Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 72
CỰ HỒ PHỤC, TRIỆU THẦN KHÁNG CHỈ
GIÀNH VƯƠNG VỊ, YÊN CUNG PHÂN TRANH

❊ ❊ ❊

Vào lúc thái tử Yên Cơ Bình ngày đêm không nghỉ gấp rút trở về Kế Đô, Vũ Linh Vương cũng rời khỏi Vũ Dương, ra roi thúc ngựa, băng qua Trung Sơn, hối hả quay về Hàm Đan. Vừa vào cổng thành Bắc, đã lệnh cho Phì Nghĩa tới phủ tướng quốc, mời Tô Tần lập tức vào cung.

Phì Nghĩa nhanh chóng tới phủ tướng quốc, tung người xuống ngựa. Lính gác nhận ra, bèn mời vào phủ.

Sân trước của phủ tướng nhộn nhịp khác thường, vài cỗ xe đã đóng ngựa sẵn sàng, đám Trâu Phi Đao đang bận rộn xếp đồ lên xe, Mộc Thực, Mộc Hoa cùng hơn hai chục Mặc giả, cộng thêm hơn trăm vệ binh do Triệu Vương phái tới, đã dàn hàng đứng đó chờ nghe lệnh.

“Các vị, thế này là…” Phì Nghĩa không kịp hành lễ, trợn mắt nhìn Trâu Phi Đao, tay chỉ vào chúng nhân và ba cỗ xe ngựa hỏi dồn.

Thấy là Phì Nghĩa, Trâu Phi Đao mỉm cười, vòng tay đáp: “Tô đại nhân muốn tới Sính Đô, giờ đang chuẩn bị khởi hành!”

“Sính Đô?” Phì Nghĩa kinh ngạc, “đại nhân đã khỏi bệnh rồi ư?”

“Còn chưa hồi phục,” Trâu Phi Đao cười nhăn nhó, “nhưng đại nhân khăng khăng muốn đi, không ai cản nổi!”

“May sao đến kịp!” Phì Nghĩa thở phào một tiếng, kéo Trâu Phi Đao lại, “đừng đóng xe nữa, mau dẫn tại hạ vào gặp tướng quốc!”

Trâu Phi Đao dẫn Phì Nghĩa vào trong phòng khách, thấy Tô Tần mũ áo chỉnh tề, đang chào từ biệt Cơ Tuyết. Cơ Tô Phi Phi nai nịt gọn gàng, kiếm giắt ngang hông, anh khí ngời ngời, đứng ngay bên cạnh.

Hiển nhiên, Phi Phi cũng sẽ đi cùng.

Đây là điều kiện cuối cùng mà Cơ Tuyết nhất quyết yêu cầu: để Phi Phi thay mình chăm sóc Tô Tần trên đường đi.

“Tướng quốc đại nhân, Phì Nghĩa có lễ!” Phì Nghĩa vòng tay chào.

“Phì đại nhân, chẳng phải ông…” Tô Tần thoáng ngỡ ngàng, vòng tay đáp lễ, “đại nhân về khi nào vậy?”

“Vừa vào cổng thành.” Phì Nghĩa mỉm cười, “mới qua cổng Bắc, đại vương đã sai tại hạ tới mời tướng quốc, nói là có đại sự cần bàn! May mà đại vương hối thúc, bằng không, hẳn phải đuổi theo Tô đại nhân rồi.”

Tô Tần không nói thêm gì nữa, lập tức từ biệt Cơ Tuyết, lên xe Trâu Phi Đao đã chờ sẵn, cùng Phì Nghĩa tức tốc tới cung Triệu.

Vũ Linh Vương đã thay xong vương phục, ra ngoài cửa điện nghênh đón.

Hai người dắt tay nhau vào trong điện, Vũ Linh Vương hỏi thăm bệnh tình, thấy khí sắc Tô Tần vẫn hư nhược, mà đã muốn lặn lội đường xa đến Sở thì lấy làm lo lắng: “Dám hỏi Tô Tử, có việc gấp gì ư?”

“Trương Nghi đã tới Sở!” Tô Tần đáp.

“Trương Nghi đến Sở?” Vũ Linh Vương thoáng ngẫm nghĩ, rồi hỏi lại, “hắn đến Sở có việc gì?”

“Cầu thân với Sở.”

“Ồ,” Vũ Linh Vương bật cười, “đã đổi nước cờ rồi đấy. Cứ tưởng hắn lại từ chức tướng quốc Tần, sang giành chức lệnh doãn của Chiêu Dương kia.” Nhìn sang Tô Tần, “tướng quốc vội vã tới đó, chỉ vì Trương Nghi?”

“Tại hạ không tới, đất Sở còn ai ứng phó được kẻ này?”

“Trần Chẩn thì sao?”

“Không phải đối thủ.”

“Cũng phải.” Vũ Linh Vương lại mỉm cười.

“Đại vương triệu gấp Tô Tần, hẳn có việc hệ trọng?”

“Thứ nhất, mấy tháng không gặp, lấy làm tưởng nhớ. Thứ hai, có mấy việc lớn, Ung chưa biết quyết đoán ra sao, nên muốn thỉnh giáo tướng quốc.”

“Tạ ơn đại vương tưởng nhớ,” Tô Tần vòng tay, “xin hỏi đại vương, là việc lớn gì?”

“Việc thứ nhất,” Vũ Linh Vương gập ngón tay đếm, “trên đường Phi Hồ, Ung gặp một người Trung Sơn, họ tên Nhạc Nghị, tuổi mới mười bảy, là cháu đời thứ năm của tướng Ngụy Nhạc Dương. Hắn tới Lâu Phàn buôn ngựa, không ngờ đụng đầu binh lính ta đang luyện kỵ xạ ở đó, bị ngờ là gian tế, suýt nữa thì đem giết chết. Sau khi biết được người này là hậu nhân của họ Nhạc, Ung đã đặc xá cho hắn. Nhìn thấy lính Triệu ở đó, gồm cả quả nhân đều mặc trang phục Hồ, luyện kỵ xạ, Nhạc Nghị hết lời khen ngợi, đồng thời hiến kế lên quả nhân, âm thầm luyện tập trong núi sâu, chẳng bằng công khai luyện tập rộng khắp, cả nước đều mặc áo Hồ, tập kỵ xa. Bởi trang phục Hồ và thuật kỵ xạ là điều bình thường ở đất Hồ, bao gồm cả Trung Sơn. Ung thấy mới mẻ, suy đi nghĩ lại, thấy cũng phải, người ta coi là chuyện bình thường, còn mình lại xem là tuyệt mật, thực không sáng suốt. Ung quyết định thực thi kế này, song vẫn còn điều băn khoăn do dự, rất muốn lắng nghe cao kiến của tướng quốc.”

“Còn chuyện gì nữa?” Tô Tần chưa trả lời ngay, mà hỏi tiếp.

“Chuyện nước Trung Sơn. Khối ung nhọt này, tiên tổ nhẫn nhịn đã lâu, tới đời Triệu Ung, không thể không trừ bỏ. Còn trừ bỏ thế nào, vẫn xin tướng quốc đưa ra diệu kế.” Vũ Linh Vương vòng tay nói.

“Còn chuyện gì nữa?”

“Nước Yên.”

“Nước Yên làm sao?” Tô Tần chột dạ.

“Quả nhân từ Lai Nguyên qua ải Tử Kinh vào đất Yên, ở lại Vũ Dương vài ngày, nghe được một chuyện, Yên Vương Khoái muốn nhường ngôi cho tướng quốc Tử Chi, người Yên bàn tán xôn xao, điều tiếng không ít.”

Dù Vũ Linh Vương đã cố tình kể qua loa, song Tô Tần vẫn bàng hoàng kinh hãi, hít ngược vào một hơi.

“Còn chuyện gì không?” Tô Tần trấn tĩnh lại, nhìn sang Vũ Linh Vương.

Vũ Linh Vương lắc đầu.

“Hồi bẩm đại vương,” Tô Tần khẽ nhắm mắt, trầm ngâm giây lát, rồi ngẩng lên nói, “trong mắt thần, ba việc này, kỳ thực chỉ là một việc.”

“Là việc gì?” Vũ Linh Vương nôn nóng hỏi.

“Mặc áo Hồ luyện kỵ xạ!”

Vũ Linh Vương đảo con ngươi vài vòng: “Ý tướng quốc là, Triệu Ưng chỉ cần thực thi kế này, thì sẽ có được Trung Sơn, chế được nước Yên?”

“Chính phải,” Tô Tần đáp, “không giấu đại vương, từ khi dưỡng bệnh, Tần không thôi suy nghĩ về chuyện của nước Triệu. Còn nhớ Tần từng nói với đại vương, theo như tình hình trước mắt, với thực lực của Triệu, đại vương không nên nam chiến Hàn, Ngụy, đông chiến Tề, Yên, tây chiến Tần. Đại vương chỉ có một điều nên, đó là hướng về tây bắc tranh đất Hồ. Đất Hồ mênh mông, không thể dựa vào sức của chiến xa bộ tốt, chỉ có thể dựa vào sức ngựa và thuật kỵ xạ, mới có thể tung hoành. Mà rèn thuật kỵ xạ, phải mặc áo Hồ.” Nói đoạn, lấy từ trong tay áo ra một tấu chương, “đây là bản tấu của Tần, viết vào đêm qua, vốn định đợi lúc đại vương trở về, sẽ nhờ người nhà thay Tần dâng tấu, nào ngờ đại vương lại về sớm hơn!”

Vũ Linh Vương nhận lấy tấu chương, cảm khái mà rằng: “Xem ra, tướng quốc đã nghĩ đến những gì Ung nghĩ.”

“Tần và đại vương, lại không nghĩ giống hoàn toàn!” Tô Tần vòng tay nói.

“Ồ?” Vũ Linh Vương nhìn thẳng vào Tô Tần, “có chỗ nào khác?”

“Khác ở mục đích.” Tô Tần đáp rành rọt, “Tần đề xướng mặc trang phục Hồ, là muốn đại vương củng cố nước Triệu, mở rộng biên cương, giành lấy Lâu Phàn, Tây Nhung, từ phía tây bắc uy hiếp người Tần, khiến người Tần đứng ngồi không yên, không còn dám nhòm ngó về đông. Đại vương đề xướng mặc trang phục Hồ, là muốn giành đất Trung Sơn, Bắc Hồ, đông chế Tần, Yên, nam ép Hàn, Ngụy, kiến lập đại nghiệp bá vương.”

Vũ Linh Vương phá lên cười lớn: “Phải lắm, phải lắm, Tô Tử tâm nhìn khoát đạt, quả nhân lập chí hạn hẹp quá rồi.” Đoạn ngả người lại, “với chí nhỏ này của quả nhân, Tô Tử hẳn có diệu kế?”

“Đại vương muốn nói tới chuyện mặc áo Hồ ư?”

“Chính phải.”

“Mặc áo Hồ có gì khó?”

“Khó ở người trong nước. Ngộ nhỡ họ không chịu mặc thì sao?”

“Đại vương đã cả nghĩ rồi!” Tô Tần đáp, “người trong nước sẽ không phản đối trang phục Hồ. Khó khăn của đại vương, không phải ở thứ dân, không phải ở thôn quê, mà ở ngay bên cạnh đại vương, ở triều đình, ở quý tộc!”

Vũ Linh Vương hít sâu vào một hơi, lát sau mới hỏi: “Tô Tử nói thử xem, thứ dân vì sao lại không phản đối Hồ phục?”

“Bởi trang phục Hồ tiện cho lao động!” Tô Tần đáp, “ví như Mặc giả, trang phục của họ cũng na ná lối Hồ, gọn gàng tiện lợi, làm việc dễ dàng, duy có một nhược điểm là không đẹp mắt. Song với thứ dân, đẹp xấu không quan trọng, làm lụng hàng ngày để nuôi sống gia đình mới là quan trọng.”

“Tô Tử đã giúp quả nhân hoá giải khúc mắc lớn!” Vũ Linh Vương khen ngợi, “chỉ cần thứ dân không phản đối, còn người xung quanh, Triệu Ung tự giải quyết được. Việc này coi như đã xong, hãy nói về chuyện Trung Sơn!”

“Theo tình hình trước mắt, chuyện của Trung Sơn, không phải là chuyện của mình nước Triệu!” Tô Tần nhìn về phía Trung Sơn, “năm xưa, Ngụy chưa thể chiếm Trung Sơn lâu dài, không phải bởi Ngụy không đủ mạnh, mà bởi phía sau Trung Sơn có ba nhà Triệu, Yên, Tề. Tương tự, đại vương cũng không thể nôn nóng mưu cầu, bởi sau lưng Trung Sơn tuy không còn Ngụy, Hàn, nhưng vẫn còn Tề, Yên. Đại vương nếu thực sự muốn mưu Trung Sơn, cần phải kiên nhẫn, trước tiên hãy mặc áo Hồ rèn kỵ xạ, giành lấy Lâu Phàn, chiếm cứ Mạc Bắc, rồi chờ thời cơ, ra một đòn mà định Trung Sơn.”

“Thời cơ này ở đâu?”

“Ở nội bộ Trung Sơn. Đại vương có thể sai người sang Trung Sơn cầu hôn, kết giao với Trung Sơn, lẳng lặng quan sát. Nếu Trung Sơn nội trị, đại vương cần nhẫn nhịn chờ đợi, lấy hoà thuận làm thượng sách. Nếu Trung Sơn không trị, đại vương trước hết hãy nghe ngóng phía Yên, Tề, rồi mới tiến hành chinh phạt.”

“Hay lắm!” Vũ Linh Vương nhìn thẳng vào Tô Tần, “còn chuyện nước Yên? Nếu Yên Vương nhường ngôi cho Tử Chi thật…”

“Than ôi!” Tô Tần thở dài một tiếng.

“Tô Tử,” Vũ Linh Vương trầm ngâm chốc lát, đoạn vòng tay nói, “Triệu Ung có một thỉnh câu, mong được Tô Tử tác thành!”

“Thỉnh cầu, Tần không dám nhận. Đại vương có ý chỉ gì, xin cứ nói ra!”

“Nước Sở rộng lớn, Tần, Sở vừa hay là đối thủ, hãy cứ để họ tranh đấu lẫn nhau. Quả nhân thỉnh cầu Tô Tử lưu lại Hàm Đan, thứ nhất giúp Ung thực thi kế sách mặc áo Hồ rèn kỵ xạ. Thứ hai, ngộ nhỡ nước Yên có biến, Tô Tử cũng bớt được phần lớn lộ trình. Vả lại, bệnh tình của Tô Tử vẫn chưa bình phục, mọi việc là chuyện nhỏ, sức khoẻ mới là chuyện lớn. Dù là thiên hạ, hay là Triệu, Yên, đều không thể thiếu Tô Tử. Vậy nên, Tô Tử có an lành hay không, liên quan đến thiên hạ, liên quan đến nước Triệu, lại càng liên quan đến nước Yên!” Vũ Linh Vương lời lời khẩn thiết, đặt nước Yên ở cuối cùng, cũng là nhấn mạnh.

Hiển nhiên, nước Yên chính là yếu huyệt của Tô Tần.

Trầm ngâm hồi lâu, Tô Tần vòng tay: “Tạ ơn đại vương yêu mến! Còn như có tới Sính hay không, xin cho Tần suy nghĩ vài ngày, rồi sẽ hồi bẩm đại vương!”

Vài ngày sau, Vũ Linh Vương xuất ngân khố, tập trung toàn bộ thợ may trong thành Hàm Đan, cấp tốc may trang phục Hồ. Mặt khác, tìm nhiều cách để giảng giải rõ lợi ích khi ăn mặc theo lối Hồ, khiến khắp trong ngoài Hàm Đan bàn tán xôn xao.

Hàm Đan có gần bốn mươi vạn nhân khẩu thường trú, người Hồ không dưới năm vạn, khách liệt quốc qua lại không dưới mười vạn, xét trong các kinh đô liệt quốc, tuy không phải là lớn nhất, song cũng không hề nhỏ. Nhất là gần đây, người Triệu qua lại thường xuyên với Bắc Hồ, các nghề luyện kim, thuộc da, giết mổ phát triển chóng vánh, người Hồ định cư ở Hàm Đan ngày càng đông.

Người Hồ sống ở Trung Nguyên, bất kể giàu nghèo, đều bị người Trung Nguyên khinh thường, xem là dân mạt hạng. Trên phố lớn Hàm Đan, nếu mặc áo Hồ, đến nói cũng không dám to tiếng.

Vậy mà, Triệu Vương lại muốn cả nước mặc theo lối Hồ! Giờ mặc áo Hồ, không những không bị miệt thị, còn là một chuyện vẻ vang. Người Hồ hớn hở loan tin khắp nơi, còn người Triệu ngơ ngác nhìn nhau, không biết ứng xử thế nào.

Chuyện này tạm không nói tới, để làm đầu, Vũ Linh Vương thi thoảng lại mặc áo Hồ, cưỡi ngựa Hồ, đeo cung Hồ, giắt đao Hồ, dẫn đội vệ binh ăn bận rặt lối Hồ, giễu qua giễu lại trên các phố lớn Hàm Đan. Người Hồ ở Hàm Đan hoan hô nhiệt liệt, còn người Triệu càng thêm ngỡ ngàng nghi hoặc.

Cứ thế ồn ào khoảng chục ngày, Vũ Linh Vương cảm thấy mở đầu đã ổn, bèn chính thức xuống chiếu, dán bố cáo khắp thị tứ trong thành, đại ý nói rằng, phàm là dân Triệu, dù nam dù nữ, dù sang dù hèn, thường ngày đều phải mặc theo lối Hồ. Nam giới quý tộc tuổi từ mười lăm đến bốn mươi, hễ ra khỏi nhà, nếu không có nguyên do đặc biệt, nhất loạt bỏ xe cưỡi ngựa. Toàn bộ quan viên, ai không mặc áo Hồ, không được phép vào chầu.

Cùng lúc đó, Vũ Linh Vương cho phát trang phục Hồ đến từng quan viên.

Phát xong áo Hồ, Vũ Linh Vương truyền mở đại triều, triều thần từ cấp hạ đại phu trở lên, đều mặc Hồ phục vào chầu tại chính điện Tín cung, mặc đúng trang phục, vệ binh canh cổng mới cho vào điện.

Đại triều hôm nay, có đến hơn sáu phần quan viên do không mặc áo Hồ mà bị vệ binh chặn lại ngoài cổng. Dẫn đầu tốp này, là vương thúc Triệu Tạo cùng mấy hậu sinh vương thất như Triệu Yên, Triệu Văn.

Triệu Tạo là em khác mẹ của tiên quân Triệu Ngữ, văn võ song toàn, hơn hai mươi tuổi đã làm đại tướng biên cương, nhiều năm qua trấn thủ Tấn Dương, đối kháng người Tần. Sau đó, Bàng Quyên đánh vào Hàm Đan, trong lúc chiến sự nguy cấp, Triệu Tạo dẫn quân gấp rút quay về cứu viện, sau đó ở lại Hàm Đan. Có thể nói, Triệu Tạo là một trong những cố mệnh đại thần đã theo sát bước trưởng thành của Vũ Linh Vương, phò tá Vũ Linh Vương ngồi vững trên ngôi vị, có địa vị tôn quý trong vương thân quý tộc Hàm Đan, chỉ đứng sau An Dương Quân.

Sở dĩ có nhiều triều thần dám phản đối vương mệnh, chủ yếu là bởi hùa theo Triệu Tạo và An Dương Quân.

Để trợ uy cho Vũ Linh Vương, buổi đại triều hôm ấy, Tô Tần tuy cơ thể còn suy nhược, song vẫn gắng gượng vào chầu, chỉnh tề trong trang phục Hồ do Triệu Vương ban tặng.

Nhìn thấy đông đảo triều thần mỗi người một kiểu đứng la liệt ngoài cổng điện, Tô Tần dừng bước, đưa mắt nhìn kỹ khắp lượt.

Tô Tần nhận thấy, có triều thần vừa đi vừa nhét vào trong ống tay áo thứ gì đó trông như cái túi. Tô Tần đoán rằng chắc chắn người này mặc áo Hồ bên trong quan phục cũ, cái túi kia được chuẩn bị sẵn để phòng xa. Ngộ nhỡ không được vào, chỉ cần cởi quan phục bên ngoài ra, cất vào trong túi là xong. Tô Tần lại nhìn các quan viên, thấy phần nhiều trong số họ đều áo xống căng phồng, hiểu rằng họ đều đã phòng xa mặc hai lớp áo.

Tô Tần nhìn thấy Triệu Tạo đứng ở một bên, bèn tiến thẳng lại.

Bên trong quan phục của Triệu Tạo không hề có thêm lớp trang phục nào khác.

Tô Tần vòng tay chào: “Vương thúc, Tô Tần có lễ!”

“Tướng quốc đấy ư?” Triệu Tạo đáp lễ, “lâu rồi không gặp, nhìn khí sắc của tướng quốc, hẳn là bệnh tình vẫn chưa khỏi hẳn.”

“Vâng.”

“Sức khoẻ quan trọng, vội vào chầu làm gì?”

“Đại vương có lời mời, Tần không thể không tới.”

“Tướng quốc nói phải!” Triệu Tạo cố ý nhìn chằm chằm vào tấm áo Hồ trên mình Tô Tần, “vừa vặn đấy nhỉ?” Đoạn chỉ vào cửa điện, “có lớp vỏ Hồ này, tướng quốc đã có thể dễ dàng qua được cửa kia!”

“Thời tiết hồi này chợt nóng chợt lạnh, vương thúc cũng nên cẩn thận gió hàn!” Thấy Triệu Tạo đứng ngay chỗ gió lùa, Tô Tần giọng đầy ẩn ý.

Triệu Tạo không nói năng gì, còn cố tình đi thêm vài bước lại chỗ gió lùa, nới rộng cổ áo.

Tô Tần mỉm cưởi, sải bước vào điện, thấy trong điện chỉ lác đác vài người, đa phần là có quan hệ thân thiết với Phì Nghĩa.

Vũ Linh Vương ngồi trên ngai vàng, tư thế ủ rũ, sắc mặt khó coi, hàm răng nghiến chặt, hai mắt tối sầm, hơi liếc về phía đồng hồ cát.

“Thần Tô Tần bái kiến đại vương!” Tô Tần vòng tay hô.

Vũ Linh Vương không nhúc nhích, chỉ khẽ phẩy tay, chỉ vào chỗ dành cho tướng quốc.

Tô Tần không lại chỗ ngồi, vẫn vòng tay mà nói: “Thần có tấu!”

“Khanh cứ nói!” Vũ Linh Vương vẫn không nhúc nhích, chỉ quay đầu sang, ánh mắt nhìn thẳng vào Tô Tần.

“Đại vương nên tuyên bãi triều rồi!”

Vũ Linh Vương trong lòng giật thột, ngồi ngay ngắn lại, ánh mắt vẫn nhìn thẳng vào Tô Tần.

“Đại vương nên tuyên bãi triều rồi!” Tô Tần nhắc lại, cũng nhìn thẳng vào Vũ Linh Vương.

Luật pháp không phạt số đông.

Có quá nửa triều thần công khai kháng chỉ, vả lại quá nửa trong số đó là vương thân quốc thích, sự việc hiển nhiên đã sa vào bế tắc.

Vũ Linh Vương nhắm mắt ngẫm nghĩ một chốc, rồi quay sang hoạn giả lệnh: “Truyền chỉ, bãi triều!”

Hoạn giả lệnh cất giọng sang sảng, rõ ràng không phải để trong điện nghe, mà là hướng ra ngoài điện: “Đại vương có chỉ, bãi triều!”

Người chờ ngoài điện đều nghe rõ, bèn lục tục kéo nhau về.

Triều thần trong điện cũng đứng dậy, rời khỏi điện.

Duy chỉ Tô Tần không đi.

“Tướng quốc đã đoán đúng.” Vũ Linh Vương cười buồn bã, nhún vai bất lực, “người dẫn đầu kháng lệnh quả nhân, lại chính là chú và anh em của quả nhân!”

“Chuyện này thực sự không thể vội vàng!” Tô Tần mỉm cười đáp, “tục ngữ có câu, giang sơn dễ đổi, phong tục khó dời. Người Triệu coi mình là nước giáo hoá ở

Trung Nguyên mà coi thường tộc khác, gọi họ là người ngoài vòng giáo hoá. Bắc Hồ, Nam Man, Đông Di, Tây Nhung, chỉ nghe cách gọi tên, đã thấy đầy miệt thị. Trong mắt người Trung Nguyên, người Hồ chẳng khác gì man di, là dân cần giáo hoá, đất Hồ là nơi cần giáo hoá, mà nay đại vương lại bắt người Triệu đã khai hoá theo tục người Hồ, bảo họ sao mà chịu được?”

“Tướng quốc có điều không biết,” Vũ Linh Vương nôn nóng, “người Trung Nguyên không phải chỗ nào cũng ưu việt, người Hồ không phải chỗ nào cũng kém cỏi. Quả nhân đã nhiều lần tới bắc cương, rất hiểu người Hồ. Cái khác không nói, đao Hồ do họ rèn ra, sắc bén hơn hẳn của ta. Họ bôn ba tung hoành trên thảo nguyên rộng lớn, tầm nhìn khoáng đạt, kiến văn rộng rãi, không giống như người Trung Nguyên, không ít người tới già tới chết vẫn chưa một lần rời khỏi thôn làng.” Chỉ vào trong cung, “ví như phần đông cung nữ và hoạn quan ở đây, cả đời chưa một lần ra khỏi cửa cung! Vả lại mặc áo Hồ cưỡi ngựa bắn cung, rõ ràng ưu việt hơn hẳn xe chiến của ta. Một cỗ xe chiến cần bốn ngựa kéo, nếu đường đi xấu, ngựa lại chạy nhanh, xe sẽ lật nhào. Cũng là bốn ngựa đó, có thể cho bốn người cưỡi, đừng nói đường mòn đường ruộng đi qua dễ dàng, dù là chỗ nước sâu chảy xiết, ngựa cũng vẫn có thể bơi qua! Thử nghĩ xem, mấy năm trước, võ binh Đại Ngụy đã thất bại trước người Tề như thế nào? Không phải họ bại trước quyền thuật của Tề, mà là bại trước kỵ binh! Tiếc rằng kỵ binh nước Tề chưa từng rèn tập cưỡi ngựa bắn tên, bằng không, sức mạnh của họ còn tăng gấp bội.

Khi đã thành thục phi ngựa bắn tên, võ binh Đại Ngụy mũi thương còn chưa kịp đâm tới, đã trúng tên rồi. Quả nhân dám nói, chỉ cần người Triệu học được thuật kỵ xạ, thì thiên hạ này không ai địch lại ta!”

“Ăn bận theo lối Hồ hay dở ra sao, đại vương không cần phải nói với Tần.” Tô Tần cười nói, “việc đại vương cần làm lúc này, là thuyết phục vương thân quốc thích, nhất là An Dương Quân. Quý nhất trong vương thân, không ai bằng vương thúc An Dương Quân. Khi Tần lên điện, không thấy vương thúc đâu cả. Tần cho rằng, chỉ cần đại vương thuyết phục được vương thúc mặc áo Hồ, đại sự tất thành!”

“Quả nhân sẽ lập tức cho mời vương thúc!”

“Cớ sao đại vương không cho người tới thăm dò trước, giải thích rõ ngọn nguồn, trước tiên hãy lắng nghe xem vương thúc nói gì, sau đó tuỳ theo tình hình mà thuyết phục?” Tô Tần bày cách.

“Tướng quốc nói rất phải!”

Vũ Linh Vương bèn cho gọi ngự sử Triệu Điệp, phái tới phủ An Dương Quân, truyền dụ chỉ rằng: “Vương thúc, việc nhà nghe theo cha, việc nước nghe theo vua, là lệ thường tự cổ chí kim. Con không phản cha, tôi không phản vua, là đạo nghĩa của tiên vương. Nay quả nhân đề xướng thay đổi trang phục, mà vương thúc lại không theo, bảo người thiên hạ sẽ nghĩ sao đây? Vương thúc là người đạt lý, trị nước có phép thường, nên lấy lợi dân làm gốc; thi hành chính sự có quy tắc, nên coi mệnh lệnh làm đầu. Vậy nên, muốn làm sáng đức thì phải quan tâm dân đen, muốn hành chính lệnh thì phải tin dùng người quý. Quả nhân xuống lệnh đổi sang Hồ phục, đâu phải phóng túng tuỳ tiện, mua vui tâm chí riêng mình, mà việc đã bắt đầu, công sẽ theo sau. Chờ việc đã thành, công đã lập, vương thúc sẽ thấy được đức của hôm nay. Quả nhân nghe nói, việc có lợi cho đất nước, thì chớ quan tâm ý khác. Dựa vào quý tộc để hành sự, sẽ không bị người dị nghị. Nên quả nhân muốn dựa vào uy vọng của vương thúc, để thành tựu việc mặc áo Hồ, nên phái Triệu Điệp tới bái kiến vương thúc, kính mong vương thúc sẽ mặc áo Hồ!”

“Hồi bẩm đại vương,” An Dương Quân vòng tay vái mà nói, “thần sớm đã nghe chuyện đại vương muốn mặc theo lối Hồ, cũng sớm đã định vào cung yết kiến, bàn về chuyện đó, ngờ đâu gần đây trúng phải phong hàn, nằm liệt giường không dậy nổi, càng không đi nổi, nên vẫn chưa thể vào cung yết kiến. Nay đại vương đã có chiếu mệnh, thần cũng cả gan muốn nói vài lời, để tỏ lòng ngu trung. Thần nghe rằng, đất Trung Nguyên ta, người thông minh duệ trí quy tụ về đây, vạn vật tài nguyên tập hợp ở đây, đạo thánh hiền cũng giáo hoá ở đây. Trong vùng đất giáo hoá ấy, nhân nghĩa trí tín có chỗ thi hành, thi thư lễ nhạc có chỗ sử dụng, kỹ nghệ thuật số có chỗ thi triển. Man Nhung Di Hồ có chỗ quy phục, bốn phía xa gần có chỗ tìm về. Nay đại vương từ bỏ đức giáo hoá, học lối ăn bận của người Hồ phương xa, thay giáo hoá của cổ nhân, đổi đạo của cổ nhân, đi ngược lại lòng người, khiến dân chúng xa rời giáo hoá Trung Nguyên, theo đường ngu muội thiên lệch, là không sáng suốt. Thần thỉnh cầu đại vương hãy suy nghĩ kỹ.”

Triệu Điệp hồi cung, đem lời của An Dương Quân bẩm lại với Vũ Linh Vương không sót một chữ.

Vũ Linh Vương nghe vậy, lại thở phào một tiếng, cười lớn mà nói: “Quả nhân biết vương thúc bệnh ở đâu rồi.”

“Hay là,” Triệu Điệp tiếp lời, “thần xin đi thêm chuyến nữa, mời vương thúc nhập cung, để đại vương đích thân giảng giải?”

“Làm thế sao được?” Vũ Linh Vương đứng bật dậy, “truyền chỉ, quả nhân đích thân đến thăm!”

Vũ Linh Vương lập tức khởi giá tới phủ An Dương Quân. Triệu Thành nghe báo, vội ra nghênh đón.

Chú cháu hành lễ xong xuôi, Vũ Linh Vương nhận thấy An Dương Quân chẳng hề có vẻ đau bệnh, liền nói ngay vào chuyện chính: “Thưa chú, tâm nguyện của chú, cháu bất hiếu đã thấu tỏ cả rồi. Xem ra, chú cháu ta đang bất đồng về chuyện Hồ phục. Hôm nay Ung Nhi tới đây, thứ nhất là vì thăm chú, thứ hai là muốn giải thích một hai, để chú được an tâm.”

“Thần ngu muội, thỉnh cầu đại vương giảng giải.” An Dương Quân vòng tay nói.

“Trang phục, là để tiện cho sử dụng; lễ nghi, là để tiện cho hành sự.” Vũ Linh Vương cất giọng rành rọt, “vậy nên, thánh nhân quan sát tập tục mà chế ra trang phục, dựa vào sự lý mà định ra lễ nghi, mục đích là để lợi dân lợi nước. Dân Man Di xoã tóc xăm mình, vạt áo chéo trái hở phải, ăn sống nuốt tươi; dân Nhung Địch xoã tóc ở hang, mặc da lông thú, không ăn ngũ cốc. Bốn phương thiên hạ, địa vực khác nhau, dân cư khác nhau, lễ nghi y phục có khác là lẽ thường tình. Nếu bắt giống nhau, chỉ bởi một điều, là vì thuận lợi cho hành sự. Trang phục thường theo tập tục mà đổi khác, lễ nghi thường theo sự lý mà biến hoá. Từ đó thấy rằng, sở dĩ thánh nhân chế định trang phục khác nhau, là để lợi cho dân; chế định lễ nghi khác nhau, là để tiện cho việc. Nho gia hậu thế cùng học một thầy, song hành lễ nghi lại thường có khác; vùng đất Trung Nguyên tập tục tuy giống, song giáo hoá mỗi nước lại bất đồng, thậm chí khác biệt trời vực. Từ đó mà thấy, có nên theo tập tục nào đó hay không, dù là kẻ trí cũng khó quyết định; có nên mặc loại y phục nào đó hay không, dù là thánh hiền cũng khó thống nhất. Chuyện phục sức lối Hồ, theo như lời chú, là theo tập tục; còn theo lời cháu bất hiếu này, là phá tập tục. Cớ sao muốn phá tập tục? Là vì tình thế. Ta đông có Tề, Trung Sơn, hai nước địch cùng ta chia sẻ hai sông Hà Thuỷ, Chương Thuỷ, ta lại không có thuyền bè để phòng ngự. Từ Thượng Đảng tới Hoàn Sơn rồi tới đất Đại, ta đông giáp Yên và Đông Hồ, nam giáp Hàn, tây giáp Tần và Lâu Phàn, cả bốn phía đều là cường địch, ta lại không có kỵ xạ để phòng ngự. Cháu tuy bất tài, song có hai chí, một là chế tạo thuyền bè, tập hợp dân thuỷ cư, phía đông giữ lấy hai sông Hà, Chương. Hai là lệnh cho cả nước mặc lối Hồ, tập kỵ xạ, phía tây chế ngự Tần, Hàn, Yên, Lâu Phàn. Lại thêm khối ung nhọt Trung Sơn, ngày nào còn chưa trừ bỏ, cháu đây thấy như xương cá mắc ngang trong họng, như gai nhọn đâm ở sau lưng. Trung Sơn chiếm cứ nơi hiểm trở, chia cắt ta làm hai ngả đông tây. Vì muốn ta gộp đất thành một, hai vị tổ tiên Giản, Tương đã lấy Thượng Đảng, chiếm nước Đại, cũng để trừ mối hoạ này. Tuy nhiên, hơn trăm năm qua, mối hoạ này không những chưa thể loại trừ, ngược lại vào thời tiên quân, họ lại kết đảng với Tần, xâm phạm biên cương ta, cướp bóc dân chúng ta, dẫn nước lớn dìm ấp Hạo ta, may sao tổ tông phù hộ, ấp Hạo mới không bị mất. Vương thúc, tráng chí của tiên tổ Giản, Tương, tới nay vẫn chưa thành, oán hận của tiên quân, tới nay vẫn chưa báo, mà cháu đây muốn thành tựu chí này, muốn báo thù này, không còn cách nào khác, chỉ có thể khiến dân cả nước mặc áo Hồ, tập kỵ xạ, ngờ đâu chú lại…lại vẫn muốn nương theo tục cũ Trung Nguyên, không chịu thay đổi, quả thực không phải là điều cháu đây mong muốn. Thưa chú, lẽ nào chú không muốn cắt phăng khối nhọt Trung Sơn, mở mang bờ cõi, để hoàn thành tráng chí dở dang của tông tổ Giản, Tương?”

Lời vừa nói dứt, An Dương Quân thình lình đứng bật dậy, rời khỏi chiếu, quỳ xuống dập đầu sát đất: “Nay nghe đại vương giảng giải, lão thần như được khai thông bế tắc. Lão thần ngu độn hẹp hòi, chưa lĩnh hội được chí lớn của đại vương, lại chấp nê thói tục mà gây trở ngại, dám mong đại vương rộng lòng dung thứ. Đại vương muốn thành tựu tráng chí của Giản, Tương, lão thần nào đâu dám trái!” Đoạn quay sang người hầu, cất giọng dõng dạc, “mang áo Hồ lại đây!”

Người hầu lập tức chạy đi, lấy trang phục Hồ do Vũ Linh Vương ban mang lại, An Dương Quân mặc ngay tại chỗ, đi lại vài vòng, lớn giọng xuýt xoa: “Chà chà, quả là gọn gàng thoải mái!”

Mọi người có mặt đều cười ồ.

“Đại vương,” An Dương Quân cũng cười lớn, rồi nhìn sang Vũ Linh Vương, “ngày mai vào chầu, hãy xem lão thần!”

“Tạ ơn vương thúc tác thành!” Vũ Linh Vương vòng tay vái, dừng lại một thoáng, lại tiếp, “vương thúc, thay đổi phong tục là việc lớn, không thể nóng vội. Nay có vương thúc làm gương, một thời gian nữa, tin rằng triều thần đều sẽ thuận theo. Ý của cháu là, qua vài hôm nữa hãy vào chầu, thế nào?”

An Dương Quân vái thật sâu: “Lão thần kính cẩn theo lời đại vương!”

Từ trong cung trở về, Tô Tần mệt mỏi rã rời. Rõ ràng, sức khoẻ của Tô Tần còn lâu mới có thể hồi phục.

Nghe thấy tiếng xe ngựa, Phi Phi nhảy chân sáo ra đón, Tô Tần vừa xuống xe, đã chạy ào lại reo lên: “Cha đã về rồi!

Cơ Tuyết cũng ra đón, đỡ Tô Tần đưa vào trong phòng. Tô Tần vừa vào thư phòng ngồi xuống, Phi Phi đã chạy ngay lại, ngồi xuống bên chân Tô Tần, ngước mắt chờ đợi. Tô Tần biết, Phi Phi đang háo hức muốn nghe kể chuyện.

Phi Phi được Mặc giả đưa đi từ thuở lọt lòng, nên không có chút ký ức gì về mẹ và địa cung nơi mình sinh ra, lại càng không biết được cha mình là ai. Trẻ nhỏ trong doanh trại Mặc giả đa phần là trẻ mồ côi, thậm chí không biết cha mẹ là gì, chỉ biết đến các trưởng bối Mặc giả nuôi dạy mình. Phi Phi lớn khôn tại đó, cũng cho rằng mình là kẻ không cha không mẹ. Do vậy, khi Mộc Hoa thình lình tìm tới, dẫn Phi Phi đi gặp cha mẹ, Phi Phi hoang mang ngơ ngác, không hiểu chuyện này rốt cuộc ra sao.

Tuy nhiên, không lâu sau đó, Phi Phi đã cảm nhận được, thế nào là có cha có mẹ.

Phi Phi thích nhất là được quấn quýt bên Tô Tần, nghe cha kể chuyện, nhất là chuyện về mẹ, chuyện ở Lạc Dương. Cứ hễ nhắc đến Lạc Dương, Tô Tần lại tràn đầy cảm xúc. Từng dòng sông ngọn núi, từng phố lớn ngõ nhỏ của Lạc Dương, và vương thành, và Chu thiên tử, Chu vương hậu, Vũ công chúa cùng lão cầm sư…Mọi người mọi việc, Tô Tần vẫn thuộc làu làu, ngày nào cũng kể mà không hết chuyện.

Khi Tô Tần kể chuyện, Cơ Tuyết thường ngồi im lặng một bên, vừa nghe hai cha con hỏi đáp, vừa thêu thùa may vá. Nàng muốn mỗi món hai cha con mặc trên người đều do mình tự tay làm ra.

Lúc này, thấy hai cha con lại thân thiết bên nhau, Cơ Tuyết mỉm cười, lấy kim chỉ ra, khâu lại đế giày cho Tô Tần.

Tuy nhiên hôm nay, tâm trí Tô Tần lại không để ở kể chuyện.

Tô Tần đằng hắng lấy giọng, rồi nói: “Hôm nay cha sẽ kể con nghe chuyện chú Trương Nghi bày trận…”

“Trận con rùa!” Không đợi Tô Tần nói hết, Phi Phi đã cắt ngang, “cha, chuyện này Phi Phi nghe ba lần rồi.”

“Vậy ư?” Tô Tần mỉm cười, “vậy thì còn chuyện gì chưa kể nhỉ?”

Cơ Tuyết ngẩng lên cười hỏi: “Sao chưa thấy chàng kể cho Phi Phi nghe chuyện về thôn Hiên Lý bao giờ?”

“Thôn Hiên Lý nào có gì thú vị!” Tô Tần hờ hững đáp.

Kỳ thực, thôn Hiên Lý vẫn luôn khắc sâu trong tâm trí Tô Tần, song lại là hồi ức mà Tô Tần không muốn nhắc tới nhất. Nhưng Phi Phi vừa nghe đã lấy làm tò mò, một hai nài nỉ Tô Tần kể cho nghe.

“Được rồi!” Tô Tần khẽ thở dài một tiếng, rồi bắt đầu chậm rãi kể về thôn Hiên Lý cho hai mẹ con nghe. Tô Tần kể về ruộng vườn, về bức hoành phi mà Chu thiên tử ban tặng, kể về người cha Tô Hổ và người mẹ Tô Diêu thị, về anh trai Tô Lệ và em trai Tô Đại, về người chị dâu và mấy đứa cháu, về con chó mực mình dắt về nuôi…

Tô Tần chỉ không nhắc tới Hỷ Nhi, người vợ mà cha đã cưới về cho mình.

Kể một hồi, Tô Tần chợt dừng lại.

“Cha, cha khóc đấy ư?” Phi Phi nhìn sững vào trong mắt Tô Tần, thấy trong đó đọng đầy nước mắt.

“Vậy sao?” Tô Tần vội quệt nước mắt, chầm chậm đứng dậy, sắc mặt trắng bệch.

Cơ Tuyết vội buông kim chỉ đứng dậy, dìu Tô Tần lại bên giường nằm xuống, đoạn quay sang Phi Phi: “Phi Phi, hôm nay kể tới đây thôi, con ra ngoài chơi nhé.”

“Vâng,” Phi Phi đáp, bước ra tới cửa, quay đầu lại nói, “nghe nói Triệu Vương xuống chiếu, lệnh cho cả nước đều mặc theo lối Hồ, con muốn ra phố xem thử, mọi người đều mặc áo Hồ trông sẽ ra sao.”

“Hãy bảo Mộc Hoa dẫn con đi.”

“Vâng!” Phi Phi lời vừa dứt, người đã không thấy đâu nữa.

“Tô Tử,” Cơ Tuyết ngồi xuống bên giường, dịu dàng đặt tay lên tay Tô Tần, “sao lại đau lòng làm vậy? Vì mẹ ư?”

“Không chỉ.”

“Vậy…là là chuyện gì?”

“Vì một người.”

“Ai?”

“Hỷ Nhi.”

“Hỷ Nhi là ai kia?” Cơ Tuyết không hề biết đến sự tồn tại của Hỷ Nhi.

“Một cô gái thọt chân.”

“Nàng ấy…” Cơ Tuyết nhìn vào Tô Tần, “làm sao kia?”

“Nàng ấy muốn một đứa con!” Tô Tần lẩm bẩm.

“Nàng ấy không sinh được ư?”

“Phải!”

“Vì sao kia?”

“Vì không có ai để sinh cùng.”

“Nàng ấy chưa xuất giá ư?” Cơ Tuyết vừa dứt lời, bỗng chột dạ, nhìn thẳng vào Tô Tần, “lẽ nào nàng ấy…”

“Phải, nàng ấy là vợ ta.”

Cơ Tuyết bàng hoàng sửng sốt, mở to mắt nhìn sững vào Tô Tần.

“Nàng có muốn nghe về nàng ấy?”

Cơ Tuyết gật đầu.

Tô Tần bèn chậm rãi kể về Hỷ Nhi, kể về hôn lễ của mình, kể chuyện mình bỏ nhà ra đi, sau đó trở về, vẫn lạnh nhạt với nàng ta, bán đứt ruộng đất rồi bỏ sang Tần. Tất cả mọi chuyện, Tô Tần đều kể hết với Cơ Tuyết. Cuối cùng cảm khái thốt lên: “Nàng ấy là một người tốt, rất tốt!”

“Tô Tử,” Cơ Tuyết nhìn Tô Tần khẽ nói, “thiếp sẽ cho người mang tiền vàng tới cho nàng ấy, để an dưỡng tuổi già!”

“Thứ nàng ấy thiếu, không phải là tiền.”

“Vậy…” Cơ Tuyết nhìn Tô Tần dò hỏi.

“Nàng ấy không cần gì hết, chỉ cầu một đứa con, nhưng ta lại không thể!”

“Vậy thiếp sẽ cho người đón nàng ấy tới Hàm Đan, để nàng ấy sinh con cho chàng?”

Tô Tần lắc đầu, nắm chặt lấy tay Cơ Tuyết.

Nhớ đến chuyện Tô Tần từng khước từ Xuân Mai và Thu Quả, Cơ Tuyết ứa nước mắt mà nói: “Tô Tử, chàng bảo thiếp phải báo đáp thế nào đây?”

“Hãy mang bút lại đây.”

Cơ Tuyết mang bút, nghiên và một tấm da dê tốt lại, bày ngay ngắn trên mặt án, rồi đỡ Tô Tần xuống giường.

Tô Tần cầm bút viết thư. Hoàn toàn nằm ngoài dự đoán của Cơ Tuyết, đó không phải thư viết cho Hỷ Nhi.

Tô Tần viết liền hai bức, cất vào túi gấm, nhìn sang Cơ Tuyết: “Niêm phong xong, hãy nhờ Trâu huynh sai người đưa tới Sính Đô đất Sở, một bức giao cho Trần Chẩn, một bức giao cho Khuất Bình. Ta đã viết rõ họ tên ngoài túi!”

“Chàng không tới Sở nữa ư?” Cơ Tuyết ngạc nhiên.

“Phải.” Tô Tần chầm chậm lắc đầu, “cho tới tối qua mới quyết định.”

“Tốt quá!” Cơ Tuyết đổi kinh ngạc thành mừng rỡ, hạ giọng thấp thỏm, “vì sao thế?”

“Yên Vương muốn nhường ngôi cho Tử Chi!”

“A!” Cơ Tuyết buông rơi túi gấm trong tay, đứng đờ ra kinh hãi, hồi lâu sau mới trấn tĩnh được, cúi nhặt túi gấm, nửa như tự nhủ, nửa như nói với Tô Tần, “thiếp hiểu Tử Khoái, hắn…sẽ làm thế thật!”

“Than ôi!” Tô Tần thở dài thườn thượt, quay trở về giường, nằm xuống, nhắm mắt lại.

Từ chỗ An Dương Quân quay về, Vũ Linh Vương vô cùng phấn chấn. Vào đến trong cung, còn chưa kịp ngồi xuống chiếu, cung nhân đã bước vào bẩm báo, thái uý Triệu Tạo, tư đồ Triệu Văn cầu kiến, đã chờ gần nửa buổi rồi.

Triệu Tạo là em khác mẹ với Triệu Túc Hầu, là chú của Vũ Linh Vương, còn Triệu Văn là em khác mẹ với Vũ Linh Vương. Hai người họ không chỉ có cùng huyết thống với Vũ Linh Vương, mà còn nắm giữ trọng quyền trong triều, có ảnh hưởng lớn đến các triều thần. Hai người cùng cầu kiến, hiển nhiên là vì chuyện Hồ phục. Vũ Linh Vương chẳng mong gì hơn thế, lập tức truyền gặp.

Vua tôi hành lễ xong xuôi, cùng ngồi xuống. Triệu Tạo làm tướng nhiều năm, tính quen bộc trực, lập tức nói thẳng vào chuyện chính: “Đại vương ở trên, thần có một lời, không nói ra không được!”

“Xin chú cứ nói!” Vũ Linh Vương tràn đầy tự tin, tươi cười nhìn Triệu Tạo.

“Giấu lời trung mà không nói, là kẻ gian trá. Phá hại nước để mưu lợi riêng, là kẻ tàn hại. Kẻ gian trá đáng xử tội chết, kẻ hại nước đáng xử tru di. Phàm hai tội này, tiên thánh đã ghi rõ hình phạt trong điển pháp, bề tôi phạm phải, tội không dung tha. Thần tuy ngu độn, song cũng không dám gian trá hại nước, chỉ biết mạo muội dâng lời can gián, có chết cũng cam!” Triệu Tạo giọng sang sảng như chuông đổ.

Vũ Linh Vương phá lên cười lớn: “Chú quá lời rồi. Bề tôi không nói quanh co, thế gọi là trung; quân vương không che lấp đường ngôn luận, thế gọi là minh. Trung thì không né tránh nguy hiểm, minh thì không cự tuyệt ý khác. Nếu chú có lời muốn nói, xin cứ nói thẳng ra.”

“Theo thần được biết,” Triệu Tạo được lời như cởi tấm lòng, lập tức thao thao một hồi, dốc hết những điều ấm ức đang nhẫn nhịn, “thánh nhân khi giáo hoá, không tuỳ tiện làm trái ý dân; kẻ trí khi trị lý, không tuỳ tiện thay đổi tập tục. Thuận theo ý dân mà thi hành giáo hoá, không mệt nhọc mà thành tựu; tuân theo tập tục mà thực thi trị lý, làm ít mà công lớn. Nay đại vương không giữ tập tục, không những mặc áo Hồ vào triều, còn bất chấp trong triều ngoài nội bàn tán xôn xao, bắt buộc cả nước đều mặc áo Hồ, thần cho rằng, đây không phải là cái đạo để giáo hoá thần dân, tuân thủ nghi lễ. Ăn mặc kỳ dị, chí của dân tất bừa bãi; tập tục quái gở, ý của dân tất u mê. Bởi vậy, quân chủ tự cổ chí kim, không chuộng phục sức kỳ dị, người ở Trung Nguyên, không gần thói tục man di, bởi lẽ tất cả những việc ấy đều xa rời cái đạo dạy dân theo lễ. Cổ kim cùng một lý, tuân theo phép tắc thì không phạm sai lầm lớn, rèn tập chính lễ thì không mắc thói tà vậy. Thần ngu trung đã nói hết lời, kính mong đại vương suy xét!”

“Lời chú dạy bảo, thật hữu ích cho Ưng!” Vũ Linh Vương vòng tay cảm tạ, đoạn nhìn thẳng vào Triệu Tạo, “quả nhân cũng có vài lời nông cạn, mong được chú chỉ giáo cho!”

“Thần ngu dốt, xin đại vương giảng giải!”

“Xin hỏi chú,” Vũ Linh Vương dõng dạc, “tập tục xưa nay khác nhau, ta nên noi theo tập tục cổ xưa nào? Đế vương không phỏng theo nhau, ta nên theo lễ của vua nào? Phục Hy, Thần Nông chỉ hành giáo hoá, chưa từng chém giết Tới thời Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn, tuy có chém giết, song không lạm sát vô cớ. Cho đến ba đời Hạ Khải, Thương Thang, Chu Vũ, không một ai tuân theo cựu chế, mà đều thuận theo thời tục mà chế ra pháp độ, tuân theo thời sự mà định ra lễ nghi. Từ đó có thể thấy, thánh vương thời cổ, không ai không thuận ứng thời tục mà chế định phép tắc, dựa theo thời sự mà chế định lễ nghi. Pháp độ, chế lệnh, là để thích ứng với thời thế; y phục, đồ dùng, là đề tiện lợi cho sử dụng. Từ đó có thể thấy, dùng lễ trị thế, đại khái không phải nhất thành bất biến; nếu lợi cho nước, bất tất phải noi theo phép cổ xưa. Thánh nhân xuất hiện trên đời, không học theo ai mà lại làm vua thiên hạ. Hạ, Ân suy vi thất thế, không thay đổi lễ mà lại đánh mất thiên hạ. Nếu nói trang phục kỳ quặc sẽ khiến chí bừa bãi, vậy thì nước Trâu, nước Lỗ hẳn không có người dị hợm. Nếu nói phong tục quái gở sẽ khiến ý u mê, vậy thì đất Ngô, đất Việt hẳn không có người hiền tài. Thánh nhân trị thế, có lợi cho thân mình gọi là phục, thuận tiện cho sự việc gọi là giáo, tiến lui dễ dàng gọi là tiết. Chế ra y phục, là để trăm họ có cái noi theo, chứ không phải là để đánh giá hiền tài hay kém cỏi. Bởi vậy, thánh nhân đều linh hoạt với tục, người hiền đều thông thạo ứng biến. Người xưa có câu: Dựa theo sách cổ mà đánh ngựa, sẽ không hiểu được tính tình của ngựa. Dùng phép tắc cổ để trị lý thời nay, sẽ không theo kịp sự biến hoá của việc. Từ đó có thể thấy, nếu cứ rập theo cái cũ, sẽ không đủ để lập công cái thế; nếu cứ phỏng theo cổ học, sẽ không đủ để trị việc ngày nay. Thưa chú, lẽ nào chú muốn quả nhân chỉ làm một quân vương tầm thường không chút công tích?”

“Chuyện này…thần…” Triệu Tạo ấp a ấp úng hồi lâu, vẫn không thốt nổi một lời, bèn nhìn sang Triệu Văn như cầu cứu.

Vũ Linh Vương mỉm cười, cũng quay sang Triệu Văn: “Khanh hẳn có lời muốn nói?”

Thấy Triệu Tạo cũng phải cứng họng trước mặt những lời lẽ cao xa sâu sắc của Vũ Linh Vương, Triệu Văn tâm phục khẩu phục, vòng tay mà nói: “Ý thần cũng giống như ý chú, song nghe được cao luận của đại vương, thần đã không còn gì ngờ vực nữa.”

Vũ Linh Vương cười lớn: “Đã không còn ngờ vực, vậy thì mặc áo Hồ đi thôi.” Đoạn quay sang hoạn giả lệnh, “ban Hồ phục cho hai vị đại nhân!”

Hoạn giả lệnh lập tức mang lại hai bộ áo Hồ, dâng lên Triệu Tạo, Triệu Văn. Hai người cảm tạ, rồi cởi bỏ triều phục ngay trên điện, đổi sang áo Hồ.

Khi rời khỏi phủ tướng, Phi Phi lại không gọi Mộc Hoa đi cùng.

So với hồi mới tới Hàm Đan, Phi Phi đã bạo dạn hơn nhiều. Cô bé đã thông thạo mảnh đất này, hiểu rằng đây là Hàm Đan, đô thành nước Triệu, không dễ xảy ra chuyện giết người cướp của.

Song những điều đó đều không phải nguyên nhân.

Nguyên nhân thực sự là, chỉ trong vài tháng vừa qua, võ công của Phi Phi đã tiến bộ rất nhiều. Trâu Phi Đao ngày ngày dạy Phi Phi phóng phi đao. Mộc Hoa thì dạy cho thuật đánh roi. Còn về kiếm thuật, Phi Phi đã luyện từ nhỏ khi còn trong núi, tuy sức còn hữu hạn, song chiêu số cực kỳ chuẩn xác.

Do cẩn trọng, Phi Phi không mang kiếm, chỉ giắt vài cây phi đao và cây nhuyễn tiên phòng thân, giấu trong trang phục Mặc giả gọn gàng, nhìn từ bên ngoài không thể trông thấy. Cây nhuyễn tiên do Khuất Tương Tử tự tay làm cho, do đồng thau, ô kim rèn kỹ mà thành, nhẹ hơn chút ít so với bình thường, chìa làm chín đốt, các đốt nối với nhau bằng xích, rất linh hoạt uyển chuyển, là khắc tinh của kiếm, khi đánh ra xa nhất tới ba bước chân, khi thu lại có thể giắt gọn bên hông, vừa có thể phòng thân, lại không đến nỗi đoạt mạng người, xứng đáng là vũ khí lợi hại của Mặc gia.

Phủ tướng quốc nằm rất gần cung thành, kề ngay bên cạnh. Nhà cửa dinh thự trong khu vực rộng lớn này được gọi là phố nhà quan, tất cả đều do cung Triệu xây dựng, rồi vua Triệu ban cho các triều thần từ cấp đại phu trở lên, do vậy, ở đây đa phần là nơi ở của quan lại quyền quý, để tiện vào triều. Tuy phủ trạch ở đây so với thành Hàm Đan chưa thể gọi là xa hoa, lại càng không sánh được với dinh cơ của thương nhân giàu có, song lại chứng tỏ được thân thế địa vị của gia chủ trong nước Triệu, không phải cứ muốn là tới ở được. Dù thương nhân có nhiều tiền cách mấy, tìm tới đây thuê một gian nhà cũng là phạm pháp.

Phủ tướng nằm chếch về phía đông cổng chính của cung thành, hai bên phố đều là phủ quan. Trước đây, trên con phố này không có ai mặc áo Hồ qua lại, nếu người nào mặc, sẽ bị khinh miệt đủ điều. Cho dù có người Hồ sống ở đây, cũng phải đổi sang mặc trang phục Triệu.

Nhưng hôm nay thì khác. Trên phố đã thấy không ít người mặc theo lối Hồ, nhất là người trẻ tuổi. Nhớ lại cha mình sáng nay cũng mặc áo Hồ lên triều, Phi Phi thấy hơi hối tiếc vì chưa có áo Hồ để mặc.

Qua hai con phố, Phi Phi quyết định đi xa hơn nữa, tới khu vực sinh sống của phú thương và dân thường.

Vừa mới tới đầu một con phố, Phi Phi đã nghe thấy phía trước có tiếng la hét ồn ào. Vội chạy về phía đó, nàng thấy một đám trẻ con đang xúm lại đánh đập một cậu bé choai choai mặc áo Hồ.

Cậu bé mặc áo Hồ ngồi thu lu trong góc tường, toàn thân co rúm, hai tay che đầu. Sáu đứa trẻ trạc tuổi nó, trông cách ăn bận biết là con cháu nhà giàu, đang thay phiên nhau đấm đá túi bụi, vừa đánh vừa chửi rủa không ngớt: “Đồ chó mất chủ, còn dám nghênh ngang mặc áo Hồ ư?”

“Đánh chết nó đi, rồi bảo bố nó tới nhặt xác!” “Bố nó chết từ đời thuở nào, xác mục đó ra cũng chẳng ai đến nhặt cho đâu!”

Cậu bé mặc áo Hồ không nói một lời nào, chỉ ôm đầu rụt cổ, mặc cho chúng đánh.

“Đồ chó mất chủ, đồ rùa rút đầu!” Thằng nhóc cầm đầu xông lại, túm tóc cậu bé mặc áo Hồ, lôi dậy, ấn chặt vào tường, rồi quay sang ra lệnh cho đồng bọn, “giữ chặt hai tay nó, xem nó che kiểu gì!”

“Phải đấy phải đấy, xem nó che kiểu gì!” Một thằng nhóc khác hùa theo, rồi tung chân đá thẳng vào đũng quần cậu bé mặc áo Hồ.

Cậu bé rú lên thảm thiết, hai tay bụm lấy đũng quần, khuôn mặt thanh tú méo xệch vì đau đớn. Lũ trẻ ranh thấy vậy, đều phá lên cười khoái chá.

Thằng nhóc cầm đầu lại túm tóc cậu bé, rút kiếm ra, huơ huơ trên khuôn mặt thanh tú: “Thằng chó hoang này cũng kháu khỉnh gớm, trông y như con gái vậy! Ông mày sẽ vẽ cho mày một chữ, cho mày xinh hơn chút nữa!” Rồi quay sang hỏi, “có đứa nào mang mực không?”

Bọn trẻ đều lắc đầu.

Thằng nhóc kia làm bộ vỗ trán: “Thế thì biết làm sao nhỉ? Thôi được, tao sẽ khắc sâu một chút cho thành cái sẹo, cũng đẹp đấy!”

Đám đồng bọn đều hò reo tán thưởng. Thằng nhóc kia lại nói, “hai đứa giữ chặt lấy nó, đừng để nó giãy, kẻo hình lệch mất!”

Hai thằng nhóc liền tiến lại, ghì chặt lấy cậu bé mặc áo Hồ, còn thằng nhóc cầm đầu lăm lăm thanh kiếm như muốn rạch mặt thật. Phi Phi không thể đứng yên được nữa, lao vút tới như một mũi tên, chụp ngay lấy cổ tay của thằng ranh cầm đầu, tước ngay thanh kiếm, thuận đà tung chân đá trúng khuỷu chân nó. Thằng nhóc không kịp đề phòng, thịch một cái quỳ sụp xuống đất.

Phi Phi thuận tay túm chặt cổ áo nó, trỏ mũi kiếm vào một thằng nhóc đang giữ tay cậu bé áo Hồ, đanh giọng quát lên: “Buông tay ra!”

Hai thằng nhóc giật nảy mình trước khẩu khí của Phi Phi, vội vã buông tay.

Cậu bé mặc áo Hồ thở hắt ra một hơi, giương mắt nhìn Phi Phi.

“Chạy đi chứ!” Phi Phi giục.

Cậu bé nghe vậy, co giò chạy ngay.

Phi Phi vừa hơi phân tâm, thằng nhóc đang quỳ dưới đất thình lình phản đòn, vung tay chụp ngay tay kiếm của Phi Phi, tước lấy kiếm của nàng.

Phi Phi kinh hãi, giật lùi vài bước.

Thấy nàng đã mất kiếm, cả sáu thằng nhóc lập tức quây lại, theo nhau rút kiếm ra.

Phi Phi đưa tay lên hông, rút cây nhuyễn tiên, thủ thế sẵn sàng.

Người Triệu luyện võ từ nhỏ, sáu gã trẻ choai đương nhiên không phải dễ nhằn, lại thấy đối phương chỉ là một cô bé gái, nên đâu có coi ra gì, lập tức dàn trận, vây chặt bốn bề.

“Anh ơi,” một đứa chợt ghé tai thằng nhóc cầm đầu, khẽ thì thào, “nhìn trang phục của nó, là Mặc giả đấy, không đùa được đâu!”

“Mặc giả?” Thằng nhóc cười nhạt một tiếng, “đây là Hàm Đan, đâu phải địa bàn của Mặc giả nhà nó!” Rồi hét lớn, “lên nào!” Lời vừa dứt, cầm kiếm đâm luôn.

Mũi kiếm còn chưa đâm tới, ngọn roi của Phi Phi đã đánh tới nơi, quật trúng cổ tay thằng nhóc. Ngọn roi tuy không lớn, song là một chuỗi viên sắt dính liền, dẫu đều bọc da mềm bên ngoài, song bị đánh trúng, nhẹ cũng đau đớn khó kham, nặng thì bong gân giập xương. Một tiếng rú vang lên, thanh kiếm của thằng nhóc rơi ngay xuống đất, nó ôm chặt cổ tay, ngã ngồi xuống đất, đau đến nỗi nước mắt tuôn ra giàn giụa.

“Còn ai dám tới?” Phi Phi rung roi quát hỏi.

Lũ nhóc đưa mắt nhìn nhau.

“Tất cả xông lên đi, xem nó đánh kiểu gì!” Thằng nhóc cầm đầu nổi giận, bất chấp đau đớn, nghiến răng rít lên.

Phi Phi tránh đỡ thoăn thoắt, cây nhuyễn tiên múa lên vun vút, mấy thằng nhóc cao lớn hơn hẳn cô bé đã biết mùi lợi hại, không dám lại gần, chỉ vây kín, xoay tròn xung quanh. Phi Phi tuổi nhỏ, vóc dáng mảnh khảnh, lúc này một chọi sáu, đối thủ lại đang giận dữ, không phải là không nguy hiểm.

Đúng vào thời khắc nguy ngập, cậu bé mặc áo Hồ kia đã quay trở lại, đi cùng còn có hai người phụ nữ, đều cầm kiếm trên tay.

Một trong hai người phụ nữ lao vút lại như bay, chỉ nghe choang choang mấy tiếng, mấy thằng ranh còn chưa kịp phản ứng, kiếm trên tay đều đã bị đánh văng.

Người phụ nữ không làm gì chúng, chỉ quát khẽ một tiếng: “Cút!”

Lũ trẻ ranh không cả dám nhặt kiếm, lập tức bỏ chạy thục mạng.

“Cảm ơn em đã cứu tôi!” Cậu bé áo Hồ chạy lại gần, nắm tay Phi Phi mà nói.

“Anh là ai?” Phi Phi hỏi.

“Tại hạ họ Cơ tên Chức,” cậu bé đáp, “còn em, em tên họ là gì?”

“Phi Phi,” Phi Phi đáp, rồi giải thích thêm, “Cơ Tô Phi Phi.”

“Em cũng họ Cơ sao?” Cơ Chức lấy làm thú vị.

“Vâng. Mẹ em họ Cơ.”

“Ồ?” Cơ Chức ngạc nhiên, “người ta đều theo họ cha, sao em lại theo họ mẹ?”

“Em không biết.”

“Thế cha em họ gì?”

“Họ Tô.”

“Là chữ Tô trong Cơ Tô Phi Phi ư?”

“Phải.”

“Cô bé,” người phụ nữ phía sau bước lại, ngắm nghía Phi Phi một chốc rồi hỏi, “cháu là Mặc giả?”

“Phải.”

“Nhà cháu ở đâu?”

Phi Phi chỉ về phía nhà mình: “Ở đằng kia! Con phố trước cung.”

Người phụ nữ vô cùng kinh ngạc, nhìn sững vào Phi Phi: “Sao cháu lại ở đó?”

“Nhà tôi ở đấy!” Phi Phi đáp.

“Cha cháu là ai?” Người phụ nữ hỏi thẳng thừng.

“Thế cô là ai?” Phi Phi lùi lại một bước, sắc mặt đầy cảnh giác.

“Em Phi Phi,” Cơ Chức bước tới, níu tay người phụ nữ rồi nói, “đây là mẹ của tôi. Chúng tôi đến từ nước Yên, cha tôi là Yên Vương, mẹ tôi là vương hậu!”

“Phi Phi bái kiến vương hậu nương nương!” Phi Phi vòng tay nói, “cha tôi tên Tô Tần, Tô tướng quốc.”

Yên hậu, Tử Chức cùng người phụ nữ kia sửng sốt nhìn nhau.

“Phi Phi,” Yên hậu định thần lại trước tiên, nắm lấy tay cô bé, “chúng ta có thể tới thăm quý phủ không?”

“Tôi…tôi không biết!” Phi Phi ngần ngừ.

“Cha em là tướng quốc nước Triệu, cũng là tướng quốc nước Yên, hai mẹ con tôi rất quen thân với tướng quốc. Nghe nói tướng quốc lâm bệnh, chúng tôi sớm đã muốn tới thăm, nhưng mãi chưa có dịp. Hôm nay thực đúng là dịp tốt!”

Phi Phi nghe cũng xuôi tai, bèn đồng ý.

Yên hậu dẫn Phi Phi quay về trạch viện của mình trước, thứ nhất là để biết nhà, thứ hai vì bản thân cũng muốn thay đổi trang phục. Yên hậu chải lại tóc, mặc lễ phục, chuẩn bị lễ vật, đoạn lên xe ngựa, đánh thẳng tới phủ tướng.

Trâu Phi Đao dẫn họ vào phòng khách trước, dặn Mộc Hoa tiếp đón, đoạn cùng Phi Phi vào trong báo với Tô Tần.

Nghe Phi Phi kể lại đầu đuôi, Tô Tần bèn nhìn sang Cơ Tuyết.

“Gặp không?” Cơ Tuyết khẽ hỏi.

“Nàng nói xem.”

“Tốt nhất chàng hãy ra gặp,” Cơ Tuyết ngẫm nghĩ chốc lát rồi đáp, “nhân tiện thăm dò công tử Chức thử xem. Nếu đúng là Tử Khoái nhường ngôi cho Tử Chi, nước Yên hẳn sinh nội loạn. Yên sinh nội loạn, có lẽ sẽ liên đới tới công tử Chức.”

“Nàng thì sao?”

“Thiếp là thái hậu nước Yên, sao có thể lộ mặt ở đây được?” Cơ Tuyết trách.

Tô Tần khẽ cười, rồi thay quan phục nước Yên, dẫn theo Phi Phi, cùng Trâu Phi Đao đi ra phòng khách.

Nghe thấy tiếng bước chân, Yên hậu, Cơ Chức vội ra ngoài đón.

Cơ Chức hành lễ đầu tiên, ôm quyền khom lưng vái thật sâu: “Lãng tử Yên thất Cơ Chức khấu kiến tướng quốc sáu nước Tô đại nhân!”

Tô Tần đáp lễ: “Người Lạc Dương Tô Tần bái kiến công tử!” Thấy Yên hậu đứng sau lưng Cơ Chức, lại khom lưng vái chào, “thần Tô Tần khấu kiến vương hậu!

Yên hậu đáp lễ: “Tần nữ Doanh Chỉ bái kiến tướng quốc đại nhân!”

“Nương nương ngọc thể vẫn an khang chứ?”

Yên hậu nghe vậy, chợt ứa nước mắt, vội rút khăn lau, vòng tay nói: “Tạ ơn đại nhân hỏi thăm. Doanh Chi đã không còn là Yên hậu nữa, đại nhân cứ gọi tên là được!”

“Tô Tần không dám!” Tô Tần đáp lời, rồi mời ba người ngồi vào chiếu khách, ngắm nghía Cơ Chức một lát, khen ngợi, “công tử quả là anh tuấn!”

Tô đại nhân,” Yên hậu tiếp lời, “nghe Chức Nhi kể lại, vừa nãy may sao có Phi Phi cứu giúp, bằng không khuôn mặt này đã bị rạch nát mất rồi!”

“Là nhờ công tử phúc lớn mệnh quý!” Tô Tần đáp.

“Tô đại nhân,” Yên hậu nói, “hai mẹ con ta hôm nay tới đây, thứ nhất là để cảm tạ ơn cứu mạng của Phi Phi, thứ hai là để thăm hỏi đại nhân. Doanh Chỉ hay tin đại nhân lâm bệnh, từ lâu đã định đi thăm, nhưng lại thấy mình thân thế phiêu linh, sợ rằng đại nhân gặp mặt, lại thêm phiền lòng. Nào ngờ ông trời không phụ lòng mong mỏi của hai mẹ con, ban cho cơ duyên, hoàn thành tâm nguyện.” Nói đoạn, lấy từ trong ống tay áo ra một chiếc túi, mở ra, “Doanh Chỉ không có thứ gì khác, đây là củ nhân sâm do người Hồ đất Yên tặng cho, nói rằng đã nghìn năm tuổi, có thể bổ sung hư nhược. Chút thành ý mọn, mong đại nhân không chê!”

Tô Tần nhận lấy, vòng tay: Tạ ơn nương nương nhớ đến!” Lại nhìn sang công tử Chức, lời đầy ẩn ý, “dám hỏi công tử, vì sao lại ở đất Triệu, mà không sang Tần tìm ông ngoại?”

“Hồi bẩm đại nhân,” Tử Chức vòng tay đáp, “thân là người Yên, Chức không dám rời xa đất tổ.”

“Vì sao lại không dám?” Tô Tần nhìn thẳng vào Tử Chức hỏi.

“Con không phản cha, tôi không phản vua, dân không bỏ nước, đó là đạo lý xưa nay. Thân là cốt nhục của Yên thất, Cơ Chức sinh ra ở Yên, dẫu nay phiêu bạt, song trong lòng không một ngày nào dám quên nước cũ, cho nên tạm nương thân ở Triệu, chờ đợi một ngày nước cũ gọi về, Cơ Chức sẽ lập tức ruổi ngựa về Yên, nguyện vì cố quốc mà lao vào nước sôi lửa bỏng, có chết cũng không hối hận!”

“Tráng chí của công tử, Tô Tần đã biết!” Tô Tần gật đầu, “nếu có một ngày nước Yên lại gọi, công tử về nước, muốn dùng sách lược gì để trợ giúp cho Yên?”

“Muốn dùng trường sách hợp tung!” Tử Chức dõng dạc đáp.

“Vậy ư?” Tô Tần khẽ cười nói, “công tử có biết thế nào là trường sách hợp tung?”

“Kết thân Yên Hàn Triệu Ngụy Tề Sở để chế Tần!”

Tô Tần cười lớn: “Vậy là đối đầu với ông ngoại của công tử đấy!”

“Không phải.”

“Vì sao?”

“Trường sách của Tô đại nhân là chế Tần, chứ không phải diệt Tần. Có sáu nước hợp tung chế Tần, nước Tần nếu không muốn bị chế phục, buộc phải tự cường. Bởi vậy, theo như Chức thấy, trường sách của Tô Tử vừa là chế Tần, cũng là giúp Tần. Chức theo kế sách này, là giúp ông ngoại, chứ không phải là đối đầu với ông ngoại.”

Tô Tần hít sâu vào một hơi, nhìn Tử Chức chăm chú, thực không tin nổi những lời thâm sâu nhường vậy lại thốt ra từ miệng một đứa trẻ chưa đầy mười lăm tuổi.

“Tô đại nhân,” Tử Chức cũng nhìn thẳng vào Tô Tần, “vãn bối có một thỉnh cầu!”

“Công tử cứ nói!” Tô Tần chinh lại vạt áo.

“Cơ Chức bất tài, thành tâm muốn bái đại nhân làm thầy, mong đại nhân không chê!”

“Ồ…” Tô Tần sửng sốt, nhìn sang Yên hậu.

Yên hậu gật đầu, ánh mắt đầy chờ đợi.

“Sư phụ!” Tử Chức lập tức đứng lên, khấu bái sát đất.

“Công tử?” Tô Tần vội tiến lại đỡ Tử Chức dậy. Nhưng Tử Chức dứt khoát không chịu đứng lên.

“Tô Tử,” Yên hậu thay đổi cách xưng hô, không gọi là đại nhân nữa, “nể tình tiên vương, xin hãy thu nhận đệ tử này! Nó giờ đây…không nhà không nước, cùng quả mẫu phiêu bạt tha hương, Tô Tử nếu cũng chê bỏ…” nói tới đây, bỗng bật khóc.

“Thần…” Tô Tần nghe vậy, cũng thấy bất nhẫn trong lòng, khẽ thở dài một tiếng, rồi vòng tay, “xin kính cẩn nghe lời nương nương!” Đoạn quay về chỗ ngồi, nhận lễ của Tử Chức.

Hành lễ bái sư xong, Yên hậu cảm tạ Tô Tần, quay sang Tử Chức: “Chức Nhi, con hãy cùng Phi Phi ra ngoài chơi một chốc, mẹ có chuyện muốn nói với sư phụ con!”

Tử Chức vâng lời, cùng Phi Phi đi ra ngoài.

“Tô đại nhân,” Yên hậu ứa nước mắt, “đại nhân chịu nhận Chức Nhi làm đệ tử, bản cung cảm kích vô cùng. Hôm nay bản cung tới đây, còn có một đại sự muốn thỉnh cầu.”

“Xin nương nương cứ nói!”

“Bản cung gần đây được biết, nghịch thần Tử Chi rắp tâm cướp ngôi, nghe nói Tử Khoái đã…” Yên hậu gạt nước mắt, “đã nhường ngôi rồi!”

“Thần cũng đã nghe thấy chuyện này, đang lấy làm lo lắng.”

“Tử Chi nếu ngồi vào vương vị, nước Yên ắt loạn. Tử Chi không phải Tử Khoái, tâm địa hiểm độc, chắc chắn không chịu dung tha cho đương kim thái tử và các vị công tử. Năm đó nếu không phải nhờ Tử Khoái, hai mẹ con ta sớm đã bị Tử Chi giết chết. Nay nếu Tử Chi lên ngôi, quyết không tha cho hai mẹ con ta. Chúng ta cô nhi quả mẫu, lâm vào tuyệt địa, không nơi nương tựa…” Yên hậu ngước đôi mắt đẫm lệ nhìn Tô Tần, “chỉ còn biết trông chờ vào Tô đại nhân mà thôi!”

“Nương nương, thần…” Nghĩ đến chuyện công tử Chức bị hà hiếp ngoài phố, Tô Tần cũng ứa nước mắt, vòng tay nói, “nương nương yên tâm, Tử Chức phúc lớn mạng lớn, sẽ không có chuyện gì đâu. Hơn nữa, Tử Chức là con trai của tiên vương, cũng chính là tiểu chúa công của thần, bảo vệ nương nương cùng công tử là bổn phận của thần!” Dừng lại một lát, nói tiếp, “đợi có cơ duyên thích hợp, thần sẽ bẩm báo lên Triệu Vương, để bảo vệ cho hai mẹ con nương nương!”

“Nếu được như vậy,” Yên hậu khom lưng vái dài, “xin nhận của Doanh Chỉ một vái!”

Lời của Yên hậu cũng đã nhắc nhở Tô Tần.

Sau khi tiễn khách ra về, Tô Tần quay vào hậu viện, kể sơ qua mọi việc với Cơ Tuyết, rồi nói: “Xem ra, ta phải về Yên một chuyến. Bằng không, Tử Chi có lẽ sẽ không buông tha cho thái tử và hai vị công tử thực.”

“Nếu như Tử Khoái đã nhường ngôi, khác nào ván đã đóng thuyền, chàng trở về, cũng nào có ích gì? Dẫn mấy vị công tử đi ư? Nếu chàng không dẫn đi, Tử Chi có lẽ còn không nghĩ đến. Chàng mà dẫn đi, Tử Chi ắt nổi sát tâm.”

“Khuyên Tử Chi nhường lại ngôi báu!”

“Tô Tử,” Cơ Tuyết khẽ cười, “chàng học thuật Quỷ Cốc, hẳn đã thấu hiểu tính người. Tử Chi hôm nay đã không còn là Tử Chi ngày trước nữa. Hắn có dã tâm toan tính chuyện này, hiện đã ngồi lên ngôi báu, thì sẽ kiên quyết tới cùng, chứ không có chuyện buông tay bỏ cuộc!”

“Thế nhưng,” Tô Tần cũng cười buồn bã, “ta vẫn muốn thử xem sao. Tử Chi là người thông minh mẫn tiệp, lúc này đã đi tới bên mép vực, Tử Chi thân bại danh liệt là chuyện nhỏ, quan trọng là tai hoạ của nước Yên kia.”

“Phải, tài của Tử Chi, không thể trị nổi nước Yên.”

“Sáng sớm mai, ta sẽ lên đường.”

“Nếu vậy, Tuyết Nhi muốn đi cùng.”

“Nàng…sao có thể đi được?” Tô Tần sững người.

“Đến nước Sở thì thiếp không tiện. Nhưng Yên cung là nhà của thiếp, nếu thiếp trở về, cũng khiến Tử Chi phải kiêng dè.”

Sáng hôm sau, Tô Tần, Cơ Tuyết dậy từ rất sớm, giao Phi Phi cho Khuất Tương Tử chăm sóc, vẫn ở lại phủ tướng quốc. Còn đám Trâu Phi Đao, Mộc Thực, Mộc Hoa cùng hơn chục Mặc giả chia làm bốn xe, lên đường tới Kế Thành.

Thái tử Cơ Bình về tới Kế Đô vào trước hoàng hôn. Xe ngựa đánh thẳng vào cung thành.

Khiến Cơ Bình thở phào nhẹ nhõm, đó là Yên Vương Khoái vẫn sống trong cung thành, bởi trên danh nghĩa, đại lễ nhường ngôi chưa được cử hành, Tử Chi vẫn chưa trở thành Yên vương chính thức, do vậy cũng không thể chuyển vào vương thành sinh sống. Tử Chi nôn nóng muốn tiến hành đại lễ ngay, song đại lễ là quốc sự, không thể qua loa, nhất thiết phải chọn ngày lành tháng tốt để cử hành tại thái miếu Yên cung.

Cơ Bình quay về cũng thực đúng lúc, ngày đẹp đã định, chính là hôm sau, giờ lành là giờ Mão. Ngay sau khi đặt chân vào biên giới Yên, Cơ Bình đã nhận được mật báo này.

Cơ Bình gần như chạy xộc vào trong cung thất của Vương Khoái, lao tái phủ phục trước mặt Vương Khoái, ôm lấy chân cha khóc lớn: “Phụ vương…”

“Bình Nhi?” Vương Khoái hiển nhiên không ngờ thái tử lại trở về, kinh ngạc kêu lên.

“Phụ vương…” Cơ Bình nghẹn ngào.

Vương Khoái đỡ Cơ Bình dậy, sắc mặt rất vui: “Con về thật đúng lúc, giờ Mão ngày mai, phụ vương sẽ hành đại lễ nhường ngôi, đây là đại sự nghìn thu có một!”

“Phụ vương,” Cơ Bình gạt nước mắt, “Bình Nhi trở về, chính là để khẩn cầu phụ vương, hãy bỏ đại lễ này!”

“Ồ, sao có thể được?” Vương Khoái trách móc, “phụ vương đã bố cáo thiên hạ, nhường lại ngôi vị cho tướng quốc Tử Chi, việc đã nói ra, sao có thể nuốt lời?”

“Dám hỏi phụ vương,” Cơ Bình hai mắt như đuốc, nhìn xoáy vào Vương Khoái, “sao phụ vương lại muốn nhường thiên hạ?”

“Không phải nhường thiên hạ, ta chỉ là nhường nước Yên này.”

“Sao người lại muốn nhường nước Yên?”

“Vì phúc của nước Yên!” Vương Khoái đáp, rồi khẽ thở dài, “than ôi, Bình Nhi, con phải hiểu, nước Yên những năm nay, vận nước trắc trở, gian khó mọi bề. Người Yên đã phải chịu nhiều khổ nạn! May có hiền nhân Tử Chi, văn thao võ lược, có tài trị nước, nay giao nước Yên cho người này trị lý, ắt sẽ cường thịnh yên ổn, há chẳng phải là phúc của người Yên ư?

“Phụ vương, người không hiểu Tử Chi…”

“Quả nhân có thể không hiểu người khác, lẽ nào không hiểu Tử Chi?” Vương Khoái tức giận, cắt lời Cơ Bình, “khi Tử Chi xung trận diệt địch, con còn chưa ra đời! Tử Chi làm tướng quân, là do tiên thái tổ Văn Công của con đích thân lựa chọn. Năm xưa quả nhân theo Tô tướng quốc hợp tung liệt quốc, sau đó về Yên. Sáu nước vừa hợp tung, tiên tổ của con đã băng hà, nước Yên chìm trong nội loạn, nếu không nhờ tướng quân Tử Chi kịp quay về cứu, loạn của nước Yên không biết bao giờ mới dứt. Tử Chi lập đại công mà không kiêu ngạo, sống giản dị trong nhà cỏ, không người phục dịch, không kẻ hầu hạ, phu nhân tự tay nấu cơm may vá, chăm lo việc nhà, Tử Chi cũng không nề việc vặt. Người như vậy, lẽ nào không phải hiền nhân?”

“Đó là hắn cố tình làm vậy cho phụ vương xem!”

“Cái gì mà làm cho quả nhân xem?” Yên Vương Khoái càng thêm giận dữ, “quả nhân ngưỡng mộ Tử Chi, cũng mua một nếp nhà cỏ ở ngay gần đó, thấy rõ ngày ngày Tử Chi đều sống như vậy cả, cho đến tận cách đây không lâu, chính là khi quả nhân tức vị. Con cứ thử làm như vậy cho quả nhân xem, để xem con có thể sống trong nhà cỏ được mấy năm? Hơn nữa, nếu không có Tử Chi, quả nhân lúc này hẳn vẫn đang ở Tạo Dương đó!”

“Phụ vương,” Cơ Bình nôn nóng, “cho dù Tử Chi có hiền tài, phụ vương cũng không thể nhường nước được!”

“Sao lại không thể?”

“Bởi đất nước này đâu phải của một mình phụ vương!”

“Không phải của quả nhân thì là của ai?”

“Phụ vương, sở dĩ người có thể làm Yên Vương, có thể bước lên ngôi báu này, bởi vì người là thái tử, là cốt nhục của tiên vương. Cũng giống như vậy, Bình Nhi hiện là thái tử, Bình Nhi là cốt nhục của người, nước Yên này phải truyền lại cho Bình Nhi, chứ không thể nhường cho người khác! Thứ phụ vương nhường lại, không chỉ là đất nước của người, mà còn là đất nước của con!”

Nghe Cơ Bình nói vậy, Vương Khoái không khỏi trầm ngâm suy nghĩ.

“Phụ vương, phụ vương chớ nên nhường. Phụ vương hãy mau truyền chỉ, tạm dừng đại lễ ngày mai. Đợi Tử Chi vào hỏi, phụ vương hãy nói, là tiên vương về báo mộng, nhường nước không cát lợi!”

“Nói bừa!” Vương Khoái trừng mắt nhìn Cơ Bình, “tiên vương không báo mộng mà quả nhân lại nói là báo mộng, há chẳng phải dối trá? Há chẳng phải là lừa gạt tiên vương? Há chẳng phải lừa dối tổ tiên?”

“Phụ vương…”

“Được rồi!” Yên Vương cắt lời Cơ Bình, “ngày mai quả nhân sẽ nói với Tử Chi, quả nhân chỉ có thể nhường phần của quả nhân, chính là ngôi vị Yên Vương hiện tại, còn vị trí thái tử nước Yên vẫn là con. Rồi đến một ngày, Tử Chi sẽ nhường lại nước Yên cho con. Nước Yên đem ngôi báu nhường nhau, há chẳng phải chuyện tốt đẹp?”

“Không hề tốt!” Cơ Bình đáp ngay.

“Vì sao không tốt?”

“Có hai điều rất không tốt!” Cơ Bình giọng đầy kích động, “thứ nhất, nước Yên đang vô sự, mà phụ vương lại đi nhường ngôi, nước Yên ắt sẽ có chuyện. Thứ hai, phụ vương nhường ngôi cho người hiền, khác nào muốn nói phụ vương không hiền. Phụ vương, người ở nước Yên, có ai nói người không hiền hay chưa? Tất cả người Yên đều yêu kính phụ vương, tất cả triều thần cũng yêu kính phụ vương. Cả nước đều nói phụ vương hiền, mà giờ người lại đùng đùng nhường ngôi, há chẳng phải muốn nói với người Yên, phụ vương không hiền? Phụ vương nhường hiền, nhưng không nhường cho thái tử mà lại nhường cho tướng quốc, há chẳng phải muốn nói, thái tử không hiền?”

“Quả nhân và Tử Chi, ai hiền ai không, tự quả nhân biết rõ!” Yên Vương cũng trở nên kích động, “việc Tử Chi làm được, quả nhân lại không thể. Ví như, cường địch của người Yên là Bắc Hồ, Bắc Hồ nhiều đời đối địch với người Yên, thường xuyên xâm phạm biên cương, quấy nhiễu dân chúng. Nhưng giờ thì sao? Chỉ một câu của Tử Chi, đã khiến Bắc Hồ quy phục, Yên không mất một binh một tốt, không phải hao tài tốn của, đã mở rộng được nghìn dặm bờ cõi. Tử Chi ở trong nhà cỏ, tự bện giày cỏ mà đi, tự trồng cấy mà ăn, tự lực tự cường, quả nhân không làm được. Quả nhân hỏi con, con có làm được không?”

“Phụ vương, người mê muội mất rồi!” Cơ Bình gần như gầm lên, “Bắc Hồ và Tử Chi vốn cùng một giống, phu nhân Tử Chi là người Hồ, mẹ ruột Tử Chi cũng là người Hồ, Bình Nhi đã thăm dò biết được! Còn như nói ở nhà cỏ, bện giày cỏ, trồng trọt cấy cày, đúng là hắn có làm thật, nhưng là làm cho phụ vương xem, làm cho người Kế Thành xem mà thôi. Nếu không phải vậy, sau khi làm tướng quốc rồi, sao hắn không ở nhà cỏ nữa? Sao hắn không bện giày cỏ nữa? Sao hắn phải vội vã bỏ ngay nhà cỏ để chuyển tới phủ tướng quốc? Sao hắn phải vội vã chuyển vào cung thành? Sao hắn…”

“Câm miệng!” Yên Vương Khoái nghiêm giọng quát lớn, chỉ mặt Cơ Bình mà mắng, “đồ bất hiếu! Tử Chi là hậu duệ của tiên tổ Hoàn Công, cha Tử Chi là em ruột của tiên tổ Văn Công, là cốt nhục chính tông của Yên thất. Xếp về vai vế, Tử Chi ngang vai với tiên vương, là chú của quả nhân, ngươi cũng phải gọi là ông mới phải, sao có thể thốt ra những lời bất trung bất hiếu nhường này?”

“Phụ vương…” Cơ Bình bật khóc thảm thiết.

“Đừng nhiều lời nữa!” Yên Vương chỉ tay ra cửa, “đi ngay! Giờ lành ngày mai, hãy tới thái miếu. Ngôi thái tử của con, quả nhân cũng sẽ chiếu cáo vào ngày mai. Chiếu này là để công bố cho thiên hạ rõ. Tử Chi là người hiền, ngày sau chắc chắn lại sẽ nhường ngôi cho con. Con đừng có lo lắng không đâu nữa!”

“Phụ vương?” Cơ Bình cuống lên.

“Lui ra đi!” Yên Vương lại chỉ tay ra cửa.

Cơ Bình nuốt lệ lui ra, quanh quẩn hồi lâu ngoài cổng cung, mới đi thẳng tới phủ Chử Mẫn.

Giờ Thìn hôm sau, ngoài cổng thái miếu nước Yên, ngựa xe rậm rịch. Triều thần nước Yên mỗi người một bụng tâm tư, nối đuôi nhau bước qua cổng thái miếu. Để thêm phần long trọng, Tử Chi còn mời đến các nhà quý tộc trong thành, cùng trưởng lão của thôn làng quanh đó tới xem đại lễ.

Tử Chi hiểu rõ, kịch khi cần diễn, phải diễn cho như thật. Đã không theo kiểu võ, thì phải đi đúng kiểu văn. Chính vì vậy, Tử Chi đã dày công tính toán cho đại lễ nghìn năm một thuở này.

Trong đại lễ này, khó khăn nhất là phần vũ nhạc. Đã là đại lễ nhường ngôi, nhất định phải tấu nhạc Thiều.

Nhạc Thiều gồm chín chương, tương truyền xưa kia, sau khi Đế Nghiêu nhường ngôi cho Thuấn, Thuấn đã sai nhạc quan Quỳ soạn nhạc đặt vũ, để ca ngợi mỹ đức và công lao của Đế Nghiêu. Vũ nhạc gồm ba phần, là thơ, nhạc và vũ. Thơ là để ca ngợi Đế Nghiêu, do nghệ nhân ngâm tụng. Nhạc có tám thanh, gồm đồng, đá, đất, da, tơ, trúc, bầu, tấu bởi các loại nhạc cụ chuông, khánh, cầm, sắt, sáo, sênh, tiêu, trống, trống lớn, xúc, ngữ, chuông lớn. Chỉ tính riêng chuông đã có sáu mươi tư chiếc, xếp thành ba tầng. Các loại nhạc cụ khác cũng đều sắp thành hàng ngũ.

Yên là đất phong của Thiệu Công, vốn có đội lễ nhạc hoàn chỉnh, song gần trăm năm qua, lễ băng nhạc hoại, chế độ này dần bị xao lãng. Tử Chi đang lúc nôn nóng, liền bổ Lộc Mao Thọ làm tư nghi của đại lễ, buộc nhạc phường nội trong hơn chục ngày ngắn ngủi phải học diễn tấu toàn bộ nhạc Thiều cho đại lễ, bức bách đến nỗi nhạc phường lệnh mất ăn mất ngủ, bắt toàn bộ nhạc phường luyện tập khắp ngày đêm không ngơi nghỉ.

Vũ đài được dựng trên sân trước chính điện thái miếu. Sân rộng, đủ chỗ cho ba nghìn người đến xem đại lễ, ba nghìn chiếu cỏ được rải sẵn, chia thành từng khu, có chỗ dành riêng cho vương công quý tộc, sắp xếp rất chỉnh chu.

Giờ Mão đã tới, chính lễ bắt đầu. Tiếng tiêu cất lên, chuông khánh hoà nhịp, rồi tiếng hát vang lên trầm bổng:

Nhân tâm nguy hiểm,

Đạo tâm huyền vi.

Tinh rồng thuần nhất,

Giữ lấy đạo trung.

Tương truyền, đây chính là yếu quyết trị thế mà vua Nghiêu truyền lại cho vua Thuấn, cũng coi như lời căn dặn lúc nhường ngôi, được vua Thuấn coi là chủ đạo của nhạc Thiều. Sáu mươi tư vũ công nửa nam nửa nữ, nữ mặc áo lông vũ, nam mặc áo da thú, bước lên vũ đài nhảy múa. Trong lúc múa, người hát ngâm đi ngâm lại mười sáu chữ trên, mỗi một chữ ngân lên, là một thế múa. Nhạc gồm chín chương, mỗi chương ba mục, mỗi mục hai lượt, ứng với ba mươi hai thế múa.

Nhạc Thiều cổ đã thất truyền phần lớn, vũ nhạc trong đại lễ, là do nhạc phường Yên thất gấp rút tìm lại, đã được Lộc Mao Thọ chỉnh lý. Do thời gian chuẩn bị gấp gáp, ca, nhạc, vũ chưa thể luyện tập nhuần nhuyễn, trong lúc kết hợp, không đủ nhịp nhàng, thậm chí đôi chỗ gián đoạn vấp váp, nhất là tới chương cuối cùng, Phượng tới chầu, không biết sai lầm ở đâu, tiếng nhạc rối loạn, trên vũ đài chim thú lẫn lộn, rối nùi một đám. Nhạc phường lệnh kinh hãi đến mướt mồ hôi hột, khó khăn lắm mới tạm dàn xếp được.

Cho dù là vậy, màn diễn tấu vẫn khiến lòng người chấn động.

Nhạc Thiều dứt, đã đến màn chính là nghi lễ nhường ngôi. Yên Vương Khoái mặc vương phục, sải bước lên đàn tế, tế bái trời đất bốn phương, bẩm báo liệt tổ liệt tông, nguyên cớ vì sao mà muốn nhường ngôi cho hiền nhân Tử Chi. Đoạn kể rõ hiền tài của Tử Chi, nói rằng Tử Chi cũng mang dòng máu của Yên thất, rằng với tài đó đức đó, sẽ mang lại thêm nhiều phúc lợi cho người Yên.

Đợi Yên Vương bố cáo xong xuôi, theo đúng nghi thức nhường ngôi của vua Nghiêu, kẻ được nhường ngôi, Tử Chi, áo vải đăng đài, ca ngợi mỹ đức của Vương Khoái, khiêm nhường tự nhận mình đức không xứng vị, khước từ không dám nhận.

Vương Khoái lại nhường, Tử Chi lại chối.

Vương Khoái năm lần bảy lượt nhường, Tử Chi năm lần bảy lượt chối.

Tất cả những điều này, đều đã được dàn xếp từ trước.

Chính vào lúc Vương Khoái chuẩn bị nhường ngôi lần cuối cùng, thái tử Cơ Bình chợt khóc rống lên mà gọi: “Phụ vương…”

Tiếng khóc của Cơ Bình đã phá tan vẻ nghiêm trang của đại lễ. Hết thảy người có mặt đều đổ dồn ánh mắt lại.

Đến giờ, mọi người cũng mới nhận ra một sự thực, nước Yên còn có một quân vương tương lai, thái tử Cơ Bình. Cơ Bình đã đủ mười tám, theo lệ thường, đã có thể chủ trì chính sự. Vương Khoái nếu muốn nhường ngôi, đáng lẽ phải nhường cho Cơ Bình mới hợp đạo lý.

Tử Chi sắc mặt trắng bệch.

Kỳ thực, ngay sáng sớm nay, Yên Vương đã bàn với Tử Chi chuyện của Cơ Bình, yêu cầu Tử Chi chớ đổi thái tử. Tử Chi luôn miệng đồng ý. Tử Chi vốn nghĩ, Vương Khoái đưa ra yêu cầu này, chắc chắn là đã bàn bạc ổn thoả với Cơ Bình. Lúc này, thái tử bỗng dưng gào khóc, quả thực nằm ngoài dự liệu của Tử Chi.

Tiếng khóc của Cơ Bình cũng cắt ngang nghi thức nhường ngôi sắp đến hồi chung cục. Bàn tay cầm chiếu thư của Yên Vương chợt run lên.

Cơ Bình lại thảm thiết kêu lên một tiếng “phụ vương”, tiến lên vài bước, quỳ xuống dập đầu ngay dưới chân đài nhường ngôi. Các quan viên đứng sau Cơ Bình cũng theo nhau bước ra, quỳ xuống sau lưng Cơ Bình. Chử Mẫn cùng một số lão thần cũng tiến lại, quỳ ở cuối hàng.

Số người quỳ xuống mỗi lúc một đông.

Tiếng nhạc vẫn vang vọng từ đầu đại lễ đến giờ đột nhiên tắt lịm. Khắp trong ngoài thái miếu yên tĩnh lạ lùng.

Vương Khoái nhìn sang Tử Chi, ánh mắt cầu cứu. Hiển nhiên, Yên Vương không biết nên ứng phó thế nào.

Thấy sự việc sắp thành lại hỏng, Tử Chi phát cuống, gắng nặn óc suy nghĩ, song đầu óc hoàn toàn trống rỗng.

Trong thời khắc muôn phần nguy cấp, tư nghi Lộc Mao Thọ đã bước ra cứu giá.

“Khởi nhạc!” Lộc Mao Thọ lớn tiếng ra lệnh cho nhạc phường lệnh.

“Khởi nhạc!” Nhạc phường lệnh hô vang. Tiếng nhạc lập tức vang lên, vẫn là Thiều.

Trong tiếng nhạc, tư nghi Lộc Mao Thọ dõng dạc ngâm nga:

Đại đạo mênh mông

Trời đất đen vàng;

Yên Vương Cơ Khoái,

Nhường ngôi người hiền.

Hiền nhân Tử Chi,

Nhân tài đất Yên;

Văn tài trị quốc,

Võ lược an bang;

Người Yên yêu mến,

Vua Yên tán dương;

Quần thần kính phục,

Thiên hạ noi gương.

Lớn thay Yên Vương,

Tiếng thơm muôn thuở.

Lớn thay nước Yên,

Kế thừa rực rõ.

Tiếng nhạc và tiếng ngâm của Lộc Mao Thọ mau chóng kéo mọi người quay trở lại với bầu không khí của nghi lễ nhường ngôi, mọi ánh mắt lại tiếp tục dõi lên đài.

“Thể theo đại đạo, Yên Vương nhường vương vị cho tân vương Cơ Chi, trao lại vương tỷ, vương phục, vương miện!” Lộc Mao Thọ quyết đoán hô lớn, kết thúc màn nghi thức cuối cùng, để hai vua trực tiếp trao nhận.

Trước hàng ngàn ánh mắt, Vương Khoái nhấc cao vương tỷ, giao cho Tử Chi đang quỳ trước mặt. Sau đó cởi vương phục, bỏ vương miện, giao cho thị tùng mang đi, đoạn tự tay cầm vương miện, vương phục mới, ban cho Tử Chi.

Tới đây, nghi lễ nhường ngôi hoàn tất. Cơ Khoái bước xuống đàn, đứng vào hàng ngũ bề tôi.

Tân vương Tử Chi tay nâng vương tỷ, hướng về bốn phương, mỗi phương vái ba vái, đoạn ngồi lên ngai vàng, dõng dạc truyền chỉ: “Nay nhận ơn trời, được thái thượng vương hậu ái, nhường ngôi cho người Yên Cơ Chi. Kể từ hôm nay, Cơ Chi xin thề trước chư thần bốn phương, trước chư linh liệt tổ liệt tông, đời này cúc cung tận tụy vì nước Yên, đến chết mới thôi!” Quay sang Lộc Mao Thọ, “tư nghi hãy soạn chỉ, đại xá thiên hạ, phàm những kẻ tù tội ba năm trở xuống, đều được phóng thích!”

Lộc Mao Thọ dõng dạc đáp: “Thần tuân chỉ!”

“Soạn chỉ,” Tử Chi giọng sang sảng, “tôn phong tiền Yên Vương làm thái thượng, vẫn sống trong Yên cung, không cần phải vào chầu!”

Cơ Khoái vòng tay: “Tạ ơn đại vương ân phong!”

“Lại soạn chỉ,” Tử Chi nhìn xuống thái tử Cơ Bình, “phong trưởng tử của tiền Yên Vương là Cơ Bình làm thái tử, vẫn ở Đông cung, vào triều như thường lệ!”

Cơ Bình không cảm tạ, hiển nhiên chẳng hề cảm kích, mà đứng dậy, ném cho Tử Chi một ánh nhìn hằn học, đoạn sải bước đi thẳng. Đám triều thần theo Cơ Bình cũng theo nhau đứng dậy bỏ đi.

Tử Chi, Lộc Mao Thọ đưa mắt nhìn nhau.

“Đại lễ kết thúc!” Lộc Mao Thọ hô xong, nhìn sang nhạc phường lệnh, “tấu nhạc!”

Tiếng nhạc lại vang lên, mọi người lục tục kéo nhau về trong tiếng nhạc réo rắt.

Mắt thấy ván đã đóng thuyền, thái tử Cơ Bình quyết tâm phản kích.

Rời khỏi thái miếu, Cơ Bình không về Đông cung, mà tới thẳng phủ Chử Mẫn, ngồi sẵn trong phủ đợi ông ta về. Chử Mẫn là lão thần từ thời tiên tổ Văn Công, có uy vọng rất lớn trong các lão thần nước Yên.

Chẳng bao lâu sau, Chử Mẫn về phủ, trông thấy Cơ Bình thì lấy làm sửng sốt: “Thái tử?”

“Chử bá phụ…” Cơ Bình quỳ sụp xuống, bật khóc.

“Thái tử, mau đứng dậy!” Chử Mẫn đỡ Cơ Bình dậy, nhường chiếu chủ cho hắn ngồi, còn mình ngồi ở chiếu bên cạnh.

“Bá phụ,” Cơ Bình gạt nước mắt, nhìn thẳng vào Chử Mẫn, “phụ vương mê muội, trúng phải gian kế, đến nỗi nước Yên rơi vào tay kẻ gian tà, Cơ Bình sức yếu, khuyên can không được, thực không biết phải làm sao, nên mới tới đây khẩn cầu bá phụ, mong bá phụ nể tình tiên tổ Văn Công, trợ giúp một tay, để diệt trừ gian tặc, trả lại nền chính trong sạch cho Đại Yên ta!”

“Than ôi,” Chử Mẫn thở dài, “Tử Chi không giống với người khác, có nền tảng rất vững chãi ở Yên, nhất là chư tướng tam quân, đa phần đều là thuộc hạ của hắn. Hơn nữa, Tử Chi vốn là hậu duệ của Hoàn Công, cũng mang huyết thống vương thất. Chuyện hôm nay, thái tử đã thấy rồi đấy, trong vương công quý tộc có không ít người ủng hộ hắn. Những chuyện này vẫn chưa đáng ngại, nan giải nhất chính là phụ vương của thái tử, sùng mộ đạo Nho, nhất nhất coi tiên vương là chí thánh, lại nghe lời xúi giục của Lộc Mao Thọ, thực lòng nhường lại ngôi vị cho Tử Chi, khiến cho hắn có được danh nghĩa. Thái tử dù không phục, e rằng cũng khó làm gì được!”

“Chử bá phụ,” Cơ Bình ôm quyền nói, “cháu biết hắn có danh nghĩa, nhưng dù có danh nghĩa tới đâu, cũng không thể chính danh bằng cháu. Cháu đã đủ mười tám tuổi, có thể lập sự, việc triều chính cũng đã hiểu rõ. Bá phụ, người khác có thể không biết, nhưng bá phụ hẳn biết rõ, kể từ khi tiên tổ Văn Công băng hà, trong cung Yên không ngừng gió tanh mưa máu! Theo cháu biết, tiên tổ Văn Công theo Tô tướng quốc hợp tung, suốt dọc đường đi bình yên vô sự, về tới Kế Thành mới đột ngột băng hà. Tiên tổ Dịch Vương cũng đang yên lành, nói băng hà là băng hà ngay. Chuyện khác không nói, chuyện tiên tổ Dịch Vương băng hà, cháu đây tận mắt chứng kiến. Tiên tổ không ưa phụ vương, mới đẩy phụ vương tới Tạo Dương đất Bắc, muốn lập Tử Chức làm thái tử, nhưng bị Tô tướng quốc phản đối. Tô tướng quốc vừa bước chân đi, tiên tổ Dịch Vương đã lập tức băng hà. Khi tiên tổ băng hà, cháu đang ở Đông cung. Tử Chi bị tiên tổ Dịch Vương canh phòng nghiêm mật, cớ sao có thể thình lình xuất hiện trong cung? Cháu dám nói, tiên tổ băng hà, chắc chắn là do Tử Chi và Lộc Mao Thọ hợp mưu hãm hại!”

Là lão thần nhiều triều, Chử Mẫn kinh qua sự biến, biết rõ lời Cơ Bình nói đều là sự thực, lại khẽ thở dài.

“Bá phụ,” Cơ Bình nói tiếp, “sau khi tiên tổ băng hà, phụ vương được Tử Chi vội vã đẩy lên ngai vàng, đương nhiên lấy làm cảm kích Tử Chi, mọi việc lớn nhỏ trong triều, đều nhất nhất nghe theo hắn. Phụ vương danh nghĩa là Yên Vương, thực chất chỉ là bù nhìn. Tử Chi là tướng quốc, thâu tóm hết quyền hành, vẫn còn muốn nhiều hơn thế. Hắn cùng Tô Đại em trai Tô tướng quốc kết thành thông gia, khi cháu phụng vương mệnh đi sứ Lâm Truy, hắn cũng cho Tô Đại đi cùng. Thoạt tiên cháu không để ý, sau khi tới Lâm Truy, cháu mới nhận rõ âm mưu, bèn nói lại việc này với Tề Vương. Tề Vương lúc ấy mới giữ cháu lại, đuổi hắn về trước.”

Chử Mẫn trong lòng giật thột, nhìn sững vào Cơ Bình: “Việc của nước Yên, Tề Vương biết không?”

“Có biết. Cháu nhận được mật báo, lập tức tới Tề cung bẩm báo lên ông cậu.”

“Ý Tề Vương thế nào?”

“Tề Vương vô cùng giận dữ, nhiếc móc phụ vương hết lời, nói nước Tề hết lòng lo nghĩ cho phụ vương, nào ngờ phụ vương lại vô dụng nhường vậy, đem cho không cả nước Yên…Than ôi, bá phụ, nghĩ tới tổ mẫu của cháu, ông cậu lại nước mắt tuôn rơi, nói rằng tổ mẫu cháu chết oan uổng trong tay phụ vương cháu. Tổ mẫu đã kể hết mọi chuyện cho ông cậu nghe, ông cậu vô cùng uất hận!”

“Than ôi!” Chử Mẫn thở dài.

“Tề vương rất không cam lòng.” Cơ Bình nói tiếp, “nên đã khởi ba vạn binh, lúc này có lẽ đã tới Hà Gián, chủ tướng là Điền Văn, nói rằng ba vạn đại quân này sẽ cho cháu tuỳ nghi sử dụng. Ngoài ra, Tề vương còn cho cháu ba trăm dật vàng để chi tiêu, nói rằng nước Yên không thể rơi vào tay Tử Chi. Tử Chi thân thiết với người Hồ, ắt sẽ dẫn người Hồ vào Trung Nguyên, gây hoạ cho Yên thất! Tề vương còn nói, ba trăm dật vàng chỉ là để cháu dùng cho chuyện trước mắt, nếu cháu có chí lấy lại nước Yên, Tề vương sẽ dốc lòng trợ giúp. Nước Yên là bình phong phương bắc của Tề, Yên nếu bất ổn, người Hồ sẽ thừa cơ xâm chiếm, vậy thì nước Tề cũng không thể thái bình, bởi người Hồ xưa nay vẫn thèm khát vùng thảo nguyên rộng lớn ở Hà Gián.”

Chử Mẫn trầm ngâm suy nghĩ.

“Điện hạ,” hồi lâu sau, Chử Mẫn ngẩng đầu, “điện hạ thực sự muốn đoạt lại ngôi vị?”

“Nó vốn dĩ là của cháu!” Cơ Bình chìa ra ngón tay cụt vẫn đang băng bó, “ngón tay này, cháu đã chặt đứt ngay trước mặt ông cậu, thề với trời rằng, không trừ được gian tặc, cháu sẽ như ngón tay này. Bá phụ nếu chưa tin, cháu sẽ chặt ngón nữa thề cùng bá phụ!” Đoạn chìa ngón tay bên cạnh ra, chực rút kiếm.

“Điện hạ, đừng làm thế!” Chử Mẫn ngăn lại, ngẫm nghĩ một chốc, vòng tay với Cơ Bình, “thần Chử Mẫn nguyện giúp điện hạ!”

Cơ Bình lại định khấu đầu, nhưng Chử Mẫn đã kịp ngăn lại.

“Tuy nhiên,” Chử Mẫn nhìn thẳng vào Cơ Bình, “lúc này, gian thần vừa đắc vị, sĩ khí đang lên, lại có phụ vương của điện hạ ủng hộ, điện hạ khởi sự, khó nắm phần thắng. Theo như thần thấy, hiện tại, điện hạ hãy giấu kỹ ý phục thù, làm ra vẻ thuần phục, chờ đợi thời cơ thuận lợi để hành sự. Hơn nữa, điện hạ hiện tại chưa đủ thực lực, Tử Chi biết rõ thần là người của điện hạ nên đã tước đoạt hết binh quyền của thần. Có điều, còn một người có lẽ sẽ nghe thần, trợ giúp điện hạ một tay.”

“Là ai?”

“Tướng quân Thị Bị.”

“Thị Bị?” Cơ Bình không tin nổi vào tai, nhìn sững vào Chử Mẫn, “hắn là người của gian tặc kia mà!”

“Không hẳn là vậy.” Chử Mẫn đáp, “Thị Bị là cháu của thần, gọi thần là chú rể. Khi thần trấn giữ Vũ Dương, Thị Bị đầu quân dưới trướng thần, nhiều lần lập công. Thần quan sát thấy hắn là một nhân tài, song bởi là cháu của thần, nên thần không tiện cất nhắc, vì thế nếu cứ để hắn dưới trướng, sẽ cản trở mất tiền đồ, nên thần mới tiến cử hắn với Tử Chi. Thị Bị là người chính trực, vốn cũng kính phục Tử Chi khiêm tốn giản dị, song gần đây, qua lời hắn nói, có vẻ như rất bất mãn với Tử Chi. Nếu điện hạ muốn mưu đại sự, thần có thể đi du thuyết một phen, người này có lẽ chịu nghe thần.”

“Nếu được vậy,” Cơ Bình lấy làm phấn chấn, vòng tay nói, “đại sự có thể thành rồi!”

Tô Tần muốn tới Kế Thành trước đại lễ nhường ngôi, nên hối thúc Trâu Phi Đao ra roi thúc ngựa, đi suốt ngày đêm, quên ăn quên ngủ. Cứ thế mấy ngày ròng rã, xe ngựa xóc nảy cộng thêm thiếu ngủ đã khiến Tô Tần không cầm cự nổi, tới khách điếm ở Vũ Dương, vừa bước xuống xe, hai mắt chợt tối sầm, ngã lăn xuống đất.

Cơ Tuyết vô cùng kinh sợ, may sao nơi đây là địa bàn của nàng, quen biết nhiều người, nên tức tốc sai Xuân Mai đi gọi thầy lang đến. Thăm khám xong, nói rằng không có gì nghiêm trọng, chỉ bởi khí huyết hư nhược mà thôi. Thầy lang kê đơn, dặn dò Tô Tần phải nằm yên nghỉ ngơi, tuyệt đối không được đi xe ngựa.

Cơ Tuyết không chút đắn đo, lập tức đưa thẳng Tô Tần về biệt cung của nàng, sai người tới Kế Thành nghe ngóng. Tuy nhiên, người được phái đi còn chưa kịp lên đường, đã có Mặc giả từ Kế Thành tức tốc tìm tới, nói rằng đại lễ nhường ngôi diễn ra hôm nay, mọi chuyện đã kết thúc. Tử Chi đã lên ngôi, chuyển vào ở trong cung Yên cùng Vương Khoái.

Đợi đến khi Tô Tần hồi phục chút khí sắc, Cơ Tuyết mới kể lại vắn tắt tin tức ở Kế Thành.

“Than ôi,” Tô Tần thở dài, “chạy hết tốc lực, vẫn chậm mất rồi. Đều tại ta, vào hôm Triệu Vương nói lại chuyện này, đáng lẽ ta phải đi ngay mới phải. Chỉ tiếc lúc đó, chưa kịp nghĩ ra.”

“Chàng đâu phải thần tiên mà chuyện gì cũng nghĩ tới được?” Cơ Tuyết an ủi, rồi mỉm cười, “vậy cũng tốt, chúng ta hãy ở lại biệt cung này, thứ nhất là để quan sát tình hình, thứ hai là để nghỉ ngơi vài bữa. Mấy ngày qua, đừng nói là chàng, thiếp cũng thấm mệt rồi.”

“Là ta đã khiến nàng mệt mỏi!” Tô Tần nở nụ cười gượng gạo.

“Chàng nói gì vậy!” Cơ Tuyết lườm Tô Tần một cái, “có chàng ở bên, thiếp mới an tâm.” Chỉ vào biệt cung, “sống ở đây lâu rồi, sống ở nơi khác không quen, hôm nay trở về, cảm thấy như về nhà vậy. Thiếp thấy tiếc vì đã không đưa Phi Phi đi cùng!”

“Chao ôi,” Tô Tần đáp, “e rằng ta không ở lâu được.”

“Vì sao kia?” Cơ Tuyết ngạc nhiên, “lúc này, đâu còn ai nhìn đến chúng ta nữa?”

“Người thì không nhìn, nhưng còn thiên địa quỷ thần?” Tô Tần nhìn ra ngoài cửa.

Phía đó, là khu mộ của Văn Công.

“Tô Tử”, Cơ Tuyết đáp, “thiếp hiểu ý chàng. Trong những ngày tháng ấy, thiếp đã thú thực hết mọi chuyện với tiên quân. Thiếp không giấu giếm tiên quân, tiên quân cũng thấu hiểu cho thiếp. Tiên quân cũng về báo mộng với thiếp, tiên quân muốn thiếp được sống an vui. Người Yên khác với người Chu, phía bắc giáp đất Hồ, thường xuyên qua lại, tập tục cũng lây của người Hồ, chuyện hỗn loạn trong cung là thường tình, tiên quân hồi trước cũng nạp mấy phi tử của tiên Hoàn Công. Không giấu gì chàng, khi tiên quân còn tại vị, Cơ Tô nhiều lần muốn sàm sỡ thiếp, nhưng bị thiếp trách mắng mới phải từ bỏ. Sau khi tiên quân băng hà, Cơ Tô càng thêm lộng hành, ép thiếp phục tùng. Nếu không nhờ chàng kịp thời trở về cứu nguy, thì thiếp đã…”

“Tuyết Nhi!” Tô Tần nắm chặt tay Cơ Tuyết, “đợi cho thế gian này tốt đẹp hơn chút nữa, ta sẽ…cưới nàng!”

“Thế gian này sẽ tốt đẹp hơn chứ?” Cơ Tuyết thì thầm hỏi.

“Ta…” Tô Tần chầm chậm khép mắt lại, từ trong cổ họng bật ra một tiếng, “không biết!”

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử