Ngay sau hôm Tống Di bị nấu trong vạc, hắc điêu nước Tần đã tức tốc đưa tin Sở Tề tuyệt giao về tới cung Tần. Tần Vương bèn gấp rút triệu hồi Trương Nghi. Khi Trương Nghi về tới Hàm Dương, đã quá hoàng hôn, được vương xa chở thẳng vào cung Tần.
Huệ Vương sai bày yến tiệc, cho gọi nhạc phường tới ca múa mua vui.
Trong tiếng sênh ca réo rắt, hai người cùng uống tới ngà ngà, rồi Huệ Vương truyền chỉ bày cờ.
Một bàn cờ được cung nhân khiêng vào, đặt ở giữa vua tôi.
“Quả nhân đi quân trắng, được chăng?” Huệ Vương nhấc một quân cờ trắng, cười cười nhìn Trương Nghi hỏi.
Trương Nghi cũng cười, cầm lấy hộp quân đen.
Huệ Vương đặt liền ba quân xuống bàn cờ, nhìn sang Trương Nghi.
Trương Nghi nhìn ba quân cờ, nheo nheo mắt: “Ồ, đại vương…”
“Quân cờ đầu tiên này, là thần mưa!” Huệ Vương chỉ vào ba quân cờ trắng, “quân cờ thứ hai này, là thần ôn dịch; quân cờ thứ ba này, là tướng quân Ngụy Chương, hai mươi vạn nhuệ binh dưới trướng Ngụy Chương gần đây đã lục tục tụ về sơn cốc Thương Ư. Thế cục tiếp theo, có lẽ phải cần em rể xuất mã!”
“Nếu là như vậy,” Trương Nghi khẽ cười, “thì đúng là tới lượt thần rồi!” Nhấc một quân cờ đen lên, song không đặt xuống.
“Sao vẫn chưa đi?”
“Thần còn chờ một tin vui!”
“Là cái này chăng?” Tần Vương lấy ra mật thư của hắc điêu, đưa cho Trương Nghi.
Trương Nghi đọc xong, bàng hoàng chấn động.
“Than ôi,” Tần Vương thở hắt ra, “Sở Vương kia đúng là quái đản, còn nghĩ ra quái chiêu nhường này, thực là ngoài sức tưởng tượng của quả nhân!”
“Không phải ý của Sở Vương.”
“Ồ?”
“Thần biết Tống Di. Kẻ này vốn là môn khách của Chiêu Dương, sau lại chạy sang nương nhờ Ngận Thượng. Hắn được làm sứ thần, là nhờ Ngận Thượng.”
Tần Vương nghe vậy thì bật cười: “Tay Ngận Thượng này được lắm. Đợi quả nhân có được Sính Đô rồi, phải thưởng cho hắn một mảnh đất mới được!”
“Đại vương thực biết dùng người!” Trương Nghi khen ngợi. “Tống Di kia cũng thực cứng đầu cứng cổ. Hoàn thành sứ mệnh là được rồi, đâu nhất thiết phải tự luộc mình như vậy? Có điều, Điền Tích Cương mang nấu sứ giả, cũng chính là đã cắt đứt hoàn toàn đường lui của Sở. Nếu không ngoài dự liệu, sứ thần nước Tề lúc này hẳn đang trên đường đến kết minh với ta!”
“Vậy thì, giờ thần đi đây!” Trương Nghi gõ mạnh quân đen trên tay xuống bàn cờ.
Trương Nghi ở lại trong cung của Tần Vương cho tới tận chiều hôm sau mới rời thành, đổi sang một cỗ xe mui, thủng thẳng đi qua cổng thành nam Hàm Dương, về thẳng phủ tướng quốc.
Khi xe ngựa dừng lại ngoài cổng phủ, Trương Nghi còn cố tình chống gậy gỗ, bước thậm thọt vào trong.
Vừa về tới nhà, còn chưa kịp ngồi ấm chỗ, đã thấy môn nhân vào bẩm báo, có sứ Sở tới thăm.
Trương Nghi liền mời vào.
“Tướng quốc đại nhân, cuối cùng thì đại nhân cũng trở về rồi!” Chiêu Tuy mặt đầy uất ức, gấp gáp kêu lên.
“Than ôi,” Trương Nghi thở ngắn than dài ra chiều rầu rĩ, “con người ta khi đã gặp vận rủi, uống nước cũng giắt răng.” Nói rồi duỗi thẳng bên chân phải vẫn đang băng bó chằng chịt, “Chiêu huynh hãy xem, chính là cẳng chân chết tiệt này, hôm đó đúng là ma xui quỷ khiến, vốn dĩ định lên cao ngắm cảnh, nào ngờ giẫm nhằm viên đá cập kênh, bật tung một cái, thế là bàn chân của tại hạ cũng trượt xuống theo, cả người lăn đi lông lốc, tại hạ xây xẩm mặt mày, chỉ thấy cổ chân đập vào tảng đá đánh chát, đau tới bất tỉnh nhân sự.”
Chuyện này, Chiêu Tuy sớm đã nghe kể, song vẫn buộc phải làm ra vẻ cảm thương mà nghe thêm lần nữa.
“Ối chao ôi,” Trương Nghi càng kể càng hăng, “chân đập trúng đá, vẫn chưa coi là rủi, gặp phải lang băm mới là đen đủi thực sự. Gã lang băm kia đúng là hại ta quá lắm, một hai nhất quyết tại hạ đã gãy xương rồi, phải tiếp lại xương mới được, tại hạ liền bảo gã tiếp. Cha mẹ ơi, gã hết bẻ lại giật đến bốn năm lần, báo hại tại hạ đau tới chết đi sống lại, mà vẫn không khớp. Hôm sau, cổ chân sưng vù như cái trống. Tại hạ mới tống cổ gã đi, nghe nói trong núi Chung Nam có một thầy lang già chuyên chữa bệnh xương, mới sai người khiêng vào trong núi. Thầy lang vừa sờ vào, đã nói anh tới muộn quá, lẽ ra phải tới ngay lúc mới bị thương. Tại hạ mới hỏi, nghiêm trọng thế sao, thầy lang mới nói, xương cẳng chân của tại hạ không phải bị gãy, mà là bị vỡ, giờ phải ghép lại như cũ rồi băng cho chặt, để nó từ từ liền lại. Tại hạ mới giục, vậy thì ghép mau lên. Lão nói, anh phải chịu đau đấy nhé. Đau thì đau, tại hạ có sá gì, mới nói, ông cứ chữa đi. Lão đổ cho tại hạ liền mấy bát rượu lớn, rồi trói nghiến lại, nhét khăn vào miệng, xong xuôi thì lôi ra một con dao sắc lẹm, nhằm vào cổ chân sưng tấy mà cắt xẻ xoèn xoẹt một hồi. Tại hạ thực không dám nhìn, đau đớn thấu tim gan, song không thể giãy giụa, không thể kêu la, chỉ muốn chết ngay cho xong. Sau đó thì chết ngất đi, chẳng biết trời trăng gì nữa. Đến khi tỉnh lại, thấy mình đang nằm trên giường, toàn bộ cẳng chân bị băng kín mít như gói bánh…”
Trương Nghi kể chuyện, sống động vô cùng, Chiêu Tuy nghe rồi, ánh mắt từ từ dừng lại trên cẳng chân băng bó của Trương Nghi. Tất cả những chuyện Chiêu Tuy được nghe trước đây đều kể về chân trái, mà lúc này, cẳng chân băng bó của Trương Nghi lại nằm bên phải.
“Tướng quốc đại nhân,” Chiêu Tuy chỉ xuống chân Trương Nghi, “chẳng phải là bị thương ở chân trái ư?”
“Chân trái?” Trương Nghi khẽ đảo con ngươi, rồi nheo nheo mắt hỏi, “Chiêu huynh sao lại biết là chân trái?”
“Lúc đại nhân bị thương, mọi người đều đồn đại ầm ĩ, tại hạ còn đích thân đến hỏi thăm lão thầy lang chữa chân cho đại nhân, thầy lang cũng nói là bị thương bên chân trái.” Chiêu Tuy thành thực đáp.
“Ôi trời,” Trương Nghi vỗ trán đánh bốp, “sao lại lẫn lộn thế được nhỉ? Đám người này thật đáng chết!” Rồi duỗi chân trái ra, “hãy nhìn xem, chân trái của tại hạ vẫn lành lặn như thường, đúng không?” Giẫm vài cái xuống đất, “có giống từng bị thương không? Than ôi,” lắc đầu ngán ngẩm, “một lũ xuẩn ngốc, trị thương không biết đường trị thương thì chớ, đến trái phải cũng không phân biệt nổi, thực khiến tại hạ tức chết!”
“Tướng quốc đại nhân,” Chiêu Tuy vội vã quay về chuyện chính, “thôi sao cũng được, đại nhân về là tốt rồi, không thì tại hạ lo lắng đến chết mất!”
“Ồ, huynh đệ, có chuyện cấp bách gì sao?” Trương Nghi ngạc nhiên hỏi.
“Là chuyện minh ước!” Chiêu Tuy nôn nóng.
“Minh ước ở đâu?”
“Tại hạ có mang theo đây!” Chiêu Tuy lập tức mở chiếc rương nhỏ mang theo bên mình, lấy bản minh ước ra, “tướng quốc nhìn xem, đều ở đây cả!”
“Phải phải,” Trương Nghi gật đầu, “chính vì tại hạ nhớ tới chuyện này, nên mới bất chấp vết thương đau đớn mà trở về đây!”
“Tạ ơn tướng quốc đã nhớ tới!”
“Thế này vậy,” Trương Nghi liếc nhìn chiếc rương, “Chiêu huynh cứ để rương kia lại đây, đợi tại hạ nghỉ ngơi một đêm, ngay sáng mai sẽ vào cung yết kiến Tần Vương, thỉnh cầu Tần Vương ghi danh, đóng ấn, là sẽ hoàn tất ngay thôi!”
“Tốt quá!” Chiêu Tuy phấn khởi không để đâu cho hết, liền cất minh ước vào trong rương, mang tới đặt cẩn thận trước mặt Trương Nghi, đoạn vòng tay nói, “Chiêu Tuy cung kính chờ tin tốt đẹp!”
Ngày hôm sau, Chiêu Tuy tới phủ tướng quốc từ rất sớm, chờ từ sáng tới chiều, rồi lại đến tối mịt, mới đợi được Trương Nghi hồi phủ.
Trương Nghi không mặc quan phục, chỉ mặc áo lót trong, đầu không đội mũ, tóc tai rối bù, mặt mũi thất thần phờ phạc, được Tiểu Thuận dìu vào phòng khách. Chiêu Tuy bước ra đón, thấy mà thất kinh, dè dặt đi theo vào, đợi Trương Nghi ngồi yên chỗ rồi, mới thấp thỏm ngồi xuống chiếu khách.
Trương Nghi đờ đẫn nhìn sang Chiêu Tuy.
“Tướng quốc đại nhân?” Chiêu Tuy khẽ hỏi.
“Than ôi!” Trương Nghi thở hắt ra.
“Đã xảy ra chuyện gì?” Chiêu Tuy lại hỏi.
“Than ôi, còn có chuyện gì, chính là chuyện của Chiêu huynh đệ đó!” Trương Nghi lại thở hắt ra tiếng nữa, rồi nhìn sang Tiểu Thuận, “còn đứng ngẩn ra đó làm gì? Ra xe, mang cái rương vào đây, trả cho Chiêu đại nhân!”
Tiểu Thuận đi ra, không lâu sau, bưng theo chiếc rương của Chiêu Tuy trở vào, đặt xuống trước mặt Chiêu Tuy rồi vội vã lui ra.
Chiêu Tuy mở rương, bên trong trống rỗng.
“Tướng quốc, minh ước đâu?” Chiêu Tuy kinh hãi.
“Đã bị đại vương một mồi lửa thiêu rụi!”
“Cái gì?” Chiêu Tuy giật nảy mình, nhảy bật khỏi chỗ.
“Than ôi,” Trương Nghi thở dài rầu rĩ, “đâu chỉ có thế,” chỉ vào người mình, “Chiêu huynh hãy nhìn tại hạ đây, lúc vào cung thì một thân quan phục tề chỉnh, lúc ra về thì tơi tả thế này. Đại vương vừa xem minh ước, bỗng chốc nổi giận đùng đùng, thẳng tay đốt ngay tức khắc, còn lệnh cho thị vệ lột sạch áo mũ trên người tại hạ. Cả ấn tướng quốc, cũng bị đại vương tịch thu tại trận mất rồi.”
“A…” Chiêu Tuy hãi hùng, không thốt nổi thành câu, “giờ…giờ bảo tại hạ về triều phục mệnh thế nào đây?”
“Chiêu huynh đệ,” Trương Nghi buông thõng hai tay, “huynh đệ phục mệnh thế nào, chỉ là chuyện nhỏ, chuyện của tại hạ đây, mới là chuyện lớn. Tại hạ giờ đây bị kẹp giữa hai phía, đúng là tiến thoái lưỡng nan!”
“Chao ôi…” Chiêu Tuy cuống quýt đi quanh, giậm chân thình thịch, “chẳng phải Tần Vương đã…đã nhận lời rồi ư, sao thình lình lại thành ra thế?”
“Phải, phải,” Trương Nghi cũng tỏ ra giận dữ, “tại hạ cũng hỏi y như vậy, kết quả là vừa thốt khỏi miệng, đã bị Tần Vương trách mắng không tiếc lời.”
“Tần Vương trách mắng thế nào?” Chiêu Tuy vội hỏi.
“Trách mắng tại hạ ăn cây táo rào cây sung, sao lại có thể hai tay tặng không đất của Đại Tần cho kẻ khác? Còn nói, sáu trăm dặm sơn cốc Thương Ư, có được không phải chuyện dễ dàng. Mười lăm ấp đất Thương là do Sở Vương tặng cho, mười lăm ấp đất Ư phải đánh đổi bằng tính mạng của vài vạn giáp binh Tần, cớ sao tại hạ lại dám to gan lớn mật, tự tiện dâng tặng sáu trăm dặm đất ấy cho người Sở!”
“Đại nhân,” Chiêu Tuy vội phân trần, “lúc đại nhân ở Sở, đâu có nói như vậy? Rõ ràng đại nhân nói rằng, Tần Vương đã đồng ý, chính Tần Vương đã phái đại nhân đi sứ sang Sở để kết tình láng giềng hoà mục.”
“Đúng thế, Tần Vương muốn kết tình láng giềng hoà mục, nhưng lại không hề nói sẽ tặng cho Sở sáu trăm dặm sơn cốc Thương Ư!”
“Nhưng đại nhân đã nhận lời kia mà.”
“Phải,” Trương Nghi cười nhăn nhó, “tại hạ đã đồng ý, bởi vậy mới nói, tại hạ giờ đây tiến thoái lưỡng nan! Tại hạ có tâu với Tần Vương, rằng tại hạ đã nhận lời Sở Vương rồi, minh ước cũng đã lập xong, Sở Vương đã ghi danh đóng ấn xong xuôi. Nào ngờ Tần Vương lại nói, tại hạ đồng ý, thì tự đi kiếm đất mà trả. Than ôi…Chiêu huynh đệ, tại hạ lấy đâu ra đất? Tại hạ chỉ có vỏn vẹn sáu dặm Ư Thành mà thôi!” Nói đến đây, chợt vỗ đùi đánh đét, “thôi thế này vậy, tại hạ sẽ mang sáu dặm đất ấy trả cho Sở Vương, được chứ?”
“Ôi…” Chiêu Tuy mặt méo xệch, “sao có thể được?”
“Được chứ, được chứ!” Trương Nghi vỗ ngực bình bịch, “đó là đất Tần Vương phong tặng cho riêng tại hạ, Tần Vương đã ban cho tại hạ, thì chính là đất của tại hạ, tại hạ có chiếu mệnh, có khế ước đàng hoàng, tại hạ muốn cho ai thì cho, Tần Vương cũng chẳng thể làm gì được!”
“Ồ không, không, không phải là như vậy!” Chiêu Tuy lúc này mới kịp hoàn hồn mà suy nghĩ, “là minh ước, Tần Vương sao có thể huỷ minh ước được?”
“Than ôi,” Trương Nghi lắc đầu, “nhắc tới minh ước, cũng trách tại hạ suy nghĩ không thấu đáo. Minh ước đó, kỳ thực vẫn chưa phải là minh ước, bởi Tần Vương vẫn chưa đề danh đóng ấn. Đã chưa phải là minh ước, thì nào có giá trị gì, chỉ là một mảnh da mà thôi. Bị Tần Vương thiêu huỷ, chẳng qua chỉ là một mảnh da vô giá trị. Hơn nữa, giờ nó đã bị đốt ra tro, trong tay Chiêu huynh và tại hạ chẳng còn gì ngoài chiếc rương rỗng này, chúng ta còn biết làm sao nữa?”
“Chao ôi, ra tro rồi! Một mồi lửa đốt ra tro rồi, tại hạ…tại hạ làm sao có thể về cung phục mệnh được đây?”
“Này người anh em,” Trương Nghi tiếp lời, “tại hạ đã phải giương mắt chứng kiến nó bị đốt ra tro đấy! Không giấu huynh đệ, trước mặt Tần Vương, tại hạ đã hết lời giảng giải về ích lợi của việc kết minh với Sở, cực lực dùng lý mà tranh, nào ngờ đâu chỉ vài câu nói của Tần Vương, đã khiến tại hạ tắc họng. Tại hạ nói, Sở Vương đã chấp thuận tuyệt giao với Tề, chỉ kết minh với Tần mà thôi. Tần Vương liền nói, Sở Vương tuyệt giao với Tề Vương, cớ sao quả nhân lại không biết? Quả nhân có không ít bằng hữu ở Tề, nghe họ nói, đặc sứ của Sở Vương Trần Chẩn lúc này đang ở Lâm Truy, nhưng lại chưa từng nhắc tới chuyện tuyệt giao. Tại hạ nói, chiếu theo minh ước, phải là hai bên đồng thời thực thi, khi ta giao lại Thương Ư cho Sở, thì Sở cũng đồng thời tuyệt giao với Tề. Tần Vương nghe vậy, phá lên cười lớn một tràng, bảo mang minh ước lại cho quả nhân xem. Tại hạ mới trình minh ước lên, Tần Vương xem xong, thấy đúng là minh ước viết như vậy thực, thì đùng đùng nổi giận, trách mắng tại hạ rằng đây mà cũng gọi là minh ước ư? Một kẻ bên đông, một kẻ bên tây, cách nhau đến vài nghìn dặm, thì đồng thời thực thi minh ước thế nào? Minh ước kiểu này, chỉ làm trò cười cho thiên hạ mà thôi. Tại hạ nhất thời tắc tị, đang vắt óc nghĩ xem phải đối đáp thế nào, thì Tần Vương trong cơn thịnh nộ, đã sai người châm lửa đốt luôn.” Nói đến đây thì đứng dậy, như quên bẵng mất cái chân đau, tiến lại trước mặt Chiêu Tuy, vỗ vào vai hắn, “huynh đệ, hãy hồi triều phục mệnh đi thôi, nói rằng Trương Nghi này nguyện dâng tặng Sở Vương sáu dặm Ư Thành, cũng chính là mảnh đất phong thuộc về tại hạ, không cần bất cứ điều kiện nào, coi như đền bồi cho sự thiếu chu toàn của tại hạ!” Rồi quay ra ngoài gọi lớn, “Thuận Nhi, tiễn khách!”
Tiểu Thuận nghe tiếng, nhanh nhẹn bước vào, xách rương rỗng lên, mắt nhìn chằm chằm vào Chiêu Tuy.
Thấy Trương Nghi bước đi thoăn thoắt không có vẻ gì đau đớn, Chiêu Tuy lúc này mới thình lình bừng tỉnh, máu nóng xộc thẳng lên đầu, muốn nổi khùng song vẫn gắng gượng nuốt xuống cơn uất hận, chỉ “hừm” một tiếng qua lỗ mũi, rồi sải bước đi thẳng ra khỏi phủ tướng.
Từ lúc mưa lớn bắt đầu trút xuống, Khuất Bình, Bạch Vân ngày ngày đều đứng trong đại điện trên cao, nhìn xuống hai dòng sông ở ngoài thành, giờ đã sóng nước đục ngầu, cuồn cuộn hung hãn.
Đại điện nước dột dầm dề. Nước mưa lọt qua lỗ thủng sét đánh trên nóc điện, cùng mảng ngói bị cành cổ thụ quét văng hôm trước, rơi rào rào vào trong điện, xối ướt đẫm hàng tượng đất, khiến màu vẽ lem nhem bê bết, không còn nhận rõ hình hài. Trong số đó, tượng thuỷ tổ Cao Dương Đế bị nước mưa từ trên mái nhà xối thẳng xuống, qua ba ngày thì đổ sập.
Khi pho tượng sập xuống, Khuất Bình và quân uý đều đứng ngay bên cạnh quan sát. Đó là pho tượng đất lớn nhất trong đại điện, dưới dòng nước mưa xối xả tựa như một cột thác nhỏ, không có cách nào di chuyển hay xê dịch đi chỗ khác, chỉ còn biết giương mắt trân trân nhìn nó bị xối sập. Khi Cao Dương Đế đổ xuống, thì tượng thuỷ tổ Chúc Dung đứng ở bên phải Cao Dương Đế cũng đã ngấm sũng nước mưa, mặt mày loang lổ, nửa bên phải tượng rạn nứt chằng chịt, chỉ hai mắt vẫn còn toé lửa, song lửa này đã bị che mờ sau làn hơi nước.
Nhân lúc mưa nhỏ bớt, Đặng Thuẫn dẫn binh sĩ mạo hiểm trèo lên nóc nhà, muốn bịt những chỗ thủng lại. Song lỗ thủng sét đánh rộng toang hoác, thực sự không thể nào bịt nổi. Họ chỉ có thể dùng đủ thứ đồ che mưa trùm lên che chắn cho các pho tượng chưa bị đổ sập, Liên tục quét nước mưa tràn trề trong điện ra ngoài.
Mưa đổ như trút tới ngày thứ bảy, không còn nhìn thấy dòng sông ngoài thành nữa, chỉ thấy một vùng nước vàng đục mênh mông.
Những chòm xóm còn nhấp nhô thấp thoáng ngoài bờ đê, chỉ sau một đêm, đã biến mất hoàn toàn.
Họ hiểu rằng, nước sông đã dâng tràn qua đê vào giữa đêm qua, dân chúng ở nơi thấp trũng sau một đêm đã mất trắng toàn bộ nhà cửa ruộng vườn.
Khuất Bình mắt ứa lệ, nắm chặt tay Bạch Vân.
Bốn bề mênh mông biển nước, không có gió, cũng không có sấm chớp, chỉ có mưa như thác đổ.
“Tư tế,” Khuất Bình nhìn sang Bạch Vân, “xin nàng hãy thỉnh cầu đại thần Vu Hàm thêm lần nữa, xem có thể giảm bớt ít nhiều hay chăng. Cứ tiếp tục thế này, người Sở nguy mất!”
“Là trời giáng hoạ, không phải việc của đại thần Vu Hàm, đại nhân bảo Vân Nhi phải thỉnh cầu thế nào đây?” Bạch Vân cũng lấy làm bất lực.
“Nhưng…” Khuất Bình ngước nhìn màn mưa vẫn ào ào trút xuống, “mưa này, hình như còn lớn hơn mường tượng!”
“Không lớn, có thể thành hoạ được chăng?” Bạch Vân liếc nhìn Khuất Bình, “tôi đã nói với đại nhân, lần này là đại hoạ khôn lường!”
“Còn nhớ tư tế từng nói, tai hoạ kéo dài suốt mười bốn ngày, chao ôi, vẫn còn những bảy ngày nữa…”
“Hoạ này không thể tránh được. Gắng chịu đựng thêm bảy ngày nữa, rồi mọi chuyện sẽ qua.”
“Không biết tấu báo tại hạ gửi về, đại vương đã xem chưa? Không biết đại vương đã kịp chuẩn bị ứng phó? Và các ti phủ…” Khuất Bình lẩm bẩm, rồi dừng lại nửa chừng, như không dám tưởng tượng tiếp.
Mỗi ngày sau đó, đối với Khuất Bình, đều dằng dặc như năm.
Cứ như thế, sáu ngày nữa chậm chạp trôi qua, tới ngày thứ bảy, cũng chính là ngày thứ mười bốn kể từ khi mưa lớn, trời vừa sáng sớm, Khuất Bình đã vội leo lên đài lộ thiên, ngửa mặt nhìn trời, vẫn thấy mây đen tầng tầng lớp lớp, không có lấy một kẽ hở. Và mưa, vẫn cứ rào rào trút xuống trên đàn tế, xung quanh chân đàn, nước đọng thành vũng lớn, sủi từng vòng xoáy chảy ồ ồ về phía rãnh thoát nước được đám binh sĩ liên tục khơi dòng. Khuất Bình lấy làm lo lắng, quay về dãy nhà chái nơi họ ở, tìm Bạch Vân, song chỉ thấy chúng vu nữ mình mang áo trắng mỏng như cánh ve quỳ rạp dưới đất, xếp thành một đồ hình kỳ lạ, rõ ràng là đang thi pháp.
Bạch Vân quỳ ở chính giữa, trán đẫm mồ hôi.
Khuất Bình lui ra, khép cửa lại, đi vào đại điện, quỳ trước tượng liệt tổ liệt tông đất Sở, nhắm mắt khẩn cầu.
Ngoài bức tượng đã đổ sập và bức tượng nứt vỡ một nửa bên cạnh, tất cả những pho tượng khác đều bị trùm phủ dưới đủ loại vật che chắn.
Qua một canh giờ, Khuất Bình cảm giác thấy phía sau có người tiến lại, biết là Bạch Vân. Nàng đứng lại ngay sau lưng Khuất Bình.
“Đại thần Vu Hàm hẳn có thị dụ?” Khuất Bình vẫn quỳ dưới đất, khẽ cất giọng hỏi.
“Phải!” Bạch Vân ngữ khí nặng nề.
Khuất Bình nghe vậy, trong lòng giật thột: “Thị dụ thế nào?”
“Còn mưa thêm mười ngày nữa.”
“Sao kia?” Khuất Bình gần như nhảy dựng dậy, quay người lại, nhìn sững vào Bạch Vân.
Bạch Vân đứng đó, một thân vu y trắng muốt.
Ngoài điện, mưa lớn đã nhỏ lại chút ít. Bạch Vân khoan thai bước ra khỏi điện, đi lên đài tế lộ thiên, ánh mắt xuyên qua màn mưa dày đặc, nhìn ra một vùng nước ngập mênh mông trải dài tít tắp. Đừng nói là thôn xóm làng mạc, trong thành Đan Dương cũng ngập trắng những nước, vài nóc nhà chưa bị đổ sập rải rác đó đây, chia cắt mặt nước thành vô vàn mảnh nhỏ. Còn thấy không ít người đội mưa ra khỏi nhà, khó nhọc lặn lội trong biển nước.
Khuất Bình đi theo lên đài, đứng cạnh Bạch Vân, sắc mặt lo lắng: “Chẳng phải nói, chỉ mưa mười bốn ngày ư?”
“Đúng vậy,” Bạch Vân mắt vẫn nhìn hút ra xa, “theo như thị dụ của đại thần Vu Hàm, mưa lớn sẽ đổ xuống đồng bằng của bốn châu Kinh, Lương, Ung, Dự, trong đó Kinh Châu, Lương Châu mưa mười bốn ngày, Dự Châu mưa mười hai ngày, Ung Châu mưa hai mươi tư ngày. Nào ngờ đâu, tình hình lại đã đổi khác.” Nàng đưa tay chỉ về phía tây bắc, “ở đó, chính là đỉnh Thái Bạch, có hịch nhân làm phép, không cho thần mây vượt qua đỉnh núi, nên thần mây buộc phải lộn về Kinh, Lương, khiến mưa ở hai châu Kinh, Lương càng thêm lớn, càng thêm dai dẳng. Nhìn vào đó mà đoán, thì vùng sơn dã của hai châu này còn phải mưa thêm mười ngày nữa.”
“Hịch nhân gì kia?” Khuất Bình ngỡ ngàng.
“Là hắc hịch, đến từ Bắc Minh, kẻ thờ cúng đại thần Cộng Công.”
“Cộng Công?” Khuất Bình biến ngay sắc mặt, “thế thì nguy rồi!”
“Ồ?” Bạch Vân nhìn sang Khuất Bình.
“Tại hạ đã nghe đại vu chúc của thái miếu kể về vị thần này, chính là kẻ thù không đội trời chung của người Sở ta!”
“Tại sao lại nói vậy?” Bạch Vân sửng sốt. “Lần theo tộc phả, tiên tổ của người Sở tên gọi Quý Liên, họ Mị. Cha của Quý Liên là Ngô Hồi, tức Chúc Dung. Cha của Ngô Hồi là Xứng, cha của Xứng là Cao Dương, hay còn gọi là Chuyên Húc đế, cũng chính là pho tượng vừa bị nước mưa xối sập trong đại điện. Thời vua Chuyên Húc, thuỷ thần Cộng Công nổi loạn, nên thuỷ tổ Cao Dương đã nhiệm Chúc Dung làm quan hoả chính, đánh bại Cộng Công. Cộng Công nổi giận, húc đổ núi Bất Chu, khiến trời nghiêng đất lệch, mới bị Nữ Oa nương nương đày tới tận bể Bắc.”
“Chao ôi,” Bạch Vân kêu lên, “thảo nào thần mây không thể bay qua đỉnh Thái Bạch!”
“Giờ thì tại hạ đã hiểu chuyện sét đánh ngày hôm đó!” Khuất Bình ngoảnh nhìn đại điện, hít ngược vào một hơi, “hẳn là đại thần Cộng Công muốn huỷ diệt tiên miếu nước Sở, để báo thù cho chiến bại năm xưa. May sao hôm đó, tư tế đã kịp mời đại thần Vu Hàm tới, xua đuổi thần sấm, bằng không, hậu quả thực khó tưởng tượng!” Lại nhìn về phía Sính Đô, “thảo nào đại vương gặp phải ác mộng hoả thiêu tiên miếu!”
“Nếu nói là vậy,” Bạch Vân nhìn thẳng vào Khuất Bình, “đại công đó, nên thuộc về Khuất Tử!”
“Vì sao kia?”
“Không giấu gì Khuất Tử,” Bạch Vân chỉ vào đại điện, “đây là tiên miếu của nước Sở, Vu Hàm là thần của người Ba, người Sở bất kính, linh hồn của những vị tiên tổ trong kia đều có lòng thù địch với đại thần Vu Hàm, nên đại thần Vu Hàm không thể lại gần nơi này được.”
“Nhưng đại thần đã tới kia mà!”
“Phải,” Bạch Vân gật đầu, “vì hôm đó, Khuất Tử lao lên đàn tế, như thể phát điên, rồi ngã nhào trong tiếng sấm…Vân Nhi sợ quá, mới chạy lại cứu Khuất Tử. Giờ nghĩ lại, mới thấy quả là may mắn. Thần sấm phụng mệnh Cộng Công đến đây để phá huỷ đại điện, trong khi chúng ta lúc đó đều đứng ngay trước cửa điện. Do chúng ta đứng chắn ở đó, thần sấm e sợ đại thần Vu Hàm, không dám vượt qua, nên chỉ biết xoay vòng xung quanh, còn đánh gãy cây cổ thụ để cảnh cáo. Sau đó, Khuất Tử chạy lên đàn tế, Vân Nhi cũng chạy lên theo, thần sấm mới thừa cơ, đánh thẳng xuống đại điện. Anh linh tiên tổ nước Sở kinh hãi trước uy lực của thần sấm, bay đi tứ tán, không thể tụ khí. Vân Nhi mới nhân đó mà thỉnh cầu đại thần Vu Hàm giáng lâm, đuổi thần sấm đi, giữ được đại điện. Nếu không phải vậy, thì miếu này giờ đây đã…”
“Cảm tạ tư tế đã cứu giữ miếu của tổ tiên Đại Sở!” Khuất Bình vòng tay nói.
“Hãy tự cảm tạ bản thân Khuất Tử đi!” Bạch Vân lườm Khuất Bình một cái, song ánh mắt rất đỗi dịu dàng, “tiên tổ của Khuất Tử, chẳng liên quan gì tới Vân Nhi, cũng không liên quan tới đại thần Vu Hàm! Vân Nhi cầu xin đại thần Vu Hàm giúp đỡ, cũng chỉ vì Khuất Tử!”
“Tư tế…Vân Nhi…” Khuất Bình trong lòng xúc động, nhìn nàng đăm đăm, “muốn Khuất Bình báo đáp thế nào đây?”
“Vậy thì hãy báo đáp thế này đi!” Bạch Vân nói rồi dang rộng hai tay, khép mắt lại. Khuất Bình ngần ngừ một thoáng, rồi bước sát lại, khẽ khàng vòng tay ôm lấy nàng. Bạch Vân cũng vòng tay lại, ôm lấy Khuất Bình thật chặt.
Trên đài lộ thiên trước điện, hai bóng người nép sát vào nhau, như tan ra làm một giữa màn mưa trắng xoá.
Không biết bao lâu sau, hai bóng hình mới tách khỏi nhau. Khuất Bình lùi lại một bước, ánh mắt nhìn Bạch Vân đăm đắm. Hồi lâu sau, lại từ từ đưa mắt nhìn sang đại điện, rồi nhìn mênh mông hồng thuỷ đằng xa: “Vân Nhi, đất Ba và đất Sở, sông núi nối liền, không thể phân tách. Hịch nhân đất Tần, tàn hại láng giềng, giá hoạ cho Sở, cũng là gây tai ương cho cả người Ba. Ba Sơn mưa lớn triền miên, ắt có lũ lớn bất ngờ, khiến núi đồi sạt lở. Người Ba sống trên sườn đồi khe núi, biết tránh vào đâu? Xin nàng hãy khẩn cầu với đại thần Vu Hàm, cứu Sở chính là cứu Ba, hay nói ngược lại, cứu Ba cũng là cứu Sở. Chúng ta hãy cùng thỉnh cầu đại thần Vu Hàm, xin đại thần hãy đoái thương lấy muôn dân thiên hạ, mà cản bước Cộng Công, cho thiên tai bớt phần khốc liệt!”
“Khuất Tử,” Bạch Vân hai mắt ứa lệ, “không phải Vân Nhi không muốn thỉnh cầu, mà là đại thần Vu Hàm không thể. Vu Hàm là thần núi, Cộng Công là thần trời. Thần núi đâu thể cản bước thần trời?”
“Vậy thì, phải làm thế nào đây?” Khuất Bình lo lắng.
“Nếu muốn cứu dân khỏi tai hoạ, chỉ có hai cách.”
“Vân Nhi hãy nói mau!” Khuất Bình ánh mắt vụt sáng.
“Cách thứ nhất,” Bạch Vân nhìn thẳng vào Khuất Bình, “Khuất Tử có thể phái người ngấm ngầm tìm lên đỉnh Thái Bạch, giết chết hắc hịch, phá huỷ đàn tế, khiến đại thần Cộng Công không còn chốn dung thân, buộc phải quay về bể Bắc.”
“Tại hạ đã nhớ. Vậy còn cách thứ hai?”
“Chính là họ,” Bạch Vân nhìn sang đại điện, “đủ sức trấn áp đại thần Cộng Công, chỉ có đại thần Chúc Dung, mà đại thần Chúc Dung chính là tổ tiên của người Sở.”
“Tại hạ sẽ lập tức thỉnh cầu!” Khuất Bình chực đi vào điện.
“Một viên tả đồ, thì lấy đâu tư cách để cầu thần!” Bạch Vân ngăn lại, “hơn nữa, cầu cũng vô ích. Thần tượng Chúc Dung nơi đây sắp bị mưa xối sập, lo thân còn chưa xong!”
“Vậy thì, ai có thể cầu?”
“Vua của Đại Sở.” Bạch Vân tiếp lời, “Sở Vương có thể tới thái miếu, hành đại tế, thỉnh cầu tiên tổ thi triển thần uy, đuổi Cộng Công đi, che chở cho người Sở!”
“Vân Nhi,” Khuất Bình trầm ngâm một thoáng, “cách thứ nhất, không dễ dàng, bởi núi Thái Bạch nằm trong đất Tần, hắc hịch kia hẳn do người Tần mời tới, nên người Tần sẽ bảo vệ cho họ. Hơn nữa, núi Thái Bạch cách đây quá xa, đường núi hiểm trở, lại thêm mưa gió lụt lội, cho dù có tới được, cũng muộn mất rồi. Trước mắt, chỉ còn cách thứ hai là còn khả dĩ, nàng hãy đi chuẩn bị, tại hạ sẽ tới gặp Đặng tướng quân!”
Khuất Bình đi tìm Đặng Thuẫn, kể lại sự tình, bảo hắn cho mình về Sính. Ngờ đâu nói đến hết nước hết cái, đủ kiểu rắn mềm, nhưng Đặng Thuẫn kia vẫn cứ trơ trơ như đá, nhất quyết không chấp thuận. Khuất Bình giận tới toàn thân run rẩy, song cũng không biết phải làm sao.
Lại ba ngày nữa trôi qua, ngoài tiên miếu lếch thếch kéo tới vài chục dân thường, quỳ mọp dưới đất trong mưa gió, nài xin vào miếu lánh nạn.
Cổng miếu cài then im ỉm, Đặng Thuẫn cùng chúng quân sĩ mình mặc áo giáp, tay nắm thương kích, đứng canh trong cổng miếu, mặc cho dân chúng gào khóc van xin ngoài cổng.
Nạn dân kéo tới mỗi lúc một đông, ngoài cổng miếu ồn ào như chợ vỡ.
Có người không quỳ nữa, xông lên xô cổng. Đặng Thuẫn lệnh cho quân sĩ giương cung kéo nỏ doạ dẫm, lấy thêm cây gỗ chèn chắc sau cổng.
Khuất Bình không đành lòng nhìn cảnh tượng này thêm nữa, khẩn cầu Đặng Thuẫn mở cổng.
“Tả đồ đại nhân,” Đặng Thuẫn rầu rĩ, “cổng này không thể mở được!”
“Tại sao không thể?” Khuất Bình gần như quát lên.
“Nếu như mở cổng,” Đặng Thuẫn chỉ ra phía ngoài, “chỉ tính riêng ngoài kia đã có đến mấy trăm người, trong thành Đan Dương còn có hàng vạn người nữa. Đây là nơi cao nhất trong vùng, nên họ sẽ đổ dồn cả về đây.”
“Tại sao không cho họ vào? Lẽ nào cứ để mặc họ bị nước lụt nhận chìm cho đến chết ư?”
“Đại nhân hãy nghĩ mà xem,” Đặng Thuẫn giải thích, “ngoài kia đâu đã tới mức chết chìm? Tất cả họ đều là dân gặp nạn, vậy phải cho ai vào, không cho ai vào đây? Tại hạ quá hiểu lũ dân đen kia, phần lớn tới đây là để xin ăn mà thôi, vì nhà cửa thóc lúa đều đã bị nhấn chìm. Đồ dự trữ của ta không còn nhiều, họ mà ùa vào, sẽ cướp hết sạch, thậm chí cả đồ cúng tế tiên tổ cũng không tha. Lỡ để họ cướp mất đồ cúng, mạt tướng không thể gánh nổi tội này!”
“Đặng tướng quân,” Khuất Bình chỉ ra cổng chính, “tướng quân chỉ cần mở cổng, còn mọi tội lỗi, cứ để Khuất Bình này gánh vác!”
“Nếu để Khuất đại nhân gánh tội, mạt tướng sẽ có lỗi với đại vương!” Đặng Thuẫn kiên quyết, rồi quay sang đám binh sĩ, ra lệnh, “hãy mời Khuất đại nhân vào nội viện!”
Đám binh sĩ chẳng nói chẳng rằng, lập tức xúm lại, kéo Khuất Bình vào trong bức tường ngăn xây tạm, rồi khoá trái cửa lại.
“Đặng tướng quân,” Khuất Bình đập cửa rầm rầm, “tướng quân làm như vậy, mới chính là vừa có lỗi với Sở Vương, vừa có lỗi với nước Sở, càng có lỗi với phụ lão hương thân đó!”
Đám binh sĩ đều nhìn sang Đặng Thuẫn. Nhưng Đặng Thuẫn chỉ lẳng lặng quay đi.
Mưa vẫn tiếp tục trút xuống thêm mười ngày nữa, cuối cùng cũng chịu tạnh.
Mưa dừng, nhưng nước lũ chưa dừng, nước lớn trong thành không hề rút xuống.
Mây đen tan bớt, bầu trời sáng lên chút ít. Một con thuyền lớn rẽ nước tiến lại, là loại ngư thuyền chuyên dùng để đánh cá trong đầm Vân Mộng. Một người giữ bánh lái, chục người khoả mái chèo, từ từ ghé lại bên bến đò ngoài thành Đan Dương. Kỳ thực, bến đò sớm đã mất tăm hơi, nước dâng cao mấp mé ngang lầu cổng thành. Tuy nhiên, ngư thuyền rất lớn, nếu chèo thêm nữa sẽ có cơ mắc cạn. Ngư dân cầm lái thăm dò nông sâu, tìm chỗ đỗ thuyền.
Một người vội vã nhảy xuống khỏi thuyền, lội nước ngang rốn mà đi, rồi vừa bơi vừa lội tiến về phía tiên miếu.
Là Khuất Dao phụng mệnh Sở Vương lặn lội tới đây. Khuất Dao đến trước miếu, gọi cổng ầm ầm.
Đặng Thuẫn kiểm tra lệnh bài kỹ lưỡng rồi, mới mở cổng miếu, thi lễ xong thì dẫn vào nội viện.
Khuất Bình ngạc nhiên nhìn kẻ áo tơi nón lá, ăn bận theo lối ngư phủ trước mặt.
“Tả đồ đại nhân…” Khuất Dao bỏ nón lá, cởi áo tơi ra, để lộ nhung phục bên trong.
“Khuất Dao!” Khuất Bình reo lên, kinh ngạc pha lẫn mừng rỡ, trong mắt ứa lệ, “sao lại tới đây?”
“Phụng chỉ của đại vương, tới đón anh cùng tư tế về Sính!”
“Đại vương…” Khuất Bình nước mắt giàn giụa, hướng lên trời, vái một vái thật dài.
“Thưa anh,” Khuất Dao sắc mặt nghiêm trọng, hạ giọng nói khẽ, “có chuyện lớn rồi!”
“Chuyện gì?” Khuất Bình vội hỏi, “ta ở đây như thể bị giam trong lao ngục,” nhìn sang Đặng Thuẫn vẫn kè kè bên cạnh, “Đặng tướng quân kia canh chừng ráo riết suốt đêm ngày, bên ngoài xảy ra chuyện gì, ta cũng chẳng hề hay biết!”
Đặng Thuẫn đỏ bừng mặt, lùi lại vài bước, ngoảnh nhìn sang hướng khác.
“Việc thứ nhất, Giang Hán dâng lũ lụt, hơn trăm năm qua, chưa bao giờ nước lớn đến vậy, khiến trăm họ…nhà cửa tan hoang, ruộng vườn mất trắng, phiêu bạt lưu ly!”
“Chuyện này, ta đã biết, còn chuyện gì nữa?” Khuất Bình nôn nóng hỏi dồn.
“Đại vương nghe lời sứ Tần Trương Nghi, phái người đi sứ sang Tề tuyệt giao, lại cho Chiêu Tuy đi sứ sang Tần, để tiếp nhận Thương Ư!”
“Hồ đồ, hồ đồ, đại vương hồ đồ mất rồi!” Khuất Bình giậm chân kêu lên.
“Còn tệ hơn nữa,” Khuất Dao nhìn về phía tây bắc, “tả tư mã nhận được tin báo, tướng Tần Ngụy Chương ngấm ngầm điều động mười vạn đại quân đóng tại Hán Trung, núi Chung Nam và sơn cốc Thương Ư, toàn bộ đều được trang bị vũ khí ô kim, tạm chưa nói đến việc này, chỉ riêng chuyện quân Tần kín đáo hành quân tới đó, đã thấy có mưu đồ đen tối!”
Khuất Bình giật mình kinh hãi: “Tả tư mã hẳn đã tấu báo lên đại vương?”
“Đã tấu báo.”
“Đại vương nói sao?”
“Đại vương nói,” Khuất Dao nhún vai, bắt chước ngữ điệu của Hoài Vương, “quả nhân ở Hán Trung cũng có mười vạn đại quân, cộng thêm quân đồn trú tại ba đất Đặng, Nhương, Uyển, thì đâu chỉ là mười vạn!”
Khuất Bình nhìn sang Bạch Vân: “Tư tế, hãy bảo mọi người chuẩn bị, chúng ta lập tức về Sính!”
“Không được, tả đồ đại nhân!” Đặng Thuẫn vừa nghe thấy, đã cuống quýt kêu lên, “đại vương hạ chỉ, phải túc trực trong miếu đủ chín mươi chín ngày, đại nhân còn thiếu những vài chục ngày nữa!”
“Cung uý Đặng Thuẫn nghe chỉ!” Khuất Dao đứng nghiêm, hô lớn một tiếng, rồi đưa tay vào lần áo trong lấy ra một tờ chỉ dụ.
Đặng Thuẫn khuỵu gối quỳ xuống hô: “Mạt tướng nghe chỉ!”
“Giang Hán lũ lụt, bách tính lâm nạn, lệnh cho tả đồ Khuất Bình, tư tế Bạch Vân tức tốc về Sính Đô, vào cung yết kiến!”
“Mạt tướng lĩnh chỉ!” Đặng Thuẫn đỡ lấy chỉ dụ.
“Khuất Dao, có một chuyện lớn, em phải làm ngay!” Khuất Bình nhìn thẳng vào Khuất Dao, nói.
“Là chuyện lớn gì?” Khuất Dao vội hỏi.
Khuất Bình ngoảnh về tây bắc, chỉ về phía núi Thái Bạch: “Chính là ở đó, trên đỉnh núi Thái Bạch, người Tần đã cho mời hắc hịch tới, lập đàn làm phép, tế bái tà thần Cộng Công. Trận lũ lụt khủng khiếp này chính là do tà thần gieo rắc. Đàn tế ấy mà không phá bỏ, người Sở ta sẽ không có được ngày bình yên!”
Khuất Dao nhìn về phía đó, hồi lâu sau, mới ngoảnh lại nhìn Khuất Bình: “Thưa anh, phải phá bỏ thế nào?”
“Em có thể ngược dòng Đan Thuỷ mà lên,” Khuất Bình trỏ xuống dòng Đan Thuỷ, “tới ải Tử Kinh, bảo quan doãn nơi đó cấp cho năm trăm dũng sĩ, chia lẻ mà vào Tần, men theo đường núi lên đỉnh Thái Bạch, phá huỷ đài tế, giết chết hắc hịch.”
“Nhưng…” Khuất Dao do dự một lát, “muốn điều động quân giữ ải, không có vương mệnh không xong!”
“Than ôi,” Khuất Bình thở dài ngao ngán, “về Sính, thỉnh vương mệnh!”
Mưa đã tạnh hẳn, song trời vẫn âm u, cái nóng ngột ngạt lại quay về.
Sau khi mưa tạnh một ngày, mây tan hẳn, mặt trời ló rạng, nước lụt chầm chậm rút xuống hồ đầm, chảy lại về sông, đổ ra phía biển.
Những chỗ địa thế cao hơn, mặt đất từ từ nhô lên. Dân Sở chạy nạn lúc này mới lục tục kéo nhau về nhà cũ, thấy cảnh hoang tàn thê thảm, muốn khóc mà nước mắt đã cạn khô.
Bên mép nước vẫn chưa rút hẳn, chỗ nào cũng nổi lềnh phềnh xác người cùng xác cầm thú. Đúng vào lúc đó, tư tế hắc hịch trên đỉnh Thái Bạch lại hết sức cẩn trọng mở nắp lọ đen vẫn nút kín cho tới tận lúc này. Một làn hơi đen kịt uốn éo bay ra khỏi lọ, trước phép thuật hắc hịch đang thi triển, dập dờn bảng lảng, bay dạt về phía đông nam.
Ôn dịch, bắt đầu bùng phát từ Giao Sính, Kinh Môn.
Giao Sính là ấp đông dân, nằm ở bờ đông Hán Thuỷ, phía đông bắc Sính Đô, cách Sính Đô chừng ba trăm dặm, nhiều đời Sở thất đều coi đây là kinh đô thứ hai của Sở, nên khá sầm uất trù phú.
Hán Thuỷ chảy qua phía tây Giao Sính, tại đây có một con đường cái quan rộng lớn từ bến đò thông tới Kinh Môn, rồi lại từ Kinh Môn chạy tiếp về phía nam, thẳng tới Sính Đô.
Khuất Bình dự định đi theo tuyến đường này.
Ngư thuyền của Khuất Bình từ Đan Dương men theo Đan Thuỷ xuôi dòng nước mà đi, đến Lão Hà Khẩu thì nhập vào Hán Thuỷ, gần như không mất sức chèo, chỉ cần lèo lái cho tốt, chưa tới ba ngày, đã theo dòng Hán Thuỷ chảy xiết về tới Giao Sính.
Mực nước Hán Thuỷ vẫn chưa rút được bao nhiêu, bến đò trước kia đã không còn dấu vết. Khuất Bình nôn nóng về Sính, chẳng kịp nghỉ ngơi, bảo đám ngư phủ chèo sang bờ tây, đến bên mép nước, bỏ thuyền lên bờ, chỉ mang theo đồ nhẹ, tìm lên đường cái, lội bùn đất lóp ngóp từng bước mà tiến về Kinh Môn. Lúc này, dịch bệnh đã bùng phát vài ngày, ôn thần hoành hành khủng khiếp, khiến người Sở hoảng loạn bỏ nhà chạy dịch tứ tán, càng chạy, ôn dịch lại càng lan tràn, đâu đâu cũng thấy người chết la liệt.
Song đám Khuất Bình lại chưa hề hay biết chuyện này. Theo đường cái đi chưa được bao xa, phía trước chợt thấy có một đầm nước.
Đường cái quan ở đây, Khuất Dao rất thạo. Chỗ này vốn chẳng có hồ đầm gì hết, chỉ có một lạch suối rất nhỏ, còn chẳng có tên, bên trên có nhịp cầu gỗ bắc qua. Song vào lúc này, không còn gì nữa, chỉ thấy một vùng nước ngập mênh mông, phóng mắt nhìn đi, cũng phải đến hơn chục dặm.
Đám Khuất Bình đành phải vòng sang bên phải, men theo mép đầm nước mà đi, dần tiến lại gần một ngọn núi thấp. Trên sườn núi cây cối um tùm, tán lá kín bưng. Khuất Dao phán đoán đoạn đường bị ngập chỉ dài chục dặm nữa, đi vòng qua sườn núi sẽ tới được chỗ đất cao.
Mới leo qua được nửa sườn núi, phía trước bỗng nghe có tiếng khóc hờ vẳng lại.
Khuất Bình rảo nhanh bước chân tiến tới, mới được vài bước, đã thấy mấy người khiêng một cái xác từ trên dốc đi xuống, rẽ về phía mép nước cách đó không xa. Đi theo sau họ là mấy người đàn bà và trẻ con đang khóc lóc, hiển nhiên là gia quyến của người chết.
Một luồng hôi thối xộc thẳng tới trước mặt, khứu giác tinh tế của Bạch Vân lập tức nhận ra. Mặt nàng chợt biến sắc, mắt mở to nhìn họ trân trân. Đám đàn ông khiêng cái xác tới bên mép nước, dường như muốn ném xác chết xuống đầm.
“Dừng lại!” Bạch Vân cao giọng kêu lên, “tuyệt đối không được ném xuống nước, hãy mau đào hố mà chôn!”
Đám người khiêng xác đều khựng lại, đờ ra một chốc, liếc nàng một cái, rồi cùng vung tay quăng đánh “tõm” xác chết xuống nước. Sau đó, lại đờ đẫn như khúc gỗ quay lên trên núi.
Từ trên đỉnh núi lại có tiếng khóc than vọng xuống.
Khuất Bình dợm bước về phía đó, liền bị Bạch Vân kéo lại.
“Tư tế?” Khuất Bình lấy làm lo lắng.
“Là ôn thần!”
Vừa nghe hai tiếng “ôn thần”, tất thảy mọi người đều giật mình đánh thót, lông tóc dựng ngược. Hơn chục vu nữ mặt mày tái mét.
“Nàng có trị được không?” Khuất Bình định thần trở lại, nhìn sang Bạch Vân.
“Là ôn thần!” Bạch Vân nhắc lại, gần như thì thầm.
Lời nói vừa dứt, tiếng khóc đã đến sát gần, lại một xác chết được khiêng xuống, tiến về phía mép nước.
“Chao ôi!” Bạch Vân hai mắt ứa lệ, “họ ném thi thể xuống nước, chính là điều ôn thần mong muốn…”
“Tại sao?” Khuất Bình hỏi dồn.
“Bởi lẽ xác chết ngâm trong nước, nước sẽ biến thành nước ôn dịch, nước chảy đến đâu, ôn thần sẽ hoành hành đến đó…” Bạch Vân nghẹn lời. Khuất Bình nghe vậy, lập tức chạy lao về phía đám người, bất chấp tất cả ngăn cản họ lại.
Một con ngựa khoẻ lao vụt qua cổng Bắc Sính Đô, phi như bay về phía cung thành.
Một bản cấp báo được cung nhân vội vã chuyển tới cho cung doãn đương trực, ngoài phong thư viết rõ rành rành một chữ “hoả”.
Hoài Vương mở cấp báo ra xem, bỗng chốc hai tay run bắn, bản tấu hoả tốc rơi luôn xuống đất.
Cung doãn nhặt lên, ánh mắt liếc qua tấu báo, dừng lại trên hai chữ “ôn dịch”.
Bên ngoài bỗng vọng lại tiếng bước chân dồn dập, cung nhân vội vào bẩm báo: “Bẩm đại vương, có vương thúc và Ngận đại nhân cầu kiến!”
“Mau, mau mời vào!” Hoài Vương chỉ ra ngoài cửa.
Gần như ngay lập tức, vương thúc, Ngận Thượng hối hả sải bước tiến vào.
Không kịp đợi họ hành lễ, Hoài Vương giật phắt tờ tấu báo trên tay cung doãn, nhìn sang hai người, giọng nói gấp gáp: “Hai vị tới thực đúng lúc, có chuyện lớn rồi!”
“Thần tới đây, chính là bởi chuyện này!” Vương thúc vòng tay đáp.
“Nói mau, phải làm sao đây?”
Vương thúc nhìn sang Ngận Thượng.
“Hồi bẩm đại vương,” Ngận Thượng hạ thấp giọng, ngữ khí nặng nề, “thần vừa nhận được tin báo, dịch bệnh bắt nguồn từ đồng bằng Kinh Môn, vô cùng ghê gớm, hễ mắc phải là chết.” Giọng nói lại càng thêm trầm nặng, “tại Kinh Môn đã có binh sĩ mắc dịch, vả lại ôn dịch đang nhanh chóng lan về phía Sính Đô…”
“Nói mau, phải làm thế nào?”
“Mấy năm trước, nước Vệ có đại dịch, cách ứng phó của người Vệ, ta có thể học theo.”
“Người Vệ làm thế nào?”
“Thứ nhất, phong kín nơi có dịch, không cho dân chúng qua lại. Thứ hai, phàm nhà nào mắc dịch, lập tức niêm phong cửa nẻo, nhốt kín trong nhà, cho tới khi ôn thần bỏ đi. Thứ ba, phàm nhà nào gặp ôn thần, nếu như chết rồi, phải thiêu huỷ nhà cửa, để tống tiễn ôn thần. Thứ tư, chế thuốc chữa ôn dịch, phát cho người mắc bệnh. Thứ năm, rắc vôi bột khắp các nẻo đường…” Ngận Thượng vò đầu, “bẩm, chính là những cách đó!”
Hoài Vương nhìn sang vương thúc: “Hiền đệ?”
“Ôn thần rất nhanh chân,” vương thúc đáp, “nên việc cấp bách trước mắt, là phải phong kín nơi có dịch, phong toả cổng thành Sính Đô, phong toả cổng cung, không cho bất cứ ai ra vào, chặn ôn thần ở ngoài Sính Đô, chí ít cũng không được để lọt vào vương cung, nguy đến vương huynh!”
“Cứ theo lời hiền đệ!” Hoài Vương quay sang cung doãn, “truyền chỉ, cấm cung! Cấm thành!” Dừng lại một thoáng, nhìn sang Ngận Thượng, “Ngận ái khanh, các việc chống ôn dịch, quả nhân giao hết cho khanh. Báo xuống các ti phủ, cứ theo cách đó mà làm.”
“Thần thụ mệnh!” Ngận Thượng dõng dạc đáp. Trên sườn núi nơi bắt gặp những người chết dịch, Khuất Bình cuối cùng cũng không thể ngăn cản đám người khiêng xác, chỉ biết giương mắt trơ trơ đứng nhìn họ quẳng cái xác xuống đầm nước, rồi lại quay lên đỉnh núi.
Nhìn vào bộ dạng phờ phạc của họ, Khuất Bình hiểu, họ đã không còn đủ sức để đào hố chôn người.
Khuất Bình liền dứt khoát sải bước đi lên đỉnh núi. Bạch Vân do dự một lát, rồi cũng bám theo sau.
Bỗng nhiên, ánh mắt Bạch Vân dừng lại trên khóm cỏ dại tốt bời bời bên sườn núi, khẽ gọi: “Khuất Tử!”
Khuất Bình dừng bước, ngoảnh đầu nhìn lại.
Là cỏ ngải. Nguyên một sườn núi mọc đầy cỏ ngải.
Bạch Vân nhổ lấy vài khóm, cầm ở trong tay, đi theo Khuất Bình lên núi.
Trên đỉnh núi có một ngôi miếu vách đất, trong miếu thờ tượng chủ thần nước Sở, Đông Hoàng Thái Nhất. Trong miếu có vài chục thường dân hoặc ngồi hoặc nằm, vẻ như không ít người đã mắc dịch, đang quỳ trước tượng Đông Hoàng Thái Nhất, gắng gượng dốc chút hơi tàn để cầu xin đại thần cứu mạng.
Khuất Bình dừng lại trong sân, đang định tiến vào trong miếu, liền bị Bạch Vân kéo lại.
Bạch Vân giơ cao nắm cỏ ngải trong tay, nói lớn: “Các vị hương thân, hãy mau đi hái giống cỏ ngải này, sắc thành nước mà uống. Còn nữa, hãy mang phơi héo rồi đốt, cho khói bốc lên. Ôn thần rất kỵ cỏ ngải, ngửi thấy mùi khói, sẽ bỏ đi ngay.”
Nhưng không ai tin lời nàng nói.
“Các vị hương thân,” Khuất Bình vòng tay hướng vào chúng nhân, “tại hạ Khuất Bình, tả đồ Đại Sở, còn nàng đây là tư tế miếu Vu Hàm núi Vu Hàm, mong các vị hãy tin lời tư tế! Đại thần Vu Hàm đại nhân đại đức, chắc chắn sẽ cứu giúp chúng ta!”
Nghe nói là tả đồ và tư tế của đại thần Vu Hàm, người dân lúc này mới chịu tin, đua nhau dập đầu trước họ.
“Hãy mau đi hái cỏ ngải, càng nhiều càng tốt, trước tiên sắc thành nước uống, rồi phơi đến vừa héo, mang đốt khắp nơi. Còn nữa, các vị hãy mách lại cho những xóm làng khác quanh đây, tất cả cùng làm như vậy!” Khuất Bình nói lớn.
Những người còn hơi sức lập tức đứng bật dậy, thoăn thoắt chạy ra khỏi miếu.
“Đi mau!” Bạch Vân kéo Khuất Bình, hai người cùng hối hả bước ra ngoài.
“Nơi này không thể nấn ná!” Bạch Vân nôn nóng, “chúng ta phải gấp rút về Sính, yết kiến đại vương, xin đại vương mau chóng tế lễ ở thái miếu, thỉnh cầu tiên tổ Cao Dương Đế xua đuổi Cộng Công. Ôn dịch lần này, có lẽ cũng liên quan tới Cộng Công!”
Khuất Bình gật đầu. Mọi người vội vã tìm đường, vòng qua đầm nước, gấp gáp đi về hướng Kinh Môn. Suốt dọc đường đi, đâu đâu cũng nhìn thấy người chết vì ôn dịch. Khi trời gần tối, đám Khuất Bình đã tới Kinh Châu, vào trạm dịch lấy được vài cỗ xe tứ mã, chia nhau lên xe, đi suốt đêm không nghỉ thẳng tới Sính Đô. Đường đi vẫn bùn đất lầy lội, xe ngựa không tài nào chạy nhanh được. Về tới Sính Đô, trời đã sáng quang, muôn nẻo ráng hồng rực rỡ.
Thế nhưng, cổng thành Sính Đô vẫn đóng im ỉm.
“Mở cổng!” Khuất Dao gọi lớn, “ngoài cổng là tả đồ đại nhân, phụng vương chỉ vào thành, hãy mau mở cổng!”
“Vương chỉ đâu?” Thành môn uý cao giọng hỏi.
Khuất Dao lấy vương chỉ ra, giơ cao cho hắn thấy.
“Đại vương có chỉ, ngoài thành có dịch, bất cứ ai cũng không được vào thành!”
“Tướng quân,” Khuất Bình lo lắng, lớn giọng giải thích, “đại vương triệu chúng tôi khẩn cấp quay về, chính là vì dịch bệnh. Có tư tế của đại thần Vu Hàm ở đây, xin hãy mau mở cổng!”
Môn uý lúc này cũng đã nhìn thấy Bạch Vân mình mang vu phục, biết nàng là tư tế của đại thần Vu Hàm, bèn vòng tay: “Tả đồ đại nhân, xin hãy chờ cho một lát, mạt tướng lập tức đi bẩm báo!”
Nhưng môn uý lại không phải đi bẩm báo Hoài Vương, mà là bẩm báo lên người chưởng quản việc cấm thành, Ngận Thượng.
Khuất Bình là tả đồ, hơn nữa phụng chỉ trở về, Ngận Thượng không dám tự quyết, bèn tới trạch phủ vương thúc hỏi ý. “Thượng quan định thế nào?” Vương thúc hỏi.
“Vương thúc,” Ngận Thượng chỉ ra phía cổng thành, “họ phụng vương chỉ từ Đan Dương trở về, ắt phải đi qua Giao Sính, Kinh Môn, mà hai nơi đó ôn dịch đang hoành hành dữ dội. Tối qua bắt đầu cấm thành, con đường cái quan giữa Kinh Môn và Sính Đô sáng nay mới phong toả, hẳn là họ đã từ Kinh Môn trở về ngay trong đêm, nên mới không bị chặn lại giữa đường. Bất luận thế nào, theo ý thần, không thể cho họ vào thành, đề phòng bất trắc.”
“Cho tư tế vào.” Vương thúc trầm ngâm một chốc rồi nói, “có đại thần Vu Hàm che chở, hẳn ôn thần không dám động tới tư tế. Có tư tế bên cạnh, đại vương sẽ thấy an tâm.”
“Xin nghe theo vương thúc!” Ngận Thượng từ biệt, đi thẳng tới cổng thành nam, dặn môn uý chỉ cho một mình tư tế vào.
“Vân Nhi,” Khuất Bình vòng tay nói, “nàng vào cung sẽ tốt hơn ta. Những gì ta muốn nói với đại vương, nàng đều đã biết. Nàng nói, đại vương sẽ chịu nghe!”
“Vâng.” Bạch Vân bỗng nhìn sững vào Khuất Bình, hồi lâu, giọng nàng chợt run lên, “Khuất Tử!”
“Vân Nhi?”
“Còn các người,” Bạch Vân nhìn sang những người đi cùng, lập tức về nhà, không được gặp bất cứ ai, hái thật nhiều cỏ ngải, đun lên tắm gội, đốt ngải khắp xung quanh nhà! Quần áo mặc trên người, mang đốt hết. Bạch Vân vào cung bẩm báo đại vương xong sẽ trở về ngay.”
“Ý nàng là…” Khuất Bình thần sắc căng thẳng.
“Đi mau!”
Nói rồi, Bạch Vân từ biệt Khuất Bình, qua cửa thành vào Sính Đô.
Toàn thành Sính Đô đã bị phong toả, trên đường không thấy một bóng người, chỉ có một mình Bạch Vân đơn độc bước đi.
Bạch Vân tay cầm chỉ dụ của Sở Vương, đi đến trước cổng cung thành, trình cho cung vệ. Cung vệ đều biết mặt nàng, liền cho nàng vào.
Bạch Vân không vào yết kiến Hoài Vương ngay, mà đi thẳng tới miếu Vu Hàm, vội vàng lấy ra mấy vị thảo dược mà nàng trữ sẵn trong đó, đun lên lấy nước, cởi bỏ hết trang phục trên người mang đốt sạch, rồi ngâm mình trong thùng nước thảo dược, tắm gội kỹ càng. Sau đó, nàng cứ thế mình trần đi vào đại điện, quỳ xuống trước đại thần Vu Hàm, ngưng thần tĩnh trí, chỉ một lát sau, đã chìm trong cảnh giới thông linh, giao tiếp với đại thần. Nghi lễ hoàn tất, nàng rùng mình xuất định, rồi thay xiêm áo, vào yết kiến Hoài Vương, kể lại toàn bộ sự việc Tần Vương mời hắc hịch thờ Cộng Công ở Bắc Minh tới, dựng đài tế trên đỉnh Thái Bạch, điều khiển mây mưa của đất Tần quay ngược sang đất Sở. Hoài Vương nghe mà đùng đùng phẫn nộ, vỗ án rầm rầm, quát lớn: “Người Tần đáng hận!”
Thở phì phò một hồi, Hoài Vương nhìn sang Bạch Vân: “Tư tế hãy mau thỉnh cầu đại thần Vu Hàm, chế phục hắc hịch kia!”
“Hồi bẩm đại vương,” Bạch Vân vòng tay đáp, “đại thần Vu Hàm là thần núi, Cộng Công là thần trời, Vu Hàm không thể chế phục Cộng Công. Bằng không, nước Sở đã không đến nỗi mưa lớn triền miên, lại thêm ôn dịch hoành hành!”
“A…” Hoài Vương cuống lên, “vậy phải làm sao?”
“Nghe tả đồ đại nhân kể lại, rằng đại thần Cộng Công vốn bất hoà với thuỷ tổ nước Sở là Cao Dương Đế, năm xưa Cộng Công tác loạn, Cao Dương Đế phái Chúc Dung đánh dẹp. Cộng Công là thần nước, Chúc Dung là thần lửa, nước lửa xung khắc, nên địch nổi Cộng Công, duy có Chúc Dung. Có điều…” Bạch Vân ngập ngừng.
“Nói mau!” Hoài Vương đổ người lại hối thúc.
“Năm nay Canh Tý, năm sao cùng hiện, trên trời ngũ khí hỗn loạn, lại có sao chổi quét ngang, Thuỷ khí cực thịnh, quả thực nghìn năm mới có một lần, vậy nên đồng bằng Kinh, Lương, Ung mới phải gặp thuỷ tai. Đại thần Cộng Công đã nhằm đúng thời cơ, từ bể Bắc tới núi Thái Bạch, thổi bùng tai hoạ để báo thù chuyện năm xưa thất bại trước Chúc Dung. Sở dĩ năm xưa Cộng Công chiến bại, là do hoả khí trên trời đang thịnh, nên Chúc Dung…”
“Ý tư tế muốn nói, nay dù có thỉnh cầu đại thần Chúc Dung, cũng không địch nổi Cộng Công?”
“Địch nổi cũng thế, mà không địch nổi cũng thế, thuỷ tai đã qua rồi, nước ở bể Nam, bể Bắc đều đã rút. Sự việc cấp bách hiện tại chính là ứng phó với ôn thần.”
“Tư tế hẳn có cách trị ôn dịch?”
“Ôn dịch này là thấp ôn, thích nước, sợ lửa, đại vương đương nhiên phải dùng lửa để trị.”
“Trị thế nào?”
“Khoanh kín những vùng mắc dịch, trói chân ôn thần. Rồi đốt lửa nơi có dịch, trộn lẫn cỏ ngải vào trong củi đốt để sinh nhiều khói, dùng khói ấy hun xông khắp vùng suốt ngày đêm. Lại lấy cỏ ngải sắc thành nước thuốc, cho thêm các vị thảo dược thanh nhiệt trừ thấp, những thứ ấy thầy lang đều biết cả, để cho người mắc ôn dịch uống, tắm gội, xông hơi. Lệnh cho toàn bộ thần dân không được gần nước, tuyệt đối không được uống nước hồ đầm, tốt nhất hãy dùng nước giếng, nơi không có giếng thì lấy nước hồ đầm lọc sạch, đun sôi thật kỹ mới dùng. Còn nữa, đại vương nên đích thân tới thái miếu, tế lễ tiên tổ Cao Dương Đế và đại thần Chúc Dung, thỉnh cầu họ sai khiến lửa trời, đuổi Cộng Công đi. Lại phái người cường tráng vũ dũng bí mật lên núi Thái Bạch, giết chết hắc hịch, phá huỷ đàn tế Cộng Công, bắt Cộng Công phải quay về bể Bắc.”
Hoài Vương sai cung doãn ghi chép lại từng điều Bạch Vân vừa nói.
“Đại vương, Bạch Vân phải xuất cung rồi!” Bạch Vân trong lòng canh cánh việc khác, bèn vòng tay cáo biệt.
“Tư tế…không tới thái miếu tế lễ sao?” Hoài Vương lo lắng hỏi dồn.
“Thái miếu là nơi thờ cúng tiên tổ của người Sở, duy chỉ đại vương mới có tư cách tế bái. Trong thái miếu đã có miếu doãn, bốc chúc, chỉ họ mới có thể giao tiếp với tiên tổ của người Sở, Bạch Vân tới đó, lại sẽ sinh chuyện thị phi.”
“Nhưng miếu Vu Hàm này không thể không có tư tế!”
“Bạch Vân còn có một việc gấp phải làm.” Bạch Vân lại vòng tay từ biệt, rồi quay bước đi ngay.
Việc gấp của Bạch Vân, chính là Khuất Bình.
Vào lúc chia tay ngoài cổng thành, Bạch Vân đã phát giác thấy trên cơ thể Khuất Bình phảng phất làn ôn khí. Chỉ có điều, ôn khí mới chớm, nên Khuất Bình vẫn chưa cảm nhận thấy mà thôi.
Tới khi Bạch Vân vội vã rời thành, tìm tới nhà cỏ của Khuất Bình, Khuất Bình mới cảm thấy trong người bất ổn, vội làm theo lời dặn của Bạch Vân, đun nước cỏ ngải tắm gội, lại đốt ngải cứu xông khắp trong nhà, đốt hết y phục cũ, nhốt mình trong phòng, bình tâm tĩnh khí, vận nguyên khí trong người để đối kháng với ôn thần. Khuất Dao và đám vu nữ cùng trở về với Khuất Bình cũng mỗi người ở riêng một chỗ.
Khuất Bình thích ở nơi cao để ngắm mặt trời lặn mọc, vậy nên khu nhà cỏ cũng nằm tại chỗ cao ở ngoại thành, hầu như không bị ngập trong hồng thuỷ. Chỉ có vườn hoa lan tắm trong mưa dầm, giập nát, hư thối không ít, khiến lão bộc cả ngày bận bịu, tìm mọi cách để cứu chữa cho hoa.
Bạch Vân xem xét kỹ từng người, thấy những người khác đều không đáng ngại, duy có ôn khí trên người Khuất Bình càng thêm trầm trọng, hơi thở cũng trở nên nặng nề. Bạch Vân trước tiên châm cứu cho Khuất Bình, tiếp đến lấy thảo dược trị thấp, tự tay sắc thuốc cho Khuất Bình uống, dặn Khuất Bình phải nằm yên tĩnh dưỡng.
Ba ngày trôi qua, bệnh tình của Khuất Bình không những không thuyên giảm, mà càng thêm nặng, hơi thở khò khè, trán hiện khí đen, thoi thóp như người sắp chết.
Với tài châm cứu thần kỳ cùng thảo dược của Bạch Vân, bệnh tình của Khuất Bình lẽ ra không thể tới nông nỗi này. Bạch Vân bừng hiểu, nhất định là có nguyên do khác, bệnh của Khuất Bình, không chỉ là ôn dịch.
Giờ Tý đêm đó, trong lúc Khuất Bình hôn mê, Bạch Vân rời khỏi phòng Khuất Bình, đi ra vườn lan bên ngoài, tìm một chỗ đất trống ngồi xuống, tĩnh khí ngưng thần, xua tan tạp niệm, tinh hồn phiêu hốt bay về núi Vu Hàm.
Hát Quan Tử đang ngồi ngay ngắn trên chiếu, xuất thần nhập định.
“Ông ngoại…” Bạch Vân quỳ xuống gọi.
“Cháu đã chịu về rồi đấy.” Hát Quan Tử lên tiếng.
“Ông ngoại…” Bạch Vân bật khóc.
“Cháu gái, chuyện gì khiến cháu đau buồn làm vậy?”
“Khuất Bình đã…đã vướng phải ôn thần!”
“Cháu yêu hắn?”
“Vâng!”
“Vậy thì, hãy đi thỉnh cầu đại thần Vu Hàm!”
Bạch Vân lạy tạ, đứng dậy tiến lại trước điện thần Vu Hàm, quỳ xuống trước thần tượng. “Ngươi tới, hẳn là vì Khuất Bình.” Đại thần Vu Hàm như đang hỏi.
“Vân Nhi cầu xin đại thần, hãy cứu mạng Khuất Bình.”
“Ta không cứu được!”
“Đại thần…” Bạch Vân bật khóc thảm thiết.
“Còn nhớ hôm ở tiên miếu nước Sở? Cộng Công phái thần sấm đến phá huỷ miếu đó, nhưng ngươi và Khuất Bình lại đứng canh trước cửa, thần sấm không thể ra tay, lỡ mất thời gian, tới khi đánh thủng mái nhà, thì thần mưa đã tới, miếu không huỷ được. Thần sấm đã bẩm lại với Cộng Công, khiến Cộng Công ghi hận các ngươi. Ngươi là người của bản thần, Cộng Công không tiện đắc tội, nhưng Khuất Bình thì khác. Ôn thần là phụng mệnh Cộng Công tới bắt Khuất Bình. Hắn không thể thoát khỏi kiếp nạn!”
“Đại thần!” Bạch Vân kêu lên tuyệt vọng.
“Còn nữa, Khuất Bình một lòng chấn hưng nước Sở, mà trời lại muốn diệt Sở. Cộng Công cũng coi như ứng với mệnh trời, mới từ Bắc Minh tới Ung Châu, giúp Tần nhất thống. Tần muốn nhất thống, trước hết phải làm suy yếu Sở. Chí của Khuất Bình, không hợp thời thế, vậy nên đường đi trắc trở, sự nghiệp khó thành.”
“Nhưng tại sao, tại sao ông trời lại muốn nhất thống ở Tần? Lẽ nào nhất thống ở Sở không tốt sao?”
“Đó là số mệnh.”
“Nhưng…nước Tần vốn không địch lại nước Sở. Nghe Khuất Bình kể, năm xưa Cộng Công tác loạn, bị tổ tiên người Sở là Chúc Dung đánh bại, mới húc đổ núi Bất Chu, bị Nữ Oa nương nương đày tới Bắc Minh.”
“Thời thế xoay vần, vận trời thay đổi.” Đại thần Vu Hàm đáp, “năm xưa khi Chúc Dung đại chiến với Cộng Công, lửa trời vượng thịnh, Cộng Công không có được thiên thời nên mới bại. Thời nay đã khác. Cộng Công vừa tới, thuỷ tổ của người Sở đã biết, nên mới báo mộng với Sở Vương. Chúc Dung là thần lửa, đương nhiên sẽ báo mộng tiên miếu hoả hoạn. Ngay lúc đó, người nên tới tiên miếu tế lễ, phải là Sở Vương mới phải. Tiếc là Sở Vương lại không đi, mà sai Khuất Bình và ngươi tới tế bái. Ngươi vốn thờ phụng ta, Chúc Dung không vui; Khuất Bình cũng không phải là Sở Vương, khác nào khinh nhờn thần Chúc Dung, khiến thần mếch lòng. Hơn nữa, dù thần Chúc Dung không mếch lòng, thì năm nay ngũ tinh cùng hiện, bội tinh bay tới, trời hành vận Thuỷ, đối với Cộng Công, đây chính là thời cơ hưng vượng ngàn năm một thuở, thần Chúc Dung không thể địch lại.”
“Đại thần…” Bạch Vân nghẹn ngào.
“Hãy về đi.” Đại thần Vu Hàm thở dài, “suy cho cùng, ngươi là người Ba, Ba Thục nối liền, song Ba Sở lại không cùng gốc. Nước Sở, không thể giúp, giúp Sở là trái ngược với thời.”
“Không…không phải Vân Nhi muốn giúp người Sở, Vân Nhi chỉ…chỉ giúp Khuất Bình!”
“Muốn giúp Khuất Bình, chỉ có một cách, ngươi hãy tới đỉnh Thái Bạch, thỉnh cầu hắc hịch kia! Hắn là tư tế thờ đại thần Cộng Công, có lẽ sẽ giúp được ngươi! Có điều, kẻ này tâm địa hiểm độc, nếu ngươi tới đó, lành ít dữ nhiều, tốt nhất chớ nên đi.”
“Tạ ơn đại thần chỉ bảo!” Bạch Vân dập đầu cảm tạ, đoạn hoá làn linh khí, bay về phía đỉnh núi Thái Bạch.
Tinh linh của Bạch Vân vừa tới đỉnh núi, đã bị hắc hịch canh đàn tế cản lại, tra hỏi sự tình, rồi đưa tới chỗ đại tư tế của đại thần Cộng Công.
Đại tư tế, cũng chính là hắc hịch đã tới gặp Tần Vương lần trước, lúc này nằm nghiêng trong nhà gỗ, như đang ung dung chờ Bạch Vân đến.
“Tư tế núi Vu Hàm Bạch Vân bái kiến đại tư tế Bắc Minh!” Bạch Vân vòng tay, khiêm nhường lên tiếng.
“Ta biết thế nào tư tế cũng sẽ đến!” Hắc hịch bật cười, hơi nhổm người dậy, chỉ vào chỗ ngồi đối diện, “đã tới thì là khách, tư tế núi Vu Hàm, mời ngồi!”
“Cảm tạ đại tư tế Bắc Minh!” Bạch Vân ngồi xuống chiếu khách, sửa ngay vạt áo.
“Nói đi, vì sao tư tế lại tới đây?” Đại tư tế hỏi thẳng.
“Vì Khuất Bình!” Bạch Vân cũng không chút quanh co.
Đại tư tế phá lên cười lớn: “Tư tế cũng nặng tình thực!”
“Trời tạo vạn vật, đều ban cho tình. Đại tư tế lẽ nào không có tình ư?”
“Không có!” Đại tư tế nhìn xoáy vào Bạch Vân, “bản tư tế chỉ có oán hận.”
“Đại tư tế có oán hận gì?”
“Oán hận của đại thần Cộng Công mà bản tư tế thờ phụng!” Đại tư tế mắt loé hai đạo hàn quang, chiếu thẳng vào Bạch Vân, “tư tế vì Khuất Bình mà tới, trong khi Khuất Bình kia đã được đại thần của ta chỉ đích danh. Điều này, tư tế hẳn có biết?”
“Biết!”
“Đã biết, sao còn tới?”
“Thỉnh cầu đại tư tế giúp đỡ!”
“Ta và tư tế, một đen một trắng, phân biệt rõ ràng, mỗi người một phận, hành đạo khác nhau, vốn dĩ là nước sông không phạm nước giếng, hôm nay tư tế tới đây cầu ta giúp đỡ, hẳn là theo lệnh của Vu Hàm?”
“Không phải!”
“Đã không phải là lệnh của Vu Hàm, vậy thì tư tế…hẳn có lý do?”
“Thiên đạo âm dương, không có trắng, thì không có đen. Ngài và ta tuy nói mỗi người một phận, song lại không hẳn là nước sông không phạm nước giếng. Mệnh trời đã định, ngài phải sống bên bờ biển Bắc, mà giờ chẳng phải ngài đã tới đỉnh Thái Bạch rồi ư?” Bạch Vân nhìn thẳng vào hắc hịch. Là một trong những ngọn núi cao nhất thiên hạ, núi Thái Bạch đương nhiên cũng thuộc quyền chưởng quản của thần núi Vu Hàm, Cộng Công tới núi này, coi như đã xâm phạm vào cương giới.
“Ái chà!” Thấy nàng nói ra những lời như vậy, đại tư tế không dám coi thường nữa, liền bật dậy, sửa lại y phục, ngồi nghiêm trang trên chiếu, “thực không ngờ, tư tế cũng có bản lĩnh đấy. Nói đi, muốn ta giúp thế nào?”
“Có lẽ cần giúp hai việc.” Bạch Vân vòng tay đáp. “Là hai việc gì?”
“Thứ nhất, hãy thỉnh cầu lên quý thần Cộng Công, triệu hồi ôn thần, tha cho Khuất Bình cùng toàn bộ dân Sở mắc dịch.”
“Không phải bản tư tế không chịu giúp, mà là việc tư tế thỉnh cầu quá khó.” Đại tư tế nhún vai, nở một nụ cười bất lực, “ôn thần phụng mệnh tới trừng phạt nhân gian, hễ đã đi tuần, thì không có chuyện tay không trở về, điều này, tư tế hẳn cũng biết rõ?”
“Phải!” Bạch Vân đáp, “nhưng ôn thần sẽ không vô cớ đi tuần. Người Sở tội gì, Khuất Bình tội gì, mà phải cho ôn thần trừng phạt?”
“Phải nói thế nào đây?” Đại tư tế đáp, “nếu không tại thuỷ tổ người Sở, đại thần của chúng ta đã không bị đày tới Bắc Minh, chúng ta cũng không phải đời đời sống bên bờ biển Bắc, làm bạn cùng băng tuyết quanh năm.”
“Đó là Nữ Oa nương nương đã thành toàn cho quý thần cùng các đồ đệ như ngài đây.” Bạch Vân thuận thế tiếp lời, “xin hỏi đại tư tế, đày tới Bắc Minh có gì không tốt? Nước vốn thuộc về thái âm, gặp lạnh thì ẩn tàng, gặp nóng thì bốc hơi. Giả như Nữ Oa nương nương đày quý thần tới phương nam, cả ngày chói chang, huyền điểu chao liệng, hoả khí ngút trời, thái âm không thể ẩn náu, dám hỏi đại tư tế, quý thần sẽ ngụ ở đâu? Đại tư tế cùng chư đệ tử sẽ nương vào đâu? Cũng như lúc này, các ngài hành lễ, cớ sao lại phải chọn đỉnh Thái Bạch chót vót, băng tuyết quanh năm?”
“Ồ…” Đại tư tế mấp máy môi vài cái, song lại không biết phải đối đáp thế nào cho phải. Chợt nhớ tới Khuất Bình, bèn vịn ngay vào đó, “tội của Khuất Bình kia, hẳn tư tế đã biết?”
“Không biết.”
“Không giấu tư tế,” đại tư tế nhìn Bạch Vân mà nói, “đại thần của ta lần này ngự giá tới đỉnh Thái Bạch, cũng là phụng thiên thừa vận, giúp Tần thành tựu đại nghiệp nhất thống. Vậy mà Khuất Bình kia cứ khăng khăng dựa vào sức của một thân mình, tìm cách cải chế biến pháp, cường Sở thân Tề, ngăn cản đại thần ta hành sự. Đại thần ta vì đó mà nổi giận, mới hạ lệnh cho ôn thần bắt hắn. Ý trời không thể trái, mong tư tế hiểu cho.”
“Nói sai rồi!” Bạch Vân vòng tay, giọng nói bình thản, “trời có việc của trời, người có việc của người. Nếu trời muốn diệt Sở, dựa vào sức của một mình Khuất Bình, có thể cứu vãn được chăng? Ý trời đã không thể trái, vậy đại tư tế đây cớ sao lại làm trái ý trời?”
“Bản tư tế có chỗ nào làm trái ý trời?” Đại tư tế nhìn xoáy vào Bạch Vân.
“Đại tư tế làm trái ý trời đã nhiều lần, lẽ nào không tự nhận ra?”
Đại tư tế mắt toé hàn quang: “Hãy thử nói xem!”
“Đại thần của ta cai quản mây mưa ở Vu Hàm, đại thần của đại tư tế cai quản nước ở Bắc Minh. Năm nay trời giáng thuỷ tai, thần ta cũng biết. Đại thần Cộng Công phụng mệnh trời, xua nước Bắc Minh tới cương vực do thần ta cai quản, giáng hoạ phạt tội, vốn không có gì dị nghị. Tuy nhiên, trời phạt tội, lại không phải chỉ phạt một mình đất Kinh Sở. Đại thần ta đã nhận được ý trời, rằng chốn đồng bằng Kinh Châu mưa bão lớn mười bốn ngày, còn đồng bằng Ung Châu mưa lớn hai mươi tư ngày. Tuy nhiên, đại tư tế lại bày đàn tế thần tại đất này, chặn lại toàn bộ hai mươi tư ngày mưa đáng lẽ phải giáng xuống đất Ung Châu, xua ngược trở về giáng hết xuống đất Kinh, Lương. Làm ra chuyện trái ngược thiên mệnh, giá hoạ lân bang, bênh vực người Tần, hãm hại người Sở, lẽ nào đại tư tế vẫn thấy an lòng được ư?”
“Ồ…Chuyện này…” Đại tư tế bắt đầu căng thẳng.
“Giả sử lúc này, bản tư tế bẩm lên Nữ Oa nương nương, sẽ ra sao nhỉ?” Bạch Vân nhìn thẳng vào đại tư tế.
“Chớ…Chớ…” Đại tư tế buột kêu lên, vẻ kinh hãi hiện trên sắc mặt, song rồi trấn tĩnh lại ngay, khép mắt ngẫm nghĩ một lát, lại nhìn Bạch Vân, “nói đi, việc thứ hai là gì?”
“Đã nói rằng quý thần phụng thiên thừa vận, thì việc thứ hai ta không nói nữa.”
“Đã kể hai việc, hãy cứ nói ra!”
“Vậy thì, trời là việc của trời, người là việc của người. Chuyện hưng suy ly hợp của nhân gian, tự khắc do con người sắp đặt. Bản tư tế muốn khuyên đại tư tế, hãy dỡ bỏ đài tế, trở về bên bờ Bắc Minh mà an hưởng tuổi trời.”
“Ngươi…” Đại tư tế nộ khí ngùn ngụt. “Là đại tư tế nhất quyết đòi ta nói.” Bạch Vân tươi cười mà đáp, “nếu có chỗ nào đắc tội, mong đại tư tế lượng thứ cho!” Nói rồi đứng dậy, vòng tay vái một vái thật sâu.
Dù trong lòng lửa giận bừng bừng, song đối diện với dung nhan tươi tắn và đại lễ của Bạch Vân, đại tư tế cũng khó lòng bộc phát. Ngẫm nghĩ một thoáng, đại tư tế vòng tay mà nói: “Tư tế núi Vu Hàm, hãy cứ về đi đã, chờ bản tư tế bẩm báo lên đại thần xong, tự khắc sẽ đến tìm!”
“Bạch Vân cung kính chờ tin tốt lành!” Bạch Vân vái chào từ biệt, bước ra khỏi nhà gỗ, hồn quy bản thể, tĩnh lặng ngồi chờ.
Chưa đầy nửa canh giờ sau, đại tư tế đúng hẹn tìm tới.
Hành lễ xong, đại tư tế ngồi xuống trước mặt Bạch Vân, khịt mũi vài cái: “Nơi đây sao lại thơm tho nhường vậy?”
“Đây là vườn lan, ngài đang ngồi trên hoa lan của ta đấy!” Bạch Vân đáp.
“Thực hay!” Đại tư tế khen ngợi, “ở Bắc Minh ta, chưa từng có thứ hương thơm nào như vậy!”
“Đại tư tế có lòng yêu cái đẹp, mới thấy trời cao có đức hiếu sinh!”
“Bạch tư tế nghĩ xa xôi quá rồi!” Đại tư tế quay về việc chính, “những gì hai ta trò chuyện, đại thần Cộng Công ta đều đã biết. Đại thần ta rất mến Bạch tư tế đây, nên đã chấp nhận lời thỉnh cầu của tư tế!”
“Quả là tin tốt lành!” Bạch Vân vái tạ, “đại thần Vu Hàm cảm tạ đức hiếu sinh của đại thần Cộng Công!”
“Còn có một tin chẳng lành.”
“Đại tư tế cứ nói!”
“Đại thần ta thị dụ, có thể lệnh cho ôn thần tha cho người Sở, và cả Khuất Bình, song đổi lại, Bạch tư tế sẽ phải trả giá.”
“Trả giá thế nào?”
“Cung phụng đại thần ta!”
“Đại tư tế…” Bạch Vân giật thót, sững sờ một lúc mới lên tiếng, “cung phụng thế nào?”
“Tư tế chẳng phải tên gọi Bạch Vân đó ư? Đại thần ta muốn tinh hồn của tư tế hãy hoá thành một vầng mây trắng, ngày ngày bay quanh đỉnh núi Thái Bạch, che nắng cho đại thần ta.”
“Đó là trả giá?”
“Phải. Đại thần ta không muốn nhìn thấy thần Đông Hoàng của Sở. Có đám mây Ba núi Vu Sơn này che chắn, thật hay.”
Bạch Vân cúi đầu suy nghĩ.
Hồi lâu sau, Bạch Vân mới ngẩng lên nói: “Ta có một điều kiện.”
“Đại thần ta xưa nay không bàn điều kiện với con người!” Đại tư tế bình thản đáp.
“Thỉnh cầu đại tư tế hãy chuyển lời tới đại thần của ngài, điều kiện của Bạch Vân, đại thần dứt khoát phải đồng ý!”
“Tư tế…” Đại tư tế lại nổi giận, song vẫn gắng kìm lại được, “nói!”
“Thần hồn ta có thể đi, nhưng phách khí phải ở lại trong nhục thể, để tiếp tục phụng thờ đại thần Vu Hàm của ta!”
“Đã không còn thần hồn, thì làm sao phụng thờ thần Vu Hàm được nữa?”
“Tuy ta không còn thần hồn, nhưng phách khí còn quanh quẩn, thì khí vẫn ra vào, thể vẫn ấm nóng, thân thành bất tử. Ta sẽ dùng thân bất tử ấy dâng lên đại thần Vu Hàm, để sớm tối ngưỡng vọng, ngày đêm hầu cận, chẳng phải tốt hơn ngàn vạn vật tế?”
“Than ôi,” đại tư tế thở dài, “tư tế nói vậy là không hiểu về tử. Chết rồi, chết rồi, trăm sự buông tay, thần hồn đã bay đi, song vẫn muốn giữ lại thân xác sống, rành rành là muốn bày ra trăm vạn niềm quyến luyến sinh ly tử biệt, há chẳng phải làm trò cười cho thiên hạ?”
“Than ôi,” Bạch Vân cũng thở dài buồn bã, “đại tư tế nói vậy là không hiểu về sinh. Sinh khí, sinh khí, một khí sinh trăm. Chỉ cần ta vẫn còn một hơi thở, tức là chưa chết, cũng tức là không bày ra trăm vạn niềm quyến luyến sinh ly tử biệt. Đã không quyến luyến, làm gì có chuyện thiên hạ chê cười?”
“Được rồi, được rồi, ta không muốn đôi co!” Đại tư tế xua tay, rồi nhìn chằm chằm vào Bạch Vân, “Ta chỉ muốn khuyên tư tế, chớ nên suy nghĩ ngây thơ như vậy. Trời tạo muôn vật, chưa từng thuận theo ý chí của con người. Sinh cũng thế, mà tử cũng thế, dứt khoát không phải do ta ngươi chi phối. Sinh ra làm người, thì thần, hồn, phách, chí, ý, năm thứ ấy tụ trong một thể. Thần hồn đã đi, ý chí tự mất, duy còn lại phách, có kéo dài được chăng? Vậy mà ngươi lại muốn giữ mãi nhục thân bất tử, há chẳng phải nực cười?”
Bạch Vân bàng hoàng chấn động.
Lời đại tư tế, rõ ràng không sai, cũng đã hoàn toàn dập tắt niềm tham luyến cuối cùng của nàng về sự sống.
“Bạch tư tế,” đại tư tế lại giáng tiếp một đòn, “ta trọng tư tế, bởi tư tế là linh khí mà đại thần ta lựa chọn. Tư tế hãy suy nghĩ cho thấu đáo, vì thỉnh cầu của ngươi với đại thần ta, và điều kiện ngươi vừa đưa ra, không thể đồng thời tồn tại. Hơn nữa, chẳng phải ngươi muốn cứu Khuất Bình sao? Không giấu tư tế, Khuất Bình kia đã nhập cửa tử rồi. Ôn thần vừa thị dụ với ta, độc hàn thấp trong người Khuất Bình, ngày hôm qua đã nhập vào cao hoang, hồn phách của hắn đến giờ Ngọ ngày mai phải rời khỏi xác. Nếu tư tế muốn giữ hắn lại, thì nhất thiết phải dùng chân khí tiên thiên để ép độc hàn thấp của ôn thần ra khỏi cơ thể hắn. Ngươi hãy nghĩ xem, chân khí tiên thiên nếu không còn nữa, nhục thân hậu thiên còn giữ được bao lâu?”
Hai hàng nước mắt lăn dài trên má Bạch Vân, âm thầm nhỏ xuống cánh hoa lan đang nở xoè trước mặt.
“Chao ôi,” đại tư tế thở hắt ra, “ta vốn là kẻ nhẫn tâm và khát máu, nước mắt chẳng ích gì với ta cả, duy có tư tế là ngoại lệ.” Dừng lại một chốc mới tiếp, “thôi được, mượn uy của đại thần ta, ta sẽ cho phép nhục thể hậu thiên của tư tế trăm ngày còn khí, nghìn ngày không cứng, vạn ngày không rữa. Nhưng sau vạn ngày, nhục thể của tư tế buộc phải trở về với cát bụi. Bạch tư tế, sinh tử là chuyện hệ trọng, bản tư tế khuyên ngươi lần nữa, hãy suy nghĩ cho thật kỹ.”
“Tạ ơn đại tư tế tác thành!” Bạch Vân lau nước mắt, vòng tay hỏi, “xin hỏi đại tư tế, phải làm thế nào mới có thể ép độc hàn thấp của ôn thần ra khỏi cơ thể Khuất Bình?”
“Hãy từ cửa sinh!”
“Tạ ơn tư tế chỉ giáo!” Bạch Vân vái tạ.
“Còn nữa, đại thần thị dụ, giờ Ngọ ngày mai, tư tế nhất thiết phải tới đỉnh núi Thái Bạch, hoá mây túc trực.”
“Bạch Vân ghi nhớ!”
“Vậy giờ Ngọ ngày mai, bản tư tế sẽ lên đàn tế chờ ngươi!” Lời vừa dứt, bóng hình đại tư tế đã hoá thành một đốm tinh quang, vụt cái đã bay đi mất hút.
Nhìn theo vệt tinh quang tan biến giữa trời đêm, Bạch Vân lệ tuôn lã chã, bàng hoàng xuất định.
Phía xa xa, đã nghe eo óc tiếng gà gáy sáng.
Bạch Vân vội vã đứng dậy, quay trở vào phòng của Khuất Bình, thấy bệnh trạng quả nhiên nghiêm trọng thêm nhiều. Tất cả đều đúng như lời đại tư tế đã nói, độc hàn thấp đã vào đến cao hoang.
Thời gian không chờ đợi nữa.
Bạch Vân nhấc bút, viết vài lời ly biệt lên thẻ tre, sắp xếp ngay ngắn, rồi quay lại bên giường, vực Khuất Bình dậy, đặt ngồi tại cửa sinh, vận dòng chân khí tiên thiên hồn hậu trong cơ thể, truyền vào trong người Khuất Bình.
Dần dần, ngang lưng Khuất Bình bắt đầu khởi dậy một dòng khí ấm. Dòng khí ấm trước hết chạy xuống phía dưới, tới gan bàn chân của Khuất Bình, sau đó từ dưới lên trên, qua chân, đùi, nhập vào tam tiêu, chạy tới lục phủ, truyền qua ngũ tạng, lại tiếp tục lên trên nữa, cho tới đỉnh môn.
Hai bên thái dương Khuất Bình bắt đầu rịn mồ hồi.
Chốc sau, mồ hôi đã ứa khắp toàn thân Khuất Bình.
Mồ hôi mang màu đen thẫm, hệt như pha mực.
Khi làn chân khí cuối cùng chảy vào trong cơ thể Khuất Bình, Bạch Vân nước mắt chan hoà, ghé sát lại đặt lên môi Khuất Bình một nụ hôn, rồi bật khóc đau đớn, nhủ thầm trong dạ, “Khuất Tử, áng mây này…đã tới lúc về trời! Bảo trọng…”
Tiếng lòng vừa dứt, cơ thể Bạch Vân chợt mềm nhũn, rồi cùng Khuất Bình ngã vật xuống giường.
Ngay sau đó, môi Bạch Vân he hé mở, một dải sương mờ từ trong miệng chầm chậm bay ra, ngưng kết thành một khối, lững thững bay lên không trung.
Bên ngoài nhà cỏ, nắng chiếu rực rỡ, trời xanh vạn dặm, không một gợn mây, chỉ có một áng sương khói mơ hồ vương vấn lượn tròn phía trên nhà cỏ.
Làn sương nhỏ bé cứ lượn vòng quanh mà lên cao mãi, càng lên cao càng lớn, hoá thành một vầng mây trắng.
Từ trong áng mây có nước mưa nhỏ xuống, từng giọt từng giọt, tí tách nỉ non, đều rơi xung quanh gian nhà cỏ của Khuất Bình.
Dưới kia, lão bộc và Nam Nam, mỗi người cõng trên lưng một bó lớn cỏ ngải mới cắt, hối hả sải bước quay về. Nam Nam đẩy mở cánh cổng rào, ngạc nhiên kêu lên: “Ông ơi, nhìn này, lại mưa rồi!”
“Nói linh tinh!” Lão bộc khẽ mắng, “trời xanh ngắt, nắng chang chang thế này, lấy đâu ra mưa?”
“Ông nhìn kìa, trên trời có mây!” Nam Nam hạ bó cỏ ngải trên lưng xuống, ngẩng đầu nhìn trời, bất đồ kinh hoảng kêu lên, “ối chao, ông ơi, mau nhìn kìa, là chị, chị đang ở trên trời!”
Lão bộc nhìn lên bầu trời, bật cười: “Ồ, đúng là có một đám mây trắng.” Rồi chợt thôi cười, nhìn chăm chú vào đám mây một lát, lại nhìn ra xung quanh, lấy làm ngạc nhiên, “ồ, chỉ có mỗi đám mây này, bay cao thế mà vẫn làm mưa được. Vả lại, mưa này lại rơi xuống đúng trong nhà ta, không sai không lệch chút nào, kể cũng kỳ lạ thật!”
“Không phải là mây trắng, là chị, là chị, là chị đấy!” Nam Nam khóc toáng lên, vừa khóc vừa nói, “chị đang bay trên trời, chị đang khóc đấy!” Rồi vẫy tay lên trời, hét lên lạc giọng, “chị, chị ơi…”
“Chao ôi, cái con bé này!” Lão bộc lắc đầu cười nhăn nhó, rồi cũng đặt bó cỏ ngải trên lưng xuống, tháo bỏ dây buộc, trãi rộng xuống khoảnh đất trống, “đúng là trẻ nít!”
Đột nhiên, Nam Nam như thể phát cuồng, cắm đầu lao ra khỏi cổng, chạy như bay về phía tây, vừa chạy vừa gọi lớn: “Chị ơi, đừng đi, chị ơi…chị ơi…”
“Ơ?” Lão bộc sửng sốt, ngẩng đầu nhìn trời, thì thấy áng mây trắng đang vùn vụt bay về phía trời tây bắc, nhanh đến lạ lùng, mỗi lúc mỗi xa, chốc lát đã không thấy nữa. Lão bộc vội rảo bước ra ngoài cổng, nhìn về phía tây, thấy Nam Nam đã chạy tới tận cuối con đường, đang đứng trên một mô đất, đôi tay bé nhỏ vươn cao tuyệt vọng, vẫn vẫy không ngừng, ngửa cổ nhìn trời mà khóc nức nở.
“Ôi chao, con bé này!” Lão bộc lắc đầu, bước từng bước về phía Nam Nam, “đang yên đang lành, sao tự dưng lại hoá điên hoá dại như thế? Còn chê cái nhà này chưa đủ loạn hay sao?”
Vào lúc áng mây trắng trên nhà cỏ của Khuất Bình bay về tây bắc, dịch bệnh đang hoành hành dữ dội khắp các ấp Kinh Môn, Giao Sính bỗng vụt biến mất một cách thần kỳ. Khuất Dao cùng mấy vu nữ đã nhiễm dịch đang nhốt mình một chỗ cũng lập tức bệnh tình thuyên giảm.
Đương nhiên, người khỏi bệnh đầu tiên, chính là Khuất Bình vốn nhiễm dịch nặng nhất.
Gần tới giờ Ngọ, khi Nam Nam vẫn khóc thảm thiết vì không thể đuổi kịp áng mây, Khuất Bình đã hồi tỉnh.
Mở choàng mắt ra, Khuất Bình lập tức nhìn thấy mình đang cùng Bạch Vân nằm ở trên giường. Bạch Vân nằm phủ phục trên mình Khuất Bình, thân thể mềm nhũn, song đôi tay vẫn ôm vòng lấy hắn.
“Vân Nhi?” Khuất Bình nhìn sững vào nàng, bàng hoàng thảng thốt. Trên khuôn mặt Bạch Vân, lốm đốm những chấm đen.
Khuất Bình bèn đưa tay lau, những đốm đen liền biến mất, nhìn kỹ lại, là nước đen dính vào.
Khuất Bình vừa thở phào một tiếng, chợt thấy trên cánh tay, bàn tay mình ngoằn ngoèo vằn vện vô số vệt mồ hôi đen thẫm, lại nhìn lên người, chỗ nào cũng bê bết loang lổ những vệt đen.
Khuất Bình sửng sốt, sao mình lại thành ra thế này?
Thốt nhiên, Khuất Bình thình lình bừng hiểu, đó chính là ôn độc tiết ra từ cơ thể, hoá thành mồ hôi, dính cả lên người Bạch Vân.
Chắc chắn là Bạch Vân đã dùng công lực tu luyện để ép ôn độc ra khỏi người Khuất Bình. Việc đó đã khiến nàng lả đi vì kiệt sức.
Trong lòng Khuất Bình bỗng thấy ấm áp vô cùng. Khuất Bình cẩn thận đặt nàng nằm ngay ngắn lên giường, khẽ khàng đắp cho nàng lần chăn mỏng, thấy trong phòng đặt một chậu nước sạch, bèn rửa ráy qua loa, thay quần áo sạch, rồi ra ngoài phòng múc nước mang vào, lau mặt cho Bạch Vân, lúc này mới cảm thấy bụng đói meo, bèn đóng cửa phòng lại ra ngoài.
Vừa tới trước cửa bếp, Khuất Bình chợt nghe thấy có tiếng trẻ con khóc rất thương tâm từ ngoài cổng vọng vào.
Là tiếng của Nam Nam.
Khuất Bình vội vã đi ra, nhìn thấy lão bộc đang dẫn Nam Nam từ đằng xa tiến lại, Nam Nam vừa đi vừa khóc lớn, đôi vai nhỏ rung lên từng chặp.
Khuất Bình thở phào một tiếng, chậm rãi bước ra đón.
Nhìn thấy Khuất Bình, Nam Nam lập tức chạy lao lại, vừa thở hổn hển vừa giục giã: “Chú…chú ơi, mau…mau đuổi theo chị đi, chị…chị bay mất rồi!” Đưa tay chỉ về phía trời tây bắc. Khuất Bình sửng sốt, nhìn theo hướng chỉ. Khoảng trời tây bắc cao xanh ngăn ngắt, không một gợn mây.
“Mau lên, chú ơi!” Nam Nam giục rối lên.
Lão bộc bước lại, sắc mặt ngỡ ngàng như không tin nổi: “Khuất đại nhân, đại nhân…khỏi bệnh rồi ư?”
“Khỏi rồi!” Khuất Bình mỉm cười.
“Con bé tự dưng dở chứng!” Lão bộc cười nói, “vừa nãy trên trời có đám mây trắng, đổ mưa xuống mái nhà chúng ta, tôi đang lấy làm lạ, con bé cứ nói là chị nó đang khóc ở trên trời, chao ôi cái con bé này…”
Khuất Bình nghe vậy, trong lòng giật thột, bất giác rùng mình một cái. Khuất Bình nghe nói, trẻ con dưới sáu tuổi trong sáng thuần chân, có thể thông linh, con bé Nam Nam kia chưa đầy sáu tuổi, có lẽ nào…
Khuất Bình vội đặt Nam Nam xuống, chạy như bay vào trong cổng, lao thẳng vào nhà, đẩy mở cửa phòng.
Bạch Vân vẫn nằm trên giường, im lìm bất động, sắc mặt thanh thản, môi xinh he hé. Khuất Bình thấp thỏm đưa tay lại bên mũi nàng, thấy vẫn còn hơi thở.
Khuất Bình thở phào một tiếng, đang trầm ngâm suy nghĩ, ánh mắt chợt dừng lại trên mặt án.
Trên án, có vài tấm thẻ tre xếp thành hàng ngay ngắn.
Khuất Bình bước lại, cầm thẻ tre lên. Vừa đọc, đã bàng hoàng chết lặng, ngón tay cứng đờ, tim như ngừng đập.
Trên tấm thẻ có vài dòng chữ thanh thoát, nhắn nhủ rằng: “Khuất Tử, mây trắng đã phải bay đi, tới một phương xa thẳm. Trong vòng trăm ngày, nhờ Khuất Tử hãy đưa Vân Nhi về núi Vu Hàm, giao lại cho ông ngoại Hát Quan Tử, thỉnh cầu ông ngoại dùng thân này dâng hiến đại thần. Bạch Vân.”
Khuất Bình lúc này mới bàng hoàng sực tỉnh, ném luôn thẻ tre xuống đất, lao lại bên giường, ôm chầm lấy Bạch Vân lay gọi: “Vân Nhi! Vân Nhi! Hãy tỉnh lại! Nàng hãy tỉnh lại đi!”
Song Bạch Vân vẫn hoàn toàn bất động, chỉ có một làn hơi mỏng như tơ khe khẽ ra vào qua mũi. Khuất Bình lại đưa tay tới bên mũi nàng, mới nhận thấy hơi thở rất chậm chạp, một nhịp thở dài bằng ba nhịp thở bình thường.
Khuất Bình lại cầm lấy tay nàng bắt mạch. Mạch vẫn đập, nhưng yếu ớt tới mức gần như không nhận thấy.
Khuất Bình sững sờ kinh hãi. Bên tai Khuất Bình lại vang lên tiếng Nam Nam: “Chị…chị bay mất rồi!” Rồi tiếng của lão bộc: “Vừa nãy trên trời có đám mây trắng, đổ mưa xuống mái nhà chúng ta, con bé cứ nói là chị nó đang khóc ở trên trời…”
Khuất Bình ngưng thần, vắt óc suy nghĩ, lời nhắn nhủ của Bạch Vân, và áng mây trắng bay về phía trời tây bắc.
Tây bắc? Khuất Bình rùng mình ớn lạnh, chợt nghĩ tới đỉnh núi Thái Bạch, cùng đại thần Cộng Công. Phải rồi, chắc chắn là do đại thần Cộng Công, vì báo thù riêng mà trước tiên gây hồng thuỷ nhấn chìm Kinh Sở, tiếp đến sai ôn thần gieo rắc tai hoạ. Bạch Vân vì muốn cứu Khuất Bình, nên linh thần đã bị Cộng Công bắt tới núi Thái Bạch mất rồi. Mạch suy nghĩ của Khuất Bình vùn vụt mở rộng, từ chuyện tiên tổ Chúc Dung năm xưa nhờ vào thế Hoả của trời mà xua đuổi Cộng Công tới Bắc Minh, tới việc Cộng Công mượn uy Thuỷ của trời trong năm Canh Tý này để báo thù; từ việc Hoài Vương mơ thấy tiên miếu bốc cháy, tới việc Hoài Vương đuổi Chiêu Dương đi, một mực tin theo Trương Nghi, vương thúc cùng Ngận Thượng; từ việc Hoài Vương kéo mình tắm chung hồ thơm, dốc lời gan ruột, cho tới khi Hoài Vương không còn nghe lời trung tín, chỉ tin lẽ hoang đường của Ngận Thượng; từ trận chiến Tích Thuỷ tới lệnh cấm lưỡi cày, tới cuộc chiến muối; rồi lại nghĩ tới Bạch Vân, kể từ lần đầu gặp gỡ trên đài chiêu hồn…
Càng suy nghĩ, tâm tư Khuất Bình càng rối bời hỗn loạn, đầu óc mới vừa bình phục khỏi cơn bạo bệnh bỗng căng như dây đàn, nhức nhối muốn đứt.
Mạch suy nghĩ của Khuất Bình, đứt tại chỗ Bạch Vân.
Vào thời khắc này, Bạch Vân đã ở trong tay Cộng Công mất rồi, mà trước uy thế của Cộng Công, Vu Hàm bất lực, Chúc Dung lép vế. Trước một đối thủ ghê gớm nhường này, người phàm xác thịt như Khuất Bình, chỉ biết tuyệt vọng.
Khuất Bình ôm lấy Bạch Vân, siết chặt trong lòng, mặc cho hai hàng nước mắt tuôn rơi, lã chã nhỏ xuống mặt nàng.
Khuất Bình quên cả đói khát, quên cả mệt mỏi, cõi lòng tê tái, thổn thức thì thầm với Bạch Vân những câu thơ đã viết cho nàng. Tắm nước lan này gội hương,
Mặc sắc thắm này y thường.
Mây phấp phới chừ đã đến,
Ánh rực rỡ chừ lạ thường.
Mây thần đậu xuống cung thọ,
Cùng nhật nguyệt chiếu sáng bừng.
Cưỡi xe rồng mặc đế phục,
Nàng ngao du khắp muôn phương.
Mây rực rỡ kia giáng xuống,
Rồi bay bổng kìa lưng chừng.
Thu Ký Châu trong tầm mắt,
Dạo bốn bề này vô cùng.
Tưởng nhớ nàng chừ than thở,
Lòng thổn thức chừ vấn vương.