Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 95 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 61
Mưu mở hoành cục, Trương Nghi rời Tần
Khó cứu tung thân, Huệ Thi bỏ Ngụy

❊ ❊ ❊

Cuối cùng đã được thành thân với ý trung nhân, Tử Vân công chúa vô cùng mãn nguyện, cũng rất mực cảm kích, lại hiểu lẽ ứng xử, không chỉ từ bỏ danh giá của một công chúa, ân cần hầu hạ Trương Nghi, nâng án ngang mày, chu đáo rất mực, hơn nữa không mảy may mạo phạm tới phu nhân trước. Tử Vân đặt phòng tân hôn của mình tại thiền viện bên cạnh, còn phòng chính của Hương Nữ thì đóng kín không động chạm tới. Tất cả những gì Hương Nữ đã từng sử dụng, đều tự tay chọn ra, gói ghém cẩn thận, ngoại trừ Trương Nghi, không một ai được phép động tới. Khi Trương Nghi ngủ trong phòng Hương Nữ, Tử Vân cũng tuyệt đối không gọi. Đến giờ ăn, nàng cũng bỏ trống chỗ ngồi cũ của Hương Nữ, còn bày bát đũa, đồ ăn trước chỗ của Hương Nữ, còn mình ngồi đối diện. Như vậy cũng có nghĩa, Tử Vân đã tôn Hương Nữ làm bề trên, còn tự nhận mình là bề dưới.

Những điều này đã khiến Trương Nghi cảm động, hắn cũng bắt đầu nhận ra, ngoài võ công ra, Tử Vân công chúa không hề thua kém Hương Nữ điểm nào. Đặc biệt nàng rất thấu tình đạt lý, không hề có vẻ kiêu kỳ ngạo mạn như lời đồn thổi.

Trương Nghi hiểu rõ, Tử Vân hạ mình cầu toàn như vậy, chỉ vì muốn hắn được vui lòng. Nhớ tới Ngọc Thiền lạnh nhạt với mình mà quyến luyến Tô Tần, lại nghĩ tới Tử Vân tuyệt tình với công tử Ngang mà một mực chiều theo ý mình, Trương Nghi vô cùng cảm khái, nghĩ rằng nữ tử thật là khó hiểu nổi, giữa yêu và không yêu, đúng là khác biệt một trời một vực.

Trương Nghi ôm theo mối cảm khái này mà trải qua cuộc tân hôn, mấy ngày đầu vẫn nhớ thương Hương Nữ, hàng chục ngày sau mới dần quen người mới, rồi sắt cầm hoà hợp với Tử Vân.

Huệ Vương hay tin, vui mừng khôn xiết, vào một tối nọ, âm thầm giá lâm phủ tướng quốc.

Thấy ngự huynh giá lâm, Tử Vân công chúa không dám chậm trễ, vội thay bỏ xiêm y rực rỡ, đích thân vào bếp nấu nướng, bày một bàn tiệc thịnh soạn, mang rượu lâu năm ra thiết đãi, còn quỳ xuống rót rượu. Trước mặt ngự huynh, thấy Tử Vân không hề cậy thế kiêu ngạo, vẫn khiêm nhường như cũ, Trương Nghi càng nở mày nở mặt, liên tục nâng chén, mãn nguyện vô cùng.

Qua vài tuần rượu, Huệ Vương chuyển sang bàn quốc sự, nhìn thẳng vào Trương Nghi nói: “Không giấu hiền đệ, hôm nay huynh trưởng tới đây, thứ nhất là thăm em gái, thứ hai là có đại sự cần bàn bạc!”

“Xin hỏi chúa thượng, là đại sự gì?” Trương Nghi chưa thực quen với mối quan hệ mới, vẫn không thay đổi cách xưng hô, hỏi thẳng vào chuyện.

“Người Ngụy vẫn không cam lòng, lại muốn đánh ta!” Khoé miệng Huệ Vương khẽ nhếch một nụ cười khinh miệt. “Theo thám mã báo về, Bàng Quyên lợi dụng thời cơ ta nam chinh đánh Thục, đã chỉnh đốn võ binh, binh lực không thua kém thời Ngô Khởi. Gần đây nghe nói Bàng Quyên điều binh khiển tướng, chuyển quân tới Hà Đông, ngoài ải Lâm Tấn sát khí ngút trời, ngoài ải Hàm Cốc người đông như kiến.”

Trương Nghi khép hờ hai mắt.

“Than ôi, không giấu hiền đệ, hôm nay quả nhân đến đây, là vì đã làm sai một chuyện.”

“Quân vương đã làm sai chuyện gì?”

“Thứ nhất là không nên dâng tặng Khúc Ốc và đất Thiểm cho người Ngụy, thứ hai là không nên để người Ngụy giữ ải Lâm Tấn. Đặc biệt là tại ải Lâm Tấn, người Ngụy đã củng cố đê điều, trên cầu treo không chỉ xe chiến qua lại tấp nập, mà thậm chí xe bò, xe quân nhu cũng đã đi lại dễ dàng không chút trở ngại!”

Trương Nghi hít sâu một hơi. Để lại ải Lâm Tấn cho người Ngụy, hoàn trả ba ấp Khúc Ốc, Thiểm và Tiêu, lui về cố thủ ải Hàm Cốc, đều là kế hoãn binh của Trương Nghi nhằm dồn sức phạt Thục, Ba, Huệ Vương nói như vậy, khác nào đang trách cứ hắn.

“Lạ thật!” Trương Nghi nheo tít đôi mắt, nửa như tự nhủ, nửa như giải thích. “Bàng Quyên và thần đã giao kèo rõ ràng, sao lại có thể…” Đăm chiêu một lát. “Lẽ nào là Ngụy Vương…” Nói rồi lại dừng, chìm vào suy nghĩ.

“Nào nào, hiền đệ hãy uống rượu đi đã!” Huệ Vương cười vang, nâng chén mà nói. “Quân hợp tung sáu nước ta còn chẳng sợ, lẽ nào lại đi sợ cái tên Ngụy Anh đã chôn đến cổ hay sao?”

Trương Nghi cũng cười, nâng chén uống cạn.

“Hiền đệ hẳn có biết tay tướng quốc Trung Sơn Tư Mã Điêu?” Huệ Vương lại chuyển sang chuyện Trung Sơn.

“Thần có nghe nói đến một hai. Tổ tiên của Tư Mã Điêu vốn là người Ngụy, hai mươi năm trước tập ấm chức cha mà làm quan đại phu của Trung Sơn, do có tài mà được tấn phong làm cung uý, cai quản cấm cung, sau đó không lâu, Nhạc Trì qua đời, Tư Mã Điêu bèn làm tướng quốc, phò tá Trung Sơn Quân xưng vương có công nên được phong làm Lam Chư Quân. Ba năm trước, Trung Sơn Thành Vương băng hà, con thơ kế vị, Tư Mã Điêu trở thành trọng thần nhiếp chính, quyền hành khuynh đảo triều đình.”

“Phải!” Huệ Vương gật đầu nói. “Trung Sơn nhỏ yếu, xưa nay không dám động đến nước Triệu, gần đây lại nghe nói hai nước bất hoà, biên cương liên tiếp xung đột! Quả nhân hoài nghi, việc này hẳn có liên quan tới Ngụy. Theo tin thám báo truyền về, thường xuyên có khách Ngụy ra vào phủ Tư Mã Điêu.”

“Nhắc tới Trung Sơn,” Trương Nghi đáp lời, “thần có nghe một câu chuyện, không biết chúa thượng có muốn nghe hay chăng?”

“Hiền đệ cứ nói!”

“Nghe nói năm xưa, Triệu Giản Tử đi săn ở Trung Sơn, có con sói xông ra khỏi vòng vây, cầu xin Đông Quách tiên sinh cứu giúp. Tiên sinh động lòng thương xót, đem giấu nó vào trong túi, lừa Giản Tử bỏ đi. Con sói nhảy ra, lại đòi ăn thịt tiên sinh, may sao có người mưu trí đi ngang qua, bày kế lừa con sói chui lại vào trong túi, rồi đánh chết nó!”

“Ồ…” Huệ Vương vò đầu bứt tai, cười nói. “Doanh Tứ ngu độn, không hiểu ẩn ý sâu xa của câu chuyện, dám mong hiền đệ giải thích rõ hơn!”

Trương Nghi cũng bật cười. “Không giấu chúa thượng, câu chuyện này là do Giả Xá Nhân kể lại cho thần nghe trên đường từ Triệu tới Tần, vốn chỉ là để tiêu khiển. Thần thoạt đầu nghe cũng không hiểu, nên mới thỉnh cầu Giả huynh giải thích, Giả huynh là người Triệu, chỉ một lời đã phá giải huyền cơ.”

“Huyền cơ ở chỗ nào?”

“Chính là đã nói lên được chỗ huyền diệu giữa Triệu và Trung Sơn.” Trương Nghi sắp xếp lại các đĩa thức ăn trên bàn, chỉ vào từng đĩa mà nói. “Chúa thượng hãy nhìn, đây là nước Triệu, đây là Trung Sơn, đây là nước Ngụy, đây là nước Hàn. Nước Triệu về mặt địa lý chia làm hai phần, một phần là phía đông núi Thái Hàng, Hàm Đan là Đông Đô; một phần là phía tây núi Thái Hàng, Tấn Dương là Tây Đô. Thái Hàng chạy dài từ nam sang bắc, núi cao vực sâu, không có đường qua lại. Thái Hàng có tám đường, nước Triệu chỉ giữ một đường là Phẫu Khẩu, song đầu phía tây của đường này, người Hàn đã chiếm cứ phần lớn Thượng Đảng, nước Triệu không thể chiếm riêng đường này. Giữa Đông Đô và Tây Đô, còn có một đường nữa, chính là Tỉnh Hình, song lại ở trong tay người Trung Sơn. Nên đối với Triệu, Trung Sơn khác nào miếng xương mắc trong cổ họng, chỉ ước mong có thể khạc được ra. Tuy nhiên, Trung Sơn đông có Hà Thuỷ, tây có Thái Hàng, bắc có Dịch Thuỷ, nam có Hoè Thuỷ, đầm Đại Dã sông hồ nối liền, dễ thủ khó công, lại thêm Nhung Địch vốn thượng võ hiếu chiến, muốn đánh cũng rất khó khăn. Năm xưa Ngụy đánh Trung Sơn, người Triệu cho mượn đường, muốn hai nước chiến tranh, từ đó mà hưởng lợi. Ngụy được Trung Sơn, người Triệu không vui, âm thầm trợ giúp Trung Sơn phục quốc. Ngụy và Trung Sơn liên tục giao tranh, người Triệu ắt sẽ…”

“Doanh Tứ hiểu rồi!” Huệ Vương thình lình bừng tỉnh, ngắt lời Trương Nghi. “Con sói Trung Sơn là chỉ nước Trung Sơn, Triệu Giản Tử đuổi bắt sói Trung Sơn là chỉ Triệu muốn thôn tính Trung Sơn, Đông Quách tiên sinh là nước Ngụy. Thế nhưng… người mưu trí qua đường kia là ai, còn cần hiền đệ chỉ rõ!”

“Chúa thượng vội vã quá rồi!” Trương Nghi cười nói. “Đông Quách tiên sinh không phải là nước Ngụy!”

“Ồ? Vậy là ai?”

“Là đệ tử Mặc gia. Đệ tử Mặc gia kiêm ái, Triệu nhiều lần phạt Trung Sơn, song lần nào cũng thất bại, bởi luôn có Mặc giả giúp Trung Sơn giữ thành. Người Triệu oán hận Mặc giả, nên đặt ra câu chuyện này để châm biếm sự ngu xuẩn của Mặc giả.”

“Vậy… người Ngụy là ai?” Huệ Vương băn khoăn. “Chiến tranh giữa Triệu và Trung Sơn, không thể thiếu người Ngụy. Lẽ nào chính là người mưu trí kia ư?”

“Người Ngụy đã bị loại ra khỏi câu chuyện này. Ngụy diệt Trung Sơn, Triệu giúp Trung Sơn phục quốc, Ngụy lại thảo phạt Trung Sơn, người Triệu lại trợ giúp Trung Sơn. Người Triệu tự cho rằng mình có ơn với Trung Sơn, nào ngờ người Trung Sơn lại không hề cảm kích. Khi Trung Sơn nghênh chiến nước Ngụy, người Triệu cảm thấy thời cơ đã tới, nhân lúc xuất binh trợ giúp Trung Sơn, đã chiếm cứ Thạch Ấp, khống chế cửa ải Tỉnh Hình vẫn thèm khát bấy nay. Sau khi Triệu giúp Trung Sơn đuổi được người Ngụy, người Trung Sơn đòi người Triệu trả lại Thạch Ấp, người Triệu không chịu, người Trung Sơn bèn trở mặt, tập kích người Triệu, cướp lại Thạch Ấp, còn đánh đuổi người Triệu ra khỏi Nam Dịch Thuỷ. Người Triệu đều chửi rủa người Trung Sơn vong ân bội nghĩa, nên đã ví người Trung Sơn với con sói trong câu chuyện.”

Huệ Vương hít vào một hơi: “Còn người mưu trí kia? Hắn là ai?”

“Người mưu trí chính là người thêu dệt nên câu chuyện này. Những người này túm năm tụm ba, đi khắp liệt quốc, tự thành môn phái, thông tin linh hoạt, có thể nói không gì không biết, chuyên thuyết giảng về các chuyện thú vị tại liệt quốc, chỉ trong thoáng chốc, đã có thể biến những tin tức thu thập được thành câu chuyện thú vị, rồi gọi chung là tiểu thuyết. Tiểu thuyết, chính là chuyện nghe được trên đường ngang ngõ tắt, ba phần thật, ba phần giả, ba phần suy đoán.”

“Còn một phần nữa?”

“Có lẽ chính là suy diễn, tiểu thuyết gia ai ai cũng có biệt tài suy diễn, xuất khẩu thành văn, giỏi loại suy từ thứ nọ sang thứ kia, từ cái này sang cái khác, có thể biến thật thành giả, biến giả thành thật, phàm mọi chuyện qua miệng họ, đều nửa giả nửa thật, sống động hấp dẫn, khiến người nghe không tin nổi mà lại không thể không tin.”

Huệ Vương bật cười vài tiếng, vòng tay nói. “Doanh Tứ xin thụ giáo! Hiền đệ, không nói tới tiểu thuyết nữa, chúng ta hãy quay trở về chuyện chính. Mấy ngày qua, Doanh Tứ luôn cảm thấy việc này rất có triển vọng, song cửa vào ở đâu, phá cửa thế nào, Doanh Tứ vẫn chưa tìm ra đầu mối, rất rất muốn nghe lời vàng ngọc của hiền đệ.”

“Chúa thượng!” Trương Nghi hiển nhiên đã suy tính thấu đáo. “Tổng hợp lại mà phán đoán, người Tần đã đến lúc về đông!”

“Về đông thế nào, hiền đệ hẳn có diệu kế?”

“Chặn Ngụy, kết Trung Sơn, chế Triệu!”

“Nước cờ tuyệt diệu!” Huệ Vương nhắm mắt suy ngẫm một lát, gật đầu nói. “Có điều, quân cờ đầu tiên nên đặt ở chỗ nào, hiền đệ hẳn đã suy tính tới?”

“Thần xin từ chức tướng quốc!”

“Từ chức?” Huệ Vương ngỡ ngàng nhìn Trương Nghi.

“Chúa thượng, chặn Ngụy, trước hết cần chế Ngụy; chế Ngụy, trước hết cần chế Bàng Quyên. Người chế được Bàng Quyên, không còn ai khác ngoài thần!”

Huệ Vương từ từ nâng chén rượu lên, uống cạn, rồi nhìn sang Trương Nghi: “Hiền đệ, chuyện này trọng đại, hãy để quả nhân cân nhắc vài ngày, rồi sẽ quyết định!”

“Thần lĩnh chỉ!”

Huệ Vương hồi cung, suy trước nghĩ sau suốt một đêm trường, sáng sớm hôm sau, cho triệu Sư Lý Tật, công tử Hoa tới, kể sơ qua một lượt về mưu kế của Trương Nghi, rồi nửa đùa nửa thật nói: “Kế sách này của tướng quốc, liệu có phải là để trốn tránh Tử Vân?”

“Vương huynh đa nghi rồi!” Công tử Hoa cười đáp. “Nghe Tử Vân kể rằng, mấy ngày hôm nay hai người họ đã trong ấm ngoài êm, sắt cầm hoà hợp.”

“Đúng vậy!” Sư Lý Tật cũng cười, vòng tay đáp lời. “Theo thần được biết, tướng quốc để chí vào nghiệp nhất thống thiên hạ, phá vỡ sáu nước hợp tung, nay tráng chí chưa thành, không thể nảy sinh lòng khác!”

Huệ Vương không nói gì thêm, lập tức cho gọi Trương Nghi tới, vua tôi bốn người bàn bạc hồi lâu về kế sách của Trương Nghi, quyết định sách lược tường tận. Vào buổi đại triều ba ngày sau đó, Trương Nghi lấy cớ sức khoẻ khó khăn, xin trả tướng ấn. Chẳng dè Huệ Vương cũng ân chuẩn thật, cho Sư Lý Tật thay mặt xử lý mọi việc trong tướng phủ.

Văn võ bá quan một phen kinh động.

***

Tại kinh đô Đại Lương nước Ngụy, trong buổi đại triều của Huệ Vương, toàn bộ triều thần từ cấp đại phu trở lên chia nhau dàn hàng tả hữu. Bên trái lần lượt là thái tử Thân, Huệ Thi, tư đồ Bạch Hổ; bên phải lần lượt là Bàng Quyên, Chu Uy, công tử Tự. Công tử Tự là con trai thứ năm của Huệ Vương, mẹ đẻ là Yên Cơ, tức con gái thứ hai của Yên Văn Công, không ham địa vị, nên lạt lẽo với chính sự, chỉ có điều bẩm sinh hiếu dũng, thích làm bạn với kiếm kích thương đao, có vài phần giống với công tử Ngang, sau trận chiến Hàm Cốc, được Bàng Quyên phát hiện ra, không những dạy về quân sự, còn tiến cử vào trung quân, cất nhắc làm phó tướng, thay thế chỗ khuyết của công tử Ngang.

Đại điện lặng phắc như tờ, tất cả mọi ánh mắt, bao gồm cả Huệ Vương, đều đổ dồn vào tư đồ Bạch Hổ, chỉ có Vũ An Quân Bàng Quyên hai mắt hơi khép, sắc mặt âm trầm.

Trước án của Bạch Hổ bày một hàng dài sáu cuốn thẻ tre, trong đó có một cuốn đã mở sẵn.

“Tiếp đến là thuế má và lao dịch.” Bạch Hổ nhìn cuốn sách, cất giọng chậm rãi, lời lời như dùi đâm. “Các thành ấp tổng cộng ba trăm ba mươi chín vạn nhân khẩu, trong đó có năm mươi vạn là nô bộc, lính lệ, tù nhân. Số thần dân còn lại, người lập hộ tịch không tới năm mươi vạn, trong đó lại có mười một vạn ba nghìn thần dân thuộc về quân hầu được phong, phủ Tư đồ cai quản không tới bốn mươi vạn hộ, lại trừ đi hơn mười vạn hộ liệt sĩ tuẫn thân vì nước trong mấy năm qua, bốn vạn hộ hổ bôn, võ binh, và khoảng ba vạn các hộ được miễn thuế và lao dịch khác, nên số hộ phải nộp thuế và lao dịch theo luật còn lại không tới ba mươi vạn. Gần ba mươi vạn hộ này, phải cáng đáng một lượng lương thảo lớn đến thế, cộng thêm đủ loại tạp dịch, cảnh lầm than của bách tính, quả thực chưa bao giờ thậm tệ như lúc này.”

Quần thần đưa mắt nhìn nhau, Bàng Quyên sắc mặt tím bầm.

“Còn một cuốn sổ chi tiết nữa!” Bạch Hổ lại cầm một cuốn sách lên, trải ra, chậm rãi nói. “Chính là giáp trụ và binh khí. Những thứ võ binh mang trên mình, đều được làm từ sắt hảo hạng. Mỗi bộ giáp trụ gồm tám bộ phận là mũ trụ đồng, tấm chắn cổ, tấm chắn cánh tay, chiến bào, tấm chắn ngực, gương đồng, xiêm chiến, ủng chiến, các vảy giáp đều được xâu lại với nhau bởi sợi đồng. Mỗi bộ giáp trụ nặng hơn sáu mươi cân, nếu người cao lớn phải hơn tám mươi cân, ngoài ra còn có binh khí như thương đao kiếm kích, đều phải đúc bằng đồng hoặc sắt hảo hạng, mà nguyên liệu đồng và sắt, đa phần đều nhập từ thương nhân nước Hàn, Sở, Triệu. Hiện thiên hạ đang trong thời chiến loạn, giá sắt, đồng, da tăng vọt, giá trị của một bộ giáp trụ, đủ để nuôi sống ba hộ năm miệng ăn trong ba năm trời. Cùng cực việc binh, sưu cao thuế nặng, mà nguồn thu thuế lại giảm sút. Từ năm ngoái đến nay, quốc khố ngày càng cạn kiệt, lê dân ngày càng khốn quẫn, khổ không sống nổi…”

Giọng Bạch Hổ mỗi lúc một chậm, mỗi lúc một trầm, mỗi lúc càng thêm chấn động tâm can, trên triều đường, không khí ngưng đọng, ngay cả tiếng thở cũng dường như đông kết.

Võ bị và dân sinh, dường như mãi mãi là một nút thắt khó tháo.

Bàng Quyên hồi phủ trong cơn váng vất. Buổi hội triều lần này, hắn tuyệt đối không thể ngờ rằng, người lên án hắn lại là Bạch Hổ. Hai chữ lương thảo vừa mới bật ra khỏi miệng Bàng Quyên, Bạch Hổ đã khuân ra cả đống thẻ tre. Đống thẻ tre này, hắn đã giương mắt nhìn Bạch Hổ xách vào trong triều đường, chỉ có điều hắn không ngờ rằng, chúng lại được dùng để đối phó với vị ân công là hắn.

Tuy nhiên, số liệu xác thực, quốc khố đã cạn, song tất cả những thứ đó, có liên quan gì tới Bàng Quyên hắn? Thân là tướng quân, chức phận của hắn là buộc phải tuân theo và cũng chỉ có thể tuân theo lệnh vua, còn gây chiến ra ngoài, là để mở rộng lãnh thổ cho Đại Ngụy. Ngụy Vương muốn hắn thu phục Hà Tây, muốn hắn chỉnh đốn quân bị, muốn hắn chấn hưng võ binh, mà tất cả những việc này đều cần đến lương thảo vật tư, quân nhu đảm bảo, còn như đảm bảo thế nào, đó là công việc mà bè lũ chấp sự các người phải đi mà lo. Hơn nữa, phạt Tần là cuộc chiến ác liệt, nghìn vạn binh mã đều vì nước quên mình, thân là tướng quân, không thể để cho họ phải bụng đói, tay trần ra sa trường được.

Bàng Quyên hiểu rõ, Bạch Hổ không phải đơn độc một mình, đằng sau Bạch Hổ còn có Chu Uy, Huệ Thi, thái tử. Thái tử chỉ là bù nhìn, Chu Uy là người thực thà, kẻ chủ mưu thực sự chỉ có thể là Huệ Thi. Huệ Thi thâm tàng không lộ mặt, chưa tới lúc cần thiết, tuyệt đối sẽ không nói thừa một chữ, lại càng không nói sai một chữ trên chốn triều đường. Đối đầu với một lão cáo già thế này, Bàng Quyên quả thực hết kế khả thi.

Bàng Quyên ủ ê hồi phủ, từ xa đã nghe thấy những tiếng vun vút vẳng lại từ bãi cỏ trong hậu hoa viên, chốc chốc còn nghe thấy tiếng khen ngợi của phu nhân Thụy Liên, biết được là Bạch Khởi, con trai Bạch Hổ, đang múa thương, bèn thở dài một tiếng, bước lại gần, dừng chân dưới một tán cây.

Bạch Khởi đang tuổi ăn tuổi lớn, đã cao tới mang tai Bàng Quyên, song cơ thể gọn gàng, dáng dấp dong dỏng, cây thương trong tay Bạch Khởi là do Bàng Quyên làm cho cậu bé cách đây không lâu, nặng khoảng hai mươi lăm cân, khi Bạch Khởi mới múa lên có phần tốn sức, song luyện tập lâu ngày, giờ đã múa loang loáng như bay, khiến người ta nhìn vào mà hoa mắt.

“Tốt, tốt, tốt lắm!” Bàng Quyên chậm rãi bước lại, vừa vỗ tay, vừa khen liền ba tiếng.

Bạch Khởi cũng đã nhìn thấy hắn, vội cắm phập cây thương xuống cỏ, quỳ một chân xuống đất, hành quân lễ mà nói: “Khởi bẩm nghĩa phụ, nghĩa tử Bạch Khởi đang luyện tập thương pháp Ngô Khởi mà nghĩa phụ đã dạy!”

“Ha ha ha, múa hay lắm!” Bàng Quyên lại gần, rút cây trường thương của Bạch Khởi lên, cẩn thận xem xét.

Quả là một cây thương tốt, mũi thương đúc từ sắt, vàng và đồng pha trộn với nhau, cứng như kim cương, áo giáp bình thường không chịu nổi một đòn đâm, dù là giáp trụ hạng nặng của võ binh, nếu bị đâm trúng, chỉ cần để mũi thương hơi trượt đi, lách vào khe hở giữa các vảy giáp, chắc chắn sẽ đâm đứt sợi đồng mà xuyên thẳng vào ngực. Thân thương được vót cẩn thận từ gỗ tử đàn cứng rắn, mặt ngoài khảm ba lá đồng cỡ ngón tay, được cố định chắc chắn bởi năm vòng đồng, bên ngoài thanh đồng và vòng đồng được dát một lớp vàng, toả sáng chói chang dưới nắng, ngù thương đỏ rực phía dưới mũi thương lại càng thêm bắt mắt.

“Bạch Khởi, thương này thế nào?” Bàng Quyên cười hỏi.

“Tinh xảo tuyệt luân!” Bạch Khởi dõng dạc đáp lời. “Bạch Khởi cảm tạ nghĩa phụ đã ban thương tốt!”

“So với thương của ông nội con, thương này thế nào?”

“Không thể so sánh!”

“Ồ?” Bàng Quyên thoáng ngạc nhiên, nhìn sững vào Bạch Khởi.

“Hồi bẩm nghĩa phụ, thương của ông nội dài chừng trượng tám, thương này chỉ dài trượng ba; thương của ông nội cán bạc mũi vàng, thương này cán gỗ mũi sắt; thương của ông nội trên cán khảm đá quý, thương này chỉ có vài vòng đồng quấn; thương của ông nội nặng ba mươi lăm cân, thương này chỉ nặng hai mươi lăm cân…” Bạch Khởi so sánh một mạch, dường như vẫn chưa thấy đủ, lại vò đầu bứt tai nghĩ tiếp.

“Con của ta!” Bàng Quyên nheo mắt cười nhìn Bạch Khởi. “Con có biết được điểm tuyệt diệu của thương này?”

“Xin nghĩa phụ chỉ giáo!”

Bàng Quyên xuống tấn, múa thương đến gió cuốn vù vù, khiến Bạch Khởi nhìn mà trợn tròn con mắt.

“Con trai hãy nghe đây!” Bàng Quyên dừng lại, vuốt ve cây thương. “Thương là dùng để giết địch, chứ không phải là để ngắm, bởi vậy mũi thương cần sắc nhọn, không gì không đâm thủng, thân thương cần gọn nhẹ, đâm chém phạt dễ dàng, còn như thân thương dài hay ngắn, đều có mặt ưu mặt khuyết, trong khi sử dụng, phải xem bản lĩnh. Thương dài lợi cho đâm xa, nhưng nếu một đòn không trúng, rút về sẽ khó; thương ngắn lợi cho đánh gần, có thể điều khiển dễ dàng, song đòi hỏi kỹ xảo và bản lĩnh còn cao hơn nữa. Cha đặc biệt chế cho con thanh đoản thương này, chính là muốn con rèn luyện bản lĩnh đặt kẻ địch ở ngay trước mặt mà quyết chiến với địch.”

“Tạ ơn nghĩa phụ chỉ giáo!” Bạch Khởi nhận lấy thương, vòng tay cảm tạ.

“Còn nữa, con trai nhất thiết phải ghi nhớ, trên sa trường, võ nghệ phải giỏi, song múa thương khua kiếm, dù sao cũng chỉ là hành vi của kẻ võ biền, cái dũng của kẻ thất phu, tướng quân chân chính tuyệt đối không nhìn vào đó!”

“Dám hỏi nghĩa phụ, thế nào mới là tướng quân chân chính?”

“Chính là ở đây!” Bàng Quyên chỉ vào lồng ngực. “Dùng cái tâm của con! Chỉ có tận tâm, con mới có thể mưu tính trong trướng mà quyết thắng ngoài nghìn dặm.”

“Nói như vậy,” Bạch Khởi chớp mắt vài cái, cất giọng hào hứng, “cho dù đã không thể đi lại, nhưng Tôn nghĩa phụ vẫn là một tướng quân chân chính!”

Nghe Bạch Khởi thình lình nhắc tới Tôn Tẫn, Bàng Quyên bất giác giật thót trong lòng, một lát sau, mới ngồi xuống, bộ mặt đờ đẫn nở một nụ cười, nói: “Đúng vậy, Tôn nghĩa phụ của con vẫn là một tướng quân chân chính! Nói cho nghĩa phụ biết, Tôn nghĩa phụ hiện đang ở đâu, nghĩa phụ vẫn đang tìm kiếm Tôn huynh khắp nơi. Nghĩa phụ sắp chinh phạt Tần, nếu có Tôn nghĩa phụ con bên cạnh, chắc chắn sẽ đánh bại được người Tần, thu phục Hà Tây!”

Bạch Khởi mở to mắt, nhìn thẳng vào Bàng Quyên một lát, rồi gật đầu thật mạnh, hỏi ngược lại: “Ý nghĩa phụ là, nếu không có Tôn nghĩa phụ, nghĩa phụ sẽ không thể đánh bại người Tần?”

Nghe thấy câu này, Bàng Quyên lập tức nghẹn họng, sắc mặt sa sầm, đang tìm lời giải thích, thì thấy Thụy Liên nãy giờ vẫn đứng đợi hắn cười khúc khích tiến lại, chìa một tay ra. Bàng Quyên liếc nhìn Bạch Khởi, rồi nắm lấy tay Thụy Liên, bước thẳng về phòng khách không buồn ngoảnh đầu lại.

Trên triều đã hứng một đòn nặng nề bởi Bạch Hổ, về nhà lại cứng họng trước Bạch Khởi, giờ còn nhắc tới cái tên Tôn Tẫn, chuyện nào cũng khiến hắn thêm bực bội khó chịu. Bàng Quyên càng nghĩ càng giận, lại không tiện nói thêm gì, bèn quay trở về phòng khách, nói là nóng trong người, xua Thụy Liên xuống bếp nấu cho hắn một bát canh đỗ xanh để hạ hoả, rồi chuồn về thư phòng, đóng kín cửa, vận dụng công phu Quỷ Cốc, còn chưa kịp an thần tĩnh tâm, đã thấy ngoài cửa có tiếng bước chân vọng lại.

Người gõ cửa là Bàng Thông.

“Có việc gì?” Bàng Quyên gắng gượng nén lửa giận trong lòng, trầm giọng hỏi.

“Có người cầu kiến!”

“Không gặp!”

Giọng nói vừa dứt, cánh cửa đã bị đẩy bật tung, một người bước thẳng vào trong.

Bàng Quyên cho rằng Bàng Thông tự tiện xông vào, vừa mở miệng định trách cứ, thì người mới tới đã bật cười ha hả.

Bàng Quyên giật nảy mình, mở trừng con mắt, kinh ngạc kêu lên: “Trương Nghi!”

“Bàng huynh!” Trương Nghi vòng tay, giọng nói có phần châm chọc. “Nhìn sắc mặt huynh, hình như là có chuyện vui!”

“Đi, đi đi!” Bàng Quyên vừa nhấc mông dậy, lại phịch một cái ngồi xuống, lừ mắt nhìn Trương Nghi. “Còn nói thêm câu nữa, tại hạ sẽ lấy chổi đấy!”

“Có cầm gậy đánh cũng không đi!” Chẳng đợi mời ngồi, Trương Nghi đã cười hề hề, vén áo ngồi luôn xuống trước bàn đối diện với Bàng Quyên. “Mau bảo tẩu phu nhân bưng rượu bày thịt ra, bụng tại hạ đang mưu phản rồi đây!”

“Ồ, chỉ có một mình huynh ư!” Bàng Quyên lúc này mới bừng tỉnh. “Hương tẩu phu nhân sao không thấy đâu thế? Tại hạ cũng đang thèm nhỏ dãi, chỉ mong được ăn món thịt lợn thơm do đích thân tẩu phu nhân giết mổ.”

Hai người châm chọc nhau dăm ba câu thì vào chuyện chính.

“Trương huynh!” Bàng Quyên gãi đầu. “Đường đường là tướng quốc đi sứ tới đây, đáng ra phải là chuyện kinh thiên động địa, Trương huynh sao lại… âm thầm đến thần không biết quỷ không hay như thế?”

“Tại hạ đã không còn là tướng quốc nữa!” Trương Nghi thản nhiên đáp liền.

“Sao kia?” Bàng Quyên sửng sốt, nhìn hắn nghi ngờ. “Trương huynh, huynh…”

“Không giấu Bàng huynh, cách đây mươi ngày, tại hạ đã treo ấn từ quan, đánh xe ra khỏi ải Hàm Cốc rồi.” Giọng Trương Nghi vẫn rất tỉnh bơ như không.

“Dám hỏi…” Bàng Quyên chúi người về phía trước, ánh mắt thăm dò.

“Than ôi!” Trương Nghi thở dài một tiếng, lắc đầu buồn bã. “Nói ra thì thật khó mà mở miệng, Bàng huynh cứ bày rượu ra đi!”

Bàng Quyên sai người dọn rượu thịt lên, Trương Nghi bèn đem chuyện từ lúc vào Thục cho đến khi kết thân với Tần cung kể hết một lượt cho Bàng Quyên nghe, đặc biệt là kể đến chuyện phu nhân đại chiến Ba nữ, ngôn từ sống động hùng hồn, tới đoạn gay cấn, còn thuận tay rút thanh đao độc của Ba nữ ra, bảo Bàng Quyên kiếm con chuột để thử. Đám đầy tớ nhất thời không kiếm được chuột, bèn bắt gà thay thế, Bàng Quyên thử đao, chỉ trong chốc lát, quả nhiên gà co giật đùng đùng rồi chết. Trương Nghi được vợ hiền như vậy, lại thông hiểu đại nghĩa, võ công tuyệt đỉnh, Bàng Quyên không còn dám coi thường Hương Nữ nữa, cứ xuýt xoa thán phục mãi không thôi, lập tức xếp nàng sánh ngang với sư tỷ Ngọc Thiền trong Quỷ Cốc.

“Ý huynh là,” khi Trương Nghi kể tới Tử Vân công chúa, có nhắc tới công tử Ngang, Bàng Quyên giật mình sửng sốt, “An Quốc Quân vẫn còn sống?”

“Đâu chỉ còn sống, mà còn trở thành an bang tướng quân nước Tần rồi!”

Trương Nghi lại kể cho Bàng Quyên nghe, Tần Vương niệm tình em rể thế nào, bắt sống công tử Ngang ra sao, Trần Chẩn giúp công tử Ngang đổi tên gì, Tần Vương tiếp đón công tử Ngang ra sao, Tử Vân công chúa vô tình với công tử Ngang thế nào, rồi chuyện tổ thái hậu nước Tần can thiệp, rồi chuyện công tử Hoa bày mưu tính kế giúp công chúa chuốc hắn say mèm mà chiếm được Trương Nghi hắn, hàng loạt sự kiện, không bỏ sót một chi tiết nào, trong đó có không ít chuyện xứng đáng là cơ mật nước Tần, khiến Bàng Quyên chẳng khác gì nghe sách trời, càng thêm kính phục sự thành thực của Trương Nghi.

“Trương huynh đã thẳng thắn đến vậy,” Bàng Quyên vòng tay nói, “tại hạ thực không còn gì để nói nữa. Chuyện năm xưa trong Quỷ Cốc, tại hạ sẽ xoá bỏ sạch không. Trương huynh lần này tới đây, muốn tại hạ giúp gì, xin cứ nói thẳng!”

“Bàng huynh nói ngược rồi!” Trương Nghi lại chẳng hề đáp lễ, nói thẳng thừng không chút khách sáo. “Tại hạ tới đây, không phải muốn Bàng huynh giúp, mà là muốn giúp Bàng huynh!”

Bàng Quyên thoạt tiên ngỡ ngàng, tiếp đến bật cười ha hả, lại vòng tay mà nói: “Được được được, cứ coi như Trương huynh giúp tại hạ. Nói đi, Trương huynh giúp như thế nào, tại hạ xin cung kính rửa tai lắng nghe.”

“Bước đầu tiên, giúp Bàng huynh đuổi cổ Huệ Thi, chế ngự Chu Uy, trừ bỏ Bạch Hổ; bước thứ hai, chúng ta cùng bắt tay nhau, dùng Ngụy làm trục, quét ngang liệt quốc, kiến lập sự nghiệp truyền thế!” Trương Nghi nâng chén rượu lên, ngắm nghía một lát, rồi ngửa cổ uống cạn.

Bàng Quyên hít vào một hơi dài, hai mắt dán chặt vào Trương Nghi, hồi lâu, mới thở ra, gằn mạnh từng tiếng: “Nếu như quét ngang liệt quốc, theo ý Trương huynh, nên bắt đầu từ đâu?”

“Nước Triệu!”

“Được!” Bàng Quyên một đấm giáng thẳng xuống bàn. “Chúng ta liên thủ, đánh cho họ tan tành!”

“Không, là thôn tính.”

Bàng Quyên lại hít vào một hơi, vô thức đưa tay cầm lấy chén rượu, từ từ khép mắt lại.

Tại ngự thư phòng, Ngụy Huệ Vương ngồi trước ngự án, hai mắt khép hờ, im lìm bất động, hệt như khúc gỗ.

Không biết đã qua bao lâu, Ngụy Huệ Vương vẫn ngồi nguyên tư thế, tỳ nhân đứng hầu bên cạnh vừa sợ gây kinh động đến Huệ Vương, lại vừa lo xảy ra chuyện bất trắc, đành phải cố ý đi qua đi lại, thoạt tiên là bước khe khẽ, sau đó nện mạnh bước chân, cố tình gây ra tiếng động.

“Tỳ nhân, làm gì thế?” Giọng nói của Ngụy Huệ Vương bật ra qua kẽ môi, song cơ thể vẫn im lìm bất động.

“Chúa thượng!” Tỳ nhân không biết đã đổi cách xưng hô từ lúc nào, không còn gọi Huệ Vương là bệ hạ nữa, tiến lên phía trước. “Nô tài đang suy nghĩ một việc, song nghĩ mãi vẫn chưa thông, nên có phần lo lắng.”

“Nghĩ gì?”

“Nô tài đang nghĩ, không hiểu lúc này chúa thượng đang nghĩ gì? Nô tài cứ nghĩ mãi nghĩ mãi, nghĩ đến nát cả óc mà vẫn không ra. Nếu nô tài cũng có được thuật thông tâm giống như Thuần Vu Tử thì hay biết mấy!”

“Tỳ nhân, kỳ thực ngươi đã biết được quả nhân đang nghĩ gì rồi phải không?”

“Nô tài quả thực không biết.” Tỳ nhân nở một nụ cười. “Có điều, chúa thượng đã nói như vậy, thì nô tài cũng mạo muội đoán thử xem sao.” Nói rồi liếc nhìn đám thẻ tre trên bàn Ngụy Vương. “Chúa thượng đang nghĩ đến việc nước.”

“Nói thừa, không nghĩ đến việc nước, còn nghĩ gì đây? Hãy nói cho cụ thể!”

“Vâng… nghĩ tới sự việc trên cuốn thẻ tre này.”

“Ngươi đã đoán đúng!” Ngụy Vương mở choàng mắt, nhìn xuống mặt ngự án, trên án bày một hàng dài bảy cuốn thẻ tre, đều là những bản tấu của Bạch Hổ đã đưa ra trong buổi đại triều.

Tỳ nhân xoay bước, vòng ra phía sau Ngụy Vương, bàn tay thoăn thoắt day bóp sau gáy Ngụy Vương, cười nói: “Chúa thượng, nô tài cũng có điều muốn tấu.”

“Ồ? Tấu đi!”

“Chúa thượng đã ngồi thế này mấy canh giờ rồi, nên tới hậu hoa viên đi dạo là hơn. Nước có chảy mới không hôi thối, năng đi lại, vận động gân cốt, sẽ có nhiều ích lợi. Còn sự việc trên triều đường, hãy để cho đám bề tôi lo liệu. Chúa thượng cứ nghĩ đến đau đầu nhức óc, thực sự không nên.”

“Than ôi!” Huệ Vương thở dài một tiếng. “Quả nhân cũng đâu muốn nghĩ, thế nhưng…”

Huệ Vương lắc đầu, không nói tiếp nữa, chật vật đứng dậy. Tỳ nhân đưa tay đỡ Huệ Vương, vua tôi hai người đi vài vòng trong phòng, rồi chầm chậm tiến ra phía cửa, vừa tới trước bậu cửa, từ xa đã nhìn thấy nội thần túc trực dẫn theo hai người men theo con đường rợp bóng cây tiến lại.

Trong số các bề tôi cung Ngụy, được vào bái kiến mà không cần bẩm báo trước chỉ có ba người, là thái tử Thân, Huệ Thi và Bàng Quyên.

“Quả nhân hoa mắt rồi, là ai tới vậy?” Huệ Vương dụi mắt hỏi.

“Là Vũ An Quân! Vũ An Quân còn dẫn theo một người, nô tài không nhận ra.”

“Xem ra,” Huệ Vương cười nhăn nhó, “quả nhân có muốn thư giãn gân cốt cũng không được nữa rồi.” Nói đoạn quay trở vào thư phòng, lại ngồi xuống trước ngự án.

Lát sau, nội thần bước vào bẩm báo, Huệ Vương truyền Bàng Quyên vào gặp.

Quân thần hành lễ xong xuôi, Huệ Vương chỉ ra phía ngoài: “Hiền tế, bên ngoài hình như còn một người nữa!”

“Phụ vương?” Bàng Quyên sửng sốt. “Sao phụ vương lại biết?”

“Ha ha ha!” Huệ Vương bật cười vài tiếng. “Hiền tế đã dẫn người này tới, hẳn không phải khách bình thường, hãy cho vào yết kiến.”

Bàng Quyên trở ra, lát sau, dẫn Trương Nghi vào trong. Huệ Vương săm soi Trương Nghi một lượt từ trên xuống dưới, rõ ràng không nhớ nổi là ai: “Vị này là…”

“Trương Nghi ở Quỷ Cốc khấu kiến Ngụy Vương!” Trương Nghi vòng tay nói.

“Trương Nghi ở Quỷ Cốc?” Huệ Vương ngỡ ngàng. “Chẳng phải chính là… là tướng quốc nước Tần ư?”

“Hồi bẩm Ngụy Vương, chính là Trương Nghi đó.”

Huệ Vương thở ra một tiếng, nhìn chằm chằm vào Trương Nghi một hồi, lại hỏi: “Đã là tướng Tần, cớ sao lại mặc áo vải tới yết kiến quả nhân?”

“Muốn đàm luận riêng với đại vương!”

“Ở đây không có người ngoài!” Huệ Vương chỉ Bàng Quyên. “Đây là hiền tế của quả nhân, cũng là đồng môn của Trương Tử.” Chỉ vào tỳ nhân. “Đây là thị thần kề cận bên quả nhân, bàn riêng chớ ngại. Quả nhân già rồi, Trương Tử có gì dạy bảo, xin cứ nói thẳng.”

“Nước Ngụy nguy rồi!” Trương Nghi lại vòng tay, chậm rãi gằn từng tiếng.

Thấy Trương Nghi vừa mở miệng đã nói như vậy, Ngụy Huệ Vương sững sờ, hết nhìn Bàng Quyên, lại nhìn Trương Nghi, ánh mắt vô tình dừng lại trên cuộn thẻ tre của Bạch Hổ ở trước mặt, hồi lâu, mới chỉ vào chiếu khách bên cạnh: “Trương Tử, mời ngồi để bàn kỹ hơn.”

Trương Nghi bước tới vị trí khách, sửa áo ngồi ngay, hai mắt như đuốc, nhìn thẳng vào Ngụy Vương.

“Nước Ngụy trong triều ngoài nội, trên dưới vẫn như thường,” Ngụy Huệ Vương chúi người về phía trước hỏi, “Trương Tử cớ sao lại nói vậy?”

“Nếu không nằm ngoài dự đoán của Nghi,” Trương Nghi vòng tay trước ngực, dõng dạc nói, “nước Ngụy đã lâm vào cảnh ngoài khốn trong lo, giống như trâu mộng rơi xuống giếng, chẳng mấy mà chết.”

“Ồ…” Huệ Vương sững sờ, cười gượng một tiếng, nhìn sang Bàng Quyên, thấy hắn khép mắt không nói, lại nhìn Trương Nghi. “Thế nào là trong khốn ngoài lo, xin Trương Tử chỉ giáo!”

“Là ngoài khốn trong lo.”

“Phải phải phải, xin Trương Tử nói rõ!” Huệ Vương hiển nhiên vô cùng nôn nóng.

“Trước hết nói tới ngoài khốn.” Trương Nghi chậm rãi giải thích. “Phía nam, Ngụy Sở tiếp giáp, tiên tướng Ngụy Ngô Khởi trước đây đã chiếm đoạt Đại Lương và hai trăm dặm đất Sở xung quanh, tướng quân Bàng Quyên nay lại cướp lấy Hình Sơn và một trăm dặm đất Sở quanh đó. Thù cũ chưa nhắc tới, chỉ nói riêng hai chuyện mới này, với Ngụy là chuyện mừng, song với Sở lại là nỗi đau như đứt tay chân. Phía đông nam, Ngụy Tống tiếp giáp, tiên tướng quân Ngô Khởi trước chiếm Tương Lăng, Tương Lăng là lăng tẩm của Tương Vương tiên tổ nước Tống, nay là quận Ngụy, người Tống vẫn ghi hận trong lòng. Phía đông, tiếp giáp với Vệ, đất tổ của Vệ phần lớn đều đã nhập vào đất Ngụy. Phía đông bắc, Ngụy Tề tiếp giáp, ân oán cũ chưa tính đến, hẳn Tề Vương vẫn canh cánh mối nhục Hoàng Trì, tướng quân Điền Kỵ lại càng không thể nào quên mối nhục bị bắt làm đàn bà. Còn như Tam Tấn Ngụy, Triệu và Hàn, lãnh thổ đan cài như răng chó, lợi hại liên quan mật thiết, trăm năm qua chưa kể đến va chạm lặt vặt, chỉ tính riêng những trận ác chiến kịch liệt, cũng không dưới ba mươi, thành trì biên cương cờ xí thay đổi liên hồi, sáng Ngụy mà chiều đã Triệu, chẳng còn là chuyện lạ lẫm. Nguy cấp hơn nữa là phía tây, tranh chấp giữa Ngụy và cường Tần…”

Trương Nghi không nói tiếp nữa, khẽ khép mắt lại.

“Những chuyện xưa cũ kia, khác nào rận bò trên đầu người hói, ai chẳng thấy rõ, xin Trương Tử nói vài điều mới mẻ.” Huệ Vương sốt ruột, muốn nghe đoạn tiếp theo.

“Đại vương ví von rất hay, những lời Nghi vừa nói, đúng là như rận bò trên đầu người hói. Tuy nhiên, phàm người nhìn thấy, chỉ biết bề ngoài, duy có đại vương là biết đau biết ngứa!”

“Xin Trương Tử giải thích kỹ!” Bốn chữ “biết đau biết ngứa” rõ ràng đã kích động đến Huệ Vương, khiến ông ta lại nhổm người về phía trước.

“Sáu nước phạt Tần mà bại trận ở Hàm Cốc, đại vương hẳn không cho rằng, là do Bàng tướng quân vô mưu, võ binh Ngụy vô dũng?”

Nhớ lại cảnh bốn vương tuyên thệ phạt Tần ở Hổ Lao quan, song đến khi hai quân đối trận, quân Sở lại đứng yên không tiến, quân Tề chậm trễ không tới, Huệ Vương khẽ thở dài một tiếng, không nói năng gì.

“Lại nói về trong lo,” Trương Nghi không để Huệ Vương có thời gian suy nghĩ, “xa thì chưa nhắc tới, chỉ riêng những chuyện Nghi mắt thấy tai nghe mấy năm gần đây, Ngụy ở giữa mà bốn bề giao chiến, binh đao không lúc nào ngơi, dân chúng kiệt quệ mệt mỏi. Sau cuộc chiến Hàm Cốc, Bàng tướng quân trăn trở suy tính, mưu đồ tái khởi, liền năm mở rộng võ binh, ngày ngày luyện quân trực chiến, nóng lòng muốn rửa thù xưa. Tuy nhiên, đất Ngụy không tăng mà lại giảm, dân Ngụy theo nhau bỏ xứ, thuế thu ngày một giảm, quốc khố ngày một cạn, dân chúng ngày một khổ, vua tôi oán hận lẫn nhau, dám hỏi đại vương, ngần đấy điều trên, hẳn đã không còn là rận bò trên đầu người hói?”

Ngụy Huệ Vương mồ hôi rịn đầy trên trán.

Bàng Quyên hiển nhiên không ngờ mình cũng bị kéo vào trong cuộc, thoáng kinh ngạc nhìn sang Trương Nghi.

Trương Nghi có vẻ đã nói xong, lại khép mắt ngồi yên.

“Trương Tử đã biết nước Ngụy nguy khốn,” Huệ Vương cầm lấy chiếc khăn lụa tỳ nhân đưa lại, lau mồ hôi, “thì hẳn đã có kế giải thoát. Quả nhân bất tài, kính mong Trương Tử chỉ giáo.”

“Hai chữ, liên hoành!”

“Liên hoành?” Có lẽ lần đầu tiên nghe thấy từ này, cặp mắt già nua của Ngụy Vương chớp liền mấy cái. “Thế nào là liên hoành, vẫn xin Trương Tử giải thích kỹ hơn.”

“Tô Tần chẳng phải đã khởi xướng hợp tung trong liệt quốc đấy ư? Tam Tấn hợp tung, lại thêm Yên Sở, tạo thành một tuyến nam bắc. Còn như nước Tề gia nhập hợp tung, dở dở ương ương, có dụng tâm khác, có thể không tính. Sáu nước hợp tung tụ hội ở Mạnh Tân, mục đích là chế Tần, sáu vua tuyên thệ trước khi xuất quân, tung thân đã đạt tới cực điểm. Thánh nhân có nói, trăng tròn sẽ khuyết, chén đầy ắt tràn. Tô Tần thân đeo sáu ấn, hiệu lệnh sáu vua, chính là cùng cực trong bậc bề tôi. Sáu quân tập hợp ngoài ải Hàm Cốc, chính là cùng cực của tung thân. Vật cực tất phản. Sáu vua kết minh, ai nấy đều có mưu đồ riêng, sáu quân tập hợp, nhưng chưa chiến đã lùi, chính là ứng với đạo lý cực phản.”

“Đúng lắm, đúng lắm!” Huệ Vương gật gù thừa nhận. “Trương Tử xin hãy nói tiếp!”

“Ruộng có bờ ngang bờ dọc, đạo có đạo tung đạo hoành, thế tung đã suy, thì đạo hoành nên thịnh. Kế sách lâu dài của nước Ngụy, là bỏ tung nhập hoành, kết minh với Tần.”

Nghe tới đây, Huệ Vương hiển nhiên đã hiểu ra, mặt vuông sa sầm, im lặng hồi lâu không nói.

“Kế sách liên hoành có gì bất ổn chăng?” Trương Nghi đã đoán thấu suy nghĩ của Huệ Vương, liền hỏi thẳng.

Huệ Vương hai mắt sáng rực như đuốc, nhìn xoáy vào Trương Nghi, gằn từng tiếng một: “Chỉ có một điều bất ổn, Hà Tây!”

“Dám hỏi đại vương, Hà Tây có gì bất ổn?” Trương Nghi cứ như không hiểu, truy hỏi tới cùng.

“Người Tần dùng quỷ kế, chiếm đoạt Hà Tây của ta, bảy trăm dặm Hà Thuỷ, vài chục vạn thần dân, chỉ trong một đêm, đều đã thuộc về Tần, thi thể của hơn chục vạn dũng sĩ vẫn đang ngủ vùi dưới lòng đất Hà Tây!”

“Than ôi!” Trương Nghi thở dài một tiếng. “Đại vương chỉ biết Hà Tây, song đã quên mất cái tình cá nước giữa Tần và Tấn. Thời Mục Công, đã hai lần gả con gái cho Tấn Công, kết giao tình hữu hảo trăm năm!”

“Đó là Tấn thất, không phải Ngụy thất! Quả nhân đời này, không thu phục Hà Tây, chết không nhắm mắt!”

“Than ôi!” Trương Nghi lại thở dài. “Đại vương nóng vội quá rồi. Đại vương đã nhắc tới Hà Tây, thân là bách tính Hà Tây, Nghi cũng muốn nói đôi điều về Hà Tây. Thời Mục Công, phía nam Hà Tây là đất phong của Đại Lệ, Phụ Thị, Nhuế, phía bắc do người Bạch Địch chiếm cứ, không hề có liên quan gì với Tấn thất. Mục Công thế mạnh, các nước nhỏ đều quy về Tần, Bạch Địch rút lên phía bắc, bảy trăm dặm Hà Tây mới đầu là đất Tần. Sau này Tần Tấn bất hoà, Hà Tây là vùng giáp ranh, đương nhiên gặp hoạ đầu tiên, nhiều lần trở thành chiến trường. Ba nhà phân Tấn, tướng Ngụy Ngô Khởi xuất chinh Hà Tây, đánh đuổi người Tần, bảy trăm dặm sơn hà mới nhập vào đất Ngụy. Sau đó là chiến tranh Tần, Ngụy, anh qua tôi lại trên đất Hà Tây, cho tới khi Thương Quân đoạt lại Hà Tây.”

“Chuyện xưa như mây khói, quả nhân chỉ nhớ thù gần!”

“Vậy Nghi sẽ nói về thù gần với đại vương.” Trương Nghi thuận thế nói tiếp. “Tần và Ngụy đều tranh giành Hà Tây, tình giống mà thế không giống. Tình giống ở chỗ, Hà Tây dù là với Tần hay với Ngụy, đều là do tổ tiên bỏ sức giành về, do thần dân đổ máu đánh đổi. Còn thế không giống ở chỗ, Hà Tây đối với Tần là đất buộc phải có, còn đối với Ngụy lại khác nào cái tai của người điếc.”

“Ồ?” Hơi thở của Huệ Vương đã hơi dồn dập. “Trương Tử rõ ràng là thiên vị Tần!”

“Nghi không dám thiên vị Tần!” Trương Nghi bình thản đáp lời. “Khi Nghi sinh ra, Hà Tây đang thuộc Ngụy. Là người dân nước Ngụy, tiên tổ của Nghi đã từng đổ mồ hôi vì Hà Tây, tiên phụ của Nghi đã phải đổ máu vì Hà Tây, tiên mẫu của Nghi đã chết trong tay người Tần, gia sản của Nghi đều bị người Tần cướp đoạt, Nghi và Tần vốn có mối huyết thù, vì thế Nghi không thể, cũng không muốn thiên vị Tần!”

“Nếu đã như vậy, Trương Tử hãy thử nói xem, vì sao Hà Tây với Tần là đất buộc phải có, còn với Ngụy lại giống như cái tai của người điếc?”

“Kinh đô đầu tiên của Tần là Lịch Dương, chỉ cách Hà Tây có sông Lạc Thuỷ, đến thời Thương Ưởng, Tần dời đô tới Hàm Dương, cách Hà Tây cũng không quá ba trăm dặm, phi ngựa nước kiệu một ngày là tới, hơn nữa Hà Tây và Hàm Dương đất đai bằng phẳng, ngoài dòng Lạc Thuỷ bé nhỏ, hầu như chẳng có chỗ hiểm trở nào để cố thủ. Không có được Hà Tây, Tần Vương sao có thể kê cao gối ngủ? Thường có câu, suy ta ra người, giả sử đại vương là quân chủ nước Tần, sẽ đối đãi với Hà Tây thế nào đây?”

Huệ Vương khẽ chép miệng một cái.

“Với Ngụy, thế hoàn toàn khác. Cái tai của người điếc, nhìn thì đẹp mà vô dụng. Ngụy phía tây có Hà Thuỷ hiểm trở, phía nam có Hào Hàm kiên cố, Hà Tây ở trong tay, chẳng phải giống như cái tai của người điếc hay sao?”

Huệ Vương lại khẽ bặm môi.

“Tần được Hà Tây, Ngụy chiếm Hà Đông; Tần được Hàm Cốc, Ngụy được Hào Quan; hai bên đều có núi, sông làm ranh giới, đều có chỗ dựa dẫm, đáng lẽ nên kết tình láng giềng hoà mục mới phải, không ngờ đại vương lại khăng khăng muốn tranh đi đoạt lại với Tần quân, thực không sáng suốt!”

“Trương Tử…” Tần Vương ngắc ngứ một hồi, mới nghĩ được lời đối đáp. “Nếu quả nhân từ bỏ Hà Tây, biết ăn nói sao với mười mấy vạn anh linh đã xả thân vì Hà Tây đây?”

“Ngụy có anh linh, Tần cũng vậy. Võ binh uy mãnh đến vậy, còn có đến mười mấy vạn anh linh, thế thì số người Tần đã chết vì Hà Tây, chẳng cần nói ra cũng biết.”

“Trương Tử nói vòng vo qua lại, hẳn là tới đây làm thuyết khách cho Doanh Tứ, muốn quả nhân hai tay dâng Hà Tây cho hắn, phải không?” Huệ Vương mặt lộ vẻ giận.

“Không phải, Nghi tới đây, là muốn thực hiện một vụ trao đổi với đại vương?”

“Trao đổi gì?”

“Có câu, mất ở góc đông, thu ở góc tây. Nếu đại vương chịu nhường Hà Tây, Tần Vương tự nhiên cũng sẽ có đáp lễ!”

“Đáp lễ thế nào?”

“Đại vương hãy nhìn xem!” Trương Nghi lấy từ trong ngực ra một tấm bản đồ hình thế, chỉ vào vùng đất rộng lớn của nước Triệu ở phía đông Thái Hàng, tiếp giáp với nước Trung Sơn. “Từ đây tới đây, toàn bộ đất Triệu đều thuộc về đại vương, thế nào?”

Huệ Vương trợn mắt kinh hãi.

Đêm ấy, Huệ Vương cứ trằn trọc mãi không ngủ được. Lời nói của Trương Nghi cứ như từng nhát búa, nện liên hồi vào cái hùng tâm tuy đã già nua nhưng tráng chí vẫn chưa nguôi. Huệ Vương suy nghĩ nát óc, song mãi mà vẫn không thể nghĩ thông, có hơi hối hận vì bản thân do muốn che giấu nỗi kinh hãi trong lòng mà hạ lệnh đuổi khách quá sớm, đáng lẽ nên để Trương Nghi nói hết mới phải.

Buổi sáng hôm sau, Huệ Vương sai người triệu kiến Bàng Quyên tới, cất giọng nghi hoặc: “Lời Trương Tử nói hôm qua, cũng không phải hoàn toàn không có lý. Chỉ có điều… hắn nói sẽ cắt toàn bộ vùng đất phì nhiêu của người Triệu ở phía đông Thái Hàng cho quả nhân, hình như là có hơi… khoác lác chăng?”

Hôm qua từ lúc Trương Nghi yết kiến, tới lúc bị Huệ Vương đuổi đi, Bàng Quyên không chen vào lấy một câu. Không phải hắn không chen vào được, mà là không muốn lên tiếng, bởi lẽ hắn quá hiểu vị nhạc phụ đã ở tuổi xế chiều.

Lúc này được hỏi tới, Bàng Quyên biết là thời cơ đã đến, bèn hạ giọng đáp: “Nay là thời loạn, phải dựa vào sức mạnh để tồn tại, chứ không phân lớn nhỏ nữa. Mặt khác, Trương Nghi mưu sự, xưa nay chỉ mưu lớn không mưu nhỏ. Ở Sở diệt Việt, ở Tần diệt Ba, Thục, hai vùng đều rộng tới vài nghìn dặm, nếu đem so ra, nước Triệu vẫn là quá nhỏ!”

“Phải!” Ngụy Vương sốt sắng nói. “Nhưng thôn tính Triệu, quả nhân thực sự không dám nghĩ đến. Quả nhân triệu con tới, là muốn hỏi con một câu, nếu như phạt Triệu, thực sự có thể…” Dừng lại nửa vời, hai luồng nhãn quang hừng hực dục vọng nhìn xoáy vào Bàng Quyên.

“Phụ vương, nếu phạt Tần, nhi thần có thể chắc chắn năm phần, không dám nói bừa, song nếu phạt Triệu, nhi thần có thể chắn chắn mười phần, tuyệt đối không sai sót.”

“Mười phần?” Huệ Vương trong lòng chấn động, rồi lập tức lắc đầu. “Hai quân giao chiến, biến hoá khôn lường, thắng thua chỉ trong một ý niệm, hiền tế không nên khinh địch. Hơn nữa, người Triệu không phải là người Việt, cũng không phải là Ba, Thục, xâm chiếm dần dần còn được, song nếu muốn nuốt gọn một lần, quả nhân e là không thể dễ dàng đến vậy!”

“Lời của nhi thần, có lẽ nông cạn. Việc này do Trương Nghi đề xướng, phụ vương nếu có điều băn khoăn, cớ sao không cho triệu kiến Trương Nghi, nghe xem hắn giải thích thế nào!”

“Truyền chỉ, triệu kiến Trương Tử!”

Bàng Quyên hồi phủ, mời Trương Nghi tới, Huệ Vương sốt sắng nói ra toàn bộ những băn khoăn trong lòng suốt cả đêm qua cho Trương Nghi nghe, Trương Nghi ung dung giải thích lần lượt.

Huệ Vương nghe mà nhiệt huyết sôi trào, đang định thuận theo ý Trương Nghi, nhưng đột nhiên lại sực nhớ tới Huệ Thi, Chu Uy, bèn nói: “Lời Trương Tử hay thì có hay, chỉ e triều thần…”

“Nghi ở trong cung Tần nhiều năm, theo Nghi thấy, Tần Vương một khi đã quyết, thường bất chấp mọi lời bàn tán trong triều ngoài nội.” Trương Nghi khẽ mỉm cười.

Do dự thiếu quyết đoán cũng chính là nhược điểm của Ngụy Vương. Trương Nghi lúc này lại nhắc tới Tần Vương hành sự dứt khoát, cai trị Tần ngày càng hùng mạnh, khiến Huệ Vương nghe mà rát mặt. Thấy Trương Nghi hai mắt nhìn thẳng vào mình, có vẻ xem thường, Huệ Vương sắc mặt đỏ bừng, không nghĩ ngợi gì thêm, lập tức vòng tay nói liền: “Cảm phiền tướng quốc trở về bẩm báo Tần Vương, việc này đã có thể định đoạt, còn kế sách cụ thể ra sao, do Trương Tử và Bàng ái khanh cùng bàn bạc.”

“Hồi bẩm đại vương!” Trương Nghi cũng vòng tay nói. “Nghi giờ đã là thần dân, không còn là tướng quốc nữa!”

“Sao kia?” Huệ Vương sửng sốt, quay sang nhìn Bàng Quyên.

“Phụ vương!” Bàng Quyên gật đầu. “Trương Tử mười ngày trước đã từ chức tướng quốc, treo ấn xuất ải rồi!”

Ngụy Vương hít sâu một hơi, hai mắt nhìn Trương Nghi không chớp: “Dám hỏi Trương Tử, cớ sao lại từ chức?”

“Không giấu đại vương,” Trương Nghi chậm rãi đáp lời. “Tổ thái hậu cung Tần ỷ thế, bức bách chia rẽ Nghi và phu nhân, ép Nghi thành thân với Tử Vân công chúa. Lúc đó tổ thái hậu đang hấp hối, Nghi không biết phải làm sao, đành phải chấp thuận. Phu nhân hay tin, cho rằng Nghi ham mới bỏ cũ, nuốt lời phụ bạc, trong cơn tức giận, nửa đêm bỏ nhà ra đi, không biết về đâu. Phu nhân có ơn cứu mạng với Nghi, rất yêu thương Nghi, Nghi cũng rất mực yêu thương phu nhân. Sau khi thái hậu quy tiên, Nghi tức tốc lên đường, tìm tới tận ải Hàm Cốc, nghe quan giữ ải nói, mấy ngày trước, đúng là có một nữ tử qua ải về đông, lúc đi ngang qua, hương thơm sực nức. Phu nhân của Nghi bẩm sinh trên mình đã mang thơm lạ, nên gọi là Hương Nữ, Nghi hỏi về diện mạo, đích xác là phu nhân không sai, bèn quay về Hàm Dương, chẳng còn tâm trí đâu mà nghĩ tới triều chính, lập tức trả ấn từ biệt Tần Vương. Tần Vương cố giữ, Nghi khăng khăng thà chết không chịu. Phần vì thấy Nghi đã quyết, phần vì cảm động trước mối tình thâm giữa Nghi và phu nhân, Tần Vương không nỡ bức bách, đành phải ưng thuận, song muốn Nghi đồng ý một việc.”

“Đồng ý việc gì?” Huệ Vương vội hỏi.

“Bất cứ lúc nào, chỉ cần Nghi tìm được phu nhân, phải lập tức về Tần. Tần Vương giữ lại tướng phủ, niêm phong tướng ấn cho Nghi! Sau khi Nghi bỏ đi, quyết không bổ nhiệm tướng quốc!”

Huệ Vương nghe mà ngây người sửng sốt.

“Than ôi!” Trương Nghi thở dài sườn sượt. “Phu nhân là con gái của bề tôi nhà Ngô Công Tôn Điệt, Sở, Việt kịch chiến, Công Tôn Điệt và Việt Vương cùng chết, dũng sĩ thuộc hạ không sống sót một người, ngoài Nghi ra, phu nhân chỉ còn trơ trọi một thân. Nghi sống trên đời này, ngoài bằng hữu ở Quỷ Cốc, cũng chẳng còn ai thân thích. Bằng hữu ở Quỷ Cốc, Tôn Tẫn không biết ra sao, Tô Tần và Nghi có hiềm khích, phu nhân đều biết. Phu nhân qua ải về đông, Nghi suy đi nghĩ lại, phu nhân không còn chỗ nào để đi, hoặc giả sẽ tới Đại Lương tìm Bàng huynh giãi bày. Nghi đi thâu đêm, thẳng tới Đại Lương, yết kiến Bàng huynh, nhưng không ngờ…”

Trương Nghi nói tới đây, đau xót tột cùng, nước mắt giàn giụa.

Huệ Vương nhìn sang Bàng Quyên.

“Không giấu đại vương,” Trương Nghi nâng ống tay áo lau nước mắt, “Nghi không những không tìm được phu nhân, mà lại bị Bàng huynh kéo tới đây, cùng đại vương bàn chuyện thiên hạ.”

“Dám hỏi Trương Tử,” Huệ Vương ngả người về phía trước, tim đập thình thịch, “nay phu nhân đã không ở chỗ Bàng ái khanh, vậy Trương Tử định đi đâu tìm?”

“Biển người mênh mông, Nghi thực sự không biết tìm ở đâu.” Trương Nghi sắc mặt tràn đầy tuyệt vọng, khe khẽ lắc đầu, rồi lập tức siết chặt nắm tay. “Có điều, lòng Nghi đã quyết, dù phải tìm tới chân trời góc bể, Nghi cũng không chùn bước!”

“Nếu Trương Tử không biết phải tìm ở đâu,” Huệ Vương nở một nụ cười, “quả nhân có ý này.”

“Xin đại vương chỉ dạy!” Trương Nghi vòng tay nói.

“Trương Tử có thể tạm thời lưu lại đất Ngụy, quả nhân sẽ bố trí thuộc hạ, toả khắp liệt quốc tìm kiếm.”

“Vậy thì hay quá, có điều, Nghi ở lại đây, nếu không có việc gì làm, cũng thật vô vị!”

“Chuyện này quả nhân đã có sắp xếp!” Huệ Vương cười vang mấy tiếng, hoan hỷ không để đâu cho hết, vòng tay nói. “Quả nhân vô tri, muốn phó thác quốc sự cho Trương Tử, kính mong Trương Tử đừng chê!”

“Tạ ân tri ngộ của đại vương!” Trương Nghi lại vòng tay nói. “Tuy nhiên, đại vương trong có Huệ Tử, ngoài có Tô Tử, hai người đều là nhân tài tuyệt thế, Nghi không dám sánh ngang với họ! Lòng Nghi đã quyết, ngày mai lập tức từ biệt Bàng huynh, muốn tới nước Tề chu du một chuyến.”

“Nước Tề?” Huệ Vương sững sờ kinh ngạc. “Trương Tử tới nước Tề làm gì?”

“Nghi chẳng có tài cán gì khác, chỉ có tài miệng lưỡi, lần này tới Tề, một là tìm kiếm phu nhân, hai là muốn tới Tắc Hạ khoe tài ăn nói, mong kiếm chút cơm ăn!”

Nghe thấy lời này, Ngụy Vương mừng rơn trong dạ, vội vã đứng dậy, cúi gập người trước Trương Nghi, vòng tay, cất giọng sang sảng như chuông đồng: “Nước Tề dựa lưng vào biển, sao đủ chỗ cho đại bàng sải cánh? Quả nhân sẽ lập tức miễn chức tướng quốc của Huệ Thi, phó thác toàn bộ đất nước cho Trương Tử, kính mong Trương Tử đồng ý!”

“Đại vương!” Trương Nghi lật đật quỳ sụp xuống, dập đầu bình bịch, nước mắt giàn giụa nói. “Nghi nào có tài đức gì, mà được đại vương hậu ái đến vậy! Nghi vốn là dân nước Ngụy, cũng nên dốc sức vì đại vương!”

“Ái khanh mau bình thân!” Ngụy Huệ Vương vội bước lại gần, đỡ Trương Nghi dậy, đoạn quay sang nói với tỳ nhân. “Bày tiệc! Còn nữa, mời Thân Nhi bồi tiếp!”

Tại phòng khách phủ tướng quốc, không khí nặng nề.

Thái tử Thân, Chu Uy, Bạch Hổ, ba người sắc mặt trầm trọng, duy có Huệ Thi ngồi ở vị trí chủ, thần sắc điềm nhiên, hai mắt khép lại, song người tinh tế có thể phát hiện thấy, khoé miệng bên trái của ông khẽ giật, hiển nhiên trong lòng đang bất an.

“Tướng quốc đại nhân!” Bạch Hổ phá tan bầu yên lặng, cất giọng gấp gáp mà khẩn thiết. “Đại nhân hãy nói gì đi chứ. Trương Nghi tới đây, chính là nhằm vào đại nhân, giờ thì lửa đã cháy tới lông mày đại nhân rồi!”

Huệ Thi đang ngả người về phía trước, nghe vậy bèn ngồi thẳng dậy, khoé miệng thôi không còn giật nữa.

“Tướng quốc đại nhân!” Chu Uy vòng tay nói. “Tại hạ hiểu, tướng quốc không để tâm tới ngôi vị tướng quốc, song hiện giờ, vấn đề không phải là ngôi vị, mà là liên quan tới tương lai nước Ngụy, liên quan tới đại lược hợp tung! Mối thù Tần, Ngụy, không phải nói giải là có thể giải ngay được, Trương Nghi lần này tới đây, trên danh nghĩa là giúp Ngụy, song thực tế là ly gián Tam Tấn. Tô Tử nói rất đúng, Tam Tấn đều đối mặt với Tần phía tây, nếu sát phạt lẫn nhau, duy chỉ có lợi cho Tần.”

Huệ Thi lại ngồi thẳng lên chút nữa.

“Tiên sinh!” Thái tử Thân cũng vòng tay. “Ý thượng khanh muốn nói, Tam Tấn tuy có xích mích, song không thể thù địch lẫn nhau. Ngôi vị tướng quốc này, tiên sinh dứt khoát không được nhường lại.”

“Duy có Tô Tần mới trị nổi Trương Nghi!” Huệ Thi cuối cùng cũng bật ra một câu.

“Lời đại nhân thực chí lý!” Chu Uy đáp. “Tuy nhiên, từ lúc bại trận ở Hàm Cốc, đại vương chỉ nghe theo Vũ An Quân, Vũ An Quân phạt Tần thất bại, đổ tội cho Triệu, nên rất có thành kiến với Tô Tử, chúng tại hạ giải thích thế nào cũng không chịu nghe. Lúc này Trương Nghi lại tới, Tô Tử e rằng càng khó ăn khó nói hơn.”

“Còn một người nữa, có thể trị nổi Trương Nghi!” Huệ Thi lại nói.

“Người nào?” Chu Uy, Bạch Hổ cùng đồng thanh hỏi.

“Công Tôn Diễn!”

Chu Uy, Bạch Hổ đưa mắt nhìn nhau.

Một lát sau, Chu Uy gật đầu nói: “Là Công Tôn Diễn thì tốt quá. Nghe nói người này đã rời Tần từ lâu, tại hạ vẫn nhớ đến hắn, cho người tìm kiếm khắp nơi, nhưng tới nay vẫn chưa có hồi âm!”

“Người này đang ở Đại Lương!”

“Gì kia!?” Thái tử Thân, Chu Uy và Bạch Hổ đều giật mình sửng sốt.

Tại vùng ngoại ô Đại Lương, một cỗ xe ngựa lao nhanh như bay, cuốn theo cát bụi mịt mù. Cỗ xe từ từ chậm lại, rẽ về phía một gian nhà cỏ khuất nẻo.

Cánh cửa bện cỏ mở rộng, Chu Uy, Bạch Hổ nhảy xuống xe, vội vã vào trong.

Trong gian nhà cỏ không một bóng người, song ở giữa gian chính treo một đĩa đèn, hai đầu bàn xếp chồng vài chục cuốn thẻ tre, có một cuốn còn mới đang trải rộng trên mặt bàn, vài cây bút lông cắm nghiêng trong ống bút, bên cạnh bày nghiên và mực.

Chu Uy ngồi xuống trước bàn, nhìn vào cuốn thẻ tre, xem nét chữ, thấy rành rành là bút tích của Công Tôn Diễn thì thở phào một tiếng.

Chu Uy hất hàm ra hiệu, hai người bèn ngồi xuống trước bàn, mỗi người cầm một cuốn thẻ tre lên xem. Vừa xem được một lúc, bỗng dưng một con chó mực lao vọt tới, dừng lại trước cổng, chõ vào trong sủa lên ầm ĩ.

Chốc lát sau, Công Tôn Diễn đầu đội nón lá, mặc áo thô nâu, vác cày trên vai bước vào trong cửa. Chó cậy thế chủ, lao vọt vào trong nhà, đứng trước cửa chõ vào hai người sủa nhặng lên.

Công Tôn Diễn đặt cày xuống, quát chó đi ra, rồi sải bước vào nhà, vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ: “Chu huynh! Bạch huynh đệ!”

Ba người chia tay đã vài năm, nay lại gặp mặt, mừng vui không tả xiết.

“Không giấu Công Tôn huynh,” sau một hồi hàn huyên, Chu Uy chỉ vào những thẻ tre trên bàn, cảm thán tự đáy lòng, “qua tướng quốc mới biết huynh đang ẩn thân ở đây, tại hạ mãi vẫn không tài nào hiểu nổi. Vừa rồi giở xem cuốn thẻ tre này, mới biết nỗi khổ tâm của Công Tôn huynh!”

“Than ôi!” Công Tôn Diễn thở dài sườn sượt. “Không giấu hai vị, sau khi ra khỏi ải Hàm Cốc, tại hạ khổ sở suy nghĩ không biết đi đâu, rồi vẫn cứ quyết định trở về Ngụy. Không phải đất xưa khó bỏ, mà thực chất là vì muốn chế Tần. Người Tần nếu như bá chủ thiên hạ, ắt sẽ tiến về đông, nếu tiến về đông, ắt sẽ đánh Ngụy!”

“Lời Công Tôn huynh rất mực chí lý!” Chu Uy gật đầu thật mạnh. “Người Tần đã tới rồi!”

“Ồ?” Công Tôn Diễn nhìn sang.

Chu Uy đưa mắt cho Bạch Hổ, Bạch Hổ bèn đem tình hình triều cục gần đây kể hết một lượt cho Công Tôn Diễn nghe, từ chuyện Trương Nghi tới Ngụy, Trương Bàng liên kết, đến chuyện Ngụy Vương muốn bãi chức Huệ Thi để thay bằng Trương Nghi, rồi hai mắt khẩn thiết nhìn Công Tôn Diễn.

“Thay bằng Trương Nghi?” Công Tôn Diễn ngỡ ngàng. “Hắn không làm tướng quốc nước Tần nữa ư?”

“Nghe điện hạ nói,” Chu Uy đáp lời, “Trương Nghi bất hoà với cung Tần, tổ thái hậu nước Tần ép hắn thành hôn với Tử Vân công chúa, phu nhân của hắn bỏ đi mất tích. Trương Nghi không nỡ bỏ phu nhân, bèn trả ấn tướng ra khỏi ải Hàm Cốc, nói là muốn tìm phu nhân, thẳng tiến sang Ngụy.”

“Tổ thái hậu? Khước hôn? Từ chức tướng quốc? Tìm phu nhân?” Công Tôn Diễn rõ ràng chưa từng liệu tới những chuyện này, khép mắt suy ngẫm, miệng lẩm bẩm một mình. “Dùng những lời hoang đường này mà muốn che mắt Đại Ngụy ư?”

“Phải!” Bạch Hổ lo lắng nói. “Hiện tại tình thế cấp bách, nên ứng phó thế nào, xin Công Tôn huynh hãy mau mau hiến kế!”

“Trương Nghi lần này tới đây, chỉ có một mục đích.” Công Tôn Diễn bỗng mở choàng mắt, siết chặt nắm tay. “Liên hoành với Ngụy, chia rẽ Tam Tấn, phá vỡ hợp tung!”

“Công Tôn huynh nói chí phải, Huệ tướng quốc và Chu thượng khanh đều nói như vậy!”

“Không giấu hai vị,” ánh mắt của Công Tôn Diễn chuyển từ Bạch Hổ sang Chu Uy, “tại hạ ẩn cư ở đây đã hai năm, không phải là an phận cấy cày, mà là đang quan sát liệt quốc, nghĩ cách đối phó, tiêu diệt nước Tần lang sói. Tại hạ nghĩ đi nghĩ lại, thấy cách ứng phó duy nhất vẫn là kế sách hợp tung liệt quốc do Tô Tần khởi xướng. Trương Nghi liên hoành, chính là muốn phá sáu nước hợp tung.”

“Công Tôn huynh!” Chu Uy nhìn quanh gian nhà cỏ, lại nhìn bóng mặt trời, rồi quay người vòng tay nói. “Gian nhà cỏ này không phải nơi nghị sự, đất này càng không phải là chốn đậu của chim bằng, huynh hãy cùng chúng tại hạ trở về Đại Lương, cùng bàn bạc đại kế, đẩy lùi Trương Nghi!”

“Xem ra Chu huynh đã đói rồi!” Công Tôn Diễn bật cười, xắn tay áo, bước sang phòng bên, lấy ra một nắm rau xanh, xẻo một miếng thịt sấy treo trên xà nhà. “Nào, hai vị hãy giúp cho một tay, nhà cỏ bần hàn, song cũng có rượu ngon thức nhắm!”

Hai người cười vang, người nhặt rau, người nhóm bếp, mỗi người mỗi việc.

“Còn về chuyện đẩy lùi Trương Nghi, không cần bàn bạc, tại hạ đã có sẵn kế sách ứng phó rồi!” Công Tôn Diễn vừa thái miếng thịt sấy, vừa nói.

Chu Uy, Bạch Hổ đều nhìn cả sang.

“Khuyên can đại vương, bảo vệ Huệ tướng quốc!”

“Chỉ e đại vương quá tin Trương Nghi, có muốn khuyên cũng không được!” Chu Uy đáp.

“Có một người, hoặc giả sẽ khuyên được đại vương!”

“Người nào?”

“Thái tử!”

Không ngoài dự đoán của Công Tôn Diễn, Ngụy Huệ Vương quả nhiên cho triệu thái tử tới để bàn về chuyện này.

“Thân Nhi!” Sau bữa tối, Huệ Vương gọi thái tử Thân lại. “Huệ Tử làm tướng quốc đã nhiều năm, nước Ngụy vẫn chưa thịnh trị. Phụ vương đang nghĩ, có lẽ Huệ Tử là người khiêm hoà, không đủ quyết đoán. Thiên hạ ngày nay, liệt quốc đều xưng vương, dòm ngó cắn xé lẫn nhau, không có sức mạnh thì không thể ứng phó. Trương Tử từ chức tướng quốc nước Tần sang nước ta, phụ vương cho rằng, Trương Tử cùng học ở Quỷ Cốc với Vũ An Quân, vừa mới xuất sơn đã giúp Sở diệt Việt, sang Tần lại giúp Tần diệt Ba, Thục, tài năng của người ấy hơn Huệ Tử gấp trăm lần. Phụ vương đang muốn bãi chức Huệ Tử, ban thưởng vàng bạc châu báu, phủ trạch cho ông ta, để ông ta ở Ngụy dưỡng già, thảnh thơi biện luận danh thực, còn gánh nặng trị quốc hãy chuyển sang Trương Tử, ý con thế nào?”

“Phụ vương!” Thái tử Thân đáp lời. “Tướng quốc là rường cột của quốc gia, lập tướng đổi tướng, phụ vương hãy cứ định đoạt.”

Huệ Vương cười lớn: “Thân Nhi, theo như con nói, tướng quốc là rường cột của quốc gia, nên chọn ai làm tướng, là việc cực kỳ hệ trọng. Phụ vương già rồi, gánh nặng cung Ngụy cuối cùng sẽ đặt lên vai con, tài của tướng quốc, cuối cùng cũng là để con sử dụng, con suy tính thế nào, phụ vương chắc chắn sẽ cân nhắc!”

“Phụ vương nếu nghe nhi thần, thì nhi thần lại không chủ trương thay tướng quốc!” Thái tử Thân thái độ khác hẳn ngày thường, ngữ khí cực kỳ dứt khoát.

Huệ Vương lấy làm kinh ngạc, chau tít đôi mày: “Con thử nói xem, cớ sao lại không?”

“Nhi thần cho rằng, trước mắt thay tướng, có ba điều không thoả đáng. Thứ nhất, Huệ tướng quốc tài đức vẹn toàn, trong triều ngoài nội đều thừa nhận. Thứ hai, Huệ tướng quốc là người chí công vô tư, không thiên không lệch, có thể cân nhắc lợi hại mọi mặt. Thứ ba, Huệ tướng quốc xử lý chính sự suốt mấy năm qua, dù là kế xa hay mưu gần, đều không có gì sơ sảy, còn chuyện sáu nước phạt Tần, Huệ tướng quốc không hề chủ trương, mà do Vũ An Quân…”

“Đủ rồi!” Huệ Vương sắc mặt sa sầm, giơ tay chặn lời thái tử. Một lát sau, dường như lại thấy không thoả, nét mặt bình hoà trở lại, miễn cưỡng nở một nụ cười, quay sang tỳ nhân nói. “Truyền Huệ Thi!”

Khi Huệ Thi tới, Huệ Vương sắc diện đã trở lại ôn hoà, tươi cười nắm lấy tay Huệ Thi, dẫn tới hậu hoa viên, cùng đi tản bộ quanh hồ.

Hai người bước tới phía dưới một vạt liễu, Huệ Thi cứ thế bước đi, không chú ý dưới chân, chân trái vấp phải một hòn đá, loạng choạng một cái rồi ngã nhào xuống đất.

Huệ Vương vội bước lại, đỡ lấy ông ta.

“Tạ ơn đại vương nâng đỡ!” Huệ Thi phủi bụi đất trên người, rồi vòng tay cảm tạ Huệ Vương.

“Có sao không?” Huệ Vương quan tâm hỏi.

“Thần không sao.” Huệ Thi lại vòng tay đáp.

Huệ Vương cười vài tiếng, cất giọng quan hoài, song lại đầy ẩn ý: “Chân cẳng của ái khanh thật là…”

“Thần già rồi!” Huệ Thi cười nhăn nhó, lắc đầu.

“Nếu quả nhân nhớ không nhầm, ái khanh đã qua ngũ tuần rồi chăng?”

“Đại vương thánh minh, tới tháng lưu hoả(1) này, thần đã sống tạm năm mươi cái xuân thu.”

“Ồ!” Huệ Vương cố tình co duỗi tay chân một hồi. “Quả nhân đã quá lục tuần, hơn ái khanh đúng mười tuổi, nhưng xem tay chân quả nhân…” Rồi đắc ý nhìn sang Huệ Thi, tỏ ý khoe khoang.

“Thần mệnh hèn sức mọn, sao có thể sánh với long thể của đại vương?”

“Ha ha ha, ái khanh nói hay lắm!” Huệ Vương bật cười, ngữ khí càng thêm thân mật. “Hẳn ái khanh những năm qua toan lo việc nước, khiến cơ thể mệt mỏi quá độ.” Rồi đưa tay ra đỡ Huệ Thi, dắt tay ông ta, tiếp tục bước đi. “Ái khanh, nhắc tới chuyện này, quả nhân cũng có ý muốn cho khanh được nghỉ ngơi, tìm nơi tĩnh nhàn để tu thân dưỡng tính, an hưởng tuổi già, những chuyện nhọc tâm này hãy để cho người trẻ gánh vác, thế nhưng…” Dừng lại nửa chừng, khẽ thở dài một tiếng.

“Tạ ơn đại vương yêu mến!” Huệ Thi rút tay ra, lại vòng tay vái tạ.

“Chỉ có điều,” Huệ Vương lại kéo lấy ống tay áo Huệ Thi, “quả nhân thực sự không muốn xa rời ái khanh. Người hiểu lòng quả nhân, duy chỉ có ái khanh!”

“Dám hỏi đại vương, muốn ai thay thế cho thần?” Huệ Thi vờ như không biết.

“Trương Tử thế nào?” Huệ Vương dừng bước, nhìn thẳng vào Huệ Thi. “Trương Tử năm nay ba mươi lăm, đúng vào độ tuổi sung sức!”

“Độ tuổi sung sức, thần đã qua rồi!” Huệ Thi cũng nhìn thẳng vào Huệ Vương. “Có điều, đại vương hẳn đã từng nghe câu chuyện ‘Thiếp già hầu chồng’?”

“Quả nhân kiến văn hạn hẹp, khanh hãy kể xem!”

“Một người thiếp về già, nhan sắc tàn phai, bị chồng đuổi ra khỏi cửa để lấy vợ mới. Người thiếp già khóc lóc, không chịu đi, đại vương có biết vì sao không?”

“Ờ…” Huệ Vương nghe ra ẩn ý, ngập ngừng một lát mới nghĩ ra câu trả lời. “Hẳn là người thiếp không biết điều!”

“Không phải không biết điều, mà là nặng lòng với gia đình! Nay thần phụng sự đại vương, cũng giống như người thiếp già hầu chồng vậy!”

Thực là một ví von chua xót. Huệ Vương trầm ngâm buồn bã, cúi đầu không nói.

“Đại vương!” Huệ Thi cất lời sâu xa. “Người thiếp đã già, vốn dĩ chẳng màng danh lợi, đáng ra cũng nên biết điều mà đi. Song thiếp già sở dĩ khóc lóc, không chịu đi, là vì cô dâu mới lòng dạ khó lường, không phải người hiền thục.”

Huệ Vương hít ngược một hơi khí lạnh, một lát sau, mới run giọng hỏi: “Dám hỏi ái khanh, Trương Tử lòng dạ khó lường thế nào?”

“Vì hắn muốn mưu toan tài sản của nhà chồng mới!” Huệ Thi dằn mạnh từng tiếng.

Làm tướng quốc đã nhiều năm, lần đầu tiên Huệ Thi nói với Huệ Vương bằng giọng chắc nịch đến vậy.

Huệ Vương lại hít vào một hơi, trầm ngâm suy nghĩ rất lâu, rồi mới ngẩng lên cười nói: “Thường có câu, lấy chồng theo chồng, nếu đã gả vào nhà người ta, cần phải mưu tính giúp chồng mới phải.”

“Đàn bà bình thường, lấy chồng theo chồng,” Huệ Thi nói thẳng vào đề, “song người đàn bà này, có mưu đồ khác, bởi lẽ ả vẫn lưu luyến chồng cũ, được gả tới đây, là do chồng cũ sắp đặt, dùng nhan sắc để dụ dỗ người chồng mới.”

Lời này nếu xuất phát từ miệng Chu Uy, hẳn Huệ Vương đã có suy nghĩ khác, song lại được nói ra từ miệng Huệ Thi, khiến ông ta rùng mình ớn lạnh.

“Đại vương!” Huệ Thi khẩn khoản. “Thiếp thân đã già, sắc đã tàn, phụng sự không thể chu đáo, đại vương muốn lấy vợ khác, thiếp già nào dám ngăn cản? Thiếp già chỉ có một lời khuyên, nếu đại vương cưới vợ mới, nên mở to huệ nhãn mà chọn lấy một nàng dâu trẻ trung, hiền thục, một dạ trung thành, mới có thể hưng gia vượng thất, làm lợi cho con dân!”

“Dám hỏi ái khanh, trong thiên hạ này, liệu có người vợ như vậy?”

Huệ Thi gật đầu.

“Ái khanh hãy nói thử xem, người này là ai?”

“Công Tôn Diễn!”

“Công Tôn ái khanh? Hiện đang ở đâu?”

“Ở ngay Đại Lương.”

“Tốt quá!” Huệ Vương phấn chấn, hai mắt sáng bừng, nắm chặt tay Huệ Thi. “Cảm phiền ái khanh hãy mời Công Tôn ái khanh tới đây, quả nhân tưởng nhớ đã lâu rồi.”

Đã bao năm qua, trải bao biến cố, cuối cùng người Ngụy Công Tôn Diễn cũng đã được gặp Ngụy Vương trong ngự thư phòng cung Ngụy.

Để đón tiếp Công Tôn Diễn, tỳ nhân đã hết sức tận tâm, đích thân dọn dẹp trong ngoài thư phòng một lượt, còn châm ba nén hương thơm thượng hạng, chừng một canh giờ, hương thơm lan toả, không khí thanh tân. Ngụy Vương tắm gội thay y phục, bảo tỳ nhân mang đến năm cuốn thẻ tre mà Công Tôn Diễn để lại, đặt lên bàn, đang đọc thì thấy nội thần túc trực dẫn Công Tôn Diễn tới.

Cùng tới còn có cả Huệ Thi và thái tử Thân. Thái tử Thân là do Huệ Vương đặc biệt triệu tới.

Huệ Vương không tuyên triệu mà đích thân ra đón.

Thấy Huệ Vương ra đón, Công Tôn Diễn mình mặc áo vải vội vòng tay vái chào: “Con dân Công Tôn Diễn khấu kiến đại vương!”

Huệ Vương không vái trả, hai mắt sáng rực ngắm nghía Công Tôn Diễn một lượt, rồi bước lên vài bước, nắm lấy tay Công Tôn Diễn nói: “Công Tôn Diễn ơi là Công Tôn Diễn, con dân này đã khiến quả nhân nhớ nhung suốt bao nhiêu năm qua!”

“Diễn cảm tạ đại vương có lòng yêu mến!” Công Tôn Diễn lại vái mà nói.

Huệ Vương nắm lấy ống tay áo Công Tôn Diễn, cùng sánh bước vào cửa, vua tôi bốn người lần lượt ngồi vào chỗ. Huệ Vương lại nhìn Công Tôn Diễn chăm chú một lát, rồi vòng tay, thở dài mà nói: “Than ôi, không giấu ái khanh, khanh tới Tần làm mưa làm gió, quả nhân mới biết mình đã sai rồi!”

“Đại vương thánh minh!” Công Tôn Diễn vòng tay đáp lễ, tác phong chừng mực ôn hoà. “Từ sau khi rời Tần, Diễn náu mình nơi thôn dã, cày cuốc ruộng đồng, thân là phường áo vải, không dám xưng khanh!”

“Soạn chỉ!” Huệ Vương quay sang tỳ nhân. “Người Ngụy Công Tôn Diễn liệt vào hàng thượng khanh, ban một toà khanh phủ, ba mươi đĩnh vàng, ba mươi nô bộc, năm mươi súc lụa!”

Tỳ nhân ghi lại từng điều.

Công Tôn Diễn rời khỏi chỗ ngồi, khấu bái sát đất: “Diễn tạ ơn đại vương hậu thưởng, tuy nhiên, thưởng phạt là chuyện lớn của quốc gia, không có công không nhận lộc, cũng là phép tắc cổ xưa, thân là con dân, Diễn chưa có mảy may công lao nào với Ngụy, nên bạo gan khẩn cầu đại vương thu hồi mệnh lệnh, đợi Diễn tạo dựng công trạng, rồi ban thưởng sau cũng chưa muộn!”

Huệ Vương thoáng sững người, rồi lập tức cười đáp: “Ái khanh quá khiêm nhường rồi!” Chỉ vào năm cuốn thẻ tre trên bàn. “Chỉ dựa vào năm cuốn trường sách trị Ngụy này, cũng đã đủ để phong khanh tước hầu! Không giấu ái khanh, năm cuốn sách này, quả nhân đã đọc không biết bao nhiêu lần, thực là lời lời châu ngọc, đả kích thẳng thắn tệ nạn đương thời! Đáng tiếc là sách lược này có đầu không đuôi, thiếu mất năm sách lược sau, thực khiến quả nhân nuối tiếc mãi không thôi. Giờ thì hay quá, đã có ái khanh bên cạnh, quả nhân không còn phải lo năm sách lược tiếp sau nữa, thực là tận hứng.”

“Đại vương yêu lầm rồi!” Công Tôn Diễn lại bái lạy. “Khi thần viết mười cuốn sách này, là nhằm vào là tệ nạn trước đây. Nay vật đổi sao dời, mớ thẻ tre này đã thành ra vô dụng, có thể bỏ xó được rồi.”

“Ồ?” Huệ Vương sửng sốt. “Trị Ngụy ra sao, lẽ nào ái khanh lại đã có sách lược hay?”

“Hồi bẩm đại vương!” Công Tôn Diễn dõng dạc nói. “Từ sau khi rời Tần qua ải, Diễn sống ẩn cư ở vùng thôn dã đã hai năm có lẻ, âm thầm suy ngẫm chuyện thiên hạ, muốn phá giải loạn cục, thế nhưng, suy đi tính lại, mọi cách phá giải đều không qua nổi Tô Tần. Thiên hạ duy có hợp tung, mới có thể cân bằng thế lực, đại vương duy có hợp tung, mới có thể thịnh trị lâu dài.”

Ngụy Vương ngả người ra phía sau, khẽ khép mắt lại, hồi lâu, lại nhổm người về phía trước, vòng tay nói: “Cảm tạ ái khanh chỉ giáo. Này ái khanh!” Quay sang Huệ Thi, nở một nụ cười. “Huệ Tử đã chán ngán ngôi vị tướng quốc, chỉ một lòng muốn đàm luận danh thực với cao nhân, có ý muốn nhường lại chức vị cho Công Tôn ái khanh, dám hỏi ý ái khanh thế nào?”

“Tạ ơn đại vương coi trọng! Tạ ơn tướng quốc đại nhân hậu ái!” Công Tôn Diễn lần lượt vòng tay vái hai người. “Không phải là Diễn thoái thác, mà thực sự là Huệ tướng quốc đức cao vọng trọng, trí tuệ hơn người, Diễn còn xa mới theo kịp. Nếu đại vương không ghét bỏ, nếu tướng quốc có lòng yêu, Diễn nguyện làm tiểu tốt trước ngựa trong tướng phủ, dốc sức phụng sự đại vương!”

Ngụy Vương bật cười vài tiếng: “Ái khanh, lễ hiền sĩ, dùng người tài, là đại sự của đất nước. Huệ tướng quốc và ái khanh đều là tướng tài của quốc gia, có thể sớm tối ở bên quả nhân, quả nhân đã mãn nguyện lắm rồi. Còn như ai là tướng quốc, quả nhân sẽ không nhiều lời, trong vòng ba ngày, do hai vị ái khanh bàn bạc quyết định, rồi tấu báo lên quả nhân, quả nhân sẽ ban chiếu trong buổi đại triều!”

Cả Huệ Thi lẫn Công Tôn Diễn đều sửng sốt, nhìn nhau hồi lâu, rồi khấu đầu tạ ân.

Hay tin Công Tôn Diễn chen chân vào, Bàng Quyên vô cùng kinh hãi.

Từ sau khi cứu Bạch Hổ khỏi sòng bạc của Trần Chẩn, Bàng Quyên trong lòng vô cùng vì nể Công Tôn Diễn. Công Tôn Diễn chỉ một cánh quân mà phản kích quân Tần trong trận Hà Tây, ứng phó điềm tĩnh khi sáu nước phạt Tần (Bàng Quyên vẫn không biết đó là mưu kế của Trương Nghi), đều khiến Bàng Quyên phải kinh ngạc mà nể phục. Người này ở Tần, Bàng Quyên lấy làm nuối tiếc, thế nhưng, người này trở về Ngụy đã vài năm, hơn nữa hầu như ngày nào cũng quanh quẩn ngay trước mắt hắn, vậy mà hắn lại không hề hay biết.

Phản ứng đầu tiên của Bàng Quyên là đánh xe tới phủ tư đồ, muốn cùng Bạch Hổ đến thăm Công Tôn Diễn. Bạch Hổ không tiện từ chối, hai người lên xe ra thẳng ngoại ô, tìm tới gian nhà cỏ, bên trong không một bóng người, con chó mực đương nhiên cũng không thấy đâu. Hai người chờ một hồi lâu, rồi đành phải tiếc nuối quay về.

Bàng Quyên buồn bã hồi phủ, thấy Trương Nghi ngồi một mình trong phòng khách, trước mặt là một ấm trà nóng, đang tự rót tự uống.

“Trương huynh, tại hạ đang định tìm huynh đây!” Bàng Quyên ngồi xuống đối diện với Trương Nghi, cầm lấy chén trà hắn vừa đẩy lại.

“Hẳn là chuyện của Công Tôn Diễn?” Trương Nghi cười hỏi.

“Trương huynh đã biết?” Bàng Quyên kinh ngạc.

Trương Nghi cười vài tiếng: “Không giấu Bàng huynh, tại hạ và Công Tôn huynh vốn là tri kỷ, Công Tôn huynh ở đâu, làm gì, tại hạ đều biết rõ, không gì không hay!”

“Huynh thử nói xem!” Bàng Quyên nhấp một ngụm trà. “Người này ẩn mình nhiều năm, đột nhiên xuất hiện, là vì chuyện gì?”

“Tranh chức tướng quốc với tại hạ.”

“Tranh chức tướng quốc?” Bàng Quyên băn khoăn. “Người này về Ngụy đã vài năm, nếu muốn tranh chức tướng quốc, cớ sao sớm không tranh, muộn không tranh, lại đợi đúng lúc này mới tranh.”

“Bởi vì tại hạ đã tới!” Trương Nghi lại cười. “Bàng huynh đã nghe câu nói ‘hai ngựa một máng’ chưa? Một ngựa một máng, ăn chẳng có vị gì; hai ngựa một máng, mới có đua tranh! Công Tôn Diễn và tại hạ, chính là như vậy.”

Bàng Quyên cũng bật cười, giọng điệu có phần khinh mạn. “Trương huynh đã đề cao Công Tôn Diễn quá rồi. Theo tại hạ biết, như tại hạ và Tôn huynh, Trương huynh và Tô huynh mới là đối thủ! Tứ tử ở Quỷ Cốc, thiên hạ không ai sánh bằng.”

“Bị Bàng huynh nói trúng rồi!” Trương Nghi nâng chén trà, giữ ở trên tay. “Có điều, Bàng huynh đã phần nào hiểu sai ý tại hạ. Nghi và Tô huynh là tranh giành thiên hạ, còn Nghi và Công Tôn Diễn là tranh giành bang quốc, vật bị tranh giành có khác, nên dư vị cũng khác!”

“Hay, hay lắm!” Bàng Quyên cũng nâng chén trà, nói. “Trương huynh chỉ nghĩ chuyện lớn! Dám hỏi Trương huynh, người này đã tới đây chung máng, Trương huynh định ứng chiến thế nào? Nên có kế sách mới phải!”

“Kế sách chỉ có một!” Trương Nghi nâng chén trà về phía Bàng Quyên. “Thỉnh cầu Bàng huynh giúp đỡ! Mưu lược lớn trong thiên hạ hiện nay, không tung thì hoành, nếu đúng như suy đoán của tại hạ, Công Tôn Diễn gặp đại vương, ắt lại giương lên chiêu bài hợp tung của Tô Tần. Quyền thần của Ngụy thất, không ai không chủ trương hợp tung, hơn nữa đám Chu Uy, Bạch Hổ càng có quan hệ mật thiết với Công Tôn Diễn. Nếu đại vương tin theo họ, ắt bỏ hoành mà theo tung, tại hạ thì không sao, nhưng Bàng huynh thì e là không dễ xoay xở!”

Bàng Quyên không nói thêm một lời, lập tức đi thẳng tới vương cung, yết kiến Huệ Vương.

Ngụy Vương quả nhiên đang băn khoăn trăn trở về chuyện tung hoành. Tung, có lẽ sẽ được ổn định; hoành, có lẽ sẽ thành tựu nghiệp lớn. Tung, Công Tôn Diễn, Huệ Tử; hoành Trương Nghi, Bàng Quyên. Tung, được thái tử cực lực ủng hộ; hoành, lại là tâm niệm của bản thân.

“Hiền tế tới thật đúng lúc.” Bàng Quyên vừa ngồi vào chỗ, Huệ Vương đã nhìn hắn cười gượng một tiếng. “Trương Tử muốn hoành, Công Tôn Diễn muốn tung, là hoành hay tung, quả nhân nghĩ đến đau đầu nhức óc!”

“Phụ vương, thiên hạ vốn chỉ luận tung, chưa từng nghe nói tới hoành. Phụ vương nghe lời Tô Tần, đứng ra đảm đương chức tung ước trưởng, đoá hoa hợp tung nở rộ ở Mạnh Tân, héo tàn ở Hàm Cốc. Thiên hạ ngày nay, tung suy mà hoành xuất. Lợi hại của tung hoành, không nói cũng biết. Phụ vương đã gặp Công Tôn Diễn, hẳn là người này đã có kiến giải mới đối với thuyết hợp tung của Tô Tử. Lý không biện giải sẽ không rõ ràng, nhi thần khẩn cầu phụ vương lại hẹn Trương Tử lần nữa, để nghe hắn luận về hoành!”

“Cho mời Trương Tử!”

Trương Nghi đã đứng sẵn ngoài cung, nghe thấy tuyên triệu, lập tức vào ngay.

Quân thần hành lễ xong xuôi, Huệ Vương vòng tay, vào ngay chuyện chính: “Nghe Trương Tử luận hoành, quả nhân cảm thấy rất mới mẻ, cứ thế suy nghĩ tới tận hôm nay. Tuy nhiên, luận hoành lớn lao, mà quả nhân lại ngu muội, hôm nay thỉnh cầu Trương Tử giải thích rõ ràng, mong được Trương Tử chỉ giáo.”

“Khởi bẩm đại vương,” Trương Nghi khẽ vòng tay, không còn vẻ khách sáo, khí thế như cầu vồng. “Luận tung nghìn tơ vạn mối, luận hoành lại chỉ có một lý: cậy thế dựa lực, đại chiến diệt quốc!”

Huệ Vương thân tâm chấn động, miệng há hốc.

“Đại vương hãy xem!” Trương Nghi thuận tay lấy ra một tấm da dê, bên trên là bản phác thảo hình thế thiên hạ do chính hắn vẽ ra. “Cường địch của Ngụy là ba nước lớn Tần, Tề, Sở, dựa vào thực lực trước mắt của Ngụy, nếu giao tranh với Tề, sức mạnh ngang ngửa, nếu giao tranh với Sở, Tần, sức mạnh không bằng. Tuy nhiên, nếu Ngụy có thể thống nhất Tam Tấn, độc chiếm Trung Nguyên, thì phía tây có thể giao tranh Tần, phía đông có thể bức ép Tề, phía nam có thể uy hiếp Sở, đại cục thiên hạ đã có thể định!”

Huệ Vương ngả người về phía trước, cặp mắt già nua rực lên những tia sáng tham lam, nhìn chằm chằm vào tấm da dê nhỏ bé trước bàn Trương Nghi.

“Nếu đại vương theo hoành,” Trương Nghi chỉ vào nước Tần, “phía tây không còn phải lo lắng. Có Tần ở cạnh, Sở không dám manh động, đại vương có thể phạt Triệu trước, rồi quét sạch nước Hàn, trong vòng ba năm, có lẽ sẽ thống nhất được Tam Tấn, sửa chính càn khôn.”

“Trong vòng ba năm?” Huệ Vương nhắc lại như không thể nào tin nổi, nhìn sang Bàng Quyên, rồi ánh mắt lại quay về Trương Nghi. “Ý Trương Tử là, trong vòng ba năm, quả nhân có thể diệt Triệu?”

“Là trong vòng một năm!” Trương Nghi siết chặt nắm tay khẳng định.

“Trương Tử…” Huệ Vương càng thêm kinh hãi. “Hãy nói thử xem, Trương Tử có sách lược gì mà đánh bại được Triệu thất trong vòng một năm.”

“Đại vương hãy xem,” Trương Nghi chỉ vào Trung Sơn, “gần đây nghe nói Trung Sơn và Triệu lại xảy ra giao tranh vùng biên giới. Đại vương có thể hẹn gặp Trung Sơn, cắt đứt ải Phẫu, nam bắc giáp công, đất Triệu phía đông Thái Hàng, không có địa thế hiểm trở để cố thủ; đất Triệu phía tây Thái Hàng, Tần mượn đất Ngụy, xuất quân Tấn Dương, đánh thẳng tới Đại Đô. Người Triệu có mạnh tới mấy, nếu bị cắt đứt làm đôi, đông tây không tiếp ứng cho nhau, muốn giữ được tông miếu là rất khó!”

Huệ Vương không giấu được đắn đo: “Triệu là nước khởi xướng hợp tung, nếu quân ba nước Tề, Triệu, Hàn đều tới trợ giúp thì làm thế nào?”

“Đại vương yên tâm!” Trương Nghi dõng dạc nói. “Người Hàn vừa sợ Ngụy, lại cũng sợ Tần. Ngụy, Tần liên minh phạt Triệu, tin chắc Hàn không dám manh động. Sở, Triệu nằm cách Hàn, Ngụy, với sự sáng suốt của Sở Vương chắc chắn sẽ không vì Triệu mà bất hoà với Ngụy. Còn Yên, Yên Vương hiện nay là con rể của Tần Vương, không dám không nghe bố vợ. Cứu tinh của Triệu, đếm đầu ngón tay, chỉ có người Tề.” Nhìn sang Bàng Quyên. “Nếu Tề cứu Triệu, ắt dùng tướng quân Điền Kỵ. Dùng Điền Kỵ để tranh đấu với Bàng huynh, dùng binh lính Tề để giao chiến với võ binh Đại Ngụy, Tề Vương tuy đã già, song chưa đến nỗi hồ đồ đến vậy!”

“Người Tề xuất binh,” Bàng Quyên đấm thẳng xuống bàn, “tại hạ cũng đang chờ đợi chuyện này.”

“Bàng huynh phạt Triệu, nếu thuận đường đánh bại người Tề,” Trương Nghi dựng ngón tay cái lên, “đúng là một trận chiến mà định càn khôn!” Lại chỉ vào bản đồ. “Tam Tấn quy về một mối, đại vương lập tức dẫn quân xuống phía đông, thuận thế đánh đuổi người Tề ra tận Doanh Châu ngoài biển, lúc đó Ngụy hợp Tam Tấn đã có thể ngồi yên mà thu lấy Tề, Yên, cùng lưu vực sông Tứ, nước Tần độc hưởng Đại Sở, thiên hạ chia đôi, chẳng phải kỳ diệu lắm ư?”

Huệ Vương nghe mà nhiệt huyết sôi trào, dã tâm bành trướng, vòng tay lia lịa mà nói: “Nghe đồn tứ tử ở Quỷ Cốc, có được một đã được thiên hạ, quả nhân độc chiếm nhị hiền, văn võ song toàn, còn lo gì thiên hạ không định nổi!”

Ba ngày sau, trong buổi đại triều, Huệ Vương ban chiếu bãi miễn Huệ Thi, lập Trương Nghi làm tướng quốc.

Thiên hạ một phen chấn động.

Trong phủ tướng quốc Đại Ngụy, Huệ Thi chậm chạp thu dọn hành trang trong thư phòng, gói ghém những món tế nhuyễn mà mình yêu thích. Trong sân đỗ một hàng dài chục cỗ xe ngựa, năm cỗ là do Ngụy Vương ban thưởng, năm cỗ còn lại là do Huệ Thi mua bằng lương bổng. Hai tên đầy tớ và một nữ tỳ đang chân tay thoăn thoắt xếp đồ lên xe, đồ đạc phần lớn là thẻ tre, được xếp chồng từng bó gọn gàng.

Một cỗ xe ngựa lao thẳng tới trước phủ, từ trên xe, Trương Nghi nhảy xuống.

Quản gia bước ra đón, cung kính mời Trương Nghi vào trong.

Huệ Thi vẫn tiếp tục thu dọn đồ đạc, không buồn ngẩng đầu lên, như thể không nhìn thấy Trương Nghi.

Trương Nghi sụp xuống khấu đầu, nói: “Tiên sinh ở trên, xin nhận của Trương Nghi một lạy!”

“Huệ Thi xin chúc mừng Trương Tử!” Huệ Thi ngoảnh đầu. “Ngồi đi!”

Trương Nghi đứng dậy, ngồi xuống vị trí khách.

“Tướng quốc đại nhân tới đây, là nôn nóng muốn lập tức nhập phủ, hay là để đưa tiễn lão hủ?” Huệ Thi liếc xéo hắn một cái, rồi bước lại vị trí chủ ngồi xuống.

“Là tới tạ lỗi với đại nhân!” Trương Nghi vòng tay nói. “Nghi lần này tới Ngụy, có nhiều chỗ đắc tội, mong được đại nhân lượng thứ!”

“Gió nổi sóng dậy, sóng sau xô sóng trước, Trương Tử tuổi trẻ sức mạnh, có mưu lược lớn, đảm đương chức vị này là rất nên, cớ sao lại phải tạ lỗi?” Huệ Thi hơi vòng tay, cất giọng bình thản.

“Nghi tới còn có một việc!”

“Xin cứ nói!”

“Nhìn vào hành trang trên xe, tiên sinh hẳn là đi xa. Tại hạ mạo muội muốn hỏi tiên sinh, định dừng chân tại nơi nào?”

“Tướng quốc có gì chỉ dạy?”

“Tiên sinh học vấn uyên thâm, có thể dạo chơi Tắc Hạ. Nghe nói Thuần Vu Tử sớm đã chán ngấy chức tế tửu, chỉ muốn du ngoạn thiên hạ. Nếu tiên sinh tới đó, với tài đức của tiên sinh, hẳn là người thích hợp.”

“Đa tạ tướng quốc tiến cử!” Huệ Thi cười nhạt, đứng dậy vòng tay nói. “Đại nhân còn có điều gì căn dặn chăng?”

“Tạ ơn tiên sinh nâng đỡ!” Trương Nghi cũng đứng dậy, vái một vái dài, rồi xoay người, rảo bước đi luôn.

Trương Nghi đi khỏi chưa được bao lâu, thái tử Thân, Bạch Hổ, Chu Uy cùng hẹn mà tới, ra sức khuyên can Huệ Thi hãy lưu lại Đại Lương để chờ cơ duyên, song Huệ Thi chỉ lặng im không nói.

“Dám hỏi tiên sinh,” Thấy Huệ Thi ý đã quyết, thái tử Thân vòng tay hỏi, “chuyến này định tới nơi nào?”

“Mới vừa nãy, tân tướng quốc đặc biệt đến tiễn đưa, đã chỉ đường cho lão hủ rồi!”

“Trương Nghi?” Chu Uy sửng sốt.

“Phải, hắn muốn lão hủ tới Tắc Hạ, hoặc giả sẽ có được chức tế tửu!”

“Tiên sinh hẳn sẽ không nghe lời hắn!” Bạch Hổ thuận miệng tiếp lời. “Tiên sinh đi chuyến này, chắc là tới Sở.”

Huệ Thi nhìn thẳng vào Bạch Hổ hồi lâu, bật cười vài tiếng, rồi gật gù nói: “Tiểu tử mấy ngày không gặp, đã thấy tiến bộ!” Rồi thu lại nụ cười, đưa mắt nhìn qua mọi người một lượt, gằn mạnh từng tiếng. “Thiên hạ hiện nay, chế được bạo Tần, duy có Đại Sở mà thôi!”



Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử