Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 44
Bày mưu mai mối, Thuần Vu trộm người
Ve sầu thoát xác, Bàng Quyên trúng kế

❊ ❊ ❊

Nửa tháng sau, Tề Uy Vương xuống chiếu phong Thuần Vu Khôn làm sứ thần, mang theo năm mươi xe muối đi sứ nước Ngụy, chúc mừng Tề, Ngụy tung thân. Trâu Phi Đao trà trộn vào đoàn sứ thần, đi theo bảo vệ Thuần Vu Khôn. Tô Tần vẫn ở lại Tắc cung, lúc thì theo Chu Ung Môn học “Thiều”, lúc lại cùng các Tắc Hạ tiên sinh, triều thần nước Tề bàn luận phương pháp thực hiện cái đạo liên bang cùng trị, thiên đạo quán thông trong kế sách hợp tung.

Lúc này đã qua một cái tết, tiết thời trở ấm, hoa xuân nở rộ, người Đại Lương bắt đầu ra ngoài thả diều. Ngụy Huệ Vương nhìn thấy cảnh này, nổi hứng trẻ thơ, bèn sai tỳ nhân làm một con diều hình chim ó cực lớn, sau đó tự tay thả nó bay lên trong ngự hoa viên. Nhìn con diều từ từ lên cao, tâm trạng của Huệ Vương cũng phơi phới như cánh diều, theo làn gió ấm bay cao mãi.

“Bệ hạ!” Tỳ nhân khum tay che mắt, nhìn con diều chấp chới giữa trời. “Đã bé tí thành một chấm đen rồi, cho dù là chim ó thật cũng chưa chắc đã bay cao được như vậy!”

Ngụy Vương bật cười sảng khoái lại thả thêm hai vòng dây nữa, phấn chấn nói: “Nhìn sức này, nó còn muốn bay cao nữa!”

“Bệ hạ!” Tỳ nhân cười nói. “Đại trị mấy năm, thế lực của Đại Ngụy cũng giống như con chim ó này, đã bay cao đến chín tầng mây!”

“Phải!” Huệ Vương gật đầu. “Nói hay lắm! Chim bay càng cao, sức lao xuống sẽ càng mạnh. Nghe nói Doanh Tứ có nuôi một con hắc điêu, quả nhân rất muốn thử xem, là hắc điêu lợi hại, hay con ó của quả nhân lợi hại!”

“Bệ hạ lại muốn phạt Tần ư?” Tỳ nhân hạ giọng hỏi.

“Còn phải hỏi!” Huệ Vương nói lớn. “Hà Tây bị mất trong tay quả nhân, thì cũng phải do chính tay quả nhân giành lại. Nếu như không thể, trăm năm sau quả nhân còn mặt mũi nào đi gặp liệt tổ liệt tông?”

“Tâm nguyện của bệ hạ sắp được thực hiện rồi!” Tỳ nhân hào hứng tiếp lời. “Hiện giờ nước Tề đã gia nhập tung thân, nếu như Sở cũng gia nhập, liệt quốc Sơn Đông thực sự trở thành một thể, cho dù nước Tần có tường đồng vách sắt, e rằng cũng không thể chống đỡ nổi nửa năm!”

Huệ Vương tiếp lời: “Cho dù liệt quốc không hợp tung, quả nhân cũng vẫn phạt Tần. Quả nhân đã chuyên tâm trị nước mấy năm trời, đến nay kho lương đầy ắp, võ binh phục hưng, hiền thần đầy triều, lại có Bàng tướng quân uy phục liệt quốc, đội quân hổ bôn không ai địch nổi, quả nhân còn sợ ai nữa?” Dừng lại một chốc. “Tuy nhiên, nói gì thì nói, Tô Tử hợp tung, sáu nước tung thân, đúng là đã tốt lại còn tốt hơn, quả là trời đã giúp ta!”

Đúng vào lúc này, nội thần dẫn Chu Uy vội vàng đi tới, khấu đầu trước mặt Huệ Vương: “Khởi tấu bệ hạ, sứ thần nước Yên đến, tặng bệ hạ một con thiên lý mã, cộng thêm năm mươi con ngựa tốt. Sứ thần nước Triệu đến, tặng bệ hạ một ca kỹ, mười vũ nữ, mười nhạc công. Sứ thần nước Tề đến, tặng bệ hạ năm mươi xe muối, cùng là để chúc mừng tung thân!”

“Ồ!” Huệ Vương cả mừng. “Liệt quốc tung thân, việc tốt dồn dập tìm đến!” Dừng lại một chút, lại hỏi. “Điền Nhân Tề phái người nào đến?”

“Thuần Vu Khôn!”

“Là lão phu tử!” Huệ Vương cười ha hả mà nói. “Chẳng phải ông ta đang ở Hàm Đan hay sao? Đến Lâm Truy từ bao giờ vậy?”

“Tắc cung tế tửu Bành Mông quy tiên, Thuần Vu Khôn đến đưa tiễn, Tề Vương liền phái ông ta đi sứ!”

“Tốt! Tốt lắm!” Huệ Vương lại cười hoan hỷ, rồi quay sang tỳ nhân. “Người có đạo sẽ được nhiều ủng hộ. Sứ thần liệt quốc vào triều, quả nhân không thể chậm trễ, ngươi hãy mau sắp xếp, để quả nhân triệu kiến từng người một!”

“Thần lĩnh chỉ!”

Huệ Vương vốn rất thích Thuần Vu Khôn, dặn dò tỳ nhân sắp xếp gặp ông ta sau cùng để có nhiều thời gian trò chuyện.

Chiều hôm sau, tỳ nhân sắp xếp cho sứ thần nước Yên yết kiến đầu tiên, sau đó là Thuần Vu Khôn. Sứ thần nước Yên thích ngựa, tự ví mình với Bá Nhạc. Huệ Vương biết được thì mừng rỡ, nhân tiện hỏi han sứ Yên về cách nhận biết ngựa hay, hai bên trò chuyện say sưa, đến mức quên bẵng cả thời gian. Tỳ nhân bước vào, bẩm báo rằng sứ thần nước Tề Thuần Vu Khôn đã đến, đang đợi ở ngoài điện. Sứ Yên liền cáo lui, tỳ nhân dẫn Thuần Vu Khôn vào yết kiến.

Thuần Vu Khôn khấu kiến xong, Huệ Vương liền mời ngồi, nhưng đầu óc vẫn quẩn quanh với chuyện ngựa, nên thần thái có phần lơ đãng.

Thuần Vu Khôn nhìn Huệ Vương chăm chú một hồi, rồi đứng dậy, khấu đầu nói: “Bệ hạ, thảo dân cáo lui!”

“Ồ!” Uy Vương sững người, rồi gật đầu nói. “Được! Được! Được! Vậy thì hãy đợi đến chiều mai!”

Chiều hôm sau, Thuần Vu Khôn lại đến như đã hẹn. Khi yết kiến, thấy Huệ Vương vẫn có vẻ xao nhãng, liền lập tức khấu đầu nói: “Bệ hạ, thảo dân cáo lui!” Rồi không đợi Huệ Vương lên tiếng, Thuần Vu Khôn đã đứng dậy lui ra.

Huệ Vương kinh ngạc, sượng sùng nhìn tỳ nhân.

Tỳ nhân vội đuổi theo, vẻ hối lỗi nói với Thuần Vu Khôn: “Tiên sinh, chiều mai lại đến, được chăng?”

Chiều hôm sau, Thuần Vu Khôn lại đến yết kiến như đã hẹn. Huệ Vương đứng dậy, đích thân dắt ông ngồi xuống.

Thuần Vu Khôn ngồi xuống chiếu, lại đưa mắt nhìn Huệ Vương, thấy tinh thân khí sắc khác hẳn so với hai ngày trước, thì vòng tay nói: “Bệ hạ, thảo dân lại đến quấy rầy!”

Huệ Vương xua tay, cười lớn mà nói: “Tiên sinh, chớ nói vậy, quả nhân có một chuyện rất muốn hỏi tiên sinh!”

“Xin bệ hạ cứ hỏi!”

“Tiên sinh hai lần yết kiến quả nhân, cả hai lần đều chẳng nói một lời, đứng dậy đi luôn, là quả nhân không xứng để trò chuyện, hay vì có nguyên do nào khác?”

“Không phải bệ hạ không xứng để trò chuyện, mà do bệ hạ thần trí lơ đãng, không có ý gặp thảo dân!”

“Ồ?” Huệ Vương kinh ngạc. “Tiên sinh hãy nói xem, quả nhân lơ đãng thế nào?”

“Khởi bẩm bệ hạ!” Thuần Vu Khôn vòng tay nói. “Hôm kia Khôn cầu kiến bệ hạ, bệ hạ ý tại rong ruổi; hôm qua Khôn cầu kiến bệ hạ, bệ hạ ý ở âm nhạc, nên thảo dân đều cáo lui!”

Huệ Vương tròn mắt kinh ngạc, bất giác khen ngợi: “Chà chà, tiên sinh đúng là thần nhân! Không giấu tiên sinh, hôm kia tiên sinh đến, cũng vừa lúc sứ thần nước Yên tặng thiên lý mã, quả nhân yêu ngựa, mặc dù gặp tiên sinh, nhưng lòng lại nghĩ về ngựa. Hôm qua tiên sinh đến, lại gặp lúc sứ thần nước Triệu tặng ca kỹ, quả nhân thưởng thức tiếng hát hay, chưa kịp nghe cho thoả thích, nên dù gặp tiên sinh, nhưng trong tâm vẫn còn lưu luyến!” Rồi quay sang tỳ nhân, cười lớn mấy tiếng. “Nhìn thấy chưa, Thuần Vu Tử hệt như con sâu chui vào trong tim quả nhân, ngay cả quả nhân nghĩ gì, tiên sinh cũng biết rõ!”

Tỳ nhân cũng cười, quay sang Thuần Vu Khôn, tiện miệng hỏi: “Tiên sinh đã là con sâu trong tim của bệ hạ, vậy có thể nói xem hiện bệ hạ đang nghĩ về chuyện gì không?”

Thuần Vu Khôn mỉm cười, gật đầu nói: “Để thảo dân thử xem!” Rồi mặt đối mặt với Huệ Vương, hai mắt nhắm nghiền, đề thần vận khí như thật, cứ như muốn đưa nguyên thần của mình chui vào trong tim Huệ Vương.

Huệ Vương chột dạ, nơm nớp như đang đối mặt với kẻ địch lớn, toàn thần tập trung nhìn chằm chằm vào Thuần Vu Khôn. Qua ba hơi thở, Thuần Vu Khôn thở ra một hơi dài, rồi mở mắt ra.

Huệ Vương vừa căng thẳng, vừa hiếu kỳ, hai mắt cứ nhìn chăm chắm vào Thuần Vu Khôn, rồi hỏi thăm dò: “Tiên sinh, quả nhân đang nghĩ gì?”

Thuần Vu Khôn lắc lư cái đầu: “Bệ hạ đang nghĩ, cái lão trọc đầu này, lẽ nào hắn thực sự có thể biến thành một con sâu, chui vào trong tim quả nhân ư?”

“Thần kỳ! Đúng là thần kỳ!” Huệ Vương dường như không dám tin, luôn miệng thốt lên. “Lúc nãy quả nhân thực sự có nghĩ như vậy!”

Thuần Vu Khôn cười lớn.

Tỳ nhân biết Thuấn Vu Khôn đang làm bộ diễn trò, thì cũng giả vờ thán phục khen ngợi vài câu. Huệ Vương nổi hứng, cùng Thuần Vu Khôn nói đủ chuyện trên trời dưới bể, từ thiên hạ đại sự đến đạo dưỡng sinh, từ phương pháp trị dân đến thuật ngự nữ, rôm rả suốt hai canh giờ.

Thuần Vu Khôn thấy trời đã chập tối, liền đứng dậy dập đầu nói: “Bệ hạ, không còn sớm nữa, thảo dân xin cáo lui!”

Ngụy Huệ Vương dường như cũng đã mệt, bèn vòng tay đáp: “Nói chuyện với tiên sinh thật sảng khoái. Mấy năm nay, Điền Nhân Tề luôn đối đầu với quả nhân. Những việc thuận theo tâm ý quả nhân, tính đi tính lại, chỉ có duy nhất một việc này, đó là chọn tiên sinh đi sứ!”

Thuần Vu Khôn khấu đầu: “Đa tạ bệ hạ hậu ái!”

“Có qua mà không có lại là thất lễ!” Huệ Vương quay sang tỳ nhân. “Điền Nhân Tề tặng quả nhân năm mươi xe muối, quả nhân sẽ tặng lại bốn mươi xe nấm khô, mười xe trà xuân, chứ để tiên sinh đánh xe không về, ông ta lại cười nhạo quả nhân. Còn về phía tiên sinh, tặng cho một cỗ xe, mười chuỗi ngọc. Còn vàng thì thôi, dù sao tiên sinh cũng chẳng thích đâu!”

“Bệ hạ cười chê rồi!” Thuần Vu Khôn vội vòng tay. “Đừng nói là vàng, cho dù bệ hạ có tặng một cọng cỏ xanh, thảo dân vẫn cứ coi là châu báu!”

“Tốt lắm!” Huệ Vương cười vang. “Tiên sinh đã nói vậy, thì hãy thưởng cho một cọng cỏ xanh!”

Trong tiếng địa phương nước Ngụy, chữ “xanh” trong phát âm gần giống chữ “kim” là vàng. Ngụy Huệ Vương vốn chỉ định nói cho vui, không ngờ lời còn chưa kịp dứt, Thuần Vu Khôn đã khấu đầu sát đất, dõng dạc hô: “Thảo dân đa tạ bệ hạ thưởng cỏ vàng!”

Trong nháy mắt, cỏ xanh đã biến thành cỏ vàng, Huệ Vương trố mắt một chốc, rồi cười lớn mà nói: “Tiên sinh quả là nhanh trí!” Rồi quay sang căn dặn tỳ nhân. “Truyền chỉ cho thợ vàng, đun chảy năm mươi lượng vàng đúc thành một cọng cỏ vàng, ban thưởng cho tiên sinh!”

“Thần lĩnh chỉ!”

Trong những món quà đáp lễ của Huệ Vương, nấm khô là thứ có sẵn, trữ đầy trong kho, song mười xe trà xuân lại khó tìm, vì hiện giờ vừa qua thanh minh, trà mới bắt đầu hái, quả thực một lúc khó lòng gom được đủ mười xe. Chu Uy đọc xong chiếu thư, đành phải đánh xe đến dịch quán, khẩn cầu Thuần Vu Khôn nán lại mấy hôm. Vì cũng cần có thời gian để nghĩ cách “trộm” Tôn Tẫn, nên đương nhiên Thuần Vu Khôn vui vẻ nhận lời.

Chu Uy vừa đi, Thuần Vu Khôn lập tức gọi Trâu Phi Đao đến hỏi: “Đã gặp gã điên kia chưa?”

Trâu Phi Đao gật đầu nói: “Gặp rồi! Tôn Tử biết tin thì vui lắm, hỏi tiểu nhân khi nào có thể lên đường. Tiểu nhân trả lời, ngày giờ cụ thể phải do tiên sinh quyết định.”

“Khi ngươi gặp Tôn Tẫn, có ai nhìn thấy không?”

“Không!”

Thuần Vu Khôn ngẫm nghĩ một lúc rồi nói: “Chưa được lệnh của ta, tuyệt đối không được gặp Tôn Tử nữa, cũng không được cho bất cứ ai tới làm phiền hắn. Ngươi hãy cứ đợi trong dịch quán, chưa đến thời khắc quyết định, tuyệt đối không được lộ diện.”

Trâu Phi Đao vâng lệnh, quay người rời đi.

Thuần Vu Khôn ngồi trong sảnh, trầm ngâm suy nghĩ một hồi, rồi gọi phu xe đến, bảo chuẩn bị xe để đến phủ tướng quốc. Thuần Vu Khôn nhiều hơn Huệ Thi mười tuổi, bất luận là về học vấn hay danh tiếng, Huệ Thi cũng không thể sánh bằng. Biết Thuần Vu Khôn đến thăm, Huệ Thi vội vàng ra nghênh đón, vòng tay vái dài sát đất: “Thuần Vu Tử quang lâm, Huệ Thi vô cùng hân hạnh!”

Thuần Vu Khôn vòng tay đáp lễ, cười lớn mà nói: “Nghe nói Huệ Tử học cái học danh thực, rất có thành tựu, lão hủ ngưỡng mộ đã lâu. Ba năm trước, lão hủ làm thuyết khách giúp Triệu Hầu, đến Đại Lương yết kiến bệ hạ, vốn đã định đến cửa thỉnh giáo, nhưng lại nghe nói Huệ Tử bận rộn quốc sự, không có thời gian rỗi để cà kê cùng lão hủ đây, nên đành thôi. Lần này lại đến, lão hủ nghĩ đi nghĩ lại, nếu như lại không tìm đến thỉnh giáo, với độ tuổi này của lão hủ, chưa biết chừng sẽ trở thành niềm nuối tiếc cuối đời!”

Huệ Thi cười nói: “Chút học mọn của Huệ Thi, đâu dám khoe khoang trước mặt Thuần Vu Tử?” Rồi chìa tay. “Thuần Vu Tử, mời!”

Thuần Vu Khôn theo Huệ Thi vào trong phủ, từ xa đã nhìn thấy một người đang ngồi ngay ngắn trong phòng khách. Thấy họ đi đến, người này đứng dậy ra đón. Thuần Vu Khôn đang đoán chừng, thì người đó đã khom lưng vái chào mà nói: “Ngụy Thân xin chào Thuần Vu Tử!”

Thuần Vu Khôn vội vòng tay đáp lễ: “Thảo dân Thuần Vu Khôn bái kiến điện hạ!”

“Điện hạ cũng vừa mới đến,” Huệ Thi cười nói, “ngồi còn chưa kịp ấm chỗ! Hôm nay thật trùng hợp, một người là điện hạ đương triều, một người là Thái Sơn Bắc Đẩu trong học giới, khiến cho cái xó xỉnh tối tăm của tại hạ chốc đã sáng quang!”

“Đương nhiên rồi!” Thuần Vu Khôn vỗ vào cái đầu trọc bóng loáng của mình, cười vang mà nói. “Chỉ cần cái đầu sáng bóng của lão hủ tới nơi, không sáng mới là lạ!”

Ba người cùng bật cười.

Huệ Thi nhường chỗ, thái tử Thân từ chối không được, đành phải ngồi vào giữa, Thuần Vu Khôn, Huệ Thi lần lượt ngồi hai bên. Chuyện phiếm một lúc, Thuần Vu Khôn quan sát Ngụy Thân, thấy Ngụy Thân đầu mày nhíu chặt, khí sắc không vui, bèn ngả người về phía trước hỏi: “Nhìn khí sắc của điện hạ, dường như đang có tâm sự. Thảo dân ở đây, hẳn sẽ gây điều bất tiện!” Nói dứt lời, liền làm ra vẻ muốn đứng dậy.

Thái tử Thân vội đưa tay ngăn lại, cười gượng một tiếng, vòng tay nói: “Nghe nói Thuần Vu Tử giỏi suy đoán, có thể nhìn thấu tâm tư người khác, Ngụy Thân vốn không tin, nhưng hôm nay được lĩnh giáo rồi!”

Huệ Thi cũng cười một tiếng, quay sang Thái tử Thân nói: “Cho dù là chuyện gì, cũng không thể giấu được Thuần Vu Tử. Hay là điện hạ hãy cứ nói ra, Thuần Vu Tử túc trí đa mưu, chưa biết chừng lại có diệu kế!”

“Than ôi!” Thái tử Thân thở dài sườn sượt. “Lần này Ngụy Thân đến đây, là vì chuyện của Mai muội!”

“Mai công chúa? Công chúa làm sao kia?” Huệ Thi điềm đạm hỏi.

“Từ sau khi Tôn tướng quân phát điên,” Thái tử Thân chậm rãi nói, “Mai muội dường như đã trở thành một người khác hẳn, ngày ngày chỉ giấu mình trong thâm cung, ngoài cung nữ thân tín ra, chẳng chịu gặp ai, chẳng buồn ngó ngàng đến ai khác. Thấy Mai muội tuổi ngày một lớn, phụ vương cũng sốt ruột, rất muốn tìm giúp một chỗ xứng đáng. Năm ngoái Hàn thất đến cầu hôn cho công tử Chương, muốn hỏi Mai muội, phụ vương lập tức chấp thuận hôn sự này. Mai muội hay tin, ngay đêm hôm đó đã treo cổ tự vẫn, may mà cung nữ kịp thời cứu sống. Phụ vương vốn rất yêu thương Mai muội, thấy Mai muội cố chấp như vậy, đành phải từ bỏ ý định. Chiều hôm kia, Mai muội đột nhiên đến gặp tại hạ, quỳ xuống cầu xin một chuyện, khiến Ngụy Thân vô cùng khó xử.”

“Mai công chúa cầu xin chuyện gì?” Huệ Thi lại hỏi.

“Mai muội nói không muốn ở trong cung nữa, chỉ muốn chuyển đến phủ của Thân, còn muốn Thân đón Tôn tướng quân về phủ để Mai muội chăm sóc cả đời!”

Huệ Thi cũng giật mình, hít vào một hơi thật dài, từ từ nhắm mắt lại.

“Tiên sinh!” Ngụy Thân nhìn thẳng vào Huệ Thi, lo lắng nói. “Tiên sinh nói thử xem, Ngụy Thân phải làm thế nào đây? Nếu như không đồng ý, Mai muội đau buồn, chưa biết chừng lại nghĩ quẩn. Nếu đồng ý, việc này tất sẽ truyền ra ngoài, thiên hạ sẽ đàm tiếu ra sao? Hơn nữa, phải nói với phụ vương thế nào đây?”

Huệ Thi khép mắt lại, ngồi im bất động, chìm trong suy tư.

Thái tử Thân thấy vậy, thở dài một tiếng, cúi đầu im lặng.

Thuần Vu Khôn đã nghe ra được duyên do, liền ngả người về phía trước hỏi: “Xin hỏi điện hạ, Tôn tướng quân phải chăng là Tôn Tẫn?”

“Đúng thế!”

“Hỡi ôi!” Thuần Vu Khôn lắc lư cái đầu, cũng thở dài buồn bã. Tiếng thở dài của Thuần Vu Khôn, trung khí tràn trề, giọng kéo rất dài, lại lên bổng xuống trầm, y như tấu nhạc, rõ ràng là cố tình.

Huệ Thi mở bừng mắt, ngẩng đầu hỏi: “Cớ sao Thuần Vu Tử lại than thở?”

“Than ôi!” Thuần Vu Khôn lại than một tiếng. “Nói ra thì Tôn Tẫn năm xưa chính là do lão hủ đây tiến cử. Lão hủ thấy hắn có chút tài cán, đến Ngụy không chừng sẽ được thoả chí tung hoành, ai ngờ mới có mấy năm, mà một tài tử đường đường như vậy lại hoá thành một kẻ điên khùng! Huệ Tử nói xem, thế đạo như vậy, lão già này có thể không cảm thán hay sao?” Nói đoạn, lại lắc lắc cái đầu trọc.

Huệ Thi cười buồn một tiếng, cũng lắc đầu.

Thuần Vu Khôn quay sang thái tử Thân: “Lúc nãy nghe giọng điệu của điện hạ, dường như Tôn tướng quân và Mai công chúa có mối liên quan, việc này là thế nào?”

Thái tử Thân thấy cũng không thể giấu giếm được, nên đành phải kể lại một lượt hôn ước giữa Tôn Tẫn và Thuỵ Mai công chúa. Nói đến cảm động, thái tử Thân hai mắt cũng đỏ hoe.

Thuần Vu Khôn nghe xong, ngẫm nghĩ một lúc, lập tức nảy ra một ý, bèn cười vang mà nói: “Điện hạ, việc này kể cho lão hủ đây, coi như đã chọn đúng người!”

“Ồ, Thuần Vu Tử có kế sách gì ư?” Thái tử Thân vội hỏi.

“Xin hỏi điện hạ, điện hạ muốn Mai công chúa được hạnh phúc cả đời, hay là muốn để công chúa hầu hạ một kẻ điên?”

“Đương nhiên là muốn Mai muội được hạnh phúc!”

Thuần Vu Khôn lắc lư cái đầu, chậm rãi nói: “Nếu đã như vậy, lão hủ đây có một tuyệt chiêu!”

“Tiên sinh mau nói!”

“Lão hủ rất thích giúp chuyện mối mai để kiếm chén rượu hỷ. Nếu Mai công chúa vẫn là khuê nữ chưa xuất giá, lão hủ nguyện đứng ra làm mối, tìm cho công chúa một đức lang quân như ý, đảm bảo công chúa được hạnh phúc cả đời.”

Nghe nói vậy, thái tử Thân lập tức cụt hứng, thở dài mà nói: “Chao ôi, cứ tưởng tiên sinh có diệu kế gì, không ngờ lại là việc này. Tiên sinh có điều không biết, trong lòng Mai muội chỉ có một mình Tôn tướng quân mà thôi. Dù có là Tiêu Lang tái thế, Mai muội cũng chẳng chút động lòng.”

“Điều này thì chưa chắc!” Thuần Vu Khôn cười ha hả mà nói. “Nếu điện hạ tin tưởng, việc này cứ giao cho lão hủ. Lão hủ khẳng định Mai công chúa sẽ vui vẻ nghe theo lão hủ, gả cho đức lang quân như ý!”

“Gả cho người nào?” Thái tử vội hỏi.

“Người này…” Thuần Vu Khôn ngập ngừng một thoáng, rồi lập tức ứng biến, “là công tử Hư!”

“Công tử Hư là ai?”

“Là công tử nước Tề!”

“Công tử nước Tề? Công tử Hư?” Thái tử Thân gãi đầu, lẩm bẩm. “Hình như Ngụy Thân chưa từng nghe nói đến người này bao giờ.”

Thuần Vu Khôn cười vang: “Người trên đời có đến hơn nghìn vạn, điện hạ chưa từng nghe nói đến cũng là chuyện bình thường. Hơn nữa, hiện giờ điều lo lắng của điện hạ chỉ là hôn sự của công chúa, hạnh phúc của công chúa, đức lang quân như ý cho công chúa. Còn như việc hư với không hư, chỉ cần công chúa vui lòng, thì điện hạ còn điều gì phải đắn đo?”

Thái tử Thân ngẩn người, rồi gật đầu nói: “Phải, tiên sinh nói đúng lắm! Cho dù người đó là ai, chỉ cần Mai muội bằng lòng, Ngụy Thân tuyệt không phản đối!”

“Vậy thì tốt rồi!” Thuần Vu Khôn cười lớn mà nói.

“Ngày mai lão hủ sẽ đến yết kiến bệ hạ để cầu thân, có điều…” đưa mắt liếc sang Huệ Thi, “bữa rượu hỷ này, ta không thể uống một mình được! Huệ Tử, làm mối cũng có phần của ông. Lão hủ làm mối nhà trai, ông làm mối nhà gái, thế nào?”

Huệ Thi không đoán được ý đồ của Thuần Vu Khôn, rất tò mò muốn biết sự việc sẽ diễn biến thế nào, liền vòng tay cười nói: “Huệ Thi nguyện góp chút sức mọn!”

Ngày hôm sau, Thuần Vu Khôn bỏ ra một lượng tiền lớn để sắm sanh lễ vật, đến giờ Thân, liền đánh xe, gọi thêm Huệ Thi vào cung cầu kiến Huệ Vương. Vừa thấy Thuần Vu Khôn, Huệ Vương lại phá lên cười vui vẻ mà nói: “Lão phu tử, quả nhân đang nghĩ đến ông đây!”

“Bệ hạ nhớ thảo dân là khách sáo, thảo dân nhớ bệ hạ là thật lòng!” Thuần Vu Khôn khấu đầu nói.

“Lão phu tử mau bình thân!” Huệ Vương bảo hai người ngồi xuống. “Lần này lão phu tử đoán sai rồi, quả nhân thực sự đang nhớ đến lão phu tử!” Rồi quay sang tỳ nhân. “Không tin, hãy cứ hỏi hắn!”

Tỳ nhân tiếp lời: “Lão phu tử, đúng là như vậy, lúc nãy bệ hạ cứ nhắc đến lão phu tử mãi.”

“Dám hỏi bệ hạ, tại sao lại nhớ thảo dân?” Thuần Vu Khôn vừa cười vừa hỏi Huệ Vương.

“Không giấu phu tử,” Huệ Vương thôi cười, cất giọng nghiêm túc, “bên cạnh quả nhân quả thực vẫn còn thiếu một người như phu tử. Sau khi phu tử đi rồi, quả nhân càng nghĩ càng thấy không thể thiếu được phu tử, thực lòng muốn bái phu tử làm quốc sư, ngày ngày ở trong cung, bên cạnh quả nhân, giúp quả nhân chỉ ra những điều lầm lỗi. Quả nhân và tỳ nhân đang nói đến việc này, đang định triệu vời phu tử, không ngờ phu tử đã đến!”

Thuần Vu Khôn cười lớn.

Huệ Vương kinh ngạc, vội hỏi: “Phu tử không bằng lòng ư?”

Thuần Vu Khôn chỉ vào cái đầu trọc của mình, vừa cười vang vừa nói: “Trong cung mỹ nữ như mây, nếu sớm chiều nhìn thấy cái đầu trọc lóc của thảo dân, chẳng phải sẽ khiến mặt hoa thất sắc, chạy trốn tán loạn ư?”

Huệ Vương cũng nhân tiện pha trò: “Nếu là việc này lại không đáng ngại. Quả nhân sẽ tặng phu tử năm mươi mỹ nữ, chỉ mong lão phu tử tinh khí sung túc, chớ làm họ thất vọng là được!”

“Nếu quả là vậy,” Thuần Vu Khôn tiếp lời, “thảo dân lại càng không dám. Mỹ nữ trong cung đều là ngọc thể, thảo dân thân hèn, chẳng phải là đã làm khổ họ ư?”

Huệ Vương biết ông ta không chịu, ngẫm nghĩ một lúc, bèn khẽ thở dài rồi chuyển sang chuyện khác: “Nói đi, lần này lão phu tử đến, có gì chỉ giáo?”

Thuần Vu Khôn vòng tay nói: “Đâu dám chỉ giáo! Thảo dân đến để lĩnh phần thưởng!”

Ngụy Huệ Vương quay sang tỳ nhân: “Cỏ vàng của lão phu tử đã đúc xong chưa?”

Tỳ nhân khẽ gật đầu, đi sang bên cạnh cầm lấy một chiếc hộp, mở ra, quả nhiên bên trong là một cọng cỏ xuân vàng chói lọi, sinh động như thật. Huệ Vương ngắm nghía một lát, rồi bảo tỳ nhân đưa cho Thuần Vu Khôn: “Đây là phần thưởng của lão phu tử, hãy cầm lấy!”

Thuần Vu Khôn nhận lấy cỏ vàng, vòng tay tạ ơn: “Thảo dân đa tạ bệ hạ ban thưởng! Nhưng lần này thảo dân đến đây, không phải để lấy phần thưởng này!”

“Ồ?” Huệ Vương ngẩn người. “Vậy phu tử đến để lấy phần thưởng gì?”

“Rượu mừng!”

“Rượu mừng?” Huệ Vương rất đỗi ngạc nhiên. “Là rượu mừng của ai?”

“Rượu mừng của Mai công chúa!” Thuần Vu Khôn dõng dạc đáp. “Trước lúc lên đường, Tề Vương có dặn thảo dân đến thăm dò xem, hiện bệ hạ có công chúa nào chưa gả chồng hay không, nếu có, Tề Vương nguyện được kết thân cùng bệ hạ. Hôm qua thảo dân đến phủ tướng quốc hỏi thăm, được biết Mai công chúa vẫn chưa đính hôn. Thảo dân mừng rỡ, nên đã kéo cả tướng quốc tới cùng làm mai mối, thay mặt Tề Vương cầu hôn với bệ hạ!” Nói đoạn, rút từ trong tay áo ra một bản danh sách sính lễ, hai tay trình lên. “Đây là danh sách sính lễ, lễ đã chuyển tới thiên điện, mời bệ hạ xem qua!”

Tỳ nhân nhận lấy, đưa cho Huệ Vương.

Huệ Vương đọc lướt qua rồi đặt xuống mặt bàn, ngẩng đầu chậm rãi hỏi: “Điền Nhân Tề cầu hôn? Ông ta cầu hôn cho ai?”

“Công tử Hư!” Thuần Vu Khôn lại rút từ trong tay áo ra một tấm lụa, hai tay dâng lên. “Đây là bát tự sinh thần của công tử!”

“Công tử Hư?” Huệ Vương nhận lấy tờ bát tự, đọc qua một lượt, nhẹ nhàng đặt xuống, gật đầu nói. “Tuổi rất được, không biết người này phẩm chất ra sao?”

“Nếu nói về phẩm chất, thực chẳng chê vào đâu được!” Thuần Vu Khôn cười vang mà nói. “Thảo dân chỉ dùng tám chữ: tài năng hiển hách, phong độ hiên ngang. Tuy nhiên…” lập tức đổi giọng, “thực ra công tử cũng có chỗ khiếm khuyết, thảo dân không dám giấu!”

“Có chỗ nào khiếm khuyết?”

“Theo Khôn được biết, công tử tính cách trầm tĩnh, không màng danh lợi, không tranh với đời, chỉ thích tĩnh lặng một mình, đặc biệt rất thích trồng hoa nuôi cỏ. Hơn nữa trong trăm loài hoa, chỉ đặc biệt yêu thích mai, cúc, thậm chí mấy năm trước còn khăng khăng đòi đến núi tiên ở Đông Hải, trồng mai nuôi cỏ, tu đạo luyện tiên. Không biết bao nhiêu người làm mai mối, nhưng công tử vẫn chưa ưng. Cái tính cách này, thực khác biệt so với người trẻ tuổi hiện nay, Tề Vương rất đỗi đau đầu, nhưng cũng đành phải bó tay. Những khiếm khuyết đó, thảo dân muốn bẩm rõ với bệ hạ, tuyệt không được để công chúa phải thiệt thòi!”

Huệ Vương nghe mà trong lòng mừng rỡ, vội nói: “Ồ, nếu đúng như vậy thì thật hợp với Mai Nhi. Nếu Điền Nhân Tề có thành ý, quả nhân sẽ chấp thuận hôn sự này!” Nói đến đây, mới đột nhiên sực nhớ ra một điều, đôi mày bỗng nhíu chặt. “Có điều, tính khí của Mai Nhi cũng giống y như vị công tử đó, rất cố chấp, không chịu gả chồng. Nếu nó không chịu, thì sẽ sống chết phản đối, cho dù là quả nhân cũng phải bó tay!”

“Bệ hạ yên tâm!” Thuần Vu Khôn tiếp lời. “Thảo dân học được thuật thông tâm, có thể đoán được những điều mà Mai công chúa đang nghĩ. Hãy để thảo dân bái kiến công chúa, thảo dân sẽ lựa thế mà khuyên nhủ, khiến công chúa vui vẻ nhận lời!”

Huệ Vương vội nói: “Tốt! Tốt! Tốt lắm! Nếu tiên sinh có thể tác thành hôn sự này, quả nhân nhất định sẽ trọng thưởng!” Rồi quay sang tỳ nhân. “Truyền Mai công chúa vào yết kiến!”

Tỳ nhân toan đi, Thuần Vu Khôn liền ngăn lại: “Không! Không! Thảo dân không thể gặp công chúa trong cung được. Nghe nói công chúa và điện hạ qua lại rất thân thiết, thảo dân có thể đến phủ điện hạ để gặp công chúa được chăng?”

Huệ Vương gật đầu đồng ý: “Được thôi, tất cả xin nghe theo phu tử sắp đặt!”

Trong vườn mai tại hậu hoa viên của phủ thái tử Thân, hơn trăm gốc mai đã chen chúc những quả mai xanh to cỡ trái nho. Công chúa Thuỵ Mai xiêm y trắng muốt ngồi trong đình mai, ánh mắt thẫn thờ nhìn sững vào những quả mai xanh, trùng trùng tâm sự. Trong vườn chẳng còn ai khác, chỉ có mấy con chim nhỏ bận rộn xuyên qua những nhành mai, kêu lích chích.

Cổng vườn mở ra, Thuần Vu Khôn lắc lư cái đầu trọc lóc đi vào. Thuỵ Mai do vẫn miên man suy nghĩ, nên không nghe thấy tiếng bước chân lúc một gần. Thuần Vu Khôn đi tới dưới đình, dừng bước, cố ý hắng giọng một tiếng.

Thuỵ Mai quay đầu lại, thình lình nhìn thấy một lão già đầu trọc, thì mặt hoa thảng thốt, kinh sợ hỏi: “Ông là ai?”

Thuần Vu Khôn vái sâu một lễ: “Lão hủ Thuần Vu Khôn xin chào công chúa!”

Thuỵ Mai từ lâu đã nghe đến đại danh của Thuần Vu Khôn, nên cũng thở phào một tiếng, khẽ nhún mình, vòng tay đáp lễ: “Tiểu nữ xin chào tiên sinh!”

Thuần Vu Khôn ngắm nghía nàng một lượt, rồi gật đầu khen ngợi: “Công chúa thực xinh đẹp!”

Thuỵ Mai thường ngày không muốn gặp người khác, lại càng không muốn bị làm phiền ở chốn này, nghe thấy Thuần Vu Khôn ăn nói tuỳ tiện, lập tức sắc mặt sa sầm, lạnh nhạt hỏi: “Tiên sinh đến đây có chuyện gì quan trọng?”

Thuần Vu Khôn cười lớn mà nói: “Không, không có! Chỉ để ngắm mai mà thôi!” Rồi chẳng quan tâm đến Thuỵ Mai, cứ thế đi thẳng lên đình, ngồi xuống phần chiếu đối diện với nàng. “Lão hủ ngồi ở đây, công chúa không phản đối chứ?”

Thuỵ Mai đứng phắt dậy, giận dữ nói: “Tiên sinh muốn ngắm thì ngắm một mình đi!” Rồi phất ống tay áo bước thẳng xuống đình, theo đường nhỏ bỏ đi.

Thuần Vu Khôn chậm rãi nói với theo: “Mai công chúa xin dừng bước!”

Nghe thấy Thuẫn Vu Khôn gọi thẳng tên huý của mình, Thuỵ Mai sững người, bất giác dừng bước, quay đầu lại, giọng vẫn lạnh như băng: “Tiên sinh có chuyện gì?”

“Lúc nãy ta đi qua đầu phố, vừa hay gặp một kẻ điên, công chúa có muốn nghe một chuyện thú vị về hắn không?”

Thuỵ Mai trong lòng chấn động, biết rằng Thuần Vu Khôn đến đây là vì Tôn Tẫn, hơn nữa, có thể bước chân vào khu vườn này, chắc chắn đã được thái tử Thân cho phép. Xem ra, thỉnh cầu của nàng đã có cơ may được đáp ứng, thì vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, lập tức quay trở lên đình, giọng điệu cũng ôn hoà hơn, khẽ hỏi: “Xin hỏi tiên sinh, người điên đó có chuyện gì thú vị?”

“Công chúa không thể đứng như thế mà nghe được!” Thuần Vu Khôn mỉm cười, chỉ tay vào vạt chiếu trước mặt. “Mời ngồi!”

Thuỵ Mai nhìn chằm chằm vào Thuần Vu Khôn một lúc, sau đó ngồi xuống, hai mắt vẫn nhìn ông ta không chớp.

“Công chúa!” Thuần Vu Khôn chợt thu lại nét cười, cất giọng nghiêm túc, đi thẳng vào đề. “Chuyện giữa công chúa và Tôn Tẫn, điện hạ đã kể hết cho lão hủ nghe. Nghe điện hạ nói, công chúa muốn đón Tôn tướng quân tới Đông cung phủ để chăm sóc cả đời, có chuyện này chăng?”

Thuỵ Mai mặt đỏ bừng, đầu cúi gằm, khẽ cắn môi, im lặng không nói.

“Lão hủ đến đây cũng là vì việc này. Lão hủ có một lời muốn hỏi công chúa.”

Thuỵ Mai vội nói: “Tiên sinh cứ hỏi!”

“Công chúa chỉ là mến tài Tôn tướng quân, hay là đã có lòng yêu Tôn tướng quân?”

Thuỵ Mai càng cúi mặt thấp hơn, hồi lâu sau mới thốt ra được một chữ: “Yêu!”

“Yêu trái tim tướng quân, hay yêu con người tướng quân?

“Tim!”

“Nếu như là yêu trái tim của tướng quân, công chúa có bằng lòng vì tướng quân mà hy sinh tất cả không?”

Thuỵ Mai không còn thẹn thùng nữa, đường hoàng ngẩng đầu lên, trịnh trọng gật đầu. Thuần Vu Khôn nhận ra trong mắt Thuỵ Mai ứa ra những giọt lệ long lanh.

“Nhìn nước mắt của công chúa, hẳn là thực lòng, lão hủ sẵn sàng giúp đỡ!” Thuần Vu Khôn gật gù, rồi chậm rãi nói.

“Đa tạ tiên sinh thành toàn!” Thuỵ Mai vòng tay đa tạ, rồi nâng tay áo lau nước mắt.

“Lão hủ giúp đỡ, lại có hai cách giúp. Một là làm theo ý nguyện của công chúa, thuyết phục bệ hạ, đón Tôn tướng quân vào cung, hoặc là đón đến nơi này, để công chúa tận tình chăm sóc, hầu hạ suốt đời. Hai là trị khỏi bệnh điên cho Tôn tướng quân, ngoài hai cái đầu gối là lão hủ đành bó tay, còn tất cả những chỗ khác, lão hủ đảm bảo Tôn tướng quân sẽ trở lại bình thường. Hai cách giúp này, công chúa hãy chọn lấy một.”

“Thật ư?” Thuỵ Mai mừng đến phát khóc, hai mắt mở to, ngờ vực nhìn vào cái đầu trọc lóc của Thuần Vu Khôn. “Bệnh của Tôn tướng quân, tiên sinh thực sự chữa khỏi được ư?”

“Có thể chữa khỏi hay không, còn phải do công chúa quyết định!”

“Ta ư?” Thuỵ Mai ngẩn người. “Tiểu nữ có thể làm được gì?”

“Có chứ! Có chứ!” Thuần Vu Khôn vội đáp. “Chỉ cần công chúa đồng ý một chuyện, bệnh điên của Tôn tướng quân sẽ được chữa khỏi hoàn toàn!”

“Nói đi! Chỉ cần có thể chữa khỏi bệnh cho Tôn tướng quân, muốn tiểu nữ làm gì cũng được!”

“Gả chồng! Gả cho công tử nước Tề!”

Thuỵ Mai hai mắt sững sờ, kinh ngạc đến chết lặng. Hồi lâu sau, nàng mới định thần lại được, rồi đanh giọng đáp: “Nói qua nói lại, thì ra tiên sinh đang kiếm cớ cầu thân!”

“Đúng vậy!” Thuần Vu Khôn lắc lư cái đầu bóng lưỡng. “Lần này, lão hủ đến đây, chính là để cầu thân cho công tử Hư của nước Tề!”

Thuỵ Mai lạnh nhạt nói: “Tiểu nữ đời này kiếp này, ngoài Tôn tướng quân ra, tuyệt không gả cho ai khác!” Nói đoạn, lại đứng bật dậy.

Thuần Vu Khôn cười vang mà nói: “Xem ra, không phải công chúa yêu trái tim của Tôn tướng quân, mà là yêu con người của tướng quân mới đúng!”

Thuỵ Mai sững lại một lát, rồi chậm chạp ngồi xuống, hỏi: “Tiên sinh lấy gì để bảo đảm sẽ chữa khỏi bệnh cho Tôn tướng quân?”

“Là thế này!” Thuần Vu Khôn dõng dạc nói. “Lão hủ chu du khắp liệt quốc, thích nghe ngóng những điều mới lạ, chuyện ở Trung Nguyên ngoại vực, không gì không biết. Tại Đông Hải nước Tề có núi tiên, trên núi có cỏ tiên, có thể trị khỏi chứng bệnh điên cuồng. Núi tiên bồng bềnh trên biển lớn, sương mù bao phủ, trôi nổi bất định, người bình thường không thể thấy được. Theo lão hủ được biết, người có thể đến được núi này, chỉ có duy nhất công tử Hư nước Tề. Lão hủ được điện hạ cậy nhờ, nên đã cầu xin công tử Hư đến núi đó hái cỏ tiên. Công tử Hư chỉ đưa ra một điều kiện, đó chính là cưới công chúa làm thê tử.”

Thuỵ Mai đương nhiên đã tin là thực, tròn mắt hỏi: “Tại sao công tử Hư nhất định muốn cưới tiểu nữ?”

“Đợi sau khi xuất giá, công chúa hãy trực tiếp hỏi công tử!” Thuần Vu Khôn nhún vai, làm ra vẻ muốn mà không giúp được, sau đó chống tay xuống đất, đẩy người đứng dậy. “Công chúa hãy nghĩ cho kỹ, muốn cả đời bầu bạn với một kẻ điên, hay là muốn có được cỏ tiên, trị dứt bệnh cho Tôn tướng quân? Lúc nào công chúa quyết định xong, hãy báo cho lão hủ. Lão hủ đã hứa, nhất định sẽ làm được!”

Rồi Thuần Vu Khôn quay người, lắc lư cái đầu bước đi theo con đường đã đến. Đi chưa được mấy bước, phía sau đã nghe có tiếng gọi: “Tiên sinh! Hãy nói với công tử nước Tề, rằng tiểu nữ đồng ý xuất giá!”

Thuần Vu Khôn dừng bước.

“Tuy nhiên,” Thuỵ Mai cất giọng lạnh lẽo, “tiểu nữ cũng có một điều kiện, công tử nhất định phải mang cỏ tiên về trước, chữa khỏi bệnh cho Tôn tướng quân đã!”

“Ha ha!” Thuần Vu Khôn phì cười. “Hai vị đúng là một cặp! Nhưng mà hai vị, một vị thì muốn xuất giá trước, một vị lại muốn trị bệnh trước, thực khiến lão hủ khó xử! Thôi được, lão hủ sẽ chọn cách chiết trung vậy, trước tiên công chúa hãy sang nước Tề, cử hành nghi thức trước, đợi Tôn tướng quân được chữa khỏi hoàn toàn, công chúa đích thân xác nhận, sau đó mới nhập động phòng, ý công chúa thế nào?”

Thuỵ Mai trầm ngâm hồi lâu, rồi ứa lệ mà đáp: “Cứ làm theo lời tiên sinh!”

***

Hay tin Thuỵ Mai đồng ý xuất giá, Ngụy Huệ Vương vui mừng khôn tả, đích thân đến Thái miếu xem quẻ hôn sự cho nàng, rút được quẻ Càn, là quẻ thượng thượng, hào từ là “xiêm vàng đại cát”, ý nói hôn sự này có thể giữ được bản sắc nhu thuận, đại cát đại lợi. Huệ Vương vui sướng đến cười không khép nổi miệng, lập tức định ngày tốt, sai tỳ nhân chuẩn bị của hồi môn.

Từ sau khi Tôn Tẫn hoá điên, phu nhân của Vũ An Quân là Thuỵ Liên công chúa không nhẫn tâm nhìn cảnh Thuỵ Mai đau buồn tuyệt vọng, nên rất ít khi trở về cung. Nghe nói hôn sự này là do Thuỵ Mai tự nguyện chấp thuận, Thuỵ Liên vui mừng khôn xiết, lập tức hồi cung thăm chị, không ngờ Thuỵ Mai vẫn còn ở trong cung của thái tử Thân chưa về. Thuỵ Liên muốn đến Đông cung thăm Thuỵ Mai, nhưng vừa định khởi hành, đột nhiên Bàng Thông lại nhắn nàng về phủ sớm, vì hôm nay Vũ An Quân có thể trở về. Thuỵ Liên ngước mắt nhìn trời, vội giục phu xe đánh xe về phủ.

Quả nhiên, Thuỵ Liên vừa về đến cổng, đã nghe môn nhân thông báo Bàng Quyên đã về đến. Từ sau khi đồng ý nhập tung, Ngụy Huệ Vương lập tức đốc thúc quần thần dốc toàn lực, chuẩn bị giành lại Hà Tây. Bàng Quyên cũng nhanh chóng nhận ra lợi ích của hợp tung, hưng phấn khác thường, dồn hết tâm huyết vào huấn luyện binh mã, hầu như ngày nào cũng ở lì tại đại doanh ở Phùng Trạch, rất ít khi về phủ.

Thuỵ Liên xuống xe, vội vàng rảo bước vào trong, từ xa đã nhìn thấy Bàng Quyên ngồi ngay ngắn trong sảnh, đang nghe Bàng Thông bẩm báo các việc trong phủ. Liếc thấy Thuỵ Liên, Bàng Thông biết ý đứng dậy, cười nói với Bàng Quyên: “Đại ca, trong phủ còn chút chuyện vặt, lát nữa Thông đệ sẽ đến bẩm báo sau!”

Bàng Quyên gật đầu, Bàng Thông liền lui ra, gặp Thuỵ Liên ở cửa, bèn khom lưng chào, xong vội vàng rời đi.

Thuỵ Liên hấp tấp bước lại gần, quỳ xuống trước mặt Bàng Quyên, cất giọng chứa chan tình ý: “Phu quân…”

Bàng Quyên khẽ đưa tay kéo, Thuỵ Liên thuận đà ngã người vào lòng hắn. Hai người đang ôm ấp, bỗng có tiếng bước chân từ ngoài cửa vọng lại. Thuỵ Liên vội vùng ra khỏi tay Bàng Quyên, ngồi trước mặt. Thấy chẳng phải ai khác, chỉ là tỳ nữ hầu trà, hai người đều cười phá lên.

Thuỵ Liên hớn hở ra mặt, không thể đợi thêm được nữa, lập tức khoe ngay: “Phu quân, thiếp có một tin mừng rất rất lớn!”

“Ồ!” Bàng Quyên mỉm cười. “Là tin mừng gì vậy?”

“Mai tỷ sắp xuất giá!”

“Mai công chúa xuất giá?” Bàng Quyên giật mình kinh ngạc. “Gả cho người nào?”

“Một vị công tử nước Tề, nghe người trong cung nói, tính tình giống hệt như Mai tỷ, hai người rất xứng đôi.”

“Người đó tên gì?”

“Nghe nói tên là Điền Hư!”

“Điền Hư?” Bàng Quyên chau mày. “Ta chưa từng nghe nói nước Tề có công tử nào tên gọi Điền Hư. Trong cung còn nói gì nữa?”

“Người trong cung còn nói, phụ vương rất đỗi vui mừng, hai ngày trước đã đến Thái miếu xin quẻ, là quẻ thượng thượng, đã định được ngày tốt rồi, là ngày kia. Mấy hôm nay, trong cung đang bận túi bụi để chuẩn bị của hồi môn cho Mai tỷ.”

“Công chúa bằng lòng ư?”

“Đương nhiên! Nếu Mai tỷ không bằng lòng, ai dám ép chị ấy?”

Bàng Quyên ngẫm nghĩ một hồi, rồi khẽ mỉm cười nói: “Ừ, quả là việc tốt. Mai công chúa gả tới tận nước Tề, chúng ta nên tặng lễ vật lớn mới phải!”

“Phu quân nói rất phải!” Thuỵ Liên hào hứng tiếp lời. “Thiếp cũng đang suy nghĩ về chuyện này, nhưng nghĩ đi nghĩ lại, vẫn không biết nên tặng món quà gì.”

“Mai công chúa không giống người phàm tục, nên tặng quà gì, hãy để ta suy nghĩ thêm!” Bàng Quyên nói đoạn, quả nhiên nhắm mắt lại, chìm vào suy tưởng, dường như đang nghĩ nên tặng quà gì.

Tuy nhiên, Thuỵ Liên công chúa không biết được rằng, lúc này Bàng Quyên không hề nghĩ đến việc chọn quà mừng, mà đang suy ngẫm một chuyện khác. Bàng Quyên khẳng định, Thuỵ Mai không thể đổi ý nhanh chóng đến vậy. Nàng chịu chấp thuận, bên trong chắc chắn còn có điều uẩn khúc.

Suy nghĩ một lúc, Bàng Quyên đột nhiên rùng mình ớn lạnh, buột miệng kêu lên: “Thuần Vu Khôn!”

Lời của Bàng Quyên bật ra vừa thình lình, lại vừa chẳng ăn nhập gì, khiến Thuỵ Liên giật nảy mình, mặt hoa biến sắc, rùng mình một cái, run giọng hỏi: “Phu quân, Thuần Vu Khôn làm sao?”

Lúc này Bàng Quyên mới nhận ra mình thất thố, bèn cười nói: “Không có gì! Phu nhân có biết, người mai mối tác thành hỷ sự này, phải chăng là Thuần Vu Khôn?”

“Chính là người này!” Thuỵ Liên đáp. “Nghe người trong cung nói, ông ta là mai mối phía nhà trai, còn mai mối của Mai tỷ chính là Huệ tướng quốc!”

Bàng Quyên đang định hỏi tiếp, thì Bàng Thông vội vã đi vào, dừng lại trước cửa bẩm báo: “Đại ca, Thuần Vu Khôn cầu kiến!”

Bàng Quyên sững người, liếc nhìn Thuỵ Liên một cái, rồi gãi gãi đầu nói: “Chà chà, nhắc đến ma, ma lập tức xuất hiện!” Rồi cười cười nói với Thuỵ Liên. “Phu nhân, ông mối đến tâng công rồi, ta phải tạ ơn ông ta tử tế mới được, nàng tạm thời hãy lánh mặt một lát!”

Bàng Quyên đứng dậy, cùng Bàng Thông nhanh chóng bước ra khỏi cửa.

Chưa đến một khắc, Bàng Quyên đã mặt mũi niềm nở dắt tay Thuần Vu Khôn, cười cười nói nói đi vào trong sảnh, phân ngôi chủ khách ngồi xuống. Bàng Thông rót trà xong, bèn quay người lui đi.

Bàng Quyên chỉ vào chén trà, cười nói: “Là chén trà nhạt, mời tiền bối nếm thử!”

Thuần Vu Khôn bưng chén trà lên, nhấp một ngụm, gật gù khen ngợi: “Ồ, trà ngon!”

Bàng Quyên cũng nhấp một ngụm, cười hỏi: “Nghe nói tiền bối hiểu nhiều biết rộng, có biết xuất xứ của trà này chăng?”

Thuần Vu Khôn bưng chén trà lên, tỉ mỉ quan sát màu sắc lá trà, sau đó lại khẽ nhấp một ngụm, ngậm trong miệng một lát mới nuốt xuống, rồi ngẩng đầu cười nói: “Hồi bẩm Vũ An Quân, nếu lão hủ đoán không sai, trà này đến từ núi Vân Mộng, là trà thanh minh!”

Bàng Quyên vô cùng kinh ngạc, vội vòng tay nói: “Lão tiền bối đúng là thần thánh!”

Thuần Vu Khôn bật cười, lắc lư cái đầu trọc, cũng ôm quyền đáp. “Chỉ là uống nhiều mà thôi!”

Hai người trà chuyện một lúc về trà đạo, Bàng Quyên quyết định xuất chiêu trước chiếm thượng phong, ôm quyền cười nói: “Lão tiền bối bận trăm công nghìn việc, hôm nay lại ghé thăm hàn xá, hẳn là có điều muốn chỉ giáo vãn sinh!”

“Chỉ giáo thì không dám!” Thuần Vu Khôn cười vang mà nói. “Nghe nói Vũ An Quân tinh thông binh pháp, lão hủ từ lâu đã muốn đến thỉnh giáo. Nhưng thật không may, mặc dù mấy năm trước tới đây vào đúng ngày đại hỷ của Vũ An Quân, lão hủ có đến tận cổng, song lại khó mở miệng. Lần này tìm tới, song Vũ An Quân lại không có trong phủ. Nghe nói hôm nay đại nhân hồi phủ, nên lão hủ đã phái người canh chừng ngoài cổng đợi tin. Ha ha ha ha, chiêu này thực tuyệt, quả nhiên lão hủ đã bắt được tận tay rồi!”

“Thế thì thực quái lạ!” Bàng Quyên cười lớn mà nói. “Theo vãn sinh được biết, lão tiền bối có sở trường là dùng ẩn ngữ, dựa vào miệng lưỡi sắc bén mà chu du liệt quốc, cớ sao bây giờ lại thình lình có hứng với binh pháp?”

Thuần Vu Khôn lại lắc lư cái đầu trọc, cười lớn mà nói: “Thường có câu, chuyện trò không hợp nửa câu cũng nhiều. Lão hủ cầu kiến đại tướng quân, không nói chuyện binh pháp chiến trận, thì sao gợi được cảm hứng?”

“Hay! Hay lắm!” Bàng Quyên cười vang. “Trò chuyện với lão tiền bối thật sảng khoái! Tự cổ chí kim, binh gia vô số, nhiều không đếm xuể, dám hỏi lão tiền bối, muốn hỏi tới binh pháp của nhà nào?”

Thuần Vu Khôn thủng thẳng nói: “Binh pháp bình thường, chẳng có gì đặc biệt. Thiên hạ đồn đại, đại tướng quân tại cửa Túc Tư từng mơ thấy Ngô Khởi, được Ngô Khởi truyền cho tuyệt học dụng binh, có chuyện này chăng?”

Bàng Quyên sững lại một thoáng, rồi lộ một nụ cười ngượng nghịu, ôm quyền nói: “Quả thực có chuyện này. Thế nhưng những gì vãn sinh học được, mới chỉ là chút lông tóc của Ngô Tử, không đáng nhắc đến!”

“Đại tướng quân bất tất phải khiêm nhường!” Thuần Vu Khôn thu lại nụ cười, sửa sang vạt áo, ôm quyền nói. “Nhắc đến Ngô Tử, lão hủ đã từng được gặp gỡ một lần!”

Nghe thấy nói vậy, Bàng Quyên bỗng chốc tinh thần phấn chấn, vội ôm quyền hỏi gấp: “Việc này có thật chăng?”

Thuần Vu Khôn liếc xéo hắn một cái: “Lão hủ đã từng nói bừa bao giờ chưa?” Rồi nheo nheo mắt, dường như đang chìm trong hồi tưởng. “Năm đó lão hủ mới mười tuổi, cùng mẹ đi xin ăn, khi đến nước Ngụy thì gặp đại tướng quân Ngô Khởi khải hoàn. Chà chà, uy thế lúc đó, thực khiến ta sợ đến nỗi vãi đái cả ra quần!”

Thuần Vu Khôn sắc mặt nghiêm túc, nhưng lại nói ra những lời lẽ kiểu này, khiến Bàng Quyên không thể nhịn được, ôm bụng cười lớn, luôn miệng kêu lên: “Hay! Hay! Hay! Người đời đều nói lão tiền bối hài hước hoạt kê, hôm nay vãn sinh đã tin rồi!”

“Đây là sự thực!” Thuần Vu Khôn chỉ tay lên trời thề. “Nếu đại tướng quân không tin, hãy đến nước Tề hỏi em gái ruột của lão hủ, lúc đó nó cũng có mặt, đến nay vẫn lôi chuyện này ra để trêu chọc lão hủ. Trên đời này, nếu như lão hủ đây biết sợ một người, thì chính là nó!”

Thấy Thuần Vu Khôn thề thốt như thật, Bàng Quyên càng cười ngặt nghẽo, vừa cười vừa chỉ vào Thuần Vu Khôn, nói không thành câu: “Lão tiền bối! Đúng là chỉ có lão, đến bịa chuyện cũng bịa tài tình đến vậy, thực khiến vãn sinh…”

“Không! Không! Không!” Thuấn Vu Khôn ngắt lời Bàng Quyên. “Người bịa chuyện không phải là lão hủ, mà chính là đại tướng quân!”

Nụ cười của Bàng Quyên bỗng chốc trở nên cứng nhắc, sững người một lúc mới lắp bắp hỏi: “Lão…lão tiền bối, nói… nói vậy là có ý gì?”

Thuần Vu Khôn nói rành rọt từng chữ: “Nếu lão hủ đoán không sai, chuyện kia ắt là do đại tướng quân cố tình bịa ra. Theo như lão hủ đoán, nếu đại tướng quân có được binh pháp Ngô Tử, chắc chắn là học từ Quỷ Cốc.”

“Tại sao lão tiền bối lại đoán vậy?”

“Ma quỷ báo mộng, chắc hẳn sẽ không đặt một bộ binh thư vào trong lòng đại tướng quân!”

Bàng Quyên vòng tay, thán phục nói: “Lão tiền bối quả nhiên có huệ nhãn, vãn sinh không dám giấu giếm. Quả thực cuốn sách của Ngô Tử là do tiên sinh đích thân truyền thụ khi còn trong Quỷ Cốc. Còn về chuyện báo mộng, đúng là vãn sinh đã lừa gạt ba quân. Lúc đó ba quân chỉ còn lại ba vạn sĩ tốt mệt mỏi, đã bại liền mấy trận, sĩ khí suy sụp, vãn sinh vì bất đắc dĩ nên mới phải thêu dệt nên chuyện này, đã khiến lão tiền bối cười chê!”

“Cười chê?” Thuần Vu Khôn khẽ ôm quyền, thành thực mà nói. “Chỉ một hành động này của đại tướng quân thôi, đã đủ vượt xa Ngô Khởi! Nhìn vào các trận Hoàng Trì, trận Triều Ca, và cả trận Hình Sơn sau này, đại tướng quân quả là trí dũng tuyệt luân, cho dù là Ngô Khởi tái thế, chẳng qua cũng chỉ đến vậy mà thôi!”

Bàng Quyên liên tiếp ôm quyền: “Tiền bối quá khen, vãn sinh hổ thẹn không dám nhận!”

“Nói về binh pháp Ngô Tử,” Thuần Vu Khôn đổi giọng, “lão hủ sực nhớ đến một chuyện, thực vô cùng hối hận!”

“Lão tiền bối hối hận chuyện gì?”

“Năm đó, nghe tin Quỷ Cốc Tử truyền lại thuật dùng binh của Ngô Tử cho tướng quân, đồng thời đem thuật dụng binh của Tôn Tử truyền lại cho Tôn Tẫn, lão hủ cảm thấy rất đỗi hiếu kỳ. Sau đó, được Ngụy Vương triệu kiến, lão hủ lại nhanh mồm nhanh miệng, nên đã vô tình nhắc đến chuyện này. Ai ngờ người nói vô ý, kẻ nghe có tâm, Huệ Vương đã dùng hậu lễ để mời Tôn Tẫn. Kết quả, Tôn Tẫn đến Ngụy chưa được một năm lại bị xử tẫn hình, ứng ngay với cái tên của hắn! Lão hủ biết được chuyện này, cảm thấy thật có lỗi với Tôn Tẫn, cũng có lỗi với Quỷ Cốc Tử. Nghe nói Bàng tướng quân cũng vì chuyện này mà chịu không ít khổ sở, thậm chí còn xả thân cứu mạng, khiến người ta cảm động! Than ôi, tất cả đều trách cái miệng thối này của lão hủ, chỉ vì một câu nói bâng quơ mà gây nên hoạ!”

Bàng Quyên nghĩ thầm: “Lão trọc vòng vèo qua lại, giờ mới vòng đến điểm chính đây”. Rồi khẽ đảo con ngươi, lập tức kéo vạt áo lên chùi nước mắt, nghẹn ngào mà nói: “Chuyện của Tôn huynh là nỗi đau của vãn sinh, xin tiền bối đừng nhắc đến nữa!”

“Than ôi!” Thuần Vu Khôn khẽ than một tiếng, gật đầu nói. “Được thôi, nếu chuyện này khiến tướng quân đau lòng, lão hủ sẽ không nhắc tới nữa. Tuy nhiên, lão hủ bản tính hiếu kỳ, nhắc đến chuyện này, bất chợt nảy ra một giả định, nhân tiện xin hỏi tướng quân!”

“Vãn sinh xin lắng nghe!”

“Tôn Tử hay Ngô Tử, cả hai đều là những bậc đại tài về dùng binh. Bàng tướng quân học được thuật của Ngô Tử, Tôn tướng quân lại luyện thuật của Tôn Tử, lão hủ đang nghĩ, nếu Tôn tướng quân không phải chịu hình, cũng không phát bệnh, Bàng tướng quân và Tôn tướng quân mỗi người thống lĩnh một đội quân, đối địch nhau trên sa trường, không biết người chiến thắng cuối cùng sẽ là ai?”

Bàng Quyên trầm ngâm một lúc, rồi trịnh trọng nói: “Chuyện đã qua, sẽ không có nếu như!”

“Chuyện đã qua đương nhiên là không có nếu như!” Thuần Vu Khôn cười nói. “Nhưng lão hủ không nói chuyện cũ, chỉ là nếu như mà thôi!”

“Theo tiền bối thì ai sẽ thắng?”

“Lão hủ đang hỏi đại tướng quân kia mà!”

“Hồi bẩm tiền bối!” Bàng Quyên vòng tay nói. “Chuyện trên sa trường, chớp mắt vạn biến, vãn sinh không dám nói bừa!”

“Hay! Hay lắm!” Thuần Vu Khôn cười lớn. “Không hổ danh là đại tướng quân, đây cũng có thể coi là câu trả lời. Đại tướng quân vừa hồi phủ, đi đường vất vả, lão hủ không làm phiền nữa!” Rồi đứng dậy vòng tay vái chào.

Bàng Quyên cũng chẳng cố giữ, khách sáo tiễn ra tận cổng, rồi vòng tay từ biệt.

Nhìn theo cỗ xe ngựa của Thuần Vu Khôn xa dần cho đến khi mất hút, Bàng Quyên mới thở phào nhẹ nhõm, rồi chau tít đôi mày, ngẩng đầu lẩm bẩm một mình: “Lão trọc này hễ tìm đến là chẳng có chuyện gì tốt đẹp. Có điều… người này tự nhiên nói những lời kia, rốt cuộc là có dụng ý gì?”

Lại trầm tư một hồi lâu, Bàng Quyên vẫn không thể hiểu nổi, bèn lầm lì quay trở vào trong phủ.

Thuần Vu Khôn trở về dịch quán, gọi Trâu Phi Đao đến căn dặn: “Ngươi có thể hành động được rồi! Cần làm ba việc. Một là đi tìm gã điên kia, bảo hắn giờ Ngọ trưa mai lết ra ngoài miếu, ngươi hãy hẹn lấy một chỗ, đứng sẵn đấy đợi hắn ra, rồi cõng thẳng hắn đến dịch quán. Hai là vứt toàn bộ quần áo của hắn xuống sông Biện Thuỷ, giả như hắn nhảy sông tự vẫn. Ba là sửa lại cỗ xe đón dâu công chúa, làm một khoang ngầm dưới gầm xe, cho gã điên kia nằm vào trong đó, để nghe vợ hắn khóc lóc nỉ non suốt dọc đường đưa dâu đến Tề!”

Trâu Phi Đao vâng lệnh, gọi mấy tên thuộc hạ cẩn trọng đến, chia nhau đi làm việc.

Buổi trưa hôm sau, Phạm Trù mang cơm đến cho Tôn Tẫn. Vừa từ trong miếu đi ra, bỗng có một người chặn hắn lại, ghé sát tai thì thầm gì đó. Phạm Trù bèn vòng đến tiệm đồ da, có người đã đứng đón sẵn, dẫn hắn vào phòng trong.

Công tử Hoa đang ngồi ngay ngắn trên chiếu. Phạm Trù đi vào, khom lưng hỏi nhỏ: “Tần gia gọi tiểu nhân đến, không biết là có việc gì?”

Công tử Hoa chỉ vào chỗ chiếu đối diện: “Phạm huynh, ngồi đi!”

Phạm Trù ngồi xuống, thấp thỏm nhìn công tử Hoa.

“Người Tề sắp ra tay rồi!” Công tử Hoa chậm rãi nói. “Tối qua vào giờ Nhân định, có người vào miếu lén gặp Tôn Tẫn!”

Phạm Trù giật mình, hạ giọng hỏi: “Xin hỏi Tần gia, chúng ta phải làm thế nào?”

“Phải ra tay!”

“Phải ra tay?” Phạm Trù nhắc lại, rồi căng thẳng nhìn công tử Hoa. “Khi nào?”

“Ngay đêm nay!” Công tử Hoa quyết đoán. “Ngày mai công chúa xuất giá, chắc chắn đêm nay người Tề sẽ cõng Tôn Tẫn giấu vào trong xe, ngày mai sẽ theo công chúa đến Tề. Vì vậy, chúng ta phải ra tay trước người Tề!”

Phạm Trù suy nghĩ một thoáng, rồi nghiến răng nói: “Tần gia nói đi, hành động thế nào?”

Công tử Hoa chậm rãi nói: “Tôn tướng quân không chịu đến Tần, chúng ta đành phải mạnh tay vậy!” Nói đoạn, cầm lấy một ống tre trên mặt bàn, đưa cho Phạm Trù. “Đây là thuốc mê, tối nay khi đưa cơm, huynh hãy trộn lẫn vào thức ăn. Đợi sau khi Tôn Tẫn hôn mê, chúng ta sẽ nhanh chóng ra tay, cõng ngay về phủ. Sáng sớm ngày mai, sau khi cổng thành mở, chúng ta sẽ rời khỏi Đại Lương, trở về nước Tần.”

Phạm Trù nhận lấy ống tre, hai mắt nhìn công tử Hoa, vẻ do dự.

“Còn nữa!” Công tử Hoa đã đoán được tâm sự của Phạm Trù, nói tiếp. “Về phần vợ con của Phạm huynh, ngay hôm nay hãy lập tức lên đường. Giờ ta sẽ đi chuẩn bị xe ngựa, còn Phạm huynh hãy mau quay về sắp xếp. Ngoài bình rượu cổ kia, Phạm huynh đừng mang theo bất cứ thứ gì, nếu có hàng xóm hỏi, hãy nói rằng đi thăm người thân. Đợi sau khi đến Tần, thiếu thứ gì sẽ có ta lo liệu. Nếu Phạm huynh không chê, cũng có thể ở lại trong phủ của ta, ta sẽ mời huynh làm đầu bếp chính!”

Phạm Trù vội vàng đứng dậy, liên tiếp dập đầu: “Tiểu nhân đa tạ Tần gia!” Rồi đặt ống tre vào trong hộp cơm, cáo từ lui đi. Nhưng vừa đi được mấy bước, liền quay lại. “Tần gia, tiểu nhân bỗng nhớ ra một chuyện!”

“Phạm huynh cứ nói!”

“Thức ăn có cho mấy đứa ăn mày ăn luôn không?”

“Phải!” Công tử Hoa gật đầu nói. “Vẫn là Phạm huynh suy nghĩ chu đáo! Trộn hết thuốc vào, cho mấy đứa ăn mày kia ngủ liền hai ngày, tránh để ngày mai tỉnh dậy, làm hỏng mất đại sự của ta!”

Phạm Trù vâng lệnh, rồi trở về nhà. Không lâu sau, quả nhiên có một cỗ xe ngựa đánh đến. Phạm Trù bê hũ rượu lên xe, nói dối vợ rằng nhạc phụ lâm bệnh nặng, muốn được gặp mặt con gái lần cuối. Vợ Phạm Trù là người nước Hàn, từ sau khi gả chồng, vẫn chưa một lần trở về thăm nhà, nhận được tin này liền ngỡ là thật, vội vội vàng vàng dẫn theo hai đứa con nhỏ lên xe, khóc lóc rời thành.

Đến lúc hoàng hôn, Phạm Trù nấu một nồi cháo loãng, hoà thuốc vào trong cháo, sau đó nướng hai chiếc bánh mì hành lớn. Để khiến họ ăn nhiều cháo hơn, Phạm Trù cố tình cho nhiều muối vào trong bánh, mùi vị vừa mặn vừa thơm, vô cùng hấp dẫn.

Trời đã sập tối, Phạm Trù chuẩn bị xong cơm nước cho cả nhà Bàng Quyên, sau đó xách giỏ cơm đi thẳng tới đầu phố Nam Nhai. Gần đây, nhờ có Tôn Tẫn nên đám trẻ ăn mày cũng đâm lười nhác, bất kể là trời mưa hay trời tạnh, cũng không chịu ra ngoài xin ăn, cứ đến giờ cơm là lại ngồi ngóng Phạm Trù mang đồ ăn đến.

Tối nay cũng vậy. Từ xa nhìn thấy cái bóng Phạm Trù lắc lư đi đến trong bóng đêm lờ mờ, mấy đứa ăn mày đã la toáng lên, cùng chạy ùa ra đón, tranh nhau chiếc làn trong tay ông ta. Phạm Trù giữ chặt chiếc làn, nhét vào tay mỗi đứa một miếng bánh nướng, sau đó đi thẳng vào trong miếu, đặt làn xuống trước mặt Tôn Tẫn, lấy ra một miếng bánh thơm nức, hai tay đưa lên, cười nói: “Tôn tướng quân, hãy xem tiểu nhân làm món ngon gì này!”

Tôn Tẫn không nhận bánh, cũng chẳng buồn ngẩng đầu, chỉ thở dài một tiếng buồn bã: “Ôi… Có món ăn ngon, hãy để lũ trẻ ăn hết đi!”

Phạm Trù sững người: “Tôn tướng quân?”

Nghe thấy tiếng gọi, Tôn Tẫn khẽ ngẩng đầu lên nhìn Phạm Trù.

Phạm Trù thấy mắt Tôn Tẫn ứa lệ, vô cùng kinh ngạc: “Tôn tướng quân, tướng quân có chuyện gì vậy?”

Tôn Tẫn lắc đầu nói: “Phạm huynh! Suốt mấy năm nay, tại hạ có thể sống được đến giờ, đều là nhờ ơn của Phạm huynh. Tại hạ… tại hạ…” Giọng bỗng nghẹn ngào, đưa tay áo lên lau nước mắt.

Vì đã được công tử Hoa nói trước, nên Phạm Trù biết Tôn Tẫn sắp đến nước Tề, đang muốn từ biệt mình, thì lập tức quỳ xuống, bật khóc mà nói: “Tướng quân, xin tướng quân đừng nói nữa! Tiểu nhân đời này có thể được hầu hạ tướng quân, đã là phúc phận do tổ tiên tu được!” Rồi đưa tay áo lau nước mắt, múc một bát cháo loãng, hai tay dâng lên. “Tướng quân, đây là chút cháo do đích thân tiểu nhân nấu cho tướng quân, mời tướng quân nếm thử!”

Tôn Tẫn nhận lấy bát cháo, bưng ở trên tay, nhìn đăm đăm, nước mắt rơi lã chã vào trong bát, ngẩn ngơ một hồi, rồi lại lắc đầu, đặt bát xuống, thở dài một tiếng: “Phạm huynh, tại hạ quả thực không thể nuốt trôi. Huynh hãy đứng lên, để tại hạ nhìn huynh thật kỹ!”

Phạm Trù thấy vậy, vô cùng lo lắng, nhưng cũng không dám nài ép, đành phải ngồi xuống, đưa mắt nhìn Tôn Tẫn. Bên cạnh là một ngọn đèn dầu, vì trên bấc có hoa đèn nên không được sáng lắm. Tôn Tẫn sờ thấy một que tăm tre nhỏ, bèn cầm lấy khêu bỏ hoa đèn, nhấc đĩa đèn lên, rồi khẽ nói: “Lại đây, đến gần một chút, để tại hạ được nhìn Phạm huynh rõ hơn nữa!”

Phạm Trù dịch người về phía trước. Tôn Tẫn cũng đưa ngọn đèn đến sát người Phạm Trù, chăm chú ngắm nhìn. Phạm Trù cảm động, hai hàng lệ từ từ ứa ra. Đúng vào lúc này, mấy đứa ăn mày chạy ùa cả vào. Vì vừa ăn bánh mặn, mồm miệng khô khát, nên mỗi đứa đều vớ lấy một cái bát mẻ, tranh nhau múc cháo.

Có lẽ là cháo nấu quá ngon, nên bọn trẻ xì xụp mấy miếng đã hết cả bát, lại múc bát nữa. Phạm Trù phát hoảng, vội đứng bật dậy giữ lấy nồi cháo, rồi lấy ra mấy miếng bánh lớn, giục: “Đi, đi mau, mỗi đứa một miếng bánh, ăn xong lại chia cháo tiếp!”

Bọn trẻ cầm bánh, cắn được vài miếng, lại đòi ăn cháo. Phạm Trù lại cuống quýt ngăn cản, thì Tôn Tẫn nói: “Phạm Trù huynh, chúng muốn ăn, vậy cứ để chúng ăn đi!”

Mấy đứa trẻ nhận được mệnh lệnh, không đợi Phạm Trù lên tiếng, lập tức giành lấy nồi cháo, trút thẳng vào bát. Cả nồi cháo loáng cái đã hết sạch sành sanh, đứa nhỏ nhất không đến lượt, liền khóc toáng lên.

Tôn Tẫn nói: “Này con, lại đây, vẫn còn một bát!”

Đứa bé không chút đắn đo, lập tức chạy xộc đến bưng lấy bát cháo. Phạm Trù vội vã đẩy nó ra, giữ lấy bát cháo mà nói: “Đi, đi mau! Các cháu ăn hết thì Tôn tướng quân ăn gì?” Rồi trừng mắt trách mắng mấy đứa lớn. “Nhìn mấy đứa có ra thể thống gì không, múc cho em nó một ít!”

Mấy đứa lớn đành phải chạy lại, chia cho đứa nhỏ một ít cháo.

Phạm Trù hai tay bưng bát cháo, quỳ xuống nói: “Tôn tướng quân, mau ăn đi, không cháo nguội mất!”

Tôn Tẫn nhận lấy bát cháo, song lại đặt xuống chiếu, lắc đầu nói: “Phạm huynh đừng khuyên nữa, tại hạ không đói, nuốt không trôi.”

Phạm Trù ruột gan như lửa đốt, khấu đầu nói: “Tôn tướng quân, Phạm Trù cầu xin tướng quân hãy ăn đi. Nếu tướng quân không ăn, thì Phạm Trù… Phạm Trù…”

Thấy Phạm Trù có vẻ khác thường, Tôn Tẫn ngạc nhiên: “Phạm huynh… có chuyện gì ư?”

“Tiểu nhân…” Phạm Trù đưa tay áo lau nước mắt, vừa nói vừa khóc. “Tiểu nhân không sao cả, tiểu nhân chỉ cầu xin tướng quân hãy ăn cháo. Đây là cháo do chính tay tiểu nhân nấu riêng cho tướng quân, tướng quân không ăn, tiểu nhân… tiểu nhân thấy rất buồn!”

Tôn Tẫn gật đầu, khẽ thở dài một tiếng: “Được rồi, tại hạ sẽ ăn! Huynh mau đứng lên, đợi lát nữa tại hạ sẽ ăn!” Phạm Trù không chịu, vẫn bưng chát cháo trên tay, khẩn cầu Tôn Tẫn ăn ngay.

Tôn Tẫn không còn cách nào khác, đành phải nhận lấy bát cháo, mặt khác cũng thấy hơi đói, nên bưng bát cháo lên miệng, xì xụp mấy tiếng đã húp hết. Phạm Trù đưa tay áo lau mồ hôi rịn đầy trên trán, thở phào nhẹ nhõm.

Tôn Tẫn ăn xong, liền đặt bát cháo xuống, vòng tay đa tạ Phạm Trù. Đột nhiên thấy một đứa trẻ đánh rơi chiếc bát trên tay, ngã vật xuống đất. Tôn Tẫn vô cùng kinh hãi, chưa kịp hiểu chuyện gì xảy ra, thì một đứa nữa lại gục xuống. Tôn Tẫn thất kinh, vội gọi Phạm Trù: “Phạm huynh, mau, lũ trẻ làm sao thế này?”

Phạm Trù quay đầu nhìn, cũng đực người ra. Cả đám ăn mày đã nằm ngổn ngang dưới đất, đến cháo dính trong bát cũng đã bị chúng liếm sạch trơn. Có lẽ do thuốc quá mạnh, lũ trẻ lại còn ít tuổi, không chịu đựng được, nên mới trúng thuốc nhanh đến vậy.

Tôn Tẫn nghi hoặc nhìn Phạm Trù: “Lẽ nào trong cháo có độc?”

Phạm Trù đâu dám lên tiếng, toàn thân run bần bật, lắp ba lắp bắp: “Tướng… tướng quân, tiểu… tiểu nhân…”

Lúc này cứu người quan trọng, Tôn Tẫn không còn thời gian cật vấn đầu đuôi, vội vàng giục giã: “Mau, đi mời thầy thuốc!”

Phạm Trù cũng đã kịp định thần, vội vàng đứng dậy, lao ra khỏi cửa rồi chạy thẳng đi mất. Tôn Tẫn vội vàng lết đến trước mặt bọn trẻ, bắt mạch cho chúng, kiểm tra hơi thở, thấy tất cả đều bình thường. Xem xét kỹ, cũng không thấy có dấu hiệu trúng độc, nhất thời thở phào nhẹ nhõm. Ngẫm nghĩ kỹ lưỡng một lát, đoán là trong cháo có thuốc mê, thì giật mình kinh sợ. Lại hồi tưởng lại những biểu hiện bất thường của Phạm Trù trong hôm nay, đột nhiên bừng tỉnh, lắc đầu thở dài một tiếng, rồi nhắm mắt nghĩ cách đối phó.

Tôn Tẫn đang suy nghĩ, đột nhiên có một bóng đen từ nóc nhà nhảy vụt xuống sân, nhanh như chớp tiến vào trong cửa.

Tôn Tẫn hốt hoảng, chưa kịp lên tiếng thì bóng đen đã lù lù trước mặt, hạ giọng bẩm báo: “Tôn tướng quân, là tại hạ! Tại hạ đề phòng có chuyện bất trắc nên đã mai phục trên mái nhà từ trước, lúc nãy nghe giọng nói có vẻ bất ổn, thấy không yên tâm nên mới đến xem thế nào!”

Tôn Tẫn thấy là Trâu Phi Đao, liền thở phào, vội giục: “Đến thật đúng lúc! Mau, người Tần sắp đến rồi!”

Trâu Phi Đao liếc mắt nhìn lũ trẻ nằm ngổn ngang, rồi vội khom lưng xuống, cõng Tôn Tẫn lên lưng, vừa định chạy ra ngoài, bỗng nghe ngoài cổng miếu có tiếng bước chân dồn dập. Ngay sau đó, bảy tám người đạp cổng xông vào, lao thẳng tới chính điện.

Trâu Phi Đao muốn tránh mà không kịp, đành phải đặt Tôn Tẫn xuống, lao người nấp vào phía sau bức tượng.

Đám người xông vào cửa điện, người dẫn đầu chính là công tử Hoa.

Tôn Tẫn ngồi ngay ngắn trên đất, thần thái rất đỗi ung dung.

Công tử Hoa vòng tay vái Tôn Tẫn một vái thật sâu: “Tôn tướng quân, tình thế cấp bách, tại hạ chẳng còn cách nào khác, đành phải đắc tội!”

Tôn Tẫn khẽ thở dài, nhắm mắt lại. Đúng vào lúc này, thuốc mê phát tác, Tôn Tẫn hoa mắt chóng mặt, cơ thể chao đảo vài cái, rồi ngã gục xuống đất. Công tử Hoa vẫy tay, một người liền quỳ xuống, một người khấc xốc Tôn Tẫn dậy, đặt lên lưng người kia. Cả đám người bảo vệ phía sau, cùng lao ra khỏi điện.

Phía ngoài đã có một cỗ xe chờ sẵn, Phạm Trù và mấy người nữa đang đợi bên xe. Công tử Hoa bảo bọn họ nhẹ nhàng đặt Tôn Tẫn lên xe, rồi Phạm Trù nhảy lên, ôm lấy Tôn Tẫn. Cỗ xe lao nhanh về phía cửa hàng đồ da.

Chưa đầy một khắc, đám người đã trở về đến cửa hàng. Công tử Hoa lại phái người đi do thám, thấy trong miếu chẳng còn ai khác, đám ăn mày vẫn nằm ngổn ngang ngủ say như chết, tất cả đều không có gì khác thường, nên mới yên tâm, bảo mọi người trở về phòng nghỉ ngơi lấy sức, sáng mai lên đường sớm.

Gà vừa gáy sáng, công tử Hoa và toàn bộ đám thuộc hạ lập tức xuất phát, người đánh xe, kẻ phóng ngựa, ra khỏi cửa hàng, lập tức tiến thẳng ra phía cổng tây. Thành môn uý kiểm tra kỹ lưỡng, thấy là đám lái buôn đồ da, lập tức cho qua.

Sáng sớm hôm nay, toàn thành Đại Lương rộn rã tưng bừng, tiễn Mai công chúa xuất giá. Quả như lời nói của Thuần Vu Khôn, Mai công chúa gạt lệ lên xe, ngồi trong xe hoa mà nức nở sụt sùi, giọt dài giọt ngắn mãi không thôi. Những người đến tiễn như vợ chồng Bàng Quyên, thái tử Thân, Chu Uy, Bạch Hổ thấy vậy, không ai không xúc động.

Trong tiếng trống tiếng nhạc rộn ràng, đoàn xe rước dâu của người Tề rằm rộ xuất thành. Đi đầu là đội nhạc, đội cờ và đoàn xe chở của hồi môn, ở giữa là cỗ xe hoa cỡ lớn mà người Tề dùng để rước Mai công chúa, phía sau là năm mươi cỗ xe lễ vật chở đầy nấm khô, trà xuân, thanh thế tưng bừng, kéo dài dằng dặc đến mấy dặm.

Thời gian bữa sáng đã qua từ lâu, nhưng trong phủ Vũ An Quân vẫn chẳng có ai chủ trì bếp núc. Thuỵ Liên đợi mãi không thấy bữa sáng dâng lên, liền phái thị nữ đi hỏi. Thị nữ không tìm thấy Phạm Trù, liền báo lại với Bàng Thông. Bàng Thông lo cuống lên, lập tức phái người đến nhà Phạm Trù tìm, chỉ thấy cổng cửa khoá chặt, lại đi dò hỏi, mới biết vợ con hắn đã xuất thành về nước Hàn từ hôm qua.

Bàng Thông nhận được tin báo thì cả kinh, lại nhớ ra tối qua Phạm Trù vẫn còn trong phủ, hơn nữa, cả nhà đến nước Hàn là việc lớn nhường nào, mà thậm chí không buồn đến chào lấy một tiếng, nghĩ rằng bên trong nhất định có uẩn khúc. Suy đi nghĩ lại, bỗng Bàng Thông sực nhớ tới Tôn Tẫn, vội vàng chạy đến ngôi miếu hoang đầu phố Nam Nhai, chỉ thấy đám ăn mày nằm ngổn ngang, không thấy Tôn Tẫn đâu nữa.

Bàng Thông gấp rút bẩm báo cho Bàng Quyên. Bàng Quyên hay tin, mặt mày biến sắc, lập tức chạy đến ngôi miếu, kiểm tra thì biết lũ trẻ bị trúng thuốc mê, liền cho gọi thầy lang đến đổ thuốc giải, hỏi ra thì quả nhiên do Phạm Trù làm.

Thoạt tiên, Bàng Quyên đầu óc rối tinh rối mù, đờ đẫn hồi lâu, mới dần dần trấn tĩnh lại được. Suy nghĩ kỹ lưỡng, một manh mối đã dần dần sáng tỏ trong trí não. Tôn Tẫn vốn muốn đến nước Tề - Tô Tần quỳ lạy Tôn Tẫn trên phố - Tô Tần hợp tung Tề thành công - Thuần Vu Khôn tặng muối, cầu thân - Mai công chúa bằng lòng xuất giá - Phạm Trù đánh thuốc mê - công chúa xuất giá - Tôn Tẫn mất tích…

Nghĩ đến đây, Bàng Quyên kinh hãi đến toàn thân vã mồ hôi lạnh, đang suy nghĩ tìm cách đối phó, thì Bàng Thông hớt hải chạy lại, bẩm báo với hắn một manh mối khác. Mấy năm nay, Phạm Trù và ông chủ cửa hàng đồ da họ Tần qua lại vô cùng mật thiết, mà sáng sớm nay, cửa hàng lại đột nhiên đóng cửa, toàn bộ người trong cửa hàng đều không biết đã đi đâu. Bàng Thông tra hỏi người xung quanh, tất cả đều nói ông chủ và toàn bộ người làm đều là người Quan Trung.

Người Quan Trung? Bàng Quyên trong lòng chấn động. Thuần Vu Khôn và Phạm Trù vốn không quen biết, điều này tạm chưa nói đến, hơn nữa, nếu người Tề muốn trộm Tôn Tẫn, chắc chắn sẽ không cần dùng tới thuốc mê. Thế nhưng Tôn Tẫn lại bị người ta cướp đi sau khi đã trúng thuốc mê. Chắc hẳn Tôn Tẫn không muốn đến Tần, người Tần khuyên không được, nên mới mạnh tay cưỡng bức, vừa cướp Tôn Tẫn đi, vừa giá hoạ cho người Tề. Hơn nữa, nhìn vẻ bi thương của Thuỵ Mai khi xuất giá, chắc chắn cũng không biết được sự tình. Thuỵ Mai không biết sự tình mà lại xuất giá, hẳn đã dằn lòng đoạn tuyệt tơ tình với Tôn Tẫn.

Đúng, chính là người Tần! Bàng Quyên nghiến răng ken két, đang định lên tiếng, lại có nô bộc chạy lao về bẩm báo, nói là phát hiện quần áo, giày mũ của Tôn Tẫn bên bờ Biện Thuỷ.

Bàng Quyên tức tốc dẫn nô bộc đến kiểm tra, Bàng Thông đang định phái người vớt lên thì Bàng Quyên ngăn lại: “Không cần!” Rồi nhếch mép cười nhạt, gằn từng chữ. “Truyền lệnh, toàn lực truy bắt họ Tần, Phạm Trù và tất cả đám người làm trong cửa hàng đồ da!”

Bàng Quyên vừa hạ lệnh, vô số người ngựa lập tức phi nước đại, rầm rập đuổi về phía tây.

Đại Lương cách đất Hàn chưa đến hai trăm dặm. Bàng Quyên đích thân dẫn quân truy đuổi, đến chiều thì đuổi đến biên ải, được biết đoàn xe của công tử Hoa mới qua ải chưa đầy nửa canh giờ, đoán là đã vào địa phận nước Hàn.

Bàng Quyên nghiến răng trèo trẹo, tiếp tục dẫn quân đuổi theo. Đuổi được một lúc, quả nhiên nhìn thấy phía trước có một đoàn người ngựa, đã tiến vào địa phận nước Hàn.

Bàng Quyên chẳng thèm quan tâm đến chuyện đã ở nước Hàn, lập tức xua người đuổi gấp. Đoàn người kia có vẻ cuống quýt, vừa ra roi tăng tốc, vừa quăng từng bó da trên xe xuống đường để giảm tải cho xe. Thấy đám người nhất quyết không chịu rời cỗ xe lớn, Bàng Quyên càng thêm khẳng định, thúc ngựa đuổi hết tốc lực.

Có lẽ do quá hoảng hốt nên không kịp nhìn đường, đến khúc đường quanh, cỗ xe lớn trật khỏi đường chính, sau một hồi chao đảo kịch liệt, đã sa xuống rãnh đất ven đường, bánh xe kẹt cứng, ngựa kéo hí vang trời. Đám người xa xa nhìn thấy Bàng Quyên đích thân truy đuổi, lại thấy người Ngụy quá đông, nên không dám chần chừ, phu xe lập tức cắt đứt dây buộc ngựa kéo, tung người nhảy lên lưng ngựa, cả đám cùng phóng đi thục mạng.

Bàng Quyên đuổi kịp cỗ xe lớn, vì đang ở địa phận nước Hàn, nên cũng hô mọi người không đuổi tiếp nữa.

Đám binh lính dỡ toàn bộ số hàng da còn lại trên xe xuống, Bàng Quyên kiểm tra kỹ lưỡng, quả nhiên thấy sàn xe có hai lớp, thì thở phào nhẹ nhõm. Thấy bên cạnh có một cánh cửa ngầm, liền bảo Bàng Thông mở ra.

Bàng Thông mở cánh cửa ngầm, thò đầu vào nhìn, sau đó lôi ra một vật, vừa nhìn mặt đã biến sắc, vì đó không phải Tôn Tẫn, mà chỉ là một bao vải gai đựng đồ da. Bàng Thông lại thò cổ xuống nhìn, thấy bên trong trống rỗng không còn vật gì cả.

Bàng Thông hốt hoảng, quay sang nói với Bàng Quyên: “Đại ca, Tôn tướng quân không ở trong xe!”

Bàng Quyên kiểm tra kỹ bao vải gai, rồi lại thò đầu vào tầng đáy săm soi một hồi, ảo não kêu lên: “Chúng ta trúng kế rồi!”

Bàng Thông vội hỏi: “Đại ca, trúng kế gì?”

“Kế ve sầu thoát xác của người Tần!”

“Ve sầu thoát xác?”

“Người Tần cố ý bày ra cỗ xe này! Tôn huynh chắc chắn đã bị họ mang đi từ trước!”

Bàng Thông gật đầu, rồi an ủi: “Đại ca, Tôn tướng quân bệnh tật đến nỗi này, cho dù người Tần có cướp đi, cũng chỉ là vô dụng! Hơn nữa, Tôn tướng quân và đại ca tình như thủ túc, cho dù khỏi bệnh, cũng chưa chắc đã chịu phò tá người Tần, đối địch với đại ca!”

“Hỡi ôi!” Bàng Quyên cười nhăn nhó, lắc đầu thở dài. “Thông đệ có điều không biết, là đại ca đang lo cho sự an nguy của Tôn huynh. Bệ hạ nhập tung cũng là nhằm phạt Tần. Nay Tôn huynh bị cướp đến Tần, việc gì cũng có thể xảy ra. Thông đệ thử nghĩ mà xem, nếu người Tần không thể chữa khỏi bệnh cho Tôn huynh, chắc chắn sẽ không đối đãi với Tôn huynh giống như đại ca, Tôn huynh hẳn sẽ phải lang thang đầu phố, chết đói chết rét. Nếu người Tần chữa khỏi bệnh cho Tôn huynh, Tôn huynh sẽ phải đối mặt với hai lựa chọn, một là phò tá người Tần, trở thành kẻ địch với đại ca trên sa trường; hai là như lời Thông đệ đã nói, nếu Tôn huynh không chịu phò tá người Tần, người Tần chắc chắn sẽ không tha cho Tôn huynh, Tôn huynh khó lòng bảo toàn mạng sống!”

Bàng Thông chưa từng nghĩ đến điều này, nhất thời chết lặng. Một lúc sau, hắn mới định thần lại được, khẽ hỏi: “Theo ý đại ca, nên làm thế nào?”

“Lập tức điều người tin cẩn đến Hàm Dương, thăm dò tin tức của Tôn huynh. Đợi đến khi xác minh được Tôn huynh đích xác ở Tần, đại ca sẽ có cách!”

Bàng Thông vâng một tiếng, lập tức quay người rời đi.

Đoàn xe rước dâu của Thuần Vu Khôn đi vùn vụt như bay, chưa tới hai ngày đã đến được Mã Lăng, nghênh ngang ra khỏi biên ải nước Ngụy, tiến vào địa phận nước Vệ. Lại đi thêm nửa ngày nữa thì đến biên giới nước Tề, sang chiều thì đến địa giới Chân Thành. Đang đi, Thuần Vu Khôn chợt nhìn thấy có một đội giáp sĩ rắm rập tiến tới trước mặt. Đến khi lại gần, thì ra là chủ tướng nước Tề Điền Kỵ đích thân dẫn năm ngàn quân ra nghênh đón xe hoa.

Càng khiến Thuần Vu Khôn kinh ngạc hơn nữa, đó là đi cùng xe với Điền Kỵ còn có sứ thần hợp tung Tô Tần và thượng đại phu Điền Anh. Ba người cùng chào hỏi Thuần Vu Khôn, rồi Điền Kỵ truyền lệnh tiến về Chân Thành.

Khi đến Chân Thành, trời đã chập tối. Điền Kỵ truyền lệnh toàn thành giới nghiêm, sau đó cùng đám Tô Tần dẫn cỗ xe hoa vào thẳng trong một trạch viện, dừng lại trước cổng. Thuần Vu Khôn đưa mắt nhìn, thấy tòa trạch viện mới được tu sửa tinh tươm, lại thấy trong viện hỷ khí tưng bừng, thì vô cùng kinh ngạc, hạ giọng hỏi nhỏ: “Tô Tử, đây là đâu?”

Tô Tần ghé sát tai Thuần Vu Khôn thì thầm một chặp. Thuần Vu Khôn thoạt tiên kinh ngạc, sau đó cười phá lên một tràng dài, liên miệng nói: “Hay! Hay! Hay lắm! Xem lão hủ đây!”

Lời vừa dứt, Thuần Vu Khôn đã quay người, thung dung bước tới trước xe công chúa, vòng tay vái một vái thật sâu, rồi cười lớn mà nói: “Đã đến nước Tề, mời công chúa xuống xe!”

Thuỵ Mai công chúa vén rèm, được tỳ nữ dìu xuống xe.

Thấy xung quanh đứng lố nhố mấy người xa lạ, lại thấy nơi này là một trạch viện nhà nông tràn trề hỷ khí, Thuỵ Mai công chúa vô cùng kinh ngạc, hỏi Thuần Vu Khôn: “Xin hỏi tiên sinh, đây là đâu?”

Thuần Vu Khôn cười nói: “Đây chính là tân phòng của công chúa!”

Mai công chúa kinh hãi hỏi lại: “Chẳng phải vẫn chưa đến Lâm Truy ư?”

“Đúng thế!” Thuần Vu Khôn lắc lư cái đầu trọc. “Công tử Hư vừa mới đổi ý, quyết định hợp hôn với công chúa ở nơi này trước!”

Mai công chúa mặt hoa thất sắc, hai tay bưng lấy mặt, bật khóc mà nói không thành tiếng: “Ngươi… các ngươi…”

Thuần Vu Khôn cười lớn, an ủi: “Công chúa, hôm nay là ngày đại hỷ, cứ khóc lóc như thế thật không tốt lành, chẳng may để tổn thương đến ngọc thể, sẽ làm mất hứng động phòng hoa chúc!” Rồi quay sang Trâu Phi Đao. “Xin mời tân lang!”

Trâu Phi Đao đi thẳng lên xe hoa của công chúa, mở một cửa ngầm từ bên hông xe, chui vào khoang đáy rộng rãi, sau đó vừa bế vừa lôi ra một người. Tô Tần vội bước tới, hợp sức đỡ Tôn Tẫn xuống.

Mai công chúa đột nhiên nhìn thấy một Tôn Tẫn sạch sẽ thơm tho, ăn mặc tinh tươm, nhất thời chết lặng tại chỗ.

Tôn Tẫn cũng đứng ngây người. Do Phạm Trù bỏ quá nhiều thuốc mê, mãi tới hai canh giờ trước đó Tôn Tẫn mới tỉnh lại. Thấy mình nằm trong khoang hầm xe, phía dưới lót một lớp đệm mềm, lại cảm giác xe ngựa đang di chuyển, thì thất kinh, nằm yên nhớ lại, mới đoán rằng mình đã bị người Tần cướp đi. Nghĩ tới số phận của mình thảm thương đến vậy, Tôn Tẫn bất giác thở dài, chỉ còn biết gượng ngồi dậy, nhắm mắt lại suy nghĩ. Không ngờ đến lúc cánh cửa bật mở, người tiến vào kéo mình ra lại là Trâu Phi Đao. Hơn nữa, cảnh tượng đầu tiên đập vào trước mắt, lại là Tô Tần, Thuần Vu Khôn và Thuỵ Mai công chúa, Tôn Tẫn cứ ngỡ mình nằm mơ.

Mai công chúa là người đầu tiên định thần lại, bàng hoàng kêu lên một tiếng thất thanh: “Tôn tướng quân…”

Tôn Tẫn cũng ứa nước mắt: “Công chúa!”

Nhìn vẻ ngỡ ngàng mừng tủi của hai người, Thuần Vu Khôn cười lớn: “Công chúa, đây chính là phu quân của công chúa, công tử Hư!” Rồi quay sang mọi người, cao giọng ngân nga. “Tấu nhạc, đón tân nương vào động phòng!”

Thì ra, sau khi người Tần cướp Tôn Tẫn mang đi, Trâu Phi Đao luôn bám sát theo sau. Thấy họ đặt Tôn Tẫn vào trong khoang đáy của xe ngựa, lập tức nảy ra một ý, đợi đến canh tư, bèn dẫn người lén đột nhập. Có lẽ vì đã ở trong nhà mình nên công tử Hoa rất yên tâm, không mấy đề phòng, Trâu Phi Đao chẳng tốn bao nhiêu công sức đã cướp được Tôn Tẫn đi.

Tô Tần đã sớm nhận được mật thư của Trâu Phi Đao, nên mới đến đây nghênh đón. Chân Thành là đất tổ của Tôn Tẫn, nhà cũ và từ đường họ Tôn đã trải qua gần hai trăm năm mưa nắng, mặc dù cũng bị hư hại sạt lở, nhưng nền móng vẫn còn nguyên vẹn, đã được Tô Tần cho người tu sửa lại như mới, ngay cả động phòng cũng đã được trang trí đâu vào đấy.

Trước sự bảo vệ nghiêm ngặt của năm nghìn quân lính nước Tề đến tiếp ứng, vợ chồng Tôn Tẫn, Thuỵ Mai công chúa đến tế bái tại từ đường, cử hành hôn lễ, ở lại tân phòng ba ngày. Đến sáng sớm ngày thứ tư, bắt đầu khởi hành đến Lâm Truy.

Sau khi đến Lâm Truy, vì thận trọng, nên Tô Tần, Điền Anh tạm thời bí mật an trí vợ chồng Tôn Tẫn lánh trong phủ tướng quân Điền Kỵ, xây dựng một toà biệt viện trong hậu hoa viên cho họ ở tạm. Thuần Vu Khôn vào cung, bẩm báo tỉ mỉ cho Uy Vương về quá trình đi sứ nước Ngụy và số lễ vật mà Ngụy Huệ Vương tặng lại, đồng thời bẩm rằng, thuận theo lời đề nghị của Ngụy Vương, đã tác thành cho hôn sự của công chúa Ngụy thất.

Thuần Vu Khôn chỉ lướt qua vài lời, không hễ nhắc đến Tôn Tẫn. Tề Uy Vương nghe mà phấn khởi, nên việc này cũng tạm thời lấp liếm được.

Cứu được Tôn Tẫn thành công, Tô Tần đã trút bỏ được một mối tâm sự trong lòng, bắt đầu từ tháng năm, đã dốc toàn tâm lực để sang nước Sở du thuyết hợp tung. Sứ đoàn hợp tung từ chỗ chưa đầy một vạn người trước khi sang Tề, lúc này đã tăng lên đến một vạn ba nghìn người, cả đội ngũ thanh thế ngất trời, cờ xí bay rợp, ồn ào tiếng người hô ngựa hí, tiến thẳng về phía nam, vượt qua Tứ Thuỷ, Hoài Thuỷ, thẳng đến Sính Đô nước Sở.

Từ xa nhìn lại, hào khí này có thể sánh ngang với thiên tử đi tuần thời trước.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử