Hội thề Mạnh Tân kết thúc thuận lợi, phó sứ hợp tung nước Sở công tử Như thở phào nhẹ nhõm. Tuy nhiên, đúng lúc công tử Như chuẩn bị lên đường tới đất Tống bái kiến chân nhân, lại bị Uy Vương triệu tới bồi giá.
Sau khi ba vương Ngụy, Tề, Hàn kết minh ước phạt Tần tại Hổ Lao quan, Sở Uy Vương không thể chịu nổi cái giá rét của phương bắc, nên đã khước từ lời mời của tung ước trưởng Ngụy Huệ Vương, đi theo đường núi Lỗ Sơn đến Phương Thành, khởi giá về nam.
Một là do tuổi tác đã cao, hai là do gần đây bị đám cung tần mỹ nữ vắt kiệt tinh tuỷ, khi Sở Uy Vương xa giá lên bắc còn chưa cảm thấy gì, giờ đây khi bắt đầu khởi giá quay về, dần dà chịu không thấu, vừa tới núi Lỗ Sơn đã đột ngột đổ bệnh, trước tiên là hai chân rũ liệt, ban đêm đổ mồ hôi trộm, tiếp đó không thiết ăn uống, miệng lưỡi khô khát, xương cốt nhức mỏi, toàn thân trên dưới đau nhừ. Con cháu đi theo duy chỉ có công tử Như, nên mọi việc lớn nhỏ đương nhiên không thể thoái thác cho ai khác.
Thấy ngự y tuỳ tùng nói rằng bệnh của phụ vương chỉ là khí huyết đều hư, không phải bệnh nguy kịch, công tử Như cũng hơi yên tâm, hạ lệnh đi chậm lại, vừa đi vừa nghỉ. Ngự y sắc thuốc kịp thời, vừa châm vừa cứu, lại thêm công tử Như vận hết công phu tu luyện suốt bao năm qua để trợ giúp về nội công, nên sau hơn hai tháng rong ruổi, Uy Vương không những vẫn chịu đựng được hành trình dằng dặc hơn hai nghìn dặm, mà sau khi về tới đài Chương Hoa, lại ăn uống ngon miệng, khí sắc tốt hẳn lên.
Thấy đại vương đã bình phục, triều thần đều tới chúc mừng, công tử Như cuối cùng đã được thở phào, chính thức thỉnh cầu tới Tống. Uy Vương lúc này mới sực nhớ ra lời hứa trước đây, song sau mấy tháng vừa rồi, Uy Vương không muốn rời xa công tử Như lấy một bước, bèn hạ lệnh cho nội thần đánh xe tới đất Tống, mời bằng được Trang chân nhân tới Sở.
***
Tại Mông Ấp đất Tống, cách ngoại ô tây nam hơn chục dặm có sông Bộc Thuỷ chảy qua. Lúc này đúng dịp cỏ mượt oanh bay, tiết trời chuyển ấm, Bộc Thuỷ sóng biếc dập dờn, thực là nơi ngắm cảnh xuân rất mực lý tưởng.
Lòng sông rộng lớn, song đang dịp hạn xuân, nước chảy không xiết, mực nước không sâu, bên bờ có thể nhìn rõ những đàn cá nhỏ tung tăng bơi lội. Một thằng nhóc choai choai áo quần rách rưới ngồi trên một mô đất cỏ mọc xanh rì, đờ đẫn nhìn về phía một bãi bồi tít giữa dòng xa. Ven bãi bồi, vài con vịt trời vừa sục mỏ vào trong đám cỏ nước, vừa kêu càng cạc liên hồi.
Cách thằng nhóc chỉ vài bước chân, một nam tử trung niên đầu tóc rối bù, quần áo cũng rách rưới y hệt đang thảnh thơi nằm vắt chân chữ ngũ, gối đầu lên một mô đất nhỏ ngủ ngon lành.
Đột nhiên, cẳng chân đang gác phía trên bỗng trượt xuống, bắt đầu giật lên khe khẽ. Chân kia cũng lây theo, rung lên bần bật. Tiếp đó là hai bàn tay, rồi mười đầu ngón tay duỗi gập liên hồi, trông rất nhịp nhàng.
Thằng nhóc kia rõ ràng đã nhìn thấy, ánh mắt liền rời khỏi mặt sông, dán vào khuôn mặt của nam tử trung niên.
Khuôn mặt ông ta rất thư thái, cái miệng lúc mở lúc khép, một dòng nước dãi nhễu ra bên khoé miệng, chảy qua quai hàm, rớt thành một đường lòng thòng xuống tận mặt cỏ.
Nam tử trung niên đang chìm trong giấc mơ kia không phải ai khác, chính là “chân nhân” mà công tử Như một lòng ước ao được diện kiến, Trang Chu.
Trang Chu tay chân co giật một hồi, rồi đột ngột choàng tỉnh, ngồi phắt dậy, nâng ống tay áo quệt dòng nước dãi bên khoé miệng, lại đưa mu bàn tay dụi mắt vài cái, mở bừng mắt ra, nhìn trân trân vào dòng sông trước mặt, lẩm bẩm một mình: “Kỳ lạ thay! Kỳ lạ thay! Vừa rồi rõ rành rành còn là một con bướm, sao chớp mắt đã biến thành Trang Chu rồi?” Nửa như vẫn mơ màng, lại nửa như đã tỉnh, khẽ chau mày, băn khoăn nghi hoặc. “Ta đang mơ ư, hay là đang tỉnh? Ta là Chu ư, hay là bướm? Ta là Chu mơ thấy bướm, hay là bướm mơ thấy Chu đây?” Rồi vỗ mạnh vài cái vào đầu. “Phải rồi, tỉnh và mơ, Chu và bướm, dứt khoát là có sự phân cách, nhưng sự phân cách này ở đâu đây? Là khoảnh khắc giữa tỉnh và mơ ư? Tỉnh là Chu, mơ là bướm. Mơ không phải tỉnh, bướm không phải Chu. Ta lúc này đây là Chu đã tỉnh, vậy còn con bướm trong mơ kia là kẻ nào đây?…”
Trang Chu vò đầu bứt tai, khổ sở suy nghĩ.
“Cha!” Thằng nhóc bên cạnh thấy người đàn ông cứ trăn trở mãi không thôi, không nhịn nổi nữa bèn lên tiếng gọi khẽ.
Trang Chu ngẩng đầu trông, lúc này mới nhìn thấy thằng nhóc, thì thoáng ngạc nhiên: “Tiêu Tiêu, con tới từ lúc nào thế?”
“Con đến lâu rồi!” Thằng nhóc tên gọi Trang Tiêu đáp lời. “Đã hơn nửa canh giờ, mà cha vẫn cứ ngủ khì, con…”
“Tới nghịch nước phải không?” Trang Chu đứng bật dậy, chỉ xuống mặt sông mà nói. “Đi nào, cha sẽ dẫn con đi tìm rùa. Trời ấm lên rồi, bọn rùa sẽ lên bờ sưởi nắng!”
“Con không thích xem rùa sông, con… đói bụng!”
“Đói bụng?” Trang Chu dừng bước, phì cười mà nói. “Đói bụng thì đi tìm mẹ chứ, bảo mẹ nấu cho mà ăn!”
“Cha!” Trang Tiêu xịu mặt. “Là mẹ bảo con tới đây, trong nhà chẳng còn gì để ăn nữa.”
“Chẳng còn gì để ăn nữa?” Trang Chu kinh ngạc. “Không thể nào! Mấy hôm trước chẳng phải vừa mới nướng bánh sao?”
“Thì nướng có mỗi một cái bánh, cha đã mang đi quá nửa rồi. Non nửa còn lại, chẳng đủ cho ba người chúng con. Đã qua ba ngày rồi, Dao Dao đói bụng kêu khóc suốt, mẹ hết cách mới bảo con đi tìm cha.”
“Thì bảo mẹ nướng cái bánh khác!”
“Hết bột rồi!”
“Trời ơi!” Trang Chu chau mày, than thở trách móc. “Mẹ con cũng thật là… Không có bột thì đi tìm bột, đến việc cỏn con này cũng làm phiền cha, đúng là…” Rồi nhìn lên vầng mặt trời trên đỉnh đầu, lại nhìn xuống dòng sông. “Sông xuân nước ấm, ánh dương tưng bừng, thế mà bà ấy không chịu cho cha tự tại lấy một chốc.”
Trang Tiêu khẽ mấp máy vành môi vài cái, rồi cúi gằm mặt, không hé thêm lời nào nữa.
“Được rồi, được rồi!” Trang Chu khẽ lắc đầu, thở hắt ra, uể oải vươn vai. “Đi nào, chúng ta về nhà thôi!”
Trang Chu theo sau Trang Tiêu, băng qua bờ đê, men theo đường mòn, đi được một lúc thì leo lên một đồi đất cây cối rậm rạp, tươi tốt xanh um. Nhà Trang Chu ở phía sau ngọn đồi này, là một gian nhà cỏ đơn sơ, cũng được coi là rộng rãi, thoạt nhìn đã biết được dựng khá lâu rồi, xung quanh dùng đá vụn chồng thành một dãy tường cao chưa đến thắt lưng, có thể phòng lợn rừng, song không ngăn được chó. Cổng nhà là một cánh cổng gỗ đơn sơ, ràng bằng dây thừng lên cọc gỗ.
Trang Tiêu tháo dây thừng, mở cánh cổng, còn chưa bước vào sân, một bé gái tầm bốn năm tuổi nghe thấy tiếng động đã rối rít chạy ra, mừng rỡ reo lên: “Cha!” Rồi lao thẳng về phía Trang Chu, ôm chầm lấy hai chân ông ta.
Trang Chu bế bổng cô bé lên, thơm một cái rồi nói: “Dao Dao, con nhìn xem, cha mang về cho con cái này hay lắm!” Rồi đưa tay lên tai, rút từ vành tai xuống một đoá hoa dại, huơ lên trước mặt cô bé.
Trang Dao cầm lấy đoá hoa, đưa lên mũi ngửi, rồi rụt rè hỏi: “Cha ơi, hoa có ngon không? Dao Dao đói bụng!”
Trang Chu phá lên cười: “Con bé ngốc này, hoa là để ngắm, không phải để ăn. Muốn ăn, phải tìm mẹ con chứ. Mẹ con đâu rồi?”
“Mẹ đi rồi!”
Trang Chu lấy lại bông hoa từ tay Trang Dao, vui vẻ gài vào bím tóc sừng trâu của cô bé, rồi thả cô bé xuống đất, chỉ vào vại nước nói: “Dao Dao, đến bên vại nước soi thử xem con có xinh không?”
Trang Dao chạy tới bên vại nước, còn Trang Chu ung dung bước vào trong nhà cỏ.
Gian nhà trống huơ trống hoác, trơ bốn bức tường, đồ đạc chỉ có độc một chiếc bàn cũ nát. Kê sát tường là vài cái chum đựng gạo, Trang Chu tiến lại gần, lật mở từng nắp chum, bên trong quả nhiên đều sạch trơn.
Trang Chu khẽ chau mày, ngồi xuống phía trước chiếc bàn nát, khép hai mắt lại.
Trang Dao soi mình xuống vại nước xong, liền chạy vào nhà, đang định tới nhõng nhẽo với Trang Chu thì bị Trang Tiêu lôi lại. Hai đứa trẻ nhìn nhau, rồi lại cùng nhìn chằm chằm vào người cha của chúng.
Ngoài cổng bỗng vọng lại tiếng bước chân.
Tiếng bước chân chậm chạp, bước này nối tiếp bước kia, rất đỗi nặng nề. Hai đứa trẻ chạy ào ra, mỗi đứa túm lấy một bên vạt áo của một người đàn bà gầy gò tầm ba mươi tuổi. Trên vạt áo có vài mụn vá, nhìn vào những đường kim thưa vụng trên miếng vá, đủ biết chị ta không giỏi nữ công.
“Mẹ ơi, cha về rồi!” Trang Dao nói rồi chỉ lên đầu. “Mẹ xem, hoa cha tặng con này, đẹp không?”
“Đẹp!” Người đàn bà hiển nhiên chẳng còn tâm trí đâu mà ngắm hoa, mắt vẫn nhìn thẳng, lê từng bước vào trong gian nhà chính, dừng lại trước mặt Trang Chu.
Trang Chu mở mắt, ánh nhìn dừng lại trên chiếc bát sành trống rỗng trên tay người đàn bà. Rõ ràng, chị ta vừa đi ra ngoài vay gạo, giờ tay không trở về.
“Cha nó ơi…” Người đàn bà ứa nước mắt, nghẹn ngào không nói tiếp được nữa.
“Mẹ nó này!” Trang Chu gắng gượng nặn ra một nụ cười. “Mẹ nó đã tới những nhà ai rồi?”
“Xung quanh đây, chỗ nào đến được đều đã đến cả rồi!”
“Nhà Cừu Xuân thì sao?” Trang Chu lại hỏi.
“Đến rồi!”
“Hắn không chịu cho vay?”
“Có! Đã cho vay ba lần rồi, lần này thực không thể cho thêm được nữa. Năm ngoái mùa màng thất bát, năm nay vụ xuân lại mất mùa, nhà hắn cũng hết gạo rồi.”
“Có thiếu tới đâu chăng nữa, chẳng nhẽ đến một bát bé tí này cũng không có nổi ư?”
“Đừng nói là một bát, đến nửa bát cũng không có. Cừu Xuân nói, sáng sớm mai hắn sẽ phải đi xa, hẳn là đi xin ăn.”
Trang Chu thở dài một tiếng, dường như lúc này mới biết được sự tình nghiêm trọng.
Bầu không khí trở nên ngưng trệ.
Hai đứa trẻ ngửa mặt nhìn đăm đăm vào người đàn bà, mỗi đứa ôm chặt lấy một bên chân, ánh mắt đầy sợ sệt. Hiển nhiên, chúng đều hiểu rõ đi ăn xin là như thế nào.
“Phải rồi!” Trang Chu mở choàng mắt. “Giám Hà Hầu, nhà hắn có gạo!”
“Cha nó ơi!” Người đàn bà ngần ngừ một lát. “Cũng đã đến rồi. Nhưng ông ta…”
Trang Chu hỏi dồn: “Hắn nói sao?”
“Ông ta nói rằng.” Người đàn bà lúng búng trong miệng. “Thức ăn nhà ông ta, có cho chỉ cho chó ăn, nuôi chó để trông nhà.”
“Ha ha ha!” Trang Chu không những không nổi giận, ngược lại còn phá lên cười lớn. “Quả là thú vị, thú vị quá! Mẹ nó này, mang một cái bao gai lại đây, tôi sẽ đi làm chó!”
“Cha nó ơi!” Người đàn bà trợn tròn mắt nhìn Trang Chu hồi lâu, rồi cất giọng dứt khoát. “Chúng ta không vay nữa là hơn. Hay để tôi sang nói với Cừu Xuân một tiếng, sớm mai cùng đi xin ăn với hắn. Nghe Cừu Xuân nói, Định Đào sung túc, không lo thiếu gạo ăn!”
“Đi mau lên, mau tìm cái bao gai lại đây!” Trang Chu vẫn khăng khăng, đứng phắt ngay dậy.
Lời vừa dứt, Trang Tiêu chẳng hiểu từ xó xỉnh nào thoăn thoắt chui ra, trên tay cầm một bao gai to tướng, hai tay đưa lại: “Cha ơi, bao gai đây!”
Trang Chu cầm lấy, xoa đầu thằng bé, rồi hớn hở sải bước ra khỏi cổng.
“Cha nó ơi!” Người đàn bà đuổi theo vài bước. “Vì chuyện vườn sơn, Giám Hà đại nhân vẫn còn giận cha nó đấy, lần này mình đi, chẳng phải là tự chuốc nhục vào thân ư?”
Trang Chu cười lớn, vắt bao gai lên lưng, nói: “Lần này tôi đến chính là để giúp hắn nguôi giận!”
Nhà Giám Hà Hầu nằm ở lưng chừng một ngọn núi nhỏ, Bộc Thuỷ vòng theo sườn đồi uốn thành một vòng cung gần như hình tròn, Giám Hà Hầu không cần bước chân ra khỏi cửa cũng có thể ngắm trọn dòng Bộc Thuỷ.
Giám Hà Hầu không phải họ Giám, cũng chẳng phải mang tước hầu. Ông nội hắn họ Tiết, là người nước Trịnh, sống bên cạnh Hà Thuỷ, khá am hiểu thuỷ văn, nhiều năm liền tham gia công trình trị thuỷ sông Hà tại nước Trịnh, đảm đương chức quan nhỏ giám sát thuỷ văn. Đến thời Tống Hoàn Công, Bộc Thuỷ gây lũ, Hoàn Công cầu cứu Trịnh Công trợ giúp, nhưng Trịnh Công cũng đang bận rộn trị thuỷ sông Hà, nên đã tiện tay điều ông nội hắn tới đây. Ông nội hắn nhờ trị thuỷ mà lập công lớn, được Hoàn Công phong làm Giám Bộc lệnh, tiện thể trông coi vườn cây sơn của công thất rộng hơn vạn mẫu ở hai bên bờ sông, chức vị liệt vào hàng hạ đại phu cung Tống. Sau đó, chức vị này được truyền cho con trai, rồi tới đời cháu trai Giám Hà Hầu.
Giám Hà Hầu tuổi xấp xỉ Trang Chu, Huệ Thi, năm xưa cùng bái Nam Quách tiên sinh ở Mông Ấp làm thầy, cũng là đồng môn. Tên hiệu Giám Hà Hầu chính là do Trang Chu phong đùa cho ông ta khi còn học chung, về sau vẫn luôn gọi ông ta như vậy. Lâu dần, dân chúng gần xa cũng đều gọi theo.
Vật đổi sao dời. Giống như Huệ Thi, Trang Chu tính tình phóng khoáng, không thích ràng buộc, qua tuổi đội mũ liền chu du khắp thiên hạ, sau tuổi ba mươi mới mệt mỏi về nhà, cưới vợ sinh con, song không giỏi mưu sinh. Thấy Trang Chu cuộc sống chật vật, gia cảnh túng quẫn, giờ lại thêm mấy miệng ăn, những gì bán được đều đã bán sạch, vậy mà vẫn được bữa nay lo bữa mai, Giám Hà Hầu vốn niệm tình hắn là bạn đồng học, mời hắn tới trông coi vườn sơn, coi như tạo công ăn việc làm cho hắn. Nào ngờ Trang Chu lại chẳng để tâm vào việc, trong lòng chỉ nghĩ tới chim muông hoa cỏ, say thú điền viên, sau ba năm cai quản vườn sơn, đã mặc cho đám thợ làm vườn tha hồ trốn việc, ăn trộm sơn bừa bãi, khiến sản lượng thất thu nghiêm trọng, còn bị chặt trộm rất nhiều cây sơn. Có người tố lên quan, vương thất tới kiểm tra, trách cứ Giám Hà Hầu. Giám Hà Hầu đã phải vận hết phương kế, chạy vạy các cửa, tuy vẫn giữ được chức quan thế tập của ông nội, song bị thu hồi quyền cai quản vườn sơn, mất đi một đường tiền của. Giám Hà Hầu bao nhiêu giận dữ trút cả lên đầu Trang Chu, gọi ông ta tới trách mắng, nào ngờ cãi không lại Trang Chu. Thoạt tiên, rõ là Giám Hà Hầu có lý, song cãi vã được một lúc, lại bị Trang Chu phản bác đến cứng họng không nói được gì, giận tới mức mặt mày méo xệch, không còn nể nang gì tình đồng môn nữa, tống cổ cả nhà Trang Chu ra khỏi cửa, thề không bao giờ qua lại.
Vài tháng sau đó, hai người quả nhiên không hề qua lại thực, trước cửa nhà Giám Hà Hầu cũng yên tĩnh hẳn đi.
Tuy nhiên, duyên phận muốn tránh cũng không tránh được.
Buổi chiều hôm nay, Giám Hà Hầu đang đứng trong đình Liêu Vọng trên đỉnh núi sau nhà ngắm cảnh sông nước, thì quản gia hộc tốc chạy lại, từ xa đã réo gọi: “Lão gia, lão gia, có chuyện không hay rồi!”
“Chuyện gì?” Giám Hà Hầu giật mình hỏi.
“Họ Trang kia tới, sủa gâu gâu như chó ngoài cổng!”
“Ồ?”
“Lão gia, hắn tới đây là để xin ăn. Hôm trước vợ hắn có tới, tiểu nhân cũng định cho chị ta tí chút để chị ta biến đi, thì lão gia lại… Giờ thì không xong rồi, họ Trang đích thân tới tận cửa, lần này có cho một hai thăng(1) cũng khó mà đuổi được!”
“Thật ư?” Giám Hà Hầu phì cười, khẽ vuốt râu, mắt nhìn quản gia. “Hắn muốn bao nhiêu?”
“Trên vai hắn khoác một bao gai to!”
“Bao gai to chừng nào?”
“To lắm!” Quản gia vòng tay vạch một vòng thật lớn.
Giám Hà Hầu phá lên cười lớn. “Theo như ngươi nói, chí ít cũng đựng được hai đấu đấy nhỉ?”
“Lão gia ơi!” Quản gia mặt nhăn như bị. “Đừng nói là hai đấu, hai mươi đấu e rằng còn chưa thể đựng đầy!”
“Đến nỗi thế ư?”
Quản gia bước lại gần, hạ thấp giọng mà nói: “Tiểu nhân đã nhìn thấy rõ, bao gai của hắn bị thủng đáy!”
“Ha ha ha!” Giám Hà Hầu lại phá lên cười. “Đi nào, có chuyện hay rồi đây!”
Hai người một chủ một tớ hối hả bước xuống sườn đồi, đi vào qua lối cổng sau, băng qua trạch viện, tiến về phía cổng trước, quả nhiên từ xa đã nghe thấy tiếng sủa “gâu gâu” hỗn loạn và tiếng cười ầm ĩ của đám người xem vọng lại từ ngoài cổng.
Quản gia mở cổng, Giám Hà Hầu đặng hắng một tiếng thật lớn, sắc mặt hằm hằm bước ra ngoài, khoanh tay đứng trên bậc thềm trước phủ.
Trang Chu đứng trên bãi trống, vẫn bắt chước tiếng chó sủa “gâu gâu”, sủa được vài tiếng, lại còn một tay chống đất, một tay đưa ra sau mông, giả làm đuôi chó ve vẩy, khiến người xem đều cười nghiêng ngả.
“Trang huynh!” Giám Hà Hầu sầm mặt, bước xuống bậc thềm, tiến tới trước mặt Trang Chu. “Huynh định tới đây giữ cửa giúp tại hạ chăng?”
“Không phải!” Trang Chu lúc này mới đứng thẳng dậy.
“Ồ?” Giám Hà Hầu hơi ngẩn ra. “Nếu không phải, huynh cứ sủa gâu gâu trước cổng nhà ta là có ý gì?”
“Xin ăn!” Trang Chu vòng tay nói. “Nghe nói gạo thóc trong kho nhà Giám Hà Hầu chỉ có chó mới được ăn, người không được ăn, nhà Trang Chu đứt gạo đã mấy ngày nay, già trẻ lớn bé chờ đợi mỏi mòn, muốn vay chút lương gắng gượng qua cơn thất bát, nên đành hạ mình làm chó vậy!”
Đám người không cười nữa, đồng loạt đổ dồn ánh mắt vào Giám Hà Hầu. Ẩn ý của Trang Chu đã rõ rành rành, đây chính là nhà chó!
“Trang huynh tới cửa, tại hạ đâu thể không cho vay!” Giám Hà Hầu lại không mảy may lúng túng, cười lớn vài tiếng, hơi vòng tay mà nói. “Trang huynh là người độ lượng, bụng dạ hẳn cũng không nhỏ. Xin hãy mở lời vàng ngọc, Trang huynh muốn vay bao nhiêu gạo?”
“Không nhiều, không nhiều!” Trang Chu gỡ bao gai trên vai xuống, giũ vài cái, ném toẹt xuống đất. “Đại nhân cứ đổ đầy cái bao gai này là được!”
Mọi ánh nhìn đều đổ dồn vào cái bao gai.
Đúng như quản gia đã nói, đáy bao gai thủng một lỗ toang hoác bằng đầu người, nếu không vá lại, dù có đổ cả kho thóc cũng không thể đầy. Rõ ràng Trang Chu tới đây để gây chuyện. Đám người lại cười ồ lên.
Giám Hà Hầu nhặt bao gai lên, mở miệng ra xem, lại thọc cả cánh tay qua lỗ hổng dưới đáy bao, cố tình rút ra rút vào mấy cái, cuối cùng mới lắc lắc đầu, thở dài một tiếng, ném cái bao xuống đất.
Trang Chu muốn tới vay gạo thực, chỉ là không để ý bao gai đã bị thủng, lúc này cũng bật cười, đảo mắt một vòng, định tìm sợi dây để buộc túm lỗ thủng lại.
Còn chưa tìm thấy dây, Giám Hà Hầu đã lên tiếng: “Trang huynh, không phải tại hạ không muốn cho vay, chỉ là thóc gạo trong kho của tại hạ khó mà đựng đầy cái bao gai thủng đáy của huynh được!”
“Ờ…” Trang Chu trong khó ló khôn, lập tức cởi phăng dây lưng, cúi xuống định buộc đáy bao lại, nào ngờ Giám Hà Hầu đã nhanh hơn một bước, giơ chân hất cái bao đi.
“Trang huynh!” Giám Hà Hầu hất cái bao đến bên chân quản gia, vòng tay về phía Trang Chu mà nói. “Tước hầu của tại hạ là do Trang huynh phong cho, Trang huynh đã phong tước cho tại hạ, đáng lẽ tại hạ phải được phong ấp mới phải. Đợi tại hạ được phong ấp, nhận được tô thuế, sẽ cho Trang huynh vay ba trăm lượng vàng, được chứ?”
Ba trăm lượng đủ để mua toàn bộ gạo thóc trong kho lẫm của bá quan nước Tống, dẫu rằng chưa chắc đã đựng đầy được cái bao gai không đáy của Trang Chu, song con số đó cũng đã là khó tưởng tượng.
Đám người thấy Giám Hà Hầu khéo léo đá lại quả bóng sang Trang Chu, thì không nhịn được cười, nhất loạt nhìn vào Trang Chu.
“Tạ ơn ý tốt của Giám Hà Hầu!” Trang Chu cũng đã nghe ra ý tứ, lập tức thay đổi sắc mặt, cảm khái mà rằng. “Trang Chu trên đường tới đây có gặp một chuyện lạ lùng, Giám Hà Hầu có muốn nghe chăng?”
“Trang huynh cứ nói!”
“Khi Chu đi qua một cánh đồng rộng mênh mông, chợt nghe có tiếng kêu cứu. Chu nhìn quanh tìm kiếm một hồi, hoá ra là một con cá diếc bị mắc kẹt trong vũng bùn dưới vết bánh xe. Chu bèn hỏi: ‘Này cá diếc, ngươi làm sao thế?’ Cá diếc bèn trả lời: ‘Tại hạ là bề tôi của vua Đông Hải, nay bị mắc kẹt ở đây. Tiên sinh có thể cho xin một gáo nước để cứu mạng không?’ Chu bèn đáp: ‘Việc này không khó, tại hạ sẽ xuống phía nam chu du Ngô, Việt, thuyết phục hai vương Ngô, Việt chặn ngang dòng nước Tây Giang để dẫn nước tới cứu ngươi, được chăng?’ Cá diếc nổi giận, nói rằng: ‘Tại hạ đang gặp nạn ở đây, không còn chỗ náu thân, chỉ cầu tiên sinh một gáo nước để giữ chút hơi tàn, mà tiên sinh lại thoái thác như vậy, chi bằng hãy tới cửa hàng cá khô mà tìm tôi!”’
Trang Chu kể xong, người nghe thảy đều xuýt xoa thán phục.
“Thật là một câu chuyện hay!” Giám Hà Hầu cười lớn vài tiếng, vỗ tay đồm độp, rồi quay sang quản gia. “Trang huynh không chờ được nước Tây Giang, chỉ muốn một gáo nước mà thôi, mau đi xúc một gáo gạo cho Trang huynh!”
Quản gia tuân lệnh đi ngay, một lát sau, quả nhiên đã mang lại một gáo gạo đầy, buộc chặt lỗ thủng dưới đáy bao gai lại, rồi đổ gạo vào trong.
“Trang huynh còn cần gì nữa không?” Giám Hà Hầu nhìn thẳng vào Trang Chu hỏi.
“Không cần, không cần gì nữa!” Trang Chu phá lên cười lớn, rồi xách bao gạo lên, nghênh ngang bỏ đi.
Đám người hiếu kỳ cũng lần lượt tản đi cả.
Nhìn theo bóng Trang Chu xa dần, Giám Hà Hầu thở dài sườn sượt.
“Lão gia!” Quản gia khẽ nói. “Đúng là có hơi ít, hay là để tiểu nhân xúc thêm vài gáo nữa mang cho hắn?”
“Không cần!” Giám Hà Hầu xua tay. “Đây không phải cách lâu dài. Sáng mai ngươi hãy tới nhà Trang huynh, thuê phu nhân hắn ngày ngày đi đo mức nước Bộc Thuỷ lên xuống. Ngươi hãy dạy chị ta cách đo, hàng tháng cấp cho năm đấu gạo là đủ dùng cho cả nhà hắn!”
“Lão gia?”
“Mau đi sắp xếp! Chuyện này không được rêu rao ra ngoài, cũng không được để tên Hỗn thế ma vương đó biết, tránh sinh phiền phức!”
Trang Chu xách gạo về nhà, cả nhà đều hoan hỷ, có được một bữa no nê.
Buổi sáng hôm sau, Trang Chu không biết mò mẫm ở đâu được một chiếc thạp đồng, ném đánh xoảng ra sân, bảo Trang Tiêu lau chùi cho bóng loáng. Vợ Trang Chu rửa bát xong bước ra sân, thấy vậy bèn ngẩn người, vội hỏi: “Cha nó ơi, cọ thứ đó làm gì?”
“Ăn xong bữa này, còn lo bữa sau nữa chứ!” Trang Chu cười lớn mà nói. “Sáng nay có chợ phiên, tôi sẽ mang nó tới Mông Ấp để đổi gạo. Không ngờ cái thứ quái quỷ này cũng nặng gớm, hẳn sẽ đổi được không ít thóc gạo.”
“Dứt khoát không được đâu, cha nó ơi!” Vợ Trang Chu cuống lên, giằng lấy thạp đồng, giữ khư khư trong tay. “Vật quý của tổ tiên để lại chỉ còn sót mỗi thứ này, nếu mình lại mang đi bán, trong nhà ta… đúng là sẽ không còn gì nữa!”
Vợ Trang Chu nhìn chiếc thạp đồng mà nước mắt giàn giụa. Thạp đồng có bốn chân, bốn quai cầm, thân tròn, đế vuông, trên còn có nắp đậy, được làm bằng đồng nguyên chất, nặng cỡ bảy tám cân, trên mặt khắc chim cá muông thú, chế tác vô cùng tinh xảo, nhìn qua cũng biết là báu vật. Tổ tiên của Trang Chu từng là danh môn vọng tộc, sau này đến đời ông nội tuy lưu lạc tới Mông Ấp, nhưng bộ đồ thờ gồm năm đỉnh bốn thạp vẫn không thiếu món gì. Song đến đời cha ông, bộ đồ thờ đã mất đi quá nửa, khi Trang Chu nối nghiệp nhà, lại bán đi hai chiếc, giờ chỉ còn lại mỗi một chiếc này.
“Mẹ nó này!” Trang Chu nhìn thẳng vào chị ta, nói. “Sao mình lại nói là không còn gì nữa?” Rồi lần lượt chỉ vào từng người trong sân. “Mình, tôi, thằng bé kia, con bé kia, chẳng phải còn bốn mạng người ư?”
“Cha nó ơi, con người không phải là báu vật.”
“Sai rồi, sai rồi!” Trang Chu lắc đầu quầy quậy. “Con người sinh ra giữa trời đất, hấp thu tinh khí nhật nguyệt, là linh trưởng trong vạn vật, không phải báu vật, thì là thứ gì?”
“Nhưng… con người cần phải no bụng!”
“Phải lắm, phải lắm, tôi đem thứ này đi đổi gạo, chẳng phải là để no bụng ư?”
“Đây là thứ đáng giá duy nhất trong nhà ta!”
“Thứ đáng giá thực sự là đây này!” Trang Chu vỗ vỗ vào chiếc bụng no căng, đưa tay giật lấy thạp đồng, nhưng chị vợ đã né được, chạy vội vào nhà, giấu kín thạp đồng đi, rồi lôi ra một tá giày cỏ. “Cha nó ơi, tôi mới học được cách bện giày cỏ, tuy không đẹp, song chắc chắn. Cha nó hãy mang ra phố thử xem, nếu đổi được gạo ăn, thì chúng ta đã có kế sinh nhai rồi.”
Trang Chu nói không lại vợ, đành vác mớ giày cỏ lên vai, bước ra khỏi cổng.
Quản gia nhà Giám Hà Hầu cứ như chực sẵn ngoài cổng, Trang Chu chân trước vừa đi, ông ta chân sau đã tới, còn mang theo lỉnh kỉnh các đồ đạc đo lường thuỷ văn. Quản gia nói rõ ý tứ với vợ Trang Chu, khiến chị ta nghe mà mừng rơi nước mắt, đang lắng nghe ông ta dạy cách đo đạc mức nước, bỗng một cỗ xe tứ mã sang trọng lao đến theo con đường đất, đỗ xịch lại trước cửa nhà họ Trang.
Một viên quan nhảy xuống xe, đứng ngoài cổng gọi lớn: “Trang Chu, Trang tiên sinh có nhà không?”
Trang Tiêu chạy ra mở cổng.
Vợ Trang Chu đang lúc ngỡ ngàng, thì quản gia đã nhận ra là lý chính, vội bước ra nghênh đón. Lý chính đang định giới thiệu thì hai nội thần vừa bước từ trên xe xuống cứ ngỡ quản gia là Trang Chu, lập tức vái chào cung kính: “Trang tiên sinh…”
“Không phải, không phải!” Quản gia vội vã thanh minh, đáp lễ mà nói. “Tại hạ không phải Trang tiên sinh, xin hỏi hai vị là…”
Hai nội thần đưa mắt nhìn nhau, rồi một người nói: “Chúng tôi tới từ Sính Đô đất Sở, phụng chỉ dụ của Sở Vương, mời Trang Chu tiên sinh tới cung Sở.”
“Sở Vương?” Quản gia sửng sốt. “Dám hỏi hai vị, muốn mời Trang tiên sinh tới cung Sở có việc gì?”
“Bái Trang tiên sinh làm quốc sư!”
Đường đường là Sở Vương bệ hạ lại bái Trang Chu làm quốc sư! Quản gia kinh ngạc tới hai mắt trợn trừng, miệng há hốc.
“Quốc sư?” Vợ Trang Chu vội hỏi. “Quốc sư là gì?”
“Trang phu nhân!” Lý chính vòng tay chúc mừng. “Quốc sư chính là thầy của quốc vương, cũng chính là thầy của Sở Vương. Chà chà, Trang tiên sinh nhà chị thật tài giỏi, nay đúng là đại hỷ lâm môn!”
Vợ Trang Chu kinh ngạc đến sững sờ, nhất thời không biết đối đáp ra sao.
“Dám hỏi Trang phu nhân,” nội thần vòng tay vái rồi hỏi, “Trang tiên sinh hiện ở đâu?”
Vợ Trang Chu ngại ngùng không muốn nói là đi bán giày cỏ, đang ấp úng thì Trang Tiêu đã lanh chanh đáp dõng dạc: “Cha cháu ra chợ bán giày cỏ, đi chưa lâu đâu, nếu đuổi theo chắc còn kịp đấy!”
Hai nội thần đưa mắt nhìn nhau, rồi không nói thêm lời nào, lập tức nhấc luôn Trang Tiêu lên xe, cùng lý chính đánh ngựa đuổi về phía Mông Ấp. Loáng cái đã tới Mông Ấp, song tìm khắp cả chợ mà vẫn không thấy bóng dáng Trang Chu đâu.
Khi xe ngựa chạy qua một cửa hàng ngũ cốc, Trang Tiêu nhìn thấy thóc kê vàng rực trong quầy, thì nảy ra một ý, liền quay sang lý chính nói: “Cháu biết cha cháu ở đâu rồi!” Sau đó chỉ vào cửa hàng. “Nếu các vị chịu mua cho nhà cháu một túi gạo, cháu sẽ dẫn các vị tới chỗ cha cháu!”
Nghĩ tới tình cảnh túng quẫn của nhà Trang Chu, hai nội thần không chút chần chừ, lập tức xuống xe mua luôn vài bao gạo, còn ghé vào hàng vải mua liền mấy súc, cùng với các đồ nhật dụng khác, lại mua thêm vài món ăn chín như cá thịt, gà vịt, chở đầy xe quay về.
Đi tới ngã tư, Trang Tiêu bảo phu xe rẽ vào một con đường đất. Đường càng đi càng hẹp, phía trước đã không còn thấy vết bánh xe. Nội thần bảo lý chính cùng phu xe ở lại đợi, còn hai người họ theo Trang Tiêu, đi tới bờ đê ven Bộc Thuỷ.
Ba người đi dọc bờ sông, chưa đầy nửa canh giờ, quả nhiên từ xa đã nhìn thấy có một người đứng sừng sững bên sông, đầu đội nón rách, đang giữ cần buông câu.
Người câu chính là Trang Chu.
Hoá ra, Trang Chu mang giày cỏ ra chợ, đi chưa được bao xa, đã quên bẵng luôn nhiệm vụ, quen chân rẽ ra phía bờ sông. Gió xuân phơ phất, muôn vật tốt tươi, phong cảnh tươi đẹp nhất trong trời đất đều phô bày bên bờ Bộc Thuỷ. Trang Chu mê đắm trước cảnh sắc hữu tình, không muốn bỏ lỡ dù chỉ một khắc.
Hai nội thần nhìn thấy Trang Chu, bèn vái dài sát đất, nói rõ mục đích tìm tới.
Trang Chu khép mắt hồi lâu, thong thả nhấc cần câu.
Hai nội thần đưa mắt nhìn, chợt hít vào một hơi thật sâu, bởi lẽ thứ Trang Chu cầm trong tay là một cọng lau bình thường, chẳng hề có lưỡi câu hay mồi nhử, chỉ có hai cọng lá lau nhỏ nước tong tỏng xuống sông.
Quả nhiên là bậc đại tài chân chính, thảo nào bệ hạ muốn bái người này làm thầy! Hai nội thần xuýt xoa thán phục, đưa mắt nhìn nhau, lại vái dài mà nói: “Bệ hạ chúng tôi có thành ý mời tiên sinh tới Sính, để uỷ thác quốc sự, đối đãi theo lễ quốc sư, dám hỏi ý tiên sinh thế nào?”
Trang Chu đẩy nón ra phía sau gáy, đáp lời: “Nghe nói nước Sở có rùa thần, bơi lội tung tăng ba nghìn năm trong đầm Vân Mộng, sau bị người ta bắt lên, nhốt vào lồng trúc, dâng lên Sở Vương. Sở Vương lấy gấm bọc lại, cất ở miếu đường, lấy thịt rùa tế lễ chư thần trên trời, lấy mai rùa bói quẻ xã tắc cát hung, có chuyện này chăng?”
“Quả thực có chuyện này!” Hai nội thần đưa mắt nhìn nhau, rồi một nội thần lên tiếng. “Lời tiên sinh nói là chuyện lạ thời Linh Vương. Rùa này rất mực linh thiêng, được tôn sùng nhất trong tông miếu, những điều khắc trên mai rùa đều là đại sự của xã tắc, cốt yếu của quốc gia.”
“Xin hỏi hai vị,” Trang Chu mỉm cười, nhìn thẳng vào hai nội thần, “nếu hai vị đây là con rùa đó, sẽ mong được chết để lưu lại xương cốt trong tông miếu, hay là mong được sống nguyên vẹn mà thoả thích bơi lội trong đầm?”
Hai nội thần không hẹn mà cùng đáp: “Điều này còn phải hỏi ư? Đương nhiên là mong được sống nguyên vẹn mà thoả thích bơi lội trong đầm.”
“Tạ ơn hai vị yêu mến!” Trang Chu vòng tay, nhấc cọng lau lên, chỉ về một con rùa đang cuống cuồng bơi đi trong dòng Hà Thuỷ mà nói. “Tại hạ không phải linh quy của Đại Sở, chẳng qua chỉ là con rùa tầm thường của đất Tống, nên chỉ muốn thoả thích bơi lội trong bãi bùn.”
Lời vừa dứt, Trang Chu thả luôn cọng lau xuống bên chân, men theo dòng Hà Thuỷ nghênh ngang bỏ đi.
Hai nội thần thoạt tiên sửng sốt, tiếp đến cuống quýt đuổi theo, vừa đuổi vừa vẫy tay gọi: “Tiên sinh dừng bước, tiên sinh dừng bước…”
Trang Chu vờ như không nghe thấy, càng bước càng nhanh, thấy hai người vẫn bám chằng chằng theo sau, thì rẽ luôn xuống dòng nước, lội sông mà đi. Hai người cũng muốn đuổi theo, song thử chạm xuống nước sông, thấy vẫn lạnh buốt, lại nhìn thấy Trang Chu đã lội sâu đến bẹn, đành từ bỏ ý định, tạm thời quay về thôn cùng với Trang Tiêu.
***
Nhiều năm qua, người Sở vẫn thèm muốn đất Tống, giữa Tống, Sở có thể nói là oán thù truyền kiếp, do vậy, Sở Vương vừa sai người tới đất Tống, đã bị người Tống theo dõi sát sao.
Hay tin hai người phụng chỉ dụ của Sở Uy Vương mời thần dân của mình là Trang Chu làm quốc sư, Tống Vương Yển vốn dĩ đã bàng hoàng sửng sốt, giờ lại hay tin người đến là sủng thần của Sở Uy Vương, lại càng thêm kinh hãi, bèn gấp rút triệu quần thần tới nghị sự. Quần thần bàn tán ồn ào, tranh nhau kiến nghị, song không một ai biết Trang Chu là ai. Tống Vương hỏi không ra, đành phải cho triệu quan lệnh Mông Thành tới.
Mông Thành lệnh lại cho gọi lý chính, Giám Bộc lệnh, cùng đi đến vương cung. Giám Bộc lệnh tranh thủ cơ hội, lập tức kể tường tận về chuyện năm xưa mình cùng học với Trang Chu, Huệ Thi, sau đó còn nhắc tới vụ án vườn sơn, nhằm rửa oan cho mình. Khi kể tới chuyện nhà Trang Chu tình cảnh túng quẫn, không có gì ăn, phải tới cửa nhà bạn cũ bắt chước tiếng chó sủa để vay gạo, khiến người nghe thảy đều xúc động thở than.
Được biết tài của Huệ Thi còn xa mới bằng Trang Chu, Huệ Thi hễ gặp Trang Chu đều phải nhún nhường ba phần, khiến Tống Vương Yển không khỏi kinh ngạc. Huệ Thi sớm đã vẻ vang làm tướng quốc Đại Ngụy, Trang Chu tài còn cao hơn Huệ Thi mấy phần vậy mà ngay trong lãnh thổ của mình, vẫn cứ lặng lẽ vô danh, Tống Vương Yển đương nhiên thấy mất mặt. Nếu như người này lại bị Sở Uy Vương mời đi mất, bảo ông ta phải giấu mặt vào đâu đây?
Chính vào lúc này, quân uý tới bẩm báo, sứ thần nước Sở đã dựng trại bên nhà cỏ của Trang Chu, xem ra không đạt mục đích quyết không bỏ cuộc. Sở là nước lớn, Tống vốn không dám gây sự, lần này tới lại là để mời hiền tài, nên không phải điều cấm kỵ ở liệt quốc.
Sự tình không thể trì hoãn, Tống Vương lập tức đổi ngay chức tướng quốc đương nhiệm sang làm thái sư, để trống ngôi tướng quốc, hạ lệnh cho Trang Chu lập tức nhập cung bái tướng, đồng thời sắp xếp người “khoản đãi” sứ Sở cẩn thận, tránh để họ giành được Trang Chu trước một bước.
Tuy nhiên, đại hiền Trang Chu lại không thấy tăm hơi.
Hai phái đoàn sứ thần Sở và Tống túc trực bên ngoài nhà họ Trang suốt ba ngày trời, vẫn không thấy bóng dáng Trang Chu đâu. Sứ Sở càng thêm lì lợm, cứ ở lì tại đó không chịu đi. Tống Vương Yển cũng không chịu ngồi yên, hạ lệnh cho phủ tư đồ vẽ chân dung Trang Chu, mang dán khắp nơi giống như truy nã phạm nhân, lại còn điều động quân lính lùng sục suốt dọc hai bờ Bộc Thuỷ, mà vẫn chẳng thu được kết quả gì.
Đang nghĩ mãi không ra cách nào, bỗng có một người từ đất Ngụy trở về, nói rằng nhìn thấy một người tướng mạo giống hệt Trang Chu trong hình vẽ.
Nếu Trang Chu tới Ngụy, hẳn là tìm Huệ Thi. Nếu Huệ Thi tiến cử, dựa vào tài của Trang Chu, dứt khoát sẽ được Ngụy Vương trọng dụng. Tống Vương Yển hay tin lại càng kinh sợ, lập tức cho gọi Giám Bộc lệnh vào yết kiến, không những bổ nhiệm ông ta làm trung đại phu, còn trả lại quyền quản lý vườn sơn, rồi hạ lệnh cho ông ta gấp rút tới Ngụy, mời bằng được Trang Chu trở về.
Trước sau không quá mười ngày, một kẻ vốn chỉ khiến người ta lắc đầu ngao ngán là Trang Chu lại trở nên lừng lẫy đến nhường này, không chỉ giúp Giám Hà Hầu lấy lại được vườn sơn đã mất, mà còn khiến ông ta một bước nhảy vọt từ hạ đại phu lên trung đại phu hệt như trong mơ, quả thực là ngoài sức tưởng tượng của ông ta. Trước vinh dự đến tổ tiên cũng chỉ dám ước mong vừa thình lình ập đến, Giám Hà Hầu hỉ hả không để đâu cho hết, sau khi hỏi han người báo tin thật kỹ lưỡng, lập tức sắp xếp việc nhà ổn thoả, mang đủ tiền bạc, cấp tốc lên đường thẳng tới Đại Lương.
***
Quả nhiên Trang Chu đã tới Đại Lương.
Sau khi gặp sứ Sở, Trang Chu lông bông chơi nhởn suốt hai ngày liền, đến tối ngày thứ hai, bụng đói lép kẹp, mới tìm đường về nhà, từ xa nhìn thấy ngoài cổng đèn đuốc sáng trưng, rậm rịch tiếng người kêu ngựa hí, thì chau tít đôi mày, nghĩ thầm: “Xem ra, người Sở hẳn không cam tâm đi uổng chuyến này. Cũng được! Ta đang muốn đi xa, cớ sao lại không nhân dịp này để hoàn thành tâm nguyện?”
Nghĩ là vậy, Trang Chu lập tức quay người đi luôn, ngược dòng Bộc Thuỷ được khoảng nửa canh giờ, chợt vỗ tay lên đầu mà lẩm nhẩm: “Phải rồi, đã lâu không gặp Huệ Thi, phải tới Đại Lương gặp hắn mới được!”
Mông vốn là một ấp ở biên giới Tống, Ngụy, nên đi chưa tới nửa ngày, Trang Chu đã vào đất Ngụy.
Lúc này vừa hay đại quân hợp tung phạt Ngụy thất bại trở về, khắp nước Ngụy đâu đâu cũng thấy cảnh đau thương tang tóc, thôn xóm nào cũng văng vẳng tiếng khóc hờ bi thiết, người trên đường đều mặc áo sô, khắp trời đất như bao trùm trong một bầu tang thương sầu thảm dị thường.
Tuy nhiên, những bi thương sầu thảm này chẳng hề ảnh hưởng tới một Trang Chu vốn đã nhìn thấu sinh tử. Thoát khỏi sự đeo bám của người Sở, Trang Chu tâm tư thư thái, du sơn ngoạn thuỷ, muốn hát thì hát, muốn ngâm thì ngâm, muốn ngủ thì ngủ, muốn đi thì đi, khát thì vốc nước uống, đói thì kiếm đại chút gì bỏ bụng, suốt dọc đường tiêu diêu tự tại, không chút ràng buộc, ngay cả mục đích của chuyến đi cũng đã quên bỏ từ lâu.
Một chuyện tình cờ đã khiến Trang Chu bừng tỉnh.
Một ngày nọ, Trang Chu lang thang tới một khu chợ bên ngoài thành Đại Lương, thấy mọi người xúm đông xúm đỏ vây quanh một tờ cáo thị mới treo, cũng đưa mắt liếc nhìn, bất giác giật mình kinh ngạc, bởi lẽ trên tấm cáo thị viết rành rành cái tên Trang Chu, bức chân dung trên đó cũng chính là ông ta, còn treo giải mười lượng vàng.
Nhìn kỹ dòng lạc khoản, thấy không phải là phủ tư đồ, mà là phủ tướng quốc. Về lý mà nói, phủ tướng quốc không quản chuyện bắt bớ truy nã.
“Ồ!” Trang Chu kéo sụp vành nón xuống, lẩn vội sang bên đường, nghĩ thầm trong bụng: “Tướng quốc nước Ngụy chẳng phải là Huệ Thi ư? Ta muốn tới chỗ hắn, người còn chưa tới nơi, sao hắn đã biết? Ta chưa từng gây rắc rối cho hắn, hắn lại muốn truy nã ta, là cớ làm sao? Vừa mới được tiêu dao tự tại ít hôm, mà đã… Ta phải tìm đến tận cửa nhà hắn, hỏi cho ra nhẽ mới được!”
Trang Chu không chút đắn đo, lập tức sải bước tiến về Đại Lương.
Trang Chu vừa đi vừa hỏi, khi sắp tới phủ tướng quốc, chợt nhìn thấy bên vệ đường có ba người đang quỳ, là một thiếu phụ dẫn theo hai đứa con một trai một gái xin ăn, trước mặt mỗi người bày một cái bát sành sứt mẻ, bên trong đựng lẫn lộn các đồ bố thí. Thiếu phụ nom còn rất trẻ, có lẽ chỉ hơn đôi mươi, dung mạo trông cũng xinh xắn, song mặt mày nhem nhuốc, đầu tóc rối bù, quần áo còn rách rưới hơn cả Trang Chu, chỉ đủ che chắn những chỗ cần che. Hai đứa con trông khá lanh lợi, đứa con trai tầm năm sáu tuổi, đứa con gái nhỏ hơn một chút, hai mắt mở to nhìn dán vào người đi đường, hễ thấy có người nhìn đến, dù có cho hay không đều phục xuống dập đầu.
Trang Chu thấy tò mò, bèn tiến về phía họ. Thằng bé trai giương mắt nhìn hắn chằm chằm, đứa bé gái vẫn theo bài cũ, dập đầu lia lịa. Thiếu phụ săm soi Trang Chu từ đâu tới chân vài lượt, chỉ vào chỗ đất trống bên cạnh thằng bé, nói: “Đại thúc, nếu không chê, hãy quỳ ở đó. Chỗ này nhiều người giàu có, chắc cũng xin được chút tiền.”
Trang Chu ngồi thụp xuống trước mặt cô ta, đưa mắt nhìn chăm chú: “Cô còn trẻ thế, sao lại ở đây xin ăn?”
“Than ôi!” Thiếu phụ nghe hỏi, bất giác buồn rầu nhỏ lệ. “Cha của lũ trẻ tử trận sa trường, cha mẹ chồng đau thương quá độ, mắc bệnh mà chết, trong nhà chẳng còn đàn ông. Có hai đứa trẻ này, muốn tái giá cũng chẳng tìm được nhà thích hợp, đất đai đã bán sạch, chẳng còn kế sinh nhai, nay lại gặp nạn đói, đành phải bỏ nhà đi tha hương, muối mặt xin ăn qua ngày.”
Nghĩ tới vợ và hai đứa con cũng đang đói ăn ở nhà, Trang Chu bỗng thấy trong lòng đau xót, liếc nhìn mấy đồng xu chỏng chơ trong cái bát sứt mẻ, bèn hỏi: “Này cô, có muốn xin được khoản tiền nhiều hơn thế này không?”
“Bao nhiêu?” Thiếu phụ hỏi.
“Mười lượng!”
“Mười lượng?” Thiếu phụ kinh ngạc, nhìn sững vào Trang Chu một hồi, rồi cười buồn, ngoảnh mặt đi chỗ khác.
“Ông ơi!” Thằng bé mở to mắt. “Cháu muốn đi xin!”
“Nhóc con khá lắm!” Trang Chu nhìn thằng bé cười cười, đứng dậy nói. “Muốn có tiền, cứ đi theo ta!”
Thằng bé đứng dậy, cầm lấy cái bát mẻ, đi theo Trang Chu. Thiếu phụ thấy vậy, sợ xảy ra chuyện, cũng vội đứng dậy, kéo đứa con gái bám theo sau.
Trang Chu tìm tới nơi treo cáo thị, gỡ xuống, đưa cho thằng bé, nói: “Cầm lấy cái này, theo ta đi lĩnh vàng!”
Ba mẹ con thiếu phụ bán tín bán nghi, theo Trang Chu thẳng tiến tới trước phủ tướng quốc.
Trang Chu mỗi tay dắt một đứa trẻ, xăm xăm xông vào. Quả như dự đoán, cả đám bị môn nhân ngăn lại. Trang Chu ra hiệu, thằng bé bèn giơ cao tờ cáo thị trong tay. Môn nhân đã nhìn thấy, lại săm soi Trang Chu một lượt từ đầu đến chân, rồi cuống quýt chạy vào trong bẩm báo.
Một lát sau, quản gia tất tả chạy ra, vòng tay mà nói: “Tiên sinh phải chăng là Trang Chu?”
“Chính tại hạ!” Trang Chu đáp lễ. “Huệ Thi người Tống có nhà không?”
“Chúa công vào cung, chắc sắp về rồi!” Quản gia nhìn thấy thiếu phụ và hai đứa trẻ, đoán là người nhà hắn, bèn vòng tay mà nói. “Trang tiên sinh, mời vào trong phủ!”
“Khoan đã!” Trang Chu cầm lấy tờ cáo thị trong tay thằng bé, chỉ vào mà nói. “Tiền thưởng còn chưa lĩnh!”
“Phải, phải!” Quản gia bèn cười, sai người mang mười lượng vàng lại, đưa cho thằng bé.
Nhìn những thỏi vàng sáng choang lấp lánh, thiếu phụ và hai đứa trẻ hết sức ngỡ ngàng, hai mắt trân trối, hồi lâu sau mới quỳ phịch xuống đất, dập đầu gọi “ân công” liên miệng. Quản gia lúc này cũng đã hiểu rõ sự tình, thì khẽ cười vài tiếng, dẫn Trang Chu vào phủ.
Trà còn chưa kịp nguội, Huệ Thi đã bãi triều trở về, nghe nói Trang Chu đã đến, phong thái rề rà cố hữu bỗng bay đâu mất sạch, hối hả chạy tới phòng khách, người chưa tới cửa, giọng đã oang oang: “Trang huynh, Trang huynh!”
Trang Chu sầm mặt xuống, xoay người đi, xoay lưng lại phía Huệ Thi.
“Trang huynh, muốn giết tại hạ ư!” Huệ Thi bước vội lại, thấy Trang Chu làm vậy, bèn níu lấy cánh tay ông ta.
Trang Chu giằng mạnh tay ra, hừ mũi một tiếng.
“Trang huynh…” Huệ Thi thoáng sửng sốt.
“Trang huynh?” Trang Chu cười khẩy một tiếng. “Đến lúc này lại gọi nghe thân thiết nhỉ!” Tiện tay cầm lấy tờ cáo thị, ném đánh “cạch” xuống đất. “Trên tờ cáo thị này, hẳn là bút tích của tướng quốc đại nhân?”
Huệ Thi bật cười vài tiếng, cầm tờ cáo thị lên, chẳng buồn xem, ném luôn sang bên cạnh: “Tại hạ biết ngay là Trang huynh sẽ phản ứng như vậy, tối qua còn đánh cược với người ta vì việc này đấy!”
“Phản ứng như vậy?” Trang Chu lại cười nhạt một tiếng, hai mắt nhìn xoáy vào Huệ Thi. “Họ Huệ kia, ta hỏi ngươi, Trang mỗ đã phạm phải vương pháp gì, hay đã có chuyện gì đắc tội đến ngươi, để đến nỗi ngươi phải giở thủ đoạn hạ đẳng, treo thưởng khắp nơi hòng truy nã ta?”
“Trang huynh, xin nghe tại hạ nói một lời!” Huệ Thi lại bật cười, ngồi xuống đối diện với Trang Chu.
“Nói đi!”
“Trang huynh không phạm vương pháp, cũng chẳng đắc tội gì với tại hạ, sở dĩ tại hạ truy nã Trang huynh, là vì có người tới phủ, mật báo với tại hạ rằng, Trang Tử đã tới nước Ngụy, muốn tranh chức tướng…”
“Ha ha ha!” Lời còn chưa dứt, Trang Chu đã phá lên cười một tràng dài, cười xong bèn châm chọc. “Phương nam có một loài chim, tên là Uyên sồ, tướng quốc đại nhân hẳn đã từng nghe nói đến?”
“Chưa hề!”
“Uyên sồ là loài chim kỳ lạ, một năm hai lần, vào mùa xuân bay từ Nam Hải tới Bắc Hải, vào mùa thu lại bay từ Bắc Hải về Nam Hải. Trên đường bay qua nghìn núi muôn sông, song loài chim này phẩm tính thanh cao, không phải ngô đồng không đậu, không phải hạt trúc không ăn, không phải suối ngọt không uống. Có con diều hâu, vớ được cái xác chuột chết rữa, đang hoan hỷ rỉa róc, chợt thấy Uyên sồ bay lướt qua đỉnh đầu, thì cuống quýt hoảng kinh, giương vuốt lên trời mà kêu lên quang quác. Tướng quốc đương triều lẽ nào cũng muốn doạ dẫm ta chỉ vì một đất Lương cỏn con này?”
“Ha ha ha!” Huệ Thi cũng phá lên cười, vỗ tay bồm bộp, liên miệng tấm tắc. “Tuyệt diệu, tuyệt diệu! Mấy năm không gặp, miệng lưỡi của Trang huynh càng thêm sắc bén.”
“Chuyện này chẳng liên quan gì tới miệng lưỡi!”
“Phải, đúng là chẳng liên quan gì tới miệng lưỡi. Có điều, Trang huynh lẽ nào không muốn hỏi người nào đã tới phủ, và tại sao lại nói ra những lời đó ư?”
Trang Chu thoáng ngẩn người: “Xin hãy nói!”
“Giám Hà Hầu!”
“Giám Hà Hầu?” Trang Chu thoạt tiên kinh ngạc, tiếp đến giận dữ mà nói. “Tên tiểu nhân keo kiệt này, hắn tới đây làm gì?”
Huệ Thi chỉ tay vào Trang Chu, cười mà nói: “Trang huynh, đúng là huynh không biết nhìn người tốt!”
“Nói vậy là sao?”
Huệ Thi kể lại toàn bộ những sự việc có liên quan tới Trang Chu gần đây. Nghe xong, Trang Chu mới biết đã hiểu lầm Giám Hà Hầu, vội hỏi: “Giám Hà huynh đâu rồi?”
“Tại hạ tống cổ hắn về rồi! Cái gì mà quốc sư Đại Sở, tướng quốc Đại Tống? Trong mắt Trang huynh hiện giờ, những thứ đó chẳng qua chỉ là đống thịt chuột thối rữa dưới móng diều hâu mà thôi!”
“Tạ ơn Huệ huynh che chở!” Trang Chu vòng tay cảm tạ, mắt liếc nhìn tờ cáo thị bên cạnh. “Tại hạ còn một chuyện không hiểu, Huệ huynh đã đuổi Giám Hà huynh đi rồi, cớ sao còn muốn truy nã tại hạ?”
Huệ Thi cười nói: “Trang huynh thử nghĩ mà xem, nếu không dùng cách này, tại hạ làm sao mời được Trang huynh tới đây?”
“Mọi việc đã qua rồi, Huệ huynh mời tại hạ làm gì?”
“Giải khuây mà thôi! Không giấu Trang huynh, tại hạ từ khi tới Ngụy, không ngày nào không buồn phiền!”
“Ồ?” Trang Chu cố tình ra vẻ kinh ngạc. “Ở trong một góc này, Huệ huynh đã là dưới một người trên vạn người, đáng lẽ nên đắc ý vui mừng mới phải, vì sao lại buồn phiền?”
“Than ôi!” Huệ Thi thở dài một tiếng. “Một lời khó hết! Niềm vui của Trang huynh là ở tiêu dao tự tại. Niềm vui của tại hạ là ở danh thực chốn nhân gian.” Rồi chỉ ra phía ngoài. “Huynh hãy nhìn mà xem, đầy thành vàng ngọc huy hoàng, đầy phố lụa là gấm vóc, song khó mà gặp được loài vật sống nào có thể khiến tại hạ thổ lộ cho tận hứng trong chốc lát, há chẳng buồn phiền ư?”
“Than ôi!” Trang Chu cũng thở dài. “Tại hạ tìm huynh, là muốn mời huynh du ngoạn khắp nhân gian; huynh tìm tại hạ, lại là muốn phô diễn tài miệng lưỡi, với huynh là vui sướng, còn với tại hạ, há chẳng buồn phiền lắm ư?”
“Đi thôi, đi thôi!” Huệ Thi sốt sắng ra mặt, không chờ thêm được nữa, đứng dậy kéo phăng Trang Chu đi. “Giờ chúng ta hãy ra hậu hoa viên vui chơi, để huynh hiểu được thế nào là hoa cỏ. Không giấu huynh, mấy năm nay, miệng lưỡi tại hạ bỗng nhiên cứng đờ, duy có bản lĩnh làm vườn là tiến bộ trông thấy!”
Hai người bước ra hậu hoa viên, còn chưa kịp ngắm vườn cây, đã thấy quản gia hớt hải đuổi theo, nói là quốc gia lại có chiến sự, điện hạ triệu gấp, vời Huệ Thi lập tức vào cung. Huệ Thi cười gượng một tiếng, nhún vai nhìn Trang Chu với vẻ đầy bất đắc dĩ, bảo Trang Chu cứ tự nhiên dạo chơi trong vườn, còn mình vội vã lên triều.
Chiến sự vẫn là giữa Tần và Ngụy. Nguyên nhân chiến sự, vẫn do Bàng Quyên khơi mào.
Từ An Ấp tiến về phía đông tới Đại Lương, người Ngụy chỉ có hai con đường đi được. Thứ nhất là băng qua núi Trung Điều, qua bến đò tới Thiểm, đi đường Hào Quan, tiến về phía đông tới Lạc Dương, tiếp tục đi theo đường cái quan phía nam Hà Thuỷ tới Đại Lương. Thứ hai là đi qua Chỉ Quan nằm tại nơi giao cắt giữa núi Vương Ốc và núi Thái Hàng, thẳng tới bồn địa Nam Dương, từ Mạnh Tân vượt Hà Thuỷ. Hai con đường này đều nương tựa vào nhau, xét về quân sự, mất đi đường nào, người Ngụy cũng không thể chấp nhận.
Trong đại chiến Hàm Cốc, Thiểm Ấp và Khúc Ốc thất thủ, người Tần kiểm soát được bến đò Thái Dương, uy hiếp bến đò Mao Tân, mà hai bến đò lớn này lại là một trong những con đường huyết mạch nối thông An Ấp với Đại Lương, điều này đã khiến cho một người vốn hiểu ý nghĩa của địa thế là Bàng Quyên như mắc xương trong họng. Bàng Quyên ngấm ngầm điều binh, chia quân hai lộ, chưa tuyên đã chiến, một lộ đánh vào Thiểm Ấp, một lộ đánh vào Khúc Ốc. Do sự việc quá ư thình lình, người Tần ở đất Thiểm không kịp đề phòng, rơi vào tuyệt địa mà thất thủ, còn Khúc Ốc được quân trấn thủ ải Hàm Cốc chi viện kịp thời, vẫn miễn cưỡng giữ được.
Tư Mã Thác nổi giận đùng đùng, một mặt cấp báo về Hàm Dương, mặt khác điều động quân Tần tập kết ở ải Hàm Cốc, thề đoạt lại đất đai bị mất. Bàng Quyên cũng gấp rút bài binh bố trí trận, đồng thời phóng ngựa hoả tốc về Đại Lương, tấu báo lên triều đình, cực lực đề nghị tiếp tục đánh Tần, đoạt lại Khúc Ốc và bến đò Thái Dương, đảm bảo huyết mạch của Đại Ngụy được thông suốt.
Ngụy Vương không lên triều, quốc sự vẫn do thái tử Thân xử lý.
Vết thương cũ còn chưa lành, giờ lại khai chiến, dù là ai cũng cảm thấy sợ hãi trong lòng. Dù Bàng Quyên đã giải thích gãy lưỡi, thậm chí sai người khiêng cả sa bàn quân sự vào cung, tay chỉ sa bàn giảng giải vài lượt về địa thế chiến lược quan trọng của các ấp Thiểm, Khúc Ốc, thề thốt rằng mình sẽ thu hồi được Khúc Ốc, vây chặt người Tần trong ải Hàm Cốc, song thái tử Thân vẫn một mặt lầm lì, Chu Uy quay nhìn đi chỗ khác, Bạch Hổ cũng chẳng hé một lời, còn Huệ Thi hai mắt khép chặt, cứ như ngủ gật.
“Chư vị, chư vị!” Bàng Quyên sốt ruột ra mặt. “Tiền tuyến đã khai chiến, người Tần tập kết rầm rộ, muốn đoạt lại Thiểm Ấp, thậm chí còn tuyên bố cướp lấy Hào Quan của ta, cắt đứt huyết mạch Đại Ngụy, các tướng sĩ đang phải tắm máu sa trường, tại hạ khẩn cấp cần thêm lương thảo quân nhu, còn cần thêm quân hậu bị, khẩn cầu chư vị!” Nói đoạn, vòng tay vái liên hồi.
“Bàng tướng quân!” Chu Uy thở dài một tiếng, chậm rãi đáp lời. “Tại hạ không phải không muốn khai chiến với người Tần, chỉ có điều… tướng quân cũng biết rồi đấy, lương thảo tích trữ suốt mấy năm nay, chỗ nào dùng thì đã dùng rồi, chỗ nào chưa dùng thì đã bị người Tần thiêu rụi cả rồi. Hiện tại lại gặp vụ đói mùa xuân, khắp nơi la liệt dân đói. Còn về quân hậu bị, hiện tại đang bận rộn vụ cày xuân, sức người vốn đã thiếu hụt…” Chu Uy càng nói càng chậm, rồi dừng lại giữa chừng.
“Tư đồ đại nhân?” Bàng Quyên nhìn sang Bạch Hổ, đưa mắt ra hiệu cho hắn.
“Bàng tướng quân!” Bạch Hổ đã không nói giúp cho hắn, ngược lại còn hùa theo Chu Uy. “Tại hạ đồng ý với thượng khanh đại nhân. Hiện tại khai chiến với Tần, thời cơ không thích hợp, mong tướng quân suy nghĩ kỹ.”
Gặp phải tình cảnh này, Bàng Quyên đã thấm thía thế nào là thân cô thế cô, tức giận đến thở phì phì, ngoảnh mặt đi chỗ khác.
“Huệ tướng quốc!” Thái tử Thân nhìn sang Huệ Thi. “Vũ An Quân thỉnh cầu khai chiến với Tần, Chu thượng khanh, Bạch tư đồ cho rằng thời cơ không thích hợp, dám hỏi tướng quốc quyết định thế nào?”
“Hồi bẩm điện hạ!” Huệ Thi hé mắt, vòng tay mà nói. “Đại sự quốc gia, nên để chúa thượng quyết định, vi thần không dám nói bừa.”
Huệ Thi đùn đẩy sang Huệ Vương, khiến Bàng Quyên đương nhiên không biết phải nói gì, lập tức tới chỗ Huệ Vương cầu kiến, song lại bị tỳ nhân chặn lại ngoài cửa. Bàng Quyên đợi suốt hai canh giờ, vẫn không thấy Huệ Vương truyền yết kiến, thì hiểu rằng có đợi nữa cũng vô ích, lại sợ nước Tần xuất binh báo thù, cuối cùng đành thở dài sườn sượt, đánh xe ra khỏi thành, vội vã đi thẳng tới doanh trại Thằng Trì ngay trong đêm, gấp rút bố trí phòng bị.
Thấy Bàng Quyên hiếu chiến đến vậy, quần thần đều thở dài ngao ngán.
“Sự tình trước mắt vô cùng cấp bách!” Thái tử Thân nhìn sang Huệ Thi. “Tiên sinh có kế sách hay nào chăng?”
“Phạt Tần, chinh chiến đều là ngoại vụ,” Huệ Thi đáp lời. “Hiện tại hợp tung chưa tan rã, tung ước vẫn còn hiệu lực. Đã liên quan tới ngoại vụ, cớ sao điện hạ không hỏi thử ngoại tướng Tô Tần?”
“Phải rồi, phải rồi!” Chu Uy lập tức hùa theo. “Khi chuẩn bị phạt Tần, Tô tướng quốc kiên quyết phản đối, có nhắc với tại hạ chuyện này, song một tay khó vỗ, không thể thuyết phục bệ hạ và Bàng tướng quân, mới dẫn tới kết cục hôm nay.”
“Nghe nói Tô Tử bữa trước có tới đây.” Thái tử Thân suy ngẫm một hồi, rồi đưa mắt nhìn quần thần. “Song gần đây lại không thấy tin tức gì của Tô Tử. Chư vị có ai biết Tô tướng quốc đang ở đâu không?”
“Ở Triệu!” Huệ Thi khép mắt đáp lời. “Bàng tướng quân hoài nghi người Triệu âm mưu cấu kết với Tần, bệ hạ cũng nghi ngờ là vậy, Tô Tử muốn tìm hiểu rõ ràng, đã tới nước Triệu điều tra chân tướng.”
“Bạch tư đồ!” Thái tử Thân quay sang Bạch Hổ. “Tư đồ hãy mau chóng tới Hàm Đan một chuyến, thứ nhất thay phụ vương hỏi thăm Triệu Vương, thứ hai hỏi thăm Tô tướng quốc, nhờ hắn chỉ điểm cho cục thế trước mắt. Nếu Tô tướng quốc chịu tới Đại Lương, thực là tốt đẹp nào bằng.”
“Hồi bẩm điện hạ!” Bạch Hổ thoáng do dự. “Còn phía bệ hạ…”
“Phía phụ vương, bản cung sẽ tự tấu báo.”
***
Bạch Hổ tới nước Triệu, sau khi yết kiến Triệu Vương, liền đi thẳng tới phủ Tô Tần, trình bày tường tận một lượt cục thế nguy nan của nước Ngụy, rồi vòng tay mà nói: “Tô đại nhân, hợp tung phạt Tần thất bại, gần mười vạn tướng sĩ đổ máu sa trường, người bị thương càng nhiều không kể xiết, nước Ngụy lại một lần nữa tổn thương nguyên khí, không dễ phục hồi. Song Vũ An Quân không xem xét quốc tình, một mực thỉnh cầu giao chiến. Bệ hạ lâm bệnh không thể lên triều, triều thần chẳng biết làm thế nào, điện hạ và Huệ tướng quốc đều thỉnh cầu đại nhân mau chóng tới Đại Lương, để chỉ giáo chỗ mê muội.”
“Than ôi!” Tô Tần than thở. “Bạch huynh không biết đấy thôi, cuộc chiến của Vũ An Quân tại đất Thiểm chẳng qua chỉ là một con sóng giữa đại dương, hiện tại nguy nan không phải ở nước Ngụy!”
“Không phải ở nước Ngụy, vậy thì ở đâu?” Bạch Hổ cả kinh hỏi.
“Ở sự hiềm khích và ngờ vực giữa các nước hợp tung.”
“Đúng vậy!” Bạch Hổ hít vào một hơi dài. “Đặc biệt là Vũ An Quân. Vũ An Quân khăng khăng cho rằng người Triệu đã bán rẻ nước Ngụy.”
“Bán rẻ nước Ngụy không phải người Triệu, mà là người Sở và người Tề!”
“Người Sở và người Tề?” Bạch Hổ lại giật mình kinh hãi.
“Đúng vậy!” Tô Tần khẽ gật đầu. “Khi minh ước hợp tung vừa ký kết, tại hạ nghe nói Ngụy Vương và Sở, Tề có ý phạt Tần, thì lấy làm lo lắng, bèn bàn mưu với Triệu Hầu, Triệu Hầu cũng có chung mối lo như tại hạ. Tại hạ hiểu rằng mấu chốt phạt Tần là ở Ngụy Vương bệ hạ, bèn tới khuyên can, nào ngờ bệ hạ quá tin Bàng Quyên, đã kiếm cớ đẩy tại hạ về quê thăm thân nhằm giữ chân tại hạ, cuối cùng mới dẫn tới cuộc chiến này. Còn như Bàng Quyên ngờ vực, chẳng qua là đã trúng kế ly gián của người Tần.”
“Kế ly gián của người Tần?”
“Mười ngày trước, Lý Nghĩa Phu tướng quân vào cung bẩm chuyện, tại hạ đã xác minh sự thực. Nhìn vào con người của Lý tướng quân và diễn biến cuộc chiến, lời nói của người này rất đáng tin cậy. Người Tần vì muốn phá hợp tung, đã kết giao với nước Yên xa xôi, khuấy động nên cuộc chiến giữa Yên và Tề, quân Tề viện vào cớ đó để rút lui khỏi chiến trường. Người Sở kiếm cớ không hợp thuỷ thổ, góp của mà không góp sức. Còn lại quân Tam Tấn đều nghe theo sự điều khiển của Bàng Quyên. Bàng Quyên tranh công đầu, lệnh cho Triệu làm hậu quân, trấn giữ Thiểm, Tiêu, không ngờ tiền quân bị chặn, Hào Quan bị đột kích, Lý Nghĩa Phu anh dũng xung phong, đoạt lại Hào Quan, người Tần lại né tránh không xuất hiện, là cố ý hãm hại người Triệu. Lý tướng quân ngỡ là quân Tần đường xa mệt nhọc, nên đã rút lui, còn cho rằng lần phạt Tần này không phải là ý muốn của Triệu Hầu, bèn tự ý dẫn quân quay về Thượng Đảng. Triệu Hầu đã trách tội hắn, cách hết chức tước, bảo hắn đóng cửa tự kiểm điểm lỗi lầm.”
Bạch Hổ ngẫm nghĩ hồi lâu, mới ngẩng lên nói: “Dám hỏi đại nhân, đã kết hợp tung, sao Tề, Sở lại có hành vi bất tín như vậy?”
“Không giấu Bạch huynh,” Tô Tần than thở, “Tề, Sở tham gia hợp tung, động cơ lại không đơn giản, nói trắng ra là hai nước Tề, Sở đều muốn dựa vào hợp tung để làm suy yếu Ngụy!”
“Làm suy yếu Ngụy?” Bạch Hổ trợn tròn hai mắt.
“Một khi hợp tung thành công, Ngụy tất phạt Tần. Phạt Tần nếu thắng, Sở, Tề đều được lợi; nếu bại, Ngụy, Tần hai bên đều tổn thương; Sở, Tề cũng đều được lợi.”
“Lợi thế nào?”
“Lợi ở làm suy yếu Ngụy. Nói xa thì Ngụy chiếm cứ Trung Nguyên, là điều Tề, Sở đều không mong muốn. Nói gần thì chuyện Hoàng Trì, Hình Sơn, họ vẫn ghi hận trong lòng.”
“Phải rồi!” Bạch Hổ hít ngược một hơi khí lạnh. “Nhưng Vũ An Quân…”
“Không thể trách hắn!” Tô Tần khẽ thở dài một tiếng, từ từ khép mắt. “Vũ An Quân là một tướng quân hiếu chiến, trong mắt hắn chỉ có chém giết.”
Nói chuyện với Tô Tần một chốc, Bạch Hổ trong lòng đã sáng tỏ, bèn tha thiết mời hắn cùng về Đại Lương, xoá bỏ hiềm khích giữa Ngụy, Triệu. Chỉ cần Ngụy Vương nghĩ thông, Tam Tấn hoà hợp, hợp tung liền có thể tiếp tục thực thi.
Tô Tần vốn cho là phải, đang định cùng Bạch Hổ lên đường tới Đại Lương, bỗng thấy công tử Khoái hấp tấp tìm tới, nói là người Tề dường như không có thành ý trả lại mười thành, Tử Chi tướng quân mấy lần sai người tới bàn chuyện trả thành, họ đều đóng cửa không gặp, còn nói Yên Vương nổi trận lôi đình, đã tăng thêm ba vạn binh lính, ba trăm cỗ chiến xa, chiếu lệnh Tử Chi dùng vũ lực để đòi về.
Thấy sự tình nguy cấp, Tô Tần đành thảo một bức thư, giao cho Bạch Hổ chuyển tới Ngụy Vương, rồi gấp rút tới Kế Thành xử lý.
***
Bàng Quyên đột kích vùng sơn cốc, đoạt về Thiểm Ấp. Chiến báo truyền tới cung Tần, Tần Vương triệu tập quần thần tới bàn kế sách ứng phó. Quần thần phẫn nộ, nhao nhao đòi khai chiến với Ngụy.
“Chúa thượng!” Tư Mã Thác từng suýt bỏ mạng ở Hào Quan vốn từ lâu đã muốn phục thù, khảng khái tâu bày. “Các ấp Khúc Ốc, Thiểm, Tiêu, lưng dựa vào Hàm Cốc, tiến có thể tấn công, lùi có thể phòng ngự. Đánh lên phía bắc có thể qua bến đò Hà Thuỷ, thẳng tiến về An Ấp. Đánh về phía tây có thể trực tiếp đoạt lấy Hào Quan, thẳng đến Lạc Dương. Đánh về phía nam có thể đoạt lấy con đường phía nam Hào Quan, tới thẳng Nghi Dương, đích xác là vị trí chiến lược xung yếu, nên Bàng Quyên mới tranh cướp với ta!”
“Theo ái khanh, phải làm thế nào?”
“Khai chiến với Ngụy!” Tư Mã Thác vung tay nói lớn. “Trước có sáu nước, ta còn không sợ, huống chỉ giờ có mình Ngụy, thần thề sẽ đoạt lại Thiểm Ấp! Không những đoạt lại Thiểm Ấp, thần còn tấu xin công chiếm Hào Quan, đoạt lấy Thằng Trì, mở thông đường sang phía đông. Đồng thời, xuất binh thu phục ải Lâm Tấn. Đất Hà Tây không thể để người Ngụy chen chân vào!”
Quần thần đồng thanh hùa theo, tán thành khai chiến với Ngụy, khắp triều đường, duy có Trương Nghi ngồi ở vị trí cao nhất là im lặng, không hưởng ứng một câu.
“Trương ái khanh!” Tần Huệ Vương nhìn sang. “Ý khanh thế nào?”
“Hồi bẩm đại vương!” Trương Nghi khẽ vòng tay. “Thần cho rằng, hiện tại ta không nên khai chiến với Ngụy!”
“Ồ?” Tần Huệ Vương ngả người về phía trước.
“Không những không nên khai chiến, thần còn tấu xin hoàn trả lại người Ngụy các ấp Khúc Ốc, gồm cả bến đò Thái Dương, kết tình láng giềng hoà mục với Ngụy.”
Sau khi Công Tôn Diễn bỏ đi, Tần Vương không bái tướng nữa, Trương Nghi danh là tả tướng, song thực chất là tướng quốc duy nhất của nước Tần, nội chính hay ngoại giao đều do một mình hắn xử lý. Thông thường, quan mới bổ nhiệm phải tích cực đi đầu. Trương Nghi vừa nhậm chức tướng quốc đã gặp ngay kình địch khiêu khích, theo lý mà nói, đáng ra phải thừa thế xông lên, làm chùn nhuệ khí của quân hợp tung, một trận mở thông ải Hào mới đúng. Nào ngờ Trương Nghi lại ngang nhiên bàn lùi ngay giữa triều đường, đúng là hạ thấp uy nghi, tiêu tan khí thế.
Quần thần đưa mắt nhìn nhau, tiếng xì xầm nổi lên râm ran. Trong số triều thần, rất nhiều người có quan hệ mật thiết với Công Tôn Diễn, khi Trương Nghi vượt mặt Công Tôn Diễn làm tướng quốc, họ vốn đã không phục, nay lại thấy hắn nhu nhược như vậy, càng lộ vẻ tức giận, đặc biệt là đám võ tướng. Tuy nhiên Trương Nghi hiện đứng đầu bá quan, quần thần đều e dè, hầu như không hẹn mà cùng nhìn cả sang Tư Mã Thác, rõ ràng chỉ có hắn mới dám lên tiếng phản bác.
“Dám hỏi tả tướng,” Tư Mã Thác quả nhiên không phụ sự kỳ vọng của quần thần, sau cơn kinh ngạc, bèn khẽ vòng tay, nghiêm mặt mà hỏi, “là sợ người Ngụy, hay sợ Bàng Quyên?”
Trương Nghi khẽ mỉm cười, khép mắt lại, lờ đi như không nghe thấy.
“Tả tướng đại nhân!” Tư Mã Thác lộ vẻ kích động, giọng nói hùng hổ. “Sáu nước hợp tung, vài chục vạn binh mã uy hiếp biên cương, ta còn chẳng sợ. Nay chỉ có một mình giặc Ngụy, dám hỏi tả tướng đại nhân sợ chỗ nào?”
“Phải, phải đấy!” Quần thần nhao nhao hùa theo, tuy không nói cùng lúc, song lời lẽ đều giống nhau. “Xin hỏi tả tướng đại nhân sợ chỗ nào?”
“Chư vị!” Trương Nghi hướng về quần thần, vòng tay vái một lượt. “Tại hạ chỉ sợ một điều, tham bát bỏ mâm, được đậu mất dưa.”
Bốn chữ “được đậu mất dưa” của Trương Nghi khiến quần thần có mặt lại một phen sửng sốt, chỉ có Tần Huệ Vương nét mặt vẫn bình thản như không, rõ ràng đã hiểu hắn muốn ám chỉ điều gì. Sau một tiếng đặng hắng thật lớn, Huệ Vương tuyên bố bãi triều, chỉ giữ lại bốn người Trương Nghi, Sư Lý Tật, Tư Mã Thác và công tử Hoa.
“Trương ái khanh!” Huệ Vương nhìn Trương Nghi mỉm cười. “Hãy nói rõ về quả dưa của khanh, quốc uý không thể chờ thêm được nữa!”
Trương Nghi nhìn sang Tư Mã Thác, cười lớn mà nói: “Dưa này vốn do quốc uý trồng, nên để quốc uý nói ra mới phải.”
Lúc này, Tư Mã Thác mới lờ mờ hiểu ra Trương Nghi muốn ám chỉ điều gì, bèn ngập ngừng cất tiếng: “Tả tướng hẳn không phải muốn chỉ Ba, Thục đấy chứ?”
“Chính là Ba, Thục!” Trương Nghi trịnh trọng gật đầu. “Quân hợp tung tan rã, liệt quốc hợp tung không còn rảnh rang để chú ý tới ta, ta ít nhất sẽ nhàn nhã được ba năm, chính là cơ hội tốt để mưu đồ Ba, Thục. Ba, Thục là kho lương hậu bị, đường Thục tuy xa, song nếu gặp năm mất mùa đói kém, có lương thực vẫn tốt hơn là không. Hơn nữa, dân Ba, Thục quả cảm thiện chiến, chính là nguồn binh lính tuyệt vời…” Nói đến đây thì dừng lại, phô ra một nụ cười.
Câu cuối cùng, rõ ràng là dành riêng cho Tư Mã Thác.
“Nhưng…” Tư Mã Thác nghe đã xuôi tai, lại hít vào một hơi dài. “Bàng Quyên kia nếu được đằng chân lân đằng đầu, ta phải làm sao?”
“Quốc uý cứ yên tâm!” Trương Nghi cười đáp. “Nói không phải khoe khoang, trong thiên hạ này, không ai hiểu hắn bằng tại hạ đâu!”
“Ái khanh không phải đang khoác lác đấy chứ?” Huệ Vương vội hỏi. “Lẽ nào Tô Tần cũng không hiểu hắn?”
“Đương nhiên có hiểu!” Trương Nghi đáp. “Có điều, Tô Tần hiểu phần chính của hắn, còn vi thần hiểu phần tà của hắn. Người này tà nhiều hơn chính, bởi vậy Tô Tần đã phải bó tay trước hắn.”
“Phải lắm!” Công tử Hoa gật gù đáp. “Theo tại hạ biết, lần này phạt ta, Tô Tần cực lực phản đối, song đã bị Bàng Quyên bày kế cầm chân, bị lừa gạt đến mặt mày xây xẩm.”
“Thế còn… Tôn Tẫn?” Sư Lý Tật bèn hỏi.
“Tà không thắng chính. Tôn Tẫn không thèm đấu tà với hắn, bởi vậy mới khiến hắn sợ hãi, từ đó bày kế hãm hại Tôn Tẫn!”
“Ồ! Tô Tần cũng một thân chính khí. Nếu như tà đã không thắng nổi chính, cớ sao Bàng Quyên lại sợ Tôn Tẫn mà không sợ Tô Tần?”
Trương Nghi cười lớn mà nói: “Đây gọi là một chìa chỉ mở được một ổ khoá. Bàng Quyên và Tô Tần không ở cùng một bậc, chính của Tô Tần không áp chế nổi tà của Bàng Quyên. Bàng Quyên và Tôn Tẫn ở cùng một bậc, tà của Bàng Quyên không áp chế nổi chính của Tôn Tẫn.”
“Ái khanh thì sao?” Huệ Vương tỏ ra hào hứng.
“Còn về vi thần,” Trương Nghi vòng tay đáp, “tuy rằng không ở cùng một bậc với Bàng Quyên, song vi thần lại có sở thích đùa giỡn với tà. Hắn tà, vi thần còn tà hơn hắn. Ha ha ha, lấy tà đối tà, hắn làm sao bì được với vi thần. Nghe nói tên này bày ra trận thế con rùa nghịch phân gì đó ở Hoàng Trì, chỉ một trận đã bắt sống tướng Tề Điền Kỵ, không biết có thực vậy chăng?”
“Có, có!” Công tử Hoa hào hứng đáp liền. “Thiên hạ truyền tụng như giai thoại!”
“Cái gì mà giai thoại?” Trương Nghi hừ mũi một tiếng. “Kế đó là do tại hạ đích thân truyền dạy cho hắn!”
Nói tới đây, Trương Nghi bèn thuận miệng kể ra trò đùa con rùa ấp trứng quái ác năm xưa khi còn ở trong Quỷ Cốc. Nghe xong, tất thảy mọi người đều ôm bụng cười ngặt nghẽo, phục Trương Nghi sát đất, đặc biệt là Huệ Vương, hỏi đi hỏi lại từng tình tiết, gật gù tấm tắc mãi không thôi.
Sau một hồi cười nói, Huệ Vương đi vào chuyện chính, chiếu mệnh Trương Nghi đi sứ sang Ngụy, hoàn trả các ấp Khúc Ốc nhằm kết giao tình quan hệ láng giềng hoà mục với Ngụy, người Tần rút về ải Hàm Cốc, khôi phục cục diện hệt như trước chiến tranh.
Sau khi Trương Nghi nhận mệnh lui ra, Huệ Vương quay sang Tư Mã Thác, công tử Hoa, Sư Lý Tật, giơ ngón cái lên khen ngợi: “Đã hiểu thế nào là đại tài chưa? Đại tài chính là, vào thời khắc then chốt, luôn nhận ra sự khác biệt giữa dưa và đậu. Khúc Ốc, Hào Quan, Lâm Tấn, tất cả đều chỉ là đậu, chẳng qua chỉ là món điểm tâm của quả nhân, muốn ăn lúc nào, đều có thể với tay bứt lấy; còn Ba, Thục mới là quả dưa hấu lớn! Các khanh đặt quả dưa hấu này bên gối, song chỉ cho quả nhân hít ngửi suông, bảo quả nhân làm sao ngủ nổi?”
“Vi thần suy nghĩ thực hẹp hòi!” Tư Mã Thác xoa xoa tay, nở một nụ cười chất phác.
“Tư Mã ái khanh!” Huệ Vương nhìn hắn, cười mà nói. “Nước Ngụy nguyên khí đã tổn thương, Bàng Quyên vất vả ngược xuôi mà chẳng nên cơm cháo gì. Có tướng quốc đi dỗ dành hắn, sẽ chẳng còn gì đáng ngại nữa. Ái khanh hãy tập trung toàn lực, chỉnh đốn ba quân, lựa chọn năm vạn quân tinh nhuệ, chuẩn bị giao chiến ở vùng núi.”
“Vi thần lĩnh chỉ!” Tư Mã Thác dõng dạc nhận lệnh, vòng tay lui ra.
Trong điện chỉ còn công tử Hoa và Sư Lý Tật.
“Tiểu Hoa!” Huệ Vương quay sang công tử Hoa, hạ giọng mà nói. “Tô Tần có tin tức gì không?”
“Lúc trước ở Hàm Đan, cách đây không lâu đã tới Kế Thành!” Công tử Hoa đáp lời.
“Kế Thành?” Huệ Vương thoáng ngạc nhiên, nhìn sững vào hắn mà hỏi. “Tới đó làm gì?”
Công tử Hoa lắc đầu.
“Phải chăng vì chuyện mười thành giữa Yên, Tề?” Sư Lý Tật tiếp lời.
“Ồ, hẳn là vậy!” Huệ Vương khẽ gật đầu, trầm ngâm hồi lâu, rồi quay sang công tử Hoa. “Hiện tại quân hợp tung tuy tạm thời tan rã, song Tô Tần vẫn là đại hoạ tiềm tàng của quả nhân. Dặn dò Hắc Điêu, tăng cường tay chân, giám sát nhất cử nhất động của người này!”
Công tử Hoa có vẻ lúng túng: “Bên cạnh Tô Tử đã không còn chỉ có Trâu Phi Đao nữa, gần đây hình như còn có thêm cao thủ khác, thần đệ ngờ là đệ tử Mặc gia, họ phòng vệ vô cùng nghiêm ngặt, dù là ai cũng không thể tiếp cận. Trước đó từng có hai Hắc Điêu tới gần nghe lén, vừa qua tường vây đã bị phát giác, may mà nhanh chân chạy thoát, đối phương cũng có vẻ như không muốn kết oán, nên chưa có gì đáng ngại.”
“Đại vương!” Sư Lý Tật vòng tay nói. “Thần xin tiến cử một người, có lẽ sẽ tiếp cận được Tô Tử.”
“Ồ!” Huệ Vương nhổm người về trước, hỏi dồn. “Là ai?”
“Thu Quả!”
Cô bé Thu Quả năm xưa giờ đã trở thành một thiếu nữ yêu kiều.
Khi được nội thần trong cung dẫn qua những lối đi quanh co lắt léo đến cung điện rộng lớn thênh thang, khi quỳ trong cung điện xa hoa tráng lệ của đại vương nước Tần, khuôn mặt xinh đẹp của Thu Quả thoắt đỏ bừng, muôn nỗi căng thẳng, hồi hộp, hưng phấn, sợ hãi dồn dập trong lòng dường như đều được biểu lộ qua đôi má hồng rực của nàng.
“Ngươi là Thu Quả ư?” Tần Vương hai mắt chằm chằm nhìn vào thiếu nữ đang quỳ dưới đất.
“Vâng!” Thu Quả cúi gằm mặt, giọng nói run rẩy.
“Ngẩng đầu lên!”
Thu Quả đã không ngẩng đầu, trái lại còn cúi xuống thấp hơn.
Tần Vương bật cười, đưa mắt liếc Sư Lý Tật một cái, rồi đứng dậy bước lại trước mặt Thu Quả, khẽ đưa tay nâng cằm nàng lên.
Thu Quả toàn thân run bắn, hai mắt vội nhắm nghiền, cơ thể hơi lảo đảo.
“Mở mắt ra!”
Đôi mắt phượng của Thu Quả gắng gượng hé ra thành hai khe hẹp, đôi má nàng lúc này hệt như hai quả hồng chín mọng.
“Ha ha ha!” Tần Vương cười vang vài tiếng. “Thực là một cô nương e thẹn!”
“Hồi bẩm chúa thượng!” Sư Lý Tật bẩm tấu. “Thu Quả cô nương ở nhạc phường học nghệ được sáu năm, giờ đã thông thư đạt lý, các môn cầm kỳ đều có tiến bộ, còn về trồng dâu nuôi tằm, nữ công gia chánh, đều được học từ nhỏ, xứng đáng là thượng phẩm trong đám thiếu nữ tại nhạc phường.”
“Tốt, tốt lắm!” Tần Vương lùi lại vài bước, ngồi xuống chỗ cũ. “Thu Quả, quả nhân muốn hỏi ngươi vài câu, ngươi phải thành thực trả lời!”
Thu Quả chẳng nói chẳng rằng, chỉ gật đầu vài cái.
“Nghe nói ngươi đã từng hai lần cứu một người tên gọi Tô Tần, có chuyện này không?”
Thu Quả sững lại một thoáng, rồi khẽ gật đầu.
“Nghe nói cha ngươi đã hứa gả ngươi cho Tô Tần, có chuyện này không?”
Thu Quả gật đầu.
“Nghe nói Tô Tần từng hứa là sau ba năm sẽ quay về đón ngươi, có chuyện này không?”
Thu Quả do dự một lát, rồi trịnh trọng gật đầu.
“Nếu quả nhân đưa ngươi tới thành thân với Tô Tần, ngươi có đồng ý không?”
Thu Quả không còn gật đầu nữa, mà là dập mạnh đầu xuống đất, cất giọng run rẩy: “Dân nữ… tạ ơn đại vương tác thành!”
“Soạn chỉ!” Tần Vương quay sang nội thần. “Sắc phong cho cha Thu Quả là Tần Sầm tước đại phu, ban cho mười thửa ruộng, một toà phủ trạch, hai trăm năm mươi thạch gạo, miễn thuế và lao dịch ba đời!”
Từ sau khi Thương Ưởng biến pháp, Tần chỉ dựa vào quân công để phong tước, thực thi chế độ hai mươi cấp bậc tước vị, lần lượt là công sĩ, thượng tạo, trâm niểu, bất canh, đại phu, quan đại phu, công đại phu, công thặng, ngũ đại phu, tả thứ trưởng, hữu thứ trưởng, tả canh, trung canh, hữu canh, thiếu thượng tạo, đại thượng tạo hay đại lương tạo, tứ xa thứ trưởng, đại thứ trưởng, quan nội hầu và triệt hầu. Trong hai mươi cấp bậc này, dưới bất canh thuộc hàng sĩ, dưới ngũ đại phu thuộc hàng đại phu, dưới đại thứ trưởng thuộc hàng khanh, hai cấp cuối cùng thuộc hàng hầu, tiếp theo là công. Tần Công tuy đã xưng vương, song chế độ tước vị vẫn chưa thay đổi. Chức đại phu mà Tần Sâm được phong là cấp bậc thứ năm, tuy là cấp cuối cùng trong hàng đại phu, song vẫn cao hơn hàng sĩ, trong dân thường cực hiếm thấy người được ban thưởng hậu như vậy.
Thu Quả lại không hiểu những chuyện này, vẫn quỳ ngây ra tại chỗ, đến cả tạ ân cũng không biết.
“Thu Quả, mau tạ ơn đại vương ban thưởng!” Sư Lý Tật khẽ nhắc nhở.
“Dân nữ tạ ơn đại vương ban thưởng!” Thu Quả dập đầu mà nói.
“Có điều…” Tần Vương đổi giọng. “Quả nhân cũng có một việc muốn uỷ thác cho ngươi.”
“Dân nữ đợi chỉ!”
“Sư Lý đại nhân sẽ truyền lại với ngươi lời uỷ thác của quả nhân. Quả nhân chỉ muốn ngươi nhớ kỹ một câu, ngươi, Tần Thu Quả, sinh ra là người nước Tần, chết đi làm ma nước Tần!”
Khi Tần Vương nói câu cuối cùng, gằn mạnh từng tiếng, ngữ điệu uy nghiêm lạnh lẽo, đặc biệt nhấn mạnh vào một chữ “ma” khiến Thu Quả nghe mà sởn tóc gáy, không rét mà run, bất giác rùng mình ớn lạnh.
“Nhớ kỹ chưa?” Tần Vương hỏi lại một câu.
“Dân nữ nhớ… nhớ rồi!”