Công Tôn Diễn, máu nóng trong người bỗng bốc lên ngùn ngụt, cười nhạt mà nói: “Hừm, việc dụng binh giao chiến, một tên môn khách của phủ tướng quốc thì hiểu cái gì? Đánh như vậy, e rằng ba năm cũng không đuổi được người Tần!”
Long Giả cuống quýt: “Thượng tướng quân, hơn chục vạn đại quân, tuyệt không phải trò đùa!”
Nghe thấy hai chữ “trò đùa”, công tử Ngang càng bừng bừng giận dữ: “Trò đùa? Bản tướng từ nhỏ đã làu thông đủ loại binh thư, phá Vệ, đánh Tề, lui Triệu, ngự Hàn, kinh qua trăm trận, lẽ nào còn cần một tên môn khách dạy cho cách dụng binh?”
Long Giả gượng cười mà mặt méo xệch: “Kinh qua trăm trận? Khi lão hủ đây tới trấn thủ Hà Tây, thượng tướng quân vẫn chưa lọt lòng mẹ!”
Công tử Ngang đập bàn quát lớn: “Được lắm Long Giả, cuối cùng thì ông cũng đã lộ ra ý nghĩ thực lòng! Bản tướng sớm đã nhận ra, phụ vương không cho ông làm chủ tướng, trong lòng ông đương nhiên không phục! Được, ông đã dám lộ chân tướng trước mặt bản tướng, bản tướng cũng nói thẳng với ông. Bản tướng từ ngày tới Hà Tây, cũng đã trải qua ba mươi cuộc chiến lớn nhỏ với người Tần, liên tiếp chiến thắng, chưa bại trận nào. Hãy nhìn quân Tần, tan tác tơi bời chẳng khác gì hoa trôi theo nước, vứt cả mũ áo, chưa đánh đã thua. Còn ông ở Hà Tây từng ấy năm, nay lại năm lần bảy lượt phóng đại sức mạnh của người Tần, là có ý gì? Lẽ nào là muốn nhân cơ hội phòng ngự Hà Tây để xin xỏ phụ vương ta tiền bạc, lương thực, rồi lên đây tư túi?”
Long Giả giận đến cả người run lên bần bật: “Thượng… thượng… tướng quân…”
Công tử Ngang giận dữ xua tay: “Đủ rồi, Long lão tướng quân, bản tướng niệm tình ông già cả, tạm thời không so đo tính toán. Nếu không còn việc gì, xin mời về cho, chờ xem ngày kia bản tướng bắt sống Công Tôn Ưởng! Tiễn khách!”
Long Giả quay người, lập tức sải bước ra khỏi trại trung quân. Vừa tới cửa, lại nghe giọng công tử Ngang nói với theo: “Còn nữa…”
Long Giả dừng bước.
“Tên môn khách của phủ tướng quốc kia từ lúc nào đã trở thành tham tướng bộ hạ của ông? Là ai bổ nhiệm hắn? Ông hãy về nói với hắn, lập tức cút ra khỏi doanh trại, nếu không, bản tướng sẽ trị tội mạo xưng chức tước!”
Long Giả bước ra ngoài trại, ngửa mặt nhìn trời than thở: “Than ôi, có tên bất tài kia, khí số của nước Ngụy quả thực tận rồi!”
Long Giả bước sầm sập về trại, lại ngồi ủ rũ. Công Tôn Diễn không cần hỏi cũng đoán được sự tình, thở dài thườn thượt mà nói: “Bảy trăm dặm Hà Tây, hơn chục vạn lính thiết giáp, vài chục vạn bách tính sẽ bị chôn vùi dưới tay hai cha con họ, thực khiến người ta nghĩ mà đau xót!”
Long Giả bật khóc mà nói: “Công Tôn huynh, đừng nói nữa! Huynh mau rời khỏi nơi này, đi xa được bao nhiêu thì cứ đi!”
“Tại sao?” Công Tôn Diễn ngạc nhiên, “chẳng lẽ Long tướng quân lại e ngại có thêm một cỗ xác chết tại đây?”
Long Giả đành phải nói thật: “Là ý của thượng tướng quân!”
Công Tôn Diễn trầm tư hồi lâu, lại thở dài đánh sượt: “Than ôi, tên bất tài vô dụng này, không dung tha cho tại hạ cũng chẳng sao, song còn tước đoạt cả cơ hội tận trung với nước của tại hạ! Được thôi, tại hạ sẽ cho hắn thoả lòng, tại hạ sẽ lập tức đi ngay!”
Công Tôn Diễn chỉ vài bước đã tới bên vách trại, gỡ lấy thanh bảo kiếm của Ngũ Tử Tư xuống, đeo lên mình, rồi quay người bước thẳng ra ngoài.
Long Giả vội vã đuổi theo: “Công Tôn huynh định đi đâu?”
“Âm Tấn!”
Vừa nghe thấy vậy, Long Giả trong lòng chấn động, lập tức hiểu ra dụng ý của Công Tôn Diễn. Công Tôn Diễn đoán chắc Hà Tây chắc chắn sẽ thất thủ, do vậy muốn tới bảo vệ Âm Tấn. Âm Tấn là cửa tây cửa ải Hàm Cốc, nếu có thể giữ được, chính là đã để lại một bàn đạp cho người Ngụy đợi dịp báo thù sau này. Chờ khi nguyên khí hồi phục, quân Ngụy có thể từ Mạnh Tân vượt sông, băng qua tuyến Hào Quan, Hàm Cốc, Âm Tấn, uy hiếp kinh thành Hàm Dương của nước Tần.
Nghĩ tới đây, Long Giả trong lòng cảm động, lập tức trở vào trong trại, lấy ra một tấm lệnh bài, đưa cho Công Tôn Diễn: “Trương Mãnh ở đó, Công Tôn huynh hãy cầm theo thứ này, khi có việc gấp, hắn sẽ nghe theo sự điều động của Công Tôn huynh.”
Công Tôn Diễn gật đầu, nhận lấy lệnh bài, dắt ngựa chiến, ôm quyền hướng về phía Long Giả mà nói: “Long tướng quân, xin hãy bảo trọng!”
Long Giả mắt ngấn lệ, cũng ôm quyền đáp: “Công Tôn huynh, bảo trọng!”
***
Khi chiến thư của công tử Ngang được đưa tới doanh trại quân Tần, Công Tôn Ưởng cẩn thận đọc kỹ một lượt, rồi sai người mang năm lượng vàng lại thưởng cho tên quân uý mang thư, dặn hắn mau về truyền đạt với thượng tướng quân, nói rằng thư hồi âm sẽ nhanh chóng chuyển tới. Quân uý vừa đi khỏi, Công Tôn Ưởng lệnh cho tham tướng thông báo cho chư tướng ba quân đến trại trung quân nghị sự.
Không tới một canh giờ sau, chư tướng ba quân đều đã tới đông đủ, tề tựu trước trại. Công Tôn Ưởng nhìn khắp lượt chư tướng, rồi từ từ mở chiến thư của công tử Ngang, giơ lên cao, cất giọng trầm trầm nói lớn: “Chư vị tướng quân, người Ngụy đã hạ chiến thư!”
Các tướng đều phấn chấn, mỗi người một câu ồn ã: “Tướng quân, chiến thư của chó Ngụy viết gì?”
“Phải rồi, có hẹn ngày mai lúc nào giao chiến không? Chúng ta đã đợi lâu quá rồi!”
“Quân Ngụy chó má, bố mày đã lùi bước hết lần này đến lần khác, nhẫn nhịn hết lần này đến lần khác, để cho chúng mày hí hửng được mấy ngày, chúng mày lại tưởng thật mà làm già!”
Công Tôn Ưởng đặng hắng một tiếng, chư tướng lập tức im bặt.
Công Tôn Ưởng xếp lại chiến thư, vẫn với giọng trầm trầm, chậm rãi mà nói: “Chư vị tướng quân, chư vị đều muốn biết chiến thư này viết gì, vậy bản tướng sẽ đọc cho nghe. Phía trước tạm thời lược bỏ, bản tướng chỉ đọc vài câu cuối cùng: Tần Công bạc tình bạc nghĩa, khiến người người khinh miệt, song Tử Vân công chúa do hắn sinh ra lại đoan trang hiền thục, rất được bản tướng yêu mến, lần này xuất chinh cũng không nỡ rời xa, nên đã mang theo đến trong doanh trại. Còn Công Tôn Ưởng, bản tướng niệm tình có công mai mối, vào ngày bắt sống, có thể đổi từ hình phạt lăng trì sang chém ngang lưng. Chủ tướng ba quân Đại Ngụy Ngụy Ngang!”
Công Tôn Ưởng đọc chậm rãi, tựa như ngâm đọc thi thư thường ngày. Song Công Tôn Ưởng đọc xong, trong trại trung quân lại không hề ồn ào như dự đoán, mà im phăng phắc đến lạ thường, tựa hồ nghe thấy cả tiếng cây kim rơi xuống đất.
Tướng lĩnh dường như đã quên cả tức giận, cũng không chửi bới ồn ào, mà giống như đang đau buồn truy điệu vong linh. Phó tướng Xa Anh quỳ xuống trước tiên, tiếp đó chư tướng theo nhau quỳ xuống, ai cũng giàn giụa nước mắt.
Công Tôn Ưởng cũng quỳ xuống, cất giọng bi thiết: “Chư vị tướng quân, Tử Vân công chúa chính là một tướng lĩnh, một tướng lĩnh đã xung trận trước tiên! Trước Tử Vân công chúa, Công Tôn Ưởng ta chẳng biết nói gì hơn, chỉ biết vung kiếm, đánh bại người Ngụy, thu hồi Hà Tây, báo thù cho công chúa!”
Chư tướng đồng thanh hô lớn: “Báo thù cho Tử Vân công chúa!”
“Chư vị tướng quân!” Công Tôn Ưởng chậm rãi đứng dậy, “hiện giờ, Tử Vân công chúa đang ở trong trại trung quân của người Ngụy. Báo thù thế nào, chúng ta hãy cùng bàn bạc, chư vị mau đứng dậy đi!”
Công Tôn Ưởng bước tới trước sa bàn, các tướng đi theo sau, quây thành vòng tròn xung quanh. Công Tôn Ưởng quay sang Xa Anh, nói: “Biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng. Xa tướng quân, hãy nói về tình hình quân Ngụy!”
Xa Anh hắng giọng, dõng dạc nói: “Chư vị tướng quân, quân Ngụy hiện có ba cánh. Một là năm vạn võ binh phạt Vệ của công tử Ngang, sau khi từ biên giới Vệ rút về còn lại hơn bốn vạn. Hai là võ binh Hà Tây của Long Giả, vốn có năm vạn, đã bị quân ta tiêu diệt hơn vạn, giờ còn không tới bốn vạn, ngoài ra, còn có thêm hai vạn tân binh, nên có tổng cộng sáu vạn. Ba là cánh quân được điều động tạm thời từ An Ấp tới, không tới sáu vạn. Tổng cộng ba lộ quân là mười sáu vạn, bốn vạn trấn giữ các trấn mới thu phục gần đây và một số nơi như Lâm Tấn quan, Thiếu Lương và Âm Tấn. Mười hai vạn quân còn lại, lần lượt chia làm hữu quân, trung quân và tả quân. Ba vạn hữu quân, trong đó có một vạn là võ binh, hai vạn là lính mới, do Long Giả thống lĩnh. Ba vạn tả quân, là kỵ sĩ thiết giáp hùng mạnh nhất, cũng gây uy hiếp lớn nhất, do Bùi Anh thống lĩnh. Số còn lại là trung quân, do công tử Ngang đích thân thống lĩnh.”
Những điều này rõ như ban ngày, các tướng đều đã thuộc làu, Xa Anh chẳng qua chỉ là nói cho đúng lệ. Đợi Xa Anh dứt lời, Công Tôn Ưởng cầm một cây thước, chỉ vào các điểm khác nhau trên sa bàn, giọng nói sang sảng: “Chư vị nhìn xem, từ đây tới đây là hữu quân của Long Giả; từ đây tới đây là tả quân của Bùi Anh; từ đây tới đây là trung quân của công tử Ngang! Cho tới hiện giờ, kế dụ địch của ta đã thành công, mười hai vạn con lợn ngu xuẩn đều đã nhảy lên trên thớt theo đúng dự tính của chúng ta, chờ đợi các vị tướng quân đây băm chặt. Có điều, lũ lợn ngu đần này tuy đã nhảy lên thớt, song sẽ không bó tay chờ giết. Nếu muốn làm thịt chúng, còn phải trông chờ vào tài trí của chư vị tướng quân!”
Chư tướng đồng thanh nói lớn: “Hạ đao thế nào, xin chủ tướng xuống lệnh!”
“Tốt, chư tướng nghe lệnh!”
Chư tướng lập tức đứng thẳng, ánh mắt đổ dồn vào Công Tôn Ưởng.
Công Tôn Ưởng cất giọng sang sảng: “Bản tướng quyết định, dựa vào trường thành, dùng thế trận Trường xà chữ nhất trói chặt bầy lợn Ngụy. Tư Mã Thác!”
Tư Mã Thác bước lên đáp lớn: “Có mạt tướng!”
“Đội quân mà người Ngụy tin tưởng nhất chính là ba vạn kỵ mã thiết giáp của Bùi Anh. Khi giao chiến, tướng quân mang theo một vạn kỵ binh, nghênh chiến với kỵ mã thiết giáp của quân Ngụy, dụ chúng vào khe Hồ Lô, coi như đã thành công. Sau đó, tướng quân cố gắng dẫn quân chạy xuyên qua khe núi, không phải bận tâm về đám kỵ mã thiết giáp phía sau, đi đường tắt tới thẳng Đỗ Bình, chặn đường rút lui của công tử Ngang!”
“Mạt tướng nhận lệnh!”
Công Tôn Ưởng quay sang một tướng quân khác: “Lý tướng quân!”
“Có mạt tướng!”
“Tướng quân dẫn hai vạn lính chùy, phục ở bên trái khe Hồ Lô, đợi sau khi quân kỵ mã của Ngụy đã lọt vào khe núi, dùng tật lê sắt(1) phong toả hai đầu khe, rồi nhằm đánh vào đầu ngựa!”
“Mạt tướng tuân lệnh!”
Công Tôn Ưởng quay sang một người đứng ngay cạnh Lý tướng quân: “Triệu tướng quân!”
“Có mạt tướng!”
“Tướng quân dẫn hai vạn lính bộ binh, phục ở bên phải khe Hồ Lô, đợi chiến mã khuỵu xuống, lập tức tấn công lính thiết giáp ngã ngựa!”
“Mạt tướng tuân lệnh!”
Công Tôn Ưởng chậm rãi quay sang Xa Anh: “Tướng quân!”
“Có mạt tướng!”
“Tướng quân dẫn năm vạn lính bộ binh khinh giáp, phục trong rừng rậm sát trường thành, cắt đứt tất cả mọi nguồn nước, đợi võ binh Ngụy xông tới, thì dụ chúng vào trong rừng rậm, tránh giao chiến trực diện, cần đánh tỉa du kích, chia ra bao vây, dồn lại mà diệt!”
“Mạt tướng tuân lệnh!”
Công Tôn Ưởng đưa mắt nhìn các tướng lĩnh còn lại: “Các vị tướng quân còn lại, dẫn theo cánh quân của mình, theo bản tướng nghênh chiến với công tử Ngang!”
Chư tướng đồng thanh đáp: “Mạt tướng tuân lệnh!”
Chư tướng đã lui ra hết, Công Tôn Ưởng chỉ giữ lại Tư Mã Thác, dặn riêng rằng: “Tư Mã tướng quân, sau khi chặn được công tử Ngang, nhất thiết phải cứu Tử Vân công chúa! Nhớ kỹ, nếu công chúa có mệnh hệ nào, bản tướng sẽ hỏi tội tướng quân!”
Tư Mã Thác dõng dạc đáp: “Mạt tướng tuân lệnh!”
Tiễn Tư Mã Thác về xong, Công Tôn Ưởng trở vào trong trại, ngồi trầm tư một lát, rồi đích thân viết thư hồi âm, sau đó lệnh cho quân uý mang tới cho công tử Ngang.
Công tử Ngang nhận thư hồi âm, đưa cho tham tướng, phẩy tay: “Bóc, đọc đi!”
Tham tướng bóc thư, dõng dạc đọc: “Nhận được chiến thư của thượng tướng quân, Ưởng đọc đi đọc lại ba lần, không khỏi hoang mang. Tướng quân trong thư có liệt kê tội trạng của Tần Công và Ưởng, Ưởng không có gì phản bác. Hôm nay hồi đáp một góc thư này, xin cho Ưởng giải thích đôi lời. Hà Tây vốn là đất của Tần, sáu mươi năm trước bị Ngô Khởi cướp mất. Ngày nay hai nước đã kết tình thân, như người một nhà. Đã là người một nhà, Tần Công đương nhiên cho rằng, xét về lý, bệ hạ nên trả lại Hà Tây cho Tần. Tần Công sai Ưởng tới nhận, cũng là chức phận bề tôi. Ưởng đã nhận lệnh của chúa thượng, đương nhiên không dám lơ là. Ưởng khẩn cầu tướng quân phân trần giúp nỗi khổ tâm của Ưởng lên bệ hạ Đại Ngụy. Chỉ cần bệ hạ trả lại Hà Tây, Tần Công đảm bảo đời đời nghe theo sự sai khiến của bệ hạ. Nếu tướng quân vẫn khăng khăng muốn chém giết, tuy Ưởng không địch nổi hổ uy của tướng quân, song do cùng đường, chỉ có thể giương mâu chờ đợi. Ưởng không thông võ nghệ, thuở nhỏ chỉ đọc qua trận pháp ‘Trường xà chữ nhất’, nay sẽ bày dưới chân trường thành. Ngày mai trước trận, Ưởng sẽ dẫn ba quân cung nghênh tướng quân!
Chủ tướng ba quân nước Tần Công Tôn Ưởng khấu đầu.”
Công tử Ngang nghe xong, cười vang, nói với quân uý chuyển thư của Tần: “Được, ngươi hãy quay về, chuyển lời tới Công Tôn Ưởng, rằng bản tướng cho phép hắn vươn cổ chờ sẵn trước trận, giờ Thìn ngày mai, bản tướng sẽ tới đập nát đầu rắn của hắn!”
Quân uý nước Tần quay người lui ra, Công tử Ngang nhìn theo bóng hắn, cười khẩy một tiếng, quay sang tham tướng: “Hừm, thế trận Trường xà chữ nhất cũng dám rêu rao! Truyền chư tướng tới trướng nghe lệnh!”
“Mạt tướng tuân lệnh!”
Sáng sớm hôm sau, trên vạt đất bằng phẳng rộng rãi phía tây Đỗ Bình, công tử Ngang lên đài quan sát, nhìn về phía xa, thấy đại quân nước Tần, quả đúng như Công Tôn Ưởng đã nói, đang bày thế trận Trường xà chữ nhất rộng vài dặm trước trường thành.
Công tử Ngang cười thầm, quyết định cho toàn quân Ngụy nhất loạt xông lên, tiến đánh từ đầu rắn tới tận đuôi rắn, chặt đứt hình rắn thành ba khúc, chia ra bao vây, công phá từng khúc.
Công tử Ngang bước xuống khỏi đài quan sát, triệu tập chư tướng, truyền lệnh cho ba quân cũng triển khai thế trận chữ nhất.
Một canh giờ trôi qua, trận thế quân Ngụy đã dàn xong, ba vạn kỵ binh thiết giáp đặt ở bên trái, từ xa nhìn lại, chỉ thấy một vạt áo giáp sáng loáng. Đại tướng tiên phong Bùi Anh hiên ngang dựng thẳng cây thương, đứng trên cỗ chiến xa ở giữa. Đối đầu với ba vạn kỵ binh thiết giáp phía Ngụy là một vạn kỵ binh khinh giáp của Tư Mã Thác, tướng quân tiên phong phía quân Tần là Tư Mã Thác cầm ngang cây thương, đứng ngay trước trận. Nhìn vào tình thế trước mắt, sự chênh lệch lực lượng giữa hai bên đã rất rõ ràng.
Trước trận trung quân, Công Tôn Ưởng, công tử Ngang đều đứng trên xe chủ soái phía mình. Giờ Thìn đã tới, hai bên đồng thời nổi trống thùng thùng. Trong tiếng trống trận rền vang, hai vị chủ soái đều cho xe tiến lên trăm bước, rồi ghìm ngựa dừng lại cách nhau một tầm tên bay.
Tuy Công Tôn Ưởng cũng toàn thân giáp trụ, song hai tay trống không, đứng trên xe chiến, đợi xe dừng lại, bèn ôm quyền hướng về phía công tử Ngang, vái mà nói: “Công Tôn Ưởng bái kiến thượng tướng quân!”
Công tử Ngang tay trái cầm thương, tay phải chỉ vào Công Tôn Ưởng, quát lớn: “Công Tôn Ưởng, người ngay thẳng không làm chuyện mờ ám! Bản tướng vốn trọng ngươi là trang hán tử, hôm nay mới thấy, chẳng qua chỉ là kẻ tiểu nhân khua môi múa mép, lòng dạ phản phúc! Bản tướng phụng mệnh bệ hạ Đại Ngụy, tới đây bắt ngươi! Hãy cầm thương lên, bản tướng không giết kẻ tay không tấc sắt!”
Công Tôn Ưởng lại ôm quyền hành lễ mà nói: “Thượng tướng quân võ công thâm hậu, Công Tôn Ưởng không dám cầm thương!”
“Đã không dám cầm, vậy thì mau xuống xe chịu trói!”
Công Tôn Ưởng cười vang, nói: “Thỏ con trong lúc cấp bách còn biết cắn người, huống chi Công Tôn Ưởng đây còn có quân binh dũng mãnh. Thượng tướng quân nếu có bản lĩnh, chỉ cần phá được thế trận Trường xà chữ nhất này, Công Tôn Ưởng sẽ không nói nửa lời, tự khắc xuống xe chịu trói.”
Công tử Ngang ngửa mặt lên trời cười một tràng dài: “Ha ha ha, thế trận Trường xà chữ nhất là cái thá gì! Trong mắt bản tướng, chẳng qua chỉ là một con rắn chết! Công Tôn Ưởng, hãy nhìn thương!” Lời vừa nói dứt, lập tức vung thương đánh xe lao tới.
Chiến xa của Công Tôn Ưởng lập tức xoay vụt đi, chạy thẳng về trước trận. Công tử Ngang cũng chẳng qua làm động tác giả, để nhân thế quay vòng đầu xe.
Giờ đang giữa mùa hè, trời nóng như đổ lửa. Trên hai trận quân, chỉ thấy quân kỳ phấp phới, giáo mác sáng loà, kiếm rút cung giương, song không nghe thấy bất cứ âm thanh nào khác, tĩnh lặng đến âm trầm.
Công tử Ngang lớn tiếng quát hỏi: “Ai muốn lập công đầu tiên?”
Bùi Anh trả lời ngay: “Có mạt tướng!”
Một hồi trống trận dồn dập, Bùi Anh giục chiến xa ào ào lăn bánh, xông lên trước trận, dựng đứng mũi thương, hét lớn về phía trận quân Tần: “Tiên phong Đại Ngụy Bùi Anh ở đây, kẻ nào dám tới chịu chết?”
Bùi Anh vừa dứt lời, trước quân trận nước Tần, một kỵ mã xông ra, chính là tiên phong quân Tần Tư Mã Thác.
Tiếng trống trên hai trận vang rền điếc óc. Chẳng mấy chốc, chiến xa của Bùi Anh và ngựa của Tư Mã Thác đã quấn vào nhau, một xe một ngựa bắt đầu quần thảo.
Hai bên qua lại hơn mười hiệp, Tư Mã Thác đã kém thế thấy rõ, gần như chỉ còn biết chống đỡ, không ra nổi một đòn tấn công, Bùi Anh ngược lại càng đánh càng hăng, cây ngân thương trong tay lên xuống tít mù, khiến ba quân tướng sĩ Đại Ngụy hò reo ầm ĩ.
Tư Mã Thác không chống đỡ nổi, thúc ngựa bỏ chạy. Bùi Anh làm gì có chuyện bỏ qua, lập tức đánh xe đuổi theo. Công tử Ngang không bỏ lỡ thời cơ, vung tay hô lớn: “Tả quân tấn công!” Nói xong cướp lấy cây dùi, đích thân đánh trống.
Tả quân kỵ mã thiết giáp phía Đại Ngụy vốn đã chuẩn bị sẵn sàng, chỉ chờ có vậy, lập tức ùa lên, bám theo Bùi Anh, khí thế hừng hực như dời non lấp biển, áp sát quân Tần. Đội kỵ mã quân Tần kinh hoàng chết lặng, tới khi định thần trở lại, lập tức hậu quân biến thành tiền quân, đội hình rối loạn, nháo nhác bỏ chạy.
Chủ tướng quân Tần Công Tôn Ưởng nhìn thấy kỵ mã thiết giáp quân Ngụy đã bị dụ đi, liền ra vẻ kinh hãi, lập tức hạ lệnh lui quân. Lúc này, lính bộ binh của Tần cũng không chiến mà tan, hè nhau bỏ chạy.
Công tử Ngang nào biết là trúng kế, hăm hở phất cờ lệnh, hô hào hữu quân của Long Giả xuất kích. Quân Tần không chiến tự nhiên tan rã, đôi mắt tinh tường của Long Giả đã nhìn thấu tỏ, vội sai kỳ thủ phất cờ lệnh, ra hiệu rằng đối phương đang dùng kế dụ địch vào tròng, nhất thiết không được tấn công.
Nhìn thấy hữu quân lề mề bất động, công tử Ngang sốt ruột, chửi mắng Long Giả ầm ĩ, rồi xông lên dẫn đầu, điên cuồng đuổi theo. Tướng sĩ trung quân nhìn thấy chủ soái dẫn đầu xung trận, lập tức tranh nhau xông lên, khí thế hừng hực, ồ ạt đuổi theo bộ binh nước Tần đang tháo chạy tan tác.
Bùi Anh nóng lòng muốn diệt gọn toán kỵ binh khinh giáp phía Tần, dẫn theo ba vạn kỵ sĩ thiết giáp đuổi riết theo sau, quyết không buông tha. Quân Tần dần dần bị “ép” vào trong khe Hồ Lô. Bùi Anh dù sao cũng có nhiều năm kinh nghiệm sa trường, nhìn thấy trong khe núi địa thế hiểm trở, thì do dự một lát, ghìm ngựa dừng trước cửa khe. Tuy nhiên, nghe thấy tiếng người hét ngựa hí vẳng lại từ phía xa trong khe núi, xem chừng địch đang hoảng loạn thực sự, thì lại không thể kiềm lòng, bèn vung tay ra hiệu cho quân đuổi vào trong khe.
Kỵ sĩ quân Ngụy đuổi theo vài dặm trong khe núi, nhìn thấy hai bên vách đá vươn cao sừng sững, cây cối um tùm, dây leo chằng chịt, trên đường núi lại tuyệt nhiên không thấy một kỵ sĩ nào của quân Tần, tướng Ngụy cảm thấy nghi ngờ, vội hạ lệnh rút quân. Song đã muộn rồi, hai đầu khe núi thình lình xuất hiện dễ đến vài nghìn quân Tần, ào ào xông tới, mang theo vô số rào gỗ, tật lê sắt, ném đầy vào miệng khe, vây thành trận thế, cắt đứt trong ngoài.
Tiếp đến, trống trận lại nổi thùng thùng, tiếng hô giết vang trời như sấm, vô số lính chùy xông ra từ trong các lùm cây rậm rạp, nhờ vào cây cối che chắn, chỉ nhắm vào đầu ngựa mà phang. Ngựa chiến trúng đòn, hoặc ngã khuỵu, hoặc nhảy dựng điên cuồng, khiến lính Ngụy liên tiếp bị hất văng khỏi yên ngựa. Đa số họ còn chưa kịp hiểu chuyện gì xảy ra, đã bị bộ binh quân Tần không biết từ đâu bất ngờ nhảy tới, vung đao ngang cổ. Còn những kẻ chưa bị trúng đòn, do cây thương dài rất khó sử dụng nơi rừng rậm, nên không thể địch lại với bộ binh phía Tần tiến lui linh hoạt, với vũ khí ngắn trên tay.
Bùi Anh tiếp ứng ở ngoài khe, nghe thấy bên trong tiếng hô giết động trời, biết rằng có chuyện chẳng lành, vội vã dẫn số quân còn lại xông vào trong khe. Kỵ binh Ngụy xông lên đến mấy lần, song chiến mã giẫm phải tật lê sắt, theo nhau ngã xuống. Bùi Anh hoảng hốt, nhảy xuống khỏi chiến mã, rút đoản kiếm ứng chiến. Kỵ binh Ngụy thấy vậy, thảy đều nhảy xuống ngựa, kỵ binh biến thành bộ binh, trường thương đổi thành đoản kiếm, vội vã bám sát Bùi Anh, đá văng tật lê, dọn quang rào gỗ, hò hét vang động, xông vào trong khe. Quân Tần trấn giữ ở cửa khe không đủ sức ngăn cản khí thế của võ binh phía Ngụy, đã để quân Ngụy tràn vào.
Cảnh tượng trong khe vô cùng thê thảm, lính Ngụy kẻ chết người bị thương, ngổn ngang la liệt. Ngựa chiến lăn ngang, ngã dọc, hoặc chổng bốn vó hí lên thảm thiết. Những người chưa trúng thương từ từ tụ lại thành đám, đánh đỡ quyết liệt.
Bùi Anh liều mạng cứu thoát được đám lính bị bao vây, rút lui từng bước tới cửa khe. Khi tất cả thoát được ra ngoài, điểm lại quân số, ba vạn kỵ binh thiết giáp đã thiệt hại tới hơn hai vạn.
Còn về phía công tử Ngang dẫn đầu trung quân đuổi đánh quân Tần, đuổi thẳng một mạch tới chân trường thành. Quân Tần đã bày sẵn thế trận dọc theo đồi núi, bắt đầu kiên cường chống trả. Công tử Ngang nổi giận đùng đùng, lại đánh trống xung trận, quân Tần lại tan rã, tháo chạy tứ tán, chui hết vào rừng cây. Công tử Ngang dương dương tự đắc, hò hét lệnh cho tướng sĩ mau chóng tản ra truy kích, chiếm lấy trường thành.
Tuy nhiên, tới khi võ binh Ngụy đuổi tới rừng cây, quả đúng như lời Công Tôn Diễn dự đoán, trường thương không thể phát huy tác dụng, ngược lại còn vướng víu phiền toái, cộng thêm khí hậu nóng bức, người Ngụy do thiếu chuẩn bị, đều không mang theo nước uống, mồ hôi như tắm, khát cháy cổ họng, vội vàng tìm tới bên khe suối. Nguồn suối đã sớm bị người Tần cắt đứt, giờ đều cạn khô, lính Ngụy trong lúc cấp bách, không tìm thấy một giọt nước. Lính Ngụy bàng hoàng lo sợ, muốn tìm quân Tần để đánh, song lại không thấy một bóng người. Muốn tìm nơi nghỉ ngơi, lại bị quân Tần bất ngờ tập kích, không thể đề phòng cho xuể.
Hai bên giao chiến kịch liệt tới giữa trưa, Bùi Anh dẫn vài nghìn tàn binh tả tơi chui ra khỏi khe Hồ Lô, vội vã chạy tới. Công tử Ngang nhìn thấy, kinh hoàng thất sắc, lập tức ra lệnh gióng chiêng thu quân.
Song lúc này, có muốn thu quân cũng đã muộn rồi. Nghe thấy tiếng chiêng của quân Ngụy, Công Tôn Ưởng đang ngồi bình thản uống trà trên luỹ trường thành, lập tức truyền lệnh thúc trống tấn công. Tiếng trống trận phía quân Tần vừa vang lên, có đến vài vạn quân Tần ồ ạt xông ra từ trường thành và rừng cây, khí thế như núi lở, lao thẳng về phía quân Ngụy. Lính Đại Ngụy vừa trải qua nửa ngày quần thảo, mệt mỏi rệu rã, giờ nghe thấy tiếng chiêng, sớm đã không còn ý chí chiến đấu, trong lúc hoảng loạn, lập tức trở thành mục tiêu sát phạt của quân Tần. Quân Ngụy hỗn loạn tan hoang, trong lúc nguy cấp, may sao ba vạn hữu quân của Long Giả kịp thời xông tới, vững vàng như bàn thạch giữa dòng nước xiết, chặn đứng quân Tần, vừa chiến vừa lui một cách trật tự.
Công tử Ngang cũng vội vã tháo chạy. Trong lúc nguy cấp, bánh xe của công tử Ngang sa xuống hố đất. Từ xa nhìn thấy quân Tần đuổi sát tới nơi, công tử Ngang không kịp suy nghĩ, nhảy xuống xe chiến, chặt đứt càng xe, chẳng kịp lắp yên, cứ thế nhảy lên ngựa kéo, hoảng hốt tháo chạy dưới sự bảo vệ của đám tướng Bùi Anh.
Trận chiến bắt đầu vào giờ Thìn, tới lúc hoàng hôn đã gần như kết thúc.
Bóng tối vừa ập xuống, chiến báo từ các ngả tới tấp truyền đến doanh trại quân Tần. Xa Anh xem qua một lượt, phấn khởi báo với Công Tôn Ưởng: “Cuộc chiến đã kết thúc, tình hình sơ bộ như sau: Trong khe Hồ Lô, kỵ binh thiết giáp của địch thiệt hại hai vạn hai nghìn, trong đó chém đầu một vạn tám nghìn, bắt sống bốn nghìn. Dọc tuyến trường thành, ước tính chém đầu bốn vạn bảy nghìn võ binh, bắt sống một vạn một nghìn, thu giữ vô số quân nhu. Thương vong phía ta vẫn chưa thống kê đầy đủ, tạm ước tính, có lẽ không quá ba vạn.”
Công Tôn Ưởng gật đầu: “Còn phía Tư Mã tướng quân thế nào?”
“Đang truy kích công tử Ngang!”
Công Tôn Ưởng khẽ chau mày, hỏi: “Nghe nói Tử Vân công chúa đã được cứu ra, vậy người đâu?”
Xa Anh hạ giọng bẩm báo: “Tư Mã tướng quân đã đích thân cứu ra. Hạ quan sợ xảy ra bất trắc, đã sai người hộ tống công chúa tới Lạc Thủy, có lẽ giờ này đã gặp chúa thượng, anh em điện hạ hẳn đang đoàn tụ.”
“Ồ!” Công Tôn Ưởng thở phào nhẹ nhõm, từ từ khép mắt lại, một lát sau, mới ngẩng đầu lên nói, “dọn dẹp xong chiến trường, cho anh em tướng sĩ nghỉ ngơi lấy sức. Suốt mấy ngày qua, họ đã lao lực quá rồi!”
“Mạt tướng tuân lệnh!”
Xa Anh đang định truyền lệnh, bỗng thấy tham tướng của Tư Mã Thác hộc tốc chạy vào trong trại: “Báo, Tư Mã tướng quân đã bao vây công tử Ngang và Bùi Anh ở phía đông Đỗ Bình. Để chúng sống hay là giết chết, Tư Mã tướng quân sai mạt tướng tới nhận lệnh!”
Xa Anh mừng rỡ đập bàn nói: “Truyền lệnh Tư Mã tướng quân, bắt sống công tử Ngang!”
“Mạt tướng tuân lệnh!”
Tham tướng đang định lui ra thì Công Tôn Ưởng mở bừng mắt, nói: “Khoan đã!”
Tham tướng quay người lại.
“Truyền lệnh Tư Mã tướng quân, chém đầu Bùi Anh, thả công tử Ngang!”
Tham tướng vẫn đứng đực như trời trồng, kinh ngạc nhìn Xa Anh. Xa Anh tuy chưa thực hiểu, song vẫn quát lên: “Còn đứng ngẩn ra đó làm gì? Mau đi truyền lệnh chủ tướng!”
Tham tướng vội đáp “tuân lệnh”, gấp rút rời khỏi trại. Thấy tham tướng phi ngựa đi khỏi, Xa Anh mới nhìn Công Tôn Ưởng, nghi ngờ hỏi: “Trong các cuộc giao chiến từ xưa tới nay, bắt sống chủ tướng phía địch mới được coi là toàn thắng. Nay công tử Ngang chẳng khác gì vật ở trong túi, cớ sao đại lương tạo lại cho hắn cơ hội sống?”
Công Tôn Ưởng trả lời: “Công tử Ngang dù gì cũng là thái tử của bệ hạ Đại Ngụy, ít nhiều vẫn phải giữ chút thể diện cho ông ta!”
Xa Anh suy nghĩ một lát, dường như đã hiểu ra: “Ý đại lương tạo là…”
Công Tôn Ưởng bật cười vang: “Bảo bối sống này vẫn nên giữ lại cho bệ hạ Đại Ngụy dùng thì tốt hơn!”
***
Công Tôn Diễn chạy tới Âm Tấn, gặp tướng thủ thành Trương Mãnh. Hai người trò chuyện rôm rả, đương nhiên lại nói tới chiến sự Hà Tây. Công Tôn Diễn thuật lại sơ qua tình hình ta địch, Trương Mãnh nghe xong, mặt mày biến sắc, mãi lâu sau mới nói nên lời: “Công Tôn tiên sinh, có cách nào cứu vãn chăng?”
Công Tôn Diễn sắc mặt nặng trịch, khẽ lắc đầu, ngửa mặt nhìn sắc trời, thở dài một tiếng: “Than ôi, nếu đúng như dự tính, người Tần giờ đây đã bắt đầu thảm sát!”
Trương Mãnh vội nói: “Công Tôn tiên sinh, mạt tướng sao có thể giương mắt đứng nhìn tướng sĩ của chúng ta bị thảm sát?”
Công Tôn Diễn lại thở dài: “Còn cách gì nữa đây? Thảm sát lính Ngụy lại không phải là người Tần, mà chính là bệ hạ của chúng ta và con trai bảo bối.”
Dù thời tiết vô cùng nóng nực, song Trương Mãnh lại rùng mình ớn lạnh, hồi lâu sau mới mới hỏi một câu chẳng ăn nhập gì: “Tiên sinh tới đây, là muốn giúp mạt tướng bảo vệ Âm Tấn?”
Công Tôn Diễn lại lắc đầu: “Hiện tại người Tần vẫn chưa để ý tới Âm Tấn!”
“Vậy… Trương Mãnh có thể làm được gì?”
“Tại hạ muốn mượn sức của tướng quân, đi một nước cờ hiểm!”
Trương Mãnh vội nói: “Tiên sinh mau nói! Chỉ cần có thể cứu vãn được tình thế thất bại, đừng nói là một nước cờ hiểm, dù là cả cái đầu của Trương Mãnh, tiên sinh cũng có thể mang đi!”
Công Tôn Diễn rút từ thắt lưng ra tấm lệnh bài của Long Giả: “Tướng quân chọn giúp tại hạ năm nghìn tinh binh tráng kiện, điều thêm một viên hổ tướng!”
“Tiên sinh yên tâm, thuộc hạ của mạt tướng ai cũng tráng kiện. Còn về hổ tướng, mạt tướng được chăng?”
“Được! Cho anh em tướng sĩ nghỉ ngơi ngay bây giờ, nổi lửa nấu cơm, rồi xuất phát trong đêm nay. Còn nữa, mỗi người mang theo một dải khăn trắng.”
“Mạt tướng tuân lệnh!”
Trời đã tối sập, Công Tôn Diễn dẫn theo năm nghìn dũng sĩ, âm thầm rời khỏi cổng tây của Âm Tấn, men theo Lạc Thủy tới Đỗ Bình. Âm Tấn cách Đỗ Bình một trăm năm mươi dặm, đám Công Tôn Diễn quá nửa đêm thì tới nơi. Công Tôn Diễn lệnh cho người ngựa chui vào lùm cây nghỉ ngơi một lát, rồi xuất kích trước lúc bình minh.
Trước lúc bình minh là thời điểm tối tăm nhất. Phía tây Đỗ Bình, trên sườn núi rộng chừng vài dặm dọc theo tuyến trường thành, vài vạn người ngựa trung quân của nước Tần sau vài ngày căng thẳng và một ngày giao chiến kịch hệt, lúc này đã hoàn toàn thả lỏng, chìm vào giấc ngủ say sưa. Kể cả những người lính đang canh gác cũng khó lòng cầm chắc được cây thương, thậm chí đã ôm thương ngáy khò khò.
Từ trong lùm cây không xa, năm nghìn lính Ngụy sẵn sàng chờ chiến. Công Tôn Diễn lấy ra một mảnh khăn trắng, buộc vào cánh tay trái, nói với Trương Mãnh: “Truyền lệnh, hễ thấy ai trên tay không buộc khăn trắng, giết ngay không hỏi! Ngoài ra, chỉ được đánh mạnh đánh nhanh, song không được tham đánh! Khi trời vừa sáng, đánh trống làm hiệu lệnh, lập tức rút về theo đường cũ!”
Trương Mãnh ngạc nhiên: “Đánh trống?”
Công Tôn Diễn gật đầu: “Đúng vậy, nghe thấy tiếng trống, lập tức rút quân!”
Trương Mãnh có vẻ đã hiểu ra, gật đầu lia lịa.
Công Tôn Diễn chỉ tay vào một vạt lều trại rộng lớn trước mặt, nói khẽ: “Trương tướng quân, phía sườn núi đằng kia, lều trại dày đặc nhất, hẳn là khu trại của Công Tôn Ưởng!”
Trương Mãnh cũng lấy từ trong ống tay áo ra một mảnh khăn trắng, buộc vào cánh tay trái, nghiến răng mà nói: “Truyền lệnh, phàm thấy ai không có khăn trắng trên tay, giết ngay không hỏi! Đến khi trời sáng, nghe thấy tiếng trống, lập tức rút quân!”
Từ xa, vọng lại tiếng gà gáy lác đác.
Công Tôn Diễn vung mạnh cánh tay, năm nghìn lính Ngụy lập tức ào lên như tên bắn, tràn vào vào doanh trại quân Tần đang lặng im phăng phắc. Chỉ một lát sau, suốt mười mấy dặm doanh trại quân Tần, lửa cháy rợp trời, tiếng hô giết vang dậy. Doanh trại Tần đại loạn, quân lính giẫm đạp lên nhau, tử thương nhiều không kể xiết. Quân Ngụy tứ phía thẳng tay chém giết, quân Tần không kịp trở tay, tiếng gào rú thảm thiết liên miên bất tuyệt.
Trong trại trung quân, Công Tôn Ưởng sau mấy ngày mệt mỏi, giờ đang ngủ say như chết. Bỗng nghe tiếng hô dậy đất, giật mình choàng tỉnh, bật người ngồi dậy, còn chưa kịp nói gì đã thấy Xa Anh hốt hoảng chạy vào bẩm báo: “Mau! Quân Ngụy đột nhập doanh trại, mau theo mạt tướng xông ra!”
Công Tôn Ưởng vốn mặc nguyên áo giáp đi ngủ, giờ nghe tin dữ, lập tức rút kiếm xông ra khỏi trại, đã có binh sĩ dắt ngựa đợi sẵn. Công Tôn Ưởng lập tức lên ngựa, cùng Xa Anh và đám quân thân tín mở đường máu xông ra.
Chạy chưa được bao xa, Trương Mãnh, Công Tôn Diễn đã lao thẳng tới, nhìn thấy hai người, bèn tức tốc đuổi theo. Xa Anh quay lại, thúc ngựa, cầm thương chặn đường Trương Mãnh, hét lớn: “Đại lương tạo, mau chạy đi!”
Công Tôn Diễn nghe thấy, vội hô lớn: “Anh em tướng sĩ, Công Tôn Ưởng ở đây!”
Vài chục lính Ngụy đang chém giết gần đó, nghe thấy tiếng hô, đồng loạt xông lại, vây kín lấy đám Công Tôn Ưởng, tình thế cực kỳ nguy cấp. Cũng may Công Tôn Ưởng khí số chưa tận, Tư Mã Thác nhìn thấy lửa cháy ở Đỗ Bình, đã vội vã chạy tới cứu viện, dẫn quân xông thẳng vào vòng vây, bảo vệ đám Công Tôn Ưởng, Xa Anh rút chạy an toàn.
Công Tôn Diễn thấy trời đã sáng, hạ lệnh gõ trống. Trong đêm tối, Tư Mã Thác vốn không biết số quân Ngụy đột nhập vào trại nhiều ít ra sao, lại nghe thấy tiếng trống trận nổi lên dồn dập, vội vàng dàn quân phòng ngự, tới khi nhận ra chân tướng, người Ngụy đã ung dung rút hết.
Khi trời sáng hẳn, điểm lại quân số, chỉ riêng trong cuộc chiến này, quân Tần đã thiệt hại đến một vạn ba nghìn tướng sĩ, số quân bị thương nhiều không đếm xuể.
Nhìn một vạt doanh trại tan hoang và xác quân lính ngổn ngang la liệt, Công Tôn Ưởng chết lặng, mãi không nói nổi một lời. Những xác chết này không phải ngã xuống nơi sa trường, mà ngã xuống ngay trong giấc ngủ, thân là chủ tướng, lúc này ông còn nói được gì đây?
Không biết bao lâu sau, Công Tôn Ưởng mới ngẩng lên hỏi: “Đã điều tra ra ai là kẻ đột nhập doanh trại chưa?”
Tư Mã Thác giọng khàn đặc: “Công Tôn Diễn!”
Công Tôn Ưởng thất thần ngồi phịch xuống đất, cổ họng tắc nghẹn.
***
Sau khi yết kiến Ngụy Hầu, Trần Chẩn nghe theo lời Ngụy Hầu, nghỉ ngơi một đêm, sáng sớm hôm sau mới lên đường tới Lâm Tấn quan. Do việc không gấp, nên Trần Chẩn đi rất thong dong. Khi qua cầu phao Hà Thủy, đột nhiên nhận được tin báo, chiến cục Hà Tây đã định đoạt.
Trần Chẩn gấp rút tới Lâm Tấn quan, vừa vào trong phủ tướng, đã có tướng sĩ chạy tới bẩm báo chi tiết tình hình. Trần Chẩn bàng hoàng kinh hãi, ngã quỵ xuống đất. Ông ta đã đặt cược hết thảy vào cuộc đại chiến này, vậy mà than ôi, gã công tử Ngang đúng là phường bị thịt vô tích sự!
Rạng sáng hôm sau, trong lúc Trần Chẩn đang đau đầu nhức óc, thì công tử Ngang toàn thân đẫm máu vừa thoát khỏi trùng vây chạy được vào trong quan ải, được thủ tướng đón đưa vào trong phủ. Công tử Ngang nhìn thấy Trần Chẩn, đã không chào hỏi, cũng chẳng nói gì, cứ thế ngồi phệt xuống. Đúng là thất thần thê thảm hai hàng lệ, ủ ê đờ đẫn một thân sầu.
Hai người ngồi đờ đẫn hồi lâu, công tử Ngang gọi thủ tướng mang lại hai bình rượu, cũng không cần đồ nhắm, cứ ngồi tại chỗ, ngửa cổ uống hết chén này đến chén khác.
Trần Chẩn không khuyên gì, chỉ nhắm hờ hai mắt, chau tít đôi mày. Rất lâu sau, Trần Chẩn mới thở dài một tiếng: “Công tử bại trận lần này, đúng là đi sai một nước cờ khiến toàn cục thất bại!”
Công tử Ngang lừ mắt nhìn Trần Chẩn, thình lình ném vụt chén rỗng đi, bê cả bình rượu lên tu ừng ực một hơi, sau đó quăng luôn bình rượu, rút kiếm đưa ngang cần cổ.
Trần Chẩn thấy vậy, lao vội tới giằng lấy thanh kiếm. Công tử Ngang ngẩng đầu lên, hai mắt đỏ ngầu, trợn trừng nhìn Trần Chẩn: “Tướng bại trận, chỉ còn nước chết mà thôi! Sao lại cản ta?”
Trần Chẩn lại ngồi xuống, tiếp tục thở dài: “Than ôi, sự việc đã tới nước này, dù tướng quân có chết, cũng làm được gì đây?”
Công tử Ngang cất giọng bi thương: “Ba quân Đại Ngụy tan tác, ông bảo ta… bảo ta… còn mặt mũi nào gặp phụ vương?”
Trần Chẩn chưa kịp nói gì, thủ tướng của Lâm Tấn quan đã tất tả chạy vào, vui mừng thông báo: “Báo! Rạng sáng nay, thủ tướng Âm Tấn Trương Mãnh dẫn năm nghìn binh lính đột kích trung quân của Công Tôn Ưởng, chặt đầu hơn vạn, quân số bị thương chưa rõ bao nhiêu, suýt bắt sống được Công Tôn Ưởng!”
Công tử Ngang không dám tin vào những lời vừa nghe thấy, đứng sững hồi lâu, mãi mới lắp bắp: “Trương Mãnh? Năm nghìn binh lính? Tập kích trung quân? Quân số bị thương chưa rõ bao nhiêu?”
Trần Chẩn mừng rỡ, suy nghĩ một lát, phẩy tay bảo thủ tướng lui ra, thở phào một tiếng, quay sang công tử Ngang: “Đúng là trời không tuyệt đường sống của người!”
Công tử Ngang nghe thấy vậy, vội hỏi: “Xin hỏi thượng khanh, câu này có nghĩa gì?”
“Hạ quan có một kế, có thể cứu nguy cho công tử!”
Công tử Ngang mắt sáng rỡ, như thể chết đuối vớ được cọc: “Thượng khanh có diệu kế gì?”
Trần Chẩn ghé sát tai công tử Ngang thì thầm.
Công tử Ngang đứng dậy, bái lạy sát đất: “Lần này nhờ vào ân cứu mạng của thượng khanh, xin nhận của Ngụy Ngang một lạy!”
Trần Chẩn kéo công tử Ngang dậy, vội vã cáo từ, cấp tốc quay trở về An Ấp, đi thẳng tới cung Ngụy. Nhìn thấy Ngụy Huệ Hầu đang ngồi ngây như tượng trước bàn, mắt đẫm lệ, Trần Chẩn vội quỳ rạp sát đất, mông chổng lên cao, không dám thở mạnh.
Một lát sau, tỳ nhân tay cầm chiến báo, chậm rãi bước vào thư phòng: “Bệ hạ, có chiến báo của thượng tướng quân!”
Tỳ nhân trình chiến báo lên trước Ngụy Huệ Hầu, Ngụy Huệ Hầu vẫn không hề nhúc nhích. Tỳ nhân thoáng ngạc nhiên, chầm chậm lui ra. Vừa lui tới cửa, bỗng nghe thấy giọng nói trầm nặng của Ngụy Huệ Hầu: “Truyền chỉ!”
Tỳ nhân dừng bước.
“Ban ba thước lụa trắng, cho tên bại tướng kia vĩnh viễn ở lại Hà Tây, cùng với tám vạn lính thiết giáp của quả nhân!”
Tỳ nhân như không nghe thấy, đứng im bất động.
Ngụy Huệ Hầu trợn trừng hai mắt, quát lên như sấm: “Còn không đi mau!”
Tỳ nhân quỳ xuống: “Bệ hạ…” Rồi lại ngẩng nhìn Ngụy Hầu, lắp bắp, “lão… lão nô tuân chỉ!”
Tỳ nhân đang định lui ra, Trần Chẩn bèn ngẩng lên gọi: “Khoan đã!”
Tỳ nhân bèn đứng lại.
Trần Chẩn lại dập đầu lạy: “Bệ hạ, vi thần có đôi lời muốn nói!”
Ngụy Huệ Hầu không thèm đếm xỉa tới ông ta, quay mặt nhìn sang hướng khác.
Trần Chẩn cầm chiến báo trên bàn lên, làm ra vẻ chăm chú đọc một hồi, lại dập đầu nói: “Hà Tây thất bại, không phải lỗi của thượng tướng quân, khẩn cầu bệ hạ thu hồi chỉ lệnh.”
Ngụy Huệ Hầu quay mặt lại, chỉ tay vào Trần Chẩn, toàn thân run bắn, nói: “Trần Chẩn… quả nhân còn chưa hỏi tội ngươi, vậy mà ngươi còn dám khua môi múa mép nói đỡ cho tên nghiệt tử kia! Quả nhân hỏi ngươi, chỉ trong hai ngày ngắn ngủi, tám vạn lính thiết giáp của quả nhân đã bị tiêu diệt trong tay tên vô tích sự ấy, ngươi nói không phải lỗi của hắn, lẽ nào là quả nhân đã sai?”
Trần Chẩn không hề hốt hoảng, thủng thẳng dập đầu mà nói: “Xin bệ hạ hãy nghe vi thần nói, rồi trị tội thượng tướng quân và vi thần cũng chưa muộn!”
Ngụy Huệ Hầu hừ mũi một tiếng, giọng lạnh tanh: “Nói đi!”
“Vi thần đã đọc kỹ chiến báo, biết rõ nguyên nhân thất bại ở Hà Tây là do phó tướng Long Giả. Trước khi trận chiến bắt đầu, Long tướng quân liên tục xin đừng đánh, song thượng tướng quân đều không đồng ý. Vào ngày đại chiến, thượng tướng quân hạ lệnh hữu quân xuất kích, trống trận đã nổi, mà Long tướng quân lại ôm hận trong lòng, không chịu nghe hiệu lệnh, hữu quân lề mề chậm trễ, để lỡ quân cơ, dẫn đến toàn cục thất bại.”
Ngụy Huệ Hầu sửng sốt: “Long tướng quân không nghe quân lệnh? Chuyện này không thể!”
“Vi thần vốn cũng không tin, nên đã đích thân tới ba quân điều tra, tướng sĩ ba quân đều nói như vậy. Bệ hạ, Long tướng quân án binh bất động, ba quân đều biết, vi thần đâu dám nói bừa!”
Ngụy Huệ Hầu sắc mặt lạnh lùng, dường như đang suy xét thực giả.
Trần Chẩn dõng dạc nói: “May mà thượng tướng quân lâm nguy không loạn, chỉ huy như thần, trước hết ổn định thế trận, sau đó ngầm lệnh cho thủ tướng Âm Tấn Trương Mãnh dẫn thuộc hạ tập kích trung quân Tần ngay trong đêm đó, đốt cháy hai mươi dặm trại giặc, chém chết ba vạn quân, lính Tần bị thương nhiều không đếm xuể, suýt nữa còn bắt sống chủ tướng quân Tần Công Tôn Ưởng và phó tướng Xa Anh!”
Ngụy Huệ Hầu trong lòng kích động, nôn nóng hỏi dồn: “Chiến báo đâu?”
Trần Chẩn trình chiến báo lên Huệ Hầu, Huệ Hầu gấp gáp đọc một lượt từ đầu tới cuối, tức giận mà nói: “Lão già Long Giả, quả là đã làm lỡ việc lớn của quả nhân! Người đâu!”
Trần Chẩn lập tức khấu đầu: “Vi thần còn có một thỉnh cầu, mong được bệ hạ ân chuẩn!”
“Ái khanh mau nói!”
“Long lão tướng quân trấn giữ Hà Tây suốt mấy chục năm, cũng đã một đời chinh chiến. Lần này lâm trận rụt rè, có lẽ là do tuổi cao sức yếu. Vi thần dám liều thỉnh cầu bệ hạ, nể tình Long lão tướng quân từng có công lớn với nước, tạm tha cho lão một lần!”
Ngụy Huệ Hầu trầm tư một hồi, lắc đầu than thở: “Than ôi, sự việc ra nông nỗi này, cũng là lỗi của quả nhân. Đã cho Ngang Nhi làm chủ tướng, sao lại để Long Giả làm phó tướng? Được, quả nhân chấp thuận thỉnh cầu của khanh, cho Long Giả cáo lão về quê, vĩnh viễn không dùng đến nữa!”
“Bệ hạ thánh minh!” Trần Chẩn lại dập đầu nói, “thượng tướng quân tấu xin tạm thời rút quân khỏi Hà Tây, đợi thời cơ chín muồi, lại quyết chiến một trận với người Tần, xin bệ hạ minh xét!”
“Chuẩn cho thỉnh cầu của thượng tướng quân!”
“Vi thần tuân chỉ!”