Vừa vào tháng chạp, kinh đô Đại Lương nước Nguỵ lại đón một trận tuyết lớn. Tuyết rơi liền ba ngày ba đêm, khắp thành Đại Lương một màu trắng xoá.
Tuyết vừa ngừng, mặt trời đã xuất hiện trở lại, trời ấm lên, tuyết đọng tan dần. Chỉ hai ngày sau, khí lạnh lại tràn về, khiến tuyết đang tan dở liền đông cứng trở lại, chốc lát đất trời lạnh giá, vạn vật tiêu điều, trên phố đâu đâu cũng đầy băng trơn trượt, dưới hiên nhà, nhũ băng từng dãy.
Tuy nhiên, trong lúc băng tuyết kín trời, tại vườn mai ở hậu hoa viên Đông cung của thái tử, lại là một cảnh tượng khác hẳn, trăm hoa đua nở, hương thơm ngào ngạt.
Đây chính là thời khắc mà công chúa Đại Nguỵ Thuỵ Mai mong đợi đã lâu.
Chiều nay, thái tử Thân và em ruột là công chúa Thuỵ Mai đang đứng trong đình Thưởng Mai chính giữa vườn, say sưa ngắm nhìn hàng nghìn đoá hoa đang toả hương khoe sắc.
Nhìn ngắm một hồi, Thuỵ Mai sắc mặt thẹn thùng, tâm tư thắc thỏm, ngẩng đầu nhìn thái tử Thân, ngượng nghịu mà thẽ thọt cất lời: “Hoàng huynh, Tôn tướng quân… có tới không?”
Thái tử Thân cười nói: “Mai muội hãy yên tâm. Tôn tướng quân đã hứa, chắc chắn không sai hẹn bao giờ. Hơn nữa, hoàng huynh cũng không nói Mai muội ở đây, chỉ nói rằng mời tướng quân tới thưởng mai.”
Nghe thấy hai chữ “thưởng mai”, Thuỵ Mai e thẹn đỏ bừng mặt, cúi đầu hồi lâu mới hỏi: “Hoàng huynh, lúc nào Tôn tướng quân tới, em nên gảy đàn cầm hay đàn tranh?”
Thái tử Thân phì cười: “Mai muội sao phải căng thẳng đến thế? Tôn tướng quân không giống Bàng tướng quân, là người không thích tranh giành. Hoa mai không tranh đua, duy có hương thơm thanh tao phảng phất, rất hợp với nhân phẩm của Tôn tướng quân. Khỏi cần nói nhiều, Mai muội và Tôn tướng quân đúng là một cặp trời sinh!”
“Hoàng huynh…” Khuôn mặt kiều diễm của công chúa Thuỵ Mai càng đỏ bừng thẹn thùng, đưa mắt nguýt thái tử Thân, ra vẻ giận dỗi.
Nhìn Thuỵ Mai xấu hổ, thái tử Thân phá lên cười sảng khoái. Đúng lúc này, thái tử Thân dường như phát giác ra chuyện gì, lập tức thôi cười, hai mắt nhìn Thuỵ Mai không chớp, săm soi khắp từ đầu tới chân nàng, trong mắt lộ vẻ sửng sốt.
Thuỵ Mai chột dạ: “Hoàng huynh… sao thế?”
Thái tử Thân cười khẽ mà nói: “Không có gì, tuy nhiên,” đắn đo một lát mới nói, “hoàng huynh có một đề nghị!”
Thuỵ Mai vội giục: “Hoàng huynh, có gì hãy nói mau lên, làm người ta sốt ruột muốn chết!”
Thái tử Thân lại cười: “Hoa mai nhờ hương thơm thanh tao mà được người yêu mến, nên hoàng huynh muốn Mai muội hãy trả lại diện mạo vốn có cho mình, lau hết phấn son, tháo bỏ trang sức, đổi xiêm y khác, cứ giống như những lần tới đây thưởng mai thường ngày, hoặc giống như lúc đánh đàn trong cung.”
Thuỵ Mai mặt đỏ bừng, cúi mặt nói lí nhí: “Đều là tại Liên muội cả. Liên muội bảo em nên ăn mặc trang điểm thế này, nói rằng đàn ông đều thích vậy, nên em… mới nghe theo, chứ bản thân em cũng thấy ngượng nghịu lắm!”
“Đúng vậy!” Thái tử Thân thở dài nói. “Đàn ông đều thích nữ tử phục sức diêm dúa, trang điểm cầu kỳ. Có điều, Tôn tướng quân lại không phải là nam nhi tầm thường. Tôn tướng quân thích hoa mai chứ không phải hoa sen. Hoa sen nở vào giữa hạ nóng nực, còn hoa mai lại nở giữa đông lạnh giá; hoa sen nở trong rộn ràng, còn hoa mai nở trong u tĩnh; hoa sen rực rỡ lộng lẫy, vẫn cần lá sen nâng đỡ; hoa mai nhỏ bé mong manh, song lại xoè cánh che cành.”
Thuỵ Mai bước lại gần, thì thầm với thái tử Thân: “Nếu Tôn tướng quân cũng hiểu mai giống như hoàng huynh, mai sẽ không phải nở uổng một mùa!”
“Mai muội yên tâm! Nhớ khi Tôn tướng quân vừa xuống núi, hoàng huynh đưa tướng quân tới hậu hoa viên ngắm cảnh. Lúc đó cúc đương nở tưng bừng, còn trong vườn mai chỉ một bầu tịch mịch. Tôn tướng quân ngắm hoa cúc xong, đi dạo một vòng ở đây, chợt thấy vạt mai bèn dừng bước, tần ngần nhìn những gốc mai trụi lá trơ cành. Bởi thế, hoàng huynh biết được tướng quân là người yêu mai. Năm ngoái mai nở, hoàng huynh vốn định mời tướng quân tới thưởng mai cùng Mai muội, không ngờ nước Sở phạt Tống, Tôn tướng quân phải cùng Bàng tướng quân lên đường chinh chiến. Mấy hôm nay hoa mai lại nở, không thể bỏ lỡ thời cơ, hoàng huynh đã mời Tôn tướng quân chiều nay tới đây thưởng mai, tướng quân đã nhận lời rồi.”
“Nếu quả là vậy, Mai muội đời này đã có được chỗ dựa!”
Thái tử Thân vỗ về Thuỵ Mai: “Tôn tướng quân gặp Mai muội, là phúc phận của Tôn tướng quân. Mai muội gặp Tôn tướng quân, cũng là phúc phận của Mai muội!”
Lời nói vừa dứt, bên ngoài vườn mai chợt có tiếng bước chân vọng lại.
Nội thần Đông cung tất tả đi tới: “Điện hạ, Tôn giám quan cầu kiến!
Thái tử Thân khẽ đẩy Thuỵ Mai: “Mai muội, hãy về phòng chuẩn bị, hoàng huynh đi đón Tôn tướng quân đây!”
Thái tử Thân theo nội thần ra khỏi cửa điện, nghênh đón Tôn Tẫn. Hai bên hành lễ xong xuôi, thái tử Thân cười nói: “Nguỵ Thân biết tướng quân yêu mai, gần đây hoa mai nở rộ, Nguỵ Thân không dám hưởng thụ một mình, nên mời Tôn Tử tới đây cùng thưởng thức!”
Tôn Tẫn vòng tay cảm tạ: “Vi thần đa tạ điện hạ!”
“Tôn Tử, mời tới vườn mai!”
“Điện hạ, mời đi trước!”
Thái tử Thân dẫn Tôn Tẫn đi về phía hậu hoa viên, men theo một con đường nhỏ quanh co, chốc sau thì tới vườn mai bên một góc hoa viên. Chưa tới vườn mai, Tôn Tẫn đã ngửi thấy hương mai thoang thoảng, bỗng chốc tâm tư phơi phới. Vừa bước chân qua cửa vườn, nhìn thấy những bông mai xoè nở đầy cành trong tuyết tan băng giá, Tôn Tẫn bất giác ngẩn ngơ.
Thái tử Thân cũng dừng bước, đợi một lát, rồi khẽ nói: “Tôn Tử, mời vào trong đình!”
Tôn Tẫn gật đầu, theo thái tử Thân bước vào đình Thưởng Mai trong vườn, phân ngôi chủ khách ngồi xuống. Đã có cung nữ pha sẵn trà thơm, đứng hầu ở đó.
Nhìn mai nở rộ khắp vườn, Tôn Tẫn buột miệng ngâm:
“Mong manh mai một cội,
Khinh tuyết nở âm thầm.
Lặng đưa hương phảng phất,
Theo lối tìm tri âm.”
Thái tử Thân cười nói: “Bài thơ Tôn Tử ngâm thật hay!”
Tôn Tẫn cười ngượng nghịu: “Nào phải thơ gì đâu! Tẫn thấy mai nở đầy vườn, trong lòng cảm động, buột miệng chắp vá vài câu, đã khiến điện hạ cười chê!”
Thái tử Thân cười vui vẻ: “Có cảm mới có thơ. Nghe được tứ thơ tuyệt diệu của Tôn Tử, ta cũng muốn ngâm vài câu, để hoạ cùng Tôn Tử!”
“Vi thần xin rửa tai cung kính lắng nghe!”
Thái tử Thân bèn ngâm khe khẽ:
“Gió bắc lạnh lẽo,
Tuyết trắng lâm thâm.
Hoàng hôn tịch mịch,
Hoa nở âm thầm.
Hương thanh phảng phất,
Ai người tri âm?
Băng phong buốt giá,
Mưa dãi thê lương.
Sớm mai tịch mịch,
Lòng ta vấn vương.
Hương thanh man mác,
Ai người xót thương.”
Tôn Tẫn trầm ngâm hồi lâu, thực lòng khen ngợi: “Những câu điện hạ vừa ngâm mới gọi là thơ. Có điều bài thơ này quá ư sầu thảm, khiến vi thần nghe mà não lòng. Vi thần dám hỏi, thơ này phải chăng cũng do điện hạ tức cảnh mà sáng tác?”
Thái tử Thân lại cười, lắc đầu nói: “Tôn Tử đề cao Nguỵ Thân rồi. Nguỵ Thân vốn là người bạc tình, làm gì biết sầu thảm đến vậy?”
“Điện hạ khiêm tốn rồi! Xin hỏi điện hạ, thơ này là của ai?”
Thái tử Thân chưa kịp trả lời, nội thần đã bước tới: “Khởi bẩm điện hạ, Mai công chúa đã tới!”
Thái tử Thân cười hồ hởi, nói: “Ồ, Mai muội tới rồi ư? Mau mời vào!”
Nghe nói công chúa sắp tới, Tôn Tẫn vội khấu bái sát đất: “Điện hạ, vi thần xin cáo lui!”
“Ồ?” Thái tử Thân ngạc nhiên. “Sao Tôn Tử lại nói vậy? Đã tới thưởng mai, cũng nên tận hứng mới phải!”
Tôn Tẫn khấu đầu nói: “Công chúa là thân ngàn vàng, vi thần thô tục, ở đây e rằng bất tiện!”
“Tôn Tử lo lắng thái quá rồi!” Thái tử Thân mỉm cười nói. “Tôn Tử vừa hỏi mấy câu thơ kia là của ai, lẽ nào không muốn biết câu trả lời?”
“Ồ… vi thần muốn biết!”
“Thế thì tốt rồi,” thái tử Thân phẩy tay. “Tôn Tử cứ ngồi xuống, lát nữa sẽ biết ngay thôi!”
Tôn Tẫn tạ ơn, rồi ngồi xuống, song trong lòng thấp thỏm không yên. Lát sau, nội thần dẫn theo công chúa Thuỵ Mai phục sức giản dị, bước khoan thai theo con đường nhỏ quanh co, thong thả lại gần. Tôn Tẫn từ xa nhìn thấy, vội vã quỳ xuống khấu bái.
Thái tử Thân đứng dậy nghênh đón: “Mai muội tới thật đúng lúc! Hôm nay hoa mai nở rộ, hoàng huynh đang định mời Mai muội tới!”
Thuỵ Mai làm ra vẻ hờn trách: “Hoàng huynh lại nói đùa rồi. Hoa mai đã nở mấy ngày, có thấy mời đến muội đâu!”
Thái tử Thân bật cười nói. “Mai muội có điều không biết, một mình thưởng mai, có gì thú vị? Hôm nay hoàng huynh mời tới một người hiểu mai, để ngắm hoa cùng Mai muội, há chẳng vui hơn ư?”
“Ồ! Người hiểu mai? Xin hỏi hoàng huynh…” Thuỵ Mai liếc nhìn Tôn Tẫn vẫn đang dập đầu sát đất không dám ngẩng lên, sắc mặt thoáng ửng hồng, “người đó… người đó ở đâu?”
“Lại đây, để ta giới thiệu,” Thái tử Thân chỉ vào Tôn Tẫn. “Vị này là Tôn tướng quân!”
Tôn Tẫn dập đầu: “Thần Tôn Tẫn khấu kiến công chúa!”
Thuỵ Mai vòng tay đáp lễ: “Thuỵ Mai xin chào Tôn tướng quân. Tôn tướng quân, xin mời đứng dậy.”
“Vi thần tạ ơn công chúa!” Tôn Tẫn lại dập đầu lần nữa rồi mới đứng dậy, ngồi xuống, song không dám ngẩng đầu nhìn Thuỵ Mai. Thuỵ Mai lại càng hai má đỏ bừng, khẽ cắn môi son, cúi đầu không nói.
Thái tử Thân hết nhìn Tôn Tẫn, lại nhìn Thuỵ Mai: “Tôn tướng quân, kể ra cũng thật trùng hợp. Mai muội bao nhiêu loài hoa không yêu, chỉ yêu một giống hồng mai. Mỗi khi hoa nở, đều tới thưởng lãm. Song vì không có người hiểu mai, Mai muội một mình thưởng thức, cũng kém phần thi vị. Nay gặp được tướng quân đây, cũng là người hiểu mai, vườn mai này đã thú vị hơn nhiều!”
Tôn Tẫn vòng tay vái về phía Thuỵ Mai, nói: “Vi thần không biết công chúa giá lâm, mạo muội quấy rầy, xin thỉnh tội!”
Thuỵ Mai cũng vòng tay đáp lễ: “Tôn tướng quân khách khí rồi! Là Thuỵ Mai không mời mà tới, đã làm mất nhã hứng của tướng quân.”
Thái tử Thân cười lớn, vui vẻ nói: “Nhìn hai người kìa, thưởng mai thì cứ thưởng mai, người này nói xin thỉnh tội, người kia nói mất nhã hứng, sao lại khách sáo đến vậy?” Quay sang Tôn Tẫn. “Tôn Tử, Nguỵ Thân xin trả lời câu hỏi của Tôn Tử, bài thơ Nguỵ Thân vừa ngâm khi nãy chính là do Mai muội làm ra khi thưởng mai ở đây ngày trước.”
Thuỵ Mai vừa thẹn vừa giận, trách: “Sao hoàng huynh lại lôi tiểu muội ra đùa cợt!”
Tôn Tẫn vòng tay nói: “Bài thơ của công chúa rất tuyệt diệu, khiến vi thần cũng lây niềm cảm xúc.”
Thuỵ Mai vòng tay hướng vào Tôn Tẫn, nói: “Là tiểu nữ ngâm nhàn, đã bị Tôn tướng quân chê cười!”
Không đợi Tôn Tẫn đáp lời, thái tử Thân đã cười nói: “Tôn tướng quân vừa bước chân vào vườn, nhìn thấy hoa mai nở rộ, tức cảnh sinh tình mà ngâm một bài thơ, Mai muội có muốn nghe chăng?”
Tôn Tẫn mặt nóng ran, vội can: “Điện hạ!”
Thuỵ Mai mỉm cười: “Mai muội muốn nghe!”
Thái tử Thân bèn ngâm nga:
“Mong manh mai một cội,
Khinh tuyết nở âm thầm.
Lặng đưa hương phảng phất,
Theo lối tìm tri âm.”
Thuỵ Mai ngẫm ngợi một hồi, rồi nhìn Tôn Tẫn chăm chú, vòng tay nói: “Thuỵ Mai thay mặt hoa mai trong vườn cảm tạ tướng quân!”
Tôn Tẫn vái đáp lễ, nói: “Công chúa không yêu trăm hoa, chỉ yêu một mình hàn mai, cái tâm cao khiết, thực khiến vi thần kính phục!”
“Hay lắm!” Thái tử Thân lại cười vang. “Tôn tướng quân và Mai muội đây, một người hiểu mai, một người yêu mai. Hôm nay Nguỵ Thân đứng ra làm chủ, chúng ta hãy ở trong vườn mai này, lấy mai làm đề, cầm sắt cùng hoạ, thưởng rượu ngâm thơ, được chăng?”
Thuỵ Mai vẫn nhìn Tôn Tẫn, khẽ khàng đáp: “Tiểu nữ được cùng Tôn tướng quân đây ngâm thơ thưởng mai, thực là vinh hạnh!”
Tôn Tẫn vô cùng bối rối: “Ồ… chuyện này…”
Thái tử Thân quay sang nội thần: “Chuẩn bị đàn cầm, bàn rượu!”
***
Qua hai năm khai hoang đồn điền, ruộng vườn của quân đội khắp nơi đã có thu hoạch khả quan. Thắng trận trước người Sở, Bàng Quyên cũng thu về được mười vạn thạch lương từ kho lương Hình Sơn, nhờ thế mà vấn đề quân lương coi như đã được giải quyết. Hiện giờ, đang lúc nông nhàn, là thời cơ tốt để thao luyện ba quân. Trời vừa chớm đông, Bàng Quyên đã một lòng dốc sức trị lý quân đội, không chỉ lệnh cho doanh trại các nơi ngày ngày rèn tập, mà còn liên kết với phủ Tư đồ, tổ chức hai mươi vạn dân binh, luyện binh trên toàn quốc. Lúc này, toàn nước Nguỵ đã trở thành một doanh trại lớn, tiếng chiêng khua trống thúc, tiếng xung phong tập trận, tiếng rèn binh khí ầm ầm không ngớt bên tai, Bàng Quyên nghe mà trong lòng rạo rực.
Gần đây, Bàng Quyên và công tử Ngang liên tục tuần sát việc luyện quân ở Thừa Khuông, bận tối mắt tối mũi suốt mấy ngày trời, đến tận trưa nay mới về tới Đại Lương.
Bàng Quyên không vội vã trở về phủ ngay, mà trước hết đi tới đại doanh ở Phùng Trạch, nghe thuộc hạ bẩm báo tình hình diễn tập, thấy mọi sự đều suôn sẻ, đến khi trời tối mới đánh xe về phủ. Nghe thấy tiếng xe, Bàng Thông vội dẫn đám gia đinh ra ngoài cổng nghênh đón, rước Bàng Quyên vào phủ.
Bàng Quyên tắm rửa xong xuôi, đi vào phòng ngủ ở nội đường. Trong phòng ngủ đã đốt sẵn than lửa ấm sực, không còn chút hơi giá lạnh. Thuỵ Liên mặc áo ngủ đã đợi sẵn trong phòng từ lâu, lập tức đón Bàng Quyên đưa vào phòng, tự tay tháo đai cởi áo cho Bàng Quyên. Bàng Quyên ôm lấy Thuỵ Liên, hít hà hương thơm trên ngọc thể. Thuỵ Liên cũng tình tứ vươn tay ôm lấy cổ Bàng Quyên, hắn bèn thuận thế bế bổng nàng lên.
Hai người quấn quýt một hồi, thì Thuỵ Liên trượt xuống khỏi lòng Bàng Quyên, bưng một bát canh hạt sen lại, đặt lên mặt bàn: “Mấy ngày nay phu quân vất vả ngược xuôi bên ngoài, hẳn đã mệt lắm rồi. Bát canh này do thần thiếp tự tay nấu, để giúp phu quân bồi bổ!”
Bàng Quyên ngồi xuống bên bàn, bưng bát canh lên uống, tấm tắc khen: “Phu nhân nấu canh ngon quá!”
Thuỵ Liên bước lại, quỳ xuống sau lưng Bàng Quyên, nâng mái tóc của hắn lên, cầm lược chải nhẹ nhàng, miệng nói ríu rít: “Thần thiếp còn có một tin vui, phu quân có muốn nghe không?”
“Ồ?” Bàng Quyên ngẩng đầu lên. “Là tin vui gì vậy?”
“Huynh trưởng hôm nay mời Tôn tướng quân tới thưởng mai, Mai tỷ cũng đến. Nghe nói hai người uống rượu ngâm thơ, gảy đàn xướng hoạ, rất tâm đầu ý hợp!”
Bàng Quyên giật nảy mình, ngụm canh ứ luôn trong cổ, ho sặc sụa. Thuỵ Liên hoảng hốt vứt vội cây lược, hết đấm lại xoa, hoảng hốt kêu lên: “Phu quân… có sao không?”
Bàng Quyên ho thêm vài tiếng mới hoàn hồn lại được, Thuỵ Liên vội bưng đến một chén nước. Bàng Quyên uống đánh ực, rồi quay đầu nhìn Thuỵ Liên hỏi dồn: “Vừa rồi nàng nói… Tôn huynh cùng Mai công chúa thưởng mai?”
Thuỵ Liên gật đầu.
“Ồ!” Bàng Quyên cười nói. “Quả là tin vui! Chuyện này phụ vương có biết không?”
“Phụ vương vui mừng lắm lắm!” Thuỵ Liên công chúa thấy Bàng Quyên không có gì đáng ngại, cũng cười khúc khích, khe khẽ đấm lưng cho Bàng Quyên. “Nếu đúng như thiếp đoán, huynh trưởng hẳn là phụng theo ý chỉ của phụ vương se duyên cho hai người họ! Nghe tỳ nhân nói, một tháng trước, phụ vương và tướng quốc đã bàn tới chuyện này, hẳn là tướng quốc lại tiếp tục đứng ra làm mối!”
“Tin vui thế này, đáng lẽ phu nhân phải báo sớm cho ta mới phải!”
“Thiếp cũng vừa mới biết mà thôi. Tối qua thần thiếp về cung, bái kiến phụ vương, mẫu hậu, rồi tới thăm Mai tỷ, Mai tỷ cứ úp úp mở mở dò hỏi thần thiếp về Tôn tướng quân, thần thiếp thấy lạ, gặng hỏi mãi, Mai tỷ mới nói về cuộc hẹn thưởng mai hôm nay. Thiếp hay tin rất mừng, nói chuyện hồi lâu với Mai tỷ, ca ngợi Tôn tướng quân hết lời, Mai tỷ nghe mà đỏ bừng mặt. Lúc thiếp ra về, vừa hay gặp tỳ nhân, bèn lân la hỏi dò, mới biết được sự thực.”
Bàng Quyên đưa tay kéo Thuỵ Liên vào lòng, ôm lấy nàng, thẫn thờ mất một lúc, rồi mới bế bổng Thuỵ Liên lên, bước vào phòng trong.
Hôm sau không có buổi chầu sáng. Bàng Quyên tha hồ ngủ nướng, đến tận sáng bảnh mới dậy. Ăn sáng xong, vào giờ Mão, đánh xe thẳng tới phủ giám quân.
Tôn Tẫn hay tin, vội vã ra đón. Hai người hành lễ xong xuôi, dắt tay nhau bước vào phòng khách.
Sau khi ngồi vào vị trí, Bàng Quyên vòng tay nói: “Chúc mừng Tôn huynh! Chúc mừng Tôn huynh!”
Tôn Tẫn có phần ngạc nhiên, ngơ ngác hỏi: “Dám hỏi hiền đệ, có chuyện vui gì vậy?”
Bàng Quyên cười cười: “Nghe nói hôm qua Tôn huynh và Mai công chúa cùng đi thưởng mai, chẳng phải là tin vui ư?”
Nghe Bàng Quyên nhắc tới chuyện này, Tôn Tẫn cười hồn hậu, gật đầu mà nói: “Phải, hiền đệ nói tới chuyện này, quả là rất vui. Trong trăm hoa, Tẫn chỉ yêu thích hoa mai, vốn cứ ngỡ đời này khó gặp tri kỷ, nào ngờ Mai công chúa không chỉ yêu mai, mà còn là rất hiểu mai, do vậy mới gặp nàng lần đầu mà như đã quen thân, trò chuyện rất ý hợp tâm đầu.”
Bàng Quyên cười nói: “Tôn huynh thấy Mai công chúa thế nào?”
Tôn Tẫn tấm tắc khen ngợi: “Mai công chúa tài hoa xuất chúng, tấm lòng nhân hậu, lại mang trái tim cao khiết, thực khiến tại hạ kính phục!”
Bàng Quyên trong lòng thắt lại, nhưng lập tức cười vang mà nói: “Tôn huynh gặp được tri kỷ, thực khiến ngu đệ phải đố kỵ. Hôm nay được ngày rỗi rãi, cơn nghiện cờ bỗng nhiên trỗi dậy, rất muốn chơi với Tôn huynh một ván, không biết Tôn huynh có hạ cố bồi tiếp chăng?”
“Hay lắm! Từ ngày rời khỏi Quỷ Cốc, chẳng biết là bận rộn những gì, đến đánh cờ cũng quên bẵng mất!”
“Ngu đệ cũng vậy. Không giấu Tôn huynh, cũng có không ít người tìm ngu đệ đánh cờ, song ngu đệ đều từ chối.”
Tôn Tẫn cười nói: “Khi ở Quỷ Cốc, hiền đệ thích đánh cờ nhất. Đã có người muốn đánh cờ với hiền đệ, cớ sao lại từ chối họ?”
Bàng Quyên cũng cười mà rằng: “Kỳ phùng địch thủ, mới thấy thú vị. Những kẻ tầm thường kia, ngu đệ không thèm ra tay!”
Tôn Tẫn vòng tay nói: “Tẫn tạ ơn hiền đệ đã yêu mến!” Rồi đứng dậy, bước lại bên giá sách, cầm lấy bàn cờ bày lên mặt bàn, đẩy hộp quân đen tới trước mặt Bàng Quyên, giữ lại quân trắng cho mình.
Bàng Quyên đẩy trả lại quân đen: “Khi ở Quỷ Cốc, Tôn huynh lúc nào cũng cầm quân đen, hôm nay cớ sao lại muốn Quyên cầm quân đen?”
Tôn Tẫn lại đẩy trả về, cười nói: “Hiền đệ kỳ nghệ cao siêu, Tẫn cầm quân đen hay trắng, đều khó lòng thắng nổi, nên cầm quân trắng luôn vậy!”
Bàng Quyên cũng cười mà rằng: “Xem ra, Tôn huynh đã nắm chắc phần thắng rồi. Đã vậy, ngu đệ không khách khí nữa!” Rồi lấy ra một quân đen từ trong hộp, chiếu theo nghi lễ đánh cờ, khách sáo đặt vào điểm sao ở góc trên bên phải. Tôn Tẫn cũng lấy ra một quân cờ, đặt vào điểm sao phía dưới bên phải Bàng Quyên. Bàng Quyên lại lấy tiếp một quân cờ nữa, đặt vào điểm sao ở góc dưới bên trái của Tôn Tẫn. Tôn Tẫn lại đặt vào điểm sao ở góc dưới bên trái của Bàng Quyên. Bàng Quyên đặt quân cờ thứ ba trực tiếp treo góc, tấn công điểm sao góc dưới bên trái của Tôn Tẫn. Tôn Tẫn không ứng chiến, ngược lại đặt quân cờ thứ ba vào vị trí thiên nguyên(1).
Bàng Quyên thấy vậy, cười nói: “Tôn huynh đi nước lớn quá, ngu đệ cho Tôn huynh đi lại một nước.”
Tôn Tẫn cũng cười nói: “Đã đặt xuống rồi, làm sao đi lại được?”
Bàng Quyên vòng tay nói: “Nếu đã nói vậy, ngu đệ sắp sửa chiếm đất của Tôn huynh đây!” Nói xong đặt một quân đen vào điểm ba ba tại góc khác.
Tôn Tẫn lập tức đáp đòn, hai người bắt đầu triển khai sát phạt ở góc này. Bàng Quyên đã chiếm được góc này đúng như ý nguyện, song Tôn Tẫn lại được thế bên ngoài. Bàng Quyên bỏ chỗ này, lại đặt vào điểm ba ba tại một góc khác. Hai người lại tiếp tục tranh đua, cho đến trưa thì phong bàn cờ. Bàng Quyên gần như đã chiếm hết bốn góc, bốn cạnh. Còn Tôn Tẫn lại hình thành thế bên ngoài, vây được một vùng trống ở giữa bụng.
Người hầu bưng cơm trưa lại, hai người ngồi ăn luôn trong sảnh.
Bàng Quyên vừa ăn, vừa liếc nhìn thế cờ, trong lòng thầm nghĩ: “Người này quả là có khí phách. Nếu để hắn chiếm hết vùng giữa, ván cờ này thắng thua cũng thực khó đoán! Không được, sau bữa trưa mở lại bàn cờ, ta phải tìm cách đánh vào giữa, khiến hắn không còn sức để phản công!”
Tôn Tẫn nhìn thấy vậy thì dừng đũa, cười hỏi: “Hiền đệ vẫn đang nghĩ về cờ ư?”
Bàng Quyên gật đầu: “Bụng của Tôn huynh cũng rộng thật đấy!”
Tôn Tẫn lại cười nói: “Hiền đệ, theo lý của cờ, góc là vàng, cạnh là bạc, bụng là cỏ. Tuy Tẫn khoanh được vùng bụng trống ở giữa, song lại không chiếm được thượng phong. Nếu hiền đệ thu quan thoả đáng, ván cờ này ắt sẽ thắng tại hạ nửa mục.”
Bàng Quyên kinh hãi, nghĩ thầm trong bụng: “Khi ở Quỷ Cốc, dù cầm quân đen, hắn cũng chưa từng thắng được ta. Hôm nay xem ra, hắn không chỉ giỏi binh pháp, dù là chơi cờ, cũng ngang ngửa với ta. Ván cờ mới đi được phân nửa, hắn đã tính ra chỉ thua nửa mục, hơn nữa ta còn phải thu quân thoả đáng, quả là đáng nể!”
Nghĩ tới đây, Bàng Quyên ngẩng đầu nhìn Tôn Tẫn: “Nếu ngu đệ nếu đánh vào vùng bụng trống của Tôn huynh thì sao?”
Tôn Tẫn cười nói: “Hiền đệ đã thắng nửa mục, vẫn chưa hài lòng ư?”
Bàng Quyên cũng cười nói: “Ngu đệ chỉ muốn toàn thắng. Nếu chỉ thắng nửa mục, coi như thua rồi!”
Tôn Tẫn nhìn vào bàn cờ, trầm ngâm hồi lâu: “Nếu hiền đệ cứ nhất quyết muốn đánh vào giữa bàn, ván cờ này thực sự khó đoán thắng thua!”
Bàng Quyên đặt đũa xuống, vòng tay nói: “Nghe Tôn huynh nói vậy, ngu đệ miếng cơm này cũng khó mà nuốt nổi. Nào, hai ta cùng chơi tiếp cho rõ ràng!”
Tôn Tẫn cười nói: “Nghe hiền đệ nói vậy, Tẫn thấy như lại được trở về sơn cốc. Được, nếu hiền đệ vẫn sốt sắng như xưa, Tẫn chỉ biết phục tùng.”
Hai người bỏ bát cơm xuống, tiếp tục ván cờ.
Bàng Quyên quan sát thế cờ một lát, tràn đầy tự tin, hạ cờ vào giữa bàn. Tôn Tẫn lại không ứng chiến, chỉ chặn ở vòng ngoài. Đi khoảng vài chục nước nữa, do Tôn Tẫn đã chiếm mất thiên nguyên, Bàng Quyên tả xung hữu đột, song vẫn không thể có được hai khí(2). Trong lúc đó, những góc và cạnh với số quân đen vô cùng vững chãi cũng chịu tổn thất nghiêm trọng trong lúc tả xung hữu đột.
Nhìn thấy tình thế hết cách cứu vãn, Bàng Quyên chỉ còn biết hạ cờ nhận thua, cười gượng mà nói: “Tôn huynh cao cờ hơn hẳn một bậc, ngu đệ xin chịu thua!”
Tôn Tẫn vòng tay nói: “Hiền đệ, ván cờ này tuy hiền đệ nhận thua, song thực chất là đã thắng!”
Bàng Quyên ngẩn người: “Nghĩa là sao?”
Tôn Tẫn cười nói: “Hiền đệ nếu không vào giữa bàn, đã ở thế thắng!”
Bàng Quyên cười gượng, lắc đầu nói: “Trong đánh cờ, không có nếu như. Tôn huynh bảo trọng, ngu đệ cáo từ!”
Tôn Tẫn tiễn Bàng Quyên ra cửa, vái chào mà nói: “Hiền đệ đi cẩn thận!”
Bàng Quyên đáp lễ, nhảy lên xe ngựa, ra roi đánh ngựa đi luôn. Về tới phủ, Bàng Quyên mặt nặng trình trịch, đi thẳng vào thư phòng, ngồi thẫn thờ hồi lâu, rồi bước tới bên giá sách, cầm lấy bàn cờ, dựa vào trí nhớ, hồi tưởng lại từng nước cờ, sắp xếp ra bàn, rồi suy ngẫm kỹ lưỡng.
Một lát sau, Bàng Quyên bắt đầu hiểu ra mình đã thua ở chỗ nào. Khi đánh vào giữa bàn, có vài nước hắn đã đi quá vụng về. Kỳ thực, hắn vẫn có cơ hội cứu vãn, Tôn Tẫn liên tiếp nương tay ở vài nước cờ, cố tình thả cho hắn, mở đường sống cho hắn, song hắn lại hiếu chiến hiếu thắng, liên tiếp bỏ lỡ cơ hội, cuối cùng dẫn tới thất bại toàn bàn. Ngẫm lại, dù hắn có dốc hết sức cứu vãn tình thế ở giữa bàn, song những góc và cạnh mà trước đó hắn đã vất vả tạo dựng đã bị tổn thất nghiêm trọng, được mất rất khó đoán. Vào lúc ăn trưa, Tôn Tẫn đã dự đoán ván cờ này “thắng thua khó nói”, chính là chỉ điều này. Ngẫm nghĩ một hồi, Bàng Quyên than dài thở ngắn, hối hận không nên đánh vào giữa bàn, đồng thời cũng không thể không khâm phục kỳ nghệ của Tôn Tẫn.
Bàng Quyên nhắm mắt suy nghĩ, hồi lâu sau, đột nhiên sực nhớ ra một chuyện, bèn đứng bật dậy, bước tới bên giá sách, lấy ra một chiếc hộp, lật mở tầng tầng lớp lớp lụa gói bên ngoài, lôi ra cuộn thẻ tre “Ngô Tử” mà hắn đã tự tay sao chép khi ở trên núi, quay trở về chỗ, nhẹ nhàng đẩy bàn cờ ra phía đầu bàn, rồi cẩn thận đặt “Ngô Tử” xuống đầu bàn còn lại, hai mắt đờ đẫn nhìn lên mặt bàn, ánh mắt âm trầm hết nhìn vào bàn cờ, lại nhìn vào “Ngô Tử”.
Bần thần hồi lâu, Bàng Quyên thình lình giơ tay lên, gạt mạnh bàn cờ và cuốn thẻ tre. Chỉ nghe bàn cờ và thẻ tre văng rào rào trên đất, quân cờ đen trắng lăn nảy tứ tung.
Bàng Quyên đứng phắt dậy, đôi mày chau tít, mặt giận hằm hằm, đi lại huỳnh huỵch trong phòng.
Rồi Bàng Quyên dừng bước, hậm hực nghĩ thầm trong bụng: “Phải, cờ hay, đúng là một ván cờ hay! Tôn huynh giấu kim trong bọc, bề ngoài hoà nhã khiêm nhường, bên trong giết người không dao. Giờ nghĩ lại, mới thấy ngay từ đầu, ta đã trúng kế của hắn!”
Bàng Quyên lại đi lại vài vòng nữa, rồi trở về chỗ ngồi, nhắm mắt lại, trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu, đột nhiên mở choàng mắt, nện nắm đấm đánh “rầm” xuống mặt bàn, sắc mặt càng thêm hung hãn: “Phải rồi, ta đã trúng kế của hắn! Vẻ nho nhã thanh cao của hắn đều là giả tạo. Hắn hiểu mà làm như không hiểu, biết mà làm như không biết, lúc nào cũng ra vẻ yếu thế, lúc nào cũng ra vẻ không tranh giành, thế nhưng lại không hề yếu thế, chỗ nào cũng tranh đua. Quỷ kế của hắn, không những lừa được ta, mà còn qua mặt được tiên sinh, qua mặt sư tỷ, qua mặt đại sư huynh, Tô Tần và Trương Nghi, càng không nói đến Đại Lương này!”
Nghĩ tới đây, ánh mắt của Bàng Quyên dừng lại trên bó thẻ tre, bèn với tay nhặt lên, nâng trên hai tay, cẩn thận lật giở vài lần, thở dài thườn thượt: “Than ôi, hôm nay sở dĩ ta không bằng người, chỉ vì mấy tấm thẻ tre này! ‘Ngô Khởi binh pháp’ bốn mươi tám thiên, ta đã phải hao tổn hết tâm cơ, song chỉ có được sáu thiên này, chẳng qua chỉ được một phần tám mà thôi! Còn kẻ này thật tốt số, chỉ đánh chết một con chuột, đã có được cuốn binh thư đệ nhất thiên hạ! Ta dám cá rằng, nếu không nhờ ‘Tôn Tử binh pháp’, dựa vào chút tài nghệ cỏn con của hắn, sao có thể thắng ta?”
Bàng Quyên càng nghĩ càng hận, lại nện xuống một đấm rung chuyển mặt bàn: “Lại suy xét về kẻ này, thấy hắn làm người chẳng ra gì, làm việc cũng rất vô lý! Ta xưa nay coi hắn là sư huynh, đối đãi vô cùng cung kính, song hắn lúc nào cũng tự cậy mình là sư huynh, nhất định muốn đè đầu cưỡi cổ ta, muốn dìm ta xuống! Dìm thì đã dìm rồi, hắn lại còn làm ra vẻ vô can, toàn nói những lời giả dối, thực khiến người ta phải tức chết!”
Bàng Quyên lại đứng phắt dậy, hậm hực đi lại trong phòng, nghĩ thầm trong bụng: “Đây vẫn chưa phải là điều bực mình nhất! Ta đổ bao tâm huyết, nếm đủ mùi khổ sở, mới khiến Đại Nguỵ chuyển nguy thành an, đứng vững ở Trung Nguyên. Còn kẻ này thực nhàn tản, ta đi trước trồng cây, hắn theo sau hái quả. Hai năm xuống núi, không tốn lấy mảy may sức lực, những thứ ta có được, hắn không những đều có, đã vậy chỗ nào cũng chiếm mất thế thượng phong của ta. Ta là đại tướng quân, hắn làm giám quân. Ta được phong Vũ An Quân, nhưng xem tình hình hiện tại, chuyện phong quân đối với hắn chỉ là việc sớm chiều. Ta bôn ba khắp chốn, ngày đêm lăn lộn nơi thao trường, thao luyện binh mã, hắn lại ở đây vui vẻ thưởng mai, yêu đương phong lưu. Ta cưới Thuỵ Liên, hắn cũng muốn cưới Thuỵ Mai. Thuỵ Liên chẳng qua chỉ là con của phi tần, còn Thuỵ Mai mới là con ruột của vương hậu. Anh ruột của Thuỵ Liên là tên công tử Ngang vô dụng thất thế, còn anh ruột của Thuỵ Mai lại là thái tử điện hạ tôn quý, một khi Nguỵ chủ băng hà, ắt sẽ là người kế vị!” Bước chân chợt khựng lại, đôi mày chau tít. “Điện hạ và ta, xưa nay nói chuyện không hợp. Lại thêm lão Chu Uy còn đáng ghét hơn nữa, chuyện gì cũng đối đầu với ta. Còn kẻ này, vừa đặt chân tới Nguỵ, đã lập tức bám riết lấy hai người kia, coi ‘hiền đệ’ ta như người ngoài! Huệ tướng quốc vốn đang giúp ta, nhưng từ khi kẻ này đến, cũng có vẻ thay lòng đổi dạ, gần đây lại cố tình xa lánh ta…”
Nghĩ tới đây, Bàng Quyên toát mồ hôi lạnh, mắt lộ hung quang, giậm mạnh chân xuống nền nhà: “Tôn huynh ơi là Tôn huynh, từ sau khi huynh tới Nguỵ, ta đã nhẫn nhịn hết lần này tới lần khác, nhún nhường hết lần này tới lần khác, nào ngờ huynh thực không biết hay dở, lấn lướt bức bách, chỗ nào cũng mưu mô toan tính, danh nghĩa là vì muôn dân trăm họ, thực chất là mua danh cầu lợi, một lòng tranh giành với ta! Được lắm, Tôn huynh, huynh đã bất nhân thì chớ trách ta bất nghĩa!”
Bàng Quyên lộ một nét cười âm hiểm, quay trở về trước bàn, ngồi xếp bằng dưới chiếu, nhắm hai mắt lại, đang miệt mài suy nghĩ thì Bàng Thông tất tả bước vào, định bẩm báo chuyện gì đó, chợt nhìn thấy bàn cờ, thẻ tre, quân cờ vung vãi dưới đất, lại thấy Bàng Quyên sắc mặt nặng nề, đầu mày nhíu chặt, thì lấy làm ngạc nhiên, vội dừng bước, đang quay người định lui ra, bỗng Bàng Quyên lên tiếng: “Là Thông đệ phải không?”
Bàng Thông đành phải quay lại: “Đại ca, thế này là…”
Bàng Quyên mở mắt, chỉ vào những quân cờ vương vãi dưới đất: “Hãy thu dọn cho ta!”
Bàng Thông ngồi xuống thu dọn đám đồ vật bừa bộn mà trống ngực đánh thình thịch. Bàng Quyên nhận ra, cười gượng giải thích: “Hôm nay đại ca đánh được một ván cờ hay, trở về xếp lại bàn, song không nhớ rõ. Nhất thời tức giận, mới đẩy đổ bàn cờ!”
Bàng Thông nhanh chóng thu dọn xong đám quân cờ vung vãi, ngồi xuống trước mặt Bàng Quyên, thăm dò: “Đại ca đánh cờ với ai vậy?”
“Ở nước Nguỵ này, ngoài Tôn huynh, còn ai xứng đáng đọ cờ với đại ca?”
Bàng Thông ngẫm nghĩ một lát: “Lẽ nào đại ca đã thua Tôn tướng quân?”
Bàng Quyên nặng nề gật đầu.
Bàng Thông phì cười một tiếng: “Đại ca buồn làm gì! Đã thua Tôn tướng quân thì để tiểu đệ mời tướng quân đến đây, đại ca lại thắng tướng quân một ván là được rồi!”
“Than ôi!” Bàng Quyên khẽ thở dài một tiếng, lắc đầu liên tiếp. “Thông đệ có điều không biết, ván cờ hay của đời người chỉ có một, nếu chơi lại, đâu còn gì thú vị nữa!” Dừng lại một lát. “Hơn nữa, dù có chơi lại, e rằng đại ca cũng không thể thắng nổi Tôn huynh.”
Bàng Thông đảo con ngươi vài vòng: “Theo ý tứ của đại ca, hẳn là muốn thắng Tôn huynh?”
Bàng Quyên cười buồn bã: “Khi ở Quỷ Cốc, đại ca chưa từng thua Tôn huynh, vậy mà mới chỉ có mấy năm, tất cả đều đã thay đổi. Mà thôi, không nói chuyện này nữa, Thông đệ vội vã tới đây, hẳn là có việc quan trọng?”
“Thanh Ngưu tướng quân sai người đưa thư tới, chắc hẳn có quân tình khẩn cấp. Tiểu đệ không dám chậm trễ, vội vã tới bẩm báo ngay!”
“Vậy ư?” Bàng Quyên giật mình. “Thư đâu?”
Bàng Thông lấy ra một tấm thẻ tre từ trong tay áo, đưa cho Bàng Quyên.
Bàng Quyên vội cầm lên đọc, khẽ chau mày, đăm chiêu một lúc rồi nói với Bàng Thông: “Chuẩn bị xe!”
Bàng Quyên đánh xe ra khỏi cổng nam, từ xa nhìn thấy một đoàn hơn hai chục cỗ xe rầm rập đi tới, trên xe giương cờ hiệu đề các chữ “Tần”, “Sư Lý”. Bàng Quyên chỉ có một xe, chiếu theo lễ tiết, bèn đánh xe sang lề đường nhường lối, đưa ánh mắt lạnh lùng nhìn vào đoàn xe nước Tần. Xe của Bàng Quyên không giương cờ hiệu, lại chỉ có một xe, bởi vậy Sư Lý Tật không biết đó là xe của ai, cứ thế nghênh ngang đi qua trước mặt.
Đợi đoàn xe sứ nước Tần đi qua, Bàng Quyên mới đánh xe đi tiếp, chưa đầy một canh giờ sau thì tới trại trung quân ở Phùng Trạch. Đã có tham tướng bước ra đón, dẫn Bàng Quyên vào trong.
Bàng Quyên chậm rãi ngồi xuống, chẳng nói chẳng rằng, mặt nặng trình trịch nói với tham tướng đứng hầu bên cạnh: “Gọi quan coi kho của tả quân vào trướng!”
Một lát sau, quan coi kho của tả quân là Cẩu Tử hốt hoảng bước vào trong trướng, quỳ xuống dập đầu nói: “Quan coi kho tả quân Cẩu Tử nghe lệnh!”
Bàng Quyên hất hàm ra hiệu cho tham quân. Tham quân hiểu ý, lui ra khỏi trại.
Bàng Quyên nhìn Cẩu Tử một chốc, mỉm cười nói: “Cẩu Tử, bản tướng đối đãi với ngươi thế nào?”
Cẩu Tử khấu đầu nói: “Đại tướng quân đối với Cẩu Tử ân trọng như núi! Cẩu Tử vốn là kẻ võ biền, nếu không có đại tướng quân cất nhắc, Cẩu Tử vẫn chỉ là một tên lính quèn mà thôi!”
“Phải!” Bàng Quyên gật đầu. “Trong trận Hoàng Trì, ngươi chém đầu hai mươi địch; trong trận Triều Ca, ngươi chém đầu chín địch, hai lần bị thương. Bản tướng thấy ngươi chiến đấu dũng cảm, mới cất nhắc làm quân uý. Năm ngoái, trong cuộc chiến với người Sở ở Hình Sơn, ngươi xung phong đi đầu, dũng cảm cướp kho lương của tả quân, chém đầu mười bốn địch, tiếp tục lập chiến công. Bản tướng luận công mà thưởng, cất nhắc ngươi làm quan coi kho, cho ngươi nắm quyền cai quản kho lương của tả quân, xét về chức vụ và hàm tước, đã là phó tướng.”
“Đại ân nâng đỡ của đại tướng quân, Cẩu Tử mãi mãi không quên!” Cẩu Tử lại dập đầu sát đất.
“Tốt lắm!” Bàng Quyên chậm rãi nói. “Vậy ngươi hãy nói thực cho bản tướng biết, ngươi làm thế nào để mãi mãi không quên?”
Cẩu Tử nhận ra sự khác thường trong lời nói của Bàng Quyên, vội khấu đầu lắp bắp: “Mạt… mạt tướng…”
“Hừm!” Bàng Quyên cười nhạt một tiếng, lập tức đổi giọng. “Đại trượng phu dám làm dám chịu, việc ngươi làm, ngươi nói đi, hà cớ phải lắp ba lắp bắp như vậy?”
Cẩu Tử ra vẻ ngơ ngác: “Cẩu Tử ngu dốt, không biết đại tướng quân bảo Cẩu… Cẩu Tử nói… nói gì?”
“Hẳn là ngươi chưa thấy quan tài chưa đổ lệ!” Bàng Quyên lôi ra một phong thư từ trong tay áo, vứt toẹt xuống mặt bàn. “Cẩu Tử, nói mau, mấy tháng qua, ngươi đã cắt xén tổng cộng bao nhiêu lương thực của quân đội?”
Nhìn thấy bức thư, Cẩu Tử lập tức mặt mũi trắng bệch, vội dập đầu lia lịa: “Cẩu… Cẩu Tử biết tội rồi, Cẩu Tử nhất thời hồ đồ, đã cắt xén tổng cộng ba trăm năm mươi mốt thạch lương thực, một trăm hai mươi ba xe cỏ ngựa, được mười tám lượng vàng!”
Nghe những lời này, Bàng Quyên lửa giận đùng đùng, đập bàn quát lớn: “Tên phá gia kia, số lương thảo này ít nhất cũng đáng giá năm mươi lượng, ngươi lại đem bán lấy mười tám lượng, dù coi là buôn bán cũng đã lỗ to rồi! Nói mau, mười tám lượng vàng đã dùng vào việc gì?”
Cẩu Tử toàn thân run bắn: “Đánh… đánh bạc!”
“Đánh bạc?” Bàng Quyên càng thịnh nộ, chỉ vào mặt hắn mà mắng. “Bản tướng vì lương thảo ba quân, không biết đã phải lao tâm khổ tứ nhường nào, chỉ hận không thể đổ hết nhà cửa vào kho lương, khó khăn lắm mới tích luỹ được chút lương thảo này, vậy mà ngươi lại mang đi đánh bạc! Bản tướng hỏi ngươi, chiếu theo luật pháp Đại Nguỵ, cắt xén một thạch quân lương, một xe cỏ ngựa, đáng tội gì?”
Cẩu Tử khấu đầu lia lịa: “Đại tướng quân tha mạng, Cẩu Tử không dám nữa!”
Bàng Quyên quát lớn: “Bản tướng hỏi ngươi đáng tội gì?”
“Đáng… đáng… xử trảm!”
“Biết thì tốt!” Bàng Quyên cười nhạt một tiếng. “Nể tình ngươi lập nhiều chiến công, bản tướng cho ngươi được toàn thây, đổi thành treo cổ. Nói mau, ngươi có muốn trăng trối gì không?”
Cẩu Tử dập đầu trối chết, trán toé máu tươi, khóc rống lên mà nói: “Đại tướng quân, Cẩu Tử… thực… thực sự không dám nữa, Cẩu Tử cầu xin đại tướng quân tha… tha cho mạng chó này của… Cẩu Tử!”
Bàng Quyên chậm rãi nói: “Bản tướng nghe nói, ngươi vừa cưới vợ, trong nhà còn có mẹ già?”
“Đại tướng quân…” Cẩu Tử kêu khóc thảm thiết.
Bàng Quyên đứng dậy, đi tới đi lui trong trại, thở dài thườn thượt: “Hỡi ôi, ngươi chiến đấu dũng cảm, là một nhân tài. Bản tướng mến tài, có thể tha ngươi tội chết. Chỉ có điều… ngươi không thể tiếp tục đảm nhiệm chức coi kho được nữa!”
Cẩu Tử lại dập đầu liền ba cái: “Ân cứu mạng của đại tướng quân, Cẩu Tử xin lấy mạng chó đền đáp!”
“Biết ơn thì tốt!”
“Đại tướng quân…” Cẩu Tử khóc lớn mà nói. “Muốn Cẩu Tử làm gì, xin tướng quân cứ việc nói thẳng! Cẩu Tử dù có làm trâu ngựa, có phải lao đầu vào chảo lửa, cũng không oán thán một lời!”
“Có điều…” Bàng Quyên không thèm để ý tới hắn, với tay cầm lấy bức thư trên bàn giơ lên. “Ngươi đã gây ra chuyện lớn, tội ngươi đáng chết, bản tướng tuy muốn cứu ngươi, song cũng không thể không nói rõ với ba quân. Nhân lúc bản tướng chưa truy cứu, ngươi hãy lập tức trốn đi, trước mắt tạm thời ẩn trong phủ của bản tướng, mai danh ẩn tích, nhất thiết không được lộ diện. Bản tướng thấy ngươi bỏ trốn, sẽ nhận tội trị quân không nghiêm, thay ngươi bồi thường số lương thảo tổn thất, đợi cơn sóng gió qua đi rồi tính tiếp. Còn về sau này, ngươi cứ náu mình trong phủ bản tướng, thứ nhất là tạm thời lánh nạn, thứ hai là giúp bản tướng một số việc vặt.”
“Đại tướng quân…” Cẩu Tử phủ phục sát đất, khóc nấc lên từng hồi.
Bàng Quyên cầm bút viết một bức thư, giao cho Cẩu Tử: “Sau khi tới phủ của ta, giao thư này cho quản gia, hắn sẽ thu xếp chỗ ăn ở cho ngươi!”
“Tiểu nhân tuân lệnh!”
Đoàn xe của sứ Tần thẳng tiến tới dịch quán, sau khi sắp xếp ổn thoả, Sư Lý Tật chiếu theo nghi thức bang giao, mang danh thiếp tới phủ thượng khanh, cầu kiến Chu Uy.
Hay tin sứ Tần tới nơi, Chu Uy ra cổng nghênh đón. Hai bên hành lễ xong xuôi thì dẫn nhau vào phòng khách, phân ngôi chủ khách ngồi xuống.
Sư Lý Tật vòng tay nói: “Sứ Tần Sư Lý Tật khởi bẩm thượng khanh đại nhân, hai nước Tần, Nguỵ núi liền núi, sông liền sông, thân thiết như răng với môi, ngay từ thời Xuân Thu đã có quan hệ Tần Tấn hữu hảo. Vài chục năm qua, Tần, Nguỵ có chút mâu thuẫn, đều là vì tranh giành Hà Tây. Tranh đi giành lại, Nguỵ cũng thế, mà Tần cũng vậy, chẳng có ai được lợi, chỉ để lại một giáo huấn sâu sắc, chính là hoà thuận thì đều hưng, tranh giành thì đều thiệt. Tần Công có ý kết minh, cầu hoà với bệ hạ Đại Nguỵ, lưu thông các ải Hàm, Hào, Lâm Tấn, cho phép thông thương, hai bên cùng lợi. Tần Công vì chuyện này mà phái tại hạ đi sứ sang quý bang, chuyển tới thành ý này.” Dừng lại một lát, lấy từ trong tay áo ra một bức thư, hai tay trình lên Chu Uy. “Đây là thư tay của Tần Công, mong thượng khanh đại nhân chuyển tới bệ hạ giúp cho!”
Chu Uy đưa hai tay đỡ lấy bức thư, đặt lên mặt bàn, vòng tay nói: “Ý tốt của Tần Công, tại hạ đã hiểu. Thượng đại phu hãy ở lại Đại Lương đợi vài ngày, để tại hạ tấu lên bệ hạ, rồi sẽ hồi âm.”
Sư Lý Tật vòng tay nói: “Tạ ơn thượng khanh đại nhân!” Rồi chậm rãi đứng dậy. “Thượng khanh đại nhân trăm công nghìn việc, tại hạ không dám làm phiền. Cáo từ!”
Chu Uy tiễn ra tới cổng, vòng tay nói: “Thượng đại phu về cẩn thận!”
Hôm sau là buổi đại triều.
Sau khi bãi triều, Bàng Quyên chờ Tôn Tẫn, mời tới doanh trại tuần tra.
Tôn Tẫn và Bàng Quyên đánh xe thẳng tới doanh trại Phùng Trạch, Bàng Quyên dẫn Tôn Tẫn đi tuần sát vài nơi diễn tập, sau đó vào giờ Thân quay trở về trại trung quân. Vừa ngồi xuống trong trại, đã có người hầu bê hai bát canh tới. Hai người đang uống, thì tham tướng tất tả bước vào, trình lên Bàng Quyên một bức mật thư. Bàng Quyên xem xong, đặt bát canh xuống, mím môi một cái, rồi cười nói với Tôn Tẫn: “Tôn huynh, vở kịch hay của nước Sở, xem ra đã tới đoạn cao trào!”
“Ồ!” Tôn Tẫn cũng đặt bát xuống. “Mật thư nói gì?”
Bàng Quyên đưa bức mật thư cho Tôn Tẫn. Tôn Tẫn xem xong, chau mày suy nghĩ, Bàng Quyên cười nói: “Tôn huynh, hãy lại đây!”
Bàng Quyên dẫn Tôn Tẫn tới trước sa bàn lớn, cầm thước ngắn, chỉ vào vùng đất rộng lớn bên đầm Vân Mộng, nói: “Tôn huynh hãy nhìn, đây là sông Vân Thuỷ, đây là sông Hán Thuỷ, đây là sông Thương Lang, phía nam là đầm Vân Mộng rộng mênh mông, phía bắc là núi cao chót vót. Hai mươi vạn đại quân thuỷ lục của người Việt bị vây khốn trong phạm vi vài trăm dặm này, muốn tiến không được, muốn lui không xong. Lần này người Sở đột nhiên học thói nhường nhịn, đã không tấn công, cũng không uy hiếp, chỉ bao vây người Việt ở đó.” Lại chỉ vào Hạ Khẩu. “Tôn huynh lại nhìn xem, đây là Hạ Khẩu, người Sở đóng cọc sâu dưới Giang Thuỷ, buộc chắc bằng lưới thừng, lại cắm thuỷ trại dài vài dặm, còn có vài vạn quân Sở giương sẵn nỏ lửa tên nhọn, bày thế chờ sẵn. Hơn nghìn chiến thuyền của người Việt đều bị vây chặt ở Hạ Khẩu, không thể đột phá mà thoát thân, cuối cùng đành phải lênh đênh trên Hán Thuỷ. Lương thảo trên thuyền sớm đã cạn sạch, rất nhiều thuyền muốn từ đầm Vân Mộng vào sông Thương Lang, song lại bị sa lầy, trở thành thuyền chết. Còn nữa, ở trên bờ đầm, trong phạm vi vài trăm dặm, dân Sở đã sơ tán hết, đừng nói là lương thảo, dù một con gà sống cũng không để lại. Có điều, tuy người Việt cạn kiệt lương thảo, song giỏi bắt cá, do vậy không lúc nào rời khỏi rìa đầm Vân Mộng, ngày ba bữa chỉ nhờ vào tôm tép, cá ốc, rong rêu, ngó sen, xem ra sắp đến lúc không cầm cự nổi nữa rồi!”
“Phải!” Tôn Tẫn gật đầu. “Hiền đệ nói rất đúng.”
Bàng Quyên nhìn sa bàn, thở dài một tiếng trầm bổng như nhạc.
Tôn Tẫn lại nghe ra trong tiếng thở dài như có ẩn ý, bèn ngẩng đầu hỏi: “Hiền đệ cớ sao lại thở dài?”
Bàng Quyên lại thở dài thêm một tiếng nữa: “Sai lầm mà Vô Cương phạm phải giống hệt như sai lầm của ngu đệ, không thở dài sao được?”
Tôn Tẫn cười hỏi: “Sai lầm của Vô Cương, liên quan gì tới hiền đệ?”
“Còn nhớ ván cờ hôm kia chứ?” Bàng Quyên ngẩng đầu nhìn Tôn Tẫn. “Tôn huynh đã thành đại thế, ngu đệ lại không biết lượng sức mình, bất chấp lời khuyên can của Tôn huynh, khăng khăng cố chấp, thọc sâu vào trong lòng Tôn huynh, kết quả đã bị thua cả ván. Nay nhìn Vô Cương mà đồng bệnh tương liên, không thở than sao được?”
Tôn Tẫn gật đầu, thực dạ tán thưởng: “Hiền đệ nói ra được lời này, Tẫn cũng thấy được an ủi. Tôn Vũ Tử nói rằng ‘người biết lúc nào có thể chiến và lúc nào không thể chiến sẽ thắng’. Vô Cương không biết, đương nhiên mới phải chuốc lấy thất bại này.”
Nghe thấy lời ấy, Bàng Quyên trong lòng chấn động: “Nhắc tới Tôn Vũ Tử, ngu đệ mới nhớ ra một chuyện. Tôn huynh may mắn được đọc ‘Tôn Tử binh pháp’, tiến bộ thần tốc, ngu đệ muốn theo mà không kịp. Ngu đệ dám hỏi Tôn huynh, lúc nào rảnh rỗi, giảng cho Quyên nghe ‘Tôn Tử binh pháp’ được chăng?”
“Hiền đệ!” Tôn Tẫn trầm ngâm một lát, chậm rãi nói. “Tiên sinh nói rằng ‘sách là chết, dùng là sống’. ‘Tôn Tử binh pháp’ là cuốn sách hay, song tinh yếu của nó không phải ở lời văn, mà là ở đạo lý. Chỉ nhìn vào chữ nghĩa, dù có đọc thuộc lòng, cũng chẳng ích gì.”
Bàng Quyên sầm mặt xuống, cười nhạt một tiếng: “Tôn huynh không dạy thì thôi, hà tất phải nói nhiều như vậy?”
“Ồ…” Tôn Tẫn hơi sững lại. “Nếu hiền đệ thực lòng muốn đọc, không có gì khó. Đợi lúc nào Tẫn rỗi, sẽ đọc thuộc lòng một lượt, chép ra một bản, tặng cho hiền đệ!”
Bàng Quyên lại đổi mặt vui cười, vòng tay nói: “Chỉ mong Tôn huynh giữ lời!”
“Hiền đệ lẽ nào không tin Tẫn?”
“Đương nhiên là tin!” Bàng Quyên cười vang, cầm tay Tôn Tẫn kéo trở về trước bàn, chia chỗ ngồi xuống, mắt nhìn Tôn Tẫn chằm chằm, rồi chậm rãi hỏi. “Tôn huynh, ngu đệ cả ngày chạy ngược chạy xuôi bên ngoài, hiếm khi hỏi thăm chuyện của Tôn huynh. Gần đây, không biết Tôn huynh sống ra sao?”
“Tẫn sống rất tốt, cảm tạ hiền đệ nhớ tới!”
“Tính ra, Tôn huynh rời nước Vệ đã gần bảy năm rồi!”
“Đúng vậy, hơn sáu năm rồi!” Tôn Tẫn thở dài.
“Tôn huynh thở dài như vậy, hẳn là đang nhớ tới ai đó?” Bàng Quyên cười hỏi.
“Không giấu hiền đệ,” Tôn Tẫn cười buồn mà nói, “trên thế gian này, ngoài tiên sinh, đại sư huynh, sư tỷ, Tô Tần, Trương Nghi và hiền đệ đây, thực sự Tẫn không còn ai để nhớ!”
“Tôn huynh không còn người thân nào ở Vệ ư?”
Tôn Tẫn khẽ lắc đầu.
“Năm xưa khi xuống núi, ngu đệ từng nghe Tôn huynh nhắc tới một người, bảo rằng nếu ngu đệ gặp khó khăn, có thể tới tìm người đó. Nghe giọng Tôn huynh, hẳn có quan hệ rất thân thiết với người này.”
“Người hiền đệ nhắc tới chính là thú thừa Sở Khâu Lật Bình tướng quân. Lật tướng quân thân thiết với tiên phụ của Tẫn, Tẫn vô cùng kính trọng. Lật tướng quân vốn là thú thừa Đế Khâu, năm đó chống Nguỵ, được Vệ Công điều tới Sở Khâu, từ đó giữ luôn chức thú thừa Sở Khâu.”
“Phải phải phải, là Lật tướng quân!” Bàng Quyên phụ hoạ. “Có điều, ngu đệ được biết, người này ở Vệ không được hài lòng.”
“Ồ!” Tôn Tẫn ngạc nhiên. “Vì sao vậy?”
“Vệ Công bị bệ hạ giáng một tước, không lâu sau lại bị cắt mất Bình Dương, buồn giận mà lâm bệnh nặng, chẳng bao lâu thì băng hà, thuỵ hiệu là Thành Hầu. Thái sư nước Vệ phò tá triều đình, lấy danh nghĩa thần linh để phế truất thái tử Cơ Hiến, lập công tử Cơ Vĩ. Cơ Hiến và các công tử khác theo nhau chạy sang liệt quốc tránh hoạ, các lão thần như Lật tướng quân không phục, cũng bị thái sư chèn ép.”
Tôn Tẫn gật đầu, khẽ thở dài: “Than ôi, nhìn cảnh tượng này, có vẻ như vận thế của nước Vệ đã tới hồi tận!”
“Lật tướng quân đã là bạn thân của lệnh tôn, Tôn huynh cũng nên quan tâm tới trưởng bối.” Bàng Quyên nhìn Tôn Tẫn, nói. “Hiện tại chính là lúc cần dùng người, Lật tướng quân ở liệt quốc cũng là tướng tài. Theo thiển kiến của ngu đệ, Tôn huynh có thể sai người đón tướng quân tới đây, cùng chung sức phò tá bệ hạ, thứ nhất có thể cùng thành đại nghiệp, thứ hai có thể toàn tâm báo hiếu.”
Tôn Tẫn nước mắt lã chã mà rằng: “Tạ ơn hiền đệ đã nghĩ giúp! Chỉ là hiền đệ có điều không biết, Lật tướng quân bản tính cương trực, đã một lòng phò tá Vệ, tất tận trung tới cùng, đến chết không hối hận, dứt khoát không bỏ chủ. Không giấu hiền đệ, chính vì chuyện này mà Tẫn từ lúc tới Nguỵ đến nay, chưa từng viết thư cho Lật tướng quân, vì sợ tướng quân khuyên Tẫn bỏ Nguỵ!”
“Ồ?” Bàng Quyên trợn tròn mắt. “Lật tướng quân lẽ nào lại khuyên Tôn huynh bỏ Nguỵ tới Vệ?”
“Không phải vậy!” Tôn Tẫn lắc đầu nói. “Tẫn vốn là người Tề, đời đời chịu ơn Tề, ở Tề vẫn có từ đường. Năm xưa Lật tướng quân nghe tiên phụ nhắc tới chuyện này, từng khuyên tiên phụ bỏ Vệ tới Tề. Song vì Vệ Công rất trọng dụng tiên tổ phụ, tiên tổ phụ cảm động ân nghĩa, không chịu rời Vệ. Tiên phụ lấy hiếu làm trọng, cũng không chịu rời Vệ, dòng họ Tôn vì thế mà tận trung với Vệ. Trước khi tại hạ ra đi, đã tới chào tạm biệt Lật tướng quân. Tướng quân khuyên Tẫn rằng, nước Vệ thế nhỏ, khó thành đại sự, một khi đã học thành tài, nếu Tẫn không thể về Vệ, tốt nhất hãy lá rụng về cội, tận lực vì quê hương.”
“Tôn huynh ở Tề vẫn có từ đường, dám hỏi ở vùng nào?”
“Chính là Chân Thành, cách đây không xa. Năm xưa khi ở Vệ, Tẫn nghe tiên tổ phụ nói rằng, Tề Công rất muốn tiên tổ phụ về Tề, do vậy vẫn giữ gìn từ đường cho dòng họ Tôn. Tôn môn ở Tề xưa cũng được coi là dòng họ danh giá, nhân đinh thịnh vượng, nay chỉ còn mình Tẫn, tha hương lưu lạc, dù chút lễ mọn cũng chưa thể cúng bái!” Nói tới đây, Tôn Tẫn lại chảy nước mắt.
Bàng Quyên cũng ứa nước mắt mà nói: “Hai ta đã kết nghĩa huynh đệ, việc nhà của Tôn huynh cũng là việc nhà của ngu đệ. Sống ở trên đời, lấy hiếu làm trọng. Tôn huynh nếu nhớ quê hương, ngu đệ sẽ tấu lên bệ hạ, ân chuẩn cho Tôn huynh về Chân Thành một chuyến, tìm về từ đường, lễ bái liệt tổ liệt tông. Tôn huynh thực hiện được tâm nguyện này, trong lòng sẽ không còn vướng bận, ắt có thể một lòng tận trung với bệ hạ.”
“Tạ ơn hiền đệ đã quan tâm!” Tôn Tẫn vòng tay vái tạ. “Song nếu Tẫn về Tề, thứ nhất tứ cố vô thân, thứ hai, hai tay trống không, chưa hề có lấy một thành tựu, sao dám vác mặt đi gặp liệt tổ liệt tông?”
“Tôn huynh nói sai rồi!” Bàng Quyên khuyên giải. “Sự nghiệp và lòng hiếu là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Nếu nói như Tôn huynh, bách tính không có sự nghiệp, chẳng nhẽ không thể thờ cúng liệt tổ liệt tông? Hơn nữa, Tôn huynh lần này phạt Sở lập công, ở Nguỵ có vị cao tước trọng, lại được bệ hạ rất mực trọng dụng, lẽ nào như vậy vẫn chưa đủ ư?”
“Hiền đệ nói rất đúng. Chỉ có điều…” Tôn Tẫn ngẫm nghĩ một lát, “hiện đang là đợt thao luyện mùa đông, việc quân bận rộn, chuyện về quê tế lễ tổ tiên, Tẫn thực không dám mở miệng.”
“Chuyện này có khó gì đâu!” Bàng Quyên cười nói. “Tôn huynh chỉ cần có lòng này, những việc còn lại, cứ giao cả cho ngu đệ!”
“Không dám làm phiền hiền đệ!” Tôn Tẫn ôm quyền vái tạ mà nói. “Đợi qua đợt thao luyện, Tẫn sẽ lập tức thỉnh cầu bệ hạ ân chuẩn, trước tiết Thanh minh trở về Chân Thành tế bái tổ tông. Nếu thời gian dư dả, Tẫn còn muốn về Vệ một chuyến, đổi mộ cho di hài của tiên tổ phụ, tiên phụ và thúc phụ, để linh hồn người thân được trở về với cố hương.”
“Vậy thì tốt quá!” Bàng Quyên đáp lễ nói. “Đợi tới Thanh minh, ngu đệ rỗi rãi, cũng sẽ theo Tôn huynh về quê tế tổ.”
Tôn Tẫn lại vòng tay: “Hiền đệ bận trăm công nghìn việc, chuyện riêng của Tẫn…”
“Tôn huynh sao lại nói vậy?” Bàng Quyên cắt lời Tôn Tẫn. “Còn việc gì quan trọng hơn tế lễ từ đường? Ngu đệ đã kết nghĩa với Tôn huynh, tổ tiên của Tôn huynh cũng là tổ tiên của ngu đệ. Đưa linh hồn tổ tiên trở về với cố hương, ngu đệ đâu có lý do gì không đi?”
“Hiền đệ…” Tôn Tẫn hai mắt cay sè, giọng nói có phần nghẹn ngào.
“Tôn huynh, không nói chuyện này nữa!” Bàng Quyên cười vang, mang lại một chồng thẻ tre, xếp lên mặt bàn. “Đây đều là tấu báo về đợt thao diễn mùa đông được tập hợp từ các thành ấp. Ngu đệ chỉ thích công việc chân tay, những việc tỉ mẩn này, xin giao lại cho Tôn huynh. Tấu báo nào không thoả đáng, Tôn huynh hãy phê ở trên. Đợi Tôn huynh duyệt xong, ngu đệ chỉ cần xem lời phê là được.”
“Đây là việc Tẫn nên làm, hiền đệ không phải khách sáo!” Tôn Tẫn thu đám thẻ tre lại, rồi từ biệt Bàng Quyên, đánh xe về thành.
Vừa về tới phủ, Tôn Tẫn lập tức đóng cửa không tiếp khách, chú tâm thẩm duyệt tấu báo thao diễn các nơi, chốc chốc lại chau mày suy nghĩ, cầm bút phê lên tấu báo.
Đến xế chiều hôm sau, Tôn Tẫn đã thẩm duyệt xong toàn bộ tấu báo, đang định ra ngoài đi lại thư giãn chân tay, bỗng thấy quản gia bước vào bẩm báo: “Chúa công, có người tới gặp!”
“Ồ!” Tôn Tẫn hỏi. “Là ai vậy?”
“Là người lạ. Nô tài hỏi hắn, hắn nói là bạn cũ của chúa công.”
“Bạn cũ?” Tôn Tẫn thoáng ngạc nhiên. “Mau mời vào!”
Một lát sau, quản gia dẫn Cẩu Tử trong trang phục người Vệ bước vào thư phòng. Tôn Tẫn ra đón, nhìn hắn một lượt từ đầu đến chân, đang định hỏi thì Cẩu Tử đã lên tiếng trước: “Tiên sinh phải chăng là Tôn tướng quân?”
Tôn Tẫn gật đầu: “Đúng vậy!”
Cẩu Tử quỳ sụp xuống đất: “Tiểu nhân cuối cùng đã tìm thấy tướng quân rồi!”
Tôn Tẫn kinh ngạc: “Tráng sĩ?”
Cẩu Tử bèn nói: “Bẩm tướng quân, tiểu nhân tên gọi Lưu Thanh, người Sở Khâu, đầu quân năm ngoái, hiện là thị vệ dưới trướng của Lật tướng quân. Lật tướng quân nghe nói tướng quân ở Nguỵ, chờ đợi mỏi mòn mà không nhận được thư của tướng quân, do quá nhớ mong, đã đích thân viết thư này, sai tiểu nhân mang tới đây. Tiểu nhân chưa từng đi xa khỏi cửa, sau khi tới Đại Lương, hỏi thăm năm lần bảy lượt mới tìm được tướng quân!” Rồi lôi ra một bức thư từ trong tay áo, kính cẩn dâng lên Tôn Tẫn bằng hai tay. “Đây là thư của Lật tướng quân, mời tướng quân xem!”
“Tráng sĩ đứng dậy đi!” Tôn Tẫn nhận lấy bức thư, đích thân đỡ Cẩu Tử dậy, cảm kích nói. “Mấy năm qua, Tẫn cũng không lúc nào không nhớ tới Lật tướng quân. Từ ngày tiên phụ qua đời, gia đình gặp nạn, Tẫn ở đất Vệ không còn ai thân thích, duy có Lật tướng quân giúp đỡ cưu mang, Tẫn luôn luôn ghi nhớ trong lòng. Hôm qua trong doanh trại, Tẫn còn nhắc tới chuyện này với Bàng tướng quân, nói là đến tiết Thanh minh sẽ về quê tế lễ tổ tiên, sau đó tới thăm Lật tướng quân. Nào ngờ Lật tướng quân lại gửi thư tới trước.”
Tôn Tẫn nói xong, mở thư ra đọc, thấy trong thư viết rằng:
Tôn tướng quân!
Thời gian vùn vụt như tên bắn, ly biệt chớp mắt đã mấy năm trường. Tiên quân băng hà, tiểu nhân lộng quyền, Vệ thất suy vi, tại hạ tình cảnh vô cùng khó xử, duy có thương dài cung cứng làm bầu bạn, miễn cưỡng sống qua ngày. Gần đây nghe nói tướng quân nghiệp học đã thành, nhiệm chức ở Nguỵ, tại hạ vừa vui vừa buồn. Vui vì tướng quân tu học thành tài; buồn vì tướng quân phò Nguỵ, khác nào hạt minh châu rơi vào xó tối. Giặc Nguỵ đánh Vệ, thảm sát Bình Dương, dòng họ Tôn gần như tận diệt, lẽ nào tướng quân đều đã lãng quên? Tôn Thao tướng quân sinh thời nhiều lần nói với tại hạ rằng, muốn trở về dốc sức cho quê hương. Vệ thất nhỏ yếu, tự nhiên không phải là nơi cho tướng quân dụng võ. Cớ sao tướng quân không trở về cố hương, phát huy sở học, lại thực hiện được di nguyện của tiên phụ? Theo tại hạ biết, Tề dân giàu nước mạnh, giáo hoá tốt đẹp, Tề Vương là người có hoài bão lớn lao, biết trọng dụng hiền tài, sau khi kế vị, quốc gia đại trị, có lẽ sẽ không phụ tài học của tướng quân. Nếu tướng quân có thể lập nên thành tựu ở Tề, cũng là an ủi phần nào vong linh của dòng họ Tôn trên cao.
Lật Bình bái thư.
Lật Bình vốn là bạn thân của Tôn Thao, qua lại với Tôn Tẫn không nhiều, Tôn Tẫn cũng không thể biện nhận được bút tích của Lật Bình. Song thấy ngữ khí trong thư rất giống Lật Bình, Tôn Tẫn bèn tin là thật, chưa đọc xong, nước mắt đã rơi lã chã, bật khóc thành tiếng.
Cẩu Tử thấy vậy, lại bái lạy mà nói: “Trước khi đi, Lật tướng quân dặn rằng, sau khi Tôn tướng quân đọc thư xong, hãy mau chóng đưa ra quyết định, hồi âm ngay cho Lật tướng quân!”
Tôn Tẫn gật đầu nói: “Tráng sĩ mau đứng dậy, mời dùng trà!”
Cẩu Tử đứng dậy, cảm tạ xong thì ngồi xuống trước bàn uống trà.
Tôn Tẫn bước vào thư phòng, lấy vài tấm thẻ tre ra, lập tức viết thư hồi âm, rồi giao cho Cẩu Tử: “Tráng sĩ đi đường vất vả, hãy nghỉ lại đây vài ngày, rồi mang thư này về đưa cho Lật tướng quân.”
“Cảm tạ ý tốt của Tôn tướng quân!” Cẩu Tử nhận lấy bức thư, cất vào trong tay áo. “Lật tướng quân hẳn đang rất nóng lòng chờ tin của Tôn tướng quân, nên tiểu nhân xin cáo từ luôn!”
Tôn Tẫn quay sang quản gia: “Mang mười lượng vàng lại đây!”
Quản gia cầm mười lượng vàng lại, đặt lên mặt bàn.
Tôn Tẫn chỉ vào số vàng, nói: “Tráng sĩ, hãy cầm lấy chút vàng này, coi như lộ phí.”
Cẩu Tử khấu đầu cảm tạ, cất số vàng vào tay nải, đi ra khỏi cửa. Tôn Tẫn nhìn theo bóng Cẩu Tử tới khi khuất hẳn, mới trở về phòng, cầm bức thư của Lật Bình trong tay, đọc đi đọc lại vài lần, chốc chốc lại nâng tay áo lên lau nước mắt.
Cẩu Tử đi tới cuối phố, quay đầu lại không thấy Tôn Tẫn nữa, bèn thuận đường rẽ vào một con hẻm nhỏ, đi lòng vòng hồi lâu mới trở về phủ Vũ An Quân, giao lại bức thư cho Bàng Quyên. Bàng Quyên bảo Cẩu Tử về hậu viện chờ, rồi cho gọi Bàng Thông lại, bảo Bàng Thông chọn trong số đám hầu gái một đứa ưa nhìn để hầu hạ Cẩu Tử, dặn hắn không được ra khỏi cửa viện dù nửa bước.
Sắp xếp mọi việc xong xuôi, Bàng Quyên mới mở thư hồi âm của Tôn Tẫn ra đọc kỹ càng một lượt:
Lật tướng quân ở trên, xin nhận của điệt bối vô dụng Tôn Tẫn này một lạy!
Tẫn đời này chẳng còn ai thân thích, duy có tướng quân luôn luôn nhớ tới, thực khiến Tẫn vô cùng cảm kích. Sau ngày từ biệt tướng quân, Tẫn lênh đênh mấy tháng trời, trải đủ mùi trắc trở, cuối cùng tới Quỷ Cốc, được Quỷ Cốc tiên sinh thu nhận làm đồ đệ, dạy dỗ suốt mấy năm, tiên sinh còn đích thân truyền thụ sách quý ‘Tôn Tử binh pháp’ của tiên tổ, được lợi không nhỏ. Còn về lời trách của tướng quân, Tẫn chẳng biết nói sao, chỉ cầu tướng quân cho Tẫn được biện bạch một lời. Khi ở Quỷ Cốc, do sư đệ Bàng Quyên tiến cử, Nguỵ Vương đích thân phái điện hạ tới Quỷ Cốc mời Tẫn. Tẫn một là cảm kích Nguỵ Vương hậu ái, hai là không muốn phụ thịnh tình của sư đệ, nên tới phò Nguỵ. Tẫn đã tới Nguỵ, cái nghĩa của quân thần phải tận, chữ tín của bằng hữu phải giữ, do vậy việc tướng quân muốn Tẫn theo Tề, tạm thời không thể thực hiện! Tướng quân ở trên, xin nhận thêm của Tẫn một lạy, coi như chuộc lỗi không nghe lời tướng quân.
Điệt bối vô dụng Tôn Tẫn khóc mà giãi bày.
Bàng Quyên đọc xong bức thư, nhìn nét chữ chắc nịch trên tấm thẻ tre, xuýt xoa hồi lâu, rồi cuộn thư lại, đi tới đi lui trong phòng. Đúng vậy, đọc những lời Tôn Tẫn viết trong thư, quả thực là người hậu đạo. Thế nhưng…
Bàng Quyên chậm rãi khoanh chân ngồi xuống, nhắm mắt suy nghĩ. Hồi lâu sau, lại mở mắt, giở thư ra đọc, ánh mắt lướt tới dòng chữ “tiên sinh còn đích thân truyền thụ sách quý ‘Tôn Tử binh pháp’ của tiên tổ, được lợi không nhỏ”, nét mặt lập tức sa sầm, than thở mà rằng: “Hỡi ôi, Tôn huynh, không phải ngu đệ bất nghĩa, mà là Tôn huynh thực sự không nên xuống núi sau!”
Bàng Quyên lại nhắm mắt suy nghĩ mải miết một hồi, trong lòng đã quyết, bèn xé rời bức thư của Tôn Tẫn, tìm lấy một tấm thẻ tre giống hệt, đặt lên bàn, mô phỏng nét bút của Tôn Tẫn, viết tiếp sau câu “nên tới phò Nguỵ”:
… Tẫn nay tuy phò Nguỵ, song lòng luôn tưởng nhớ cố hương. Mối thù giết cha, Tẫn không dám một ngày quên lãng. Tới Nguỵ vài tháng, Tẫn đã hiểu Nguỵ, cũng biết rằng Nguỵ Vương không sáng suốt bằng Tề Vương, đất Nguỵ chia cắt vụn vặt, khó mà thành tựu đại nghiệp. Song Tẫn mới vừa tới Nguỵ, muôn sự đang chờ thời cơ, việc nhà vẫn phải từ từ suy tính. Nguỵ có Bàng Quyên, chính là kình địch của Tề. Tẫn tuy biết Quyên, song Quyên cũng biết Tẫn. Nếu có chuyện tranh giành, Tẫn thực không thắng nổi. Tẫn muốn lợi dụng cơ hội tốt đẹp này, bố trí ở Nguỵ một phen, để mong đến ngày về Tề, Tẫn không đến nỗi tay trắng. Không giấu tướng quân, Tẫn đã phái người liên lạc với Tề Vương. Tề Vương vẫn không quên mối nhục Hoàng Trì, một lòng tính cách báo thù, song chỉ e sợ Bàng Quyên. Nghe nói Tẫn là bạn học của Quyên, có lẽ khống chế được Quyên, Tề Vương cả mừng, hứa dành cho Tẫn chức đại tướng quân. Thường có câu, dưa chín thì cuống rụng, Lật tướng quân chớ nên nóng vội. Đợi thời cơ chín muồi, Tẫn tự khắc sẽ tìm cơ hội, đánh ngựa về đông.
Bàng Quyên sửa xong bức thư, đọc kỹ lại một lượt, thấy không có chỗ nào sơ hở. Bèn ghép phần đầu và cuối thư của Tôn Tẫn vào, cẩn thận xâu lại thành tấm. Lại xem xét năm lần bảy lượt, thấy cả bức thư thống nhất như một, chỗ lắp ghép liền mạch trước sau, bèn đặt thư xuống, nhắm mắt ngẫm nghĩ một hồi, than thở mà rằng: “Hỡi ôi, Tôn huynh ơi là Tôn huynh, bệ hạ đối xử với huynh không bạc, còn muốn gả ái nữ cho huynh, huynh lại biết ân mà không báo, mưu đồ làm phản, muốn làm việc đại nghịch, là vì lẽ gì?” Dừng lại hồi lâu, đột nhiên cao giọng. “Là vì lẽ gì?”
Bàng Quyên nhắm mắt, ngồi thêm một lúc, lại mở mắt ra, vứt mấy tấm thẻ tre vừa xé ra vào trong bếp lò gần đó, nhìn trừng trừng vào những tấm thẻ bén lửa, bốc cháy rừng rực cho tới lúc ra tro, mới nhếch mép cười âm hiểm, gằn từng chữ: “Là vì lẽ gì…”
Bàng Quyên vừa nói, vừa từ từ khép hai mắt lại, sắc mặt càng thêm u ám.
***
Gió rét thấu xương. Trong ngự thư phòng đã đốt hai đống than lửa, nên không còn hơi giá lạnh. Nguỵ Huệ Vương và Huệ Thi đang ngồi đối diện nhau, ở giữa bày một bàn cờ. Huệ Thi khép hờ hai mắt, nửa như nhìn bàn cờ, nửa như đang ngủ gật. Nguỵ Huệ Vương liếc Huệ Thi một cái, nhấc một quân cờ lên, đặt đánh “cạch” xuống bàn, rồi lại nhìn Huệ Thi, đặng hắng một tiếng.
Huệ Thi mở choàng mắt, nhìn vào bàn cờ: “Bệ hạ?”
Nguỵ Huệ Vương cười nói: “Huệ ái khanh, lại mơ thấy Chu Công ư! Tới lượt khanh rồi!”
Huệ Thi cũng cười một tiếng, ôm quyền mà đáp: “Khởi bẩm bệ hạ, vi thần đang thỉnh giáo Chu Công!”
“Ồ?” Nguỵ Huệ Vương hơi ngả người về phía trước. “Ái khanh có việc gì muốn thỉnh giáo Chu Công?”
Huệ Thi chỉ tay vào thế cờ: “Bệ hạ lại vừa đi một nước cờ kỳ diệu, vi thần thực sự không nghĩ ra được chiêu ứng phó, đành phải thỉnh cầu Chu Công giúp đỡ!”
“Huệ ái khanh,” Nguỵ Huệ Vương chỉ tay vào Huệ Thi, bật cười ha hà. “Ngủ gật thì nói là ngủ gật, còn viện cớ này cớ nọ, đúng là chỉ có khanh! Vậy Chu Công đã chỉ giáo chưa?”
Huệ Thi cầm một quân cờ, ngẫm nghĩ một lát, nhẹ nhàng đặt xuống.
Nguỵ Huệ Vương vừa nhìn đã biết là nước cờ hay, gật đầu nói: “Ồ, Chu Công đúng là Chu Công, quả nhiên bản lĩnh!” Suy nghĩ một lát, dường như sực nhớ ra điều gì, bèn quay nhìn Huệ Thi. “Huệ ái khanh, việc quả nhân nhắc tới lần trước, hình như đã tới lúc rồi!”
“Bệ hạ phải chăng đang nói tới chuyện Mai công chúa?”
“Đúng vậy!” Nguỵ Huệ Vương cười sảng khoái. “Nghe Thân Nhi nói, Mai Nhi và Tôn ái khanh hai tình quyến luyến, ha ha ha, hai tình quyến luyến! Một Bàng ái khanh, một Tôn ái khanh, giống như hai cánh tay trái phải của quả nhân, lại thêm một Huệ ái khanh ngồi ở giữa, quả nhân thực giống như Điền Nhân Tề đã nói, đêm đêm đàn hát, kê cao gối mà ngủ!”
Huệ Thi vòng tay nói: “Vi thần chúc mừng bệ hạ!”
“Này!” Nguỵ Huệ Vương xua xua tay. “Khanh chỉ chúc mừng thôi chưa đủ đâu. Quả nhân cho gọi khanh tới đây, không phải chỉ để chơi ván cờ cỏn con này. Quả nhân đã suy nghĩ kỹ, tằm đã lớn rồi, cái tổ kén mỏng manh này phải nhờ ái khanh khêu vỡ!”
“Vi thần tuân chỉ!”
Lời nói vừa dứt, tỳ nhân liền bước vào: “Khởi bẩm bệ hạ, Vũ An Quân cầu kiến!”
“Ồ!” Nguỵ Huệ Vương mừng rỡ. “Bàng ái khanh tới rồi, mau mời vào!”
Bàng Quyên bước vào, khấu lạy mà hô: “Nhi thần khấu kiến phụ vương!”
Nguỵ Huệ Vương phẩy tay: “Ái khanh bình thân!”
Bàng Quyên đứng dậy, ngồi vào chỗ.
Nguỵ Huệ Vương nhìn sang Bàng Quyên, cười vui vẻ mà nói: “Ái khanh tới thật đúng lúc! Quả nhân đang cùng Huệ ái khanh bàn bạc việc chung thân đại sự của Mai Nhi. Mai Nhi nay đã mười bảy, cũng không còn nhỏ nữa. Huệ ái khanh vừa nhắc đến Tôn ái khanh, quả nhân thấy rất ưng ý. Thứ nhất Mai Nhi tính tình trầm lặng, đa sầu đa cảm, có Tôn ái khanh chăm sóc, quả nhân rất yên tâm. Thứ hai, Tôn ái khanh là bạn đồng học với Bàng ái khanh, huynh đệ tình thâm, nếu cùng là hiền tế của quả nhân, đúng là thân lại càng thân!”
Nét mặt Bàng Quyên không hề lộ vẻ vui mừng, song trong miệng lại nói: “Tôn huynh và Mai công chúa quả là một cặp trời sinh, nhi thần chúc mừng hai người họ!”
Nguỵ Huệ Vương liếc nhìn Bàng Quyên, dường như nhận ra vẻ khác thường, bèn hỏi: “Ái khanh vội vã tới đây, hẳn là có việc hệ trọng?”
“Chuyện này…” Bàng Quyên khẽ thở dài một tiếng, tỏ vẻ ngập ngừng.
Huệ Thi hiểu ý, đứng dậy khấu đầu nói: “Bệ hạ, vi thần cáo lui!”
“Ái khanh đi về cẩn thận!”
Nhìn thấy Huệ Thi đã ra khỏi cửa phòng, Nguỵ Huệ Vương quay sang Bàng Quyên hỏi: “Hiền tế lo lắng chuyện gì vậy?”
Bàng Quyên lại thở dài một tiếng: “Nhi thần gặp phải một việc nghiêm trọng, đã khổ sở suy nghĩ suốt mấy ngày trời, vẫn không thể quyết định, nên vô cùng lo lắng.”
“Sao kia?” Nguỵ Huệ Vương sửng sốt. “Ái khanh cũng có chuyện khó quyết định ư, thực kỳ lạ! Khanh cứ nói đi, là chuyện gì khiến khanh khó xử đến vậy?”
“Than ôi!” Bàng Quyên lại than thở. “Phụ vương, chuyện này nhi thần thực không nói được!”
Nguỵ Huệ Vương suy nghĩ một lát, rồi gật đầu nói: “Nếu đã không nói được, ái khanh không nói cũng được!”
Bàng Quyên cúi rũ đầu, một lát sau, lại ngẩng lên nói: “Nhưng chuyện này vô cùng nghiêm trọng, nhi thần lại cũng không thể không nói.”
Nguỵ Huệ Vương như đã hiểu ra, hơi ngả người về phía trước hỏi: “Ái khanh, lẽ nào là chuyện của Liên Nhi?”
Bàng Quyên lắc đầu.
Nguỵ Huệ Vương lại ngẫm nghĩ một lát: “Phải chăng Ngang Nhi lại gây chuyện gì rồi ư?”
Bàng Quyên lại lắc đầu, rồi rời khỏi chỗ ngồi, quỳ phịch xuống, dập đầu sát đất, nước mắt chảy ra: “Phụ vương… phụ vương… đừng… đừng ép nhi thần!”
Nhìn bộ dạng bi thương của Bàng Quyên, Nguỵ Huệ Vương cảm thấy chuyện này không thể xem thường, hơn nữa chắc hẳn không phải là quốc sự, nên vô cùng kinh ngạc, cất mình đứng dậy, bước tới phía trước Bàng Quyên, đưa tay đỡ hắn đứng dậy rồi an ủi: “Hiền tế chớ nên như vậy. Dù trời có sập xuống, cũng đã có quả nhân chống đỡ!”
Bàng Quyên nhất quyết không đứng dậy, càng khóc lóc thảm thiết hơn nữa. Nguỵ Huệ Vương không biết làm thế nào, đành cúi người xuống, vỗ nhẹ lên vai Bàng Quyên, ân cần an ủi. Bàng Quyên lại khóc thêm một chập nữa rồi mới từ từ trấn tĩnh lại.
Nguỵ Huệ Vương lại đưa tay đỡ Bàng Quyên dậy, Bàng Quyên lúc này mới chịu đứng lên, đưa ống tay áo quệt nước mắt, vừa sụt sùi, vừa ngồi xuống chiếu.
Nguỵ Huệ Vương cũng ngồi xuống, nhìn Bàng Quyên, vẻ mặt đăm chiêu lo lắng: “Hiền tế, cứ nói đi, quả nhân chịu đựng được!”
Bàng Quyên lại lau nước mắt, chậm rãi nói: “Phụ vương, nhi thần suy nghĩ kỹ rồi, trung nghĩa không thể vẹn cả đôi đường, cho đến tận buổi chiều nay, mới đưa ra quyết định, sẽ phải bẩm báo với phụ vương!”
“Phải đấy!” Nguỵ Huệ Vương gật đầu lia lịa. “Hiền tế nói đúng, hai người chúng ta bên ngoài là quân thần, bên trong là cha vợ con rể, đóng cửa lại bảo nhau, dù xấu hay đẹp, dù lành hay dữ, không có gì không thể nói!”
Bàng Quyên gật đầu, rồi lôi từ trong ống tay áo ra một cuộn thẻ tre nhỏ mà tinh xảo, trình lên Nguỵ Huệ Vương: “Phụ vương, xin hãy xem!”
Nguỵ Huệ Vương cầm lấy cuộn thẻ tre, mở ra đọc, vầng trán dần chau tít lại. Một lát sau, Nguỵ Huệ Vương đặt thẻ tre lên mặt bàn, nhìn trân trân vào nó hồi lâu, dường như không dám tin là sự thực: “Hiền tế, thư này ở đâu mà có?”
“Từ sau khi người Tề thảm bại trong trận chiến Hoàng Trì, nhi thần lúc nào cũng canh cánh lo người Tề báo thù, nên luôn đề phòng với Tề, ngấm ngầm rải quân cảnh giới sát sao biên giới Tề, Nguỵ. Cách đây không lâu, họ phát hiện thấy một người hành tung khả nghi, bèn chặn lại tra hỏi, đã tìm thấy bức thư này.”
Nguỵ Huệ Vương vội hỏi: “Người đó đâu?”
“Người đó thấy sự việc bại lộ, có chạy cũng chẳng thoát, trong lúc rối trí đã rút kiếm tự vẫn. Lá thư này được tìm thấy trong lớp lót áo bông của hắn.”
“Phải!” Nguỵ Huệ Vương như sực nhớ ra. “Quả nhân nhớ rồi, trước kia hiền tế từng nói Tôn Tẫn có chí ở Tề, quả nhân không cho là vậy, nào ngờ hôm nay việc đã chứng nghiệm!” Lại đột nhiên dừng lời, đôi mày chau tít, vừa như tự nhủ, vừa như nói với Bàng Quyên. “Việc này dường như có chỗ bất hợp lý. Lật Bình ở Sở Khâu đất Vệ, người này đưa thư cho Lật Bình, về lý mà nói, phải tới Vệ mới đúng, cớ sao lại vượt qua biên giới Vệ, tới biên giới Tề?”
Bàng Quyên sớm đã lường trước sự việc, bèn trả lời ngay: “Nhi thần cũng không biết, người này hẳn còn có mưu đồ gì khác.”
Nguỵ Huệ Vương lại trầm ngâm suy nghĩ, một lát sau, gật gù mà nói: “Ồ, quả nhân đã hiểu được phần nào!”
“Phụ vương thánh minh!”
“Hẳn là Tôn Tẫn sai kẻ này tới Tề báo tin, do chuyện hệ trọng, nên không dám viết vào thư, chỉ bảo hắn đọc thuộc. Kẻ này thấy việc bại lộ, sợ liên luỵ tới Tôn Tẫn, nên đã tự vẫn trước.”
“Phụ vương quả nhiên anh minh!” Bàng Quyên đáp lời. “Nếu nói như vậy, những điều viết trong thư chỉ là chuyện nhỏ, nên kẻ này không để ý tới!”
“Than ôi!” Nguỵ Huệ Vương gật đầu, than thở mà rằng. “Tôn Tẫn ơi Tôn Tẫn, quả nhân thấy ngươi trung hậu, thấy ngươi tài năng, rất mực trọng dụng ngươi, đối xử với ngươi khác nào con ruột. Nào ngờ ngươi vẫn nhớ mối thù xưa, mà sinh chí khác, rắp tâm mưu phản. Lại còn Vệ Hầu kia cũng thực đáng ghét. Quả nhân xưng vương, hắn ra sức đối địch. Tề Công xưng vương, nay đến Tống Công cũng xưng vương, hắn đến phát rắm cũng đánh không ra! Lần trước phạt hắn, có người Tề gây khó dễ. Nay không có kẻ hậu thuẫn sau lưng, quả nhân giữ lại từ đường cho hắn, là đã nể nang hắn lắm rồi. Nào ngờ hắn đã không báo đáp, lại sai người khoét tường của quả nhân! Than ôi, lòng người trong thế gian, thực khó đoán lường!”
Bàng Quyên biết gỗ đã đóng thành thuyền, lại quỳ xuống, khóc lớn mà nói: “Phụ vương, dù Tôn Tẫn phạm tội phản nghịch, chiếu theo luật pháp đáng tru di cửu tộc, song nhi thần vẫn liều chết để cầu xin cho hắn. Dù gì đi nữa, Tôn Tẫn và nhi thần đã kết nghĩa kim lan trong lao ngục, lại học cùng thầy, sinh tử tình thâm, Tôn Tẫn lại nhờ nhi thần tiến cử nên mới tới đây. Nhi thần khẩn cầu phụ vương mở lượng khoan hồng, tha cho Tôn Tẫn một con đường sống!”
“Than ôi!” Nguỵ Huệ Vương lại than thở. “Tôn Tẫn có được hiền tế làm bằng hữu, đúng là diễm phúc cho hắn. Theo ý hiền tế, quả nhân nên xử trí Tôn Tẫn thế nào đây?”
“Phụ vương! Chỉ dựa vào một bức thư tầm thường, biết đâu lại oan uổng cho Tôn huynh? Theo ý nhi thần, phụ vương hãy giả như không biết, tìm cơ hội thăm dò động tĩnh, quan sát Tôn huynh. Nhi thần cũng sẽ lưu ý mà ngấm ngầm theo dõi. Nếu thực sự có người vu oan hãm hại, phụ vương hãy gột rửa nỗi oan, trả lại công bằng cho Tôn huynh. Tôn huynh cảm kích phụ vương, ắt sẽ dốc sức phò tá. Còn như vạn nhất Tôn huynh có tâm làm phản, lúc đó chứng cứ rành rành, phụ vương dù có trách phạt, Tôn huynh cũng không còn gì để nói!”
“Phải lắm!” Nguỵ Huệ Vương gật gù. “Lời hiền tế rất thấu tình đạt lý, quả nhân sẽ làm theo!” Dừng lại một lát, vẫy tay gọi tỳ nhân lại. “Ngươi đi nói với Huệ tướng quốc, chuyện thành thân, hãy tạm gác lại vài ngày!”
“Thần lĩnh chỉ!”
Bàng Quyên trở về phủ, gọi Bàng Thông lại, mặt mày nghiêm trọng nói: “Thông đệ, xảy ra chuyện lớn rồi!”
Bàng Thông sợ hãi thất sắc: “Xảy ra chuyện lớn?”
“Vừa rồi bệ hạ cho gọi đại ca tới gấp, nói là Tôn huynh vẫn nhớ mối thù Bình Dương năm xưa, đang có mưu đồ làm phản!”
Bàng Thông cả kinh, ngẫm nghĩ một lát rồi nói nhỏ: “Đại ca và Tôn huynh có tình kết nghĩa, Tôn huynh xảy ra chuyện, chẳng phải sẽ liên luỵ tới đại ca ư?”
Bàng Quyên than thở: “Đại ca gọi đệ tới đây cũng là vì việc này! Đại ca khó khăn lắm mới được như ngày hôm nay, nếu thực sự bị Tôn huynh liên luỵ, há chẳng phải chết oan uổng hay sao?”
Bàng Thông vội nói: “Phải đấy, phải đấy, đại ca nên tuyệt giao với hắn!”
Bàng Quyên lừ mắt nhìn Bàng Thông, trách cứ: “Tôn huynh vừa gặp nạn, đại ca đã tuyệt giao, người ngoài sẽ coi đại ca là hạng người nào đây?”
“Ờ… Vậy theo đại ca, nên làm thế nào?”
Bàng Quyên lại than thở mà rằng: “Bỏ bạn là bất nghĩa, giúp bạn là bất trung, hiện tại đại ca còn biết làm thế nào đây?” Im lặng một lát, nói tiếp. “Đại ca đã suy nghĩ kỹ rồi, trung nghĩa nếu không thể vẹn đôi đường, bỏ nghĩa mà chọn trung; nước nhà nếu không thể cùng chăm lo, bỏ nhà mà chọn nước. Bệ hạ đối xử với đại ca trọng hậu, ân huệ không thể kể xiết. Nếu Tôn huynh đúng là có lòng báo thù, đại ca… cũng chỉ còn biết bỏ nghĩa mà chọn trung!”
“Đại ca nói chí phải!” Bàng Thông ngẩng lên nói. “Muốn Thông làm gì, đại ca cứ sai bảo!”
“Đệ xem thế này được không? Tôn huynh là người thực thà, bệ hạ nói Tôn huynh mưu phản, đại ca vẫn chưa tin hẳn. Có điều, không có lửa làm sao có khói, bệ hạ đã nói như vậy, hẳn là có chứng cứ xác thực. Đệ hãy phái người theo dõi chặt chẽ Tôn huynh, xem Tôn huynh đang làm những gì. Nếu Tôn huynh có hành vi mưu phản, đệ hãy tìm bằng chứng, bẩm báo với đại ca. Nếu không có, đại ca cũng dễ bề giải thích với bệ hạ, rửa mối oan cho Tôn huynh.”
“Thông đệ tuân lệnh!”
***
Để rèn giũa thái tử, Nguỵ Huệ Vương giao hết những việc vụn vặt trong triều cho thái tử Thân xử lý. Chu Uy trực tiếp trình lên thái tử Thân thư xin thông quan của sứ Tần, thái tử Thân xem xong, sai phủ thượng khanh tạm soạn một tấu chương, trình lên Nguỵ Vương chờ quyết định. Chu Uy đi rồi, thái tử Thân cất công văn của nước Tần vào trong ống tay áo, đang định ra khỏi cửa, vừa hay nhìn thấy Thuỵ Mai công chúa lại tới thưởng mai.
Nghe nói thái tử chuẩn bị tới phủ giám quân, Thuỵ Mai hai má thoáng ửng hồn, lấy từ trong ống tay áo ra một vuông khăn lụa, dúi vào tay thái tử Thân: “Làm phiền hoàng huynh chuyển khăn này cho Tôn tướng quân!” Rồi không đợi thái tử nhận lời, đã vội đưa ống tay áo lên che mặt, quay người chạy thẳng vào vườn mai.
Thái tử Thân chậm rãi mở khăn lụa ra, ngắm nghía một lát, rồi đưa mắt nhìn theo dáng đi luống cuống của Thuỵ Mai ở phía xa, khẽ thở dài một tiếng: “Tôn Tẫn nếu có được Mai muội, quả là may mắn!”
Thái tử Thân cất vuông khăn lụa đi, đánh xe thẳng tới phủ Tôn Tẫn, vào phòng khách trò chuyện một lát, rồi lấy thư của nước Tần trong ống tay áo ra, đưa cho Tôn Tẫn. Tôn Tẫn xem xong, ngẩng đầu nhìn thái tử, hỏi: “Ý điện hạ thế nào?”
Thái tử Thân khẽ chau mày: “Người Tần tuyệt đối không phải tới đây vì chuyện thông quan. Lần trước Sư Lý Tật tới, Công Tôn Diễn trốn sang Tần. Hôm nay người này lại tới, không biết sẽ có chuyện gì xảy ra? Phụ vương muốn Nguỵ Thân cai quản chính sự, cho phép người Tần thông quan hay không, Nguỵ Thân thực chưa dám quyết, nên tới đây muốn hỏi ý tướng quân, nên ứng phó thế nào?”
Tôn Tẫn suy nghĩ một lúc, rồi vòng tay đáp: “Khởi bẩm điện hạ, vi thần cho rằng, ân oán giữa Tần, Nguỵ đã là chuyện quá khứ, quan trọng là hiện tại. Thường có câu, lưu thông hàng hoá nơi thiếu nơi thừa, lễ chuộng có qua có lại. Người Tần lần này muốn thông quan, nếu có thành ý, ta nên cho phép. Nếu có mưu đồ gì khác, quân tới tướng chặn, ta cũng không có gì phải sợ.”
“Phải!” Thái tử Thân thở phào một tiếng. “Nghe tướng quân nói như vậy, trong lòng Nguỵ Thân đã sáng tỏ. Nguỵ Thân sẽ bẩm báo với phụ vương, cho phép người Tần thông quan!” Dừng lại một lát, lại lần tìm trong tay áo lấy ra vuông khăn lụa, đưa cho Tôn Tẫn. “Vừa nãy Mai muội lại tới thưởng mai, nhờ Nguỵ Thân chuyển khăn này cho tướng quân.”
Tôn Tẫn đưa hai tay đỡ lấy, lật giở ra xem, thấy trên khăn thêu một cành hồng mai, bên cạnh còn một bài thơ:
“Mong manh mai một cội,
Trong tuyết nở âm thầm.
Đợi người hiểu mai tới,
Hai ý thành gió xuân.”
Tôn Tẫn hai tay nâng khăn lụa, cứ đứng ngây tại chỗ.
“Tôn tướng quân!” Thái tử Thân nhìn Tôn Tẫn, giọng đầy ẩn ý. “Là do Mai muội đích thân thêu đấy!”
Tôn Tẫn giật mình bừng tỉnh, vội khấu bái sát đất: “Vi thần có tài đức gì, sao dám nhận lòng hậu ái của công chúa?”
“Tôn tướng quân mau đứng lên!” Thái tử Thân đưa tay đỡ Tôn Tẫn dậy. “Mai muội phẩm cách thanh cao, từ nhỏ ngang bướng, thề rằng không phải tri kỷ quyết không xuất giá. Nay gặp được tướng quân, Mai muội trong lòng hẳn đã ưng thuận.”
“Chuyện này…”
“Tôn tướng quân yên tâm!” Thái tử Thân mỉm cười nói. “Nỗi lòng của Mai muội, phụ vương đã biết. Phụ vương rất mực yêu thương Mai muội, đã uỷ thác cho Huệ tướng quốc làm mai mối. Tướng quốc cũng đã nhận lời, mấy hôm nữa sẽ tới phủ tướng quân bàn hôn sự. Nếu tướng quân có tâm sự gì, xin cứ nói với Nguỵ Thân, Nguỵ Thân sẽ chu toàn mọi chuyện.”
“Hồi bẩm điện hạ,” Tôn Tẫn chảy nước mắt mà nói, “vi thần nào có tâm sự gì, chỉ có điều… công chúa thân lá ngọc cành vàng, vi thần lại tư chất thiển lậu, công chúa hạ mình gả cho vi thần, chẳng phải đã chịu thiệt thòi ư?”
“Tấm lòng của Tôn tướng quân, Nguỵ Thân đã hiểu. Nếu tướng quân không có tâm sự gì khác, hẳn có tín vật tặng lại Mai muội, Nguỵ Thân nguyện đưa giúp.”
Tôn Tẫn suy nghĩ một lát, rồi bước vào thư phòng, lấy ra vài tấm thẻ tre, cầm bút viết rằng: “Xuân có mẫu đơn, là hoa giàu có; hạ có sen trắng, là hoa sang trọng; thu có cúc vàng, là hoa ẩn dật; đông có mai hồng, là hoa thanh cao. Giàu có là áo của hoa, sang trọng là mũ của hoa, ẩn dật là tình của hoa, thanh cao là tâm của hoa. Tẫn tài đức gì đâu, nào dám mơ đến tâm hoa!”
Tôn Tẫn viết xong, cẩn thận đọc lại một lượt, rồi cung kính nâng hai tay đưa tấm thẻ tre cho thái tử Thân, quỳ xuống khấu đầu mà nói: “Vi thần không có vật gì quý giá, chỉ có vài dòng chữ này, phiền điện hạ chuyển tới công chúa giúp!”
Thái tử Thân cất tấm thẻ tre vào trong ống tay áo, đứng dậy nói: “Nguỵ Thân cáo từ!”
Tôn Tẫn tiễn ra tới cổng, vòng tay nói: “Điện hạ về cẩn thận!”
Tôn Tẫn nhìn theo thái tử Thân một đoạn xa, mới quay người, định trở vào trong phủ, chợt thấy một kỵ mã phi thẳng tới cổng, xoay người xuống ngựa ngay sát bên cạnh. Tôn Tẫn vội ngoái đầu nhìn, thì ra là cung lại.
Cung lại khấu bái sát đất, nói: “Tôn giám quân, bệ hạ có lời mời!”
Tôn Tẫn trở vào phủ thay y phục, theo cung lại vào cung, tới ngự thư phòng khấu kiến Nguỵ Vương. Hành đại lễ xong, Huệ Vương bảo Tôn Tẫn ngồi xuống chiếu, mỉm cười nói: “Hôm nay quả nhân thấy buồn bực trong lòng, muốn mời ái khanh tới đây trò chuyện cho khuây khoả.”
Tôn Tẫn vòng tay nói: “Dám hỏi bệ hạ có chuyện gì buồn bực?”
“Cũng không có gì,” Nguỵ Huệ Vương cười mà nói. “Vừa rồi ngủ gật, mơ thấy mây đen che kín mặt trời, quả nhân cho là điềm không may, bởi vậy rất lo lắng. Có điều, lần này quả nhân đã nghĩ kỹ rồi, mây đen che trời chẳng qua chỉ là mơ giữa ban ngày, không có gì đáng ngại.”
Tôn Tẫn vòng tay nói: “Vi thần xin chúc mừng bệ hạ!”
Nguỵ Huệ Vương nheo mắt lại, nhìn Tôn Tẫn không chớp, trước mặt bỗng hiện ra bức mật thư của Tôn Tẫn, bên tai cũng như văng vẳng lời nói trong thư: “… Tẫn nay tuy phò Nguỵ, song lòng luôn tưởng nhớ cố hương. Mối thù giết cha, Tẫn không dám một ngày quên lãng… Song Tẫn mới vừa tới Nguỵ, muôn sự đang chờ thời cơ, việc nhà vẫn phải từ từ suy tính… Tẫn muốn lợi dụng cơ hội tốt đẹp này, bố trí ở Nguỵ một phen, để mong đến ngày về Tề, Tẫn không đến nỗi tay trắng… Đợi thời cơ chín muồi, Tẫn tự khắc sẽ tìm cơ hội, đánh ngựa về đông…”
Nguỵ Huệ Vương nheo mắt nhìn một hồi, giọng nói đột nhiên chứa đầy ẩn ý, thủng thẳng mà rằng: “Nghe nói ái khanh là người Tề, vậy từ đường ở đâu?”
“Bẩm, ở Chân Thành!”
Nguỵ Huệ Vương “ồ” lên một tiếng: “Chân Thành cách biên giới Vệ không xa!”
“Đúng vậy, Chân Thành rất gần Dương Tấn, Mã Lăng, đi trăm dặm về phía tây là tới biên giới Nguỵ!”
“Thảo nào Bàng ái khanh nói người đưa thư muốn tới Tề, hoá ra là vì vậy!” Nguỵ Huệ Vương đột nhiên hiểu ra, gật gù mà nói: “Phải, quả nhân đã biết rồi!”
Tôn Tẫn lấy làm ngạc nhiên: “Dám hỏi bệ hạ đã biết chuyện gì?”
Nguỵ Huệ Vương cười vang mà nói: “Quả nhân đã biết một chuyện quan trọng!”
Tôn Tẫn không hiểu, nhất thời ngẩn ra ngơ ngác. Nguỵ Huệ Vương kín đáo nhìn Tôn Tẫn, thấy sắc mặt Tôn Tẫn quả có khác thường, thì cười nhạt vài tiếng, lại hỏi: “Tôn ái khanh tới đây đã vài năm rồi, quả nhân vẫn không biết lệnh tôn của ái khanh là ai?”
Đột nhiên thấy Nguỵ Vương nhắc tới tiên phụ, Tôn Tẫn trong lòng giật thột, sắc mặt sầm xuống, cúi đầu chảy nước mắt mà nói: “Hồi bẩm bệ hạ, tiên phụ là Bình Dương lệnh nước Vệ Tôn Thao.”
Nguỵ Huệ Vương kinh ngạc, sững sờ hồi lâu mới nói: “Nói như vậy, lệnh tôn đã… tử chiến ở Bình Dương?”
Tôn Tẫn nước mắt tuôn rơi, gật đầu.
Nhớ tới câu “Mối thù giết cha, Tẫn không dám một ngày quên lãng”, Nguỵ Huệ Vương hít ngược một hơi khí lạnh, lại im lặng hồi lâu, mới cười gượng gạo mà nói: “Tôn ái khanh, những chuyện này đều đã qua rồi. Lúc nào rảnh rỗi, ái khanh có thể về Bình Dương một chuyến, chuyển linh vị tiên phụ trở lại Chân Thành, để linh hồn lệnh tôn được quay về cố hương.”
Tôn Tẫn quỳ xuống, bật khóc, dập đầu mà nói: “Vi thần đa tạ long ân của bệ hạ!”
“Ái khanh mau bình thân!” Nguỵ Huệ Vương lộ ra một nụ cười. “Giờ đã muộn rồi, ái khanh hãy về đi, hôm khác quả nhân sẽ lại cho gọi ái khanh tới nói chuyện!”
Tôn Tẫn lại dập đầu: “Vi thần cáo lui!”
Nhìn theo Tôn Tẫn ra khỏi cửa, Nguỵ Huệ Vương ngồi lặng hồi lâu, rồi lấy từ dưới bàn lên bức mật thư, đọc đi đọc lại vài lượt, sắc mặt mỗi lúc một thêm sa sầm.
***
Trước cửa dịch quán liệt quốc gần kề vương cung, công tử Hoa phục sức sang trọng nhảy xuống xe, sải bước vào trong Tần quán. Sư Lý Tật đứng dậy bước ra đón, vội vã hỏi ngay: “Có động tĩnh gì chưa?”
Công tử Hoa lắc đầu: “Hiện tại quan hệ giữa Tôn, Bàng rất tốt, vài ngày trước hai người còn ngồi chơi cờ với nhau. Hôm qua, Nguỵ Vương hẹn gặp Huệ tướng quốc, nói là muốn tướng quốc làm mai mối cho Tôn Tẫn. Hôm nay thái thử Thân tới phủ Tôn Tẫn, sau đó Nguỵ Vương lại cho gọi Tôn Tẫn tới, xem ra, hôn sự này đã định rồi!”
Sư Lý Tật chau mày: “Chúa thượng nói, gần đây Tôn, Bàng sẽ có tranh chấp, cớ sao chưa thấy động tĩnh gì?”
“Theo ý tại hạ,” công tử Hoa gợi ý, “chúng ta hãy trực tiếp tới gặp Tôn Tẫn xem sao!”
“Như vậy cũng tốt!” Sư Lý Tật gật đầu. “Chúng ta cũng nên kiếm cớ giúp Bàng Quyên!”
Sáng hôm sau, công tử Hoa tính đúng thời gian tan triều, đánh xe tới trước phủ Tôn Tẫn, trình lên danh thiếp. Tôn Tẫn bước ra đón, nhìn thấy công tử Hoa, bèn vòng tay hỏi: “Công tử tới đây, hẳn có điều gì chỉ bảo?”
Công tử Hoa ôm quyền đáp lễ, nói: “Nghĩa huynh của tại hạ mê cờ, nghe nói tướng quân kỳ nghệ cao siêu, rất muốn thỉnh giáo tướng quân, đã bày sẵn bàn cờ, sai tại hạ cầm thiếp tới mời tướng quân, mong tướng quân không ngại chỉ giáo!”
Tôn Tẫn nhìn công tử Hoa một lượt, lại nhìn tấm danh thiếp trên tay: “Xin hỏi Mộc tiên sinh đang ở đâu?”
“Lầu Vọng Xuân ở dãy phố phía trước!”
Tôn Tẫn vốn là người hậu đạo, ngại từ chối, nên suy nghĩ một lát rồi gật đầu nói: “Được, Mộc tiên sinh đã có thịnh tình, tại hạ xin tuân lệnh!”
Tôn Tẫn trở về phủ, cởi bỏ triều phục, thay thường phục, lên xe kiệu của công tử Hoa, tới lầu Vọng Xuân. Công tử Hoa dẫn Tôn Tẫn vào một gian nhã thất trên lầu hai.
Vừa tới cửa, Sư Lý Tật trong trang phục kẻ sĩ bước ra nghênh đón, vái dài sát đất mà nói: “Mộc Vũ Khuy xin chào Tôn tướng quân!”
Tôn Tẫn đáp lễ, nói: “Tôn Tẫn xin chào Mộc tiên sinh!”
“Tôn tướng quân, mời!”
“Mộc tiên sinh, mời!”
Hai người bước vào nhã thất. Một lúc sau, từ trong phòng đã vang lên tiếng hạ cờ lách cách.
Buổi tối nay, trong phủ Vũ An Quân, Bàng Thông sau một ngày theo sát Tôn Tẫn lúc này bước vào thư phòng của Bàng Quyên, khẽ giọng bẩm báo một lượt những điều mình thăm dò được ở lầu Vọng Xuân. Bàng Quyên chau mày suy nghĩ một hồi, rồi ngẩng nhìn Bàng Thông: “Thông đệ dám chắc Mộc tiên sinh chính là sứ Tần Sư Lý Tật?”
Bàng Thông trịnh trọng gật đầu: “Tiểu đệ đã hỏi ông chủ, ông chủ nói, nhã thất đó do một người họ Mộc bao cả, tên là Mộc Vũ Khuy gì gì đó. Còn người đi mời Tôn Tẫn, tiểu đệ cũng đã sai người điều tra, chính là phó sứ nước Tần công tử Hoa.”
Bàng Quyên đứng dậy, đi tới đi lui trong phòng, khẽ thở dài một tiếng, rồi quay sang Bàng Thông nói: “Hôm nay, xem ra việc Tôn huynh tạo phản là có thật. Than ôi, Tôn huynh cũng thật là, bệ hạ đối xử với Tôn huynh không bạc, sư đệ ta đây cũng đã tận nhân tận nghĩa, vậy mà Tôn huynh vẫn ghi nhớ mối thù trong lòng, nhất định muốn bước vào đường cụt, bảo ta nên làm thế nào cho phải? Theo ý của Thông đệ, bước tiếp theo đại ca nên làm thế nào?”
Bàng Thông nghĩ ngợi một lát rồi nói: “Đại ca hãy bẩm báo với bệ hạ, để bệ hệ quyết định!”
Bàng Quyên lại nghĩ thêm một lát, rồi gật đầu: “Làm theo ý Thông đệ! Chuẩn bị xe!”
Bàng Thông chuẩn bị xe ngựa xong xuôi, Bàng Quyên nhảy lên, đánh xe thẳng tới cung Nguỵ. Tuy đã tới giờ Nhân định, song Nguỵ Huệ Vương vẫn chưa ngủ, đang ngồi trong ngự thư phòng phê duyệt tấu chương. Trong cung tĩnh lặng như tờ, tỳ nhân đứng hầu bên cạnh nghe thấy tiếng bước chân từ xa vọng lại, vội vã ra cửa, nhìn thấy Bàng Quyên, bèn quay vào bẩm báo với Nguỵ Vương, rồi dẫn Bàng Quyên vào yết kiến.
Bàng Quyên bái xong, Nguỵ Huệ Vương chỉ tay vào chiếu bên cạnh, thấy Bàng Quyên sắc mặt ủ ê, thì khẽ hỏi: “Hiền tế muộn như vậy còn tới đây, hẳn là có việc hệ trọng?”
“Khởi bẩm phụ vương,” Bàng Quyên nâng tay áo chấm nước mắt, nghẹn ngào nói. “Là chuyện của Tôn huynh!”
Nguỵ Huệ Vương sớm đã đoán ra, chậm rãi nói: “Nói đi!”
“Giờ đây xem ra, Tôn Tẫn quả thực có mưu đồ làm phản. Mấy ngày nay, nhi thần âm thầm theo dõi, phát hiện Tôn Tẫn không chỉ kết giao với người Tề, còn lén lút qua lại với người Tần!”
“Gì kia?” Nguỵ Huệ Vương kinh ngạc. “Hắn còn qua lại với người Tần?”
“Đúng vậy!” Bàng Quyên gật đầu. “Buổi chiều nay, một cỗ xe bí mật đón hắn tới lầu Vọng Xuân, Tôn Tẫn cùng kẻ tới đón bước vào một gian nhã thất, nói chuyện suốt ba canh giờ với một tiên sinh họ Mộc, chập tối mới trở ra. Khi ra cửa, Mộc tiên sinh còn nói: ‘Tôn tướng quân quả là bậc cao cờ, tại hạ bội phục.’ Tôn Tẫn đáp rằng: ‘Là Mộc tiên sinh đã nhường nhịn.’ Mộc tiên sinh kia lại nói: ‘Mỗi một nước cờ của Tôn tướng quân đều kỳ diệu.’ Tôn Tẫn đáp rằng: ‘Tôn Tẫn lấy làm hổ thẹn’.”
“Phải rồi!” Nguỵ Huệ Vương vuốt râu nói. “Họ gặp để đánh cờ!”
“Đúng là đánh cờ!” Bàng Quyên đáp lời. “Song mấu chốt là đánh cờ với ai. Nhi thần điều tra biết được, Mộc tiên sinh kia không phải ai khác, chính là thượng đại phu nước Tần Sư Lý Tật. Người này đổi tên là Mộc Vũ Khuy, chính là chiết tự từ chữ Sư(3). Còn người tới đón Tôn Tẫn, nhi thần cũng đã điều tra ra, là phó sứ nước Tần Công tử Hoa.”
Nguỵ Huệ Vương bàng hoàng, lặng đi hồi lâu mới lên tiếng: “Tay Sư Lý Tật kia, đúng là cứ tìm tới ắt có chuyện! Hai năm về trước, hắn tới Đại Lương, cũng nói là kết tình láng giềng hoà mục. Kết quả là láng giềng hoà mục chưa thấy đâu, Công Tôn Diễn đã bị hắn dụ đi mất, sang làm đại lương tạo của người Tần. Nay hắn lại tới đây kết tình hoà mục, lẽ nào…” Lời nói ngưng bặt, chìm vào suy nghĩ.
“Phụ vương thánh minh,” Bàng Quyên nói tiếp. “Nhi thần đã suy nghĩ kỹ rồi, nếu Tôn Tẫn quả có hai lòng, nhi thần quyết đoạn tình tuyệt nghĩa với hắn.”
“Than ôi!” Nguỵ Huệ Vương khẽ thở dài một tiếng. “Cũng trách quả nhân đa sự. Trời đã ban hiền tế cho quả nhân, quả nhân lại không thoả mãn, vẫn tham luyến tài năng của Tôn Tẫn. Xem ra, vật đẹp không thể hưởng lắm, đồ tốt không thể tham cầu. Tần được một Thương Ưởng, nước đã lớn mạnh, quả nhân đã được hiền tế, lại còn mong cầu gì nữa?”
Bàng Quyên đứng dậy, sụp xuống khấu bái, khóc lớn mà nói: “Phụ vương thấu hiểu Bàng Quyên, Bàng Quyên có chết vạn lần cũng không hối tiếc!”
Nguỵ Huệ Vương lại đứng ngây một hồi nữa, rồi mới ngước mắt hỏi: “Theo ý hiền tế, quả nhân nên xử trí Tôn Tẫn thế nào?”
“Khởi bẩm phụ vương,” Điều này Bàng Quyên sớm đã suy tính sẵn từ trước. “Nếu Tôn Tẫn có hai lòng, phụ vương nên sớm đưa ra quyết định. Càng để lâu, nguy hại càng lớn. Nhi thần cho rằng, thả người này đi, chẳng khác nào thả hổ về rừng. Theo nhi thần được biết, nếu Tôn Tẫn phản bội, dứt khoát không chạy tới Tần, chỉ chạy tới Tề. Tài của Tôn Tẫn tuy kém nhi thần, song Tề có Tôn Tẫn, tất sẽ trả mối nhục Hoàng Trì. Nhi thần tuy rằng không sợ Tôn Tẫn, song nếu muốn thắng hắn, cũng không thể nắm chắc cả mười phần.”
Nguỵ Huệ Vương sắc mặt mỗi lúc một ầm trầm: “Được, quả nhân đã biết phải xử trí thế nào. Buổi đại triều ngày mai, hiền tế hãy tạm thời lánh mặt!”
Bàng Quyên khấu đầu nói: “Phụ vương suy xét vô cùng thấu đáo, Quyên Nhi sẽ cáo bệnh không lên triều!”
Vào buổi đại triều hôm sau, Nguỵ Huệ Vương ngồi nghiêm trang trên ngai vàng. Ngoại trừ Bàng Quyên, văn võ bá quan đều có mặt đông đủ. Nguỵ Huệ Vương đưa mắt nhìn khắp lượt quần thần, dõng dạc hỏi: “Chư vị ái khanh, ai có tấu không?”
Các quan tư nông, tư mã, ngự sử lần lượt bước lên trình bản tấu, Nguỵ Huệ Vương nhận lấy xem qua một lượt. Do Bàng Quyên không tới, nên sự việc thao diễn mùa đông vốn là hệ trọng nhất, lúc này lại không có ai bẩm tấu.
Thấy quần thần đều đã tấu xong, Chu Uy bèn bước lên một bước: “Khởi bẩm bệ hạ, sứ Tần Sư Lý Tật thỉnh cầu mở cửa khẩu thông thương để lợi ích cho cả hai bên, vi thần đã thảo cương yếu cụ thể, xin bệ hạ ngự phê!” Rồi hai tay trình lên bản tấu.
Tỳ nhân bước lại nhận lấy, đưa lên Nguỵ Huệ Vương. Nguỵ Huệ Vương chẳng buồn xem, quăng toẹt xuống bàn, cười gằn một tiếng: “Mở cửa khẩu thông thương cái gì? Đã tới thông thương, hà tất phải lén la lén lút, thay tên đổi họ?”
Thấy Nguỵ Huệ Vương đột nhiên nổi giận, quần thân đều kinh hãi, đưa mắt nhìn nhau.
Nguỵ Huệ Vương ngoảnh đầu, đưa mắt nhìn Tôn Tẫn: “Tôn ái khanh!”
Tôn Tẫn bước lên: “Có vi thần!”
“Quả nhân hỏi khanh, chiều hôm qua, khanh đi đâu?”
Tôn Tẫn thoáng ngạc nhiên, rồi chậm rãi đáp: “Hồi bẩm bệ hạ, vi thần tới lâu Vọng Xuân!”
Nguỵ Huệ Vương gật đầu thật mạnh: “Được lắm! Nói không sai. Có điều, ái khanh xưa nay giữ mình trong sạch, cớ sao bỗng dưng lại tới một nơi như lầu Vọng Xuân?”
Tôn Tẫn hơi sững lại: “Là có người mời vi thần tới đó đánh cờ!”
Nguỵ Huệ Vương lại gật đầu: “Xin hỏi ái khanh, đánh cờ với ai?
“Một người tên gọi Mộc tiên sinh!”
“Hừm!” Nguỵ Huệ Vương lại cười gằn một tiếng. “Người này phải chăng tên Mộc Vũ Khuy?”
Tôn Tẫn giật mình kinh ngạc, rồi gật đầu trả lời: “Đúng là Mộc Vũ Khuy, sao bệ hạ lại biết?”
“Quả nhân không chỉ biết hắn là Mộc Vũ Khuy, mà còn biết hắn còn có một cái tên khác nữa! Tôn ái khanh, lẽ nào khanh không biết?”
Tôn Tẫn càng nghe càng mơ hồ, đưa ánh mắt bối rối nhìn Nguỵ Huệ Vương.
“Được lắm!” Nguỵ Huệ Vương mắt nhìn Tôn Tẫn trừng trừng, rồi chậm rãi nói. “Khanh đã ra vẻ không biết thì quả nhân sẽ nói cho khanh biết. Mộc Vũ Khuy kia chính là sứ thần nước Tần Sư Lý Tật muốn tới thông thương mà Chu ái khanh vừa tấu báo! Chữ ‘Sư’ chính là Mộc Vũ Khuy!”
Văn võ bá quan trong triều thảy đều giật mình kinh hãi. Huệ Thi, thái tử, Chu Uy, Bạch Hổ nhất loạt mặt mày biến sắc, đưa mắt nhìn nhau. Thái tử Thân mồ hôi rịn đầy trên trán, vội đưa ống tay áo lên lau.
“Tôn tiên sinh,” Nguỵ Huệ Vương đổi cách xưng hô, giọng nói sắc lạnh. “Tiên sinh có thể nói cho quả nhân biết, tiên sinh và Mộc tiên sinh đánh cờ thế nào không?”
Tôn Tẫn chỉ biết cúi đầu. Lúc này có nói gì cũng đều vô ích.
“Tôn Tẫn,” Nguỵ Huệ Vương nghiêm mặt đanh giọng. “Quả nhân biết ngươi có tài, đã trọng dụng ngươi, còn ngươi thì sao? Lấy ân báo oán, một dạ hai lòng, mưu đồ làm phản, là vì lẽ gì?”
“Bệ hạ…” Tôn Tẫn sụp xuống khấu bái. “Tẫn tuyệt đối không có ý đó!”
Nguỵ Huệ Vương lấy ra một cuộn thẻ tre, thẳng tay ném xuống trước mặt Tôn Tẫn, cười nhạt mà nói: “Hừm, đã không có ý đó, vậy cái này ở đâu ra?”
Tôn Tẫn vội vã nhặt lên, mở ra đọc, trợn mắt chết lặng tại chỗ.
“Thư này có phải do ngươi viết không?” Nguỵ Huệ Vương gằn giọng truy hỏi.
Tôn Tẫn dường như cũng đã lờ mờ hiểu ra sự việc, dập đầu liên hồi mà nói: “Là… là vi thần viết, nhưng… nhưng không phải là như vậy!”
“Hừm!” Nguỵ Huệ Vương bật lên một tiếng cười lạnh lẽo. “Khá khen cho Tôn Tẫn! Ngươi bề ngoài có vẻ trung hậu, bên trong lại nham hiểm khó lường, trước chứng cứ rành rành mà vẫn còn chối cãi! Người đâu, bắt tên nghịch tặc này lại!”
Thị vệ lập tức xông vào, bẻ quặt tay Tôn Tẫn ra sau.
Nguỵ Huệ Vương quay sang Bạch Hổ: “Bạch tư đồ nghe chỉ!”
Bạch Hổ đáp lời: “Có vi thần!”
“Lập tức khám xét, tịch biên gia sản của phủ nghịch tặc Tôn Tẫn, tìm kiếm bằng chứng!”
“Vi thần tuân chỉ!”
“Áp giải nghịch tặc vào tử ngục, chờ ngày xử quyết!”
Đám thị vệ giữ chặt Tôn Tẫn, đẩy ra ngoài điện.
Tôn Tẫn bị lôi ra tới cửa, quay đầu lại hét lớn: “Bệ hạ minh xét, vi thần bị oan!”
Nguỵ Huệ Vương cười nhạt một tiếng: “Bãi triều!” Rồi đứng dậy phẩy tay áo đi luôn.
Sự việc quá ư đột ngột. Nguỵ Huệ Vương đã ra khỏi cửa bên, song đám Huệ Thi, thái tử Thân, Chu Uy và các triều thần vẫn đứng chết trân như đóng đinh trên điện, không người nào nhúc nhích.
Định thần lại đầu tiên là Chu Uy. Ông ta nhăn mày nhíu trán một hồi, rồi chậm rãi bước tới chỗ Tôn Tẫn vừa khấu bái, nhặt lấy vật chứng mà Nguỵ Huệ Vương ném xuống, liếc qua vài cái, rồi cất vào trong tay áo.
Sau khi bãi triều, Bạch Hổ trở về phủ, dẫn theo vài chục tên sai nha chạy tới phủ giám quân. Do Tôn Tẫn không có gia thất, cũng chẳng có gia sản, toàn bộ đồ đạc trong phủ đều do Nguỵ Vương bạn tặng, do vậy loáng cái đám sai nha đã tra xét xong xuôi. Một quân uý tay cầm vài tấm thẻ tre bước lại gần Bạch Hổ bẩm báo: “Báo, trong phủ không có vật gì khả nghi, duy có bức thư này, có lẽ là vật chứng!”
Bạch Hổ cầm lấy, chính là bức thư mạo danh Lật Bình của Bàng Quyên.
Bạch Hổ đọc xong, chau tít đôi mày, hỏi: “Thư này tìm thấy ở đâu?”
“Khởi bẩm tư đồ, đặt ở trên bàn trong thư phòng!”
“Dẫn ta tới xem!”
Bạch Hổ theo quân uý vào thư phòng, quân uý chỉ về phía bàn: “Chính là trên bàn này!” Nói xong, cầm lấy tấm thẻ tre trong tay Bạch Hổ, đặt vào chỗ cũ.
Bạch Hổ đăm chiêu suy nghĩ, cất bức thư đi, vừa bước ra khỏi phòng thì thấy một người phóng ngựa vụt tới, chính là Bàng Quyên. Bàng Quyên nhảy xuống ngựa, vội vã bước vào trong phòng, lớn tiếng gọi: “Tư đồ đại nhân!”
Bạch Hổ bước ra, thấy Bàng Quyên thì cả mừng: “Đại ca, tiểu đệ đang định tìm đại ca!”
Bàng Quyên sắc mặt hốt hoảng, chụp lấy tay Bạch Hổ, lớn tiếng hỏi: “Nói cho đại ca biết, chuyện này là thế nào?”
Bạch Hổ sắc mặt buồn bã, lắc đầu nói: “Tiểu đệ cũng không biết. Buổi đại triều sáng nay, bệ hạ đột nhiên kết tội Tôn tướng quân mưu phản, bảo tiểu đệ tới tra xét, tịch biên gia sản!”
“Ồ?” Bàng Quyên vội hỏi. “Vậy có tìm thấy chứng cứ không?”
Bạch Hổ gật đầu, lấy ra bức thư vừa tìm được, đưa cho Bàng Quyên: “Đây là bức thư tiểu đệ vừa tìm thấy. Chỗ bệ hạ còn có thư hồi âm do đích thân Tôn tướng quân viết.”
Bàng Quyên đọc kỹ một lượt, giậm chân kêu lên: “Chuyện này làm sao có thể? Hôm qua, đại ca chẳng may trúng phong hàn, chỉ một ngày không lên triều, mà đã xảy ra chuyện lớn nhường này! Không thể nào!” Im lặng một lát, lại hỏi Bạch Hổ. “Tôn huynh đang ở đâu?”
Bạch Hổ rầu rĩ nói: “Bệ hạ đã hạ lệnh giam Tôn huynh vào tử ngục!”
Bàng Quyên cuống lên: “Bạch huynh đệ, người khác đại ca không dám chắc, nhưng nếu nói Tôn huynh mưu phản, đại ca tuyệt đối không tin! Tôn huynh là người thành thực, làm sao có chuyện mưu phản cho được?”
“Phải!” Bạch Hổ gật đầu đồng tình. “Tiểu đệ cũng thấy nghi ngờ. Tôn tướng quân nếu có lòng mưu phản, đương nhiên sẽ giấu kín bức mật thư này, làm gì có chuyện để lù lù ngay trên mặt bàn?”
Nghe thấy lời này, Bàng Quyên dường như đã lấy lại bình tĩnh, bèn gật đầu nói: “Phải, tiểu đệ nói rất có lý. Nhưng không có lửa làm sao có khói, bệ hạ bỗng dưng nổi trận lôi đình, hẳn có nguyên do. Tình cảm giữa đại ca và Tôn huynh, không nói tiểu đệ cũng biết. Nay tai hoạ thình lình giáng xuống đầu Tôn huynh, thực ngoài sức tưởng tượng! Chuyện của Tôn huynh, tạm nhờ vào đệ, đừng để Tôn huynh phải chịu khổ trong ngục. Đại ca sẽ vào cung cầu kiến bệ hạ, tìm hiểu rõ nguồn căn. Tiểu đệ cũng điều tra kỹ lưỡng, nếu có người bày mưu hãm hại, đại ca quyết không dung tha!”
Bạch Hổ gật đầu nói: “Đại ca yên tâm, đây là việc tiểu đệ nên làm!”
Bàng Quyên trả lại bức thư cho Bạch Hổ: “Vật chứng này, đệ cứ cất đi. Đại ca vào cung đây!”
Bạch Hổ cầm lấy bức thư, cất vào trong tay áo.
Bàng Quyên lên ngựa đi được một đoạn, lại vòng trở lại, nói với Bạch Hổ: “Đại ca và Tôn huynh giao tình thân thiết, e rằng bệ hạ sẽ không chịu nghe. Đệ mau tới phủ tướng quốc, nếu có tướng quốc đứng ra, hoặc giả có thể cứu được mạng sống của Tôn huynh!” Nói xong, phi ngựa đi luôn.
Bạch Hổ hạ lệnh thu quân, quay trở về phủ, ngẫm nghĩ một hồi, rồi vội vã đánh xe tới phủ tướng quốc.
Bạch Hổ hấp tấp bước vào phòng khách, từ xa nhìn thấy Chu Uy đang ngồi đối diện với Huệ Thi, sắc mặt đầy căng thẳng.
Huệ Thi khép hờ hai mắt, bức thư mà Chu Uy nhặt lấy đang đặt ngay ngắn trên bàn. Bạch Hổ muốn nói, song nhìn thấy Huệ Thi như vậy, đành im lặng đứng tránh sang một bên.
Huệ Thi từ từ mở mắt, liếc nhìn Bạch Hổ: “Bạch tư đồ, có tìm thấy chứng cứ gì không?”
Bạch Hổ lấy ra bức thư trong ống tay áo, hai tay trình lên Huệ Thi: “Khởi bấm tướng quốc, ngoài bức thư này, trong phủ giám quân không có thứ gì khả nghi!”
Huệ Thi cầm lấy bức thư, đọc qua một lượt, rồi từ từ đặt xuống mặt bàn, song song với bức thư Chu Uy mang tới, nheo mắt quan sát.
“Khi hạ quan tra xét tịch biên gia sản, bức thư này để ngay trên mặt bàn trong thư phòng Tôn tướng quân, không hề giấu giếm che đậy!” Bạch Hổ nói thêm.
Huệ Thi không để ý tới Bạch Hổ, vẫn nheo nheo mắt nhìn bức thư, rồi thình lình hỏi một câu chẳng hề liên quan: “Tại sao hôm nay Bàng tướng quân không lên triều?”
“Khởi bẩm tướng quốc! Vừa rồi gặp Bàng tướng quân, tướng quân có nói rằng hôm qua đột nhiên trúng phong hàn, hôm nay không thể lên triều. Bàng tướng quân đang nghỉ ở nhà, thình lình nhận được tin dữ, vội lên ngựa chiến, phi thẳng tới phủ Tôn giám quân, thấy hạ quan đang tra xét, tướng quân hỏi rõ tình hình xong thì đã gấp rút vào cung cầu xin bệ hạ!”
Chu Uy vội hỏi: “Bàng tướng quân không nói gì ư?”
“Bàng tướng quân đi được một đoạn, lại quay ngựa lại, bảo hạ quan tới cầu cứu tướng quốc. Bàng tướng quân nói, nếu Huệ tướng quốc đứng ra, may ra có thể cứu được mạng Tôn tướng quân!”
Nghe lời nói này, Chu Uy vội quay đầu nhìn Huệ Thi.
Huệ Thi lại khép mắt, hồi lâu sau mới mở ra, khẽ thở dài một tiếng: “Lão hủ không cứu nổi Tôn tướng quân rồi!”
Chu Uy vội nói: “Huệ tướng quốc, theo hạ quan biết, Tôn tướng quân tuyệt đối không phải là người mưu phản, án này nhất định có uẩn khúc, Tôn tướng quân có lẽ đã bị người ta hãm hại!”
“Than ôi!” Huệ Thi lắc đầu, thở dài sườn sượt. “Trời muốn làm mưa, lão hủ đây ngăn thế nào được?”
Đúng lúc này, trong ngự thư phòng cung Nguỵ, thái tử Thân phủ phục dưới đất, khấu bái liên hồi, đang ra sức cầu xin Huệ Vương. Nguỵ Huệ Vương sắc mặt âm trầm, chỉ ngồi im lặng, chẳng buồn nhìn thái tử Thân.
Tỳ nhân rón ra rón rén bước vào, khẽ khàng bẩm báo: “Bệ hạ, Vũ An Quân cầu kiến!”
Nguỵ Huệ Vương chẳng buồn ngước mắt, trầm giọng nói: “Truyền vào!”
Bàng Quyên bước vào, thấy thái tử Thân quỳ ở đó, thì thoáng giật mình, rồi vội bước lên trước, quỳ xuống bên phải thái tử Thân, khấu đầu nói: “Nhi thần khấu kiến phụ vương!”
Nguỵ Huệ Vương giọng lạnh tanh: “Bàng ái khanh, khanh vội vã tới đây, hẳn cũng vì cầu xin cho Tôn Tẫn?”
Bàng Quyên lại bái lạy: “Vâng, thưa phụ vương!”
Nguỵ Huệ Vương chặn họng trước: “Chuyện này bất tất phải nói thêm! Người ta ai cũng có chí riêng, Tôn Tẫn nhãn quang cao ngạo, khinh thường quả nhân, khinh thường nước Nguỵ, quả nhân không trách hắn. Song điều quả nhân không thể tha thứ, chính là hắn trước mặt ra bộ quân tử, song sau lưng lại làm chuyện tiểu nhân! Nào là ‘mối thù giết cha, Tẫn không dám một ngày quên lãng’, nào là ‘Tẫn đã hiểu Nguỵ’, nào là ‘Tẫn đang tận dụng cơ hội tốt đẹp này, bố trí ở Nguỵ một phen’… Các khanh nghe thấy chưa? Rành rành là những lời phản nghịch! Quả nhân cứ nghĩ tới chuyện này, sống lưng lại lạnh buốt!”
Bàng Quyên dập đầu nói: “Lời phụ vương nói, chỉ là…”
Nguỵ Huệ Vương không nhẫn nhịn thêm được nữa, lập tức xua tay: “Được rồi, được rồi, hai người đừng nói nữa. Chuyện của Tôn Tẫn, quả nhân tự biết xử lý, lui cả đi!”
Thấy thái độ của Huệ Vương như vậy, thái tử Thân và Bàng Quyên biết có cầu xin cũng vô ích, đành khấu đầu đồng thanh nói: “Phụ vương bảo trọng, nhi thần cáo lui!”
Ra khỏi phủ tướng quốc, Bạch Hổ suy nghĩ một lúc, rồi đánh xe tới hình ngục, bảo quan tư hình dẫn tới tử ngục thăm Tôn Tẫn. Còn chưa tới nơi, Bạch Hổ đã nhìn thấy Tôn Tẫn người mang cùm nặng, ngồi bệt dưới đất, hai mắt nhắm nghiền, có lẽ đang mải suy nghĩ. Bạch Hổ bảo tư hình mở cửa ngục, rồi phẩy tay ra hiệu cho hắn lui ra.
Tôn Tẫn nghe thấy tiếng động, mở mắt thấy Bạch Hổ, bèn vòng tay nói: “Tôn Tẫn chào Bạch tư đồ.”
Bạch Hổ khoanh chân ngồi xuống đối diện với Tôn Tẫn, vòng tay đáp lễ, giọng nói có chút nghẹn ngào: “Tôn tướng quân, đã bắt tướng quân phải chịu khổ!”
Tôn Tẫn cười buồn bã, không nói gì.
Bạch Hổ lấy từ trong tay áo ra bức thư mà Chu Uy mang tới, đặt trước mặt Tôn Tẫn: “Tôn tướng quân, tướng quân hãy xem đi, bức thư này có phải do tướng quân tự tay viết không?”
“Là tại hạ viết!” Tôn Tẫn đọc kỹ một lượt. “Từ đầu tới chỗ ‘nên tới phò Nguỵ’. Phần đề tên cuối thư cũng là của tại hạ. Những nội dung còn lại là do người khác thay đổi!”
Nghe Tôn Tẫn nói như vậy, Bạch Hổ vội vã nhìn lại tấm thẻ tre, quan sát cẩn thận một lượt, gật đầu nói: “Phải, Tôn tướng quân nói rất đúng, sợi dây xuyên tấm thẻ tre có mối nối ở chỗ này. Nét bút tuy rất giống, song hình giống thần không giống, vẫn có khác biệt!” Trầm ngâm một lát, lại hỏi. “Tôn tướng quân, thư này tướng quân giao cho ai?”
“Giao cho người đưa thư tới. Hắn xưng là tuỳ tùng của Lật tướng quân, tên gọi Lưu Thanh.”
“Tướng quân đã từng gặp hắn chưa?”
Tôn Tẫn lắc đầu.
“Người này diện mạo thế nào?”
“Tầm ba mươi tuổi, người tầm thước, mắt không to, thân hình vạm vỡ. Phải rồi, bên má trái có một vết sẹo do đao chém.”
“Tôn tướng quân có thể vẽ chân dung hắn không?” Tôn Tẫn gật đầu.
Bạch Hổ lập tức ra khỏi nhà lao, gọi người mang bút mực và một tấm gỗ lại. Tôn Tẫn nhắm mắt hồi tưởng một lát, sau đó đưa bút phác thảo chân dung. Bạch Hổ xem qua rồi nói: “Tôn tướng quân hãy tạm nhẫn nhịn ít hôm, đợi tại hạ điều tra chân tướng sự việc, nhất định sẽ trả lại sự công bằng cho tướng quân!”
Tôn Tẫn vòng tay: “Tạ ơn tư đồ!”
Bạch Hổ trở về phủ tư đồ, lập tức cho gọi đến vài tên sai nha chuyên nghề truy nã, dày dạn kinh nghiệm tới, chỉ vào tấm chân dung mà Tôn Tẫn vừa vẽ, căn dặn: “Các ngươi hãy dốc toàn lực tìm bằng được kẻ này. Người tầm thước, mắt nhỏ, thân hình vạm vỡ, bên má trái có một vết sẹo do đao chém.”
Đám sai nha xúm vào xem bức chân dung, nhìn đi nhìn lại thật kỹ lưỡng.
Thấy đám sai nha đã nhìn được một lúc, Bạch Hổ hỏi: “Nhớ kỹ chưa?”
Đám sai nha đều gật đầu.
Bạch Hổ dặn: “Nhớ rồi thì tốt! Hễ gặp kẻ này, lập tức bắt ngay! Ngoài ra, việc này vô cùng quan trọng, dù là ai cũng không được để lộ thông tin!”
Đám sai nha lại gật đầu, vâng lệnh mà đi.
Thấy đám sai nha đã đi xa, Bạch Hổ sai người gọi phủ uý tới dặn dò: “Ngươi lập tức tới Sở Khâu nước Vệ, cầu kiến Lật tướng quân, hỏi ông ta xem có phải đã sai người mang thư tới cho Tôn giám quân không, người đưa thư có phải tên là Lưu Thanh không. Nếu là người này, dẫn hắn về đây!”
Phủ uý đáp lời: “Hạ quan tuân lệnh!”
“Ngươi đi một mình, ngoài Lật tướng quân, không được phép nói với ai dù chỉ nửa lời, trong vòng mười ngày phải quay về!”
Phủ uý vội vã lên đường lập tức.
Tuy nhiên, đừng nói là mười ngày, dù là ba ngày, Nguỵ Huệ Vương cũng không thể chờ thêm được nữa. Vừa qua hai ngày, có buổi tiểu triều, Nguỵ Huệ Vương đã cho triệu tất cả triều thần từ chức trung đại phu trở lên vào điện.
Nguỵ Huệ Vương đưa ánh mắt uy nghiêm lướt nhìn khắp lượt quần thần, rồi dừng lại ở Bạch Hổ: “Bạch tư đồ!”
Bạch Hổ bước lên đáp: “Có vi thần!”
“Tra xét phủ nghịch tặc, kết quả thế nào?”
Bạch Hổ bẩm tấu: “Vi thần phụng chỉ tra xét và tịch biên tài sản, thấy trong phủ Tôn Tẫn không có vật gì giá trị, chỉ có vài chục lượng vàng, đều là do bệ hạ ban thưởng!” Rồi lôi từ trong ngực ra vài tấm thẻ tre, hai tay trình lên. “Vi thần còn tìm thấy một bức thư trong thư phòng của Tôn Tẫn, bức thư để ngay trên mặt bàn, xin bệ hạ ngự lãm!”
Tỳ nhân bước lại cầm lấy, hai tay dâng lên Nguỵ Huệ Vương. Nguỵ Huệ Vương vội vàng cầm lấy đọc, gật đầu nói: “Xem ra, Tôn Tẫn mưu phản, chứng cứ đã rành rành. Bạch tư đồ!”
“Có vi thần!”
“Chiếu theo luật lệ Đại Nguỵ, tội mưu phản, hình phạt ra sao?”
Bạch Hổ do dự một lát: “Đáng tru di cửu tộc!”
“Tru di cửu tộc!” Nguỵ Huệ Vương nở một nụ cười sâu cay, đưa mắt nhìn khắp lượt quần thần. “Chư vị ái khanh, từ ngày Tôn Tẫn xuống núi, quả nhân trọng dụng hắn rất mực, đối xử bằng lễ, tặng cho phủ đệ, thưởng cho vàng bạc, giao cho tước vị lớn. Vậy mà Tôn Tẫn lại ôm mối thù riêng, một dạ hai lòng, âm mưu cấu kết Tề, Tần, muốn phá hoại xã tắc của quả nhân!” Dừng lại một lát, nghiêm mặt đanh giọng. “Chư vị ái khanh, thân là thần tử, trung quân là bổn phận đầu tiên. Tôn Tẫn mưu nghịch phản quốc, là tội đứng đầu thập ác, không thể dung thứ. Xét thấy nghịch tặc không có người thân ở Nguỵ, quả nhân miễn tội tru di cửu tộc, chỉ xử trảm, giờ Ngọ ba khắc ngày mai hành hình! Ngoài ra, chiếu cáo tất cả quan viên cấp hạ đại phu trở lên, vào giờ Ngọ ngày mai cùng tới pháp trường xem xử trảm!”
Nguỵ Huệ Vương vừa dứt lời, quần thần đều bàng hoàng kinh hãi. Phải biết rằng, lời quân chủ đã nói ra, khó mà thu hồi. Nguỵ Huệ Vương đã tuyên xử trảm, cho dù phán quyết có sai, cũng khó lòng lật lại.
Đám triều thần Chu Uy không ai bảo ai cùng đổ dồn ánh mắt vào Huệ Thi. Huệ Thi vẫn nhắm hờ hai mắt, dường như không nghe thấy gì. Chu Uy sốt một, lại nhìn sang phía Bàng Quyên.
Bàng Quyên bước lên, quỳ xuống khấu lạy: “Bệ hạ, cho phép vi thần nói một lời!”
Nguỵ Huệ Vương hơi chau mày, liếc nhìn Bàng Quyên: “Ái khanh có gì muốn nói?”
“Bệ hạ!” Bàng Quyên nước mắt như mưa, giọng nói nghẹn ngào. “Tôn Tẫn mưu phản, tội không thể tha. Vi thần không dám cầu xin cho hắn, song chỉ xin bệ hạ ân chuẩn một điều, cũng ban cho vi thần tội trảm!”
Bàng Quyên đột nhiên xin ban tội trảm, hoàn toàn nằm ngoài dự đoán của Nguỵ Huệ Vương, khiến Nguỵ Huệ Vương sững sờ hồi lâu mới nói nên lời: “Bàng ái khanh cớ sao lại cầu xin tội trảm?”
Bàng Quyên khóc mà nói: “Vi thần và Tôn Tẫn đã kết nghĩa huynh đệ, tình như tay chân, không cầu cùng sinh, song nguyện cùng chết. Nếu bệ hạ xử trảm Tôn Tẫn, vi thần đã có lời hứa trước đây, không muốn sống một mình!”
Nguỵ Huệ Vương chau tít đôi mày: “Bàng ái khanh, khanh…” Rồi đưa mắt nhìn khắp lượt quần thần, đang bối rối không biết xử trí ra sao, thì thái tử Thân cũng bước ra quỳ xuống: “Vi thần khẩn cầu phụ vương thu lại lời vàng ngọc, khoan hồng cho Tôn Tẫn!”
Đám triều thần Chu Uy thấy Bàng Quyên, thái tử Thân đã đứng ra cầu xin, cũng vội vàng đua nhau quỳ xuống.
Nguỵ Huệ Vương ngước mắt nhìn thấy quần thần đã quỳ xuống hết lượt, chật kín cả triều đường, chỉ còn trơ lại mình Huệ Thi vẫn ngồi nguyên tại chỗ, hai mắt khép hờ, dường như không hề để tâm. Nguỵ Huệ Vương lấy làm ngạc nhiên, bèn nhìn thẳng vào Huệ Thi: “Huệ ái khanh, cớ sao khanh không cầu xin cho Tôn Tẫn?”
Huệ Thi mở mắt, bước lên một bước, vòng tay tấu: “Khởi bẩm bệ hạ, bệ hạ không có ý muốn giết Tôn Tẫn, Huệ Thi hà tất phải cầu xin!”
“Ồ?” Nguỵ Huệ Vương nhổm người về phía trước. “Sao khanh biết quả nhân không giết Tôn Tẫn?”
Huệ Thi lại bẩm tấu: “Nếu bệ hạ muốn giết Tôn Tẫn thì hôm kia đã giết ngay rồi, hà tất phải đợi tới hôm nay? Hơn nữa, bệ hạ xưa nay trị quốc nhân từ, khoan dung, lễ hiền hạ sĩ, đừng nói là việc Tôn Tẫn mưu phản còn chưa điều tra rõ ràng, mà dù có điều tra kỹ lưỡng, bệ hạ cũng dứt khoát không có chuyện thiển cận đến vậy, trước dùng sau trảm, để lại cái tiếng sát hại sĩ tử, khiến sĩ tử liệt quốc hay tin nguội lòng, mà không dám bén mảng tới Nguỵ nữa.”
Lời của Huệ Thi, thứ nhất chỉ ra hậu quả nghiêm trọng nếu xử trảm Tôn Tẫn, thứ hai nhấn mạnh phải điều tra rõ ràng, thứ ba cũng đã tìm ra đường lui giúp Huệ Vương. Nguỵ Huệ Vương đảo con ngươi một vòng, nhìn khắp triều đường, rồi khẽ thở dài một tiếng: “Hỡi ôi, người hiểu ta, chỉ có Huệ Tử. Chư vị ái khanh, hãy mau bình thân!”
Bàng Quyên khấu đầu nói: “Vi thần thay Tôn huynh khấu tạ ân không giết của bệ hạ!”
Quần thần cũng khấu đầu mà nói: “Tạ ơn lòng khoan dung của bệ hạ!”
Nguỵ Huệ Vương dõng dạc nói: “Nể tình quần thần cầu xin, quả nhân tạm tha nghịch tặc một mạng. Có điều, tội chết có thể miễn, song tội sống khó tha. Trong tên của kẻ này chẳng phải có chữ ‘Tẫn’ ư? Quả nhân lần này sẽ giúp hắn toại nguyện, xử hắn tẫn hình(4)! Ngoài ra, thích chữ trên trán, cũng thích chữ ‘Tẫn’ này!” Quay sang Bạch Hổ. “Lập tức hành hình! Bạch tư đồ, mau đi giám sát!”
Bạch Hổ lại bái lạy, định nói gì đó, song Nguỵ Huệ Vương đã phẩy tay: “Bãi triều!”
Trong dịch quán, công tử Hoa hấp tấp bước vào, vội vã thông báo với Sư Lý Tật: “Nguỵ Vương định xử trảm Tôn Tẫn, sau do Bàng Quyên, thái tử Thân và quần thần cầu xin, đã đổi thành tẫn hình, thích chữ lên mặt.”
“Tẫn hình?” Sư Lý Tật giật mình kinh ngạc. “Đúng là trùng hợp với tên của người này!” Ngẫm nghĩ một lát, nói tiếp. “Nhìn vào sự việc, có thể thấy Nguỵ Vương thực là nham hiểm!”
“Nham hiểm thế nào?”
“Theo thông lệ liệt quốc, người bị hành hình không thể làm quan. Tôn Tẫn thân là võ tướng, phải chịu cực hình phạt, đồng nghĩa với việc tuyên bố với liệt quốc, Tôn Tẫn đã là phế nhân; lại có ý muốn nói rằng, nhân tài như vậy, ta không thể dùng, thì các ngươi cũng chớ mong dùng.”
“Bàng Quyên đã hại Tôn Tẫn, cớ sao lại còn liều chết cầu xin cho hắn?”
“Đây chính là sự xảo quyệt của Bàng Quyên!” Sư Lý Tật tấm tắc. “Thái tử Thân, Huệ tướng quốc, Chu thượng khanh đều có giao tình thân thiết với Tôn Tẫn, nếu xử tử Tôn Tẫn, ba người này ắt sẽ nghi ngờ Bàng Quyên, những ngày sau đó Bàng Quyên sao có thể sống yên thân? Hơn nữa, Bàng Quyên và Tôn Tẫn lại không thù không oán, hại Tôn Tẫn chẳng qua chỉ xuất phát từ lòng đố kỵ. Nguỵ Vương xử tẫn hình, đồng nghĩa với việc cắt đứt đường hoạn lộ của Tôn Tẫn. Vậy thì Bàng Quyên hà cớ phải đuổi cùng giết tận?”
Công tử Hoa gật gù.
“Than ôi!” Sư Lý Tật thở dài. “Một bậc đại tài nhường này, lại bị huỷ hoại trong tay Bàng Quyên, thật khiến người ta đau xót!”
“Sư Lý huynh,” Công tử Hoa ánh mắt lộ vẻ sốt ruột. “Nhân lúc còn chưa hành hình, chúng ta hãy nghĩ cách cướp ngục, cứu Tôn Tẫn ra!”
“Tuyệt đối không thể!” Sư Lý Tật dứt khoát lắc đầu. “Nguỵ Vương, Bàng Quyên đã nghi ngờ ta, nếu cướp ngục, đã không thể cứu được Tôn Tử, ngược lại còn hại tới Tôn Tử. Hơn nữa, việc này nếu làm không tốt sẽ dẫn tới tranh chấp bang giao, xung đột khó tránh. Chưa chuẩn bị đã đánh, chúa thượng dứt khoát không đồng ý. Chúng ta làm như vậy, há chẳng phải sẽ gây thêm phiền toái cho chúa thượng?”
“Vậy…” công tử Hoa tặc lưỡi vài cái, “bước tiếp theo nên làm thế nào?”
“Báo với người Nguỵ, về nước!” Sư Lý Tật quả quyết. “Chúng ta phải lập tức tấu báo lên chúa thượng, Tôn Tẫn đã bị hành hình, bất kể thế nào, nước Tần cũng phải giữ lại Tô Tần!”
“Hạ quan lập tức thi hành!”
Trong hình ngục, tư hình dẫn Bàng Quyên, Bạch Hổ sải bước tới phòng giam Tôn Tẫn, mở cửa phòng, tháo cùm chân cho Tôn Tẫn.
Bàng Quyên bước lên vài bước, quỳ phịch xuống đất, gào khóc thảm thiết: “Tôn huynh!”
Tôn Tẫn vẫn ngồi ngay ngắn dưới đất, đưa mắt nhìn Bàng Quyên, bình thản gọi: “Hiền đệ!”
Bàng Quyên khóc nức nở mà nói: “Ngu đệ… thật vô dụng!”
Nghe thấy lời này, Tôn Tẫn cho rằng mình đã bị phán tử hình, trong lòng thắt lại, song giọng nói lại càng bình thản: “Hiền đệ, chẳng qua chỉ là một chết mà thôi!”
Bạch Hổ bước lên một bước: “Tôn Tẫn tiếp chỉ!”
Tôn Tẫn chuyển sang tư thế quỳ, khấu đầu nói: “Tội thần lĩnh chỉ!”
Bạch Hổ tuyên đọc: “Bệ hạ khẩu dụ, nể tình quần thần cầu xin, quả nhân tạm tha nghịch tặc một mạng. Song tội chết miễn được, tội sống khó tha. Trong tên kẻ này đã có chữ ‘Tẫn’, quả nhân sẽ cho hắn toại nguyện mà xử tẫn hình! Ngoài ra, thích chữ trên trán, chính chữ ‘Tẫn’!”
Nghe thấy hai chữ “tẫn hình”, Tôn Tẫn bất giác giật nảy mình, lập tức hiểu ra tại sao tiên sinh lại đổi tên cho mình. Nghĩ rằng đây là ý trời, nên Tôn Tẫn lại bình thản như không, chỉ khẽ dập đầu mà nói: “Tội thần khấu tạ ân tha mạng của bệ hạ!”
“Tôn huynh!” Bàng Quyên khóc mà nói. “Là ngu đệ đã hại huynh rồi!”
Tôn Tẫn từ từ ngẩng đầu, nhìn Bàng Quyên hỏi: “Cớ sao hiền đệ lại nói vậy?”
Bàng Quyên khấu đầu sát đất, khóc không thành tiếng: “Nếu không phải ngu đệ mời huynh tới Nguỵ, Tôn huynh sao gặp nạn này?”
Tôn Tẫn vô cùng cảm động, đưa hai tay ra, chậm rãi đỡ Bàng Quyên dậy, thở dài một tiếng: “Tẫn gặp nạn này, đâu có liên quan gì tới hiền đệ?” Rồi quay sang Bạch Hổ. “Bạch tư đồ, hành hình đi!”
Bạch Hổ chậm rãi quỳ xuống, khấu đầu nói: “Tôn tướng quân, tiểu đệ… làm khổ tướng quân rồi!”
Tôn Tẫn từ từ khép mắt lại.
Bạch Hổ đứng dậy: “Người đâu, mang Tôn Tẫn đi!”
Vài tên ngục tốt bước vào, giải Tôn Tẫn tới phòng hành hình. Tôn Tẫn tự mình bước vào, ngồi lên đài hành hình. Hai tên đao phủ bước lại, tách rời tứ chi Tôn Tẫn ra, trói thật chặt, để lộ từ đầu gối trở xuống, cầm sẵn dụng cụ hành hình, mắt nhìn Bạch Hổ.
Bàng Quyên chứng kiến cảnh tượng này, lao tới phục trên người Tôn Tẫn, gào khóc thất thanh: “Tôn huynh!”
Tôn Tẫn nhắm nghiền hai mắt, im lặng hồi lâu, nước mắt âm thầm chảy ra: “Hiền đệ, đệ… ra ngoài đi!”
Bàng Quyên liền đứng phắt dậy, đanh giọng nói với hai tên đao phủ: “Hai người các ngươi nghe đây, động tác phải mau lẹ dứt khoát, nếu để Tôn tướng quân chịu khổ dù chỉ một chút, bản tướng sẽ khiến các ngươi… chết không có chỗ chôn!” Rồi nước mắt tuôn giàn dụa, bước vội ra ngoài.
Đao phủ sợ hãi run bắn người, lại nhìn sang Bạch Hổ.
Bạch Hổ quay người bước ra ngoài, đứng bên cửa hạ lệnh vọng vào: “Hành hình!”
Một tên đao phủ lôi ra miếng bông đã chuẩn bị sẵn, nhét vào trong miệng Tôn Tẫn, quỳ xuống nói: “Tôn tướng quân, hãy cắn chặt lấy miếng bông này!”
Tôn Tẫn nhắm nghiền hai mắt lại.
Bàng Quyên quỳ bên ngoài cửa phòng hành hình không xa, loáng thoáng nghe thấy từ bên trong vọng ra một tiếng rú thê thảm, tiếp đó không thấy động tĩnh gì nữa, bèn ôm đầu khóc thống thiết: “Tôn huynh!”
Bạch Hổ mắt ngấn lệ, bước lại, quỳ xuống trước mặt Bàng Quyên: “Đại ca!”
Bàng Quyên ôm lấy Bạch Hổ, gào khóc thê thảm. Binh lính có mặt không ai không rơi lệ.
Khi Tôn Tẫn tỉnh lại, lơ mơ nghe như có tiếng người, muốn cử động mà không động cựa nổi, muốn nói mà không thốt được thành lời.
Qua một lát, tâm trí của Tôn Tẫn từ từ tỉnh táo trở lại, cuối cùng nghe thấy giọng nói của Bàng Quyên: “Ba người các ngươi thay phiên nhau túc trực ở đây, không được rời Tôn tướng quân nửa bước. Nếu để xảy ra sơ suất, ta sẽ lấy mạng các ngươi!”
Rồi tiếng đám người hầu vâng vâng dạ dạ.
Tôn Tẫn gắng gượng mở mắt, thấy mình nằm trên giường, trong phòng than lửa ấm sực, vô cùng dễ chịu. Bàng Quyên đứng ở trước giường, ba người hầu hai nam, một nữ quỳ dưới đất.
Tôn Tẫn đoán rằng đây không phải là hình ngục, chắc hẳn sau khi hành hình, Bàng Quyên đã đưa mình về phủ. Có câu, gian nan mới hiểu lòng nhau, tuy mình gặp hoạ bất ngờ, song tình huynh đệ vì thế càng thêm gắn bó. Tôn Tẫn biết, dựa theo hình luật, mưu phản là tội không thể dung thứ, nay giữ được mạng này, chắc hẳn là nhờ vào Bàng Quyên. Giờ đây Tôn Tẫn đã là người bị hành hình, hay nói cách khác, đã là phế nhân, song Bàng Quyên đã không ruồng bỏ, lại còn chăm sóc bảo vệ chu đáo, thực khiến Tôn Tẫn cảm động khôn xiết.
Nghĩ tới đây, Tôn Tẫn nước mắt đầm đìa, nghẹn ngào gọi: “Hiền đệ!”
Nghe thấy tiếng nói, Bàng Quyên quay phắt lại, thấy Tôn Tẫn đã tỉnh, bèn chạy tới quỳ xuống bên giường, nhẹ nhàng nắm chặt tay Tôn Tẫn, không nói lời nào, chỉ gục đầu bên giường, bật khóc nức nở.
Tôn Tẫn càng xúc động, lại gọi: “Hiền đệ!”
Bàng Quyên ngẩng đầu lên, nâng ống tay áo lau nước mắt, nghẹn ngào nói: “Tôn huynh, tốt rồi! Huynh đã tỉnh lại, thực tốt quá!” Rồi tay bưng bát thuốc đặt trên bàn cạnh giường lên, múc một thìa, đưa lên nếm thử, rồi ghé sát bên miệng Tôn Tẫn. “Tôn huynh, thuốc này là ngu đệ bảo ngự y trong cung kê đơn, ngu đệ đích thân điều chế, tiện nội tự tay sắc lấy, đã hâm nóng ba lần rồi, hiện giờ vừa đủ ấm, Tôn huynh hãy uống đi!”
Hai hàng nước mắt thổn thức trào ra bên khoé mắt Tôn Tẫn, giọt giọt rơi xuống gối.