Từ ngày Tô Tần ra đi, Luận Chính đàn không mở thêm lần nào nữa. Không khí bất an bao trùm phố Sĩ Tử, chúng sĩ tử lục tục thu dọn hành lý, lũ lượt rời bỏ đất này để tìm đến nơi khác. Cung Tần cũng không níu kéo, phố Sĩ Tử vốn tập nập là thế, chẳng bao lâu đã trở nên vắng vẻ đìu hiu.
Qua ngày mười lăm tháng giêng, Trúc Viễn thấy Tần Công vẫn không có động tĩnh gì, bèn bảo Giả Xá Nhân thu dọn hành lý, chuẩn bị trở về núi Chung Nam. Kỳ thực hành lý cũng chẳng có gì, ngoài mấy bộ quần áo mặc thường ngày, còn có thêm một đống thẻ tre, được họ thu thập ở Hàm Dương hoặc từ chỗ sĩ tử liệt quốc trong mấy năm qua, dự định mang về trên núi cho người mới học để mở rộng kiến văn.
Do thẻ tre quá nhiều, họ phải gọi đến hai cỗ xe ngựa để chở. Lúc này, hai cỗ xe đã đỗ trong sân. Trúc Viễn hết nhìn đống thẻ tre ngất ngưởng, lại nhìn hai cỗ xe ngựa, ước tính không thể chất hết lên hai xe; hơn nữa, dù có chất được hết, cũng khó mà chở được tới Hàn Tuyền, nên lại ngồi xuống lựa chọn, rồi bó lại thành từng bó. Giả Xá Nhân khuân từng bó thẻ tre đã được sư huynh lựa kỹ xếp lên trên xe. Khi đã chất đầy một xe, bèn sửa sang ngay ngắn rồi lấy dây thừng buộc lại cho chắc chắn.
Chằng buộc một lúc, Giả Xá Nhân ngẩng đầu nhìn Trúc Viễn, trầm ngâm nói: “Sư huynh, chúng ta vẫn chưa tìm được đại hiền cho chúa thượng, lần này trở về, liệu tiên sinh có trách không?”
Trúc Viễn vẫn đang lựa chọn thẻ tre, không buồn ngẩng đầu lên, thở dài mà nói: “Than ôi, người nên đến đã đi mất rồi còn đâu!”
Lời vừa nói dứt, từ ngoài cổng bỗng vang lên một giọng nói hùng hậu: “Người không nên đi lại đang muốn bỏ đi ư?”
Trúc Viễn, Giả Xá Nhân giật thót, ngẩng đầu nhìn lên thì thấy Huệ Văn Công, Sư Lý Tật đang đứng ngay trước cổng, vội quỳ xuống dập đầu hô: “Thảo dân khấu kiến chúa thượng!”
Huệ Văn Công vội bước lại, đỡ họ dậy, mỉm cười nói: “Hai vị tiên sinh miễn lễ!”
Trúc Viễn, Giả Xá Nhân cảm tạ, rồi vòng tay đứng sang một bên.
Huệ Văn Công đưa mắt nhìn cỗ xe đầy ắp thẻ tre, lại nhìn đống thẻ tre đang chờ xếp trên đất và cỗ xe trống, rồi quay sang hỏi Trúc Viễn, Xá Nhân: “Hai vị muốn bỏ đi thật ư?”
Trúc Viễn, Giả Xá Nhân đưa mắt nhìn nhau, rồi cùng gật đầu.
“Ồ!” Huệ Văn Công khẽ thở dài. “Doanh Tứ tới đây, vốn định khẩn cầu hai vị giúp cho một việc lớn, không ngờ hai vị lại sắp ra đi.”
Trúc Viễn ngẩn người, mở to mắt nhìn Huệ Văn Công: “Chúa thượng muốn thảo dân làm việc gì?”
“Tìm Tô Tử, mời hắn trở lại Hàm Dương!”
Trúc Viễn, Giả Xá Nhân đều bàng hoàng kinh ngạc, đứng sững hồi lâu, không ai nói câu nào, đều quay sang nhìn Sư Lý Tật, thấy ông ta còn ngơ ngác hơn.
Huệ Văn Công mỉm cười nói: “Hai vị hẳn đang nghĩ, Tô Tử tìm tới tận cửa, quả nhân chê bỏ không dùng. Giờ Tô Tử quay lưng đi rồi, quả nhân lại cuống quýt đuổi theo, khác nào vứt áo rồi lại tìm áo, tự bày thêm việc cho mình?”
Những người có mặt đều không nhịn được cười.
Huệ Văn Công thu lại nụ cười, thở dài một tiếng: “Than ôi, chư vị có điều không biết, không phải quả nhân không dùng Tô Tử, mà là giữa Tô Tử và quả nhân không có duyên phận!”
Thái độ của Huệ Văn Công đối với Tô Tần thay đổi xoành xoạch, khiến ba người Sư Lý Tật, Trúc Viễn, Giả Xá Nhân đều thấy mơ hồ như lạc giữa biển sương, thảy đều giương mắt nhìn Huệ Văn Công không chớp.
Huệ Văn Công nhìn họ một lượt rồi nói: “Nghe Mạnh Tử người Trâu có nói: ‘Trời sắp giao trọng trách cho người nào, trước tiên ắt khiến kẻ đó tâm chí khổ sở, gân cốt mệt mỏi, cơ thể đói khát, thân người rệu rã’, quả nhân cũng biết tài của Tô Tử, sở dĩ hết lần này tới lần khác chèn ép không cất nhắc, chẳng qua là muốn làm chùn nhuệ khí của hắn, khích lệ tâm trí của hắn, để chờ ngày trọng dụng.”
Quả là một lý do rất hay. Ba người đưa mắt nhìn nhau, rồi lại nhìn Huệ Văn Công.
“Hỡi ôi!” Huệ Văn Công lại tiếp tục than thở. “Ai ngờ Tô Tử là người nóng vội, nói đi là đi ngay, khiến quả nhân trở tay không kịp. Khi nhận được tin Tô Tử bỏ đi, quả nhân lập tức sai người đuổi theo mời về, không ngờ tuyết rơi mù mịt, không thấy tăm hơi. Sau lại sai Sư Lý ái khanh tiếp tục tìm kiếm, được biết Tô Tử đã rời khỏi nước Tần. Gần đây quả nhân nghĩ lại chuyện này, thấy rằng tuy kế sách của Tô Tử quá ư huyễn hoặc, song hắn vẫn là đại tài trị quốc. Quả nhân muốn nhờ hai vị đây vất vả một chuyến, tìm cách mời Tô Tử trở lại, nói với hắn rằng, quả nhân muốn uỷ thác quốc sự cho hắn!”
Trúc Viễn từ từ di chuyển ánh mắt sang Giả Xá Nhân, Giả Xá Nhân bèn gật đầu. Trúc Viễn vòng tay nói: “Chúa thượng nhìn xa nghĩ rộng, thảo dân hôm nay mới biết. Chúa thượng coi trọng Tô Tử như vậy, thực là may mắn cho Tô Tử. Tiết Thanh minh sắp tới, thảo dân muốn về Hàn Tuyền tảo mộ cho sư tổ, việc tìm Tô Tử, xin hãy giao cho Xá Nhân, chúa thượng thấy có được chăng?”
Huệ Văn Công quay sang Giả Xá Nhân, vòng tay nói: “Đã nói vậy, phải làm phiền Giả tiên sinh một chuyến!”
Giả Xá Nhân vòng tay đáp lễ: “Xá Nhân nguyện góp chút sức mọn!”
***
Tháng hai mùa xuân, tiết trời trở ấm, cây cỏ xanh rờn.
Bên bãi đập lúa của nhà họ Tô phía bắc thôn Hiên Lý, Thiên Thuận đang cùng Địa Thuận, em gái họ và mấy đứa trẻ hàng xóm chơi trò trốn tìm quanh mấy đống rơm. Khi tới lượt Thiên Thuận trốn, cậu bé chạy như bay tới túp lều, định nấp vào đống cỏ bên trong. Nào ngờ vừa tới cửa, con Mực đã nhảy xổ ra, chực sủa lên, song thấy là Thiên Thuận thì vẫy đuôi tít mù, đứng chặn ngang trước mặt cậu bé. Thiên Thuận đi vòng qua con Mực, vẫn muốn chạy vào bên trong, song con chó há miệng cắn chặt lấy ống quần cậu bé, kéo ngược trở ra, rồi đứng chắn ở cửa, dứt khoát không cho vào. Thấy thời gian trốn không còn nhiều, Thiên Thuận sốt ruột, gắng sức xô bật con Mực ra, xông vào trong cửa.
Đúng lúc đó, Thiên Thuận đứng khựng lại, ngây người kinh hãi.
Bên cạnh đống cỏ khô sát góc lều, Tô Tần đầu tóc rối bù, mặt mày vàng xạm ngồi ngay ngắn dưới đất, hệt như pho tượng, lưng quay về phía cửa, tay cầm thẻ tre, đang chăm chú đọc. Có lẽ do quá nhập tâm, nên không hề hay biết trận giằng co vừa nãy.
Hẳn là Tô Tần đang buồn ngủ, mí mắt sụp xuống, đầu gật một cái, thẻ tre suýt rơi khỏi tay. Tô Tần vội ngồi lại cho vững, tiện tay với lấy chiếc dùi nhọn bên cạnh, “sột” một cái đâm thẳng vào đùi. Thấy mũi dùi nhọn xuyên thẳng xuống, Thiên Thuận vội nhắm tịt mắt lại, đến khi mở mắt ra, đã thấy chiếc dùi nằm ở chỗ cũ, Tô Tần tay vẫn cầm thẻ tre say sưa đọc. Thiên Thuận nhìn xuống phía dưới, thấy máu tươi chảy ròng ròng nơi mắt cá chân. Nhìn kỹ lại, thấy trên cổ chân còn rất nhiều vệt tím đen đông cứng, không cần nghĩ cũng biết ống quần màu đen của Tô Tần đã nhuốm đầy những máu, chỉ là không thể nhìn ra.
Thiên Thuận không thiết trốn nữa, vội quay đầu co cẳng chạy trở ra. Mấy đứa trẻ vừa tìm tới cửa, thấy cậu bé chạy ra, mừng rỡ xô lại túm lấy. Thiên Thuận đẩy bật chúng ra, cuống quýt chạy thục mạng về nhà.
“Bà ơi, bà…” Gần tới cổng, Thiên Thuận gọi toáng lên.
“Thiên Thuận, gọi gì bà thế?” Tô Diêu thị vẫn cắm cúi sàng gạo trong sân, cất tiếng hỏi.
“Bà ơi, chú hai, chú ấy… chú ấy…” Thiên Thuận chạy tới dưới gốc cây xuân, tựa lưng vào gốc cây, thở hổn hển nói không ra hơi.
“Chú hai làm sao?” Tô Diệu thị giật mình kinh hãi, đặt vội sàng xuống, ngẩng đầu lên hỏi.
“Chú hai, chú ấy… chú ấy lấy dùi… đâm… đâm vào đùi!” Thiên Thuận nói ngắt quãng trong tiếng thở dốc.
“Thiên Thuận, con nói nhăng nói cuội gì thế?” Vợ Tô Lệ đang ngồi khâu vá trong phòng, nghe vậy liền bước ra, cất giọng châm chọc. “Chú hai của con thông minh lắm, chẳng động đến tay chân, ngồi chơi xơi nước cả ngày, bắt người ta cơm bưng nước rót hầu tận miệng, làm gì có chuyện tự mình đâm mình?”
“Mẹ!” Thiên Thuận sốt ruột. “Con đâu dám nói nhăng nói cuội! Thật đấy, con tận mắt thấy chú hai lấy dùi…” rồi bắt chước bộ dạng Tô Tần đâm thẳng xuống đùi, “thế này này, máu chảy đầy chân, cổ chân toàn là vết máu!”
Tô Diêu thị kinh hãi rụng rời, không nói nổi câu nào, đứng bật ngay dậy, chân thấp chân cao chạy ra khỏi cổng.
Vợ Tô Đại bụng chửa vượt mặt cũng bước ra, thấy bộ dạng hoảng hốt của Tô Diêu thị, vội hỏi vợ Tô Lệ: “Chị dâu, có chuyện gì vậy?”
“Còn chuyện gì vào đây được nữa?” Vợ Tô Lệ hất hàm ra phía cổng. “Cậu con trai quý hoá của mẹ lấy dùi tự đâm mình!”
“Tự đâm mình?” Vợ Tô Đại kinh ngạc. “Sao anh hai lại làm thế?”
“Hừm!” Vợ Tô Lệ hậm hực nói. “Đều do mẹ chiều chuộng quá mức mới thành ra thế, thật không công bằng! Em dâu thử nói xem, có mảnh đất ruộng tốt nhất cũng bị chú ấy đem đi bán, mà bán cho ai không bán, lại đi bán cho tay lý chính họ Lưu kia! Em biết không, cả đám ruộng chú ấy chỉ bán có ba mươi lượng, cái giá bèo bọt như thế, chỉ có kẻ đại ngốc mới nghĩ ra. Còn cha nữa chứ, đang khoẻ mạnh là vậy, cũng bị chú ấy làm cho tức uất mà thành bại liệt! Còn nữa, chị còn nghe nói, chú ấy mang ba mươi lượng vàng đổi lấy xe ngựa hào nhoáng, quần gấm áo cừu, đi khắp nơi khoe khoang. Còn con chó kia, cũng là do chú ấy bỏ ra cả một túi tiền để mua về! Em nói thử xem, có con chó nào đáng giá cả một túi tiền không? Nói thật với em, từ sau khi biết được chuyện này, chị uất ức nghẹn họng, hễ nhìn thấy con chó, chị lại giận sôi máu, chỉ muốn đánh cho nó một trận! Em dâu cứ chờ mà xem, rồi sẽ có một ngày, chị sẽ phải làm thịt con súc sinh đó!”
Nghe thấy nói làm thịt con Mực, Thiên Thuận sợ hãi, vội quỳ thụp xuống đất nói: “Mẹ ơi, đừng giết con Mực, con cầu xin mẹ đấy!”
“Cút mau!” Vợ Tô Lệ quát thẳng vào mặt Thiên Thuận. “Oắt con vắt mũi chưa sạch, biết cái gì! Không lo theo cha học cấy cày cho giỏi, sau này chỉ có nước giống như chú hai mày thôi, phá gia bại sản không nói, còn tự lấy dùi đâm mình, xem có đau chết mày không!”
Thiên Thuận bị mẹ mắng sa sả, không còn dám nhắc tới chuyện con Mực nữa, len lén chuồn ra khỏi cổng.
Lời nói của vợ Tô Lệ khiến vợ Tô Đại sực nhớ tới cái dùi, bất giác bật khóc mà nói: “Anh hai thành ra nông nỗi này, đều trách em cả!”
Vợ Tô Lệ ngớ người: “Em dâu ngốc, chú ấy thành ra như vậy, sao lại trách em?”
“Mấy hôm trước mẹ nói cái dùi của mẹ cùn rồi, khó dùng, muốn mượn dùi của em, em đã cho mẹ mượn, mẹ lại cho anh hai mượn. Như vậy… chẳng phải là em hại anh hai ư?” Vợ Tô Đại thút thít đưa tay áo lên lau nước mắt.
Vợ Tô Lệ ngẩn ra một lúc, rồi bật cười mà nói: “Được rồi được rồi, giờ là lúc nào mà em dâu còn khóc được? Em mà khóc, em bé trong bụng sẽ nghe thấy. Em bé thấy mẹ buồn, cũng sẽ buồn theo. Em bé sắp chào đời rồi mà buồn bã, không phải chuyện hay đâu!”
Nghe chị ta nói vậy, vợ Tô Đại lập tức nín bặt, không dám khóc nữa.
Vợ Tô Lệ dường như sực nhớ ra, bèn hỏi: “À, Ma Cô dự tính em dâu sinh vào ngày nào nhỉ?”
Vợ Tô Đại trả lời ngay: “Theo dự tính của Ma Cô, ba ngày nữa sẽ sinh!”
“Vậy chắc là đúng đấy!” Vợ Tô Lệ khen ngợi. “Ma Cô đúng là tính toán như thần! Không giấu em dâu, Thiên Thuận và con bé con nhà em sinh ra đúng như dự tính của Ma Cô, xê dịch trước sau không quá ba ngày. Địa Thuận càng chính xác hơn nữa, không sai lấy một ngày, chỉ hơi lệch giờ!”
Hai chị em dâu mỗi người một câu, trò chuyện âu yếm với đứa bé trong bụng, song từng câu từng chữ lại như mũi dao nhọn hoắt đâm nát trái tim Tiểu Hỷ, lúc này đang ngồi khâu đế giày dưới mái hiên. Nghĩ tới chuyện mình khó khăn lắm mới lấy được chồng, sau khi xuất giá, không những chưa một lần sinh nở, mà đến mùi đàn ông còn chưa biết tới, nỗi tủi hờn này thực không biết giãi bày cùng ai, hai tay dần bất động, đầu cúi gằm xuống, nước mắt giàn giụa ướt đẫm khuôn mặt.
Thiên Thuận chuồn ra khỏi cổng, đứng ngẩn một lát ở bên ngoài, mới co giò chạy về phía bãi đập lúa phía bắc thôn. Vừa tới nơi, đã thấy Địa Thuận, em gái họ và mấy đứa trẻ đang đứng túm tụm bên ngoài cửa lều, thò cổ ngó vào trong. Con Mực ngoe nguẩy đuôi trước cửa, nhìn thấy Thiên Thuận tới, vội chạy ra mừng quấn quýt. Chợt nhớ mẹ vừa nói sớm muộn gì cũng sẽ làm thịt con Mực, Thiên Thuận thấy sống mũi cay sè, bèn cúi xuống ôm lấy con chó vuốt ve.
Thiên Thuận vừa định đứng dậy, bỗng thấy đám Địa Thuận nhăn mặt lùi hết ra ngoài, lát sau, lại thấy bà nội tay cầm chiếc dùi đáng sợ kia, gạt nước mắt bước ra khỏi cửa.
Tô Diêu thị đứng lặng một hồi trước cửa lều, đưa ống tay áo lên lau nước mắt, chệnh choạng bước về phía Thiên Thuận, rồi vẫy tay gọi đám Địa Thuận lại. Tô Diêu thị đưa mắt nhìn bọn trẻ, thở dài mà dặn rằng: “Thiên Thuận, cả các cháu nữa, bắt đầu từ hôm nay, không đứa nào được phép bước chân vào trong lều cỏ!”
Lũ trẻ gật lấy gật để.
“Cũng không được chơi ở bãi đập lúa này nữa. Thôn mình rộng như vậy, các cháu chơi đâu chẳng được!”
Nghe thấy nói không được chơi ở bãi đập lúa, đám trẻ đều im lặng, không nói câu nào.
“Có nghe thấy không?” Tô Diêu thị lắc lắc chiếc dùi trong tay. Nhìn thấy chiếc dùi nhọn hoắt dính máu, lũ trẻ cùng sợ hãi đồng thanh: “Dạ, nghe thấy rồi!”
***
Tô Tần ở thôn Hiên Lý sớm đã trở thành chủ đề bàn tán khắp các thôn làng phố xá Lạc Dương. Bỏ nhà đi biệt sáu năm trời mới về, bán ruộng lấy tiền mua quần áo sang trọng, xe ngựa xa hoa tới đất Tần, sau đó đói rách trở về, càng là đề tài đàm tiếu tại quán trà tiệm nước. Lần này lại cầm dùi đâm đùi, qua lời kể khuếch trương của vợ Tô Lệ, cũng nhanh chóng lan truyền khắp thôn xóm chẳng khác gì gió thổi.
Ấp Hà Nam là một thành cổ ở bờ tây Lạc Thuỷ, là thực ấp được phong của Tây Chu Công. Buổi chiều hôm nay, trong một quán trà cũ kỹ tại phố Nam Nhai ấp Hà Nam, một đám người nhàn rỗi ngồi quây quanh bàn, vừa uống trà vừa nghe một người ngồi giữa nói chuyện phiếm.
Người này khoảng bốn mươi tuổi, vóc dáng gầy gò, đang khoa tay múa chân, mặt mày hớn hở mà nói: “Các vị nghe này, những năm gần đây đúng là chuyện lạ nào cũng có. Các vị có nghe nói không, phía đông Y Thuỷ có một ấp tên là Y Lý, phía bắc ấp Y Lý có một thôn tên là Hiên Lý, trong thôn có một gia đình họ Tô, chủ hộ tên là Tô Hổ…”
Có người sốt ruột xen ngang: “Kể chi tiết thế để làm gì? Chẳng phải là anh hai ngốc họ Tô ở Hiên Lý đấy ư? Hắn lại giở trò gì nữa?”
“Trò gì ấy à?” Anh gầy lừ mắt lườm người này. “Nếu ngươi biết thì tự nói đi!”
Người này tặc lưỡi một cái, ngồi im không nói gì nữa.
Anh gầy chặn họng kẻ kia xong, hớp một ngụm trà, đưa mắt nhìn khắp đám đông: “Các vị có ai biết không?”
“Biết gì?” Từ ngoài cửa có một người bước vào, lớn giọng hỏi.
Mọi người quay lại nhìn, hoá ra là một cậu công tử bột ở gần đó, vội vã đứng dậy vòng tay chào. Anh gầy kia cũng đứng dậy, cúi gập lưng xuống, cười nịnh nọt mà nói: “Cơn gió nào thổi Lục thiếu gia tới chốn bần hàn này vậy?”
Lục thiếu gia cười ha hả, xua tay nói: “Miễn lễ, miễn lễ! Ngồi, ngồi cả đi!” Rồi vén áo dài gấm, làm bộ dạng cao kỳ ngồi xuống, nhìn về phía anh gầy. “Vừa rồi ngươi đang nói gì thế?”
Đám người đều ngồi xuống, anh gầy vòng tay nói: “Bẩm thiếu gia, tiểu nhân đang nói, nhà họ Tô thôn Hiên Lý có cậu con trai thứ hai, đọc sách tới hoá điên!”
“Ồ?” Lục thiếu gia hào hứng ra mặt, nhổm người về phía trước hỏi. “Điên như thế nào?”
“À, ờ…” Anh gầy ra bộ ngập ngừng.
Lục thiếu gia móc từ trong tay áo ra một xu tiền đồng, đặt đánh “cạch” xuống bàn, nói với tiểu nhị: “Tiểu nhị, mang trà lên đây! Hôm nay bản thiếu gia mời khách, ai cũng có phần, đây là tiền trà!”
Tiểu nhị cầm tiền, pha một ấm trà cho hắn. Đám người cùng vòng tay vái tạ. Lục thiếu gia đáp lễ, rồi lại nhìn sang anh gầy: “Nói đi, gã đó điên như thế nào?”
Anh gầy lúc này mới chép miệng một cái, lại bắt đầu hoa chân múa tay: “Điên như thế nào ư, thiếu gia hãy nghe tiểu nhân nói đây! Anh con trai thứ hai nhà họ Tô tên là Tô Tần, từ nhỏ đã khác người, chỉ ưa chơi bời lêu lổng, không biết chí thú làm ăn. Sáu năm trước, cha hắn vất vả lắm mới cưới được vợ về cho hắn, vậy mà hắn vừa bái đường xong, chưa kịp động phòng, đã biến mất tăm mất tích. Hắn đi liền một mạch vài năm, năm ngoái bỗng dưng trở về nhà, Tô lão hán cứ ngỡ hắn hồi tâm chuyển ý, vui mừng không để đâu cho hết, bèn phân ruộng chia nhà. Nào ngờ vừa cầm khế đất trên tay, hắn đã bán quách mười lăm mẫu ruộng đứng tên mình đi, nghe nói bán cho nhà Lưu lý chính được ba mươi lượng. Các vị nghe xem, ruộng này là do Chu thiên tử ban tặng cho tổ tiên Tô gia, toàn là ruộng thượng đẳng, tên tiểu tử đó lại chỉ bán có ba mươi lượng, đúng là đại ngốc! Rồi tên tiểu tử này mang ba mươi lượng vàng đi mua xe sang ngựa đẹp, quần gấm áo cừu, vênh vang tới nước Tần. Kết quả thế nào? Chưa đầy ba tháng, xe ngựa chẳng còn, mà quần gấm áo cừu cũng mất, tiểu tử kia mình mặc thứ áo bông đen trũi của người Tần, đeo tay nải rách nát lếch thếch trở về, khiến Tô lão hán uất ức tới trúng gió, trở thành bại liệt!” Kể đến đây, lắc đầu lia lịa, bật ra một câu. “Than ôi, người với chả ngợm!”
Lục thiếu gia ngây người: “Nghe mãi, đã thấy tiểu tử đó có gì điên đâu!”
“Còn chưa điên ư?” Anh gầy trợn mắt hỏi lại. “Có nhà không chịu ở, cưới vợ không ngủ cùng, suốt ngày ở trong túp lều dột nát cùng một con chó đen, mặt không rửa, quần áo không thay, cả tháng trời không bước chân ra khỏi cửa, hoặc ngồi thẫn thờ, hoặc nói lảm nhảm, nhìn hắn lúc này, đầu tóc rối bù, râu ria lởm chởm, ba phần giống người, bảy phần giống quỷ. Hãy khoan nói tới chuyện này, vừa rồi tôi còn nghe thấy, hắn lấy dùi tự đâm vào đùi mình, tới mức máu chảy ướt đẫm hai chân. Thiếu gia thử nói xem, như thế còn không điên thì gọi là gì?”
Lục thiếu gia vội hỏi: “Vì sao hắn lấy dùi đâm mình?”
Anh gầy trả lời luôn: “Nghe nói hắn đang mải đọc sách, đọc tới lúc nào ngủ gật thì cầm dùi đâm vào đùi.”
“Hay!” Lục thiếu gia gật gù. “Chuyện này hay đấy. Lát nữa về nhà, bản thiếu gia sẽ kể cho ông già nghe. Ông già cả ngày ép bản thiếu gia đọc sách, bản thiếu gia phải nói cho ông già biết, đọc sách mà thành ra như vậy thì hay ho nỗi gì!” Dừng lại một lát, đột nhiên sực nhớ ra một chuyện, bèn đưa mắt nhìn khắp một vòng. “Nghe nói, mấy hôm nay có một người gảy đàn thường đến quán trà này, hễ người này gảy đàn, đến trâu bò cũng phải rơi lệ, có chuyện này chăng?”
Anh gầy gật đầu.
“Người đâu?” Lục thiếu gia ngó nghiêng hỏi.
Anh gầy hất cằm ra cửa, đám người không hẹn mà cùng nhìn cả về phía đó. Lục thiếu gia nheo mắt nhìn, quả nhiên thấy một ông lão quần áo rách rưới ngồi thu lu ở đó. Ông lão chớp mắt vài cái, khó nhọc đứng dậy.
Thấy chỉ là một lão ăn mày, Lục thiếu gia khẽ chau mày, càu nhàu: “Bản thiếu gia đang hỏi một vị cầm sư danh giá kia mà, sao lại là một lão ăn mày?” Quay sang anh gầy, tỏ vẻ không tin. “Cầm sư lẽ nào lại là người này?”
Anh gầy gật đầu.
Lục thiếu gia lại chau mày, lên giọng nói: “Này, lão già kia, bản thiếu gia mải nghe chuyện lạ, suýt quên mất việc chính. Ông già nhà ta nghe nói lão gảy đàn xuất thần, bảo bản thiếu gia tới mời lão về phủ gảy vài khúc!” Rồi móc ra một xu tiền đồng, vung tay ném tới trước mặt cầm sư. “Đây là tiền thưởng, lão cầm đi!”
Cầm sư dường như không nghe thấy, cũng không thèm đếm xỉa tới Lục thiếu gia, càng không nhìn đến đồng xu trên đất, chỉ lom khom thân người, gắng gượng đứng dậy. Anh gầy vội đứng lên, chạy ra đỡ lấy cầm sư. Cầm sư liếc anh ta một cái, cúi xuống nhấc hộp đàn lên, ôm vào trong lòng, khó nhọc lê từng bước ra ngoài.
Lục thiếu gia cuống lên, đứng dậy đuổi theo vài bước: “Lão già kia… à không, lão tiên sinh, mau đứng lại!”
Cầm sư vẫn không thèm đếm xỉa, cứ tiếp tục bước đi.
Lục thiếu gia lại đuổi theo mấy bước nữa, lớn tiếng nói: “Lão tiên sinh, bản thiếu gia thưởng lão một lượng! À không, ba lượng!”
Cầm sư vẫn không hề dừng bước.
Lục thiếu gia sửng sốt, giậm mạnh chân, nhổ “phì” một tiếng, nói với theo sau lưng cầm sư: “Hừm! Lão già chết tiệt, đúng là không biết điều!”
***
Thật đúng như dự tính của Ma Cô, ba ngày sau, trời vừa hửng sáng, vợ Tô Đại đã ôm bụng kêu la oai oái. Tô Đại cuống lên, vội vã đi gọi Tô Diêu thị. Tô Diêu thị sớm đã nghe thấy tiếng kêu, chạy đến trước cửa.
“Đại Nhi, mau đi gọi Ma Cô, nghe tiếng kêu kiểu này, hẳn sắp sinh rồi!” Tô Diêu thị lập tức giục giã.
Tô Đại không nói một lời, co cẳng chạy luôn khỏi cửa. Vợ Tô Lệ, Tiểu Hỷ đều đã nghe thấy tiếng kêu, chạy xúm cả lại. Tô Diệu thị sai Tiểu Hỷ đun nước nấu cơm, còn mình và vợ Tô Lệ trực ở trong phòng, chuẩn bị các thứ cần thiết. Tô Lệ thấy mọi người bận rộn tất bật, mà mình chẳng giúp được gì, lại không chịu được tiếng kêu rên của em dâu, bèn quyết định mang nông cụ ra ruộng làm việc.
Một lát sau, Ma Cô tất tả theo Tô Đại chạy vào sân, vừa đến cửa đã gọi toáng lên: “Bà chị ơi!”
Nghe thấy tiếng gọi của Ma Cô, Tô Diêu thị mới thở phào, đon đả chạy ra đón: “Đến rồi đấy à, mau lên mau lên, mau vào phòng!”
Ma Cô cười nói: “Không giấu bà chị, trời còn chưa sáng, em đã mơ một giấc mộng đẹp, cười sung sướng mà tỉnh giấc luôn. Em vừa bước ra sân, còn đang hồi tưởng lại giấc mơ thì cậu ba nhà chị đã tới gọi cửa.” Miệng cười nói tíu tít, chân bước thoăn thoắt, loáng cái đã vào trong phòng, tới bên giường vợ Tô Đại, vuốt vuốt bụng chị ta, lại nghe ngóng một hồi, cười nói. “Phải rồi, cậu nhóc này đã nhịn hết nổi, đòi chui ra rồi!”
Nghe thấy tiếng Ma Cô, mọi người đều thấy yên tâm, vợ Tô Đại cũng bớt kêu la, mỉm cười nói với Ma Cô: “Cô tới rồi, cháu yên tâm hẳn!”
Ma Cô vỗ nhẹ vai vợ Tô Đại, cười hỉ hả mà nói: “Cháu gái ngoan, có Ma Cô ở đây, cháu cứ yên một trăm hai mươi cái tâm đi! Không giấu gì cháu, trong vòng dọc ngang mười dặm này, liệu có chàng trai, cô gái nào chào đời mà không qua tay Ma Cô không?”
Mọi người đều cười.
Cả nhà tất bật tới lui, vậy mà đứa trẻ lại không hề sốt ruột, tới giờ Mão rồi mà vẫn chưa chịu ra. Vợ Tô Đại cũng đã thấm mệt, tiếng kêu rên lúc cao lúc thấp, cho thấy sức đã cạn.
Ma Cô bèn an ủi: “Cháu gái ngoan, cháu đừng kêu rên nữa, hãy nhắm mắt lại, giữ sức, đợi lúc nào sinh còn dùng!” Rồi quay sang nói với vợ Tô Lệ. “Này vợ Tô Lệ, mau đun nóng lại nước đi!” Quay sang Tô Diêu thị. “Chị gái, chị đi nấu một bát canh trứng, cho thêm mười quả táo khô vào, nhớ ninh táo cho nhừ đấy!” Dừng lại một lát, sực nhớ ra, lại hỏi. “Ồ, sao không thấy Tiểu Hỷ đâu?”
Vợ Tô Lệ trả lời: “Em hai đang nhóm lửa dưới bếp!”
“Gọi nó lại đây!” Ma Cô nói như ra lệnh.
Vợ Tô Lệ ra khỏi cửa, một lát sau, dẫn Tiểu Hỷ bước vào phòng Tô Đại. Nghe thấy tiếng chân bước, Ma Cô vội vàng bước ra, rồi mắng sa sả: “Tiểu Hỷ, Ma Cô đắc tội với cháu chỗ nào, mà tới đây lâu như vậy rồi, không thấy cháu ra chào một tiếng?”
Tiểu Hỷ lí nhí: “Cháu… cháu… đã tới rồi đây!”
“Lại đây, cháu gái, để Ma Cô xem thử nào!” Ma Cô bước sấn tới kéo Tiểu Hỷ lại, săm soi một lượt từ đầu tới chân, rồi ra lệnh. “Há miệng, thè lưỡi ra nào!”
Tiểu Hỷ không biết phải làm sao, đành há miệng, thè lưỡi ra. Ma Cô nhìn một lát, kinh ngạc kêu lên: “Chuyện gì thế này, thằng hai về lâu như vậy rồi mà vẫn chưa có động tĩnh gì ư?” Rồi đổi giọng, cười vang vài tiếng. “Cháu gái ơi, ở đây không có người ngoài, nói Ma Cô nghe thử, còn cái bụng của cháu, lúc nào mới cần tới Ma Cô đây?”
Lời nói này chẳng khác gì lưỡi dao cứa sâu vào vết thương lòng của Tiểu Hỷ. Song lúc này sắp có chuyện vui, Tiểu Hỷ không dám khóc, cũng không thể khóc, chỉ biết cúi gằm mặt, cắn chặt răng không nói lới nào.
Ma Cô dường như cũng đã hiểu ra, chuyển sang mắng mỏ Tô Tần: “Thằng hai thật chẳng ra gì! Con gái nhà người ta gả cho nó sáu bảy năm trời, dù có là mảnh ruộng cằn, cũng phải nảy ra cái mầm chứ!”
“Ma Cô ơi,” Vợ Tô Lệ cười khanh khách, cất giọng mỉa móc, “chớ có chỉ nhìn việc nhỏ nhặt. Em hai không sinh thì thôi, nếu sinh chắc chắn phải là thai long phượng!”
“Thế thì tốt quá!” Ma Cô cũng cười.
Tiểu Hỷ không chịu đựng thêm được nữa, hai mắt đẫm lệ, cúi đầu bước ra khỏi cửa, lặng lẽ chạy vào trong phòng mình, vật người xuống giường, vùi mặt vào trong chăn, khóc nấc lên ai oán.
Đúng lúc này, vợ Tô Đại lớn giọng rên la ầm ĩ, ối đã vỡ. Ma Cô, Tô Diệu thị bận rộn túi bụi, không đầy nửa canh giờ sau, cuối cùng đã nghe thấy tiếng khóc oe oe.
Tô Đại nãy giờ sốt ruột đi tới đi lui dưới gốc cây xuân, nghe thấy tiếng khóc, vừa mừng vừa lo, hộc tốc chạy vội vào nhà, suýt đâm sầm vào vợ Tô Lệ đang từ trong đi ra.
Tô Đại vội dừng bước, trong lòng hồi hộp, giọng cũng ấm ớ: “Chị dâu, sinh chưa?”
Vợ Tô Lệ lườm hắn một cái: “Khóc ầm ĩ thế kia, chẳng lẽ lại chưa sinh?”
Tô Đại lúng túng vò đầu bứt tai, ngượng nghịu cười nói: “Phải phải phải. Chị dâu, em muốn hỏi, là giống em hay là giống mẹ nó?”
Vợ Tô Lệ phì cười: “Cứ hỏi thẳng là con trai con gái cho rồi, lại còn quanh co dài dòng! Chẳng phải chị dâu đã nói với chú là con trai rồi ư, sai thế nào được?”
Tô Đại vòng tay, vái dài sát đất: “Tạ ơn chị dâu!” Vái xong, không giấu được niềm phấn khích, quay người lao về phía gian nhà chính, chạy liền một mạch tới trước giường Tô Hổ, quỳ xuống nói: “Cha ơi, có tin vui, là một thằng cu!”
Tô Hổ cười thành tiếng, nói: “Nghe ra rồi! Tiếng khóc vừa cất lên, cha đã biết là một tay cày cừ khôi!” Lại cười lên ha hả. “Đại Nhi, bảo với mẹ con, nấu cho con dâu nhiều trứng gà vào, làm thịt con gà mái không biết đẻ kia đi, hâm cho con dâu ăn!”
Từ sau khi bị trúng gió, đây có lẽ là lần đầu tiên thấy Tô Hổ cười.
Thấy cha vui mừng như vậy, Tô Đại liền gật đầu, giọng nghẹn lại: “Đại Nhi nhớ rồi. Cha, đứa bé này đang đợi cha đặt tên cho nó!”
Tô Hổ cười nói: “Cha sớm đã nghĩ xong, Thiên Thuận có rồi, Địa Thuận có rồi, đứa bé này hãy gọi là Niên Thuận!”
Tô Đại lẩm bẩm: “Niên Thuận? Niên Thuận!” Rồi mừng rỡ, xoa tay liên hồi. “Vâng, tên này hợp lắm!”
Vợ Tô Đại tuy đã sinh xong, nhưng sữa vẫn chưa về. Niên Thuận lại khóc váng lên.
Tiểu Hỷ nằm sấp trên giường, mỗi khi nghe thấy tiếng khóc của Niên Thuận, hai vai lại rung lên bần bật. Niên Thuận càng khóc càng to, Tiểu Hỷ không nhịn thêm được nữa, bèn lau nước mắt, vén rèm lên, bước ra khỏi phòng, đứng nhìn một hồi rồi chui vào trong bếp.
Tô Diêu thị nghe theo lời dặn của Ma Cô, đang nấu canh cho vợ Tô Đại trong bếp. Trước ninh táo đỏ lấy nước, rồi dùng nước nấu canh trứng. Ninh táo không cần to lửa, Tô Diêu thị rắc mạt gỗ quanh bếp, cho lửa nhỏ bớt lại, song lại khiến khói bốc mù mịt, làm bà chảy nước mắt, bưng miệng ho húng hắng.
Tiểu Hỷ mặc kệ khói bốc mù mịt, vẫn bước phăm phăm vào trong bếp, đôi mắt đỏ hoe nhìn sững vào Tô Diêu thị.
Tô Diệu thị dụi mắt, ngẩng đầu nhìn Tiểu Hỷ, đặt thanh củi xuống, vẻ ngạc nhiên: “Tiểu Hỷ?”
Tiểu Hỷ quỳ phịch xuống đất, khóc thất thanh: “Mẹ…”
Tô Diêu thị lập tức hiểu ra nỗi khổ tâm của con dâu, bèn ôm lấy đầu Tiểu Hỷ, thở dài thương xót.
Tiểu Hỷ gục mặt vào đầu gối Tô Diêu thị, khóc nức nở một hồi, rồi ngẩng đầu cầu khẩn: “Mẹ ơi, con… con muốn sinh em bé, sinh em bé…”
Tô Diêu thị lại thở dài một tiếng, nước mắt cũng trào ra: “Con ơi, đứng dậy đi!”
Tiểu Hỷ không nhúc nhích, chỉ ngước đôi mắt đẫm lệ nhìn mẹ chồng.
Tô Diêu thị đứng dậy, lấy ra một chiếc làn từ dưới bàn đưa cho Tiểu Hỷ: “Con hãy cầm lấy, nhân lúc trời chưa tối, mang cơm tới cho Tần Nhi!”
Tiểu Hỷ nghẹn ngào nói: “Nhưng chàng… chàng không muốn gặp con!”
Tô Diêu thị rầu rĩ: “Hỡi ôi, mẹ cũng chẳng còn cách nào khác!” Im lặng lại một lát, bèn khích lệ Tiểu Hỷ. “Nếu Tần Nhi có trách móc, con cứ nói là mẹ bảo con mang tới. Hỷ Nhi ơi, con khổ, Tần Nhi cũng khổ. Con phải biết rằng, vết thương của Tần Nhi còn sâu hơn con! Đi đi, con người không phải cây cỏ, chẳng ai có thể vô tình! Tần Nhi là người trọng tình trọng nghĩa, hiện giờ đang lâm vào cảnh gian nan, con đối xử tốt với Tần Nhi, nó nhất định sẽ nhớ!”
Tiểu Hỷ mắt đẫm lệ, khẽ gật đầu.
Mặt trời xuống núi, màn đêm bắt đầu vây bủa.
Tô Tần đang khoanh chân ngồi trầm ngâm trong lều, đôi mày chau tít. Con Mực ngồi chồm hỗm dưới đất, hai mắt tròn xoe nhìn Tô Tần.
Lát sau, Tô Tần khẽ gọi: “Này Mực!”
Con chó lập tức nhổm dậy, ve vẩy đuôi chạy lại. Tô Tần đưa tay xoa lên đầu nó: “Mực, ngồi xuống, nghe tao nói đây!”
Con Mực ngoan ngoãn ngồi xuống trước mặt Tô Tần, mắt nhìn Tô Tần chăm chú.
“Mực này!” Tô Tần chậm rãi nói. “Tiên sinh từng nói, ‘đến mà không được dùng, là do kế sách không đúng’, mấy ngày nay ta đã đọc kỹ lưỡng, suy đi nghĩ lại, thấy kế sách thuyết Tần hoàn toàn phù hợp với đạo mở khép mà tiên sinh đã dạy, chú mày nói thử xem, cớ sao Tần Công lại bỏ không dùng?”
Con Mực dường như cũng biết Tô Tần đang nói chuyện với mình, nên kêu lên ư ử.
Tiểu Hỷ tới bên ngoài túp lều, đang định vào trong, đột nhiên nghe thấy tiếng Tô Tần nói chuyện, thì ngạc nhiên khựng lại, nép vào bên cửa.
“Than ôi!” Tô Tần thở dài thườn thượt mà rằng. “Chú mày nói là chú mày cũng không hiểu ư? Sao cơ? Chú mày đã hiểu rồi à, chú mày nói lòng vua khó đoán? Phải rồi, lòng vua khó đoán! Ta đã quan sát Tần Công, biết Tần Công là người có chí lớn. Chí lớn của quân vương, không gì khác ngoài nhất thống bốn biển, cai trị thiên hạ. Ta đã dùng sách lược nhất thống để thuyết phục, về lý mà nói, đáng lẽ phải trúng lòng quân vương mới đúng, nào ngờ lại thất bại nối tiếp thất bại, là vì lẽ gì?”
Con Mực sủa liền hai tiếng đáp lại.
“Sao cơ?” Tô Tần ngạc nhiên nhìn chằm chằm vào con Mực. “Chú mày nói ta đã sai ư, Tần Công không có ý nhất thống thiên hạ?” Ngẫm nghĩ một lát, bỗng bật cười một tràng dài. “Sai rồi, sai rồi! Ta quan sát thiên hạ bấy lâu, thấy ba vị vương Sở, Ngụy, Tề có lẽ không có lòng này, quân chủ liệt quốc có lẽ không có lòng này, song duy chỉ Tần Công là có!”
Dường như cũng đúng vào lúc này, trong lòng Tô Tần chợt loé lên một tia sáng, mắt chớp liền vài cái, lẩm bẩm nhắc đi nhắc lại: “Duy chỉ Tần Công là có! Đúng vậy, duy chỉ Tần Công là có!..” Giọng nói mỗi lúc một chậm, sau đó nhắm mắt lại, chìm vào suy tư.
Một lát sau, Tô Tần mở choàng mắt, bật dậy đánh vụt như lò xo, phá lên cười sằng sặc: “Ha ha ha ha, ta hiểu rồi! Ta hiểu rồi! Này Mực, ta đã hiểu rồi!”
Thấy Tô Tần phấn chấn như vậy, con Mực vẫy đuôi tít mù, kêu lên vài tiếng.
Tô Tần tràn đầy hưng phấn, nói tiếp: “Tâm của Tần Công ắt là muốn thôn tính thiên hạ. Tiên thánh có câu: ‘Muốn cho buông chùng, phải giương cho căng. Muốn cho suy yếu, phải giúp mạnh thêm. Muốn cho phế bỏ, phải giúp hưng vượng. Muốn cướp đoạt lấy, hãy trao cho trước’!” Đột nhiên, đứng lặng người đi, một lúc sau mới lặp lại. “‘Muốn cho buông chùng, phải giương cho căng’, cũng có nghĩa là ‘muốn giương cho căng, phải buông cho chùng’.”
Đột nhiên, Tô Tần tựa như vén mây nhìn thấy mặt trời, vung nắm đấm nện thẳng vào vách: “‘Muốn giương cho căng, phải buông cho chùng’! Tô Tần ơi là Tô Tần, trí tuệ của ngươi đi đâu cả rồi? Tiên thánh có câu: ‘Cá không nên rời khỏi vực, bí mật của nước không nên khoe ra’, Tần Công có lòng thôn tính thiên hạ, há lại để ngươi nói trắng ra trước bàn dân thiên hạ hay sao?”
Tô Tần khổ sở suy ngẫm suốt mấy tháng trời, giờ bất chợt hiểu ra, vừa mừng, lại vừa hối hận vì hành động xuẩn ngốc của mình ở Tần, đập đầu mấy cái vào vách, không ngừng than thở: “Tô Tần ơi là Tô Tần, ngươi đúng là đại ngốc! Tâm địa của Tần Công, há chịu để ngươi phơi trần trước bàn dân thiên hạ?”
Tiểu Hỷ càng nghe càng cảm thấy bất thường, cho rằng Tô Tần đã hoá điên, bèn đẩy cửa bước vào trong lều, mở to mắt kinh ngạc nhìn Tô Tần.
Thấy Tiểu Hỷ không hẹn mà tới, Tô Tần cũng ngẩn ra, cơn hưng phấn tràn trề lập tức bị dập tắt.
Hai người sững sờ nhìn nhau.
Một lát sau, Tô Tần mới định thần trở lại, đưa mắt nhìn Tiểu Hỷ, chậm rãi hỏi: “Sao nàng lại tới đây?”
Thấy Tô Tần đã trở lại bình thường, Tiểu Hỷ lại ngẩn ra, giờ mới phát giác mình đã quá đường đột, bèn lắp bắp: “Hỷ Nhi… Hỷ Nhi… mang cơm tới cho… phu quân.”
Tô Tần lạnh lùng nhìn Tiểu Hỷ: “Chẳng phải ta đã nói chỉ để mẹ mang tới ư?”
Tiểu Hỷ cũng đã bình tĩnh lại: “Mẹ bận quá không dứt ra nổi, nên bảo… Hỷ Nhi mang tới!”
Tô Tần vẫn nhạt nhẽo: “Mang về đi, ta không đói!”
Tiểu Hỷ đột nhiên quỳ sụp xuống, nước mắt ròng ròng, cất giọng cầu xin: “Phu quân!”
Tô Tần bực bội, xua tay nói: “Được rồi, được rồi, để cơm đấy, mau về đi!”
Tiểu Hỷ vẻ như đã hạ quyết tâm, vẫn quỳ tại chỗ, khóc nấc mà gọi: “Phu quân…”
Tô Tần chau mày: “Nói đi, còn có chuyện gì?”
Tiểu Hỷ dập đầu sát đất, nức nở: “Vợ Tô Đại vừa… vừa sinh… sinh em bé!”
“Ồ!” Tô Tần gật đầu. “Biết rồi!”
Tiểu Hỷ vẫn dập đầu dưới đất mà khóc.
Tô Tần ngạc nhiên: “Ta biết rồi, nàng hãy về đi!”
Tiểu Hỷ lại dập đầu, giọng càng run rẩy: “Phu quân, vợ… vợ Tô Đại đã… đã sinh em bé rồi!”
Tô Tần đột nhiên hiểu ra ẩn ý trong lời nói của Tiểu Hỷ, bỗng giật nảy minh. Suy nghĩ một lúc, Tô Tần nhíu chặt đôi mày, châm đèn dầu lên, mài mực, cầm bút, lấy ra một tấm thẻ tre, rạp người xuống viết. Viết một hồi, Tô Tần cẩn thận đọc lại một lượt, rồi đưa cho Tiểu Hỷ: “Nàng hãy cầm lấy cái này, từ nay trở đi, nàng cũng có thể sinh em bé được rồi!”
Tiểu Hỷ cầm lấy thẻ tre, do không biết chữ, nên chỉ mở to hai mắt nhìn tấm thẻ: “Phu quân, đây cái gì?”
“Là hưu thư!” Tô Tần bình thản nói. “Nàng hãy cầm lấy nó, ngày mai trở về nhà mẹ đẻ, bảo cha nàng gả nàng cho nhà khác!”
“Phu quân!” Tiểu Hỷ kêu lên một tiếng thảm thiết, rồi ngã xuống đất ngất lịm.
Đêm đã về khuya, đại viện nhà họ Tô đen kịt một màu.
Tô Diêu thị vẫn chưa ngủ. Bà lặng lẽ ngồi bên giường chồng, song hai tai dỏng lên, nghe ngóng mọi động tĩnh trong sân. Chiều nay, vợ Tô Đại đã thấy sữa về, Tiểu Niên Thuận sau khi bú no, đã ngủ say sưa. Những người khác cũng đều đã chìm vào giấc ngủ.
“Cha nó này,” Tô Diêu thị khẽ lay Tô Hổ, “giờ là canh mấy rồi?
“Quá canh ba rồi!”
“Vậy ư, xem ra, chuyện đã thành rồi!” Tô Diệu thị phấn khởi nói.
“Hừm!” Tô Hổ thở dài một tiếng. “Cái thằng hai này, thực khiến tôi chết không nhắm mắt!”
“Cha nó này, Tần Nhi không phải là người không biết suy nghĩ đâu!” Tô Diệu thị biện hộ giúp Tô Tần. “Mấy hôm trước nghe nói nó lấy dùi đâm đùi, tôi sợ muốn chết, cứ ngỡ nó hoá điên. Nhưng khi tới chỗ nó ở, thấy nó đang đọc sách, không có vẻ gì điên dại. Tôi hỏi nó sao lại lấy dùi đâm đùi, nó nói đâm vài cái cho đỡ buồn ngủ. Than ôi, ông thử nói xem, cả ngày Tần Nhi ngồi trong lều, chẳng làm việc gì, buồn ngủ một tí cũng có sao đâu, thế mà lại đem cả thân mình ra hành hạ, tôi nghĩ mãi mà vẫn không thông!”
“Dùi đâu?”
“Tôi đi lấy về rồi!”
“Cái thằng này, chưa thấy quan tài không đổ lệ, sự việc đã tới nước này mà vẫn không chịu bỏ cuộc, vẫn mơ giấc mơ phú quý, bà thấy có não lòng không?”
“Nếu đêm nay nó ở cùng Tiểu Hỷ, có lẽ sẽ đầu xuôi đuôi lọt, mọi việc sẽ tốt cả thôi!”
“Phải!” Tô Hổ gật đầu. “Tiểu Hỷ đã được gả cho nhà chúng ta, dù thế nào đi nữa, cũng là con dâu của dòng họ Tô. Tôi đoán rằng, thằng hai nhà mình chẳng phải thần thánh, chịu nhịn lâu như vậy, cũng phải có tính người một chút chứ. Nếu chuyện này mà thành, Tiểu Hỷ có tin vui, tôi có chết cũng nhắm mắt!”
Tô Diêu thị đang định đáp lời, chợt nghe thấy tiếng bước chân vọng lại trong sân. Tô Diêu thị biết là Tiểu Hỷ trở về, liền nín thở, chăm chú lắng nghe.
Tiếng bước chân rất đỗi nặng nề, như thể kéo lê trên đất.
Tô Diêu thị ngẩn người, nhìn sang Tô Hổ, thấy ông cũng đang dỏng tai nghe ngóng, bèn nói khẽ: “Cha nó ơi, có nghe thấy không, sao lại đi chậm thế nhỉ?”
“Hay là bị thương rồi?” Tô Hổ đăm chiêu nói.
“Phỉ phui cái mồm ông! Đều hơn hai mươi cả rồi, có phải trẻ con đâu, sao có thể bị thương được?”
“Bà nghĩ đi đâu thế?” Bạch Hổ lừ mắt nhìn vợ, giải thích. “Ý tôi nói là cái chân thọt của con bé ấy!”
Hai người nói tới đây, vừa hay Tiểu Hỷ đã trở vào đến phòng mình. Tô Diệu thị nghĩ đi nghĩ lại, thấy không yên tâm, lẳng lặng xuống giường, mở cửa phòng, đi sang phòng Tiểu Hỷ.
Cổng mở toang, Tô Diêu thị đứng sát cổng nghe ngóng, thấy từ trong phòng vọng ra tiếng khóc bi thiết, tiếp đó là tiếng xé vải soàn soạt. Tô Diêu thị đang băn khoăn không hiểu vì sao Tiểu Hỷ lại xé vải, bỗng từ trong phòng vọng ra một tiếng “kịch”, rõ ràng là tiếng vật cứng bị hất đổ xuống nền nhà. Đột nhiên, Tô Diêu thị linh cảm thấy sự chẳng lành, cuống quýt chạy bổ vào, xô cửa thật mạnh. Cửa không chốt, Tô Diêu thị mất đà lao thẳng vào phòng, thấy Tiểu Hỷ đầu chui trong thòng lọng, người treo lơ lửng trên xà nhà.
Tô Diêu thị kinh hoàng chạy lại, ôm cứng lấy hai chân Tiểu Hỷ, run rẩy kêu lên: “Con gái ơi, con ơi…” Rồi ngoảnh ra ngoài, gọi toáng lên. “Có ai không?”
Tô Diêu thị dồn hết sức tàn đỡ lấy Tiểu Hỷ, đám Tô Đại, Tô Lệ, vợ Tô Lệ nghe thấy tiếng kêu thét, đều hộc tốc chạy lại, tay năm tay mười đỡ Tiểu Hỷ xuống.
Được Tô Diêu thị đỡ kịp thời nên Tiểu Hỷ mới chỉ tím tái mặt mày, chưa đến mức tắt thở, hai tay còn nắm chặt một tấm thẻ tre. Tô Đại cầm lấy xem, hoá ra là thư thôi vợ Tô Tần viết cho Tiểu Hỷ.
Tô Diêu thị dìu Tiểu Hỷ lại bên giường, đỡ nằm xuống, không dám rời Tiểu Hỷ nửa bước, cả đêm hôm đó ở cùng Tiểu Hỷ.
Tô Đại, Tô Lệ thấy sự việc nghiêm trọng, chỉ còn biết đi tới gian nhà chính, quỳ xuống trước giường Tô Hổ, kể lại chuyện Tiểu Hỷ tự vẫn cho cha nghe. Tô Đại chần chừ một lát, rồi lôi hưu thư của Tô Tần từ trong ống tay áo ra, đặt lên mặt bàn trước giường.
Tô Hổ nhìn tấm thẻ tre, mặt mày tái xanh, thở không ra hơi. Mãi hồi lâu sau, mới dần dần bớt hổn hển, nhắm nghiền mắt lại, nước mắt giàn giụa: “Chao ôi, chưa khiến lão già này tức chết, nó không cam lòng đây mà!”
“Cha!” Tô Đại ngần ngừ một lát. “Anh hai e là…”
Tô Hổ mở choàng mắt, nhìn thẳng vào Tô Đại.
“Bên ngoài đồn thổi, anh hai… e là tẩu hoả nhập ma, hoá điên dở mất rồi!”
Tô Hổ thở dốc vài tiếng, gật đầu lia lịa, quay sang Tô Lệ: “Lệ Nhi!”
Tô Lệ đáp lời: “Có con!”
“Than ôi!” Tô Hổ thở dài một tiếng. “Xem ra, thằng hai bị bệnh thực rồi. Đợi khi trời sáng, con hãy tới vương thành một chuyến, mời một thầy lang chuyên trị bệnh điên về đây. Nói gì thì nói, có bệnh cũng phải chữa trị.”
“Cha yên tâm, đợi trời sáng, Lệ Nhi sẽ đi ngay.”
Sáng hôm sau, Tô Lệ dậy rất sớm, mang theo lương khô, rời thôn đi tới vương thành.
Vừa qua Y Thuỷ, Tô Lệ gặp ngay cầm sư mới rời khỏi quán trà ở ấp Hà Nam đi lại. Cầm sư lê bước khó nhọc, càng đi càng chậm, rồi đột nhiên loạng choạng, suýt nữa ngã nhào. Tô Lệ vội bước lại, đỡ lấy cầm sư.
Cầm sư hai tay run rẩy, dường như đi không nổi nữa. Tô Lệ đỡ ông ngồi xuống bờ đê bên cạnh, khẽ hỏi: “Cụ ơi, cụ không sao chứ?”
Cầm sư nhìn Tô Lệ, lắc đầu.
Tô Lệ lấy ra một chiếc bánh nướng từ trong túi: “Cụ ơi, hẳn là cụ đói rồi! Cụ ăn bánh nhé!”
Cầm sư lại nhìn Tô Lệ, gật gật đầu, hai tay run rẩy đỡ lấy chiếc bánh, cắn ngay một miếng. Tô Lệ tháo bầu nước bên hông xuống, mở nắp đưa cho cầm sư: “Cụ ơi, hãy uống chút nước cho khỏi khô miệng.”
Cầm sư uống liền vài ngụm, thấy đã đỡ hơn, bèn vòng tay vái tạ Tô Lệ: “Lão hủ xin đa tạ!”
Tô Lệ vòng tay đáp lễ, thấy cầm sư già yếu run rẩy, lại bê trong lòng một chiếc hộp lớn, bèn lo lắng hỏi: “Cụ ơi, cụ đi đâu thế?”
“Lão hủ muốn tới thôn Hiên Lý, nghe nói qua Y Thuỷ là tới!”
Tô Lệ chỉ về thôn Hiên Lý nằm chênh chếch phía nam bờ sông, nói: “Cụ ơi, cụ nhìn kìa, đó chính là thôn Hiên Lý!”
Cầm sư nhìn về phía đó, gật đầu: “Cảm ơn anh!”
Tô Lệ nhìn dòng Y Thuỷ sau lưng, lại nhìn cầm sư, ái ngại nói: “Cụ ơi, mùa này nước nông, không có đò chở sang sông, nước lạnh lắm, để cháu đưa cụ qua sông!”
Cầm sư lại vòng tay vái tạ mà nói: “Anh bạn trẻ, đa tạ!”
Cầm sư cắn vài miếng bánh, uống mấy ngụm nước, rồi Tô Lệ ôm giúp ông hộp đàn, dìu ông bước xuống bờ đê, tới bên mép nước. Tô Lệ cởi giày, xắn ống quần, cõng cầm sư trên lưng, tay cầm hộp đàn, lội xuống nước. Do là tháng hai, nước sông tuy lạnh, song rất nông, chỗ sâu nhất cũng không quá đầu gối. Loáng một cái, Tô Lệ đã cõng cầm sư sang đến bờ kia.
Sau khi qua sông, Tô Lệ định lội trở sang, song vẫn thấy không yên tâm với cầm sư, ngẫm nghĩ một lát, thấy thôn Hiên Lý cũng đã tới rồi, làm người tốt thì làm cho trót, nên quyết định đưa ông cụ tới nơi ông muốn đến, rồi đến vương thành cũng chưa muộn.
Nghĩ là vậy, Tô Lệ xỏ giày vào chân, vòng tay nói: “Cụ ơi, cụ muốn tới nhà ai, vãn bối sẽ đưa cụ đi!”
Cầm sư vô cùng cảm kích, vòng tay đáp lễ rồi nói: “Lão hủ muốn hỏi anh, trong thôn này phải chăng có một vị Tô sĩ tử?”
Thôn Hiên Lý chỉ có duy nhất nhà Tô Lệ họ Tô. Tô Lệ nghe vậy, đoán ngay người cầm sư muốn hỏi là Tô Tần, bèn vòng tay nói: “Người cụ muốn hỏi, phải chăng tên gọi Tô Tần?”
Cầm sư khẽ gật đầu.
“Thật trùng hợp, Tô Tần chính là em trai của vãn bối.”
Cầm sư ngẩn ra một thoáng, rồi mừng rỡ nói: “Quả là trùng hợp! Nghe nói Tô sĩ tử mắc bệnh, có chuyện này chăng?”
Tô Lệ thoáng ngạc nhiên, đưa mắt nhìn cầm sư, rồi gật đầu: “Đúng vậy. Em trai vãn bối bị bệnh, vãn bối đang định tới vương thành tìm thầy lang về chữa trị.”
“Là bệnh gì vậy?”
Tô Lệ chỉ vào tim, lại chỉ vào đầu: “Hẳn là đầu óc có vấn đề, đoán là bệnh điên khùng. Vậy còn cụ, cụ là…”
“Ồ!” Cầm sư cười nói. “Nếu là bệnh này, anh không phải đi tìm nữa. Lão hủ tới đây, chính là để trị bệnh cho Tô sĩ tử!”
Tô Lệ mừng rỡ, lập tức quỳ xuống, lạy cầm sư liền mấy lạy: “Vãn sinh thay mặt em trai tạ ơn cụ!”
“Tô sĩ tử hiện ở đâu?”
“Ở túp lều bên bãi đập lúa phía bắc thôn. Cụ ơi, hãy tới nhà cháu uống chút canh nóng đã, rồi tới trị bệnh cho Tô Tần cũng chưa muộn.”
“Không được!” Cầm sư lắc đầu nói. “Lão hủ muốn nói với anh rằng, muốn trị bệnh cho Tô sĩ tử, phải làm giúp lão hủ một chuyện.”
“Xin cụ cứ nói!”
“Không được nói với người nhà, cũng không được nói với Tô sĩ tử! Anh chỉ cần nói cho lão biết túp lều của Tô sĩ tử ở đâu là được rồi!”
Tô Lệ ngẩn ra một thoáng, rồi gật đầu nói: “Vãn bối xin nghe theo cụ!”
Trong túp lều bên bãi đập lúa, Tô Tần ngồi dưới đất, đắm chìm trong suy nghĩ.
Trước mặt Tô Tần là một bát sành đựng đầy cháo, bên trên đặt hai chiếc bánh bao và hai cọng hành lớn. Bánh bao và cháo đều đã nguội tanh nguội ngắt.
Con Mực ngồi chồm hỗm cách Tô Tần không xa, mắt hau háu nhìn vào chiếc bánh bao.
Tô Tần từ từ mở mắt: “Này Mực!”
Con Mực sủa lên một tiếng mừng rỡ, vẫy đuôi chạy lại.
“Ngồi xuống!”
Con chó ngoan ngoãn ngồi xuống.
“Ta nói cho chú mày biết, ta đã nát óc suy nghĩ mấy ngày nay, giờ đã nghĩ thông rồi. Thuyết Tần không thành, lại chưa hẳn không phải là chuyện tốt!”
Con Mực sủa lên mấy tiếng, nghiêng mắt nhìn Tô Tần.
“Sao? Mày không hiểu ư? Ta biết mày không hiểu, chẳng phải ta đang nói với mày đấy ư? Ghé sát tai lại đây, nghe này!”
Con Mực vẫn nghiêng đầu nhìn Tô Tần.
“Khi ở Quỷ Cốc, tiên sinh từng nói, trị thế bắt đầu từ trị tâm, trị tâm bắt đầu từ trị loạn. Thiên hạ hôm nay, chỉ có hai cách trị loạn, hoặc là thiên hạ nhất thống, hoặc là chư hầu hoà thuận. Chư hầu trong thiên hạ mỗi người đều có dã tâm, muốn họ hoà thuận là rất khó. Do vậy, ta và Trương Nghi đều chủ trương nhất thống. Quan sát thiên hạ, thấy rằng có thể thành công, duy có nước Tần. Ta vốn muốn giúp Tần Công hoàn thành đại nghiệp, song vừa rồi tới Hàm Dương, đã khiến ta như mộng chợt tỉnh. Mực này, mày có biết nguyên do vì đâu không?”
Con Mực lại sủa lên vài tiếng.
Tô Tần phóng mắt nhìn ra phía cửa lều, khẽ lẩm bẩm trong miệng: “Người Tần sùng chuộng vũ lực, nên lựa chọn trị nước theo pháp của Thương Quân. Pháp của Thương Quân quá ư hà khắc, không thực thi giáo hoá, không có chút tình thương. Một nước ỷ sức cậy mạnh như vậy, dù có nhất thống thiên hạ, cũng sẽ dùng bạo lực để trị quốc. Trị quốc bằng bạo lực, ắt không thi hành thiên đạo. Không thi hành thiên đạo, sao có thể thuyết phục lòng người? Thiên hạ nhất thống mà lòng người không phục, thì nhất thống cũng có ích gì đâu?”
Con Mực ve vẩy đuôi, mắt nhìn chằm chằm vào hai chiếc bánh bao đặt trên bát cháo, lưỡi thè ra ngoài, nước dãi chảy ròng ròng. Tô Tần cầm lên một chiếc bánh bao, ném cho nó. Con Mực há miệng táp ngay lấy, mừng quýnh vẫy tít đuôi chạy lại phía Tô Tần.
Tô Tần nhìn con chó, cười buồn một tiếng, lắc đầu nói: “Hừm, mày đúng là đồ tham ăn! Đường nhất thống đã đi không thông, mày bảo ta nên làm thế nào? Chư hầu trong thiên hạ ai ai cũng giống mày, chỉ một khúc xương đã đủ để họ xâu vào cắn xé, làm thế nào mới có thể xoá bỏ lòng tham, để họ thoả hiệp, hoà giải, sống hoà mục với nhau, mà không tranh giành xâu xé? Hoặc chí ít khiến họ tạm gác bỏ chuyện tranh giành, hạ đao buông kiếm, bình tâm tĩnh khí cùng ngồi bàn kế tương lai?”
Con Mực chẳng còn để ý tới Tô Tần, ngoạm cái bánh bao ăn lấy ăn để.
Tô Tần khẽ thở dài, lắc đầu, lại ngồi xuống, nhắm mắt, tiếp tục chìm vào suy nghĩ.
Màn đêm buông xuống, ánh sao lấp lánh đầy trời, trăng lưỡi liềm chênh chếch.
Tô Tần đang mải miết suy tư, đột nhiên, có một tiếng đàn từ phía xa vẳng lại, sau đó lại im lìm như cũ. Tuy chỉ là một tiếng, song đã khiến Tô Tân thân tâm run rẩy, vội vã nín thở lắng nghe. Một lát sau, tiếng đàn theo gió phảng phất bay tới, lúc có lúc không, lúc xa lúc gần, lúc cao lúc thấp, như run rẩy, như chơi vơi, như tơ như lụa, như làn gió mát rượi thổi vào tận phế phủ, thấm đến tận tim gan.
Vành tai Tô Tần như khẽ rung lên, toàn bộ thân tâm đều chìm đắm trong tiếng đàn kỳ diệu.
Một lát sau, tiếng đàn bỗng nhiên chuyển điệu, như khóc lóc như giãi bày, bi thương tột đỉnh.
Cùng với tiếng đàn như có như không, thoắt ẩn thoắt hiện, trước mắt Tô Tần dần dần hiện ra từng cảnh tượng sống động.
Trên cánh đồng bất tận, ruộng vườn nứt nẻ, gió Bắc ào ào lạnh buốt; một lão nghệ nhân dạn dày sương gió lê từng bước chân nặng nề, sau lưng cõng theo một cây cổ cầm, nhọc nhằn tiến bước.
Trên đồi đất vàng quạch, một người đàn bà gầy đét như que củi đang cắm cúi đào rau dại; đầu thôn, một thằng bé choai choai dẫn theo vài đứa em cả trai lẫn gái khóc mếu vì đói, đứng trên đồi cao, khắc khoải ngóng mẹ trở về.
Đầu thôn, hai người một già một trẻ áo quần tả tơi gõ cửa từng nhà ăn xin, cứ tới trước cửa nhà ai, họ lại quỳ xuống, dập đầu lia lịa.
Một nàng dâu bụng chửa vượt mặt nhìn tấm bài vị mới tinh của chồng trên bàn thờ, khóc ngất dưới đất.
Mấy cụ già đẩy bật một cánh cửa cũ kỹ, từ bên trong khiêng ra một thi thể già nua cô độc chết đã nhiều ngày.
Trong chợ, hai đứa bé gái mới lớn lưng cắm cọng rơm khô, một người đàn bà đứng cạnh, đưa tay lau nước mắt.
Trên chiến trường, xác chết ngổn ngang, không ai chôn cất, từng bầy quạ sà xuống lượn vòng quanh, rào rào đậu xuống các thi hài, cất tiếng kêu xé tai, tranh nhau mổ xác.
Trên bãi đất trống trong thôn, lý chính trưng binh, người trong thôn tụ về, đa phần là người già, đàn bà trẻ nít. Lý chính đọc tên, những người bước ra hầu hết đều là trẻ choai choai hoặc người già đã qua sáu chục….
Đúng lúc những suy tưởng của Tô Tần đang miên man bất định theo tiếng đàn bi thiết thê lương, bỗng dội lên một tiếng vang sầu thảm như xé gan xé ruột, rồi thình lình ngưng bặt.
Tô Tần giật mình kinh hãi, mở choàng mắt, gọi lớn: “Tiên sinh! Tiên sinh ơi!” Rồi cuống cuồng đứng dậy, xô cửa lao ra, chạy về phía bãi đập lúa, hướng về phía đồng ruộng mênh mông, gọi thất thanh. “Tiên sinh… Tiên sinh…”
Xung quanh lặng ngắt như tờ, dường như tiếng đàn vốn không hề tồn tại.
Con Mực hình như đã hiểu ra Tô Tần đang muốn tìm gì, bèn lao ra ngoài, sủa lên ông ổng, rồi chạy vụt về một hướng. Tô Tần vội bám theo con Mực, vừa chạy vừa hét lớn: “Tiên sinh, tiên sinh! Tiên sinh đang ở đâu?”
Đáp lại lời gọi, chỉ có tiếng gió rít và tiếng sủa của con Mực đang chạy phía trước. Tô Tần sải rộng bước chân, chạy theo con chó như phát cuồng. Chạy được một lúc, đột nhiên lại nghe thấy tiếng dây đàn “tưng” một nhịp ở phía trước, rồi lại im lìm như cũ.
Con Mực càng sủa dữ hơn.
Tô Tần cuống cuồng chạy về phía trước, được chừng vài dặm thì tìm thấy cầm sư bên bờ Y Thuỷ.
Trên đỉnh dốc đất bên bờ đê, cầm sư hai tay đặt trên mặt đàn, đang ngồi nghiêm trang sừng sững.
Tô Tần thả lỏng bước chân, khi còn cách cầm sư vài bước, bèn quỳ phục xuống, lạy liền mấy lạy, gọi khẽ: “Tiên sinh!”
Cầm sư ngồi im bất động, không đáp.
“Tiên sinh!” Tô Tần lại gọi một tiếng, song cầm sư vẫn không hề nhúc nhích.
Tô Tần đứng dậy, tiến lên vài bước, lại quỳ xuống, dập đầu nói: “Vãn sinh Tô Tần khấu kiến tiên sinh!”
Vẫn không có tiếng trả lời.
Tô Tần lặng đi một lát, rồi lết bằng đầu gối tới trước mắt cầm sư, thấy cầm sư nhắm nghiền hai mắt, đã ngừng thở. Tiếng “tưng” trầm đục vừa nãy, có lẽ chính là tiếng đàn tuyệt mệnh mà ông đã gom hết chút sức tàn sau cuối để gảy nên.
Tô Tần quỳ dưới đất, khóc nức nở: “Tiên sinh!”
Mảnh trăng lưỡi liềm cong vút lơ lửng phía trời tây. Gió đêm lồng lộng, song không hề mang chút hơi lạnh lẽo.
Tô Tần nhìn khắp tứ phía, thấy địa thế nơi này cao nhất, dòng sông đến đây lượn thành một vòng cung rộng lớn, nhìn xuống lòng sông, thấy mênh mông vời vợi, nhìn sang bên cạnh, có hai cây cổ thụ và mấy bụi gai, thực đúng là một chốn phong thuỷ bảo địa.
Tô Tần biết, đây là nơi yên nghỉ cuối cùng mà cầm sư đã tự chọn cho mình, bèn đứng dậy, lầm lũi về nhà, mang xẻng sắt ra, bắt đầu đào đất trên đỉnh dốc.
Trăng lưỡi liềm đã lặn, trời đất lờ mờ, gió lạnh hiu hắt.
Tô Tần cứ thế đào mải miết, cho đến khi hố sâu hơn trượng mới leo trở lên, xốc cầm sư, đặt xuống dưới huyệt, tiếp đến lại đặt cây cổ cầm cũ kỹ đã theo ông suốt bấy nhiêu năm trước mặt ông, để ông mãi mãi trong tư thế gảy đàn.
Tô Tần vẫn dưới huyệt mộ, hướng về cầm sư lạy liền ba lạy, sau đó nhảy lên trên, xúc từng xẻng đất lấp xuống huyệt.
Tới lúc phương đông chuyển màu trắng bạc, một nấm mộ mới đã mọc lên trên dốc đồi bên sông.
Tô Tần quay trở lại lều, tìm một tấm gỗ, mài mực lấy bút, trịnh trọng viết lên năm chữ “Thiên hạ đệ nhất cầm”, sau đó mang ra, cắm trên ngôi mộ.
Làm xong tất cả những việc này, Tô Tần quay mặt vào tấm bia gỗ, lại quỳ xuống, nói với cầm sư: “Tiên sinh, đây chính là nơi tiên sinh đã lựa chọn, xin tiên sinh hãy yên nghỉ!” Quỳ lặng một hồi, lại lạy ba lạy, giọng nói nghẹn ngào. “Tiên sinh, những lời tiên sinh muốn nói, Tô Tần đều đã hiểu rồi! Những điều tiên sinh trông thấy, Tô Tần đều đã thấy rồi! Những điều tiên sinh nghe thấy, Tô Tần đều đã nghe rồi!”
Tô Tần lại lạy thêm mấy lạy nữa, rồi từ từ đứng dậy, quay người bước đi. Song vừa đi được vài bước, bỗng từ phía sau, một cơn gió ào ào thốc tới, tiếp đến nghe “cạch” một tiếng rất vang. Con Mực dường như đã cảm nhận thấy gì đó, sủa lên ăng ẳng. Tô Tần kinh sợ, quay đầu lại nhìn, thì thấy tấm bia gỗ vừa dựng đã bị một cơn gió xoáy thình lình cuốn bật lên, quăng đi rất xa.
Thấy con Mực vẫn sủa rối loạn, Tô Tần bèn quát nó im miệng, kinh hãi bước lại, nhặt tấm bia gỗ lên, rồi hướng về cơn gió xoáy đã cuốn đi xa, vái sâu một vái: “Tiên sinh, người bất tất phải quá ư khiêm tốn! Tối qua Tô Tần đã nghe rồi, thật xứng danh là thiên hạ đệ nhất cầm, dù là Quỷ Cốc tiên sinh, cũng không thể gảy hay hơn thế!” Nói đoạn, trở lại trước mộ, cắm tấm bia vào chỗ cũ, lại lạy mấy lạy.
Tô Tần còn chưa kịp đứng dậy, lại một cơn gió xoáy còn mạnh hơn trước thình lình thốc tới, cuốn quanh tấm bia. Do Tô Tần cắm rất sâu, nên tấm bia gỗ chưa bị thổi bật, song cũng vẹo sang một hướng. Tô Tần ngẫm nghĩ một lát, ngẩng đầu nhìn quanh, thấy cách đó không xa có một cành cây khô to cỡ quả trứng gà, bèn bước lại nhặt lấy.
Tô Tần cầm theo cành cây, bước lại trước tấm bia gỗ, ước lượng một lúc, nắm chặt hai đầu, tì đầu gối vào giữa ấn mạnh. “Rắc” một tiếng, cành cây gãy làm đôi.
Tô Tần mỗi tay cầm một khúc cây, đang cân nhắc xem nên dùng đoạn nào chống tấm bia gỗ thì thích hợp. Chợt trong đầu loé lên một ý, vội vã đứng dậy, chập hai đoạn cành cây vừa bẻ với nhau, tì đầu gối vào giữa thúc mạnh. Đầu gối đau điếng, Tô Tần vội đưa tay ôm lấy gối, luôn miệng xuýt xoa, song hai khúc cành cây vẫn trơ trơ như cũ.
Tô Tần lại đứng ngẩn ngơ một hồi, rồi bỗng mừng rỡ khôn tả, ném một khúc cây đi, chỉ giữ lại một khúc, vừa bẻ đã gãy làm đôi. Tô Tần như hoá rồ, vội đi tìm khắp xung quanh, nhặt nhạnh về một đống cành khô lớn nhỏ đủ cỡ, lại lặp lại động tác vừa rồi. Trước hết bẻ một cành làm đôi, rồi chập hai đoạn lại bẻ, rồi chập ba đoạn lại bẻ, lại chập bốn đoạn, rồi chập năm đoạn. Dù là cành cây nhỏ nhất, chỉ cần chập lại với nhau, sức mạnh sẽ tăng lên gấp đôi. Chập tới một mức độ nhất định, có gắng đến mấy cũng không tài nào bẻ gãy.
Trong lòng Tô Tần bỗng chốc sáng bừng, mọi u mê những ngày qua bỗng chốc tan biến sạch không.
Đúng vậy, một cành dễ bẻ, một tay khó vỗ, thường thức này đến một đứa trẻ lên ba cũng biết. Tuy nhiên, chính đạo lý bình dị đó đã khiến Tô Tần bỗng chốc ngộ ra đạo trị lý thiên hạ. Tô Tần phấn chấn bê cả bó cành cây khô vừa bẻ vụn, dồn sức tung thẳng lên không trung. Các đoạn cành cây theo gió rơi xuống tứ tung xung quanh ngôi mộ.
Tô Tần từ từ quỳ xuống, hướng về phía ngôi mộ, dập đầu lạy mấy lạy: “Tạ ơn tiên sinh đã chỉ cho con đạo lý thiên hạ hoà thuận!”
Bái xong, Tô Tần đứng dậy, cầm lấy xẻng đào bới đất mới trên mộ, chôn sâu tấm bia gỗ “Thiên hạ đệ nhất cầm” xuống dưới, sau đó lại cẩn thận vùi đất lấp chặt.
Tô Tần ngắm nghía một hồi, thấy đã hài lòng, lại quỳ xuống, bái lạy mà nói: “Tiên sinh, dù có Quỷ Cốc tiên sinh ở đây, cũng sẽ đồng ý với danh hiệu trên tấm bia này. Song tiên sinh đã không muốn phô trương, vãn sinh cũng xin nghe theo mong muốn của tiên sinh, chôn tấm bia này sâu trong lòng đất, để nó mãi mãi đi theo tiên sinh.”
Tô Tần lại quỳ hồi lâu trước mộ cầm sư, sau đó đứng dậy, phủi sạch tay, rồi sải bước dõng dạc, lòng tràn đầy tự tin, đi thẳng vê phía thôn xóm cách đó không xa.
Tô Tần đầu bù tóc rối song vẻ mặt rạng rỡ bước vào trong thôn, con Mực nhảy loi choi hết trước lại sau. Một đám trẻ đang chơi đùa ở bên rìa thôn, thằng bé lớn nhất nhìn thấy Tô Tần từ xa tiến lại, thì gào toáng lên: “Chạy mau chạy mau, gã điên đến rồi!”
Đám trẻ nhìn thấy Tô Tần, bỏ chạy tán loạn, duy có Thiên Thuận đứng nghệt tại chỗ, e dè nhìn Tô Tần.
Con Mực lao vọt lại, rối rít chạy quanh Thiên Thuận. Cậu bé không để ý tới nó, chỉ nhìn Tô Tần không chớp mắt. Tô Tần bước lại gần, ngồi xuống, dang hai tay gọi khẽ: “Thiên Thuận!”
“Chú hai!” Thiên Thuận tiến lên một bước, rụt rè gọi khẽ.
Tô Tần mỉm cười, rồi bế cậu bé lên: “Thiên Thuận, đi nào, cùng chú hai về nhà!”
Thằng bé lúc nãy chạy như bay tới nhà họ Tô, vừa chạy vừa gào lên lạc giọng: “Nguy rồi, gã điên bế mất Thiên Thuận đi rồi!”
Song Địa Thuận, đứa em gái họ và hai đứa trẻ khác không sợ Tô Tần, chúng bám theo phía sau ở khoảng cách không gần cũng không xa.
Tô Tần bế theo Thiên Thuận còn chưa về tới nhà, hàng xóm láng giềng đã chạy đến vây kín, song không ai nói gì, chỉ mở to mắt nhìn chằm chằm vào hai chú cháu. Tô Lệ, Tô Đại đang sửa chữa nông cụ trong sân, hay tin cũng vội chạy ra khỏi cổng, chưa kịp nói câu nào thì vợ Tô Lệ đã từ dưới bếp xông ra, nhìn thấy Tô Tần đang bế Thiên Thuận trên tay, thì khựng lại, rồi “phịch” một cái quỳ sụp xuống đất, mặt mày xanh lét lắp ba lắp bắp: “Chú hai, chú… chú đừng…. Thiên Thuận, mau… mau lại đây!”
Thiên Thuận thấy mẹ tự dưng quỳ xuống, không hiểu xảy ra chuyện gì, bèn trượt xuống khỏi tay Tô Tần, chạy về phía mẹ. Vợ Tô Lệ thấy vậy, lập tức đâm bổ tới, bế thốc Thiên Thuận vào lòng, như thể cậu bé vừa thoát khỏi miệng hùm.
Tô Tần nhìn chị ta, rồi ung dung bước lại, vòng tay vái chào Tô Lệ: “Anh cả!”
Tô Lệ thấy bệnh điên của em đã hết, bèn vòng tay đáp lễ: “Em hai!” Đột nhiên nhớ tới cụ già hôm trước, vội hỏi. “Ông cụ đâu rồi?”
“Ông cụ?” Tô Tần biết anh cả đang nói tới cầm sư, bèn hỏi lại. “Sao anh biết ông ấy?”
Tô Lệ ngẩn ra một lúc, rồi đành phải nói thực: “Là anh đã cõng cụ ấy qua sông tới đây!”
“Đa tạ anh cả!” Tô Lệ lại vòng tay vái Tô Lệ một vái thật sâu, rồi đau buồn mà nói. “Cụ ấy… đi rồi!”
“Em hai!” Tô Lệ lo lắng. “Sao em lại để cụ ấy đi? Cụ ấy vì em hai mà tới đây chữa bệnh, nay em khỏi bệnh rồi, dù thế nào đi nữa, chúng ta cũng phải cảm tạ người ta chứ!”
Tô Tần cúi đầu, lặng lẽ đi vào trong sân.
Vợ Tô Lệ hoài nghi liếc nhìn Tô Tần, một tay kéo Thiên Thuận, một tay kéo Địa Thuận, tránh sang chỗ khác. Tô Đại cũng nhận thấy Tô Tần đã bình thường trở lại, vội đuổi theo hai bước, mừng rỡ nói: “Anh hai, em báo cho anh một tin vui!”
Tô Tần vòng tay chúc mừng: “Em ba sinh được quý tử, anh hai xin chúc mừng!”
Tô Đại vô cùng ngạc nhiên: “Anh hai, sao… sao cái gì anh cũng biết?”
“Đúng vậy!” Tô Tần mỉm cười nói. “Hôm qua còn không biết, hôm nay cái gì cũng biết!”
Thấy Tô Tần đã khỏi bệnh hoàn toàn, Tô Diêu thị mừng vui khôn xiết, đứng ở cửa bếp đưa vạt áo lên chùi nước mắt.
Tô Tần bước lại, quỳ xuống, khấu đầu gọi: “Mẹ!”
Tô Diêu thị khóc mà nói: “Tần Nhi, cuối cùng con đã trở về rồi!”
“Mẹ!”
Tô Diêu thị bèn kéo Tô Tần dậy: “Tần Nhi, mau lên, vào thăm cha con đi!”
Tô Tần gật đầu, bước vào gian nhà chính, vén rèm cửa, tới bên giường Tô Hổ, từ từ quỳ xuống.
Hơn một tháng không gặp, Tô Hổ đã già sọm đi, xanh xao thấy rõ, hai mắt đã mất hẳn vẻ tinh anh, thay vào đó là sự đờ đẫn mệt mỏi.
Tô Tần lạy liền mấy lạy: “Con bất hiếu Tô Tần khấu kiến cha!”
Tô Hổ từ từ di chuyển ánh mắt tới Tô Tần, khẽ gật đầu, nói với Tô Diêu thị đứng ở phía sau: “Đun nước nóng cho Tần Nhi tắm rửa!”
Tô Diêu thị “vâng” một tiếng, rồi lau nước mắt quay ra.
Chỉ một lời nói, Tô Tần chợt cảm nhận được sâu sắc tình yêu của cha, trong lòng xúc động, tròng mắt đỏ hoe, run giọng gọi: “Cha!”
Tô Hổ nhìn Tô Tần đăm đăm, tựa như muốn xuyên thấu lục phủ ngũ tạng: “Hình như, con lại sắp đi rồi?”
Tô Tần ngập ngừng một lát, rồi dứt khoát gật đầu.
Tô Hổ ngoảnh mặt sang một bên, hồi lâu mới cất giọng trầm đục hỏi: “Đi đâu?”
“Hàm Đan!”
Lại im lặng một hồi lâu nữa, rồi Tô Hổ khẽ thở dài, nói: “Than ôi, hoài bão của con, cha đã không thể lay chuyển!” Rồi đưa bàn tay còn có thể cử động, gắng sức lần tìm dưới gối, lôi ra một bản khế đất, chìa ra. “Đây là hai mươi mẫu ruộng cạn, cha không còn sức cấy cày, con cầm lấy đi!”
Tô Tần kinh hãi nhìn cha, không dám tin là sự thực.
Tô Hổ nhắc lại: “Cầm lấy đi!”
Tô Tần đưa hai tay đỡ lấy bản khế đất, cẩn thận gấp lại, trả về cho cha, lại lạy Tô Hổ ba lạy.
Tô Hổ ngạc nhiên nhìn Tô Tần: “Tần Nhi, không một xu dính túi, không thể đi được. Hàm Đan xa xôi nghìn dặm, con ra đi với hai bàn tay trắng, sao có thể thành công?”
“Cha yên tâm!” Tô Tần kiên định nhìn cha. “Lần này ra đi, tuy Tô Tần hai bàn tay trống rỗng, song trong lòng đầy đặn. Hàm Đan dù có xa hơn thế nữa, chỉ cần Tần Nhi còn có hai chân, nhất định sẽ đi tới nơi!”
Tô Hổ trầm ngâm hồi lâu, rồi nhét tờ khế đất xuống dưới gối, khẽ gật đầu nói: “Được rồi, con không muốn cầm thì cha sẽ tạm cất đi. Bất cứ lúc nào, nếu như con hoàn toàn bỏ cuộc, chút ruộng cỏn con này vẫn sẽ thuộc về con!”
“Cha!” Tô Tần nghẹn ngào.
“Than ôi!” Tô Hổ thở dài một tiếng. “Tần Nhi, cha…” Mắt nhìn Tô Tần, muốn nói lại thôi.
Tô Tần mở to mắt nhìn cha.
Tô Hổ cười buồn bã, lắc đầu: “Thôi, không nói nữa!”
Tô Tần biết, lần này ra đi, rất có thể sẽ không còn cơ hội gặp lại cha nữa, trong lòng càng thêm đau xót, nước mắt cứ thế chảy dài, sụt sùi mà nói: “Cha, lòng cha đang nghĩ gì, cha hãy nói ra đi! Tần Nhi sẽ mang theo nó suốt dọc đường, để sớm tối có điều tưởng nhớ.”
“Than ôi!” Tô Hổ khẽ lắc đầu. “Tần Nhi, canh năm vừa qua, cha lại một lần nữa mơ gặp thiên tử. Thiên tử mỉm cười, ung dung bước tới trước mặt cha, đích thân đỡ cha dậy, khen cha giỏi việc nhà nông. Con thử nói xem, cha…” Lại cười một tiếng buồn bã.
Tô Tần khóc lớn mà nói: “Cha, Tần Nhi xin cha hãy đợi thêm ba năm nữa. Sau ba năm, Tần Nhi nhất định sẽ quay lại đón cha, đưa cha vào cung, bái kiến Chu thiên tử!”
“Quả là một giấc mộng đẹp!” Tô Hổ lại cười buồn bã, hai hàng lệ đục lăn trào qua khoé mắt nhăn nheo, ngần ngừ hồi lâu, rồi gật đầu nói. “Tần Nhi, con… đi đi!”
Tô Tần bước ra khỏi cửa phòng cha. Tô Đại đã chuẩn bị nước nóng xong xuôi, bảo Tô Tần đi tắm gội.
Tô Tần tắm xong, bước ra khỏi thùng tắm, mặc vào bộ trang phục sĩ tử của mình, tuy cũ kỹ song đã được Tiểu Hỷ giặt sạch sẽ. Bước ra sân, thấy người thợ cắt tóc trong thôn đã đứng đợi sẵn dưới gốc cây xuân, không hiểu Tô Lệ đã lặng lẽ đi gọi tới từ lúc nào.
Trước sau không đầy nửa canh giờ, diện mạo Tô Tần đã hoàn toàn thay đổi từ đầu tới chân.
Tô Diêu thị bưng bữa sáng lại, Tô Tần ăn vội ăn vàng, chuẩn bị lương khô, lục tìm bó thẻ tre Quỷ Cốc Tử tặng trước lúc ra đi và các vật dụng cần thiết, gói ghém gọn gàng trong tay nải, sau đó vào trong gian nhà chính chào từ biệt Tô Hổ, rồi lại đến từng phòng từ biệt Tô Diêu thị, Tô Lệ, Tô Đại, cảm tạ mọi người xong xuôi, đang định quay người bước đi, đột nhiên nhìn thấy Tiểu Hỷ xách theo một cái túi, tập tễnh từ trong phòng bước ra.
Tô Tần chợt nhớ mình vẫn chưa chào từ biệt Tiểu Hỷ, thì ngượng ngùng nhìn nàng.
Tiểu Hỷ bước tới trước mặt Tô Tần, quỳ sụp xuống đất, cúi gằm mặt, không nói nửa lời, chỉ nâng cái túi lên quá đỉnh đầu.
Tô Tần kinh ngạc nhìn sững vào cái túi. Một lát sau, mới nhận lấy, mở ra xem, thấy bên trong là hai đôi giày vải mới khâu và một túi tiền thêu hình long phượng, bên trong đựng hơn trăm đồng tiền Đại Chu.
Tô Tần không nén nổi kinh ngạc hỏi: “Số tiền này ở đâu mà có?”
Tiểu Hỷ cất giọng lí nhí: “Là Tiểu Hỷ dệt vải nuôi tằm, gom góp từng đồng một!”
Nhìn người con gái chất phác chỉ thuộc về mình trên danh nghĩa kia, Tô Tần trong lòng cuộn lên một niềm thương xót, thở dài một tiếng não nề, rồi mở tay nải, bỏ cái túi vào trong, buộc lại như cũ, sau đó sải bước đi luôn.
Khi ra tới cổng, Tô Tần chợt quay đầu lại, thấy Tiểu Hỷ vẫn đang quỳ dưới đất, bèn lớn giọng nói: “Nàng ơi… hãy nghe đây, Tô Tần kiếp này nợ nàng, kiếp sau sẽ trả!”
Nói đoạn, quay đầu bước đi vài bước, lại vòng trở lại, nhìn Tiểu Hỷ một lần nữa, rồi vỗ nhẹ lên con Mực nãy giờ vẫn không rời mình nửa bước: “Còn nữa, vì hai đôi giày mới này của nàng, vì nàng là một người con gái tốt, Tô Tần đã chấp nhận nàng! Nghe này, con Mực chính là Tô Tần, nàng hãy ở yên trong nhà, sớm tối bầu bạn cùng nó, chịu khó chăm sóc cha, trông nom mẹ, thay Tô Tần báo hiếu!”
Tiểu Hỷ lại lạy thêm mấy lạy, liên tiếp gật đầu, hai mắt đẫm lệ nhìn theo bóng Tô Tần được Tô Lệ, Tô Đại và con Mực tiễn đưa, dần mất hút bên ngoài cổng, tiếng bước chân hỗn độn bên tai mỗi lúc một nhỏ dần.