Nghe theo lời xúi giục của Trương Nghi, Việt Vương Vô Cương bỏ Tề phạt Sở, khí thế tựa cầu vồng, thân chinh dẫn hai mươi mốt vạn đại quân thuỷ lục ào ào tiến lên theo dòng Giang Thuỷ, vượt qua Vân Thuỷ, áp sát Hán Thuỷ. Ba tháng trước, người Việt ỷ vào thuỷ quân hùng hậu, nghĩ rằng mình có hàng trăm thuyền lương thảo, lại thêm thuỷ quân tinh nhuệ, nên chẳng sợ gì, khí thế hừng hực muốn vượt qua Hán Thuỷ, bắt lấy Sở Vương Hùng Thương trên núi Nội Phương. Sở Vương đã điều động mười một vạn đại quân của Khuất Vũ xây dựng thành luỹ kiên cố dọc bờ Hán Thuỷ, dựa vào địa thế bày trận trường xà chữ nhất, canh phòng cẩn mật suốt ngày đêm, thuyền của người Việt dù muốn tập kích lên bờ chỗ nào cũng vấp phải đòn phản công quyết liệt.
Người Việt đột kích suốt mấy tháng trời, tổn thất tới hàng vạn binh và hơn chục tướng, song vẫn không thể đột phá dù là gang tấc. Hiện giờ sắp sang thu, lương thảo đã cạn kiệt, Vô Cương sai Nguyễn Ứng Long dẫn thuỷ quân ra Hạ Khẩu vận chuyển lương thực, song phát hiện ra Hạ Khẩu đã bị người Sở chiếm giữ. Hạ Khẩu là cửa sông nơi Hán Thuỷ chảy vào Giang Thuỷ, lòng sông thu hẹp, giống hệt cổ chai. Chiêu Dương đích thân canh giữ Hạ Khẩu, chỉ huy ba vạn binh, dìm thuyền đóng cọc chặn kín đáy sông, lại giăng nhiều đường xích sắt dưới Giang Thuỷ, trên xích sắt treo tua tủa gai đồng, giăng đầy lưới cá, hai bên bờ sông rải gai sắt, bày sẵn nỏ liên châu và vật liệu dễ cháy như củi khô, lưu huỳnh, cành thông nhựa, sẵn sàng đối phó với thuỷ quân Việt. Nguyễn Ứng Long lo sợ, bèn bỏ thuyền lên cạn, tấn công dữ dội vào Hạ Khẩu, những mong kiểm soát được hai bên bờ sông, từ đó tháo bỏ vật cản trên sông. Người Sở dựa vào địa thế thuận lợi chống trả, người Việt tấn công suốt mấy ngày trời, tổn thất thêm hơn vạn binh, thiệt hại hơn chục chiến thuyền, cuối cùng vẫn phải công cốc rút về.
Tới lúc này, Vô Cương mới nhận ra đã trúng kế dụ địch của người Sở, vội vã hạ lệnh lui binh, song đã quá muộn. Chiêu Dương sớm đã dựng luỹ kiên cố dọc bờ đông Vân Thủy, Vô Cương tấn công liên tục nhiều ngày, vẫn không thể đột phá, đành phải gõ chiêng thu quân, nát óc nghĩ kế phá vây.
Nhìn thấy thế tấn công của người Việt giảm dần, rồi chuyển sang thế phòng ngự, Sở Uy Vương truyền chỉ, sai Khuất Vũ chia năm vạn binh, phía đông vượt Hán Thuỷ, đóng quân ở tuyến núi Đại Hồng, Kinh Sơn, chặn đứng đường rút lui về phía bắc của người Việt, vây khốn triệt để người Việt trong khu vực hoang vu không quá hai trăm dặm vuông giữa Vân Thuỷ, Hán Thuỷ, đầm Vân Mộng, núi Đại Hồng. Ngoài đầm Vân Mộng ở phía nam, mênh mông bát ngát không thấy bến bờ, song thuyền lại không thể đi qua, ba mặt đông, tây, bắc đều có quân đội hùng hậu của người Sở trấn giữ.
Vô Cương thấy tình thế này, lo sợ người Sở thừa thế tấn công, cũng bày trận sẵn sàng quyết chiến, chia quân ba nơi, hình thành thế chân vạc cố thủ các vị trí hiểm yếu. Tuy nhiên, mùa thu đã sắp qua đi, mùa đông đang dần tới, người Sở vẫn chỉ cố thủ mà không tấn công, dường như có ý vây khốn người Việt tới cùng.
Mới đầu, người Việt cũng không nhận ra. Tuy nhiên, khi mùa đông về tới, cơn ác mộng thực sự của người Việt mới bắt đầu. Vì người Việt dấy binh phạt Sở vào khoảng tháng tư, tháng năm, quần áo đều là đồ xuân thu, không hề chuẩn bị đồ đông.
Người Việt sống lâu ở vùng duyên hải đông nam, dù là mùa đông, khí hậu cũng khá ấm và ẩm, không như ở đầm Vân Mộng, chẳng những giá rét căm căm, mà bước sang tháng chạp, trời lại đổ tuyết lớn suốt mấy ngày trời. Gió Bắc gào thét, tuyết rơi mù mịt, người Việt thiếu quần áo, cạn lương thực, trong Hán Thủy tuy có cá lớn, song người Việt lại không mang theo chài lưới để bắt. Binh sĩ vốn có thể xuống đầm Vân Mộng bắt cá nhỏ, tôm tép ăn tạm qua ngày, song tới khi trên đầm đóng một lớp băng mỏng, thì nguồn lương thực cuối cùng này cũng đã bị cắt đứt.
Vô Cương không còn cách nào khác, đành phải truyền chỉ ba quân tự tìm thức ăn trong phạm vi hai trăm dặm. Người Việt đào đất sâu ba thước, đừng nói là chim muông, rắn rết, cá mú, giun dế, dù là một rễ cây cọng cỏ cũng không bỏ qua. Về sau, thậm chí người Việt phải ăn cả vỏ cây để cầm cự.
Cứ như thế suốt một mùa đông, trước khi cây cỏ nảy mầm, đất trời trở ấm, người Sở không phải tổn thất đến một binh một tốt, trong khi người Việt đã tự hao hụt đến vài vạn quân, sĩ khí kiệt quệ, mộ mới mọc lên như nấm, nơi nơi tiếng Ngô oán tiếng Việt sầu, bi thương tang tóc.
Việt Vương Vô Cương tai nghe mắt thấy thảm cảnh này, trong lòng đau đớn như dao cắt. Chiều hôm nay, Vô Cương ủ rũ ngồi trong trại trung quân, khép hờ hai mắt, như đang chìm đắm trong suy nghĩ. Vào lúc nhá nhem, thị vệ bưng vào một nồi canh thịt, bên trong có một khúc xương ngựa, một thị vệ khác tay bưng chiếc khay, trên đựng một miếng thịt ngựa nhỏ. Hai người quỳ xuống trước bàn, lần lượt bày canh, thịt lên trên.
Vô Cương hé mắt, nhìn hai người rồi nói khẽ: “Dọn đi!”
Hai người đưa mắt nhìn nhau, đang định lên tiếng thì tư kiếm lại bước vào, quỳ xuống dập đầu nói: “Đại vương, Luân quốc sư không ổn rồi!”
Vô Cương kinh hãi, quay sang hai thị vệ: “Bê tất cả lên, theo ta tới chỗ Luân quốc sư!”
Tư kiếm lại và hai thị vệ đưa Vô Cương tới trại của quốc sư Luân Kỳ.
Quân sĩ ngoài trướng nhìn thấy Việt Vương, vội vào bẩm báo. Một lát sau, Bôn Thành, Nguyễn Ứng Long và vài viên tướng khác ra khỏi trướng, dập đầu đón bên ngoài, Vô Cương lần lượt đỡ họ dậy, bước vào trong trướng, ngồi xuống trước giường Luân Kỳ.
Luân Kỳ quả nhiên chỉ còn thở hắt ra, không thấy hít vào. Mở mắt nhìn thấy Vô Cương, gắng sức mấy lần muốn hành lễ mà không được, bị Vô Cương ấn trở xuống giường. Luân Kỳ trào nước mắt, giọng nói phều phào, tới mức gần như không thể nghe rõ: “Vi thần không thể phụng… phụng sự đại vương được nữa!”
Vô Cương đưa tay ra hiệu, thị vệ liền bưng canh thịt lại, Vô Cương đích thân múc một thìa đưa lên miệng Luân Kỳ: “Luân ái khanh, hãy uống lấy một thìa, một thìa là được!”
Luân Kỳ hé miệng, nhấp một chút, rồi cảm tạ: “Tạ ơn canh ngon của đại vương. Đại vương hãy dùng đi, vi thần uống không nổi nữa!”
Vô Cương đặt thìa canh xuống, nước mắt trào ra: “Than ôi, là quả nhân đã hại khanh, đã hại các khanh, cũng đã hại thần dân nước Việt!”
Luân Kỳ khó nhọc hít vào một hơi, than khẽ: “Là ông trời muốn diệt Việt, đại vương chớ tự trách mình!”
Vô Cương nắm chặt tay Luân Kỳ, hỏi: “Luân ái khanh, khanh nói đi, bây giờ quả nhân nên đi đâu đây?”
“Học tiên vương Câu Tiễn, giảng hoà với Sở, cúi đầu xưng thần, sau đó lại… lại…. nằm… nằm gai nếm mật!” Giọng Luân Kỳ càng thêm yếu ớt.
Vô Cương sắc mặt thoáng sa sầm, trầm tư một lát mới nói: “Quả nhân nghe thấy rồi, Luân ái khanh, hãy nghỉ ngơi đi!” Nói đoạn, từ từ đứng dậy, đi ra khỏi trại, quay sang tư kiếm lại. “Cho gọi đại phu Lã Tông tới đại doanh.”
Lã Tông nhận lệnh, cấp tốc tới đại doanh, dập đầu nói: “Vi thần khấu kiến đại vương!”
Vô Cương đưa mắt nhìn Lã Tông: “Trương Nghi vẫn bặt vô âm tín?”
Giọng Lã Tông run rẩy: “Vi thần đã cử tổng cộng hơn chục người đi liên lạc với Trương Nghi, đa phần đều bị người Sở bắt làm tù binh, số quay trở về cũng nói không tìm thấy Trương Nghi đâu.”
“Sự việc đã rất nguy cấp,” giọng Vô Cương vô cùng khẩn thiết, “khanh hãy làm đặc sứ cho quả nhân, tới doanh trại Sở một chuyến, bề ngoài ra vẻ giảng hoà với người Sở, thực chất âm thầm liên lạc với Trương Nhi, xem ý hắn thế nào?” Đưa tay với lấy bức thư để trên bàn. “Nếu gặp được Trương Nghi, hãy đưa lá thư này cho hắn. Còn nữa, nói với hắn rằng, quả nhân ra khẩu dụ, nếu hắn giúp quả nhân phá Sở, quả nhân sẽ phong hầu cho hắn, ban cho hai nghìn dặm đất Kinh.”
“Vi thần lĩnh chỉ!”
Trong biệt cung Thu Thuần sâu trong núi Nội Phương, Trương Nghi đang ngồi đánh cờ với Uy Vương, thì nội thần hấp tấp chạy vào bẩm báo: “Khởi bẩm bệ hạ, Việt Vương sai đại phu Lã Tông tới cầu hoà!”
“Sao kia?” Sở Uy Vương thoáng ngạc nhiên. “Người Việt tới cầu hoà? Người ở đâu?”
“Đang ở ngoài cung đợi chỉ!”
Trương Nghi thu cờ, vòng tay nói: “Bệ hạ hãy tiếp khách quý, vi thần cáo lui.”
“Ái khanh khách sáo rồi!” Uy Vương cười vang mà nói. “Giảng hoà với người Việt, ái khanh là trợ thủ đắc lực, cớ sao lại tránh mặt?”
“Bệ hạ thực lòng muốn giảng hoà với người Việt?”
“Ồ, chuyện này…”
“Bệ hạ!” Trương Nghi mỉm cười, lại vòng tay cáo lui. “Hạt cứng đã sắp tới ngày hái, vi thần xem tâm tư của bệ hạ, hẳn là không muốn giảng hoà. Bệ hạ đã không muốn giảng hoà, vi thần ở đây không tiện, tránh đi sẽ tốt hơn!”
Sở Uy Vương lập tức hiểu ra: “Được, được! Ái khanh hãy lui ra!” Rồi quay sang nội thần. “Truyền sứ Việt vào yết kiến!”
Thấy nội thần lĩnh chỉ đi ra, Trương Nghi đưa mắt nhìn Uy Vương: “Lát nữa sứ Việt tới, dám hỏi bệ hạ sẽ ứng phó thế nào?”
Uy Vương cảm thấy lời lẽ của Trương Nghi chứa đầy ẩn ý, bèn hỏi: “Ý ái khanh thế nào?”
Trương Nghi đứng dậy, bước lại bên Uy Vương, ghé sát tai Uy Vương thì thầm một chốc.
Uy Vương thoạt tiên sửng sốt, sau đó gật đầu lia lịa: “Hay lắm, đúng là khổ nhục kế tuyệt vời, quả nhân sẽ nghe theo khanh!” Rồi ngưng thần chuẩn bị một hồi, sắc mặt từ từ sầm xuống, rồi thình lình vung tay hất tung bàn cờ, gầm lên như sấm. “Người đâu, đuổi hắn ra ngoài!”
Trương Nghi cũng lập tức nhập vai, mặt mũi tái mét, vội quỳ xuống dập đầu mà nói: “Vi thần cáo lui!”
Trương Nghi lại lạy liền ba lạy, cúi gằm mặt nặng nề lê bước ra khỏi cửa. Đã có hai lực sĩ cầm kích đợi sẵn bên ngoài, áp giải Trương Nghi ra khỏi điện.
Biệt cung xây trên núi, từ cửa cung lên tới cửa điện cao đến vài chục trượng, phải leo chừng vài trăm bậc thang. Lã Tông đang đi theo nội thị leo bậc mà lên, từ xa nhìn thấy Trương Nghi bị hai giáp sĩ cầm kích áp giải xuống, thì cả kinh, dừng bước quay sang nội thần hỏi: “Xin hỏi đại nhân, người này vì sao lại bị áp giải?”
Nội thần cũng ngẩn người: “Ồ… tại hạ cũng không biết!”
Lã Tông vờ như không quen, lại hỏi: “Dám hỏi đại nhân, người này là ai?”
“Hồi bẩm sứ thần, người này là khách khanh Trương Nghi, vừa rồi phụng chỉ đánh cờ với bệ hạ!” Rồi vòng tay giục. “Đặc sứ đại nhân, mời!”
Lã Tông tim đập thình thình, theo nội thần bước lên bậc thang, đối đầu với ba người Trương Nghi đang tiến lại.
Khi hai bên sắp chạm mặt nhau, thấy Trương Nghi cúi đầu rầu rĩ, Lã Tông đặng hắng một tiếng, dừng bước. Trương Nghi cũng dừng lại, thấy là Lã Tông thì liếc nhìn ông ta lắc lắc đầu, thở dài một tiếng, tiếp tục cúi gằm mặt bước xuống.
Lã Tông trong lòng lo sợ, theo nội thần bước lên bậc thang, vào trong điện, khấu đầu hô: “Sứ thần Lã Tông khấu kiến đại vương!”
Sở Uy Vương sắc mặt giận dữ, hơi thở hào hển, chỉ tay vào vị trí khách trước mặt: “Sứ Việt miễn lễ!”
Lã Tông tạ ơn, đứng lên, thấp thỏm bước lại chỗ ngồi, nhìn thấy xung quanh bừa bộn, bàn cờ đổ chỏng chơ, quân đen trắng vương vãi tứ tung, chưa kịp nói gì, Sở Vương đã giận dữ mắng nội thần: “Ngươi mù ư, còn không mau thu dọn, để khách quý cười chê?”
Nội thần vội vã quỳ xuống đất, thu dọn “chiến trường”.
Uy Vương vẫn chưa hết giận, lại thở phì phì một chốc, mới ngẩng đầu quay sang Lã Tông, cố gắng trấn tĩnh lại, rồi vòng tay nói: “Quả nhân nghe danh tiếng Lã Tử đã lâu, hôm nay được gặp, lại để Lã Tử cười chê!”
Lã Tông cũng ôm quyền nói: “Kẻ bất tài Lã Tông tạ ơn đại vương yêu mến. Dám hỏi vì sao đại vương lại giận dữ đến vậy?”
“Chẳng phải đều là vì tên Trương Nghi đáng chết kia!” Cơn thịnh nộ của Uy Vương lại được thế bùng phát, chỉ tay ra ngoài điện chửi mắng. “Quả nhân nể tình hắn chơi cờ giỏi, bái hắn làm khách khanh, phong hắn chức tước, thưởng hắn tiền bạc mỹ nữ. Nay quả nhân muộn phiền, sai người mời hắn tới đánh cờ giải sầu, nào ngờ hắn không biết phải quấy, đã không giúp quả nhân giải khuây, ngược lại còn khiến quả nhân bực bội thêm!”
Lã Tông cười hỏi: “Ồ, dám hỏi đại vương, Trương Tử đã làm gì để khiến đại vương bực bội thêm?”
“Hừm!” Sở Uy Vương nhìn xoáy vào Lã Tông, giận dữ mà nói. “Quả nhân đang muốn hỏi ý Lã Tử đây! Mấy chục năm qua, hai nước Sở, Việt láng giềng hoà mục, không xâm phạm bờ cõi của nhau, quả nhân suy đi tính lại, thấy từ lúc kế vị tới nay, chưa từng làm gì có lỗi với Việt Vương, vậy mà đại vương của các vị đã không gửi hịch văn, cũng chẳng ra chiến thư, bất thình lình khởi hơn hai mươi vạn binh xâm phạm bờ cõi của quả nhân, làm nhục thần tử của quả nhân, bắt bớ hiếp giết, không tội ác nào không làm, khiến dân chúng Đại Sở lầm than, máu chảy thành sông, lặp lại thảm hoạ nước Ngô năm xưa. Quả nhân và Vô Cương thế như nước lửa, không đội trời chung, song tay Trương Nghi này chẳng hiểu nhận được lợi lộc gì từ Vô Cương mà lại ăn cây táo rào cây sung, ra sức khuyên can quả nhân giảng hoà với người Việt, còn muốn quả nhân cắt hai mươi thành phía tây Chiêu Quan dâng tặng người Việt. Lã Tử nói xem, chẳng phải rõ ràng muốn đối đấu với quả nhân ư?”
Lã Tông vốn định tới đây giảng hoà, nghe những lời này, mặt mày xám ngoét, hai chân run rẩy, giọng nói cũng lạc đi: “Đại… đại vương…”
“Ồ!” Sở Uy Vương mau chóng thay đổi sắc mặt, lấy lại thái độ ôn hoà, vòng tay hỏi. “Lã Tử tới đây, có điều gì chỉ giáo quả nhân?”
Lã Tông trấn tĩnh lại, cũng vòng tay đáp lễ: “Đại vương nước thần nghe theo lời gièm pha, thất lễ phạt Sở, nay đã hối hận, phái Lã Tông tới khẩn cầu đại vương, nguyện cùng đại vương láng giềng hoà mục, đời đời kết minh!”
“Hừm, giờ hối hận cũng đã muộn rồi!” Sở Uy Vương thoắt cái đã đổi ngay sắc mặt. “Đặc sứ đại nhân, quả nhân nhờ đặc sứ chuyển lời tới Vô Cương, đại trượng phu dám làm dám chịu, đã dám tới đây thì hãy so tài cao thấp trên chiến trường. Vô Cương tới đây, còn chưa quyết chiến, đã vội giảng hoà, đừng nói là quả nhân, dù là một đứa trẻ ba tuổi ở nước Sở cũng sẽ coi khinh, nói gì đến anh hùng?”
“Đại… đại vương…”
Sở Uy Vương vòng tay đuổi khách: “Xin hỏi Lã Tử, còn việc gì nữa không?”
Lã Tông đang ấp úng, Sở Uy Vương đã lạnh lùng đứng dậy: “Lã Tử đã không còn việc gì, quả nhân muốn được nghỉ ngơi!” Rồi quay sang nội thần. “Tiễn khách!”
Lã Tông ra khỏi cửa điện, mặt mũi tiu nghỉu bước xuống bậc cấp. Vừa thoát khỏi tầm mắt của giáp sĩ thị vệ, đã nghe thấy một giọng nói vang lên ngay sau lưng: “Lã đại nhân!”
Lã Tông quay đầu lại nhìn, thấy là Kinh Sinh, thì mừng rỡ mà gọi: “Kinh tiên sinh!”
Kinh Sinh suỵt khẽ một tiếng, nói nhỏ: “Lã đại nhân chớ to tiếng, mau theo tại hạ!”
Lã Tông đi theo Kinh Sinh, vòng vèo một hồi thì tới trước một khu nhà.
Kinh Sinh bảo Lã Tông dừng bước, để mình vào trong trước. Một lát sau, Trương Nghi bước ra đón, cung kính cúi gập người chào Lã Tông, phấn chấn mà nói: “Tại hạ Trương Nghi bái kiến Lã đại nhân.”
Lã Tông cũng vòng tay đáp lễ, nói: “Lã Tông bái kiến khách khanh!”
Trương Nghi khẽ nói: “Lã đại nhân, nơi này không thích hợp nói chuyện, mời vào trong!”
Hai người bước vào trong phòng, sau khi phân ngôi chủ khách ngồi xuống, Lã Tông bèn vòng tay nói: “Đại vương không nhận được tin tức của Trương Tử, vô cùng lo lắng, đặc phái tại hạ lấy danh nghĩa cầu hoà, tìm cơ hội liên lạc, không ngờ thực vừa đúng lúc.”
“Than ôi!” Trương Nghi thở dài sườn sượt. “Tại hạ cũng đã phái người liên lạc với đại nhân, không ngờ Chiêu Dương kia canh phòng cẩn mật, đi rất nhiều lần rồi mà không được, ba tráng sĩ bị bại lộ đã tự sát, hai tráng sĩ công cốc trở về. Sự việc hôm nay, hẳn Lã đại nhân cũng đã thấy!”
Lã Tông gật đầu: “Tấm lòng của Trương Tử, tại hạ trở về nhất định sẽ bẩm báo lên đại vương. Đại vương có một bức mật thư, xin Trương Tử hãy đọc!” Rồi lấy ra một tấm lụa từ trong túi ngầm dưới vạt áo, đưa cho Trương Nghi.
Trương Nghi mở ra, đọc xong thì để bức thư lên bàn, trầm ngâm một hồi, thở dài mà nói: “Không giấu Lã đại nhân, yêu cầu của đại vương thực sự đã làm khó cho tại hạ!”
Lã Tông vội nói: “Đại vương còn có một điều, mong Trương Tử suy nghĩ.”
“Tại hạ xin lắng nghe!”
“Đại vương truyền khẩu dụ, nếu Trương Tử trợ giúp đại vương diệt Sở thành công, đại vương sẽ lập tức phong Trương Tử tước hầu, thưởng hai nghìn dặm đất Kinh.”
“Ý tốt của đại vương, tại hạ có chết vạn lần cũng không thể báo đáp. Chỉ là…” Trương Nghi vòng tay cảm tạ, “hiện tại thời cơ chưa chín muồi, mong Lã đại nhân chuyển tấu đại vương, đợi một vài ngày nữa, đợi tại hạ…”
“Dám hỏi Trương Tử có chỗ nào khó khăn?”
“Than ôi!” Trương Tử lại than thở. “Lã đại nhân có điều không biết, tại hạ mua chuộc thái tử điện hạ, được bái kiến Sở Vương, vốn định tìm cơ hội làm một vài việc cho đại vương, nào ngờ Chiêu Dương kia không biết dò la ở đâu mà biết được tin tại hạ thuyết khách người Việt phạt Sở, lập tức tấu báo Sở Vương, khiến Sở Vương đùng đùng nổi giận, ép hỏi tại hạ. May mà tại hạ thừa cơ ứng biến, thề thốt không nhận, vu cáo lại Chiêu Dương, Chiêu Dương cũng không có bằng chứng gì cụ thể, nhờ vậy mới bảo toàn được tính mạng. Có điều, từ lúc đó, Sở Vương không còn tin tại hạ nữa, chỉ coi tại hạ là người mua vui, hễ lúc nào buồn lại cho gọi tới chơi cờ, tán chuyện. Gặp đại sự, chỉ bàn với hai trụ quốc Chiêu Dương và Khuất Vũ, đừng nói là tại hạ, dù điện hạ cũng không được tham gia. Không chỉ có vậy, Chiêu Dương ngày càng cảnh giác với tại hạ!” Hạ thấp giọng nói tiếp. “Không giấu Lã huynh, chưa biết chừng trong nhà, ngoài sân này đều có tai mắt của Sở Vương rình rập!”
“Vậy phải làm sao đây?” Lã Tông giậm chân lo lắng.
“Ồ?” Trương Nghi nhoài người lại hỏi. “Dám hỏi Lã đại nhân có chuyện gì mà sốt ruột đến vậy?”
Lã Tông than thở mà rằng: “Hỡi ôi, sự tình đã tới nước này, tại hạ cũng không giấu Trương Tử nữa. Trong quân sớm đã cạn kiệt lương thảo, đại vương một ngày cũng khó lòng cầm cự thêm được nữa!”
Trương Tử làm bộ kinh ngạc: “Sao có chuyện này được? Đại vương lẽ nào không biết tới đạo lý dụng binh thông thường, ‘binh mã chưa động, lương thảo đi trước’ ư?”
Lã Tông lại than thở: “Năm trước khi quyết định phạt Sở, đại vương chỉ muốn lập tức công phá Sính Đô, hành quân chóng vánh, lương thực không chuyển theo kịp. Lần này lại bị Chiêu Dương cắt mất đường rút lui, đứt lương đã một mùa đông rồi!”
Trương Nghi ra vẻ lo âu sợ hãi, trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu, rồi ngẩng đầu lên, than thở: “Than ôi, tại hạ bị canh chừng chặt chẽ, không nhận được bất kỳ tin nào từ bên ngoài, chuyện lớn thế này cũng không hề hay biết. Chỉ có điều… tại hạ vẫn có một chuyện không hiểu.”
“Trương Tử cứ nói!”
“Đại vương là minh chủ, Bôn Thành thông thạo binh pháp, Nguyễn tướng quân cũng không phải là hạng tầm thường, Luân quốc sư lại càng lão luyện dày dạn, lúc đầu phạt Sở, cớ sao không chia quân hai lộ, thuỷ binh theo dòng Giang Thuỷ tập kích Sính Đô, lục quân tấn công Hán Thuỷ? Nếu làm vậy, người Sở ắt bị tấn công từ hai phía, Hán Thuỷ sẽ không thể giữ được. Đại vương chỉ cần đột phá Hán Thủy, Sính Đô sẽ nhanh chóng bị phá. Nếu Sính Đô đã giành được, Sở Vương ắt phải buông tay chịu trói, người Kinh sẽ như rắn mất đầu, không chiến tự bại!”
“Vốn dĩ cũng có kế sách này, sau đại vương nghe nói Sở Vương đang ở núi Nội Phương, bởi muốn thành công cấp tốc. Mà thôi… chuyện đã qua rồi, không nhắc tới nữa!”
“Vậy… cho dù có ồ ạt vượt Hán Thuỷ, đại vương cũng nên cắt cử trọng binh trấn giữ Hà Khẩu, đảm bảo không phải lo lắng chuyện lương thảo mới phải!”
Lã Tông cúi đầu, im lặng không nói, hồi lâu sau mới lại thở dài một tiếng: “Than ôi, nói gì cũng đã muộn rồi. Xin hỏi Trương Tử, hiện tại có kế sách tạm thời nào không?”
Trương Nghi lại trầm ngâm suy nghĩ, hồi lâu mới ngẩng đầu nhìn Lã Tông: “Đã tới nước này, tại hạ chỉ còn biết khuyên đại vương tạm thời lui binh!”
Lã Tông lắc đầu: “Không giấu Trương Tử, người Sở đã chặn hết mọi ngả đường rút lui, đại quân Việt hơn mười vạn, ngoài không có viện binh, trong không có lương thảo, sớm đã lâm vào bước đường cùng, dù muốn rút lui, cũng không có đường rút nữa!”
“Hiện tại xem ra, đại vương nếu muốn phạt Sở, cơ hội chưa tới; nếu muốn lui binh, lại không hề khó!”
Lã Tông hai mắt sáng rực: “Ồ, Trương Tử có kế hay rồi ư?”
Trương Nghi tìm lấy một tấm gỗ, cầm bút phác thảo ra bản đồ hình thế, rồi chỉ bút vào hình vẽ: “Lã đại nhân hãy xem, đây là sông Vân Thuỷ, đây là núi Bồi Vĩ. Núi này từ bắc tới nam hơn hai trăm dặm, từ đông tới tây chỉ ba mươi dặm, là tấm bình phong trời cho, người Sở phòng ngự rất mỏng. Trong núi có một con đường tắt, tên là khe Dương Trường, dài không tới bốn mươi dặm, vô cùng hiểm yếu. Đại vương có thể dẫn đại quân tràn vào Vân Thuỷ từ đây, tấn công tuyến phòng thuỷ ven sông, đột nhập vào khe này, khống chế hai đầu khe núi, chưa đầy hai canh giờ, đại quân đã có thể xuyên qua núi Bồi Vĩ, phá được trùng vây. Trọng binh của người Sở đa phần tập trung ở tuyến phòng ngự Hà Khẩu, Vân Thuỷ, còn ở Sơn Đông, có lẽ không có binh mã. Đại vương chỉ cần đột phá tuyến phòng thủ trước mắt, thì có thể thẳng tiến sang phía đông, men theo phía bắc núi Để Kỳ là có thể rút tới Chiêu Quan. Đi qua Chiêu Quan, chính là đất của đại vương rồi!”
Lã Tông gật đầu lia lịa: “Quả là diệu kế, tuy nhiên…” Dừng lại nửa chừng, nét mặt lộ vẻ băn khoăn.
“Lã đại nhân có gì lo lắng?”
“Nơi hiểm yếu nhường này, người Sở ắt sẽ bố trí trọng binh phòng thủ, song quân ta đã rệu rã khó kham, làm sao có thể đột phá?”
“Lã đại nhân yên tâm, tướng giữ núi Bồi Vĩ là Cảnh Thuý có mối quan hệ thân thiết với tại hạ, tại hạ có thể thuyết phục hắn, buông lỏng vòng vây, mở ra một con đường thoát!”
“Thế thì tốt quá!” Lã Tông đổi lo thành mừng, rồi lập tức lại chuyển sang đăm chiêu. “Tuy quân ta có thể thoát thân, song lại đẩy Cảnh tướng quân vào chỗ bất nghĩa, biết làm thế nào cho phải?”
“Đại nhân nói rất phải!” Trương Nghi trầm ngâm một lát, rồi ngẩng đầu nói. “Thế này đi, đại nhân hãy bảo đại vương huy động quân tinh nhuệ, dốc toàn lực chiến đấu, còn Cảnh tướng quân sẽ cắt cử người già yếu canh giữ cửa khe núi, khi hai bên giáp lá cà, thắng thua lập tức định đoạt, Cảnh tướng quân giả thua rút lui, lúc bệ hạ trách cứ, cũng có cái để thanh minh.”
“Hay lắm, nhưng còn… chỗ Cảnh tướng quân…”
Trương Nghi dường như đã hiểu Lã Tông muốn nói gì, mỉm cười mà đáp: “Lã đại nhân không phải lo lắng cho Cảnh tướng quân. Giữa hai nhà Chiêu, Cảnh xưa nay vốn có thù hận, trong trận chiến lần trước với Ngụy, Chiêu Dương mượn tay Bàng Quyên hại chết Cảnh Hợp, Cảnh tướng quân trải trăm trận chiến mới thoát chết, đã khắc cốt ghi tâm mối thù giết cha với Chiêu Dương. Lần này Chiêu Dương một lòng muốn lập công, Cảnh tướng quân làm gì có chuyện để yên cho Chiêu Dương đạt được mục đích.”
“Ồ!” Lã Tông không còn băn khoăn nữa. “Nếu nói như vậy, cũng là có thể! Dám hỏi Trương Tử, lúc nào đột phá là thích hợp?”
“Đêm dài lắm mộng, sự việc không nên chậm trễ. Ngay giữa đêm mai, chính là vào giờ Tý!”
Lã Tông vòng tay cảm tạ: “Tại hạ thay mặt đại vương cảm tạ Trương Tử, cảm tạ Cảnh tướng quân!”
“Lã đại nhân bất tất phải khách khí!” Trương Nghi cũng vòng tay nói. “Đại vương nghe theo lời tại hạ, mới chuyển hướng phạt Sở. Nay thành ra nông nỗi này, thực không phải là ý muốn của tại hạ. Lúc trở về, xin Lã đại nhân hãy chuyển lời tới đại vương, nói rằng tại hạ trong lòng hối hận, khẩn cầu đại vương khoan thứ!”
“Là trời không trợ giúp Việt, Trương Tử bất tất phải tự trách mình!”
Trương Nghi lại cúi đầu suy nghĩ một hồi, rồi vòng tay nói: “Lã đại nhân, nơi này hung hiểm, không tiện ở lâu!” Rồi quay sang Kinh Sinh. “Kinh huynh, mau đưa Lã đại nhân về, phải hết sức cẩn thận!”
Kinh Sinh đáp lời: “Lão nô tuân lệnh!”
Lã Tông vòng tay cáo từ Trương Nghi, rồi theo Kinh Sinh ra khỏi cổng.
Hai người vừa rời đi chưa được bao lâu, tại một góc khuất cách đó không xa, một bóng đen bất ngờ chui ra, âm thầm bám theo phía sau. Bóng đen đi theo một đoạn, thấy Lã Tông vòng tay từ biệt Kinh Sinh, bước vào dịch quán của sứ thần nước Việt, mới quay người, vụt một cái chạy biến vào trong một toà trạch viện.
Trong đại sảnh của trạch viện, thượng khanh nước Tần Trần Chẩn ngồi xếp bằng trên chiếu, mắt nhìn không chớp vào mỹ nữ Y Na. Y Na đang nhảy một vũ điệu lạ lẫm vùng Tây Vực, vài nhạc công tay cầm nhạc cụ, chuyên tâm đệm nhạc cho Y Na.
Xem một hồi, Trần Chẩn bỗng chau tít đôi mày, đột nhiên hô lớn: “Dừng!”
Đám người đều khựng lại, ngạc nhiên nhìn Trần Chẩn. Y Na đang múa tới say sưa, không hiểu chuyện gì, ngơ ngác đứng ngây tại chỗ.
Trần Chẩn quay sang phía nhạc công: “Đổi sang tấu nhạc Sở!”
Đám nhạc công liền chuyển sang nhạc Sở.
Trần Chẩn nói với Y Na: “Đi, mau đi thay áo sa mỏng, để hở rốn, múa điệu hở rốn mà ngươi từng múa hôm trước, theo bản nhạc này!”
Y Na ngẩn ra một thoáng, rồi vào phòng trong thay y phục. Đúng lúc này, Hắc Điêu vừa theo dõi Kinh Sinh hấp tấp chạy vào. Trần Chẩn phẩy tay cho đám nhạc công lui ra, Hắc Điêu thuật lại chi tiết một lượt toàn bộ sự việc.
Trần Chẩn quay sang Hắc Điêu, lập tức sai phái: “Cắt cử vài người, theo dõi chặt chẽ đám Trương Nghi, Kinh Sinh, không được làm kinh động tới họ!”
Hắc Điêu tuân lệnh lui ra.
Trần Chẩn nở một nụ cười âm hiểm, lẩm bẩm một mình: “Tiểu tử, hay lắm! Ta đang tìm kiếm sơ hở, ngươi lại tự vác xác tới tận nơi!” Bộ dạng đắc ý, gõ khẽ lên bàn, cất giọng sang sảng. “Y Na, nhạc công, nổi nhạc múa nào!”
***
Trong trại trung quân, sau khi nghe Lã Tông bẩm báo chi tiết sự tình, Vô Cương trầm ngâm suy nghĩ, chốc sau liền than thở: “Chao ôi, không giấu ái khanh, trong khoảng thời gian này, Trương Tử chẳng khác gì trâu đất xuống biển, lặn mất tăm mất tích, không có tin gì, trong lòng quả nhân không khỏi sinh mối hoài nghi, hẳn là Trương Tử âm mưu bất trắc, rắp tâm lừa dối quả nhân. Nay xem ra, quả nhân đã hiểu lầm Trương Tử!”
“Đại vương nói chí phải!” Lã Tông hùa theo. “Vi thần trong lòng vốn cũng có suy nghĩ tương tự, nay gặp Trương Tử, mới biết là đã hiểu nhầm.”
Vô Cương lại than: “Hỡi ôi, lời Trương Tử thật hữu lý, lần này phạt Sở bất lợi, đều là lỗi của quả nhân. Đầu tiên nếu nghe theo Nguyễn tướng quân, chia quân hai lộ, trước sau giáp công, có phải đã sớm phá được Sính Đô rồi không? Dù không chia quân hai lộ, quả nhân cũng nên điều động trọng binh chiếm giữ Hạ Khẩu. Ôi, đều trách quả nhân quá tự phụ, chỉ muốn cấp tốc phá Sở, không để ý tới đường lui, mới có thất bại hôm nay.”
Lã Tông khuyên nhủ: “Đại vương bất tất phải tự trách mình. Núi xanh còn đó, sợ gì không có củi đun. Chỉ cần đại vương rút lui an toàn, sau này lại báo thù cũng chưa muộn!”
“Lã ái khanh, Trương Tử đã định giờ Tý đêm mai đột phá vòng vây, hiện thời gian cũng không còn nhiều, khanh mau mời Bôn tướng quân, Nguyễn tướng quân vào doanh trại nghe lệnh!”
“Vi thần lĩnh chỉ!”
Thấy Lã Tông đã lui ra khỏi trại, Vô Cương đập khẽ xuống bàn, tư kiếm lại liền bước vào.
Vô Cương nhìn tư kiếm lại, tháo bỏ thanh kiếm Việt Vương đang đeo bên hông, lại lôi từ dưới bàn lên ngọc tỷ của Việt Vương, đặt vào tay tư kiếm lại, vỗ tay gọi bốn thị vệ thân tín đến, đưa mắt nhìn năm người hồi lâu, rồi chậm rãi nói: “Năm người đều là tâm phúc của quả nhân, quả nhân cũng xin giao cho chư vị một việc tâm phúc. Nghe chỉ!”
Thấy Việt Vương trịnh trọng đến vậy, tư kiếm lại và bốn vị kiếm sĩ đưa mắt nhìn nhau, rồi đồng loạt quỳ xuống, khấu đầu nói: “Vi thần đợi chỉ!”
“Với sức của chư vị, người Sở không ai cản nổi. Chư vị hãy lập tức lên đường, đột phá vòng vây phía bắc, tìm khe hở chạy vào núi Đại Hồng, băng qua núi Đồng Bách chạy sang phía đông trở về Việt. Trong vòng ba tháng, nếu quả nhân an toàn trở về, coi như không sao. Nếu quả nhân gặp điều bất trắc, năm người chư vị phải đồng tâm hiệp lực, phò tá thái tử lên ngôi, tiếp tục duy trì cơ nghiệp nước Việt. Hễ ai không phục, chém ngay bằng kiếm này!”
Tư kiếm lại và bốn kiếm sĩ cùng khóc mà nói: “Chúng thần thề chết bảo vệ đại vương, sống chết cùng đại vương!”
“Than ôi!” Việt Vương thở dài. “Quả nhân và xã tắc, không thể lưỡng toàn!”
Năm người khóc lóc rầu rĩ, lại bái lạy, song chưa chịu bỏ đi. Đúng vào lúc này, bên ngoài doanh trại vọng lại tiếng vó ngựa, Việt Vương biết là đám Bôn Thành đã tới, vội nói: “Quả nhân giao phó xã tắc cho chư vị,” phẩy mạnh tay một cái, “chư vị còn không mau lên đường?”
Năm người nước mắt sụt sùi, lại lạy liền mấy lạy, mới đứng dậy trở ra.
Một lát sau, Lã Tông dẫn Bôn Thành, Nguyễn Ứng Long bước vào. Nhìn thấy hai người đều mặc áo tang, Vô Cương biết rằng Luân Kỳ đã qua đời, khóc mà hỏi: “Quốc sư ra đi lúc nào?”
“Vừa mới đây!” Nguyễn Ứng Long mắt đẫm lệ trả lời.
“Đi rồi cũng tốt!” Vô Cương gạt nước mắt, quay sang Bôn Thành, Nguyễn Ứng Long. “Hai vị ái khanh, hiện tại số binh lính có thể lên đường còn được bao nhiêu?”
“Mười ba vạn ba nghìn!” Bôn Thành đáp lời.
“Ngựa thì sao?”
“Hai nghìn chín trăm con!”
Vô Cương trầm ngâm hồi lâu, rồi cắt đặt: “Giết hết ngựa, cho binh lính ăn no bụng. Ăn không hết, mang theo lên đường, đánh thẳng về nhà!”
Bôn Thành chết sững, nhìn sang Nguyễn Ứng Long.
Nguyễn Ứng Long cũng kinh ngạc không kém. Đây là số ngựa chiến ít ỏi còn giữ được, hai người định dùng chúng bảo vệ Việt Vương, đột phá vòng vây.
“Đi mau!” Vô Cương cao giọng dứt khoát. “Truyền lệnh ba quân, đêm nay ăn no, nghỉ ngơi cả ngày mai, tích luỹ sức lực, đợi khi trời tối, tiến quân về núi Bồi Vĩ!”
Bôn Thành, Nguyễn Ứng Long khấu đầu nói: “Vi thần tuân chỉ!”
Chập tối hôm sau, hơn chục vạn lính Việt ăn no thịt ngựa, âm thầm nhổ trại lên đường, tiến thẳng về phía núi Bồi Vĩ.
Tới bên sông Vân Thủy, đã gần đến giờ Tý. Quân Việt ném những mảnh ván thuyền đã tháo bỏ từ trước xuống sông, bắc thành mấy đường cầu phao, tướng sĩ tuần tự nối đuôi nhau, vượt qua Vân Thủy. Do ồn ào quá mức, không lâu sau đã bị người Sở phát giác, lập tức trống trận vang rền, người hô ngựa hí bủa tới.
Bôn Thành không kịp nghĩ nhiều, lập tức xông lên đầu, dẫn theo vài chục kiếm sĩ lao vào chém giết. Phía quân Sở đúng như Trương Nghi đã nói, rặt là người già yếu, còn phía Việt lại là quân tinh nhuệ đi đầu, người nào người nấy khí thế hừng hực. Không bao lâu sau, phía Sở đã bỏ lại vài trăm thi thể, cuống cuồng tháo chạy. Nguyễn Ứng Long chỉ huy quân lính bố trí phòng thủ ở bờ đông Vân Thuỷ, trong khi Bôn Thành từ cửa sông Phù Lỗ lần tìm được lối vào khe Dương Trường, dẫn quân xông thẳng vào khe núi.
Bôn Thành cử người đi trước thám thính, quả đúng như Trương Nghi nói, trong khe núi không hề có phục binh. Khe núi chỗ rộng chỗ hẹp, nơi hẹp nhất chỉ đủ năm người đi qua, người Việt đành xếp thành hàng dài, rồng rắn nối đuôi nhau mà đi. Đến khi trời sáng, quân tiên phong đã gần tới lối ra phía đông, còn đoạn cuối hậu quân vẫn ở bên ngoài lối vào phía tây. Tới lúc này, tướng Sở Cảnh Thuý mới như chợt “bừng tỉnh”, dẫn đại quân ào ào đánh tới. Nguyễn Ứng Long phụ trách đoạn hậu, một mặt tiếp tục sắp xếp các quân rút vào khe núi, một mặt dẫn quân xông ra ứng phó. Cảnh Thuý có vẻ như lại một lần nữa “không địch nổi”, chỉ biết giương mắt đứng nhìn đám Nguyễn Ứng Long vừa đánh vừa lui, chui hết vào khe núi. Sau đó, lại chỉ huy quân dàn trận ngoài khe. Nguyễn Ứng Long cũng sai người dàn trận ở cửa khe, hai bên đối đầu.
Khi Bôn Thành phụ trách mở đường phía trước dẫn quân xông ra khỏi khe núi, quả nhiên không thấy người Sở đâu. Bôn Thành mừng rỡ, lập tức cùng đám kiếm sĩ bảo vệ Vô Cương, tìm đường đi về phía đông. Đại quân vẫn nối đuôi nhau thành một hàng dài bám sát theo sau.
Đi chưa đầy một dặm, sau lưng bỗng vang lên tiếng trống trận dồn dập, tiếng hò la dậy đất. Một cánh quân hung hãn, hào khí ngất trời xông ra từ cánh rừng bên cạnh, đánh thọc mạng sườn, thế như dời non lấp biển, chớp mắt đã cắt đứt ngang đội ngũ quân Việt, phong tỏa kín mít cửa khe. Vô Cương cả kinh, lập tức dừng bước, quay đầu nhìn lại, từ xa trông thấy một lá cờ phấp phới dưới ánh bình minh, bên trên hiện rõ mồn một chữ “Chiêu”.
Vô Cương bàng hoàng chấn động, quay người định đánh ngược trở lại, song bị Bôn Thành, Lã Tông và đám kiếm sĩ ngăn chặn. Vô Cương định thần nhìn kỹ, thấy quân Sở đông đến vài vạn, rõ ràng đã có chuẩn bị từ trước. Quân Việt phần lớn vẫn kẹt lại trong khe núi, dù có đông hơn, dũng mãnh hơn, cũng không thể nào xông ra khỏi khe núi chật hẹp.
Vô Cương hiểu rằng đại thế đã mất, chỉ còn biết than dài một tiếng, quay đầu chạy về phía đông dưới sự bảo vệ của đám Bôn Thành. Bôn Thành, Lã Tông hộ tống Việt Vương chạy được một đoạn, nhìn thấy người Sở vẫn chưa đuổi tới, bèn dừng lại, điểm qua quân số, thấy mới chỉ có khoảng hơn ba nghìn quân ra được khỏi khe núi.
Trước mặt xuất hiện một ngã rẽ, Vô Cương đang bàn với Bôn Thành, Lã Tông xem nên đi về phía nào, thì thấy trên một ngã rẽ cát bụi tung mù, lại có một cánh quân dũng mãnh ào ào xông ra, tướng dẫn đầu là Khuất Cái. Đám người không kịp cân nhắc thêm, vội vã ngoặt sang con đường còn lại. Quân Sở đánh tạt ngang sườn, Bôn Thành chia quân đoạn hậu, vừa đánh vừa lui. Cho tới khi trời tối, tàn quân rút đến núi Để Kỳ, lại điểm quân, chỉ còn hơn năm trăm người.
Đi thêm được một đoạn nữa, Bôn Thành thấy phía trước có một thôn xóm, bèn sai người tiến vào, song trong thôn không một bóng người, cũng không có lấy một hạt gạo. Đi tiếp vài trăm dặm, Vô Cương thấy binh lính đã mệt lả, bèn truyền lệnh nghỉ ngơi. Lã Tông dẫn người lùng sục tứ phía, may mắn tìm được một hầm trữ lương, bèn sai người đào lên, gom toàn bộ bếp nồi của các hộ dân lại, cuối cùng quân sĩ cũng được một bữa. Sau đó mặc nguyên áo giáp, kiếm cầm trong tay, ngồi dựa vào nhau, cùng ngủ mê mệt.
Trời còn chưa sáng, quân Sở lại ồ ạt đánh tới. Đám Bôn Thành hốt hoảng ứng chiến, Bôn Thành dẫn các kiếm sĩ bảo vệ Vô Cương, thoát ra theo hướng đông nam.
Người Sở đuổi theo một hồi, cuối cùng cũng rút lui.
Đây quả là một ngày gian khổ cực độ. Tàn quân của Vô Cương vốn định men theo Giang Thuỷ xuống phía đông, Song dù đi tới đâu, cũng gặp phải những cánh quân Sở lớn nhỏ đột kích. Bôn Thành đề nghị chuyển sang đi đường núi, Vô Cương tán thành. Tàn quân liền đi sang phía bắc, rẽ vào núi Đại Biệt, đêm đi ngày nghỉ, quả nhiên trên đường không gặp trở ngại nào nữa. Trước mắt đã sắp tới ải Đông Lăng, Vô Cương đưa mắt nhìn quanh, thấy chỉ còn lại Bôn Thành, Lã Tông và hơn chục kiếm sĩ, người nào người nấy mệt mỏi đói khát, bước chân mỏi mệt, rõ ràng khó lòng cầm cự thêm nữa. Vô Cương bất giác nhớ tới đại quân hai mươi mốt vạn người, giờ chỉ còn lại vài kẻ trước mặt, cầm lòng không nổi, nước mắt lặng lẽ tuôn rơi.
Đám người thấy Việt Vương chảy lệ, đua nhau quỳ xuống dập đầu.
Vô Cương kéo vạt áo lau nước mắt, thở dài một tiếng: “Than ôi, chư vị dũng sĩ, là Vô Cương đã hại chư vị ra nông nỗi này!”
“Đại vương!” Đám người cùng khóc thất thanh, dập đầu lia lịa.
Vô Cương đang định nói thêm, bỗng nghe phía trước có âm thanh khác lạ, vội ngẩng đầu nhìn, thì thấy đại quân của người Sở đang ồ ạt bủa tới như ong vỡ tổ.
Đám người đang quỳ trên đất quay đầu nhìn lại, ai nấy kinh hãi rụng rời, bởi lẽ chỉ vài trăm bước phía sau, quân Sở đã kéo tới đông nghìn nghịt như kiến cỏ. Ở giữa đám lính nổi lên một tán lọng hoa, đứng hiên ngang dưới tán lọng chính là Sở Vương Hùng Thương. Hai bên trái phải có hai cánh quân, đứng đầu hai cánh quân lần lượt là thái tử Hùng Hoè và khách khanh Trương Nghi. Bên cạnh Trương Nghi tuy không có lính Sở, song có vài chục kiếm sĩ áo nâu, dẫn đầu là Công Tôn Điệt, Công Tôn Yến và Kinh Sinh.
Quân Sở từ từ áp sát lại gần.
Vô Cương không lùi mà tiến, dẫn toàn bộ tàn quân bước thẳng lên đối đầu.
Khi còn cách năm mươi bước, hai bên đều dừng lại.
Trương Nghi vẫn ăn mặc như khi tới Việt, tay cầm quạt lông phe phẩy, do trời không nóng nên động tác này càng thêm phần chướng mắt. Việt Vương, Bôn Thành và đám kiếm sĩ dường như không thèm đếm xỉa tới đám người Sở, chỉ nhìn Trương Nghi trừng trừng.
Lã Tông kinh hoàng hơn ai hết, đưa tay chỉ vào Trương Nghi, lập cập nói: “Trương… Trương Tử… ngươi…”
Trương Nghi thu quạt, cất vào trong tay áo, đứng trên xe vòng tay vái dài mà nói: “Sĩ tử Trung Nguyên Trương Nghi bái kiến đại vương! Bái kiến Bôn tướng quân! Bái kiến Lã đại nhân!”
Bôn Thành như bừng tỉnh mộng, vung kiếm gầm lên: “Trương Nghi, nước Việt không thù không oán với ngươi, vì cớ gì mà ngươi… ngươi bày hết độc kế này đến độc kế khác, hãm hại chúng ta?”
Trương Nghi lại vái một lễ mà nói: “Hồi bẩm Bôn tướng quân, là người Việt tự chuốc nhục cho mình, cớ sao lại nói do Nghi hại?”
Bôn Thành lắp bắp: “Ngươi ngươi ngươi… ngươi đúng là hạng người vô sỉ! Chính miệng ngươi đã xúi giục đại vương bỏ Tề phạt Sở, cớ sao còn nói người Việt tự chuốc nhục về mình?”
“Bôn tướng quân bớt giận!” Trương Nghi lại vòng tay, dõng dạc nói. “Xin cho Nghi được giải thích.”
Bôn Thành bừng bừng giận dữ: “Loại tiểu nhân tráo trở lật lọng như ngươi, còn dám già mồm, xem kiếm của ta đây!”
Rồi vung kiếm định xông lên, thì Vô Cương đã ngăn lại, từ tốn nói: “Bôn ái khanh, hắn nói rất đúng, chính là quả nhân đã tự chuốc nhục vào mình!” Rồi quay sang Trương Nghi, vòng tay nói. “Trương Tử, Vô Cương lâm vào tình cảnh này, không hề trách ngươi. Có điều, quả nhân còn một chuyện không hiểu, xin Trương Tử chỉ giáo!”
Trương Nghi vòng tay đáp lễ: “Đại vương cứ nói!”
“Giả sử Vô Cương không nghe theo lời Trương Tử, một lòng phạt Tề thì kết cục sẽ ra sao?”
“Cũng giống hiện tại mà thôi, có điều đứng trước mặt đại vương lúc này sẽ là người Tề, chứ không phải người Sở!”
Vô Cương thoạt tiên sửng sốt, sau đó khẽ gật đầu: “Phải, quả nhân tin rồi. Quả nhân còn có một câu hỏi, muốn được thỉnh giáo Trương Tử.”
“Đại vương cứ nói!”
“Theo Trương Tử, dù phạt Tề hay phạt Sở, kết cục vẫn như nhau, cớ sao Trương Tử không giúp người Tề, mà lại dành ưu ái cho người Sở?”
Trương Nghi mỉm cười, lại vòng tay nói: “Đại vương đã hỏi như vậy, Nghi không thể không trả lời. Theo Nghi thấy, thiên hạ ngày nay, người có thể có được Trạm Lư không phải là Tề Vương, mà là Sở Vương, nên Nghi giúp Sở mà không giúp Tề.”
Vô Cương cúi thấp đầu, trầm ngâm hồi lâu, mới ngẩng lên nói tiếp: “Trương Tử muốn giúp Sở, thì cứ giúp Sở, cớ sao lại vòng tới Lang Nha, khua môi múa mép, mưu hại quả nhân?”
“Không phải Nghi mưu hại đại vương, là đại vương tự hại chính mình!”
“Nói vậy là sao?”
“Nếu đại vương chịu an phận ở một góc đông nam, có lẽ đã vô sự. Song đại vương lại không tự lượng sức, hưng binh nhọc dân, chinh phạt người vô tội, lấy trứng chọi đá, sao chẳng thất bại? Thiên hạ ngày nay sớm đã không còn là thiên hạ của Câu Tiễn năm xưa, đại vương lại khắc thuyền tìm kiếm, một mực theo đuổi giấc mộng xưng bá của Câu Tiễn ngày trước, là không biết thiên thời. Đại vương rời bỏ vùng núi Ngô Việt, quay sang tranh giành chốn đồng bằng, như hổ xuống núi, là không biết địa lợi. Đại vương vô cớ khởi binh, thảo phạt mù quáng, là không biết nhân hoà. Ba thứ thiên thời, địa lợi, nhân hoà, đại vương đều không có, chỉ cậy vào cái dũng của kẻ thất phu, há chẳng tự mình chuốc lấy bại vong?”
Sắc mặt Vô Cương chuyển sang phẫn nộ: “Quả nhân biết ngươi là đại tài, rất mực trọng dụng ngươi. Ngươi đã biết tất có chuyện bại vong, song lại không khuyên can, chẳng phải là mưu hại, thì là gì đây?”
“Đại vương bớt giận, xin cho Nghi được giải thích!” Trương Nghi dõng dạc nói. “Đại vương thử nghĩ mà xem, giữa mùa xuân năm ngoái, đại vương ấp ủ mưu kế đã nhiều năm, khí thế hừng hực, tập hợp ba quân hai mươi mốt vạn ở Lang Nha, thế như tên đã lên cung, không bắn thì không chịu. Vào lúc đó, nếu Nghi khuyên đại vương thu binh về Việt, an phận ở đông nam, liệu đại vương có chịu nghe chăng? Nếu đúng như Nghi đoán, đại vương sẽ dứt khoát không nghe, nhất quyết khởi binh phạt Tề, mà đã phạt Tề chắc chắn sẽ chuốc thất bại. Nghi nghĩ, nếu để đại vương thất bại trước Tề, chẳng thà thất bại trước Sở, bởi vậy đã khuyên đại vương phạt Sở!”
“Ngươi…” Vô Cương nghẹn lời, rồi đột ngột di chuyển ánh mắt sang Lã Tông bên cạnh, sắc mặt hung tợn, đưa tay lần tìm bảo kiếm bên hông.
Sự biến chỉ trong nháy mắt.
Đám tuỳ tùng gần như không thấy Vô Cương rút kiếm, cũng không thấy Vô Cương tra kiếm vào bao, mà đầu Lã Tông đã rơi dưới đất.
Kiếm thuật cao siêu của Việt Vương, khiến tất thảy những người có mặt đều bàng hoàng thán phục. Sở Vương hết sức hãi hùng, bất giác lùi về phía sau vài bước, hai viên phó tướng bước vội lên che chắn phía trước. Vài chục tay nỏ giương lên, đồng loạt chĩa mũi tên vê phía Việt Vương.
Trương Nghi phẩy tay, đám nỏ thủ liền hạ tên xuống, song vẫn trong tư thế cảnh giác cao độ.
Trương Nghi lại quay sang Việt Vương, vòng tay vái dài: “Nghi còn một điều muốn nói với đại vương!”
Vô Cương không đáp lễ, lạnh lùng buông một tiếng: “Nói!”
“Đại vương tuy không có duyên với Trạm Lư, song vẫn được xem là nhất đại kiếm sĩ. Nếu đại vương thức thời, hạ vũ khí xuống, đưa tay chịu trói, Nghi sẽ thỉnh cầu Sở Vương, tìm cho đại vương một hòn đảo đẹp ở Dũng Đông, đại vương có thể ở đó ngày ngày tu luyện kiếm đạo cùng các kiếm sĩ.”
Nghe những lời này, Sở Uy Vương cũng gạt tuỳ tùng sang hai bên, tiến lên một bước, vòng tay vái dài, rồi cất giọng sang sảng mà nói: “Hùng Thương bái kiến Việt Vương! Hùng Thương ân chuẩn thỉnh cầu của Trương Tử!”
“Ha ha ha!” Vô Cương bật cười sằng sặc một tràng dài, không thèm đến xỉa tới Sở Vương, chỉ ôm quyền hướng về phía Trương Nghi mà nói. “Trời đã không dung Vô Cương, Vô Cương sao có thể sống thừa trên đời? Vô Cương không có nguyện vọng nào khác, chỉ cầu được chết dưới lưỡi kiếm của Trương Tử, mong Trương Tử tác thành!”
“Ồ…” Trương Nghi có phần lúng túng.
Vô Cương lại hỏi: “Lẽ nào đầu của Vô Cương không xứng với kiếm của Trương Tử?”
“Khởi bẩm đại vương, Nghi không thông kiếm thuật, sao có thể ra tay với đại vương?”
“Ngươi…” Vô Cương chết sững một hồi, đau đớn thở dài một tiếng. “Than ôi, Trương Tử, quả nhân thấy ngươi là cao sĩ, tin ngươi là tri giao, lúc lâm chung xin ngươi một kiếm, lẽ nào lại không chịu ban?”
Trương Nghi vòng tay nói: “Đại vương đã quyết chí muốn chết, Nghi đành phải tuân lệnh!”
Vô Cương đáp lễ: “Tạ ơn Trương Tử đã thành toàn!”
“Nghi tuy kiếm thuật không tinh, song sẽ giới thiệu với đại vương một kiếm sĩ thực thụ, hoặc giả sẽ thoả được mong ước của đại vương!” Nói xong, Trương Nghi vòng tay về phía Công Tôn Điệt đứng bên cạnh, vái một vái dài.
Công Tôn Điệt bước lên một bước, vòng tay về phía Việt Vương: “Thảo dân bái kiến Việt Vương!”
Nhìn lão già chưa từng gặp mặt, Vô Cương ngẩn ra một thoáng, rồi hỏi ngay: “Ông là ai?”
“Công Tôn Điệt!”
“Công Tôn Điệt?” Vô Cương nhìn sang Bôn Thành và đám kiếm sĩ, thấy họ cũng đều sửng sốt, đành quay sang Công Tôn Điệt, hỏi. “Vô Cương kiến thức hạn hẹp, dám hỏi lão trượng là cao nhân phương nào?”
“Đại vương không biết thảo dân, song hẳn có biết Công Tôn Hùng?”
“Công Tôn Hùng?” Vô Cương kinh ngạc. “Ông là…”
“Thảo dân là hậu duệ đời thứ sáu của Công Tôn Hùng, nay tới đây thay tiên vương rửa nhục.” Nói đoạn, lập tức bước lên vài bước.
Vô Cương nghe nói vậy, lại suy nghĩ một hồi, dường như đã hiểu ra, bật cười một tràng, cũng bước lên vài bước, vòng tay vái Công Tôn Điệt một vái dài: “Được chết dưới kiếm của hậu duệ Công Tôn Hùng, Vô Cương đã có thể yên tâm nhắm mắt! Công Tôn tiên sinh đã tới đây rửa nhục, dám hỏi rửa nhục bằng cách nào?”
“Nghe nói đại vương kiếm thuật cao siêu, thảo dân bất tài, muốn đọ cao thấp với đại vương!”
“Đây cũng là mong muốn của Vô Cương! Công Tôn tiên sinh, mời!”
Vô Cương vừa dứt lời, Bôn Thành đã quỳ xuống bái lạy: “Đại vương, xin cho phép vi thần đi trước một bước!” Đám kiếm sĩ thấy vậy, cũng đua nhau quỳ xuống cầu xin.
“Chư vị ái khanh,” Vô Cương lần lượt đỡ từng người dậy, rồi khoanh chân ngồi xuống, gật đầu cười nói, “được, sinh tử có nhau, chư vị nguyện theo quả nhân, quả nhân cũng thấy vô cùng an ủi! Chư vị ái khanh, ai xuất chiến trước?”
Lập tức có ba kiếm sĩ bước lên. Kiếm sĩ của Công Tôn Điệt đứng ở phía sau thấy vậy, cũng có ba người nhảy ra.
Cả hai bên đều phi thân ra giữa bãi trống, hành lễ xong xuôi, lập tức rút kiếm thủ thế, hét lớn một tiếng, lập tức xông thẳng vào trận, giao chiêu mù mịt, chỉ thấy bóng kiếm mà không thấy hình người. Trong khoảnh khắc, năm xác người đã đổ vật trên đất, chỉ còn một người bị chém đứt ngang đùi trái, chống kiếm đứng vững trong tư thế vòng tay.
Mọi người cùng nhìn, là kiếm sĩ thuộc hạ của Công Tôn Điệt.
Quân sĩ liền chạy lên, kéo các xác chết sang một bên. Vòng giao đấu thứ hai bắt đầu, mỗi bên lại có ba kiếm sĩ xông lên. Do kiếm sĩ của Vô Cương vừa trải qua sát phạt liên miên, lại đi ròng rã mấy ngày trời, thế lực sớm đã cạn kiệt, chưa được mấy hiệp, toàn bộ tử chiến. Lượt kiếm sĩ này vừa tử chiến, lại thay ba kiếm sĩ khác, một lát sau, cũng bỏ mạng hết lượt. Phía Công Tôn Điệt cũng tử chiến hai người, chỉ còn lại một, cầm kiếm đứng hiên ngang.
Hai bên lại giao chiến thêm vài trận nữa, kiếm sĩ thuộc hạ của Vô Cương không ai chùn bước, toàn bộ xông lên. Kiếm sĩ thuộc hạ của Công Tôn Điệt cũng tử trận tám người, chỉ còn lại ba người trơ lại trên đấu trường.
Tới lượt Bôn Thành.
Bôn Thành quỳ xuống trước Vô Cương, lạy liền mấy lạy: “Đại vương, vi thần xin đi trước một bước!”
Vô Cương nhìn ông ta gật đầu, mỉm cười nói: “Bôn ái khanh, đi đi!”
Bôn Thành chậm rãi đứng dậy, thong thả bước ra đấu trường.
Hai bên hành lễ xong xuôi, ba kiếm sĩ áo nâu đứng vây quanh Bôn Thành, bày thế sẵn sàng. Bôn Thành di chuyển vài vòng cùng ba kiếm sĩ, rồi hét lớn một tiếng, thình lình xuất kiếm. Chỉ thấy kiếm quang loang loáng, bóng người vùn vụt, trong chớp mắt, ba kiếm sĩ áo nâu ở thế chân kiềng đều đã thành ba cái xác không hồn.
Lại có ba kiếm sĩ áo nâu khác tung người lao ra, song nháy mắt đã lại phơi thây trên đất. Bôn Thành cười nhạt, tra kiếm vào bao, đứng hiên ngang giữa đấu trường.
Vô Cương khen ngợi: “Bôn ái khanh, kiếm pháp tuyệt diệu!”
Đám kiếm sĩ áo nâu đưa mắt nhìn nhau, đang định xông lên tiếp, thì Kinh Sinh phẩy tay ngăn lại, vòng tay vái Công Tôn Điệt, rồi tung người phi thân tới, hướng về phía Bôn Thành, vái chào mà nói: “Tại hạ Kinh Sinh xin được thỉnh giáo Bôn tướng quân!”
Bôn Thành cũng đáp lễ: “Nghe danh Kinh tiên sinh đã lâu, Bôn Thành lĩnh giáo!”
Hai người hành lễ xong, bày thế sẵn sàng, bắt đầu xuất kiếm giao chiêu. Kiếm thuật của Bôn Thành vốn cao hơn Kinh Sinh, song do lúc này cơ thể rệu rã, lại vừa ứng chiến mấy trận, nên sức lực đã giảm sút. Hai người đấu với nhau vài chục hiệp, vẫn ngang sức ngang tài.
Lại qua vài hiệp nữa, Bôn Thành đột nhiên thần uy trỗi dậy, một kiếm đâm trúng đùi trái Kinh Sinh, Kinh Sinh vung ngược lưỡi kiếm chém đứt phăng cánh tay phải Bôn Thành, máu phun như suối, bảo kiếm rơi xuống đất. Hai bên đều lùi lại một bước, Kinh Sinh nhặt kiếm của Bôn Thành lên, đưa trả cho Bôn Thành.
Bôn Thành cảm tạ, tay trái cầm kiếm, lại hành lễ, rồi tiếp tục giao chiến. Song vết thương máu tuôn như suối, Bôn Thành mất máu quá nhiều, mau chóng đuối sức, còn bên kia Kinh Sinh chân trái trọng thương, di chuyển khó khăn. Lại qua vài hiệp, Kinh Sinh thấy một kiếm của Bôn Thành đâm tới, song không né tránh, vẫn tung người lao tới, đâm ra một kiếm.
Hai lưỡi kiếm đồng thời xuyên thẳng vào ngực đối phương. Hai thân người dính chặt vào nhau, rồi cùng đổ vật xuống đất.
Hương Nữ bật khóc, kêu thét lên: “Chú Kinh!” Rồi định tung người lao ra, song đã bị Công Tôn Điệt giữ chặt lấy vạt áo.
Đám binh sĩ chạy vào, kéo hết xác người sang một bên.
Nhìn thấy đấu trường đã dọn sạch, Việt Vương Vô Cương nãy giờ vẫn ngồi xếp bằng dưới đất, giờ chậm rãi đứng dậy, bước từng bước tiến lên.
Công Tôn Điệt cũng bước lên nghênh chiến.
Hai người mắt như chớp xẹt, nhìn nhau trừng trừng, rồi bước từng bước về phía đối phương. Khi còn cách năm bước thì dừng lại, đứng im phăng phắc.
Vô Cương vòng tay vái Công Tôn Điệt, nói: “Công Tôn tiên sinh, ngài là trưởng lão, mời xuất kiếm trước!”
Công Tôn Điệt cũng vòng tay đáp lễ: “Đại vương là bậc cao quý, lão hủ thân hèn, không dám xuất kiếm trước. Đại vương, mời!”
Vô Cương lại vái đáp lễ: “Nhìn các kiếm sĩ thuộc hạ của Công Tôn tiên sinh, quả nhiên xuất chúng, hôm nay Vô Cương đã được đại khai nhãn giới!”
“Đa tạ đại vương quá khen! Đại vương, mời!” Công Tôn Điệt lùi lại ba bước, Vô Cương cũng lùi lại ba bước.
Đây là một cuộc tỉ thí giữa hai kiếm sĩ tuyệt đỉnh, nên xung quanh lặng im phăng phắc, tất cả mọi ánh mắt đều đổ dồn vào hai người.
Sở Uy Vương trợn tròn hai mắt, không muốn bỏ qua bất kỳ tiểu tiết nào.
Hương Nữ sợ hãi bủn rủn, phải dựa hẳn vào Trương Nghi mới đứng vững, căng thẳng tới toàn thân run bắn.
Trương Nghi đưa tay giữ lấy Hương Nữ, mắt nhìn ra đấu trường không chớp.
Vô Cương đứng đối diện với Công Tôn Điệt, hai người cùng đặt tay vào chuôi kiếm, song đều chưa xuất chiêu. Quân sĩ đứng hàng trên cùng dường như không thể chịu nổi kiếm khí ép người ngùn ngụt toả ra từ hai người họ, vô thức lùi lại vài bước.
Một khắc trôi qua.
Hai khắc trôi qua.
Hai người vẫn đứng sừng sững ở đó như hai cây cột, chẳng ai di chuyển dù nửa tấc.
Cuộc đọ sức giữa họ, chỉ bằng ánh mắt.
Xung quanh dường như chết lặng.
Mọi người càng thêm căng thẳng, toàn thân rùng rùng nổi da gà.
Lại một khắc nữa trôi qua.
Những người có mặt đa phần đã bắt đầu mỏi mắt, tâm lực rã rời, có người đã quên mất đây là cuộc đọ sức giữa hai cao thủ, thậm chí có người bắt đầu ngáp dài. Sở Uy Vương xem ra cũng đã mỏi mắt, đưa tay lên dụi.
Gần như cùng một khoảnh khắc, cả Vô Cương và Công Tôn Điệt đều thình lình tung người nhảy vọt lên cao, hệt như hai con chim lớn lướt qua không trung.
Sự việc xảy ra quá đường đột, quá chóng vánh, tựa như sét đánh ngang tai. Tới khi mọi người kịp ngước mắt nhìn lên, đã thấy hai người họ thay đổi vị trí cho nhau, xoay nửa vòng trên không trung, lại hạ xuống đứng đối diện nhau, sừng sững bất động.
Mọi người thảy đều kinh ngạc, trợn tròn mắt nhìn chằm chằm vào hai người, chỉ sợ lại bỏ lỡ mất hiệp đấu tiếp theo.
Song giữa Công Tôn Điệt và Việt Vương Vô Cương không còn hiệp đấu tiếp theo nữa!
Mọi người đợi thêm một lát, chợt nhìn thấy một dòng máu đen đặc chảy ra từ miệng Vô Cương. Lại nhìn sang Công Tôn Điệt, tình hình cũng y hệt như vậy.
Hương Nữ giờ mới phát giác ra, bèn rú lên thảm thiết: “Cha!” Rồi phi thân lao vọt về phía Công Tôn Điệt.
Trương Nghi, Sở Uy Vương, thái tử Hoè và chư tướng dường như cũng đã hiểu ra, vội vã chạy lại, quả nhiên thấy hai người đều đã ngừng thở, hai thanh kiếm đều xuyên trúng tim đối phương không chệch một ly. Song họ đâm lúc nào, đâm như thế nào vào tim của đối phương, thì không một ai trong số những người có mặt nhìn thấy được.
Sở Vương không dám tin vào mắt mình, bước qua bên này xem một lúc, lại bước qua bên kia xem một hồi, rồi quay sang Trương Nghi hỏi: “Họ chỉ… chỉ đánh một chiêu?”
“Hồi bẩm bệ hạ,” Trương Nghi vẻ mặt thẫn thờ, điềm đạm nói, “cao thủ thực thụ, không cần tới chiêu thứ hai!” Nói đoạn, cúi xuống, vực Hương Nữ đang bất tỉnh dưới đất lên, đưa tay bấm vào nhân trung.
Hương Nữ dần dần hồi tỉnh trong tay Trương Nghi, nước mắt tuôn trào như suối: “Phu quân!”
Trương Nghi đưa tay áo lau nước mắt cho Hương Nữ, nói: “Hương Nữ, cha và Kinh huynh đã được thoả nguyện, nàng nên vui mừng mới phải, đừng khóc!”
“Phu quân!” Hương Nữ càng đau đớn lòng, bật khóc thảm thiết.
***
Sau khi toàn bộ quân Việt đã chui vào trong khe Dương Trường, Chiêu Dương, Khuất Vũ dẫn quân bao vây bốn mặt núi Bồi Vĩ, bịt kín hai đầu khe núi. Nhìn thấy đại thế đã mất, Nguyễn Ứng Long bèn rút kiếm tự vẫn. Quân Việt như rắn mất đầu, lại đói khát khó kham, bèn lũ lượt kéo nhau ra khỏi khe núi, nộp vũ khí xin hàng.
Trong trại trung quân, người ra kẻ vào tấp nập, Chiêu Dương ngồi ngay ngắn ở vị trí chủ, mặt mày hoan hỷ nghe chư tướng báo cáo chiến quả. Đúng vào lúc này, Trần Chẩn theo chư tướng bước vào trại, do không mặc áo giáp, Chiêu Dương thoáng liếc đã thấy ngay, bèn bảo chư tướng ra ngoài đợi, cũng không đứng dậy, chỉ tay vào vị trí khách mà nói: “Trong quân trướng, không phải hành lễ. Thượng khanh mời ngồi!”
Trần Chẩn ngồi xuống, khẽ vòng tay nói: “Tướng quân bận trăm công nghìn việc, Trần Chẩn tới làm phiền, đã quấy quả rồi!”
Chiêu Dương cũng vòng tay nói: “Thượng khanh xưa nay không có việc không tới, hôm nay tới đây, hẳn có việc hệ trọng!”
“Phải!” Trần Chẩn gật đầu. “Tướng quân suy đoán như thần. Tại hạ tới đây, đúng là có hai việc.”
“Thượng khanh cứ nói.”
“Một là tới chúc mừng, hai là tới báo tin dữ.”
“Ồ?” Chiêu Dương cười nói. “Dám hỏi thượng khanh, tin mừng ở đâu, tin dữ thế nào?”
“Tướng quân tiêu diệt toàn quân Việt, công lớn nhường vậy, bệ hạ ắt sẽ trọng thưởng, nên tại hạ xin chúc mừng. Tướng quân sắp thành lại bại, nên tại hạ xin báo tin dữ.”
“Sắp thành lại bại?” Chiêu Dương ngẩn người. “Tại hạ ngu muội, xin thượng khanh nói rõ!”
“Tướng quân tiêu diệt toàn quân Việt, song lại để Việt Vương Vô Cương chạy thoát. Nếu đúng như dự đoán của tại hạ, Vô Cương ắt rơi vào tay Trương Nghi. Xin hỏi tướng quân, được Vô Cương và được lính Việt, công nào lớn hơn?”
Chiêu Dương dường như chưa từng nghĩ tới việc này, giờ mới vò đầu bứt tai, suy nghĩ một lát, thì uất ức gật đầu: “Phải, thượng khanh nói đúng, thảo nào Trương Nghi yêu cầu tại hạ thả Vô Cương đi, hoá ra là muốn đoạt lấy đại công này.”
“Xin hỏi tiếp tướng quân,” Trần Chẩn nói tiếp, “hoà Ngụy diệt Việt, là mưu của ai? Vây khốn người Việt, tuyệt đường lương thảo, vây mà không đánh, là kế của ai?”
Chiêu Dương mặt mày biến sắc.
“Còn nữa!” Trần Chẩn vẫn không buông tha. “Trong một năm qua, ai thường xuyên hầu bên bệ hạ? Ai lúc nào cũng cận kề bên điện hạ?”
Sắc mặt Chiêu Dương càng khó coi hơn.
“Tướng quân thử nghĩ mà xem, tướng quân vất vả bao nhiêu năm qua, là vì cái gì? Trương Nghi bỏ Việt tới Sở, lập nên kỳ công, lẽ nào chỉ vì một chức khách khanh cỏn con?”
Chiêu Dương hít vào một hơi khí lạnh, toát mồ hôi hột, hấp tấp nói: “Thượng khanh có diệu kế gì, mau mau chỉ giáo tại hạ!”
Trần Chẩn bước lại gần, ghé sát tai Chiêu Dương thì thầm một chặp.
Chiêu Dương gật gù: “Hay lắm, kế của thượng khanh quả nhiên tuyệt diệu, tại hạ sẽ thực thi ngay, lập tức tấu lên bệ hạ.”
Trần Chẩn trở lại chỗ ngồi, vòng tay nói: “Tại hạ kính cẩn chờ tin tốt lành!”
Sau khi Trần Chẩn cáo lui, Chiêu Dương không dám chậm trễ lấy một chốc, lập tức lên xe ngựa gấp rút đi về phía đông, vào chiều tối hôm sau thì tới núi Quy Phong, nghe tin Sở Vương đang khải hoàn trở về từ ải Đông Lăng, bèn cấp tốc tới đón đường. Đi chưa được bao xa, quả nhiên thấy đoàn xe của Uy Vương rầm rập tiến lại, vội vã đánh xe sát bên lề đường, xuống xe quỳ lạy, dập đầu sát đất.
Sở Uy Vương nhận được tin báo, bèn dừng xe, vui mừng nói: “Chiêu ái khanh miễn lễ! Mau lên xe, ngồi cùng quả nhân!”
Chiêu Dương tạ ơn, trèo lên xe của Uy Vương, kể lại tóm tắt một lượt chiến sự ở núi Bồi Vĩ, đặc biệt nhấn mạnh tới các kế sách như chỉ vây không đánh, dùng lương thảo thay cho đao thương, ép Nguyễn Ứng Long tự sát, toàn quân Việt bỏ giáp ra hàng, cuối cùng lại nói: “Vi thần đã sắp xếp Cảnh tướng quân, Khuất tướng quân phân phối mười vạn thạch lương thực, chia quân Việt thành hai mươi phần, cứ năm nghìn người một trại, di chuyển tới các nơi khác nhau, tách riêng họ ra, để tránh làm loạn.”
Những kế sách này đều là do Chiêu Dương và Trương Nghi bàn bạc từ trước khi xung trận, song lúc này nói ra từ miệng Chiêu Dương, cảm giác hoàn toàn khác hẳn, toàn bộ công lao dường như đều thuộc về một mình Chiêu Dương.
“Tốt lắm!” Uy Vương khen ngợi. “Ái khanh xử trí như vậy, quả nhân thấy rất hài lòng. Vô Cương làm trái đạo trời, tự diệt nước Việt, tất cả người Việt tự khắc sẽ trở thành thần dân của quả nhân, bớt giết được người nào thì hay người đó. Trải qua một mùa đông, đám người Việt kia hẳn đã đói khát rã rời, khanh sắp xếp như vậy, ắt sẽ khiến họ tâm phục.”
“Tạ ơn bệ hạ khen ngợi!” Chiêu Dương vòng tay cảm tạ, rồi hỏi khẽ. “Dám hỏi bệ hạ, sao không thấy Trương Tử đâu?”
“Trương ái khanh đang lo tang lễ ở ải Đông Lăng.”
“Tang lễ? Tang lễ gì kia?”
Uy Vương kể sơ qua về cái chết của Vô Cương, rồi than thở: “Hỡi ôi, quả nhân vốn cho rằng Việt Vương Vô Cương là kẻ lỗ mãng, nào ngờ cũng là người hiểu biết. Quả nhân thấy hắn có lòng nghĩa hiệp, đã lệnh cho Trương ái khanh an táng trọng thể theo nghi lễ vương hầu.”
Chiêu Dương thoáng sững sờ: “An táng trọng thể như thế nào?”
“Theo Trương ái khanh, Vô Cương từng đưa ra hai nguyện vọng, thứ nhất là chết dưới kiếm của cao thủ, thứ hai là chôn dưới biển sâu. Nguyện vọng thứ nhất đã được thực hiện, còn nguyện vọng thứ hai, quả nhân cũng đã ân chuẩn rồi.”
Chiêu Dương ngẫm nghĩ một lát, rồi hỏi: “Bệ hạ muốn Trương Nghi tới Dũng Đông?”
Uy Vương gật đầu.
Chiêu Dương thở dài một tiếng, lại vòng tay nói: “Vi thần cũng vì việc này mới phải vội vàng đến yết kiến bệ hạ.”
“Sao?” Uy Vương hơi ngạc nhiên. “Ái khanh mau nói!”
“Tuy ta đã tiêu diệt toàn quân Việt, song mới chỉ thành công một nửa. Đất Việt rộng lớn, dân Việt đông đúc, tuy Vô Cương đã chết, song vẫn còn thái tử. Dù người Việt đã phục tùng bệ hạ, song lòng họ chưa chắc đã phục, vi thần e rằng ngày sau lại có biến.”
“Ái khanh nói rất phải!” Uy Vương nghe thấy là chuyện này, thì thở phào nhẹ nhõm. “Có điều, việc ái khanh lo lắng, Trương Tử cũng đã lường trước cả rồi. Mấy hôm nay, Trương Tử và quả nhân lúc nào cũng bàn kế sách trị Việt, dự tính phân đất Việt làm ba, đặt thành quận Giang Đông, quận Cối Kê, quận Nam Việt, đồng thời an táng Việt Vương long trọng, giảm lao dịch, tô thuế cho người Việt nhằm vỗ yên họ.”
Chiêu Dương trong lòng thầm kinh ngạc: “Ý bệ hạ thế nào?”
“Quả nhân thấy rất phải, đã ân chuẩn cả rồi. Sao, ái khanh có ý kiến khác ư?”
“Bệ hạ thánh minh, vi thần không có ý kiến gì khác, chỉ là… vi thần cho rằng, hiện tại phân đất Việt làm ba, bất lợi cho quản lý. Theo vi thần, tốt nhất bệ hạ nên tuần tự từng bước, tạm thời không phân quận, trước mắt chỉ đặt một quận Cối Kê, đợi đất Việt đã bình định triệt để, mới phân tiếp để trị.”
“Phải!” Uy Vương gật đầu tán thành. “Ái khanh nói rất đúng, người Việt chưa trị đã phân, lòng tất không phục, không phục thì dễ sinh tai hoạ. Quả nhân ân chuẩn đề xuất của khanh, tạm thời chỉ đặt một quận Cối Kê.”
“Bệ hạ thánh minh! Dám hỏi bệ hạ muốn cử ai làm Cối Kê lệnh?”
“Theo ý ái khanh, ai là người thích hợp?”
“Không ai khác ngoài Trương Tử!”
Uy Vương tán thành, gật đầu lia lịa.
“Bệ hạ, người Việt hiện tại như rắn mất đầu, là lúc dễ vỗ yên nhất, thời gian không đợi ta!”
Uy Vương nhắm mắt suy nghĩ một lát, quay sang nội thần: “Dừng xe, triệu kiến thái tử!”
Một lát sau, từ trên cỗ chiến xa ngay sau xe Uy Vương, thái tử Hoè nhảy xuống, hối hả bước lên, bái lạy Uy Vương: “Nhi thần khấu kiến phụ vương!”
“Truyền chỉ, tạm thời thiết đặt quận Cối Kê ở đất Việt, phong Trương Nghi làm Cối Kê lệnh, phong Cảnh Thuý làm thú thừa, khởi binh đúng ngày, chiêu an người Việt!”
“Nhi thần lĩnh chỉ!”
Mười ngày sau, bên bờ Giang Thuỷ ở một mé Chu Thành, vài chục chiến thuyền nối đuôi nhau thành hàng dài, trên thuyền cờ bay phấp phới, từ xa đã nhìn thấy rõ các chữ “Cối Kê lệnh”, “Trương”, “Cảnh”.
Trương Nghi, Cảnh Thuý từ biệt thái tử Hoè, Chiêu Dương, Khuất Vũ tới tiễn đưa, dẫn tám vạn đại quân, chia thành hai đường thuỷ lục, khí thế ngất trời rời khỏi đất Sở.