Sông Tế Thuỷ chảy về phía đông, khi đến Đường Ấp cách Hoàng Trì chừng ba mươi dặm về phía tây nam, liền chuyển sang hướng bắc lệch đông. Đến đoạn cách Hoàng Trì chừng mười dặm, lại ngoặt sang phía đông, chảy theo hướng chính đông đến Chử Táo, từ đây lòng sông bắt đầu phình ra, rộng tới mấy dặm. Nước nông, chảy chậm, nếu không gặp trời mưa bão, nước chỉ sâu không quá thắt lưng. Cho dù là giữa lòng sông, chỗ sâu nhất cũng chỉ ngập qua đỉnh đầu.
Dòng sông kiểu này rất thích hợp cho việc vượt sông, tướng Điền Kỵ cũng nhận ra điểm đó. Quân Tề dựng lều hạ trại dọc theo bãi đất ở hai bên bờ đê, lại cho đào một hàng bếp trên mặt đê. Hễ đến thời gian thổi cơm, khói bếp bốc lên nghi ngút kéo dài hàng chục dặm, cảnh tượng vô cùng hùng tráng.
Quân Tề đánh đâu thắng đấy, mắt thấy đã sắp sửa áp sát Đại Lương, Tề Uy Vương vô cùng phấn chấn, nên đã phái thái tử Tích Cương đến uý lạo ba quân. Tích Cương mang theo quân nhu đến Tế Thuỷ, Điền Kỵ hay tin, liền ra ngoài đón vào trong trướng. Hai người ngồi trong trướng nói chuyện chừng nửa canh giờ, Tích Cương bèn sốt sắng đi thị sát trại quân, quan sát Tế Thuỷ.
Nắng chiếu chang chang, giáp trụ lấp loáng. Nhìn thấy điện hạ đến, ba quân tướng sĩ đều dựng thương chống giáo, uy phong lẫm liệt, đứng nghiêm trang dưới ánh nắng mặt trời, trông muôn phần uy vũ. Tích Cương thân mặc võ phục, đi song song bên đại tướng quân Điền Kỵ. Hai người đi dọc bờ sông thị sát một lượt, rồi chậm rãi bước lên đài quan sát được dựng trên mặt đê.
Bước lên đỉnh đài, phóng mắt bao quát, thấy trên đê dưới đê đều là doanh trại quân Tề, dày đặc như nêm, sắp xếp trật tự. Lại nhìn về phía dòng sông cách đó không xa, bãi cát nhấp nhô, cỏ nước um tùm, thi thoảng lại thấy cò trắng lên xuống bên mép nước. Nhưng ở phía bờ đối diện lại trống huơ trống hoác, đã không có lấy một binh một tốt, cũng chẳng thấy doanh trại tường luỹ gì. Tiếp đó là một con đê, trên đê ngoài những đám bụi gai dày đặc, chỉ còn một rừng cây hoè kéo dài bất tận.
Tích Cương quan sát một lúc, chỉ vào bãi cát trống trải mà nói: “Điền tướng quân, tại sao bờ bên kia lại không phòng thủ?”
Điền Kỵ bật cười, chỉ vào bờ đê cách đó không xa: “Điện hạ, hãy nhìn xem!”
Nhìn theo hướng tay chỉ của Điền Kỵ, Tích Cương quả nhiên thấy trong rừng cây rậm rạp loáng thoáng hiện ra trận thế phòng ngự do quân Ngụy dựng lên. Dường như ở trên mặt đê còn có nhiều hàng nỏ tam liên tự động, liền nói: “Hừm, Long tướng quân đúng là gừng càng già càng cay. Nếu không có tướng quân nhắc nhở, Tích Cương quả thật không thể nhận ra!”
“Điện hạ bất tất phải khiêm tốn. Quân Ngụy liên tiếp bại trận, không dám manh động, nên đã đưa binh lực ẩn nấp vào nơi kín đáo, khiến ta khó biết thực hư. Điện hạ mới đến nơi, đương nhiên sẽ không thể biết được tình thế này.”
“Đại tướng quân đã biết rõ địch tình, chiến thắng ắt đã nằm trong tay. Xin hỏi đại tướng quân, khi nào có thể giao chiến với quân Ngụy?”
Điền Kỵ chỉ xuống dòng sông: “Vi thần đã cử người điều tra, khe sâu giữa lòng sông tuy chỉ rộng có vài trượng, nhưng nước sông ở đó cũng ngập quá đầu, thiên quân vạn mã nếu cùng lúc qua sông, nước sông sẽ nhanh chóng dâng lên. Trong số binh sĩ có rất nhiều người không biết bơi, cho dù biết bơi nhưng còn có áo giáp, binh khí, sợ rằng khó lòng trụ vững.”
Tích Cương trầm ngâm một lúc, rồi ngẩng đầu nói: “Nếu cứ kéo dài, chưa nói tới cái khác, chỉ riêng lương thảo cũng khó lòng đáp ứng được lâu dài.”
“Điện hạ chớ lo!” Điền Kỵ khẳng định chắc nịch. “Vi thần ban đêm quan sát sao trời, thấy gần đây nước Ngụy sẽ không có mưa. Hiện giờ đang là mùa khô hạn, nắng nóng đã lâu, nước sông ngày càng nông, mười ngày nay nước sông đã giảm xuống một thước. Nếu không nằm ngoài dự liệu của vi thần, chưa đầy năm ngày nữa, nước sông sẽ tiếp tục giảm thêm một thước. Lúc đó qua sông, đừng nói là Long Giả đã thân mang trọng thương, cho dù ông ta vẫn còn cường tráng, vi thần cũng sẽ bắt ông ta phải đưa tay chịu trói.”
“Ừm!” Tích Cương gật đầu nói. “Vậy thì tốt! Võ binh nước Ngụy dũng cảm thiện chiến, bách chiến bách thắng. Lần này nếu không phải Ngụy Vương thất đức với thiên hạ, ba nước Tần, Hàn, Triệu cùng vây đánh, thì phụ vương cũng sẽ không trở mặt với Ngụy. Điền tướng quân, thắng bại trong trận này vô cùng hệ trọng, phụ vương cũng vì chuyện này mà đã nhiều đêm không ngủ!”
“Vi thần xin điện hạ hãy chuyển tấu lên bệ hạ, nói rằng trong vòng mười ngày, vi thần sẽ phá được trận của quân Ngụy, tiến thẳng tới Đại Lương. Trong vòng ba tháng sẽ áp giải Ngụy Anh hồi triều để bệ hạ hỏi tội!”
Tích Cương đang định lên tiếng, đột nhiên nhìn thấy trên con đê đối diện có một người cưỡi ngựa lao như bay thẳng xuống bờ sông, thì vội quay đầu lại, nhìn người đó không chớp mắt.
Điền Kỵ và các tướng đều đã nhìn thấy, ánh mắt cùng đổ dồn sang. Người cưỡi ngựa đã tiến lại gần, mọi người nhận ra đó là quân uý truyền lệnh phía quân Ngụy. Ngựa lao thẳng xuống bờ sông, dừng bên mép nước, ngần ngừ một thoáng, sau đó phóng thẳng xuống sông. Mọi người đang ngạc nhiên thì người cưỡi ngựa đã đến giữa dòng. Thấy nước sông đã dâng ngập đầu ngựa, quân uý bèn ghìm cương dừng lại, ngoảnh lên bờ hô lớn: “Tướng Tề xem đây, tiên phong Đại Ngụy Bàng Quyên gửi chiến thư!” Rồi lấy cung ra, lắp tên bắn về phía Tề.
Mũi tên xé gió lao đi, rơi xuống bờ sông. Lập tức có quân lính chạy ra nhặt lấy, đưa cho viên quân uý vừa hay tin chạy đến. Quân uý không kịp nhìn, lập tức chạy như bay lên đài cao, lớn giọng bẩm báo: “Báo, tiên phong quân Ngụy gửi chiến thư!”
Quân Ngụy liên tiếp bại trận mà vẫn gửi chiến thư khiêu chiến, lại đúng vào lúc thái tử điện hạ đến thị sát quân tình, Điền Kỵ vô cùng giận dữ, đưa mắt cho tham tướng đứng bên cạnh. Tham tướng liền đi xuống, lấy mũi tên từ trong tay quân uý, trở lên trên đài, hai tay trình lên Điền Kỵ.
Điền Kỵ nhận lấy mũi tên, tháo chiếc còi buộc ở đầu mũi tên, rút ra một cuộn lụa giấu bên trong, quả nhiên là chiến thư, trên viết: “Gửi Điền Kỵ đại tướng quân.” Mở ra, thấy viết:
Nghe nói đại tướng quân bách chiến bách thắng, danh chấn liệt quốc, tại hạ vừa kinh ngạc vừa than thở. Kinh ngạc ở chỗ, chỉ với tài năng tầm thường của đại tướng quân, sao có thể danh chấn liệt quốc? Than thở ở chỗ, cái danh bách chiến bách thắng của đại tướng quân, đến nay sẽ phải kết thúc ở bên bờ Tế Thuỷ! Vì vậy, sau lúc kinh ngạc thở than, tại hạ thực tâm khuyên đại tướng quân, nếu trong vòng ba ngày chịu thu quân về Tề, nộp biểu nhận tội, đại tướng quân không những có thể bảo toàn uy danh một đời, mà dòng Tế Thuỷ trong xanh cũng tránh được cảnh nhuốm máu. Nếu đại tướng quân cố chấp không nghe, nhất định muốn phân cao thấp, ba ngày sau tại hạ sẽ dùng ba vạn hùng binh bày trận nghênh đón! Đại tướng quân chỉ cần nhận ra trận gì, tại hạ lập tức cúi đầu xin hàng; nếu đại tướng quân không nhận ra, tại hạ xin được nói trước, nếu đại tướng quân có điều bất trắc, chớ trách tại hạ mạo phạm! Quyết định thế nào, mong đại tướng quân tự xét, tại hạ cung kính đợi hồi âm!
Tiên phong tam quân Đại Ngụy Bàng Quyên cung kính trình lên.
Điền Kỵ đọc xong, sắc mặt chuyển từ trắng sang xanh, từ xanh sang tím, bàn tay siết chặt kêu lên răng rắc.
Tích Cương kinh ngạc nhìn Điền Kỵ: “Điền tướng quân?”
Điền Kỵ tiện tay đưa chiến thư cho Tích Cương.
Tích Cương đọc xong, giật mình đánh thót: “Bàng Quyên? Kẻ này sao lại trở thành tiên phong của quân Ngụy?” Rồi quay sang Điền Kỵ, cười gượng mà nói. “Xem ra lần này, Điền tướng quân gặp được đối thủ rồi!”
“Đối thủ?” Điền Kỵ cười nhạt một tiếng, nắm chặt tay quyền, giọng rít qua kẽ răng. “Đối thủ của Điền Kỵ vẫn còn chưa chào đời!” Dừng lại một chút. “Hừm, tiên phong mà cũng xứng viết chiến thư! Điện hạ hãy chờ xem, ba ngày sau vi thần nhất định sẽ phá tan trận địch, bắt sống thằng oắt Bàng Quyên, băm vằm thành trăm mảnh!”
Tích Cương tựa hồ như không nghe thấy, hai mắt vẫn nhìn chằm chằm vào chiến thư của Bàng Quyên, nửa như tự nhủ, nửa như muốn hỏi: “Kỳ lạ, kẻ này từ chối chức thượng khanh và vàng bạc mà phụ vương ban cho, nhưng lại chấp nhận làm một tiên phong thấp kém cho Ngụy, rốt cuộc là có dụng ý gì?”
Điền Kỵ hừ mũi một tiếng, quay sang nói với tham quân: “Trả lời Bàng Quyên, cho dù hắn có bày trận thế gì, bảo hắn ba ngày sau hãy vươn sẵn cổ chờ trước trận, đợi bản tướng đến chém đầu!”
“Mạt tướng tuân lệnh!”
Trong thành Hoàng Trì, tại một toà trạch viện lớn ở mé tây bắc, hàng trăm thương binh nằm ngồi la liệt, mấy thầy thuốc cứu chữa luôn tay, xen lẫn trong số đó là hàng trăm dân đinh và đàn bà tình nguyện tới chăm sóc. Hai tên lính chuyển thi thể đứng đợi bên cổng, khi nghe thầy thuốc phán người nào đó đã chết, liền lập tức chạy vào, khiêng xác chết ra ngoài.
Chốn này đầy rẫy đớn đau bi thảm, nhưng không thấy ai rên xiết, cũng không nghe thấy tiếng kêu la. Võ binh Đại Ngụy đều là những hán tử sắt đá, huống chi còn có đàn bà ở đây.
Có mấy người vội vàng đi vào trong sân, người dẫn đầu chính là tiên phong tướng quân Bàng Quyên, đi theo sau là tham tướng trung quân và hộ vệ tuỳ thân.
Thấy tướng quân đến nơi, song tất cả mọi người đều không lên tiếng, cứ như họ là một đám khách không mời. Bàng Quyên hiểu rõ, quân Ngụy chiến bại liên miên, tướng sĩ trong lòng oán hận, đặc biệt là những binh sĩ vì tướng quân bất tài mà thân mang trọng thương ở đây.
Tham tướng trung quân nóng mặt, liền bước lên nói lớn: “Các vị tướng sĩ, có tiên phong tướng quân Bàng Quyên do bệ hạ khâm phong đến thăm hỏi!”
Nghe thấy bốn chữ “bệ hạ khâm phong”, đám binh sĩ bị thương càng tỏ ra lạnh nhạt, có người còn quay đi hừ mũi, không thèm nhìn đến. Chỉ có một thầy lang đang chữa trị cho thương binh là đứng lên hành lễ, song Bàng Quyên xua tay ngăn lại.
Bàng Quyên không thẹn quá hoá giận giống như những tướng quân khác, lại càng không hề tỏ ra giận dữ bất mãn, mà vẫn thần sắc điềm tĩnh, vẻ mặt ôn hoà, ánh mắt chan chứa quan hoài. Bàng Quyên không nói lời nào, chỉ đưa ánh mắt thân tình nhìn khắp lượt các thương binh, sau đó cất bước, chậm rãi đi qua lối đi nhỏ hẹp giữa đám binh sĩ đang nằm la liệt.
Ánh mắt điềm tĩnh và quan hoài của Bàng Quyên bắt đầu có hiệu quả. Các ánh nhìn bắt đầu tập trung trở lại, ngay cả người lính vừa quay mặt đi giờ cũng ngoảnh lại, nhìn xem rốt cuộc Bàng Quyên định làm gì.
Bàng Quyên nhìn thấy có một người đàn bà trung niên ngồi dưới đất, tay vỗ về một binh sĩ đang nằm bất động, liền đi về hướng đó. Mấy cô gái trẻ tuổi quỳ bên cạnh người đàn bà, ai nấy đều lộ vẻ đau thương, hai mắt nhắm nghiền, miệng lẩm nhẩm cầu khấn, hiển nhiên đang tiễn đưa người lính sắp sửa lìa đời.
Bàng Quyên lặng lẽ bước lại gần, đối mặt với người lính, quỳ xuống sau lưng mấy cô gái, cũng nhắm mắt lại, lầm rầm cầu khấn cho anh ta. Tham tướng và hộ vệ tuỳ thân đưa mắt nhìn nhau, sau đó cũng quỳ xuống theo.
Người đàn bà đang ôm người lính nước mắt ròng ròng, ghé sát tai người chết nghẹn ngào nói: “Con trai, con hãy mở mắt ra xem, tiên phong tướng quân đến tiễn con đấy!”
Người đàn bà gọi liền mấy tiếng, người lính dường như không nghe thấy, vẫn nằm bất động. Một thầy thuốc vội bước tới, đưa ngón tay đến trước lỗ mũi, thấy hắn đã tắt thở, bèn lấy từ trong tay áo ra một tấm vải trắng phủ lên mặt. Thầy thuốc vẫy tay, hai người lính đứng canh bên cổng lập tức khiêng theo tấm ván đi vào, nhấc lấy người lính từ trong lòng người đàn bà, nhẹ nhàng đặt lên tấm ván. Bàng Quyên từ từ đứng dậy, cúi lạy ba cái trước người lính đã chết, rồi đưa mắt dõi nhìn theo cái xác được khiêng ra ngoài.
Bàng Quyên quay người lại, tiếp tục bước đi. Lại đi được hơn chục bước, Bàng Quyên nhìn thấy bên cạnh có một thầy thuốc đang nặn mủ cho một binh sĩ, bèn rảo bước lại gần. Chân trái của binh sĩ này bị thương hoá mủ, bọc mủ sưng phồng to gần bằng cái bánh bao. Bàng Quyên đứng bên cạnh, thấy thầy thuốc nặn hết lần này đến lần khác, dịch mủ vàng sệt ứa ra từng chút một, nhỏ xuống chậu sứ dưới đất. Binh sĩ nghiến răng nghiến lợi, hai mắt nhắm nghiền, trán vã mồ hôi, cố gắng gượng chịu đựng nỗi đau đớn thấu tim gan. Sau một khắc, bọc mủ đã xẹp xuống, thầy thuốc băn khoăn nhìn vết thương, dường như đang suy nghĩ làm cách nào mới có thể nặn hết số mủ còn lại ra.
Bàng Quyên không nói một lời, lập tức khom người xuống, trụ vững thân mình, ghé miệng vào vết thương hút mủ ra trong ánh mắt kinh dị của mọi người. Tương truyền xưa kia Ngô Khởi dùng miệng hút mủ cho binh sĩ, mọi người chưa ai tận mắt nhìn thấy. Hôm nay Bàng Quyên quỳ xuống cầu khấn cho binh sĩ thiệt mạng, ghé miệng hút mủ cho binh sĩ bị thương, tất cả những người có mặt đều tận mắt chứng kiến.
Tất cả mọi người đều kinh hãi, chấn động trong lòng, những con mắt chốc lát đã ướt đẫm. Binh sĩ được Bàng Quyên hút mủ thì nước mắt giàn giụa, khóc nấc không thành tiếng.
Bàng Quyên hút một hơi, rồi nhổ mủ vào trong chậu, rồi lại hút, lại nhổ. Cứ lặp đi lặp lại như thế, đến khi vết thương không còn một chút nước mủ nào nữa mới thôi. Lập tức có người đưa nước sạch đến, Bàng Quyên súc miệng mấy cái, vỗ nhẹ lên người binh sĩ, cười vang mấy tiếng, lúc này mới nửa đùa nửa thực nói ra câu đầu tiên: “Anh bạn, mủ của anh vừa tanh vừa hôi, mùi vị chẳng ra sao cả!”
Binh sĩ chẳng quản đến vết thương đau đớn, quỳ sụp ngay xuống đất, khóc lớn: “Bàng tướng quân…”
Bàng Quyên dìu hắn dậy, đỡ cho nằm xuống, nghiêm nghị trách móc: “Trông ngươi kìa! Đại trượng phu sống ở trên đời, chỉ đổ máu, không đổ lệ!” Nói đoạn, lập tức đi thẳng ra ngoài.
Trong trướng của quân Tề, Điền Kỵ ngồi một mình một bàn, nhắm mắt suy nghĩ.
Mười mấy năm nay, Điền Kỵ nam chinh bắc chiến, uy chấn Tứ Thượng, danh vang liệt quốc, từng đánh bại tướng Sở Chiêu Dương, tướng Triệu Phụng Dương Quân và tướng Hàn Thân Bất Hại, chỉ có điều chưa từng giao chiến với quân Ngụy. Từ lâu Điền Kỵ đã muốn quyết một trận phân cao thấp với quân Ngụy, nhưng quân chủ lại năm lần bảy lượt không đồng ý, không cho ông ta cơ hội. Ba năm trước, Ngụy Huệ Hầu xưng vương phạt Vệ, Điền Kỵ phụng mệnh cứu Vệ, vốn cho rằng đây là một cơ hội tốt, song quân chủ lại bắt ông ta án binh bất động, cuối cùng đã dâng cơ hội cho người Tần. Cũng may trời cao có mắt, khi hai nước Tề, Ngụy hội vương ở Từ Châu gây ra hiềm khích, Uy Vương tức giận hạ lệnh phạt Ngụy, cuối cùng cũng giúp Điền Kỵ được toại nguyện. Sau khi tiến vào nước Ngụy, Điền Kỵ hiển lộ thần uy, ba lần đánh bại công tử Ngang, đánh trọng thương Long Giả, khiến hùng binh Đại Ngụy trở thành tàn binh bại tướng chỉ trong vỏn vẹn chưa đầy một tháng. Hiện giờ, người Ngụy đã không còn sức chống trả, bất luận nhìn từ góc độ nào, Điền Kỵ cũng đã nắm chắc phần thắng trong tay. Chỉ cần ra lệnh một tiếng, bảy vạn đại quân sẽ vượt qua Tế Thuỷ, đánh thẳng tới Đại Lương.
Tuy nhiên, Điền Kỵ dùng binh, nổi tiếng nhờ thận trọng. Thường có câu, quân đau thương không bức, giặc cùng đường không đuổi. Điền Kỵ vừa muốn đánh một trận tận diệt Long Giả, vừa muốn để phía mình tổn thất ít nhất, vì vậy mới chần chừ chưa hạ lệnh qua sông. Trong mắt Điền Kỵ, ba vạn binh tốt của Long Giả ở bờ bên kia chẳng qua chỉ là con vịt đã luộc chín, ăn sớm hay ăn muộn cũng như nhau, đây cũng chính là nguyên nhân khiến Điền Kỵ không vội vã.
Long Giả thân mang trọng thương, quân Ngụy đã thành đội quân đau thương. Đối với người Ngụy, hiện nay thượng sách duy nhất là vứt bỏ Tế Thuỷ, Hoàng Trì, liều chết cố thủ Đại Lương. Ai ngờ người Ngụy không những không lui, ngược lại còn gửi chiến thư, hẹn Điền Kỵ đấu trận trên bãi sông, khiến Điền Kỵ không khỏi kinh ngạc.
Và đáng kinh ngạc hơn nữa chính là Bàng Quyên. Biết địch không bằng biết tướng. Đối với những người như công tử Ngang, Long Giả, Trương Mãnh, từ lâu Điền Kỵ đã am hiểu tường tận, nhưng đối với gã Bàng Quyên thình lình từ trên trời rơi xuống, ngoài việc nghe được vài lời đồn đại từ Lâm Truy, Điền Kỵ chẳng biết thêm gì nữa.
Trước ngày đại chiến không biết đối thủ, đây là điều đại kỵ trong dùng binh. Điền Kỵ càng nghĩ, tâm tư càng rối, chợt đứng bật dậy, rảo bước sang một bên trướng, mắt nhìn chăm chú vào sa bàn quân sự.
Sa bàn này do các mưu sĩ và tham tướng căn cứ vào địa hình địa thế xung quanh để đắp thành. Điền Kỵ đưa mắt nhìn bao quát, địa thế đồi núi ở hai bờ Tế Thuỳ hiện rõ mồn một, những nơi hiểm yếu còn cắm đầy thẻ tre, trên thẻ tre ghi rõ loại quân, số quân và danh tính tướng lĩnh của hai bên trấn thủ ở nơi đó. Vượt qua Tế Thuỷ, chưa đến mười dặm là Hoàng Trì, Hoàng Trì cách Đại Lương cũng chỉ khoảng hơn hai trăm dặm. Nếu như không gặp trở ngại, hành quân nhanh chóng thì chỉ vài ngày là đến.
Điền Kỵ chăm chú quan sát sa bàn, suy nghĩ hồi lâu, khoé miệng chợt hiện lên một nụ cười nhạt. Cho dù tay tiên phong họ Bàng kia có bản lĩnh đến đâu, nếu lấy ba vạn tàn quân đấu với bảy vạn thiết quân thừa thắng, chỉ dựa vào một con sông Tế Thuỷ dễ dàng lội qua, thực chẳng khác nào chuyện cười.
Nhưng khác hẳn với hạng tự cao tự đại như công tử Ngang, Điền Kỵ vẫn luôn là Điền Kỵ. Cho dù sự việc nghe có vẻ nực cười, nhưng Điền Kỵ cũng không hề mất cảnh giác. Ông ta biết, thế cục chiến trường có thể thay đổi trong nháy mắt, thắng bại biến hoá bất thường. Tình thế đã nghiêng hẳn về một phía, vậy mà quân Ngụy dám chủ động khiêu chiến, không phải là chủ tướng bị điên, thì chắc chắn bên trong có âm mưu.
Nghĩ đến hai chữ âm mưu, Điền Kỵ đột nhiên lạnh buốt sống lưng, nụ cười nơi khoé miệng cũng từ từ biến mất, thay vào đó, hai đầu lông mày dần chau lại.
Đúng, nhất định là có âm mưu. Quân Ngụy bại trận liểng xiểng, quân lính còn lại chưa đầy bốn vạn, trừ đi thương binh, quân có thể chiến đấu chỉ còn hơn ba vạn. Bàng Quyên chỉ là tiên phong của người Ngụy, nhưng trên chiến thư lại dám thách thức, sẽ dùng ba vạn hùng binh bày trận tiếp đón. Chi tiết này chỉ có hai khả năng, hoặc là Ngụy Vương đã tăng thêm ba vạn binh, hoặc là chủ tướng Long Giả nguyện giao ba quân vào tay Bàng Quyên.
Nghĩ đến đây, Điền Kỵ bỗng thấy chột dạ, bèn gọi lớn: “Người đâu!”
Tham tướng nghe tiếng chạy vào: “Có mạt tướng!”
“Tiếp tục phái người cải trang qua sông, một là thám thính động tĩnh của Bàng Quyên, hai là tìm hiểu xem Ngụy Vương có tăng quân hay không!”
“Mạt tướng tuân lệnh!”
Tham tướng đang định ra khỏi trướng, Điền Kỵ lại nói: “Còn nữa, đắp đài ở trên đê cao thêm ba trượng, dựng thêm một cột cần trục.”
Tham tướng “vâng” một tiếng rồi lui ra khỏi trướng.
Bàng Quyên đi thăm thương binh xong, lại đi kiểm tra một lượt những nơi trọng yếu, đang định trở về trướng thì phó tướng Trương Mãnh phái người đến truyền tin: “Bàng tướng quân, đại tướng quân có lời mời!”
Bàng Quyên vội theo người đó đến quân trướng của Long Giả, quỳ xuống trước giường: “Tiên phong Bàng Quyên tham kiến đại tướng quân!”
Thương thế của Long Giả rõ ràng đã nghiêm trọng hơn, thở khò khè một hồi, tay ôm lấy ngực, khó khăn lắm mới gật được đầu: “Bàng tướng quân, miễn… miễn lễ!” Rồi ánh mắt chuyển sang Trương Mãnh. “Trương Mãnh!”
“Có mạt tướng!”
“Lấy ấn đại tướng quân lại đây!”
Trương Mãnh lấy ấn đại tướng quân ra, hai tay nâng lên, mắt nhìn Long Giả. Long Giả nhận đại ấn, lại lấy hổ phù từ dưới gối lên, cùng cầm trong tay, đưa mắt nhìn Bàng Quyên: “Bàng tướng quân, xin hãy nhận lấy phù, ấn!”
Dùng hổ phù điều binh là thông lệ của liệt quốc. Hổ phù chia thành hai nửa, một nửa giao cho tướng quân, một nửa do đích thân quân chủ nắm giữ. Khi quân chủ điều binh, sẽ phái người mang hổ phù đến trại quân đối chứng, chỉ khi hai miếng hổ phù khớp làm một thì tướng quân mới được phát binh. Vì vậy, hổ phù cũng tượng trưng cho quyền lực của tướng quân. Còn kim ấn của tướng quân là căn cứ chủ yếu dùng để cai quản và điều động bộ hạ. Hổ phù đối với trên, kim ấn đối với dưới, bất kể là ai, chỉ cần có được phù ấn, sẽ có thể thống lĩnh ba quân. Long Giả lại trao cả phù và ấn cho Bàng Quyên, cũng đồng nghĩa với việc trao lại quyền thống lĩnh ba quân cho hắn.
Điều này, bản thân Bàng Quyên cũng không thể ngờ tới, vì dù sao hắn cũng vừa đến doanh trại, chưa lập được một chút công lao. Sững sờ mất một lúc, Bàng Quyên bèn dập đầu nói: “Long lão tướng quân, mạt tướng… việc này… việc này tuyệt đối không được!”
Vết thương lại nổi cơn đau kịch liệt, Long Giả cắn răng chịu đựng, tay nâng phù ấn, khó nhọc cất lời: “Bàng tướng quân bái vong hút mủ, lão hủ… không… không bằng. Bệ hạ có mắt nhìn người tài, ba quân lại có được tướng giỏi, lão hủ có chết… cũng nhắm mắt được rồi!”
Bàng Quyên do dự: “Long tướng quân…”
Long Giả hít thở cũng thấy khó khăn, dường như đã phải dốc kiệt sức lực toàn thân: “Đất nước đã vào… thời khắc sinh tử tồn vong, Bàng tướng quân không được thoái thác, lão hủ sẽ thượng… thượng tấu với… bệ hạ, tiến… tiến cử Bàng tướng quân thống lĩnh… thống lĩnh ba… ba…”
Chữ “quân” còn chưa kịp thốt lên, Long Giả đột nhiên co giật rùng rùng, khiến hổ phù, đại ấn rơi cả xuống giường.
Trương Mãnh hốt hoảng, vội bước tới đỡ: “Long lão tướng quân! Long lão tướng quân!”
Long Giả đã không còn trả lời được nữa. Bàng Quyên đưa tay lên trước mũi, biết lão tướng quân đã qua đời, liền đau đớn gào lên: “Long tướng quân…”
Trời đất bi ai và rền rĩ.
Tướng lĩnh ba quân nghe tin Long tướng quân quy tiên, liền lũ lượt kéo đến đại trướng. Trương Mãnh đứng trước ba quân, tuyên bố di nguyện của Long tướng quân, hai tay trao lại phù, ấn cho Bàng Quyên.
Bàng Quyên thoáng suy nghĩ chốc lát, lại tiếp tục từ chối, các tướng đều quỳ xuống cầu xin. Thấy quân địch cận kề trước mặt, Bàng Quyên đành đồng ý tạm thời làm thay chức trách đại tướng quân, nhưng kiên quyết giao phù ấn cho phó tướng Trương Mãnh bảo quản, vẫn lấy danh nghĩa tiên phong, lập biểu thuật lại sự việc Long Giả tuẫn thân vì nước, gửi cho Ngụy Vương, lời lẽ vô cùng cung kính.
Các tướng thấy hợp tình hợp lý, càng thêm kính phục Bàng Quyên.
Đồng thời, Trương Mãnh cũng lấy danh nghĩa phó tướng ba quân, nhanh chóng bẩm tấu lên Ngụy Vương về di nguyện của Long Giả cùng việc Bàng Quyên bái vong hút mủ. Buổi trưa ngày hôm sau, chiếu thư của Ngụy Huệ Vương nhanh chóng được truyền đến, chính thức bổ nhiệm Bàng Quyên làm đại tướng quân, thống lĩnh ba quân.
Bàng Quyên khấu lạy chiếu thư, nhận lấy phù ấn từ trong tay Trương Mãnh, chuyển vào ở trong đại trướng, hạ lá cờ có chữ “Long đại tướng quân” xuống, thay thế bằng lá cờ có chữ “Bàng đại tướng quân”, truyền lệnh chư tướng đến trước trướng nghe lệnh.
Sự việc Bàng Quyên bái vong hút mủ đã nhanh chóng lan truyền trong quân, sáu chữ “chỉ đổ máu, không đổ lệ” của Bàng Quyên càng khiến cho khí thế võ binh Ngụy hừng hực dâng cao, lũ lượt cầm theo huyết thư, xoắn cao tay áo, kéo nhau đến trước trướng của chư tướng xin đánh. Chư tướng ba quân sau khi nhận lệnh, tay cầm từng bó huyết thư đi vào đại trướng, nhìn thấy Bàng Quyên, không nói một lời, đồng loạt quỳ xuống, cùng nâng huyết thư quá đầu.
Bàng Quyên đi tới trước mặt chư tướng, lần lượt thu lấy huyết thư, đặt lên mặt bàn, sau đó đích thân đỡ các tướng dậy, nói lớn: “Bàng Quyên cảm tạ chư vị, cảm tạ ba quân tướng sĩ! Bắt đầu từ ngày hôm nay, Bàng Quyên nguyện cùng với chư vị, nằm cùng giường, ăn cùng chiếu, đi không cưỡi ngựa, đánh không lui bước!”
Lời của Bàng Quyên vừa dứt, Trương Mãnh đi lên phía trước chư tướng, đứng nghiêm trang mà nói: “Mạt tướng Trương Mãnh xin đánh, đại tướng quân hãy hạ lệnh!”
Các tướng cùng bước lên một bước, đồng thanh hô lớn: “Mạt tướng xin đánh, đại tướng quân hãy hạ lệnh!”
Bàng Quyên biết thời cơ đã chín muồi, đưa mắt nhìn khắp lượt chư tướng, giọng như chuông đổ: “Chư vị tướng quân!
Các tướng đồng thanh hô: “Có mạt tướng!”
Bàng Quyên lại nhìn khắp lượt: “Bốn nước Tần, Tề, Hàn, Triệu xâm phạm ta, hàng vạn tướng sĩ đã tuẫn thân vì nước, quân Tề dã tâm xâm lược, bệ hạ lòng như lửa đốt, hiện giờ trước mặt chúng ta chỉ có một con đường: bảo vệ đất nước, đánh bại quân địch.”
Các tướng lại hô: “Chúng tôi thề chết đi theo đại tướng quân, bảo vệ đất nước, đánh bại quân Tề!”
“Tốt lắm!” Bàng Quyên nói lớn. “Bảy vạn quân Tề đóng ở bên kia bờ Tế Thuỷ, thời khắc để các tướng thực hiện lời hứa đã ở ngay trước mắt. Các tướng nghe lệnh!”
Chư tướng nhiệt huyết sôi sục, lại hô vang: “Có mạt tướng!”
Bàng Quyên lại đưa mắt nhìn khắp lượt mọi người, rồi từ từ nhìn vào vị tướng đứng giữa: “Lý tướng quân, những thứ bản tướng dặn tướng quân chuẩn bị, đã đủ cả chưa?”
Lý tướng quân bước lên một bước, lớn giọng bẩm báo: “Bẩm tướng quân, một vạn bao bố đã gom đủ, xử trí thế nào, xin tướng quân hạ lệnh!”
“Tốt lắm!” Bàng Quyên lấy ra một lệnh tiễn.
“Tướng quân hãy dẫn theo hai ngàn quân sĩ, mang toàn bộ số bao bố tới Đường Ấp, đến nơi nhỏ hẹp ở thượng du, đổ đầy cát vào bao rồi mang chặn ngang dòng nước. Ngày hôm sau, đến giờ Mão, khi nhìn thấy khói trắng ở hạ lưu bốc lên, tướng quân hãy phá đập xả nước. Kẻ nào tiết lộ, chém!”
Lý tướng quân nói lớn: “Mạt tướng tuân lệnh!” Rồi nhận lấy lệnh tiễn, cất bước đi ra.
Ánh mắt Bàng Quyên vừa nhìn đến, một vị tướng khác ở bên trái Lý tướng quân đã bước lên một bước: “Báo, mạt tướng đã chuẩn bị đủ hai mươi xe đá vôi, một nghìn xẻng gỗ, xử trí thế nào, xin tướng quân hạ lệnh!”
Bàng Quyên cầm lấy một lệnh tiễn: “Tướng quân mang theo một ngàn quân sĩ, nghiền đá vôi thành bột, mỗi người cầm theo một cái xẻng, đến giờ Mão ngày hôm sau mai phục ở rừng cây hoè phía sau đê. Kẻ nào tiết lộ, chém!”
Tướng quân dạ một tiếng, nhận lấy lệnh tiễn rồi quay người bước đi.
Ánh mắt của Bàng Quyên nhìn sang viên tướng ở bên trái: “Phùng tướng quân!”
Phùng tướng quân bước ra đáp: “Có mạt tướng!”
“Tướng quân dẫn theo một trăm quân sĩ, giả làm trai tráng hương thôn, tiếp tục chặn dòng Tế Thuỷ ở chỗ cách Đường Ấp mười dặm về phía hạ lưu!”
Phùng tướng quân không hiểu, ngạc nhiên nhìn Bàng Quyên: “Tiếp tục chặn dòng nước?”
“Đúng thế, tiếp tục chặn dòng nước!” Bàng Quyên cũng đưa cho hắn một lệnh tiễn. “Chiêu mộ dân chúng xung quanh, nói là muốn chặn nước ở đó để tưới ruộng. Có thể khua chiêng gõ trống, càng rầm rộ càng tốt!”
Phùng tướng quân suy nghĩ một lúc, dường như cũng đã hiểu ra, bèn nói lớn: “Mạt tướng tuân lệnh!” Rồi nhận lấy lệnh tiễn, quay người đi ra.
Ánh mắt Bàng Quyên từ từ di chuyển sang viên tướng ở ngoài cùng: “Phạm tướng quân!”
Phạm Tiêu vội bước lên một bước: “Có… có mạt tướng!”
“Những thứ cần thiết, tướng quân đã chuẩn bị đủ chưa?”
Phạm Tiêu chần chừ một lát, mặt đỏ phừng phừng, đáp: “Bẩm… bẩm… bẩm tướng quân, mạt tướng đã… đã… chuẩn bị đủ… một nghìn thùng nước… nước phân, xử… xử trí thế nào… xin tướng quân hạ… hạ…”
Phạm Tiêu vốn có tật nói lắp, lại cộng thêm nhiệm vụ khiến hắn không thể ngẩng đầu, vì vậy nói năng càng thêm lắp bắp. Các tướng phải cố nhịn cười, song càng cố nhịn lại càng tức cười hơn. Phạm Tiêu mặt đỏ như gấc, xấu hổ cúi gằm đầu.
Bàng Quyên đặng hắng một tiếng, lấy một lệnh tiễn đưa cho Phạm Tiêu: “Tốt lắm! Phạm tướng quân, tướng quân hãy mang theo một nghìn dũng sĩ, mỗi người cầm một chiếc gáo, bịt miệng các thùng phân thật kín. Cũng vào giờ Mão ngày hôm sau, mai phục trong các bụi cây phía ngoài bờ đê, chờ hiệu lệnh!”
Phạm Tiêu hốt hoảng, ngẩng đầu nói: “Tướng… tướng quân, mạt… mạt tướng khẩn… khẩn cầu tướng quân thu… thu hồi mệnh lệnh, mạt tướng nguyện… nguyện ra trận… giết địch, không… không muốn… hắt… hắt thứ hôi thối…”
Phạm Tiêu nói không nên lời, các tướng đều không thể nhịn thêm được nữa, cùng cười phá lên.
Bàng Quyên cũng bật cười, nhìn Phạm Tiêu: “Phạm tướng quân, nếu tướng quân không làm, thì đại công sẽ rơi vào tay người khác đấy!”
Phạm Tiêu hơi sững người lại, hai mắt mở to nhìn Bàng Quyên: “Đại… đại công gì?”
“Bắt sống Điền Kỵ!”
Phạm Tiêu vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ: “Mạt… mạt…mạt tướng tuân… tuân lệnh!” Rồi vội vàng cầm lấy lệnh tiễn, phấn khởi quay người đi ra.
Thấy Phạm Tiêu đã đi xa, Bàng Quyên đưa mắt nhìn các tướng còn lại một lượt, nói lớn: “Chư vị tướng quân!”
Các tướng đồng thanh hô: “Có mạt tướng!”
Bàng Quyên chậm rãi đứng lên: “Tất cả dẫn theo binh mã của mình, giờ Thìn ngày mai theo bản tướng ra sau đê bày binh diễn trận, lấy cờ hiệu làm lệnh, cờ tiến người tiến, cờ lui người lui, kẻ nào làm trái, chém!”
Các tướng cùng đáp: “Mạt tướng tuân lệnh!”
Ở bờ bắc Tế Thuỷ, liên tục có người đi thám thính tình hình trở về. Điền Kỵ hỏi kỹ càng, biết được Ngụy Huệ Vương treo thưởng chiêu mộ hiền tài, Bàng Quyên gỡ cáo thị mà được Ngụy Huệ Vương phong làm tiên phong ba quân. Đồng thời được biết, mặc dù Ngụy Huệ Vương phong Bàng Quyên làm tiên phong, nhưng lại không cho lấy một binh một tốt, Bàng Quyên chỉ một thân một mình đến Hoàng Trì.
Điền Kỵ xua tay bảo tai mắt lui ra, suy nghĩ một lúc, nói với Điền Tích Cương: “Điện hạ, theo vi thần dự đoán, hành động lần này của Ngụy Vương chỉ có một cách giải thích, đó là hiện giờ vẫn chưa tin tưởng Bàng Quyên!”
Thái tử Tích Cương chưa kịp lên tiếng, tham quân tiếp tục dẫn một tên do thám vào, nhanh chóng chứng thực dự đoán của Điền Kỵ: “Báo, Đại Lương và các thành ấp ở xung quanh bắt đầu từ ngày mai sẽ phòng thủ sẵn sàng, tất cả cổng thành đều đóng chặt, không cho bất cứ người không liên quan nào ra vào. Ngụy Huệ Vương thân mặc chiến bào, đích thân lên thành thị sát.”
Sau khi tai mắt lui ra, Tích Cương ngẩng nhìn Điền Kỵ, ánh mắt đầy hoài nghi: “Nếu Ngụy Vương không tin tưởng Bàng Quyên, Bàng Quyên lấy đâu ra ba vạn đại quân?”
Điền Kỵ mỉm cười: “Bẩm điện hạ, điều này vi thần cũng đã nghĩ đến. Vi thần cho rằng, nhất định là Long Giả thân mang trọng thương, cận kề cái chết, nên đã tạm thời giao lại quyền điều động ba quân cho Bàng Quyên.”
Tích Cương khẽ chau mày: “Trận chiến này liên quan đến sự tồn vong của nước Ngụy, Long tướng quân chinh chiến sa trường đã nhiều năm, sao có thể dễ dàng trao ba quân cho kẻ khác?”
Điền Kỵ đáp: “Long Giả bị thương, vốn chẳng còn sức chỉ huy ba quân. Đại chiến cận kề, quân không thể một ngày không có tướng, mà trong quân Ngụy, quả thật Long Giả nhất thời chẳng thể tìm được người tài nào thích hợp, phó thác cho Bàng Quyên cũng là hợp lý.” Suy nghĩ một lát, lại nói tiếp. “Hơn nữa, Bàng Quyên lại là tiên phong do Ngụy Vương chỉ định, nếu chẳng may bại trận, Long Giả còn có chỗ mà ăn nói.”
“Đúng thế!” Tích Cương khẽ gật đầu. “Lời của đại tướng quân rất hữu lý, Tích Cương đồng ý. Đã như vậy, đại tướng quân đã có cách đối phó hay chưa?”
Điền Kỵ đang định trả lời, bỗng có tiếng vó ngựa dồn dập đến gần, lại có một tên do thám trở về, chạy vào trong trướng bẩm báo: “Báo, đại tướng quân quân Ngụy Long Giả đã chết tối qua, Ngụy Vương phong Bàng Quyên làm đại tướng quân!”
Điền Kỵ kinh ngạc, liếc nhìn Tích Cương, xua tay nói: “Biết rồi!”
Do thám vừa lui ra, quân uý phụ trách theo dõi lòng sông vội chạy vào trướng bẩm báo: “Báo, nước sông Tế Thuỷ đã rút hơn một thước!”
Nước sông Tế Thuỷ trong vòng một ngày đã rút hơn một thước, rõ ràng là sự bất thường.
Điền Kỵ cau mày, nói với Tích Cương: “Đi, xem thế nào!”
Mọi người đi đến bờ sông, quả nhiên thấy nước đã rút xuống rất nhiều, mực nước tại cọc mốc đúng là đã rút xuống một thước, cũng có nghĩa là ngang với tổng mức nước rút của mười ngày trước cộng lại.
Điền Kỵ ngẩng đầu nhìn trời, không một gợn mây, chỉ có vầng mặt trời đang hắt ánh nắng chói chang xuống đầu.
Tích Cương quay sang quân uý bên cạnh: “Đã bao lâu không có mưa rồi?”
“Khởi bẩm điện hạ, hơn một tháng rồi!”
Trời đang mùa nóng bức, đã hơn một tháng không một hạt mưa, nước sông rút nhanh cũng là điều dễ hiểu. Tích Cương gật đầu, nhìn sang Điền Kỵ, nhưng lại thấy Điền Kỵ chau tít đôi mày, mắt nhìn chằm chằm xuống dòng sông, liền gọi: “Điền tướng quân!”
Điền Kỵ chỉ vào dòng sông: “Điện hạ nhìn xem, nước sông rất đục.”
Tích Cương nhìn kỹ, quả nhiên nước sông đục ngầu, thì băn khoăn hỏi: “Nước sông đục với không đục thì có liên quan gì?”
“Khởi bẩm điện hạ,” Điền Kỵ đáp, “nước sông rút nhanh, lại đột nhiên vẩn đục, chỉ có một nguyên nhân, đó là đang có người xây đập ở thượng lưu, muốn dùng dòng nước nhấn chìm chúng ta!”
“Ồ?” Tích Cương thất kinh. “Nếu như vậy, chúng ta phải đối phó thế nào?”
“Điện hạ yên tâm!” Điền Kỵ cười nhạt. “Nước đến thì đất chắn, cho dù người Ngụy có đắp đập, vi thần cũng có cách đối phó!” Rồi quay sang viên tham quân bên cạnh. “Nhanh chóng phái người lên thượng lưu, thám thính xem phải chăng có người đắp đập?”
Tham tướng vâng lệnh, gấp rút chạy đi.
Chưa đến nửa ngày, thám mã đã trở về bẩm báo: “Báo, ở khoảng hai mươi dặm phía thượng lưu quả nhiên có người Ngụy khua chiêng gõ trống, chặn sông đắp đập.”
Điền Kỵ hỏi rõ về địa điểm đắp đập, thở phào mà hỏi: “Là những người nào?”
Thám mã đáp: “Tất cả đều là dân đinh. Nghe họ nói, hoa màu trong ruộng đã khô héo, lý trưởng muốn họ đắp đập ở đó để dẫn nước vào ruộng.”
“Tiếp tục thám thính!”
Thám mã vâng lệnh, lui ra khỏi trướng.
Tích Cương chau mày nói: “Điền tướng quân, người Ngụy cho đắp đập ở nơi hiểm yếu này, cho dù là dân đinh, chúng ta cũng nên đề phòng!”
Điền Kỵ cười nói: “Điện hạ yên tâm! Nếu người Ngụy muốn chặn nước dìm chết chúng ta, tuyệt đối sẽ không hành động giữa ban ngày ban mặt, càng không để cho dân đinh nhúng tay vào. Hơn nữa, cho dù có xây đập, cũng không thể lựa chọn ở vị trí đó được. Vi thần đã đích thân tới đó kiểm tra, sông rộng nước sâu, chỉ với sức của mấy trăm người, đừng nói là ba ngày, cho dù là mười ngày cũng không thể đắp xong. Ba quân của ta vượt sông chưa quá nửa ngày, đợi khi họ xây đập xong, e rằng đại quân đã đến Đại Lương rồi!”
Tích Cương nghe nói có lý, gật đầu nói: “Ừ, nếu vậy thì tốt. Có người Ngụy ngăn chặn thế nước, ta lại càng dễ qua sông.”
Đang lúc trò chuyện, phía bờ sông đối diện đột nhiên có tiếng người huyên náo. Một lát sau, tham tướng vào bẩm báo: “Báo, quân Ngụy điều binh khiển tướng ở sau bờ đê, dường như đang diễn tập thế trận!”
Điền Kỵ rất thích quan sát thế trận, nghe tin báo lập tức lên đài quan sát. Đài quan sát đã được Điền Kỵ ra lệnh sửa sang lại, không những cao hơn trước ba trượng, trên đỉnh còn có một cọc gỗ cao hai trượng, trên đầu cọc gỗ có lắp con lăn. Điền Kỵ trèo lên đỉnh đài, ngồi vào trong giỏ treo, mấy tên lính phía dưới ra sức kéo dây thừng, con lăn liền kéo giỏ treo lên đến đỉnh cột gỗ, Điền Kỵ giống như đang treo lơ lửng giữa không trung.
Thị lực của Điền Kỵ vốn rất tốt, nay lại được đứng trên cao phóng mắt nhìn đi, thoáng chốc đã quan sát thấy toàn bộ tình hình phía bờ đối diện. Sau bờ đê, thấy cờ bay phấp phới, vô số binh mã chạy qua chạy lại hệt như con thoi. Điền Kỵ nhìn suốt nửa canh giờ, cuối cùng cũng nhận ra một chút đầu mối, đoán rằng người Ngụy đang bày trận Nhạn Tường. Trận Nhạn Tường có hình chữ “nhân”, trông giống như bầy chim nhạn bay trên trời, dùng cung, nỏ, thương làm binh khí chủ yếu, thích hợp phòng ngự ở vùng bằng phẳng, dốc. Điền Kỵ lại nhìn thêm một lúc, thấy thế trận không có gì biến hoá, liền mỉm cười, ra hiệu hạ xuống.
Ngày hôm sau, khi trời vừa sáng, từ phía bờ đối diện lại có tiếng người hô ngựa hí. Điền Kỵ tiếp tục lên giỏ treo, thấy đối phương đã đổi thế trận. Thoạt nhìn đã biết, là trận Loan Nguyệt hình trăng khuyết, binh lực được bố trí theo hình vòng cung, phải trái đối xứng, vầng trăng khuyết dày hơn ở giữa có lợi cho phòng thủ, hai đỉnh trăng nhọn ở hai bên có lợi cho tấn công từ hai cánh. Thấy thế trận của đối phương vẫn không có gì biến hoá, bèn ra hiệu thả xuống.
Trở về đại trướng, Tích Cương ra ngoài trướng đón, hỏi: “Bàng Quyên cho tập trận gì vậy?”
Điền Kỵ đáp: “Nhìn thế trận cũng rất bình thường, hôm qua là trận Nhạn Tường, hôm nay chuyển sang trận Loan Nguyệt.”
Tích Cương cũng hiểu sơ qua về trận thế, thấy Điền Kỵ báo tên thế trận, lập tức cảm thấy yên tâm, nhưng miệng vẫn nói: “Bàng Quyên đã dám thách đấu trận, chắc chắn cũng có một số thủ đoạn, tướng quân phải cẩn thận đề phòng!”
Điền Kỵ cười nói: “Điện hạ có điều không biết, hành binh bố trận không phải trò trẻ con, đó là hợp lực. Nếu muốn đạt đến công phu thực sự, không phải chỉ năm ba ngày là có thể thành công. Quân Ngụy liên tiếp bại trận, tướng quân trên dưới hỗn loạn, quá nửa bị thương, nếu muốn bố trận, chắc chắn sẽ phải chắp vá. Bất kể là trận nào, chỉ cần chắp vá, sẽ trở thành một đám ô hợp. Hơn nữa, Bàng Quyên mới đến doanh trại, chưa lập được chút công trạng nào mà lại phát hiệu lệnh, mọi người chắc chắn sẽ không phục. Tướng không phục được quân là điều đại kỵ trong dùng binh, làm sao có thể thành thế trận?”
Tích Cương thấy Điền Kỵ nói có lý, nên càng thấy yên tâm, cùng Điền Kỵ cười cười nói nói đi vào đại trướng, bàn cách phá địch.
Sáng sớm hôm sau, bầu trời không một gợn mây, trên bãi sông gió nam lồng lộng, khiến người ta tâm thần sảng khoái. Vì sắp lâm trận kịch chiến, nên phần lớn tướng sĩ đều suốt đêm không ngủ, trời còn chưa sáng đã mặc giáp cầm thương, nai nịt gọn gàng, đi đến bờ sông, xoa tay giậm chân, chuẩn bị vượt qua Tế Thuỷ, giết địch lập công.
Điền Kỵ phái người tiếp tục kiểm tra Tế Thuỷ, tin báo về nói rằng lại cạn hơn một thước so với ngày hôm qua, chỗ sâu nhất cũng chỉ đến rốn, đừng nói là người, ngay cả chiến xa cũng có thể nhanh chóng vượt qua.
Điền Kỵ khẽ chau mày, nhưng lập tức lại giãn ra. Thế nước như vậy, ba quân vượt sông sẽ không mất quá nửa canh giờ. Cho dù ở thượng lưu xả nước, thì khi nước chảy đến đây cũng đã muộn rồi. Ba quân chỉ cần vượt được qua sông, chiến thắng đã nắm chắc đến chín phần mười, vì vậy Điền Kỵ cũng chẳng cần bày ra những thuật kỳ công như đánh lén, đánh vu hồi, mà chỉ muốn mặt đối mặt quyết chiến với quân Ngụy một trận, để quân Ngụy phải thua tâm phục khẩu phục.
Mặc dù trời đã sáng, nhưng còn lâu mới đến thời gian Bàng Quyên hẹn đấu trận. Điền Kỵ ngẫm nghĩ một thoáng, rồi để chắc chắn hơn, lại cùng Tích Cương lên đài quan sát.
Lên đến đài quan sát, Điền Kỵ tiếp tục ngồi vào giỏ treo như ngày hôm trước.
Trong ánh ban mai, Điền Kỵ phóng mắt dõi ra xa, thấy quân Ngụy đã bày sẵn trận thế dọc theo bờ sông. Điền Kỵ quan sát kỹ lưỡng một hồi, phát hiện trận này đã khác so với hôm qua, hình giống như con hổ mọc thêm cánh, đầu hổ thò xuống sông, đuôi hổ đặt ở sau đê, dường như còn hơi chuyển động.
Điền Kỵ quan sát một lúc, chậm rãi trở xuống, Tích Cương vội hỏi: “Điền tướng quân, quân Ngụy bày trận gì vậy?”
“Khởi bẩm điện hạ!” Điền Kỵ đáp. “Hôm nay đã chuyển thành trận Hổ Dực. Đây là trận pháp thượng cổ, đúng là có một số thủ đoạn.”
“Ồ?” Tích Cương ngạc nhiên. “Vậy phải phá thế nào?”
Điền Kỵ cười nói: “Điện hạ yên tâm, tất cả đều chỉ là mẽ bên ngoài. Vi thần đã biết trận này, tự sẽ có cách phá giải!” Rồi quay sang tham quân. “Truyền lệnh, ba quân dàn thành trận Long Đằng, miệng rồng đối với đầu hổ, nghe tiếng trống thì qua sông!”
Tham quân vâng lệnh, quay người đi truyền lệnh. Một lúc sau, bốn vạn đại quân cùng hàng ngàn chiến xa của quân Tề đã sắp xếp thành trận thế Đằng Long, dàn ở ven bờ
Thấy giờ Mão đã đến, Điền Kỵ vòng tay nói với Tích Cương: “Vi thần xin đi phá trận trước, đợi sau khi bắt được Bàng Quyên, công chiếm Hoàng Trì, sẽ lại nghênh tiếp điện hạ!”
Tích Cương đáp lễ: “Chúc đại tướng quân mã đáo thành công!”
Điền Kỵ bước lên chiến xa, rút bảo kiếm, vung về phía trước. Bờ bắc Tế Thuỷ lập tức trống nổi dồn dập, bốn vạn đại quân theo trận hình Long Đằng tiến xuống lòng sông chỉ rộng chừng vài dặm. Thoáng chốc, thiên quân vạn mã đã tràn xuống lòng sông, bọt nước mờ mịt, khí thế hùng hồn.
Thấy quân Tề đã sắp tới giữa dòng, trận quân Ngụy không những không tiến xuống bãi sông, mà ngược lại còn lui về phía sau ba trăm bước. Điền Kỵ đang băn khoăn, thì viên quân uý lần trước gửi chiến thư lại tiếp tục phi ngựa tới bờ sông, lớn giọng nói với Điền Kỵ: “Người Tề nghe rõ đây! Đại tướng quân có lệnh, quân lính Đại Ngụy là đội quân nhân nghĩa, không đánh úp trong lúc qua sông. Các ngươi có thể an tâm qua sông, sau khi thành trận sẽ quyết chiến!”
Rõ ràng là tỏ vẻ khinh miệt công khai đối với người Tề.
Điền Kỵ bừng bừng giận dữ, lập tức đánh ngựa ruổi xe, dẫn đầu lao về phía bờ đối diện. Các tướng nhìn thấy, ai nấy dũng khí dâng trào, tranh nhau đi trước, chưa tới một khắc, đội quân tiên phong đã vượt qua Tế Thuỷ, vẫn theo trận thế Long Đằng dàn quân dọc theo bờ sông, miệng rồng đối diện với đầu hổ.
Quân Ngụy tiếp tục lui lại trăm bước, chừa cho người Tề phần bãi sông rộng lớn hơn nữa. Đợi sau khi ba quân nước Tề đều đã qua sông, hình thành thế trận, hai bên đồng thời nổi trống.
Dứt một hồi trống, chủ tướng hai bên tuân theo lễ tiết, lễ trước đánh sau, cả hai đều đánh chiến xa lên trước trận, đứng cách nhau một tầm tên bay.
Bàng Quyên vòng tay nói: “Tại hạ Bàng Quyên xin chào Điền đại tướng quân!”
Điền Kỵ chỉ vòng tay đáp lễ quấy quá, rồi trỏ mũi thương về phía thế trận quân Ngụy: “Trận mà Bàng tướng quân bày ra giống như trò trẻ con, vậy mà cũng dám đấu trận với bản tướng?”
Bàng Quyên đáp lễ: “Bàng Quyên xin nói trước, chỉ cần đại tướng quân nhận ra được trận này, Bàng Quyên lập tức bó tay chịu trói, mặc cho đại tướng quân trị tội.”
Điền Kỵ cười lớn một tràng: “Bàng tướng quân thật thú vị! Đây là trận Hổ Dực, vốn là trò đùa trẻ con ở đất Tề, có gì khó đâu?”
Nghe thấy ba chữ “trận Hổ Dực”, Bàng Quyên bật cười vang, sau đó khẽ vung tay, trong trận của quân Ngụy lập tức cờ xí rợp trời, góc trận nhanh chóng di chuyển, hai cánh hổ biến mất, đầu hổ thu lại, chẳng ra hình thù gì, không thể nhận ra là thế trận nào.
Thấy thế trận mới đã hình thành, Bàng Quyên lại vòng tay nói với Điền Kỵ: “E rằng đại tướng quân đã nhìn lầm rồi, trận này không gọi là trận Hổ Dực. Vì lúc nãy có chút biến hoá, nên Bàng Quyên cho đại tướng quân thời gian một khắc để quan sát. Nếu đại tướng quân trong vòng một khắc có thể biết được trận này, Bàng Quyên sẽ giơ tay chịu trói như lời hứa, tuỳ ý đại tướng quân trị tội.”
Bàng Quyên nói xong, lập tức quay ngựa trở vào trong trận, đặt một chiếc đồng hồ cát trước trận, bắt đầu tính giờ. Điền Kỵ nộ hoả ngùn ngụt, nhưng lại không thể phát tiết, đành phải quay ngựa trở về trận, trèo lên một cỗ xe cao đặc chế, quan sát thế trận quân Ngụy, quả nhiên thấy trận này vô cùng quái dị, hoàn toàn không thể nhận ra.
Điền Kỵ còn đang vắt óc suy nghĩ, thì thời gian đã hết.
Bàng Quyên đánh xe ra trước trận, vòng tay nói với Điền Kỵ: “Điền đại tướng quân, đã hết một khắc, có biết là trận gì không?”
Điền Kỵ nổi tiếng thiên hạ vì tài bày trận, nhưng lúc này, đứng trước thế trận hai quân, đối mặt với tướng sĩ của hai bên, ngay cả trận thế của một kẻ vô danh cũng không biết, nhất thời thấy mất mặt, vừa thẹn vừa tức, mặc dù khó xử, nhưng vẫn không đánh mất phong độ đại tướng quân, lập tức đánh xe lên trước, hơi vòng tay mà nói: “Trận này quái dị, tại hạ không biết, xin hỏi Bàng tướng quân bày trận gì vậy?”
Bàng Quyên đáp một lễ: “Trận này do đích thân Ngô Khởi tướng quân bày ra, đại tướng quân không biết cũng là chuyện đương nhiên!”
“Ngô Khởi tướng quân đích thân bày ra?” Điền Kỵ ngẩn người, trầm tư hồi lâu, ngẩng đầu nhìn Bàng Quyên. “Bàng tướng quân chớ lừa ta. Ngô Khởi tướng quân đã quá cố nhiều năm, làm sao có thể bày trận này? Hơn nữa, tất cả những trận Ngô Khởi tướng quân đã bày, tại hạ đều biết cả, nhưng chưa từng gặp trận này.”
“Ha ha ha ha!” Bàng Quyên cười lớn. “Thế gian rộng lớn, chẳng có gì là không thể, việc mà đại tướng quân không biết, đâu chỉ có cái này? Ngô Khởi tướng quân trong mơ đã ban cho tại hạ binh thư, truyền cho kỳ trận, đại tướng quân sao có thể biết được?”
Điền Kỵ thầm giật mình, cũng vì cảm thấy hiếu kỳ, nên thoáng ngẫm nghĩ một lát rồi vòng tay nói: “Xin hỏi Bàng tướng quân, đây là trận gì?”
Bàng Quyên lại cười lớn một tràng, cười xong mới nói: “Trận này tên là trận Phân Rùa, chuyên dùng để bắt sống Điền đại tướng quân!”
Thì ra, Bàng Quyên cũng là một kẻ mưu mô, biết Điền Kỵ tinh thông trận thế, liền nhớ lại bức hình kỳ quái do Trương Nghi cấu kết với Tô Tần vẽ ra để lừa mình khi còn trong Quỷ Cốc, lập tức nảy ra một kế, rồi bày trận y theo hình đó. Còn về việc dùng đến phân, cũng là chủ ý nảy ra khi Bàng Quyên nhớ đến cái lần vì tìm kiếm binh thư mà vọc phải đống phân lợn trong hốc cây.
Trận rùa ấp trứng vốn là do Trương Nghi vẽ ra, căn bản chỉ là một hình vẽ bậy, Điền Kỵ làm sao có thể biết được? Bàng Quyên vừa nói ra tên trận, đến bản thân cũng không nhịn được, liền bật cười sằng sặc, rồi quay ngựa trở về trong trận.
Điền Kỵ dễ đâu chịu đựng được nỗi sỉ nhục này, mặt mũi tím tái, rút kiếm quát lớn: “Tên nhãi Bàng Quyên, hãy xem bản tướng bắt ngươi như thế nào!” Rồi quay sang tay trống. “Nổi trống!”
Trống trận nổi lên dồn dập, quân Tề hô dậy đất, thế như nước lũ, ồ ạt xông về phía trước. Võ binh phía Ngụy có vẻ không chống đỡ nổi, vội vã rút lui. Hàng vạn quần Tề lao vào trong trận quân Ngụy, tựa như vào chỗ không người.
Điền Kỵ ngẩng đầu vung thương, thúc giục tướng sĩ xông lên truy kích. Hàng vạn đại quân đã sắp lên tới bờ đê, đột nhiên thấy trong rừng cây hoè dọc đê, khói trắng bốc lên ngùn ngụt, lửa khói ngút trời. Mùa này gió đông nam đang thổi mạnh, gió thổi khói động, nhanh chóng ập lại gần. Nhìn thấy khói trắng, binh sĩ Ngụy đang rút lui vội vã rút ra tấm sa mỏng đã giấu sẵn trong tay áo trùm kín lên đỉnh đầu, mặt cúi xuống phủ phục trên đất. Quân Tề đang lúc ngỡ ngàng, khói trắng đã đến, chớp mắt đã trùm kín toàn bộ bãi sông. Điền Kỵ đột nhiên cảm thấy hai mắt cay sè, lúc này mới biết là trúng kế, vội vàng lui quân, nhưng đã không còn kịp nữa. Bỗng chốc, binh sĩ cay mắt dụi lấy dụi để, ngựa chiến thảm thiết hí vang, hàng vạn đại quân lập tức trở thành người mù ngựa loà, di chuyển loạn xạ, nháo nhào đâm sầm vào nhau trên bãi sông.
Khói trắng vừa bay qua, người Ngụy thình lình nổi trống, binh lính đang rút lui lập tức quay lại, thẳng tay chém giết. Quân Tề đã không còn sức chống trả, không đánh tự loạn. Hàng ngàn chiến xa, hàng ngàn chiến mã, hàng vạn binh tốt chen chúc trên bãi sông rộng chỉ chừng hai dặm, người chen kẻ đẩy, người giẫm kẻ đạp, chết trận, bị thương nhiều không đếm xuể.
Đúng vào lúc này, đột nhiên lại thấy có mùi hôi thối theo gió bay tới. Người Tề còn chưa hiểu rõ nguyên nhân, đã thấy nước phân thối hoắc hắt tới xối xả, dính khắp mình mẩy tay chân. Phân đã bị người Ngụy khuấy sệt như hồ, vừa thối vừa trơn trượt, lỡ dính vào tay, đến giáo mác cũng không cầm chắc. Lại có rất nhiều quân sĩ vì không nhìn thấy nên chạy lầm vào trại quân Ngụy, hoặc bị chém chết, hoặc bỏ vũ khí đầu hàng.
Tướng sĩ quân Ngụy hò hét vang trời, càng đánh càng hăng. Điền Kỵ kinh hãi, không còn đếm xỉa tới đôi mắt cay sè, nhảy xuống chiến xa, cướp đường bỏ chạy, nhưng chưa chạy được mấy bước đã rú lên thảm thiết, cả người rơi xuống hố sâu.
Trong hố, mùi hôi thối bốc lên nồng nặc, rặt những phân. Điền Kỵ than một tiếng, đưa kiếm lên định tự sát, nhưng lại bị Phạm Tiêu phục sẵn bên miệng hố vung câu liêm đánh rơi thanh kiếm. Tiếp sau đó, cả một đám đông lính Ngụy xúm lại, cùng vung câu liêm móc chặt lấy áo giáp, kéo Điền Kỵ lên trên miệng hố, không chút chần chừ, dùng dây trói nghiến lại.
Nhìn thấy Điền Kỵ khắp người nhơ nhớp những phân, hai mắt nhoè nhoẹt, bị dây thừng trói chặt, tướng sĩ quân Ngụy càng thêm hưng phấn, đồng thanh hô lớn: “Phạm tướng quân đã bắt sống được Điền Kỵ rồi! Phạm tướng quân đã bắt sống được Điền Kỵ rồi!”
Nghe thấy tiếng hô, quân Tề càng thêm kinh loạn, những kẻ mắt chưa bị thương cố gắng dắt những kẻ mắt loà chạy trở về sông Tế Thuỷ. Quân Tề ở phía bờ đối diện nhìn thấy tình thế bất lợi, lập tức nhảy xuống sông tiếp ứng. Thoáng chốc, ở cả hai bờ Tế Thuỷ, quân Tề đã ồ ạt tràn xuống lòng sông như bầy vịt giỡn nước.
Thấy quân Tề xuống nước, quân Ngụy không những không lui, ngược lại còn tìm cách dồn ép đám lính Tề còn ở trên bờ chưa nhận ra phương hướng quay trở xuống sông. Vì nước sông không sâu, nên quân Tề xuống nước còn chạy thục mạng được thêm một đoạn. Chạy được một lúc, thấy quân Ngụy không đuổi theo nữa, quân Tề cũng thấy yên tâm phần nào, vội vàng ngâm mình xuống nước, người rửa mắt, kẻ giũ phần, hoặc rửa vết thương. Thoáng chốc, trên mặt sông rộng lớn đã kín đặc bóng người, dòng nước trong veo nhanh chóng vẩn đục màu phân và máu.
Các tướng sĩ vừa ngâm mình trong nước rửa ráy, vừa chửi rủa quân Ngụy thủ đoạn đê hèn, thắng không oanh liệt. Kẻ mắng người chửi ồn ào, chẳng ai chú ý tới tiếng nước ầm ầm đang từ thượng nguồn đổ tới. Đến khi có kẻ nhìn thấy một ngọn sóng lớn cuồn cuộn kéo về, thì đã quá muộn. Cách đó ba mươi dặm về phía thượng lưu, dòng nước đã được chặn suốt hai ngày nay giờ ồ ạt xả xuống, thế như trâu lồng, chớp mắt đã tràn đầy nửa lòng sông. Đáng thương cho hàng vạn quân Tề lại gặp phải kiếp nạn, quẫy đạp điên cuồng trong dòng nước sâu hơn trượng. Chưa đến nửa tuần hương, trên suốt mấy chục dặm mặt sông về phía hạ lưu, xác chết lập lờ ken kín mặt nước, tình cảnh thê thảm khôn xiết kể.
Nước lũ vừa ào qua, quân Ngụy nhanh chóng vượt sông, toàn lực truy kích số quân Tề còn sót lại. Quân Ngụy truy sát đương hăng, đột nhiên nghe thấy tiếng chiêng thu quân. Quân Ngụy đành phải lui quân. Các tướng không hiểu, đua nhau đánh ngựa tới chỗ Bàng Quyên, lớn tiếng hỏi: “Chúng tôi đang định bắt sống Điền Tích Cương, đại tướng quân sao lại gõ chiêng?”
Bàng Quyên cười nói: “Binh tướng Đại Ngụy là đội quân nhân nghĩa, sao có thể đuổi cùng giết tận?”
Nhưng các tướng chẳng ai cười nổi, chỉ nhìn Bàng Quyên với ánh mắt đầy hoài nghi.
Bàng Quyên thu nụ cười lại, nói với Trương Mãnh: “Trương tướng quân, tướng quân dẫn năm nghìn quân đi thu dọn chiến trường, bắt sống những tên còn lại!” Rồi quay sang tham quân. “Truyền lệnh cho các bộ quân, người không cởi giáp, ngựa không tháo yên, cuốn cờ im trống, cùng tiến về Triều Ca!”
Lúc này các tướng mới hiểu ra nguyên nhân gõ chiêng thu quân, ai nấy đều phấn khởi, đồng thanh hô lớn: “Mạt tướng tuân lệnh!”
Lời vừa dứt, ba quân tướng sĩ lập tức quay ngựa, lao như bay về phía cửa Túc Tư, thế như gió giật sấm rền.
Ba ngày sau, tại chính điện trong vương cung Đại Lương của Đại Ngụy, tư đồ Chu Uy tay cầm hai bản chiến báo, cao giọng bẩm tấu: “Khởi bẩm bệ hạ, đại tướng quân Bàng Quyên đã đại thắng ở Hoàng Trì, chém đầu một vạn một nghìn năm trăm quân địch, dìm chết hai vạn năm nghìn ba trăm tên, bắt sống một vạn ba nghìn hai trăm mười tên, bắt sống tướng Tề Điền Kỵ, truy đuổi thái tử nước Tề Điền Tích Cương, khiến tàn quân thục mạng chạy trốn. Lại đại thắng ở Triều Ca, chém đầu một vạn ba nghìn sáu trăm tên, bắt sống sáu nghìn năm trăm năm mươi tên, đánh đuổi tướng Triệu Phụng Dương Quân, tàn quân bỏ chạy tháo thân. Hai nước Tần, Hàn đang xâm phạm biên giới nước ta, hay tin đều kinh sợ lui quân!”
Chu Uy vừa tấu xong, Ngụy Huệ Vương đã vỗ mạnh tay xuống bàn: “Tốt quá! Nỗi lo lắng trong lòng quả nhân, cuối cùng cũng đã được trút bỏ. Chu ái khanh!”
“Có vi thần!”
“Xây đài mừng công cho đại tướng quân, cả nước ăn mừng ba ngày, đại xá thiên hạ!”
“Vi thần lĩnh chỉ!”
Mười ngày sau, Bàng Quyên khải hoàn trở về, Ngụy Huệ Vương ra tận ngoài thành ba mươi dặm nghênh đón, mời Bàng Quyên cùng lên xe kiệu. Dân chúng Đại Lương đứng dọc hai bên đường chào đón, người đông nghìn nghịt, cùng nô nức theo Bàng Quyên đến tận trước đài mừng công vừa mới hoàn thành.
Trước đài, tiếng trống tiếng nhạc vang trời. Ngụy Huệ Vương ngồi ngay ngắn trên cao, Bàng Quyên cùng các tướng đi tới trước đài, khấu đầu hô: “Mạt tướng khấu kiến bệ hạ, chúc bệ hạ vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế!”
Ngụy Huệ Vương nhìn Bàng Quyên uy phong lẫm liệt, rất đỗi hài lòng, chìa tay nói: “Ái khanh bình thân!”
Bàng Quyên nói lớn: “Tạ ơn bệ hạ!”
“Đại tướng quân nghe chỉ!”
“Có mạt tướng!”
“Đại tướng quân xoay chuyển nguy cục, đánh lui cường địch, công ngang nhật nguyệt, thưởng năm trăm lượng vàng, một trăm tấm lụa gấm, năm mươi nô bộc!”
“Đa tạ long ân của bệ hạ!”
Ngụy Huệ Vương nhìn lướt qua bản danh sách những tướng sĩ lập công được thưởng: “Các tướng sĩ còn lại, quả nhân thuận theo thỉnh cầu của đại tướng quân, sẽ dựa theo công lao lớn nhỏ, tất cả mọi người đều được ban thưởng!”
Các tướng dập đầu: “Đa tạ long ân của bệ hạ!”
Ngụy Huệ Vương tiếp tục ban chỉ: “Thượng khanh Trần Chẩn hãm hại trung lương, coi mạng người như cỏ rác, tội đáng tru di. Nhưng gian tặc đã sợ tội bỏ trốn, để chỉnh đốn pháp kỷ, chuẩn theo bản tấu của Chu tư đồ, tru di cả nhà Trần Chẩn, lăng trì quản gia Thích Quang, hộ vệ Đinh Tam, tịch thu toàn bộ tài sản của Trần Chẩn nộp vào quốc khố, phủ đệ giao lại cho đại tướng quân Bàng Quyên sử dụng!”
Bàng Quyên dập đầu: “Đa tạ long ân của bệ hạ!”
Ngay đêm hôm đó, Bàng Quyên đi đến hình ngục, tới gian tử lao ngày trước từng giam giữ mình và Tôn Tân, nhìn thấy Thích Quang, Đinh Tam đều mang gông xiềng, sắc mặt xám ngoét như người đã chết.
Bàng Quyên liếc xéo Thích Quang, cười nhạt một tiếng: “Hừm, đây chẳng phải là Thích gia ư?”
Thích Quang thường ngày dựa vào thế của Trần Chẩn để diễu võ giương uy, bây giờ sa cơ đến nước này, biết rằng đã không còn đường sống. Song nô tài vẫn chỉ là nô tài, nhìn thấy Bàng Quyên, biết rõ có cầu xin cũng vô dụng, nhưng Thích Quang vẫn lết hai đầu gối đến trước mặt Bàng Quyên, tự bạt tai mình: “Bàng đại tướng quân, tiểu nhân đáng chết, tiểu nhân đáng chết!”
Bàng Quyên nhìn ông ta, chỉ nhếch mép cười, đợi đến khi ông ta đánh mệt rồi, mới nói: “Đánh tiếp đi, ngươi đáng chết lắm!”
Thích Quang hốt hoảng, lại lết mấy bước lên phía trước, quỳ xuống dưới chân Bàng Quyên: “Đại tướng quân, đại nhân không chấp tiểu nhân, đại tướng quân đại nhân đại lượng, giơ cao đánh khẽ, xin hãy tha mạng cho tiểu nhân, tiểu nhân nguyện làm trâu làm ngựa cho đại tướng quân để báo đáp ơn tái sinh!”
Bàng Quyên thở dài, than một câu: “Than ôi, thật không thể ngờ, thời thế thay đổi, ngay cả Thích gia cũng phải quỳ xuống xin tha mạng, ha ha ha!” Rồi quay sang Bạch Hổ. “Bạch huynh đệ, Thích gia đã quỳ xuống cầu xin, Bàng mỗ cũng không thể không nể mặt. Đến ngày lăng trì, ba trăm nhát dao từ cổ trở lên không cần xẻo nữa, giữ lại cho ông ta cái đầu nguyên vẹn, để tránh khi cúng tế làm cha ta sợ hãi!”
Thích Quang ngã lăn xuống đất chết giấc.
Bàng Quyên cười nhạt một tiếng, giơ chân đá ông ta vào góc tường, đưa mắt nhìn sang Đinh Tam: “Họ Đinh kia, Thích gia đã quỳ rồi, cớ sao ngươi không quỳ?”
Vì đã có Thích Quang làm gương, nên Đinh Tam biết cầu xin cũng vô ích, quyết tâm giữ lấy thể diện nam nhi, liền gân cổ nói lớn: “Họ Bàng kia, hôm nay rơi vào tay ngươi, Đinh gia đã biết không còn đường sống. Muốn giết cứ giết, phí lời làm gì?”
Bàng Quyên gật đầu, cất giọng lạnh lẽo: “Nói ra được lời này, coi như ngươi cũng đáng mặt nam nhi!” Quay sang Bạch Hổ. “Bạch huynh đệ, hắn là một hảo hán, xương cứng da dày, hay là chuyển ba trăm nhát dao của Thích Quang sang cho hắn. Ba nghìn sáu trăm dao cộng thêm ba trăm dao, tổng cộng ba nghìn chín trăm nhát. Nhớ kỹ, sau khi xẻo xong, tiếp tục moi tim. Khi moi tim, tim của hắn nhất định phải còn đập, tại hạ muốn dùng trái tim sống của hắn để cúng tế tiên phụ!”
***
Điền Tích Cương dẫn đám tàn binh bại tướng tháo chạy thục mạng, thất thểu thảm hại trở về Lâm Truy.
Tề Uy Vương đang dùng cơm, nghe được tin dữ, kinh sợ đến nỗi cả một miệng cơm mắc nghẹn ngay cổ họng, mặt mũi tím tái. Điền Tích Cương vội chạy tới, vừa xoa ngực vừa đấm lưng, thấy Tề Uy Vương vẫn chưa thở được, cuống quýt đến nỗi chỉ biết quỳ xuống khóc rống lên.
Thái y vội vàng đến nơi, sau một hồi cứu chữa, cuối cùng Tề Uy Vương cũng đã từ từ thở được, miệng bật ra tiếng kêu: “Bàng… Quyên…”
Tích Cương bước lại gần, đang định đỡ Uy Vương, nhưng lại bị Uy Vương đưa tay gạt ra. Uy Vương không màng tới long thể, vội vã trở vào trong cung. Các trọng thần triều đình như tướng quốc Trâu Kỵ, thượng đại phu Điền Anh biết được hung tin cũng nhanh chóng đến cửa cung, đứng bên ngoài đợi yết kiến.
Uy Vương quả nhiên tuyên triệu. Mấy người khấu kiến, Uy Vương thần sắc nhợt nhạt nhìn các đại thần, hồi lâu vẫn không nói được lời nào. Đám trọng thần không thể đứng lên, đành phải giữ nguyên tư thế quỳ sụp, mặt dán xuống đất, mông chổng lên trời, thi gan với Uy Vương.
Bóng nắng ngoài cửa đã dịch chuyển đến hơn một tấc, cuối cùng Uy Vương cũng thở dài: “Than ôi, tâm huyết hơn mười năm của quả nhân, đã tan tành chỉ trong phút chốc!”
Nghe thấy lời này, đám Trâu Kỵ đâu còn dám lên tiếng, lại càng chổng mông cao hơn, đến thở cũng không dám thở mạnh.
Ngụy Huệ Vương xua tay: “Chư vị ái khanh, các khanh… bình thân!”
Đám trọng thần lúc này mới tạ ân, từ từ đứng dậy, chậm chạp bước tới trước bàn ngồi xuống, cùng đưa mắt nhìn vào Uy Vương.
Uy Vương nhìn chúng thần một lượt, lại thở dài, chậm rãi nói: “Hôm nay thảm bại, tất cả đều là lỗi của quả nhân!”
Trâu Kỵ bẩm tấu: “Vi thần cho rằng, thất bại ở Hoàng Trì không phải là lỗi của bệ hạ, mà là lỗi của một mình Điền tướng quân. Điền tướng quân tự cậy mình là danh tướng trong thiên hạ, sau mấy trận thắng nhỏ đã kiêu ngạo khinh địch, nên mới dẫn tới nỗi nhục này.”
Uy Vương lại thở dài: “Việc đã đến nước này, là ai sai cũng chẳng có gì khác biệt. Chư vị ái khanh…”
Chúng thần đồng thanh: “Có vi thần!”
“Các khanh hãy bàn bạc xem, bây giờ phải xử trí thế nào cho thoả đáng?”
Chúng thần quay mặt nhìn nhau.
“Bệ hạ!” Trâu Kỵ tấu. “Vi thần cho rằng, đã có mở đầu thì phải có kết thúc. Mặc dù quân ta thất bại, nhưng quốc thế không bị tổn thương nghiêm trọng, quốc khố vẫn đầy, tiếp tục chiêu mộ mười vạn đại quân cũng chẳng phải việc khó. Ngược lại hãy nhìn nước Ngụy, chinh phạt liên miên, sớm đã dầu cạn lửa tàn, nay chỉ với sức của một mình Bàng Quyên, chẳng qua cũng chỉ là châu chấu đá xe. Theo kế của vi thần, bệ hạ có thể tiếp tục phát đại quân, lựa chọn tướng tài, quyết một trận thư hùng với Ngụy.”
“Bệ hạ, không được!” Thượng đại phu Điền Anh vội can. “Quan sát toàn bộ quá trình, Bàng Quyên là người giỏi mưu kế, dùng binh kỳ quái, đồng thời sau khi đại thắng, còn tha cho bại quân ta không truy đuổi, mà quay sang vượt đường trường tập kích Triệu, khiến Phụng Dương Quân không kịp đề phòng, suýt chút nữa đã bị bắt sống. Bàng Quyên dụng binh tới mức này, tuyệt đối chẳng phải hạng tầm thường!”
Tề Uy Vương hít vào một hơi dài, gật đầu nói: “Ái khanh nói rất đúng. Sau trận này mới biết, Bàng Quyên thực sự là báu vật của thế gian, Điền Kỵ không phải đối thủ của người này. Ái khanh có kế sách nào thoả đáng không?”
Điền Anh tiếp lời: “Khởi bẩm bệ hạ, quân Ngụy mới giành chiến thắng, khí thế đang cao, ngược lại sĩ khí quân ta nhất thời khó lòng khôi phục. Theo ý của vi thần, chúng ta hãy lấy lui để tiến, xuống nước cầu hoà, khẩn cầu Ngụy Vương thả Điền tướng quân và binh lính bị bắt. Ngụy Vương luôn tự cao tự đại, chỉ cần bệ hạ chịu xuống nước, chắc chắn ông ta sẽ đồng ý.”
Tề Uy Vương quay sang Tích Cương: “Thượng đại phu muốn quả nhân xuống nước cầu hoà, ý Cương Nhi thế nào?”
Điền Tích Cương đáp: “Nhi thần cho rằng, thượng đại phu nói rất có lý, xin phụ vương xem xét!”
Tề Uy Vương không nói thêm lời nào, khẽ nhắm mắt lại, một lúc sau chống tay xuống bàn, gắng gượng đứng lên. Nội thần vội tới đỡ, dìu Uy Vương đi tới cửa bên của cung điện. Chúng thần thấy vậy, vội vàng đứng dậy, nhất loạt quỳ xuống, khấu đầu tiễn Uy Vương. Tích Cương phát hiện, chỉ trong chốc lát Uy Vương đã già đi trông thấy, bước đi rất đỗi nặng nề.
Đúng vào lúc tiến vào cửa bên, Uy Vương ngoái đầu lại, hai mắt nhìn vào Điền Anh: “Chuẩn tấu ái khanh. Cụ thể thế nào, khanh hãy làm đi!”
Điền Anh dập đầu: “Vi thần lĩnh chỉ!”
Tề Uy Vương lệnh cho thượng đại phu nước Tề Điền Anh làm sứ thần đặc phái, đi sứ nước Ngụy cầu hoà. Điền Anh mang theo mấy rương vàng bạc châu báu cùng với bản đồ, hộ tịch của mười ấp biên giới nước Tề, đi miết không nghỉ, thẳng tới Đại Lương, vừa vào dịch quán, chỉ kịp nghỉ ngơi một lát, đã lại đánh xe tới bái kiến đại tướng quân.
Mấy ngày trước, Bàng Quyên đã vào ở trong phủ mới, cũng chính là phủ thượng khanh trước đây của Trần Chẩn. Nhờ có Thích Quang dày công thu vén, bài trí bên trong có thể nói là xa hoa cực độ, đầy đủ đình đài lầu gác, điện đường sảnh thất, ao hồ viên lâm, chim cỏ hoa lá, không thiếu thứ gì. Việc Bàng Quyên cần làm chẳng qua, chỉ là đổi tấm biển ở trên cổng thành “Phủ đại tướng quân”.
Khi Điền Anh đến, Bàng Quyên đang ở trong tông đường cúng tế cha. Điền Anh không nói một lời, lập tức lấy bộ quần áo tang của môn nhân mặc lên người, bảo người này dẫn đến tông đường.
Trên bàn thờ đặt song song ba chiếc đĩa chân cao bằng đồng xanh, đĩa bên trái đựng đầu của Thích Quang, đĩa bên phải đựng tim của Đinh Tam. Cả hai món đồ cúng này đều được hành hình vào giờ Ngọ, do Bàng Quyên tận tay cắt xuống. Chỉ có đĩa ở giữa là vẫn trống rỗng.
Khi Điền Anh đi vào tông đường, bên trong vẫn thấy bóng người lay động, nhạc tang ai oán, nghi thức lễ tế đã sắp đến hồi kết thúc.
Điền Anh thân mặc áo tang, khấu đầu trước bàn thờ.
Điền Anh tế bái xong, Bàng Quyên bước đến vòng tay đáp lễ, mời ông ta ngồi xuống bên bàn. Điền Anh nhìn lên bàn thờ, chỉ vào chiếc đĩa trống ở giữa: “Xin hỏi đại tướng quân, tại sao đĩa ở giữa lại để trống?”
Bàng Quyên đáp: “Thượng đại phu có điều không biết, đĩa này là tại hạ dành riêng cho Trần Chẩn. Lần trước tại hạ bận rộn chiến sự, đã để cho hắn chạy thoát. Lần sau hắn sẽ không được may mắn như vậy nữa.”
Điền Anh giả bộ không biết, tiện miệng hỏi: “Nghe nói Trần thượng khanh có xích mích với đại tướng quân, xem ra không phải tin đồn.”
Bàng Quyên nghiến răng nói: “Đâu chỉ là xích mích? Là mối thù giết cha! Trọng Ni có nói, ‘thù giết cha, không đội trời chung’, Trần Chẩn có chạy đến chân trời góc biển, tại hạ cũng nhất định phải bắt bằng được hắn, dùng máu để tế tiên phụ!” Suy nghĩ một lát, mới như sực nhớ ra, liền đưa mắt nhìn Điền Anh. “Lần này thượng đại phu đến hàn xá, chắc hẳn không phải chỉ để hỏi chuyện này?”
Điền Anh gật đầu: “Chỗ này không phải nơi trò chuyện, có thể làm phiền đại tướng quân một lát không?”
Bàng Quyên đứng dậy, dẫn Điền Anh vào phòng khách, chia ngôi chủ khách ngồi xuống, vòng tay hỏi: “Thượng đại phu, chỗ này nói chuyện được chưa?”
Điền Anh cũng vòng tay đáp lễ: “Lần này tại hạ đến, chỉ có một chuyện, đó là tế bái lệnh tôn!” Rồi quay ra ngoài cửa vỗ tay.
Hai tên thuộc hạ khiêng một rương lễ vật vào trong, sau đó lui ra.
Điền Anh chỉ vào chiếc rương: “Chút lễ mọn này, khó lòng thể hiện thành ý, xin được dùng làm vật cúng tế lệnh tôn, mong tướng quân nhận cho!”
Bàng Quyên bước tới mở ra, thấy toàn là vàng bạc châu báu, liền đóng nắp rương lại, mỉm cười nói: “Bàng Quyên đa tạ đại lễ của thượng đại phu!” Rồi quay sang người hầu bên cạnh. “Dâng trà!”
Người hầu bưng trà lên, Điền Anh nhấp một ngụm, đặt chén trà xuống, nhìn Bàng Quyên, khẽ thở dài: “Than ôi!”
Bàng Quyên hỏi: “Thượng đại phu sao lại thở dài?”
Điền Anh lại thở dài sườn sượt, rồi mới nói: “Lúc nãy khi tế bái lệnh tôn, tại hạ nhìn thấy chiếc đĩa trống ở giữa, trong lòng rất đỗi cảm thán.”
“Thượng đại phu có điều gì cảm thán, có thể nói cho tại hạ nghe chăng?”
“Đại tướng quân nhiều năm chịu oan, nay đã được rửa, đích thân trừ khử kẻ thù giết cha, thật là khoái trá! Trần Chẩn dù đã chạy thoát, nhưng vợ con hắn và Thích Quang, Đinh Tam lại bị giết cả họ, thật thảm thương thay!”
Bàng Quyên nghe thấy vậy, chậm rãi nói: “Thượng đại phu có gì xin cứ nói!”
“Người ta bảo oan có đầu, nợ có chủ! Đại tướng quân vì báo thù cha mà xuống tay giết hại cả họ nhà Trần Chẩn, Thích Quang. Nay nước Tề có hàng vạn tướng sĩ cũng bị mất mạng, hàng vạn vạn gia đình tan nát, nếu như người nước Tề ai nấy cũng đều muốn báo thù như đại tướng quân, nước Ngụy há chẳng máu chảy thành sông?”
Bàng Quyên cười vang mà nói: “Thượng đại phu nói sai rồi. Trần Chẩn là quốc tặc của Đại Ngụy, hạng Thích Quang, Đinh Tam đều là những kẻ ác ôn bỉ ổi, Bàng Quyên trừ khử họ là trừ gian cho nước, trừ hại cho dân, người dân nước Ngụy ai nấy đều sung sướng, sao có thể so sánh với việc tử thương trên chiến trường?”
Điền Anh đáp: “Sống chết trên chiến trường đương nhiên là chuyện khác. Có điều, hơn vạn tướng sĩ Tề đã hạ bỏ vũ khí, đang bị tướng quân giam giữ, nếu như họ có nhà mà không về được, chết oan chết uổng…”
“Ồ…” Bàng Quyên ra vẻ ngạc nhiên. “Ý của thượng đại phu là, người nhà của họ cũng sẽ tìm Bàng Quyên ta báo thù ư?”
“Đúng thế!”
Bàng Quyên bước lên một bước: “Vậy theo ý của thượng đại phu, nên xử trí thế nào?”
“Điền tướng quân và các binh tướng khác xâm phạm biên cương, mặc dù phạm tội chết đối với Ngụy, nhưng cũng đều là phụng chỉ hành sự, mong đại tướng quân nghĩ tới cha mẹ vợ con của họ, mở cho họ một con đường sống. Nếu những tướng sĩ này có thể bảo toàn tính mạng, chắc chắn sẽ cảm tạ ân đức của đại tướng quân, ca tụng lòng nhân nghĩa của đại tướng quân.”
“Thượng đại phu nói rất đúng!” Bàng Quyên suy nghĩ một lúc, gật đầu nói. “Thượng đại phu yên tâm, tại hạ đảm bảo Điền tướng quân và mọi tướng sĩ ngày có đủ ba bữa cơm, đêm không mất ngủ, không hao hụt lấy một cọng tóc. Tuy nhiên, tội chết có thể tha hay không, lại không thể do tại hạ quyết định. Thượng đại phu có thể khẩn cầu với bệ hạ, chỉ cần bệ hạ gật đầu, tại hạ sẽ đích thân mở tiệc rượu tiễn Điền tướng quân!”
Điền Anh vòng tay vái tạ: “Tấm lòng nhân hậu của đại tướng quân, chắc chắn sẽ được báo đáp!”
Bàng Quyên cũng đáp lễ: “Đa ta thượng đại phu khen ngợi!”
Ngày hôm sau, trong buổi đại triều, Ngụy Vương tuyên sứ giả nước Tề vào yết kiến.
Điền Anh khấu kiến, Ngụy Huệ Vương liếc xéo ông ta, cất giọng mỉa mai: “Thượng đại phu chắc không phải đến để gửi chiến thư đấy chứ?”
Điền Anh lại dập đầu: “Khởi bẩm Ngụy Vương bệ hạ, bệ hạ của thần nghe lời sàm tấu, đã mạo phạm tới thần uy của đại vương, cảm thấy vô cùng hối hận. Nay cử vi thần tới yết kiến đại vương, thành tâm nhận lỗi, mong đại vương không trách tội, vẫn giữ mối liên minh trước đây.”
Ngụy Huệ Vương ngửa cổ lên trời cười lớn: “Bệ hạ của ngươi thành tâm nhận lỗi, quả nhân còn có thể nói thêm gì nữa? Tuy nhiên, quả nhân rất muốn biết, bệ hạ của ngươi lấy gì để tỏ thành ý đây?”
“Khởi bẩm bệ hạ,” Điền Anh tiếp lời, “bệ hạ của thần nguyện dâng mười ấp biên giới cho đại vương, cầu xin đại vương khoan hồng cho Điền Kỵ tướng quân và những tướng sĩ bị bắt sống, giúp họ được đoàn tụ với gia đình, tránh khỏi nỗi khổ cốt nhục ly tán!” Rồi lấy từ trong tay áo ra tấm bản đồ mười ấp biên cương. “Đây là bản đồ mười thành, xin đại vương hãy xem.”
Ngụy Huệ Vương lắc đầu: “Mười thành này là bảo bối gan ruột của bệ hạ các ngươi, quả nhân làm sao có thể chiếm đoạt vật yêu của người khác?”
Điền Anh hơi sững lại: “Vậy… bệ hạ muốn có vật gì?”
“Trong buổi hội vương ở Từ Châu, quả nhân thành tâm ủng hộ Điền Nhân Tề xưng vương, nhưng Điền Nhân Tề lại không biết đủ, còn kì kèo với quả nhân, ép quả nhân từ bỏ nước Tống!”
Điền Anh suy nghĩ một thoáng, rồi dập đầu nói: “Bẩm Ngụy Vương bệ hạ, trước lúc lên đường, bệ hạ đã dặn dò vi thần, nước Tề sẽ không bao giờ nhúng tay vào chuyện nước Tống nữa, tuỳ ý đại vương xử trí.”
“Thế còn nước Vệ?”
Điền Anh vừa nghe đã thót tim, suy nghĩ thêm một lát, rồi nghiến răng mà nói: “Chỉ cần bệ hạ không tính toán những chuyện trước đây, Điền Anh sẽ bẩm lại với bệ hạ, việc nước Vệ sẽ nghe theo sắp xếp của đại vương!”
“Ồ?” Ngụy Huệ Vương hai mày dựng ngược. “Chút việc cỏn con này mà còn phải bẩm báo với Điền Nhân Tề ư?”
Điền Anh dứt khoát: “Việc của nước Vệ, nước Tề cũng sẽ nghe theo sự sắp đặt của đại vương!”
“Tốt lắm!” Ngụy Huệ Vương quay sang Chu Uy. “Chu ái khanh, truyền chỉ, hiểu dụ Vệ Công, nói rằng vùng đất nhỏ hẹp của ông ta không hợp với tước công, tự giáng một tước, đổi công thành hầu! Còn nữa, hạn cho ông ta trong vòng ba mươi ngày phải mang dâng tấm bản đồ năm mươi dặm vuông vùng Bình Dương. Bao nhiêu tướng sĩ của ta đã tuẫn thân dưới thành, cũng cần có lời an ủi!”
Chu Uy bước lên một bước: “Vi thần tuân chỉ!”
“Ha ha ha ha!” Ngụy Huệ Vương nhìn Điền Anh, phá lên cười lớn. “Tốt lắm, Điền Nhân Tề đã có thành ý như vậy, quả nhân cũng phải đáp lại bằng thành ý. Hãy xá miễn cho tất cả tù binh quân Tề!” Rồi quay sang Bàng Quyên. “Bàng ái khanh, Điền tướng quân có ở chỗ khanh không?”
Bàng Quyên bước lên một bước: “Khởi bẩm bệ hạ, bại tướng Điền Kỵ đang ở ngoài cung chờ yết kiến!”
“Tuyên vào yết kiến!”
Bàng Quyên nói lớn: “Vi thần lĩnh chỉ!” Rồi quay ra phía ngoài hô. “Bệ hạ có chỉ, tuyên bại tướng Điền Kỵ vào yết kiến!”
Một lát sau, mấy tên lính áp giải Điền Kỵ lên điện. Chúng thần ngoảnh nhìn, thấy Điền Kỵ bị ép mặc một bộ váy áo đàn bà, chưa kể mặt mũi loè loẹt phấn son, trong miệng bị nhét một mảnh khăn lụa rực rỡ, tất cả đều bật cười hô hố.
Ngụy Huệ Vương thoạt đầu kinh ngạc, sau cũng phá lên cười nghiêng ngả.
Điền Kỵ vừa xấu hổ vừa giận dữ, nhưng bị hai tên lính vạm vỡ giữ chặt cánh tay, không thể cử động, chỉ biết trợn trừng hai mắt nhìn Bàng Quyên căm hận. Bàng Quyên chậm rãi bước tới trước mặt Điền Kỵ, rút mảnh lụa nhét trong miệng ra, nhếch mép nói: “Điền đại tướng quân, hãy đi gặp Tề Vương bệ hạ trong bộ dạng này, để ông ta nhìn cho kỹ, đây chính là bảo bối lớn của nước Tề mà ông ta vẫn thường khoe khoang!”
Nghe thấy lời này, Ngụy Huệ Vương vô cùng phấn khởi, vội nói: “Đúng đúng đúng, quả nhân cũng nhờ Điền tướng quân chuyển lời tới Điền Nhân Tề, nói rằng những món bảo bối mà nước Tề có, quả nhân cũng chẳng thiếu thứ gì. Tiễn khách!”
Quân sĩ liền thả Điền Kỵ ra.
Điền Kỵ vừa thẹn vừa giận, cắm đầu lao thẳng về phía cây cột.
Điền Anh thấy vậy, lập tức nhào tới nhanh như tên bắn, ôm chặt lấy Điền Kỵ, khóc mà nói: “Điền tướng quân…”
Điền Kỵ giậm chân hét lớn: “Thả ta ra, thả ta ra, ta… ta còn mặt mũi nào để sống trên đời nữa?”
Bàng Quyên cười nhạt một tiếng: “Hừm, Điền tướng quân, Bàng Quyên còn kính trọng ông là một hảo hán nên mới thả ông về, là muốn đợi ông tìm đến báo thù. Không ngờ tướng quân lại là hạng tầm thường như vậy, đòi sống đòi chết như đàn bà, thực uổng cho Bàng Quyên ta đã phải lao tâm!”
Nghe thấy lời này, Điền Kỵ uất nghẹn, giậm chân hét lớn: “Tên súc sinh Bàng Quyên, ngươi… ngươi là hạng tiểu nhân đê tiện, ngày sau nếu lọt vào tay ta, xem ta ăn tươi nuốt sống, lột da róc xương ngươi!”
“Ừm!” Bàng Quyên khẽ gật đầu. “Thế này mới giống tướng quân chứ! Nhìn khắp liệt quốc, mặc dù Điền tướng quân là bại tướng, nhưng cũng còn được coi là đối thủ của Bàng mỗ. Thường có câu, quân tử báo thù mười năm chưa muộn. Bàng Quyên sẽ ở đây đợi ông mười năm!” Nói xong, ngửa cổ lên trời cười lớn.
***
Sau khi chia tay Thích Quang, Trần Chẩn đánh xe chạy thục mạng về phía đông. Đi được mấy dặm, Trần Chẩn bỏ xe, tháo ngựa, cuống cuồng rẽ sang phía đông bắc.
Trần Chẩn chạy không ngơi chân, buổi tối ngày hôm sau đã vượt qua biên giới nước Ngụy, tiến vào nước Vệ, tạm thời lánh nạn mấy ngày ở Sở Khâu, sau đó cải trang thành người nước Vệ, trở lại nước Ngụy, vào lúc chập tối đã đến cửa Túc Tư, tìm được một quán trọ kín đáo nghỉ lại.
Trời vừa tảng sáng, Trần Chẩn ăn uống qua loa, rồi bước ra phố, đang định hỏi thăm xem chuyến đò sáng bao giờ rời bến, đột nhiên thấy trên đường cái quan bụi bốc mù trời. Lát sau, một đoàn xe ngựa đông đảo rầm rập kéo đến, trên lá cờ lớn dẫn đầu đề bốn chữ “Bàng đại tướng quân”.
Trần Chẩn kinh hoảng. Bàng Quyên đang đối trận với người Tề ở Hoàng Trì, giờ sao đã chạy đến đây? Mới có mấy ngày, lẽ nào hắn đã thay thế Long Giả, một bước nhảy lên ngôi đại tướng quân? Trần Chẩn bàng hoàng mất một lúc, rồi mới nghĩ lại, theo như hành tung mấy ngày nay của mình, Bàng Quyên có hoạ là thần thánh mới biết được. Hơn nữa, cho dù hắn có là thần thánh, biết được Trần Chẩn ở đây, cũng chẳng thể tốn công hưng binh động chúng rầm rộ đến vậy chỉ vì một mình ông ta.
Nghĩ vậy, Trần Chấn cũng cảm thấy yên tâm phần nào, liền trở về quán trọ, chỉ lặng lẽ quan sát xem Bàng Quyên muốn làm gì.
Chẳng mấy chốc, đại quân binh mã của Bàng Quyên đã ầm ầm kéo tới cửa Túc Tư, thế như vũ bão. Các tướng sĩ toả ra khắp chốn, bao vây toàn bộ thị trấn, đồng thời bủa đi khắp nơi thu hồi tất cả thuyền bè.
Liên tiếp mấy ngày, Trần Chẩn chỉ có thể giống như những thương nhân khác, từ sáng đến tối trốn trong quán trọ, nhìn đại quân của Bàng Quyên rầm rộ và trật tự vượt qua Hà Thuỷ, rồi lại nhìn họ áp tải một lượng lớn quân nhu và tù binh người Triệu khải hoàn trở về. Đồng thời, ở cửa Túc Tư cũng bắt đầu lan truyền câu chuyện Bàng tướng quân nhận được Ngô Khởi tướng quân phù hộ, đánh hai trận thắng cả hai, đánh bại cả người Tề lẫn người Triệu, bắt sống tướng Tề Điền Kỵ.
Sau khi quân Ngụy rút đi nửa ngày, cửa Túc Tư lại quay về với khung cảnh yên bình vốn có, bến đò cũng từ từ hoạt động bình thường trở lại. Trần Chẩn tính tiền nhà trọ xong, liền đánh ngựa lên phố lớn, đi ngang qua bức tường dán cáo thị giữa phố, thấy người dân đang xúm xít lại xem. Trần Chẩn chen lên phía trước, nhìn thấy trên một tờ cáo thị mới dán, đập vào mắt chính là chân dung của mình. Nhìn thấy trên bản cáo thị chỉ có một mình ông ta, Trần Chẩn đoán chắc Thích Quang đã bị bắt, bất chợt trán vã mồ hôi lạnh, thầm lấy làm may mắn vì mình cao tay, nếu không đã phải cùng chung số phận với Thích Quang rồi.
Trần Chẩn đưa tay áo quẹt vội mồ hôi, sau đó lập tức phi ngựa tới cửa sông, từ xa nhìn thấy một con thuyền vừa rời bến. Trần Chẩn vội hét gọi, phu thuyền nghe thấy tiếng, bèn quay mũi chèo vào bờ, Trần Chẩn dắt ngựa lên thuyền, liên miệng cảm tạ. Chưa tới nửa canh giờ sau, con thuyền đã đi tới bờ bên kia.
Trần Chẩn dắt ngựa xuống thuyền, thở phào một hơi thật dài, sau đó cùng với mười mấy khách thuyền khác lục tục lên bờ. Vượt qua con đê, phía trước chính là con đường dẫn tới Triều Ca. Nếu muốn tới đô thành Hàm Đan của nước Triệu, nhất định phải đi qua con đường này.
Song Trần Chẩn lại không muốn tới Hàm Đan. Ông ta đến nơi này, chỉ có một mục đích: lên núi Vân Mộng tìm Quỷ Cốc Tử tiên sinh. Trần Chẩn tuyệt không thể ngờ mình lại bị sảy chân ngã ngựa, giữa dòng lật thuyền thình lình đến vậy. Lao tâm khổ tứ suốt bao năm, khó khăn lắm mới trụ lại được đến ngày hôm nay, nhưng lại bị một tên nhãi ranh dồn đến bước đường cùng, trong khi Trần Chẩn lại không biết gì về hắn!
Trần Chẩn không phải kẻ dễ dàng chịu thua. Việc đã đến nước này, đối thủ của ông ta không còn là Bạch Khuê, Chu Uy và Công Tôn Diễn nữa, mà là tên Bàng Quyên giữa đường ngáng chân kia! Mục tiêu cuộc đời của Trần Chẩn cũng không còn là chức vị tướng quốc, mà là đối phó với Bàng Quyên. Lần này đến núi Vân Mộng, chính là muốn truy ra đầu mối, tìm được gốc rễ của Bàng Quyên, điểm trúng tử huyệt của hắn.
Trần Chẩn tiếp tục đi theo đám khách cùng thuyền một đoạn đường, thấy phía trước có một ngã rẽ, liền vòng tay hỏi thăm một người cao tuổi: “Xin hỏi lão trượng, đến núi Vân Mộng đi đường nào?”
Cụ già chỉ tay về đỉnh núi ở phía xa, nói: “Chính là chỗ đó. Ông đi theo con đường này, vượt qua Kỳ Thuỷ là có thể lên núi.”
Trần Chẩn đa tạ, rồi quất ngựa phóng nhanh về phía Kỳ Thuỷ.
Giờ đang giữa mùa hè, ngoài núi trời nóng như thiêu, nhưng trong Quỷ Cốc vẫn mát mẻ sảng khoái như thường.
Gần tới trưa, Ngọc Thiền đang ngồi đọc sách trong nhà cỏ, đột nhiên nghe thây tiếng tiểu đồng từ xa vọng lại:
“Chị Thiền Nhi! Chị Thiền Nhi!”
Ngọc Thiền đặt cuốn sách xuống, khoan thai bước ra khỏi cửa, thấy tiểu đồng đã dẫn theo Trần Chẩn tới trước nhà cỏ. Trần Chẩn đã đổi sang mặc quan phục, cung kính đứng ở phía ngoài, ngước mắt nhìn Ngọc Thiền.
Tiểu đồng chỉ tay vào Trần Chẩn: “Chị Thiền Nhi, vị quan nhân này muốn gặp tiên sinh.”
Ngọc Thiền đứng ngoài bậu cửa, điềm tĩnh đưa mắt nhìn Trần Chẩn.
Trần Chẩn khom người hành lễ: “Thượng khanh nước Ngụy Trần Chẩn xin chào tiên cô!”
Mấy năm về trước, trong lúc làm sứ nước Ngụy đến Chu thất ép cầu hôn Cơ Tuyết, mặc dù Trần Chẩn ở lại Lạc Dương mấy tháng, nhưng chưa từng gặp mặt Ngọc Thiền, càng không thể ngờ thiếu nữ xinh đẹp đứng trước mặt mình lúc này lại chính là công chúa Đại Chu năm xưa đã bị ông ta bức ép đến tan nhà nát cửa, vì vậy lúc này mới tự bộc lộ thân phận.
Ngọc Thiền sắc mặt vụt sa sầm, ánh mắt lạnh lùng như lưỡi kiếm chiếu thẳng vào Trần Chẩn, không đáp lễ, cũng chẳng thèm nói lời khách sáo: “Thượng khanh không ở trong triều làm việc, đến nơi rừng núi hoang vu này làm gì?”
Trần Chẩn thấy Ngọc Thiền nói lời lạnh lẽo, vội vàng nặn ra một nụ cười, tiếp tục vòng tay hành lễ: “Hồi bẩm tiên cô, tại hạ phụng lệnh Ngụy Vương bệ hạ, đến đây bái kiến Quỷ Cốc tiên sinh.”
Nghe thấy mấy chữ “Ngụy Vương bệ hạ”, Ngọc Thiền càng thêm giận dữ, giọng nói nhạt nhẽo: “Thượng khanh đến thật không đúng lúc, mấy ngày trước tiên sinh đã rời núi vân du rồi!”
“Ồ…” Trần Chẩn sững người. “Khi nào tiên sinh trở về?”
Tiểu đồng đã nghe thấy lời của Ngọc Thiền, biết nàng không muốn tiếp, liền tiện miệng nói luôn: “Này quan nhân, tiên sinh trước nay đi ngao du chưa từng định thời gian, ít thì dăm ba tháng, nhiều thì dăm ba năm. Quan nhân nếu muốn gặp tiên sinh, thì phải biết kiên nhẫn!”
Trần Chẩn thở dài: “Quả là không đúng lúc!” Dừng lại một chút, quay sang Ngọc Thiền. “Xin hỏi tiên cô, nghe nói Bàng tướng quân từng ở đây theo tiên sinh học nghệ, có chuyện này chăng?”
Ngọc Thiền lại càng sầm mặt: “Ở đây không có Bàng tướng quân, nếu thượng khanh không còn việc gì, tiểu nữ cũng không tiếp nữa!” Nói đoạn, lập tức quay người đi vào trong, đóng sập cửa lại.
Trần Chẩn không thể ngờ được mình lại bị đối xử lạt lẽo đến vậy, đứng ngẩn ra một hồi, rồi đưa ánh mắt bối rối nhìn tiểu đồng.
Tiểu đồng khuyên: “Này quan nhân, chị Thiền Nhi đã bảo ông xuống núi, nhân lúc trời còn sớm, hãy mau đi đi!”
Trần Chẩn định thần lại, nhìn thẳng vào tiểu đồng: “Xin hỏi tiên đồng, vị tiên cô này là người thế nào?”
“Là chị Thiền Nhi?”
Trần Chẩn hỏi tiếp: “Chị Thiền Nhi là người thế nào?”
Tiểu đồng chau mày: “Chị Thiền Nhi là chị Thiền Nhi, ông đúng thực là…” Dừng lại một chút, cố nuốt xuống hai chữ “điên khùng” sắp sửa buột ra.
Trần Chẩn cười gượng một tiếng, đổi giọng hỏi: “Xin hỏi tiên đồng, Quỷ Cốc Tử tiên sinh đã không ở đây, vậy trong cốc này há chẳng phải chỉ còn tiên đồng với chị Thiền Nhi hay sao?”
“Đương nhiên là không phải!”
Trần Chẩn đang chờ đợi chính là câu nói này, bèn vội vàng hỏi tiếp: “Ồ, xin hỏi, trong cốc còn có người nào nữa?”
“Còn có ba vị sư đệ của ta!”
Nghe thấy là sư đệ của tiểu đồng, Trần Chẩn ít nhiều thất vọng, tiện miệng hỏi: “Vậy… tiên đồng có biết Bàng tướng quân không?”
“Bàng tướng quân?” Tiểu đồng thoáng ngẩn người. “Bàng tướng quân nào?”
“Chính là Bàng Quyên, nghe nói người này từng học nghệ ở đây!”
Tiểu đồng cười khúc khích mấy tiếng, rồi đáp luôn: “Ta còn tưởng là ai, thì ra là hắn. Nói cho ông biết, Bàng Quyên cũng là sư đệ của ta đấy. Thế nào, ông muốn tìm hắn?”
Trần Chẩn kinh ngạc, ngờ vực nhìn tiểu đồng: “Cái gì? Bàng tướng quân cũng là sư đệ của tiên đồng?”
Tiểu đồng trợn tròn hai mắt: “Ông không tin?”
“Ồ…” Trần Chẩn gãi đầu. “Tiên đồng còn nhỏ tuổi, làm sao có thể là sư huynh của Bàng Quyên được?”
Tiểu đồng lại cười khanh khách: “Bàng Quyên không những là sư đệ của ta, mà còn là sư đệ bé nhất. Quan nhân còn có việc gì không?”
Trần Chẩn mắt đảo một vòng, vội cúi người hành lễ với tiểu đồng: “Xin hỏi tiên đồng, tại hạ có thể gặp ba vị sư đệ của tiên đồng một chốc không?”
Tiểu đồng suy nghĩ một lát, lắc đầu nói: “Chị Thiền Nhi chỉ muốn quan nhân xuống núi, không muốn quan nhân gặp mặt ba vị sư đệ.”
“Ồ…” Trần Chẩn lại đảo mắt một vòng. “Là thế này, Bàng tướng quân có lời, muốn tại hạ chuyển đến sư huynh của tướng quân!”
“Gửi lời nhắn cho vị sư huynh nào?”
“Chính là… là người tốt nhất với Bàng tướng quân.”
Tiểu đồng ngẫm nghĩ một lát rồi hỏi: “Ý ông muốn nói… Tôn Tân?”
Nghe thấy hai chữ “Tôn Tân”, Trần Chẩn tim nảy lên một cái, nhưng lại lập tức cười giả lả: “Đúng đúng đúng, chính là Tôn Tân! Bàng tướng quân dặn tại hạ nhất định phải tìm được Tôn tướng quân, có lời muốn nhắn gửi.”
Tiểu đồng suy nghĩ một lúc rồi gật đầu nói: “Quan nhân đã có lời muốn nhắn cho Tôn sư đệ, vậy hãy đi theo ta.”
Tiểu đồng dẫn Trần Chẩn đi theo đường mòn, một chốc sau, đã tới lũng núi nơi bốn người vẫn ở. Hai người đi tới căn nhà cỏ, tiểu đồng đứng trước cửa phòng Tôn Tân gọi lớn: “Tôn sư đệ, có người đến tìm!”
Tiểu đồng liên tiếp gọi hai tiếng, không ai trả lời. Tiểu đồng bèn mở cửa phòng, thấy trong phòng chẳng có ai, thì quay sang nói với Trần Chẩn: “Chắc là Tôn sư đệ đã vào trong rừng rồi, chưa tới giờ Ngọ, chắc chưa về đâu.”
Trần Chẩn sợ Tôn Tân truy cứu chuyện hình ngục khi còn ở An Ấp, vốn không dám gặp mặt, nhưng cũng không thể đến mà về tay không, đang không biết xử trí thế nào thì cánh cửa ở phòng bên cọt kẹt mở, Trương Nghi thò đầu ra hỏi: “Đại sư huynh, người nào tìm Tôn huynh thế?”
Tiểu đồng bèn chỉ tay vào Trần Chẩn: “Vị quan nhân này có lời muốn nhắn với Tôn sư đệ!” Rồi quay sang Trần Chẩn. “Vị này là Trương sư đệ, hãy để hắn dẫn ông đi.” Nói xong, bèn nhảy tung tăng quay trở về thảo đường.
Thấy tiểu đồng đã đi xa, Trần Chẩn quay sang vòng tay hành lễ với Trương Nghi: “Tại hạ Trần Chẩn xin chào Trương… Trương Tử.”
Trương Nghi vẫn đứng dựa vào sau cửa, thò đầu nhìn ra, châm chọc mà nói: “Chữ ‘Tử’ không dám nhận, gọi ta là Trương Nghi được rồi. Quan nhân phải chăng là thượng khanh đại nhân gì gì đó nổi tiếng lẫy lừng của nước Ngụy không?”
Nghe thấy lời mỉa mai, lại nghĩ đến tình cảnh hiện giờ của mình, Trần Chẩn bất giác nóng bừng mặt, song vẫn gật đầu nói: “Chính là tại hạ!”
Trương Nghi chậm rãi bước ra, hai tay chắp sau lưng, nghiêng đầu nhìn Trần Chẩn, lại đi mấy vòng quanh ông ta. Trần Chẩn đang khó chịu, thì Trương Nghi đột nhiên dừng lại trước mặt ông ta, gật đầu nói: “Nhìn bộ dạng này, có hơi giống. Nhưng Trần đại nhân không ở nước Ngụy làm việc, đến đây làm gì?”
Trần Chẩn ậm ừ một lát rồi đáp: “Tại hạ có việc sang nước Vệ, nhân tiện đến Quỷ Cốc chơi.”
“Ồ, thì ra là vậy!” Trương Nghi lùi liền hai bước, bộ dạng khoa trương, vòng tay đáp lễ. “Thảo dân là Trương Nghi người Hà Tây xin chào thượng khanh đại nhân nước Ngụy.”
Trần Chẩn lại vòng tay hành lễ: “Trần Chẩn xin chào Trương Tử, vinh hạnh, vinh hạnh!”
“Không dám, không cần khách sáo!” Trương Nghi chỉ xuống bãi cỏ. “Thượng khanh đại nhân, mời ngồi!”
Trần Chẩn nhìn bãi cỏ, lại ngẩng đầu nhìn ánh nắng chói chang, đang lưỡng lự thì thấy Trương Nghi đã khoanh chân ngồi xuống, nên cũng đành phải ngồi theo.
Trương Nghi hỏi: “Nghe nói thượng khanh đại nhân muốn tìm Tôn huynh, có việc gì lớn không?”
“Gặp Trương Tử cũng được!”
“Vậy hãy nói đi, thượng khanh đại nhân có việc gì?”
“Trương Tử phải chăng là sư huynh của Bàng Tử?”
“Ý đại nhân muốn nói Bàng Quyên?”
Trần Chẩn gật đầu lia lịa.
“Hắn là sư đệ của tại hạ!”
“Bàng Tử xuống núi, trận đầu tiên đánh bại quân Tề, trận thứ hai đánh bại quân Triệu, khiến khắp thiên hạ chấn động. Ngụy Vương bệ hạ vô cùng sủng ái Bàng Tử, nghe nói Bàng Tử từng tới núi Vân Mộng theo Quỷ Cốc tiên sinh học nghệ, nên đã phái tại hạ đến đây, thịnh tình muốn mời tiên sinh xuất sơn, bệ hạ sẽ dùng lễ quốc sư để đối đãi.”
Trương Nghi mỉm cười: “Tiên sinh có nhận lời thượng khanh chăng?”
“Tại hạ đến không đúng lúc, nghe tiên cô nói, mấy ngày trước tiên sinh đã đi vân du, tại hạ vô cùng tiếc nuối.”
Trương Nghi hiểu rõ, chắc chắn Ngọc Thiền ghi hận Trần Chẩn nên mới nói dối ông ta, liền toét miệng cười mà nói: “Quả là không đúng lúc! Bệ hạ của ngài đã có thịnh tình mời tiên sinh, vậy tại sao không để Bàng Quyên đến, mà lại khiến thượng khanh phải vất vả?”
Trần Chẩn đáp: “Trương Tử có điều không biết, Bàng Tử hiện đã là đại tướng quân, nghe nói bệ hạ còn muốn phong làm vạn hộ hầu, một ngày cũng không nỡ rời xa.”
Trương Nghi phá lên cười lớn.
“Trương Tử cười gì?”
Trương Nghi lại cười thêm mấy tiếng: “Ta cười tay Bàng Quyên đó, ha ha ha ha… Đại tướng quân? Vạn hộ hầu? Một ngày cũng không nỡ rời xa? Ha ha ha ha… Cái ông Ngụy Vương này thật nực cười!”
Nghe Trương Tử nói vậy, Trần Chẩn kinh ngạc. “Lẽ nào thiên hạ còn có người hơn được Bàng tướng quân?”
Trương Nghi thôi cười, chúi người về phía trước, hạ thấp giọng, nhấn nhá từng chữ: “Nói thực cho ông biết, ở trong Quỷ Cốc này, chỉ cần là vật sống, tất cả đều giỏi hơn Bàng Quyên mấy phần!”
Trần Chẩn há miệng trợn mắt, ngẩn ra một lúc: “Trương… Trương Tử, không… không… nói đùa đấy chứ?”
Trương Nghi hừ mũi một tiếng: “Ai có thời gian mà đùa với ông? Này thượng khanh đại nhân, những thứ mà Bàng Quyên học được, chẳng qua chỉ là một chút lông da của tiên sinh mà thôi. Công phu thực sự của tiên sinh, tất cả đều được truyền cho Tôn Tân!”
“Tôn Tân?” Trần Chẩn thoáng sững sờ. “Chính là Tôn tướng quân đến từ nước Vệ?”
“Đúng thế! Sao, thượng khanh có biết người này?”
Trần Chẩn đâu có dám nói ra chuyện năm xưa bắt nhốt Tôn Tân, ngần ngừ một lát, rồi lắc đầu quầy quậy.
Trương Nghi cười vang mà nói: “Nhìn ông cũng biết là không biết, hẳn là đại sư huynh đã tiết lộ rồi!” Dừng lại một chốc, lại nói tiếp. “Thế này vậy, để ta nói cho ông biết. Có biết võ thánh Tôn Vũ Tử thời Xuân Thu không? Tôn Tân chính là hậu duệ đích tôn của Tôn Vũ Tử, cùng ở trong Quỷ Cốc này học binh pháp với Bàng Quyên.”
“Ồ!” Trần Chẩn giả bộ kinh ngạc. “Tôn Tử đã có tài hoa như vậy, cớ sao không xuống núi cầu công danh?”
“Ồ…” Trương Nghi cười nói. “Tôn Tân không giống Bàng Quyên, mới học được một chút xíu đã vội vàng xuống núi khoe khoang!” Rồi chợt ngẩng đầu. “Mà này, thượng khanh đại nhân, chẳng phải ngài có lời muốn nhắn với Tôn Tân ư?”
Trần Chẩn cười nói: “Thực ra cũng không có gì, những điều cần nói, tại hạ cũng đã nói hết với Trương Tử rồi!”
Trương Nghi lập tức sầm mặt, nói: “Xem ra, thượng khanh đại nhân đến đây chẳng có việc gì quan trọng. Nếu đã không có việc quan trọng, Trương Nghi không tiếp nữa!” Rồi đứng phắt dậy, phủi mông đi luôn.
Trần Chẩn cũng đứng dậy, vội nói: “Trương Tử khoan đã, tại hạ có một chuyện muốn hỏi Trương Tử.”
Trương Nghi dừng bước: “Nói đi!”
“Có phải Trương Tử cũng ở đây học binh pháp?”
“Học binh pháp?” Trương Nghi lắc đầu. “Không không không, đánh đấm chém giết, thực là vô nghĩa với ta!”
“Vậy…” Trần Chẩn ngẩn người. “Xin hỏi Trương Tử học gì?”
Trương Nghi bước lại gần mấy bước, ghé sát tai Trần Chẩn nói nhỏ: “Thượng khanh đại nhân đã nghe nói tới đạo chưa? Tại hạ đang theo tiên sinh tu đạo!”
Lời vừa dứt, Trương Nghi chẳng thèm vái chào, lập tức quay người đi thẳng, không ngoảnh đầu lại.
Hành vi cổ quái của Trương Nghi khiến Trần Chẩn vô cùng kinh ngạc. Nhìn theo bóng Trương Nghi xa dần, Trần Chẩn còn đứng ngẩn ngơ một lúc nữa mới gãi đầu lẩm bẩm: “Quỷ Cốc sĩ tử, ta được lĩnh giáo rồi!”
Sau khi ra khỏi Quỷ Cốc, Trần Chẩn đứng tại ngã ba đường dưới núi Vân Mộng, nhìn qua ngó lại, không biết nên đi về đâu. Vốn lúc trước hẹn với Thích Quang sẽ đến gặp mặt ở Lạc Dương, nhưng tình thế thay đổi, nay đã không cần tới Lạc Dương nữa.
Cũng không thể đến nước Tề. Lần trước khi Tề Ngụy hội vương ở Từ Châu, là do ông ta móc nối bên trong, kết quả là hội vương không thành, còn gây ra một trường đại chiến. Tề Vương bại trận, cục tức trong lòng vẫn chưa có nơi giải toả, lúc này mà đến đó, khác nào tự lao đầu vào chỗ chết? Lại nói tới Hàn, Triệu, mấy năm nay Trần Chẩn cực lực cổ vũ Ngụy Hầu xưng vương, Hàn Hầu, Triệu Hầu từ lâu đã ghi hận ông ta, lúc này chắc chắn sẽ không chịu dung nạp. Không chịu dung nạp ông ta đâu chỉ có Hàn, Triệu, ngay cả nước Yên xa xôi cũng vẫn nhớ nằm lòng chuyện Mạnh Tân, huống hồ phu nhân nước Yên lại là công chúa Cơ Tuyết của Đại Chu, nếu gặp được Trần Chẩn, lại chẳng muốn ăn tươi nuốt sống?
Trần Chẩn nghĩ đi nghĩ lại, mãi vẫn không biết nên đi đâu. Đang lúc hoang mang, bỗng thấy trên con đường lớn tiến về Triều Ca xuất hiện một cỗ xe ngựa. Cỗ xe lóc cóc chạy đến, rồi dừng lại trước mặt Trần Chẩn. Rèm xe vén lên, sau cửa sổ hiện ra một đôi mắt già nua ngầu đục nhìn chằm chằm vào Trần Chẩn, một lúc sau, một chiếc miệng lớn nhành ra, bật lên tiếng cười hềnh hệch mà hỏi: “Người ở trên ngựa, phải chăng là đặc sứ đại nhân của Ngụy Vương bệ hạ?”
Trần Chẩn kinh ngạc, đưa mắt nhìn kỹ, nhưng không thể nhìn rõ trong xe là người nào, đành phải vòng tay nói: “Chính tại hạ! Tiên sinh là…”
Lời của Trần Chẩn vừa dứt, một cái đầu trọc lóc liền thò ra khỏi cửa sổ xe, lại cười hì hì: “Chức đặc sứ đại nhân to quá, đương nhiên không nhận ra lão hủ rồi!”
Nhìn thấy cái đầu trọc, lúc này Trần Chẩn mới nhận ra đó là Thuần Vu Khôn ở Tắc Hạ, lập tức mừng thầm, liền xuống ngựa, vòng tay hành lễ: “Vãn sinh Trần Chẩn xin chào Thuần Vu Tử!”
Thuần Vu Khôn cũng hạ rèm cửa sổ, từ trên xe bước xuống, đáp lễ mà nói: “Lão hủ xin chào đặc sứ đại nhân!”
Trần Chẩn cười gượng một tiếng, lắc đầu than thở: “Than ôi, đặc sứ đại nhân cái nỗi gì? Phượng hoàng thất thế phải thua gà rừng, tại hạ nay đã sa cơ, đừng nói là gà rừng, ngay cả gà đồng cũng không bằng nữa!”
Thuần Vu Khôn dường như đã biết tình cảnh của Trần Chẩn, cười hì hì mà nói: “Đặc sứ đại nhân chớ nói vậy, chỉ cần là phượng hoàng, dù có sa cơ, vẫn khác gà đồng!”
Trần Chẩn lại thở dài.
Thuần Vu Khôn lại cười hì hì hai tiếng, lời nói cũng thân mật hơn: “Lão hủ từ Nghiệp Thành đến Triều Ca, trên đường nhìn thấy cáo thị truy nã đặc sứ đại nhân. Lão hủ rất muốn biết, đặc sứ đại nhân vì chuyện gì mà nên nông nỗi này?”
“Than ôi, một lời khó hết!”
Thuần Vu Khôn cười nói: “Vậy thì hãy nói mười lời trăm lời, dù sao thì lão hủ cũng đang rỗi rãi!” Khẽ đảo mắt một vòng, rồi chỉ tay về phía một gốc cây lớn gần đó. “Trong xe lão hủ có một vò rượu, mấy cân thịt, chúng ta hãy tuỳ nghi mà xuề xoà thôi vậy, đến gốc cây kia uống vài chén rượu, tạm giúp đặc sứ đại nhân xua cơn sợ hãi, thế nào?”
Trần Chẩn tới Quỷ Cốc nhưng không được mời cơm, lại đi suốt nửa ngày đường, bụng đã đói meo, chỉ vì trong lòng lo lắng nên nhất thời không để tâm đến, nghe Thuần Vu Khôn nói vậy, liền đáp ngay: “Thuần Vu Tử có thịnh tình này, vãn sinh cung kính chi bằng tuân lệnh!”
Thuần Vu Khôn lấy từ trên xe xuống một hũ rượu, đưa cho Trần Chẩn ôm lấy, còn mình thì xách theo hai cái chén đồng và mấy túi thịt bò, quay đầu dặn phu xe tháo ngựa cho đi ăn cỏ.
Thuần Vu Khôn, Trần Chẩn đi tới gốc cây lớn cách đó không xa, ngồi khoanh chân dưới bóng cây. Trần Chẩn rót đầy hai chén, Thuần Vu Khôn rút thanh bội đao giắt bên hông ra, cắt thịt bò thành từng miếng nhỏ, đưa cho Trần Chẩn một miếng, mình cũng cầm một miếng đưa lên miệng, vừa nhai vừa nói: “Nói đi! Nửa ngày hôm nay, cái tai của lão hủ đây sẽ giao cho thượng khanh đại nhân!”
Trần Chẩn ăn mấy miếng thịt bò, uống liền mấy chén rượu, sau đó mới bắt đầu mở miệng, kể lại đầu đuôi mọi chuyện, từ việc trước đây kết oán với Bàng Quyên thế nào, rồi bị hắn hãm hại mà phải bỏ trốn ra sao. Đương nhiên, tất cả những tình tiết trong mối ân oán giữa Trần, Bàng, qua miệng lưỡi của Trần Chẩn đã được uốn nắn lại một lượt.
Thuần Vu Khôn dỏng tai lắng nghe, gật gù mà nói: “Xem ra, lần này thượng khanh đã gặp đối thủ rồi!”
Trần Chẩn than thở: “Than ôi, tên này chẳng qua chỉ là một kẻ đầu đường xó chợ, không ngờ hắn lại có thể thành công được như hôm nay, chưa nói đến một trận thành danh, mà bệ hạ còn nhất nhất nghe theo lời hắn, quên bẵng mọi công lao khổ cực suốt bao năm của vãn sinh. Bàng Quyên được thế, đã kết bè kết đảng cùng Chu Uy, Bạch Hổ, dùng việc công báo thù riêng, hãm hại vãn sinh. Vãn sinh một mình khó địch sáu tay, cho dù có ngàn cái miệng cũng chẳng thể giải thích rõ ràng!”
Thuần Vu Khôn nghe xong, cười hì hì mà nói: “Giang sơn lớp lớp hiền tài, mỗi người lừng lẫy chỉ vài ba năm. Thượng khanh đại nhân, ngài đã nổi danh ở nước Ngụy quá năm năm, lẽ nào vẫn chưa thấy đủ ư?”
Trần Chẩn cười gằn một tiếng: “Thuần Vu Tử thật biết nói đùa. Cái gì mà nổi danh? Vãn sinh ở nước Ngụy chẳng qua cũng chỉ là một lão nô. Mấy năm trước, đại quyền trong triều đình hoàn toàn nằm trong tay Bạch Khuê, khó khăn lắm mới loại được Bạch Khuê thì lại gặp phải Huệ Thi. Than ôi, nỗi khổ đắng trong lòng vãn sinh, chỉ có vãn sinh mới hiểu!”
Trần Chẩn càng nói càng đau lòng, nước mắt đầm đìa chảy xuống. Sụt sùi một lúc, Trần Chẩn đưa tay áo lau nước mắt, ngẩng đầu nhìn Thuần Vu Khôn, thở dài: “Than ôi, nghĩ tới Trần Chẩn ta, lúc nào cũng e dè thận trọng, lúc nào cũng nỗ lực cầu tiến, chỉ một lòng muốn lập công cho nước Ngụy. Mười mấy năm cũng chẳng khác một ngày, một lòng hầu hạ bệ hạ, không ngờ chỉ một chút sơ sẩy, đã bị tiểu nhân hãm hại. Bệ hạ biết rõ vãn sinh bị ám toán, nhưng lại chẳng hề niệm chút tình xưa, thực khiến người ta đau lòng!”
Thuần Vu Khôn không những không tỏ vẻ thông cảm, mà còn cười lên mấy tiếng: “Nay thượng khanh có thể nhìn rõ, cũng coi như chưa muộn. Đời người phù hoa, cũng chỉ vì công danh lợi lộc, ăn uống hưởng lạc, suốt ngày bận rộn, mấy chục năm chớp mắt trôi qua, cho dù có là ai chăng nữa, cuối cùng cũng thành cát bụi. Không giấu thượng khanh, Thuần Vu Khôn đời này không chỉ phò tá một nước, cũng chẳng tôn một quân vương, bởi vì đã nhìn rõ điều này.”
“Vãn sinh xin Thuần Vu Tử chỉ giáo!”
“Người ta nói, thỏ khôn đào ba hang, chim khôn xây ba tổ, gái khôn gả ba nhà, sĩ khôn chạy ba nơi. Các sĩ tử tài giỏi như chúng ta đây, phải giống như bà mối trong thôn xóm, nhà phía đông cần thì chạy sang phía đông, nhà phía tây cần lại chạy sang phía tây, sá gì những thứ vô nghĩa như trung quân ái quốc, chỉ cần có ăn có uống, được vui chơi hưởng lạc, sống tiêu diêu tự tại là được.”
“Thuần Vu Tử nói chí phải. Có điều Bàng Quyên sát hại tính mạng cả nhà vãn sinh, thù này không thể không báo, xin Thuần Vu Tử hãy ra tay giúp đỡ!”
“Giúp ông?” Thuần Vu Khôn phì cười một tiếng. “Lão hủ đây sức trói gà không chặt, giúp ông thế nào?”
Trần Chẩn hỏi: “Xin hỏi Thuần Vu Tử, lần này đến cửa Túc Tư, phải chăng là muốn sang nước Ngụy?”
Thuần Vu Khôn gật đầu nói: “Đúng thế! Lần trước đến Chu, lão hủ đây đã vô tình giúp lão Yên Công tác thành hỷ sự, lão Yên Công niệm tình lão hủ vất vả, nên đã giữ ta ở lại đó suốt hai năm, ngày ngày ăn uống vui chơi, đêm đêm hát ca đàn sáo, thật là tiêu diêu tự tại. Vào trung thu năm ngoái, ta thấy đã hưởng thụ đủ, liền từ biệt Yên Công sang nước Triệu, lại ở Hàm Đan một năm, sau đó cũng thấy chán, đang định đi thì gặp Phụng Dương Quân bại trận ở Triều Ca quay về. Triệu Hầu khiếp sợ Ngụy Vương báo thù, nên đã mời lão hủ đến, muốn lão hủ giúp ông ta tới Đại Lương một chuyến, nói vài lời hay ý đẹp với Ngụy Huệ Vương. Ta đã nhiều năm không đến nước Ngụy, lại nghe nói Huệ Thi đang làm tướng quốc ở đó, rất muốn biện luận danh thực với ông ta, thế nên đã đồng ý với Triệu Hầu, giúp ông ta đi một chuyến, không ngờ lại gặp thượng khanh ở đây.”
Trần Chẩn nghe đến đây, vội vàng đặt chén rượu xuống, chuyển từ ngồi sang quỳ, khấu đầu liền ba cái trước Thuần Vu Khôn.
Thuần Vu Khôn kinh ngạc hỏi: “Thượng khanh đại nhân, thế này… thế này là thế nào?”
Trần Chẩn bái xong, vẫn gục đầu dưới đất, miệng nói: “Vãn sinh cầu xin Thuần Vu Tử hãy ra tay trợ giúp!”
Thuần Vu Khôn cười ha hả mà nói: “Giúp thì có gì khó đâu! Song lão hủ chỉ là một thảo dân, không nhận nổi đại lễ, thượng khanh đại nhân mau đứng dậy!”
Trần Chẩn đứng lên, rồi lại ngồi xuống, rót đầy một chén rượu, hai tay đưa lên cho Thuần Vu Khôn: “Vãn sinh đa tạ Thuần Vu Tử!”
Thuần Vu Khôn lại cười lớn: “Nhờ lão hủ giúp đỡ, lại lấy rượu của lão hủ để đa tạ, thượng khanh cũng khôn ngoan thật đấy!”
Trần Chẩn nghe thấy nói vậy, vội vàng lấy từ trong áo ra một miếng ngọc bích màu trắng ngà, cẩn thận tháo ra, hai tay đưa lên trước mặt Thuần Vu Khôn: “Vãn sinh lên đường gấp gáp, trên người chẳng còn vật gì đáng giá, chỉ có miếng ngọc bích tuỳ thân này, mặc dù không quý báu nhưng cũng đáng trăm lượng vàng. Vãn sinh xin tặng lại cho Thuần Vu Tử, mong tiên sinh vui vẻ nhận lấy!”
Thuần Vu Khôn nhận lấy ngọc bích ngắm nghía kĩ lưỡng, cười nói: “Đúng là ngọc tốt, có thể đổi lấy một nụ cười của mỹ nhân. Nghe nói trong kho của thượng khanh có vạn lượng vàng, châu báu vô số, quả là danh bất hư truyền!”
Trần Chẩn thở dài: “Than ôi, hiện giờ vãn sinh đã sa chân đến bước này, còn nói gì đến vàng bạc châu báu?”
Thuần Vu Khôn đặt miếng ngọc bích vào trong tay, vờn nghịch một lúc, rồi ngẩng lên hỏi: “Nói đi, ông muốn lão hủ giúp thế nào? Có phải muốn Ngụy Vương giết chết Bàng Quyên không?”
“Vãn sinh không dám! Tuy nhiên, vãn sinh biết có một người có thể chế ngự được Bàng Quyên. Vãn sinh muốn nhờ vào cái miệng của Thuần Vu Tử để tiến cử người này lên Ngụy Vương.”
Thuần Vu Khôn thoáng kinh ngạc: “Ồ, người nào có thể chế ngự được Bàng Quyên?”
“Là sư huynh của hắn, Tôn Tân!”
“Hiện Tôn Tân đang ở đâu?”
Trần Chẩn chỉ tay về đỉnh núi ở cách đó không xa: “Chính tại vùng rừng sâu núi thẳm kia. Không giấu Thuần Vu Tử, vãn sinh vừa mới từ Quỷ Cốc trở ra.”
Thuần Vu Khôn nhìn về phía đỉnh núi, khẽ than: “Than ôi, Quỷ Cốc Tử đúng là một lão quái vật! Với bản lĩnh của ông ta, đi đến đâu mà chẳng được no bụng. Nhưng ông ta lại không chịu, nhất quyết ở trong Quỷ Cốc chịu khổ!” Rồi ngẩng nhìn Trần Chẩn. “Nhưng, lão hủ thực không hiểu. Nếu Tôn Tân có thể chế ngự được Bàng Quyên, vậy tại sao thượng khanh không tiến cử người này với người Tần hoặc người Tề, lấy Tần, Tề để chế Ngụy, mà lại tiến cử hắn với Ngụy Vương?”
Trần Chẩn nhếch mép cười nham hiểm: “Thuần Vu Tử có điều không biết, nếu vãn sinh tiến cử Tôn Tân với Tần Công hoặc Tề Vương, không những không thể chế ngự được Bàng Quyên, mà ngược lại còn thành toàn cho hắn.”
Thuần Vu Khôn kinh ngạc: “Ồ, sao lại nói vậy?”
“Thuần Vu Tử thử nghĩ xem, cho dù Tôn Tân đến Tần hay sang Tề, chắc chắn sẽ được Tần Công, Tề Vương trọng dụng. Tần, Tề nếu có được Tôn Tân, chắc chắn sẽ xâm chiếm nước Ngụy. Tần, Tề xâm chiếm Ngụy, Ngụy Vương chẳng phải sẽ càng không thể thiếu Bàng Quyên, càng trọng dụng hắn ư? Hai nước đại chiến, Bàng Quyên nếu thắng Tôn Tân, công lao sẽ càng hiển hách. Nếu như chết trận, cũng là tuẫn thân vì nước, lưu danh thiên cổ.”
Thuần Vu Khôn trầm ngâm một lúc, gật gù: “Lời thượng khanh rất có lý!”
“Không giấu Thuần Vu Tử, vãn sinh đã theo Ngụy Vương nhiều năm, hiểu rõ tính cách của Ngụy Vương. Ngụy Vương mê muội vô năng, không biết nhìn hiền tài, nhưng lại ngang tàng độc đoán. Có hôn quân này, cho dù hiền tài có nhiều đến đâu cũng chẳng thể hết lòng vì nước. Tôn Tân tài nghệ vượt xa Bàng Quyên, hai người lại cùng học binh pháp với nhau, làm tướng cùng triều, chắc chắn sẽ có cạnh tranh. Hai hổ giao tranh, kẻ mạnh sẽ thắng, nếu không ngoài dự liệu, Bàng Quyên chắc chắn sẽ bị Tôn Tân lấn át. Ngày hôm nay của vãn sinh cũng chính là ngày mai của Bàng Quyên. Chỉ cần đợi đến lúc đó, vãn sinh sẽ đi tìm Bàng Quyên báo thù, xem hắn còn chạy được đi đâu?”
Thuần Vu Khôn vuốt ve miếng ngọc bích, cười ha hả mà nói: “Nghe diệu toán của thượng khanh, thật xứng đáng là kỳ phùng địch thủ với Bàng Quyên! Không giấu thượng khanh, nếu muốn lão hủ giết chết Bàng Quyên, lão hủ sẽ lập tức trả lại miếng ngọc bích cho ông. Còn nếu chỉ là muốn tiến cử Tôn Tân với Ngụy Vương, thì lão hủ sẽ nhận!”
Thuần Vu Khôn nói xong, chậm rãi cất miếng ngọc bích vào trong tay áo.
Trần Chẩn vòng tay nói: “Vãn sinh đa ta đại ơn của Thuần Vu Tử! Sau khi sự việc thành công, vãn sinh sẽ lại hậu tạ!”
Thuần Vu Khôn cười nói: “Chút việc vặt vãnh, nhiều nhất cũng chỉ đáng giá miếng ngọc bích này mà thôi. Nếu thượng khanh lại hậu tạ thêm, lại là thái quá! Lão hủ đây tuy một đời tham tiền hám sắc, lại thích rượu ngon, nhưng không có công thì không nhận lộc, làm được việc thế nào thì sẽ nhận lễ thế ấy, đó là quy tắc, chắc hẳn thượng khanh cũng rõ.”
Trần Chẩn rót đầy một chén rượu, đưa cho Thuần Vu Khôn: “Đã khiến tiên sinh phải vất vả. Chén rượu này, coi như vãn sinh kính ngài!”
“Rượu này ta sẽ uống!” Thuần Vu Khôn nói xong, lập tức nhận lấy chén rượu đưa lên miệng, một hơi uống cạn. “Nhân tiện xin hỏi một câu, bước tiếp theo, thượng khanh có dự định gì?”
Trần Chẩn thở dài: “Than ôi, không giấu tiên sinh, vãn sinh đã tần ngần rất lâu ở ngã ba này, nghĩ đi nghĩ lại mà vẫn chưa biết nên đi đâu về đầu. Xin được tiên sinh chỉ giáo!”
Thuần Vu Khôn hỏi: “Thượng khanh sao không đến Hàm Dương nương nhờ Tần Công?”
Trần Chẩn lắc đầu nói: “Điều này vãn sinh cũng đã nghĩ tới. Có điều Tần Công đã dùng Công Tôn Diễn làm đại lương tạo, vãn sinh và người này từng có hiềm khích, nếu đến đất Tần, há chẳng phải sẽ cho hắn cơ hội trút giận?”
Thuần Vu Khôn lại cười một tiếng, khẽ lắc đầu: “Thượng khanh mới chỉ biết một mà thôi. Theo lão hủ, chính nhờ Công Tôn Diễn mà thượng khanh sẽ được Tần Công trọng dụng.”
Trần Chẩn ngơ ngác không hiểu: “Vãn sinh ngu muội, mong tiên sinh nói rõ!”
“Với tư chất của thượng khanh, cần gì lão hủ phải nói nhiều? Thượng khanh chỉ cần tới đó, lão hủ đảm bảo ngài sẽ được vinh hoa phú quý.”
Trần Chẩn hiểu ra đôi chút, vòng tay vái Thuần Vu Khôn một vái thật sâu: “Vãn sinh đa tạ tiên sinh chỉ điểm!”
Thuần Vu Khôn cười nói: “Chỉ điểm lần này lại cần được đa tạ bằng đại lễ. Nhưng tạm thời cứ để đại lễ này lại, đợi sau khi thượng khanh thành công ở Tần, ta lại sẽ đến gõ cửa.”
“Tiên sinh cười chê rồi. Nếu vãn sinh có thể trụ vững ở Tần, nhất định sẽ cho người đến mời tiên sinh!”
Thuần Vu Khôn rót đầy một chén rượu, đưa cho Trần Chẩn, lại rót đầy chén của mình, nâng lên: “Tốt lắm! Chúc thượng khanh thành công trên đất Tần, hãy cạn chén này!”
Hai người cùng cạn, Trần Chẩn đặt chén rượu xuống, mặt nhìn Thuần Vu Khôn: “Vãn sinh còn có một chuyện muốn nhờ cậy!”
“Xin cứ nói!”
“Sau khi tiên sinh đến Đại Lương, nếu như gặp được Bàng Quyên, hãy nhắn cho hắn một câu: ‘Sớm tối nếu có hắt hơi, tức Trần Chẩn đang nhớ đến ngươi’!”
Thuần Vu Khôn nghe xong, cười lớn mà nói: “Ừm, câu này nghe khá hay, ta sẽ nhắn lại giúp ông!”
Trần Chẩn vòng tay nói: “Vãn sinh đa tạ tiên sinh!”
***
Trần Chẩn đi vòng qua nước Triệu, lại đi qua vùng Thượng Đảng của nước Hàn, tiếp tục men theo sông Phần Thuỷ vượt qua Hà Thuỷ tiến vào Hà Tây, lại vượt qua Lạc Thuỷ. Suốt dọc đường dãi nắng dầm mưa, nếm trải muôn mùi cực khổ, sau hai tháng ròng rã cũng đến được Lạc Dương, tìm một quán trọ trên phố Sĩ Tử để nghỉ lại.
Trần Chẩn vừa đến Hàm Dương, thượng đại phu Sư Lý Tật đã biết sự tình, vội vàng đến phủ đại lương tạo để bẩm báo với Công Tôn Diễn: “Đại lương tạo, Trần Chẩn đã đến Hàm Dương rồi!”
Công Tôn Diễn thoáng kinh ngạc: “Ồ! Đến lúc nào?”
“Tối qua, hiện đang ở phố Sĩ Tử. Đại lương tạo, ngày trước để đẩy ngài đến chỗ chết, Trần Chẩn đã nhẫn tâm gây ra vụ huyết án diệt môn. Hôm nay hắn tự tìm đến đây, không biết đại lương tạo có dự định gì chăng?”
Công Tôn Diễn thở dài: “Than ôi, kẻ hại người, cuối cùng cũng tự hại mình. Kẻ này khi xuống tay, hẳn cũng không ngờ sẽ có ngày hôm nay.”
“Lời của đại lương tạo rất đúng!” Sư Lý Tật đáp. “Đây gọi là gieo gió ắt gặp bão. Việc này không cần đại lương tạo bận tâm, ngài chỉ cần gật đầu một cái, hạ quan sẽ tự biết cách xử trí.”
Công Tôn Diễn trầm ngâm suy nghĩ, rồi lắc đầu nói: “Chó rơi xuống nước, cần gì phải đánh? Hơn nữa, Trần Chẩn cũng được coi là danh sĩ trong liệt quốc, xử trí thế nào nên do chúa thượng quyết định, chúng ta thân là thần tử, há có thể lấy việc công báo thù tư?”
Sư Lý Tật thán phục: “Đại lương tạo có tấm lòng này, Sư Lý Tật bái phục!”
Mấy ngày sau đó, Trần Chẩn mang bán rẻ một viên dạ minh châu, được trăm lượng vàng, mua một cỗ xe kiệu xa hoa, thân mặc quần áo sĩ tử, đánh xe đến phủ của Doanh Kiền.
Trần Chẩn dâng lên hậu lễ, múa lưỡi dẻo quẹo, chẳng mấy chốc đã khiến Doanh Kiền vốn không giỏi đối đáp gật đầu lia lịa, lập tức đồng ý dẫn ông ta tới yết kiến quân chủ.
Doanh Kiền dẫn Trần Chẩn vào trong cung thành, nội thần bẩm báo xong, trở ra nói quân chủ mời đến ngự thư phòng yết kiến. Hai người còn chưa đến nơi, Huệ Văn Công đã nghe thấy tiếng mà ra khỏi cửa, tươi cười bước xuống bậc thềm.
Trần Chẩn không thể ngờ rằng mình lại được đối đãi trọng hậu đến vậy, vội vàng quỳ xuống, dập đầu nói: “Sĩ tử nước Ngụy Trần Chẩn khấu kiến chúa thượng!”
Huệ Văn Công bước lên một bước, đích thân đỡ ông ta dậy: “Trần ái khanh mau bình thân! Quả nhân nghe tin thì đã muộn, không thể nghênh đón từ xa, mong Trần ái khanh chớ nên để bụng!”
Trần Chẩn trong lòng chua xót, nước mắt lăn dài, nghẹn ngào nói: “Chúa thượng, Trần Chẩn ở Ngụy nhiều năm, cúc cung tận tụy hầu hạ Ngụy Vương, nhưng chưa bao giờ nhận được ân huệ nhường này. Hôm nay đến Tần, Trần Chẩn chưa lập được một chút công lao, chúa thượng đã đích thân xuống thềm đón tiếp. Nước Tần có hiền quân như vậy, sao lại không yên trị cho được!”
Huệ Văn Công nắm tay Trần Chẩn, mỉm cười nói: “Trần ái khanh là bậc hiền tài trong thiên hạ, quả nhân muốn mà không có được. Nay ái khanh đến Tần, quả nhân cho dù có phải đi xa ba mươi dặm nghênh tiếp, cũng chẳng có gì quá đáng!”
Trần Chẩn nước mắt ròng ròng, lại nghẹn ngào: “Chúa thượng…”
Hôm nay là ngày Tư Mã Thác trực trong cung. Đến lúc chập tối, Tư Mã Thác mới được xuất cung, lập tức đánh xe tiến thẳng đến phủ thượng đại phu, kể lại toàn bộ sự việc Trần Chẩn yết kiến Tần Công cho Sư Lý Tật nghe.
“Gì kia?” Sư Lý Tật kinh ngạc. “Chúa thượng đã phong Trần Chẩn làm thượng khanh?”
“Đúng vậy!” Tư Mã Thác gật đầu. “Trần Chẩn cầu kiến thái phó, được thái phó tiến cử, trực tiếp yết kiến chúa thượng. Chúa thượng biết Trần Chẩn đến, không những xuống thềm nghênh đón, mà còn trò chuyện thân mật với ông ta suốt hai canh giờ, lập tức phong làm thượng khanh, ngoài ra còn ban cho một toà trạch viện, ba mươi nô tỳ, hai trăm lượng vàng, năm mươi súc lụa.”
“Ồ…” Sư Lý Tật gãi đầu. “Sao lại thế được nhỉ?”
Tư Mã Thác giậm chân nói: “Như thế chẳng phải chúa thượng… đã lú lẫn rồi ư? Bao nhiêu tướng sĩ liều mạng sa trường, muốn có hai trăm lượng vàng mà còn không được, thế mà tên Trần Chẩn… Này, Sư Lý huynh, tại hạ nghĩ mãi mà không tài nào hiểu nổi!”
“Tư Mã huynh nói đúng lắm!” Sư Lý Tật nói. “Trần Chẩn vốn là kẻ tiểu nhân bỉ ổi, được việc thì ít mà hỏng việc thì nhiều. Nước Ngụy suy bại như ngày hôm nay, tất cả đều do hắn gây ra, tại sao chúa thượng lại hồ đồ đến vậy?”
Lời Sư Lý Tật vừa dứt, sau lưng đã có tiếng nói vang lên: “Là ai đang nói quả nhân hồ đồ vậy?”
Hai người giật nảy mình, quay đầu lại, nhìn thấy Huệ Văn Công, vội vàng quỳ mọp xuống đất: “Chúa thượng thứ tội!”
Huệ Văn Công đưa tay, mỗi tay đỡ một người đứng dậy: “Mau bình thân! Mau bình thân! Hai vị ái khanh có tội gì?”
Nhưng Sư Lý Tật không chịu đứng dậy, tiếp tục dập đầu: “Vi thần nói lời vô lễ sau lưng chúa thượng, tội đáng muôn chết!”
Huệ Văn Công cười nói: “Khi tiên quân còn tại thế, nghe thấy vậy sẽ rất vui mừng. Mặc dù quả nhân không sánh được với tiên quân, nhưng cũng không đến nỗi không chịu nổi mấy lời đàm tiếu sau lưng. Thượng đại phu, mau bình thân!”
Sư Lý Tật lạy tạ: “Đa tạ chúa thượng không trách tội!”
Huệ Văn Công bước vào, ngồi xuống vị trí chủ, bảo Sư Lý Tật, Tư Mã Thác ngồi hai bên, cười với hai người mà nói: “Tuy nhiên, trong lòng có gì, tốt nhất nên nói thẳng ra. Thượng đại phu hãy nói xem, quả nhân hồ đồ ở chỗ nào?”
Sư Lý Tật vòng tay nói: “Chúa thượng thường nói, nhân tài là cái gốc hưng quốc. Trần Chẩn không phải nhân tài, mà là hạng gian tài, chỉ giỏi mưu mô xảo trá, đố kỵ hiền tài, nhẫn tâm độc ác, ở trong nước thì nước gặp hoạ, ở trong nhà thì nhà gặp hoạ, là kẻ ai ai cũng căm ghét. Ai ngờ không những chúa thượng không trách tội, mà còn ban trọng thưởng. Vi thần lo lắng, vì chuyện này mà hiền tài trong thiên hạ sẽ nguội lòng!”
“Sư Lý ái khanh!” Huệ Văn Công cười vang mà nói. “Quả nhân quả thực có nói nhân tài là cái gốc hưng quốc. Thế nào là nhân tài? Nhân tài bao gồm hiền tài, cũng bao gồm cả gian tài. Hiền tài cũng tốt, gian tài cũng được, tất cả đều là nhân tài, đều có chỗ cần dùng, điều quan trọng là người nào dùng, dùng lúc nào, dùng thế nào. Hạng tiểu nhân như Trần Chẩn, đố kỵ hiền tài, nhẫn tâm độc ác, quả thực lòng dạ vô cùng nham hiểm, mặc dù quả nhân không thể dùng hắn để làm được việc, nhưng có thể dùng hắn để làm hỏng việc.”
Sư Lý Tật ngơ ngác không hiểu, hỏi lại: “Hỏng việc?”
“Hỏng việc có gì là không được?” Huệ Văn Công nhìn hai người. “Có được thiên hạ không phải việc dễ dàng, có lúc cần đến tài ngay, có lúc lại cần đến tài gian. Có lúc cần được việc, có lúc lại cần hỏng việc.”
“Vi thần vẫn không hiểu!”
“Này ái khanh!” Huệ Văn Công thu lại nụ cười. “Là không hiểu thực hay giả bộ hồ đồ? Quả nhân hỏi khanh, hiện giờ kẻ địch lớn nhất của Tần là nước nào?”
Sư Lý Tật lập tức đáp lời: “Nước Ngụy!”
“Người nào nắm quyền nước Ngụy?”
“Ngụy Anh!”
“Người nào hiểu Ngụy Anh nhất?”
Sư Lý Tật vỗ trán, lập tức đứng dậy, lạy liền mấy lạy: “Chúa thượng thánh minh, vi thần tâm phục khẩu phục!”
“Tốt lắm!” Huệ Văn Công bật cười. “Một người phục rồi, còn một người nữa?” Quay sang Tư Mã Thác. “Tư Mã tướng quân, chẳng phải khanh nói nghĩ mãi vẫn không thể hiểu nổi hay sao? Quả nhân hỏi khanh, lần trước bốn nước đánh Ngụy, nhưng nước Ngụy lại thoát nạn trong gang tấc, là công của ai?”
Tư Mã Thác đáp: “Bàng Quyên!”
“Hãy quan sát hai trận chiến Hoàng Trì, Triều Ca, Bàng Quyên dùng ba vạn bại binh, trong vòng năm ngày hành quân ba trăm dặm, giết năm vạn quân địch, bắt sống hai vạn quân, đánh bại đại quân hai nước Tề, Triệu, bắt sống danh tướng thiên hạ Điền Kỵ, Tư Mã tướng quân có bằng được chăng?”
“Vi thần không bằng!”
“Trong số chư tướng của liệt quốc, có người nào bằng được chăng?”
Tư Mã Thác lắc đầu.
“Vậy thì đúng rồi! Bàng Quyên xuất thân áo vải bỗng dưng xuất hiện, chặn xe kiệu của Tề Công, phá hoại chuyện Tề Ngụy hội vương, đặt nước Ngụy vào chỗ chết sau đó cứu sống Ngụy. Kẻ có khí thế nhường này, có mưu lược nhường này, quần thần trong liệt quốc, có ai bằng được chăng?”
Tư Mã Thác lại lắc đầu.
“Điền Nhân Tề biết người này có tài, đã phong làm thượng khanh, nhưng Bàng Quyên lại từ chối, Tư Mã tướng quân có biết nguyên nhân không?”
“Vi thần không biết!”
“Vì Bàng Quyên có một kẻ thù, chính là Trần Chẩn. Trần Chẩn đã hại chết cha của Bàng Quyên, Bàng Quyên tru di cả nhà Trần Chẩn, hai người mỗi người thắng một ván, coi như đã đấu xong một hiệp. Quả nhân thu nhận Trần Chẩn, chính là muốn xem họ đấu tiếp hiệp sau.”
Tư Mã Thác bội phục: “Chúa thượng thần toán, vi thần khâm phục!”
Huệ Văn Công đưa mắt nhìn hai vị đại thần, gật đầu cười mà nói: “Phục rồi thì tốt. Ở Ngụy, ở Tề, chức thượng khanh là hiển hách, nhưng ở Tần thì chỉ là hư chức. Còn về vàng bạc, mỹ nữ, phủ đệ, nếu là đại hiền tài sẽ chẳng màng đến, nhưng kẻ tiểu nhân lại chạy theo như cò. Tiểu nhân thèm muốn, dám chết vì những thứ này, quả nhân có gì phải tiếc!”