Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 95 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 96
Kết: Ván cờ thiên hạ

❊ ❊ ❊

Côn Lôn hùng vĩ, từ tây sang đông, vắt ngang Tây Vực, nước băng tan chảy trên núi chính là khởi nguồn của hai sông Giang Thuỷ, Hà Thuỷ, huyết mạch Hoa Hạ.

Từ Côn Lôn đi tiếp về đông, lại nhô lên một sống núi, chia Giang Thuỷ, Hà Thuỷ thành hai phần nam bắc.

Sống núi này, chính là long mạch Hoa Hạ.

Long mạch từ tây sang đông, trập trùng hơn một nghìn sáu trăm dặm. Sau khi diệt Thương, vương thất Đại Chu lần lượt định đô ở hai nơi dưới chân núi phía bắc của long mạch này, một là Tây đô Cảo Kinh, một là Đông đô Lạc Dương.

Quả nhiên, Đại Chu trước sau trải tám trăm năm với ba mươi bảy quân vương, bốn trăm năm ở Tây đô, lại bốn trăm năm ở Đông đô.

Long khí Hoa Hạ khởi tự Côn Lôn, chạy thẳng về phía đông, dừng tại Ngọc Sơn đất Uyển, kết thành ngọc đẹp, trong đó có một khối bích huyết đan tâm được người Sở Biện Hoà tìm thấy, gọi là Hoà thị bích.

Từ Tây đô xuống phía nam tám trăm dặm là mạch chính của long mạch Hoa Hạ, Lão Tử cuối đời về ẩn cư nơi đây, gọi là núi Chung Nam.

Từ Đông đô xuống phía nam tám trăm dặm, là mạch nối tiếp của long mạch Hoa Hạ, Lão Tử thu phục thú cưỡi ở nơi này, gọi là núi Phục Ngưu.

Ở mé tây bắc của định Ỷ Giác Tiêm, đỉnh núi cao nhất trong dãy Phục Ngưu, sông Y Thuỷ quanh co từ phía đông bắc chảy lại.

Một gã ăn mày áo quần rách rưới, mặt mũi lấm lem, râu ria bờm xờm, tay chống gậy gỗ đang ngược theo dòng Y Thuỷ mà đi.

Trên vai gã khoác một tay nải vá chằng vá đụp. Nhìn bộ dạng bụi bặm phong trần, hẳn là gã vừa vượt qua một chặng đường dài.

Con người không thể sống thiếu nước. Hai bên bờ Y Thuỷ đã từng trù phú, cũng là nơi sinh ra hiền thần Y Doãn của nhà Thương. Tuy nhiên, đó đều là chuyện rất xa xôi. Còn từ sau khi nước Tần nhất thống thiên hạ, hai bờ Y Thuỷ đa phần đã hoá hoang vu, làng mạc xóm thôn có nhà mà không người ở, đường đi cỏ dại mọc đầy.

Gã ăn mày vừa đi vừa huýt sáo, khua gậy xua rắn.

Đi chừng một canh giờ, đến chỗ Y Thuỷ lượn một vòng lớn, ngoặt về phía chính tây. Gã ăn mày dừng lại, rút từ tay nải ra một mảnh vải dầu, nhìn vào sơ đồ trên đó, ánh mắt dừng lại ở quãng sông cong.

Gã ngẩng đầu quan sát thế núi một lát, rồi lại men theo Y Thuỷ về tây. Đi chưa được bao lâu, tầm nhìn chợt sáng bừng, trước mắt hiện ra một thung lũng sông rộng thênh thang.

Bên phải lũng sông, là một thôn nhỏ.

Gã ăn mày liền chống gậy, khom lưng, bước chân lập cập tiến vào trong thôn.

Trước cổng thôn dựng một tấm biển, đê ba chữ: thôn Phục Ngưu.

Gã ăn mày bước về phía một ngôi nhà ở rìa thôn, còn chưa tới nơi, một con chó lớn đã chạy xô ra sủa ầm ĩ. Gã vội múa tít cây gậy để doạ chó.

Từ trong nhà chạy ra một người đàn bà đứng tuổi, xua con chó đi rồi nói với gã ăn mày: “Khách nhân tới sớm quá, tôi chưa kịp nấu cơm, xin hãy tìm chỗ ngồi nghỉ chờ một lát!”

Gã ăn mày vái mà nói: “Đa tạ, tôi không đói, tôi muốn hỏi thăm một nơi.”

“Nơi nào?”

“Ngọn núi cao nhất trong thôn này!”

“Ồ, vậy thì phải hỏi ông nhà tôi!” Nói đoạn, bà ta quay vào nhà gọi lớn.

Một lão hán bước ra. Người đàn bà chỉ gã ăn mày nói: “Khách nhân muốn hỏi ngọn núi cao nhất trong thôn ta.

Lão hán bèn đưa tay chỉ về phía đông nam: “Nếu là núi cao nhất, có lẽ đằng kia, tên là Ỷ Giác Tiêm, cách đây hơn ba mươi dặm, tôi từng qua đó mấy lần.”

“Đa tạ!” Gã ăn mày vòng tay, “gần đây thì sao?”

“Chính là ngọn núi kia!” Lão hán lại chỉ về phía chính nam, “gọi là Ngưu Ty Lĩnh.”

Vừa nghe thấy ba chữ này, gã ăn mày hai mắt ngời sáng, vội giở mảnh vải dầu ra nhìn, quả nhiên thấy trong sơ đồ, cạnh thôn Phục Ngưu có vẽ một hình giống như mũi trâu.

Bên tai gã ăn mày như vang lên một giọng nói già nua: “Chàng trai, cậu muốn đánh ván cờ thiên hạ?”

Gã định thần trở lại, vòng tay hỏi lão hán: “Xin hỏi lão trượng, núi này sao lại gọi là Ngưu Ty Lĩnh?”

“Ồ, là thế này,” lão hán chỉ vào những ngọn núi ở xung quanh, “trái núi lớn này vốn là một con trâu thần. Tương truyền vài trăm năm trước, một lão thần tiên tìm tới, sống trên núi đó mấy năm. Một hôm, không hiểu từ đâu chạy tới một con trâu xanh to lớn, xông thẳng vào thôn, đâm húc lung tung, không ai trị nổi. Đúng vào lúc đó, lão thần tiên kia xuống núi. Thật kỳ lạ, vừa trông thấy lão thần tiên, con trâu xanh liền quỳ xuống. Lão thần tiên cưỡi lên lưng trâu, dung dung theo sông Y Thuỷ mà đi! Sau có người nói, con trâu xanh kia là sơn tinh, núi Ngưu Tỵ là mũi của sơn tinh, lão thần tiên sống trên núi đó, là xỏ mũi trâu, trâu xanh không phục, một sừng chọc thẳng lên trời, chính là đỉnh Ỷ Giác Tiêm đằng kia. Từ lúc đó, thôn này lấy tên là Phục Ngưu.”

Gã ăn mày hỏi rõ đường lên núi, rồi cảm tạ, băng qua Y Thuỷ, đi thẳng tới núi Ngưu Ty Lĩnh. Rồi theo đường mòn ven suối leo lên lưng chừng núi, dừng lại bên một đầm đá nhỏ, lột bỏ bộ râu, cởi quần áo rách, nhảy xuống đầm tắm táp, gột sạch bụi trần, mở tay nải lấy ra bộ trang phục sĩ tử mặc vào, sửa soạn tươm tất rồi, mới tiếp tục leo lên đỉnh núi.

Mặt nam của Ngưu Ty Lĩnh có hai sống núi như hai cánh tay vươn dài về chính nam, giữa hai “cánh tay”, một khe suối nhỏ quanh co mà xuống. Tại nơi hội tụ giữa khe suối nhỏ và một dòng suối lớn, ba núi giao tiếp, hình thành một thung lũng rộng, một sống núi tới đây thì dừng.

Tại nơi tận cùng của sống núi ấy, sừng sững nhô lên một cột đá màu vàng, cao chừng vài trượng, rộng chừng một trượng, trên dưới bằng nhau, phẳng phiu không một kẽ nứt nào, giống như một cột chống trời. Hai bên cột đá là hai cây ngân hạnh nghìn năm, một trái một phải, tựa như hai cánh chim, che lấp hoàn toàn cột đá.

Tại nơi dựa núi kề nước, tựa lưng đá vàng này có năm gian nhà cỏ vách đất, dựng tuỳ tiện theo thế núi. Bên ngoài nhà cỏ là vài thửa ruộng bậc thang, hoa màu tươi tốt. Trước nhà, một cây cầu gỗ bắc ngang dòng suối, nối liền với con đường mòn chạy ra bên ngoài, đầu cầu có một cánh cửa sơ sài ghép từ vài thanh gỗ ngang, trên cánh cửa đề ba chữ “Hoàng Thạch am”.

Dựa sát cột đá vàng là một am lớn chỉ có một gian, không có có vách ngăn, bốn bức tường đều là giá sách, trên giá gác kín từng cuộn thẻ tre. Giữa am kê bốn chiếc án, trên án cũng xếp đầy thẻ tre.

Một ông lão tuổi ngoại lục tuần, râu tóc điểm bạc đang bận rộn sắp đặt trên án.

Ông lão họ Cơ tên Văn, là thiếu công tử của Yên Chiêu Vương và Cơ Tô Phi Phi, sinh ra chưa được bao lâu thì được sư phụ Khước Khước thu làm đệ tử.

Trên án đường bày ba tấm bài vị, giữa là Lão Tử, hai bên là Quan Doãn Tử và Quỷ Cốc Tử. Phía trước ba tấm bài vị đó còn bốn tấm nữa, lần lượt đề tên Tô Tần, Trương Nghi, Tôn Tẫn, Bàng Quyên. Trước dãy bài vị là bàn cờ tròn hình chân vạc giống như trong Quỷ Cốc năm xưa, trên bàn cờ dày đặc quân đen, quân trắng chỉ lác đác, đã bị dồn vào một góc.

Bên bàn cờ dựng một tấm gỗ, trên đó viết bốn câu kệ của Quỷ Cốc tiên sinh:

Tung hoành thành cục

Giữ lấy điều trung

Thiên hạ đại ngã

Công tư tư công

Một bà cụ bước vào trong am, nhìn quanh một vòng, rồi gật gù nói với Cơ Văn: “Cơ sư huynh mau lẹ thực, tiểu muội mới ra ngoài đi dạo một vòng mà sư huynh đã sắp xếp xong cả rồi.”

Cơ Văn cười hồn hậu: “Có nhanh mấy cũng không bằng Bàng sư muội.” Trỏ vào cuốn sách trên án, “sư huynh chép được hai chữ, sư muội đã viết xong ba chữ, lại đẹp hơn hẳn.”

Bàng sư muội này chính là Bàng Mai, con gái của Bàng Thao, đứa con côi của Bàng Quyên năm xưa, sớm đã được sư phụ Liễu Liễu nhận làm đệ tử.

“Sư phụ vừa báo tin, cháu hiền Trương Lương sắp lên tới nơi rồi, bảo chúng ta đi đón!” Bàng Mai chỉ vào núi Ngưu Ty Lĩnh phía bắc.

“Hay lắm!” Cơ Văn thấy trong am đã bài trí chỉn chu, bèn đứng dậy cùng sư muội đi ngay.

Nhìn thấy hai người băng qua cầu gỗ, theo đường mòn đi về phía bắc, hai vị sư phụ Liễu Liễu, Khước Khước mới tiến lại trước am, đứng trong cửa nhìn vào. Sáu mươi năm trước, hai người cùng nhau rời khỏi Quỷ Cốc, tìm tới nơi đây, nay đã thọ qua trăm tuổi.

Khước Khước tiến lại trước án, ngồi xuống, nhìn hai chồng thẻ tre xếp ngay ngắn trước mặt, cảm khái thốt lên: “Sư tỷ, đây quả là tâm huyết của sư tỷ, hai cuốn Tố vấnChâm luận này, những hai chục vạn câu, quả là lời lời châu ngọc!”

“Nếu không nhờ sư huynh trợ giúp, Liễu Liễu dù một cuốn cũng không thể viết xong!” Liễu Liễu cười nói.

“Sư tỷ khiêm nhường rồi!” Khước Khước giở từng thẻ tre, “vật này hẳn nên mang ra ngoài núi để cứu đời?”

“Còn thiếu một cái tên,” Liễu Liễu bước lại, đứng bên Khước Khước, “sư huynh hãy đặt!”

“Tâm huyết của sư tỷ, Khước Khước đâu dám đặt bừa?” Khước Khước lại cười.

Liễu Liễu ngẫm nghĩ chốc lát rồi nói: “ Tố vấn, Châm luận, đều là cái học nội tỉnh, tức xem xét bên trong. Liễu Liễu muốn gọi nó là Nội kinh.”

Nội kinh, hay lắm,” Khước Khước tiếp lời, “có điều, chữ nội quá rộng, vẫn cần một cái tên cụ thể để dễ bề truyền tụng.”

“Xin sư huynh sửa giúp!”

“Danh hiệu của tiên sinh, đám Tô Tần đã chiếm dụng trước rồi, nên không thể lại dùng được nữa. Trong sách của sư tỷ nhiều chỗ dẫn lời Hoàng Đế, vậy thì hãy gọi là Hoàng Đế nội kinh, được chăng?” Khước Khước cười nói.

“Tên hay lắm!” Liễu Liễu nhấc bút, chấm đẫm mực, viết lên thẻ tre đầu tiên bốn con chữ lớn: “Hoàng Đế nội kinh”.

Viết xong, Liễu Liễu ngoảnh đầu, nhìn vào thế cờ Cơ Văn vừa mới bày xong. Khước Khước cũng nhìn lại.

“Sư huynh,” ánh mắt Liễu Liễu vẫn dừng trên bàn cờ, “khắp bàn cờ dày đặc quân đen, quân trắng liệu có thể lật ngược tình thế?”

“Mấy hôm trước, Khước Khước ban đêm quan sát thiên văn, thấy rằng chỉ vài năm nữa, thiên hạ đại biển, thể của cờ đen sẽ vỡ.”

“Ý sư huynh là, sẽ lại mở ra một thế cục mới?”

“Phải!” Khước Khước khẽ cười, “ván này tiếp ván khác, cục này tiếp cục kia, mãi mãi không ngừng nghỉ.”

“Ván cờ mới này, sư huynh muốn để Trương Lương mở cục ư?” Liễu Liễu sắc mặt hồ nghi, “Bác Lãng Sa ném chuỳ hành thích Tần Thuỷ Hoàng, thấy rằng kẻ này lỗ mãng; cuộc hẹn dưới cầu Hạ Bì, thấy rằng kẻ này bồng bột.”

Khước Khước vuốt chòm râu bạc trắng, bật cười mà đáp: “Có khác nào cụ nội hắn năm xưa!”

“Cũng phải!” Liễu Liễu mỉm cười, hồi lâu sau, đưa mắt nhìn xa về phía trời đông, “hậu bối của Bàng huynh, Tô huynh, Trương huynh đều đã tới, nếu như có thêm một hậu bối của Tôn huynh, vậy thì Quỷ Cốc môn của ta sẽ lại đông đủ như xưa!”

“Hậu bối của Tôn huynh xa tận Phù Tang, phản phác quy chân, giáo hoá thể nhân, quả không gì tốt đẹp hơn thế!” Khước Khước cảm khái.

“Phải, không gì tốt đẹp hơn thế!” Liễu Liễu cũng mỉm cười, rồi nhắm mắt tĩnh toạ, thần du tới Phù Tang.

12 tháng 5 năm 2021

HẾT

Notes

[←1]

Tương truyền trước khi triều Chu thành lập, có chim phượng đậu ở Kỳ Sơn mà hót, người ta cho rằng phượng hoàng vì cảm động trước nhân nghĩa của Văn Vương mà tới, coi đó là điềm triệu cho sự hưng thịnh của nhà Chu.

[←2]

Chức quan cai quản nghề làm gốm.

[←3]

Trích trong bài Uyển Khâu, phần Trần phong trong Kinh Thi.

[←4]

Chữ Uyển 宛 ở đây có nghĩa là trũng thấp. Khâu 丘 có nghĩa là gò đồi. Uyển Khâu có nghĩa là vùng đất xung quanh nhô cao ở giữa trũng thấp.

[←5]

Trích trong bài thơ Trạch pha, phần Trần phong trong Kinh Thi.

[←6]

Ông không phải cá, xuất phát từ một đoạn đối đáp nổi tiếng giữa Trang Tử và Huệ Thi: “Ông không phải cá, sao biết cá vui?”

[←7]

Tức Cảo Kinh và Lạc Dương. Cảo Kinh là kinh đô thời Tây Chu, Lạc Dương là kinh đô thời Đông Chu.

[←8]

Tên một bài thơ thuộc phần Tần phong sách Kinh Thi.

[←9]

Hay kim văn, chung đỉnh văn, văn tự khắc trên đồ đồng thời xưa.

[←10]

Hai câu này dùng phép chơi chữ. “Bờ nam sông lớn”, nguyên văn “đại giang chi âm”, giang âm tức bờ phía nam của sông, cũng ám chỉ họ Âm. “Sông đất âm” nguyên văn “đại âm chi giang”, ám chỉ họ Giang.

[←11]

Người trông coi sổ sách chi tiêu thời xưa.

[←12]

Tức đất sống, một loại đất thần kỳ trong thần thoại Trung Hoa, có thể tự động sinh trưởng

[←13]

Khuông tướng quân đích thân mở.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử