Tiểu đồng, Ngọc Thiền hết lôi lại kéo, vận hết sức bình sinh mới đưa được bốn người vào trong gian nhà cỏ của Tô Tần và Trương Nghi, đặt họ nằm xuống. Ngọc Thiền nấu canh gừng và cháo bột, tiểu đồng bón cho họ uống.
Trận mưa thu nhỏ dần, rồi rỉ rả kéo dài suốt ba ngày trời mới ngớt và tạnh hẳn. Mấy người uống canh gừng và ăn cháo bột xong, tiểu đồng lại tìm ít thảo dược về sắc cho họ uống. Bốn người cứ mê man nửa tỉnh nửa mơ liền mấy ngày, đến khi mưa tạnh cũng là lúc họ tỉnh táo trở lại.
Đến ngày thứ năm, bốn người ra ngoài được. Ăn cơm xong, Bàng Quyên mượn dụng cụ của tiểu đồng, học theo Tô Tần và Trương Nghi, kéo Tôn Tân lên núi chặt cây cắt cỏ. Tô Tần, Trương Nghi cũng đến giúp một tay, bốn người hợp sức, chỉ vài ngày sau, trong núi đã mọc lên thêm hai gian nhà cỏ nữa.
Buổi trưa hôm đó, căn nhà cỏ mới đã được dựng xong. Bàng Quyên kéo theo ba người, đi đến bãi đất trống cách đó mười mấy bước để ngắm nghía thành quả vừa hoàn thành, miệng cười hớn hở.
Bốn người đứng nhìn ngắm một lúc, Bàng Quyên quay sang Tôn Tân, tươi cười mà nói: “Ha ha, đúng là nhà mới dựng có khác, muốn ra dáng có ra dáng, muốn khí thế có khí thế!”
Tôn Tân còn chưa lên tiếng, Trương Nghi đã đưa mắt liếc xéo căn nhà mới, cười khùng khục mấy tiếng rồi nói: “Hai gian nhà mới quả nhiên rất ra dáng. Nếu vách tường chái phía đông không nghiêng một chút xíu, nóc nhà phía tây không cao hơn một chút xíu, thì hẳn cũng gần bằng hai gian nhà cũ!”
Bàng Quyên cười vang mà nói: “Trương huynh này, nghiêng hay thẳng, cao hay thấp, không phải huynh nói là xong!” Rồi quay sang Tô Tần. “Tô huynh, huynh là người trong nghề, thử nói mấy câu xem!”
Hai gian nhà mới cũng được dựng theo sự hướng dẫn của Tô Tần, bảo Tô Tần phải so sánh thế nào? Tô Tần chỉ cười trừ hai tiếng, rồi cúi đầu xuống. Bàng Quyên thấy tiểu đồng đang từ xa tiến lại, liền cất tiếng gọi: “Tiểu sư đệ, đi nhanh lên nào!”
Tiểu đồng vẫn lững thững bước đi như cũ. Bàng Quyên gắng kiên nhẫn chờ tiểu đồng đến nơi, rồi chỉ tay vào hai gian nhà cỏ: “Tiểu sư đệ, mắt đệ tinh tường, hãy thử nhìn xem hai căn nhà này, căn nào đẹp hơn?”
Tiểu đồng liếc mắt nhìn qua, rồi chậm rãi lắc đầu: “Nếu nói về đẹp, thì chẳng khác nhau là mấy, nhưng theo tiểu đồng thấy, cả hai căn đều nên dỡ bỏ!”
Cả bốn người đều ngây ra, Bàng Quyên vội hỏi: “Này tiểu sư đệ, tại sao lại bảo chúng tôi dỡ đi?”
Tiểu đồng cười khanh khách mà nói: “Đẹp mã nhưng không dùng được!”
Bốn người đưa mắt nhìn nhau.
Trương Nghi không phục, liền hỏi: “Tại sao lại nói đẹp mã mà không dùng được?”
Tiểu đồng đưa tay chỉ vào hai căn nhà: “Mọi người nhìn xem, triều hướng không đúng, phương vị không chuẩn, cửa không hợp lý, mái nhà quá thoải, cả bốn gian nhà, chẳng có lấy một gian hợp cách, dùng thế nào được?”
Trương Nghi, Bàng Quyên, Tôn Tân đều quay sang nhìn Tô Tần. Tô Tần cuống lên, tật nói lắp lại tái phát: “Tất… tất cả những nhà… nhà trong thôn… đều… đều… đều xây như vậy!”
Tiểu đồng cười nói: “Tô sĩ tử, đó là ở trong thôn của sĩ tử, chứ không phải ở trong sơn cốc này!”
Bàng Quyên đưa mắt nhìn căn nhà, rồi lại nhìn sang tiểu đồng: “Tiểu sư đệ, theo như đệ nói, cả hai căn nhà này đều không có điểm nào hợp cách ư?”
“Có hợp cách hay không, qua mùa đông mùa hạ sẽ biết ngay thôi!”
Tô Tần ngẫm nghĩ một lát, rồi ngâm: “Xin sư đệ hãy giải thích tường tận!”
Bàng Quyên tiếp lời: “Đúng, tiểu sư đệ hãy nói cho rõ ràng. Trước tiên hãy nói về triều hướng, có điểm nào không chính xác?”
Tiểu đồng chỉ vào dốc núi trước cửa: “Chỗ này phía tây rộng rãi bằng phẳng, nhà cỏ nên toạ đông hướng tây, mà nhà của các vị lại toạ bắc hướng nam, ra cửa là gặp núi chắn. Người ta nói, trước cửa là núi, tâm chí không rộng.”
Tô Tần giải thích: “Cửa nhà mở hướng nam, đây là quy tắc trong xây cất nhà ở!”
Tiểu đồng bật cười: “Đó là quy tắc ngoài núi, không thể dùng khi xây nhà trong núi!”
Bàng Quyên vỗ đầu: “Đúng đúng đúng, tiểu sư đệ nói rất đúng, còn gì nữa?”
Tiểu đồng chỉ tay xuống nền móng: “Nơi này thoạt nhìn thì bằng phẳng, nhưng lại đối diện với khe núi. Khi trời mưa, nước mưa sẽ theo khe mà chảy xuống, vừa hay xối thẳng đến nơi này, bị ngôi nhà của các vị chặn lại, nước không chảy đi được, sẽ gây ngập úng.”
Bàng Quyên tấm tắc khen ngợi: “Đúng đúng đúng, mấy ngày trước có mưa, vũng nước ngập trước cửa đến hôm qua mới cạn!”
“Đó mới chỉ là mưa nhỏ. Còn nếu là mưa lớn, hi hi…”
Bốn người đưa mắt nhìn nhau.
Tiểu đồng thấy họ đều nghệt cả ra, liền chỉ tay vào cửa nhà: “Lại nói đến phần cửa. Cửa chính cao, cửa sổ rộng, mùa hè thì mát mẻ đấy, nhưng mùa đông thì lãnh đủ!” Lại chỉ tay vào mái nhà. “Mưa ở trong núi đều là mưa rào hoặc mưa dầm, mái nhà thoải thế này, nước mưa không chảy nhanh, chắc chắn sẽ thấm xuống. Tiểu đồng dám chắc, đợi đến mùa mưa, ngoài trời mưa to thì trong nhà sẽ mưa nhỏ, các vị có thể hứng nước uống ngay trong nhà!”
Bốn người đều ngây ra như phỗng, ai nấy đều mắt tròn mắt dẹt nhìn đứa trẻ mới chừng mười tuổi.
Bàng Quyên chặc lưỡi: “Ghê chưa, một đứa trẻ nít, sao có thể hiểu rộng biết nhiều đến vậy?” Rồi quay sang nhìn Trương Nghi, nhưng lời lại là nói với Tôn Tân. “Tôn huynh, căn nhà của chúng ta, tường chái không thẳng, nóc không cân, hay là dỡ đi dựng lại?”
Trương Nghi lừ mắt nhìn lại: “Muốn dỡ thì dỡ, lắm lời làm gì?”
Tiểu đồng lại nói: “Theo ý của tiểu đồng, các vị không cần phải dỡ đâu!”
Trương Nghi ngạc nhiên hỏi: “Tại sao vậy?”
Tiểu đồng lại cười khanh khách: “Dù sao thì các vị cũng không ở đây được mấy ngày, cứ dỡ đi dựng lại, há chẳng phải tự làm khổ mình hay sao?”
Bốn người đều ngạc nhiên đứng sững.
Bàng Quyên định thần lại, nhìn thẳng vào tiểu đồng: “Tiểu sư đệ, sao lại nói vậy?”
“Còn nữa!” Tiểu đồng nhìn khắp lượt bốn người. “Các vị sĩ tử xin đừng động tí là gọi sư đệ nữa. Sư huynh sư đệ không phải có thể tuỳ tiện xưng hô đâu!”
Bốn người lại càng sững sờ.
“Tiểu sư đệ!” Bàng Quyên vội nói. “Xin hãy giải thích rõ hơn! Tiên sinh đã đồng ý thu nhận bọn ta, như vậy chẳng phải bọn ta là sư huynh, thân là sư huynh, lẽ nào không thể gọi đệ một tiếng sư đệ?”
Tiểu đồng quay sang Bàng Quyên, cười khanh khách mấy tiếng rồi hỏi lại: “Tiên sinh đã nói như vậy ư?”
Thấy bốn người đều không lên tiếng, tiểu đồng lại nói tiếp: “Ồ, phải rồi, bốn vị sĩ tử, suýt nữa thì quên mất, tiên sinh có lời mời!” Nói đoạn, liền quay người đi về phía thảo đường.
Nhìn theo tiểu đồng, Bàng Quyên ngẩn ra một hồi, sau đó quay sang nhìn Trương Nghi, hỏi nhỏ: “Trương huynh, huynh có hiểu ý của tiểu đồng không?”
Trương Nghi ngẫm nghĩ một lát, rồi bật cười vang mà nói: “Trẻ con nói chuyện, thường thích doạ dẫm lên mặt, hẳn đã khiến Bàng huynh phải lo sợ?” Rồi quay sang Tô Tần, Tôn Tân. “Hai vị nhân huynh, còn không đi mau, lẽ nào định để tiên sinh đích thân ra mời vào?”
Tô Tần gật đầu ngâm: “Hiền đệ nói rất đúng, không nên để tiên sinh đợi lâu!”
Mấy ngày nay, vì bận bịu dựng nhà, mọi người đều mặc áo vải thô đơn giản. Tôn Tân vốn trọng lễ nghi, liền nói: “Nếu đến chỗ tiên sinh, chúng ta phải thay quần áo đàng hoàng mới được!”
Cả mấy người đều gật đầu tán thành, vội vàng quay vào phòng, tìm áo mũ thay ra, rồi đi đến gian thảo đường. Đi được mấy bước, Bàng Quyên bỗng đi chậm lại, nói nhỏ: “Các vị nhân huynh, tại hạ có lời muốn nói!”
Ba người cùng dừng bước, nhất tề nhìn Bàng Quyên.
Bàng Quyên hạ thấp giọng: “Chuyện ngày hôm nay, quả thực tại hạ không thể yên tâm. Tại hạ có một ý này, đề phòng vạn nhất. Lát nữa khi tới gặp tiên sinh, mấy người chúng ta hãy lập tức quỳ xuống dập đầu bái lạy. Tiên sinh chắc chắn sẽ bất ngờ, chúng ta nhân lúc tiên sinh chưa kịp phản ứng, nhất tề gọi sư phụ, rồi bất kể tiên sinh có đồng ý hay không, lập tức hành lễ bái sư, thực hiện kế sách tiền trảm hậu tấu!”
“Được thì có được,” Trương Nghi nói. “Nhưng như vậy cũng quá phức tạp. Theo ý của tại hạ, khi chúng ta tiến vào cửa, hãy lập tức hô lên, sư phụ ở trên, xin nhận của đệ tử một lạy, sau đó hành lễ bái sư luôn, đơn giản chóng vánh!”
Bàng Quyên có vẻ bực bội: “Được được được, hãy cứ làm theo ý Trương huynh!”
Tô Tần suy nghĩ một lát, rồi ngâm: “Tại hạ chưa từng bái sư bao giờ, không biết phải bái thế nào đây?”
“Cái này dễ thôi!” Trương Nghi đáp. “Tiểu lễ là một lạy ba dập đầu, trung lễ là hai lạy sáu dập đầu, đại lễ là ba lạy chín dập đầu!”
“Được!” Bàng Quyên lập tức quyết định. “Chúng ta hãy hành lễ ba lạy chín dập đầu, cứ đem gạo nấu thành cơm đã, khiến tiên sinh nhận cũng phải nhận, không nhận cũng phải nhận!”
Ba người cùng gật đầu, cất bước tiến về phía thảo đường.
Tiểu đồng đứng hầu ngoài cửa, thấy bốn người đã đến, liền chạy vào báo: “Chị Thiền Nhi, bốn vị sĩ tử đã đến!”
Ngọc Thiền đi ra, vòng tay vái mà nói: “Bốn vị sĩ tử, tiên sinh có lời mời!”
Bốn người đưa mắt nhìn nhau, rồi tự chỉnh đốn lại trang phục. Theo như bàn bạc từ trước, Tô Tần đi trước dẫn đầu, tiếp đó là Trương Nghi, Tôn Tân, Bàng Quyên, đi theo Ngọc Thiền vào trong.
Quỷ Cốc Tử ngồi ở giữa nhà, còn tiểu đồng không biết đã đến đứng ở bên trái Quỷ Cốc Tử từ lúc nào. Ngọc Thiền tiến thẳng tới, đứng bên phải Quỷ Cốc Tử. Bốn người bước vào, xếp thành một hàng ngang từ trái qua phải, rồi nhất tề quỳ sụp xuống, hô lớn: “Tiên sinh ở trên, xin nhận của đệ tử một lạy!”
Bốn người nói xong, lập tức thực hiện đại lễ ba lạy chín dập đầu. Bốn người bốn phách, vái lạy lộn xộn mỗi người một kiểu. Tôn Tân trọng lễ nghĩa, lạy xong một lạy, đều đứng dậy khom lưng, sau đó mới lạy tiếp. Khi ba người kia đều đã lạy xong, Tôn Tân mới bắt đầu lạy thứ ba, sau đó là ba dập đầu.
Lúc đầu Quỷ Cốc Tử cũng bất ngờ, sau đó chỉ mỉm cười, đợi Tôn Tân lạy xong mới chậm rãi hỏi: “Các ngươi đã lạy xong cả chưa?”
Bốn người đưa mắt nhìn nhau, rồi cùng nhìn sang Tô Tần.
Tô Tần thong thả ngâm: “Hồi bẩm tiên sinh, lạy… lạy xong rồi!”
“Đã lạy xong rồi, các ngươi còn có chuyện gì khác chăng?” Quỷ Cốc Tử lại hỏi.
Tô Tần nhất thời không biết ứng phó ra sao, bèn đưa mắt nhìn ba người kia, lắp bắp: “Không… không còn chuyện gì nữa!”
“Đã không còn chuyện gì nữa, thì các người có thể xuống núi được rồi!”
Bốn người đều chết lặng.
Trương Nghi vội nói: “Tiên sinh, là tiên sinh gọi chúng con đến!”
“Không sai!” Quỷ Cốc Tử gật đầu. “Là lão hủ gọi các ngươi đến. Lão hủ gọi các ngươi đến, để nói với các ngươi một câu: có thể xuống núi được rồi!”
Bàng Quyên ngẩng đầu cất giọng dõng dạc: “Tiên sinh, vào hôm trời mưa, chúng tôi đã nghe thấy Ngọc Thiền cô nương nói rõ ràng, tiên sinh bảo chúng tôi đứng dậy. Như vậy, chẳng phải tiên sinh đã đồng ý thu nhận chúng tôi làm đệ tử ư, sao giờ lại đuổi chúng tôi xuống núi?”
Quỷ Cốc Tử mỉm cười, quay sang phía Ngọc Thiền: “Thiền Nhi, con đã nói với họ thế nào?”
“Hồi bẩm tiên sinh,” Ngọc Thiền môi son khẽ động, “Thiền Nhi nói rằng: tiên sinh bảo bốn vị đứng lên!”
“Đã nghe thấy chưa?” Quỷ Cốc Tử quay sang bốn người. “Ta chỉ bảo các ngươi đứng lên, chứ có nói sẽ thu nhận các ngươi làm đệ tử đâu? Bốn người các ngươi cứ ngày đêm quỳ trước cửa nhà lão hủ, chặn mất đường ra lối vào. Lão hủ bảo các ngươi đứng lên, chẳng qua vì muốn ra ngoài, nên bảo các ngươi nhường đường mà thôi!”
Quỷ Cốc Tử quay ngoắt không nhận, khiến cả bốn người đều bàng hoàng chết lặng.
Tô Tần lại dập đầu mà nói: “Tiên sinh, bốn… bốn người chúng… chúng con đã… không còn nơi… nơi nào để đi, cầu… cầu xin tiên sinh thu… thu nhận!”
Tô Tần vừa nói ra lời này, Bàng Quyên vốn đã lâm vào cảnh cùng đường, trong lòng xúc động, liên dập đầu xuống đất, khóc thất thanh mà nói: “Tiên sinh, đệ tử cầu xin tiên sinh, quả thực đệ tử không còn chốn nào để đi nữa, mong tiên sinh thương xót mà thu nhận đệ tử!”
Tôn Tân, Trương Nghi cũng đều dập đầu cả xuống.
Quỷ Cốc Tử đưa mắt nhìn khắp lượt bốn người, nụ cười dần tắt trên khuôn mặt: “Các ngươi nghe cho rõ đây, khóc cũng vô ích, quỳ cũng vô dụng. Nói thực cho các ngươi biết, lão hủ đây không thu nhận kẻ danh lợi, không thu nhận người tranh cường hiếu dũng, các ngươi hãy mau xuống núi cho sớm, đi tìm danh sư khác đi!”
Nghe Quỷ Cốc Tử nói những lời này, Tôn Tân bỗng thấy chấn động trong lòng, bèn ngẩng lên hỏi: “Vãn bối xin hỏi, tiên sinh muốn nhận đệ tử thế nào?”
Quỷ Cốc Tử nhìn Tôn Tân, chậm rãi nói: “Lão hủ chỉ thu nhận người tu đạo luyện tiên!”
Tôn Tân thở phào một tiếng, lại dập đầu mà nói: “Vãn bối bất tài, nguyện theo tiên sinh tu đạo luyện tiên, mong tiên sinh thu nhận!”
Lời Tôn Tân vừa thốt ra, mọi người đều kinh ngạc, cùng đổ dồn ánh mắt nhìn lại.
Quỷ Cốc Tử mỉm cười: “Tôn Tân, chẳng phải ngươi muốn học binh pháp chiến trận ư?”
Tôn Tân đáp rành rọt: “Trọng Ni có câu, ‘sáng nghe đạo chiều chết vẫn vui’, nếu vãn bối có thể theo tiên sinh lĩnh ngộ đại đạo của trời đất, quả thực là điều may mắn kiếp này, còn học binh pháp làm gì nữa?”
Bàng Quyên đảo mắt mấy cái, cũng dập đầu mà nói: “Vãn bối và Tôn Tân tình như thủ túc, tâm ý của Tôn huynh cũng chính là tâm ý của vãn bối!”
Không đợi Quỷ Cốc Tử lên tiếng, Trương Nghi cũng khấu đầu mà nói: “Tiên sinh, vãn bối cũng nguyện tu đạo luyện tiên, mong tiên sinh thu nhận!”
Quỷ Cốc Tử mỉm cười, quay sang phía Tô Tần: “Tô sĩ tử, ba vị công tử này đều đã muốn tu đạo luyện tiên ở đây, tại sao ngươi không nói gì?”
Tô Tần lắp bắp nói: “Tiên sinh, vãn… vãn bối…”
“Hẳn là ngươi không thể bỏ được vinh hoa phú quý, khanh tướng công hầu, đúng không?” Quỷ Cốc Tử vẫn mỉm cười mà hỏi.
Tô Tần sắc mặt lúng túng, chỉ dập đầu xuống đất không nói lời nào.
Quỷ Cốc Tử thu lại nụ cười, quan sát bốn người một lượt rồi thở dài.
Trương Nghi đưa khuỷu tay huých Tô Tần, nói khẽ: “Tô huynh, huynh…”
Tô Tần vẫn gục đầu sát đất.
Trương Nghi cuống quýt, vội nói lớn: “Tiên sinh, vãn bối rất hiểu Tô huynh, kỳ thực Tô huynh sớm đã có tâm tu đạo, có điều… có điều không muốn nói ra mà thôi!”
Quỷ Cốc Tử nhìn Tô Tần, hỏi nhỏ: “Tô sĩ tử, có đúng như vậy không?”
Trương Nghi lại giơ khuỷu huých thẳng cánh vào Tô Tần, Tô Tần không biết làm thế nào, chỉ lắp bắp: “Hồi… hồi bẩm tiên sinh, đúng… đúng vậy!”
Quỷ Cốc Tử lại nhìn khắp bốn người một lượt, rồi nói: “Nói như vậy, tất cả các ngươi đều tình nguyện ở lại trong núi, cùng lão hủ cảm ngộ đại đạo?”
Bốn người nhất tề khấu đầu: “Chúng con nguyện theo tiên sinh, cảm ngộ đại đạo!”
Quỷ Cốc Tử đột nhiên bật cười một tràng dài.
Bốn người đang ngơ ngác không hiểu, thì Quỷ Cốc Tử ngừng cười, chậm rãi nói: “Thật cũng tốt, giả cũng được, các ngươi có lời này, lão hủ cũng cảm thấy an ủi! Có điều, tu đạo cần phải có đạo khí, bốn người các ngươi không phải là đạo khí, chưa nói đến chuyện còn có lòng khác, cho dù có thành tâm tu luyện, cũng chưa chắc đã thành tài. Ta thực lòng khuyên các ngươi, tốt nhất hãy mau mau xuống núi, đừng tốn thời gian vô ích ở đây, làm lỡ mất tiền đồ!”
Đã cầu xin đến nước này rồi mà Quỷ Cốc Tử vẫn kiên quyết không chịu nhận, bốn người thực không còn phương cách nào khác. Tôn Tân đột nhiên nhớ đến lời trong túi gấm, lại dập đầu xuống đất. Bàng Quyên, Trương Nghi thấy vậy, lập tức hiểu ý, cũng dập đầu theo. Tô Tần cũng vội vàng bắt chước, bốn người không ai nói thêm lời nào, lại giống như trong cơn mưa hôm trước, tất cả cùng ôm đầu, phủ phục, trán tì sát đất.
Thấy họ lại giở chiêu này, tiểu đồng lo lắng, nói nhỏ: “Tiên sinh, theo ý tiểu đồng, hay là cứ tạm giữ họ lại, cho họ nếm thử mùi tu đạo. Nếu có thể tu, hãy cho họ ở lại. Nếu không thể tu, lúc đó hãy bảo họ xuống núi, xem họ còn gì để nói nữa không!”
Nghe tiểu đồng nói vậy, bốn người vội vàng khấu đầu, đồng thanh nói: “Tiên sinh, chúng con đồng ý!”
Quỷ Cốc Tử quay sang Ngọc Thiền: “Thiền Nhi, tiểu đồng muốn thử giữ họ lại xem sao, họ cũng đồng ý, ý con thế nào?”
Bốn người cùng ngẩng đầu lên, tám con mắt đầy hy vọng cùng nhìn chằm chằm vào Ngọc Thiền.
Ngọc Thiền sắc mặt thoáng ửng hồng, vẻ ngúng nguẩy: “Tiên sinh muốn giữ thì giữ, không muốn giữ thì bảo họ xuống núi, Thiền Nhi xin nghe theo tiên sinh!”
“Được!” Quỷ Cốc Tử quay sang bốn người. “Vậy hãy theo lời tiểu đồng, ta tạm thời giữ các ngươi ở lại đây ba tháng. Trong vòng ba tháng, nếu như các ngươi có thể chứng minh được bản thân là đạo khí, tự nhiên ta sẽ thu nhận các ngươi làm đệ tử. Còn nếu không thể, thì chớ trách ta vô tình!”
Bốn người đều thở phào nhẹ nhõm, dập đầu đáp: “Đa tạ tiên sinh đã thu nhận!”
Chưa đợi Quỷ Cốc Tử nói tiếp, Trương Nghi đã lên tiếng hỏi: “Vãn bối xin hỏi tiên sinh, phải làm thế nào mới có thể chứng minh được mình có phải đạo khí hay không?”
Quỷ Cốc Tử đưa tay chỉ vào tiểu đồng: “Bắt đầu từ ngày mai, các ngươi hãy làm theo lời tiểu đồng!” Rồi quay sang phía tiểu đồng. “Tiểu đồng, căn cứ theo những gì ngươi đã học, hãy dẫn dắt các sĩ tử đây tu luyện cẩn thận. Bốn người họ có thể thành đạo khí hay không, nhờ cả vào ngươi đấy!”
Tiểu đồng bước lên, cúi đầu nói: “Tiểu đồng xin nghe theo lời dặn của tiên sinh!”
Quỷ Cốc Tử chậm rãi đứng dậy, Ngọc Thiền bước tới, dìu lấy tay Quỷ Cốc Tử, tiến vào trong động.
Bốn người vẫn quỳ dưới đất, nhìn theo Quỷ Cốc Tử, Ngọc Thiền cho đến khi họ khuất hẳn vào trong động, mới đứng dậy.
Tô Tần vòng tay vái tiểu đồng một vái dài: “Đa tạ tiểu đồng đã giúp đỡ!”
Tiểu đồng vái đáp lễ: “Tô sĩ tử bất tất phải khách khí!”
Bàng Quyên bước tới, vỗ nhẹ lên đầu tiểu đồng, cười ha hả mà nói: “Tiểu đồng, hôm nay may mà có cậu! Đi nào, Bàng đại ca đưa cậu vào rừng chơi, sẽ bắt cho cậu mấy con chim nhé!”
Tiểu đồng lùi lại một bước, liếc xéo Bàng Quyên một cái, nghiêm mặt mà nói: “Bàng sĩ tử, sĩ tử không được gọi là tiểu đồng nữa!”
Bàng Quyên phì cười: “Không gọi là tiểu đồng, vậy phải gọi thế nào?”
Tiểu đồng liếc nhìn khắp lượt bốn người, dõng dạc: “Lúc nãy, các vị đều đã nghe rõ rồi đấy, tiên sinh bảo tiểu đồng quản giáo dẫn dắt các vị. Bắt đầu từ ngày hôm nay, trong vòng ba tháng, các vị phải gọi ta là tiểu đồng sư huynh! Còn về phần ta, sẽ cố gắng làm tròn chức trách sư huynh, dẫn dắt các vị cần cù tu luyện, giúp các vị thành tài. Nếu các vị tự thân trễ nài, không muốn thành tài, thì sư huynh ta cũng chẳng thể giúp được!”
Tiểu đồng sắc mặt nghiêm túc, hệt như người lớn. Bốn người nghe thấy vậy, đều ngạc nhiên sững sờ. Trương Nghi kinh ngạc đến hai mắt trợn trừng, đi quanh tiểu đồng mấy vòng rồi dừng lại, gật đầu với tiểu đồng, rồi vái mà nói: “Được, Trương Nghi phục rồi! Xin hỏi sư huynh, sau ba tháng thì sao?”
Tiểu đồng mỉm cười: “Trong vòng ba tháng, mọi người nghe ta. Sau ba tháng, nếu như mọi người có thể ở lại sơn cốc, chúng ta sẽ cùng nghe theo tiên sinh. Tuy nhiên, theo như sư huynh thấy…” lại liếc nhìn khắp lượt bốn người, rồi khẽ lắc đầu, “khả năng này là rất rất nhỏ!”
Bàng Quyên vội hỏi: “Sao sư huynh lại nói vậy?”
Tiểu đồng cố tình kéo dài giọng, thở dài một tiếng: “Chà chà, mọi người có điều không biết, tu đạo luyện tiên không phải chuyện dễ dàng, các vị sĩ tử đây hẳn chưa bao giờ phải nếm mùi khổ cực. Xem bộ dạng của các vị, chưa đến một tháng, e rằng đã nhao nhao đòi xuống núi cả!”
Bàng Quyên bật cười mấy tiếng lạ lùng: “Tiểu sư huynh, huynh chớ quá lời, đừng nói tu đạo luyện tiên khó cỡ nào, cho dù phải chết, Bàng Quyên cũng quyết trụ lại!”
“Trụ được thì tốt!” Tiểu đồng liếc xéo hắn. “Bây giờ các vị sĩ tử hãy mau trở về nghỉ ngơi, sáng mai vào lúc gà gáy, mọi người hãy đứng đợi sẵn trước cửa!”
Trở về nhà cỏ, mọi người ai nấy đều hoa tay múa chân, hào hứng bàn chuyện tu đạo.
Vào lúc gà gáy, tiểu đồng quả nhiên đã đến.
Bốn người vội ra nghênh đón, Tô Tần vái mà nói: “Tô Tần xin chào sư huynh!”
Tiểu đồng đáp lễ, nhìn qua mọi người một lượt, sau đó lớn tiếng sắp xếp: “Hiện giờ mới vào thu, đúng vào mùa quả rừng chín rộ. Tiên sinh muốn ăn quả tươi, bảo các vị đi hái quả!”
Bàng Quyên bật cười, hỏi: “Xin hỏi sư huynh, trên núi nhiều quả như vậy, không biết tiên sinh thích loại quả nào?”
“Bàng sĩ tử xin đừng nôn nóng!” Tiểu đồng đưa mắt lườm hắn. “Sư huynh đang chuẩn bị dặn dò đây. Quả mà tiên sinh muốn ăn không phải thứ quả bình thường. Các vị hãy đi dọc theo con suối này lên thượng lưu, đến đầu nguồn con suối sẽ thấy một sơn cốc, ở nơi tận cùng của sơn cốc có một vách đá, trên vách đá có một cây đào lông, mấy ngày nay quả đào hẳn đã chín rồi, mọi người hãy hái về. Tiên sinh thích ăn thứ này!”
“Đào lông?” Bàng Quyên nhắc lại, rồi hỏi. “Xin hỏi tiểu sư huynh, loại đào này hình thù thế nào?”
Tiểu đồng móc từ trong túi ra một quả đào, đưa cho Bàng Quyên: “Chính là loại đào này, mọi người đã nhìn rõ chưa? Đừng có hái nhầm đấy!”
Bốn người chụm đầu quan sát quả đào, quả nhiên không giống đào thường, to cỡ quả táo, sắc xanh pha vàng phơn phớt, ngoài vỏ phủ một lớp lông tơ.
Thấy mọi người đã nhìn kỹ, tiểu đồng lại nói: “Vì tránh để các người lỗ mãng làm lỡ việc, sư huynh ta xin nhắc nhở một câu, mọi người hãy nhớ cho kỹ. Sơn cốc này có tên là Dã Nhân cốc, có dã nhân ra vào, các vị phải hết sức cẩn thận, đừng để bọn chúng bắt được. Còn nữa, cốc này có một đàn khỉ tên là khỉ đuôi dài, chúng rất thích ăn giống đào này!” Tiểu đồng dặn dò xong, liền quay người bước đi.
Bốn người ngửa mặt nhìn sắc trời, rồi quyết định lập tức xuất phát. Vì nghe thấy có dã nhân, nên Tôn Tân, Bàng Quyên, Trương Nghi đều mang theo bảo kiếm, Tô Tần cũng tự tìm cho mình một cây gậy gỗ. Theo lời dặn của tiểu đồng, họ men theo con suối trước cửa, đi ngược lên phía thượng nguồn.
Bốn người đi suốt mấy canh giờ, núi mỗi lúc một hùng vĩ, rừng mỗi lúc một rậm rạp, con suối quanh co khuất khúc, chẳng thấy đầu nguồn ở đâu. Gần tới giờ Ngọ, bốn người nghe thấy đằng xa có tiếng nước ào ào, tiến lại gần, thì nhìn thấy một vách đá dựng đứng trước mặt. Con suối đổ từ trên vách đá xuống, tạo thành một dòng thác, phía dưới thác là một đầm nước sâu. Bốn người cùng ngồi xuống một tảng đá bên đầm nước, vừa nghĩ cách trèo lên, vừa tìm kiếm chút gì lót dạ.
Trương Nghi ngẩng nhìn vách đá dựng đứng, tặc lưỡi nói: “Chà, vách đá này chí ít cũng phải cao đến bảy tám trượng, trèo lên thế nào được?”
Bàng Quyên cười nói: “Đường về dễ đi hơn rất nhiều, nếu Trương huynh nản lòng, hãy mau quay về đi!”
Trương Nghi đứng phắt dậy: “Ai quay về trước, giờ vẫn chưa biết chắc đâu!” Rồi đưa tay kéo Tô Tần. “Tô huynh, cứ để họ ngồi nghỉ, chúng ta đi tìm đường!”
Hai người không tiến lên phía trước mà quay ngược lại. Bàng Quyên liếc nhìn họ, phá lên cười một tràng, rồi vẫn ngồi yên. Nhưng Tôn Tân lại đứng dậy nói: “Hiền đệ, chúng ta hãy đi cùng họ, đều là huynh đệ, chớ để lạc nhau!”
Bàng Quyên cười lớn mà nói: “Còn cây đào dại ở đó, không đi lạc được đâu. Huynh cứ ngồi nghỉ đi, khi nào nghỉ xong, đệ sẽ đưa huynh trèo lên!”
Tôn Tần nhìn vách đá cao ngất, chau mày hỏi: “Trèo lên?”
“Tôn huynh yên tâm, đệ đảm bảo huynh sẽ tới nơi trước hai người đó!”
Tôn Tân đành phải ngồi xuống. Hai người ngồi nghỉ một lát, rồi Bàng Quyên tới phía dưới thác, bắt mấy con cá, mổ bỏ ruột, mang, vớt nước rửa sạch rồi đưa cho Tôn Tân hai con, cười mà nói: “Tôn huynh, chúng ta hãy thử ăn sống nuốt tươi, làm người dã man một lần xem sao!”
Lời vừa dứt, Bàng Quyên đã đưa con cá vào miệng. Tôn Tân đang đói ngấu, cũng cầm lấy một con cá sống ăn luôn.
Ăn xong cá, Bàng Quyên dường có vẻ sung sức hơn nhiều, liền đi tới phía trước một bụi sắn dại, vung kiếm chặt đứt hai dây dài, nối lại làm một, rồi buộc một hòn đá vào một đầu, nhắm chuẩn một cây tùng trên vách đá, “vù” một tiếng quăng vụt lên trên. Hòn đá bay vòng qua cành tùng, không chệch một ly. Bàng Quyên thả lỏng sợi dây sắn, hòn đá liền rơi trở xuống, Bàng Quyên bắt lấy, quấn viên đá quanh sợi dây sắn, thắt nút rồi kéo mạnh, sợi dây sắn lập tức được thắt chặt vào cành tùng. Bàng Quyên buộc sợi dây quanh thắt lưng, sau đó bám dây trèo lên, chớp mắt, người đã lơ lửng trên cành tùng kia. Bàng Quyên thu dây, tiếp tục lặp lại phương cách ban nãy để quấn dây vào một cây tùng cao hơn. Một lúc sau, Bàng Quyên đã lên được đến đỉnh vách đá, rồi ném sợi dây xuống dưới dòng thác. Tôn Tân nhận lấy, cũng bắt chước Bàng Quyên, buộc sợi dây quanh hông, rồi bám dây trèo lên.
Từ lúc cắt dây cho tới lúc trèo lên đến đến đỉnh, hai người chưa mất quá một tuần hương. Tôn Tân đứng trên đỉnh vách đá, đưa mắt nhìn xuống, thán phục nói với Bàng Quyên: “Hiền đệ quả là cao thủ!”
Bàng Quyên nhún vai: “Chuyện nhỏ nhặt này sao có thể làm khó được đệ? Tôn huynh, đi thôi!”
Tôn Tân kinh ngạc: “Hiền đệ, không đợi hai người họ ư?”
Bàng Quyên cười đáp: “Tên tiểu tử họ Trương kia rất tinh quái, chưa biết chừng đã đi trước chúng ta rồi!”
Tôn Tân lắc đầu: “Chắc chắn là không thể. Cho dù họ có lên được, cũng sẽ đợi chúng ta ở trên đỉnh!”
Bàng Quyên suy nghĩ một lát, rồi nói: “Được rồi!” Sau đó rút kiếm ra, dùng mũi kiếm khắc lên đá dòng chữ: “Tô huynh, Trương huynh, chúng tôi đi trước một bước để dò đường!”
Khắc xong, Bàng Quyên ngắm nghía rồi cười nói với Tôn Tân: “Tôn huynh, như thế này được chưa?”
Tôn Tân thấy Bàng Quyên khăng khăng muốn đi trước, nên đành phải chiều ý, hai người lại đi dọc theo con suối. Đi đến lúc sẩm tối, hai người đã vượt qua cả thảy hàng chục con thác, nhưng con suối vẫn chưa đến điểm tận cùng, nên đành phải tìm một chỗ để nghỉ qua đêm, đợi hôm sau lại tiếp tục lên đường.
Đi đến giữa trưa, con suối đột nhiên biến mất, phía trước chỉ còn lổn nhổn đá cuội lớn nhỏ. Hai người vô cùng kinh dị, bèn quan sát kỹ, thì ra con suối vẫn chảy ngầm phía dưới lớp đá cuội, chỉ nghe thấy tiếng nước chảy mà không thấy nước đâu. Rõ ràng bắt đầu từ chỗ này, con suối đã trở thành suối ngầm.
Bàng Quyên nói: “Tôn huynh, xem ra chỗ này đã là điểm tận cùng của con suối!”
Tôn Tân gật đầu: “Hiền đệ nói rất đúng. Dòng suối đã chảy ngầm phía dưới lớp đá cuội!”
Bàng Quyên ngước mắt nhìn lên, thấy núi non càng trùng điệp, sơn cốc càng thâm u, rừng càng rậm rạp, cây càng to lớn. Bàng Quyên quan sát một lúc, sau đó chỉ tay về sơn cốc phía trước: “Tôn huynh, nơi đây không còn khe núi nào khác, xem ra sơn cốc này chính là Dã Nhân cốc!”
Tôn Tân gật đầu, rồi tìm một tảng đá ngồi xuống: “Hiền đệ, chúng ta hãy đợi ở đây, hai người họ chắc chắn chưa kịp đến đâu!”
“Không cần phải đợi,” Bàng Quyên ngoảnh lại nhìn, vẻ coi thường. “Chưa biết chừng họ thấy đường đi hiểm trở, đã quay về rồi cũng nên!”
“Không đâu! Tô huynh, Trương huynh tuyệt đối không tầm thường như vậy, chúng ta hãy ngồi đợi một lát!”
“Tôn huynh!” Bàng Quyên kiên quyết muốn tranh hơn. “Chúng ta cứ đi trước một bước, đến trước vách đá nơi tận cùng Dã Nhân cốc rồi đợi họ ở đấy, huynh thấy thế nào?”
“Việc này…” Tôn Tân ngẫm nghĩ một lát, “trước lúc lên đường, sư huynh từng nói sơn cốc này có dã nhân ra vào, đợi hai người họ cùng đi, người đông gan lớn, nếu chẳng may gặp phải dã nhân, cũng dễ dàng đối phó!”
Lúc này Bàng Quyên cũng nhớ lại lời của tiểu đồng nên không dám liều lĩnh, vội gật đầu: “Được, vậy hãy làm theo lời huynh. Chúng ta hãy ở đây chợp mắt một lát, nếu hai con ốc sên đó không nản mà quay về, chắc hẳn trước khi trời tối sẽ bò được đến đây…”
Lời còn chưa dứt, từ phía xa đã có tiếng Trương Nghi vọng lại: “Người đang nói ở phía trước, phải chăng là Bàng nhân huynh?”
Bàng Quyên giật nảy mình, vội đưa mắt nhìn, quả nhiên là hai người Trương Nghi và Tô Tần, mỗi người chống một cây gậy gỗ, thở hổn hà hổn hển.
Thấy bộ dạng thảm hại của hai người, Bàng Quyên cười toáng lên mà nói: “Hai vị nhân huynh, tại hạ và Tôn huynh đã đợi hai vị ở đây mấy canh giờ rồi!”
Trương Nghi vô cùng khâm phục, nói: “Bàng huynh quả nhiên tài giỏi, hai chúng tôi gắng hết sức đuổi theo mà vẫn đến chậm nửa bước. Trương Nghi phục rồi!”
Bốn người cười nói một hồi, rồi cùng chuẩn bị nước uống, thấy trời vẫn còn sớm, liền quyết định lập tức tiến vào Dã Nhân cốc.
Nơi đây núi cao khe sâu, dưới sơn cốc chỉ thấy đá cuội chồng chất, không thấy một giọt nước chảy. Bốn người đi một mạch đến khi trời tối, nhưng vẫn chưa đến được tận cùng, cũng chẳng hề gặp phải dã nhân. Thấy trời sắp tối, họ tìm hái chút quả rừng lót dạ, rồi kiếm một nơi kín đáo để ngủ qua đêm. Sáng hôm sau, lại đi thêm nửa ngày nữa, bỗng thấy vách núi hai bên đột nhiên thu hẹp, phía trước không thấy sơn cốc nữa, chỉ còn lại một vách đá hùng vĩ chắn ngang trước mặt.
Quả nhiên là một vách đá hùng vĩ! Bốn người ngẩng đầu nhìn, ai nấy đều hít ngược một hơi khí lạnh. Vách đá vươn cao sừng sững, ước chừng trăm trượng, dựng đứng nhẵn nhụi, hệt như một bức tường trời xây. Nhìn kỹ, thì thấy vách này là một tảng đá nguyên khối, chỉ duy nhất ở chỗ cao chừng sáu bảy mươi trượng có một rãnh hẹp, trong rãnh mọc một cây tùng thân to quãng miệng bát và lơ thơ mấy gốc cây trông giống bụi gai. Do cách mặt đất quá cao nên không thể nhìn rõ, đoán rằng chắc hẳn là thứ đào dại mà tiểu đồng đã nói.
Bốn người mắt trợn trừng, miệng há hốc một hồi lâu, không ai thốt được tiếng nào. Người đầu tiên phá vỡ sự im lặng là Tô Tần. Nhìn vách đá một lúc, Tô Tần từ từ ngồi thụp xuống, ngâm: “Nơi này cao đến thế, lại chẳng phải chim ưng, làm sao mà lên được?”
Trương Nghi cũng hùa theo: “Chậc chậc! Trong núi bao nhiêu hoa quả, tiên sinh loại nào không thích, lại thích ăn cái thứ quả mọc trên sợi dây leo kia!”
Vẫn là Bàng Quyên nhanh trí, mắt vừa liếc nhìn đã phát hiện ra trên vách đá có ít dây leo buông rủ lơ thơ, sợi ngắn sợi dài, lòng thòng buông từ trên đỉnh xuống, phất phơ theo gió, bèn nảy ra một ý, liền chỉ vào chúng mà nói: “Chúng ta hãy tìm cách leo lên đỉnh vách đá từ lối khác, rồi bám dây leo trèo xuống, may ra có thể hái được quả đào!”
Ba người ngước mắt nhìn lên, thấy mấy sợi dây leo thưa thớt lại mỏng manh như sợi tóc, thì đều lắc đầu ngao ngán.
Bàng Quyên không phục, liền sục sạo khắp xung quanh tìm kiếm. Một lúc sau, Bàng Quyên vừa kinh ngạc gọi toáng lên: “Ba vị nhân huynh, mau đến đây!”
Mọi người vội vàng chạy tới, thì nhìn thấy một tán cây chi chít những quả đào phủ mượt lông tơ. Bàng Quyên lấy từ trong tay áo ra quả đào lông mà tiểu đồng đưa cho, so sánh hai loại, thấy giống nhau y đúc.
Trương Nghi ngẩng đầu lên nhìn, lại càng mừng quýnh: “Mau nhìn kìa, toàn là giống đào này!”
Ba người cùng ngước lên nhìn, thảy đều kinh ngạc đến sửng sốt. Nguyên một khoảng rừng là cả một thế giới đào dại, rộng tới gần nửa mẫu, dây đào chằng chịt, quả chín đầy trĩu trên các cành cây.
Tôn Tân chau mày nói: “Sư huynh đã dặn, thứ quả mà tiên sinh muốn ăn là quả đào trên vách đá, không phải đào trong sơn cốc, chắc chắn hai loại đào này mùi vị khác nhau!”
Bàng Quyên vặt lấy một quả, cắn thử một miếng, thấy vừa đắng vừa chua vừa chát, vội nhổ phì phì, nhăn mặt mà nói: “Tôn huynh nói đúng, thứ đào này mùi vị thực không nuốt nổi!”
Ba người thấy vậy cũng thử hái ăn, song đều vội nhổ cả ra. Bàng Quyên lo lắng, liền lấy quả đào tiểu đồng đưa cho cắn một miếng, rồi cũng nhổ ra ngay, đổi buồn làm vui, nói: “Các vị, mùi vị giống hệt nhau!”
Mọi người lần lượt nếm, rồi lại nếm quả ở trên cây, đúng là mùi vị không có gì khác biệt.
“Các vị nhân huynh,” Bàng Quyên quan sát địa thế xung quanh, rồi cười nói, “mọi người nhìn xem, nơi đây hẻo lánh, hẳn là tiên sinh cũng chưa từng đặt chân tới, vì vậy chỉ biết trên vách có đào, mà không biết nơi đây có cả rừng đào. Chúng ta hãy hái đào ở đây mang về, nói là đào hái ở trên vách đá, chắc hẳn tiên sinh sẽ không nhận ra đâu!”
Tôn Tân trầm ngâm suy nghĩ, rồi gật đầu nói: “Có thể hái về, nhưng chỉ được nói là đào hái ở dưới đáy sơn cốc, không được nói là đào hái ở trên vách đá!”
“Tôn huynh ơi,” Bàng Quyên lắc đầu quầy quậy, “tiên sinh đã nói muốn ăn đào ở trên vách núi, chứ không nói muốn ăn đào dưới đáy sơn cốc. Chúng ta đã đến được dưới vách đá, song lại hái đào ở dưới đáy sơn cốc mang về, như vậy, ngay cả tiểu đồng cũng sẽ cười chê chúng ta!”
“Hai người đừng tranh cãi nữa!” Trương Nghi ngắt lời. “Chúng ta mỗi người hãy hái một ít mang về, không ai được nói là hái ở dưới đáy sơn cốc. Nếu tiên sinh ăn mà phát hiện ra được thì tại hạ khâm phục. Nếu không phát hiện ra, chúng ta cũng không ai được tiết lộ, chỉ cần tự biết với nhau là được!”
Thấy Trương Nghi, Bàng Quyên đều quyết định như vậy, Tô Tần, Tôn Tân cũng không biết nói gì thêm, mỗi người hái lấy một ít quả đào, cho vào trong túi, sau đó trở về theo đường đã đến.
Lúc quay về do đã quen đường, cộng thêm đã vượt núi băng rừng liên tiếp mấy ngày, chân cẳng bốn người đã khoẻ lên đáng kể, chưa đầy hai ngày đã về đến Quỷ Cốc, từng người giao lại túi đào của mình cho tiểu đồng.
Tiểu đồng kiểm tra, rồi ngẩng lên hỏi: “Có phải đào hái trên vách đá không?”
“Đương nhiên!” Bàng Quyên ngoác miệng cười. “Nếu sư huynh không tin, thử nếm một miếng là biết ngay!”
Tiểu đồng không nói gì, chỉ cầm túi đi vào thảo đường.
Bốn người cũng đã mệt rã rời, liền ai về phòng nấy, đánh một giấc say sưa.
Sáng sớm hôm sau, tiểu đồng cầm bốn túi đào đi tới trước cửa nhà cỏ của bốn người, quẳng đánh vèo xuống đất rồi nói với họ: “Tiên sinh nói, các người hãy giữ lại chỗ đào này mà ăn!”
Bàng Quyên, Trương Nghi đưa mắt nhìn nhau, rồi cùng đồng thanh hỏi: “Tại sao tiên sinh không ăn?”
Tiểu đồng liếc xéo hai người, lạnh nhạt nói: “Bốn vị sĩ tử hãy theo ta!”
Bốn người tim đập thình thịch, thấp thỏm đi theo tiểu đồng đến một thung lũng. Tiểu đồng chỉ tay vào vạt rừng trước mặt: “Các người tới đó mà xem, sẽ biết tại sao tiên sinh không ăn!”
Bốn người vội vàng chạy tới, thảy đều há hốc miệng kinh ngạc, vì trải rộng trước mắt họ là một rừng đào dại còn rộng lớn hơn cả trong sơn cốc hôm trước. Bàng Quyên hái một quả nếm thử, quả nhiên cũng vừa chua vừa chát, chẳng khác gì những quả đào mà họ vừa phải trải bao khổ cực mới mang được về.
Tiểu đồng chậm rãi bước lại gần, bốn người không ai nói được lời nào, đều cúi gằm mặt xuống.
Tiểu đồng bật cười: “Đã biết tại sao tiên sinh không ăn hay chưa?”
“Tiểu sư huynh,” Bàng Quyên ra vẻ hối hận, “chúng tôi đã biết sai rồi! Xin hãy nói lại với tiên sinh, rằng chúng tôi sẽ tới Dã Nhân cốc một chuyến nữa, nhất định sẽ hái được đào cho tiên sinh!”
Tiểu đồng lừ mắt nhìn Bàng Quyên, rồi lại quét mắt qua từng người: “Hừm, e rằng với khả năng của các người, cả đời này cũng chẳng thể hái được một quả đào trên vách!”
Trước mắt bốn người lập tức hiện ra vách đá dựng đứng trơn nhẵn, cao chót vót, ai nấy đều cúi đầu thở dài.
Trương Nghi sực nghĩ ra điều gì, bèn ngẩng lên nói: “Xin hỏi sư huynh, phải chăng tiên sinh sớm đã biết chúng tôi không thể hái được?”
“Đương nhiên!” Tiểu đồng trả lời.
Trương Nghi vẻ không phục: “Tiên sinh đã biết, tại sao lại nhất định bắt chúng tôi đi hái? Chẳng phải cố tình gây khó dễ ư?”
“Các người không thể hái, nhưng vẫn có kẻ hái được!”
Bàng Quyên vội hỏi: “Ai?”
“Khỉ!” Tiểu đồng lên giọng giáo huấn như kẻ bề trên. “Người trí tuệ khéo nhờ vào vật. Trước lúc các người lên đường, chẳng phải sư huynh đã dặn rằng trong sơn cốc có một đàn khỉ, rất thích ăn giống đào này ư? Đến mùa quả chín, vào lúc sáng sớm, lũ khỉ thường kéo nhau bám theo dây leo mà xuống, sau đó nhảy lên cây tùng, ngồi đó hái đào ăn. Lũ khỉ hiếu động, thường vừa ăn đào vừa nhảy nhót đùa giỡn. Nếu các người bình tĩnh, giỏi quan sát, chắc chắn sẽ phát hiện ra điều này. Tới lúc đó, chỉ cần đứng chờ phía dưới, chẳng phải tốn chút công sức, cứ đưa tay ra bắt lấy những quả đào tươi mà bầy khỉ ném xuống là đã có thể thưởng thức quả tiên!”
Nghe tiểu đồng nói vậy, cả bốn người đều tâm phục khẩu phục.
Bàng Quyên nói lớn: “Xin sư huynh hãy nói lại với tiên sinh, chúng tôi sẽ lập tức đi lấy đào!”
“Không cần phải đi nữa!” Tiểu đồng lại lừ mắt nhìn hắn. “Sở thích của tiên sinh rất đặc biệt. Trong một năm, đào ở trên vách núi chỉ ngon nhất vào hai ngày trước, các người giờ có đi thì cũng đã quá muộn rồi!”
“Vậy thì…” Bàng Quyên bối rối, “chắc tiên sinh cũng muốn ăn chút gì đó khác chứ?”
“Tiên sinh mới hái được một ít lá trà hảo hạng, cần dùng nước suối Cam Tuyền ở đỉnh Hầu Vọng để pha. Tiên sinh nói, nếu các người có lòng, mỗi người hãy đi xách lấy một thùng nước suối Cam Tuyền về để tiên sinh pha trà!”
Bốn người phấn chấn hẳn lên. Bàng Quyên vội hỏi: “Xin hỏi sư huynh, đỉnh Hầu Vọng ở đâu?”
Tiểu đồng chỉ về một ngọn núi cao chót vót phía xa: “Chính là ngọn núi nhọn hoắt kia! Các người hãy nhìn cho kỹ, chớ đi nhầm đường, ở phía tây đỉnh núi này, cách đỉnh vài trượng có một cây tùng đơn độc, bên cạnh cây tùng có một con suối, thứ tiên sinh muốn chính là nước ở nguồn suối đó!”
Nửa canh giờ sau, bốn người đều cõng theo thùng gỗ đựng nước, rời khỏi Quỷ Cốc, dõi về đỉnh Hầu Vọng mà tìm đường đi tới.
Đỉnh núi nhìn thì có vẻ không xa, song để đi đến nơi cũng mất khá nhiều thời gian. Bốn người đi vòng vèo theo con đường mòn dưới đáy sơn cốc, hơn nửa ngày trời mới đến được chân núi.
Bốn người ngước mắt nhìn lên, ai nấy đều thở dài ngao ngán. Đỉnh Hầu Vọng trông giống như một cây cột dựng thẳng đứng trên mặt đất, xuyên đến tận mây. Trước mắt, ngoài những vách đá cheo leo dựng ngược, không thấy bất cứ thứ gì có thể bám víu để trèo lên.
Trương Nghi tặc lưỡi than: “Cha chả, đừng nói là người, cho dù là khỉ cũng chưa chắc đã trèo lên được!”
Bàng Quyên nói: “Nói thừa, nếu không, tại sao lại gọi là đỉnh Hầu Vọng?”
Trương Nghi không ngó ngàng gì đến họ, hai mắt chỉ nhìn chằm chằm vào cây tùng trơ trọi ở gần đỉnh núi. Bốn người đang đứng ở mé tây nam, nhìn thấy rất rõ ràng. Do khoảng cách quá xa, nên cây tùng gần như dính vào vách đá, nhỏ tới mức tưởng như có thể đưa tay hái luôn xuống được.
Bàng Quyên nhìn lên vách đá, thở dài mà nói: “Chao ôi, cái gì mà nước suối pha trà, rõ ràng tiên sinh đang cố ý làm khó chúng ta!”
Trương Nghi lườm hắn một cái, cất giọng tưng tửng: “Ai không dám lên thì cứ quay về theo đường cũ, đừng đứng đây làm trò khó coi nữa!”
Bàng Quyên cười nhạt một tiếng: “Ai khó coi, bây giờ vẫn chưa biết được đâu!” Rồi kéo Tôn Tân. “Tôn huynh, mau đi tìm đường!”
Tôn Tân bị Bàng Quyên túm lấy cánh tay lôi đi, thấy không thể giật ra được, đành phải ngoái nhìn Trương Nghi, Tô Tần, cất giọng áy náy: “Hai vị nhân huynh, chúng tôi đi trước một bước, nếu như tìm được đường đi, sẽ gọi hai vị!”
Trương Nghi cười ha hả mà nói: “Không cần đâu, Tôn huynh. Chưa biết trong chúng ta ai sẽ tìm được đường trước!”
Tôn Tân, Bàng Quyên vòng theo chân núi đi về phía bắc, nhưng không tìm được bất cứ con đường nào. Hai người đang lúc ủ ê, thì mắt Bàng Quyên bỗng vụt sáng. Hắn nhìn thấy không xa phía trước có một người hái thuốc đang lúi húi ở đấy. Hai người vội chạy đến hỏi đường lên đỉnh, người hái thuốc bèn chỉ vào một hẻm núi nhỏ khuất nẻo phía trước: “Men theo hẻm núi này, có thể lên được đỉnh núi.”
Bàng Quyên vội hỏi: “Còn đường nào khác không?”
Người hái thuốc lắc đầu: “Núi này không còn đường lên nào khác, ngay cả con đường này cũng chỉ có những người hái thuốc như chúng tôi mới biết. Hai vị hỏi tại hạ là hỏi đúng người rồi đấy.”
Hai người bèn cảm tạ, sau đó men theo hẻm núi mà trèo lên. Hai canh giờ sau, cuối cùng cũng lên tới đỉnh.
Đứng trên đỉnh núi, Tôn Tân, Bàng Quyên phóng mắt nhìn ra xa, cảnh sắc vô cùng tráng lệ. Tôn Tân, Bàng Quyên không dám chậm trễ, lập tức biện nhận phương hướng, rồi đi đến bên một gốc tùng ở phía tây, tìm cây tùng đơn độc mà tiểu đồng đã nói. Họ đi đến cạnh cây tùng, bám lấy cành cây, rồi nhìn xuống dưới.
Vừa nhìn xuống, cả hai đã bủn rủn tay chân. Phía dưới là vách sâu vạn trượng, hun hút thẳng đứng, không có bất cứ một cây tùng nào cả.
Bàng Quyên kinh sợ, vội đưa mắt nhìn khắp bốn phía, sau đó đi ra một mỏm đá chìa ra ở mé tây nam, nghiêng ngó nhìn về phía tây, lúc này mới phát hiện ra cây tùng nằm ở ngay dưới chân Tôn Tân. Thì ra nơi đó là một hõm núi, khiến cây tùng thụt sâu vào bên trong vách đá, đứng ở trên đỉnh, đương nhiên sẽ không thể nhìn thấy nó.
Bàng Quyên quay trở lại chỗ Tôn Tân, áp tai vào đá lắng nghe, quả nhiên nghe thấy phía dưới vách có tiếng nước róc rách, thì mừng rỡ reo lên: “Là nước suối! Tôn huynh, huynh đợi ở đây, để đệ xuống dưới múc nước!”
Bàng Quyên nói xong, liền dỡ ra hai sợi dây leo đã chặt sẵn trong khi trèo lên núi, thắt nút chắc chắn để nối liền với nhau, một đầu buộc lên thân cây tùng bên cạnh, một đầu quấn ngang thắt lưng, hai tay bám chặt sợi dây, sau đó từ từ tụt xuống men theo vách núi.
Một lát sau, Bàng Quyên đã xuống được tới cây tùng lẻ, tìm chỗ đứng vững, rồi tháo sợi dây leo ra, ngửa mặt gọi lớn: “Tôn huynh, chính là con suối này! Huynh hãy kéo dây lên, rồi thả thùng nước xuống đây!”
Tôn Tân kéo sợi dây lên, buộc thùng gỗ vào thả xuống. Bàng Quyên múc đầy một thùng nước, rồi gọi lớn: “Tôn huynh, nước đầy rồi, mau kéo lên!”
Tôn Tân kéo lên, thả nốt thùng còn lại xuống, kéo lên rồi lại thả dây xuống. Một lúc sau, Bàng Quyên nhờ sự trợ giúp của Tôn Tân, đã trèo lên được đỉnh núi.
Bàng Quyên đưa tay áo lau mồ hôi, rồi lôi từ trong ngực áo ra hai tấm da dê, bịt lên miệng thùng, lại cắt lấy một đoạn dây leo, tước làm đôi, buộc thật chặt tấm da dê vào miệng thùng.
Động tác của Bàng Quyên hết sức lẹ làng chóng vánh, Tôn Tân đứng nhìn mà thán phục, thực lòng khen ngợi: “Hiền đệ quả là người chu đáo, ngay cả những tiểu tiết thế này cũng nghĩ ra được!”
Bàng Quyên cười vang mà nói: “Những chuyện nhỏ nhặt thế này thực không đáng nói!” Rồi đi quanh đỉnh núi một vòng, nhìn xuống phía dưới một hồi, sau đó quay đầu lại cười. “Tôn huynh, hai vị nhân huynh kia không biết đã lang thang đâu rồi, đến cái bóng cũng không nhìn thấy!”
Tôn Tân nói: “Lúc nãy người hái thuốc có nói, ngoài hẻm núi khi nãy, không còn bất cứ con đường nào có thể lên được đỉnh Hầu Vọng. Chúng ta hãy lên tiếng gọi để họ biết đường mà lên!”
“Tôn huynh, không được!” Bàng Quyên lắc đầu. “Chẳng phải họ Trương kia luôn cậy mình tài trí cao siêu ư, tại sao lại không để hắn từ từ tìm đường mà đi?” Ánh mắt dừng lại ở hai sợi dây leo, tròng mắt đảo vài vòng, rồi bước tới cuộn hai sợi dây lại, ném thẳng xuống dưới vách đá.
Tôn Tân vội gọi giật: “Bàng đệ…”
Nghe thấy tiếng cuộn dây leo lăn long lóc rơi xuống, Bàng Quyên vỗ vỗ hai tay, rồi ngoái cổ xuống dưới lầm bầm: “Hừm, họ Trương kia, cho ngươi tranh giành! Cho dù ngươi có bản lĩnh lên được tới đây, không có cuộn dây, xem ngươi lấy nước bằng cách nào?”
Ở lưng chừng núi, cuối cùng Tô Tần, Trương Nghi cũng tìm được nơi có thể bám víu, họ từ từ trèo lên vách núi cheo leo từng chút một. Không ngờ vách núi càng lúc càng dựng đứng, trèo được một quãng, đừng nói là cây lớn, ngay đến bụi cỏ lùm cây có thể bám vào cũng thưa thớt khó tìm. Tô Tần, Trương Nghi tay bám chân đạp, mắt đảo liên hồi để tìm nơi có thể bấu víu.
Trương Nghi ngẩng đấu nhìn mặt trời: “Tô huynh, đã quá chiều rồi, e rằng chưa trèo lên tới đỉnh, trời đã tối mất!”
Tô Tần cũng ngẩng đầu nhìn, phấn khởi reo lên: “Nhìn kìa, chính là cây tùng kia!”
Trương Nghi nhìn theo, quả nhiên trông thấy một cây tùng. Lúc này cây tùng đã lớn hơn rất nhiều so với ban nãy, trông như một tán ô lớn xoè rộng trên đầu, còn cách họ chừng mấy chục trượng. Hai người lập tức tràn đầy tin tưởng, tiếp tục leo lên. Song mới trèo thêm được mấy trượng, họ đã bị một vách đá dựng đứng chặn lại.
Vách đá phải cao tới vài trượng, đừng nói là cây lớn, ngay cả một cọng cỏ nhỏ cũng không mọc nổi.
Trương Nghi quan sát xung quanh, thấy không có chỗ nào có thể bám tay đặt chân được, liền than thở: “Tô huynh ơi, chúng ta đã đi phải đường cùng rồi!”
Tô Tần đưa mắt nhìn quanh, đôi mày nhíu chặt.
Hai người đang lúc ngẩn ngơ, bỗng nghe trên đầu có tiếng loạch xoạch, rồi một vật gì rơi thẳng từ trên xuống, nảy tưng tưng mấy cái trên vách đá trên đầu họ, sượt qua một ngọn tùng bên cạnh rồi lăn thẳng xuống núi.
Trương Nghi nhìn thấy rõ ràng, vội nói: “Là dây leo! Chắc hẳn thằng cha Bàng Quyên đã mò được lên tới đỉnh!”
Tô Tần gật đầu.
Trương Nghi sốt một, hai mắt đảo liên hồi, nhìn khắp xung quanh, rồi đột nhiên chỉ tay vào vách đá bên trái: “Tô huynh, mau nhìn xem!”
Tô Tần đưa mắt nhìn, thì thấy một dòng nước nhỏ đang chảy xuống theo vách đá. Vì chảy quá chậm, nên không phát ra âm thanh. Trương Nghi vội trèo qua, vốc lên nếm thử, chép chép miệng rồi reo toáng lên: “Cam Tuyền! Tô huynh! Lại đây, huynh uống thử xem!”
Tô Tần cũng uống thử, sung sướng nói: “Nước này rất ngọt, là nước Cam Tuyền!”
Trương Nghi khẽ nhướng mày động, sau đó với lấy thùng nước ở sau lưng xuống, hứng vào chỗ nước chảy. Tô Tần thấy vậy, hiểu ý Trương Nghi, bèn lắc đầu nói: “Làm vậy sao được?”
“Tại sao lại không được?” Trương Nghi chỉ vào dòng suối. “Tô huynh nhìn xem, hiện giờ chúng ta ở ngay phía dưới cây tùng, nước này chắc chắn là chảy từ suối Cam Tuyền xuống. Núi là cả một ngọn núi, đá là cả một tảng đá, suối cũng là cả một con suối, chẳng qua chỉ khác biệt ở chỗ trên dưới mà thôi. Cho dù tiên sinh có là thần tiên cũng chẳng thể phân biệt!”
“Nhưng đây không phải là đỉnh núi. Chuyện cây đào lúc trước đã làm tiên sinh thất vọng, hiền đệ tuyệt đối không được tái phạm lần nữa!”
“Tô huynh đừng cứng nhắc như thế, tiên sinh muốn uống nước suối Cam Tuyền, nước chúng ta lấy ở đây cũng chính là nước suối Cam Tuyền. Hơn nữa, chẳng phải lúc này, chúng ta đã đi phải đường cùng rồi hay sao? Trước mặt không có đường lên, còn quay lại thì đã muộn. Nếu như trở về tay không, chưa nói chuyện khác, thằng cha Bàng Quyên kia chắc hẳn sẽ cười chúng ta thối mũi!”
Tô Tần vẫn lắc đầu. Trương Nghi bực bội nói: “Tô huynh đừng cố chấp như vậy! Lần này không giống lần trước, chắc chắn tiên sinh sẽ không thể nhận ra!”
“Tại sao hiền đệ lại khẳng định như vậy?”
“Lần trước tiên sinh chưa ăn đào đã biết là giả, vì không ai có thể trèo lên vách đá dựng đứng hái đào, nhưng chúng ta lại mang về những bốn túi lớn, lũ khỉ không thể ném xuống nhiều như thế được. Dựa vào trí tuệ của tiên sinh, chắc chắn có thể đoán ra! Nhưng lần này thì khác, tay Bàng Quyên kia đã lên đến đỉnh núi, chứng tỏ sức người có thể trèo lên tới đỉnh. Lên được đỉnh núi, đương nhiên sẽ lấy được nước suối Cam Tuyền. Nước suối Cam Tuyền đã có thể lấy được, thì tiên sinh phải đích thân nếm thử mới phân biệt được thật giả. Cùng một dòng nước, chỉ khác nhau một đoạn trên dưới, nếu tiên sinh có thể phát hiện ra, thì Trương Nghi quả là bái phục sất đất!”
Tô Tần nghe nói có lý, suy nghĩ một lát, thấy cũng chẳng còn cách nào khác nên đành gật đầu đồng ý. Hai người hứng đầy hai thùng nước, đeo lên lưng rồi thận trọng trèo xuống theo đường đã lên. Xuống đến sơn cốc, trời đã nhá nhem. Hai người đang vội vã đi về, bỗng Trương Nghi đứng khựng lại.
Tô Tân thấy vậy liền hỏi: “Hiền đệ, trời sắp tối rồi, không về mau, còn dừng lại làm gì?”
“Không! Không!” Trương Nghi cười lớn. “Chúng ta phải đợi họ Bàng kia!”
Tô Tần ngạc nhiên, không thể tin được lời này vừa thốt ra từ miệng Trương Nghi, bèn nhìn Trương Nghi với ánh mắt ngỡ ngàng.
“Là thế này,” Trương Nghi giải thích, “chúng ta phải bịt cái miệng thối của tay này lại, để phòng hắn trở về mách lẻo!”
Đợi được một lúc, hai người quả nhiên nhìn thấy Bàng Quyên, Tôn Tân đang vội vã rảo bước theo con đường mòn dưới đáy sơn cốc. Trương Nghi vội lên tiếng gọi: “Tôn huynh, Bàng huynh, cuối cùng cũng đợi được hai vị!”
Bàng Quyên kinh ngạc: “Đợi bọn ta?”
“Đúng vậy! Muộn thế này mà chưa thấy hai vị, Tô huynh lo hai vị gặp điều gì bất trắc, nên quyết định dừng ở đây chờ đợi. Nếu không, hẳn chúng tôi đã về tới Quỷ Cốc rồi.”
Tôn Tân vội vòng tay vái Trương Nghi, Tô Tần: “Đa tạ hai vị nhân huynh!”
Bàng Quyên nôn nóng bước lại gần Tô Tần, Trương Nghi, nhìn vào hai thùng nước của họ, kinh ngạc hỏi: “Hai… hai người cũng lấy được nước suối rồi ư?”
“Đương nhiên là lấy được rồi!” Trương Nghi cười lớn. “Thế nào, hai người đi lâu như vậy, chẳng lẽ vẫn chưa lấy được nước?”
Bàng Quyên hai mắt trợn trừng, ngờ vực hỏi lại: “Nước mà hai người lấy được, có phải nước suối Cam Tuyền không đấy?”
“Hỏi thừa!” Trương Nghi lừ mắt. “Không phải nước suối Cam Tuyển, lấy về làm gì? Sao kia, phải chăng nước mà hai người lấy được không phải là nước suối Cam Tuyền?”
Bàng Quyên nhất quyết không chịu tin, vò đầu bứt tóc mà nói: “Quái lạ, hai người không lên tới đỉnh núi, sao có thể lấy được nước?”
“Ha ha ha!” Trương Nghi phá lên cười lớn. “Bàng huynh nhắc đến đây, mới thấy quả là thần kỳ. Tại hạ và Tô huynh nhắm đến cây tùng rồi bám đá trèo lên. Trèo mãi, trèo mãi, khi trèo gần tới cây tùng, thì bị một vách đá dựng đứng chặn lại. Chúng tôi không còn đường lên nữa, đang lúc tuyệt vọng, bỗng thấy một sợi dây leo từ trên trời rơi xuống. Chắc hẳn là thành ý của chúng tôi đã cảm động đến trời xanh, nên một đầu sợi dây kẹt cứng vào khe đá, còn đầu kia thõng xuống ngay trên đầu chúng tôi không chệch lấy một ly. Hai chúng tôi thấy vậy, đúng là sung sướng không sao kể xiết, lập tức bám lấy trèo lên, chớp mắt đã tới nơi. Huynh thấy có kỳ lạ không, Bàng nhân huynh?”
Bàng Quyên trợn mắt há miệng, một hồi lâu sau mới cười gượng một tiếng: “Hờ hờ, quả là thần kỳ!”
Trở về tới Quỷ Cốc, đã đến giờ Nhân định.
Tiểu đồng nghe thấy tiếng động liền chạy ra đón, bảo họ mang nước vào trong thảo đường, rồi ra bãi cỏ ăn cơm.
Vẫn là món cháo gạo mà Ngọc Thiền nấu. Bốn người mỗi người húp liền mấy bát, rồi xuống suối tắm rửa sạch sẽ, sau đó trở về nhà, vừa đặt mình xuống giường là ngáy pho pho. Có lẽ do quá mệt, nên bốn người ngủ như chết, đến khi tỉnh dậy, mặt trời đã lên quá đỉnh núi, tiểu đồng đã đứng chờ ngoài cửa một hồi lâu.
Tô Tần vừa bước ra khỏi nhà cỏ đã nhìn thấy tiểu đồng, vội vã vái chào: “Sư huynh!”
Tiểu đồng đáp lễ, nói với Tô Tần: “Tô sĩ tử, đợi mọi người tỉnh dậy, tất cả hãy đến thảo đường, sư huynh có điều muốn nói!”
Nói xong liền quay trở về thảo đường.
Tô Tần vội đi vào phòng Trương Nghi, thấy Trương Nghi đã dậy, liền chuyển lại lời tiểu đồng, thấp thỏm bất an ngâm rằng: “Liệu có phải vì chuyện nước suối chăng?”
Trương Nghi cũng thấy lo lắng, nghĩ ngợi một lát rồi hỏi: “Huynh không nói lộ gì chứ?”
Tô Tần lắc đầu.
“Không lộ thì tốt! Chúng ta cứ khẳng định đó là nước suối Cam Tuyền, xem sư phụ có thể nói được gì?”
Tô Tần, Trương Nghi gọi Tôn Tân và Bàng Quyên dậy, bốn người chỉnh trang y phục, ra suối rửa mặt, rồi đi tới thảo đường. Tiểu đồng ngồi khoanh chân trên chiếu của Quỷ Cốc Tử, trước mặt bày bốn thùng nước. Ngọc Thiền ngồi ở gian bên cạnh, tay cầm cuộn thẻ tre, đang chăm chú nhẩm đọc.
Nhìn thấy bốn thùng nước, bốn người đã hiểu ra nguyên do. Nước mà Bàng Quyên mang về là nước suối thật, nên hắn rất tự tin, bước ngay lên trước vòng tay vái chào: “Bàng Quyên xin chào sư huynh!”
Tiểu đồng đưa mắt nhìn, hắng giọng rồi nói: “Bốn vị hiền đệ nghe đây, sư huynh ta sẽ thay tiên sinh hỏi chuyện!”
Bàng Quyên đứng ngây ra, thấy Tô Tần, Trương Nghi và Tôn Tân đều quỳ xuống, nên cũng vội vã quỳ theo. Bốn người liền hành đại lễ tham bái tiên sinh, tiểu đồng bèn bắt chước ngữ điệu của Quỷ Cốc Tử mà nói: “Đứng dậy đi!” Bốn người đa tạ, sau đó đứng dậy, tránh sang một bên. Tiểu đồng chỉ tay vào hai thùng nước chỉ còn chừng non nửa: “Hai thùng nước này là của ai?”
Trương Nghi, Tô Tần đều tim đập như trống. Trương Nghi sợ Tô Tần thực thà nói lộ, liền tranh nói trước: “Hồi bẩm sư huynh, là nước do tại hạ và Tô huynh mang về!”
Tiểu đồng cười nhạt, trách mắng: “Ta thay tiên sinh hỏi chuyện, sao dám gọi là sư huynh?”
Trương Nghi vội đổi giọng: “Vâng! Vâng! Hồi bẩm tiên sinh, đây là nước do đệ tử Trương Nghi và Tô Tần mang về.”
Tiểu đồng lại hỏi: “Nước của hai người có phải nước suối Cam Tuyền không?”
Trương Nghi không chút do dự, lập tức khẳng định: “Hồi bẩm tiên sinh, nước hai chúng tôi mang về đích thực là nước suối Cam Tuyền!”
Tiểu đồng quay sang Tô Tần: “Tô sĩ tử, ngươi nói đi!”
Tô Tần thoáng ngần ngừ, ngẩng nhìn Trương Nghi, thấy Trương Nghi đưa mắt ra hiệu, đành phải ấp úng: “Đúng là nước suối Cam Tuyền, tiên sinh…”
Tiểu đồng học theo bộ dạng của Quỷ Cốc Tử, khẽ thở dài một tiếng, rồi chậm rãi nói: “Hai ngươi một mực khẳng định đây là nước suối Cam Tuyền, nhưng lão hủ uống thử, thấy rõ ràng chỉ là nước thác ở lưng chừng núi. Là lão hủ mồm miệng nhầm lẫn, hay là các ngươi nói lời không thực?”
Ngay cả nước thác ở lưng chừng núi mà tiên sinh cũng phát giác ra, Tô Tần, Trương Nghi sắc mặt tái mét, bốn mắt nhìn nhau, rồi vội vã dập đầu xuống đất.
Tô Tần giọng nói run rẩy, lập tức nhận sai: “Tiên sinh, Tô Tần biết sai rồi! Nước mà Tô Tần mang về đích xác là nước thác ở lưng chừng núi!”
Tiểu đồng liếc sang Trương Nghi: “Trương sĩ tử, nước Tô Tần mang về là nước ở lưng chừng núi, vậy còn nước của sĩ tử?”
Trương Nghi vội lạy liền ba lạy: “Trương Nghi biết sai rồi! Khẩn cầu tiên sinh cho hai chúng tôi thêm một cơ hội, hôm nay nhất định sẽ mang được nước suối Cam Tuyền về cho tiên sinh!”
Tiểu đồng thở dài, xua tay nói: “Nước này mặc dù là nước thác, nhưng cũng bắt nguồn từ suối Cam Tuyền trên đỉnh núi. Niệm tình hai ngươi không cố ý lừa dối, lại đã biết sai, nên ta bỏ qua. Bốn người nghe đây!”
Tôn Tân, Bàng Quyên cũng vội vàng quỳ xuống.
Tiểu đồng bắt chước giọng Quỷ Cốc Tử: “Tu đạo trọng ở tu tâm, không phải là mưu khéo. Nếu bốn người muốn lưu lại trong núi, thì phải thành tâm hướng đạo, dốc lòng thể ngộ, không được có chút cơ tâm(1). Nước mà các ngươi mang về, chính là cơ tâm của các ngươi. Các ngươi hãy mang về đi, mỗi ngày nếm một bát, chiêm nghiệm cho kỹ!”
Bàng Quyên thấy hai thùng nước của mình và Tôn Tân vẫn còn bít kín da dê, cảm thấy oan uổng, liền biện luận: “Tiên sinh, Tôn Tân và đệ tử thành tâm lấy nước, không có một chút cơ tâm, tại sao tiên sinh lại không uống?”
Tiểu đồng liếc xéo Bàng Quyên một cái, chậm rãi nói: “Bàng Quyên, ngươi đã lên tiếng, thì lão hủ đây cũng nói cho ngươi biết. Mặc dù nước hai ngươi mang về múc ở đúng nguồn suối Cam Tuyền, nhưng lại bít tấm da dê lên miệng thùng, nước đã nhiễm mùi hôi tanh, uống vào còn kém xa nước lấy ở lưng chừng núi!”
Bàng Quyên cứng họng, không biết phải nói gì.
Tiểu đồng thấy họ đều ngẩn ngơ, thì phì cười mà nói: “Được rồi, được rồi, tiên sinh đã nói xong, các ngươi đứng dậy đi!”
Bốn người đưa mắt nhìn nhau, lại bái tạ rồi mới đứng dậy.
Tiểu đồng liếc mắt nhìn Ngọc Thiền vẫn đang ngồi một bên đọc sách, hỏi nhỏ: “Chị Thiền Nhi, tiếp theo phải nói gì?
Ngọc Thiền lườm tiểu đồng: “Không biết nói gì, thì không cần nói nữa!”
Tiểu đồng vội gật đầu, rồi quay sang bốn người: “Bốn vị sư đệ, tiên sinh đã hỏi xong, sư huynh ta cũng không còn chuyện gì để nói nữa. Các người hãy xách lấy thùng nước của mình trở về đi, đợi lát nữa nghe sư huynh căn dặn!”
Bốn người xách lấy thùng nước của mình, cắm đầu đi về.
Bàng Quyên đi tới trước cửa phòng, đang định xách thùng nước vào trong, thì thấy Trương Nghi cũng đặt thùng nước xuống trước cửa, nhất thời nảy ra ý trêu chọc, bèn đặt thùng nước xuống, ngoảnh nhìn Trương Nghi, lắc đầu quầy quậy, rồi chép miệng mà nói: “Chậc chậc! Quả là một thủ đoạn hay ho, thuật trộm xà đổi trụ không ngờ lại dám thực thi với cả tiên sinh! Không giấu nhân huynh, tối qua tại hạ cả đêm không ngủ, cứ nghĩ mãi về thùng nước suối của nhân huynh. Tại hạ nghĩ không thông, sợi dây leo rơi từ trên trời xuống lại kẹt ngay vào khe đá, rồi lại thòng xuống đúng đỉnh đầu nhân huynh, không chệch một ly, lẽ nào trên đời thực sự có chuyện vừa khéo đến vậy? Nếu chẳng phải tiên sinh công lực cao thâm, phân biệt được mùi vị nước thác ở lưng chừng núi, thì tại hạ đã bị qua mắt rồi!”
Trương Nghi cười lớn, đáp trả: “Trộm xà đổi trụ vẫn chưa phải là thủ đoạn, vẽ rắn thêm chân mới là bản lĩnh!”
Bàng Quyên sững người, quay nhìn tấm da dê bịt trên miệng thùng, mặt đỏ rần, vội vàng đi tới tháo sợi dây leo ra, gỡ tấm da xuống, hùng hục đi đến vạt rừng bên cạnh, thẳng tay quăng vụt đi.
Trương Nghi đứng dựa cửa, thản nhiên quan sát Bàng Quyên, rồi thung dung bước tới, nhặt lại tấm da dê, quay lại bên thùng nước của Bàng Quyên, mỉm cười mà nói: “Bàng nhân huynh, lúc nãy tiên sinh nói thế nào? Tiên sinh nói, những thùng nước này là cơ tâm của chúng ta, bảo chúng ta mỗi ngày hãy nếm một bát để chiêm nghiệm cho kỹ. Huynh lại ném tấm da đi, cũng có nghĩa là mang cơ tâm ném đi. Huynh ném cơ tâm đi, chẳng phải nước này uống vào sẽ chẳng còn vị gì nữa ư? Nếu tiên sinh biết Bàng nhân huynh uống thứ nước vô vị, vậy thì…”
Bàng Quyên lại ngẩn người, miệng há ra ngậm lại mấy lần, không nói được lời nào.
Trương Nghi thấy Bàng Quyên đã ngậm miệng, lại càng làm già, đi vài vòng quanh thùng nước của Bàng Quyên, gật gù tấm tắc: “Ái chà chà, thùng nước của nhân huynh không những có đủ vị hôi tanh, mà còn đầy ắp, không thiếu một giọt, nếu mỗi ngày uống một bát, chí ít cũng phải uống đến nửa tháng!” Rồi lại ngoái nhìn thùng nước chỉ còn phân nửa của mình, lắc đầu nói. “Ô, thật đáng tiếc, tại hạ chỉ có nửa thùng thôi, nhiều nhất cũng chỉ uống mươi ngày là hết mất rồi!”
Những lời châm chọc của Trương Nghi cứ tuôn ra như suối, song lại hữu lý, khiến Bàng Quyên máu sôi sùng sục, hai mắt trợn trừng, nhưng chẳng làm được gì Trương Nghi, chỉ biết hằm hằm lừ mắt nhìn hắn một cái, sau đó xách thùng nước vào phòng, đưa tay sập mạnh cánh cửa lại.
Trương Nghi chõ miệng vào cửa phòng Bàng Quyên cười ha hả mấy tiếng, đang định xách thùng nước của mình vào nhà, chợt thấy tiểu đồng đã đứng bên cạnh tự bao giờ.
Trương Nghi vội vàng vái chào: “Trương Nghi xin chào sư huynh!”
Tiểu đồng lừ mắt nhìn Trương Nghi, không thèm đáp lễ, lập tức hỏi phủ đầu: “Trương Nghi, mấy ngày nay cảm thấy thế nào?”
Trương Nghi chẳng buồn để tâm, tiện miệng nói luôn: “Hồi bẩm sư huynh, chẳng qua chỉ là chút mệt mỏi về xương cốt, chút vất vả về thân thể, Trương Nghi chịu được!”
Tiểu đồng chau tít đôi mày: “Sư huynh không hỏi cái đó, sư huynh hỏi ngươi, có cảm ngộ gì chăng?”
Trương Nghi vội cười giả lả: “Có có có, tại hạ cảm ngộ sâu sắc!”
Tiểu đồng nghiêm mặt: “Nói đi!”
Trương Nghi liếc xéo tiểu đồng: “Chính là điều sư huynh vừa nói khi nãy, tất cả mọi chuyện đều không được nảy cơ tâm. Tại hạ quyết chí làm theo lời sư huynh, mỗi ngày uống một bát nước để loại bỏ cơ tâm!”
Tiểu đồng cười nhạt nói: “Nếu như loại bỏ cơ tâm bằng cách đó, e rằng ngươi phải ở lại đỉnh Hầu Vọng mà uống cạn cả dòng suối!”
Trương Nghi sững người, rồi cất giọng thán phục: “Sư huynh mặc dù nhỏ tuổi, nhưng cái gì cũng hiểu, tại hạ phục rồi! Xin hỏi sư huynh, hôm nay tiên sinh còn muốn ăn uống thức gì không? Mấy ngày nay, tại hạ đã luyện được đôi chân cứng rắn, bất kể là ngọn núi nào, chỉ cần sư huynh căn dặn, tại hạ sẽ lập tức đi ngay!”
Tiểu đồng cười nhạt, liếc xéo Trương Nghi: “Ngươi gọi tất cả ra đây, sư huynh có việc cần căn dặn!”
Trương Nghi đang định gọi, mấy người trong nhà đã nghe thấy tiếng tiểu đồng, đều đi cả ra, vái chào tiểu đồng.
Tiểu đồng đáp lễ, cười khúc khích mà hỏi: “Các vị sư đệ, mấy ngày nay cảm thấy thế nào?”
Bàng Quyên thấy tiểu đồng thái độ khác hẳn mọi ngày, thì lập tức đổi ngay sắc mặt, ra vẻ thân mật, đi lại gần tiểu đồng, vừa toét miệng định làm thân thì tiểu đồng lùi ngay lại một bước. Bàng Quyên nhất thời sượng mặt, đứng ngây tại chỗ.
Tiểu đồng thu nụ cười lại, nhìn thẳng vào Bàng Quyên, nghiêm giọng nói: “Bàng sư đệ, sư huynh hỏi ngươi, mấy ngày nay cảm thấy thế nào?”
Bàng Quyên có được đường lui, cũng lập tức mặt mũi nghiêm trang, đáp lời: “Hồi bẩm sư huynh, trải qua mấy ngày tu đạo, Bàng Quyên đã học hỏi được rất nhiều!”
“Bàng sư đệ đã học được những gì?”
Bàng Quyên suy nghĩ một lát tìm cách trả lời: “Bàng Quyên vốn chẳng biết thế nào là tu đạo, nhưng mấy ngày nay đã bắt đầu hiểu ra, thì ra tu đạo chính là như vậy!”
“Là thế nào?”
“Thứ nhất không sợ khổ, thứ hai không được giả dối gian trá!”
“Hừm…” Tiểu đồng cười nhạt. “Nghe lời này của Bàng đệ, đã biết là vẫn mù mờ, ngay đến cánh cửa tu đạo cũng chưa tìm thấy!”
Bàng Quyên kinh ngạc: “Xin hỏi sư huynh, thế nào là tu đạo?”
“Lần này sư huynh đến, chính là nói cho các vị biết thế nào là tu đạo. Các vị sư đệ, hãy đi theo ta!” Tiểu đồng nói xong, phăm phăm đi trước dẫn đường.
Bốn người ngơ ngác nhìn nhau, rồi cùng đi theo tiểu đồng, bước theo con đường núi trong sơn cốc.
Đường núi ngoằn nghèo quanh co, thông tới một cánh rừng. Tiểu đồng dẫn họ đi vào trong rừng, ngồi khoanh chân dưới gốc một cây lớn, căn dặn bốn người: “Hãy ngồi như sư huynh, bắt đầu từ bây giờ, ngồi đến tận khi trời tối mới thôi!”
Trương Nghi tìm lấy một chỗ, ngồi xuống đầu tiên, trong miệng lẩm bẩm: “Cái này lại chẳng quá dễ? Lần trước chúng ta còn quỳ liền ba ngày ba đêm mà cũng không sao!”
Thấy Bàng Quyên, Tô Tần, Tôn Tân đều đã ngồi xuống, lúc này tiểu đồng mới nói: “Quỳ liền ba ngày thì dễ, nhưng ngồi thế này mới khó!” Rồi đứng dậy, chỉnh sửa tư thế cho bốn người, sau đó cao giọng. “Các vị hãy nghe cho rõ, phải giống như cây đinh cắm thẳng tại đây, mắt nửa mở nửa khép, lưng không được cúi khom, đầu không được cúi thấp, miệng không được nói chuyện, toàn thân bất động, dù Thái Sơn có sập xuống, cũng phải thản nhiên như không.”
Bàng Quyên cười nói: “Sư huynh yên tâm, cho dù lưỡi dao kề cổ, Bàng Quyên cũng tuyệt đối không động cựa.”
Tiểu đồng nhìn ba người còn lại: “Bàng sư đệ đã nói, cho dù lưỡi dao kề cổ cũng tuyệt đối không động cựa, ba người các ngươi có thể làm được chăng?”
Ba người cùng đáp: “Sư huynh yên tâm, tuyệt đối không động đậy một ly!”
Tiểu đồng gật đầu, nghiêm giọng nói: “Ngồi thế này hoàn toàn không giống với lấy nước, hái đào, không động đậy một ly, nói thì dễ, nhưng làm thì không dễ đâu! Song các ngươi đã nói như vậy, sư huynh sẽ tin các ngươi. Sư huynh chỉ muốn các ngươi ghi nhớ một câu, lừa người dễ, lừa tâm mới khó!”
Bốn người cùng ngồi ngay ngắn, hai mắt khép hờ, không nói năng gì nữa. Đúng vậy, lừa người thì dễ, nhưng lừa tâm mới khó. Ngồi ở đây, có động đậy hay không, chỉ mình họ biết, cũng chỉ có thể trông vào tâm thái của mỗi người.
Tiểu đồng kiểm tra lại một lượt tư thế ngồi của bốn người, uốn nắn lại cho Tô Tần, rồi gật gù nói: “Được rồi, hãy ngồi nguyên theo tư thế này, quên đi tất cả. Tất cả trung hiếu yêu hận, ân oán ưu phiền, công danh phú quý, cơm ngon rượu ngọt, bạn bè thù địch, tất cả mọi chuyện thế gian đều phải quên hết. Không nghĩ gì cả, không có gì cả, trong tâm các ngươi chỉ còn một bầu trống rỗng, trống rỗng hệt như sơn cốc này, hệt như khoảng trời này! Tóm lại, các ngươi phải quên rằng mình đang tĩnh toạ, chỉ có quên đi, mới có thể ngồi được lâu!”
Bốn người đưa mắt nhìn nhau.
Tiểu đồng lại quét mắt nhìn khắp lượt: “Nếu không thể quên được, sư huynh mách cho các ngươi một vài bí quyết. Một là nghe tiếng thu, hai là nghe nhịp tim, ba là nghe hơi thở, nếu ngốc hơn chút nữa, thì có thể đếm số, lắng nghe tiếng lá cây rụng, rơi một lá đếm một số!” Nói xong, liền khoanh chân ngồi bất động.
Quả như lời tiểu đồng đã nói, ngày hôm nay trôi qua cực kỳ khổ sở. Nửa ngày đầu, bốn người cố gắng lắm mới kiên trì được. Đến nửa ngày sau, Trương Nghi thấy lưng ngứa ran, rất muốn thò tay gãi, nhưng rồi lại gắng gượng chịu đựng. Cảm giác ngứa ngáy thực vô cùng khó chịu, Trương Nghi càng nghĩ càng ngứa, càng ngứa càng nghĩ, bị cơn ngứa ngáy giày vò đến mức nghiến răng lệch miệng, mặt mũi méo xệch. Trương Nghi lén liếc mắt nhìn sang mấy người kia, thấy họ vẫn ngồi im lìm, không biết làm sao, đành phải cắn răng chịu đựng.
Bàng Quyên lại gặp nỗi khổ sở khác. Nơi đây là rừng bạch dương, vì đang tiết thu, lá rụng tơi bời, một phiến lá rụng xuống sau gáy Bàng Quyên, vừa hay mắc kẹt vào trong cổ áo. Gió nhẹ hiu hiu, phiến lá lay động, cứ cọ qua quẹt lại trên gáy, khiến Bàng Quyên tâm hoả bốc lên ngùn ngụt, mấy lần định đưa tay hất đi, nhưng liếc thấy mọi người đều ngồi yên như tượng, cũng đành gắng gượng chịu trận.
Cứ thế ngồi đến tận khi trời tối, cuối cùng tiểu đồng cũng mở mắt ra, khẽ nói: “Các vị sư đệ, có thể thu công rồi!” Bốn người nghe thấy, đang định đứng lên, nhưng hai chân tê bại, không thể nhúc nhích nổi.
Tiểu đồng cười nói: “Các vị hãy nằm xuống một lát, duỗi thẳng hai chân, một chốc nữa sẽ dễ chịu hơn!”
Tiểu đồng nói xong, liền nằm ngửa ra phía sau. Bốn người làm theo tiểu đồng, cũng ngửa người ra phía sau nằm xuống, duỗi thẳng hai chân, một lát sau khí huyết dồn xuống, hai chân một trận tê rần, hệt như kim châm.
Tiểu đồng vẻ như chẳng hề hấn gì, chậm rãi đứng dậy, nhìn bộ dạng nhăn nhó khó coi của mọi người, liền cười khúc khích mà hỏi: “Cảm giác thế nào?”
Bàng Quyên đưa hai tay bóp chân, cố gắng chịu đựng cơn tê mỏi, nói: “Hồi… hồi bẩm sư huynh, hôm nay… tại hạ quả thực không động cựa chút nào!”
Tiểu đồng gật đầu khen ngợi: “Bàng sư đệ quả là tâm lực mạnh mẽ, bị phiến lá giắt vào sau gáy, mà sư đệ vẫn có thể nhẫn nhịn được!”
Bàng Quyên kinh ngạc: “Tại sao sư huynh lại biết?”
Tiểu đồng không trả lời, lại quay sang Trương Nghi: “Còn Trương sư đệ, trên người ngứa ngáy phải không? Sư đệ cố chịu đựng không gãi, cũng coi như có chút định lực!”
Trương Nghi kinh ngạc đến sững sờ, nhìn tiểu đồng, liên tục tặc lưỡi: “Đến việc trên người tại hạ ngứa ngáy mà sư huynh cũng biết, Trương Nghi phục rồi!”
Tiểu đồng lắc đầu, nói: “So với tiên sinh, sư huynh vẫn kém xa. Nếu như tiên sinh ở đây, đừng nói là chỗ ngứa trên người các vị, cho dù là suy nghĩ của các vị, tiên sinh cũng nhìn thấu!”
Nghe thấy vậy, bốn người đều trợn mắt kinh ngạc, không ai nói được lời nào.
Trương Nghi vội hỏi: “Trời ơi, đây chẳng phải là thuật tha tâm thông(2) trong truyền thuyết ư?”
Tiểu đồng liếc xéo hắn: “Cái gì mà tha tâm thông? Đây là đạo cảnh! Rất nhiều người muốn theo tiên sinh tu đạo, nhưng tiên sinh đều không thèm tiếp nhận. Lần này giữ bốn vị ở lại, lại còn cho sư huynh đây rèn luyện các vị, đúng là xưa nay chưa từng thấy. Nếu các vị không chịu khó luyện tập, để lỡ cơ duyên, sau này có hối hận cũng không kịp nữa!”
Trương Nghi đứng dậy, vòng tay vái tiểu đồng rồi nói: “Sư huynh giáo huấn rất đúng! Tại hạ nhất định sẽ theo sư huynh, chăm chỉ luyện tập, dốc sức thành tài, giúp sư huynh mở mặt!”
“Ngươi đúng là tên lẻo mép! Không phải là giúp sư huynh mở mặt, mà là giúp chính các vị! Cửa ải ngày hôm nay, coi như các vị đã miễn cưỡng vượt qua, ngày mai sẽ còn cửa ải khó khăn hơn nữa!”
Bắt đầu từ hôm đó, tiểu đồng ngày ngày dẫn họ vào rừng, thay đổi đủ các tư thế tĩnh toạ, mỗi ngày chỉ ăn một bữa cơm no. Hơn hai tháng sau, cơ thể cường tráng của bốn người đã gầy xọp đi trông thấy, nhìn từ xa, trông cũng đã phảng phất chút tiên phong đạo cốt. Còn về công phu tĩnh toạ, bốn người cũng đã rèn thành, mặc dù chưa thể đạt tới mức tâm tĩnh như gương, nhưng cũng có thể ngồi yên như đá, không động mảy may, gặp kinh không loạn.
Sáng hôm nay, tiểu đồng lại tiếp tục dẫn họ vào rừng. Bốn người vẫn như thường lệ, sau khi vào rừng, không nói nửa lời, chỉ âm thầm đi đến nơi thường ngày vẫn ngồi, sau đó chỉnh đốn y phục, rồi ngồi xuống nhập định.
Nhưng lần này tiểu đồng không ngồi theo, mà đứng tựa gốc cây, mắt nheo lại nhìn họ, rồi chậm rãi nói: “Chư vị hiền đệ!”
Nghe thấy tiếng nói, bốn người liền mở mắt ra, ngạc nhiên nhìn tiểu đồng.
Tiểu đồng cười hỏi: “Mọi người đã luyện tĩnh toạ hơn hai tháng rồi, cảm thấy thế nào?”
Bị hỏi bất thình lình, bốn người đều ngẩn tò te.
Bàng Quyên suy nghĩ một lát, rồi nói: “Hồi bẩm sư huynh, tại hạ đã có thể đạt đến độ toàn thân bất động.”
Tiểu đồng gật đầu nói: “Điểm này sư huynh đã sớm nhìn thấy, nhưng đây mới chỉ là bước đầu tiên. Nếu hôm nay, chư vị có thể tiếp tục toàn thân bất động, thì sư huynh xin được chúc mừng!” Nói đoạn, lấy từ trong túi ra một chiếc lọ nhỏ.
Bốn người đưa mắt nhìn, thấy trong lọ đựng đầy mật ong.
Tiểu đồng đổ mật ong ra tay, sau đó lần lượt bôi lên cổ chân, cổ tay, gáy và sau tai của bốn người.
Bốn người đều thất kinh. Lúc này đang giữa mùa thu, chính là thời điểm cuối cùng để lũ kiến, ong mật kiếm thức ăn dự trữ tha về tổ. Bôi mật ong lên người, hậu quả thế nào, không nghĩ cũng biết.
Trương Nghi mặt mày biến sắc, sợ hãi kêu lên: “Sư huynh, thế này mà bọn kiến kéo đến, chẳng phải sẽ nuốt sống chúng đệ ư?”
Tiểu đồng cũng bôi mật ong lên người mình, sau đó ngồi ngay ngắn trên đất, ném chiếc lọ rỗng sang một bên, mỉm cười mà nói: “Bốn vị sư đệ yên tâm, kiến chỉ ăn mật ong, không ăn thịt người!”
“Nhưng…” Bàng Quyên tiếp lời, “nếu ong vò vẽ kéo đến, chẳng phải sẽ còn thê thảm hơn ư?”
Tiểu đồng lại mỉm cười: “Bàng sư đệ, sư huynh nhớ có người từng nói, cho dù lưỡi dao kề cổ cũng không động cựa. Lẽ nào sư đệ lại sợ một con ong bé xíu?”
Bàng Quyên gân cổ: “Ai sợ? Tại hạ chẳng qua chỉ nói vậy thôi!”
“Chư vị hiền đệ,” tiểu đồng nói lớn, “chỉ cần tâm lặng như gương, không chút xao động, đừng nói là ong vò vẽ, cho dù mãng xà có đến, sư huynh đảm bảo mọi người vẫn bình an vô sự!”
Bốn người thấy tiểu đồng cũng bôi mật khắp người nên không dám nói gì thêm, lục tục ngồi xuống, chờ đợi các loại côn trùng đến hỏi thăm.
Hôm ấy vừa hay gặp ngày ấm áp. Lúc sáng sớm, vẫn chưa có chuyện gì, nhưng đến khi mặt trời lên, ánh nắng chiếu rọi khắp khu rừng, lũ côn trùng bắt đầu bận rộn. Lúc đầu, chỉ dăm con kiến bò đến, sau đó là vô vàn những kiến, chia quân mấy lộ, trật tự xếp hàng, tăm tắp bò lên từng cơ thể. Cho dù họ đã chuẩn bị tâm lý sẵn sàng, song cảm giác đó quả thật chẳng khác gì cực hình. Lại một lúc sau, quả nhiên ong rừng bay tới thật, những tiếng vo ve vụt qua vụt lại khiến họ lập tức quên phắt bầy kiến trên người, đầu óc căng như dây đàn, dõi theo kẻ thăm viếng có thân xác lớn hơn hẳn.
Đến khi mặt trời xuống núi, đám côn trùng cũng lũ lượt rút quân, bốn người đã có thể thở phào nhẹ nhõm.
Ngày hôm nay, cuối cùng cũng đã nhẫn nhịn qua được!
Tiểu đồng là người đầu tiên đứng dậy, cười khanh khách mà nói với bốn người: “Sư huynh chúc mừng các vị, cửa ải ngày hôm nay coi như đã vượt qua!”
Bàng Quyên đứng phắt ngay dậy, thọc vội cánh tay vào trong áo, sờ lần một lúc moi ra được một con kiến, vê mạnh ngón tay, bóp nó chết dí, giận dữ mắng: “Mẹ cha mày, định xây nhà ở đây chắc!”
“Xây nhà cái gì?” Trương Nghi phì cười. “E rằng cơ thể Bàng huynh quá nhiều chỗ khúc khuỷu quanh co, con kiến này lại lòng dạ thẳng thắn nên lạc đường cũng nên!”
Mọi người đều bật cười, Bàng Quyên cũng cười mà nói: “Trương huynh miệng lưỡi sắc bén, tại hạ khâm phục! Nhân tiện xin hỏi một câu, lúc trưa khi con ong vàng to đùng bay tới, nghe thấy tiếng nó vo ve lượn qua lượn lại, khi đó trong đầu nhân huynh đang nghĩ gì?”
Trương Nghi lập tức trả lời: “Cầu khấn!”
“Cầu khấn?” Bàng Quyên ngạc nhiên. “Thử nói xem, huynh cầu khấn thế nào?”
“Tại hạ cầu khấn rằng, này con ong lớn khiến người ta phát khiếp kia, nếu ngươi muốn hạ cánh, hãy hạ cánh xuống con người ngồi đối diện với ta ấy! Tên đó cơ thể cường tráng, da thịt dày dặn, nếu cái vòi của ngươi mà cắm xuống đó, chắc chắn sẽ sung sướng lắm!”
Trương Nghi mồm mép liến thoắng, mọi người đều cười nghiêng ngả, tiểu đồng cũng cười khanh khách, cười đến sặc sụa, vừa cười vừa đưa tay chống hông kêu lên oai oái. Bàng Quyên vừa cười, vừa bước lại gần, đưa tay vỗ nhẹ mấy cái vào lưng, thấy tiểu đồng đã đỡ tức thở, liền nhấc bổng tiểu đồng lên, xóc một cái đã vác luôn lên vai, nói: “Sư huynh đại nhân, hôm nay sư đệ thất lễ, cõng sư huynh về nhé!”
Vào lúc hoàng hôn, trong gian thảo đường ở Quỷ Cốc, Ngọc Thiền cầm cây kim bạc, châm từng nhát vào một quả mướp. Quỷ Cốc Tử bước ra khỏi động, đứng nhìn một lúc rồi đi lại gần, ngồi xuống trước bàn, gật đầu nói: “Thiền Nhi, lại đây!”
Ngọc Thiền bước lại bên bàn. Quỷ Cốc Tử vén tay áo, đặt cánh tay trái lên mặt bàn, mỉm cười nói: “Châm vào đây!”
Ngọc Thiền không ngờ Quỷ Cốc Tử lại đem thân thể ra cho mình châm thử, tay cầm kim run lên: “Tiên sinh, con…”
“Châm từ trên xuống, trước tiên châm huyệt Vân môn.”
Tay Ngọc Thiền càng run mạnh: “Con…”
Quỷ Cốc Tử nhìn thẳng vào Ngọc Thiền, khích lệ: “Thiền Nhi, đạo tạo hoá ra vạn vật, kỳ diệu nhất không gì bằng sinh mạng. Mà trong sinh mạng, kỳ diệu nhất không gì bằng con người. Hiểu người, không ai bằng thầy thuốc. Con chọn cách từ y nhập đạo, chừng đó cũng đủ thấy được huệ tâm của con. Từ y nhập đạo, không ở đọc sách, mà ở cảm ngộ. Những ngày qua, con đã đọc thuộc ‘Nội kinh’, nhưng ‘Nội kinh’ chỉ có thể dạy con y pháp, nếu muốn thực sự lĩnh ngộ được y đạo, thì phải đích thân thể ngộ. Chỉ châm lên quả mướp, con sẽ không thể ngộ được!”
Ngọc Thiền còn đang do dự, thì Quỷ Cốc Tử vỗ nhẹ vào tay mình, cười nói: “Yên tâm, bộ da già này không thể rách hỏng được đâu!”
Ngọc Thiền nhắm mắt lại, trấn tĩnh tinh thần, sau đó mở mắt ra, khẽ nói: “Tiên sinh, Thiền Nhi… Thiền Nhi sẽ châm thật đấy!”
“Châm đi, cứ coi nó là quả mướp!”
Ngọc Thiền tìm đúng vị trí huyệt Vân môn, thấy tiên sinh gật đầu, liền cắn răng đâm thẳng mũi kim xuống.
Quỷ Cốc Tử khen ngợi: “Tốt, châm tốt lắm, vị trí đúng rồi, hơi vê vào trong một chút, đúng rồi, đúng thế, vê như thế, hơi chếch sang trái một chút, chính là chỗ đó. Tốt, Thiền Nhi, huyệt Vân môn chính là chỗ này!”
Ngọc Thiền lo lắng hỏi: “Tiên sinh, có đau không?”
Quỷ Cốc Tử cười nói: “Con châm đúng huyệt, sao lại đau được?” Rồi ngước nhìn trời, bỗng đổi giọng. “Đáng lẽ họ phải trở về rồi chứ!”
Ngọc Thiền khẽ hỏi: “Tiên sinh, liệu họ có thể vượt qua được cửa ải hôm nay không?”
Quỷ Cốc Tử gật đầu.
“Tiên sinh để tiểu đồng giày vò họ như vậy, liệu có được không?”
“Có được hay không, còn phải xem cửa ải ngày mai thế nào. Nếu bốn người có thể vượt qua, thì có thể dạy được!”
Ngọc Thiền ngẫm nghĩ một lát, rồi ngẩng lên hỏi: “Tiên sinh, Thiền Nhi có chuyện không hiểu!”
“Nói đi!”
“Bốn người họ không có một ai đến vì tu đạo, nhưng tiên sinh lại bắt họ tu đạo, đây chẳng phải leo cây tìm cá hay sao?”
Quỷ Cốc Tử khẽ thở dài: “Họ lên núi này có phải để tu đạo hay không, chẳng lẽ lão hủ lại không nhận ra? Chỉ có điều… trong những ngày này, lão hủ đã suy nghĩ kỹ, cảm thấy lời của Tuỳ Sào Tử cũng không phải hoàn toàn sai!”
“Tuỳ Sào Tử?” Ngọc Thiền ngạc nhiên. “Tuỳ Sào Tử tiên sinh đã nói những gì?”
“Ông ta nói, sướng khổ của đời người tuy là tự nhiên, song chiến loạn tàn sát lại là nhân hoạ. Đã là nhân hoạ, phải có người trị. Hiện giờ thế đạo hỗn loạn, dân chúng lầm than, trái ngược với thiên đạo, cũng nên sớm kết thúc mới phải!”
Ngọc Thiền hai mắt mở to: “Tiên sinh, lẽ nào người muốn bốn người họ đi trị lý sự hỗn loạn của thế gian?”
“Còn phải xem họ có thành tài hay không!”
“Đã đủ ba tháng rồi, tiên sinh thấy họ liệu có thành tài được chăng?”
“Đương nhiên có thể nhìn ra! Họ đều là những viên ngọc thô rất đẹp, chỉ cần mài giũa chút ít là có thể thành tài. Còn về thành tài lớn nhỏ ra sao, phải dựa vào chính bản thân họ.”
“Ý tiên sinh là, thành tài lớn hay nhỏ, hoàn toàn phụ thuộc vào bản thân họ, vậy, điều đó được quyết định bởi thứ gì?”
“Quyết định bởi sự cảm ngộ về đạo. Ngộ được nhiều, có thể thành tài lớn; ngộ được ít, có thể thành tài nhỏ; không ngộ được, sẽ không thể thành tài.”
Ngọc Thiền lại hỏi: “Vậy nếu ngộ được hoàn toàn thì sao?”
Quỷ Cốc Tử cười nói: “Sẽ là bất khí!”
“Thế nào là bất khí?’
“Bất khí chính là người ngộ đạo, xưa gọi là thánh nhân, có thể thấu suốt bí mật của vạn vật, thông tỏ huyền cơ của trời đất.”
“Nói như vậy, thì tiên sinh đã trở thành bậc bất khí rồi!”
Quỷ Cốc Tử lắc đầu, khẽ thở dài: “Lão hủ khổ sở tìm kiếm cả đời, cũng chỉ vì muốn thành bậc bất khí. Nhưng đến nay vẫn thấy con đường phía trước xa vời vợi. Thời gian của ta không còn nhiều nữa, vốn muốn toàn tâm cầu đạo, thế nhưng việc trần gian vẫn không thể dứt bỏ hoàn toàn.”
Ngọc Thiền đột nhiên bừng tỉnh: “Chẳng trách tiên sinh một mực không nhận họ làm đệ tử, thì ra là vậy!”
“Đã là duyên phận, chính là thiên đạo, cho dù ta có muốn tránh, cũng chẳng thể tránh được.”
Ngọc Thiền trầm tư một lát, lại ngẩng lên hỏi: “Tiên sinh, Thiền Nhi có điều không hiểu, người thế gian phần nhiều là nham hiểm độc ác, mưu kế đa đoan, tiên sinh lại để bốn người họ thể ngộ đại đạo, lẽ nào đại đạo có thể ứng phó với những kẻ gian hiểm trong thế gian?”
“Đúng vậy!” Quỷ Cốc Tử gật đầu nói. “Người ta thường nói, một chính áp trăm tà, tức tà không thể thắng chính. Người có cơ tâm, phần lớn là phường tham lam danh lợi, lòng dạ hẹp hòi, không thể làm nên đại sự. Người làm nên đại sự, ngoài trừ bỏ cơ tâm, còn phải bồi dưỡng đạo tâm!”
“Ý của tiên sinh là bốn người này đều đã có cơ tâm, duy chỉ thiếu đạo tâm. Người để họ ngày ngày tu luyện, chính là để họ cảm ngộ được đại đạo, nuôi dưỡng đạo tâm!”
Quỷ Cốc Tử lại gật đầu: “Đúng vậy, cơ tâm là thuật, nếu không có đạo tâm chế ngự, thuật càng cao, hành vi lại càng lầm lạc, đến cuối cùng không những khó thành đại khí, mà e rằng muốn bảo vệ bản thân cũng khó. Trên đời có biết bao người mê đắm vì đó, mà tự rước hoạ vào thân, lại liên luỵ đến người khác!”
Vừa nói đến đây, đã thấy tiểu đồng nhảy chân sáo tung tăng chạy về, nhìn thấy Ngọc Thiền, thì hào hứng reo lên: “Chị Thiền Nhi, mấy vị sư đệ đều đã vượt qua cửa ải!”
Ngọc Thiền đáp: “Em vui mừng đến thế kia ư? Tiên sinh đã biết lâu rồi!”
Lúc này tiểu đồng mới biết Quỷ Cốc Tử cũng ở đây, vội bước tới trước mặt tiên sinh: “Tiên sinh, tiếp theo sẽ là cửa ải gì?”
“Dẫn họ lên đỉnh Hầu Vọng!”
“Tiểu đồng hiểu rồi!”
Sáng sớm hôm sau, tiểu đồng vẫn giống như mọi ngày, đi tới trước cửa nhà của bốn người, và bốn người cũng đã đợi sẵn ở đó. Thấy tiểu đồng vai khoác tay nải, Trương Nghi tươi cười chạy lên mấy bước, hành lễ xong bèn chỉ vào tay nải, hỏi: “Sư huynh, trong đây hẳn không phải đựng toàn mật ong đấy chứ?”
Tiểu đồng lắc đầu.
Trương Nghi tỏ vẻ thất vọng: “Tại sao không mang nữa? Cảm giác ngày hôm qua, ban đầu có hơi khó chịu thực, nhưng về sau cũng quen dần. Cuối cùng, tại hạ đã kết thân được với cả bầy kiến, khi chúng nhao nhao từ biệt, tại hạ thấy lưu luyến quá!”
Mọi người đều cười phá lên.
Tiểu đồng ngừng cười, nói: “Trương sư đệ, hôm nay sư huynh dẫn mọi người tới một nơi, đảm bảo vô cùng thú vị!”
Bàng Quyên vội hỏi: “Là nơi nào?”
“Đỉnh Hầu Vọng!”
Nghe thấy ba chữ “đỉnh Hầu Vọng”, Trương Nghi không nói thêm nửa lời, đùng đùng đi vào trong nhà, đeo thùng gỗ lên, phăm phăm đi trước.
Tiểu đồng nhìn theo Trương Nghi, cười hỏi: “Trương sĩ tử, định làm gì vậy?”
Trương Nghi đáp: “Không giấu sư huynh, tại hạ mong đợi ngày này đã lâu lắm rồi. Lần trước chưa trèo lên tới đỉnh, để họ Bàng nhanh hơn một bước, vẫn thấy ấm ức trong lòng. Lần này, tại hạ nhất định sẽ là người đầu tiên lên đến đỉnh núi, nhất định!”
Bàng Quyên đang định vặc lại, tiểu đồng đã nhắc nhở: “Đặt thùng xuống, mang thêm vài bộ quần áo. Thời hạn ba tháng đã đến, nếu các đệ không thể vượt qua cửa ải hôm nay, thì ngày mai lập tức xuống núi!”
Nghe tiểu đồng nói vậy, cả bốn người đều không dám nói gì thêm, cùng quay về phòng, gói ghém áo ấm giống như tiểu đồng, sau đó cùng đi về phía đỉnh Hầu Vọng.
Tiểu đồng đi trước dẫn đường, đưa bốn người đi theo hẻm núi mà lần trước Tôn Tân, Bàng Quyên đã đi để lên đỉnh Hầu Vọng. Nhìn vẻ thông đường thuộc lối của tiểu đồng, hiển nhiên tiểu đồng thường xuyên lên đỉnh núi này.
Lúc này đã cuối thu, trên đỉnh núi gió lạnh ào ào, giá buốt thấu xương. Năm người vừa lên đến đỉnh được chốc lát, cái nóng nực trong lúc leo núi nhanh chóng bị xua tan, ai nấy đều vội mở tay nải, lấy áo bông ra mặc vào.
Trương Nghi hỏi: “Xin hỏi sư huynh, phải chăng hôm nay sẽ tĩnh tọa ở đây?”
Tiểu đồng gật đầu.
Trương Nghi không nói một lời, vội tìm một nơi khuất gió, ngồi xuống. Đỉnh Hầu Vọng dù thế núi cao chót vót, nhưng đỉnh núi chỉ lớn bằng mấy căn nhà, lại gồ ghề nhấp nhô, Bàng Quyên nhìn khắp một vòng, quả thật chỉ có chỗ của Trương Nghi là lý tưởng nhất, vừa khuất gió lại an toàn, liên bật cười mà nói: “Trương nhân huynh, chỗ này nên nhường cho sư huynh mới đúng. Sư huynh còn chưa cất bước, mà huynh đã ngồi xuống trước rồi!”
Trương Nghi bật thẳng người dậy như con cá chép, nói: “Bàng huynh, nếu huynh muốn ngồi, tại hạ nhường cho là được, sao phải lôi sư huynh ra làm gì?”
Tiểu đồng cười nói: “Chỗ này chỉ để cho người thường ngồi, người tu đạo không thể ngồi!”
Trương Nghi cười vang mà nói: “Nghe sư huynh nói vậy, chỗ này có lẽ thích hợp với Bàng nhân huynh hơn!” Rồi quay sang Bàng Quyên. “Bàng huynh, mời!”
Trương Nghi chuyển từ thủ sang công, khiến Bàng Quyên tức giận đến đờ người, đang định nổi đoá thì tiểu đồng đã nói: “Không còn sớm nữa, hôm nay là cửa ải cuối cùng, nếu chư vị sư đệ có thể ngồi vững vàng được như mọi ngày, tiểu đồng sẽ bẩm báo thực tình với tiên sinh. Các vị đi hay ở, hoàn toàn do tiên sinh quyết định!”
Nghe thấy lời lẽ nghiêm khắc của tiểu đồng, bốn người không dám chần chừ, lập tức thu thần tĩnh khí.
“Nếu đã nói vậy, thì sư huynh, ngồi luôn tại đây đi!”
Bàng Quyên chủ động đi tới nơi đón gió, khoanh chân ngồi xuống.
Tiểu đồng nhìn Bàng Quyên: “Bàng sư đệ, mời đứng dậy!”
Bàng Quyên ngạc nhiên: “Không phải tĩnh toạ ở đây ư?”
“Đây không phải chỗ ngồi của người tu đạo!”
Bốn người đều kinh ngạc, Bàng Quyên vội đứng dậy, hai mắt ngơ ngác nhìn tiểu đồng: “Xin hỏi sư huynh, chúng ta ngồi ở đâu được?”
“Hãy đi theo ta!” Tiểu đồng nói đoạn, đi thẳng tới vách đá dựng đứng ở phía tây, đứng dưới cây tùng mà Bàng Quyên đã buộc dây leo hồi trước, chỉ vào mép vách đá. “Ngồi tại đây!”
Bốn người mặt cắt không còn hạt máu, đưa mắt nhìn nhau. Nơi này phía dưới trống không, nhìn từ xa giống như một cánh tay khổng lồ giơ ngang trên cơ thể tiên nhân. Đứng ở trên đó, ngay cả cây tùng lẻ phía dưới mấy trượng cũng không thể nhìn thấy, nguy hiểm thế nào, không nghĩ cũng biết.
Trương Nghi dè dặt đi tới chỗ tiểu đồng đang đứng, đưa tay bám vào cành tùng, thò đầu ngó xuống dưới, rồi vội rụt ngay cổ lại, kêu lên rối rít: “Trời ơi, hun hút nhìn không thấy đáy, ngộ nhỡ trượt chân rơi xuống, cho dù là viên đá cũng tan thành vụn cám. Mọi người ai thích ngồi cứ ngồi, tại hạ sợ độ cao, không ngồi đâu, không ngồi đâu!”
Bàng Quyên nhanh trí: “Có cách rồi! Để tại hạ đi tìm mấy sợi dây leo, một đầu buộc vào lưng, một đầu buộc vào cây, nếu chẳng may rơi xuống, cũng không đến nỗi mất mạng!”
“Phải đấy!” Trương Nghi khen. “Đúng là một ý hay! Bàng huynh, tại hạ sẽ cùng huynh đi kiếm dây leo!”
Tiểu đồng cười nhạt nhìn họ, rồi quay sang Tô Tần và Tôn Tân: “Hai người có muốn buộc dây không?”
Tôn Tân trả lời: “Tôn Tân xin nghe sư huynh sắp đặt!”
Tiểu đồng gật đầu, lại nhìn thẳng vào Tô Tần: “Tô sư đệ, tại sao sư đệ không lên tiếng?”
Tô Tần liền di chuyển, bước từng bước tới bên mép vực, ngồi xuống tại chỗ chỉ cách mép vực một bước chân, rồi khép mắt ngâm nga: “Sư huynh, chỗ này được chăng?”
Tiểu đồng quay sang Tôn Tân: “Tôn sư đệ, cũng ngồi đi!”
Tôn Tân đi tới bên cạnh Tô Tần, khoanh chân ngồi xuống.
Không đợi tiểu đồng lên tiếng, Bàng Quyên cũng vội vàng bước tới, ngồi ngay xuống bên cạnh Tôn Tân. Trương Nghi thấy vậy, cũng bước lại ngồi sát Tô Tần.
Tiểu đồng cười hỏi: “Trương sư đệ, chẳng phải sư đệ sợ độ cao ư?”
Trương Nghi cười hì hì mà nói: “Hồi bẩm sư huynh, đó chỉ là chuyện lúc nhỏ!”
Tiểu đồng bật cười: “Đệ lớn nhanh thật đấy!” Rồi quay sang Bàng Quyên. “Bàng sư đệ, đệ không buộc dây nữa ư?”
“Hồi bẩm sư huynh, Trương sĩ tử có chứng sợ độ cao, tại hạ lo lắng hắn bị ngã xuống dưới, nên mới định đi chặt dây leo để buộc hắn lại!”
Trương Nghi cười nhạt: “Họ Bàng kia, ngươi muốn buộc thì cứ buộc, sao phải đổ lên đầu bản thiếu gia?”
Bàng Quyên đang định vặc lại, thì tiểu đồng đã bắt chước giọng điệu của Quỷ Cốc Tử, khẽ thở dài một tiếng: “Than ôi, xem bụng dạ của các ngươi kìa, sao có thể thành đại khí được đây?”
Bàng Quyên lời ra đến miệng, lại đành phải nuốt xuống họng, chỉnh trang quần áo, rồi khép mắt lại. Bốn người không ai lên tiếng, tất cả đều nhắm mắt tĩnh toạ. Thấy mọi người đều đã ngồi yên, tiểu đồng bèn chậm rãi nói: “Các vị sư đệ, hãy mở mắt ra, dịch về phía mép vực thêm nửa bước.” Mọi người nghe mà hãi hùng, song tất cả vẫn mở mắt, dè dặt dịch về phía trước nửa bước, rồi lại vội vàng nhắm mắt lại.
Được một lát, tiểu đồng lại nói: “Các vị sĩ tử, nhích thêm nửa bước!”
Bốn người chỉ đưa mắt nhìn nhau, một lúc sau, Tô Tần mới bạo gan tiếp tục nhích thêm nửa bước về phía mép vực. Ba người thấy vậy, cũng đều bấm bụng nhích theo.
Tiểu đồng hài lòng, gật đầu nói: “Tốt lắm, chỉ cần nhích thêm một chút nữa là được rồi!”
Nhưng mọi người không ai dám động cựa.
Bàng Quyên cuống quýt: “Sư huynh, đã… đã đến tận mép rồi, nếu nhích thêm một chút xíu, sẽ rơi xuống mất!”
“Các vị sư đệ, hãy nhìn đây!” Tiểu đồng thoăn thoắt bước tới mép vực, khoanh chân ngồi xuống ngay bên mép, hai đùi thò hẳn ra ngoài, từ xa nhìn lại, trông hệt như đang ngồi giữa không trung.
Sau khi ngồi ổn định, tiểu đồng khép hờ hai mắt, chậm rãi nói: “Làm như ta đây, khép hờ hai mắt, quên đi vực thẳm trước mặt, tưởng tượng mình vẫn ngồi dưới gốc cây như mọi ngày. Tâm có vững thì cơ thể mới vững. Tâm vững bao nhiêu, cơ thể sẽ vững bấy nhiêu. Nếu tâm vững tựa Thái Sơn, các đệ ngồi ở đây, cho dù có gió dữ mưa dông cũng chẳng thể lay động nổi!”
Đây là những lời mà Quỷ Cốc Tử đã nói với tiểu đồng khi lần đầu tiên dẫn tiểu đồng đến tĩnh toạ ở nơi này, tiểu đồng nhắc lại không sót một chữ. Bốn người nghe mà tâm phục khẩu phục, không ai nói thêm nửa lời, lập tức bắt chước của tiểu đồng, nhích lên cho hai đùi thò hẳn ra ngoài không trung.
Kể cũng lạ, bốn người sau khi hạ quyết tâm, lại không cảm thấy sợ hãi nữa, cứ thế ngồi lửng lơ bên mép vực suốt hai canh giờ.
Tiểu đồng liếc nhìn bốn người, thấy sắc mặt họ không còn vẻ sợ hãi, dáng điệu điềm nhiên, biết rằng họ đã nhập định. Tiểu đồng khẽ thở phào, đứng dậy rồi nói: “Chư vị hiền đệ, hãy đứng dậy đi!”
Lúc này, bốn người mới sực nhớ ra mình đang ngồi trên mép vực, thì không ai dám liều lĩnh, tất cả đều từ từ nhích về phía sau từng chút một, lùi đến tận vị trí an toàn, mới dám lật người bò dậy.
Trương Nghi giận dỗi hỏi: “Sư huynh, tại hạ vừa mới nhập định, đang định ngồi tới khi trời tối, tại sao đã bảo đứng dậy rồi?”
Tiểu đồng ngước mắt nhìn trời: “Chắc hẳn tiên sinh đang đợi ở nhà, lẽ nào các vị muốn bắt tiên sinh đợi lâu?”
Ba tháng nay, tiên sinh luôn tránh mặt không gặp, bốn người suýt chút nữa đã quên bẵng mất tiên sinh. Giờ nghe tiểu đồng nhắc đến, đều không khỏi kinh ngạc.
“Tiên sinh đợi chúng đệ ư?” Trương Nghi bước lên trước, hai mắt mở to. “Sư huynh, ý huynh là, tiên sinh muốn gọi chúng đệ đến?”
Tiểu đồng gật đầu.
Bốn người đưa mắt nhìn nhau, Bàng Quyên thấp thỏm bất an, hỏi: “Sư huynh, tiên sinh… chắc sẽ không đuổi chúng đệ xuống núi nữa chứ?”
Tiểu đồng nói: “Sáng sớm hôm nay tiên sinh đã dặn, nếu các vị có thể ngồi trên mép vực hai canh giờ mà sắc mặt không đổi, coi như đã qua cửa ải, có thể quay về hành lễ bái sư. Hai canh giờ đã trôi qua, sư huynh chúc mừng chư vị!”
Nghe đến đây, bốn người vừa kinh ngạc vừa vui sướng, nhất thời ngây sững, một lúc sau mới dám tin là sự thực, cả bốn đều nghẹn ngào đến ứa nước mắt, xúc động khôn xiết.
Tôn Tân bước lên, quỳ xuống trước mặt tiểu đồng, lạy liền ba lạy, rồi thành tâm nói: “Sư huynh, Tôn Tân đa tạ sư huynh!”
Tô Tần, Trương Nghi, Bàng Quyên thấy vậy, cũng nhớ đến sự cực khổ của tiểu đồng suốt ba tháng vừa qua, tất cả đều quỳ xuống lạy tiểu đồng ba lạy. Tiểu đồng nhất thời không kịp phản ứng, chỉ đứng như trời trồng. Sau khi định thần, tiểu đồng cũng vội vàng quỳ xuống, rối rít kéo họ dậy, nói: “Chư vị sĩ tử, các vị hành đại lễ như vậy, tiểu đồng làm sao dám nhận? Các vị muốn bái, thì hãy mau về bái tiên sinh!”
Giữa trưa, trong gian thảo đường của Quỷ Cốc Tử, không khí hết sức trang nghiêm. Hai cánh cửa gỗ khép hờ, Tô Tần, Trương Nghi, Bàng Quyên, Tôn Tân, Ngọc Thiền năm người xếp thành một hàng, quỳ ở ngoài cửa chờ đợi.
Tiểu đồng đứng bên cửa, sắc mặt nghiêm nghị.
Tại gian chính của thảo đường, trên tường treo bức đồ hình âm dương bát quái cỡ lớn, trên bàn đặt bài vị của bốn vị Hiên Viên Đế, Chu Văn Vương, Lão Đam, tiên sư Quan Doãn Tử.
Quỷ Cốc Tử tự tay thắp ba nén hương, cắm vào lư đồng phía trước bài vị, quỳ xuống bái lạy: “Đệ tử Vương Hủ khấu bái tiên thánh, tiên sư, khẩn cầu tiên thánh, tiên sư lắng nghe đệ tử tỏ bày!” Nói đoạn, lạy liền ba lạy, nhắm mắt lầm rầm. “Tiên thánh, tiên sư từng nói, sống chết, hưng vong, hoạ phúc, sướng khổ, tất cả đều là cái đạo tự nhiên, sức người không thể cưỡng cầu, đệ tử vẫn luôn coi là chân lý. Suốt mấy chục năm nay, đệ tử ở trong Quỷ Cốc, không màng tới thời thế loạn lạc, chỉ đứng ngoài nhìn chuyện phân tranh, ngày ngày tu thân dưỡng tính, khắc khắc thể ngộ thiên đạo vô thường, thế đạo biến ảo, những mong có thể đạt tới cảnh giới tự giác tự ngộ. Vậy mà, cây muốn lặng mà gió chẳng dừng, thiên hạ ngày càng hỗn loạn, trăm họ khổ cực lầm than, lại được lão bằng hữu Tuỳ Sào Tử thường xuyên vào núi giảng giải, khuyên bảo đệ tử. Đệ tử biết rõ, người tính chẳng bằng trời tính, thu nhận bốn người chính là tham niệm. Nhưng trời đất nhật nguyệt chứng giám, cái tâm của đệ tử chẳng mong cầu gì khác, chỉ mong sớm ngày chấm dứt cảnh liệt quốc phân tranh, nhân gian thanh bình, bách tính an cư lạc nghiệp! Quyết định của đệ tử lần này, nếu là hồ đồ, không tự lượng sức, dám mong tiên thánh lượng thứ! Ngọc Thiền chất thuần tính khiết, thông tuệ mẫn tiệp, giống như tiểu đồng, chính là nhân tài tu đạo trời sinh, đệ tử lưu lại nơi đây, hôm nay cũng đồng thời thu nhận!”
Quỷ Cốc Tử khấn xong, lại lạy ba lạy, rồi chậm rãi đứng dậy, ngồi xuống chiếu phía trước bài vị, quay sang nói với tiểu đồng: “Cho họ vào!”
Tiểu đồng dõng dạc hô: “Các vị sĩ tử, Ngọc Thiền, tiên sinh mời vào!”
Ngọc Thiền đi trước, Tô Tần, Trương Nghi, Tôn Tân, Bàng Quyên lần lượt đi sau, cùng tiến vào trong. Tiểu đồng bước lại, đứng hầu ở bên trái Quỷ Cốc Tử.
Năm người bước tới trước mặt Quỷ Cốc Tử, cùng dập đầu sát đất, đồng thanh nói: “Đệ tử khấu kiến tiên sinh!”
Quỷ Cốc Tử đặng hắng một tiếng, ôn tồn nói: “Ngọc Thiền, Tô Tần, Trương Nghi, Tôn Tân, Bàng Quyên, lão hủ hỏi các ngươi, có tình nguyện cùng ta ở trong cốc này, cảm ngộ đại đạo hay không?”
Năm người cùng lạy mà nói: “Đệ tử nguyện bái tiên sinh làm sư phụ, theo tiên sinh cảm ngộ đại đạo!”
Quỷ Cốc Tử nói: “Năm người các ngươi có lòng tu đạo, đã trải qua nhiều tháng thử thách, cũng đã là đạo khí. Nay lão hủ thuận theo ý trời, chính thức thu nhận năm người các ngươi làm đệ tử cùng với tiểu đồng, giờ lập tức hành lễ bái sư!”
Năm người lại bái lạy: “Đệ tử đa tạ đại ân của tiên sinh!”
“Sáu người các ngươi đã là đệ tử đồng môn, hãy căn cứ vào thời gian lên núi để sắp xếp thứ tự. Tiểu đồng lên núi sớm nhất, sẽ là sư huynh, Ngọc Thiền thứ hai, là sư tỷ, sau đó đến Tô Tần, Trương Nghi, Tôn Tân, Bàng Quyên!
“Đệ tử tuân mệnh sư phụ!”
Quỷ Cốc Tử quay sang tiểu đồng: “Tiểu đồng, cho hành lễ đi.”
Tiểu đồng hô lớn: “Sư muội, chư vị sư đệ, lễ bái sư bắt đầu! Nhất bái thiên đạo!”
Quỷ Cốc Tử chậm rãi đứng dậy, quay người lại, quỳ xuống trước đồ hình âm dương bát quái, hành lễ ba lạy chín dập đầu. Tiểu đồng, Ngọc Thiền và bốn người còn lại cũng làm theo tiên sinh, cùng hành đại lễ.
Tiểu đồng hô tiếp: “Nhị bái tiên thánh, tiên sư!”
Quỷ Cốc Tử và chúng đệ tử tiếp tục khấu bái bốn bài vị trên án.
Bái bài vị xong, tiểu đồng lại hô: “Tam bái ân sư!”
Quỷ Cốc Tử đứng dậy, chỉnh trang y phục, rồi ngồi xuống trước bài vị.
Năm đệ tử cùng khấu bái trước mặt Quỷ Cốc Tử, hành đại lễ ba lạy chín dập đầu. Lạy xong, cùng đồng thanh thề: “Tiên thánh, tiên sư ở trên, đệ tử nguyện làm môn sinh của Quỷ Cốc tiên sinh, bái tiên sinh làm sư phụ. Bắt đầu từ hôm nay, sẽ vứt bỏ mọi tạp niệm, theo tiên sinh tu thân dưỡng tính, một lòng hướng đạo. Nếu trái lời thề, trời đất không dung!”
Quỷ Cốc Tử nói lớn: “Tiên thánh, tiên sư ở trên, bắt đầu từ hôm nay, Vương Hủ sẽ thuận theo ý trời, thu nhận năm người Ngọc Thiền, Tô Tần, Trương Nghi, Tôn Tân, Bàng Quyên làm đệ tử, đôn đốc họ tu thân ngộ đạo, thành tựu chính quả!” Rồi đưa mắt nhìn khắp lượt năm người. “Chúng đệ tử, nghi lễ đã kết thúc, các con hãy lại đây!”
Năm người đa tạ, chuyển từ quỳ sang ngồi, cũng ngồi xếp bằng giống như Quỷ Cốc Tử.
Quỷ Cốc Tử nhìn họ một lượt, mỉm cười nói: “Các con đã đến đây để giác ngộ đại đạo, vậy ta sẽ hỏi một câu, đạo là gì?”
Bốn người đưa mắt nhìn nhau, không ai dám nói trước.
Ngọc Thiền vòng tay nói: “Hồi bẩm tiên sinh, tiên thánh Lão Đam có nói: ‘Có một vật hỗn độn mà nên, sinh trước trời đất. Yên lặng, trống không, đứng một mình mà chẳng thay, đi khắp nơi mà không mỏi, có thể làm mẹ thiên hạ. Ta không biết tên, miễn cưỡng đặt tên là Đạo, miễn cưỡng gọi nó là Lớn.’ Cái đạo mà tiên sinh nói, phải chăng cũng giống như vậy?”
“Đây là lời của tiên thánh, lão hủ muốn hỏi, con có biết đạo là gì chăng?”
Ngọc Thiền lắc đầu.
Quỷ Cốc Tử lại quay sang phía bốn người: “Bốn người các con, có ai biết không?”
Trương Nghi nói lớn: “Bẩm tiên sinh, đạo là hỗn độn!”
Quỷ Cốc Tử mỉm cười: “Còn gì nữa không?”
“Đạo là âm dương!”
Quỷ Cốc Tử lại mỉm cười: “Còn gì nữa không?”
Trương Nghi há miệng định nói, nhưng lại ngậm lại.
Bàng Quyên đảo mắt một vòng, tiếp lời: “Đạo là mơ hồ, là như có như không!”
“Còn gì nữa không?”
Bàng Quyên cũng không trả lời được tiếp.
Quỷ Cốc Tử quay sang hỏi Tô Tần: “Tô Tần, con có biết chăng?”
Tô Tần lắp bắp: “Đệ… đệ tử không biết!”
“Tôn Tân, con có biết chăng?”
Tôn Tân suy nghĩ một lát, rồi lắc đầu: “Hồi bẩm tiên sinh, đệ tử không biết!”
Quỷ Cốc Tử cười vang: “Năm người các con đến đây để ngộ đạo, nhưng lại có ba người không biết đạo là gì, hai người nói biết, nhưng chỉ là bề ngoài, chỉ là nhai lại lời của người khác, không phải đích thân thể ngộ!”
Quỷ Cốc Tử nói xong, Trương Nghi, Bàng Quyên đều đỏ mặt, cúi gằm đầu xuống không nói năng gì.
Ngọc Thiền ngẩng lên hỏi: “Đệ tử ngu muội, xin tiên sinh chỉ dạy!”
“Đạo là huyền cơ của thiên địa, là khởi nguồn của vạn vật, tiên thánh gọi nó là Không.”
Trương Nghi hỏi: “Xin hỏi tiên sinh, đạo đã là Không, vậy đệ tử phải bắt đầu cảm ngộ từ đâu?”
“Hỏi rất hay! Mặc dù là Không, song có thể sinh Có. Vạn vật đều do đạo sinh ra, đây chính là cái lý trong lời nói của tiên thánh, đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh vạn vật.”
Bàng Quyên nói xen vào: “Xin hỏi tiên sinh, đạo đã là Không, vậy chúng con phải tìm kiếm ở đâu? Nếu tìm không thấy, thì phải cảm ngộ như thế nào?”
“Hỏi rất hay!” Quỷ Cốc Tử trả lời. “Đông Quách Tử người Tống gặp Trang Tử, Đông Quách Tử bèn nói, xin hỏi tiên sinh, đạo ở đâu. Trang Tử đáp, đạo có ở mọi nơi. Đông Quách Tử muốn Trang Tử chỉ rõ, Trang Tử bèn chỉ vào một đàn kiến, nói, đạo ở đây. Đông Quách Tử ngạc nhiên hỏi, tại sao đạo lại nhỏ bé đến thế. Trang Tử bèn chỉ vào đám cỏ dại bên cạnh nói, cũng ở đây. Đông Quách Tử kinh ngạc, Trang Tử lại tiếp tục chỉ tay vào đống gạch vụn bên cạnh nói, ở đây nữa. Đông Quách Tử không tin, hỏi rằng, tại sao tiên sinh càng nói càng thái quá vậy. Chưa đợi Đông Quách Tử dứt lời, Trang Tử lại chỉ tay vào bãi phân bên cạnh nói, nhìn xem, đạo ở đó.”
Ngọc Thiền đột nhiên bừng tỏ: “Ý tiên sinh là, vạn vật đều do đạo sinh ra, đạo cũng có trong vạn vật. Vạn vật có ở khắp nơi, đạo cũng có ở khắp nơi. Chúng ta nếu muốn ngộ đạo, thì phải bắt đầu từ cảm ngộ vạn vật?”
Quỷ Cốc Tử khen ngợi: “Nói hay lắm! Vạn vật trên thế gian đều do đạo sinh ra. Đã là do đạo sinh ra, tức bên trong vạn vật cũng có đạo, vì vậy cái lý của vạn sự vạn vật cũng chính là cái lý của đạo. Gọi là ngộ đạo, chính là rèn luyện một cặp huệ nhãn, từ cái lý của việc này để thấy được cái đạo của nó, lại từ cái đạo đó mà thấy được cái đạo khác, cứ tầng tầng mà suy ra, cuối cùng sẽ thấy được đạo. Tu luyện càng cao thâm, huệ nhãn càng sắc bén, quan sát càng thấu suốt, đích đến cũng càng gần lại.”
Bàng Quyên như đã ngộ ra ít nhiều, phấn khởi vỗ đùi đánh đét, nói lớn: “Tiên sinh, đệ tử đã biết đạo rồi!”
Thấy Bàng Quyên “biết” nhanh như vậy, mọi người đều không khỏi kinh ngạc, đưa ánh mắt ngỡ ngàng nhìn hắn.
Quỷ Cốc Tử cũng quay sang nhìn Bàng Quyên, mỉm cười mà nói: “Ngộ đạo có bốn loại cảnh giới, thứ nhất là nghe đạo, thứ hai là thấy đạo, thứ ba là biết đạo, thứ tư là đắc đạo. Trọng Ni người nước Lỗ thời Xuân Thu nghe đạo, nhưng không biết tại sao nó lại như thế, nên đã không quản ngại khó nhọc, đi đến Lạc Dương để hỏi tiên thánh Lão Đam. Tiên thánh luận đạo ba ngày, Trọng Ni hiểu được, giác ngộ ra cái lý của đời người, rồi lập nên học thuyết Nho gia. Từ đó có thể thấy, hai chữ ‘biết đạo’ thực chẳng tầm thường!”
Mặc dù Quỷ Cốc Tử không một lời trách mắng, nhưng Bàng Quyên mặt mũi đỏ bừng, cúi gằm mặt xuống.
Tôn Tân bèn hỏi: “Xin hỏi tiên sinh, vạn vật trên thế gian nhiều không kể xiết, đệ tử phải bắt đầu cảm ngộ từ đâu?”
Quỷ Cốc Tử gật đầu nói: “Hỏi hay lắm! Dựa vào thể ngộ của lão hủ, các con có thể bắt đầu từ những sự việc mình ưa thích nhất. Có ưa thích, mới có thể giác ngộ sâu sắc. Nói đến đây, hôm nay cũng là một cơ duyên, các con hãy nói ra chí nguyện của mình, lựa chọn phương pháp nhập đạo yêu thích nhất. Sư phụ đây cũng lựa theo từng người mà dạy dỗ, giúp các con sớm ngày ngộ đạo. Thiền Nhi, con nói trước đi.”
Ngọc Thiền nói: “Hồi bẩm tiên sinh, đệ tử rất thích y học, nguyện từ y nhập đạo, mong tiên sinh thành toàn!”
Quỷ Cốc Tử gật đầu nói: “Tốt lắm! Tô Tần, con muốn nhập đạo từ đâu?”
Tô Tần chưa từng nghĩ tới chuyện này, nhất thời ngẩn ra, ngẫm nghĩ hồi lâu mới ngâm nga: “Đệ… đệ tử không biết, mong tiên sinh chỉ điểm!”
“Con thích gì nhất?”
Tô Tần càng luống cuống: “Đệ… đệ tử…”
Quỷ Cốc Tử thấy Tô Tần cứ ấp úng, liền đổi cách hỏi khác: “Con có mong muốn gì?”
Tô Tần suy nghĩ một lát, rồi ngâm: “Đệ tử có tật nói lắp, nếu có thể nói năng trôi chảy lưu loát, đã thấy mãn nguyện lắm rồi!”
Quỷ Cốc Tử gật đầu nói: “Đây cũng là một nguyện vọng, con có thể học cái đạo nói năng, nhập đạo từ cái học miệng lưỡi.”
“Đệ tử tuân mệnh!”
Quỷ Cốc Tử đưa mắt nhìn Trương Nghi. Không đợi tiên sinh hỏi đến, Trương Nghi đã hỏi trước: “Xin hỏi tiên sinh, thế nào là cái học miệng lưỡi?”
“Cái học miệng lưỡi chính là cái học bài hạp, tức mở miệng và khép miệng.”
Trương Nghi hai mắt mở to: “Mở miệng khép miệng cũng có học vấn ư?”
“Đương nhiên!”
Trương Nghi ngẫm nghĩ một lát rồi nói: “Tiên sinh, đệ tử từ nhỏ lắm mồm lắm miệng, nguyện theo Tô huynh, bắt đầu nhập đạo từ cái học miệng lưỡi!”
Quỷ Cốc Tử gật đầu, quay sang Tôn Tân: “Tôn Tân, con muốn nhập đạo từ đâu?”
“Binh học có được chăng?”
“Binh học cũng là học vấn, đương nhiên là được!”
Bàng Quyên mừng rỡ, vội nói: “Tiên sinh, đệ tử cũng theo Tôn huynh, nhập đạo từ binh học!”
Quỷ Cốc Tử gật đầu, đưa mắt nhìn chúng đệ tử một lượt, sau đó nói rành rọt: “Tốt, các con mỗi người đều có chí riêng, đã tìm được cánh cửa nhập đạo, trong lòng lão hủ cũng có tính toán. Học vấn trong thiên hạ, mỗi thứ có đặc sắc riêng, học đến cùng cực, đều thông với đạo, đây gọi là khác đường mà cùng đích. Cái thuật học vấn, vạn thuật đều quy về đạo. Y học, binh học, cái học miệng lưỡi, bên trong vừa có cái thuật cơ xảo, lại vừa có cái đạo thống ngự. Thuật do đạo chế ngự, cũng do đạo sử dụng. Nói cách khác, thuật là lưỡi sắc, đạo là cội cán. Nếu chỉ học thuật mà không ngộ được đạo, cuối cùng sẽ tự rước hoạ vào thân.”
Bàng Quyên há hốc miệng mà nghe, song vẫn không hiểu, bèn hỏi: “Ý tiên sinh là, trong binh học cũng chia thành thuật, đạo?”
“Đương nhiên! Bất cứ học vấn nào cũng được chia thành thuật và đạo. Ví dụ như binh học, cái thuật dụng binh nằm ở chiến thắng, cái đạo dụng binh nằm ở kết thúc chiến tranh. Nên người giỏi dụng binh sẽ không hiếu chiến, cái đạo dụng binh nằm ở chỗ không đánh mà khuất phục được quân địch, ở chỗ biến can qua thành ngọc lụa, dùng bốn lạng thắng ngàn cân.”
Trương Nghi nghe đến ngẩn người, vội hỏi: “Xin hỏi tiên sinh, thế còn cái học miệng lưỡi?”
“Cái học miệng lưỡi cũng có thuật có đạo. Thuật miệng lưỡi nằm ở chế ngự người, đạo miệng lưỡi nằm ở phục tâm!”
“Phải phục tâm như thế nào?”
“Miệng là cánh cửa của tâm, tâm là cánh cửa của thần, nếu có được thiện ngôn, sẽ thông được tới tâm thần, mà có thể phục tâm.”
“Ý tiên sinh là, chỉ cần giỏi nói năng, sẽ phục được tâm?”
“Không đúng, giỏi nói năng chưa chắc đã là thiện ngôn!”
“Thế nào là thiện ngôn?”
“Người thiện ngôn, lời nói trôi chảy lưu loát, trích dẫn phong phú sinh động, có thể khiến người ta muốn cái họ không muốn, làm điều họ không thích làm. Không nói thì thần trí an định như núi, thế như tên trên cung căng, có thể khiến người ta tâm thần bất an, giống như rơi xuống từ năm dặm mây mù. Đây gọi là không nói mà như nói, vô thanh thắng hữu thanh.”
Tô Tần nói xen vào: “Đệ tử hiểu rồi, thiện ngôn chính là biết lúc nào nên nói, lúc nào không nên nói!”
“Chính phải!”
Trương Nghi lại hỏi: “Làm thế nào mới biết lúc nào nên nói, lúc nào không nên nói?”
“Ngộ đạo! Chỉ có ngộ đạo mới có thể chế ngự được miệng lưỡi, đạt đến độ biết được lúc nào nói, lúc nào không nên nói!”
“Ồ, bên trong thuật miệng lưỡi cũng có học vấn lớn lao đến vậy, Trương Nghi phục rồi!”
Nghe Trương Nghi nói vậy, mọi người đều bật cười.
Thầy trò mấy người hết hỏi lại đáp, trò chuyện thêm một lúc nữa, rồi Quỷ Cốc Tử đưa mắt nhìn chúng đệ tử: “Không còn sớm nữa, các con hãy mau đi nghỉ! Ở trong động có một thư viện, bảo quản được một vài cuốn sách, đều nói về thể nghiệm ngộ đạo của tiên thánh, tiên hiền. Bắt đầu từ ngày mai, các con hãy tới đó tự chọn sách mà đọc, từ từ thẩm đạo.”
Năm người đứng dậy, cúi đầu mà nói: “Đệ tử xin vâng!”
Trải qua bao lần thất vọng, tuyệt vọng, qua ba tháng thử thách gian nan, quanh quẩn đường vòng, bốn người giờ đột nhiên khổ tận cam lai, không những trở thành đệ tử chính thức của Quỷ Cốc Tử, mà còn toại nguyện mong muốn bình sinh, quả là hệt như một giấc chiêm bao.
Từ thảo đường đi ra, cho dù ai nấy đều vui mừng khôn xiết, song cả bốn người đều khác hẳn ngày thường, cứ im lặng đi thẳng về phòng mình. Ngay cả Bàng Quyên, Trương Nghi cũng cúi đầu lầm lũi bước đi, không còn vẻ hớn hở như mọi bữa.
Bên tai họ vẫn văng vẳng lời nói của Quỷ Cốc Tử, cũng đang tự mình nghiền ngẫm từng lời Quỷ Cốc Tử đã nói.
Trở về nhà cỏ, ai nấy đều quay vào phòng riêng. Được một lúc, Trương Nghi liền sang phòng Tô Tần, thấy Tô Tần đang nằm lặng trên giường, thì chần chừ một lát rồi tìm chỗ ngồi xuống. Tô Tần cũng chẳng để ý đến, có vẻ đang mải miết suy nghĩ chuyện gì.
Trương Nghi không nhịn thêm được nữa, khẽ đặng hắng một tiếng rồi gọi: “Tô huynh…”
Tô Tần ngoảnh đầu nhìn.
Trương Nghi khẽ thở dài: “Than ôi, chuyện ngày hôm nay, Trương Nghi thực sự phục rồi!”
Tô Tần vốn nghĩ Trương Nghi sẽ nói ra lời gì kinh động lắm, hoá ra chỉ là lời này, liền quay mặt đi luôn.
Trương Nghi bước tới bên giường, lật Tô Tần lại, nói: “Tô huynh, huynh có nghe thấy không?”
“Nghe thấy rồi!”
Trương Nghi lại cất giọng thán phục: “Huynh nói xem, tiên sinh uyên thâm tới nhường nào?”
Tô Tần ngồi dậy, ngẩng đầu nhìn Trương Nghi.
Trương Nghi chép miệng liền mấy cái: “Vừa rồi, cuối cùng thì đệ cũng đã hiểu ra, tiên sinh ngoài miệng tuy đuổi chúng ta xuống núi, nhưng kỳ thực từ lâu trong lòng đã tiếp nhận chúng ta. Tiên sinh làm như vậy, là cố tình muốn thử thách chúng ta. Hôm nay nghĩ lại, mới biết những thử thách đó chính là để giáo huấn chúng ta, rèn giũa chúng ta thành tài!”
“Đúng vậy!” Tô Tần cũng cảm thán.
“Đáng lắm! Đời này Trương Nghi có thể bái tiên sinh làm sư phụ, đáng lắm, đáng lắm! Ha ha!”