Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 95 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 93
Ứng lời nguyền, nước Tần đại biến
Mưu Trung Sơn, vua Triệu xuất binh

❊ ❊ ❊

Tô Tần từ biệt Hoài Vương, theo sau Khuất Bình, hối hả đi ra cổng miếu.

Vào khoảnh khắc băng qua cổng miếu, bước chân Tô Tần bất chợt ngập ngừng.

Tô Tần ngoảnh lại, từ từ dịch chuyển ánh mắt, nhìn về phía đài hành hình tận đằng xa.

Tô Tần vốn dĩ không nỡ ngoảnh nhìn, song thời khắc này, nếu không nhìn sẽ chẳng còn cơ hội nào để nhìn nhau nữa.

Nội doãn đã truyền chỉ dụ của Hoài Vương cho miếu doãn, nhưng miếu doãn vẫn chưa tuyên chiếu.

Trương Nghi vẫn bị trói trên cột hành hình, hai mắt khép chặt.

Phần vì khoảng cách quá xa, phần vì hàng trăm người xem chắn mất tầm mắt, Tô Tần nhìn không rõ, lại vô thức tiến lên vài bước, đứng ở phía sau đám đông, ánh mắt lách qua khe hẹp giữa trập trùng đầu người mà nhìn lên đài hành hình.

Giờ Thìn đã điểm từ lâu, trên đài hành hình, hai đạo phủ liên tục ngó nghiêng, sắc mặt đầy vẻ băn khoăn. Điệu vu vũ vẫn đang tiếp diễn, người chờ xem dưới đài bắt đầu bàn tán xì xầm.

Đúng vào lúc này, thái miếu doãn cũng là chủ tế bước lên trên đài. Thời khắc hệ trọng đã tới. Chúng nhân lấy làm kích động, vu vũ vu nhạc bất thần lặng phắc, hàng trăm ánh mắt đổ dồn vào miếu doãn.

Trương Nghi nhận ra, giờ chết đã điểm, bèn ngẩng đầu, mở mắt, ánh mắt như đuốc, chiếu xuống đám đông, quét qua từng người, vừa như ngắm nghía vẻ phấn khích của họ, lại vừa như muốn nói lời vĩnh quyết.

Người xem chen chúc vòng trong vòng ngoài, Trương Nghi chưa thể nhìn thấy Tô Tần trong trang phục Hồ đứng ở ngoài cùng, khuất sau đám đông, song Tô Tần có thể nhìn qua trên đầu đám đông mà thấy Trương Nghi rõ rành rành.

Sau khi quét mắt một vòng, Trương Nghi từ từ khép mắt, thần sắc càng thêm bình thản, điềm nhiên chờ đợi thời khắc cuối cùng của cuộc đời mình.

Miếu doãn cất giọng sang sảng: “Chư vị thần dân Đại Sở, nghe chi!”

Vừa nghe hai tiếng “nghe chỉ”, ngoại trừ hai đao phủ cùng đám lính canh đang lăm lăm khí giới canh giữ xung quanh, toàn bộ thần dân có mặt đều theo nhau quỳ xuống.

“Đại vương chỉ dụ,” thái miếu doãn dõng dạc tuyên chỉ, “quả nhân cầu đảo, chư thần linh cùng chư linh liệt tổ thị dụ quả nhân, xá miễn vật tế Trương Nghi, xử trí cách khác. Vật tế hôm nay, thay bằng tứ súc tứ cầm…”

Trong ngoài miếu đường bỗng chốc ồn ào như sóng. Người kinh ngạc nhất, không ai khác chính là Trương Nghi hiện đã lòng như tro nguội.

Trương Nghi mở choàng mắt, hai luồng nhãn quang sắc bén lại quét một lượt dưới đài, bất chợt nhìn thấy đằng sau đám người Sở đang quỳ chen chúc trong sân, có một bóng áo Hồ đang lẳng lặng rời đi.

Bóng dáng đó vội vã tiến về cổng miếu, băng qua một hàng giáp sĩ, chớp mắt đã khuất dạng bên ngoài.

Ngay sau đó, hơn chục giáp sĩ tiến lên đài hành hình, cởi trói cho Trương Nghi, tháo bỏ gông cùm xiềng xích, đưa lên xe tù, do đông đảo giáp sĩ xúm xít canh giữ xung quanh, áp giải thẳng tới hình ngục.

Sứ Tần Trương Nghi chỉ trong chớp mắt đã được tha bổng ngay trên đài tế, chỉ dụ của Sở Vương quá đỗi khó lường, khiến Ngận Thượng bàng hoàng chấn động.

Càng khiến Ngận Thượng bàng hoàng hơn nữa, đó là sau khi lễ tế kết thúc, đang lúc cùng quần thần chuẩn bị ra về, chợt bị Tử Khải gọi giật lại, dẫn thẳng tới thiên điện thái miếu.

Hoài Vương không ở đó. Ngồi thay vào chỗ của Hoài Vương, là vương thúc.

“Thần khấu kiến vương thúc!” Ngận Thượng bái lạy.

“Ngận đại nhân, mau đứng dậy!” Vương thúc mim cười, chìa tay mà nói.

Nghe thấy vương thúc cười, Ngận Thượng mới kín đáo thở phào một tiếng, ngồi xuống chiếu khách.

“Ngận đại nhân, chuyện của Trương Nghi, đại nhân đã thấy rồi chứ?” Vương thúc nhìn thẳng vào Ngân Thượng, vẫn cười mà hỏi.

“Thần đã thấy, tạ ơn đại vương cùng vương thúc đã xá miễn cho sứ Tần!”

“Không phải, mà là trời cao xá miễn cho hắn.” Ngận Thượng hít vào một hơi.

“Có biết cớ sao trời cao lại xá miễn cho hắn chăng?” Vương thúc hỏi.

“Thần ngu độn, dám mong vương thúc chỉ giáo!” Ngận Thượng vòng tay đáp.

“Vì nước Sở, vì người Sở.” Vương thúc giảng giải, “trời cao thị dụ, giết Trương Nghi là khai chiến với Tần, mà khai chiến với Tần, đối với người Sở, đối với nước Sở, đều là hoạ chồng thêm hoạ. Khai chiến với Tần là để báo thù, báo thù là để thu hồi đất đai. Trời cao muốn đại vương không đánh mà khuất phục được người, tạm giảng hoà với Tần. Bởi Tần cũng không muốn giao tranh, nên mới cho Trương Nghi đi sứ sang Sính.”

“Đại vương, vương thúc anh minh!” Ngận Thượng lại vòng tay nói.

“Kỳ thực, trời cao sớm đã thị hiện,” vương thúc nói tiếp, “sở dĩ đại vương vẫn đưa Trương Nghi lên đài tế, rồi mới bất ngờ ban chỉ dụ, là vì muốn để Trương Nghi hiểu, người tính không bằng trời tính, bao nhiêu mưu mô trí trá cũng là nhỏ mọn trước trời cao! Vào tối hôm qua, đại vương cho người ban rượu cho hắn, coi như tiễn biệt, Trương Nghi mượn rượu thổ lộ lời gan ruột, hắn không muốn chết! Nay ý trời đã định, mong sứ Tần Trương Nghi hãy thuận theo ý trời, lập công chuộc tội, chớ giở trò lừa gạt, thành ý kết bang giao!”

“Trời cao lớn lao thay! Đại vương lớn lao thay!” Ngận Thượng luôn miệng ca tụng.

“Ngận đại nhân,” vương thúc nói vào chuyện chính, “mời ông tới đây, là phụng vương chỉ, ông hãy vào ngục, phóng thích sứ Tần Trương Nghi!”

“Thần…” Ngận Thượng vội quỳ xuống, dập dầu, bật khóc mà nói, “tuân mệnh!”

“Còn nữa,” vương thúc nhìn thẳng vào Ngân Thượng, “đại vương cho ông làm đặc sứ, cùng sứ Tần điều đình chuyện kết tình bang giao.”

“Thần thụ mệnh!” Ngận Thượng lại dập đầu.

“Có biết vì sao đại vương lại cho ông làm sứ?”

“Đại vương muốn thần lập công chuộc tội!”

“Biết thì tốt!” Vương thúc chìa tay, “đứng dậy đi. Chuyện lần này, chớ nói là ông, mà chỉ ngoại trừ Khuất Bình, Trấn Chẩn, toàn bộ triều thần đều có lỗi, gồm cả lão phu đây, không một ai nhìn ra xảo kế của Trương Nghi. Nay đã khác rồi, mọi người đều nhìn thấy rõ, cả ông cũng vậy. Thân là triều thần, phải làm tai mắt chân tay của đại vương, cần trợ giúp đại vương phân biệt đúng sai thật giả. Ông theo đại vương đã nhiều năm, đại vương cũng mong ông làm được nhiều hơn thế, mong ông chớ có lại bịt mắt bưng tai, che mờ tâm trí đại vương thêm lần nữa!”

“Thần… thần…” Ngận Thượng dập đầu lia lịa, nghẹn giọng không nói nên lời.

“Ngận Thượng,” vương thúc gọi thẳng họ tên, cất giọng rành rọt, “vương thúc cũng mong ông ghi nhớ nằm lòng, ông là người Sở, thứ ông ăn là ngũ cốc của Sở, thứ ông uống là nước của Sở, thứ ông hưởng là bổng lộc của Sở, thứ ông nhận là phúc ấm của Sở. Bất luận ông có được bao nhiêu mối lợi từ người Tần đi nữa, cũng đã qua rồi, người Tần mãi mãi là người Tần, còn ông mãi mãi là người Sở. Ông nên thường tự cảnh tỉnh mình, tuyệt đối chớ ngồi sai chỗ!”

“Vương thúc, vương thúc!” Ngận Thượng bật khóc, đập trán xuống sàn bình bịch, “thần… xin nhớ nằm lòng…”

“Nhớ thì tốt!” Vương thúc phẩy tay, “đi đi, Ngận đại nhân, dốc hết trí dũng mà ông từng có, vì Đại Sở!” Đoạn lấy từ trong tay áo ra đạo chỉ và một tấm kim bài đặc xá, “hãy cầm lấy!”

Ngận Thượng lại dập đầu: “Thần… tạ ơn vương thúc… tạ ơn đại vương… tín nhiệm…”

Nhận kim bài và chỉ dụ rồi, Ngận Thượng lại không vội tới hình ngục ngay, mà quay về phủ, đóng chặt cửa phòng, trong lòng cảm ân đội đức khôn nguôi, suy nghĩ kỹ lưỡng từ đầu tới cuối toàn bộ sự việc đến mấy lần, thốt nhiên sáng tỏ, lúc này mới đánh xe tới trạm dịch, mời phó sứ nước Tần Nguỵ Nhiễm cùng lên xe tới hình ngục.

Ngận Thượng dặn Nguỵ Nhiễm đợi ở ngoài cổng, rồi một mình vào trong, trình kim bài và chỉ dụ của Sở Vương cho quan tư bại đang chờ sẵn. Tư bại đích thân dẫn Ngận Thượng vào tử lao.

Trương Nghi khí trầm tâm định, đang nhắm mắt ngồi ngay ngắn bên trong.

Ngận Thượng tuyên xong vương chỉ, Trương Nghi chậm rãi lên tiếng: “Ngận đại nhân, tại hạ nên cảm tạ ông thế nào đây?”

Không chờ Ngận Thượng đáp lời, tư bại lên tiếng: “Tháo cùm!”

Ngục lại lập tức tiến vào, tháo cùm cởi xích.

Trương Nghi được tự do chân tay, bèn vái Ngận Thượng mà nói: “Cảm tạ Ngận đại nhân!” Lại vòng tay hướng lên không trung, “sứ Tần Trương Nghi tạ ơn không giết của Sở Vương!”

“Sứ Tần, mời!” Ngận Thượng chìa tay nhường đường. Trương Nghi ngẩng đầu, ung dung bước khỏi nhà lao.

Đúng như lời Tô Tần nói, Tần Huệ Vương quả nhiên đã ở quận Hán Trung.

Cùng tới với Tần Huệ Vương, là công tử Tật và công tử Hoa. Huệ Vương tới Hán Trung chưa đầy nửa tháng, thái tử Doanh Đãng cũng dẫn theo năm vạn giáp sĩ trấn thủ Hàm Dương tới, đóng quân dọc theo bờ Hán Thuỷ, sẵn sàng xuất chiến.

Tình thế sau đó ngày càng bất lợi cho Trương Nghi.

Hay tin Trương Nghi bị tống vào tử lao, Sở Vương chiếu cáo thiên hạ, mang Trương Nghi ra tế trận, thái tử Đăng lúc này mới thấy ân hận, bắt đầu tưởng nhớ những chỗ tốt của Trương Nghi, bèn thỉnh chiến với Huệ Vương, nói rằng nếu người Sở dám giết Trương Nghi, sẽ thỉnh mệnh tiên phong, đánh tới Sính Độ.

Không ngờ, Tần Huệ Vương lập tức chuẩn tấu.

Doanh Đãng phấn chấn khác thường, lập tức điều động tam quân, trù mưu đánh Sính. Chỉ trong vài ngày, đã thấy hai bờ Hán Thuỷ doanh trại kéo dài đến vài chục dặm, cờ xí bay rợp, trống dội thì thùng. Hơn nghìn chiến xa cũng đã sẵn sàng chờ hiệu lệnh.

Vào ngày đại tế, dọc theo Hán Thuỷ, chiến thuyền dàn hàng, chiến xa trùng điệp, ba quân tướng sĩ chỉ chờ xuất phát.

Vừa chớm sang chiều, trên bầu không chợt xuất hiện một bóng hắc điều.

Chim điêu kia chao liệng vài vòng, tìm nơi hạ cánh. Là chim điêu của Thiên Hương.

Công tử Hoa bắt lấy, không kịp mở xem, cứ thế mang cả chim điêu chạy vào biệt cung.

Trong điện, Huệ Vương ngồi tĩnh toạ trên chiếu, hai mắt khép lại.

Huệ Vương ngồi như vậy đã hơn hai canh giờ, từ đầu tới cuối không nói một câu. Ngồi bên cạnh là thái tử Đãng và công tử Tật. Thái tử Đãng là chờ lệnh, công tử Tật là ngồi hầu. Dù là chờ lệnh hay ngồi hầu, sắc mặt mỗi người đều lộ rõ vẻ thấp thỏm.

“Vương huynh, tới rồi!” Công tử Hoa vội vã bẩm báo. Mọi ánh mắt đều đổ dồn lại.

Công tử Hoa lúc này mới tháo mật thư buộc trên chân điêu, trình lên Huệ Vương.

Huệ Vương bóc ra xem, hồi lâu sau, hai mắt khép lại. “Phụ vương?” Thái tử Đãng nôn nóng hỏi.

Huệ Vương không mở mắt, ném mật hàm trong tay về phía tiếng gọi.

Thái tử Đãng bắt lấy, vội vã đọc xong, kêu toáng lên: “Không giết! Ối chao, Trương tướng quốc quả là mạng lớn!”

Mọi người nghe thấy, ai cũng thở hắt ra một hơi.

Công tử Hoa đón lấy mật hàm từ trong tay thái tử, đọc xong thì đưa cho Doanh Tật.

Doanh Tật không xem, tiện tay đặt luôn xuống án nhìn sang Huệ Vương.

Huệ Vương lúc này mới ra chỉ lệnh: “Doanh Đãng nghe chỉ, giải trừ chiến bị, ba quân tướng sĩ ai về trại nấy, nghỉ ngơi ba ngày!”

Doanh Đãng vâng mệnh, đứng dậy lui ra.

“Vương huynh,” công tử Hoa nhìn Huệ Vương, lấy làm cảm khái, “thực không thể ngờ, tới thời khắc cuối cùng, kẻ xoay chuyển càn khôn, lại là Khuất Bình!”

“Không phải Khuất Bình.” Huệ Vương lên tiếng đáp.

“Vậy…” Công tử Hoa ngẩn người, “là ai được?”

“Là người Hồ đi cùng Khuất Bình.”

“Người Hồ đó là ai?” Công tử Hoa nheo nheo mắt, ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi bất chợt kêu lên, “Tô Tần?”

“Dưới gầm trời này,” Huệ Vương nhìn về phía xa xăm, “kẻ đủ sức vực lại công trình sắp đổ, duy có Tô Tần!” Ánh mắt dịch chuyển sang công tử Hoa, “vậy mà, một nhân vật quan trọng nhường này, lại suýt bỏ mạng trong tay tiểu điêu của Hoa đệ đó, thực khiến người ta toát mồ hôi hột!”

Nghe Huệ Vương nhắc lại chuyện cũ, công tử Hoa bật cười giả lả: “Thần đệ biết Tô Tử mệnh lớn!”

“Không phải Tô Tử mệnh lớn, mà là trời cao che chở cho Tô Tử!” Huệ Vương cất lời cảm khái, chỉ vào chim điêu mà nói, “Hoa đệ, hãy thả chim điêu, truyền chỉ Trương Nghi, khi điều đình với Sở, bất luận người Sở đưa ra điều kiện gì, đều chấp thuận hết! Rằng ngoài Quan Trung, quả nhân không tiếc điều gì, quả nhân chỉ cần Trương Nghi được toàn vẹn quay về!”

“Vương huynh,” công tử Hoa ghé tai Huệ Vương, thì thầm thật khẽ, “lời này không phải là thật đấy chứ?”

“Đi đi,” Huệ Vương trừng mắt, chỉ ra cửa điện, “chuyển lời cho hắn!”

Công tử Hoa viết chỉ dụ của Tần Huệ Vương vào mật hàm, buộc vào chim điêu gửi cho Thiên Hương, Thiên Hương đưa tận tay Xa Vệ Tần, Xa Vệ Tần “nói lại” với Trương Nghi không sót một chữ.

Nhận chỉ là hai người, Trương Nghi và Nguỵ Nhiễm. Chỉ dụ tuyên xong, Trương Nghi ra hiệu cho hai người kia ra ngoài, còn lại một mình ngồi trong phòng, chìm vào trầm tư.

Trước mắt Trương Nghi lại một lần nữa hiện lên bóng người mang Hồ phục hôm đó.

Theo như lời Ngận Thượng kể lại, người cứu Trương Nghi là Khuất Bình. Trước giờ đại tế, Khuất Bình cùng một người Hồ thình lình xuất hiện, vào tận đại điện yết kiến Sở Vương. Sở Vương mới dừng nghi lễ, cùng vương thúc sang thiên điện gặp Khuất Bình, rồi lại truyền gặp người Hồ. Sau đó không lâu, chỉ dụ xá miễn được truyền ra từ thiên điện.

Toàn bộ quá trình, Ngận Thượng đều có mặt, song Trương Nghi biết, Ngận Thượng không vào trong điện, mà đứng lẫn trong đám đông xem hành hình, ở hàng thứ hai. Mấy năm trong Quỷ Cốc, Trương Nghi đã rèn nên đôi mắt tinh tường, những ai có mặt đều nhìn thấy rành rành. Lời Ngận Thượng nói, hẳn là chỉ nghe người khác kể lại, khi Trương Nghi hỏi đến người Hồ kia, Ngận Thượng lại không thể trả lời rõ ràng.

Người trả lời được, là Xa Vệ Tần.

Tuy Xa Vệ Tần không vào được trong miếu, song có hắc điệu theo dõi bên ngoài, nhìn thấy Chiêu Ngư dẫn Khuất Bình cùng một người Hồ đi vào bên trong, sau đó lại dẫn hai người họ quay ra. Tiếp đến, có hắc điêu bám theo xe của họ, thấy xe ngựa đi thẳng tới nhà cỏ của Khuất Bình, sáng sớm hôm sau mới rời đi. Hộ vệ theo xe, còn có hai kỵ sĩ mặc áo Hồ.

Không nghi ngờ gì nữa, người mặc áo Hô hôm đó, chính là Tô Tần.

Trương Nghi nước mắt giàn giụa.

Trương Nghi trăm phương nghìn kế, đều chẳng ích gì, cuối cùng cứu mạng Trương Nghi, lại là huynh đệ, cũng là đối thủ.

Phải, vào thời khắc ngàn cân treo sợi tóc, chỉ có Tô Tần cứu được Trương Nghi, cũng chỉ có Tô Tần chịu cứu Trương Nghi.

Trương Nghi nhớ lại ngày xưa, nhớ lại hồi trong Quỷ Cốc, nhớ lại những ngày tháng sống cùng Tô Tần, nước mắt đã đầm đìa vạt áo.

Trương Nghi lau đi dòng lệ, rồi mở mắt, liếc nhìn chỉ dụ trên bàn. Bên tai Trương Nghi lại văng vẳng lời tuyên chỉ của Xa Vệ Tần: “Hãy thả chim điêu, truyền chỉ Trương Nghi, khi điều đình với Sở, bất luận người Sở đưa ra điều kiện gì, đều chấp thuận hết! Rằng ngoài Quan Trung, quả nhân không tiếc điều gì, quả nhân chỉ cần Trương Nghi được toàn vẹn quay về!”

Khoé miệng Trương Nghi khẽ nhếch một nét cười nhàn nhạt.

Đang lúc ngẫm nghĩ, chợt bên ngoài vọng lại tiếng bước chân, rồi tiếng gõ cửa.

Trương Nghi cất chỉ dụ, nói: “Mời vào.”

Cánh cửa mở ra, người bước vào là Nguỵ Nhiễm, trong tay cầm sứ tiết mà người Sở đã tước đoạt của Trương Nghi.

“Chính sứ đại nhân,” Nguỵ Nhiễm bẩm báo, “có người trong cung Sở tới trả lại sứ tiết, mời đại nhân vào cung!”

Trương Nghi sững sờ chốc lát, nhưng lại cười ngay, thay trang phục đặc sứ, chìa tay nói: “Phó sứ đại nhân, mời theo bản sứ vào cung!”

Hai người lên xe vào cung, được cung nhân dẫn vào thiên điện. Ra cửa nghênh đón, chính là Ngận Thượng cùng quan ngự sử Cảnh Liên.

Hành lễ xong xuôi, bốn người cùng vào trong. Trong điện không bày chiếu chủ, chỉ thấy hai bên chính điện mỗi bên trải hai chiếu, nhìn là biết dành cho hai bên Tần, Sở. Sở là chủ, Tần là khách, Ngân Thượng ngồi chiếu trên bên trái, Trương Nghi ngồi chiếu trên bên phải, Cảnh Liên và Nguỵ Nhiễm ngồi cạnh chính sứ phía mình.

“Sự việc vừa qua, đã khiến sứ Tần hoảng sợ!” Ngận Thượng vòng tay, cất giọng khách sáo, “đại vương có lời tạ lỗi, sai tại hạ chuyển tới sứ Tần!”

“Không phải là hoảng sợ!” Trương Nghi cười gượng một tiếng, không đáp lễ, “Nghi phụng mệnh Tần Vương, sang Sở kết tình bang giao hoà mục, tới vì thành ý, vậy mà suýt nữa trở thành vật tế của Sở, chịu hình cắt lưỡi moi tim, thực khiến người ta thất vọng!”

Ngận Thượng nghe vậy, phá lên cười lớn: “Theo tại hạ thấy, sứ Tần bất tất phải thất vọng! Phàm việc ở đời, đều có nhân quả, lần trước sứ Tần tới Sính, sứ mệnh cũng là kết mối bang giao. Vua ta tin Tần Vương, tin lời sứ Tần, tuyệt Tề hoà Tần, cùng lập khế ước. Từ đầu đến cuối, tại hạ mắt thấy rành rành. Kết quả thì sao? Đặc sứ Chiêu Tuy của ta khổ sở chờ đợi nhiều tháng ở Hàm Dương, nếm đủ giày vò, chặt cả rừng trúc cũng không ghi xuể. Có qua có lại mới là hợp lễ. Lần này sứ Tần lại tới, sứ mệnh vẫn là kết bang giao, vua ta vẫn chưa hết lo âu chuyện trước, nên mới khiến sứ Tần chịu chút kinh sợ, để ghi khắc không quên, cũng là hợp tình hợp lý.” Rồi quay sang Nguỵ Nhiễm, thu lại nụ cười, vòng tay mà tiếp, “phó sứ đại nhân đã ở đất Sở không ít ngày, có lẽ cũng hiểu tính của người Sở, đại nhân hãy nói thử xem!”

“Ô… Chuyện này.” Thấy Ngận Thượng thình lình quay sang hỏi, Nguỵ Nhiễm không kịp phản ứng, lắp bắp vài tiếng, mới nghĩ ra câu trả lời, vòng tay mà đáp, “hổi bẩm sứ Sở, vãn sinh vô tri, chỉ biết một lẽ thường, hai bên tranh cãi, đều có lý riêng, việc trong thiên hạ, vốn không có lý tuyệt đối. Vãn sinh cho rằng, ngày qua không thể tìm lại, ngày mai có thể trông mong, song thiết thực hơn cả, chính là hôm nay. Lần trước Tần Sở đi sứ qua lại, đều là chuyện của ngày qua. Hôm nay chúng tại hạ đi sứ sang Sở, đại vương cũng phái hai vị tới đây đàm đạo, hai bên đều có sứ mệnh riêng, cũng nên gác lại chuyện cũ, để bàn chuyện của hôm nay.” Rồi quay sang phó sứ Cảnh Liên, “Cảnh đại nhân nghĩ sao?”

“Rất phải, rất phải!” Cảnh Liên vòng tay lia lịa. Ngận Thượng lại cười lớn, vòng tay với Nguỵ Nhiễm: “Sớm nghe vương thúc nói về phó sứ đại nhân, quả là hậu sinh khả uý!” Quay sang Trương Nghi, “hai vị phó sứ đều chủ trương bỏ qua chuyện cũ, tại hạ cũng cho là vậy, dám hỏi sứ Tần có ý khác chăng?”

Trương Nghi cũng cười lớn vài tiếng: “Ngụy Nhiễm nói rất hay, vậy là cả ba vị đây đều không truy vấn. Ba vị không truy vấn, là bởi ba vị đều không phải người trong cuộc. Nếu Chiêu đại nhân ở đây, hẳn sẽ hiểu cho tại hạ. Có điều, tại hạ có thể không truy vấn, song có một câu, nếu không nói ra sẽ thấy khó chịu trong lòng.” Nói đoạn, nhìn xoáy vào Ngận Thượng, “dám hỏi sứ Sở, tại hạ có thể nói ra cho nhẹ nhõm chăng?”

“Sứ Tần cứ nói!”

“Tại hạ lấy làm cảm khái,” Trương Nghi thu khí ngưng thần, “từ nhỏ tới lớn, tại hạ đã từng trải vô số sinh ly tử biệt, song chưa biết kinh sợ là gì, lần này, nhờ hồng ân của Sở Vương, tại hạ đã cảm nhận thấm thía.” Vòng tay hướng lên không trung, “Sở Vương bệ hạ, quả đã khiến tại hạ phải hãi hùng!”

Ngận Thượng cười lớn: “Sứ Tần chớ nên để bụng, đợi chúng ta hoàn thành sứ mệnh, tại hạ sẽ tấu thỉnh đại vương bày tiệc trấn an cho sứ Tần!”

“Cảm tạ sứ Sở!” Trương Nghi lại nhìn xoáy vào Ngân Thượng, “sứ Sở, bắt đầu được chưa!”

“Được rồi.” Ngận Thượng tươi cười, “Tần Vương đã phái Trương Tử sang Sính, kết tình bang giao, hẳn cũng nên có chút gì để tỏ lòng thành mới phải?”

“Dám hỏi sứ Sở, Sở Vương muốn gì?”

“Đương nhiên là vùng đất tranh giành, Thương Ư.”

“Còn gì nữa?” Trương Nghi nhìn Ngận Thượng không chớp.

“Hết rồi!”

“Hán Trung, Kiêm Đông thì sao?” Trương Nghi thoáng ngạc nhiên.

“Hai đất này, không cần phải tranh giành hay thương lượng.” Ngận Thượng xua tay.

“Vì sao?”

“Bởi đó vốn là đất đai của Sở, không cần thương lượng, không cần tranh cãi!”

“Nếu nói là vậy,” Trương Nghi mỉm cười, “Tương Lăng vốn của người Tống, đất Ngô vốn của người Ngô, đất Việt vốn của người Việt, Trung Dung, Hán Trung vốn của người Ba, Thượng Sái vốn của…”

“Sứ Tần nói xa xôi quá rồi,” Ngận Thượng không nói lại nổi Trương Nghi, vội xua tay cắt ngang, “chuyện nào ra chuyện ấy, trước tiên hãy nói về Thương Ư, được chăng?”

“Được, về Thương Ư, Ngận đại nhân muốn nói gì?”

“Ý đại vương là, Tần Vương phải tuân theo minh ước sứ Tần đã lập lần trước, chính là minh ước đã bị Tần Vương thiêu huỷ.”

“Minh ước đó đã không còn nữa.” Trương Nghi đáp, “tại hạ tới đây, là phụng mệnh Tần Vương cùng với Sở Vương lập minh ước mới, bàn giao ước khác.”

“Giao ước gì?”

“Theo lẽ thường.” Trương Nghi dõng dạc nói, “mười làm ấp Thương Thành phía tây Vũ Quan là do tiến quân nước Sở tặng cho tiên quân nước Tần, đương kim Tần Vương không dám trái ý tổ tiên, gây phương hại tới mối giao hảo trăm năm Tần Sở. Còn mười lăm ấp Ư Thành phía đông Vũ Quan, là do Thương Quân dùng vũ lực chiếm lấy, Tần Vương thành tâm hoàn trả cho Sở!”

“Được, rất hợp tình lý!” Ngận Thượng khẽ gật gù, “tại hạ sẽ bẩm báo Sở Vương, việc này coi như đã định. Còn hai nơi khác, Hán Trung và Kiêm Đông, ý chỉ của đại vương là người Tần phải rút quân về, trả cho người Sở, Sở Tần vẫn giữ nguyên biên cương như trước khi giao chiến. Bằng không, người Tần cướp bằng cách nào, người Sở cũng sẽ lấy về bằng cách đó!”

“Ngận đại nhân,” Trương Nghi bật cười, “đại vương ta có thành ý kết bang giao, mới phái tại hạ tới đây thương lượng theo lẽ phải, mà lẽ nào người Sở các ông chỉ biết cưỡng từ đoạt lý, không màng lẽ phải ư?”

“Dám hỏi sứ Tần, là lẽ phải gì?”

“Từ thời Xuân Thu, lễ băng nhạc hoại.” Trương Nghi dõng dạc đáp lời, “đất trong thiên hạ, phải đoạt mới có; dân trong thiên hạ, phải đánh mới theo. Hai đất Hán Trung, Kiểm Đông, vốn của người Ba, người Ba không tặng một tấc đất nào cho người Sở, mà do người Sở dùng đao thương đoạt lấy. Cũng cùng lẽ đó, người Sở cũng không tặng hai đất đó cho Tần, mà cũng do người Tần dùng đao thương đoạt lấy. Hán Trung, Kiềm Đông trong tay người Ba, là đất của Ba; rơi vào tay người Sở, là đất của Sở; giờ đây lại rơi vào tay người Tần, đương nhiên đã là đất của Tần!”

“Chà chà,” Ngận Thượng khẽ vỗ tay vài cái, cười nhạt mà nói, “nghe khẩu khí này, sứ Tần hẳn không phải tới giảng hoà, mà là tới hạ chiến thư cho Đại Sở ta!”

“Ngận đại nhân đa nghi quá rồi, tại hạ tới đây là để giảng hoà!”

“Vậy thì, hai đất đó, Tần Vương muốn bàn thế nào?”

“Hán Trung quy Tần, Kiểm Đông quy Sở, thế nào?” Trương Nghi nhìn thẳng vào Ngân Thượng. “Không được!”

“Hán Trung quy Sở, Kiêm Đông quy Tần, thì sao?” Trương Nghi đổi lại.

“Không được!”

“Vậy sứ Sở muốn bàn thế nào?”

“Tại hạ đã nói, hai đất đó đều trả về cho Sở, giữ nguyên biên cương như trước giao tranh.”

“Xem ra,” Trương Nghi cười nhạt một tiếng, nhún vai, “sứ Sở muốn giao tranh nữa thực rồi!” Nói đoạn đổ người về trước, hai mắt như đuốc, trước nhìn Ngận Thượng, lại nhìn Cảnh Liên, rồi lại chiếu thẳng vào Ngân Thượng, “việc trước không quên, để làm gương cho việc sau. Tại hạ muốn nhắc sứ Sở hãy nghĩ cho thật kỹ, bất chấp lý lẽ sẽ phải trả giá ra sao. Thương Quân bất chấp lý lẽ, không tuyên mà chiến, cướp lấy mười lăm ấp Ư Thành. Sở Vương thì sao, cũng bất chấp lý lẽ, không tuyên mà chiến, sai Cảnh Thuý dẫn quân tập kích Thương Ư, chuốc lấy thất bại. Sau đó, Sở Vương lại sai Khuất Cái dẫn quân đánh Thương Ư lần nữa, lại chuốc thất bại. Thế rồi Sở Vương đích thân khởi binh, lại đánh Thương Ư, kết cục lại càng thảm hại. Tần Sở trước sau giao chiến bốn lần, ngoài lần đầu Thương Quân thất nghĩa phạt Sở, ba lần sau đều là người Sở dấy binh đánh Tần, người Tần buộc phải ứng chiến. Người Tần thất nghĩa, nên nay trả lại đất đai đã chiếm cho Sở, là thấu tình đạt lý. Người Sở thất nghĩa, cũng đòi người Tần trả đất, dám hỏi sứ Sở, đạo lý ở đâu?”

Ngận Thượng nói không lại Trương Nghi, quả cũng có phần đuối lý, bèn ngoảnh đầu nhìn sang Cảnh Liên.

“Dám hỏi sứ Tần,” Cảnh Liên vòng tay, “về hai đất Kiềm Đông, Hán Trung, còn cách xử trí nào khác chăng?”

“Còn…”

“Xin sứ Tần hãy nói!”

“Kiềm Đông, Hán Trung, hai nước Tần, Sở sẽ chia ra mà trị.”

“Chia thế nào?”

“Chia đều. Đất Hán Trung gồm bốn thành mười hai ấp, người Tần trị hai thành sáu ấp gần phía Tần, người Sở trị hai thành sáu ấp gần phía Sở. Kiềm Đông cũng vậy.”

“Còn cách khác nữa chăng?” Ngận Thượng hỏi. Trương Nghi lắc đầu.

“Hôm nay hãy tạm bàn tới đây!” Ngận Thượng vòng tay với Trương Nghi, “tại hạ sẽ về bẩm tấu lên đại vương, đợi vương chỉ ban xuống, sẽ lại bàn tiếp, thế nào?”

Trương Nghi đáp lễ, cùng Nguỵ Nhiễm đứng dậy, từ biệt Ngận Thượng, được cung nhân dẫn ra khỏi cung, trở về trạm dịch. Còn Ngận Thượng, Cảnh Liên tới ngự thư phòng, bẩm báo tường tận toàn bộ đầu đuôi sự việc với Hoài Vương và vương thúc đang chờ tin.

Ý của sứ Tần, đại khái cũng giống như đề xướng của Tô Tần. Lý lẽ của sứ Tần, đại khái nghe cũng lọt tai. Người Tần đã nhượng bộ tới nước này, nếu cứ khăng khăng gây chiến, Sở sẽ thiệt thòi hơn thế.

“Còn chuyện Uyển Thành, sao lại không nói?” Hoài Vương hỏi sang việc khác.

“Hồi bẩm đại vương,” Ngận Thượng đáp, “chuyện Uyển Thành liên quan tới nước Hàn, nên thần có ý đợi bàn xong chuyện hai nước Sở Tần rồi, mới cùng sứ Tần bàn tới chuyện của nước Hàn.”

“Ý của sứ Tần, hiền đệ thấy sao?” Hoài Vương nhìn sang vương thúc.

“Thần xin nghe theo đại vương!” Vương thúc đáp. Rõ ràng, vương thúc không có ý phản đối.

Theo như tình hình trước mắt, việc chia đôi ba đất Hán Trung, Kiềm Đông và Thương Ư với người Tần, hẳn là lựa chọn tốt nhất cho Sở. Sở tuy mất một phần thành ấp ở Hàn Trung, Kiềm Đông, song thu về được mười lăm ấp Ư Thành, coi như cũng được bù đắp. Còn chuyện sau này, cần xem thế nước và cơ duyên ra sao. Nếu thế Sở mạnh, thế Tần yếu, cơ duyên lại tốt, người Sở lại sẽ thu hồi toàn bộ đất cũ. Và cũng có thể là ngược lại.

“Chuyện này coi như đã quyết, khanh có thể trả lời sứ Tần, rồi tiếp tục bàn chuyện Uyển Thành.” Hoài Vương quyết đoán.

Ngận Thượng nhận chỉ, từ biệt lui ra. Hoài Vương giữ ngự sử Cảnh Liên lại. Cảnh Liên bẩm báo chi tiết toàn bộ quá trình thương lượng, Hoài Vương lấy làm hài lòng với Ngận Thượng, quay sang vương thúc, cảm khái mà rằng: “Tô Tần quả là thần nhân!”

Thấy Hoài Vương không khen Ngận Thượng, lại khen Tô Tần, ngự sử Cảnh Liên lấy làm khó hiểu. Có ai ngờ đâu, từ việc cứu Trương Nghi, đưa ra điều kiện thương lượng, đến cả việc nhiệm Ngận Thượng làm sứ thần, đều là công của một mình Tô Tần cả.

Ngận Thượng không chờ đến hôm sau, lập tức tới ngay trạm dịch, truyền lại cho Trương Nghi ý chỉ của Hoài Vương, rồi lại bàn chuyện Uyển Thành, đòi Hàn Vương trả lại đất Uyển cho Sở. Sau một hồi thương lượng, Trương Nghi nhận lời du thuyết Hàn Vương, song cũng đòi người Sở phải có bù đắp. Ngận Thượng y theo chủ ý của Tô Tần, nói rằng nước Sở hứa sẽ cắt nhượng Diệp Thành cùng bốn ấp xung quanh cho Hàn, đổi lại Hàn phải trả lại Uyển Thành, Phương Thành, lui về phía bắc Lỗ Quan.

Trương Nghi khảng khái nhận lời.

Trương Nghi cho Xa Vệ Tần hồi báo Tần Vương về những việc đã thoả thuận với người Sở, Tần Vương đều ân chuẩn. Trương Nghi bèn cùng Ngận Thượng soạn thành khế ước, Ngận Thượng lần này đã tỉnh táo hơn, yêu cầu người Tần đóng ấn trước. Trương Nghi chấp thuận, cho Nguỵ Nhiễm, Xa Vệ Tần mang bản minh ước tới Hán Trung, để Tần Vương đóng ấn tỷ xong liên mang trở lại Sính Đô. Ngận Thượng xem kỹ, thấy Tần Vương đã đóng ấn tỷ, lại còn để danh điểm chỉ đầy đủ, thì lấy làm phấn chấn, mới an tâm trình lên Sở Vương. Sở Vương không còn nghi ngờ gì nữa, cũng đóng ấn đề danh như vậy.

Hai bên lập xong minh ước, Hoài Vương bèn phái triều thần tới ba nơi Ư Thành, Hán Trung, Kiêm Đông để giao nhận đất với Tần. Tướng Tần tại ba nơi nhận được chỉ lệnh của Tần Vương, bèn giao lại thành ấp cho Sở đúng như thoả thuận.

Chờ mọi việc chia đất giao thành đã xong xuôi, Trương Nghi mới từ biệt Hoài Vương, lên đường sang Hàn, du thuyết Hàn Vương chuyện Uyển Thành. Hoài Vương rất đỗi vui mừng, bày tiệc thịnh soạn, tiễn hai sứ thần Trương Nghi, Nguỵ Nhiễm lên đường, vương thúc, Ngận Thượng bồi tiếp.

Sáng sớm hôm sau, Trương Nghi đi sang đất Hàn, còn Nguỵ Nhiễm đi đường tây, thay Trương Nghi về Hàm Dương phục mệnh.

Cho tới lúc này, cuộc giao tranh Tần Sở triền miên suốt mấy chục năm, khởi phát từ chuyện Thương Quân tập kích chiếm đoạt sơn cốc Thương Ư năm xưa, đã được hoá giải gọn gàng chỉ bởi một chuyến đi vội vã của Tô Tần từ xa ngoài nghìn dặm.

Xử trí xong chuyện nước Sở, Tần Huệ Vương thở phào nhẹ nhõm, thong dong quay lại Hàm Dương.

Bất luận thế nào, sau vài trận chiến, Trương Nghi đều đã đạt được mục đích, quốc lực của Sở giờ đây tiêu hao quá nửa, dân Sở khốn đốn cơ hàn, trong triều không có tôi hiền, trong quân không có tướng giỏi, nước Sở suy yếu thấy rõ, không còn thể múa vuốt nhe nanh, chẳng thể gây trở ngại cho đại nghiệp của Tần được nữa.

Tuy nhiên, Huệ Vương vẫn chưa thôi lo nghĩ.

Vừa về tới Hàm Dương, Huệ Vương vẫn canh cánh trong lòng chuyện Tô Tần hợp tung năm nước, liên gấp rút triệu Tư Mã Thác và Nguỵ Chương tới, cùng bày sa bàn, diễn đi diễn lại trận Thuỳ Sa. Sau đó, ba người lại tiếp tục ôn lại tất cả các trận có mặt Khuông Chương, như trận chiến phạt Yên, trận chiến Tang Khâu, trận khinh kỵ tập kích Hạng Thành, tất cả đều được xem xét kỹ càng không sót một chi tiết nhỏ.

Ôn lại xong rồi, cả ba đều tâm tư nặng trĩu, nhất là Tư Mã Thác. Sau chiến bại Tang Khâu, Tư Mã Thác rất không cam tâm, thường muốn tìm cơ hội giao chiến với Khuông Chương lần nữa, nhưng lúc này, lại chỉ biết nén xuống cơn giận không nói một lời.

Tư Mã Thác không thể không thừa nhận một sự thực, sau Tôn Tẫn, Khuông Chương đã thành vô địch, kinh qua nhiều trận, trận nào cũng toàn thắng, hơn nữa lập công xong lập tức lui về, chưa từng tham quyền, cũng hầu như không ở trong quân ngũ, dường như với Khuông Chương, chiến tranh chỉ là một trò chơi, đánh thắng thì trò chơi kết thúc.

Nhưng người Huệ Vương quan tâm lúc này lại không phải là Khuông Chương, mà là Tề Mẫn Vương, người đang có Khuông Chương.

Nước Sở thất thế, giờ đây nước đủ mạnh để đối chọi với Tần, duy có Đại Tề phía đông.

Nước Tề không đáng sợ, đáng sợ là nước Tề lại kết tung thân với Sở, Triệu, Nguỵ, Yên. Nguỵ, Yên có thể không tính đến, song Tề, Sở hợp sức, cộng thêm một nước Triệu Hồ phục kỵ xạ, điều này đã khiến cho Huệ Vương sau khi giảng hoà xong với Sở trở về chẳng còn tâm trí đâu mà ung dung du sơn ngoạn thuỷ nữa.

Người hoá giải được cục tung của Tô Tần, chỉ có thể là Trương Nghi, mà Trương Nghi lại khăng khăng muốn sang nước Hàn. Phải, Huệ Vương hiểu rõ cớ sao Trương Nghi nhất quyết phải sang Hàn. Năm nước đã kết minh, nước Tần dứt khoát không thể để vuột mất Hàn.

Đêm đã về khuya.

Huệ Vương thở dài một tiếng, rời ngự thư phòng, rầu rĩ đi tới hậu cung.

Thị tẩm đêm nay là Mị Nguyệt.

Theo quy tắc hậu cung, đêm nay đáng lẽ không phải tới lượt nàng thị tẩm, nàng tới là do Huệ Vương khâm điểm. Gần đây, Huệ Vương càng ngày càng không muốn rời phi tử phong tình và dạn dĩ này, sau khi từ Hán Trung trở về, đây là lần thứ ba triệu nàng lâm hạnh.

Trước sủng hạnh đặc biệt, Mị Nguyệt trong lòng cảm kích, lại càng dốc hết bản lĩnh hầu hạ, sau một phen hoan lạc, Huệ Vương nằm vật xuống giường ngủ mê mệt. Mị Nguyệt cũng mệt rã rời, thiếp đi bên cạnh Huệ Vương.

Trong mơ màng, Mị Nguyệt chợt thấy trước mặt xuất hiện một đám sương mù đen kịt.

Đám sương mù ngưng tụ mỗi lúc một dày đặc, dân dần kết thành một hình người, hay nói đúng hơn là một bóng ma khổng lồ.

Bóng ma ấy lừ lừ áp lại gần Mị Nguyệt.

Mị Nguyệt kinh hãi rụng rời, quay người định chạy, song không tài nào nhấc nổi chân, chỉ biết hai mắt trừng trừng nhìn bóng ma khủng khiếp kia áp tới trước mặt, đẩy nàng ngã xuống, đè lên người nàng, trên mặt há ra một cái miệng rộng ngoác, phụt đầy khí đen.

Mị Nguyệt giơ hai tay ấn vào cằm hắn, gắng sức đẩy ra. “Ngươi… là ai?” Mị Nguyệt hai hàm răng đánh vào nhau lập cập, run rẩy quát hỏi.

“Ta tới đòi mạng!” Cái bóng cất lên giọng nói rùng rợn, trong miệng lấp ló hai chiếc răng nanh nhọn hoắt, nhưng Mị Nguyệt cảm giác giọng nói không phải phát ra từ miệng bóng ma, mà từ sâu trong bụng.

“Đòi… đòi mang ai?”

“Kẻ nợ mạng!”

“Ta… không có! Ta không nợ mạng ai hết!”

“Ngươi không nợ, nhưng có người nợ!”

“Ai?”

“Là kẻ đang nằm bên cạnh người kia! Một kẻ lật lọng tráo trở, thất tín dối trời, kết thành nợ máu với ta, nay ta phụng mệnh trời, tới đây đòi nợ. Ngươi lại ở đây ngăn cản, ôm giữ lấy ta, chẳng phải rắp tâm phá hỏng chuyện của ta ư? Dám cản đường ta, hãy xem răng này!” Bóng ma gầm gừ, rồi bẻ ngửa đầu Mị Nguyệt ra phía sau, khiến cổ nàng phơi ra trước hai răng nanh dài nhọn hoắt.

Mị Nguyệt hãi hùng, vội đưa hai tay xô mạnh vào cằm hắn. Song hai chiếc răng nanh đang từ từ mọc dài ra, như một cặp ngà voi lớn, chọc thẳng vào trước họng nàng.

Khi đầu nhọn của cặp răng nanh kia sắp sửa cắm phập vào cổ nàng, Mị Nguyệt rú lên một tiếng thất thanh, vận hết sức bình sinh xô bật được bóng ma đi, rồi cũng giật nảy mình choàng tỉnh khỏi cơn ác mộng.

Mị Nguyệt thở hổn hển như đứt hơi, mở choàng mắt ra, thấy toàn thân mồ hôi ướt đẫm, Huệ Vương nằm cạnh vẫn ngáy pho pho, một bên bắp vế to khoẻ gác ngang bụng nàng, khiến nàng không động cựa nổi.

Mị Nguyệt nhìn lại mình, thấy một tay tì vào cằm Huệ Vương, tay còn lại ôm vòng quanh cổ Huệ Vương, lúc này đã tê bại. Cảnh tượng trong mơ từ từ hiển hiện rõ ràng trong tâm trí. Nhớ lại những lời doạ dẫm của bóng ma, Mị Nguyệt bất giác rùng mình ớn lạnh, ngẫm nghĩ một lát thì khẽ lay Huệ Vương dậy.

Huệ Vương đang ngủ ngon giấc, bị nàng đánh thức, ngái ngủ nhìn sang. Mị Nguyệt gắng đẩy cẳng chân nặng trịch của Huệ Vương ra khỏi người, tôi nói: “Đại vương, thần thiếp vừa gặp ác mộng!”

“Ác mộng gì?” Huệ Vương mở mắt, tò mò hỏi. “Một cơn ác mộng không thể dữ hơn.”

“Nàng kể xem.”

Mị Nguyệt bèn kể lại đầu đuôi giấc mơ lúc nãy, cùng những lời nói của bóng ma kia.

Huệ Vương càng nghe, sắc mặt càng trắng bệch.

Điều đầu tiên mà Huệ Vương nghĩ tới, chính là hắc hịch năm xưa, tư tế của đại thần Cộng Công, kẻ dựng đàn trên đỉnh Thái Bạch để xua hồng thuỷ và dịch bệnh sang nước Sở.

Huệ Vương nhắm mắt ngẫm nghĩ một lúc, rồi quay sang Mị Nguyệt, nghiêm giọng nói: “Ái phi nghe chỉ, kể từ đêm nay, quả nhân chỉ cho một mình nàng thị tẩm, còn nữa, nàng phải ôm quả nhân cả đêm!”

“Vâng, vâng,” Mị Nguyệt gật đầu lia lịa vâng mệnh. Lát sau, nàng khẽ giọng hỏi, “đại vương, người quả có nợ gì… kẻ đó ư?”

“Ngủ đi, đừng nói gì nữa!” Huệ Vương ngồi dậy, rồi cứ thế ngồi lặng im trên giường cho tới tận khi gà gáy, rửa mặt chải đầu xong liền tới ngay ngự thư phòng, sai người gọi Doanh Hoa tới.

“Há có lý này?” Công tử Hoa giận dữ kêu lên, “giết chúng là người Sở, cớ sao không tới đất Sở báo thù, lại tìm tới chỗ ta?”

“Than ôi,” Huệ Vương thở dài, “là quả nhân không nên, là quả nhân nợ họ!” Dừng lại một thoáng rồi tiếp, “Hoa đệ, hãy theo quả nhân tới thái miếu!”

Huệ Vương xa giá tới thái miếu, sai đại vu chúc dựng đàn tế đại thần Cộng Công, soạn đồ lễ theo cách tế trời, dâng hương cầu khấn, xin dựng một miếu Cộng Công trên đỉnh Thái Bạch núi Chung Nam, bốn mùa cúng bái.

Xong việc, Huệ Vương vẫn không an tâm, lại sai đại vụ chúc bày thiên la địa võng trong thành Hàm Dương để tróc nã âm ma, lệnh cho thị vệ trong cung vũ khí không được rời tay, thay phiên canh gác ngày đêm, vu chúc thái miếu cũng phải mang pháp khí túc trực.

Để phòng xa, Huệ Vương không đi đâu xa, suốt ngày chỉ ở trong cung, quanh quẩn ba nơi ngự thư phòng, tẩm cung và triều điện, nơi nào cũng bố trí ba tầng giáp sĩ bảo vệ nghiêm ngặt, trong đó một tầng giáp sĩ mang pháp khí trừ tà do đại vu chúc phát cho. Hằng đêm, Huệ Vương cũng chỉ cho mình Mị Nguyệt thị tẩm.

Cứ thế hơn chục ngày trôi qua bình yên vô sự, Mị Nguyệt cũng không còn mơ thấy bóng ma kia thêm lần nào nữa, Huệ Vương cũng bắt đầu ngủ ngon giấc.

Đã bình tâm trở lại, Huệ Vương lại tới thái miếu, cúng tế đại thần Cộng Công, xuất ngay một trăm dật vàng ròng, lệnh cho công tử Hoa xây miếu thờ đại thần trên đỉnh Thái Bạch núi Chung Nam, mời tư tế đến trông nom, quanh năm hương khói.

Lúc này, Huệ Vương mới thấy trong lòng nhẹ nhõm, bèn hạ lệnh hôm sau đại triều, quân thần từ cấp đại phu trở lên đều vào chầu.

Từ Hán Trung trở về, Huệ Vương vẫn chưa một lần lên triều. Lần này triệu tập quần thần, Huệ Vương nhất thiết phải sắp xếp lại các việc cần kíp hiện tại. Chiến sự với Sở tạm thời hoà hoãn, việc cấp bách trước đây là giao chiến, hiện tại cần chuyển sang canh nông, sách lược cụ thể thế nào, thân là quân chủ, Huệ Vương cần phải chỉnh lý rõ ràng những sự việc rối bời trước mắt.

Sự việc hiện tại, có thể quy về hai việc chính. Thứ nhất là việc trong nước, đổi chiến sang cày, nghỉ ngơi cùng dân. Đại chiến triền miên, thương vong gần hai chục vạn sinh mạng, hao tổn một lượng tài vật lương thảo khổng lồ, không chỉ thường dân, ngay cả triều đình cũng khốn đốn. May sao Tô Tần đã kịp thời ngăn cản, bằng không Hùng Hoè tiếp tục điên cuồng tử chiến với Tần, thì Tần cũng sa vào thảm cảnh cùng diệt vong với Sở. Việc thứ hai, Tô Tần kết minh năm nước, nước Triệu mặc áo Hồ rèn kỵ xạ, thái tử Sở sang Tề làm con tin, Tề Sở lại kết minh, nước Hàn hoàn trả Uyển Thành, một loạt sự biến lớn lao trong đại thế thiên hạ, ứng phó ra sao, Huệ Vương cần đưa ra đổi sách rõ ràng.

Còn một đại sự nữa, chính là việc của Doanh Đãng. Vừa nghĩ tới Doanh Đãng, Huệ Vương bỗng thấy giật thột trong lòng.

Phải, cần nói gì đó với người con này.

Huệ Vương không do dự nữa, lập tức sai nội thần triệu Doanh Đãng đến, dẫn tới điện Di Tình của tiên quân Hiếu Công, từ trong mật thất lấy ra hộp đá năm xưa, chậm rãi kể lại những chuyện xảy ra trước khi Hiếu Công khuất núi, từ giấc mơ của Hiếu Công, đến chuyện tìm thấy hộp đá dưới lòng giếng cạn, cuối cùng là chuyện ba con chim vàng anh.

Doanh Đãng ngắm nghía hộp đá, ánh mắt dừng lại trên dòng sấm văn khắc trên hộp: “Số Chu tám trăm, đỏ tận đen xuất; xưng để thiên hạ, bốn biển đều phục. Lão Đam!”

“Đãng Nhi,” Huệ Vương nhìn thái tử chăm chú, “những câu này, con hiểu thế nào?”

“Hồi bẩm phụ vương,” Doanh Đãng ôm quyền đáp, “không có thứ gì mà nắm đấm này không làm được!”

“Có đấy!”

“Là gì kia?”

“Tâm của con!” Huệ Vương chỉ vào ngực thái tử.

_ “Phải, thưa phụ vương,” Doanh Đãng lấy làm phấn chấn, lại ôm quyền, “tâm của con còn cứng hơn ô kim!”

“Tâm của người khác cũng vậy.”

“Ồ,” Doanh Đãng giọng khinh khỉnh, “vậy thử xem tâm ai cứng hơn.”

“Đãng Nhi!” Nhìn người con cậy sức khinh trí này, Huệ Vương thở dài một tiếng, khép mắt lại, hồi lâu mới mở mắt ra, nhìn xoáy vào Doanh Đãng, cất lời sâu xa, "con phải nhớ kỹ, nắm đấm không bao giờ thu phục được lòng người, nhưng một thứ khác có thể!”

“Là thứ gì vậy?”

“Là thứ này!” Huệ Vương chậm rãi rút từ trong ống tay áo ra một cuốn thẻ tre, đưa cho Doanh Đãng.

“Đây chẳng phải Thương Quân thư ư?” Doanh Đãng liếc nhìn, buột miệng đáp liền, “nhi thần sớm đã tuân mệnh phụ vương, đọc đi đọc lại rất nhiều lần rồi!”

“Có đọc bao nhiêu lần cũng không đủ, con phải ngày ngày đọc, giờ giờ đọc!”

“Nhi thần tuân mệnh!” Doanh Đãng đáp lời, rồi dường như sực nhớ ra điều gì, “phải rồi, phụ vương vừa kể chuyện tiên quân đi xa, muốn mang theo ba con chim vàng anh, nhi thần chưa hiểu.”

“Chuyện đã qua rồi, hãy cho qua đi.” Huệ Vương lại thở dài một tiếng, “quả nhân có thể không dùng đến vàng anh, nhưng con thì không thể.”

“Vàng anh là ai?” Doanh Đãng vẫn khăng khăng muốn biết.

“Thôi được, con đã nhất định muốn biết, quả nhân sẽ nói cho con nghe. Ba con vàng anh đó, một là Thương Quân, một là Cam Long, một là thái phó của quả nhân, tức ông chủ của con đó.”

“Ông thái phó?” Doanh Đãng trợn mắt, “chẳng phải đã được… an hưởng tuổi già ư?”

“Thái phó sở dĩ có thể an hưởng tuổi già, thứ nhất là bởi chủ động lui về, thứ hai là bởi máu mủ tình thâm, quả nhân không nỡ.”

“Dám hỏi phụ vương, ba con vàng anh của người là ai?” Doanh Đãng thình lình hỏi.

“Ồ….” Huệ Vương nhìn xoáy vào Doanh Đãng, “quả nhân không có vàng anh!”

“Nhi thần biết họ là ai rồi!” Doanh Đãng cười ranh mãnh, “một là Trương Nghi, hai là Nguỵ Chương, còn một người nữa, nhi thần chưa biết!”

“Doanh Đãng!” Huệ Vương sâm ngay nét mặt, giơ tay trỏ thẳng vào Doanh Đãng, nghiêm giọng quát lên.

Doanh Đãng kinh hãi giật nảy mình: “Phụ vương. …”

“Nghe cho rõ đây,” Huệ Vương gần mạnh từng tiếng, “quả nhân không có vàng anh! Trương Nghi không phải vàng anh, mà là chú rể của con! Nguỵ Chương không phải vàng anh, mà là…” chợt khựng lại một thoáng, “quả nhân cảnh tỉnh con lần nữa, đại nghiệp của Tần, trở ngại lớn nhất là hợp tung, đối thủ lớn nhất là Tô Tần. Chừng nào Tô Tần còn đó, nước Tần không thể thiếu Trương Nghi!”

“Nhi thần đã hiểu.”

“Hiểu thôi không đủ, còn phải nhớ lấy!”

“Nhi thần đã nhớ!”

“Đi đi.” Huệ Vương chỉ ra ngoài cửa. Doanh Đãng bèn lui ra.

Nghe tiếng bước chân của Doanh Đãng xa dần, Huệ Vương lại thở dài một tiếng, từ từ nhắm mắt lại.

Lát sau, giọng Huệ Vương vang lên, hướng vào nội thần đứng hầu bên cạnh: “Truyền chỉ cho tướng quốc, gấp rút quay về Hàm Dương.”

Nội thần nhận lệnh, toan quay ra soạn chỉ, bỗng nghe bên ngoài gió nổi ù ù.

Huệ Vương rùng mình ớn lạnh, đứng dậy ra lệnh: “Về tẩm cung.”

Nội thần liền gọi người, mấy chục giáp sĩ hộ vệ cùng hai vu chúc tay cầm pháp trượng hàng ma lập tức tiến vào, hộ tống Huệ Vương quay về tẩm cung.

Ngoài cửa tẩm cung, Mị Nguyệt hay tin đã chờ sẵn nghênh đón.

Gió rất dữ, bầu trời giăng kín mây đen, song không thấy mưa rơi, cũng không nghe sấm nổi.

Một đêm vô sự, Mị Nguyệt cũng không gặp ác mộng. Đến khi gà gáy râm ran, Huệ Vương trở dậy, rửa mặt chải đầu, thay vương phục.

Bên ngoài, gió đã ngừng thổi, sắc trời âm u, mây đen tầng tầng lớp lớp, phủ kín bầu không trên khắp toàn thành Hàm Dương. Song kỳ lạ là không khí vẫn khô ráo, không hề ngửi thấy chút hơi ẩm ướt.

Trong ngoài cung thành, một bầu nặng nề u ám.

Giống như bất kỳ buổi đại triều nào khác, gần xa không ít tiếng ồn ào, lắng nghe kỹ, đại thể có thể chia thành ba nhóm. Một nhóm là các triều thần đã tới tiền điện cùng xe ngựa của họ bên ngoài cổng cung đằng xa; một nhóm là giáp sĩ canh gác, dường như đang sắp xếp nhiệm vụ; còn một nhóm nữa là vu chúc phụ trách đuổi tà. Chuông châu đã điểm ba lượt, chúng triều thần đều đã vào điện.

Trong vòng hộ tống của gần trăm cung vệ và vu nhân, Huệ Vương sải bước đi qua cửa bên, tiến vào đại điện.

Huệ Vương vừa bước qua, cánh cửa lập tức đóng lại, canh gác ngoài cửa là bốn giáp sĩ cùng hai vu nhân tay mang pháp khí.

Trên điện đường, hơn trăm triều thần chia thành vài hàng đứng nghiêm trang.

Nội thần đứng hầu bên cạnh, cao giọng hô vang: “Đại vương giá đáo!”

Trong tiếng vạt áo loạt soạt, quần thần đồng loạt quỳ xuống, dập đầu sát đất, đồng thanh hô lớn: “Đại vương vạn tuế!”

Huệ Vương đĩnh đạc bước lên ngai vàng, ngồi nghiêm trang, ánh mắt uy nghiêm lướt qua một lượt triều thần, cất giọng chậm rãi: “Chúng khanh bình thân!”

Quần thần tạ ơn, rồi cùng đứng dậy, dàn thành hàng ngũ chỉnh tề.

Đúng vào lúc đó, bên ngoài đại điện, bầu trời bất chợt tối sập, không khí quánh đặc như hồ.

Rồi thình lình, từ trên không trung rơi xuống một quả cầu lửa, to cỡ đầu người, bay thẳng xuống dưới, kéo theo vệt sáng nhức mắt.

Tất thảy vệ sĩ cùng vu nhân canh gác đều rụng rời kinh hãi, nhất thời đứng ngây như tượng, không ai có thể mở mắt ra nhìn.

Quả cầu lửa tiếp đất, liền nảy bật lên, lăn lông lốc về phía đại điện, lại càng phát sáng trắng loà chói rực.

Không biết ai đã nhận ra đầu tiên, liền hét lớn: “Cổn địa lôi!”

Vừa nghe thấy tiếng, chúng giáp sĩ đều hồn bay phách lạc, tán loạn né tránh.

Quả cầu lửa lăn thẳng về phía cửa bên nơi Huệ Vương vừa đi qua. Cánh cửa đang đóng chặt. Vào khoảnh khắc quả cầu sắp lao vào cửa, một vu nhân vung cao pháp trượng quật thẳng xuống.

Nào ngờ pháp trượng còn chưa đánh tới đã tự rơi xuống, bốc cháy đùng đùng.

Cổn địa lôi ngoặt khỏi cửa bên, nảy tưng tưng về phía cửa chính đại điện.

Cửa chính có nhiều giáp sĩ hơn, song tất cả đều bị loá mắt trước ánh sáng chói chang của quả cầu, đua nhau giơ tay lên che mắt.

Cổn địa lôi lăn thẳng về phía cửa điện. Hai cánh cửa lớn cũng đóng chặt, nhưng dưới bậu cửa khoét một lỗ nhỏ để cho mèo trong cung ra vào bắt chuột. Quả cầu lửa kia biến hoá khôn lường, lập tức dài ra như rắn, chui tọt vào trong lỗ.

Đám giáp sinh cuống cuồng kinh hãi, không biết phải làm gì.

“Mau, mở cửa ra!” Cung uý quát lên như sấm, xô toang cửa điện, song đã muộn rồi.

Quả cầu lửa đã lọt vào trong, chiếu sáng loà loà, khiến toàn đại điện sáng rỡ như ban ngày. Toàn bộ triều thần giật mình kinh hãi, đều đứng chết lặng, không hiểu chuyện gì, cũng không biết phải làm gì.

Chính giữa đại điện là một lối đi đủ cho bốn người dàn hàng ngang. Quả cầu lửa nhảy nhót theo đó, lao thẳng về phía ngai vàng.

Hiển nhiên, Huệ Vương biết rõ đã xảy ra chuyện gì, sắc diện kinh hãi.

Song sự biến quá đỗi thình lình, Huệ Vương muốn chạy mà không kịp, nháy mắt đã thấy quả cầu nhảy tới ngay trước mặt, trong lúc cấp bách, Huệ Vương vơ lấy vương tỷ trên án, ném vào quả cầu.

Song quả cầu đã vùn vụt nhảy tới như một con vượn tinh ranh, lao thẳng vào Huệ Vương, va trúng vương tỷ vừa kịp rời tay, “ầm” một tiếng chát chúa, vương tỷ nổ tung thành muôn ngàn mảnh vụn.

Tiếng nổ khủng khiếp kéo theo cơn chấn động dữ dội, khiến toàn bộ triều thần đều ngã nhào.

Huệ Vương bị sét đánh trúng ngã văng xuống đất, nằm bất động. Long án trước mặt Huệ Vương cùng tất cả vật dụng xung quanh bốc cháy đùng đùng, nội thần đứng hầu bên cạnh cũng lăn ra bất tỉnh.

“Phụ vương…” Thái tử Đãng định thần lại đầu tiên, rú lên một tiếng, lao lại phía Huệ Vương.

Triều thần lúc này cũng lồm cồm bò dậy, đua nhau cởi áo tháo mũ, cuống quýt lao lại dập lửa.

“Mau, nước, nước!” Tư Mã Thác hô lớn.

Để phòng ngừa hoả hoạn, bên các cửa đại điện đều để sẵn những chum nước lớn cùng một chồng chậu đồng. Nên Tư Mã Thác vừa hô, quân uỷ lập tức chỉ huy đám giáp sĩ chia thành hai hàng, tức tốc chuyển nước vào trong.

Doanh Đãng và Tư Mã Thác cũng lao vào, tiếp lấy chậu nước, trước tiên dập lửa quanh người Huệ Vương, rối té nước vào những chỗ đang cháy khác.

Lửa nhanh chóng được dập tắt.

Nhìn lại Huệ Vương, sớm đã băng hà, toàn thân cháy xém, không còn ra hình người nữa.

“Đại vương….” Triều thần đều quỳ sụp xuống, cất tiếng khóc thảm thiết.

Công tử Tật định thần lại, ghé tai công tử Hoa nói nhỏ vài câu. Công tử Hoa liền đứng dậy, vội rảo bước lại bên thái tử Đãng đang gào khóc, ghé sát tai thì thầm.

Thái tử Đãng rùng mình một cái, đứng bật ngay dậy, giọng như chuông đồng: “Chư khanh đại phu, nghe chỉ!”

Nghe thấy giọng nói đầy uy lực của thái tử Đãng, triều thần liền im bặt tiếng khóc, đồng loạt nhìn lại.

“Sự việc vừa rồi, tất cả những người ở đây không ai trông thấy, tất cả phải sống để dạ, chết mang đi!” Doanh Đãng đanh giọng hạ lệnh, thần thái có mấy phần doạ dẫm, “tiên vương là vì dân Tần, vì nước Tần, vì thiên hạ mà lao lực quá độ, sáng nay đột ngột băng hà. Kể từ hôm nay, cả nước đại tang!”

Quần thần đưa mắt nhìn nhau, rồi lại quỳ sụp xuống đất, đồng thanh hô lớn: “Thần tuân chi!”

“Chư khanh đại phu,” Doanh Đãng tiếp lời, “hiện tại chưa tới lúc, không ai được khóc, tất cả hãy sang thiên điện, chờ cử hành tang lễ cho tiên vương!” Quay sang công tử Hoa, “thưa chú, hãy cho đóng chặt cổng cung, lệnh cho toàn bộ cung nhân, vệ sĩ cùng những kẻ có mặt, tuyệt không được phép bàn tán, đồn thổi. Kẻ nào to gan gieo rắc tin đồn, tru di cửu tộc.”

“Thần lĩnh chị!” Công tử Hoa dõng dạc đáp.

“Triệu ngự y, liệm nhân vào điện, chăm sóc cho tiên quân!” Doanh Đãng quay sang ngự sử Xa Vệ Quân, hạ giọng ra lệnh.

“Thần tuân chỉ!” Xa Vệ Quân lập tức đi ngay.

Chỉ trong một ngày, Triệu Vũ Linh Vương nhận được hai tin vui lớn, một tin tới từ nước Tần, Tần Huệ Vương đã băng hà; một tin tới từ Trung Sơn, sau khi Giang Cơ và công tử Nguyên Lăng bị xử tử, nhờ sự trợ giúp của Âm Công, tân vương Trung Sơn tiếp tục bức bách gia tộc họ Giang. Giang Công muốn khởi sự, bèn sai người sang cầu cứu Triệu Vương.

Vũ Linh Vương gắng kìm cơn hưng phấn, làm liền hai việc: Thứ nhất, phái sứ thần tới Đại Lương triệu Tô Tần về triều; thứ hai, sai Phì Nghĩa đón tiếp chu đáo sứ giả của Giang Công.

Phì Nghĩa nhiệt tình thù tiếp sứ giả của Giang Công, truyền lại khẩu dụ của Triệu Vương, bày tỏ sự bất bình trước cái chết của Giang Cơ và công tử, cùng tình thế quẫn bách của gia tộc họ Giang, lên án tân vương bất nghĩa, đồng thời hứa hẹn nếu Giang Công khởi binh, Triệu Vương sẵn lòng trợ giúp, tiêu diệt bạo quân, lập công tử mang huyết thống họ Giang lên làm tân quân.

Sứ giả của Giang Công mừng vui khôn xiết, không thể chờ thêm, tức tốc quay về bẩm báo.

Chưa đầy mười ngày sau, Tô Tần cũng từ Đại Lương gấp rút tới Hàm Đan, ngựa không dừng vó, vào thẳng cung thành yết kiến Triệu Vương.

“Tô Tử,” Vũ Linh Vương vốn người trầm tĩnh, song lúc này do vui mừng quá đỗi, không thể kìm nén, hân hoan mà rằng, “cơ duyên quả nhân chờ đợi, cuối cùng đã tới!”

“Hẳn là chuyện của Trung Sơn?” Tô Tần khẽ cười hỏi lại.

“Chính phải.” Vũ Linh Vương kể lại sơ qua chuyện sứ giả của Giang Công tới cầu viện, rồi nhìn thẳng vào Tổ Tần, “quả nhân vời Tô Tử tới đây, là để bàn xem làm thế nào để bớt đi người chết. Bất luận thế nào, người Trung Sơn hôm nay cũng là người Triệu ngày mai.”

“Đại vương anh minh!” Tô Tần vòng tay hỏi, “đại vương hẳn đã có diệu kế để lấy Trung Sơn?”

Vũ Linh Vương phá lên cười, vuốt râu mà đáp: “Hiện đúng là có một kế, song trước mặt Tô Tử, không dám nhận là diệu.”

“Xin hỏi kế của đại vương?”

“Chờ Giang Công khởi sự,” Vũ Linh Vương phấn chấn đáp, “Trung Sơn Vương ắt sẽ xuất binh trấn áp. Thế lực của Giang Công đa phần trong núi Thái Hàng, dễ thủ khó công, quân của Trung Sơn Vương ắt phải dốc toàn lực tiến đánh. Lúc này, quả nhân có thể chia quân năm ngả, đánh vào Trung Sơn từ cả bốn hướng nam bắc đông tây. Chủ lực là lộ phía nam, xuất phát từ Hàm Đan, vượt qua Hoè Thuỷ, đánh lên phía bắc; lộ phía tây xuất phát từ Lai Nguyên, chia thành hai đường tiến về phía đông, một theo đường Tỉnh Hình, đánh thẳng vào phúc địa Trung Sơn, một theo sông Cự Mã, đánh vào ải Tử Kinh, kết hợp với lộ phía bắc; lộ phía bắc xuất phát từ đất Đại, theo đường Quân Đô Hình, hợp quân cùng người Yên đánh xuống phía nam; lộ phía đông dùng thuyền bè theo Hà Thuỷ tới đầm Đại Dã, phong toả đường sông, chủ yếu là để ngăn cản người Trung Sơn tháo chạy về đông.”

“Kế của đại vương hay lắm!” Tô Tần khen ngợi, “đây là việc quân, không phải sở trường của thần.”

“Phải, phải,” Vũ Linh Vương cười nói, “quả nhân gấp gáp vời Tô Tử, là vì việc nước!” Chỉ về phía bắc, “trận chiến này không phải tầm thường, quả nhân nhất quyết phải thắng. Thu phục Trung Sơn, quả nhân tuy đã cầm chắc phần thắng, song tự trong lòng vẫn thấy bất an. Từng nghe Tô Tử nói, dùng binh giỏi nhất là dùng mưu, sau đó là dùng bang giao, sau nữa là đánh trận, kém nhất là đánh thành. Dùng binh giỏi nhất là không đánh mà khuất phục được người. Có điều, quả nhân sớm đã thấy rõ, muốn nhổ được cái gai Trung Sơn, không thể không đánh, nên buộc phải dùng cách kém hơn, trong khi kế của quả nhân lại là kém nhất, đánh trận và đánh thành. Quả nhân đỏ mắt chờ mong Tô Tử, chính là vì muốn cầu thượng sách, dùng bang giao và dùng mưu!”

“Tạ ơn đại vương tin tưởng!” Tô Tần vòng tay đáp, “thần cho rằng, về kế chinh phạt bằng bang giao với Trung Sơn, đại vương có thể nhân cơ hội năm nước hội minh tung thân, phái năm sứ thần tới thăm liệt quốc. Thứ nhất đi sứ sang Tề, nhắc lại lần nữa giao ước không can dự vào việc nước Tống. Thứ hai đi sứ sang Nguỵ, nhắc lại lần nữa giao ước không can dự vào việc nước Vệ. Thứ ba đi sứ sang Hàn, có thể nhường lại hai ấp tranh giành ở vùng Thượng Đảng. Thứ tư đi sứ sang Yên, hứa giúp Yên thu hồi Hạ Đô cùng những đất bị Trung Sơn chiếm cứ. Thứ năm đi sứ sang Tần…”

“Sang Tần?” Vũ Linh Vương ngạc nhiên, lẩm bẩm nhắc lại.

Đi sứ sang bốn nước kia, là việc đã từng bàn với Tô Tần lần trước, riêng việc sai sứ sang Tần, Vũ Linh Vương chưa từng nghĩ đến. Bất luận thế nào, tung thân cũng coi Tần là kẻ thù, coi chế Tần là mục đích, thân là nước khởi xướng tung thân, nay Triệu lại phái sứ sang nước đối địch, các nước tung thân khác sẽ nghĩ thế nào.

“Đại vương,” Tô Tần rành rọt giải thích, “năm xưa tiến quân băng hà, Tần Vương cho sứ tới Hàm Đan điều viếng. Nay Tần Vương băng hà, đại vương cũng nên sai người qua đó đáp lễ mới phải.”

“Phải, cũng là hữu lý.” Vũ Linh Vương vuốt râu gật gù, “theo ý Tô Tử, nên cử người nào đi viếng?”

“Trần Chân.”

“Trần Chẩn?” Vũ Linh Vương ngỡ ngàng, “người này… đang ở đâu?”

“Hàm Đan!”

“A?” Vũ Linh Vương càng thêm sửng sốt.

Cả nhà Trần Chẩn đang cư ngụ trên một con phố khá vắng vẻ trong thành.

Nói là một con ngõ có lẽ đúng hơn là phố, chỉ rộng vừa đủ cho một cỗ xe đi qua. Nếu nửa chừng gặp xe đi ngược, một trong hai cỗ xe buộc phải giật lùi, bởi vậy trước khi đánh xe rẽ vào, phu xe phải đứng trên càng xe nhìn suốt lượt con phố.

Vương xa và các loại xe khác trong cung rộng hơn xe thường tới mấy thước đương nhiên không đi lọt. Vũ Linh Vương dặn phu xe đứng chờ ngoài ngõ, rồi cùng Tô Tần đi bộ vào trong. Hoạn giả lệnh dẫn vài cung nhân khiêng theo mấy rương lễ vật đầy ắp, cùng vài viên thị vệ đi theo sau.

Tô Tần gõ cửa, người ra mở cửa chính là Trần Chẩn. Thấy một đoàn người bận áo Hồ đứng đầy trước cửa, Trần Chẩn thoạt tiên kinh ngạc, tiếp đến nhận ra Tô Tần, thì mừng rỡ vòng tay lia lịa: “Ối chao, Tô huynh đấy ư? Đất Triệu quả là giàu linh khí, tại hạ vừa mới nhắc tới Tô huynh cùng tiện nội, thì Tô huynh đã tới tận cửa rồi!”

“Trần huynh chọn bảo địa này, thật không dễ tìm!” Tô Tần đáp lễ, rồi chỉ vào Triệu Vương, “vị này.”

“Tại hạ Triệu Ung,” không đợi Tô Tần giới thiệu, Vũ Linh Vương đã tiến lên một bước, vòng tay cướp lời, “không biết Trần tiên sinh đại giá quang lâm nơi hẻo lánh, thất lễ, thất lễ!”

“Triệu Ung?” Trần Chẩn ngây ra một thoáng, nhìn lại người này, thấy ngoài một thân Hồ phục, không có gì lạ thường, đắn đo một chốc mới dè dặt hỏi, “là Triệu Vương ư?”

“Chính là quả nhân!”

“Ối chao!” Trần Chẩn kinh ngạc kêu lên, quỳ sụp xuống đất, “thảo dân Trần Chẩn khấu kiến Triệu Vương!”

Vũ Linh Vương bất ngờ, chưa kịp phản ứng, Trần Chẩn đã dập đầu lia lịa.

“Tiên sinh, mau đứng lên!” Vũ Linh Vương đưa tay đỡ Trần Chẩn dậy, ngắm nghía một lượt từ đầu đến chân, cười nói, “tiên sinh nức tiếng thiên hạ, quả nhân ngưỡng mộ đã lâu mà chưa được gặp, nào ngờ tiên sinh lại âm thầm quang lâm đất Triệu, thực khiến quả nhân mừng vui khôn xiết! Nghe Tô Tử báo tin vui tiên sinh có quý tử, quả nhân có chút lễ mọn, tìm tới chúc mừng!” Rồi quay sang hoạn giả lệnh, “dâng lễ!”

Hoạn giả lệnh sai người khiêng mấy rương lễ vật lớn vào trong. Trần Chẩn lại định khấu tạ, nhưng Triệu Vương kịp kéo dậy, rồi cùng đám Tô Tần tiến vào trong nhà.

Ngõ phố không rộng, song cơ ngơi lại không hề nhỏ, trông rất sạch sẽ khang trang.

Trần Chẩn sắp xếp chỗ ngồi, bày tôn vị quay về phía nam, cung kính mời Vũ Linh Vương nhập tịch, còn mình và Tô Tần ngồi ở hai bên.

Ba người khách sáo vài câu, rồi Vũ Linh Vương nói vào chuyện chính, ngữ điệu khẩn thiết: “Quả nhân tới đây, ngoài thăm hỏi tiên sinh, còn có một việc muốn cầu!”

“Chữ cầu Chẩn không dám nhận, đại vương có việc gì, xin cứ nói!”

Vũ Linh Vương nhìn sang Tô Tần.

“Trần huynh,” Tô Tần tiếp lời, “nước Tần có biến.”

“Ồ?” Trần Chẩn ngỡ ngàng, nhìn sững vào Tô Tần như muốn hỏi, rõ ràng vẫn chưa biết chuyện.

“Tần Vương băng hà, thái tử Doanh Đãng kế vị, đặt thuỵ hiệu cho cha là Huệ Văn!”

Trần Chẩn khép mắt, hồi tưởng chuyện xưa, chốc sau, nước mắt ứa ra. Trên đời này, hiểu được Trần Chẩn, dùng được Trần Chẩn, lại khiến Trần Chẩn thực lòng kính phục, duy chỉ hai người, một là Tô Tần trước mặt, và một người nữa, chính là Tần Vương Doanh Tứ.

“Tiên sinh,” Vũ Linh Vương vòng tay, “Tần có đại tang, quả nhân thương cảm, vốn muốn đích thân điếu viếng, nhưng việc nước bộn bề, không dứt ra được. Quả nhân muốn tìm người khác đi thay, nhưng nhìn khắp trong triều, không ai thích hợp. Mới thỉnh cầu Tô Tử, Tô Tử tiến cử tiên sinh, quả nhân mới biết tiên sinh đã tới tệ bang, lấy làm mừng rỡ, cũng lấy làm hoang mang, mới vội cùng Tô Tử tìm tới tận cửa, quấy quả tiên sinh!”

“Tạ ơn đại vương hậu ái!” Trần Chẩn thoáng ngẫm nghĩ rồi đáp lễ, “Chẩn đưa cả nhà tới Triệu, gửi thân vào phúc địa của đại vương đã vài tháng qua, uống nước Triệu, ăn thóc Triệu, đương nhiên cũng nên báo đáp đại vương, bởi vậy mệnh đại vương ban, Chẩn không thể không theo!”

“Tạ ơn tiên sinh!” Vũ Linh Vương vòng tay cảm tạ, rồi quay sang hoạn giả lệnh, “tuyên chiếu!”

“Trần Chẩn nghe chỉ!” Hoạn giả lệnh giở chiếu mệnh, cất giọng dõng dạc.

Trần Chẩn quỳ xuống dập đầu.

“Phụng mệnh trời, sắc phong đại hiền Trần Chẩn làm khách khanh nước Triệu, ban cho một toà phủ trạch, một xe tử mã, ba mươi dật vàng ròng, một cặp ngọc khuê, ba mươi súc lụa, mười nô bộc. Khâm thử.”

“Trần Chẩn thụ mệnh, tạ ơn đại vương hậu thưởng!”

“Khách khanh Trần Chẩn nghe chỉ!” Vũ Linh Vương cất giọng sang sảng.

“Thần nghe chỉ.”

“Quả nhân phong khách khanh Trần Chẩn làm đặc sứ sang Tần, chọn ngày lành khởi hành, sứ mệnh là điếu viếng tiên Tần Vương, cùng Tần kết bang giao hoà mục!”

“Chẩn tuân mệnh!”

Tuyên chiếu xong, Vũ Linh Vương di giá hồi cung, Trần Chẩn tiễn quý khách về rồi mới cùng Tô Tần hàn huyên, gọi phu nhân bế đứa bé đã vài tháng tuổi lại.

“Tên là gì vậy?” Tô Tần bế lấy đứa bé ngắm nghía một lát rồi hỏi.

“Còn chưa đặt!” Trần Chẩn bảo Y Na bế con lui ra, cười nói, “tại hạ đã nghĩ ra ba cái tên, chỉ chờ Tô huynh chọn giúp!”

“Tại hạ lấy làm vinh hạnh.” Tô Tần mỉm cười, “nói xem, là những tên gì?”

“Một là Khang Cù, hai là Thản Đô, ba là Chẩn Mạch.” Khang Cù là đường rộng lớn cho vương xa đi, Thản Đồ là đường cái đủ cho hai xe tứ mã tránh nhau, còn Chẩn Mạch là đường nhỏ trong ruộng dành cho xe bò.

Tô Tần phá lên cười lớn: “Trần huynh mê đường đến thế ư. Nhưng cớ sao đường càng đi lại càng hẹp làm vậy?”

“Than ôi,” Trần Chẩn cười buồn, “tại hạ sinh ra đã mang mệnh bôn ba, đứa trẻ này cũng thành hình ở trên đường. Đường càng đi càng hẹp, chính là cuộc đời của tại hạ đây. Nhớ năm xưa, tại hạ tới Nguỵ, một lòng muốn tranh đoạt ngôi tướng quốc của Đại Ngụy, một lòng muốn ganh đua với thương nhân nức tiếng thiên hạ Bạch Khuê, quả là hùng tâm vạn trượng. Chỉ tiếc thời vận kém cỏi, khiến con đường leo cao của tại hạ càng đi càng hẹp. Cho tới hôm nay, tại hạ khó khăn lắm mới suy nghĩ thông suốt, muốn tìm nơi hẻo lánh sống nốt tuổi tàn, ngờ đâu Tô huynh lại xua tại hạ lên đường, chao ôi huynh nói xem…”

“Tại hạ không cho là vậy,” Tô Tần cắt lời, “theo tại hạ biết, đường của Trần huynh không những không hẹp, trái lại càng đi càng rộng, bởi lẽ tâm của Trần huynh ngày càng khoát đạt. Như Trần huynh vừa nói, hiện đã nghĩ thông, đã nghĩ thông rồi, có thể buông bỏ. Đã buông bỏ rồi, chính là thông đạt. Bởi vậy đứa trẻ này nên gọi là Khang Cù.”

Trần Chẩn bật cười: “Tô huynh thực biết an ủi người khác. Được thôi, vậy thì Khang Cù!”

“Trân huynh,” Tô Tần mỉm cười, chuyển sang chuyện chính, “tại hạ nhờ huynh vượt đường xa sang Tần, thứ nhất là vì Doanh Tứ, thứ hai là vì Trương Nghi.

“Vì Doanh Tứ, có thể hiểu, cớ sao lại vì Trương Nghi Trần Chẩn băn khoăn hỏi.

“Tiên Tần Vương đã băng hà, Trương huynh e khó được yên thân. Trần huynh hãy thay tại hạ tới thăm dò, nếu Trương huynh vui vẻ, tại hạ sẽ an tâm; nếu Trương huynh không vui, Trần huynh hãy mời Trương huynh tới Sơn Đông, tại hạ sẽ cung kính đợi ở ải Hàm Cốc!”

“Tô Tử mời hắn tới Sơn Đông để làm gì?”

“Hợp tung, chế Tần.”

“Cha chả!” Trần Chẩn chặc lưỡi kêu lên, “Tô Tử có viển vông quá chăng?”

“Than ôi,” Tô Tần thở dài, “Trần huynh, thế gian này, viển vông cũng vậy mà không viển vông cũng vậy, có nghĩ vẫn hơn!”

Cùng với việc cho Trần Chẩn đi sứ sang Tần, Triệu Vương cũng cử người đi sứ sang các nước khác, đại phu Cừu Dịch sang Hàn, đại phu Vương Bốn sang Sở, đại phu Phú Đinh sang Nguỵ, đại phu Triệu Tước sang Tề, mỗi người có một sứ mệnh.

Còn về nước Yên, Vũ Linh Vương đặc biệt uỷ thác cho Tổ Tần.

Các việc giao bang cắt đặt xong rồi, Vũ Linh Vương bắt đầu bí mật điều động tam quân, dốc hết binh lực nước Triệu, gồm hơn hai vạn bộ binh, kỵ binh cộng với chiến xa, chia quân năm lộ, khí thế dời non lấp biển ép tới biên giới Trung Sơn. Nhiệm Ngưu Tiễn thống lĩnh quân khinh kỵ, xuất phát từ ấp Lai Nguyên công chiếm các ải Tinh Hình, Tử Kinh, đánh thẳng vào phúc địa Trung Sơn, là tây lộ. Nhiệm Triệu Hy thống lĩnh kỵ binh người Hồ thảo nguyên, xuất phát từ ải Cư Dung, hợp quân với người Yên đánh xuống phía nam, thu phục Hạ Đô Vũ Dương, là bắc lộ. Nhiệm Triệu Dữ thống lĩnh bộ binh đường núi, chiếm cứ vùng núi, phối hợp với phản quân Giang Công. Nhiệm Phì Nghĩa thống lĩnh đội thuyền, khoá chặt Hà Thuỷ, Dịch Thuỷ và Hoè Thuỷ. Trung lộ là cánh quân chủ lực do Triệu Thiệu thống lĩnh hữu quân, Hứa Quân thống lĩnh tả quân, Triệu Chương thống lĩnh trung quân, vượt Hoè Thuỷ đánh lên phía bắc.

Vào lúc Vũ Linh Vương đang bài binh bố trận, nội loạn cũng nổ ra ở Trung Sơn. Giang Công nhận được lời hứa hẹn của Triệu Vương, liền dốc sức toàn tộc, tập hợp được hơn hai vạn trai tráng vùng sơn địa, tập kích vào đường Tinh Hình cùng các nơi trọng yếu trong núi, chiếm được ải Tinh Hình.

Ải Tinh Hình là cửa ải quan trọng nhất của Trung Sơn, Trung Sơn Vương Mẫn hay tin, rụng rời kinh hãi, cấp tốc triệu Tư Mã Hy, Công Tôn Hoằng tới mưu sự.

Ba người lấy làm hối hận vì đã không kịp thời nhổ cỏ tận gốc, để lại mầm hoạ cho hôm nay. Trung Sơn Vương điều động ba vạn nhuệ binh đánh đoạt lại ải. Phản quân của Giang Công dựa vào thế hiểm liều mình chống trả, lại cầu viện Triệu Vương. Đúng vào thời khắc nguy cấp, hơn vạn kỵ binh của Ngưu Tiễn đã tới nơi.

Cùng lúc đó, bốn lộ quân Triệu khác cũng đồng thời đánh tới, từ khắp bốn phía ùa vào biên giới Trung Sơn. Cấp báo bốn phương dồn dập truyền về Linh Thọ, Trung Sơn Vương hoảng loạn, khắp trong thành nhốn nháo hoang mang.

Ba ngày sau đó, Trung Sơn Vương nhận được chiến thư của Triệu Vũ Linh Vương, kể ra mười hai tội ác, như giết hại mẫu phi Giang Cơ, tàn sát huynh đệ, xâm phạm nước Yên, bức hại họ Giang, xa hoa hưởng lạc, tham dục vô độ, hậu cung dâm loạn, say sưa trác táng, cướp đoạt bừa bãi vân vân, gồm cả bất nhân, bất hiếu, bất nghĩa, bất đễ, tội ác khó dung. Trung Sơn Vương giận dữ đến độ rút kiếm chém chết sứ giả nước Triệu tại trận, chiếu mệnh trai tráng cả nước sẵn sàng nghênh chiến, thề sống mái cùng giặc Triệu.

Thế nhưng, việc đã quá muộn.

Do ải Tinh Hình đã bị Giang Công chiếm trước, vài vạn kỵ binh Triệu đã chuẩn bị sẵn sàng từ lâu ồ ạt qua ai Tinh Hình vào Trung Sơn, quân Trung Sơn mất đi địa lợi, nhanh chóng tan rã, song nhanh thế nào cũng không thể nhanh bằng kỵ binh nước Triệu, chớp mắt đã cắt đứt đường lui của quân Trung Sơn. Cùng lúc đó, một nhánh kỵ binh Triệu chọc thẳng vào phòng tuyến trường thành Trung Sơn phía bắc Hoè Thuỷ. Trường thành Trung Sơn được xây dựng để phòng ngừa nước Triệu, chỉ dựng một mặt tường đá, phía trước là Hoè Thuỷ làm bình phong thiên nhiên. Vài vạn quân trấn thủ Trung Sơn nấp sau tường đá, dốc sức phòng ngự vài vạn đại quân Triệu đang rục rịch chuẩn bị từ bờ Hoè Thuỷ đối diện băng sang, nào ngờ lại bị tập kích từ sau lưng, kỵ binh nước Triệu đông đến vài vạn từ ải Tinh Hình đánh thốc tới, bộ tốt Trung Sơn trên đầu tường thành lập tức trở thành bia bắn của kỵ binh Trung Sơn. Toàn tuyến trường thành bờ bắc Hoà Thuỷ tan rã, nhiều đoạn tường thành đổi sang cờ Triệu, mười vạn quân Triệu bên bờ kia Hoè Thuỷ không còn phải kiêng dè, ung dung vượt sông, phá tan tường thành Trung Sơn, đánh vào trong đất Trung Sơn, thế như núi lở.

Qua ba ngày kịch chiến, toàn cõi Trung Sơn đâu đâu cũng chiến hoả mịt mờ, năm vạn quân Yên do Nhạc Nghị thống lĩnh được trợ chiến bởi kỵ binh nước Triệu, bao vây Hạ Đô tầng tầng lớp lớp, ải Tử Kinh do người Trung Sơn chiếm cứ, trước mũi giáp công của hơn mười vạn quân Triệu, Yên đánh từ hai phía, nhanh chóng thất thủ, hơn vạn tướng sĩ Trung Sơn đa phần tử chiến. Chủ tướng Triệu Hy theo chỉ lệnh của Vũ Linh Vương, giao lại tàn quân Trung Sơn đang bị vây khốn trong Hạ Đô và các vùng đất khác vốn thuộc nước Yên ở phía Bắc Dịch Thuỷ cho quân Yên của Nhạc Nghị, còn mình dẫn kỵ binh băng qua Dịch Thuỷ, từ phía bắc đánh vào trong lòng Trung Sơn.

Chẳng mấy chốc, ngoại trừ cánh thuỷ binh của Phì Nghĩa, bốn lộ quân Triệu đã thọc sâu vào trong đất Trung Sơn, thế như vũ bão, không gì cản nổi, tàn quân Trung Sơn co cụm trong mấy thành ấp phòng ngự kiên cố, bị bao vây kín mít.

Đô thành Linh Thọ bị cô lập hoàn toàn. Ngoài thành, quân Triệu kéo tới ngày một đông, đứng trên cổng thành nhìn đi, hướng nào cũng thấy doanh trại quân Triệu trùng điệp trải dài, cờ xí bay rợp.

Vài trăm dặm đất đai Trung Sơn hầu như đã nằm trọn trong tay người Triệu. Vũ Linh Vương sớm đã coi người Trung Sơn là con dân, chiếu lệnh quân Triệu giữ nghiêm phép quân, không được quấy nhiễu dân chúng Trung Sơn, đồng thời dán cáo thị khắp nơi, nói rằng chỉ cần người Trung Sơn chịu hạ vũ khí, sẽ không truy cứu chuyện cũ. Các bộ tộc bị tân vương bức bách như họ Giang, họ Nhạc đua nhau hưởng ứng, du thuyết khắp nơi, thường dân Trung Sơn ở nơi làng xóm cũng đã nhận ra tình thế, biết rằng Triệu Vương muốn đoạt Trung Sơn, trứng không thể chọi lại đá, nên không ít người lựa chọn buông khí giới quy thuận.

Giờ đây, kiên gan đối kháng chỉ còn một vài bộ tộc có thế lực trong triều như tộc họ Âm.

Tới lúc này, Vũ Linh Vương lại không hề vội vã, ung dung cho chở hàng đoàn xe lương thảo vào Trung Sơn, đảm bảo quân lính không xâm phạm của dân. Người dân Trung Sơn cũng dần an tâm, không còn ghét người Triệu nữa, ngày càng có thêm nhiều người quy thuận.

Ba tháng sau, nhờ Tô Tần du thuyết, ba vạn quân Trung Sơn trấn giữ hạ đô Vũ Dương đều ra hàng Yên, những vùng đất Yên bị Trung Sơn chiếm đoạt đều đã được người Yên thu hồi toàn bộ. Còn phía Trung Sơn, toàn bộ biên cương, trọng ải cùng vùng hương thôn đồng ruộng mênh mông đều đã vào tay người Triệu. Tại Phì Ấp, quê cũ của Âm Công, nhờ được Phì Nghĩa trợ giúp mà gia tộc họ Phì đang trong cảnh nô lệ đã vùng lên tạo phản, cùng người Triệu trong ứng ngoài hợp, đánh vào Phì Ấp, người họ Âm còn lưu lại trong thành gần như bị giết sạch. Thêm một tháng nữa, các vùng Phòng Tử, Thạch Ấp, Trung Nhân, Phù Liễu lần lượt thất thủ, nước Trung Sơn vài trăm dặm vuông chỉ còn sót lại một toà cô thành Linh Thọ, toàn bộ quân trấn thủ chưa đầy ba vạn, muốn chạy cũng không còn đường chạy nữa.

Trời đã vào đông, gió Bắc thổi về, đợt tuyết đầu tiên đã đổ.

Đúng lúc Vũ Linh Vương đang cùng chư tướng bàn bạc về trận quyết chiến cuối cùng, Tô Tần tìm tới.

“Dám hỏi đại vương,” sau khi nghe Vũ Linh Vương thuật lại kế sách công thành, Tô Tần vòng tay hỏi, “đại vương muốn có được một Linh Thọ toàn vẹn, trù phú, tinh khí tràn trề, hay là một Linh Thọ tan hoang, khánh kiệt, sặc mùi tử khí?”

“Quả nhân đã thăm dò, Trung Sơn Vương không chịu hàng ta.” Vũ Linh Vương cười bất lực, chỉ vào lớp tuyết trắng phủ một lượt mỏng trên mặt đất, “mùa đông đã tới, ba quân tướng sĩ ta không thể ở trong lều trại được lâu, vậy nên nhất quyết phải chiếm được Linh Thọ trước ngày Đông chí.”

“Thần từng nghe nói,” Tô Tần đáp lời, “thú cùng chứ ép, giặc cùng chớ đuổi. Nhìn vào tình thế trước mắt, Trung Sơn Vương, Âm Công, Âm Cơ không phải là không chịu hàng, mà là không thể hàng, bởi gia tộc họ Giang đang chờ sẵn ngoài thành, dứt khoát sẽ không chịu tha cho họ!”

“Khanh nói phải!” Vũ Linh Vương gật gù, “vậy thì, Tô Tử hẳn có diệu kế lấy thành?”

“Kế thì có một, chưa tính là diệu.” Tô Tần nhìn vào sa bàn trên án, chỉ vào cổng Đông, “đại vương có thể mở một mặt lưới, chính là chỗ này, cổng thành Đông, thả cho Trung Sơn Vương đi.”

“Thả đi đâu?”

“Nước Tề.”

“Tề Vương chịu thu nhận hắn ư?”

“Mong còn chẳng được!” Tô Tần đáp, “Tề Vương nếu có Trung Sơn Vương, chính là nắm được trong tay một quân cờ để đối phó với đại vương.”

“Có được quân cờ này trong tay, Tề Vương há chẳng…” Vũ Linh Vương lo lắng.

“Toàn bộ đất nước Trung Sơn đã thuộc về Triệu, chỉ cần đại vương trị lý thoả đáng, khiến người Trung Sơn tâm phục, sẽ không ai còn nhớ tới Trung Sơn Vương này nữa. Vả lại, mục đích của Tề Vương không phải Trung Sơn, mà là nước Tống. Giữ Trung Sơn Vương trong tay, chẳng qua để đề phòng bất trắc mà thôi. Chuyện nước Tống, đại vương đã nhận lời rồi, đợi đến khi Tề đánh Tống, chỉ cần đại vương giữ lời hứa, thì Trung Sơn Vương chỉ là quân cờ vô dụng. Còn như đại vương nếu kiên quyết đánh thành, Trung Sơn Vương không còn đường lui, ắt sẽ liều mình kháng cự. Nay đại vương đã có được Trung Sơn, người Trung Sơn đều đã là người Triệu. Cùng là người Triệu, lại vì một quân cờ vô dụng này mà tàn sát lẫn nhau, thần cho là không sáng suốt.” Tô Tần giảng giải.

“Tô Tử nói rất phải!” Vũ Linh Vương đã nghĩ thông, bèn truyền chỉ cho Lý Tỳ.

Thấy mình đang từng bước đưa thế cờ vào chỗ chết, Tư Mã Hy có chút hoang mang. May sao kẻ chủ mưu giết Giang Cơ và công tử Nguyên Lăng không phải là hắn, mà là do Trung Sơn Vương, Âm Công và Công Tôn Hoằng liên thủ. Tuy nhiên, cả dòng họ Tư Mã đều bị vây khốn trong thành Linh Thọ, một khi thành bị phá, sẽ không ai chịu nghe hắn giải thích. Do vậy, khi Lý Tỳ truyền đến ý chỉ của Triệu Vương, Tư Mã Hy hai mắt ngời sáng, lập tức mời Công Tôn Hoằng tới bàn bạc, rồi vào cung yết kiến Trung Sơn Vương.

Người Triệu vây thành đã vài tháng, song lại chưa một lần tấn công. Trung Sơn Vương thoạt tiên rất đỗi lo âu kinh sợ, nhưng theo thời gian, căng thẳng cũng bớt dần.

“Đại vương,” Tư Mã Hy bẩm tấu, “mùa đông đã tới!”

“Phải.” Trung Sơn Vương khép lại vạt áo cừu, nhìn thẳng vào Tư Mã Hy, biết rằng hắn có điều muốn nói.

“Quân Triệu vẫn đang ở trong lều trại ngoài đông trống.” Tư Mã Hy chỉ ra bên ngoài.

“Ồ?” Trung Sơn Vương nheo nheo mắt nhìn Tư Mã Hy, “ý tưởng quốc không phải là… muốn quả nhân mời họ vào thành đấy chứ?”

“Không phải,” Tư Mã Hy sắc mặt âu lo, “mà là người Triệu sắp sửa công thành.”

“Sao… sao khanh biết?” Trung Sơn Vương giật mình kinh hãi.

Tư Mã Hy nhìn sang Công Tôn Hoằng.

“Đại vương,” Công Tôn Hoằng tiếp lời, “là sứ Triệu truyền tin, nói rằng đó là ý chỉ của Triệu Vương!”

“Triệu Vương nói sao?” Trung Sơn Vương hấp tấp hỏi. Công Tôn Hoằng hạ thấp giọng đáp: “Triệu Vương đưa ra hai con đường cho đại vương lựa chọn, một là giữ thành, tử chiến với Triệu. Nếu ta giữ được thành, Triệu Vương sẽ phải lui binh. Còn nếu ta không giữ được…” Ngập ngừng dừng lại.

“Còn con đường thứ hai?” Trung Sơn Vương nôn nóng hỏi dồn.

“Cho đại vương xuất thành!”

“Xuất thành?” Trung Sơn Vương sửng sốt, “đi đâu?”

“Nước Tề.”

“Tề Vương… hẳn vẫn hận quả nhân, vì chuyện nước Yên hồi trước!”

“Giờ thì không hận nữa.” Tư Mã Hy giải thích, “người Triệu một mình nuốt trọn đất Trung Sơn, Tề Vương trong lòng hậm hực. Nhưng lúc này Tề Vương đang tin theo Tô Tần, lại nhập tung thân, vừa cùng bốn nước Sở, Triệu, Nguỵ, Yên kết thành minh ước tại Đại Lương. Triệu Vương phạt ta, Tề Vương không tiện can dự, song cũng không vui vẻ gì. Chỉ cần đại vương tới Tề, cầu cứu Tề Vương, hẳn Tề Vương sẽ có cớ để ép người Triệu giúp đại vương phục quốc.”

Trung Sơn Vương nhìn sang quốc trượng Giang Công. Giang Công nãy giờ vẫn ngồi bên cạnh, hai mắt lim dim, không nói một lời, giờ thấy con rể nhìn sang, mới mở mắt, nhìn xoáy vào Tư Mã Hy: “Triệu Vương có nói xuất thành ra sao?”

“Người Triệu sẽ rút khỏi cổng thành Đông, chừa cho vua ta một đường thoát. Đại vương có thể qua cổng Đông đi tới Hà Thuỷ, thuyền của người Triệu chờ sẵn ở đó, sẽ chở đại vương qua sông, đưa tới nước Tề!”

“Nếu Triệu Vương lật lọng thì sao?”

“Triệu Vương ra một điều kiện, chính là sau khi đại vương xuất thành rồi, phải để lại chỉ lệnh cho ba quân tướng sĩ buông bỏ binh khí, mở hết cổng thành cho người Triệu vào.”

“Không được!” Trung Sơn Vương đấm mạnh xuống án, gần như gầm lên, “thể có khác gì đầu hàng? Trong máu của người Trung Sơn không có tính nô lệ ấy!”

Giang Công khép mắt ngồi im.

“Đại vương,” Công Tôn Hoằng khế giọng, “ta bị vây khốn bốn bề, vùng núi, hương thôn đều bị người Triệu chiếm đoạt, không còn nơi nào để đi, cũng không còn ai cứu viện, cứ cố thủ trong cô thành, chỉ có một kết cục Dừng lại một thoáng, “bởi vậy, thần cho rằng, rời khỏi đây là thượng sách!”

“Đại vương,” Tư Mã Hy cũng hùa theo, “núi xanh còn đó, lo gì thiếu củi đun. Năm xưa Nhạc Dương người Nguỵ phạt ta, đánh chiếm Cố Đô, đuổi tiên quân Hoàn Công đi. Về sau Hoàn Công dựa vào sức một mình mà phục quốc. Nay người Triệu xâm chiếm toàn bộ lãnh thổ ta, Linh Thọ không giữ nổi, nếu đại vương lại…”

“Không phải nói nữa!” Trung Sơn Vương xua tay cắt ngang, “quả nhân sẽ tới nương nhờ đất Tề, các khanh hãy mau chuẩn bị.”

Vào một đêm không trăng gió lớn, dưới sự sắp xếp của Lý Tỳ, đám Giang Công, Công Tôn Hoằng hộ tống Trung Sơn Vương Thế Thứ cùng vương hậu Âm Cơ, đánh theo hai mươi cỗ xe chở đầy ắp châu báu, chạy qua cổng thành Đông, đi về phía đông tới bên bờ Giang Thuỷ. Bộ chúng Phì Nghĩa đã phụng vương chỉ chờ sẵn ở đó, đưa sau, Tu Mã họ qua sông tiếp tục về đông. Sáng sớm hôm Hy truyền vương chỉ, mở hết bốn cổng thành. Vậy là Linh Thọ đã thuộc về người Triệu.

Vài ngày sau, Vũ Linh Vương đã giải giáp toàn bộ Trung Sơn, theo đúng giao hẹn trước đó, nghe Giang Công tiến cử, lập Cơ Thượng, con trai thứ của tiên Trung Sơn Vương Thổ lên làm tần vương của Trung Sơn, bái Giang Công làm tướng quốc, giáng Tư Mã Hy làm thứ dân, các cựu triều thần khác của Trung Sơn hoặc bị xử tội, hoặc bị cách chức, không sót một ai.

Cả nước Trung Sơn đã hoàn toàn thần phục, nhất nhất nghe theo Triệu Vương.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử