Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 25
Cường Sở xâm lăng, Tôn - Bàng liên thủ
Võ đài tỷ thí, Trương Nghi đấu mưu

❊ ❊ ❊

Tháng chạp năm ấy, Sở Uy Vương tin theo lời nói của thượng trụ quốc Chiêu Dương, lấy lý do Tống Công Yển bất kính trời đất (lý do phạt Tống sáu năm về trước là Tống Công Yển soán ngôi huynh trưởng), triệu tập các quan chấp khuê, trụ quốc đại nhân và các nguyên lão trong vương thân đại tộc như họ Cảnh, họ Khuất, họ Chiêu, họ Đấu, họ Hoàng, họ Hạng, họ Vĩ vào triều bàn chuyện phạt Tống. Lệnh doãn Cảnh Xá kiên quyết phản đối, song Uy Vương khăng khăng ý mình, lập tức ban chiếu, phong Chiêu Dương làm chủ tướng, chỉ định quận thú Nam Dương Cảnh Hợp làm phó tướng, thống lĩnh mười vạn binh phạt Tống.

Cảnh Hợp là con trai cả của Cảnh Xá, từ nhỏ đã yêu thích việc binh, uy dũng gan dạ khác thường, nhiều năm trấn giữ vùng trọng địa Phương Thành của Sở, là một trong số ít những dũng tướng của Sở. Lần này về Sính Đô thăm cha, không ngờ lại được phong làm phó tướng, tấn tước lên trụ quốc, Cảnh Hợp vô cùng đắc ý, vào ngày xuất chinh, toàn thân giáp trụ xênh xang, đi tới phủ lệnh doãn bái biệt Cảnh Xá.

Cảnh Xá lại không hề tỏ vẻ vui mừng. Khi Cảnh Hợp tới, Cảnh Xá đang ngồi trước bàn, mặt tái xanh, đưa đôi mắt già nua nhìn trân trối vào Cảnh Hợp đang quỳ trước mặt, ánh nhìn thảm thiết, toàn thân bất động, tựa như cái xác không hồn.

Cảnh Hợp sửng sốt hỏi: “Cha, cha… làm sao vậy?”

Cảnh Xá vẫn nhìn sững vào Cảnh Hợp.

Một lúc sau, Cảnh Xá mới cử động, hai tay run run nâng chén rượu trên bàn: “Hợp Nhi, lại đây, chén rượu này coi như lời vĩnh biệt của cha với con!”

“Vĩnh biệt?” Cảnh Hợp ngơ ngác. “Cha, ý cha là…”

“Hợp Nhi,” Cảnh Xá chậm rãi nói, “cha có dự cảm rằng, lần này phạt Tống, lành ít dữ nhiều. Hôm nay xuất chinh, e rằng hai cha con ta… không còn ngày gặp lại!” Nói tới đây, nước mắt giàn giụa.

Con trai ra trận, cha lại nói những lời không may mắn nhường này, Cảnh Hợp kinh ngạc đến sững sờ, hồi lâu mới run giọng hỏi: “Vì sao cha lại nói vậy?”

Cảnh Xá khẩn thiết dặn dò: “Hưng binh bất nghĩa, vô cớ phạt Tống, chưa chiến đã tự thấy đuối lý! Nếu cha đoán không lầm, Tống ắt sẽ cầu xin Ngụy cứu viện, Ngụy ắt sẽ phái Bàng Quyên giúp Tống. Nhìn vào hai trận Hoàng Trì, Triều Ca, với tài dụng binh của Bàng Quyên, con và Chiêu Dương tuyệt không phải là đối thủ!”

Cảnh Hợp liền phản bác: “Cha đã đánh giá Bàng Quyên quá cao rồi! Trong trận Hoàng Trì, Bàng Quyên thắng là nhờ may mắn. Còn trong trận Triều Ca, Bàng Quyên thắng là nhờ đột kích. Theo như con thấy, Bàng Quyên cũng chẳng phải là kẻ ba đầu sáu tay, chỉ cần thận trọng ứng phó, hẳn là hắn…”

Cảnh Xá trong lòng trĩu nặng, thở dài não nề: “Hợp Nhi, cha chỉ có thể nói được đến vậy, tin hay không, con hãy tự quyết định!” Dừng lại một lát, lại lắc đầu than thở. “Già rồi, ta đã già thật rồi!”

Từ xa vẳng lại tiếng trống điểm binh của Chiêu Dương.

Cảnh Hợp ngần ngừ một lát, rồi khấu đầu nói: “Hợp Nhi tạ ơn cha đã nhắc nhở! Cha ở trên, xin nhận của đứa con bất hiếu này một lạy!”

Cảnh Hợp lạy liền ba lạy, từ từ nâng chén rượu lên, một hơi uống cạn, rồi đứng dậy lui ra.

Cảnh Hợp ra khỏi cửa phòng, đang định bước đi, chợt nghe tiếng Cảnh Xá gọi vọng ra: “Hợp Nhi!”

Cảnh Hợp dừng chân, quay trở lại, nhìn Cảnh Xá.

“Cha muốn nói thêm một câu,” Cảnh Xá chậm rãi dặn dò, “họ Chiêu chọn con làm phó tướng, chưa hẳn đã là ý tốt, con nên thận trọng là hơn!”

“Hợp Nhi biết rồi!” Cảnh Hợp gật đầu, lại lạy cha ba lạy, rồi quay người sải bước mà đi.

Chiêu Dương, Cảnh Hợp điểm xong năm vạn binh, bèn rời Sính Đô, lặng lẽ tiến lên phía bắc, men theo Hoài Thuỷ vòng sang phía đông, tiếp tục đi qua Thọ Xuân, Hạ Sái lên phía bắc, hợp quân với quân đồn trú từ các nơi Thọ Xuân, Hạ Sái, Hạng Thành theo mệnh mà đến, được mười vạn binh, thẳng tiến tới Tuy Thuỷ.

Cảnh Hợp và con trai cả Cảnh Thúy đang dẫn tướng sĩ tả quân vượt qua biên giới, áp sát tới ải Phù Ly nước Tống, đột nhiên nhận được lệnh của Chiêu Dương, yêu cầu hạ trại tại đây, còn Cảnh Hợp đến trung quân bàn việc.

Cảnh Hợp đi tới trung quân, nhìn thấy Chiêu Dương đang hạ lệnh cho các sứ thần tuỳ quân, sai phái họ mang hịch văn phạt Tống của Sở Vương chuyển tới liệt quốc Trung Nguyên.

Cảnh Hợp thầm bái phục Chiêu Dương. Hịch văn phạt Tống nấn ná tới lúc này mới phát, quả nhiên là một chiêu thâm hiểm. Bên này liệt quốc vừa nhận được hịch văn, bên kia quân Sở đã đánh sát chân thành, chưa biết chừng đã lấy được Bành Thành cũng nên.

Đợi đám sứ thần đi khỏi, Chiêu Dương nhìn sang Cảnh Hợp, nói thẳng vào đề: “Cảnh tướng quân, bản tướng cho gọi tướng quân tới, là muốn tướng quân thực thi một việc hệ trọng!”

Cảnh Hợp nghe mà chột dạ, song ngoài miệng vẫn nói: “Mạt tướng xin nghe lệnh!”

“Đêm nay vào giờ Nhân định, tướng quân dẫn theo ba vạn quân, men theo Thành Phụ tiến về phía tây, bí mật đóng trại ở trọng ải Hình Sơn. Nơi này cách Hình Sơn hơn năm trăm dặm, ngày ẩn phục, đêm hành quân, sau ba ngày sẽ tới.”

Nghe được lời này, Cảnh Hợp trong lòng phấn chấn, chỉ cần không phải đi cùng Chiêu Dương, thì có thể tránh được mối lo mà cha đã nhắc nhở. Hơn nữa, Uyển Thành, Phương Thành, Hình Sơn vốn là địa bàn của Cảnh Hợp, đi tới Hình Sơn, với Cảnh Hợp, khác nào thả hổ về rừng.

Nghĩ tới đây, Cảnh Hợp vội nói: “Mạt tướng nhận lệnh!”

Chiêu Dương thình lình hỏi lại: “Tướng quân có biết chuyến đi này có sứ mệnh gì chăng?”

Cảnh Hợp ngẫm nghĩ một lát, rồi ngẩng nhìn Chiêu Dương: “Đề phòng người Ngụy tập kích Hình Sơn, Phương Thành của ta!”

Chiêu Dương lắc đầu, sắc mặt nghiêm nghị: “Không phải phòng bị, mà là tấn công. Bản tướng đã dự tính, lần này phạt Tống, Bàng Quyên đương nhiên sẽ xuất quân chi viện. Đợi Bàng Quyên xuất quân khỏi Đại Lương, tướng quân chỉ cần làm một việc, đó là xua quân đánh thẳng tới Đại Lương. Bàng Quyên nhận được hung tin, ắt sẽ tức tốc trở về. Tướng quân do thám được tin này, lập tức rút khỏi Đại Lương, đi theo Tuy Thuỷ, tiến về phía đông, bố trận ở tuyến Tương Lăng, Thừa Khuông đợi hắn. Bản tướng cũng sẽ rút quân khỏi Bành Thành, hợp sức với tướng quân quyết chiến một trận với Bàng Quyên ở Tuy Dương, Tương Lăng, bắt sống Bàng Quyên!”

Sắp xếp thế này, quả nhiên là sách lược tuyệt diệu để hợp kích Bàng Quyên. Song đối với Cảnh Hợp, rõ ràng lại là tai hoạ trí mạng, bởi lẽ vài vạn người ngựa của Cảnh Hợp hầu như phải tác chiến hoàn toàn trong biên giới nước Ngụy. Cứ cho là có thể ngăn chặn được Bàng Quyên, vậy thì trước có Bàng Quyên, sau có quân Ngụy ở Đại Lương tới cứu viện, trước sau kẹp lại, nguy hiểm đều đổ dồn vào một mình Cảnh Hợp. Nhớ tới lời dặn của cha trước lúc lên đường, Cảnh Hợp khó tránh rùng mình kinh sợ. Song trong lúc này, lại không tiện nói gì thêm, chỉ sầm mặt mà đáp: “Mạt tướng tuân lệnh! Chỉ có điều… hành quân đi xa tập kích, mà mạt tướng chỉ có ba vạn quân…”

“Cảnh tướng quân yên tâm, bản tướng đã sắp xếp ổn thoả. Tám nghìn quân trấn thủ Hình Sơn đều giao cả cho tướng quân. Chuyện này tạm chưa nói tới, bản tướng còn mật lệnh cho các vùng Thành Phụ, Khổ Huyện, Trường Bình, Trần, Thượng Sái, Phương Thành, Diệp Thành, mỗi nơi điều động hai nghìn quân tinh nhuệ tới Hình Sơn. Đợi khi tướng quân tới nơi, đã có sẵn ba vạn binh mã chờ nghe mệnh lệnh.”

Nghe thấy Chiêu Dương giao cho mình sáu vạn binh mã, Cảnh Hợp cũng thấy yên tâm phần nào, bèn gật đầu nói: “Mạt tướng xin nghe lệnh tướng quân!”

“Nên nhớ,” Chiêu Dương nghiêm mặt dặn dò, “Bàng Quyên dùng binh quỷ quyệt, tướng quân hành sự phải hết sức thận trọng, chớ để lộ hành tung. Bất kể là ai, nếu tiết lộ bí mật, chém không tha!”

“Mạt tướng tuân lệnh!”

***

Một kỵ binh phi thẳng vào trong cổng doanh trại của quân Ngụy bên bờ Phùng Trạch. Quân gác cổng kiểm tra lệnh bài, phẩy tay cho qua.

Kỵ binh xuống ngựa trước trại, hối hả bước vào trong, nhìn thấy Bàng Quyên ngồi một mình trước bàn, bèn tiến lên vài bước, quỳ xuống khấu đầu mà nói: “Bẩm đại tướng quân, có mật báo chi tiết từ Hình Sơn!” Rồi hai tay trình lên mật báo, quay người lui ra.

Bàng Quyên mở mật báo, chăm chú đọc một hồi, vô cùng kinh ngạc, vội vã bước lại trước sa bàn, ánh mắt rừng rực như lửa, nhìn chằm chằm vào Bành Thành, Hình Sơn. Bàng Quyên rút ra hai mũi tên, cắm mũi tên viết hai chữ “Chiêu Dương” vào Tuy Thuỷ, đầu mũi tên chỉ vào trọng trấn Bành Thành ở phía đông nước Tống. Mũi tên còn lại viết hai chữ “Cảnh Hợp” cắm vào Hình Sơn, đầu mũi tên chỉ về Đại Lương.

Bàng Quyên nhìn chăm chú vào sa bàn, lại trầm ngâm suy nghĩ một hồi, ánh mắt di chuyển về phía bờ biển, tập trung vào tuyến bồi đô(1) Lang Nha của nước Việt và tuyến trường thành phía nam nước Tề. Trên đó cũng đã cắm sẵn hai mũi tên, một mũi tên viết hai chữ “Vô Cương”, cắm vào Lang Nha, đầu mũi tên hướng về kinh đô Lâm Truy nước Tề; mũi tên còn lại viết hai chữ “Điền Kỵ”, cắm vào trường thành phía nam nước Tề, đầu mũi tên chỉ vào Lang Nha.

Ánh mắt Bàng Quyên luân phiên di chuyển quanh mấy địa điểm này, đầu mày chốc chau lại, chốc giãn ra, rồi lại chau lại, ngồi xếp bằng đối diện với sa bàn, hai mắt khép lại, dần chìm vào tĩnh định.

Tham quân của trung quân bước vào, đang định bẩm báo, thấy Bàng Quyên đang ngưng thần suy nghĩ, bèn nuốt vội chữ “báo” xuống họng, lặng lẽ bước khỏi trại trung quân, đứng đợi ngoài cửa.

Khoảng nửa canh giờ sau, Bàng Quyên mở mắt, chậm rãi đứng dậy, lại nhìn vào sa bàn, trên mặt lộ một nét cười, cẩn thận đậy kín sa bàn lại, đi đi lại lại trước bàn.

Tham quân đang đứng đợi ngoài trại nhìn thấy vậy, không để lỡ thời cơ, vội vã bước vào bẩm báo: “Báo, trong cung có người đến, truyền đại tướng quân vào cung yết kiến!”

Bàng Quyên tinh thần phấn chấn, khẽ gật đầu: “Chuẩn bị xe!”

Trong ngự thư phòng cung Ngụy, Ngụy Huệ Vương ngồi ngay ngắn trước bàn, Huệ Thi, thái tử Thân, Chu Uy, Tôn Tẫn, Bạch Hổ ngồi hầu xung quanh. Ngụy Vương đưa cho thái tử Thân hịch văn phạt Tống của Sở Vương và hịch văn cầu cứu của Tống Công Yển, thái tử Thân chậm rãi mở ra, giở xem một lượt, rồi đưa cho Huệ Thi. Huệ Thi dường như đã biết, không buồn xem, chuyển luôn cho Chu Uy. Chu Uy đọc cẩn thận một lượt, rồi chuyển cho Tôn Tẫn và Bạch Hổ. Nhìn thấy quần thần đều đã đọc xong, tỳ nhân bước lại, đỡ lấy hai tấm hịch văn từ tay Bạch Hổ, trịnh trọng dâng trả cho Huệ Vương.

Ngụy Huệ Vương đặt hịch văn lên bàn, nói với tỳ nhân: “Bàng ái khanh đâu?”

Tỳ nhân trả lời: “Khởi bẩm bệ hạ, thần đã sai người đi gọi, hẳn là đang trên đường…” Nghe thấy bên ngoài có tiếng chân bước lên thềm, biết là cung nhân đã đưa Bàng Quyên tới, vội vã đổi giọng. “Bệ hạ, Vũ An Quân đã tới!”

Ngụy Huệ Vương vội nói: “Mau mời vào!”

Tỳ nhân cất giọng sang sảng: “Bệ hạ có chỉ, mời Vũ An Quân yết kiến!”

Bàng Quyên hấp tấp bước vào, quỳ xuống khấu đầu nói: “Vi thần đến muộn, xin bệ hạ thứ tội!”

“Ái khanh bình thân!” Ngụy Huệ Vương chìa tay về phía Bàng Quyên.

Bàng Quyên tạ ơn, đứng dậy bước lại chỗ của mình, ngồi xuống.

Ngụy Huệ Vương chỉ vào hịch văn trước mặt: “Bàng ái khanh, khanh hãy xem đi!”

Tỳ nhân bước lại, cầm lấy hịch văn trình lên Bàng Quyên. Bàng Quyên mở ra, đọc qua một lượt, tiện tay trả lại cho tỳ nhân.

“Chư vị ái khanh!” Ngụy Huệ Vương đưa mắt nhìn khắp lượt quần thần. “Các khanh cũng đã xem cả rồi, Sở Vương viện cớ Tống Yển bất kính với trời đất, phong Chiêu Dương làm tướng, khởi binh phạt Tống. Tống Công và quả nhân xưa nay hữu hảo, nay Tống Công thỉnh cầu quả nhân tương trợ, nếu quả nhân khoanh tay đứng nhìn, e rằng không hợp với nghĩa. Còn nếu xuất binh cứu Tống, tức là khai chiến với người Sở. Chiến hay không chiến, sự việc hệ trọng, quả nhân không dám tự quyết, nên mời chư vị tới đây bàn bạc!” Nói xong, ánh mắt nhìn thẳng vào Bàng Quyên chờ đợi.

Thấy Huệ Vương nói vậy, lại là chuyện liên quan tới chiến sự, ánh mắt của quần thần không hẹn mà đều hướng vào Bàng Quyên.

“Khởi bẩm bệ hạ,” Bàng Quyên khẽ đặng hắng một tiếng, bình thản đáp, “vi thần vừa nhận được mật báo, đại quân của Chiêu Dương tổng cộng mười vạn, đích thân hắn dẫn bảy vạn thẳng tới ải Phù Ly, muốn thôn tính Bành Thành. Mặt khác sai Cảnh Hợp dẫn ba vạn quân âm thầm tới Hình Sơn, quan sát động tĩnh của ta.” Dừng lại một lát, hơi cao giọng. “Hình Sơn cách Đại Lương không tới ba trăm dặm, đi xe ngựa một ngày có thể tới nơi, dù là đi bộ, hành quân nhanh chóng cũng không quá hai ngày. Hình Sơn vốn có tám nghìn quân trấn thủ, Cảnh Hợp lại tập hợp quân thủ thành từ Uyển Thành, Phương Thành, Thượng Sái tới, có thêm được hơn hai vạn binh mã, mấy nơi dồn quân lại, toàn tuyến Hình Sơn, người Sở có sáu vạn binh mã, hơn nghìn chiến xa.”

Bàng Quyên vẫn chưa nói có đánh hay không, song vừa nghe những lời phân tích về cục thế, ai cũng hít ngược một hơi khí lạnh, Ngụy Huệ Vương lại càng trợn mắt há miệng. Đừng nói là cứu Tống, chỉ riêng sáu vạn binh mã của Cảnh Hợp nếu đánh thốc tới, đã vô cùng nguy ngập.

Triều đường tĩnh lặng như tờ, không khí ngưng trệ.

Trầm ngâm một lát, Ngụy Huệ Vương lên tiếng hỏi: “Bàng ái khanh có sách lược ứng phó chưa?”

Bàng Quyên không trả lời, vẫn nói tiếp ý mình: “Vùng lưu vực sông Tứ, ruộng đất màu mỡ, mối lợi doanh thương đều tập trung ở đất Tống. Người Sở lần này phạt nghịch là giả, cướp Tống mới là thật. Cảnh Hợp dàn quân ở Hình Sơn, không phải muốn phạt ta, mà là nhằm yểm hộ Chiêu Dương chiếm đoạt Bành Thành. Bành Thành ngũ cốc dồi dào, giàu có bậc nhất thiên hạ, là mảnh đất phì nhiêu của lưu vực sông Tứ, vốn được mệnh danh là kho lương. Chuyện này tạm chưa nói đến, mà Bành Thành trấn giữ yết hầu của lưu vực sông Tứ, phía đông có thể uy hiếp Tề, Lỗ, phía tây có thể kiểm soát Vệ, tiến tới uy hiếp Tam Tấn, xưa nay là vùng đất tranh giành của binh gia. Nếu Chiêu Dương chiếm được thành này…” Đưa mắt nhìn vào Ngụy Vương, rồi dừng lại không nói nữa.

Nước Tống vẫn luôn là viên ngọc trong lòng Ngụy Huệ Vương, cách đây không lâu, khó khăn lắm mới giành lại được quyền kiểm soát từ tay người Tề, làm gì có chuyện để người khác cướp mất.

Quả nhiên, Bàng Quyên vừa dứt lời, Huệ Vương sắc mặt đã tím tái, thình lình giáng mạnh nắm đấm lên mặt bàn, rít qua kẽ răng: “Hừm, bọn Sở man di đừng có hòng!”

Quần thần đều sững sờ. Ai cũng biết, một khi Ngụy Huệ Vương nổi trận lôi đình, ắt sẽ đưa ra những quyết định thiếu lý trí.

Bạch Hổ nhìn Chu Uy, Chu Uy đang định tấu bày, thì Ngụy Huệ Vương đã bình tĩnh trở lại, sắc diện lại như thường, nhìn Bàng Quyên không chớp mắt: “Bàng ái khanh, những lời khanh vừa nói, quả nhân đã thấy cả rồi. Ứng phó thế nào, quả nhân nóng lòng muốn nghe ý kiến của ái khanh.”

“Theo ý của vi thần, bệ hạ hãy đoạt lấy Tống, còn hơn là nhường nó cho người Sở!”

Quần thần thấy Bàng Quyên có tâm địa này, lại thêm một phen kinh ngạc. Huệ Thi vốn là người Tống, dù tính khí rất mực trầm ổn, song vẫn bất giác rùng mình ớn lạnh, mở to hai mắt, liếc xéo Bàng Quyên một cái, rồi lại từ từ khép mắt lại.

Song Ngụy Huệ Vương lại nghe rất nhập tâm, ngả người về phía trước mà hỏi: “Sở có mười vạn quân, ái khanh hẳn là đã nghĩ ra kế hay để thắng?”

“Khởi bẩm bệ hạ!” Bàng Quyên dõng dạc nói. “Sáu năm về trước, Chiêu Dương khởi năm vạn đại quân phạt Tuy Dương nước Tống, Điền Kỵ mang bốn vạn quân tới cứu trợ, hai bên gặp nhau ở Đãng Sơn, Chiêu Dương đại bại, thiệt hai vạn binh, tháo chạy khỏi Tống. Điền Kỵ dẫn bảy vạn đại quân phạt ta, vi thần đã dùng ba vạn quân mệt mỏi đánh tan đại quân của Điền Kỵ. Bệ hạ, quân không ở đông, mà là ở tướng. Thắng không phải ở thế, mà là ở mưu. Chiêu Dương hữu dũng vô mưu, một mình vi thần còn không sợ hắn, huống hồ còn có Tôn giám quân bên cạnh.”

Ngụy Huệ Vương gật gù: “Nghe ái khanh nói vậy, quả nhân rất mực an lòng!”

“Bệ hạ xin hãy yên tâm,” Bàng Quyên lại nói, “vi thần liên thủ với Tôn giám quân, đừng nói là Chiêu Dương có mười vạn đại quân, dù hắn có thêm mười vạn nữa, cũng không có gì đáng ngại.”

Quần thần thấy Bàng Quyên ăn nói huênh hoang, bèn đưa mắt nhìn nhau.

Chu Uy liếc thấy Huệ Thi, thái tử Thân đều không nói gì, bèn vòng tay bẩm tấu: “Bẩm bệ hạ, vi thần có tấu!”

“Ái khanh cứ nói!”

“Tuy rằng Vũ An Quân, Tôn giám quân giỏi dụng binh, ta có thể đánh, song đàn bà có khéo, không gạo cũng không thổi được cơm. Theo vi thần được biết, từ xưa tới nay, nước chưa chuẩn bị mà đã khai chiến, quả rất hiếm hoi. Bệ hạ mới ban chiếu cùng dân chúng nghỉ ngơi, năm ngoái chỉ có chi ra, ít có thu vào. Ba quân tuy có trồng cấy, song chỉ mới bắt đầu, muốn thấy hiệu quả, cũng phải đợi sau hai năm nữa. Hiện tại, lương thực cung cấp cho ba quân còn khan hiếm, nói gì tới cung ứng cho chiến tranh?”

Lời của Chu Uy chính là sự thực. Ngụy Huệ Vương khẽ gật đầu, im lặng một lát, bèn quay sang thái tử Thân: “Thân Nhi, ý con thế nào?”

Thái tử Thân bẩm tấu: “Nhi thần tán thành ý kiến của thượng khanh, không nên khai chiến với Sở!”

Ngụy Huệ Vương sắc mặt trầm xuống, chậm rãi nhìn sang Huệ Thi: “Huệ ái khanh, khanh thấy sao?”

Bản thân là người Tống, quê nhà gặp nạn, Tống khẩn cầu Ngụy trợ giúp, Bàng Quyên lại muốn “nhân cháy nhà hôi của”, Ngụy Vương cũng muốn nuốt gọn miếng thịt béo này, Huệ Thi đương nhiên khó mà góp lời, chỉ biết khép hờ hai mắt, ngay ngắn ngồi yên, im lặng không nói gì. Thấy Huệ Vương hỏi đích danh, Huệ Thi khó lòng thoái thác, bèn từ từ mở mắt, vòng tay bẩm tấu: “Bệ hạ, việc quân xin hỏi Tôn giám quân!”

Lời của Huệ Thi khiến Bàng Quyên thoáng giật mình. Rõ ràng, trong mắt Huệ Thi, địa vị của Tôn Tẫn đã cao hơn Bàng Quyên một bậc. Chuyện này khoan chưa nói đến, nếu quả thực hỏi ý Tôn Tẫn, theo tính khí của Tôn Tẫn, chắc chắn sẽ phản đối việc xuất binh.

Thấy Huệ Thi đưa ra gợi ý này, Ngụy Huệ Vương mới bừng tỉnh, sực nhớ ra đã quên mất vị hiền tài này, vội quay sang Tôn Tẫn hỏi: “Tôn ái khanh, vừa rồi khanh đã nghe thấy cả rồi, Bàng ái khanh chủ chiến, Chu ái khanh chủ không chiến, quả nhân thấy lời của hai bên đều hữu lý.” Rồi hơi vòng tay, nói tiếp. “Có chiến hay không, quả nhân thực khó lòng quyết định, xin nghe ý kiến của ái khanh!”

Thấy Ngụy Huệ Vương nói năng khiêm nhường tới nước này, lại còn vòng tay hành lễ, Bàng Quyên trong lòng càng thêm nặng nề, hai mắt mở to nhìn chằm chằm vào Tôn Tẫn.

Tôn Tẫn vòng tay đáp lễ, chậm rãi nói: “Vi thần tạ ơn bệ hạ đã có lòng yêu mến! Vi thần cho rằng, chinh phạt nước khác là ở nghĩa. Quân Sở phạt Tống, danh nghĩa là phạt nghịch, thực chất là trục lợi, là đội quân bất nghĩa. Bệ hạ theo trời thuận thế, chinh phạt bất nghĩa, là tuyên dương chính nghĩa, đó là đối với bên ngoài. Nước Tống là tấm bình phong phía đông nam của ta, nếu Sở chiếm được, ắt sẽ uy hiếp biên giới đông nam. Bệ hạ trợ giúp Tống, là phòng hoạ khi chưa xảy ra, xét về lâu dài, có lợi cho đất nước, đó là đối với bên trong.”

Lời Tôn Tẫn đã nằm ngoài dự liệu của quần thần.

Chu Uy, Bạch Hổ, thái tử Thân đưa mắt nhìn nhau, Bàng Quyên vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, nhân đà tiếp lời: “Khởi tấu bệ hạ, lời Tôn giám quân cũng chính là nỗi lo trong lòng vi thần. Đất Sở rộng lớn là thế, Sở Vương vẫn chưa thoả mãn, có thể thấy chí của Sở tuyệt đối không chỉ ở Tống. Nếu người Sở đoạt được Tống, lại dựa vào nhân lực, vật lực của Tống để mưu phạt ta, hậu hoạ sẽ khôn lường.”

Ngụy Huệ Vương không đắn đo thêm nữa, lập tức cất giọng sang sảng: “Lời của hai vị ái khanh, vừa hay hợp với ý quả nhân!” Dừng lại một chốc, đưa mắt nhìn khắp lượt quần thần. “Chư vị ái khanh, ý quả nhân đã quyết, cả nước cần kiệm, hưng binh phạt Sở!”

Quần thần đều đồng thanh: “Bệ hạ thánh minh!”

Bàng Quyên ngẫm nghĩ một lát, đứng dậy tiến lại phía trước Huệ Vương, quỳ xuống khấu đầu mà nói: “Vi thần có một thỉnh cầu, mong bệ hạ ân chuẩn!”

“Ái khanh cứ nói!”

Bàng Quyên bẩm tấu: “Lần này phạt Sở, sự việc vô cùng trọng đại. Để đảm bảo thắng lợi, vi thần khẩn cầu bệ hạ phong Tôn giám quân làm chủ tướng, vi thần nguyện làm phó tướng.”

“Ồ, chuyện này…” Ngụy Huệ Vương nhìn sang Huệ Thi, có vẻ ngần ngừ.

“Bệ hạ, không được!” Tôn Tẫn vội đứng bật dậy, bước tới bên cạnh Bàng Quyên quỳ xuống khấu đầu mà nói. “Lâm trận thay tướng là điều tối kỵ trong dụng binh. Vi thần khẩn cầu bệ hạ phong Vũ An Quân làm chủ tướng, vi thần nguyện làm phó tướng!”

“Hai vị ái khanh bất tất phải khiêm nhường!” Ngụy Huệ Vương xua tay, rồi vuốt râu nói. “Quả nhân đã quyết, hai vị ái khanh nghe chỉ!”

Bàng Quyên, Tôn Tẫn khấu đầu hô: “Vi thần tiếp chỉ!”

“Phong Bàng Quyên làm chủ tướng phạt Sở, Tôn Tẫn làm giám quân, công tử Ngang làm phó tướng, phát ba quân sáu vạn binh, giải cứu nước Tống!”

Bàng Quyên, Tôn Tẫn bái lạy: “Vi thần lĩnh chỉ!”

Sau khi bãi triều, mọi người ra khỏi cửa cung.

Khi bước xuống bậc thềm, Bàng Quyên đi sau cùng khẽ gọi Tôn Tẫn: “Tôn huynh!”

Tôn Tẫn dừng bước, quay đầu lại nhìn Bàng Quyên: “Hiền đệ?”

Bàng Quyên dừng lại một lát, thấy những người khác đã đi xa, mới vòng tay vái một vái thật sâu, nói: “Tiểu đệ đa tạ Tôn huynh!”

Tôn Tẫn ngạc nhiên hỏi: “Hiền đệ, cớ sao lại nói lời đa tạ?”

“Vừa rồi trong buổi triều, Tôn huynh nhất ngôn cửu đỉnh, giúp Quyên tác thành đại sự, Quyên nói một lời đa tạ cũng là rất nên.”

Tôn Tẫn sắc mặt nghiêm trang, nói: “Hiền đệ nói gì vậy? Sở phạt Tống trục lợi, là hành vi bất nghĩa. Hiền đệ xuất quân cứu Tống, là thi hành thiên đạo. Tẫn chủ trương cứu Tống, không phải giúp hiền đệ, mà là thi hành thiên đạo, nào dám nhận lời cảm tạ?”

“Được rồi! Được rồi!” Bàng Quyên cười gượng, nói. “Tôn huynh đã nói vậy thì Quyên không cảm tạ nữa. Nhân tiện muốn hỏi một câu, vừa rồi, Quyên ở trước mặt bệ hạ tiến cử sư huynh làm chủ tướng, vì sao sư huynh lại từ chối?”

“Ba quân đều phục hiền đệ, duy có hiền đệ làm chủ tướng, mới có thể cứu được Tống.”

“Trời ơi!” Bàng Quyên lại thở dài một tiếng. “Tôn huynh có điều không biết, huynh nhẹ nhàng thoái thác một câu, khiến bao nhiêu khổ tâm của đệ đều đổ cả xuống sông xuống bể!”

“Ồ?” Tôn Tẫn sửng sốt hỏi. “Dám hỏi hiền đệ khổ tâm điều gì?”

“Quyên tuy bất tài, song cũng đã trải qua hai trận kịch chiến ở Ngụy, lập chút công nhỏ. Tôn huynh vừa mới đến, tuy đầy bụng mưu lược kinh luân, nhưng lại chưa lập được chiến công nào. Chưa có công mà ở chỗ cao, được trọng thưởng, xét về lâu dài, e rằng bất lợi với huynh. Lần này cứu Tống, chính là cơ hội tốt để lập công, Quyên tiến cử Tôn huynh, vốn là có ý này. Dựa vào tài của hai ta, lần này xuất chinh, chắc chắn bắt được Chiêu Dương. Tôn huynh lập được công lớn, hẳn sẽ có chỗ đứng ở Ngụy.”

Nghe thấy Bàng Quyên tính toán giúp mình, Tôn Tẫn trong lòng cảm kích, vái sâu một vái: “Ý tốt của hiền đệ, Tẫn xin ghi nhận trong lòng. Hai ta đã là huynh đệ, đương nhiên hoạn nạn cùng gánh, phúc hoạ cùng chia. Hiền đệ làm chủ tướng, cũng giống như Tẫn làm chủ tướng. Hiền đệ lập công lớn, cũng giống như Tẫn lập công lớn, hiền đệ cớ sao phải phân chia rạch ròi?”

Bàng Quyên vội đáp lễ: “Lời Tôn huynh cũng là suy nghĩ trong đáy lòng Quyên. Tuy nói là vậy, song làm chủ tướng trước mặt Tôn huynh, Quyên vẫn cảm thấy thấp thỏm không yên. Tôn huynh, huynh xem thế này được không? Lần này xuất binh cứu Tống, đối với bên ngoài thì Quyên làm chủ tướng, huynh làm phó tướng; còn đối với bên trong thì huynh làm chủ tướng, Quyên làm phó tướng.”

“Hiền đệ nói sai rồi!” Tôn Tẫn nghiêm giọng phản bác. “Nắm quyền thống soái xuất chinh là việc hệ trọng của quốc gia, làm gì có lý đẩy qua đẩy lại, trong ngoài thực hư lẫn lộn như vậy? Bệ hạ đã phong hiền đệ làm tướng, hiền đệ hãy làm tròn trọng trách chủ tướng của mình, chớ thoái thác nữa!”

Bàng Quyên lại sững người, rồi vòng tay nói: “Tôn huynh đã nói như vậy, Quyên cũng không dám nhiều lời nữa. Có điều, như vậy cũng tốt, lần này khai chiến với Sở, địch mạnh ta yếu, Chiêu Dương cũng là một viên dũng tướng. Nếu thành công, công của Tôn huynh không hề nhỏ; song nếu chẳng may thất bại, Tôn huynh không ở ngôi chủ tướng, tự nhiên cũng có đường lui. Nếu có sơ sảy gì, Quyên xin gánh chịu hết là được.”

Thấy Bàng Quyên nói đi nói lại, trước sau vẫn không rời khỏi lợi hại cá nhân, lúc này lại nói ra những câu như thế, Tôn Tẫn trong lòng chùng xuống, không nói thêm lời nào nữa.

“Được rồi! Được rồi!” Bàng Quyên dường như đã nhận ra suy nghĩ của Tôn Tẫn, bèn ngẩng lên cười mà nói. “Tôn huynh không bận tâm tới công tội đúng sai, Quyên lại nói những lời này, đúng là quá nhỏ nhen. Lần này phạt Sở, hẳn Tôn huynh đã có sẵn kế sách?”

Tôn Tẫn nhân cơ hội, cũng chuyển chủ đề: “Tẫn thấy hiền đệ dường như sớm đã định liệu xong xuôi.”

“Không giấu Tôn huynh,” Bàng Quyên đáp lời, “người Sở không giống người Tề, Chiêu Dương không giống Điền Kỵ, giao chiến với người Sở, tuy Quyên đã nắm chắc phần thắng, song cũng không dám khinh suất. May có Tôn huynh ở bên, Quyên có chỗ dựa, mới thấy không còn lo lắng! Nay sắp xuất binh, Quyên muốn mời Tôn huynh tới doanh trại, cùng bàn bạc sách lược.”

Tôn Tẫn gật đầu cười, nói: “Chủ tướng có lệnh, Tẫn nào dám không phục tùng?”

Bàng Quyên cũng cười, bước xuống bậc thềm, gọi xe ngựa lại, hai người cùng lên xe đi thẳng tới trại trung quân ở phía nam thành Đại Lương.

Sau khi vào trong trại, Bàng Quyên dẫn Tôn Tẫn đến trước sa bàn, mở ra, cầm thước chỉ vào từng vị trí, giảng giải rõ tình hình: “Tôn huynh hãy xem, ở ải Phù Ly có tám nghìn quân thủ thành nước Tống, có lẽ sẽ ngăn chặn được người Sở khoảng hai ngày. Ải Phù Ly cách Bành Thành chỉ trăm dặm, hành quân nhanh một ngày là tới. Bành Thành nằm ở nơi Tứ Thuỷ và Đan Thuỷ giao nhau, là phủ tạng của Tống, nếu Sở chiếm được, vừa có thể kiểm soát Tống, lại vừa có thể uy hiếp Tề, Lỗ. Nước Lỗ nhỏ bé, không dám vọng động. Nước Tề bản thân còn lo chưa xong, nên Bành Thành chỉ còn cách cố thủ đợi chi viện. Tống Yển có tổng cộng năm vạn binh mã, tám trăm chiến xa, trong đó đô thành Tuy Dương có một vạn năm nghìn binh mã, Bành Thành có một vạn, ải Phù Ly có tám nghìn, Đãng Dương có bảy nghìn, Tương Thành có năm nghìn, Định Đào có tám nghìn, số còn lại phân bố rải rác khắp các thành ấp. Dù Tống Yển có điều động toàn bộ binh mã ở các thành ấp xung quanh, thì binh mã Bành Thành cũng không thể quá hai vạn. Lấy hai vạn ứng phó bảy vạn, chẳng khác nào lấy trứng chọi đá!”

Tôn Tẫn gật đầu.

Bàng Quyên chỉ thước nói tiếp: “Tôn huynh hãy xem tiếp, đây là Hình Sơn. Hình Sơn là một cửa ải then chốt, Chiêu Dương đã đóng quân ở đây nhiều năm, thành cao hào sâu, dễ phòng khó đánh, là khối ung nhọt ở phía nam của ta. Ba vạn đại quân của Cảnh Hợp ngày ẩn nấp đêm hành quân, tới đây ẩn phục, ắt có mưu đồ. Nếu đúng như dự đoán của đệ, kẻ này hẳn sẽ nhân lúc ta cứu viện Tống, dẫn quân đột kích Đại Lương.” Dừng lại một lát, đưa mắt nhìn Tôn Tẫn. “Tình hình đại thể như vậy, Tôn huynh có diệu kế nào đẩy lui quân địch chăng?”

“Xin hỏi hiền đệ đã bố trí thế nào?”

Bàng Quyên cười vang mà nói: “Tôn huynh không chịu nói trước, ngu đệ đành phải khoe xấu vậy!” Rồi chỉ thước vào Tuy Thuỷ phía nam Bành Thành. “Quyên định dẫn bốn vạn binh tiến thẳng đến Tuy Thuỷ, men theo bờ nam Tuy Thuỷ chọc thẳng vào, tập kích ải Phù Ly, cắt đứt đường rút lui của Chiêu Dương. Quân Tống thấy quân chi viện đến, chắc chắn sẽ dốc sức tử thủ Bành Thành. Chiêu Dương trước không hạ được Bành Thành, sau không có đường rút lui, phía đông là biên giới nước Tề, Tề tất phòng bị; phía tây là Tuy Dương, Tống Yển tất quyết chiến. Chiêu Dương không có đường lui, chỉ có thể quay đầu quyết chiến với ta. Ta có Tuy Thuỷ, lại có trọng ải Phù Ly, có thể chống đỡ được vài vạn đại quân. Chiêu Dương muốn lui không được, muốn tiến chẳng xong, lương thực không thể tiếp tế, chỉ còn nước bó tay chịu trói!” Lại chỉ thước vào Hình Sơn. “Huynh có thể dẫn hai vạn binh, đóng quân ở An Lăng. Cảnh Hợp được tin đại quân ta chi viện cho Tống, ắt sẽ vượt qua Vĩ Thuỷ tập kích Đại Lương. Đợi Cảnh Hợp xuất quân, huynh sẽ men theo Vĩ Thuỷ cắt đứt đường lui của chúng. Đại Lương thành cao hào sâu, dựa vào sức của Cảnh Hợp, đương nhiên khó lòng đánh hạ. Người Sở ngoảnh đầu lại thấy đường lui bị chặn, chắc hẳn không còn tâm trí đâu mà chiến đấu, huynh chỉ cần lấy nhàn đối nhọc, không cần phí sức mà vẫn có thể đánh tan Cảnh Hợp. Còn về phần Chiêu Dương, đã có Quyên lo liệu!”

Tôn Tẫn nhìn chăm chú vào sa bàn, trầm ngâm hồi lâu, khẽ nhíu mày.

Bàng Quyên thấy vậy, trong lòng thắc thỏm, hỏi khẽ: “Tôn huynh, Quyên bố trí như vậy có chỗ nào không thoả đáng ư?”

Tôn Tẫn ngẩng nhìn Bàng Quyên: “Nếu quyết chiến với Sở, căn cứ theo tình hình của ta và địch, thì hiền đệ bố trí như vậy, cũng là tuyệt diệu!”

Bàng Quyên nghe ra được ẩn ý của Tôn Tẫn, vội hỏi: “Rốt cuộc có chỗ nào không thoả đáng, Tôn huynh xin cứ nói thẳng ra!”

“Dám hỏi hiền đệ, lần xuất chinh này, ý hiền đệ là muốn giải vây cho Tống, hay muốn quyết chiến với Sở?”

“Ồ, điều này…” Bàng Quyên ngẩn ra giây lát, “đương nhiên là giải vây cho Tống!”

“Nếu là giải vây cho Tống, hiền đệ bố trí như vậy có thể thủ thắng, song chưa phải là thượng sách.”

“Ồ?” Bàng Quyên ngạc nhiên. “Xin Tôn huynh giải thích rõ hơn!”

Tôn Tẫn chỉ tay vào Tuy Thuỷ: “Hiền đệ hãy xem, Chiêu Dương dùng binh thận trọng, ắt sẽ thiết lập tuyến phòng thủ ở Phù Ly và Tuy Thuỷ. Hiền đệ hành quân từ xa tới tập kích, ngộ nhỡ để lộ bí mật, ắt khó lòng kiểm soát được Tuy Thuỷ, đó là điều thứ nhất. Cho dù hiền đệ kiểm soát được Tuy Thuỷ như ý muốn, vây khốn đại quân Chiêu Dương ở phía bắc Tuy Thuỷ, cũng khó lòng đánh bại trong thời gian ngắn, đó là điều thứ hai. Người Sở đa phần đều là dũng sĩ vì nước cảm tử, một khi bị vây khốn, lại càng ý chí kiên gan, phía ta thương vong ắt lớn, đó là điều thứ ba. Quân Sở bị vây khốn, Sở Vương ắt tận lực cứu viện, quân chi viện của Sở chỉ khoảng chục ngày là tới, nếu hiền đệ không thể tốc chiến tốc thắng, chắc chắn sẽ lâm vào cảnh trước sau gặp địch, đó là điều thứ tư. Cho dù tất cả đều thuận lợi, vài vạn đại binh của hiền đệ tới nơi xa tác chiến, nếu không thể đánh nhanh thắng nhanh, kho lẫm của chúng ta không có lương thực tích trữ, dẫu cuối cùng có thể thủ thắng, cũng sẽ gây tổn thương tới gốc rễ quốc gia!”

Tôn Tẫn phân tích hợp tình hợp lý, Bàng Quyên nghe mà lặng người, bần thần hồi lâu, mới gật đầu nói: “Tôn huynh nói rất phải. Vậy theo ý của Tôn huynh, thế nào mới là thượng sách?”

Tôn Tẫn nhìn vào sa bàn: “Xin hỏi hiền đệ, đối với người Sở, trong phạm vi cách biên giới ta ba trăm dặm trở lại, nơi nào là quan trọng nhất?”

Bàng Quyên ngẫm nghĩ một lát, rồi chỉ thước vào Hạng Thành, Uyển Thành: “Chính là hai nơi này! Hạng Thành là kho lương của Sở, lương thảo từ các quận phía bắc đều tập trung tại đây, trong thành có tổng cộng mười hai kho lớn, tích trữ ba trăm vạn gánh lương thực. Sắt luyện tại Uyển Thành, phần nhiều cũng tích trữ tại đây, nên đây là nơi Chiêu Dương quyết giữ bằng mọi giá, bởi vậy nên thành cao hào sâu, có đến một vạn tám nghìn thủ quân thường xuyên trấn giữ, nhiều gấp ba lần so với thành ấp khác. Uyển Thành là trọng địa luyện thép, ngày nay thép quý hơn đồng, tầm quan trọng của Uyển Thành không hề thua kém Nghi Dương nước Hàn, do vậy nước Sở đã xây dựng Phương Thành để bảo vệ.”

Tôn Tẫn di chuyển ánh mắt từ Hạng Thành tới Uyển Thành, rồi lại trở về Hạng Thành, suy ngẫm một chốc, rồi chỉ tay vào Hạng Thành: “Chính là chỗ này!”

Bàng Quyên vẻ như vẫn chưa hiểu: “Xin Tôn huynh giải thích rõ hơn!”

Tôn Tẫn dõng dạc nói: “Hiền đệ có thể dẫn bốn vạn đại quân, song phao tin ra ngoài là sáu vạn, trống giương cờ mở mà đi cứu viện cho Tống, xuất quân từ Tuy Dương. Khi tới gần Tuy Dương, hiền đệ hãy cuốn cờ thu trống, nhanh chóng chuyển hướng xuống phía nam, đi vòng qua Khổ Huyện, tới thẳng Hạng Thành. Chiêu Dương không thể ngờ rằng ta lại đột kích Hạng Thành, quân tinh nhuệ của Hạng Thành hẳn đã được điều tới biên giới Tống, hoặc tới Hình Sơn, đội ngũ ở lại phòng thủ đều là quân già yếu, chịu không nổi một đòn. Hiền đệ sẽ vây kín bốn bề mà tấn công thành, phô trương thanh thế, Hạng Thành nguy cấp, ắt sẽ cầu cứu Chiêu Dương, Cảnh Hợp. Chiêu Dương không nỡ bỏ Bành Thành, chắc chắn không chịu về chi viện, Cảnh Hợp biết Hạng Thành lâm nguy, nhất định sẽ quay về. Đến lúc đấy…”

Bàng Quyên lập tức hiểu ra, vô cùng phấn chấn, vội cất giọng sang sảng tiếp lời: “Tôn huynh có thể nhân lúc này chiếm đoạt trọng ải Hình Sơn, trừ bỏ khối ung nhọt này. Cảnh Hợp biết tin Hình Sơn thất thủ, ắt sẽ đem quân về cứu, Quyên lại tấn công Hạng Thành, Cảnh Hợp thấy Hình Sơn đã mất, đành phải quay trở lại Hạng Thành, Quyên sẽ cho quân phục kích giữa đường, Tôn huynh lại ở đằng sau giáp công tới, đánh tan đội quân của Cảnh Hợp. Chiêu Dương nhận được tin Cảnh Hợp thất trận, Hạng Thành lâm nguy, ắt phải đưa quân về cứu trợ, nước Tống không chiến mà tự giải vây!”

“Hiền đệ nói rất đúng!” Tôn Tẫn gật gù. “Quân Tống hay tin ta xuất quân cứu viện, chắc chắn sẽ dốc sức tử chiến. Quân Sở nghe tin ta tập kích kho lương của chúng, lòng quân ắt rối loạn. Đến khi Cảnh Hợp bại trận, Chiêu Dương gấp rút dẫn quân quay lại cứu, ta có thể quyết một trận để chiếm lấy Hạng Thành, dựa vào thành cố thủ, hoặc có thể thu quân trấn giữ trọng ải Hình Sơn, chí ít cũng có thể lui quân về nước, đối đầu với Sở. Lúc này tấn công hay phòng ngự đều dễ dàng, người Sở mệt mỏi vì phụng mệnh bôn ba, ta lại lấy nhàn đối nhọc, thắng thua chưa đánh đã đoán được ra!”

Bàng Quyên đập bàn reo lên: “Tôn huynh mưu kế tuyệt diệu, kế sách phạt Sở, hãy quyết định như vậy!”

Qua ba ngày giao chiến gian khổ, Chiêu Dương cuối cùng đã chiếm được ải Phù Ly, tiến quân thẳng tới Bành Thành. Thú thừa Bành Thành là công tử Bì, con trai thứ của Tống Công Yển. Vài ngày trước, Tống Công đã ban chiếu lệnh, bỏ hết hơn chục thành ấp xung quanh, điều toàn bộ quân trấn thủ tới bảo vệ Bành Thành. Các hộ giàu có, phú thương trong các thành ấp kia đều hè nhau mang theo vàng bạc châu báu, gia đinh nô bộc, lũ lượt chạy tới Bành Thành lánh nạn. Chưa tính đến hơn một vạn tướng sĩ từ các thành ấp khác mà công tử Bì có thêm, chỉ tính riêng đám gia đinh nô bộc này cũng đã được vài vạn, bởi vậy, khí thế cũng phấn chấn hẳn lên.

Sau khi công chiếm ải Phù Ly, Chiêu Dương không tốn chút sức lực đã liên tiếp chiếm được hơn chục thành ấp của nước Tống, đồng thời chia quân phòng ngự quân Tống ở Đãng Sơn, Tuy Dương, đích thân dẫn quân chủ lực vào chập tối hôm sau áp sát Bành Thành.

Chiêu Dương xua quân vây kín Bành Thành, hạ lệnh cho quân Sở tấn công bốn mặt. Chiêu Dương tấn công suốt mấy ngày trời, đã có một lần phá được cổng thành nam, nhưng bị quân Tống liều chết đánh lui. Chiêu Dương đang vắt óc nghĩ cách phá thành, bỗng nghe thám mã về báo người Ngụy dẫn quân cứu Tống, Bàng Quyên đích thân thống lĩnh sáu vạn đại quân tiến tới Tuy Dương.

Chiêu Dương cười khẩy, một mặt hạ lệnh tiếp tục đánh thành, mặt khác chia một vạn quân viện trợ cho ải Phù Ly.

Cùng lúc này, trong phủ tướng quân tại trọng ải Hình Sơn, Cảnh Hợp đang cùng Cảnh Thúy và vài viên phó tướng bàn kế sách, bỗng một quân úy hấp tấp bước vào, cao giọng báo cáo: “Báo, tướng Ngụy Bàng Quyên dẫn năm vạn quân, đã lên đường tới Tuy Dương vào giờ Thìn hôm qua!”

“Giờ Thìn hôm qua?” Cảnh Hợp vội hỏi. “Ai là phó tướng? Ai là tiên phong?”

“Khởi bẩm tướng quân, phó tướng, tiên phong đều là công tử Ngang. Ngoài ra còn có một viên giám quân tên gọi Tôn Tẫn.”

“Tôn Tẫn?” Cảnh Hợp ngẩn ra một thoáng, quay sang nhìn chư tướng. “Các vị có biết người này không?”

Chư tướng đều lắc đầu: “Mạt tướng không biết!”

Cảnh Hợp ngẫm nghĩ một lát, rồi quay sang quân úy nói: “Tiếp tục thám thính!”

“Tuân lệnh!”

Sau khi quân úy đi khỏi, Cảnh Thúy hỏi: “Thưa cha, người Ngụy đã xuất binh rồi, chúng ta hẳn cũng nên xuất phát?”

Cảnh Hợp vân vê chòm râu một lát, đang định lên tiếng, bỗng nghe thấy bên ngoài có tiếng bước chân rậm rịch, rồi một viên tham tướng bước vào: “Báo, Kinh tiên sinh cầu kiến!”

Cảnh Hợp quay sang chư tướng: “Kinh tiên sinh đã tới, các vị hãy trở về doanh trại trước, đợi lệnh xuất chinh!”

Nghe thấy ba chữ “Kinh tiên sinh”, các tướng đều mặt mày hí hửng, vâng lệnh lui ra.

Cảnh Hợp quay sang tham tướng: “Mời Kinh tiên sinh vào!”

Tham tướng nhận lệnh đi ra, một lát sau, dẫn một người vào. Người này tầm bốn mươi tuổi, phục sức nho nhã, vừa bước vào cửa đã quỳ xuống đất khấu đầu: “Thảo dân Kinh Sinh khấu kiến tướng quân!”

Cảnh Hợp khẽ nhổm người dậy, nói: “Kinh tiên sinh miễn lễ!” Rồi chỉ tay vào vị trí khách. “Mời tiên sinh ngồi!”

Kinh Sinh cảm tạ, rồi đứng dậy, ngồi vào chỗ.

Cảnh Hợp cười hỏi: “Công Tôn tiên sinh khoẻ không?”

Kinh Sinh vòng tay vái mà nói: “Khởi bẩm tướng quân, Công Tôn tiên sinh vẫn khoẻ. Tiên sinh uỷ thác tại hạ mang tới một cặp ngọc bích để tạ ơn tướng quân!” Rồi lần trong ống tay áo lấy ra một chiếc hộp rất tinh xảo, dâng lên Cảnh Hợp.

Cảnh Hợp chậm rãi mở hộp ra, quả nhiên là một cặp ngọc bích tuyệt tác, bèn mỉm cười mà nói: “Đã là đại lễ của Công Tôn tiên sinh, tại hạ sao dám bất kính không nhận!” Rồi đậy nắp hộp lại, đưa cho Cảnh Thúy, lại quay sang Kinh Sinh. “Không giấu tiên sinh, những ngày qua bôn ba khổ cực, chư tướng sĩ đều đã nhạt mồm nhạt miệng lắm rồi. Vừa rồi bản tướng cũng mới nhắc tới tiên sinh! Hàng đã mang tới cả chưa?”

“Khởi bẩm tướng quân,” Kinh Sinh gật đầu nói, “thảo dân nhận được lệnh của tướng quân, đã giết mổ xẻ thịt suốt ngày đêm, tạm chuyển đến ba mươi xe trước. Ba mươi xe còn lại, hai ngày nữa sẽ tới!”

Cảnh Hợp sung sướng cười tít mắt: “Tốt lắm! Tốt lắm! Vất vả cho tiên sinh quá!” Rồi quay sang tham tướng. “Kinh tiên sinh từ Diệp Thành tới, đi đường chắc đã mệt mỏi, mau thu xếp chỗ cho tiên sinh nghỉ ngơi!”

“Mạt tướng tuân lệnh!”

Kinh Sinh thấy Cảnh Hợp đang bận việc quân, bèn vòng tay cáo từ: “Cảnh tướng quân, thảo dân cáo từ!”

Cảnh Hợp tiễn Kinh Sinh ra ngoài trại, rồi quay trở vào, nói với Cảnh Thúy: “Phân phát ba mươi xe thịt tươi cho ba quân, để tướng sĩ ăn no nê ba ngày. Đợi quân Bàng Quyên tới Tuy Dương, ta sẽ xuất chinh!”

“Mạt tướng tuân lệnh!”

Ra khỏi phủ tướng quân, tham tướng đang dẫn Kinh Sinh tới dịch quán, bỗng từ xa nhìn thấy quân úy trấn giữ cửa khẩu dẫn theo hơn chục binh lính áp giải một đám người đi thẳng đến trước mặt. Đám người bị áp giải vừa đi vừa la lối om sòm.

Người kêu la lớn tiếng nhất không phải ai khác, chính là Trương Nghi.

Sau khi chia tay Tô Tần ở ngoài cửa Túc Tư, Trương Nghi đi đường vòng tới biên giới nước Hàn, do thiếu tiền nên phải ở lại kinh đô Tân Trịnh của nước Hàn hơn chục ngày, tìm cách kiếm lấy vài đồng bố, sau đó ra khỏi thành xuống phía nam. Trương Nghi định qua Phương Thành, rồi từ Uyển, Nhương vào Sính, yết kiến Sở Vương. Song Phương Thành chiều đông tây dài hơn trăm dặm, ở giữa lại không có cửa khẩu, nếu muốn đi theo đường Uyển Thành, tất phải qua cửa ải Hình Sơn. Trương Nghi không còn cách nào khác, buộc phải quay trở lại đất Ngụy, rồi từ Ngụy vào Sở, tối hôm qua thì tới Hình Sơn. Do trời tối, cửa ải đã đóng, Trương Nghi và nhiều người nữa đành phải chờ tới sáng hôm nay, khó khăn lắm mới đợi được đến lúc cửa ải mở ra, nhưng lại bị người Sở vô duyên cớ bắt giữ, tiền bạc trên người cũng bị tịch thu hết sạch.

Trương Nghi không tiếc tiền, song đĩnh vàng mà mẹ hắn đã để lại trước lúc lâm chung, Trương Nghi không đành tâm để mất, nên mới chửi bới ầm ĩ, đòi chúng trả lại.

Quân úy nghe hắn kêu ca mà bực mình, bèn dí mũi thương nhọn hoắt vào lưng Trương Nghi, quát: “Tên gian tế này, còn kêu một tiếng, bố mày đâm chết!”

Trương Nghi thấy hắn hung tợn thì không dám ho he gì nữa. Kinh Sinh nhìn thấy đám người bị áp giải giống như phạm nhân, bèn quay sang tham tướng hỏi: “Xin hỏi tướng quân, họ phạm tội gì?”

Tham tướng nhìn lướt qua đám người, khẽ nói: “Chẳng phạm tội gì, chỉ là người qua đường mà thôi! Mấy ngày gần đây, tướng quân ban lệnh, phàm những ai qua cửa ải, chỉ cho phép vào không cho phép ra, tạm thời giữ lại trong ải, đợi vài ngày nữa, tự khắc sẽ thả toàn bộ ra thôi!”

Kinh Sinh gật đầu, cùng tham tướng đứng tránh sang một bên, để quân úy áp giải đám người đi qua.

Trương Nghi nhìn tham tướng, quan sát trang phục trên người hắn, biết hắn là chỉ huy, con ngươi khẽ đảo một vòng, rồi thình lình quay người lại, chạy vụt tới trước mặt tham tướng, lớn tiếng kêu xin: “Tướng quân, xin hãy quản thúc thuộc hạ của ngài!” Rồi chỉ tay vào quân úy. “Người kia cướp mất đĩnh vàng của tại hạ, xin tướng quân đứng ra phân xử giúp!”

Quân úy hấp tấp chạy đến, đang định lôi Trương Nghi đi thì bị tham tướng ngăn lại.

Tham tướng nhìn quân úy, lạnh lùng lên tiếng: “Ngươi lấy đĩnh vàng của vị khách quan này phải không?”

Quân úy cúi đầu, lí nhí giải thích: “Khởi bẩm tướng quân, tại hạ không dám! Người này trên mình mang theo tiền Ngụy, hạ quan nghi hắn là gian tế của người Ngụy, tạm thời tịch thu, đợi tra khảo rõ ràng, sẽ xử lý sau!”

Trương Nghi nghe thấy, lại cao giọng nói: “Bẩm tướng quân, người này khám xét hành lý, chỉ chọn đồ vật quý giá để tra xét, rõ ràng là muốn trấn lột, xin tướng quân minh xét!”

Kinh Sinh liếc nhìn quân úy, biết đây là một viên quan canh ải cáo già, trong lòng đã hiểu rõ chân tướng, liền quay sang Trương Nghi hỏi: “Xin hỏi khách quan, quân gia đây đã tịch thu của khách quan bao nhiêu vàng?”

Trương Nghi trả lời: “Chỉ có một lượng!”

Kinh Sinh móc từ trong ống tay áo ra hai lượng vàng, chìa ra rồi nói: “Khách quan nhìn xem, tại hạ đền cho khách quan hai lượng này, tạm đổi lấy một lượng kia, khách quan thấy thế nào?”

Trương Nghi cười nhạt một tiếng, rồi ôm quyền nói: “Tại hạ cảm tạ ý tốt của tiên sinh. Tại hạ chỉ muốn đòi lại đĩnh vàng của tại hạ, đừng nói là hai lượng của tiên sinh, dù là mười lượng, tại hạ cũng không đổi!” Lại quay sang tham tướng. “Nghe nói người Sở giỏi trị quân, đĩnh vàng này, vẫn mong tướng quân đứng ra phân xử giúp!”

Tham tướng quay sang quân úy hỏi: “Vàng của khách quan đâu?”

Quân úy móc ra một đĩnh vàng từ trong ống tay áo, cầm hai tay đưa cho tham tướng: “Chính là đĩnh vàng này, xin tướng quân tra xét!”

Tham tướng cầm lấy, xem đi xem lại, không thấy có gì khả nghi, bèn đưa trả cho Trương Nghi, cười nói: “Khách quan xem thử, có phải đĩnh vàng này không?”

Trương Nghi cầm xem, gật đầu nói: “Đúng rồi!”

“Nếu là của khách quan, xin hãy cầm lấy!”

Trương Nghi bỏ vào trong ống tay áo, vòng tay vái tham tướng: “Cảm tạ tướng quân!” Nói xong, liền quay trở lại chỗ đám người.

Quân úy giận dữ liếc xéo Trương Nghi một cái, rồi vòng tay chào tham tướng, tiếp tục áp giải đám người đi.

Kinh Sinh nhìn theo Trương Nghi, trong lòng thầm nghĩ: “Người này thật kỳ lạ, không tự ti không kiêu ngạo, nói năng có lý lẽ, mở miệng một điều tại hạ, hai điều tại hạ, dứt khoát không phải hạng tầm thường. Hơn nữa, người này không màng sống chết, một mực đòi bằng được đĩnh vàng kia, hẳn có lý do riêng! Lão quân úy chắc chắn đang hận hắn đến tận xương tuỷ…”

Nghĩ tới đây, Kinh Sinh bỗng thấy chột dạ, ngẫm nghĩ một lúc, bèn quay sang tham tướng, vòng tay nói: “Tướng quân, tại hạ tạm thời không tới dịch quán nữa. Giờ vẫn còn sớm, tại hạ muốn tới nhà bếp xem thử đám người làm đã dỡ hàng xong chưa.”

Tham tướng cũng vòng tay nói: “Ông chủ Kinh đã nói vậy, tại hạ không bồi tiếp nữa!” Rồi rút ra một tấm lệnh bài giắt bên thắt lưng. “Mấy ngày nay tra xét gắt gao, tiên sinh hãy cầm lấy vật này, sẽ không ai cản trở tiên sinh. Xong việc, tiên sinh có thể tự tới dịch quán, tại hạ đã bố trí tiếp đón tiên sinh chu đáo!”

Kinh Sinh nhận lấy lệnh bài, tạ ơn tham tướng, tới nơi dỡ hàng kiểm tra một lượt, sau đó hỏi thăm nơi giam giữ đám người đi qua cửa khẩu, rồi vội vàng tới đó. Quả nhiên nhìn thấy ngoài cửa canh phòng nghiêm ngặt, trong sân đông nghịt những người. Đám người hoặc nằm hoặc ngồi hoặc đứng, đều không hiểu đã xảy ra chuyện gì, trông vẻ mặt ai cũng hoang mang lo lắng, song chẳng ai dám hé răng nói nửa lời.

Kinh Sinh trình lệnh bài cho lính canh cửa, rồi bước vào trong sân, nhìn quanh một lượt, không thấy bóng dáng Trương Nghi đâu. Kinh Sinh kéo một tên lính lại, lén dúi vào tay hắn vài đồng tiền bố. Tên lính vội giấu tiền đi, đưa tay chỉ vào căn phòng trong cùng: “Chắc là bị giam ở đó!”

Kinh Sinh lấy làm ngạc nhiên, bước vội tới căn phòng đó, quả nhiên cửa phòng đóng chặt. Áp tai lắng nghe, thấy bên trong vọng ra tiếng đánh đập huỳnh huỵch. Kinh Sinh vội vàng gõ cửa. Phải một hồi lâu sau, cánh cửa mới hé ra một khe hẹp, từ bên trong ló ra một cái đầu. Kinh Sinh vừa nhìn, đã nhận ra ngay lão quân úy khi nãy.

Quân úy cũng nhận ra Kinh Sinh, hết sức kinh ngạc: “Là tiên sinh?”

Kinh Sinh không đợi hắn kịp phản ứng, đã thẳng tay đẩy hắn sang một bên, bước vào trong phòng, đưa mắt ngó quanh. Trong ánh sáng lờ mờ, Kinh Sinh nhìn thấy Trương Nghi tay bị trói giật cánh khuỷu, trong miệng nhét một miếng vải, đã bị đánh tới toạc da rách thịt, bất tỉnh nhân sự. Mấy tên lính tay cầm gậy gộc đứng bên cạnh, nhìn thấy có người ngoài xông vào, lúng túng không biết phải làm sao.

Quân úy biết rõ lai lịch của Kinh Sinh, cho rằng ông ta tới để giám sát mình, sợ đến mất vía, vội quay người đóng kín cửa lại, hạ giọng giải thích: “Tiên… tiên sinh… kẻ này là… là gian tế nước… nước Ngụy, tại hạ đang… đang tra hỏi!”

Kinh Sinh lạnh lùng nhìn hắn, chậm rãi lôi ra một chiếc túi từ trong ống tay áo, vứt toẹt xuống đất, nói: “Quân gia bất tất chỉ vì một đĩnh vàng cỏn con mà mất công tra khảo người ta! Chút tiền mọn này, coi như tại hạ trả thù lao cho các vị, quân gia và chư vị…” đưa tay chỉ tay về phía mấy tên lính, “cầm đi mua rượu mà uống!”

Quân úy hết nhìn túi tiền lại nhìn Kinh Sinh, vẫn đứng ngây thộn tại chỗ.

Kinh Sinh chỉ vào Trương Nghi: “Người này có chút quen biết với tại hạ, nếu quân gia không muốn gặp rắc rối, hãy chăm sóc hắn cho cẩn thận! Đêm nay vào giờ Nhân định, đưa người này tới dịch quán, tại hạ sẽ đợi ở đó.”

Quân úy nào dám nói gì, chỉ biết gật đầu lia lịa. Kinh Sinh lại nhìn lão ta trừng trừng một chốc, rồi đưa mắt nhìn quanh một lượt, sau đó đẩy cửa sải bước đi ra.

Vào giờ Nhân định, quân úy quả nhiên đã cho người lặng lẽ khiêng Trương Nghi tới dịch quán.

Đến lúc nửa đêm, Kinh Sinh đang đắp thuốc trị thương cho Trương Nghi, thấy Trương Nghi từ từ hồi tỉnh, thì thở phào một tiếng mà nói: “Cuối cùng thì khách quan cũng đã tỉnh lại!”

Trương Nghi lờ mờ nhận ra người ngồi trước mặt chính là người đã gặp lúc ban ngày, nhớ lại mọi chuyện đã xảy ra, biết là người này cứu mình, bất giác cảm động mà thở dài một tiếng, mở miệng hỏi liền: “Tại hạ với tiên sinh không quen không biết, cớ sao tiên sinh lại cứu tại hạ?”

Kinh Sinh cười nói: “Là vì tại hạ muốn biết, tại sao khách quan nhất quyết muốn đòi lại đĩnh vàng kia?”

Trương Nghi vội sờ trong ống tay áo, thấy đĩnh vàng vẫn còn, cũng cười một tiếng mà rằng: “Xem ra, tiên sinh là một người hiếu kỳ!”

Sáng hôm sau, Kinh Sinh sai người cẩn thận khiêng Trương Nghi lên xe ngựa của mình, chào từ biệt đám tham tướng tới tiễn đưa, ra khỏi doanh trại cùng với ba mươi xe bò đã dỡ hết hàng, lộc cộc thẳng tiến tới Diệp Thành.

Đi được một đoạn, do đường sá gồ ghề mấp mô nên xe ngựa lắc lư rất dữ. Trương Nghi khắp mình thương tích, đau đến nghiến răng nghiến lợi. Kinh Sinh thấy vậy, bèn dừng xe lại, sai người lấy sáu tấm đệm lót xuống sàn xe, rồi đặt Trương Nghi lên trên, lệnh cho phu xe đi chậm lại. Trương Nghi quả nhiên cảm thấy dễ chịu hẳn, cười nói với Kinh Sinh: “Tiên sinh là người Sở ư?”

Kinh Sinh lắc đầu, rồi lại gật đầu.

Trương Nghi ngạc nhiên hỏi: “Vì sao mới đầu tiên sinh lắc đầu, sau đó lại gật đầu?”

Kinh Sinh cười nói: “Nếu muốn biết điều này, khách quan hãy nói về đĩnh vàng kia trước.”

Trương Nghi cũng cười, kể lại một lượt chuyện người Tần cướp đoạt Hà Tây và bức tử mẹ mình ra sao. Thấy Kinh Sinh là người trượng nghĩa, Trương Nghi cũng không hề giấu giếm, kể luôn chuyện mình theo học tại Lạc Dương, rồi tới núi Vân Mộng bái Quỷ Cốc tiên sinh làm thầy. Trương Nghi vốn là người hoạt khẩu, lần này lộ trình lại dài, thời gian thong thả, nên đã kể tường tận từng chi tiết, khiến Kinh Sinh nghe mà trợn mắt há miệng, sửng sốt hồi lâu mới lên tiếng hỏi: “Nói như vậy, đại tướng quân Bàng Quyên của nước Ngụy chính là sư đệ của Trương Tử?”

“Đúng vậy!”

Kinh Sinh lập tức vòng tay vái lia lịa: “Thất kính, thất kính!”

Trương Nghi cười gượng, khẽ than: “Than ôi, vận mệnh thực khéo trêu ngươi. Khi ở trong núi, Bàng Quyên bất tài vô dụng, vừa ra khỏi núi, đã được phong hầu bái tướng, uy danh lẫy lừng. Tại hạ ra khỏi núi, muốn giúp nước Sở làm nên nghiệp lớn, nào ngờ vừa đặt chân đến đất Sở, đã vô duyên vô cớ bị một trận no đòn!”

Kinh Sinh cười nói: “Nói tới chuyện này, tại hạ lại xin chúc mừng Trương Tử. Không giấu Trương Tử, chuyện ngày hôm qua, nếu tại hạ tới chậm một chút, e rằng Trương Tử giờ đây đã bị chúng vứt lên đồi vắng, làm mồi cho chó hoang rồi.”

Trương Nghi kinh ngạc nói: “Tại hạ và họ không thù không oán, cớ sao họ lại muốn đẩy tại hạ vào chỗ chết?”

“Bởi lẽ Trương Tử không nên khăng khăng cố chấp, nhất quyết đòi bằng được đĩnh vàng kia, càng không nên nói chuyện này với tham tướng!”

Trương Nghi vội nói. “Tại hạ không tin! Nước Sở lẽ nào không có vương pháp, để mặc cho những hạng người xấu xa làm xằng làm bậy?”

“Chao ôi!” Kinh Sinh than thở. “Canh giữ cửa ải nước Sở là công việc vô cùng béo bở, quan lại đa phần là vương thân quốc thích, trâm anh thế tộc, bách tích nào dám động chạm tới. Đám sâu mọt này tham lam vô độ, con ngỗng đi qua còn vặt trụi lông, huống hồ là bách tính qua cửa ải? Trương Tử thi gan với chúng, không chết đã là phúc đức lắm rồi!”

Trương Nghi bèn vòng tay vái Kinh Sinh: “Nói như vậy, tại hạ đã nợ tiên sinh một mạng!”

“Không nói chuyện này nữa!” Kinh Sinh cười nói. “Trương Tử muốn tới đâu, có thể nói cho tại hạ biết chăng?”

“Tại hạ muốn tới Sính Đô cầu kiến Sở Vương.”

“Trương Tử chí lớn, tại hạ bội phục. Có điều, Sính Đô cách xa đến vài nghìn dặm, mà tình trạng hiện tại của Trương Tử…”

Trương Nghi khẽ thở dài một tiếng: “Đành phó mặc cho số mệnh vậy!”

“Thế này đi!” Kinh Sinh ngẫm nghĩ một lát rồi nói. “Tại hạ có mối làm ăn nhỏ ở Diệp Thành, nếu Trương Tử không chê, có thể ở tạm vài ngày trong thành, đợi vết thương bình phục, tiếp tục lên đường cũng chưa muộn.”

“Vậy thì tốt quá, có điều… làm phiền tiên sinh như vậy, tại hạ vô cùng áy náy!”

Kinh Sinh nhân cơ hội nói luôn: “Nếu Trương Tử cảm thấy áy náy, có thể giúp tại hạ làm một việc nhỏ.”

Trương Nghi cười nói: “Tại hạ đã nợ tiên sinh một mạng, đương nhiên sẽ tận lực vì tiên sinh. Dám hỏi tiên sinh, muốn tại hạ làm việc gì?”

“Trương Tử có biết tính toán sổ sách không?”

“Cái học toán số, tại hạ từ nhỏ đã biết.”

“Vậy thì tốt quá!” Kinh Sinh mừng rỡ. “Trong cửa hàng của tại hạ đang thiếu người trông coi sổ sách, cảm phiền Trương Tử làm giúp vài ngày.”

Nghe nói chỉ cần giúp Kinh Sinh tính toán sổ sách vài ngày, Trương Nghi cười vang, khảng khái nhận lời: “Chỉ là chuyện vặt, cứ quyết thế đi!”

Trong trọng ải Hình Sơn, chủ tướng Cảnh Hợp cho vài vạn quân tướng rượu thịt no say suốt ba ngày liền, dự tính rằng quân Ngụy đã tới Tuy Dương, nên vào chập tối ngày thứ ba, Cảnh Hợp để lại năm nghìn binh mã trấn giữ Hình Sơn, rồi đích thân dẫn năm vạn năm nghìn đại quân nhổ lều dỡ trại, lặng lẽ tiến về Vĩ Thuỷ. Đang lúc vượt sông, bỗng có vài lính thám mã phi ngựa nước đại tới, tìm được Cảnh Hợp trong bóng tối, viên quân úy dẫn đầu gấp rút bẩm báo: “Báo, đại quân nước Ngụy vẫn chưa tới Tuy Dương!”

Cảnh Hợp kinh ngạc: “Người Ngụy đã đi đâu?”

“Khởi bẩm tướng quân, quân Ngụy men theo Tuy Thuỷ tiến vào phía tây nam Tuy Dương, song khi còn cách Tuy Dương ba mươi dặm, lại đột ngột ngoặt về phía nam, tốc độ hành quân tăng gấp đôi, xem ra, hẳn là muốn tập kích Khổ Huyện!”

“Tập kích Khổ Huyện?” Cảnh Hợp sững sờ, suy nghĩ một hồi, rồi ngẩng lên hỏi. “Toàn bộ quân Ngụy đều đi cả?”

“Khởi bẩm tướng quân, toàn bộ đều đi, không còn một mống! Sự việc xảy ra quá đột ngột, hạ quan đã lệnh cho người tiếp tục bám theo, còn bản thân lập tức tới đây bẩm báo với tướng quân!”

Cảnh Hợp ngẫm nghĩ một lát, hạ lệnh dừng vượt sông.

Cảnh Thúy đang ở vị trí tiên phong vội tiến lại gần, đang định hỏi cho ra nhẽ, lại nhìn thấy có hai thám mã phóng tới, báo rằng đại quân Bàng Quyên đã vòng qua Khổ Huyện, đang tiến về phía tây nam.

Cảnh Hợp vỗ trán kêu lên: “Không xong rồi! Bàng Quyên sắp tập kích Hạng Thành!”

Nghe nói quân Ngụy đi vòng đường xa tới tập kích Hạng Thành, Cảnh Thúy kinh hãi, mắt trợn trừng nhìn Cảnh Hợp.

Cảnh Hợp càng nghĩ càng giận dữ, gõ trường thương uỳnh uỳnh vào thành xe, gầm lên: “Đánh trận cái kiểu chó chết gì thế? Chiêu Dương kia đến Bàng Quyên đi đâu cũng chẳng đoán ra, nói gì tới tập kích Đại Lương, hợp kích Bàng Quyên?”

Cảnh Thúy vội nói: “Hạng Thành là kho lương của ta, hiện tại quân trấn thủ không tới vạn người, cha ơi…”

Cảnh Hợp ngẫm nghĩ một lát, vuốt râu nói: “Bàng Quyên định tấn công vào chỗ ta nhất định phải cứu!” Ngẫm nghĩ một lát, cười nhạt một tiếng. “Hừm, Bàng Quyên quả là to gan lớn mật, dám đi vòng đường xa tới tập kích Hạng Thành, hẳn là không biết ta có sáu vạn đại quân mai phục ở đây. Địch biến ta cũng biến, Hạng Thành dù thế nào cũng không được để mất! Truyền lệnh, rút quân xuống phía nam, tập kích Bàng Quyên, làm hắn trở tay không kịp!”

“Mạt tướng tuân lệnh!”

Trước khi trời sáng, sau khi đại quân âm thầm dỡ trại lên đường, để lại một vùng trọng ải Hình Sơn trống rỗng, binh sĩ trấn giữ cửa ải phần lớn còn ngủ vùi trong doanh trại, một vài lính trực cũng ôm thương gà gật.

Đột nhiên, từ xa bỗng có vài kỵ binh phi ngựa tới trước ải. Lính gác nghe thấy có tiếng động, giật mình kinh ngạc, cầm thương quát hỏi: “Các người là ai?”

Người đi đầu nói lớn: “Tôi là quân úy, thuộc hạ của Cảnh tướng quân, tới đây truyền lệnh khẩn của Cảnh tướng quân, mau mở cổng!”

Mấy người lính dụi mắt, châm đuốc, nhìn thấy đối phương mặc trang phục quân úy nước Sở thì không mảy may nghi ngờ, cằn nhằn vài câu, rồi đi xuống dưới lầu thành, mở cổng, thả cầu treo xuống.

Mấy kỵ binh bèn phi qua cầu treo, vào trong cổng, rồi lập tức rút đao khống chế lính canh. Một người huýt sáo ra hiệu, binh sĩ phục kích gần đó đồng loạt xông lên, hò reo ầm ĩ, lao vào cửa ải, toàn bộ số lính gác đều bị bắt trói. Quân Ngụy ồ ạt tiến vào, đáng thương cho tám nghìn quân Sở còn chưa kịp mặc áo, chưa hết ngơ ngác đã trở thành tù binh của người Ngụy.

Sau khi dễ dàng chiếm được ải Hình Sơn, Tôn Tẫn lập tức ra lệnh cho tướng sĩ đốt lên mấy đống lửa lớn bên ngoài cửa ải, khua trống hò la ầm ĩ.

Đại quân Cảnh Hợp từ Vị Thuỷ tiến xéo về phía đông nam, thẳng tiến tới Hạng Thành, vừa qua Chiêu Lăng, bỗng mơ hồ nghe thấy có tiếng trống trận, tiếng hò la vẳng lại từ phía tây bắc, quay đầu lại nhìn, chỉ thấy phía Hình Sơn lửa bốc ngút trời, thảy đều kinh hoàng chết sững. Cảnh Hợp định thần lại đầu tiên, chỉ biết kêu than đã trúng kế “điệu hổ ly sơn” của Bàng Quyên, lập tức lệnh cho quân quay lại chi viện cho Hình Sơn.

Vài vạn đại quân gấp rút quay đầu, tức tốc trở lại Hình Sơn vào giờ Ngọ, song thấy phía trước cửa ải không hề có dấu vết chém giết, chỉ có vô số đống lửa còn cháy leo lét trong gió. Trên tường thành tĩnh lặng như tờ, không một bóng người. Trên hào quanh thành, cầu treo kéo cao, cổng thành đóng im ỉm. Cảnh Hợp vô cùng kinh ngạc, ngẩng đầu quan sát tứ phía, vẫn không thấy có dấu hiệu gì bất thường.

Cảnh Hợp gọi lớn ra lệnh mở cổng, thấy trên lầu thành có một bóng người đủng đỉnh bước ra, chính là Tôn Tẫn. Tôn Tẫn vẫy tay một cái, cờ Ngụy đồng loạt được kéo lên trên khắp mặt tường thành, phần phật bay lộng theo gió. Rồi sau các ụ tường thành, vô số lính Ngụy ùa ra, người nào người nấy cung tên lăm lăm, chỉ chờ lệnh bắn.

Cảnh Hợp kinh hãi lùi lại vài chục bước, dừng ngựa cách ngoài thành một tầm tên bắn, đang định hạ lệnh đánh thành, bỗng có kỵ binh từ phía Hạng Thành phi nước đại đến cấp báo, nói rằng vài vạn đại quân của Bàng Quyên đang tấn công thành từ bốn mặt.

Cảnh Hợp lúc này mới hiểu ra lời dặn dò trước lúc chia tay của Cảnh Xá, than thở với Cảnh Thúy: “Than ôi, đối đầu với Bàng Quyên, hối cũng không kịp!”

Cảnh Thúy vội hỏi: “Cha, bây giờ phải làm thế nào?”

“Còn làm thế nào nữa? Hình Sơn đã thất thủ, nếu Hạng Thành cũng không giữ nổi, còn mặt mũi nào về gặp bệ hạ đây?”

“Vậy hài nhi sẽ dẫn quân quay lại, cứu viện Hạng Thành!”

Cảnh Hợp trầm ngâm một lát, chậm rãi nói: “Thuý Nhi, con dẫn năm trăm quân sĩ tức tốc tới Bành Thành, báo rõ tình hình với Chiêu Dương tướng quân, bảo tướng quân mau chóng trở về cứu viện!”

Cảnh Thúy khẩn cầu: “Cha ơi, cha hãy phái người khác đi! Thuý Nhi chỉ muốn được ở lại cùng cha!”

Cảnh Hợp lớn tiếng quát: “Đi mau! Chuyện này không phải bàn cãi nữa! Hãy bảo với Chiêu Dương rằng, cha có lời nhắn, nếu để mất Hạng Thành, dù ông ta có chiếm được Bành Thành, công cũng không bù được tội!”

Cảnh Thúy nước mắt giàn giụa: “Hài nhi tuân lệnh!”

Cảnh Thúy dẫn năm trăm binh lính, cáo biệt Cảnh Hợp, cuốn bụi mà đi.

Cảnh Hợp nhìn theo bóng Cảnh Thúy cho đến tận khi khuất hẳn, rồi quay sang phó tướng, nói: “Truyền lệnh, tiền quân chuyển thành hậu quân, khởi binh tiến về Hạng Thành, quyết chiến với Bàng Quyên!”

Năm vạn đại quân của Cảnh Hợp một lần nữa quay đầu, xếp thành thế trận trường xà chữ nhất, kéo dài hơn chục dặm, gấp rút thẳng tiến về Hạng Thành. Khi đại quân lại vượt qua Chiêu Lăng lần nữa, Cảnh Hợp nghe tiếng trống trận vẳng lại từ phía Hạng Thành phía xa, bèn thúc giục quân lính đi nhanh hơn nữa, gấp rút tiến thẳng tới Dĩnh Thuỷ. Tiền quân vừa tới Dĩnh Thuỷ, thình lình nghe thấy tiếng trống thúc dồn dập, rồi ba nghìn quân hổ bôn phía Ngụy ào ào xông ra từ các bụi cây hai bên đường, kẻ nào kẻ nấy như mãnh hổ xuống núi, đói khát tìm mồi, chỉ trong chốc lát, đã chém ngang đội hình trường xà thành mấy đoạn.

Cảnh Hợp hãi hùng, cấp tốc hạ lệnh lui quân, song thấy tứ phía đều là người Ngụy, không biết phải lui về đâu. Trong một ngày đêm, quân Sở đi đi về về hơn hai trăm dặm, sớm đã mệt mỏi rã rời, lúc này càng chẳng còn hơi sức đâu mà chiến đấu, đội ngũ chuệch choạc, đại cục đã mất, tướng không thấy lính, lính không thấy tướng, mạnh ai nấy đánh, tan tác tứ bề.

Cảnh Hợp chẳng biết làm sao, đành đứng trên chiến xa, vung thương chém giết cật lực. Bàng Quyên từ xa trông thấy, lập tức dẫn tướng sĩ khép chặt vòng vây, vây kín Cảnh Hợp vào giữa. Chưa đầy nửa canh giờ sau, tướng sĩ thân thích bên cạnh Cảnh Hợp đều đã tử trận, bản thân Cảnh Hợp cũng bị trúng tên vô số, ngã khỏi chiến xa. Nhìn thấy quân Ngụy bao vây lớp lớp, Cảnh Hợp nhắm chặt hai mắt, vung kiếm tự vẫn.

Quân Sở bỏ chạy tán loạn, lại bị Tôn Tẫn dẫn quân từ phía sau tới chắn đường, vô số kẻ bó tay đầu hàng. Chỉ trong ba canh giờ ngắn ngủi, năm vạn đại quân Sở đã tan vỡ hoàn toàn.

Đến tối hôm đó, Bàng Quyên và Tôn Tẫn gặp nhau, tổng kết tổn thất phía quân Sở: chém đầu hơn vạn, bị thương vài nghìn, bị bắt làm tù binh gần hai vạn, số còn lại chạy tán loạn khắp nơi. Người Ngụy tuy cũng có tử thương, song cả mấy nơi cộng lại vẫn chưa tới năm nghìn.

Hung tin đại quân Cảnh Hợp bị tận diệt mau chóng lan đi, quân giữ thành của hơn chục thành trì như Trường Bình, Côn Dương, Yên đều chạy hết vào Phương Thành, người Ngụy không tốn chút sức lực, ung dung chia quân chiếm giữ. Quân tiên phong tiến thẳng tới Phương Thành, uy hiếp Diệp Thành, Uyển Thành. Bàng Quyên đích thân dẫn đại quân trở lại bao vây Hạng Thành, Tôn Tẫn cũng dẫn binh về Hình Sơn, cùng Bàng Quyên tạo thành thế ỷ giốc.

Để ép Chiêu Dương rút quân khỏi Bành Thành, Bàng Quyên vẫn áp dụng chiến thuật vây mà không đánh, ngày nào cũng chỉ lệnh cho tướng sĩ khua trống hò reo, giả thế tấn công Hạng Thành, hù dọa quân giữ thành. Hạng Thành lệnh khó phân thật giả, liên tiếp cầu xin Chiêu Dương cứu viện, đồng thời cử kỵ binh gấp rút tới Sính Đô cấp báo lên Sở Vương.

Kỵ binh của Bàng Quyên ngoài đánh Hạng Thành, ngầm chiếm Hình Sơn, chỉ trong hai ngày ngắn ngủi, lấy sáu vạn quân đối đầu với sáu vạn quân, đã tận diệt đại quân của Cảnh Hợp, khiến Chiêu Dương kinh hồn bạt vía, nghĩ tới nghĩ lui, vô cùng hối hận vì nhất thời tham lam mà nghe lời Trần Chẩn, trộm gà không thành lại mất thóc. Bành Thành không chiếm được, chưa tính tới hơn chục thành ấp như Hình Sơn liên tiếp thất thủ, còn mất sáu vạn quân. Cảnh Hợp tử trận, Chiêu Dương lấy đâu ra người thế tội, nếu lại để mất Hạng Thành, cuộc đời của ông ta coi như đã xong.

Nghĩ tới đây, Chiêu Dương thở dài một tiếng, truyền lệnh lui quân.

Nhìn vào tấm gương hành quân gấp rút, liều lĩnh tấn công, toàn quân tan vỡ của Cảnh Hợp, Chiêu Dương không dám hành quân đường trường tập kích nữa, mà truyền lệnh cho Cảnh Thúy đang nôn nóng báo thù đi đoạn hậu, còn tất cả các bộ quân khác từ từ rút lui về phía nam qua ải Phù Ly, theo tuyến đường Khổ Huyện, Thành Phụ, tiến tới đâu chắc tới đó, hành quân tới đâu đóng trại tới đó, từ phía đông tiến sang phía tây, áp sát Hạng Thành. Bàng Quyên nhận được tin Chiêu Dương rút lui, cũng không ham đánh, đủng đỉnh thu quân, hợp binh với Tôn Tẫn, dựa vào Hình Sơn, dựng trại dọc theo tuyến Chiêu Lăng, Trường Bình, Uyển Thành, đối trận với Chiêu Dương.

***

Trương Nghi theo Kinh Sinh tới Diệp Thành, sống trong một khu nhà do Kinh Sinh sắp xếp. Mấy ngày qua, Hình Sơn chiến sự liên tiếp, Kinh Sinh vô cùng bận rộn, chẳng còn thời gian để ý tới Trương Nghi, tạm thời sắp xếp hai nô bộc một nam, một nữ hầu hạ Trương Nghi, còn mời cả thầy thuốc ngày ngày đến chăm sóc vết thương cho hắn. Trương Nghi chỉ bị thương ngoài da, hơn nữa lúc ở Quỷ Cốc đã luyện được thuật hô hấp điều tức đặc biệt, nên không tới mười ngày, thương thế đã gần như khỏi hẳn.

Sáng nay, Trương Nghi thấy trong người sảng khoái, bèn bảo người hầu nam đưa mình tới cửa hàng của Kinh tiên sinh xem qua. Đi tới con phố náo nhiệt nhất Diệp Thành, từ xa đã nhìn thấy một cửa hàng lớn, người hầu chỉ tay nói: “Trướng gia, phía trước chính là cửa hàng nhà chúng tôi!”

Trương Nghi tiến lên vài bước, ngẩng đầu nhìn, quả nhiên cơ ngơi rất đồ sộ khang trang. Trên khung cửa cao lớn treo một tấm biển rất to, trên viết bốn chữ “Công Tôn nhục lâm”. Trước cửa hiệu kê một phản thịt dài hơn chục trượng, trên phản thịt lủng lẳng vô số móc câu, trên móc treo đủ các loại thịt còn tươi roi rói, một nửa là thịt súc vật nuôi như lợn, dê, bò, ngựa, lừa, la, chó và các loại gia cầm, một nửa là thịt các loài động vật hoang dã, như hươu, lợn rừng, hổ, báo, gấu, sói, rùa, ba ba và đủ loại chim chóc, đúng là kỳ vị nhân gian, muốn gì cũng có.

Trương Nghi ngắm nghía một lát, khâm phục thốt lên: “Kinh doanh được đến mức này, quả là cực điểm!”

Người hầu tự hào nói: “Trướng gia nói rất phải! Ở Diệp Thành này, không tìm đâu ra cửa hàng thứ hai tầm cỡ thế này đâu!”

Trương Nghi gật đầu nói: “Đừng nói là ở Diệp Thành, dù là ở Thiếu Lương, Lạc Dương, Đại Lương, Tân Trịnh, ta cũng chưa từng nhìn thấy cửa hàng thịt nào chỉnh tề đến thế!” Dừng lại một lát bèn giục. “Ngươi thử vào hỏi xem, Kinh tiên sinh có trong đó không?”

Người hầu tiến lại trước cửa hàng. Gã bán thịt to béo rõ ràng rất quen với anh ta, hai người rì rầm vài câu, gã béo liền tiện tay gỡ một miếng thịt hươu từ trên móc xuống, cười hềnh hệch mà nói: “Thực là khéo, sáng nay vừa giết một con hươu đực, anh hãy mang về cho trướng gia nếm thử vị thịt rừng!” Rồi khẽ nhấc miếng thịt trên tay ước lượng. “Ồ, vừa hay ba cân ba lạng, đủ cho trướng gia thưởng thức!” Lại lấy ra một bát tiết dưới bàn. “Bát tiết hươu này cũng vẫn còn tươi, để cho trướng gia ăn cùng!” Rồi quay sang ông già ghi sổ sách bên cạnh. “Thịt hươu ba cân ba lạng, tiết hươu một bát, ghi vào sổ của ông chủ!”

Trương Nghi lấy làm lạ, tiến lên một bước, chỉ vào miếng thịt hươu: “Xin hỏi, anh còn chưa cân, sao đã biết là ba cân ba lạng?”

Gã bán thịt nhìn Trương Nghi từ đầu đến chân, lại cười hềnh hệch, với lấy chiếc cân để cạnh, nói: “Nếu khách quan không tin, xin cứ cân thoải mái!”

Trương Nghi cầm lấy cân, đặt miếng thịt vào đĩa, nhấc cân lên, đích xác là ba cân ba lạng, thì ngẩn ra một thoáng, rồi chỉ vào miếng thịt hươu, cười mà nói: “Hẳn là anh đã cân sẵn rồi, mới treo lên đây loè người.”

Gã bán thịt có vẻ bực mình, trợn mắt lên, lớn tiếng nói: “Khách quan nhìn đây!” Rồi đặt miếng thịt hươu lên trên phản, lia dao cắt làm đôi, mỗi tay cầm một miếng nhấc lên, sau đó ném miếng thịt bên tay trái lên phản.

“Miếng này một cân tám lạng ba hoa; miếng còn lại, khỏi cần nói nhé!”

Trương Nghi nào có chịu tin, bèn cho lên cân thử, quả nhiên là một cân tám lạng ba hoa, thì vô cùng kinh ngạc, vòng tay hướng vào gã béo vái lia lịa: “Thần công, thần công, tại hạ phục rồi!”

Gã bán thịt đắc ý nhìn Trương Nghi: “Nói không phải khoe khoang, nhưng nếu không có bản lĩnh này, tiểu nhân nào dám tới Công Tôn nhục lâm kiếm cơm!” Rồi chỉ vào các tảng thịt đang treo lủng lẳng. “Toàn là thịt tươi nguyên mới mổ, khách quan cứ chọn thoải mái, thích miếng nào cứ nói. Tiểu nhân chỉ cần cầm tay ước lượng, không cần dùng cân, nếu nói sai dù chỉ nửa lạng, tiểu nhân một xu cũng không lấy!”

Trương Nghi vốn không phải tới để mua thịt, đang không biết nói gì cho phải thì người hầu đã lên tiếng trước, lừ mắt liếc xéo gã bán thịt, nói: “Ngươi ba hoa gì thế, gặp trướng gia còn không mau hành lễ?”

Gã bán thịt lúc này mới biết người đang đứng trước mặt chính là vị trướng gia mà người hầu vừa nhắc đến, thì vô cùng bối rối, liên tục cúi người mà nói: “Tiểu nhân không biết trướng gia đại giá quang lâm, thất lễ, thất lễ!”

Trương Nghi cũng đáp lễ, rồi đi qua một lối hẹp bên cạnh, bước vào trong cửa hàng, cầm lấy con dao trên phản, nhìn gã bán thịt nói: “Tại hạ đã được tận mắt chứng kiến tài nghệ của huynh đệ! Hôm nay tại hạ xin bái sư cầu nghệ, huynh đệ chớ có giấu nghề, mau dạy tại hạ cách cắt thịt cân thịt ra sao?”

Gã bán thịt càng bối rối hơn, xoa xoa hai tay vào nhau, lùi lại liền vài bước: “Sao có thể được? Trướng gia là người cao quý, tiểu… tiểu nhân nào dám dạy trướng gia?”

Trương Nghi đang cố thuyết phục, thì Kinh Sinh nhận được tin báo đã hối hả bước ra, vòng tay vái Trương Nghi mà nói: “Tại hạ không biết Trương Tử tới, đã không ra đón, thất lễ, thất lễ!”

Trương Nghi vái đáp lễ, cất giọng sang sảng: “Người trông coi sổ sách của Công Tôn nhục lâm là Trương Nghi xin chào ông chủ!”

Kinh Sinh thấy Trương Nghi nói vậy, biết hắn đã khỏi bệnh, thì cười vang vài tiếng, quan sát hắn kỹ lưỡng một lượt, rồi gật đầu nói: “Ồ, trông khí sắc của Trương Tử thì biết, bệnh tình chắc đã khỏi rồi!”

Trương Nghi cười nói: “Mấy ngày qua, bữa nào cũng được ăn thịt, chẳng phải động tay làm gì, dù có là một bộ xương khô cũng đã mọc ra tinh khí thần đầy đủ!”

Mọi người đều bật cười. Kinh Sinh chìa tay nói: “Trương Tử, mời vào phòng nói chuyện!”

Trương Nghi theo Kinh Sinh bước vào trong, chỉ thấy phòng ốc nối liền, kèo cột đan xen, dường như có vô số toà ngang dãy dọc. Kinh Sinh dẫn Trương Nghi đi qua liền mấy khung cửa, vào một khu nhà, rồi quay người lại cười mà nói: “Trương Tử, tới phòng sổ sách rồi!”

Trước bàn, có hai người một già một trẻ dáng vẻ thư sinh đang ngồi tính toán sổ sách, thấy hai người họ bước vào, vội vã khấu đầu nghênh đón.

Kinh Sinh chỉ vào Trương Nghi, nói: “Đây là trướng gia mới tới, từ ngày mai, hai người các ngươi phải nghe theo mệnh lệnh của trướng gia, không được thất lễ.”

Hai người vâng dạ, rồi quay sang Trương Nghi khấu đầu: “Xin nghe theo lời sai bảo của trướng gia!”

Trương Nghi nhìn hai người mỉm cười, gật gật đầu, ra chiều đáp lễ.

Kinh Sinh dẫn Trương Nghi đi tham quan một lượt toàn bộ khu trạch viện, sau đó vòng tay với Trương Nghi, nói: “Trương Tử mới bình phục, không nên làm việc quá sức. Đợi đến sáng mai, tinh thần phấn chấn, hãy nói tới chuyện sổ sách. Những việc khác, để sau tính tiếp.”

Trương Nghi từ biệt Kinh Sinh, bước ra khỏi cửa hàng, song không vội về ngay, mà bảo người hầu đưa mình đi lòng vòng quanh phố. Đến khi trời tối hẳn, Trương Nghi đã thăm thú toàn bộ các con phố trong Diệp Thành, đến cả bốn cổng thành cũng không bỏ sót.

Sáng hôm sau, Trương Nghi dậy rõ sớm, thay quần áo xong, hào hứng đi tới cửa hàng thịt.

Kinh Sinh không có ở đó.

Trương Nghi vào trong phòng sổ sách, hai người một già một trẻ đã có mặt, sau khi hành lễ xong xuôi, bèn hầu hạ Trương Nghi ngồi xuống, rồi bê lại một đống sổ sách, chất thành chồng ở trước bàn. Nhìn thấy chồng sổ sách cao lù lù như núi, Trương Nghi chau tít đôi mày, khẽ thở hắt ra, chỉ vào đống sổ sách ra lệnh: “Nói đi, từng cuốn một!”

Người già hơn bèn mở sổ thu chi, bẩm báo với Trương Nghi hết cuốn này tới cuốn khác, vô cùng chi tiết, không bỏ sót một món nào, khiến Trương Nghi nghe mà đau đầu nhức óc, liên tục ngáp dài.

Thấy Trương Nghi đã mệt, ông ta bèn đặt cuốn sổ xuống, khấu đầu nói: “Trướng gia, đã trưa rồi, buổi chiều chúng tôi lại xin bẩm tiếp!”

Trương Nghi gật đầu lia lịa: “Được, được, đã trưa rồi, chúng ta nên ăn chút gì đã!”

Ông già bước lên một bước: “Bẩm trướng gia, hôm nay là buổi đầu trướng gia đến nhậm chức, đương nhiên là chuyện đáng mừng. Nếu trướng gia không chê, hai người chúng tôi xin được mời một bữa rượu nhạt, thứ nhất là để chúc mừng trướng gia tới nhậm chức, thứ hai là mong được chiếu cố sau này.”

Nghe thấy uống rượu, Trương Nghi phấn chấn hẳn lên, lập tức cười lớn mà nói: “Cái gì mà chiếu cố với không chiếu cố, uống rượu chỉ là uống rượu mà thôi! Thế này đi, hai người đã gọi tại hạ là trướng gia, thì hãy để tại hạ mời. Tuy nhiên, tại hạ mới đến, lạ nước lạ cái, chưa biết nơi nào bán rượu ngon, hai vị hãy chọn chỗ, chúng ta cùng tới đó, uống một bữa thật thoả thích!”

Hai người đưa mắt nhìn nhau, rồi gật đầu nói: “Đa tạ trướng gia! Nếu nói về rượu và đồ nhắm ngon thì trong Diệp Thành này chỉ có một nơi, chính là Tiên Nhân Tuý ở phố Đông Nhai.”

“Tiên Nhân Tuý?” Trương Nghi hào hứng. “Cái tên nghe đã thấy thú vị. Nào, tới đó!”

Ba người bước ra khỏi cửa hàng, cười cười nói nói, chẳng mấy chốc đã tới phố Đông Nhai.

Do đã gần trưa, trong quán Tiên Nhân Tuý khá vắng khách, còn rất nhiều chỗ trống. Ba người bước lên lầu, tìm một góc khuất ngồi xuống. Tiểu nhị bước lại, nhìn Trương Nghi cười hì hì mà nói: “Vị này hẳn là trướng gia mới tới làm ở cửa hàng thịt? Tiểu nhân đã được nghe nói tới!”

Trương Nghi liếc mắt nhìn hai người kia, hiểu rằng họ là khách thường xuyên của quán rượu này, tiểu nhị hẳn chỉ là suy đoán, nhưng cũng không nói huỵch toẹt ra, chỉ cười mà nói: “Ồ, tiểu tử cũng tài thật đấy!”

“Đương nhiên rồi!” Tiểu nhị bước lên một bước, khẽ nói. “Không giấu trướng gia, ở trong thành này, đừng nói là trướng gia, dù là một con chuồn chuồn bay vào qua lầu cổng thành, tiểu nhân đây cũng đoán được nó bay vào nhà ai!” Rồi đưa mắt nhìn vào hai người quản sổ. “Hai vị đây thấy tiểu nhân nói có đúng không?”

Ông già vừa cười vừa mắng: “Thôi biến đi, chỉ được cái bẻm mép! Trướng gia tới đây lần đầu, có rượu thịt gì ngon, mau mau mang lại đây! Nếu phục vụ lề mề, trướng gia đây chỉ nói một câu, ngươi sẽ biết thế nào là khổ sở!”

“Ông nói phải lắm!” Tiểu nhị lại cười hì hì, quay sang Trương Nghi. “Trướng gia, hôm nay trời lạnh, tiểu nhân mang lên trước một bình rượu nóng để trướng gia uống cho ấm bụng, sau đó tiểu nhân sẽ mang đồ nhắm lên sau, có được chăng?”

“Được, được!” Trương Nghi cười nói. “Nể mặt tiểu tử ngươi có bản lĩnh, rượu ngon món ngon cứ mang hết lên đây!” Ngừng lại một lát. “Mà nhớ là tám món, bốn nguội bốn nóng, còn rượu, có loại rượu mười năm không?”

“Có chứ, có chứ!” Tiểu nhị trả lời ngay.

“Vậy hãy mang lên trước một vò.”

“Một vò?” Tiểu nhị trợn tròn mắt. “Trướng gia quả là tửu lượng hơn người! Vâng vâng, tiểu nhân đi lấy ngay!”

Một lát sau, tiểu nhị bê bốn đĩa thức ăn nguội lại, bày lên mặt bàn, cười xun xoe mà nói: “Trướng gia, món nguội đã có đây, món nóng xin đợi cho một lát!” Nhìn thấy một tên người làm đang bê một vò rượu lâu năm lại, bèn bảo hắn đặt xuống bàn, lại cười hề hề mà nói. “Vò rượu này đã ủ mười năm, mời trướng gia kiểm tra niêm phong.”

Trương Nghi cười lớn mà nói: “Không cần kiểm tra, chỉ cần trướng gia nếm thử, thiếu một ngày cũng biết!” Nói đoạn đích thân rót ra ba chén rượu, đưa cho hai người kia mỗi người một chén, còn mình nâng một chén. “Nào, hai vị, tại hạ đã lâu không được uống rượu, hôm nay phải uống cho thoả thích, không say không về!”

Ba người nâng chén cùng uống. Uống được một lát, trong quán bắt đầu đông khách dần, không khí cũng náo nhiệt hơn. Tiểu nhị mang các món nóng lại, ba người đang ăn uống vui vẻ, bỗng từ ngoài quán ào vào hơn chục binh sĩ, kẻ nào kẻ nấy mặt mũi thất thần, áo giáp tơi tả, còn có vài kẻ bị thương, tuy chỉ là thương nhẹ, song bộ dạng vô cùng thảm hại.

Đám binh sĩ bước vào đại sảnh, tìm chỗ ngồi xuống, gọi tiểu nhị mang rượu thịt lên. Trương Nghi đưa mắt nhìn ra bên ngoài, thấy trên phố còn có rất nhiều binh sĩ, như thể mới từ dưới đất chui lên, đi thành từng tốp, ai có nhiều tiền thì vào quán lớn, ai có ít tiền thì ngồi tạm húp mì ở những quán ven đường. Cũng có người chỉ thẫn thờ ngồi bệt bên vệ đường.

Trương Nghi quan sát một lát, rồi hỏi hai người quản sổ: “Họ từ đâu tới vậy?”

Hai người đưa mắt nhìn nhau, có vẻ cũng không biết.

Trương Nghi lớn tiếng gọi: “Tiểu nhị, lại đây!”

Tiểu nhị chạy lại, cười giả lả mà hỏi: “Trướng gia, ngài gọi tiểu nhị có việc gì?”

“Vừa rồi nghe ngươi nói, dù là một con chuồn chuồn bay vào qua lầu cổng thành, cũng đoán được nó bay vào nhà ai, không phải nói khoác đấy chứ?”

Tiểu nhị cười nói: “Nghe giọng của trướng gia, lẽ nào tiểu nhân giống người nói khoác?”

Trương Nghi hất hàm về phía đám binh sĩ: “Vậy những kẻ kia từ đâu tới?”

Tiểu nhị tiến sát lại, nói khẽ: “Trướng gia không biết ư? Cảnh tướng quân bại trận rồi! Đại quân Ngụy đã chiếm được Hình Sơn, Côn Dương, Vũ Dương, nghe nói sắp sửa đánh vào Phương Thành!” Đưa mắt nhìn về đám binh sĩ, giọng càng hạ thấp. “Mấy người kia số còn may đấy, những kẻ xấu số đều đã nằm lại trên đất lạnh, làm mồi cho quạ rỉa mất rồi!”

Trương Nghi kinh hãi hỏi: “Vậy còn… Cảnh tướng quân đâu?”

Tiểu nhị ghé sát tai Trương Nghi thì thầm: “Theo tiểu nhân biết, Cảnh tướng quân đã bỏ mình vì nước! Chậc chậc, Bàng Quyên kia quả nhiên lợi hại, Cảnh tướng quân trấn giữ Uyển, Diệp đã nhiều năm, khiến Phương Thành dài hơn trăm dặm vững chãi tựa thành đồng, hơn chục năm qua chưa từng chiến bại. Thế mà lần này gặp Bàng Quyên, chậc chậc, đại quân sáu vạn coi như tan thành mây khói!” Rồi lè lưỡi nói tiếp. “Không giấu trướng gia, hai năm trước, tiểu nhân vẫn còn ấp ủ ước mong có ngày được lập công danh trên sa trường, bây giờ thực không dám nghĩ đến nữa!”

Trương Nghi sửng sốt, ngồi ngây ra một thoáng, dường như sực nhớ tới điều gì, bèn lần trong ống tay áo, tìm kiếm một hồi, lại ngẩng đầu nhìn ông già, cười ngượng nghịu hỏi: “Có tiền bố không?”

Ông già bèn móc ra vài xu tiền đồng, nâng hai tay đưa lại. Trương Nghi cầm lấy, đặt lên mặt bàn, nói với tiểu nhị: “Tiểu tử, thưởng cho ngươi!”

Tiểu nhị cầm lấy, cúi gập lưng xuống mà nói: “Tiểu nhân đa tạ trướng gia! Trướng gia còn muốn nghe gì không, nếu tiểu nhân biết sẽ nói ngay.”

Trương Nghi cười nói: “Trướng gia còn muốn nghe nữa, nhưng chuyện này ngươi không biết đâu!” Dừng lại một lát. “Có điều, bây giờ trướng gia muốn nhờ ngươi giúp một việc.”

Tiểu nhị nhoài người lại: “Xin trướng gia cứ nói!”

“Mang vài cái bát không, đĩa không lại đây, trướng gia có việc cần dùng.”

Tiểu nhị vâng lời, chỉ loáng cái đã bê lại một chồng bát đĩa đủ loại đủ cỡ, xếp ngay ngắn bên cạnh Trương Nghi, cười hề hề mà hỏi: “Trướng gia, chừng này đủ chưa?”

Trương Nghi phẩy tay. Tiểu nhị biết rằng đã đủ, bèn lui ra. Trương Nghi xoay lưng về phía bàn rượu, nhấc đám bát đĩa lên, đẩy tới đẩy lui trước mặt như trẻ con chơi nghịch, xếp thành một đồ hình, rồi ngây người nhìn chằm chằm vào đó.

Hành động kỳ quặc của Trương Nghi khiến hai người kia trố mắt ngồi ngẩn ra, chỉ biết đưa mắt nhìn nhau ở sau lưng Trương Nghi. Một lát sau, ông già đứng dậy, chậm rãi vòng tới trước mặt Trương Nhi, nhìn vào đống bát đĩa đã xếp thành hình, đang định lên tiếng thì Trương Nghi đầu không buồn ngẩng đã cất lời: “Mang đũa lại đây!”

Ông già nghe thấy vậy, vội chạy đi mang vài chiếc đũa lại. Trương Nghi cầm lấy, gác lên giữa đám bát đĩa, chuyển qua chuyển lại, khiến chúng nối liền với nhau, rồi lại dán mắt nhìn sững một hồi, người đờ ra như pho tượng.

Ông già có vẻ sốt ruột, ra hiệu cho gã trẻ tuổi bước lại. Hai người đứng bên cạnh, nhìn một lúc, vẫn mù tịt chẳng hiểu gì. Ông già chau tít đôi mày, định nói gì đó với gã trẻ tuổi, thì Trương Nghi bỗng đưa mắt quét qua đống bát đĩa, lẩm bẩm như nói một mình, cũng lại như nói với hai người: “Lang Nha, Bành Thành, Hạng Thành, Hình Sơn… Sở phạt Bành Thành, Ngụy không cứu Tống, lại tập kích Hạng Thành…” Rồi bất thình lình, trong đầu như có một tia chớp xẹt qua, gõ bát kêu lên: “Tuyệt diệu! Tuyệt diệu!”

Ông già chớp lấy cơ hội, vội hỏi: “Trướng gia, chuyện gì tuyệt diệu thế?”

Trương Nghi quay nhìn hai người, cười vang mà nói: “Tôn huynh tuyệt diệu!”

Ông già sững lại: “Tôn huynh? Tôn huynh nào?”

Trương Nghi không thèm để ý tới ông ta, lại toàn thần tập trung vào đống bát đĩa trước mặt, ngẫm nghĩ một lát, thuận tay nhấc chiếc bát to nhất, đặt vào một vị trí khá xa, rồi quan sát toàn bộ cục diện, vừa ngẩn ngơ suy nghĩ, vừa vung tay nói: “Mang rượu lại đây!”

Ông già ra hiệu cho gã trẻ tuổi, gã vội đỡ lấy chén không trong tay Trương Nghi, rót đầy rượu vào, hai tay bưng lại đưa cho Trương Nghi. Trương Nghi đưa lên miệng, hớp lấy vài ngụm, hai mắt khép hờ, trầm ngâm suy nghĩ.

Ông già đã từng tiếp xúc với rất nhiều người, song chưa từng gặp kiểu người kỳ quặc nhường này, cứ đứng ngẩn ra tại chỗ, không biết phải làm gì. Bỗng thấy Trương Nghi hai mắt trợn tròn, vỗ đầu gối đánh “đét” một tiếng, kêu tướng lên: “Tuyệt diệu! Tuyệt diệu!”

Hai người lại đưa mắt nhìn nhau, ông già hỏi: “Trướng gia, lại có chuyện gì tuyệt diệu thế?”

Trương Nghi ngoảnh nhìn hai người, cười vang vài tiếng, rồi quay lại, uống một hơi hết sạch chén rượu: “Rượu lâu năm tuyệt diệu! Nào, nào, hai vị nhân huynh, xin mời uống rượu!”

Hai người một già một trẻ thấy Trương Nghi đã bình thường trở lại, bèn quay người ngồi xuống, đưa chén rượu lên cười nói: “Uống rượu nào, trướng gia, mời!”

Ba người lại uống thêm vài chén. Ông già đang định rót rượu, chợt thấy vò rượu đã hết, bèn lớn tiếng gọi: “Tiểu nhị, mang rượu lại đây!”

Tiểu nhị vội vã chạy lại: “Trướng gia, cần bao nhiêu?”

Ông già nói: “Mang thêm một vò nữa!”

“Một vò?” Tiểu nhị thoáng chút kinh ngạc, đưa mắt nhìn Trương Nghi. “Trướng gia, rượu ủ mười năm là đặc sản của bản quán, tuy uống ngon miệng, song rượu ngấm từ từ. Ba người trướng gia uống hết một vò, đã là tửu lượng phi phàm, giờ lại uống thêm một vò nữa, tiểu nhân e rằng…”

Trương Nghi đưa mắt nhìn hai người, cười vang mà nói: “Xem ra, hai vị nhân huynh hẳn là tửu lượng cao cường, hôm nay tại hạ đã gặp được đối thủ!” Nói đoạn, quay sang tiểu nhị. “Tiểu nhị, không phải là một vò, mà là hai vò! Vứt quách cái chén này đi, đổi sang bát to!”

Tiểu nhị chặc lưỡi, quay người bước đi. Một lát sau, dẫn theo một gã người làm, bê tới hai vò rượu lâu năm, đổi ba chén rượu thành ba bát to.

Tiểu nhị rót đầy rượu vào bát, đang định lui ra thì Trương Nghi nói: “Tiểu tử, nhân lúc trướng gia còn chưa uống say, muốn hỏi ngươi một chuyện!”

“Tiểu tử xin nghe!”

“Từ đây tới đất Việt bao xa?”

“Chuyện này…” Tiểu nhị vò đầu bứt tai. “Tiểu nhân quả thực không biết!”

Trương Nghi quay sang ông già: “Nhân huynh có biết không?”

Ông già liền vòng tay nói: “Đất Việt phía nam đến Mân Việt, phía bắc đến Lang Nha, từ nam tới bắc đến vài nghìn dặm, không biết trướng gia muốn tới nơi nào?”

“Phải, phải!” Trương Nghi vỗ đầu. “Tại hạ quên mất. Tại hạ muốn hỏi, từ đây tới Lang Nha bao xa?”

“Đi đường bộ hai nghìn ba trăm dặm, đường sông hai nghìn tám trăm dặm.”

Trương Nghi bật cười lớn nâng bát rượu lên nói: “Hay lắm, hay lắm, chút lộ trình này không hề xa xôi!” Rồi uống một hơi hết sạch bát rượu, chìa chiếc bát trống trơn cho hai người thấy. “Nào, nào, hai vị nhân huynh, xin mời uống, tại hạ đã kính trước một bát rồi!”

Ba người uống chưa đầy một canh giờ, hai vò rượu lâu năm cũng đã hết nhẵn. Hai người quản sổ rõ ràng không thể trụ nổi nữa, ông già đã say đổ vật dưới đất, ngáy khò khò, còn gã trẻ tuổi miệng nôn trôn tháo, liên tục ra vào nhà xí, đã được tiểu nhị sắp chỗ nghỉ ngơi. Trương Nghi cười ha hả, lật ông già lại, thấy ông ta vẫn ngáy khò khò, bèn đứng dậy, bưng bát rượu cuối cùng lên, đắc thắng uống liền một hơi, rồi nhẹ nhàng bước xuống dưới lầu.

Trương Nghi bước ra phố lớn, một làn gió lạnh ập đến, bước chân bất giác loạng choạng, bèn lẩm bẩm nhủ thầm: “Rượu ngon, rượu ngon, đúng là rượu ủ mười năm có khác!” Rồi chân bước liêu xiêu trở về cửa hàng thịt theo cảm giác.

Trên phố lớn lúc này vắng tanh vắng ngắt, không một bóng người.

Trương Nghi đang lấy làm lạ, bỗng nhìn thấy gã bán thịt đang từ xa bước lại, thì hồ hởi vẫy tay gọi: “Này, anh béo!”

Gã bán thịt thấy là Trương Nghi, bèn tiến lại gần, vái chào: “Tiểu nhân xin chào trướng gia!”

Trương Nghi cười nói: “Giờ này đáng lẽ phải bán thịt ở cửa hàng chứ, sao lại ở đây?”

Gã bán thịt tiến lại gần nói: “Trướng gia không biết ư, chiều nay Diệp Thành xảy ra chuyện lớn, ông chủ căn dặn tạm thời đóng cửa nửa ngày.”

Trương Nghi đột nhiên nhớ tới đám binh sĩ trong quán rượu khi nãy, vội hỏi: “Người Ngụy đã tấn công Phương Thành rồi ư?”

“Không phải, không phải!” Gã bán thịt lắc đầu, rồi chỉ về phía trước. “Đằng kia có người bày võ đài, mọi người đều tới đó xem cả rồi!”

“Võ đài?” Trương Nghi ngạc nhiên. “Võ đài gì kia?”

“Thì là võ đài tỉ võ chứ còn gì nữa!” Gã bán thịt cười nói. “Trướng gia, tiểu nhân nghe nói, ai thắng sẽ có được phần thưởng quý giá vô song, là bảo bối hiếm có trên đời!”

“Bảo bối hiếm có?” Trương Nghi phá lên cười mà nói. “Một Diệp Thành bé tí xíu, đào đâu ra bảo bối hiếm có?” Rồi đảo mắt một vòng. “Anh béo, nói xem, là bảo bối gì?”

“Ờ…” gã bán thịt lắc đầu, “tiểu nhân cũng không rõ, đang định tới đó xem đây!”

“Hay quá!” Trương Nghi cũng nổi tính tò mò, bèn túm lấy gã bán thịt. “Đã là bảo bối hiếm có, vậy thì cho trướng gia đi theo với!”

Để bảo vệ kinh đô sắt thép Uyển Thành, nước Sở từ năm mươi năm trước đã cho xây dựng một dải trường thành ở ba mặt đông bắc, chính bắc và tây bắc của Uyển Thành, tổng cộng dài chừng hơn ba trăm dặm. Từ xa nhìn lại, thấy trường thành vuông vức, nên gọi là Phương Thành, quân trấn thủ ở đây có hơn hai vạn người. Tường thành của Diệp Thành nối liền với Phương Thành, do vậy nơi này đã trở thành trung tâm huấn luyện và sinh sống của quân giữ Phương Thành, chịu sự cai quản của nguyên quận thú Nam Dương là Cảnh Hợp.

Ở trung tâm Diệp Thành có một chòi canh, phía trước chòi canh là một thao trường điểm binh sức chứa vài vạn người, bốn phía thao trường là bốn con đường lớn nối thông với bốn cổng thành đông, tây, nam, bắc. Trên chòi canh lúc nào cũng có lính canh gác suốt ngày đêm, hễ nhìn thấy phong hoả cháy trên trường thành, lính gác sẽ gõ trống báo động, Diệp Thành ngay lập tức bước vào tình thế khẩn cấp, binh sĩ từ bốn phương tám hướng ào đến thao trường, sau khi điểm quân xong, sẽ gấp rút chạy qua bốn cổng tới Phương Thành.

Tại trung tâm thao trường, dựa lưng vào chòi gác, đã dựng một võ đài bằng gỗ. Võ đài trông rất thô sơ, rõ ràng là mới dựng vội vàng. Trên võ đài trải một lớp gỗ dày, là nơi đang diễn ra cuộc tỉ võ.

Khi Trương Nghi và gã bán thịt tới nơi, thao trường điểm binh đã trở thành biển người, chí ít cũng đến vài nghìn. Vô số cặp mắt đều dán chặt vào võ đài.

Trên võ đài, có hai tráng hán đang tranh đấu.

Trương Nghi len lên trên cùng, đưa tay dụi mắt, vừa kịp liếc lên võ đài đã thấy một tráng hán bị đối phương ném thẳng xuống dưới đài. Khán giả dưới đài hò hét cổ vũ ầm ầm như sấm động.

Người chiến thắng đang dương dương tự đắc, bên trái lại có người nhảy lên, song chưa được vài hiệp, người này lại bị quăng xuống đất, đành lồm cồm bò dậy lủi đi. Trương Nghi xem khoảng nửa canh giờ, đã thấy trên đài liên tiếp đổi sáu lượt người thắng, chóng vánh chẳng khác gì đèn kéo quân.

Người chiến thắng cuối cùng vai hổ lưng gấu, sức khoẻ như trâu, lừng lững như toà tháp sắt, từ lúc bá chủ võ đài, hễ ai xông lên tỉ thí, cũng chỉ được một hiệp đã bị hất văng xuống đài, khuấy động từng tràng reo hò chấn động.

Trương Nghi mắt say lờ đờ, nheo tít lại chỉ còn là hai đường chỉ, nhìn chăm chăm vào kẻ bá chủ võ đài. Gã bán thịt huých nhẹ khuỷu tay vào Trương Nghi, nói: “Trướng gia, tiểu nhân dám cược rằng, người chiến thắng chắc chắn là hắn!”

Trương Nghi liếc xéo gã bán thịt, chỉ tay vào võ sĩ trên đài, lưỡi cứng đờ mãi mới thốt ra được vài tiếng: “Cũng… cũng chưa chắc!”

Chính vào lúc này, tráng hán trên võ đài đột nhiên cởi áo, để lộ thân hình cơ bắp cuồn cuộn trong gió lạnh buốt, vỗ ngực bình bịch, cất giọng oang oang: “Có vị tráng sĩ nào muốn thử sức nữa không?”

Lời vừa nói dứt, tráng hán giậm mạnh liền ba cái xuống sàn võ đài, lực đạo kinh người khiến sàn gỗ rung lên bần bật. Đám đông đồng thanh hô lớn: “Tráng sĩ, người thắng chính là tráng sĩ!”

Tráng hán lại đấm ngực bùm bụp, đi dọc mép võ đài, vừa đi vừa giậm chân, khiến toàn bộ võ đài rung lắc dữ dội, giọng nói oang oang như chuông đồng: “Có vị tráng sĩ nào muốn thử sức nữa không?”

Mọi người đều kinh sợ trước uy thế của hắn, vội lùi lại vài bước, đưa mắt nhìn nhau.

Trương Nghi vốn đứng ở hàng trên cùng với gã bán thịt, những người phía sau thình lình lùi cả lại, chỉ còn hai người họ đứng trơ tại chỗ. Gã bán thịt thấy vậy, vội vã lùi lại vài bước, nhưng Trương Nghi lại ngây ngô không biết, vẫn đứng nguyên tại chỗ, nheo nheo đôi mắt lờ đờ nhìn vào tráng hán.

Gã bán thịt sợ quá, vội bước lên một bước, kéo ống tay áo Trương Nghi: “Trướng gia, lùi lại đi!”

Trương Nghi vằng mạnh cánh tay, khiến cơ thể loạng choạng, suýt ngã bổ chửng, rồi quay đầu lại trừng mắt nhìn gã, nạt nộ: “Lùi cái gì mà lùi?”

Mọi người cười ồ lên trước bộ dạng say xỉn của Trương Nghi, kêu ầm lên: “Này tráng sĩ kia, không lùi thì lên võ đài đi!”

Trương Nghi xắn cao tay áo, ra vẻ muốn xông lên võ đài. Mọi người thấy hắn say đến mức này, thì cười rộ cả lên.

Trương Nghi bám tay vào mép võ đài, muốn nhảy lên, nhưng nhảy liền mấy lần, vẫn chưa lên nổi, khiến mọi người càng ôm bụng cười rũ rượi. Đến cả tráng hán trên võ đài cũng ngoác miệng cười ha hả.

Trương Nghi nhổ mấy bãi nước bọt vào lòng bàn tay, vận khí, rồi hai tay chống mạnh lên mép võ đài, nhún chân nhảy thẳng lên trên. Vừa với lên được mép võ đài, hai khuỷu tay đột nhiên mềm nhũn, lại ngã lộn nhào xuống đất.

Mọi người lại được một phen cười nghiêng ngả.

Trương Nghi lồm cồm bò dậy, phủi hai tay, nhìn lên võ đài, rồi quay sang nói với gã bán thịt: “Hừm, anh béo, hôm nay trướng gia uống hơi quá chén. Lại đây, mau dìu trướng gia lên võ đài, xem trướng gia… thắng… thắng hắn thế nào!”

Gã bán thịt đỡ lấy mông Trương Nghi, đẩy mạnh lên trên, tráng hán trên đài cũng giúp một tay, nắm lấy một tay Trương Nghi, nhấc khẽ một cái đã lôi tuột hắn lên võ đài.

Trương Nghi được kéo lên võ đài, ngả nghiêng lảo đảo mất một chốc mới đứng vững được.

Bên dưới võ đài, tiếng hò hét rộ lên: “Tráng sĩ, mau đánh đi, đuổi cổ người kia xuống khỏi võ đài, tráng sĩ sẽ thành cô gia đấy!”

“Cô gia?” Trương Nghi ngơ ngác không hiểu, bước tới mép võ đài, hỏi gã bán thịt. “Cho trướng gia hỏi, cô gia nghĩa là gì?”

Gã bán thịt dang rộng hai tay, hét lớn: “Trướng gia, đừng hỏi nữa, xuống đi, xuống rồi tiểu nhân sẽ trả lời trướng gia!”

Trương Nghi lắc đầu nói: “Lui ra, trướng gia đã… đã lên rồi… thì không có chuyện… xuống… xuống đâu!” Rồi lùi lại hai bước, thủ thế sẵn sàng, nhìn sang tráng hán.

Tráng hán lùi lại một bước, song không ứng chiến, chỉ đứng khoanh hai tay nhìn Trương Nghi, cười vang khoái chí: “Ngươi là trướng gia?”

“Trướng gia thì sao?”

Tráng hán cười lớn mà nói: “Trướng gia thì chỉ biết tính toán sổ sách, lên võ đài làm gì?”

“Bớt… bớt hỏi… thừa… thừa thãi đi, trướng gia đã lên võ đài, đương nhiên là để tỉ… tỉ võ… chứ còn gì nữa!”

Tráng hán lại phá lên cười một tràng dài: “Bộ dạng như trướng gia, cũng muốn tỉ võ?” Rồi khẽ vận khí, xương cốt toàn thân kêu lên răng rắc. “Nói đi, trướng gia muốn hạ đài như thế nào?”

Trương Nghi liền thủ thế, người lại lảo đảo, đưa tay dụi mắt rồi nhìn tráng hán: “Huynh là chủ… chủ đài, cho huynh quyết định! Huynh muốn hạ đài như thế nào, tại hạ xin chiều!”

Tráng hán lại cười toáng lên: “Tuỳ ý trướng gia, không mọi người lại bảo tại hạ ức hiếp trướng gia!”

Trương Nghi nheo nheo mắt quan sát đối phương một lát, rồi quay về phía đám đông, vòng tay mà nói: “Chư vị nghe… nghe rõ rồi chứ? Chủ đài vừa nói là tuỳ… tuỳ tại hạ, được rồi, tuỳ tại hạ thì tuỳ tại… tại hạ!” Quay sang tráng hán. “Chúng ta tỉ thí ba hiệp, ai thắng hai hiệp sẽ là chủ đài, nếu thua liền hai hiệp, thì tự mình xuống đài!”

Tráng hán nhìn bộ dạng say xỉn của Trương Nghi, cứ nghĩ anh chàng chỉ đến phá đám cho vui, bèn cười mà nói: “Được được, tại hạ xin nghe theo!”

Trương Nghi lại nói: “Hiệp thứ nhất, tỉ… tỉ thí sức khoẻ!”

Tráng hán nghe nói là tỉ thí sức khoẻ, lập tức phá lên cười lớn: “Được được, tại hạ xin nghe theo! Vậy… tỉ thí sức khoẻ thế nào?”

“Ném đồ vật! Ai ném xa hơn, người đó khoẻ hơn, huynh thấy thế nào?”

Tráng hán cười nói: “Được thôi, ném thì ném! Nói đi, ném vật gì?”

Trương Nghi lần mò trong ống tay áo một hồi, rồi lôi ra cây quạt lông nhạn do hắn tự kết hồi còn ở trong Quỷ Cốc, rứt ra một cọng lông vũ, cầm trong tay mà nói: “Ném cái này!”

Mọi người nhìn thấy chỉ là một cọng lông thì cười ồ cả lên.

Tráng hán nhìn cọng lông, sững người một lúc, lấy làm hối hận, song lời đã nói ra, đành phải miễn cưỡng đồng ý: “Ném thì ném!”

Tráng hán cầm lấy sợi lông vũ, dồn hết sức lực ném thẳng lên không trung. Cọng lông cũng thật lạ, lực ném càng lớn, ném lên càng cao, lại càng không thể bay xa. Cọng lông đã được ném lên, không những không bay đi, mà ngược lại, bị cuốn theo luồng gió mà chính cánh tay tráng hán khuấy động, chao qua chao lại mấy cái, rồi hạ ngay xuống bên chân hắn. Mọi người nhìn thấy cọng lông bay ngược trở lại, thì rộ lên cười ầm ĩ.

Trương Nghi lảo đảo bước lại, nhặt lấy cọng lông vũ, nhẹ nhàng ném lên không trung, rồi cầm quạt phẩy một cái. Một làn gió nhẹ thổi ra, cuốn sợi lông bay đi, cuối cùng hạ xuống cách đó hơn một trượng.

Trương Nghi quay lại, hướng về phía tráng hán, ôm quyền nói: “Đa tạ… nhân huynh… nhường… nhường nhịn!”

Tráng hán hậm hực: “Tiểu tử giở trò khôn vặt! Tỉ thí tiếp!”

Trương Nghi gật đầu thật mạnh: “Đương… đương nhiên rồi, đã nói là tỉ… tỉ thí ba hiệp, ai thắng hai hiệp là người chiến thắng! Sức khoẻ đã tỉ thí rồi, tiếp theo tỉ… tỉ thí gì đây?” Rồi vò đầu bứt tai ra chiều suy nghĩ.

Tráng hán lo lắng lại bị lừa, vội lên tiếng: “Không phải nghĩ, giống như vừa rồi, nhưng đánh thực!”

Trương Nghi suy nghĩ một lát, gật đầu nói: “Đương nhiên rồi, trên sàn đấu võ, đương nhiên phải đánh thực. Tại hạ hỏi nhân huynh, nếu đánh thực, phải luận thắng thua thế nào?”

“Ai xuống dưới đài, coi như đã thua!”

“Có nghĩa là, dù đánh hay không, chỉ cần xuống khỏi võ đài, coi như đã thua phải không?”

Tráng hán chẳng buồn nghĩ ngợi, đáp luôn: “Đương nhiên rồi!”

Trương Nghi hỏi ngay: “Bắt đầu tính từ bao giờ?”

“Tại hạ đang tỉ thí, đã bắt đầu từ lâu rồi!”

Trương Nghi vẫn trong bộ dạng say xỉn, gãi gãi đầu: “Ờ phải rồi, tại hạ uống nhiều quá!”

Thấy Trương Nghi vẫn chưa tỉnh rượu, đám đông lại cười ầm ĩ.

Tráng hán nhìn Trương Nghi, rồi phô ra cơ bắp toàn thân, thủ thế chờ sẵn: “Tại hạ biết nhân huynh uống nhiều rồi, nên nhường nhân huynh ba mươi chiêu, tuyệt đối không trả đòn. Nếu trong vòng ba mươi chiêu, nhân huynh có thể đánh tại hạ ngã xuống võ đài, coi như tại hạ đã thua.”

Trương Nghi vòng tay nói: “Tại hạ đa tạ!” Dừng lại một lát, lại lắc đầu nói. “Có điều ‘coi như thua’ không phải là thua. Đánh thua mới là thua.”

Tráng hán đứng ngẩn ra: “Được rồi, được rồi, sẽ tính là đánh thua!”

Trương Nghi lại nói: “‘Tính là đánh thua’ cũng không phải là thua, đánh thua mới thực sự là thua.”

Tráng hán nghe Trương Nghi nói mà rối tung rối mù, bực bội trợn trừng hai mắt: “Được rồi, được rồi, thì bỏ chữ ‘tính’ đi, là đánh thực thua thực!”

“Vậy mới được!” Trương Nghi thủ thế, lảo đảo bước lại, đi vòng quanh tráng hán ba vòng xuôi, rồi lại vòng quanh ba vòng ngược, khiến đám đông nhìn mà hồi hộp nín thở.

Tráng hán sốt ruột đến phát bực: “Trướng gia, mau xuất quyền đi!”

Trương Nghi loạng choạng một cái rồi dừng bước, nghiêng đầu nhìn tráng hán.

Tráng hán vội hỏi: “Vì sao không đánh?”

Trương Nghi nhìn võ đài, rồi lắc đầu, bình thản nói: “Đánh bật được nhân huynh xuống võ đài này, vẫn chưa tính là bản lĩnh.”

Tráng hán giận dữ hỏi: “Vậy theo ý trướng gia, thế nào mới là bản lĩnh?”

Tuy trời lạnh, song Trương Nghi thấy trong người nóng hừng hực, lại lôi cây quạt lông từ ống tay áo ra, quạt liền vài cái, chậm rãi nói: “Tại hạ hỏi thử nhân huynh, đánh người từ chỗ cao xuống chỗ thấp khó hơn, hay là đánh người từ chỗ thấp lên chỗ cao khó hơn?”

“Thế mà cũng phải hỏi, đương nhiên là từ đánh chỗ thấp lên chỗ cao khó hơn rồi!”

Trương Nghi chỉ vào võ đài: “Nhân huynh muốn tại hạ đánh nhân huynh từ trên đài rơi xuống dưới đài vốn không phải việc khó, đương nhiên không tính là bản lĩnh. Đã không tính là có bản lĩnh, tại hạ còn đánh làm gì?”

“Vậy thì…” tráng hán ngạc nhiên hỏi, “theo ý trướng gia, thế nào mới là bản lĩnh?”

“Đánh nhân huynh từ dưới đài văng lên trên đài, mới là bản lĩnh!”

Tráng hán bị Trương Nghi nói qua nói lại một hồi, đầu óc mụ mị như lạc vào trong sương mù: “Được rồi, được rồi! Tại hạ nhường trướng gia ba mươi quyền, trướng gia không chịu đánh thì thôi, tới lượt tại hạ xuất chiêu!”

Trương Nghi khoanh hai tay trước ngực: “Nếu nhân huynh thực sự có bản lĩnh, xin cứ đánh!”

Tráng hán ngỡ ngàng hỏi: “Trướng gia nói thử xem, tại hạ đánh thế nào mới được xem là có bản lĩnh?”

Trương Nghi chỉ vào võ đài: “Đương nhiên cũng là đánh tại hạ từ dưới đài văng lên trên đài!”

Tráng hán bước tới mép võ đài, thò đầu ra ước lượng độ cao thấp, lại ngoảnh nhìn Trương Nghi, hết sức tự tin mà nói: “Đánh thì đánh! Chúng ta hãy cùng xuống dưới!”

“Quyết định vậy đi!” Hơi rượu trong người Trương Nghi rõ ràng càng bốc cao hơn, người lại chệnh choạng mấy cái, gắng gượng lắm mới đứng vững được, rồi chỉ tay xuống dưới đài hỏi. “Nhân… nhân huynh xuống trước, hay là tại… tại hạ xuống trước?”

Tráng hán bực bội, lớn tiếng nói: “Đến chuyện này cũng phải dài dòng!” Tung người một cái, đã thấy đứng vững vàng dưới đất. Võ đài cao tầm một trượng, mọi người thấy hắn tiếp đất chắc chắn không mảy may nghiêng ngả, thì hò reo cổ vũ vang dậy.

Trương Nghi vẫn đứng ở trên đài, mắt nhìn tráng hán, lắc đầu quầy quậy.

Tráng hán sốt ruột: “Còn lắc đầu gì nữa, xuống mau lên!”

“Xuống ư?” Trương Nghi ra vẻ ngạc nhiên. “Tại sao tại hạ lại phải xuống?”

Tráng hán ngẩn người: “Trướng gia không xuống, tại hạ làm sao có thể đánh trướng gia văng lên trên?”

“Ồ!” Trương Nghi lại lắc đầu một chập, thở hắt ra một hơi mới nói: “Nhân huynh cũng thật là… Tỉ thí ba hiệp, nhân huynh đã thua liền hai hiệp rồi, vẫn còn đứng đó mà đòi đánh!”

Tráng hán giận dữ nói: “Đánh còn chưa đánh, thua ở đâu ra?”

Trương Nghi nheo nheo mắt: “Chúng ta đang tỉ thí võ đài kia mà! Tại hạ vẫn ở trên này, còn nhân huynh, đã ở dưới đài!” Rồi đưa mắt nhìn xuống đám đông. “Chư vị nói thử xem, hai người chúng tôi, ai là người thua cuộc?”

Mọi người lúc này mới hiểu ra, lập tức vỗ tay ầm ĩ. Tráng hán tức nổ đom đóm mắt, đang định lên võ đài tranh luận, thì từ bên trái võ đài đã bước ra hai người quản sự, giơ tay nói với khán giả phía dưới: “Chư vị, cuộc tỉ võ ngày hôm nay đã có kết quả!” Rồi quay sang Trương Nghi, vòng tay vái chào. “Cô gia, mời!”

“Cô gia?” Trương Nghi đầu óc đã mụ mị vì hơi rượu, đứng ngẩn ngơ một lát, rồi gật gù nói: “Được, được, cô gia thì cô gia! Nào, hãy mang rượu lại cho cô gia!”

Trương Nghi đã uống quá nhiều, lại đứng làm trò trên võ đài quá lâu, rượu đã ngấm sâu, cơ thể bỗng mềm oặt, ngã kềnh xuống đất. Trong lúc mê man, đã bị người ta khiêng lên xe ngựa, rồi lọc cọc rời đi trong tiếng hoan hô ồn ã của đám đông.

Khi Trương Nghi tỉnh lại, đã là tảng sáng hôm sau.

Nghe thấy tiếng gà gáy sáng, Trương Nghi nghiêng đầu nhìn về phía cửa sổ, nhưng ngoài trời tối thui chẳng nhìn thấy gì, cũng không nhìn thấy cánh cửa sổ quen thuộc. Trương Nghi đang lúc ngạc nhiên, bỗng giật mình nhận ra trên mình không một mảnh vải che thân, thì ngây người lẩm bẩm: “Quái lạ! Bình thường đi ngủ đều mặc quần áo, sao tối qua lại… Thôi đúng rồi, chắc là đã quá chén!”

Đang băn khoăn suy nghĩ, Trương Nghi chợt ngửi thấy một mùi hương lạ lẫm, hít hà vài cái, lại ngẩn người ngạc nhiên: “Hương thơm ở đâu ra thế nhỉ?” Vừa vươn tay ra, chạm phải tấm chăn, lại kinh ngạc thêm một lần nữa, bởi tấm chăn chất liệu rất mềm mịn, khác hẳn với tấm chăn bình thường vẫn đắp.

Trương Nghi trợn mắt hết cỡ, nhìn khắp tứ phía, lúc này mới lờ mờ nhận ra mình đang ở trong một căn phòng xa lạ, nằm trên chiếc giường gỗ rộng thênh thang. Trương Nghi ngẩn ra kinh ngạc mất một lúc, rồi mới đưa tay lần tìm xem có đá lửa mồi lửa gì không, nào ngờ lại chạm phải một cánh tay mềm nuột. Trương Nghi giật nảy mình, vội rụt tay lại, vén chăn lên nhìn, té ra người nằm chung giường với mình là một cô gái hoàn toàn loã thể.

Trương Nghi cả kinh, bật kêu lên một tiếng, vơ lấy tấm chăn quấn vội vào người, lùi tới sát mép giường, nghiêm giọng quát lên: “Cô là ai? Vì sao lại ngủ ở đây?”

Cô gái đang ngủ say, bị tiếng quát của Trương Nghi khiến cho giật mình tỉnh giấc, thấy bộ dạng kinh hoảng của Trương Nghi thì bật cười, cứ thế thản nhiên ngồi dậy mà nói: “Phu quân, chàng đã tỉnh lại rồi?”

“Phu quân?” Trương Nghi kinh hãi, tiếp tục lùi lại. “Phu quân nào?”

Cô gái tức giận mắng: “Phu quân thực thích nói đùa! Tối qua ngày đẹp đêm lành, phu quân đã cùng thiếp bái đường thành thân, kết duyên giai ngẫu. Nay thiếp đã thuộc về phu quân rồi, sao phu quân lại còn đùa cợt?”

Trương Nghi hít ngược một hơi khí lạnh, cố gắng hồi tưởng lại chuyện hôm qua, lúc này mới nghĩ ra đài tỉ võ hôm qua chính là để kén rể. Món bảo bối quý hiếm, đương nhiên chính là cô gái trước mắt. Cô gia hẳn là cách gọi “chàng rể” của người Sở, bản thân nhất thời uống say túy lúy, không phân biệt đen trắng đúng sai, đã đánh bại chủ đài trong lúc nửa say nửa tỉnh, ma xui quỷ khiến mà thành tân lang.

Nghĩ tới đây, Trương Nghi khẽ thở dài, quay sang cô gái: “Cô nương, cô nương đã nhìn lầm người rồi!”

Cô gái kia đôi mắt vẫn tình tứ long lanh, nhìn Trương Nghi, cười tươi như hoa mà nói: “Phu quân yên tâm, con mắt của thiếp tinh tường lắm, chuyện chung thân đại sự, quyết không nhìn lầm. Đám tráng sĩ thượng đài kia, thiếp nhìn khắp lượt chẳng ai ưng mắt, chỉ đến khi phu quân xuất hiện, mới thấy trước mắt sáng bừng. Thiếp trong lòng đã hiểu, cả đời này, sống chết cũng nguyện theo phu quân!”

Trương Nghi vội nói: “Cô nương, tại hạ và cô nương vốn không quen biết, chưa nói tới chuyện có hiểu lòng nhau, mà ngay đến tên họ của tại hạ, cô nương còn không biết, cớ sao lại dễ dàng uỷ thác chuyện cả đời?”

“Phu quân nói sai rồi!” Cô gái cười nói. “Tên, họ đều là thứ người khác đặt cho, đều là vật ngoài thân, chẳng liên quan gì tới thiếp. Thứ liên quan tới thiếp chỉ có duy nhất con người của phu quân. Còn như phu quân họ gì, tên gì, cũng mặc kệ!”

Thấy cô gái nói như vậy, lại nghĩ tới những lời Ngọc Thiền từng nói khi ở trên núi, hai người đúng là khác nhau một trời một vực, Trương Nghi bất giác cười gượng một tiếng, giễu cợt mà rằng: “Nói như vậy, thứ cô nương quan tâm chỉ là cái thân xác thịt này của tại hạ. Tại hạ nghĩ gì, làm gì, thích gì, buồn gì, đều không liên quan tới cô nương?”

“Phu quân lại nói sai rồi!” Cô gái cười khanh khách. “Thiếp đã thuộc về phu quân, phu quân nghĩ gì, cũng là điều thiếp nghĩ; phu quân làm gì, cũng là điều thiếp làm; phu quân thích gì, cũng là điều thiếp thích; phu quân buồn gì, cũng là điều thiếp buồn. Cớ sao phu quân lại nói rằng những thứ này không liên quan tới thiếp?”

Không ngờ cô gái này lại ăn nói lanh lợi đến vậy. Trương Nghi trong lòng kinh ngạc, biết đã gặp phải đối thủ, ngẫm nghĩ một lát, làm ra vẻ khổ sở mà nói: “Xin hỏi cô nương, nếu không hiểu lòng tại hạ, làm sao có thể cùng vui, cùng buồn?”

Cô gái vẫn cười nói: “Về chuyện này, phu quân cứ yên tâm. Lòng dạ của phu quân, có thể hiện tại thiếp không biết, nhưng sau này sẽ biết!”

Nghe thấy lời này, Trương Nghi bỗng thấy tim mình nảy ngược, không nói gì thêm nữa, chỉ đưa hai tay mò mẫm bên mép giường, chốc sau cũng tìm thấy quần áo, vội vã mặc lên người. Cô gái kia không nói gì, cũng quay sang mặc quần áo vào, sau đó tìm đá lửa và bấc, thắp sáng đèn dầu.

Dưới ánh đèn, Trương Nghi đưa mắt nhìn sang, bỗng thấy trước mắt sáng bừng, bởi ngồi bên mép giường là một thiếu nữ tuyệt sắc, đôi mắt long lanh linh hoạt, toàn thân toát lên vẻ tinh anh khoáng đạt, so với Ngọc Thiền, lại mang một phong thái hoàn toàn khác biệt.

Trương Nghi bỗng thấy rung động trong lòng, bèn hỏi: “Xin hỏi quý danh cô nương?”

“Thưa phu quân,” thiếu nữ cười nói, “đối với thiếp, tên họ không hề quan trọng. Nếu phu quân nhất thiết muốn biết, hãy cứ gọi thiếp là Hương Nữ.”

“Hương Nữ?” Trương Nghi vừa ngẫm nghĩ, vừa tìm lời đối đáp. “Trong phòng hương thơm sực nức, quả là tên cũng như người. Dám hỏi cô nương dùng loại hương thơm gì vậy?”

Hương Nữ mím môi cười chúm chím, nói: “Trong phòng này không hề dùng hương liệu. Phu quân có điều không biết, người thiếp sinh ra đã lạ lùng, luôn mang hương lạ, tắm rửa cũng không hết, nên cha mẹ mới gọi là Hương Nữ.”

Trương Nghi đưa mắt nhìn ra cửa phòng, miệng vẫn cười mà nói: “Nếu đúng là vậy, quả thực thần kỳ!” Còn chưa nói xong, chân đã bước tới cửa, đưa tay rút then, đẩy mạnh cánh cửa ra, song cửa phòng đã bị khóa trái bên ngoài.

Trương Nghi ngạc nhiên hỏi: “Chuyện này… chuyện này là sao?”

Hương Nữ cười mà rằng: “Phu quân chớ kinh hãi, hẳn là gia phụ đã sai người khoá cửa rồi!”

Trương Nghi lúc này mới nhận ra mình đã gặp phải phiền phức lớn, bèn đứng dựa lưng vào cửa, vắt óc nghĩ kế thoát thân. Một lát sau, Trương Nghi chậm rãi bước trở lại, dừng ở cách giường vài bước, khẽ gọi: “Cô nương!”

Hương Nữ giận dỗi nói: “Phu quân, chàng phải gọi thiếp là Hương Nữ mới đúng!”

Trương Nghi ngẫm nghĩ một lát, rồi nói: “Được rồi, Hương Nữ!”

“Dạ!” Hương Nữ cất giọng ngọt ngào đáp lại. “Phu quân có điều gì sai bảo?”

“Tại hạ cầu xin nàng một việc!”

“Tấm thân này của thiếp đã giao cho phu quân, việc của phu quân cũng là việc của thiếp, phu quân có gì sai bảo, cứ nói ra là được, hà tất phải dùng tới hai chữ cầu xin.”

“Là thế này! Tại hạ muốn tới một nơi xa xôi nghìn dặm để thực hiện một việc hệ trọng trong đời người, phải lên đường gấp, khẩn cầu cô nương hãy thả tại hạ ra!”

Hương Nữ ngập ngừng nói: “Phu quân… chuyện này… thiếp…”

Trương Nghi liếc thấy một thanh bảo kiếm treo xéo trên tường, đảo mắt vài vòng, nói: “Nếu cô nương cứ khăng khăng không chịu, tại hạ… tại hạ… tại hạ…” rồi xông tới bên tường, giật phắt thanh bảo kiếm xuống, rút ra kể ngang cổ, “tại hạ sẽ chết ở đây!”

Hương Nữ kinh hãi kêu lên một tiếng, lao vụt tới, Trương Nghi còn chưa hiểu chuyện gì xảy ra, đã thấy cổ tay mềm oặt, thanh bảo kiếm đã nằm trong tay Hương Nữ.

Hương Nữ quăng kiếm xuống đất, quỳ xuống dưới chân Trương Nghi, bật khóc nghẹn ngào mà nói: “Phu quân muốn làm việc lớn, thiếp nào dám không nghe? Tuy nhiên… hôm nay là ngày đại hỷ trong đời thiếp, gia phụ chỉ có mỗi mụn con gái là thiếp, nên chắc chắn sẽ không đồng ý. Không giấu phu quân, đêm qua thời khắc tốt lành, gia phụ sợ phu quân không nghe, không những khoá trái cửa phòng, còn bố trí nhiều người canh giữ trong viện. Họ đều võ công tuyệt đỉnh, đừng nói là phu quân, dù là một con chuồn chuồn cũng khó lòng bay ra khỏi cổng.”

Trương Nghi bàng hoàng kinh sợ. “Vậy… lệnh tôn là ai?”

Hương Nữ do dự một lát, đưa mắt lườm Trương Nghi một cái, vừa bực bội vừa hờn trách: “Là nhạc phụ của phu quân chứ ai!”

Chốc lát sau, trời đã sáng quang. Trương Nghi nghe thấy tiếng ổ khoá lách cách bên ngoài, biết là có người tới mở cửa. Trương Nghi hiểu rằng có xông bừa ra cũng vô ích, bèn ngồi xuống trước bàn, nhắm mắt dưỡng thần.

Hai tỳ nữ bưng nước vào, rửa mặt chải đầu cho Trương Nghi và Hương Nữ xong xuôi, bèn quay ra thu dọn phòng.

Hương Nữ liếc nhìn Trương Nghi vẫn ngồi yên nhắm mắt, dịu dàng hỏi: “Phu quân, khi trời chưa sáng, phu quân cứ nằng nặc đòi ra ngoài. Giờ cửa mở rồi, cớ sao phu quân lại ngồi bất động ở đây? Đi thôi, thiếp sẽ dẫn phu quân ra ngoài.”

Trương Nghi mở mắt, vừa nhìn Hương Nữ, lại một lần nữa giật mình kinh ngạc. Hương Nữ trong ánh sáng ban ngày lại khác hẳn so với Hương Nữ dưới ánh đèn, làn da trắng hồng, đôi mắt to tròn rạng rỡ thần thái, linh lợi đa tình. Nàng vận trang phục người Hồ trang nhã vừa vặn, càng tôn thêm dáng vẻ yêu kiều thướt tha. Hương thơm phảng phất toả ra từ cơ thể theo làn gió sớm tản mát khắp phòng, lúc có lúc không, thực say đắm lòng người.

Trương Nghi nhìn sững vào Hương Nữ một hồi, than thầm trong dạ: “Than ôi, tạo hoá thực khéo trêu ngươi, xe nhầm chỉ thắm. Nếu như cô gái này đổi thành Thiền Nhi, ta và nàng hai lòng cùng ưa, há chẳng phải chuyện tốt đẹp trong đời, cớ sao lại phải éo le đến vậy?”

Hương Nữ thấy Trương Nghi cứ nhìn mình chằm chằm, cũng thấy e thẹn, bèn cúi mặt xuống, thì thầm gọi khẽ: “Phu quân!”

Trương Nghi giật mình bừng tỉnh, tự thấy mình thất lễ, vội đứng dậy vòng tay mà nói: “Cô nương cứ ở trong phòng, tại hạ ra ngoài một lát!”

Hương Nữ ngẩn người, lập tức đoán ra ý định của Trương Nghi, bèn gật đầu nói: “Phu quân đi đi, thiếp sẽ ở đây chờ phu quân quay lại!”

Trương Nghi bước ra khỏi cửa, đưa mắt nhìn khắp bốn phía, chỉ thấy tường cao nhà sâu, đình đài lầu gác, hoa đẹp đá lạ, cửa vẽ cột son, vừa nhìn đã biết đây là một nhà đại phú hào. Cách đó không xa, có hai hán tử đang đứng canh, thấy Trương Nghi bước ra, vội vã tiến lại, cúi gập người chào: “Xin chào cô gia!”

Trương Nghi liếc mắt nhìn họ, chẳng nói chẳng rằng, vẫn tiếp tục bước đi. Hai người không có vẻ gì bực bội, chỉ bám sát theo sau ở một khoảng cách nhất định.

Trạch viện rất rộng, trước sau có đến mười mấy dãy nhà. Trương Nghi quan sát một lượt, thấy lời Hương Nữ quả thực không sai. Toàn bộ trạch viện được canh phòng nghiêm ngặt, tại cổng lớn có bốn hán tử canh gác, hai cổng phụ cũng có người trông chừng. Thiên viện bên trái là một tàu ngựa, bên trong có hơn hai chục con ngựa khoẻ, còn có vài cỗ xe xa hoa. Chỉ nhìn vào kiểu cách trang trí trên xe, cũng đủ biết đây chắc chắn là gia đình phú quý, nếu không làm gì có vẻ phô trương đến vậy. Trong trạch viện, đám nô bộc dường như đều biết Trương Nghi là ai, thấy hắn bước lại gần, đều khấu bái sát đất, mở miệng một điều cô gia, hai điều cô gia, Trương Nghi nghe mà bực bội trong lòng.

Đi lại chưa tới nửa canh giờ, Trương Nghi đã quan sát sơ qua một lượt toàn bộ trạch viện, nhất là đã lần ra vị trí của một vài cổng viện. Điều khiến Trương Nghi không vui chính là hai hán tử kia, bất kể Trương Nghi đi tới đâu, hai kẻ này cũng bám theo sát gót như hình với bóng.

Trương Nghi chẳng biết làm cách nào, đành phải theo đường cũ trở về.

Khi vòng qua góc tường cuối cùng, Trương Nghi liếc thấy Hương Nữ đang múa kiếm trước cửa, vô cùng kinh ngạc, vội nấp vào sau gốc cây quan sát. Trương Nghi từ nhỏ đã học kiếm, khi ở Quỷ Cốc, Ngọc Thiền, Bàng Quyên, Tôn Tẫn, Tô Tần đều là những người yêu kiếm, đôi lúc cao hứng, tiên sinh cũng múa vài đường kiếm. Bởi vậy, Trương Nghi cũng được coi là khá giỏi kiếm pháp, kiến thức sâu rộng. Tuy nhiên, lúc này đây, Trương Nghi không khỏi sững sờ, bởi lẽ kiếm pháp của Hương Nữ khác hoàn toàn với kiếm pháp Trung Nguyên, từ đầu tới cuối không thấy có một chút uyển chuyển đẹp mắt, mà thức nào thức nấy sát khí bức người, chiêu nào chiêu nấy chỉ chăm chăm hãm người vào chỗ chết.

Quan sát một lát, Trương Nghi than thầm trong dạ: “Kiếm pháp tàn ác nhường này, tại sao một cô gái lại có thể luyện được?”

Hương Nữ thấy tỳ nữ đứng cạnh ra hiệu với mình, biết là Trương Nghi quay về, vội vàng thu thế.

Trương Nghi nhìn thấy, cũng từ phía sau gốc cây bước ra, chậm rãi tiến lại gần.

Hương Nữ giao kiếm cho tỳ nữ, bước lại đón, vòng tay vái mà nói: “Thiếp đón chậm, mong phu quân lượng thứ!”

Trương Nghi cũng vòng tay đáp lễ, nói: “Cô nương đa lễ rồi!”

Hương Nữ cười nói: “Phu quân hẳn đã đi mệt rồi, mời về phòng nghỉ ngơi!”

Trương Nghi bước vào trong phòng, lại ngồi xuống trước bàn. Hương Nữ bước vào theo, thấy Trương Nghi ngồi ngay ngắn dưới đất chẳng nói chẳng rằng, ngần ngừ một lát, cũng khoanh chân ngồi xuống trước Trương Nghi.

Trương Nghi vòng tay nói: “Nghi có điều này, không biết cô nương có muốn nghe không?”

Hương Nữ cười nói: “Chỉ cần phu quân nói ra, câu nào thiếp cũng muốn nghe.”

Trương Nghi mỉm cười nói: “Dựa vào tài sắc của cô nương, dựa vào gia thế của cô nương, có thể thoải mái chọn một tấm chồng xứng đáng trong thiên hạ, trong khi… tại hạ vốn chỉ là một kẻ lang thang đầu đường xó chợ, học hành dốt nát, gia thế thấp kém, tay không tấc sắt, ăn nhờ ở đậu, cảnh ngộ cùng quẫn, hà cớ gì cô nương…” Nói tới đây, liền dừng lại.

Hương Nữ cười nói: “Phu quân nói câu này, đêm qua thiếp đã trả lời rồi. Xin phu quân sau này đừng nhắc lại nữa. Thiếp đã gửi thân cho phu quân, thì chính là người của phu quân, dù phu quân có lên rừng đao hay xuống biển lửa, thiếp cũng nguyện đi theo!”

Trương Nghi cười nhăn nhó mà nói: “Cô nương làm khó tại hạ rồi!”

Hương Nữ nghe vậy, nước mắt chảy dài, nghẹn ngào nói: “Phu quân… cớ sao lại nói vậy? Thiếp dựng võ đài kén chồng, phu quân đoạt được vị trí chủ đài, thiếp… thiếp… hẳn là do thiếp tướng mạo xấu xí, không xứng với phu quân…” Rồi nghẹn lại, không nói thêm được lời nào nữa.

Trương Nghi cũng cảm thấy mình hơi quá lời, vội vàng tạ lỗi: “Cô nương chớ đau lòng, là tại hạ sai rồi, không phải cô nương không xứng với tại hạ, cũng không phải tại hạ không muốn thành thân, mà là…” thở dài sườn sượt một tiếng, “mà là tại hạ còn có nỗi khổ tâm khác.”

Hương Nữ ngước đôi mắt đẫm lệ, khẩn thiết nhìn Trương Nghi: “Phu quân có khổ tâm gì, nói cho thiếp biết được chăng?”

Trương Nghi lắc đầu, một lát sau, mới ngẩng lên nhìn Hương Nữ: “Không giấu cô nương, tại hạ thực sự có việc lớn phải làm, mong cô nương rộng lượng nương tay, thả tại hạ đi. Đợi khi tại hạ hoàn thành việc lớn, sẽ quay trở về mối mai cưới hỏi đàng hoàng, cô nương thấy thế nào?”

Hương Nữ kiên quyết lắc đầu: “Phu quân đừng ép thiếp! Theo tập tục của nước Sở, chúng ta cũng đã cưới hỏi đàng hoàng, công khai cho người người cùng biết. Giờ đây thiếp đã là người của phu quân, nếu phu quân từ chối, cũng chính là đã ruồng bỏ thiếp, vậy thiếp… thiếp còn mặt mũi nào… mà sống trên đời này nữa!”

Trương Nghi nghe vậy, cúi đầu không nói gì.

Hai người đang im lặng, bỗng từ ngoài cửa vọng lại tiếng bước chân. Một người dáng vẻ giống như quản gia bước vào, cúi gập lưng đứng ngoài cửa, nói khẽ: “Bẩm cô gia, tiểu thư, lão gia có lời mời!”

Trương Nghi sững người, ngẩng đầu nhìn Hương Nữ. Hương Nữ trả lời: “Biết rồi! Ông hãy về bẩm báo với lão gia, nói rằng chúng ta sẽ tới ngay!”

Lão quản gia “vâng” một tiếng, rồi quay người bước đi.

Hương Nữ đứng dậy, vòng tay nói với Trương Nghi: “Phu quân, cha cho gọi chúng ta tới!”

Trương Nghi ngẫm nghĩ một lát, biết rằng ải này không thể không qua, đành đứng dậy nói: “Cũng được, tại hạ sẽ đi gặp mặt lão gia!”

Trương Nghi bước theo Hương Nữ, quanh co một hồi thì tới một gian nhà cao lớn ở chính giữa. Lão quản gia đã đứng đợi sẵn trước cửa, nhìn thấy hai người tới, vội vã dẫn họ vào trong sảnh, rồi tiến lên một bước bẩm báo: “Bẩm lão gia, có cô gia, tiểu thư bái kiến!”

Trương Nghi ngẩng đầu nhìn, thấy ở chính giữa phòng khách, phía sau một kỷ trà đen tuyền, có một vị trưởng lão mái tóc đốm bạc, tuổi tầm sáu mươi đang ngồi ngay ngắn. Thấy ánh mắt trưởng lão chiếu tới, Hương Nữ vội kéo Trương Nghi lại, quỳ xuống trước mặt, khấu đầu nói: “Hương Nữ khấu kiến cha!”

Trưởng lão gật đầu, đưa mắt nhìn sang Trương Nghi.

Trương Nghi lại không quỳ xuống, chỉ vòng hai tay mà nói: “Vãn sinh bái kiến lão trượng!”

Thấy Trương Nghi bất kính như vậy, những người có mặt trong phòng thảy đều kinh ngạc. Lão quản gia khẽ đặng hắng một tiếng, đưa mắt nhìn thẳng vào Trương Nghi. Hai hán tử đứng phía sau lão quản gia tức tối ra mặt, lừ lừ mắt nhìn.

Hương Nữ sợ hãi, vội kéo gấu áo Trương Nghi, giục khẽ: “Phu quân, mau khấu kiến cha đi!”

Trương Nghi vẫn đứng im tại chỗ, không chịu quỳ xuống khấu bái, ánh mắt sắc lẹm như tên, nhìn thẳng vào trưởng lão.

Trưởng lão cũng nhìn lại Trương Nghi.

Hai người nhìn nhau một hồi lâu, trưởng lão đột nhiên mỉm cười, gật gù khen ngợi: “Ồ, chàng trai, có khí phách!” Rồi chỉ tay sang bên cạnh. “Ngồi đi!”

Mọi người thấy trưởng lão không tỏ vẻ tức giận, đều thở phào một tiếng.

Trương Nghi vòng tay nói: “Tạ ơn lão trượng!” Rồi thủng thẳng bước lại, ngồi xếp bằng phía trước bàn.

Trưởng lão quay sang Hương Nữ: “Hương Nữ, con cũng đứng dậy đi!”

Hương Nữ đứng dậy, bước tới bên cạnh trưởng lão, ngồi xuống cạnh cha. Trưởng lão đưa mắt nhìn Trương Nghi, dường như càng nhìn càng ưng ý, gật gù nói: “Ồ, đúng là ông trời ban phúc, lão hủ rất mừng vì kén được rể quý, tiểu nữ đã có được chỗ dựa cả đời!”

Nghe thấy lời này, Trương Nghi khóc dở mếu dở, chau tít đôi mày, ôm hờ quyền mà nói: “Vãn sinh có một thỉnh cầu, mong lão trượng hạ cố lắng nghe!”

“Hiền tế cứ nói!”

“Trong viện ngột ngạt, vãn sinh muốn ra ngoài đi dạo, xin lão trượng ân chuẩn!”

Trưởng lão cúi đầu, ngẫm nghĩ một lát, rồi chậm rãi nói: “Hiền tế hoàn toàn tự do, muốn đi đâu thì cứ đi!” Dừng lại một lát, nói tiếp. “Tuy nhiên…”

Trương Nghi chột dạ, đưa mắt nhìn sững vào trưởng lão.

“Hiền tế và tiểu nữ đã thành hôn, chiếu theo tập tục nơi đây, trong vòng ba ngày, phu xướng phụ tuỳ, không thể rời nhau một chốc. Nếu hiền tế muốn ra ngoài, phải được tiểu nữ đồng ý, và đưa tiểu nữ đi cùng!”

Trương Nghi đảo mắt một vòng, khẽ vái một cái: “Vãn sinh tạ ơn lão trượng! Lão trượng cứ yên tâm, vãn sinh xin cáo từ!” Nói xong, đứng dậy lui ra luôn.

Trương Nghi không bái nhạc phụ, rõ ràng không công nhận hôn sự này. Đám gia nhân đưa mắt nhìn nhau, rồi không hẹn mà cùng nhìn sang trưởng lão. Trưởng lão hất hàm về phía sau lưng Trương Nghi, hai hán tử bên cạnh quản gia lập tức bám theo.

Hương Nữ cảm thấy tủi thân, cúi đầu ứa lệ, khóc thút thít: “Cha ơi, phu quân…”

Trưởng lão khẽ thở dài: “Đi đi, phu quân của con mới tới, còn lạ nước lạ cái, chớ để hắn đi lạc mất!”

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử