Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 27
Bày khổ nhục mưu, Chiêu Dương thoát tội
Trúng liên hoàn kế, Sở - Việt giao tranh

❊ ❊ ❊

Trong phòng trọ, không khí lặng phắc như tờ. Hương Nữ và Kinh Sinh đều nhắm mắt, ngồi đối diện nhau.

Không biết đã trôi qua bao lâu, Hương Nữ mở mắt, bắt đầu cảm thấy bất an, liếc nhìn Kinh Sinh, hỏi khẽ: “Kinh thúc! Việt Vương triệu gấp Lã đại nhân lên điện, liệu có phải lại xảy ra chuyện gì không?”

Kinh Sinh lắc đầu nói: “Chắc là không đâu. Theo lão nô được biết, cho tới hiện nay, ngoài Việt Vương, chỉ có ba người được vào phòng kiếm của Việt Vương, một là tư kiếm lại, hai là đại tướng quân Bôn Thành, và một người nữa, chính là cô gia!”

Hương Nữ thấp thỏm nói: “Chính vì điều này, Hương Nữ mới cảm thấy lo lắng, ngộ nhỡ Việt Vương…”

Lời còn chưa dứt, từ bên ngoài đã nghe có tiếng xe ngựa vọng lại. Kinh Sinh nghe loáng thoáng như tiếng của Lã Tông, thì vội chạy ra nghênh đón, một lát sau, đã dắt tay ông ta dẫn vào trong viện.

Nhìn sắc mặt của Lã Tông, Hương Nữ biết là không có chuyện gì đáng ngại, bèn thở phào một tiếng, đứng dậy vái chào.

Ba người phân ngôi chủ khách ngồi xuống, Kinh Sinh cười hỏi: “Lã đại nhân, sao vẫn chưa thấy cô gia trở về?”

Lã Tông sắc mặt tràn đầy khâm phục, ôm quyền tấm tắc: “Chà chà, cô gia nhà Kinh tiên sinh quả là có tài ăn nói. Đại vương muốn chuyển hướng phạt Sở, Nguyễn tướng quân không phục, song đã bị cô gia phản bác cho cứng họng không nói được gì. Đến Luân quốc sư cũng phải thuận theo, đồng ý với đại vương bỏ Tề phạt Sở.”

Hương Nữ vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ nhìn Kinh Sinh.

“Bỏ Tề phạt Sở?” Kinh Sinh cố tình ra vẻ ngơ ngác. “Xin hỏi đại nhân, đại vương cớ sao lại muốn bỏ Tề phạt Sở?”

Lã Tông cười nói: “Chuyện này đều là nhờ công của cô gia nhà Kinh tiên sinh!” Rồi kể sơ qua một lượt tình hình diễn ra trong đại điện, cuối cùng nói. “Đại vương ngay lập tức ban bố chiếu chỉ phạt Sở, chia quân thành hai lộ thuỷ lục, ngược Giang Thuỷ mà lên, tiến thẳng tới Sính Đô.”

Hương Nữ vội hỏi: “Vậy còn phu quân, chàng… chàng đâu rồi?”

“Vẫn ở chỗ đại vương,” Lã Tông đáp. “Xem ra, cô gia nhất thời vẫn chưa thể trở về được đâu.”

Trong đình Quan Hài trên đài Lang Nha, Vô Cương ngồi quay mặt về phía nam, Trương Nghi ngồi cạnh, quay về phía đông, cả hai đều phóng mắt nhìn ra mặt biển, ngắm nhìn nơi trời nước một màu xanh ngắt. Quả như dự đoán của Nguyễn tướng quân, bắt đầu vào giờ Ngọ, gió lớn đột ngột nổi lên, mặt biển sóng trào dữ dội, cuồn cuộn hung hãn. Thế nhưng từ trên đài cao nhìn xuống, những con sóng cao đến vài trượng kia lại chẳng khác gì gợn sóng lăn tăn trong ao hồ, chỉ nghe thấy tiếng sóng vỗ sầm sầm như sấm động bên tai, dồn dập không dứt.

Mấy ngày qua, Trương Nghi lúc nào tim cũng như treo ngược, tới tận lúc này, mới thấy bình tâm trở lại, mà có cảm hứng cùng thưởng lãm cảnh biển với Vô Cương. Thưởng lãm được một lát, Trương Nghi liếc mắt nhìn Vô Cương, thấy Vô Cương vẫn ngắm biển đến ngơ ngẩn như say, bèn cười vang mà hỏi: “Đại vương ở đây ngày ngày ngắm biển, có thấy chán không?”

“Chán?” Vô Cương ngạc nhiên nhìn Trương Nghi. “Mặt biển mênh mông bất tận, gió mây hội về; tuyết mưa sương gió, muôn vẻ đổi thay; khi sớm khi tối, lúc tạnh lúc mưa, đều có thú vị, làm sao chán được?”

“Nói như vậy,” Trương Nghi thuận miệng tiếp lời, “xem ra đại vương không chỉ yêu kiếm, mà còn yêu biển.”

“Đúng vậy!” Vô Cương gật đầu, ánh mắt lại quay ra phía mặt biển. “Đời người không tránh khỏi cái chết. Không giấu Trương Tử, Vô Cương sớm đã nghĩ kỹ rồi, tới thời khắc đó, Vô Cương chỉ có hai mong muốn, thứ nhất là chết dưới kiếm của cao thủ, thứ hai là vùi xác dưới đáy biển sâu.”

Trương Nghi trong lòng chấn động, bèn ôm quyền nói: “Đại vương tấm lòng mênh mông như biển cả, Trương Nghi kính phục!”

Vô Cương cũng ôm quyền đáp lễ: “Người Việt đều như vậy cả. Sống ở đây lâu, Trương Tử sẽ biết thôi!” Dừng lại một lát, chỉ tay ra biển. “Trương Tử nhìn mặt biển kia, có cảm thán gì chăng?”

“Không phải là cảm thán,” Trương Nghi nhìn ra biển, chậm rãi nói, “mà là kính sợ!”

Vô Cương khen ngợi: “Trương Tử nói rất hay, quả đúng là kính sợ!”

Trương Nghi quay sang nhìn Vô Cương: “Đại vương đã nghe nói tới Trang Tử người Tống chưa?”

“Trang Tử người Tống?” Vô Cương lắc đầu. “Vô Cương kiến văn nông cạn, chưa từng nghe nói tới người này. Sao kia, người này cũng yêu biển ư?”

“Đúng vậy!” Trương Nghi gật đầu. “Khi Nghi còn trong Quỷ Cốc, may mắn được đọc một thiên diệu văn của Trang Tử, mô tả về biển.”

“Ồ?” Vô Cương vội hỏi. “Là diệu văn gì vậy? Có thể chia sẻ với Vô Cương chăng?”

“Diệu văn này tên gọi ‘Thu thuỷ’, nói về lúc cuối hè đầu thu, muôn dòng quy về suối, muôn suối đổ về sông. Hà Bá thanh thế vụt lớn mạnh, cuồng ngạo tự đại, kéo theo dòng nước lớn gầm rống mà đi. Khi ra tới biển, nhìn thấy mặt biển mà than thở, tự thẹn đã làm trò cười trước bậc vĩ đại.”

Vô Cương trầm ngâm một lát: “Ồ, câu chuyện này chính là nói về Vô Cương!”

Trương Nghi ngẩn ra một thoáng, rồi cười hỏi: “Cớ sao đại vương lại nói vậy?”

Vô Cương thở dài mà rằng: “Trước khi gặp Trương Tử, Vô Cương cũng giống như Hà Bá kia, ở vùng đất hẹp hòi này kiêu căng ngạo mạn. Gặp Trương Tử rồi, mới biết thế nào là mênh mông vô tận!”

Trương Nghi cảm động, đứng dậy dập đầu nói: “Đại vương khen ngợi quá lời, thực khiến Nghi hổ thẹn không dám nhận!”

Vô Cương đứng lên, đỡ Trương Nghi đứng dậy, cười vang mà nói: “Trương Tử chớ nên khiêm tốn! Tài của Trương Tử, Vô Cương thực lòng khâm phục. Vô Cương muốn học theo quan chế của Trung Nguyên, bái Trương Tử làm tướng quốc, cả nước đều nghe theo lời Trương Tử, không biết ý Trương Tử thế nào?”

Trương Nghi vòng tay vái tạ: “Nghi đa tạ đại vương trọng dụng. Song ý này của đại vương, Nghi không thể phục tùng!”

“Ồ?” Vô Cương kinh ngạc. “Là vì cớ gì?”

“Là vì Nghi còn có một việc lớn muốn làm!”

Vô Cương vội hỏi: “Là việc lớn gì, có thể nói cho Vô Cương biết chăng?”

“Tới Sính Đô một chuyến!”

“Sính Đô?” Vô Cương càng kinh ngạc. “Đại quân ta sắp phạt Sở, Trương Tử không giúp Vô Cương, ngược lại còn tới Sính Đô, việc này…”

Trương Nghi nở một nụ cười đầy ẩn ý: “Đại vương, có Nghi ở Sở, chẳng phải là…”

Vô Cương dường như cũng đã hiểu ra: “Ý Trương Tử là… tới nước Sở làm nội ứng?”

Trương Nghi vòng tay nói: “Đại vương thánh minh!”

“Hay, hay, hay lắm!” Vô Cương dựng ngón cái, tấm tắc khen ngợi. “Có Trương Tử làm nội ứng, còn lo gì không thắng Sở?” Rồi mặt mày rạng rỡ. “Chuyến đi lần này, Trương Tử có cần Vô Cương trợ giúp gì chăng?”

“Không cần gì hết!” Trương Nghi lại vòng tay. “Tạ ơn đại vương quan tâm!”

“Vậy…” Vô Cương suy nghĩ một lát. “Nghe nói Sở Vương rất thích ngọc trai, Vô Cương sẽ giao cho Trương Tử hai mươi hạt ngọc trai Nam Hải, coi như cũng có món quà ra mắt.”

“Tạ ơn đại vương!”

Vô Cương gọi nội thị mang lại hai mươi viên ngọc trai Nam Hải, giao cho Trương Nghi: “Trương Tử tới đây, Vô Cương được lợi không nhỏ. Giờ Trương Tử ra đi, Vô Cương cũng nên làm điều gì mới phải. Trương Tử cần gì, xin cứ nói ra. Nếu là thứ Vô Cương có, ắt sẽ cung kính dâng tặng Trương Tử!”

Trương Nghi ngẫm nghĩ một lát, rồi nhìn thẳng vào Vô Cương: “Muốn xin đại vương một thanh bảo kiếm, giữ làm kỷ niệm!”

“Chuyện này dễ thôi!” Vô Cương bèn đứng dậy. “Trương Tử hãy vào phòng kiếm lựa chọn!”

Hai người theo tư kiếm lại trở vào phòng kiếm. Vô Cương chỉ vào vô số bảo kiếm đủ màu đủ vẻ, nói với Trương Nghi: “Toàn bộ số kiếm đều ở đây, ngoài Thuần Quân là di vật tiên vương để lại, Vô Cương không dám tặng, còn những kiếm khác, Trương Tử cứ tuỳ ý lựa chọn!”

Trương Nghi vòng tay nói: “Đa tạ đại vương.”

Vô Cương rất mực hào hứng, bước lên trước đích thân giới thiệu: “Trương Tử, thanh kiếm này Trương Tử đã xem rồi, là kiếm của Văn Chủng. Thanh kiếm trước mặt kia, Trương Tử có biết là của ai không? Là của Tôn Vũ Tử! Nghe nói kiếm này, Ngô Vương Hạp Lư đã từng dùng, sau tặng lại cho Tôn Vũ Tử, Tôn Vũ Tử đã dùng nó để chém hai ái phi của Hạp Lư…”

Trương Nghi lần lượt ngắm nghía từng thanh kiếm, song vẫn chưa ưng kiếm nào. Đã sắp đi hết một vòng, bỗng hai mắt Trương Nghi sáng bừng lên, nhìn chăm chú vào một thanh bội kiếm trang trí vô cùng tinh xảo.

Vô Cương cười vang mà nói: “Kiếm này có tên là kiếm Mỹ Nhân, do Ngô Vương Phù sai tặng cho mỹ nữ Tây Thi.”

Trương Nghi cầm thanh kiếm lên, ngắm nghía kỹ lưỡng một hồi, rồi quay sang nói với Vô Cương: “Trương Nghi xin chọn kiếm này!”

Vô Cương ngẩn ra một thoáng, rồi lập tức bật cười: “Dám hỏi Trương Tử, kiếm này để tặng mỹ nhân chăng?”

“Đại vương thánh minh!” Trương Nghi cười đáp.

Vô Cương bật cười sảng khoái: “Mọi người nói Vô Cương là kẻ si kiếm, còn Trương Tử hẳn là kẻ si tình.”

Trương Nghi thoáng đỏ mặt, vòng tay nói: “Bị đại vương chê cười rồi!”

Vô Cương lại cười vang, rồi nói: “Không nói chuyện này nữa, Vô Cương còn có một chuyện muốn thỉnh giáo Trương Tử.”

“Nghi biết sẽ không dám giấu!”

Vô Cương nhìn Trương Nghi, ánh mắt rất mực chân thành: “Vô Cương đã nát óc suy nghĩ mấy ngày qua, vẫn không tài nào hiểu được thuật ‘xuất phát sau mà đến trước’ của Trương Tử. Ở đây không có người ngoài, Vô Cương khẩn cầu Trương Tử chỉ giáo đôi điều.”

“Chỉ giáo thì không dám!” Trương Nghi ngẫm nghĩ một lát rồi mỉm cười nói. “Nghi hỏi đại vương, khi xuất kiếm, kiếm ở đâu?”

Vô Cương trả lời ngay: “Đã xuất kiếm, kiếm tất nhiên ở trong tay!”

Trương Nghi lắc đầu.

Vô Cương ngơ ngác “Kiếm không ở trong tay thì ở đâu?”

“Kiếm ở trong tâm!”

“Kiếm ở trong tâm?” Vô Cương rõ ràng không hiểu, trợn tròn hai mắt nhìn Trương Nghi.

“Đúng vậy!” Trương Nghi chỉ tay vào tim, ngưng khí tĩnh thần mà nói. “Kiếm ở trong tay, tâm không động kiếm động; kiếm ở trong tâm, kiếm không động tâm động.”

Vô Cương chau mày ngẫm nghĩ hồi lâu, đột nhiên bừng tỉnh: “Lời của Trương Tử, Vô Cương đã hiểu ra rồi! Kiếm động tâm không động, ý nói kiếm đã phát, song tâm chưa tới. Kiếm không động tâm động, ý nói, kiếm chưa phát, tâm đã tới. Tâm tức là ý niệm, Trương Tử coi trọng kiếm ý hợp nhất, kiếm động theo tâm!”

“Đại vương thánh minh!” Trương Tử vòng tay chúc mừng. “Thiên nhân hợp nhất, có thể thành đạo nhân; kiếm ý hợp nhất, có thể thành kiếm nhân!”

“Phải lắm, phải lắm!” Vô Cương gật đầu lia lịa, thán phục nói. “Kiếm có nhanh đến mấy, cũng không thể nhanh bằng ý niệm. Trương Tử quả là đệ nhất kiếm sĩ trong thiên hạ, Vô Cương bội phục!”

“Tạ ơn đại vương quá khen.”

Trương Nghi từ biệt Vô Cương, ngồi vương xa trở về quán trọ, chẳng khác nào anh hùng khải hoàn.

Hương Nữ, Kinh Sinh và đám người hầu thân cận ra tận cổng đón, đồng loạt khấu bái. Trương Nghi xuống xe, đỡ Hương Nữ dậy, kéo tay nàng vào trong phòng, gỡ lấy thanh kiếm đang đeo bên hông, đưa cho nàng mà nói: “Hương Nữ, hãy xem ta mang về thứ gì?”

Hương Nữ đón lấy xem, thấy bao kiếm nạm toàn ngọc ngà châu báu, hoa mỹ khôn tả. Vừa rút kiếm khỏi bao, đã kinh ngạc kêu lên thất thanh: “Trời ơi, kiếm Tây Tử!”

Trương Nghi cười vang mà nói: “Xin hỏi Hương Nữ, kiếm này thế nào?”

Hương Nữ mừng rỡ nói: “Bảo kiếm trong thiên hạ, kiếm của trượng phu đứng đầu là Thuấn Quân, còn kiếm của nữ tử, chính là thanh này đứng đầu!”

“Đúng rồi!” Trương Nghi cười hỏi. “Hương Nữ đã biết kiếm này, có thích nó chăng?”

Hương Nữ từ nhỏ đã yêu kiếm như mạng, nhìn thấy bảo kiếm nhường này, làm gì có chuyện không thích, lập tức gật đầu lia lịa, sắc mặt ngây ngất.

“Hay quá!” Trương Nghi cười nói. “Nếu nàng thích, nó sẽ thuộc về nàng!”

“Thuộc về thiếp?” Hương Nữ sửng sốt, nhìn Trương Nghi ngờ vực. “Kiếm này là bảo bối của Việt Vương kia mà!”

“Hôm qua là của Việt Vương,” Trương Nghi trịnh trọng gật đầu, “hôm nay là của Hương Nữ!”

Hương Nữ thận trọng tra kiếm vào bao, hỏi khẽ: “Là Việt Vương tặng cho phu quân ư?”

“Không phải! Không phải!” Trương Nghi lắc đầu. “Là ta xin của Việt Vương.”

“Là xin về cho thiếp ư?” Hương Nữ ngẫm nghĩ một lát, rồi nghiêng đầu hỏi.

“Cứ cho là vậy đi!” Trương Nghi trả lời, rồi dường như sực nhớ ra điều gì, phì cười mà nói. “Để có được kiếm này, ta đã bị Vô Cương kia cười giễu một trận đấy!”

“Ồ?” Hương Nữ ngỡ ngàng. “Việt Vương cười gì vậy?”

“Ông ta cười ta là kẻ si tình!”

Nghe thấy hai chữ “si tình”, Hương Nữ hai mắt nhìn sững vào Trương Nghi, nước mắt ứa ra, rồi từng bước tiến lại, ngả đầu vào ngực Trương Nghi, nghẹn ngào cất tiếng gọi: “Phu quân!”

Thấy Hương Nữ xúc động như vậy, tình tứ như vậy, Trương Nghi bất giác khép hờ hai mắt, trong trí não bỗng chập chờn hiện lên hình bóng Ngọc Thiền, sóng lòng dồn dập từng cơn, đưa tay vuốt nhẹ mái tóc mềm của Hương Nữ, khẽ thì thầm: “Thiền Nhi, Trương Nghi vô phúc, chỉ có thể chúc phúc cho nàng!”

Hương Nữ nghe thấy, ngẫm đi nghĩ lại, vẫn mơ hồ không hiểu, bèn ngẩng đầu hỏi: “Phu quân, Thiền Nhi là ai thế?”

Trương Nghi nhìn ra ngoài, thần tình ngơ ngẩn: “Thiền Nhi là ai, nàng không biết được đâu!”

Thấy Trương Nghi hai mắt đăm đăm nhìn ra bên ngoài, Hương Nữ bèn đưa mắt nhìn theo, thấy có một gốc cây lớn giữa sân, liền sực nhớ ra, nói: “Hương Nữ biết rồi, Thiền Nhi mà phu quân nhắc tới hẳn là loài côn trùng chuyên ăn sương, hay ca hát, thường náu mình dưới tán cây. Có điều, người Ngô nước thiếp không gọi nó là ‘thiền nhi’, mà gọi là ve sầu. Bởi hễ tới mùa hè, chúng cứ kêu ‘ve ve’ rền rĩ suốt ngày tới đêm.”

“Ồ!” Trương Nghi vẫn nhìn ra ngoài, khẽ thở dài một tiếng, giọng đầy tâm sự. “Ve sầu không phải là Thiền Nhi. Nàng chỉ biết ve sầu, chứ đâu biết được Thiền Nhi?”

Hương Nữ ngẩn ra một thoáng, rồi gật đầu mà nói: “Phải, phải, phải, Hương Nữ biết rồi. Hẳn là trong Quỷ Cốc, mỗi khi tới khoảng hè thu, ngày ngày đều nhìn thấy ve bay, đêm đêm đều nghe tiếng ve kêu. Phu quân nhìn gốc cây kia, hẳn lại nhớ đến Quỷ Cốc!” Dừng lại một lát, nói tiếp. “Hiện giờ đang là cuối xuân, không có ve sầu. Song phu quân yên tâm, đợi khi hè tới, Hương Nữ nhất định sẽ bắt vài con cho phu quân, để chúng ngày ngày ca hát cho phu quân nghe.”

Trương Nghi thu ánh mắt lại, nở một nụ cười gượng gạo, đang định nói thì Kinh Sinh bước vào phòng, thấy hai người đang thân mật, vội dừng bước. Trương Nghi nghe tiếng bước chân, bèn đẩy Hương Nữ ra, quay sang Kinh Sinh, nói: “Kinh huynh, chuẩn bị xe ngựa lên đường.”

“Vâng,” Kinh Sinh đáp. “Cô gia, đi đâu?”

“Sính Đô!”

“Lão nô tuân lệnh!”

***

Sính Đô nước Sở, phía nam giáp Giang Thuỷ, phía đông nối liền với đầm Vân Mộng, phía tây liền kề núi Ba Sơn, phía bắc trông sang Vũ Đương, Đồng Bách, sản vật phong phú, vị trí thuận lợi, thời Sở Văn Vương đã dời đô từ Đan Dương tới đây. Tới thời Uy Vương, trải qua hơn ba trăm năm, Sính Đô đã dân cư đông đúc, vô cùng phồn thịnh.

Cách Sính Đô bốn mươi dặm về phía đông nam có một đầm rộng, gọi là đầm Vân Mộng. Bên đầm có một đồi đất lớn, hai trăm năm trước, Sở Linh Vương đã cho hưng công xây dựng, lập nên một hành cung ở đây, gọi là cung Chương Hoa. Cung Chương Hoa chu vi bốn mươi dặm vuông, bên trong có một đài, cao tầm ba mươi nhẫn. Khi đài Lang Nha chưa xây dựng, đây là kiến trúc cao nhất trong liệt quốc. Tương truyền, sau khi xây xong đài này, Linh Vương đã triệu hơn ba nghìn cung nữ, người làm vườn và nô bộc tới sống ở đây. Linh Vương thích người eo thon, phi tần trong cung đua nhau nhịn ăn thắt bụng cho nhỏ, ai nấy yếu ớt đến gió thổi cũng ngã, mỗi khi leo lên đài này, phải nghỉ chân đến ba lần. Bởi vậy đài này còn được gọi là đài Tam Hưu (ba lần nghỉ), cung Chương Hoa còn được gọi là cung Tế Yêu (eo nhỏ).

Giống như các Sở Vương khác, Sở Uy Vương Hùng Thương cũng rất yêu thích cung này, mỗi năm cứ vào tháng hai giữa xuân đều rời Sính Đô tới đây, ở lại cho tới tháng năm giữa hè. Trong khoảng thời gian này, mọi việc lớn nhỏ trong triều đều giao cho thái tử xử lý.

Giờ đang lúc cuối xuân đầu hạ. Ăn trưa xong, Uy Vương tuổi đã quá ngũ tuần đang vui đùa với đám cung nga trong đình Quan Ba trên đài Tam Hưu. Uy Vương mắt bịt vải đen, hết sờ bên này lại chụp bên kia. Một phi tử và bảy tám cung nga vây xung quanh Uy Vương, cười đùa khanh khách, nhanh nhẹn tránh né.

Đúng lúc này, thái tử Hùng Hoè đang thay phụ vương xử lý chính sự ở Sính Đô hốt hoảng sải bước lên đình, nội tể mặt mày kinh hãi theo sát phía sau. Thấy cảnh tượng này, thái tử Hoè đứng khựng lại. Phi tử và đám cung nga đang khúc khích cười nói, nhìn thấy thái tử, đều thẹn thùng xấu hổ, nâng tay áo lên che mặt, vội vã tránh sang một bên.

Sở Uy Vương đột nhiên không nghe thấy tiếng cười đùa nữa, vừa mò mẫm tìm kiếm, vừa gọi: “Ái phi, ái phi!” Thái tử chậm rãi quỳ xuống, lạy ba lạy, trầm giọng nói: “Nhi thần khấu kiến phụ vương!”

Sở Uy Vương giật phăng mảnh vải đen, thấy thái tử đang quỳ trên đất thì có phần bối rối, trừng mắt nhìn nội tể, rồi quay sang đám phi tần, nghiêm giọng quát: “Còn không mau lui ra?”

Phi tử và đám cung nga vội vàng rút lui.

Sở Uy Vương bước tới trước bàn, ngồi xếp bằng xuống: “Bình thân!”

Thái tử Hoè tạ ơn phụ vương, còn chưa kịp đứng lên đã vội bẩm tấu: “Khởi bẩm phụ vương, nhi thần có việc quân tình khẩn cấp muốn tấu báo!”

Sở Uy Vương đã lấy lại vẻ uy nghi: “Nói mau, có phải chiến sự Hạng Thành?”

“Là biên ải cấp báo!”

Sở Uy Vương chau tít đôi mày: “Biên ải nào?”

“Biên ải Đông Việt!” Thái tử Hoè lần trong ống tay áo, lấy ra thư cấp báo, hai tay dâng lên Sở Vương. “Biện tướng quân trấn giữ Chiêu Quan cấp báo, đại quân phạt Tề của nước Việt đã rời Lang Nha vào ba mươi ngày trước, chia quân thành hai lộ, chuyển hướng xuống phía nam, thình lình tấn công ta!”

“Gì kia?” Sở Uy Vương cầm lấy cấp báo, chưa kịp xem đã kinh hãi rụng rời, vội hỏi. “Bao nhiêu binh mã?”

“Mười lăm vạn bộ binh, năm trăm cỗ chiến xa, hai trăm tàu chiến cỡ vừa, vô số tàu chiến cỡ nhỏ, đa phần vận chuyển binh khí và lương thảo, theo Giang Thuỷ ngược lên, không tới mười ngày, sẽ tới Trường Ngạn. Nếu không bị cản trở, ba mươi ngày nữa, sẽ theo đường thuỷ tới đầm Vân Mộng, uy hiếp Sính Đô. Bộ binh một khi đã công phá được Chiêu Quan, tất sẽ ồ ạt xông vào, hô ứng với thuỷ binh.”

Sở Uy Vương chau mày suy nghĩ, một lát sau, ngẩng lên hỏi: “Hạng Thành có tin tức gì không?”

Thái từ Hoè do dự một lát, rồi chậm rãi nói: “Chiêu Dương vẫn đang giằng co với người Ngụy ở tuyến Trường Bình, Chiêu Lăng, hôm kia dâng biểu tấu, nếu muốn đánh bại người Ngụy, thu phục Hình Sơn, cần tăng cường năm vạn binh.”

“Hừm!” Sở Uy Vương lập tức sầm mặt, hừ mũi một tiếng. “Hắn đã làm tổn thất sáu vạn tinh binh, còn dám mở miệng xin viện trợ!”

“Phụ vương!” Thái tử Hoè vội nói. “Hiện tại, sự việc nguy cấp không phải ở Hạng Thành, mà là ở người Việt!”

“Đúng vậy!” Sở Uy Vương gật đầu, vẻ mặt trầm ngâm, an ủi thái tử Hoè. “Người Việt nhất thời vẫn chưa thể đánh đến đây ngay được, Hoè Nhi không phải quá nóng vội. Con hãy mau về cung ổn định triều cục, truyền lệnh cho Cảnh Xá gấp rút tới Chương Hoa!”

“Nhi thần tuân chỉ!”

Nhìn theo bóng thái tử Hoè xa dần, Sở Uy Vương từ từ khép mắt lại, một lát sau, cất tiếng gọi lớn: “Người đâu!”

Nội tể vội vã chạy lại, quỳ xuống đất, khấu đầu nói: “Có lão nô!”

Sở Uy Vương lạnh lùng hỏi: “Ngươi biết tội chưa?”

Nội tể lại dập đầu, khóc mà rằng: “Lão nô biết tội! Lão nô đã ngăn điện hạ lại, bảo điện hạ ở ngoài chờ, để lão nô vào bẩm báo với bệ hạ, nhưng điện hạ lòng như lửa đốt, không chịu nghe lão nô!”

“Nếu quả là vậy, quả nhân tha cho ngươi một mạng. Từ nay trở đi, bất kể là ai, hễ muốn lên đài, đều phải bẩm báo với quả nhân. Người nào trái lệnh, xử tội kháng chỉ!”

Nội tể lại dập đầu: “Lão nô tạ ân tha tội của bệ hạ!”

“Mật chiếu cho hai vị trụ quốc Chiêu Dương, Khuất Vũ, mau chóng trở về Sính Đô, yết kiến quả nhân!”

“Lão nô lĩnh chỉ!”

Tại Sính Đô, cung thành nước Sở được bao bọc bởi ba dòng sông. Một dòng chảy qua trước cổng chính không xa có tên Lệ Thuỷ, rộng khoảng vài trượng, nước trong biếc lững lờ, bên bờ liễu rủ thướt tha, trăm hoa khoe sắc. Một dãy phố được xây kề mặt nước, ở gần cung thành có một quán trọ xa hoa, tên là lầu Thê Phượng.

Gần tới trưa, một cỗ xe ngựa hào nhoáng dừng lại trước cửa lầu Thê Phượng. Thị vệ thân tín, cũng là nam sủng của thái tử Hoè là Ngận Thượng nhảy xuống khỏi xe, sải bước vào trong. Vài người chờ sẵn liền bước ra đón, sau khi hành lễ, bèn dẫn hắn lên lầu. Đất Kinh ẩm thấp, đặc biệt là những quán trọ gần sông kiểu này, bởi vậy, nhã phòng đa phần được bố trí ở lầu trên.

Có một người đang ngồi ngay ngắn trong phòng, chính là Kinh Sinh.

Thấy Ngận Thượng bước vào, Kinh Sinh liền đứng dậy, vòng tay nói: “Tại hạ Kinh Sinh bái kiến Ngận đại nhân!”

Ngận Thượng đáp lễ: “Ngận Thượng xin chào Kinh tiên sinh.”

Kinh Sinh chỉ vào chỗ trên cùng, nói: “Ngận đại nhân, mời ngồi!”

Ngận Thượng cũng không khách sáo, tiến lên vài bước, khoanh chân ngồi xuống. Thấy Kinh Sinh cũng đã yên vị, Ngận Thượng mới lấy từ trong ống tay áo ra một tờ bái thiếp đặt lên mặt bàn, nói thẳng vào chuyện: “Có phải bái thiếp này là của Kinh tiên sinh?”

“Đúng vậy!” Kinh Sinh ôm quyền đáp. “Tại hạ mạo muội làm phiền Ngận đại nhân, mong đại nhân lượng thứ!”

Ngận Thượng ôm hờ quyền, coi như đáp lễ: “Tại hạ và Kinh tiên sinh vốn không quen biết, Kinh tiên sinh muốn gặp tại hạ, không biết muốn chỉ giáo điều gì?”

“Đại nhân có biết Công Tôn nhục lâm?”

Ngận Thượng hai mắt sáng rực: “Biết tiếng đã lâu! Nghe nói một nửa số thịt của nước Sở là do Công Tôn nhục lâm cung cấp, có phải vậy chăng?”

“Chỉ là tin đồn mà thôi!” Kinh Sinh mỉm cười. “Công Tôn nhục lâm chẳng qua chỉ cung cấp thịt cho hai mươi tư ấp ở phía bắc nước Sở.”

“Cung cấp thịt cho hai mươi tư ấp?” Ngận Thượng kinh ngạc. “Kinh doanh như vậy đã đủ lớn lắm rồi! Vậy Kinh tiên sinh đây là…”

“Tại hạ bất tài, phụng mệnh của Công Tôn tiên sinh, tạm thời cai quản việc kinh doanh của Công Tôn nhục lâm.”

Ngận Thượng lập tức sinh lòng kính nể, liền ôm quyền chúc mừng: “Kinh tiên sinh có tài kinh doanh một cửa hàng lớn như vậy, tại hạ bội phục!”

“Cảm tạ Ngận đại nhân đã quá khen!” Kinh Sinh đáp lễ, dõng dạc nói. “Nhờ sự che chở của Ngận đại nhân, mấy năm qua, cửa hàng kinh doanh mới được tàm tạm. Chuyến này tại hạ tới Sính Đô, Công Tôn tiên sinh năm lần bảy lượt dặn dò tại hạ phải gặp bằng được đại nhân để cảm tạ ân huệ cất nhắc!”

“Che chở?” Ngận Thượng ngỡ ngàng. “Kinh tiên sinh hẳn đã hiểu nhầm rồi, tại hạ chưa từng quen biết Công Tôn tiên sinh, sao lại nói là che chở?”

“Đại đức thường không nói!” Kinh Sinh ôm quyền nói. “Ngận đại nhân giúp đỡ rất nhiều song không kể công lao, thực khiến tại hạ khâm phục!”

Ngận Thượng càng kinh ngạc: “Tại hạ ngu muội chưa hiểu, xin Kinh tiên sinh nói rõ!”

“Đại nhân hẳn có biết Cảnh Thuý tướng quân?”

Ngận Thượng gật đầu: “Cảnh tướng quân là bạn của tại hạ!”

“Năm năm trước, đại nhân và Cảnh Thuý tướng quân cùng tới Uyển Thành, phải chăng đã từng khen ngợi thịt Uyển Thành?”

Ngận Thượng ngẫm nghĩ một lát, rồi gật đầu nói: “Ờ, hình như là có chuyện này. Ngày đó uống rượu, nhắm với thịt Uyển Thành, cảm thấy mùi vị tươi ngon, chủng loại phong phú, đã từng nói với Cảnh Thuý như vậy.”

“Chính là nhờ đó!” Kinh Sinh cười nói. “Lời khen ngợi của Ngận đại nhân lập tức truyền tới tai quận thú Nam Dương là Cảnh Hợp tướng quân, Cảnh tướng quân vừa nghe thấy, lập tức hạ lệnh, giao cho Công Tôn nhục lâm cung cấp thịt cho hai mươi tư ấp thuộc quận Nam Dương!”

Ngận Thượng kinh ngạc hỏi: “Thực có chuyện này ư?”

“Đều là sự thực!” Kinh Sinh lấy từ dưới bàn ra một hộp lễ vật trang trí tinh xảo, kính cẩn đẩy tới trước mặt Ngận Thượng. “Công Tôn tiên sinh cảm tạ đại ân cất nhắc của đại nhân, đã muốn báo đáp từ lâu, song chưa có dịp. Nay tại hạ đưa cô gia, tiểu thư nhà tại hạ tới Sính Đô, Công Tôn tiên sinh thành tâm chuẩn bị chút lễ mọn này để cảm tạ đại nhân. Lễ vật tuy ít, thành ý lại nhiều, mong đại nhân không chê.”

Ngận Thượng mở nắp hộp, nhìn thấy bên trong có hai mươi hạt ngọc trai quý hiếm, giá trị khó lòng ước lượng, vội vòng tay nói: “Kinh tiên sinh… lễ vật của Công Tôn tiên sinh lớn như vậy, tại hạ làm sao dám nhận?”

“Đại nhân chớ khách sáo!” Kinh Sinh vòng tay đáp lễ. “Cô gia nhà tại hạ đã nói, nếu có thể kết giao với đại nhân, dù có bỏ ra nghìn vàng cũng không tiếc.”

Ngận Thượng lại ôm quyền nói: “Xin Kinh tiên sinh hãy chuyển lời tới cô gia nhà tiên sinh, nói rằng người bạn này, Ngận Thượng mong muốn được kết giao!”

“Cảm tạ đại nhân!”

“Xin hỏi Kinh tiên sinh, cô gia, tiểu thư chuyến này tới Sính Đô, phải chăng có chuyện muốn tại hạ giúp đỡ?”

Kinh Sinh thoáng ngần ngừ, rồi gật đầu nói: “Đại nhân đã hỏi vậy, tại hạ cũng xin nói thật, cô gia đúng là có việc muốn cậy nhờ đại nhân!”

“Vậy ư?” Ngận Thượng nhìn Kinh Sinh. “Chỉ cần nằm trong khả năng của tại hạ, tại hạ sẵn sàng giúp đỡ. Kinh tiên sinh xin cứ nói!”

Kinh Sinh bật cười, nói: “Chuyện này nói ra, cũng có chút nực cười. Cô gia là kẻ mê cờ bẩm sinh, không hiểu nghe đâu mà biết được điện hạ kỳ nghệ cao siêu, nên đã không quản nghìn dặm tới Sính Đô, muốn được thỉnh giáo điện hạ!”

“Điện hạ kỳ nghệ cao siêu?” Ngận Thượng lấy làm ngạc nhiên, ngẫm nghĩ một lát, rồi lắc đầu nói. “Tại hạ hầu hạ điện hạ đã nhiều năm, chưa từng thấy điện hạ chơi cờ với ai. Không biết cô gia nhà tiên sinh nghe được tin này ở đâu?”

Kinh Sinh lắc đầu: “Tại hạ cũng không rõ!”

Ngận Thượng ngẫm nghĩ một lát, rồi đậy nắp hộp lễ vật lại, đẩy trả Kinh Sinh: “Kinh tiên sinh, thỉnh cầu của cô gia, tại hạ e rằng không thể phục tùng. Hậu lễ của Công Tôn tiên sinh, cũng xin Kinh tiên sinh…”

Kinh Sinh lại đẩy hộp lễ vật về phía Ngận Thượng, cười nói: “Ngận đại nhân, lễ vật cảm tạ của Công Tôn tiên sinh và lời thỉnh cầu của cô gia là hai việc hoàn toàn khác nhau, xin đại nhân chớ từ chối!”

“Vậy…” Ngận Thượng thoáng ngần ngừ. “Chuyện của cô gia, tại hạ biết làm thế nào đây?”

Kinh Sinh bèn lấy từ trong tay áo ra một bức thư: “Chỉ cần đại nhân chuyển giúp bức thư này tới tay điện hạ, cô gia cũng đã cảm kích lắm rồi!”

Ngận Thượng nhận lấy phong thư, cẩn thận xem kỹ một lượt, lấy làm sửng sốt, ngẩng lên hỏi: “Xin hỏi Kinh tiên sinh, là thư gì vậy?”

“Đại nhân yên tâm!” Kinh Sinh cười nói. “Thư này do đích thân cô gia nhà tại hạ viết, chắc chắn không có ngôn từ mạo phạm. Cô gia nói rằng, chỉ cần điện hạ đọc được lá thư này, sẽ đích thân tới quán trọ mời cô gia tới nói chuyện.”

Ngận Thượng trầm ngâm rất lâu, cuối cùng vòng tay nói: “Tiên sinh đã nói vậy, tại hạ sẽ tin. Kinh tiên sinh, nếu không có việc gì nữa, tại hạ xin cáo lui!” Rồi cất bức thư vào trong ống tay áo, vòng tay vái tạ, bước xuống cầu thang.

Kinh Sinh cầm lấy hộp lễ vật, đi theo sau, tiễn lên xe, vòng tay từ biệt.

Tại một nhã thất khác trên tầng hai, Hương Nữ vén rèm cửa sổ, nhìn thấy Ngận Thượng đã lên xe, bèn quay sang hỏi Trương Nghi: “Phu quân, chuyện này có chắc chắn không?”

Trương Nghi thò đầu ngó ra ngoài, nhìn theo xe Ngận Thượng, khẽ mỉm cười, rồi trở vào trong phòng, chỉ vào cây đàn trên bàn, nói: “Mấy ngày nay, nàng gảy đàn đã tiến bộ nhiều, cần phải tập luyện chăm chỉ hơn mới được!”

Hương Nữ khẽ “vâng” một tiếng, quay trở về ngồi trước cây đàn.

Trong điện thái tử cung Sở, thái tử Hoè đang bàn chuyện quân tình nguy cấp với ba vị ái tướng trẻ tuổi vừa phụng mệnh tới nơi là Cảnh Thuý, Khuất Cái và Phùng Hầu Sửu, thì Ngận Thượng hấp tấp bước vào, dập đầu nói: “Vi thần khấu kiến điện hạ!”

“Ngận Thượng!” Thái tử Hoè lừ mắt nhìn hắn. “Ba vị tướng quân đây đã tới từ rất sớm, bản cung sai người đi tìm ngươi khắp nơi mà không thấy, ngươi đã đi đâu?”

“Khởi bẩm điện hạ,” Ngận Thượng đưa mắt nhìn Cảnh Thuý, nói, “Vi thần nhận được thiệp mời, tới gặp bạn của Cảnh tướng quân!”

“Bạn của tại hạ?” Cảnh Thuý sửng sốt. “Là ai vậy?”

“Là một người họ Kinh, từ Diệp Thành tới!”

Cảnh Thuý vội nói: “Có phải là Kinh tiên sinh, chủ cửa hàng Công Tôn nhục lâm không?”

“Đúng vậy!”

Thái tử Hoè sầm mặt xuống: “Chỉ là một tên bán thịt, cớ sao lại đến mời ngươi?”

“Khởi bẩm điện hạ,” Ngận Thượng trả lời, “người này có một cô gia tên gọi Trương Nghi, là sĩ tử Trung Nguyên, tinh thông kỳ nghệ. Người này chẳng hiểu nghe đâu mà nói rằng điện hạ kỳ nghệ cao siêu, nên đã tới Sính Đô, muốn thỉnh giáo điện hạ. Kinh tiên sinh không biết Cảnh tướng quân đã về Sính Đô, nghe nói vi thần hầu hạ điện hạ, nên sai người tới tận phủ gửi thư xin gặp.”

“Muốn thỉnh giáo kỳ nghệ của bản cung?” Thái tử Hoè thoáng ngạc nhiên, rồi cười nhạt một tiếng. “Quốc nạn trước mắt, đừng nói là bản cung không giỏi chơi cờ, mà dù có giỏi thì lúc này cũng chẳng còn tâm trí đâu mà nghĩ tới chuyện này!” Quay sang Ngận Thượng. “Ngươi trả lời hắn thế nào?”

“Khởi bẩm điện hạ,” Ngận Thượng đảo con ngươi một vòng, “Vi thần nghe vậy, cảm thấy nực cười. Song nể mặt Cảnh tướng quân, nên nín nhịn không nổi cáu, chỉ thoái thác rằng điện hạ bận việc nước, thời gian đâu mà đánh cờ, bảo hắn mau rời khỏi đất Sính, tới nơi khác mà tìm.”

Thái tử Hoè gật đầu: “Trả lời rất hay! Sau đó thì sao?”

“Người họ Kinh đó vẫn không chịu thôi, lại rút từ trong tay áo ra một bức thư, muốn nhờ vi thần chuyển tới điện hạ, còn nói rằng điện hạ xem xong thư này, chắc chắn sẽ dành thời gian vàng ngọc, đích thân tới quán trọ trò chuyện với cô gia nhà hắn.”

Mọi người đều trợn mắt kinh ngạc.

Thái tử Hoè chậm rãi quay sang Ngận Thượng, hỏi: “Thư đâu?”

Ngận Thượng lấy ra phong thư từ trong tay áo, quỳ gối tiến lên vài bước, hai tay dâng lên thái tử Hoè.

Thái tử Hoè bóc thư ra xem, thấy bên trong là một vuông lụa, trên vuông lụa chỉ vẻn vẹn tám chữ: “Điện hạ muốn đánh cờ thiên hạ chăng?”

Thái tử Hoè biến ngay sắc mặt, vội vàng gấp vuông lụa lại, nhét vào trong ống tay áo, quay sang Ngận Thượng: “Người này hiện ở đâu?”

“Khởi bẩm điện hạ, đang ở trong một quán trọ bên bờ Lệ Thuỷ.”

Thái tử Hoè vội vàng đứng dậy: “Mau, chuẩn bị xe tới đó, bản cung muốn nói chuyện với hắn!”

“Vi thần tuân lệnh!”

Tại tiền điện trên đài Chương Hoa, Sở Uy Vương đứng trước bản đồ lãnh thổ nước Sở rộng lớn, chau tít đôi mày, đứng im lìm bất động. Nội tể đứng hầu phía sau. Lệnh doãn Cảnh Xá tay chống gậy, đứng ở bên phải.

Từ hôm ái tử Cảnh Hợp tử trận ngoài biên cương, Cảnh Xá già đi trông thấy, râu tóc bạc trắng gần hết, bình thường hiếm khi ra khỏi cửa, việc nước cũng chẳng nhìn ngó tới. Hôm nay người Việt tập kích biên cương, Uy Vương gấp rút triệu ông ta đến, nên Cảnh Xá mới chống gậy, vội vội vàng vàng lên đài Chương Hoa.

Trên bản đồ đánh dấu rất nhiều mũi tên, tuyến Hạng Thành, Hình Sơn phía bắc là người Ngụy, tuyến Phòng Lăng phía tây là người Ba, thung lũng Thương Ư phía tây bắc là người Tần. Mũi tên của người Ngụy chỉ thẳng vào Hạng Thành, Phương Thành, mũi tên của người Ba chỉ vào Phòng Lăng, uy hiếp Sính Đô, mũi tên của người Tần chỉ vào nhiều hướng, Hán Trung, Tương, Đặng, Uyển. Còn có hai mũi tên ở phía đông, rõ ràng mới thêm vào, to lớn hơn hẳn, một mũi tên men theo Giang Thủy tiến lên, là lộ thuỷ quân của người Việt; một mũi tên men theo Giang Bắc tiến lên, là lộ lục quân của người Việt. Hai mũi tên này gần như tiến lên song song, đã bức bách tới Chiêu Quan, hướng đến đầm Vân Mộng.

Sở Uy Vương chăm chú quan sát những mũi tên này, một lúc sau, quay sang nội tể hỏi: “Chiêu Dương, Khuất Vũ lúc nào mới tới?”

“Khởi bẩm bệ hạ,” nội tể đáp, “nếu đúng như dự tính, Chiêu đại nhân giờ Ngọ ngày mai sẽ tới, Khuất đại nhân giờ Thân ngày kia sẽ tới.”

Sở Uy Vương “ừm” một tiếng, ánh mắt quay trở lại bản đồ, đăm chiêu một hồi, rồi ngoảnh sang Cảnh Xá, khẽ than thở: “Than ôi, quả nhân hối hận đã không nghe lời lão ái khanh, nóng vội phạt Tống, không những tổn thất sáu vạn binh, lại còn để mất Hình Sơn, đúng là nơi nơi bị động!”

Cảnh Xá nước mắt chảy dài, từ từ quỳ xuống, giọng nói nghẹn ngào: “Bệ hạ đã biết hối hận, lão thân cũng thấy được an ủi!”

“Lão ái khanh mau bình thân!” Sở Uy Vương hai tay đỡ Cảnh Xá dậy, dìu ông lại trước bàn ngồi xuống, còn mình ngồi vào vị trí chủ, nhìn Cảnh Xá mà nói. “Cục thế trước mắt, lão ái khanh cũng đã thấy rồi, người Ngụy cướp Hình Sơn của ta, người Tần chiếm Thương Ư của ta; Ba, Thục khởi giao tranh, người Ba tiến về phía đông, bức bách Phòng Lăng của ta. Quả nhân đang lòng rối như tơ vò, người Việt lại theo đường thuỷ đánh tới, đúng là hoạ vô đơn chí!” Rồi thở ngắn than dài một chặp. “Lão ái khanh, quả nhân suy đi tính lại, thấy đã hết cách rồi. Nay triệu lão ái khanh tới, là muốn nghe thử ý kiến của lão ái khanh!”

“Muôn tâu bệ hạ,” Cảnh Xá bẩm tấu. “Hai người giao tranh, người nào mạnh sẽ thắng; hai nhà giao tranh, nhà nào đông sẽ thắng; hai đội quân giao tranh, bên nào có tướng mưu trí sẽ thắng. Hành quân bố trận, không ở quân đông lương nhiều, mà ở tướng quân mưu trí. Ngụy có Bàng Quyên, ta khó lòng địch lại kẻ này. Người Tần chiếm Thương Ư, trong thời gian ngắn sẽ không còn sức để tiếp tục đánh ta nữa. Ba, Thục khởi tranh, kẻ địch của người Ba là Thục, không phải là ta, tuy tiến về phía đông, song không có gì đáng sợ. Hiện tại, kẻ địch đáng gờm duy nhất của ta là người Việt. Người Việt tập tục gần giống với ta, lại rất hiểu ta, mà quân tinh nhuệ của ta lại tập trung hầu hết ở tây và bắc, trung tâm trống rỗng, không kham nổi một đòn. Người Việt gần biển, quen sông nước thuyền bè, giỏi thuỷ chiến, thuỷ quân xưa nay thiên hạ vô địch thủ. Còn ta, gần đây chỉ lo tranh giành Trung Nguyên, chú trọng bộ binh và kỵ binh, không quan tâm tới thuỷ binh, hầu như không có thuỷ binh chiến đấu. Nếu người Việt ngược dòng Giang Thuỷ tiến lên, thế tất ồ ạt tiến thẳng, qua đầm Vân Mộng tiến vào đột kích Sính Đô.”

“Lão ái khanh nói rất đúng!” Sở Uy Vương gật đầu lia lịa. “Phòng ngự địch thế nào, lão ái khanh đã có kế sách gì hay không?”

“Theo ý lão thần,” Cảnh Xá lập tức nói ra kế hoạch mà mình đã tính toán sẵn từ trước, “ta có thể di dời đô thành, rời xa đầm Vân Mộng, tạm thời né tránh thuỷ quân của người Việt, tránh để lặp lại tai hoạ của nước Ngô năm xưa.”

Sở Uy Vương hơi chau mày: “Dời đô có thể tránh được thuỷ quân của người Việt, song lục quân của người Việt, làm thế nào đây?”

“Khởi bẩm bệ hạ,” Cảnh Xá chậm rãi nói, “từ thời Câu Tiễn tới nay, giữa Sở, Việt tuy nói là có quấy nhiễu xâm phạm lẫn nhau, song chưa hề xảy ra chiến tranh lớn. Việt Vương Vô Cương sau khi kế vị, đã coi người Tề là kẻ thù, lấy việc tranh giành Trung Nguyên làm quốc sách, không xâm phạm tới vùng sông nước của ta. Lần này chỉ trong một đêm, người Việt đã quay ngoắt đầu lại, chuyển hướng tấn công ta, thực sự khiến lão thần khó mà hiểu nổi. Bệ hạ, có quả tất có nhân, lão thần cho rằng, ta có thể tránh né mũi nhọn của họ, rồi sai sứ thần tới Việt, tìm ra nguyên do trong đó, cầu hoà với người Việt, may ra có thể biến can qua thành ngọc lụa, dùng hai lượng chống nghìn cân.”

“Ý của lão ái khanh là cầu hoà với người Việt! Vậy… còn người Ngụy thì sao?”

“Cũng có thể cầu hoà!”

Sắc mặt Sở Uy Vương càng thêm sa sầm, hồi lâu mới “hừm” một tiếng: “Đại Sở ta trải qua nhiều đời chinh chiến, lãnh thổ mở rộng vài nghìn dặm. Vậy mà tới đời quả nhân, trước tiên để mất Thương Ư, sau lại mất Hình Sơn, quân đội tổn thất, đất nước chịu nhục, bốn bề bị tấn công, vậy mà lão ái khanh phía đông cầu hoà, phía tây cầu hoà, phía nam, phía bắc cũng muốn cầu hoà, bảo quả nhân trăm năm sau, còn mặt mũi nào dám gặp liệt tổ liệt tông?”

“Khởi bẩm bệ hạ,” Cảnh Xá vẫn thong thả nói, “Lão thần không hề nói là cầu hoà phía tây!”

Sở Uy Vương thoáng kinh ngạc, hơi ngả người về phía trước: “Ý lão ái khanh là, phía tây đánh lấy Ba, Thục?”

“Bệ hạ thánh minh!” Cảnh Xá gật đầu. “Ba, Thục dọc ngang hai nghìn dặm, có nhiều kỳ trân dị bảo, thóc gạo dồi dào, càng là tấm bình phong che chắn phía tây cho ta. Nếu ta nhân lúc họ nội chiến, chia quân chiếm lấy, vừa trừ bỏ được mối lo phía tây, lại giành được nghìn dặm đất đai màu mỡ, há chẳng phải tốt đẹp lắm ư?”

Sở Uy Vương nhắm mắt trầm ngâm suy nghĩ một lát, rồi đứng dậy nói: “Lão ái khanh nói rất phải! Tuy nhiên, đây là việc hệ trọng, quả nhân cần cân nhắc thêm. Ái khanh tuổi cao, lại phải đi xa vài chục dặm đường, hẳn cũng đã mệt, hãy về thiên điện nghỉ ngơi trước!”

Cảnh Xá đứng lên, từ từ quỳ xuống, dập đầu nói: “Bệ hạ vạn an, lão thần cáo lui!” Rồi run rẩy chống gậy lui ra.

Hai thái giám nhìn thấy, vội bước lại đỡ lấy Cảnh Xá. Cảnh Xá hất tay hai người ra, tự mình bước xuống đài Tam Hưu. Đài Tam Hưu có tổng cộng hai trăm bốn mươi bậc, cứ tám mươi bậc lại có một đài phẳng đề nghỉ chân. Cảnh Xá bước xuống chưa tới bốn mươi bậc đã mệt lử, ngồi phịch xuống bậc thang thở hồng hộc. Thở một chặp, lại đứng lên định đi tiếp, thì từ xa nhìn thấy thái tử Hoè dẫn theo Trương Nghi hối hả bước lên bậc thang.

Cảnh Xá bèn đứng nguyên tại chỗ đợi, thấy thái tử lên tới nơi, bèn cúi gập người xuống vái chào: “Lão thần bái kiến điện hạ.”

Thái tử Hoè đáp lễ: “Ái khanh miễn lễ!”

Cảnh Xá liếc mắt nhìn Trương Nghi, rồi quay sang thái tử Hoè nói: “Lão thần cáo lui!” Không đợi thái tử đáp lễ, đã chống gậy bước xuống bậc thang, đầu gậy nện vào nền đá cồm cộp.

Trương Nghi đứng trên bậc thang, nhìn theo bóng Cảnh Xá hồi lâu, thấy ông ta bước xuống bốn mươi bậc thang nữa lại ngồi xuống đài Nhị Hưu thở phì phò, lúc này mới quay đầu lại nói với thái tử Hoè: “Dám hỏi điện hạ, người này phải chăng là lệnh doãn đại nhân?”

Thái tử Hoè cũng thu ánh nhìn lại, gật đầu nói: “Chính là Cảnh ái khanh!”

Trương Nghi khen ngợi: “Cây gậy trong tay lệnh doãn đại nhân quả là gậy tốt, hẳn được làm từ gỗ lim!”

Thái tử Hoè cười nói: “Trương Tử nhầm rồi! Ở nước Sở, gỗ lim chỉ dùng làm quan tài, không dùng làm gậy chống bao giờ. Cây gậy của Cảnh ái khanh được làm bằng gỗ tử đàn.”

“Ồ?” Trương Nghi cũng cười một tiếng. “Là Trương Tử hoa mắt rồi! Chẳng hiểu sao vừa nãy nhìn cây gậy, lại cứ cảm thấy nó được làm từ gỗ lim.”

Thái tử Hoè dường như cũng đã hiểu ra hàm ý sâu xa trong lời nói của Trương Nghi, khẽ thở dài một tiếng: “Cảnh ái khanh là nguyên lão tam triều, đã ở tuổi thất thập cổ lai hy, quả già yếu lắm rồi! Trương Tử, lên đài thôi!”

Hai người sải bước lên đài, đi thẳng tới chính điện. Đã có người vào trong bẩm báo, nội tể cũng vừa bước ra nghênh đón.

Thái tử Hoè dừng bước, quay sang Trương Nghi nói: “Trương Tử chờ ở đây một lát, đợi bản cung vào tấu với phụ vương, sẽ lập tức mời Trương Tử!”

Trương Nghi vòng tay nói: “Điện hạ vất vả rồi!”

Thái tử Hoè đi theo nội tể vào trong điện. Trương Nghi đứng chờ bên ngoài một lát thì nội tể quay trở ra, dõng dạc tuyên trước cửa: “Bệ hạ có chỉ, truyền sĩ tử Trung Nguyên Trương Nghi yết kiến!”

Trương Nghi chỉnh trang áo mũ, đi theo nội tể, sải bước vào trong chính điện.

Sở Uy Vương đang ngồi ngay ngắn trong điện, thái tử Hoè đã ngồi vào chỗ phía dưới bên trái. Trên mặt bàn phía trước Uy Vương đã bày sẵn một bàn cờ, trên bàn để hai hộp cờ đen trắng, chỗ đối diện còn trống, hiển nhiên là dành cho Trương Nghi.

Trương Nghi vội vã bước lại, quỳ xuống cách Uy Vương chừng năm bước chân, lạy liền ba lạy, dập đầu nói: “Sĩ tử Trung Nguyên Trương Nghi khấu kiến bệ hạ!”

Sở Uy Vương quan sát kỹ Trương Nghi một lượt, mỉm cười nói: “Quả nhân rất yêu thích đạo tung hoành. Nghe thái tử nói, Trương Tử kỳ nghệ cao siêu, thiên hạ vô địch, quả nhân trong lòng ngưỡng mộ, hôm nay có nhã ý bày bàn cờ tại đây, mong Trương Tử vui lòng chỉ giáo!”

Trương Nghi lại bái lạy mà nói: “Là điện hạ đã yêu lầm! Bệ hạ quá khen, Nghi hổ thẹn không dám nhận!”

Sở Uy Vương lại cười nói: “Trương Tử chớ khiêm tốn!” Rồi chỉ tay vào chỗ trống trước mặt. “Trương Tử bình thân, ngồi đi!”

Sở Uy Vương cầm lấy hộp cờ quân trắng, đẩy hộp cờ bằng gỗ đàn hương đựng quân đen về phía Trương Nghi: “Trương Tử là khách, mời đi trước!”

Trương Nghi cảm tạ, đỡ lấy hộp, lấy ra một quân, cầm trên tay, hai mắt nhìn chăm chăm vào bàn cờ.

Uy Vương đợi một lát, thấy Trương Nghi vẫn lần chần chưa hạ quân cờ xuống, bèn ngẩng nhìn Trương Nghi hỏi: “Cớ sao Trương Tử chưa hạ cờ?”

“Khởi bẩm bệ hạ,” Trương Nghi đáp, “Nghi đang xem thế cờ này!”

Uy Vương ngạc nhiên: “Quân cờ còn chưa hạ, chỉ là một bàn cờ trống không, làm gì có thế cờ?”

“Bệ hạ hãy xem,” Trương Nghi chỉ tay vào bàn cờ trống không, “tuy là bàn cờ trống, song ngang dọc đan xen, dọc có đạo dọc, ngang có đạo ngang, thế cờ không đâu không có.”

Uy Vương chăm chú nhìn vào bàn cờ, một lát sau, từ từ đặt quân cờ trắng trong tay xuống, ngẩng nhìn Trương Nghi: “Quả nhân ngu muội, xin Trương Tử giải thích rõ!”

“Nghi dám hỏi bệ hạ, đã muốn đánh cờ, hẳn biết đạo cờ?”

“Ồ?” Uy Vương sửng sốt. “Cờ cũng có đạo ư?”

“Vạn vật đều có đạo,” Trương Nghi dõng dạc nói. “Cờ mô phỏng trời đất, tương truyền do thánh nhân thời thượng cổ quan sát đạo trời đất mà chế thành, đương nhiên cờ cũng có đạo. Trời tròn nên quân cờ tròn, đất vuông nên bàn cờ vuông. Vạn vật bắt đầu từ một, một tức là vị trí thiên nguyên. Bàn cờ có tổng cộng ba trăm sáu mươi nước đi, tượng trưng cho số của một năm. Chia ba trăm sáu mươi thành bốn, để mô phỏng bốn mùa. Mỗi góc gồm chín mươi đường, tượng trưng cho số ngày trong một mùa gồm ba tháng; quân phân trắng đen, để phân biệt âm dương. Bàn cờ vuông mà tĩnh, quân cờ tròn mà động. Tự cổ chí kim, chưa từng có hai thế cục giống hệt nhau, tương hợp với ‘Dịch’, ẩn dụ về sự biến hoá của đạo trời.”

Trương Nghi giảng giải hùng hồn theo đúng như những gì đã học được từ Quỷ Cốc Tử trước hôm ly biệt. Sở Uy Vương nghe mà ngây người trố mắt, rồi ôm quyền cung kính nói: “Nghe nói Dịch Thu là đệ nhất kỳ thủ trong thiên hạ, không ai địch nổi. Nghe lời bàn của Trương Tử, quả là sánh ngang với Dịch Thu! Trương Tử không quản đường sá xa xôi nghìn dặm tới đây, liệu có thể chỉ giáo cho quả nhân chăng?”

Trương Nghi ôm quyền đáp lễ, nói: “Nghi tạ ơn bệ hạ khen ngợi!” Rồi lấy ra một quân cờ, ngẩng nhìn Uy Vương. “Dám hỏi bệ hạ, đánh cờ lớn, hay cờ nhỏ?”

Sở Uy Vương lại một phen sửng sốt, trầm ngâm một lát, hỏi lại: “Cờ nhỏ là sao?”

Trương Nghi đặt quân cờ vào một góc: “Cờ nhỏ có thể trấn giữ một góc. Xây thành nối liền tạo thành góc kiên cố, tu bổ trường thành tạo thành cạnh kim cương, vui vẻ hoan hỷ bên trong, cao lớn vững chãi không thể xâm phạm.”

Sở Uy Vương dường như đã hiểu, gật đầu hỏi: “Vậy… còn cờ lớn?”

Trương Nghi thu quân cờ vừa đặt ở góc lại, “cạch” một tiếng đặt ngay vào vị trí thiên nguyên ở trung tâm bàn cờ: “Cờ lớn có thể chiếm cứ thiên nguyên, trên ứng với thiên đạo, dưới thuận theo địa lý, giữa hợp với lòng dân, giữ một mà vỗ yên bốn góc!”

Lời vừa dứt, Sở Uy Vương toàn thân chấn động, mắt nhìn Trương Nghi không chớp, dường như muốn nhìn thấu suy nghĩ trong tâm can vị sĩ tử trẻ tuổi đang ngồi trước mặt.

Trương Nghi cũng nhìn Sở Vương chăm chú, bốn mắt giao nhau.

Lát sau, Sở Uy Vương đặt quân cờ trong tay xuống, ngả người ra phía sau, từ tốn nói: “Tài của Trương Tử, quả nhân thực sự kính phục. Trương Tử là người am hiểu đạo cờ, quả nhân kiến thức nông cạn, chỉ có thể đánh cờ nhỏ, không thể đánh cờ lớn, đành phải khiến Trương Tử thất vọng!”

Thấy Sở Uy Vương có vẻ muốn từ chối, Trương Nghi lo lắng trong lòng, bèn vòng tay nói: “Người có thể giữ một mà vỗ yên bốn góc, ắt phải là người có đại đức đại lực. Nghi nhìn khắp thiên hạ, người có thể chiếm cứ thiên nguyên, ngoài bệ hạ không còn ai khác.”

Sở Uy Vương khẽ lắc đầu: “Vị trí thiên nguyên sớm đã do Chu thất chiếm giữ. Người Sở tuy không phục Chu, song các đời đều tôn Chu, quả nhân sao có thể như tu hú chiếm tổ chim khách?”

“Bệ hạ có chỗ lầm rồi!” Trương Nghi ra sức biện giải. “Vị trí thiên nguyên tuy từng thuộc về Chu thất, song Chu thất nay thế đã yếu, sức đã tàn, bốn phía không còn được bảo vệ, dẫn đến thời loạn, thiên hạ thất đạo, nhạc hoại lễ băng. Những nước nhỏ bé như Ngụy, Tề sớm đã nổi dậy thay thế. Tống Công Yển chiếm giữ vùng đất nhỏ hẹp như viên bi, cũng dám xưng vương, còn bệ hạ…”

“Than ôi,” Sở Uy Vương im lặng một lát, lại lắc đầu than thở. “Lời Trương Tử tuy đúng, xong quá cao siêu, quả nhân đức mỏng sức yếu, quả là tâm có dư mà lực không đủ!”

Nghe thấy ba chữ “tâm có dư”, Trương Nghi lập tức nở nụ cười, lại vòng tay nói: “Bệ hạ, đạo trời ở một, duy có lấy một để thông suốt, mới đạt tới hoà hợp. Nay thiên hạ thất đạo thiếu đức, từ một sinh nhiều, từ nhiễu sinh loạn, tới mức loạn tượng rối ren, trăm họ lầm than, dân chúng đói khổ. Đạo trời đã sinh ở một, tất quy về một. Thiên hạ nhất thống, là chỗ mà đại thế thuận theo, lòng dân hướng về. Bệ hạ đức, lực kiêm toàn, tự khắc nên thuận thiên ứng mệnh, thực thi đại ái cho dân, cứu bách tính thoát khỏi hoạ nước lửa, chớ nên quá khiêm tốn.”

Sở Uy Vương nhổm người về phía trước, hỏi: “Đức và lực của quả nhân ở chỗ nào?”

Trương Nghi vòng tay nói: “Bệ hạ có đại lực mà không khởi binh, để bảo tồn Chu thất, đủ thấy là có đại đức. Còn lực của bệ hạ, liệt quốc không ai sánh bằng. Lãnh thổ của bệ hạ đông tây năm nghìn dặm, nam bắc năm nghìn dặm, các nước Trung Nguyên gộp lại cũng không bằng một nửa Kinh Sở, đây là điều thứ nhất. Sở thóc gạo dồi dào, cá thịt phong phú, ngũ kim tự chế tạo, châu báu tự khai thác, liệt quốc Trung Nguyên không ai theo kịp, đây là điều thứ hai. Dân Sở hơn nghìn vạn, dũng mãnh thiện chiến, sẵn sàng xả thân vì nước, liệt quốc Trung Nguyên không ai địch nổi, đây là điều thứ ba. Bệ hạ quang minh chính đại, điện hạ quả cảm anh hùng, quần thần tài giỏi trung thành, chư tướng dũng mãnh đa mưu, đây là điều thứ tư. Bệ hạ có được bốn cái lợi này, đương nhiên là người mạnh nhất thiên hạ.”

“Ha ha ha!” Sở Uy Vương đột nhiên ngả người ra phía sau, phá lên cười lớn một tràng dài. “Nghe nói Trung Nguyên là nơi sinh ra vô số nhân tài hùng biện, hôm nay xem ra, Trương Tử chính là một trong số đó. Tài miệng lưỡi thì không có gì sai, song Trương Tử không hiểu rõ nội tình nước Sở, chỉ biết thao thao khoác lác, ăn nói to tát, e là hơi quá rồi!”

“Dám hỏi bệ hạ,” Trương Nghi cười cười, “những lời Trương Nghi vừa nói, có chỗ nào là thao thao khoác lác?”

“Những câu khác khoan chưa tính đến, chỉ riêng cái lợi thứ nhất mà Trương Tử đưa ra, đã thấy sai bét rồi. Đất Sở phía tây tới Kiềm Trung, phía đông tới Chiêu Quan, không quá ba nghìn bảy trăm dặm, dựa vào đâu mà nói là đông tây năm nghìn dặm?”

Trương Nghi lại cười, dõng dạc nói: “Hồi bẩm bệ hạ, nếu phía đông tính tới Dũng Đông(1) thì sao?”

Sở Uy Vương lại bật cười ha hả: “Trương Tử tuy giỏi đánh cờ, song lại không biết Sở, Việt. Dũng Đông vốn là đất của người Việt, sao tự dưng lại tính là đất của quả nhân?”

Trương Nghi thu thần, nhìn thẳng vào Uy Vương, sắc mặt vô cùng nghiêm túc: “Lời bệ hạ vừa nói, chỉ là trước đây và hiện tại, còn Trương Nghi muốn nói tới tương lai!”

Sở Uy Vương trong lòng chấn động, vội thu nụ cười lại, nghiêng người về phía trước hỏi: “Xin hỏi Trương Tử, lời này nên hiểu thế nào?”

Trương Nghi ngồi ngay ngắn, ung dung nói: “Trong mắt Trương Nghi, Dũng Đông hiện nay thuộc về nước Việt, song không đầy một năm nữa, chắc chắn sẽ thành lãnh thổ của bệ hạ.”

Sở Uy Vương sững sờ trong chốc lát, mới hít vào một hơi thật sâu, vòng tay hướng về phía Trương Nghi nói: “Xin Trương Tử chỉ giáo!”

Trương Tử mỉm cười, lời đầy ẩn ý: “Người Việt kết bè kết đảng, tự tới đây tìm đường chết, bệ hạ sớm đã hiểu rõ trong lòng, hà tất phải vờ như không biết?”

Sở Uy Vương lại một phen kinh ngạc, trầm ngâm hồi lâu, đột nhiên bừng tỉnh, tinh thần phấn chấn hẳn lên, cười vang mấy tiếng: “Thế cờ lớn này của Trương Tử, quả nhân nhất định phải đánh!” Rồi quay sang thái tử. “Hoè Nhi, con mau đi lo liệu cơm rượu, bày sẵn bàn cờ trong đình Quan Ba, quả nhân sẽ tới đó đánh cờ với Trương Tử!”

Thái tử Hoè đứng dậy, dõng dạc đáp lời: “Nhi thần lĩnh chỉ!”

Trên phố lớn Sính Đô, vào lúc nhá nhem, thượng trụ quốc Chiêu Dương toàn thân giáp trụ, oai phong lẫm liệt đứng trên chiến xa.

Phu xe ra roi thúc ngựa, chiến xa lao băng băng qua vài con phố, rồi dừng lại trước phủ Chiêu Dương. Chiêu Dương xuống xe, sải bước vào trong cổng. Quản gia Hình Tài nghe thấy tiếng bước chân, vội vã dẫn nô bộc ra đón.

Chiêu Dương dừng bước, nói với Hình Tài: “Mau đi mời Trần thượng khanh tới đây!”

Hình Tài “vâng” một tiếng, quay người đi ngay. Để tiện cho việc qua đợi, Trần Chẩn đã mua một căn nhà đối diện chênh chếch với phủ Chiêu Dương. Không đầy một khắc sau, Hình Tài đã dẫn Trần Chẩn hối hả bước vào trong phủ, đi tới phòng khách. Chiêu Dương cũng vừa kịp rửa ráy xong xuôi, thay quần áo bước ra.

Trần Chẩn đứng thẳng, vòng tay chào: “Trần Chẩn bái kiến thượng trụ quốc đại nhân!”

Chiêu Dương không buồn đáp lễ, mặt nặng trình trịch bước tới vị trí chủ, khoanh chân ngồi xuống, đưa tay chỉ vào vị trí khách, lạnh nhạt nói: “Ngồi đi, không cần nghi lễ rườm rà!”

Trần Chẩn chần chừ một lát, rồi bước lại vị trí khách ngồi xuống.

“Hừm!” Chiêu Dương hằm hằm tức tối liếc xéo Trần Chẩn. “Đại lễ cái nỗi gì? Chức lệnh doãn cái nỗi gì? Chiêu mỗ đúng là có mắt như mù, có tai như điếc, chẳng hiểu ma xui quỷ khiến thế nào lại đi nghe lời thượng khanh, khởi binh phạt Tống, tổn thất sáu vạn binh tạm chưa tính đến, chỉ riêng chuyện mất mười ba thành Hình Sơn, Chiêu mỗ đã không còn mặt mũi nào nữa!”

“Trụ quốc đại nhân chớ tức giận,” Trần Chẩn vòng tay nói, “thất bại ở Hình Sơn, không phải lỗi của đại nhân, mà là lỗi của một mình Cảnh tướng quân.”

“Sao kia?” Chiêu Dương sửng sốt. “Lời này nên hiểu thế nào?”

“Theo Chẩn biết,” Trần Chẩn dõng dạc nói, “trụ quốc đại nhân chia quân hai lộ, để Cảnh tướng quân dẫn binh ẩn phục ở Hình Sơn, tránh thực đánh hư, từ xa tới đột kích Đại Lương, đó là thượng sách. Đáng tiếc là Cảnh tướng quân lại không nghe theo lệnh của trụ quốc đại nhân, giữa đường tự ý cho quân quay về, nên mới rơi vào bẫy của Bàng Quyên, dẫn tới toàn quân thảm bại, Hình Sơn thất thủ!”

“Phải, phải, phải!” Chiêu Dương gật đầu lia lịa. “Thượng khanh nói rất đúng. Nếu Cảnh Hợp đột kích Đại Lương, Bàng Quyên ắt rút quân về cứu viện, Chiêu mỗ điều quân trở về đánh giáp công, Bàng Quyên ắt phải khốn đốn, kết cục sẽ hoàn toàn trái ngược!”

“Than ôi!” Trần Chẩn than thở. “Xem ra, số mệnh đã an bài trụ quốc đại nhân phải chịu thất bại này! Có điều…” Nói đến đây, lại ngập ngừng.

Chiêu Dương vội hỏi: “Thượng khanh đại nhân xin cứ nói!”

Trần Chẩn kéo dài giọng, chậm rãi nói: “Tuy trận này thất bại, song với đại nhân, chưa hẳn đã là chuyện xấu.”

“Nói vậy là sao?”

“Đất Sở tuy rộng lớn, song cũng chỉ có ba dòng họ Cảnh, Khuất, Chiêu. Những năm gần đây, đất Sở tuy nói là ba họ hình thành thế chân vạc, song dòng họ nắm quyền thực sự lại là dòng họ Cảnh. Nay Cảnh tướng quân binh bại thân vong, lệnh doãn đại nhân già cả ốm yếu, hôm nay lại người đầu bạc khóc kẻ đầu xanh, dòng họ Cảnh sắp lụn bại không gượng dậy nổi. Họ Cảnh mất đi chỗ đứng, họ Khuất không có nhân tài, không tới vài năm nữa, làm mưa làm gió ở nước Sở, không phải đại nhân thì còn ai nữa?”

“Ồ…” Chiêu Dương chớp mắt liên hồi, hạ thấp giọng, vòng tay nói. “Lời của thượng khanh đại nhân chỉ có thể nói ở đây, nếu để người ngoài nghe thấy, dù Chiêu Dương có mười cái lưỡi, e rằng cũng khó lòng biện bạch.”

“Đại nhân yên tâm!” Trần Chẩn cũng vòng tay nói. “Tại hạ tuy bất tài, song cũng hiểu thế nào là hay dở. Trụ quốc đại nhân đối xử với tại hạ như anh em một nhà, tại hạ sao không biết phân biệt đúng sai?”

“Biết phân biệt đúng sai thì tốt!” Chiêu Dương cười nói. “Không giấu thượng khanh, trận chiến này tuy quân bại ở Hình Sơn, song nhìn về lâu dài, Chiêu mỗ quả thực lợi nhiều hơn hại! Hiện tại Hạng Thành chưa mất, Cảnh Hợp lại tử trận, Chiêu mỗ chưa cần thêm một binh một tốt, vẫn có thể giằng co với Bàng Quyên suốt vài tháng trời, cũng coi như đã có lời giải thích với bệ hạ. Nếu không, lần này gặp mặt bệ hạ, Chiêu mỗ chỉ còn cách nuốt kiếm tạ tội mà thôi!”

Trần Chẩn cười vang: “Lão Đam nói, hoạ là chỗ dựa của phúc, rất hợp với đại nhân đây! Có điều, trụ quốc đại nhân nếu muốn biến hoạ thành phúc hoàn toàn, còn cần thực thi một kế!”

“Ồ!” Chiêu Dương vội hỏi. “Là diệu kế gì vậy?”

“Người Kinh các vị nếu như tự mình thỉnh tội, sẽ làm thế nào?”

“Tuỳ theo mức độ nặng nhẹ. Nhẹ thì bồi thường tạ lỗi, nặng thì cởi trần lê gối, cõng gai thỉnh tội.”

“Nếu như vậy, trụ quốc đại nhân tốt nhất nên chịu khổ một phen, hãy thử chiêu cởi trần lê gối, cõng gai thỉnh tội.”

Chiêu Dương như bừng tỉnh, quay sang Trần Chẩn, vòng tay nói: “Phải lắm!” Lại suy nghĩ một hồi, gật gù. “Phải lắm, phải lắm! Tại hạ sẽ dâng biểu tấu lên bệ hạ chuyện Cảnh Hợp trái lệnh dẫn đến thảm bại, tấu rõ thành quả chiến đấu của tại hạ, công phá một cửa ải của người Tống, phá tan hơn hai mươi thành ấp của người Tống, chém đầu vài vạn người Tống, sau đó lại rút quân về bảo vệ Hạng Thành, chặn đứng quân Ngụy, khiến vài tháng qua, người Ngụy không dám tiến thêm nửa bước, công lao không hề nhỏ! Lần này trước mặt bệ hạ, tại hạ sẽ không kể lể công lao, ngược lại còn cởi trần lê gối, cõng gai thỉnh tội, bệ hạ lại chẳng…” Nghĩ tới kết cục tốt đẹp, liền bật cười ha hả.

Trần Chẩn chúc mừng: “Trụ quốc đại nhân lấy lùi mà tiến, tiền đồ thênh thang!”

Chiêu Dương vòng tay cảm tạ: “Nếu có tiền đồ, cũng là nhờ công lao của thượng khanh!” Bất chợt dừng lời, thu nụ cười lại. “Thượng khanh đại nhân, đừng nói chuyện này nữa. Tại hạ vừa trở về, đã mời thượng khanh tới ngay, là có việc hệ trọng muốn bàn bạc.”

“Có phải là chuyện người Việt tập kích biên cương không?” Trần Chẩn hỏi thẳng.

“Chính là chuyện này,” Chiêu Dương gật đầu. “Thượng khanh hẳn đã thấy, cục thế trước mắt vô cùng nguy cấp. Người Việt chia quân hai lộ tấn công thẳng tới, khí thế như vũ bão. Hình Sơn đã bị người Ngụy vây khốn, nhất thời khó lòng thoát thân, bệ hạ lần này lại gấp rút triệu tập tại hạ quay về, tại hạ quả thực tả hữu lưỡng nan, lo bên này mất bên kia!”

Trần Chẩn mỉm cười nói: “Một nhúm quân Việt cỏn con, không đáng để mắt!”

“Sao kia?” Chiêu Dương trợn trừng con mắt, ngả người về phía trước. “Dám hỏi thượng khanh, liệu có kế sách nào hay, xin chỉ giáo tại hạ?”

Trần Chẩn cúi gập người về phía trước, Chiêu Dương hiểu ý, cũng nhoài người lại.

Trần Chẩn thì thầm một hồi vào tai Chiêu Dương, Chiêu Dương gật đầu lia lịa, trên mặt dần lộ ra nụ cười hoan hỷ.

Ngày hôm sau, trời vừa hửng sáng, Chiêu Dương rửa mặt chải đầu xong xuôi, đi xe thẳng tới cung Chương Hoa.

Vừa qua giờ Thìn, Chiêu Dương đã tới dưới chân đài Tam Hưu, làm theo kế của Trần Chẩn, cởi áo, để lưng trần, sai thuộc hạ trói giật cánh khuỷu ra phía sau, xắn ống quần lên cao để trật đầu gối, trên lưng cắm vài cành gai nhọn, chậm rãi leo bậc thang lên đài Tam Hưu.

Đã có hoạn quan vào bẩm báo, nội tể nhận được tin liền bước ra đón, dẫn Chiêu Dương vào đình Quan Ba.

Khi còn cách đình khoảng ba mươi bước chân, Chiêu Dương quỳ xuống, lê bằng đầu gối tới đình Quan Ba, đến trước mặt Uy Vương hành lễ ba lạy chín dập đầu, khóc tu tu mà nói: “Tội thần Chiêu Dương khấu kiến bệ hạ!”

“Chiêu ái khanh,” Sở Uy Vương nhìn sững vào Chiêu Dương, có phần kinh ngạc, “khanh làm gì vậy?”

“Bệ hạ!” Chiêu Dương khóc mà nói. “Hình Sơn thất lợi, tổn binh thiệt tướng, đều là lỗi của vi thần, xin bệ hạ xử tội!”

Sở Uy Vương chậm rãi đứng dậy, bước tới trước mặt Chiêu Dương, đích thân cởi trói, vứt bỏ gai nhọn cắm trên lưng, đỡ Chiêu Dương ngồi dậy, rồi chậm rãi quay về chỗ, thở dài mà nói: “Hình Sơn đã mất, nếu truy cứu nguyên nhân, đương nhiên là lỗi của quả nhân. Ái khanh đã tận lực rồi, hà cớ còn phải cởi trần lê gối?”

“Bệ hạ,” Chiêu Dương lau nước mắt, “sáu vạn tướng sĩ, mười ba thành ấp, toàn bộ đều đã bị mất trong tay tội thần, tội thần có chết vạn lần cũng không đền được tội. Tội thần đáng chết, dù bệ hạ có không trách phạt, tội thần cũng không thể tha thứ cho mình!”

Sở Uy Vương vô cùng cảm động, than thở mà rằng: “Ái khanh, chuyện Hình Sơn, quả nhân cũng đã biết được nỗi khúc mắc trong đó. Ái khanh cực lực cứu vãn nguy cục, công lao không nhỏ, lại tự nhận lỗi về mình, không hề có ý che giấu, quả là hiếm có!”

“Bệ hạ!” Chiêu Dương bật khóc thành tiếng, nước mắt giàn giụa.

“Chuyện này coi như đã qua,” Sở Uy Vương đưa lại một tấm khăn lụa. “Hãy lau nước mắt đi! Quả nhân hôm nay cho triệu khanh tới, là có việc hệ trọng muốn bàn.”

Chiêu Dương cầm lấy khăn lụa, song không nỡ dùng, cẩn thận gấp lại, nhét vào trong tay áo, sau đó đưa ống tay áo lên quệt nước mắt, đổi ngồi thành quỳ: “Vi thần đa tạ long ân của bệ hạ!”

“Than ôi!” Uy Vương than thở. “Ái khanh, tình thế trước mắt, khanh cũng đã thấy rồi, quả nhân không nói nhiều nữa, chỉ muốn nghe ý kiến của khanh.”

“Khởi bẩm bệ hạ,” Chiêu Dương vòng tay nói, “vi thần cho rằng, người Việt chỉ có thể cầu hoà, không thể giao chiến. Người Ngụy chỉ có thể giao chiến, không thể cầu hoà.”

“Sao kia?” Sở Uy Vương cả kinh, ngẩng đầu nhìn Chiêu Dương. “Ái khanh hãy giải thích rõ hơn!”

“Việt với ta trăm năm nay chưa từng có xích mích, càng chưa một lần gây thù kết oán. Lần này đột nhiên quay ngoắt phạt ta, hẳn có nguyên do. Ta nên phái sứ giả tới doanh trại Việt, thăm dò thực hư, phân tích lợi hại, ban cho lợi ích, có lẽ Việt Vương sẽ đồng ý rút quân. Người Ngụy thì khác. Người Ngụy xâm phạm lãnh thổ của ta, đoạt hơn chục thành trì tại Hình Sơn, chiếm hơn trăm dặm lãnh thổ, giết hại hơn năm vạn tướng sĩ, cướp đi vô số lương thực, quân nhu của ta, mối thù này là không đội trời chung! Bệ hạ!”

Ngoài đánh Ngụy, ý kiến của Chiêu Dương giống hệt ý của lệnh doãn Cảnh Xá, điều này nằm ngoài dự liệu của Sở Uy Vương. Uy Vương trầm ngâm hồi lâu, rồi ngẩng lên hỏi: “Dù người Việt đồng ý rút lui, song người Ngụy có tướng tài Bàng Quyên, ái khanh thắng hắn thế nào đây?”

“Bệ hạ yên tâm, vi thần đã có kế đánh Ngụy!”

“Ồ!” Sở Uy Vương nhoài người về phía trước. “Là diệu kế gì vậy?”

“Tần, Ngụy lâu nay tranh giành Hà Tây, có mối thù không đội trời chung. Nếu ta kết minh với Tần, có thể trừ được mối hoạ phía tây bắc, như vậy, đại quân của Khuất Vũ sẽ có thể điều động. Nếu vi thần hợp binh với Khuất tướng quân, sẽ nắm được trong tay mười hai vạn binh, đừng nói là một Bàng Quyên, dù là hai Bàng Quyên, vi thần cũng có thể bắt sống!”

“Kết minh với người Tần?” Sở Uy Vương khẽ chau mày. “Người Tần cướp mất sáu trăm dặm sơn cốc Thương Ư của ta, món nợ này quả nhân còn chưa tính sổ, nói gì tới kết minh?”

“Bệ hạ,” Chiêu Dương giải thích, “kết liên minh chỉ là kế tạm thời. Đợi sau khi ta thắng Ngụy, sẽ quay lại tính toán với người Tần cũng chưa muộn.”

“Thế ngộ nhỡ…” Sở Uy Vương chau tít đôi mày, “nhỡ người Tần không chịu thì sao?”

“Bệ hạ yên tâm!” Chiêu Dương nhoài người về phía trước. “Người Tần cách ta một vùng núi lớn, dù muốn lấy ta, cũng là ngoài tầm tay với. Người Ngụy thì khác. Người Tần muốn mở thông đường tới Sơn Đông, người Ngụy đương nhiên sẽ cản đường, do vậy, đối thủ thực sự của người Tần không phải chúng ta, mà là người Ngụy. Vi thần đã gặp thượng khanh nước Tần là Trần Chẩn, hắn đảm bảo rằng, Tần Công thực lòng muốn kết minh với bệ hạ, hợp sức đối kháng với Ngụy. Chỉ cần bệ hạ có ý, Tần Công sẽ xuất quân tại Hà Tây trước, tập kích An Ấp, Hào Sơn. Ngụy Vương biết tin, ắt phải điều động đại quân của Bàng Quyên nghênh chiến với người Tần. Đợi Bàng Quyên tới Hà Tây, ta nhân cơ hội tấn công Đại Lương, khiến Bàng Quyên trở tay không kịp, không biết bỏ đâu cứu đâu!”

Sở Uy Vương trầm ngâm suy nghĩ, hồi lâu mới lên tiếng: “Chuyện này vô cùng hệ trọng, đợi quả nhân cân nhắc kỹ lưỡng, mới đưa ra quyết định được!”

Chiêu Dương đứng dậy, quỳ xuống bái lạy: “Vi thần cáo lui!”

Thấy Chiêu Dương đã đi xa, Sở Uy Vương gõ nhẹ lên mặt bàn: “Người đâu, mời Trương Tử vào!”

Không đầy một khắc sau, Trương Nghi đang ngồi đợi chỉ ở thiên điện gần đó đã vội vã tới nơi.

Hành lễ xong, Uy Vương đi thẳng vào chuyện: “Có người tấu xin quả nhân kết minh với Tần, cầu hoà với Việt, quyết chiến với Ngụy; lại có người tấu xin quả nhân cầu hoà với Việt, Ngụy, Tần, phía tây đánh chiếm Ba, Thục. Quả nhân thực lòng muốn nghe ý kiến của Trương Tử.”

“Khởi bẩm bệ hạ,” Trương Nghi vòng tay nói, “theo Nghi thấy, cầu hoà với Việt, quyết chiến với Ngụy, là hạ sách; cầu hoà với ba nước, phía tây đánh chiếm Ba, Thục, là trung sách.”

“Xin Trương Tử giải thích rõ hơn!”

“Cầu hoà với Việt, quyết chiến với Ngụy, chính là vứt bỏ miếng mỡ bên miệng mà đi tranh giành một khúc xương chắc chắn không thể đoạt được, nên Nghi cho là hạ sách; còn cầu hoà với ba nước, phía tây đánh chiếm Ba, Thục, chính là vứt bỏ hạt ngon trên tay, mà lục tìm quả hồng nẫu trong túi, Nghi cho là trung sách.”

“Ý Trương Tử là…” Uy Vương ngẫm nghĩ một lát, rồi nhổm người lên hỏi, “dù quả nhân và Tần Công có liên minh đánh Ngụy, hai phía giáp công, cũng không thể thắng được người Ngụy?”

“Bệ hạ!” Trương Nghi gật đầu. “Nếu muốn đánh Ngụy, trước hết phải hiểu Ngụy. Theo Nghi biết, nếu ba năm trước, bệ hạ muốn đánh Ngụy không thể không thắng; còn hiện nay nếu muốn đánh, lại không phải là thời điểm thích hợp”

“Ồ?” Uy Vương ngạc nhiên. “Trương Tử dựa vào đâu mà nói vậy?”

“Dựa vào nhân tài!” Trương Nghi dõng dạc nói. “Ngụy Văn Hầu chỉ có một mình Ngô Khởi, đã mặc sức tung hoành, mở rộng lãnh thổ nghìn dặm, liệt quốc không ai địch nổi. Nay hãy khoan nói đến Ngụy Vương có Bàng Quyên, chỉ tính riêng Tôn Tẫn, dù là Ngô Khởi tái thế, cũng chưa chắc đã thắng nổi.”

“Ồ?” Uy Vương lại nhổm người về trước hỏi. “Bàng Quyên nổi tiếng nhờ trận Hoàng Trì, quả nhân có biết. Còn Tôn Tẫn kia, xin hỏi Trương Tử, lẽ nào còn giỏi hơn cả Bàng Quyên?”

“Khởi bẩm bệ hạ!” Trương Nghi khẳng định chắc nịch. “Theo Nghi biết, tài của Tôn Tẫn, còn hơn Bàng Quyên đến chục lần.”

Uy Vương trợn trừng hai mắt, sững sờ hồi lâu mới định thần lại được: “Cớ sao Trương Tử biết được?”

Trương Nghi mỉm cười nói: “Hai người này đều là bạn học của Nghi, đều là học trò của Quỷ Cốc tiên sinh ở núi Vân Mộng, vì thế mà Nghi biết.”

Uy Vương hít vào một hơi thật sâu, sau đó từ từ thở hắt ra, gật đầu nói: “Quả nhân tin rồi!” Trầm ngâm một lát, lại chúi người về phía trước. “Xin hỏi Trương Tử, phía tây đánh chiếm Ba, Thục, vì sao lại là trung sách?”

“Xin hỏi bệ hạ,” Trương Nghi lại cười, “trên cây có hạt ngon, hiện có một người, chỉ cần với tay là hái được hạt ngon, đập vỡ vỏ là có thể ăn. Song người này lại bỏ đi không đoái hoài đến, mà lôi quả hồng nẫu cất trong túi ra ăn, liệu đó có phải là người sáng suốt chăng?”

Uy Vương ngẫm nghĩ một lát, rồi lắc đầu.

Trương Nghi nói tiếp: “Ba, Thục nội chiến, thế tàn lực kiệt, ví như quả hồng nẫu trong túi bệ hạ, sớm muộn gì cũng có thể lấy được. Người Việt không hiểu thời thế, tự dẫn xác tới tận cửa, khác nào hạt ngon trên cây. Lúc này nếu không hái xuống, để người Việt quay đầu chạy về, e rằng hối hận cũng không kịp!”

“Trương Tử nói rất phải!” Sở Uy Vương lớn giọng dứt khoát. “Quả nhân không đắn đo nữa, quyết định hoà Ngụy diệt Việt!”

Trên phố lớn Sính Đô, một cỗ ngựa phi nước đại lao tới, dừng lại trước trạch viện của Trần Chẩn. Một người áo đen nhảy xuống khỏi lưng ngựa, vội vã bước vào trong viện, giao cho Trần Chẩn một phong thư lụa, thì thầm vài câu vào tai Trần Chẩn, rồi quay người đi luôn.

Trần Chẩn mở thư ra đọc, lập tức cả kinh, chau tít đôi mày. Một lát sau, bên ngoài cửa có tiếng chân bước lại gần, quản gia tiến vào bẩm báo: “Bẩm đại nhân, Hình quản gia tới, nói là trụ quốc đại nhân có lời mời. Xem ra, việc cấp bách lắm rồi!”

“Biết rồi!” Trần Chẩn không buồn mở mắt. “Bảo quản gia đợi cho một lát, ta ra ngay đây!”

Trần Chẩn nhắm mắt suy nghĩ thêm một lúc nữa, rồi chầm chậm nhét bức thư vào trong ống tay áo, đứng dậy đi ra ngoài cổng, quả nhiên nhìn thấy Hình Tài đang sốt ruột đi đi lại lại trong sân, quản gia của Trần Chẩn thận trọng bám theo bên cạnh.

Thấy Trần Chẩn bước ra, Hình Tài vội khom lưng nói: “Thượng khanh đại nhân, mau lên, chúa công có lời mời!”

Trần Chẩn cũng cúi gập người đáp lễ: “Gia lão, mời!”

Trần Chẩn vội vã theo Hình Tài bước ra khỏi cổng, chưa đầy một khắc sau, đã tới phủ Chiêu Dương.

Chiêu Dương ngồi ủ rũ trong phòng, phía trước đặt một tờ chỉ dụ, thấy Trần Chẩn đến, vẫn không buồn ngẩng đầu lên. Trần Chẩn vòng tay vái chào: “Trần Chẩn bái kiến trụ quốc đại nhân!”

Chiêu Dương lúc này mới định thần, ngẩng lên nói: “Thượng khanh, mời ngồi!”

Trần Chẩn bước tới vị trí khách ngồi xuống, thấy Chiêu Dương mặt mày đờ đẫn như khúc gỗ, bèn hỏi nhỏ: “Trụ quốc đại nhân, xảy ra chuyện gì vậy?”

Chiêu Dương trỏ vào chỉ dụ trên bàn: “Thượng khanh xem đi!”

Trần Chẩn cầm lên, đọc lướt qua một lượt, đầu mày chau tít. Một lát sau, đặt chỉ dụ xuống, ngẩng nhìn Chiêu Dương.

“Hoà Ngụy diệt Việt?” Chiêu Dương lẩm bẩm. “Sao có thể như vậy được? Bệ hạ xưa nay luôn nghe theo kế sách của ta, lẽ nào…” Nói đến đây, đột nhiên run bắn người, ngước mắt nhìn Trần Chẩn.

“Lẽ nào sao kia?”

“Lẽ nào bệ hạ… bệ hạ vẫn nhớ tới thất bại ở Hình Sơn, không còn tin tại hạ nữa?”

Trần Chẩn nở một nụ cười, thủng thẳng đi từ bên trái sang bên phải, rồi lại lộn trở về.

Chiêu Dương sốt ruột, giục giã: “Thượng khanh có diệu kế nào chăng?”

Trần Chẩn lại cười: “Người Việt đóng quân ở Lang Nha, vốn muốn phạt Tề, song vào thời khắc then chốt lại quay ngoắt lại, chuyển hướng đánh ta, lẽ nào trụ quốc đại nhân không cảm thấy có gì kỳ lạ?”

Chiêu Dương chau mày: “Xin thượng khanh chỉ giáo!”

“Người Việt ngang tàng, song tính khí bộc trực, một khi đã đưa ra quyết định, quyết không bỏ dở giữa chừng, càng không dễ thay đổi dự tính ban đầu mà chuyển sang phạt ta!”

“Đúng vậy, tại hạ cũng đang rối trí vì chuyện này. Mấy năm qua, Vô Cương lúc nào cũng chỉ chăm chăm phạt Tề, không ngờ hôm nay lại đột ngột chuyển hướng, thượng khanh có biết nguyên nhân vì đâu không?”

Trần Chẩn gật đầu: “Việt Vương đột nhiên chuyển hướng, là vì mê muội tin lời một sĩ tử Trung Nguyên!”

“Ồ?” Chiêu Dương ngạc nhiên. “Hắn là ai?”

Trần Chẩn gằn giọng: “Trương Nghi!”

“Trương Nghi?” Chiêu Dương hai mắt tròn xoe. “Tại hạ chưa từng nghe nói tới người này!”

“Trung Nguyên nhân tài vô số,” Trần Chẩn chậm rãi nói, “còn nhiều nhân tài nữa mà trụ quốc đại nhân cũng chưa từng nghe nói tới. Chẳng hạn như lần này người Ngụy cứu Tống, đại quân không cần tới đất Tống, mà đánh thẳng vào Hạng Thành, buộc đại nhân phải tới cứu viện, đại nhân có biết mưu này của ai không?”

Chiêu Dương kinh ngạc hỏi: “Không phải là của Bàng Quyên ư?”

“Không phải, không phải!” Trần Chẩn lắc đầu quầy quậy. “Nếu là Bàng Quyên, ắt sẽ tới đất Tống, quyết chiến với đại nhân!”

“Lẽ nào là Tôn Tẫn?” Chiêu Dương sửng sốt. “Tại hạ dò la biết được hắn là giám quân!”

“Chính là người này!” Trần Chẩn khẳng định. “Theo tại hạ biết, Tôn Tẫn và Bàng Quyên đều là học trò của Quỷ Cốc Tử, Bàng Quyên là sư đệ, Tôn Tẫn là sư huynh, tài năng hơn hẳn Bàng Quyên.”

“Chậc chậc…” Chiêu Dương hít ngược một hơi khí lạnh. “May mà tại hạ án binh bất động, nếu không thì…”

“Hậu quả không thể tưởng tượng!” Trần Chẩn tiếp lời. “Không giấu đại nhân, Trần Chẩn ở Sính Đô, cũng mướt mồ hôi vì lo cho đại nhân!”

Chiêu Dương ngạc nhiên hỏi: “Thượng khanh đã biết, cớ sao ngay từ đâu không nói ra?”

Trần Chẩn biết mình nói hớ, đảo con ngươi một vòng, rồi khẽ than: “Trời ơi, không giấu trụ quốc đại nhân, những sự việc này, Trần Chẩn cũng vừa mới biết mà thôi, đang định bẩm báo đại nhân!” Rồi lôi bức thư từ trong ống tay áo ra. “Mời đại nhân xem!”

Chiêu Dương cầm lấy bức thư, đọc lướt qua một lượt, rồi nhìn Trần Chẩn với ánh mắt bàng hoàng: “Trương Nghi tự xưng là đệ nhất kiếm sĩ trong thiên hạ, tới đài Lang Nha tỷ kiếm với Việt Vương?”

“Đúng vậy!” Trần Chẩn gật đầu nói. “Kẻ này là quái tài!”

“Lẽ nào kiếm thuật của hắn cao siêu tới mức Việt Vương phải chịu thua, mới chuyển hướng phạt ta?”

“Không phải, không phải!” Trần Chẩn lại lắc đầu. “Theo tại hạ biết, Trương Nghi không hề giỏi kiếm thuật. Nếu tỷ kiếm thực sự, Vô Cương chỉ cần một chiêu đã có thể lấy mạng hắn.”

Chiêu Dương càng nghe càng hoang mang, ngẩng đầu nhìn Trần Chẩn: “Xin thượng khanh chỉ giáo!”

Trần Chẩn khẽ thở dài một tiếng, nói: “Theo tại hạ biết, tài của Bàng Quyên đã là vô địch thiên hạ, tài của Tôn Tẫn lại vượt xa Bàng Quyên. Còn tay Trương Nghi này, tài trí còn trên cả Tôn Tẫn. Việt Vương lần này đột ngột chuyển hướng, hẳn là bị kẻ này xúi giục!”

Chiêu Dương kinh hãi tới cứng họng líu lưỡi, mãi hồi lâu mới thốt nên lời: “Xin hỏi thượng khanh, người này hiện đang ở đâu?”

“Sính Đô!”

“Sính Đô?” Chiêu Dương càng thêm hãi hùng.

“Không chỉ ở Sính Đô, mà còn đang ở ngay bên cạnh bệ hạ!”

Chiêu Dương thình lình bừng tỉnh: “Thảo nào bệ hạ…” Đột nhiên khựng lại, bần thần một lúc, quay sang Trần Chẩn. “Xin hỏi thượng khanh, người này nếu đã dẫn sói vào nhà, cớ sao lại còn lặn lội tới Sính Đô? Lẽ nào là tới tranh công?”

Trần Chẩn nở một nụ cười âm hiểm: “Nếu đúng như suy đoán của tại hạ, người này tới Sính Đô, chỉ có một mục đích duy nhất, chính là xúi giục bệ hạ cầu hoà với Ngụy, khai chiến với Việt!”

“Gì kia?” Chiêu Dương cả kinh hỏi lại. “Vậy là sao?”

“Xin hỏi đại nhân,” Trần Chẩn nhoài người lên phía trước, “nếu Sở khai chiến với Việt, ai sẽ có lợi?”

Chiêu Dương buột miệng thốt lên: “Người Ngụy!”

“Xin hỏi tiếp đại nhân, dựa vào quân lực, quốc lực hiện tại của Ngụy, dù Bàng Quyên, Tôn Tẫn có giở hết bản lĩnh, liệu có thể ngăn chặn được hai nước lớn Tần, Sở đánh giáp công từ hai phía đông tây không?”

Chiêu Dương ngẫm nghĩ một lát, khẽ lắc đầu.

“Đúng vậy!” Trần Chẩn đi vào chuyện chính. “Trong trận chiến Hình Sơn, nước Ngụy đã không mất Tống, lại có được hơn chục thành ấp của Sở, thu được lợi lớn. Bàng Quyên, Tôn Tẫn e sợ bệ hạ kết minh với người Tần báo thù, vì thế mới mời Trương Nghi xuống núi, xúi giục Việt Vương tấn công Sở, dịch chuyển sự chú ý của bệ hạ. Đại nhân thử nghĩ mà xem, Bàng Quyên, Tôn Tẫn, Trương Nghi là bạn học của nhau, tình thân như anh em. Bàng Quyên là tướng Ngụy, Tôn Tẫn ở bên trợ giúp. Bàng, Tôn đều đang phò tá Ngụy thất, liệu Trương Nghi có thực lòng muốn giúp người Sở không?”

Chiêu Dương lập tức thông tỏ, quay sang Trần Chẩn vái một vái thật sâu: “Sự việc cực kỳ cấp bách, thượng khanh hãy đợi ở đây, để Chiêu Dương vào cung yết kiến bệ hạ!”

Trần Chẩn cũng đứng dậy, khom người đáp lễ: “Tại hạ chờ tin tốt lành!”

Chiêu Dương tự đánh chiến xa lao băng băng tới cung Chương Hoa, cuốn theo cát bụi mịt mù, hộc tốc vào cầu kiến Uy Vương, bẩm báo vắn tắt một lượt những thông tin mà Trần Chẩn vừa nói.

Uy Vương kinh ngạc: “Ý ái khanh là, Việt Vương chuyển hướng phạt ta, là do gian tế xúi giục?”

Chiêu Dương vội đáp: “Đúng vậy!”

Uy Vương khép hai mắt lại, ngẫm nghĩ một lát, rồi ngẩng lên hỏi: “Ái khanh biết tên gian tế này là ai không?”

“Khởi bẩm bệ hạ,” Chiêu Dương tiến lại gần, nói, “vi thần đã cho điều tra kỹ lưỡng, hắn là một sĩ tử Trung Nguyên tên gọi Trương Nghi.”

“Trương Nghi?” Sở Uy Vương giật bắn mình, trợn tròn hai mắt, nhìn sững vào Chiêu Dương.

Chiêu Dương trịnh trọng nói: “Chính là người này!”

Sở Uy Vương lại trầm ngâm suy nghĩ, một lát sau mới chậm rãi hỏi: “Ái khanh hẳn có biết Trương Nghi làm thế nào để xúi giục Việt Vương?”

“Bệ hạ!” Chiêu Dương trầm giọng xuống. “Việc này có thể hỏi Trương Nghi!”

“Phải!” Sở Uy Vương đăm chiêu gật gù, chậm rãi đứng dậy. “Quả nhân đúng là phải đi hỏi hắn mới được!” Bước vài bước, lại ngoảnh đầu lại. “Chiêu ái khanh, khanh hãy đi cùng quả nhân!”

Quân thần hai người đi tới thiên điện phía tây bắc đài Chương Hoa, từ xa đã nhìn thấy thái tử Hoè đang cười nói vui vẻ với Trương Nghi.

Nghe tiếng chân bước, Ngận Thượng đang đứng canh bên ngoài nhìn thấy Uy Vương, vội vã vào trong bẩm báo: “Điện hạ, bệ hạ giá lâm!”

Thái tử Hoè, Trương Nghi vội vã bước ra nghênh đón, khấu bái sát đất. Sở Uy Vương và Chiêu Dương lần lượt bước vào trong điện, phân ngôi vua tôi ngồi xuống.

Sở Uy Vương thần sắc nghiêm nghị, đưa ánh mắt nhìn thẳng vào Trương Nghi, nói: “Quả nhân có một chuyện không rõ, muốn tới đây thỉnh giáo Trương Tử!”

Trương Tử thấy Uy Vương sắc diện khác lạ, lại thấy Chiêu Dương tới cùng, trong lòng đã hiểu rõ, bèn chậm rãi nói: “Nghi biết sẽ không dám giấu!”

“Quả nhân nghe nói,” Sở Uy Vương mắt nhìn Trương Nghi không chớp, “Việt Vương đổi ý đánh xuống phía nam là do Trương Tử xúi giục, có chuyện này chăng?”

“Khởi bẩm bệ hạ,” Trương Nghi mỉm cười, khẽ gật đầu, “quả đúng là có chuyện này!”

Thái tử Hoè kinh hãi thất sắc: “Trương Tử…”

“Xin hỏi Trương Tử,” Sở Uy Vương vẫn bình thản như không, “có thể nói cho quả nhân biết, cớ sao Trương Tử lại xúi giục Việt Vương?”

“Bệ hạ,” Chiêu Dương cười nhạt một tiếng, “chuyện này đâu cần hắn nói!”

“Chiêu ái khanh!” Sở Uy Vương tỏ vẻ không vui, quay sang Chiêu Dương. “Không cần hắn nói, vậy khanh nói đi!”

“Khởi bẩm bệ hạ!” Chiêu Dương đảo con ngươi một vòng, cố ý không đả động tới Tôn Tẫn, tránh gây thêm rắc rối. “Vi thần đã điều tra kỹ lưỡng, Trương Nghi vốn là người Ngụy, là bạn cùng học với đại tướng quân nước Ngụy Bàng Quyên, đều là học trò của Quỷ Cốc Tử ở núi Vân Mộng. Trương Nghi lần này tới Sở, hẳn là sư huynh sư đệ họ thông đồng với nhau, muốn chiếm nước Sở ta!”

“Ồ!” Sở Uy Vương nhìn chằm chằm vào Chiêu Dương. “Khanh hãy nói thử xem, họ thông đồng hại ta thế nào?”

“Bệ hạ thử nghĩ mà xem!” Chiêu Dương hoa tay múa chân. “Người Tống vô đạo, vi thần lĩnh chỉ phạt Tống, người Ngụy thừa cơ xuất binh, tập kích Hạng Thành của ta, cướp lấy hơn chục thành trì ở Hình Sơn. Vi thần cấp tốc quay về chi viện, cứu được Hạng Thành, đang định quyết chiến với người Ngụy, lại nghe nói người Việt chuyển hướng phạt ta. Sự khuất tất, trong đó hẳn có thâm ý sâu xa, bệ hạ!”

Hai sự việc được Chiêu Dương xâu chuỗi rất mực khéo léo, Sở Uy Vương trong lòng đã hơi dao động, ngả người về phía trước: “Chiêu ái khanh, nói đi, có khuất tất gì?”

Chiêu Dương dõng dạc nói: “Vi thần cho rằng, Bàng Quyên tuy giành được chút thắng lợi ở Hình Sơn, song Ngụy đã kho lương cạn kiệt, quốc lực sớm đã trống rỗng. Sở dĩ Bàng Quyên từ xa tập kích Hạng Thành, mục đích là chiếm lấy lương thảo quân nhu của ta, may mà vi thần kịp thời về chi viện, nên hắn không thể đạt được mục đích. Vi thần giằng co với hắn vài tháng liền, biết rõ hắn không đủ sức quyết chiến với ta. Bàng Quyên lực không đủ mạnh, lại sợ người Tần thừa cơ xâm phạm phía đông, mới nghĩ ra một kế, mời sư huynh của hắn là Trương Nghi xuống núi, để hắn xúi giục Việt Vương, khiến người Việt quay đầu đánh ta, khiến ta không còn đủ sức lo đến nơi khác.”

Sở Uy Vương sắc mặt lạnh tanh, chiếu thẳng ánh mắt nghiêm khắc vào Trương Nghi.

Trương Nghi vẫn giữ nụ cười trên môi, chuyển ánh nhìn sang Chiêu Dương, ung dung nói: “Trụ quốc đại nhân xưa nay thông minh sáng suốt, cớ sao hôm nay đột nhiên hàm hồ đến vậy?”

Chiêu Dương giận dữ quát lớn: “Trương Nghi, ngươi chết đến nơi còn dám ở đây khua môi múa mép! Ta hỏi ngươi, Chiêu Dương ta hàm hồ chỗ nào?”

Trương Nghi vẫn tươi cười: “Theo lời tướng quân, Trương Nghi thân là người Ngụy, chắc chắn phải bày mưu tính kế cho người Ngụy?”

Trương Nghi vin vào điểm này chất vấn lại, Chiêu Dương vốn là người bộc trực, còn chưa hiểu rõ ý tứ của Trương Nghi, đã tự ỷ mình có lý, cười nhạt một tiếng, hỏi ngược lại: “Ngươi thân là người Ngụy, lẽ nào còn bày mưu tính kế cho người Sở?”

Trương Nghi đột ngột thu lại nụ cười, giọng nói trở nên đanh thép: “Nghe nói trụ quốc đại nhân tinh thông cổ kim, sao lại lãng quên quá khứ của nước Sở chóng vánh đến vậy? Ngũ Tử Tư thân là người Sở, lại coi Sở là kẻ thù, khiến nước Sở máu chảy thành sông, nhân dân đồ thán. Ngô Khởi không phải người Ngụy, song lại vì Ngụy mà đông chinh tây chiến, mở rộng lãnh thổ nghìn dặm. Từ xưa tới nay, chim khôn chọn cành mà đậu, danh sĩ chọn chủ mà theo, cớ sao lại phân nước Ngụy, nước Sở?”

Lời Trương Nghi nói đều là sự thực, Chiêu Dương nhất thời cứng họng không biết phản bác thế nào, lặng người hồi lâu mới rặn ra được một câu: “Được, được, chúng ta không nhắc tới người Ngụy, người Sở nữa. Ngươi thử nói xem, cớ sao lại xúi giục Việt Vương bỏ Tề phạt Sở?”

“Phải!” Sở Uy Vương quay sang Trương Nghi. “Quả nhân cũng muốn biết vì sao Trương Tử lại xúi giục Việt Vương?”

“Bệ hạ!” Trương Nghi quay sang Uy Vương, vòng tay nói. “Minh chủ tất mưu cầu thiên hạ, mưu cầu thiên hạ ắt phải hiểu rõ đại thế thiên hạ. Bệ hạ muốn thành đại nghiệp, tất phải tạo ra đại thế. Nước Sở tuy rộng lớn, song muốn bắc tiến mưu cầu liệt quốc, thế vẫn chưa đủ. Trương Nghi cho rằng, sách lược của nước Sở hiện nay, không nên bắc tiến tranh hùng, mà nên cường thân tráng thể. Lãnh thổ Ngô Việt nam bắc dài sáu nghìn dặm, đông tây dài hai nghìn dặm, thuyền bè, lúa gạo, tơ lụa, tôm cá dồi dào, sánh ngang với Đại Sở. Chuyện này tạm chưa tính đến, chỉ tính riêng chuyện Việt Vương Vô Cương được lòng người Việt, kế ngôi mới hơn chục năm đã khiến các tộc Ngô, Việt đoàn kết một lòng, mở rộng thế lực tới Mân Việt, uy thế còn hơn cả thời Câu Tiễn. Lần này phạt Tề, Vô Cương chỉ cần giơ tay hô một tiếng, đã có thể tập hợp hai mươi mốt vạn quân Ngô Việt, chỉ nhìn vào đó, đã thấy rõ ràng. Thế Việt càng mạnh, Vô Cương dã tâm càng lớn, chỉ cần thêm vài năm nữa, ắt sẽ hình thành đại thế. Nếu người Việt hình thành đại thế, đại hoạ ắt giáng xuống đầu bệ hạ. Xin hỏi bệ hạ, có mối hoạ này ở bên mình, làm sao có thể an tâm bắc tiến mưu đồ đại nghiệp?”

Trương Nghi lý lẽ sắc bén, bao quát toàn cục, như đứng từ trên cao nhìn xuống, dù là Chiêu Dương nghe thấy, cũng không thể tìm ra sơ hở. Sở Uy Vương gật gù, ánh mắt ôn hoà trở lại: “Phải, Trương Tử nói rất có lý!”

Trương Nghi lại vòng tay nói: “Bệ hạ, Trương Nghi không quản gian nan, vượt đường xa tới Lang Nha, vắt óc tính kế, mới có thể điệu hổ ly sơn, dụ cho Việt Vương quay đầu ngựa, chuyển hướng mưu phạt ta. Bẩm bệ hạ, vùng đất Bàng Quyên chiếm được chẳng qua chỉ là trăm dặm nhỏ nhoi, còn lãnh thổ Ngô Việt, đâu chỉ có nghìn dặm? Hạng Thành tích lương không quá trăm vạn gánh, còn Ngô Việt tích lương, đâu chỉ nghìn vạn gánh? Hình Sơn bị mất không tới ba mươi vạn dân, còn dân chúng Ngô Việt, đâu chỉ ba trăm vạn? Bệ hạ nếu có được Ngô, Việt, lại chiếm lấy Ba, Thục, đại thế có thể thôn tính giang hà. Lúc đó nếu như bắc tiến mưu cầu Trung Nguyên, bệ hạ chỉ cần hô một tiếng, đại quân trăm vạn sẽ như nước lũ tràn bờ, châu chấu về bắc, dù liệt quốc có mười Bàng Quyên, Tôn Tẫn, cũng làm được gì?”

Chiêu Dương nghe tới đây, ngẫm nghĩ một lát, rồi đứng dậy vái Trương Nghi một vái thật sâu: “Lời Trương Tử vô cùng hữu lý, hẳn là Chiêu Dương đã hiểu lầm rồi. Có điều, Chiêu Dương vẫn có một nghi hoặc, nếu Trương Tử có thể giải thích rõ ràng, Chiêu Dương xin tâm phục khẩu phục!”

Trương Nghi cũng đứng dậy đáp lễ, mỉm cười nói: “Trụ quốc đại nhân xin cứ tự nhiên!”

“Khoan chưa nói đến thuỷ quân của người Việt, chỉ tính riêng mười sáu vạn lục quân, cũng đã có thể coi là kình địch của liệt quốc Trung Nguyên. Tuy nhiên, theo như Trương Tử vừa nói, đại quân thuỷ, lục của người Việt đông như kiến cỏ, song đất Việt lại có thể chiếm lấy dễ dàng như trở bàn tay. Tại hạ xin hỏi, là Trương Tử đang khoác lác, hay thực sự đã có tính toán trong lòng?”

“Hồi bẩm trụ quốc đại nhân,” Trương Nghi mỉm cười, “trong mắt Nghi, không có người Việt, chỉ có người Sở!”

Chiêu Dương ngỡ ngàng: “Lời này có nghĩa gì?”

“Là vì…” Trương Nghi nhấn mạnh từng chữ, “không đầy một năm nữa, tất cả người Việt đều sẽ trở thành người Sở!”

Chiêu Dương, thái tử Hoè đưa mắt nhìn nhau, thảy đều kinh ngạc, cùng ngoảnh nhìn Uy Vương.

Uy Vương nhắm mắt một lúc, rồi quay sang nội thần: “Chuẩn bị xe về Sính Đô. Buổi đại triều ngày mai, truyền chư thần cấp đại phu trở lên tới điện Cẩm Hoa nghe chỉ!”

Vào giờ Thìn hôm sau, tại Sính Đô, trong điện Cẩm Hoa cung Sở nơi diễn ra đại triều, chư thần từ cấp lệnh doãn, trụ quốc, chấp khuê, quan đại phu trở lên đứng chật trong đại điện.

Sở Uy Vương ngồi ngay ngắn trên ngai vàng, ánh mắt nghiêm trang quét qua khắp lượt quần thần: “Chư vị ái khanh, Việt Vương Vô Cương vô duyên vô cớ khởi binh, xâm phạm bờ cõi nước ta, quả nhân đã quyết, huy động sức mạnh cả nước, quyết chiến với người Việt. Thượng trụ quốc Chiêu Dương, thượng trụ quốc Khuất Vũ, thái tử nghe chỉ!”

Ba người Chiêu Dương, Khuất Vũ, thái tử Hoè bước lên trước khấu đầu nói: “Có vi thần!”

“Phong tả tư mã Chiêu Dương làm chủ tướng ba quân, hữu tư mã Khuất Vũ làm phó tướng ba quân, thái tử làm giám quân ba quân, khởi hai mươi lăm vạn binh, quyết chiến với người Việt!”

Chiêu Dương, Khuất Vũ, thái tử Hoè lại bái lạy: “Vi thần lĩnh chỉ!”

Sở Uy Vương nói tiếp: “Truyền sĩ tử Trung Nguyên Trương Nghi vào điện!”

Trương Nghi đã đứng đợi sẵn bên ngoài, vội vã sải bước vào trong, tiến lên trước bái lạy tung hô: “Sĩ tử Trung Nguyên Trương Nghi khấu kiến bệ hạ!”

“Phong sĩ tử Trung Nguyên Trương Nghi làm khách khanh, ban tước chấp khuê, đi theo quả nhân! Ban cho Trương Tử một toà phủ khách khanh, một trăm lượng vàng, năm mươi súc gấm vóc, ba mươi nô bộc!”

Trương Nghi lại khấu lạy: “Vi thần đa tạ long ân của bệ hạ!”

Sau khi bãi triều, Trương Nghi rời khỏi vương cung. Do quán trọ nơi Trương Nghi đang ở cách cung Sở không xa, nên Trương Nghi không gọi xe, cũng không gọi tuỳ tùng, mà một mình lững thững tản bộ dọc bờ Lệ Thuỷ bên ngoài cung thành. Trận chiến ác liệt mấy ngày qua cuối cùng cũng đã tạm kết thúc, nên hiện tại, Trương Nghi muốn được ung dung tận hưởng cảm giác sung sướng mãn nguyện hiếm có.

Từ xa nhìn về quán trọ, Trương Nghi nghe thấy tiếng đàn văng vẳng, lúc có lúc không, lúc đứt lúc nối. Trương Nghi chăm chú lắng nghe, biết là Hương Nữ đang tập khúc “Cao sơn” mà mình mới dạy, nghe cũng đã thành giai điệu.

Trương Nghi lắng nghe một chặp, nghĩ thầm trong dạ: “Người khác học đàn, ba năm mới gảy nổi thành điệu, Hương Nữ chỉ vài lần tập, đã gảy được như vậy, thực là kỳ tài bẩm sinh! Mình về, phải khen nàng vài câu mới được!”

Nghĩ vậy, bèn mau chóng sải bước đi về quán trọ. Vừa tới cửa, tiểu nhị nhìn thấy, vội vã chạy lại đón, vòng tay vái chào: “Khách quan đại nhân, cuối cùng ngài cũng đã về rồi!”

Trương Nghi lấy làm ngạc nhiên: “Sao thế?”

Tiểu nhị cười hề hề: “Không sao, chỉ là phu nhân lòng như lửa đốt, một ngày không biết bao nhiêu lần nhìn ra đường lớn, chốc chốc lại hướng về vương cung sụt sùi rơi lệ. Vừa rồi lên lầu mới được một lát, đã gảy điệu nhạc này, tiểu nhân nghe mà cũng thấy não nề ruột gan!”

Trương Nghi bật cười: “Tai ngươi chỉ hợp nghe tiếng giết trâu mổ bò, còn như nhã khúc này, nghe thấy não nề một gan là phải rồi!”

“Khách quan nói đúng,” tiểu nhị cười khoái chí. “Phu nhân dặn tiểu nhân ngồi đợi ở đây, nếu thấy đại nhân về, lập tức bẩm báo. Khách quan hãy đợi ở đây một lát, tiểu nhân lên mời phu nhân xuống nghênh đón!”

Trương Nghi cười nói: “Đã về tới nơi rồi, còn nghênh đón cái gì?” Rồi đảo con ngươi một vòng, nhìn tiểu nhị khẽ “suỵt” một tiếng, sầm mặt xuống, đặng hắng mạnh vài tiếng, rồi nhấc chân bước lên bậc thang.

Hương Nữ đang tập đàn, đột nhiên nghe thấy tiếng bước chân quen thuộc từ phía cầu thang vọng lại, vừa dỏng tai nghe đã đứng phắt dậy, bước vội ra khỏi phòng, thấy Trương Nghi đã lên tới lầu trên, đang rẽ về phía nhã thất của họ.

“Phu quân!” Hương Nữ mừng rỡ reo lên, chạy lại đón, thấy Trương Nghi mặt mày ngẩn ngơ, tinh thần ủ rũ, hai mắt đờ đẫn, thì sững người lại, thu vội nụ cười, ân cần hỏi. “Phu quân, chàng… sao vậy?”

Trương Nghi không nói một lời, mặt mày trầm trọng bước vào trong phòng. Hương Nữ không biết đã xảy ra chuyện gì, trong lòng kinh hãi, lặng lẽ theo sau.

Trương Nghi chẳng nói chẳng rằng, mặt vẫn nặng trình trịch, ngồi xếp bằng trước cây đàn, nhìn cây đàn mà ngẩn ngơ. Hương Nữ khẽ cắn môi, chậm rãi bước tới trước mặt Trương Nghi, quỳ xuống bên chân hắn, khẽ kéo lấy tay hắn, đặt lên trên má mình.

Hồi lâu, Trương Nghi mới thở dài một tiếng não nề.

“Phu quân!” Hương Nữ ngẩng đầu hỏi. “Hẳn là chưa gặp được điện hạ?”

Trương Nghi lắc đầu.

Hương Nữ lại hỏi: “Hẳn là chưa gặp được bệ hạ?”

Trương Nghi vẫn lắc đầu.

Hương Nữ ngẫm nghĩ một lát: “Vậy… hẳn là bệ hạ không chịu nghe theo phu quân?”

Trương Nghi vẫn lắc đầu.

Hương Nữ ngạc nhiên đến ngẩn người, hai mắt mở to nhìn Trương Nghi: “Tất cả đều không phải, cớ sao phu quân lại thở ngắn than dài như vậy?”

“Than ôi!” Trương Nghi lại thở dài một tiếng. “Nghe thì cứ nghe, nhưng tại sao bệ hạ nhất quyết phải thưởng cho trạch viện, trăm lượng vàng, kẻ hầu người hạ kia chứ, thực khiến ta đau đầu! Thưởng thì cứ thưởng, nhưng tại sao bệ hạ lại nhất quyết đòi phong làm khách khanh, còn muốn ta theo hầu bên cạnh, thật là làm khó ta, song ta cũng đã nghe theo rồi. Phong thì cứ phong, nhưng tại sao bệ hạ lại cứ khăng khăng muốn ban tước vị, ta thực là… than ôi, ta có muốn từ chối cũng chẳng được!”

Mắt Hương Nữ mỗi lúc một tròn xoe, tựa hồ như không hiểu: “Tước vị? Tước vị gì vậy?”

“Gọi là chấp khuê gì gì đó!”

“Chấp khuê?” Hương Nữ nhắc lại, lập tức hiểu ra, vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, ôm chầm lấy cổ Trương Nghi, hét tướng lên. “Trời ơi, chấp khuê là tước vị cao nhất nước Sở, bệ hạ đã trọng dụng phu quân rồi!”

Trương Nghi cũng không nhịn thêm được nữa, liền vòng tay ôm ngang lưng Hương Nữ nhấc bổng nàng lên, ôm chặt lấy một hồi, rồi lại đẩy nàng ra, đứng dậy đi vòng quanh cây đàn vài vòng, phá lên cười vang: “Ha ha ha ha! Tính tới giờ phút này, ta xuống núi, cũng coi như khởi đầu thuận lợi, không hề thua kém Bàng Quyên và Tôn Tẫn! Hương Nữ, nàng mau đi bảo tiểu nhị, chuẩn bị rượu thịt, đợi Kinh huynh về, chúng ta cùng uống, không say không dừng!”

“Vâng!” Hương Nữ mặt hoa hớn hở. “Thiếp thực mừng thay cho phu quân! Thiếp cũng có một món quà muốn tặng phu quân!”

“Ồ!” Trương Nghi ngạc nhiên. “Là món quà gì vậy?”

“Phu quân hãy đợi một lát!”

Hương Nữ bước vào phòng trong, mang ra một chiếc hộp tròn xinh xắn, chế tác tinh xảo: “Phu quân xem thử, đây là thứ gì?”

Trương Nghi mở nắp hộp, ngó vào bên trong, thì ra là một con ấu trùng ve. Giờ sắp vào hè, ve sầu vẫn chưa chui lên khỏi đất. Con ấu trùng ve nằm im thin thít trong hộp.

Nhìn thấy con ấu trùng ve, Trương Nghi sửng sốt, đứng ngây người tại chỗ.

“Phu quân!” Hương Nữ khẽ nói. “Thiếp tìm cả nửa ngày trời mới thấy con ấu trùng ve này. Khi thiếp đào nó, nó vẫn đang ngủ đông trong tổ. Hương Nữ sẽ chăm sóc nó thật cẩn thận, chỉ một tháng nữa thôi, nó sẽ biến thành ve con, ngày ngày ca hát cho phu quân nghe!”

Trương Nghi ngẩng đầu lên, nhìn sững vào Hương Nữ hồi lâu, lệ rưng rưng trong mắt, cuối cùng không cầm lòng nổi, từ từ quay mặt đi chỗ khác.

“Phu quân!” Hương Nữ ngẩn người, kinh ngạc nhìn Trương Nghi, nói không thành tiếng. “Thiếp… thiếp…”

“Hương Nữ!” Trương Nghi đưa ống tay áo lên lau nước mắt, rồi quay đầu lại, cười khẽ mà nói. “Nàng đào được nó ở cánh rừng nào vậy?”

“Ở… ở trong rừng liễu phía trước!”

“Hương Nữ, đi cùng ta để thả nó về được chăng?”

Hương Nữ biết mình đã làm không đúng ý Trương Nghi, hai tay nâng chiếc hộp lên, ngoan ngoãn “vâng” một tiếng, cúi đầu bước ra khỏi cửa.

Vài ngày sau, toàn nước Sở bắt đầu hành động. Sở Uy Vương đích thân phái sứ thần tới Ngụy, đau xót “cắt” hơn chục thành trì Hình Sơn đã nằm trong tay người Ngụy cho người Ngụy, lui binh cầu hoà. Ngụy Huệ Vương và đám Huệ Thi sau khi bàn bạc, thấy cũng có lợi, bèn hạ lệnh cho Bàng Quyên, Tôn Tẫn rút quân trở về.

Cùng lúc này, Chiêu Dương bí mật hạ lệnh ba quân chia làm hai lộ, một lộ gồm năm vạn quân, đi qua Thọ Xuân xuống phía nam, âm thầm tiến thẳng tới Chiêu Quan. Số binh mã còn lại thành một lộ khác, qua Kỳ Tư, Tây Dương, tiến thẳng tới núi Đại Biệt. Cũng vào lúc đó, hơn mười vạn quân Sở ở tuyến phía tây đóng tại các nơi như Hán Trung, Nhương, Trịnh, Phòng Lăng, Di Lăng dưới sự chỉ huy của thượng trụ quốc Khuất Vũ cũng thẳng tiến về phía đông, tới Sính Đô, tập kết dọc Hán Thuỷ.

Phủ đại tướng quân được đặt ở ấp Cánh Lăng cách Sính Đô hai trăm dặm.

Cánh Lăng là một toà thành cổ, vốn thuộc nước Phong, đầu thời Xuân thu thuộc nước Vân, tới cuối Xuân thu bị nước Sở chiếm lấy, lập thành ấp Cánh Lăng. Ấp Cánh Lăng phía nam tiếp giáp đầm Vân Mộng, phía đông liền kề Hán Thuỷ, phía Tây liền với Sính Đô, là tiền tiêu lý tưởng để ngự địch. Để đảm bảo có thể một đòn tiêu diệt quân Việt, Sở Uy Vương đã bí mật xa giá tới Cánh Lăng, sống trong một biệt cung nghỉ hè có tên là Thu Thuần trong núi Nội Phương tại mặt bắc Cánh Lăng, trực tiếp chỉ huy ba quân, còn mọi việc ở Sính Đô giao cả cho thái tử toàn quyền xử lý.

Giờ là đầu hè, lúa mạch vụ đông đã trổ đòng, thời tiết ngày một nóng nực. Chập tối, Sở Uy Vương đang cùng chủ tướng Chiêu Dương, phó tướng Khuất Vũ, khách khanh Trương Nghi, thái tử Hoè ngồi trong chính cung của biệt cung Thu Thuần phân tích tình hình chiến sự, bàn bạc việc quân, bỗng một viên quân uý phi nước đại tới, xoay người xuống ngựa, hối hả bước vào trong, quỳ một gối, dõng dạc bẩm báo: “Báo, lục quân Việt công phá Chiêu Quan của ta, đang tiến quân dọc theo phía bắc núi Để Kỳ, đã tới gần Tùng Dương!”

Tham tướng đứng hầu bên cạnh bước đến bên bản đồ hình thế, đánh dấu vị trí của lục quân Việt.

Chiêu Dương ngẫm nghĩ một lát, ngẩng lên hỏi: “Thuỷ quân ở đâu?”

“Khởi bẩm tướng quân!” Quân uý đáp lời. “Thuỷ quân của người Việt do đi ngược dòng mà lên, nên tốc độ rất chậm, quân tiên phong vừa qua Quảng Lăng, ước chừng năm ngày nữa mới tới Trường Ngạn!”

Chiêu Dương ra lệnh: “Tiếp tục thám thính!”

Quân uý dõng dạc đáp: “Mạt tướng tuân lệnh!” Rồi từ từ lui ra.

Mọi người đều đổ dồn ánh mắt về phía Uy Vương.

Uy Vương chậm rãi bước tới bên bản đồ hình thế, quan sát kỹ lưỡng một lượt, rồi quay sang Trương Nghi: “Lục quân và thuỷ quân của người Việt đều đã vào sâu trong lãnh thổ của ta, Trương Tử liệu đã có diệu kế đẩy lui quân địch?”

“Khởi bẩm bệ hạ,” Trương Nghi dõng dạc đáp, “vi thần cho rằng, hiện tại chúng ta không thể đẩy lui quân địch.”

“Gì kia?” Uy Vương giật mình, di chuyển ánh mắt sang ba người Chiêu Dương, Khuất Vũ và thái tử Hoè, thấy họ cũng đưa mắt nhìn nhau, bèn quay lại nhìn Trương Nghi. “Trương Tử xin hãy giải thích rõ!”

Trương Nghi đưa tay chỉ vào bản đồ, vạch mũi tên của người Việt từ Giang Thuỷ thẳng tới giữa đầm Vân Mộng: “Vi thần cho rằng, chúng ta không những không thế đánh lui người Việt, mà ngược lại cần để chúng đi dọc theo Giang Thuỷ tới tận phía tây, càng vào sâu càng tốt!”

Uy Vương như đã hiểu ra, nhìn Trương Nghi không chớp mắt: “Ý của Trương Tử là… dụ địch vào sâu?”

“Bệ hạ thánh minh!”

“Diệu kế, diệu kế!” Chiêu Dương hai mắt sáng bừng, tinh thần phấn chấn. “Chỉ có dụ địch vào sâu, mới có thể tiêu diệt toàn bộ!”

“Đúng vậy!” Khuất Vũ cười hềnh hệch, phấn khởi xoa tay liên hồi. “Diệu kế! Người Việt hành quân càng xa, đường rút về cũng càng xa, muốn thoát thân càng khó!”

Thái tử Hoè gật gù: “Theo ý Trương Tử, dụ người Việt tới nơi nào là thích hợp?”

“Chính là chỗ này!” Trương Nghi chỉ tay vào bản đồ, đầu ngón tay đặt vào núi Nội Phương. “Núi Nội Phương!” Dừng lại một lát, ngẩng đầu nhìn Uy Vương. “Theo như dự đoán của vi thần, nếu Vô Cương biết được rằng bệ hạ đang ở trong núi Nội Phương, ắt sẽ vượt sông Vân Thuỷ tiến tới. Bệ hạ nhìn xem, người Việt khi đã vượt qua Vân Thuỷ, phía trước là sông Hán Thuỷ, phía sau là sông Vân Thuỷ, núi Bồi Vĩ, phía nam giáp sông Thương Lang và đầm Vân Mộng, phía bắc là núi Đại Hồng và núi Kinh Sơn. Lúc đó, chỉ cần chúng ta cắt đứt đường rút lui của chúng, hai mươi vạn người Việt tất sẽ bị vây khốn trong vùng đất hoang vu chu vi không quá hai trăm dặm này, muốn tiến không được, muốn lùi chẳng xong, chẳng khác gì ba ba trong hũ. Còn như bắt ba ba thế nào, phải trông cậy cả vào hai vị tướng quân đây!”

“Mưu kế của Trương Tử rất hay!” Uy Vương gật gù. “Có điều, thuỷ quân của người Việt nếu tới tiếp ứng, Trương Tử có kế sách ứng phó chăng?”

“Khởi bẩm bệ hạ!” Trương Nghi chỉ vào đầm Vân Mộng. “Hai mươi vạn quân Việt mà vi thần vừa nói tới, đã bao gồm cả thuỷ quân. Ta không có thuỷ quân, phó tướng nước Việt Nguyễn Ứng Long được dịp trổ tài thuỷ chiến, ắt sẽ chỉ huy thuỷ quân đi vòng qua Động Đình, tập kích Sính Đô. Lúc này, nghe tin Việt Vương bị vây khốn, Nguyễn Ứng Long ắt sẽ rút quân về Hạ Khẩu, ngược dòng Hán Thuỷ lên tiếp ứng. Đợi thuỷ quân của chúng tiến vào Hán Thuỷ, ta lập tức phong toả Hạ Khẩu, chính là chỗ này, vây khốn người Việt giữa Hán Thuỷ, Thương Lang và Vân Thuỷ. Nơi đây đầm lầy chằng chịt, thoạt nhìn cứ ngỡ là sông nước mênh mông, song thực tế lại không thể đi thuyền qua. Người Việt thuyền lớn, nếu không hiểu nông sâu, sẽ bị mắc cạn trong đầm lầy. Nhân lúc này, ta chỉ cần cố thủ Hạ Khẩu, sẽ cắt đứt triệt để thuỷ quân và lục quân của chúng, ép thuỷ quân bỏ thuyền lên cạn!”

Lời Trương Nghi rõ ràng rành mạch, bao quát toàn cục, chỉ rõ tiểu tiết, căn cứ vững chãi, vô cùng kín kẽ, khiến trận quyết chiến quy mô lớn nhường đó bỗng chốc trở nên đơn giản dễ dàng chẳng khác nào trò chơi con trẻ, dù là tướng quân kinh qua trăm trận như Chiêu Dương, Khuất Vũ, cũng phải ngưỡng mộ sát đất trước kế hoạch bao vây tiêu diệt quy mô hùng vĩ này, thán phục mà gật đầu lia lịa.

Người Sở từ thời Xuân Thu đến nay, thôn tính vô số nước, mở rộng lãnh thổ vài nghìn dặm, tuy nhiên, việc bao vây hơn hai mươi vạn đại quân thuỷ, lục, một trận diệt gọn như thế này, trong lịch sử nước Sở chưa từng nghe nói tới.

Sở Uy Vương càng nghĩ càng thấy hay, vui mừng khôn xiết, quay sang Trương Nghi vòng tay nói: “Trời phái Trương Tử tới giúp quả nhân, người Sở thật là may mắn!”

“Tạ ơn bệ hạ hậu ái!” Trương Nghi vòng tay đáp lễ, rồi quay sang Chiêu Dương, Khuất Vũ. “Có điều, cuộc chiến này nếu muốn toàn thắng, hai vị tướng quân đây vẫn phải làm thêm một việc!”

“Trương Tử xin cứ nói!” Chiêu Dương đã thực sự khâm phục, vòng tay hướng vào Trương Nghi nói.

Trương Nghi đáp lễ, mỉm cười, hỏi ngược lại: “Xin hỏi tướng quân, nếu tướng quân dẫn hai mươi mốt vạn binh đi chinh chiến nơi xa, sẽ phải suy xét tới thứ gì đầu tiên?”

Chiêu Dương trả lời ngay không chút đắn đo: “Lương thảo!”

Trương Nghi từ từ khép hai mắt lại, không nói thêm lời nào nữa. Chiêu Dương đột nhiên hiểu ra, nện mạnh nắm đấm xuống mặt bàn, hồ hởi reo lên: “Dụ địch vào sâu, cắt đứt đường lương thảo, để vườn không nhà trống, tát ao bắt cá!”

Sau khi công phá Chiêu Quan, lục quân nước Việt men theo bờ bắc Giang Thuỷ ồ ạt xông lên, thế như chẻ tre, đi tới đâu, người Sở kinh hãi chạy trốn tới đó. Vừa qua tháng năm, lục quân tiên phong đã công phá Hy Thuỷ. Sông Hy Thuỷ chảy ra từ núi Đại Biệt, đến gần Chu Thành thì vào Giang Thuỷ. Quân trấn thủ Chu Thành không tới nghìn người, còn chưa kịp nhìn thấy cờ của người Việt đã hồn bay phách lạc, cuống cuồng bỏ chạy, bách tính trong thành cũng dắt díu nhau trốn sạch, để lại cho người Việt một thành trì trống rỗng.

Trên sông tuy không gặp trở ngại gì, song do thuỷ quân ngược dòng mà tiến, tới Giang Thuỷ lại vòng qua Cửu Giang, đi thêm vài trăm dặm, do vậy tới muộn hơn lục quân vài ngày. Việc vận chuyển bằng đường bộ rất khó khăn, nước Sở lại không có thuỷ quân đối địch, nên lần này phạt Sở, Vô Cương đã thay đổi chiến thuật, giảm bớt năm vạn thuỷ quân, đổi thành lục quân, chiến thuyền đổi thành thuyền quân nhu, vận chuyển đầy lương thảo, hô ứng với quân bộ.

Thấy trước mặt đã là Hạ Khẩu, Vô Cương truyền lệnh cho đại quân nghỉ ngơi ở Chu Thành vài ngày, thứ nhất là đợi lương thảo, thứ hai là đợi Nguyễn Ứng Long. Đầm Vân Mộng đã ở liền kề, Sính Đô của nước Sở với tay là chạm tới, còn việc tấn công thắng địch thế nào, chiến lược tiếp theo mới là quan trọng.

Nghỉ ngơi tới ngày thứ năm thì thuỷ quân của Nguyễn Ứng Long tới nơi, với gần nghìn thuyền lớn nhỏ, cờ xí rợp trời, buồm căng lộng gió, tạo nên một cảnh tượng hùng tráng trải dài suốt vài chục dặm mặt sông.

Vô Cương đứng trên đài nghênh đón mới dựng bên bờ sông, phóng mắt ngắm nhìn cảnh tượng hào hùng tráng lệ, lại quay đầu nhìn những vạt doanh trại san sát trải rộng bên bờ, trong lòng bỗng trào dâng hùng khí ngút trời, lớn giọng cười vang, rồi quay sang nói với Luân Kỳ, Bôn Thành, Lã Tông đứng hầu bên cạnh: “Nhớ năm xưa, Ngô Vương Hạp Lư chỉ dựa vào vài vạn tướng sĩ, đã đánh cho người Sở tan tác tơi bời, công phá Sính Đô, đào mộ quật xác. Nay quả nhân có hùng binh hơn mười hai vạn, lại có chư vị ái khanh đây giúp rập, người Sở kia sao có thể địch nổi?”

“Đại vương!” Lã Tông cũng cười một tiếng mà nói. “Ngô Vương có Ngũ Tử Tư, đại vương có Luân quốc sư; Ngô Vương có Tôn Vũ Tử, đại vương có Bôn tướng quân. Chuyện này tạm chưa nói đến, chỉ riêng chuyện đại vương có thuỷ quân của Nguyễn tướng quân, đã là thiên hạ vô địch!”

Bôn Thành xưa nay vẫn tự cho mình là Tử Tư, lúc này, lại nghe Lã Tông ví Luân Kỳ với Ngũ Tử Tư, trong lòng cảm thấy không vui, hừ mũi một tiếng, cười nhạt mà nói: “Nói như vậy, Lã đại phu hẳn là ví mình với Bá Hy rồi!”

Luân Kỳ từ trước tới nay luôn chủ trương phạt Tề, không tán thành chuyện quay sang phạt Sở, do vậy trong lòng vẫn ấm ức “kẻ đầu têu” Lã Tông, giờ nghe thấy Bôn Thành nói vậy, cũng cười cười hùa theo: “Phải đấy, phải đấy, vị trí Bá Hy, không thể là ai khác ngoài Lã đại phu!”

Ai cũng biết Bá Hy là gian thần của nước Ngô, không chỉ hại chết Ngũ Tử Tư, mà ngay cả nước Ngô cũng đã bị diệt vong trong tay người này. Lã Tông vốn muốn lấy lòng hai người, nào ngờ bị chế giễu cho mất mặt, chỉ biết miễn cưỡng nở một nụ cười gượng gạo, quay nhìn ra phía mặt sông, vừa hay trông thấy đoàn thuyền của Nguyễn Ứng Long, thì mừng rỡ reo lên: “Nhìn kìa, Nguyễn tướng quân đã tới!”

Chỉ một lát sau, đoàn thuyền của Nguyễn Ứng Long đã cập bờ, Nguyễn Ứng Long mau chóng xuống thuyền, yết kiến Vô Cương. Quần thần cùng Vô Cương trở về trại, Vô Cương nghe Nguyễn Ứng Long bẩm báo toàn bộ tình hình thuỷ quân, hết sức hài lòng, quay sang Bôn Thành nói: “Bôn ái khanh, đại chiến sắp bắt đầu, khanh hãy báo cáo toàn bộ tình thế, để chư vị ái khanh bàn bạc sách lược!”

Bôn Thành vòng tay nói: “Vi thần tuân lệnh!” Rồi đứng dậy, bước tới trước sa bàn.

Đám người cùng đứng dậy, bám theo Bôn Thành.

Bôn Thành chỉ tay vào Hạ Khẩu, nói: “Đại quân ta cách Hạ Khẩu không tới trăm dặm, Hạ Khẩu có năm nghìn quân Sở, theo tin thám mã báo về, chủ tướng năm ngày trước đã đưa vợ con và gia đình tới Sính Đô, bách tính trong thành đa phần đã trốn chạy hết. Quân giữ thành cờ xí nghiêng ngả, không còn ý chí chiến đấu. Nếu đúng như dự tính, Hạ Khẩu ắt chiếm được dễ dàng như trở bàn tay!” Dừng lại một lát, chuyển ánh mắt tới đầm Vân Mộng. “Đi qua Hạ Khẩu, là tới đầm Vân Mộng, Sở không có thuỷ quân, do vậy có thể dễ dàng công phá. Nghe tin quân ta tới, cung Sở bất ngờ không kịp đề phòng, vô cùng hỗn loạn. Đại tướng Chiêu Dương đang ứng phó với Ngụy ở Hạng Thành, Sở Vương gấp rút điều động quân đội ở biên giới tây bắc về, thượng trụ quốc Khuất Vũ cùng đám thuộc hạ đang lục tục chạy tới Sính Đô.”

Vô Cương mừng vui khôn xiết, đưa mắt nhìn bản đồ, mỉm cười nói với Bôn Thành: “Bôn ái khanh, Nguyễn ái khanh cũng đã tới rồi, khanh thử nói xem, đánh thế nào mới là kế sách vẹn toàn?”

“Khởi bẩm đại vương!” Bôn Thành nói. “Vi thần cho rằng, ta nên chia quân thành hai lộ. Lục quân qua Hạ Khẩu, vượt Vân Thuỷ, qua Tân Thị, vượt Hán Thuỷ, từ Cánh Lăng tập kích Sính Đô. Thuỷ quân ngược dòng Hán Thuỷ tiến đánh, một mặt đảm bảo lương thảo không chậm trễ, một mặt yểm trợ lục quân vượt qua Hán Thuỷ.”

Bôn Thành vừa dứt lời, Nguyễn Ứng Long vội nói: “Mạt tướng cho rằng không thoả đáng!”

“Ái khanh xin cứ nói!”

“Mạt tướng cho rằng, thuỷ quân có thể phân thành hai lộ, một lộ vận chuyển quân nhu, kết hợp với lục quân; còn một lộ ngược dòng Giang Thuỷ, đánh thẳng tới Sính Đô. Đi qua Hạ Khẩu, mặt sông rộng rãi, lại có gió đông nam trợ giúp, ta có thể chạy hết tốc lực đi vòng qua Động Đình, đánh thẳng tới Sính Đô.”

“Ý quốc sư thế nào?” Vô Cương quay sang Luân Kỳ.

Luân Kỳ vuốt râu nói: “Vi thần cho rằng, có thể thực thi theo kế sách của Nguyễn tướng quân!”

Đúng lúc này, một viên thiên tướng hấp tấp chạy vào, bẩm báo: “Bẩm đại vương, theo tin thám mã báo về, Sở Vương dẫn mười vạn quân đóng trại ở Cánh Lăng, bố trí phòng thủ dọc theo Hán Thuỷ, Sở Vương ngự giá thân chinh, đang ở trong biệt cung ở núi Nội Phương phía bắc Cánh Lăng.”

Vô Cương vừa nghe, phá lên cười lớn, nhìn sang Luân Kỳ và Nguyễn Ứng Long nói. “Hùng Thương phen này đã dốc cạn vốn liếng rồi! Luân quốc sư, Nguyễn tướng quân, theo ý của quả nhân, Hùng Thương hiện đang ở Cánh Lăng, chúng ta việc gì phải đi lòng vòng nữa? Thuỷ quân ta cứ thế từ Hạ Khẩu ngược dòng Hán Thuỷ mà lên, yểm trợ lục quân vây đánh núi Nội Phương, bắt sống Hùng Thương!”

Quần thần lĩnh chỉ lui ra.

Vô Cương gọi Lã Tông lại: “Lã ái khanh, chỗ Trương Tử có tin gì không?”

“Khởi bẩm đại nhân,” Lã Tông bẩm tấu, “nghe nói Trương Tử đã được Sở Vương trọng dụng, phong làm khách khanh, ban tước thưởng vàng, vô cùng coi trọng.”

“Hay lắm!” Vô Cương phấn khởi ra mặt. “Có được Trương Tử, diệt Sở tất thành! Lã ái khanh, khanh mau tìm cách liên lạc với Trương Tử, thử xem Trương Tử sắp xếp thế nào?”

“Vi thần tuân lệnh!”

***

Thấy Sở Vương nghe theo Trương Nghi hoà Ngụy đánh Việt, đại sự sắp thành, Trần Chẩn thở ngắn than dài, thảo một bức thư, gọi tay chân thân tín lại, sai hắn cấp tốc trình lên Tần Vương.

Huệ Văn Công nhận được bức mật thư viết trên da dê của Trần Chẩn, mở ra đọc:

“Chúa thượng, người Sở đã giăng sẵn túi lớn ở phía tây Vân Thuỷ, phía đông Hán Thuỷ, để vườn không nhà trống, muốn tóm gọn người Việt. Người Việt không biết là kế, cứ thế tiến quân, chui vào miệng túi. Nhìn vào toàn bộ quá trình, người Việt bỏ Tề mưu Sở, từng bước chui đầu vào chỗ chết. Còn người Sở bỏ Ngụy cầu Việt, tính toán vẹn toàn, không mảy may sơ suất. Theo vi thần dò la biết được, thế cờ lớn Sở Việt tương tranh đều do một tay Trương Nghi sắp đặt. Trương Nghi và Bàng Quyên, Tôn Tẫn đều cùng học ở Quỷ Cốc, hiện nay đã thấy, tài trí của người này còn trên cả Tôn Tẫn! Thần Trần Chẩn cẩn tấu.”

Huệ Văn Công đọc đi đọc lại bức thư vài lượt, đôi mày chau tít, trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu, rồi cầm bút lông lên, ngồi xuống bên bàn, viết thư hồi âm rằng: “Trần ái khanh, bằng mọi giá, phải đuổi Trương Nghi!” Viết xong, gọi công tử Hoa lại dặn dò: “Khanh mau tới quốc khố, lĩnh nghìn lượng vàng, lại chọn thêm châu báu, cùng với thư này, cấp tốc mang tới nước Sở, giao cho Trần Chẩn!”

“Thần đệ tuân chỉ!”

“Trương Nghi?” Công tử Hoa đi rồi, Huệ Văn Công lại giở mật thư của Trần Chẩn ra đọc lại lần nữa, chau mày lẩm bẩm. “Lại là Quỷ Cốc! Sơn cốc quỷ quái này sao lại sinh ra toàn những nhân vật như vậy?”

Rồi Huệ Văn Công khẽ thở dài một tiếng, từ từ khép mắt lại.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử