Tô Tần và Tử Chi bước ra khỏi cửa cung, đã có một cỗ chiến xa tứ mã chờ sẵn bên ngoài. Phu xe kê sẵn ghế giẫm chân, đứng hầu bên cạnh. Tử Chi vòng tay nói với Tô Tần: “Tại hạ phụng chỉ cùng Tô Tử bàn luận đại sự, nơi đây phức tạp, tại hạ kính mời Tô Tử tới một nơi yên tĩnh để bàn chuyện, mong Tô Tử đồng ý!”
“Cung kính không bằng tuân lệnh!” Tô Tần vòng tay đáp lễ.
“Tô Tử, mời!” Tử Chi lùi sang một bên, chỉ vào xe ngựa, đưa tay mời.
“Tướng quân mời lên trước!” Tô Tần đáp lễ.
Tử Chi mỉm cười, cầm tay Tô Tần cùng bước lên xe. Phu xe ra roi thúc ngựa, băng qua con phố lớn trước cung thành, lướt qua rất nhiều đại viện kín cổng cao tường, cuối cùng dừng lại trước một khu nhà kín đáo.
Tử Chi nhảy xuống trước, kê ghế giẫm chân, đích thân đỡ Tô Tần xuống xe, quay sang nói với phu xe: “Mời công tôn tới, nói là có khách quý!”
Phu xe không đáp tiếng nào, chỉ lẳng lặng quay xe, ra roi, lao đi mất hút.
Tô Tần đưa mắt nhìn, thấy phía trước là một trạch viện nông gia rất đỗi tầm thường, nhà cỏ tường đất, đã không có lầu trên cổng, cũng không thấy phòng bên cổng, càng không có môn nhân. Cánh cổng gỗ được đóng rất khéo léo, một chú chó xồm lông vàng vẫy đuôi sủa rối lên sau cánh cổng. Nhìn vẻ hưng phấn của chú chó, rõ ràng không hề có ý thù địch. Nghe tiếng chó sủa, cánh cửa nhà cỏ cót két mở, một bé gái tầm bốn, năm tuổi chạy ra, trông thấy Tô Tần, vội rụt trở vào, nấp sau cánh cửa, chỉ thò mỗi cái đầu nhỏ xíu ra nghiêng ngó. Lát sau, một thiếu phụ xinh đẹp trong trang phục người Hồ thoăn thoắt bước ra, vừa mở miệng định gọi, thấy có người lạ, thì hổ thẹn đỏ mặt, đưa tay lên che miệng, chậm rãi đi ra mở cổng, khép nép đứng sang một bên, khom lưng đứng đợi. Bé gái kia cũng chạy ra, sợ sệt nép sau lưng thiếu phụ.
Cánh cổng vừa mở, con chó đã cuống quýt nhảy phốc ra, quấn quýt bên chân Tử Chi. Tử Chi cúi xuống xoa đầu nó vài cái, rồi vòng tay nói với Tô Tần: “Tô Tử, mời!”
Tô Tần ngập ngừng bước vào trong nhà, đưa mắt nhìn quanh, thấy bên trong có ba dãy nhà, tuy không lộng lẫy xa hoa, song rất gọn gàng ngăn nắp, đồ đạc đầy đủ không thiếu thứ gì. Hai người bước vào phòng khách ngồi xuống, song ghế chủ vẫn để trống. Một lát sau, thiếu phụ khi nãy bưng trà lại, tiện tay dắt bé gái đi, trở xuống bếp chuẩn bị cơm rượu.
Tô Tần đang băn khoăn trong lòng, bên ngoài lại vang lên tiếng xe ngựa.
Tử Chi vội nói với Tô Tần: “Mau lên, công tôn tới rồi!”
Tô Tần không biết công tôn là ai, chỉ biết vội vã theo Tử Chi ra cổng nghênh đón. Còn chưa tới cổng, công tôn Khoái đã nhảy xuống xe, hối hả bước vào trong. Tử Chi bước lại đón, cười vang mà nói: “Công tôn đến nhanh quá!”
Cơ Khoái cũng cười đáp: “Chỗ tướng quân hiếm hoi lắm mới có khách tới, nay có khách quý, Cơ Khoái nào dám chậm trễ!” Rồi quay sang Tô Tần. “Tướng quân, vị này hẳn là khách quý?”
“Đúng vậy!” Tử Chi chỉ tay vào Tô Tần, nói với Cơ Khoái. “Để mạt tướng giới thiệu, vị này là Tô Tần, sĩ tử Lạc Dương nổi danh liệt quốc.” Lại chỉ vào Cơ Khoái, quay sang nói với Tô Tần. “Vị này là công tôn Khoái, trưởng tử của điện hạ!”
Nghe nói là trưởng tử của điện hạ, Tô Tần liền quỳ xuống định bái lạy, thì công tôn Khoái vội ngăn lại: “Tô Tử miễn lễ!”
Tô Tần đổi lạy sang vái, kính cẩn nói: “Tô Tần người Lạc Dương bái kiến công tôn!”
Cơ Khoái cũng đáp lễ: “Cơ Khoái bái kiến Tô Tử!”
Ba người trở lại phòng khách, Cơ Khoái cũng không đùn đẩy, ngồi ngay vào vị trí chủ. Tử Chi, Tô Tần cũng lần lượt ngồi xuống hai bên trái phải.
Cơ Khoái cười nói với Tô Tần: “Đúng là nể mặt Tô Tử! Nơi này của tướng quân, người bình thường còn lâu mới được bén mảng tới!”
“Ồ?” Tô Tần đưa mắt nhìn cách bài trí sơ sài xung quanh, vờ cười mà hỏi. “Dám hỏi công tôn, những người thế nào mới được tới đây?”
Cơ Khoái lại cười: “Theo Khoái biết, ở đất Yên, được bước vào cửa này mới có hai người, một là tại hạ, người còn lại chính là Tô Tử!”
Tô Tần lấy làm kinh ngạc: “Tại sao lại như vậy?”
“Bởi đây là tư gia của tướng quân!” Cơ Khoái cười đáp. “Tướng quân có một điều kỳ cục là xưa nay chưa từng đưa khách về nhà, trừ phi là tri kỷ!”
Tô Tần sửng sốt, quay đầu nhìn sang Tử Chi, dường như không dám tin: “Tư gia của tướng quân?”
Tử Chi mỉm cười, gật đầu nói: “Chính là hàn xá của tại hạ!”
Tô Tần kinh ngạc: “Vậy người vừa rồi…”
“Là tiện nội! Bé gái kia chính là tiểu nữ.”
“Tô Tử có điều không biết,” Thấy Tô Tần mắt tròn mắt dẹt, Cơ Khoái cười nói xen vào, “phu nhân của tướng quân không phải là nhân vật tầm thường, trước khi xuất giá, chính là hạt minh châu trên tay đại vương Đông Hồ!”
“Là công chúa người Hồ?” Tô Tần lại sững sờ kinh ngạc. “Công chúa tình nguyện sống trong gian nhà cỏ này ư?”
“Đâu còn cách nào khác!” Tử Chi nhún vai, nửa đùa nửa thật. “Ai bảo nàng ấy chấp nhận lấy một tên nghèo mạt rệp như Tử Chi đây!”
Tô Tần trong lòng kính phục bội phần, cảm khái thốt lên: “Đại tướng quân thân là dòng dõi quý tộc Yên thất, lại là quan lớn trong triều, vậy mà cuộc sống lại chất phác giản dị đến vậy. Nếu không phải tại hạ tận mắt chứng kiến, thực không dám tin!”
“Là tại hạ tự khoe xấu!” Tử Chi khẽ ôm quyền, tỏ vẻ áy náy. “Nhà cửa bần hàn nên ít có người ngoài tới thăm. Nay ở trong cung, nghe được cao luận của Tô Tử, tại hạ đoán Tô Tử không phải người ngoài, mới mạo muội đưa Tô Tử về đây!”
“Than ôi!” Tô Tần lắc đầu than thở. “Không phải tướng quân tự khoe xấu, mà là Tô Tần đáng chê cười. Không giấu tướng quân, Tô Tần chu du liệt quốc, gặp không ít đại quan quý tộc, không ai không ăn trắng mặc trơn, nhà cao cửa rộng, song tôn quý như đại tướng quân đây mà vẫn giữ được phẩm cách nhường này, thực nằm ngoài tưởng tượng của tại hạ!”
“Ồ!” Tử Chi thu lại nụ cười, cũng than thở mà rằng. “Tại hạ cũng là người bằng xương bằng thịt, làm gì có chuyện không thích ăn trắng mặc trơn? Có điều…” mắt nhìn xuống đất, sắc mặt buồn rầu, “Tô Tử có điều không biết, nước Yên đất đai cằn cỗi, thiên tai triền miên, dân chúng lầm than đói khổ, sống đời cơ cực, rất nhiều nhà thậm chí còn không có cơm ăn, Tử Chi ngày ngày chứng kiến mà lòng đau như cắt. Không giấu Tô Tử, so với bách tính, cuộc sống của tại hạ đã là quá xa hoa!”
Có lẽ cũng là lần đầu được nghe Tử Chi dốc bầu tâm sự, Cơ Khoái vô cùng xúc động, lập tức thu lại nụ cười, cúi đầu tư lự.
Tô Tần kính nể bội phần, ôm quyền vái mà nói: “Tướng quân tâm niệm đến nỗi khổ của bách tính, thực là phúc của người Yên!”
“So với Tô Tử,” Tử Chi cũng đáp lễ, “tại hạ thực lấy làm hổ thẹn. Điều tại hạ nghĩ đến, chẳng qua chỉ là nỗi thống khổ của người Yên, còn điều Tô Tử nghĩ đến, lại là phúc lợi của thiên hạ. Một bên là người Yên, còn một bên là thiên hạ, nếu đem so với nhau, chẳng phải chí khí của tại hạ đã thua xa Tô Tử rồi ư?”
“Là tướng quân đã đánh giá cao Tô Tần rồi! Tô Tần chẳng qua chỉ ba hoa ngoài miệng, còn tướng quân đã thực sự làm được. Có tướng quân, hợp tung đã có hy vọng, bách tính đã có hy vọng, thiên hạ đã có hy vọng!”
“Tạ ơn Tô Tử quá khen!” Tử Chi vái tạ Tô Tần, quay sang Cơ Khoái. “Công tôn, chúng ta hãy cùng bàn chính sự!”
Cơ Khoái đang mải suy nghĩ, chợt nghe gọi đến tên thì giật mình, ngước nhìn Tử Chi, ngơ ngác không biết nói gì.
Tử Chi cười nói: “Mạt tướng mời công tôn tới, là muốn cùng Tô Tử bàn luận kế sách lâu dài của nước Yên.”
“Chuyện này không khó!” Cơ Khoái gật đầu. “Có điều, trước hết tướng quân hãy đồng ý với Cơ Khoái một việc!”
“Công tôn cứ nói!”
“Cơ Khoái có ý muốn làm láng giềng của tướng quân, dựng một căn nhà cỏ ở đây, kích thước, hình thù giống hệt nhà cỏ của tướng quân, không biết ý tướng quân thế nào?” Cơ Khoái nhìn Tử Chi với ánh mắt chân thành.
“Ồ…” Tới lượt Tử Chi ngẩn người sửng sốt.
“Sao kia?” Cơ Khoái lo lắng. “Lẽ nào tướng quân không muốn làm láng giềng với Cơ Khoái?”
“Không phải, không phải!” Tử Chi vội thanh minh. “Là mạt tướng được yêu mến quá sinh thấp thỏm mà thôi!”
“Nói vậy là tướng quân đã đồng ý rồi!” Cơ Khoái mừng ra mặt.
“Vâng, vâng, vâng!” Tử Chi luôn miệng đáp. “Đợi mạt tướng qua cơn bận rộn này, sẽ cho gọi thợ mộc tới dựng nhà!”
“Được!” Cơ Khoái quay sang Tô Tần. “Tô Tử, nghị sự được rồi!”
Tô Tần đang định trả lời, chợt nghe bên ngoài vọng lại tiếng bước chân, phu nhân của Tử Chi đã chuẩn bị xong rượu thịt, đích thân bưng lên. Ba người vừa uống rượu, vừa bàn bạc rôm rả, mỗi lúc càng thêm ý hợp tâm đầu, loáng cái trời đã sập tối lúc nào không hay. Tử Chi sai người châm đèn, tiếp tục trò chuyện. Ba người cứ thế bàn luận say sưa tới tận khi trời sáng, chỉ đến lúc nghe thấy tiếng chuông thượng triều văng vẳng vọng lại, mới dừng câu chuyện.
Xe ngựa đã đợi sẵn ngoài cổng, ba người rửa mặt xong xuôi, vội vã vào cung.
Yên Văn Công ban chỉ trước điện, tấn phong Tô Tần làm khách khanh, ban hai bộ quan phục, một toà trạch viện, một cỗ xe ngựa, ba trăm lượng vàng, mười lăm nô bộc. Nghĩ tới Tử Chi vẫn ở trong nhà cỏ vách đất, công chúa Đông Hồ không có lấy một nữ tỳ, Tô Tần lấy làm hổ thẹn, dập đầu ba lần từ chối, song Văn Công không ân chuẩn, truyền chỉ bãi triều.
Quần thần đã ra về hết, Yên Văn Công chỉ giữ lại Tô Tần, đưa tới thư phòng, bàn tiếp về đại thế thiên hạ và sách lược hợp tung. Quân thần hai người bàn luận tới tận giờ Thân buổi chiều, Tô Tần thấy Văn Công đã mệt, bèn thi lễ cáo từ. Tô Tần vừa ra khỏi cửa điện, đã thấy lão nội thần đợi sẵn ngoài cửa, dẫn Tô Tần tới trạch viện mà quân chủ vừa ban tặng.
Đó là một toà đại viện cao lớn rộng rãi, vốn là phủ của Quý tư đồ trước đây, nằm giữa con phố lớn chạy qua trước cung điện, là nơi tập trung phủ đệ của các đại quan quý tộc. Quý Vỹ cũng được liệt vào dạng hiển hách trong hào môn. Sau khi Quý Vỹ qua đời, Quý Thanh giải tán kẻ hầu người hạ, chuyển hết gia sản cho một thuộc hạ, cũng là bạn thân của cha là Lôi Trạch. Mấy hôm trước, Vũ Thành Quân đánh thành, cả nhà Lôi Trạch làm nội ứng, sau khi sự việc bại lộ, nam giới trong nhà đều chết ở cổng thành đông, đàn bà con gái chưa kịp tự vẫn đều bị bắt làm nô tỳ cho nhà quan, gia sản bị tịch biên toàn bộ, còn toà phủ trạch ban thưởng cho Tô Tần.
Lão nội thần và Tô Tần bước vào trong viện, quản gia do lão nội thần phái tới nghe thấy tiếng chân bước, vội vỗ tay ra hiệu, mười bốn gia nô gồm sáu nam tám nữ lập tức chạy ra, tính cả quản gia vừa đủ mười lăm người, đồng loạt quỳ sụp xuống đất.
Lão nội thần sai người khiêng hai chiếc hòm lại, một hòm là quan phục, một hòm là ba trăm lượng vàng, mở cả hai hòm ra cho Tô Tần kiểm tra.
Đúng vậy! Bày ngay trước mặt Tô Tần chính là phú quý, thứ phú quý mà Tô Tần đã tìm kiếm suốt bao năm qua!
Phú quý nói tới là tới, lại tới một cách giản đơn nhanh chóng đến nhường này.
Tô Tần nhìn hai chiếc hòm, nhìn mười lăm gia nô đang quỳ dưới đất, lại nhìn hậu hoa viên và trạch viện rộng lớn xa hoa, chẳng khác nào đang ngủ mơ. Thậm chí Tô Tần không hề nghe thấy lão nội thần đang sai bảo đám nô bộc những gì, chỉ mơ hồ nghe thấy ông ta đang lớn tiếng ồn ào gì đó, còn đám nô bộc dập đầu lia lịa. Sau đó, lão nội thần quay sang Tô Tấn vòng tay cáo từ, quay người bước đi.
Tô Tần vô thức tiễn lão nội thần ra khỏi cổng phủ, lại đứng ngẩn ngơ bên cổng một hồi, mới quay trở vào trong viện, thấy quản gia và đám nô bộc vẫn đang quỳ dưới đất, lấy làm kinh ngạc, vội xua tay nói: “Mau lên, đứng dậy đi, mọi người quỳ mãi ở đó làm gì?”
Quản gia tạ ơn xong, quay sang phía đám nô bộc ra lệnh: “Chúa công đã có lời, các ngươi mau đứng dậy. Bắt đầu từ hôm nay, bổn phận của các ngươi là hầu hạ chu đáo chúa công. Ai to gan biếng nhác, sẽ trừng trị theo gia pháp!”
Đám nô bộc tạ ơn xong, quản gia bèn sai mấy gia đinh to khoẻ khiêng hai chiếc hòm về phòng, rồi đứng sang bên cạnh chờ lệnh.
Tô Tần ngồi im lặng trong sảnh một lúc, bỗng sực nhớ ra một việc, bèn nói với quản gia: “Mang theo vàng, chuẩn bị xe!”
“Xin hỏi chúa công, mang theo bao nhiêu vàng là đủ?” Quản gia nhận ra chủ nhân mới được phú quý, vẫn chưa kịp quen, sau một thoáng ngẩn ngừ, cẩn thận hỏi lại một câu.
“Tuỳ!” Tô Tần đáp liền.
“Ồ…” Quản gia có vẻ lúng túng, khẽ chau mày.
Tô Tần lấy ra một chiếc túi từ trong ống tay áo, đưa cho quản gia: “Đếm xem trong túi có bao nhiêu đồng xu, thì lấy bấy nhiêu lượng vàng!”
Quản gia tuân lệnh, hai tay đỡ lấy túi tiền, quay người bước đi. Một lát sau, ông ta quay trở lại, dẫn theo hai tỳ nữ trẻ tuổi, mỗi người bưng một chiếc khay, bên trên là một bộ quan phục. Quản gia cúi gập lưng nói: “Khởi bẩm chúa công, trong túi có tổng cộng một trăm đồng xu, tiểu nhân đã chuẩn bị đủ một trăm lượng vàng, chuyển lên xe rồi. Nếu chúa công muốn đi ngay, xin hãy thay trang phục!”
Tô Tần nhìn bộ quan phục mới tinh, lại nhìn quần áo trên người, thấy đã cũ sờn hoen ố, thực không tương xứng với toà trạch viện xa hoa và cỗ xe tứ mã. Đắn đo một lát, Tô Tần cười khẽ, lắc đầu mà nói: “Mặc quen rồi, không thay tốt hơn. Đi thôi!” Lời vừa dứt, chân đã bước thẳng ra sân.
Quản gia vội bước theo sau, nhanh nhảu tiến tới trước cỗ xe tứ mã do quân chủ ban thưởng, đặt ghế giẫm chân ngay ngắn, đỡ Tô Tần lên xe, còn mình nhảy lên chỗ dành cho người đánh ngựa ở phía trước, quay đầu lại hỏi: “Chúa công muốn đi đâu?”
“Quán trọ Lão Yên Nhân!”
Trời đã nhập nhoạng, bốn phía bảng lảng mịt mờ.
Tuy dinh thự mới nằm trên cùng một con phố với quán trọ Lão Yên Nhân, song cũng phải đi một đoạn khá xa mới tới. Do chiến loạn vừa qua, suốt dọc đường đi, Tô Tần nhìn thấy rất nhiều hộ dân đang làm tang sự, chốc chốc lại nghe văng vẳng tiếng than khóc bi thương.
Thấy phía trước đã là quán trọ Lão Yên Nhân, Tô Tần phẩy tay ra hiệu dừng lại, nhảy xuống xe, nói với quản gia: “Ngươi chờ ở đây, để một mình ta vào trong!”
Tô Tần chậm rãi tiến vào trong quán. Vừa bước qua cổng, đã giật mình kinh hãi, bởi lẽ trong nhà cũng đầy vẻ tang thương. Giữa sảnh đường đặt một cỗ quan tài sơn đen, phía sau bày linh vị, không có tiếng khóc than, chỉ có ba thanh niên mặc hiếu phục quỳ trước linh đường.
Tô Tần vội vã rảo lên vài bước, tiến lại trước linh vị, nhìn vào bài vị, mới biết lão trượng đã qua đời, bỗng chốc đờ người chết lặng, hồi lâu sau mới định thân lại được, quỳ sụp xuống trước linh vị, dập đầu vài cái, nước mắt tuôn rơi.
Quỳ đờ đẫn hồi lâu, Tô Tần bèn đứng dậy, trở ra ngoài. Lát sau, mang theo hòm lễ vật quay trở vào trong, lại lạy thêm mấy lạy, rồi lần lượt lấy từng đĩnh vàng trong hòm ra, xếp thành một hình chữ “phẩm” thực lớn. Tiểu nhị quỳ bên cạnh trợn tròn hai mắt, kinh ngạc nhìn sững vào đống vàng sáng loá, hích nhẹ cùi tay vào Viên Báo.
Viên Báo và tráng sĩ cùng tiến lại, lần lượt quỳ xuống bên cạnh Tô Tần.
Tô Tần mắt đẫm lệ, quay sang tiểu nhị: “Mang rượu lại đây, tại hạ muốn uống vài chén cùng lão trượng.”
Tiểu nhị bê hũ rượu lại, Viên Báo lấy ra hai chiếc chén đồng của lão trượng.
Tô Tần rót đầy chén, nâng lên nói: “Lão trượng, tại hạ xin được đối ẩm với người một chén, cung kính cạn trước!” Rồi uống một hơi cạn chén, đoạn tưới rượu trong chén còn lại xuống trước linh vị.
Tô Tần cứ thế một mình đối ẩm cùng lão trượng, cạn liền ba tuần. Im lặng một chốc, Viên Báo bỗng cất giọng bi thiết, khe khẽ ngâm nga
“Cây non Yên xanh xanh chừ,
Người ấy ra đi.
Cây non Yên khô úa chừ,
Sao chẳng thấy về…”
Viên Báo ngâm đi ngâm lại hai câu dân ca cổ xưa, Tô Tần và tráng sĩ nghe mà nước mắt đầm đìa, không kìm nổi lòng, cũng ngâm theo:
“Cây non Yên xanh xanh chừ,
Người ấy ra đi.
Cây non Yên khô úa chừ,
Sao chẳng thấy về…”
Không biết ba người đã ngâm nga bao nhiêu lâu, Tô Tần mới gạt nước mắt, quay đầu lại hỏi: “Viên tướng quân, lão trượng ra đi thế nào?”
Viên Báo sụt sùi nói: “Nghe nhân huynh đây nói, đã tử chiến ở cổng đông.”
Không đợi Tô Tần hỏi tới, tráng sĩ đã kể lại đầu đuôi câu chuyện lão trượng dũng cảm xả thân hộ thành, rồi cảm thán mà nói: “Tại hạ chu du khắp nơi, gặp không ít anh hùng hào kiệt, song tới nay, người thực sự khiến tại hạ cảm kích tận đáy lòng, chỉ có lão trượng!”
“Đúng vậy!” Tô Tần gật đầu nói. “Lão trượng là người Yên, là một người Yên đích thực!” Lát sau, lại quay sang tráng sĩ. “Lần gặp mặt trước, do có việc gấp, tại hạ chưa kịp hỏi rõ tôn tính đại danh, quê quán của tráng sĩ?”
Tráng sĩ vòng tay nói: “Tại hạ từ nhỏ đã mồ côi cha mẹ, không biết danh tính, lớn lên ở Phiên Ngô đất Triệu, thuở nhỏ gặp dị nhân truyền cho dị thuật, có thể phi dao khoá họng trong khoảng ba mươi bước, người Phiên Ngô gọi tại hạ là Trâu Phi Đao, hẳn là tổ tiên của tại hạ họ Trâu!”
Tô Tần kinh ngạc hỏi: “Tráng sĩ đã gặp dị nhân nào? Có còn nhớ chăng?”
Trâu Phi Đao trầm tư một lát, rồi gật đầu nói: “Là một người trung niên, vận trang phục nâu, võ nghệ cao cường, tinh thông kiếm thuật. Ông gặp tại hạ đúng vào mùa đông lạnh giá, khi đó tại hạ ăn mặc phong phanh, sống trong miếu sơn thần, toàn thân run rẩy vì giá lạnh. Ông đã cởi áo trên người mặc cho tại hạ, lại cho tại hạ ăn, sau đó truyền thụ cho thuật phi đao, giảng giải thuyết kiêm ái cho tại hạ, dặn tại hạ phải hành hiệp trượng nghĩa, đối xử lương thiện với mọi người!”
Nghe thấy hai chữ “kiêm ái”, Tô Tần đã chắc tới tám, chín phần, gật đầu mà rằng: “Người tráng sĩ gặp, hẳn là đệ tử Mặc gia. Ông ấy không xưng danh tính ư?”
Tráng sĩ lắc đầu nói: “Ông ấy không chịu nói, chỉ bảo tại hạ gọi là ‘tiên sinh’. Tới khi tại hạ học xong thuật phi đao, tiên sinh cũng ra đi. Lúc đó tại hạ trẻ người non dạ, chỉ biết học kỹ nghệ, mà không biết tìm hiểu cho cặn kẽ.”
“Vậy tráng sĩ vì đâu lại gặp Giả tiên sinh?”
“Cách đây không lâu, tại hạ đang biểu diễn ngón phi đao khoá họng trên phố Hàm Đan thì gặp Giả tiên sinh. Tại hạ rất kính phục tiên sinh. Tiên sinh tặng cho tại hạ một con ngựa tốt, nhờ tại hạ mang thư tới cho Tô Tử, nói là thư này liên quan tới chuyện sinh tử tồn vong của ngàn vạn người. Tại hạ chẳng hỏi lấy một câu, lập tức lên ngựa đi ngay.”
“May mà tráng sĩ tới kịp!” Tô Tần vòng tay tạ ơn. “Dám hỏi tráng sĩ, về sau có dự định gì không?”
“Còn dự định gì được nữa? Trở lại Hàm Đan tiếp tục mãi võ thôi!”
“Mãi võ chỉ có thể kiếm sống qua ngày, không phải là việc của tráng sĩ thực thụ. Lẽ nào tráng sĩ chưa từng nghĩ tới điều gì khác, ví như sự nghiệp nhân sinh lẫy lừng?”
“Lẫy lừng?” Trâu Phi Đao tròn mắt nhìn Tô Tần. “Là sự nghiệp gì kia?”
“Hợp tung!”
“Thế nào là hợp tung?” Trâu Phi Đao, Viên Báo không hẹn mà cùng hỏi một câu.
Tô Tần chậm rãi giải thích: “Hợp tung, chính là ngăn chặn chinh phạt, chính là khiến dân chúng hoà thuận, chính là đối xử lương thiện với người khác, thi hành đại đạo kiêm ái.”
Nhìn vào một trăm đĩnh vàng xếp ngay ngắn trước mặt, Trâu Phi Đao biết Tô Tần đã được Yên Công trọng dụng, bèn dõng dạc nói: “Tại hạ nguyện theo Tô Tử, thực thi đại nghiệp hợp tung.”
“Tô tiên sinh,” Viên Báo do dự một lát, hỏi khẽ, “tại hạ có thể theo cùng không?”
Tô Tần ngạc nhiên nhìn Viên Báo: “Viên tướng quân chẳng phải vẫn là người của điện hạ ư?”
“Điện hạ…” Hai giọt lệ bỗng ứa ra bên khoé mắt Viên Báo, “điện hạ đã cách chức tại hạ, đuổi đi rồi!”
Tô Tần ngẫm nghĩ một lát, rồi gật đầu đáp lời: “Tướng quân đồng ý theo tại hạ, thực quá tốt! Đợi cho lệnh tôn mồ yên mả đẹp, tướng quân hãy cùng Trâu huynh tới phủ của tại hạ, ba huynh đệ chúng ta đồng tâm hiệp lực, thực thi đại nghiệp hợp tung!”
Viên Báo đưa ống tay áo lên lau nước mắt: “Tạ ơn tiên sinh thu nhận!”
***
Người Yên vừa trải qua những ngày u ám do loạn Vũ Dương gây nên, lại có ngay tin vui tới cửa. Vào một buổi chiều đẹp trời, nắng êm gió nhẹ, một đoàn sứ giả gồm vài chục cỗ xe ngựa chở lễ vật của nước Triệu rầm rập tiến vào Kế Thành từ cổng nam, đi thẳng vào dịch quán liệt quốc cách cung Yên không xa.
Sáng hôm sau, đặc sứ của Triệu Túc Hầu là Lâu Hoãn lên triều, trước tiên thay mặt Triệu Hầu chúc Yên Công bình an, tiếp đó gửi lời tạ lỗi tới nước Yên về chuyện Phụng Dương Quân gây chiến ở biên giới, đồng thời dâng tặng hậu lễ, bày tỏ mong muốn kết minh ước láng giềng hoà mục với nước Yên.
Sau khi sứ Triệu thoái triều, Yên Văn Công lập tức triệu tập trọng thần tới cung Minh Quang nghị sự. Do kế sách hợp tung của Tô Tần sớm đã được mọi người biết tới, nên quân thần Yên thất nhanh chóng nhất trí, đáp lễ nước Triệu, thực hiện hợp tung. Tô Tần tấu xin cho công tôn Khoái làm đặc sứ, mình làm phó sứ, Viên Báo làm hữu tướng quân, song Văn Công không nghe, hạ chỉ lệnh cho Tô Tần làm đặc sứ, công tôn Khoái làm phó sứ, Viên Báo làm hữu tướng quân, điều động trăm cỗ xe ngựa, năm trăm kỵ mã tinh nhuệ, để tăng thanh thế.
Văn Công thoái triều trước, để điện hạ đứng ra chủ trì.
Điện hạ giữ lại những triều thần có liên quan như Tô Tần, Tử Chi, Cơ Khoái tới thiên điện tiếp tục bàn luận chi tiết về việc đi sứ sang Triệu, tới giờ Ngọ mới bãi triều.
Tô Tần hăm hở bước ra khỏi cửa cung, đang định đi xuống, bỗng thấy bên cạnh có một người bước ra, vòng tay vái chào: “Tô Tử xin dừng bước!”
Tô Tần nhìn sang, nhận ra cung chính của cung Cam Đường, vội vòng tay đáp lễ: “Tô Tần bái kiến cung chính!”
“Phu nhân có lời mời!”
Tô Tần theo cung chính tới cung Cam Đường, cung chính mời Tô Tần đợi ở thiên điện, còn mình vào bẩm báo.
Đợi đúng nửa canh giờ, cung chính mới quay trở lại thiên điện, vòng tay nói với Tô Tần: “Phu nhân có chỉ, mời Tô Tử tới hậu hoa viên thưởng lãm hoa đào!”
Nước Yên nằm ở phương bắc rét mướt, năm nay mùa xuân lại lạnh giá kéo dài, nên hoa đào mãi tới tháng ba mới nở. Tô Tần theo cung chính đi tới rừng đào nằm ở một góc hậu hoa viên, từ xa đã thấy hoa đào nở rộ khắp vườn, sắc hồng rực rỡ. Tại đình hóng mát trong vườn, Yên Văn Công và Cơ Tuyết đang ngồi trên chiếu, tỳ nữ Xuân Mai đứng hầu bên cạnh.
Vườn đào buổi chiều nắng ấm. Nhìn thấy Văn Công ở đó, Tô Tần không khỏi khâm phục Cơ Tuyết. Tô Tần sắp phải lên đường đi sứ, đương nhiên rất mong được gặp mặt Cơ Tuyết. Tuy nhiên, dù là Tô Tần hay Cơ Tuyết, đều không có lý do chính đáng để gặp nhau. Cơ Tuyết mời Tô Tần và Văn Công cùng tới thưởng hoa đào, thực là một chủ ý vô cùng tuyệt diệu.
Tô Tần rảo bước lên phía trước, quỳ xuống dập đầu hô: “Vi thần khấu kiến chúa thượng, khấu kiến phu nhân!”
Văn Công mỉm cười, chỉ vào vị trí khách trước mặt: “Ái khanh miễn lễ, mời ngồi!”
Tô Tần tạ ơn, khoanh chân ngồi xuống chỗ ngồi, đưa mắt nhìn Văn Công, rồi lại chuyển ánh nhìn sang Cơ Tuyết đang ngồi bên cạnh Văn Công. Cơ Tuyết xiêm y trắng muốt, thêu điểm xuyết mấy đoá hoa nhỏ xíu màu hồng phấn, hệt như những búp hoa đào đang nở rộ khắp vườn, thấy Tô Tần nhìn sang, bèn mỉm một nụ cười rạng rỡ, đúng là nhan sắc tựa hoa đào, trông khác hẳn thường nhật, yêu kiều hơn không biết bao nhiêu lần.
Yên Văn Công cũng đưa mắt ngắm nhìn Cơ Tuyết, càng nhìn càng yêu, rồi quay sang Tô Tần, cười vang mà nói: “Không giấu ái khanh, mấy năm qua, lần đầu tiên quả nhân thấy ái phi vui vẻ đến vậy!”
Tô Tần ngoảnh mặt quay đi, nhìn ra phía vườn đào, nói: “Là bởi hoa đào đẹp quá!”
Cơ Tuyết cất tiếng cười trong vắt, buột miệng ngâm nga:
“Đào tơ mơn mởn,
Hoa nở rực hồng.
Nàng ấy theo chồng,
Yên bề gia thất.”
Bài thơ “Đào yêu” này xuất phát từ “Chu phong”, là một trong những bài mở đầu của ba trăm thiên “Thi”, nói về người thiếu nữ xuất giá trong mùa đào nở rộ cùng với niềm ước ao tình cảm vợ chồng ân ái, hạnh phúc hài hoà. Bài thơ này, Tô Tần và Yên Văn Công đều đã thuộc làu. Tuy nhiên, nghe Cơ Tuyết ngâm nga vào lúc này, lại mang một phong vị khác hẳn. Tô Tần, Văn Công mỗi người có một cách lĩnh hội, mỗi người có một nỗi bùi ngùi, bất giác cũng ngâm nga theo Cơ Tuyết:
“Đào tơ mơn mởn,
Trái đào đơm đầy.
Nàng ấy xuất giá,
Hạnh phúc vui vầy.
Đào tơ mơn mởn,
Lá xanh rậm rì.
Nàng ấy vu quy,
Gia đình hoà thuận.(1)
Mọi người ngâm xong, Cơ Tuyết vòng tay quay sang Tô Tần, Văn Công, chậm rãi nói: “Năm nay xuân lạnh, hoa đào trong vườn bắt đầu nở từ mấy hôm trước, hôm nay vừa hay nở rộ, thích hợp để thưởng lãm. Thần thiếp phúc mỏng, không dám hưởng một mình, nên có nhã ý mời chúa thượng, Tô Tử tới đây cùng thưởng hoa!” Rồi quay sang Văn Công. “Chúa thượng, chớp mắt, thần thiếp gả tới đất Yên đã bảy năm rồi. Nay gặp Tô Tử, thần thiếp ngỡ như thấy mình được trở về Lạc Dương, gặp gỡ người thân thích. Thần thiếp đã lâu không động đến đàn cầm, nay gặp người thân, đối diện với vườn đào rực rỡ, thần thiếp bỗng nhiên khởi hứng, nguyện vì chúa thượng, nguyện vì Tô Tử, nguyện vì những đoá hoa đào, xin gảy tặng một khúc nhạc, để trợ hứng!” Rồi quay sang Xuân Mai ra lệnh. “Bày đàn!”
Xuân Mai kê giá, bày đàn ngay ngắn. Cơ Tuyết hạ bàn tay ngọc, lướt nhẹ trên dây. Tiếng đàn ngân nga, khác nào gió xuân phơ phất. Cơ Tuyết khép mắt lại, khẽ nhấc tay lên, điều hoà hơi thở, rồi chậm rãi lướt phím vuốt dây, không thấy dây đàn động, chỉ nghe thấy âm thanh dìu dặt, một khúc “Lưu thuỷ” cất lên du dương, như giãi bày như tâm sự, như than thở như nỉ non, giao hoà làm một với ngày xuân, tình xuân.
Nhờ vào công phu tu luyện nhiều năm trong Quỷ Cốc, Tô Tần vừa nghe đã hiểu, đây không đơn thuần chỉ là tiếng đàn, mà là nỗi lòng của Cơ Tuyết. Cơ Tuyết đang mượn tiếng đàn để giãi bày tâm sự, những luyến ái âm thầm, những ý tình nồng nhiệt, đều được thổ lộ qua mấy sợi dây đàn, khiến Tô Tần nghe mà mặt nóng bừng bừng, tim đập thổn thức, liếc trộm sang Yên Văn Công, thấy ông ta không hề hay biết, hai ngón tay vẫn lên xuống nhịp nhàng theo tiết tấu, khẽ gõ nhịp cho Cơ Tuyết. Văn Công tuy thông âm luật, song không hiểu tiếng lòng Cơ Tuyết, do vậy nhịp gõ của ông thường không chuẩn. Tô Tần nhìn rõ mồn một, song cũng không dám tỏ ý, chỉ ngồi ngay ngắn trên chiếu, cố gắng che giấu hơi thở đã có phần gấp gáp.
Cơ Tuyết gảy xong một khúc, hai tay lại lướt nhẹ trên dây đàn, dư âm văng vẳng không tan.
Yên Văn Công thấy Cơ Tuyết đã gảy xong, vỗ tay nói: “Ái phi cầm nghệ tuyệt diệu, quả nhân nghe như tiếng nhạc tiên!”
Cơ Tuyết khẽ mỉm cười, vòng tay về phía Yên Văn Công: “Tạ ơn chúa thượng hậu ái!” Quay sang Tô Tần, thấy Tô Tần vẫn chìm đắm trong tiếng nhạc, thì khẽ gọi. “Tô Tử!”
Tô Tần giật mình choàng tỉnh, sững sờ mất một thoáng, rồi mới vòng tay khen ngợi: “Tiếng đàn của phu nhân đã có thể sánh ngang với tiên sinh rồi!”
“Tiên sinh?” Cơ Tuyết thoáng ngạc nhiên. “Tô Tử muốn nói đến Quỷ Cốc tiên sinh ư?”
“Không!” Tô Tần lắc đầu. “Là cầm sư!”
Nghe nhắc tới cầm sư, Cơ Tuyết trong lòng xúc động, khẽ giọng hỏi: “Tiên sinh… có khoẻ không?”
“Khởi bẩm phu nhân,” Tô Tần trầm giọng đáp, “tiên sinh đã quy tiên rồi!”
“A?” Cơ Tuyết bàng hoàng kinh hãi. “Tiên sinh ra đi như thế nào?”
Tô Tần kể vắn tắt lại một lượt những chuyện xảy ra ở Hàm Dương trong mấy năm qua, Cơ Tuyết, Xuân Mai nghe mà sụt sùi buồn bã, Văn Công cũng lệ nhoà hai mắt.
Thương cảm một hồi, Cơ Tuyết lại ngẩng đầu lên, mở to đôi mắt đẫm lệ nhìn Tô Tần, chuyển sang chuyện khác: “Nghe chúa thượng nói, Tô Tử muốn đi Hàm Đan hợp tung, dám hỏi Tô Tử, bao giờ lên đường?”
“Khởi bẩm phu nhân,” Tô Tần vòng tay nói, “ngày kia đại cát, vi thần dự định giờ Thìn sẽ khởi hành!”
Cơ Tuyết cúi đầu, im lặng một hồi, lại ngẩng lên nhìn thẳng vào Tô Tần, lời đầy ẩn ý: “Nếu Tô Tử có thể giúp ba nước Yên, Triệu, Hàn hợp tung, vừa có lợi cho ba nước, vừa có lợi cho thiên hạ, càng có lợi cho nước Yên. Có điều, nước Yên vừa trải qua nội loạn, nguyên khí tổn thương nghiêm trọng, chúa thượng long thể đang chờ bình phục, còn điện hạ thì…” Ngập ngừng một lát, nói tiếp. “Tô Tử, thôi không nhắc tới chuyện này nữa. Nước Yên không thể thiếu Tô Tử. Lần này Tô Tử ra đi, dù thành công hay không, đều phải vẹn toàn trở lại nước Yên, Tuyết Nhi…” chợt như nhận ra mình đã lỡ lời, vội vàng sửa lại, “bản cung nhất định sẽ cùng chúa thượng đến bên bờ Dịch Thuỷ nghênh đón, mở tiệc tẩy trần cho Tô Tử!”
Tô Tần trong lòng hiểu rõ, bèn đứng dậy, dập đầu đáp: “Tô Tần tạ ơn phu nhân hậu ái!” Rồi quay sang Văn Công. “Chúa thượng, không còn sớm nữa, vi thần còn một số việc cần chuẩn bị, xin cáo từ!”
Yên Văn Công nhìn Cơ Tuyết, gật đầu nói: “Cũng phải! Ái khanh lần này đi sứ, trọng trách nặng nề. Đợi ngày khải hoàn, quả nhân nhất định sẽ như lời phu nhân nói, đến bờ Dịch Thuỷ nghênh đón, mở tiệc tẩy trần cho ái khanh.”
Tô Tần lại bái lạy: “Vi thần khấu tạ long ân của chúa thượng!”
***
Nhờ sự hiện diện của trưởng tôn Cơ Khoái với thân phận phó sứ, lại cộng thêm trăm cỗ xe chiến, năm trăm kỵ mã tinh nhuệ, tính cả số tuỳ tùng theo cùng, thì sứ đoàn nước Yên cả thảy có tới gần hai nghìn người, xét về quy cách, không hề thua kém sứ đoàn nước Triệu. Sứ Yên, sứ Triệu hợp binh một chỗ, kéo dài vài dặm, suốt dọc đường đi cát bụi tung bay, khí thế hào hùng.
Sau khi băng qua Dịch Thuỷ, Lâu Hoãn vượt trước Tô Tần, dẫn đoàn sứ Triệu trở về trước, bẩm báo về tình hình và thành ý của nước Yên. Túc Hầu cảm kích, hay tin sứ đoàn nước Yên đã gần tới Hàm Đan, bèn sai thái tử Triệu Ung đi xe của mình, dẫn theo đám trọng thần An Dương Quân, Phì Nghĩa, Lâu Hoãn, Triệu Báo ra tận ngoài thành ba mươi dặm, nghênh đón trọng thể.
Đúng vào giờ Ngọ, trong thành Hàm Đan, trên con phố chính dẫn tới cung thành, cứ cách ba bước lại thấy một giáp sĩ cầm thương đứng nghiêm trang, người đi đường đều bị dẹp sang hai bên. Trong tiếng trống tiếng nhạc tưng bừng, xe của Triệu Hầu lộc cộc lăn bánh, đứng trên xe là thái tử Triệu Ung và đặc sứ nước Yên Tô Tần. Những người khác đều ngồi trên xe của mình, bám sát phía sau, cùng tiến thẳng về phía trạm dịch liệt quốc bên cạnh cung thành.
Dưới mái hiên rộng lớn của quán trọ Phong Vân, người đi đường bị dồn vào bên lề, giương mắt hết cỡ mà nhìn không chớp, như sợ lỡ mất cảnh tượng náo nhiệt hiếm có.
Đột nhiên, có một người phấn khích reo lên thật lớn: “Tôi nhận ra rồi, chính là anh ta!”
Đám đông đều ngoảnh lại nhìn, thấy kẻ vừa reo chỉ là một gã bán bánh nướng, đều ỉu xìu thất vọng, lừ mắt lườm nguýt, rồi lại quay đầu nhìn ra phố.
“Tôi nhìn rõ rành rành mà!” Gã bán bánh nướng thấy không ai để ý tới mình, bất mãn làu bàu.
“Nhìn rõ cái gì?” Có người bước lại gần hỏi.
Người bán bánh nướng chỉ vào Tô Tần vừa băng qua trước mặt: “Chính là người đó, tôi đã gặp rồi!”
“Hừm, ngươi đã gặp rồi?” Người kia hừ mũi xem thường. “Biết người đó là ai không? Là đặc sứ nước Yên! Còn cậu bé bên cạnh là điện hạ đương triều đấy! Này thằng bán bánh nướng kia, cắm cọng hành vào mũi lợn mà ngỡ thành voi rồi hẳn?”
“Đặc sứ nước Yên cái gì!” Gã bán bánh nướng giãy nảy. “Hai tháng trước, hắn chẳng qua chỉ là một tên khố rách áo ôm, đi đôi giày cỏ rách nát, lang thang trên phố ở cổng thành nam, mua của tôi có hai cái bánh nướng lại trả bằng tiền Chu. Lúc tôi phát giác ra, đòi hắn trả tiền Triệu thì một cái bánh đã bị xực hết veo rồi. Chuyện này là thật, tôi mà lừa anh thì tôi làm con rùa!”
Người kia thấy gã bán bánh lên giọng thề thốt, không thể không tin, bèn chế giễu mà rằng: “Ngươi đúng là hạng ngu đần mạt hạng, quý nhân tới sát bên cạnh mà còn không biết, mọc ra con mắt thật phí hoài! Ta mà là ngươi, ta sẽ mang toàn bộ bánh nướng ra biếu tặng để kết nhân duyên! Ta dám chắc, sau khi người này thành công đắc chí, chưa biết chừng sẽ thưởng cho ngươi dăm đĩnh vàng ròng!”
Gã bán bánh than thở: “Than ôi, lúc đó, ai biết được hắn lại là quý nhân!”
“Ồ, cũng phải!” Người kia tiếp lời. “Đúng là mỗi người một mệnh, hạng người như ngươi, chỉ xứng đi bán bánh nướng mà thôi!”
Đám đông cười ồ lên.
Phía sau, cách đó không xa, Giả Xá Nhân đầu đội nón lá đứng ngay sát cửa, lắng nghe một hồi, rồi khẽ mỉm cười, lại quay người bước vào trong.
Lần này, Triệu Túc Hầu không còn tránh mặt nữa. Tuy chưa gặp Tô Tần, song Túc Hầu cũng đã hiểu đại khái về sách lược hợp tung của Tô Tần, hết sức tán thưởng. Lần này phái Lâu Hoãn đi sứ sang Yên, vốn là muốn trọng dụng Tô Tần, thúc đẩy kế sách hợp tung. Để thúc đẩy hợp tung, Triệu Túc Hầu vốn túc trí đa mưu đã phải vắt óc suy nghĩ suốt một đêm trường, rồi quyết định triệu kiến Tô Tần vào buổi đại triều để cùng bàn luận, thứ nhất là muốn xem tài trí của Tô Tần, thứ hai cũng là để triều đình và dân chúng hiểu rõ hơn về kế sách hợp tung.
Sáng hôm sau, Triệu Túc Hầu mở đại triều tại chính điện Tín cung, long trọng tiếp đãi đặc sứ nước Yên. Thái tử Ung, An Dương Quân Triệu Khắc cùng các triều thần cấp đại phu trở lên như quốc uý tân nhiệm Phì Nghĩa, thượng tướng quân Triệu Báo, thượng đại phu Lâu Hoãn chia nhau ngồi ở hai bên. Ngoài ra còn có một số khách quý, là các lão thần tiền triều của nước Triệu, học vấn uyên bác, cũng được Túc Hầu mời tới cùng thảo luận. Ngay phía dưới ngai vàng của Túc Hầu có hai chỗ trống, dành riêng cho hai vị đặc sứ nước Yên.
Tô Tần, Cơ Khoái bước vào trong cung, dập đầu hô: “Đặc sứ của Yên Công Tô Tần, Cơ Khoái khấu kiến chúa thượng, cung chúc chúa thượng long thể an khang, vạn thọ vô cương!”
Triệu Túc Hầu quan sát Tô Tần, Cơ Khoái một hồi, mới gật đầu nói: “Sứ Yên miễn lễ, mời ngồi!”
Tô Tần, Cơ Khoái tạ ơn, đứng dậy bước lại vị trí khách, lần lượt ngồi xuống.
Triệu Túc Hầu nhìn Tô Tần, mỉm cười, vòng tay nói: “Quả nhân sớm đã nghe danh Tô Tử, nay mới được gặp, quả thực không phải tầm thường!”
Tô Tần mỉm cười đáp lời: “Vừa qua Dịch Thuỷ, Tô Tần đã lấy nước thơm rửa mắt, không dám lười biếng dù chỉ một ngày!”
“Ồ!” Triệu Túc Hầu lấy làm kinh ngạc, nhoài người về trước hỏi. “Cớ sao Tô Tử phải lấy nước thơm rửa mắt?”
Tô Tần ngồi ngay ngắn, mở to mắt nhìn Túc Hầu không chớp, hồi lâu sau mới vòng tay nói: “Để nhìn rõ vẻ uy nghi của chúa thượng!”
Cả triều đường đều bật cười, Triệu Túc Hầu càng vui lòng, lại nhổm người về trước hỏi: “Tô Tử đã nhìn rõ chưa?”
“Vi thần đã nhìn rõ!” Tô Tần gật đầu.
“Uy nghi của quả nhân thế nào?”
“Vi thần không nhìn thấy!” Tô Tần đáp rành rọt.
Tất thảy triều thần có mặt đều giật nảy mình kinh hãi, Phì Nghĩa, Triệu Báo mặt lộ sắc giận.
Cơ Khoái mặt hơi biến sắc, ngờ vực nhìn sang Tô Tẩn.
Duy có Triệu Túc Hầu vẫn bình thản như không, nụ cười vẫn giữ nguyên trên mặt: “Vậy Tô Tử nhìn thấy gì?”
“Từ bi!”
Hai chữ này vừa thốt ra khỏi miệng, quần thần có mặt đều thở phào nhẹ nhõm.
Triệu Túc Hầu khẽ gật đầu, cười vang mà nói: “Tạ ơn lời hay ý đẹp của Tô Tử!” Quay sang quần thần. “Quả nhân sống tới lúc này, vốn cho rằng mình chẳng có được thứ gì, nào ngờ Tô Tử lại nhìn ra được sự từ bi. Hai chữ này hay lắm, quả thực hay lắm, còn tốt hơn nhiều so với uy nghi!” Lại quay sang Tô Tần, vòng tay liên hồi. “Tạ ơn lời hay của Tô Tử!”
Tô Tần vòng tay đáp lễ, nói: “Lời tạ ơn của chúa thượng, vi thần không dám nhận. Từ bi là xuất phát từ trong tâm chúa thượng, vi thần chẳng qua chỉ nói ra sự thực mà thôi!”
“Lời lẽ thật hay!” Triệu Túc Hầu gật gù, rồi đi vào chuyện chính. “Nhiều lần nghe Lâu ái khanh nói, Tô Tử có kế sách lâu dài muốn chỉ giáo quả nhân, có đúng vậy chăng?”
Tô Tần ngẫm nghĩ một lát, rồi khẽ lắc đầu: “Thực hổ thẹn, Tô Tần lại không hề có kế sách lâu dài!”
Lâu Hoãn kinh ngạc, trợn mắt nhìn Tô Tần.
Triệu Túc Hầu cũng kinh ngạc không kém, quét mắt về phía quần thần, thấy họ cũng đang đưa mắt nhìn nhau. Rút kinh nghiệm từ câu nói lúc nãy, mọi người không hiểu Tô Tần lần này sẽ có trò gì, nên mọi ánh mắt lại đổ dồn vào Tô Tần.
Triệu Túc Hầu dường như đã đoán ra ý nghĩ của Tô Tần, khẽ đặng hắng một tiếng: “Tô Tử đã không chịu chỉ giáo, quả nhân đành phải…” Nói đoạn giả bộ khom lưng, làm ra vẻ chuẩn bị đứng dậy.
Quả nhiên, Tô Tần đã lên tiếng rất đúng lúc: “Chúa thượng, Tô Tần đã không có kế sách lâu dài, cũng không có kế sách trước mắt, chỉ có kế sách cứu Triệu!”
Lời vừa thốt ra, quần thần đều kinh ngạc.
Triệu Túc Hầu ngồi ngay ngắn trở lại, mắt nhìn Tô Tần chăm chú: “Ồ, nước Triệu làm sao?”
“Khởi bẩm chúa thượng, nước Triệu nguy như chồng trứng, tồn vong chỉ trong một sớm một chiều!”
Lời vừa nói dứt, quần thần thảy đều bàng hoàng kinh hãi, nhất loạt nhìn sững vào Tô Tần.
Một người trợn tròn hai mắt, lớn tiếng quát: “Tô Tử chớ ăn nói ngông cuồng! Triệu có thiết kỵ, có cung cứng, núi sông hiểm trở, hàng trăm năm qua mở rộng trái phải, phía bắc đánh Hồ Địch, phía nam chống Hàn, Ngụy, phía đông đẩy lùi cường Tề, phía tây chặn đứng bạo Tần, mở mang bờ cõi nghìn dặm, kiên cố uy nghiêm tựa Thái Sơn, làm gì có chuyện nguy như chồng trứng, tồn vong sớm chiều?”
Mọi người đưa mắt nhìn lại, người vừa lên tiếng chính là thượng tướng quân tân nhiệm Triệu Báo.
Tô Tần khẽ mỉm cười, vòng tay hướng về Triệu Báo, nói: “Triệu tướng quân chớ nôn nóng, hãy nghe Tô Tần nói rõ. An nguy của con người nằm ở hoàn cảnh xung quanh, an nguy của quốc gia nằm ở đại thế. Đại thế nguy, tuy có công lao phá quân giết tướng, cũng khó thoát khỏi ách vận, nước Trịnh một thời hùng mạnh cũng đã diệt vong như vậy đấy. Đại thế an, dù gặp đại bại cũng không tổn thương đến từ đường, nước Vệ nhỏ yếu ở lưu vực sông Tứ đã tồn tại như vậy đấy. Đất Triệu dọc ngang hai nghìn dặm, giáp sĩ vài chục vạn người, lương thực đủ dùng vài năm, thoạt nhìn có thể sánh vai các nước lớn. Tuy nhiên…” Đưa mắt nhìn một lượt quần thần, giọng nói bỗng trở nên sắc bén. “Triệu có tứ chiến tứ hoạn, chư vị có biết chăng?”
Quần thần đưa mắt nhìn nhau, Triệu Báo sắc mặt giận dữ, miệng mấp máy mấy lần muốn nói, rồi lại câm bặt.
Thấy không khí lắng xuống, Phì Nghĩa nói xen vào: “Thế nào là tứ chiến tứ hoạn, xin Tô Tử nói rõ.”
Tô Tần dõng dạc nói: “Tứ chiến là Ngụy, Tần, Tề, Hàn. Chư vị đều thấy, từ lúc Triệu lập nước đến nay, chiến tranh với bốn nước này đã bao giờ ngưng nghỉ?”
Không khí bất chợt lặng phắc, có người đã gật đầu.
“Tứ hoạn, chính là Trung Sơn, Hồ Địch, Sở, Yên.”
Lại qua một hồi im lặng dài hơn nữa, Triệu Báo cuối cùng không nhịn nổi, cười nhạt một tiếng, gõ bàn lớn giọng: “Dù có tứ chiến tứ hoạn, cũng làm gì nổi nước Triệu?”
Tô Tần khẽ mỉm cười với Triệu Báo, ung dung nói: “Triệu tướng quân nói ra lời này, đúng là cái dũng của kẻ thất phu! Từ đó mà thấy, nguy của nước Triệu, chính là ở cái tâm mù quáng!”
Triệu Báo thình lình đưa tay đẩy bật bàn đi, đứng phắt dậy, chỉ tay vào Tô Tần, lắp bắp: “Ngươi…”
An Dương Quân đưa mắt liếc hắn một cái. Triệu Báo thấy vậy, bèn hằm hằm ngồi phịch xuống, đưa tay kéo bàn về chỗ cũ, do quá mạnh tay, chân bàn rê trên nền nhà ken két.
An Dương Quân mỉm cười, quay sang Tô Tần: “Xin hỏi Tô Tử, thế nào là cái tâm mù quáng?”
“Hồi bẩm An Dương Quân!” Tô Tần vòng tay hướng sang Triệu Khắc. “Tâm mù quáng tức là, không nghe ngóng bên ngoài, không xem xét bên trong. Nước Triệu cậy binh khoẻ quân dũng, bên ngoài không màng đến đại thế thiên hạ, bên trong không biết thuận thời hành động, chỉ biết trừng mắt giận dữ nhìn liệt quốc thiên hạ, hơi chút là động binh đao, tranh dũng đấu mạnh. Nước Triệu lâu nay đều hành sự như vậy, mà trên dưới đều không biết, khác gì người mù cưỡi ngựa mù, lẽ nào còn không phải là nguy như chồng trứng?”
Tô Tần ăn nói vơ đũa cả nắm, không phân biệt trắng đen kiểu này, đừng nói là võ tướng như Triệu Báo, dù là An Dương Quân xưa nay vốn nổi tiếng điềm tĩnh, cũng khó tránh mặt mày biến sắc, đặng hắng khẽ một tiếng, rồi chậm rãi hỏi: “Theo ý Tô Tử, đại thế thiên hạ nên lý giải thế nào?”
“Nước lớn tranh hùng, nước nhỏ cầu mong tồn tại!” Tô Tần nói rành rọt từng chữ.
“Xin hỏi Tô Tử,” Phì Nghĩa nói xen vào, “nước lớn, nước nhỏ phân biệt dựa vào đâu?”
Tô Tần mỉm cười mà rằng: “Người mạnh yếu phân biệt nhờ sức mạnh, nước mạnh yếu phân biệt nhờ thế. Hình thành đại thế là nước lớn, hình thành tiểu thế là nước nhỏ.”
“Theo ý Tô Tử,” Phì Nghĩa hỏi tiếp, “thiên hạ hiện nay, nước nào là nước lớn, nước nào là nước nhỏ?”
“Luận theo thiên hạ hiện nay, thành đại thế là Tần, Tề, Sở, ba nước này là nước lớn. Những nước khác đều là tiểu thế, là nước nhỏ.”
Lời của Tô Tần quá ư kinh động, quần thần thảy đều sửng sốt.
Triệu Báo lớn tiếng hỏi: “Dám hỏi Tô Tử, lẽ nào nước Ngụy bá chủ cũng là nước nhỏ?”
Tô Tần mỉm cười: “Ngụy khác nào mũi tên đã hết tầm, thế không đủ xuyên qua the mỏng, sao dám xưng là nước lớn?”
Triệu Túc Hầu khẽ gật đầu: “Phải, nói rất hay! Theo ý Tô Tử thì mối nguy trong sớm tối không chỉ xảy ra với nước Triệu, mà Hàn, Ngụy cũng chịu chung số phận?”
“Chúa thượng thánh minh!” Tô Tần vòng tay, đưa mắt nhìn khắp lượt quần thần, rồi chậm rãi nói. “Người trí tuệ dù không ra khỏi cửa cũng biết chuyện thiên hạ. Chư vị đều là những người hoài bão thiên hạ, xin hãy mở mắt nhìn thử. Thiên hạ ngày nay, phía đông là cường Tề, phía tây là bạo Tần, phía nam là Đại Sở. Tề có thịnh trị Quản Hoàn, nông tang phát triển, cá muối dồi dào, hơn nữa phong tục thuần chính, sĩ dân khai hoá, tằm tang thịnh vượng, dựa biển ôm góc, dân giàu binh mạnh. Tần có Quan Trung đất đai màu mỡ nghìn dặm, dân sùng chuộng pháp, nhiều dũng sĩ sẵn sàng xả thân vì nước, lại có Thương Ư, Hà Tây, Hàm Cốc, trở thành nước bốn bề hiểm ải, tiến có thể uy hiếp liệt quốc, lùi có thể phòng thủ dựa vào thế hiểm. Sở chiếm được Ngô Việt, dài rộng năm nghìn dặm, dân hơn nghìn vạn, đất rộng của nhiều, liệt quốc không thể sánh kịp. Ba nước này đều thành đại thế, mỗi nước ở vào một góc, bao vây Tam Tấn vào giữa. Hãy thử so sánh, ba nước lớn này giống như ba con sói đói, còn Tam Tấn, Hàn, Triệu, Ngụy chẳng khác gì ba con hươu gầy. Ba con sói đều dựa vào địa thế, dồn ba con hươu vào giữa, sói này một miếng, sói kia một miếng, cứ thế từ từ cắn xé, nhai nuốt ba hươu, đây chính là ‘đuổi hươu Trung Nguyên’. Song ba hươu lại không hề hay biết, đã không chung sức đối địch kẻ thù chung, ngược lại còn hiềm khích lẫn nhau, tranh giành qua lại. Đại thế thiên hạ như vậy, chẳng đáng buồn ư?”
Lời của Tô Tần giống như một luồng hàn khí lạnh buốt xuyên thấu xương tuỷ. Quần thần rùng mình kinh hãi, đưa mắt nhìn nhau, không ai nói câu nào. Đám Cơ Khoái, Lâu Hoãn, Triệu Ung cuối cùng cũng đã hiểu ra cơ mưu của Tô Tần, cùng gật gù tán đồng.
Triệu Túc Hầu sắc mặt trầm tư, khẽ thốt lên một câu: “Theo ý Tô Tử, Tam Tấn không còn con đường nào khác, chỉ còn cách hợp tung?”
“Chúa thượng thánh minh!” Tô Tần lại vòng tay nói. “Đông tây là hoành, nam bắc là tung. Tam Tấn kết minh hợp nhất, sẽ không còn là hươu nữa, mà thành một hổ. Lại thêm nước Yên, bốn nước kết thân, thế thành cường thịnh. Phía đông, Tề không dám động; phía tây, Tần không dám động; phía nam, Sở không dám động. Ba nước lớn đều không dám động, thiên hạ làm gì còn có chiến tranh? Thiên hạ không có chiến tranh, nước Triệu cũng đâu còn nguy khốn?”
Dù đến Triệu Túc Hầu cũng không thể không khâm phục tầm nhìn xa trông rộng và tài biện luận siêu phàm của Tô Tần, hơn nữa, khí thế mà Tô Tần tạo ra cũng chính là điều mà ông mong muốn. Trầm ngâm hồi lâu, Túc Hầu nhìn khắp lượt quần thần, nghiêm mặt mà nói: “Chư vị ái khanh, cách so sánh ‘bầy sói đuổi hươu’ của Tô Tử quả là xác thực, không biết các khanh cảm thấy thế nào, còn quả nhân đã khắp người toát mồ hôi lạnh! Tô Tử đề xướng hợp tung Tam Tấn, chư vị ái khanh có ý kiến gì không?”
An Dương Quân vòng tay nói: “Tam Tấn kết thân đương nhiên là chuyện tốt, song Tô Tử lại bỏ qua mất một chuyện, đó là dù Triệu, Hàn mong muốn kết thân, chắc gì Ngụy đã chịu? Nước Ngụy hùng bá Trung Nguyên đã mấy chục năm, mấy năm trước tuy phải chịu mối nhục Hà Tây, song nay có mãnh tướng Bàng Quyên, hiền tướng Huệ Thi, quốc lực hồi phục mạnh mẽ, dứt khoát sẽ không chịu hợp!”
“Phải, An Dương Quân nói rất đúng!” Túc Hầu gật gù, quay sang Tô Tần. “Ngụy Anh xưa nay vẫn tự coi mình là bá chủ, làm sao chịu ở ngang hàng với quả nhân? Hơn nữa, mấy năm trước, Nguỵ Anh thất đạo, vừa xưng vương, lại vừa phạt Vệ, khiến liệt quốc phẫn nộ, quả nhân và hắn vì thế càng thêm xa cách. Muốn kết thân với hắn, e là rất khó!”
Tô Tần mỉm cười: “Chúa thượng bất tất phải lo lắng chuyện này. Nước Ngụy hiện nay mạnh hay yếu, chư vị tự có phán xét, thiên hạ cũng tự có phán xét, Tô Tần không phải nói thêm. Còn như Bàng Quyên, Huệ Thi, tuy là đại tài, song cũng có hạn. Huệ Thi quá nhu, Bàng Quyên quá cương. Nhu thì thiếu lực, mà cương thì dễ gãy. Còn nữa, nước Ngụy xưa nay không thiếu đại tài, trước có Công Tôn Ưởng, nay có Công Tôn Diễn, ở Ngụy đều vô công, đến Tần lại thành đại dụng.” Dừng lại một lát, thu lại nụ cười. “Hơn nữa, cho dù Ngụy có phục hồi thế mạnh, Tam Tấn kết thân, với Ngụy cũng chỉ có lợi mà không có hại, Ngụy Vương nếu không phải là kẻ ngốc, chắc chắn sẽ đồng ý hợp tung!”
“Ồ!” Túc Hầu hỏi lại. “Hợp tung có lợi gì với Ngụy?”
“Giống như chúa thượng vừa nói, mấy năm trước, nước Ngụy thất đạo với thiên hạ, xưng vương, chinh phạt nước yếu, phía đông đánh Vệ, phía tây đánh Tần, trở thành kẻ thù của liệt quốc. Nước Ngụy hiện nay, phía tây chịu mối nhục Hà Tây, là kẻ thù không đội trời chung của người Tần; phía đông có mối nhục hội vương, trở thành kẻ thù của người Tề; phía nam có cuộc chiến Hình Sơn, gây thù kết oán với người Sở. Ngụy Vương không còn con đường nào khác, chỉ có thể kết thân với Hàn, Triệu, mới có thể đứng vững tại Trung Nguyên.”
Triệu Báo vội nói xen vào: “Nói như vậy, Tam Tấn hợp tung, nước Ngụy có được đại lợi này, nước Triệu chẳng phải sẽ chịu thiệt ư?”
“Tướng quân nhầm rồi!” Tô Tần cười nói. “Tam Tấn kết thân, nước Triệu đã không chịu thiệt, ngược lại còn được lợi nhiều nhất!”
“Nói vậy nghĩa là sao?”
“Bởi lẽ có Hàn, Ngụy. Triệu không lo Sở, bởi lẽ có Yên, Ngụy, Hàn. Triệu không lo Tề, bởi lẽ có Hàn, Ngụy. Triệu không lo Tần, đạo lý trong đó, tại hạ không nói, tướng quân hẳn cũng đã biết!”
Giữa liệt quốc, các nước cân bằng chế ước lẫn nhau, đây là điều ai ai cũng hiểu, Triệu Báo không thể không gật đầu đồng tình.
Triệu Túc Hầu đưa mắt nhìn khắp lượt quần thần: “Chuyện hợp tung, chư vị có ý kiến gì chăng?”
Quần thần đồng thanh nói: “Chúng thần không có ý kiến gì, xin nghe theo quyết định sáng suốt của chúa thượng!”
“Được!” Triệu Túc Hầu dõng dạc nói. “Tam Tấn vốn là một nhà, hợp thì cùng hưng, tranh thì cùng vong! Chư vị ái khanh đã không có ý kiến gì khác, quả nhân quyết định, đồng ý hợp tung!” Rồi quay sang Lâu Hoãn, Phì Nghĩa. “Còn thực thi cụ thể thế nào, xin hai vị ái khanh hãy bàn cùng Tô Tử, thảo ra nội dung chi tiết, rồi tấu báo quả nhân!”
Hai người đứng dậy, khấu đầu nói: “Vi thần lĩnh chỉ!”
Sau khi bãi triều, Lâu Hoãn, Phì Nghĩa phụng chỉ tới dịch quán, cùng Tô Tần, Cơ Khoái bàn luận kế sách hợp tung cụ thể. Về việc kết thân giữa bốn nước Triệu, Ngụy, Hàn, Yên, Tô Tần sớm đã thảo sẵn kế sách cụ thể, chủ yếu gồm loại trừ ngăn cách, hoá giải tranh chấp, dùng lễ qua lại, thông thương hàng hoá, bang giao dụng binh.
Sau khi bàn luận, mọi người đều nhất trí, kế sách này có thể thực thi. Tiếp đó Lâu Hoãn thảo tấu chương, bẩm tấu lên Túc Hầu.
Sau khi Lâu Hoãn, Phì Nghĩa đi khỏi, Tô Tần thấy trời còn sớm, bèn thay trang phục, cùng Trâu Phi Đao bước ra con phố lớn trước cung thành, tới quán trọ Phong Vân. Giả Xá Nhân được Trâu Phi Đao báo trước Tô Tần sẽ đến, nên đã chờ sẵn trong phòng.
Sau vài câu khách sáo, Tô Tần kể sơ qua một lượt về tình hình nội loạn ở nước Yên, Giả Xá Nhân cũng kể vắn tắt chuyện Triệu Túc Hầu nhờ vào nguy cục Tấn Dương mà diệt trừ tận gốc bè lũ Phụng Dương Quân. Phụng Dương Quân Triệu Thành, quyền chủ tướng công tử Phạm đều đã nhận chiếu mệnh tự sát trong ngục, quản gia Thân Tôn của Phụng Dương Quân và đám Thân Bảo đều bị xử chém ngang lưng giữa chợ vì tội phản quốc. Vụ án liên luỵ tới vài trăm người, khiến họ hoặc bị cách chức quan, hoặc trở thành nô lệ.
“Than ôi!” Tô Tần lắc đầu, thở dài buồn bã. “Giữa huynh đệ còn tàn sát lẫn nhau, huống chi là người trong thế gian!”
“Không nhắc tới họ nữa!” Điều Giả Xá Nhân quan tâm lại không phải là chuyện này. “Đại sự của Tô Tử đã thực hiện đến đâu rồi?”
Tô Tần đáp lời: “Triệu Hầu đồng ý hợp tung, lệnh cho Lâu Hoãn, Phì Nghĩa và tại hạ cùng công tôn Khoái bàn luận cụ thể, mãi tới vừa nãy mới thống nhất được sách lược, chính là các nước kết thân, hoá giải ân oán, tìm kiếm cái chung, gác lại bất đồng, dựa vào nền tảng đó mà thực hiện ‘ngũ thông’ và ‘tam đồng’.”
“Ngũ thông?” Giả Xá Nhân ngạc nhiên. “Thế nào là ngũ thông?”
“Chính là thông thương, thông dịch, thông tệ, thông sĩ, thông binh!”
“Thế còn… tam đồng?”
“Đồng tâm, đồng lực, đồng thù!”
Xá Nhân ngẫm nghĩ một lát, rồi ngẩng lên nói: “Tô Tử tóm lược như vậy, đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu, dễ nhớ, có lợi cho truyền tụng. Tuy nhiên… ngũ thông thì dễ, mà tam đồng lại khó.”
“Đúng vậy!” Tô Tần gật đầu tán thành. “Tam Tấn vốn là một nhà, phong tục đại thể giống nhau. Yên tiếp giáp Triệu, rất nhiều nơi cùng chung phong tục, ngũ thông đã có sẵn nền tảng. Cái khó là ở tam đồng. Tam Tấn bất hoà bấy lâu, oán hận chồng chất, rất khó đồng tâm. Không đồng tâm, tự khắc không đồng lực, nói gì tới đồng thù!”
“Tô Tử hẳn đã có cách ứng phó?”
“Bốn nước kết thân, mấu chốt là Tam Tấn. Tam Tấn muốn đồng tâm, trước hết cần đồng lực. Muốn đồng lực, trước hết cần đồng thù. Tại hạ đã nát óc suy nghĩ, nói về kẻ thù của Tam Tấn, thù của Hàn là Sở, Tần; thù của Ngụy là Sở, Tề, Tần; thù của Triệu là Tề, Tần. Sở tuy bất hoà với Tam Tấn, song kẻ thù thực sự của Sở lại là Tề, Tần. Do vậy, tại hạ cho rằng, thù chung của bốn nước kết thân chỉ có hai, một là Tần, hai là Tề. Chỉ cần vua tôi, dân chúng Tam Tấn đều nhận biết được Tần, Tề là kẻ thù chung, thì có thể thực hiện được ‘đồng thù’. Có đồng thù rồi, tất sẽ đồng lực, mà tiền đề của đồng lực chính là đồng tâm!”
Giả Xá Nhân cười nói: “Là Tô Tử đã khiên cưỡng rồi!”
Tô Tần cười gượng: “Than ôi, cũng không còn cách nào khác! Thời nay lợi dục hun đốt cái tâm, không thể đồng tâm, chỉ còn cách mượn dùng sức mạnh bên ngoài mà khiên cưỡng.”
“Nói như vậy, kẻ thù của Tô Tử là hai, chứ không phải ba?”
Tô Tần lắc đầu: “Kỳ thực, kẻ thù thực sự của Tô Tử chỉ có một, chính là nước Tần. Tề, Sở tuy có lòng xưng bá, song không có lòng thôn tính thiên hạ; hoặc giả cũng có lòng này, song không đủ lực. Có lòng này, lại đủ lực, duy chỉ có Tần. Tại hạ nêu ra ba kẻ thù, chỉ là muốn bức bách Tam Tấn, khiến họ tỉnh ngộ mà dừng nội chiến, đồng lòng đối phó với bên ngoài. Đợi Tam Tấn hợp nhất, bốn nước hoà thuận, mục tiêu tiếp theo của tại hạ chính là nước Sở. Chỉ khi nước Sở cùng kết thân, hợp tung mới coi như hoàn thành. Từ Giang Nam tới Tái Bắc đều thành một nhà, năm nước thực hiện ‘ngũ thông, tam đồng’, thế vững như tường đồng, Tần, Tề sẽ bị chia cách làm đôi, muốn vọng động cũng không dám, thiên hạ sẽ không còn chiến tranh!” Tô Tần càng nói càng chậm rãi, trong mắt ánh lên niềm hy vọng về viễn cảnh tươi đẹp. “Thiên hạ đã không còn chiến tranh, thì có thể thực thi giáo hoá, kết thành minh ước liên bang cùng trị, thịnh thế chung sống hoà bình của tiên thánh thời thượng cổ sẽ lại thành hiện thực.”
“Chí lớn của Tô Tử, Xá Nhân thực sự kính phục. Tuy nhiên, Tô Tử coi người Tần là kẻ thù, vậy thì Tần Công quyết sẽ không để yên cho Tô Tử. Tô Tử sẽ ứng phó thế nào đây?”
Tô Tần khẽ mỉm cười: “Điều này tại hạ lại không sợ. Ngược lại, điều tại hạ lo sợ chính là họ không quan tâm đếm xỉa, mặc kệ tại hạ!”
“Ồ?” Xá Nhân ngẩn người. “Nói vậy là nghĩa gì?”
“Không có đen thì không có trắng!” Tô Tần cười nói. “Tam Tấn hợp tung, đồng nghĩa với khoá chặt người Tần ở Tần Xuyên, trước hết sẽ gây bất lợi cho Tần. Dựa vào chí của Tần Công, dựa vào tính cách của Tần Công, tất không cam chịu, sẽ tích thế tụ lực, ứng phó với hợp tung. Lão Đam từng nói: ‘Có và không sinh ra nhau, khó và dễ thành tựu lẫn nhau, dài và ngắn hình thành lẫn nhau, trên và dưới bổ sung cho nhau, âm và thanh hài hoà với nhau, trước và sau theo nhau, nên thành cân bằng. Ở đây tại hạ coi Tần là địch, thì Tần cần phải đối địch. Tại hạ không sợ Tần tích thế, không sợ Tần cường thịnh, ngược lại chỉ sợ Tần không tích thế, không cường thịnh.”
Giả Xá Nhân bật cười: “Tô Tử một mặt chống Tần, một mặt làm mạnh Tần, chẳng phải là mâu thuẫn ư?”
“Giả huynh nói rất phải!” Tô Tần thu lại nụ cười, giọng trầm xuống. “Điều tại hạ mong muốn chính là sự mâu thuẫn này, thứ tại hạ cần chính là khiến Tần thêm mạnh. Cái gọi là hợp tung, chính là duy trì cân bằng sức mạnh. Nếu người Tần không mạnh, hợp tung lại sẽ không thể thành công. Chỉ khi người Tần tích thế tụ lực, duy trì được sức mạnh cường thịnh, thì Tam Tấn mới có cảm giác nguy hiểm cận kề, mới vui vẻ hợp tung. Chỉ khi Tam Tấn hợp tung, người Tần mới thấy sợ hãi, mới nỗ lực khiến bản thân càng thêm cường thịnh. Người Tần càng mạnh, Tam Tấn càng hợp; Tam Tấn càng hợp, người Tần càng mạnh, thiên hạ vì thế mà duy trì được cân bằng, mới có thể ngang tài ngang sức!”
Tô Tần nói ra lời này, khiến Giả Xá Nhân không khỏi kinh ngạc. Song ngẫm nghĩ kỹ, thấy cũng có lý. Xá Nhân trầm ngâm một hồi, cũng không nghĩ ra được lời nào phản bác, bèn cảm khái mà rằng: “Than ôi, Tô Tử quả nhiên tài giỏi. Song nói đi cũng phải nói lại, hiện tại Tần không có đại tài, Tô Tử lại không chịu tới Tần, làm thế nào giữ vững thế mạnh được đây?”
“Tại hạ tới đây, cũng chính là vì chuyện này!” Tô Tần nhìn thẳng vào Xá Nhân. “Tuy tại hạ không phò tá Tần, song nguyện tiến cử một người với Tần Công, hoặc giả sẽ giúp được Tần giữ vững thế mạnh.”
“Ai?”
“Trương Nghi!”
“Người này chẳng phải đang ở Sở ư?”
“Đúng vậy, hiện đang ở Sở!” Tô Tần mỉm cười nói. “Dựa theo tính cách của người này, có lẽ không thể lưu lại Sở. Tại hạ đang định phiền Giả huynh vất vả tới Sính Đô một chuyến. Nếu người này ở đó được đắc chí, coi như bỏ đi. Còn nếu người này không được đắc chí, huynh có thể tìm cách dụ hắn tới Hàm Đan!”
“Dụ hắn tới Hàm Đan?” Xá Nhân lại một phen sửng sốt. “Cớ sao lại không để hắn trực tiếp tới Hàm Dương?”
“Giả huynh có điều không biết,” Tô Tần bật cười mà nói, “vị nhân huynh này nếu không gặp tại hạ, sẽ không chịu tới Tần đâu!”
“Vậy thì tốt quá!” Giả Xá Nhân cả mừng. “Tại hạ tới đây, vốn là tuân theo mệnh lệnh của tiên sinh, tìm Tô Tử về cho Tần Công. Song Tô Tử lại có chí lớn khác, tại hạ có được Trương Nghi, cũng đã có thể về núi phục mệnh với tiên sinh được rồi.”
“Về núi?” Tô Tần ngạc nhiên. “Xin hỏi tôn sư của Giả huynh là…”
“Hàn Tuyền Tử núi Chung Nam!” Giả Xá Nhân từ tốn đáp.
“Hàn Tuyền Tử là ân sư của Giả huynh?” Tô Tần vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ. “Khi ở Quỷ Cốc, tại hạ từng nghe đại sư huynh nói, chúng đệ có một sư thúc tên gọi Hàn Tuyền Tử, sống trên núi Chung Nam. Thật không ngờ, Giả huynh chính là đệ tử của sư thúc!”
“Đúng vậy!” Giả Xá Nhân cười vang mà nói. “Tô Tử vừa tới Hàm Dương, tại hạ đã biết là đồng môn rồi!”
Tô Tần ngỡ ngàng một lúc, đột nhiên bừng tỉnh: “Thảo nào…”
***
Cùng lúc này, trong ngự thư phòng cung Tần, Huệ Văn Công và ba vị trọng thần Công Tôn Diễn, Tư Mã Thác, Sư Lý Tật đang ngồi ngay ngắn, sắc mặt trầm ngâm.
Huệ Văn Công chau tít đôi mày, đưa mắt nhìn ba vị trọng thần, chậm rãi lên tiếng: “Việc quả nhân lo sợ cuối cùng đã tới. Tô Tần từ Yên tới Triệu, muốn hợp tung Tam Tấn và nước Yên. Đừng nói là nước Yên, chỉ riêng Tam Tấn hợp nhất, đã là mối đe doạ với Tần. Chư vị ái khanh có kế sách ứng phó nào chăng?”
Quần thần đưa mắt nhìn nhau. Lát sau, Công Tôn Diễn vòng tay nói: “Khởi bẩm chúa thượng, từ lúc ba nước phân Tấn đến nay, Hàn, Triệu, Ngụy không lúc nào ngừng mưu toan đấu đá, tranh giành lẫn nhau, giữa các bên đều có mối huyết thù sâu sắc. Tô Tần hợp tung, chẳng qua chỉ là ý của một bên mà thôi. Có điều, phòng hoạ nên từ lúc chưa xảy ra, vi thần cho rằng, ta hãy nhân lúc hợp tung mới chỉ manh nha, để tới khua rừng doạ hổ!”
“Khua rừng doạ hổ là thế nào?”
“Mục đích của Tô Tần là hợp tung Tam Tấn, nếu không nằm ngoài dự đoán của vi thần, Tam Tấn ắt lấy Triệu làm gốc rễ. Vi thần cho rằng nên chĩa mũi nhọn vào Triệu, phát đại binh đánh Triệu, làm lung lay gốc rễ của Tam Tấn. Hàn, Ngụy thấy vậy, có lẽ sẽ sinh lòng e sợ, biết khó mà tự lui. Hàn, Ngụy không tham gia, hợp tung sẽ chết ngay từ trong trứng nước.”
“Đại lương tạo nói rất phải!” Sư Lý Tật hùa theo. “Vi thần cho rằng, ta có thể vừa phạt Triệu, vừa kết minh với Hàn, Ngụy, phân chia Tam Tấn.”
“Chúa thượng!” Tư Mã Thác không giấu vẻ kích động. “Đánh thôi! Lần trước tập kích Tấn Dương, sắp thành lại bại, các tướng sĩ đều ôm mối hận trong lòng!”
Huệ Văn Công nhắm mắt trầm ngâm suy nghĩ, hồi lâu sau, vầng trán lại từ từ giãn ra: “Phải, chư vị ái khanh nói rất đúng, mối nhục Tấn Dương cũng nên có câu trả lời!” Rồi quay sang Công Tôn Diễn. “Công Tôn ái khanh!”
“Có vi thần!”
“Quả nhân quyết định phạt Triệu. Ái khanh văn hay chữ tốt, hãy thảo ngay hịch văn phạt Triệu, truyền hịch thiên hạ!”
“Vi thần tuân chỉ!”
“Tư Mã ái khanh!” Huệ Văn Công quay sang Tư Mã Thác.
“Có vi thần!”
“Quả nhân muốn phát hai mươi vạn đại quân, truyền xuống quận huyện các nơi, trưng binh theo lệnh.”
“Hai mươi vạn?” Tư Mã Thác lộ rõ thảng thốt, cứ ngỡ nghe lầm.
Huệ Văn Công mỉm cười nói: “Phải, hai mươi vạn, nhưng e là hai mươi vạn vẫn chưa đủ.” Lại quay sang Công Tôn Diễn. “Công Tôn ái khanh, hãy thêm một câu vào hịch văn, đại ý nói rằng, hiện đang lúc giữa xuân tươi đẹp, quả nhân nghe nói trong thành Hàm Đan có nhiều hoa thơm, muốn đến tận nơi thưởng hương sắc!”
Công Tôn Diễn trong lòng chợt sáng tỏ, dõng dạc đáp lời: “Vi thần đã hiểu!”
“Hiểu thì tốt!” Huệ Văn Công cũng mỉm cười. “Hai vị ái khanh, hãy mau chia việc mà làm!” Rồi quay sang Sư Lý Tật. “Sư Lý ái khanh hãy dừng bước!”
Công Tôn Diễn, Tư Mã Thác cáo lui. Thấy hai người đã đi khuất, Huệ Văn Công nói với Sư Lý Tật: “Quả nhân giữ ái khanh lại, là muốn cho ái khanh xem thứ này!” Nói đoạn, lần dưới bàn, lấy ra một vật, chính là tấm thẻ tre viết chữ “sát” và “xá” trước kia, chậm rãi đặt lên mặt bàn. “Vật này hẳn ái khanh đã từng nhìn thấy, giờ có lẽ đã hiểu rõ rồi chăng?”
Sư Lý Tật gật đầu than thở: “Vâng, chúa thượng do tiếc tài, cuối cùng đã không nỡ giết Tô Tử!”
“Than ôi!” Huệ Văn Công khẽ thở dài, giọng đầy ẩn ý. “Không phải quả nhân tiếc tài, mà là Sư Lý ái khanh tiếc tài đấy!”
Sư Lý Tật thoáng chột dạ, rồi ra vẻ ngơ ngác không hiểu, nhìn Huệ Văn Công: “Chúa thượng…”
Huệ Văn Công như cười mà không cười, ánh mắt nhìn xoáy vào Sư Lý Tật: “Sư Lý ái khanh, không phải làm bộ làm tịch nữa. Quả nhân hỏi khanh, phải chăng khanh đã chặn Tiểu Hoa trên phố, bảo Tiểu Hoa thả Tô Tần đi?”
Sư Lý Tật mặt mày trắng bệch, vội đứng dậy, quỳ xuống khấu lạy: “Vi thần quả thực có chặn công tử Hoa, dặn công tử… Vi thần đáng chết, xin chúa thượng trị tội!”
“Than ôi!” Huệ Văn Công thở dài. “Trị khanh tội gì đây? Trị tội tiếc tài ư? Là quả nhân bảo khanh tiếc tài kia mà! Trị tội khi quân ư? Khanh cũng đâu có khi quân. Trị tội mềm lòng ư? Khanh cũng đã nhìn thấy tấm thẻ tre này, lòng quả nhân cũng đâu cứng rắn hơn khanh? Quân thần hai ta đều do nhất thời mềm lòng, nên mới lưu lại đại hoạ ngày nay.”
Sư Lý Tật trầm ngâm một lát, rồi ngẩng đầu nhìn Huệ Văn Công: “Chúa thượng, giờ bày mưu, vẫn còn kịp!”
“Bày mưu thế nào?” Huệ Văn Công ngẩng lên nhìn Sư Lý Tật. “Giết hắn ư?” Lắc đầu liên hồi. “Đã muộn mất rồi! Khi hắn còn ở trên đất của quả nhân, chỉ là một tên sĩ tử quèn, giết hắn dễ như giết một con kiến. Nhưng nay hắn đã vang danh liệt quốc, lại ở đất khác, lỡ để xảy ra sơ sảy, sẽ gây nên chấn động thiên hạ!”
“Chúa thượng yên tâm, chuyện này cứ giao cho vi thần!”
“Thôi không nói nữa!” Huệ Văn Công phẩy tay ngăn lại. “Quả nhân nếu thực lòng muốn giết hắn, đứng nói là hắn ở Hàm Đan, dù hắn ở chân trời góc bể, cũng khó lòng thoát chết! Tuy nhiên…” lập tức đổi giọng, “chuyện này dứt khoát không được! Minh quân không làm chuyện mờ ám, từ ngày Đại Tần lập nước đến nay, vẫn luôn giao tranh trực diện, quang minh chính đại, chưa từng ngấm ngầm hại ai. Nếu như ám sát Tô Tần, thì sử gia sẽ ghi chép về quả nhân thế nào đây? Thắng mà không quang vinh, người Tần làm sao có thể lập uy ở liệt quốc? Còn nữa…” Dừng lại, dõi mắt nhìn về phía xa xăm, trầm ngâm một lát, sắc mặt dần trở nên kiên nghị. “Tô Tần kia xứng đáng là một đối thủ, nếu để hắn chết mập mờ như thế, quả nhân đời này cũng chẳng còn gì thú vị!”
Sư Lý Tật lấy làm cảm phục trước con mắt nhìn xa trông rộng và sự tự tin của Huệ Văn Công, bèn dập đầu lia lịa.
“Có điều,” Huệ Văn Công thu lại ánh nhìn, quay sang Sư Lý Tật, “chưa tới lúc vạn bất đắc dĩ, quả nhân vẫn chưa muốn coi hắn là kẻ thù. Người này là đại tài, hơn thế nữa, còn là kỳ tài. Lần trước không dùng hắn, là lỗi của quả nhân, quả nhân không biết đã phải hối hận bao nhiêu lần. Nên lần này, lại muốn khanh đi sứ sang Hàm Đan một chuyến, thứ nhất là chuyển chiến thư tới Triệu Hầu, thứ hai là cầu kiến Tô Tần, nhất thiết phải bày tỏ với hắn thành ý của quả nhân. Khanh hãy nói với Tô Tần, quả nhân thỉnh cầu hắn, chỉ cần hắn từ bỏ định kiến, nguyện tới nước Tần, quả nhân sẽ khom lưng, đi chân trần ra tận cửa ải nghênh đón, thỉnh tội ngay trước mặt hắn. Quả nhân nguyện phó thác cả quốc gia, dốc toàn lực của Tần, hoàn thành chí nguyện nhất thống của hắn.”
“Vi thần lĩnh chỉ!”
***
Vài ngày sau, trong buổi đại triều diễn ra ở Tín cung, Triệu Túc Hầu phê chuẩn bản tấu của Lâu Hoãn, học theo Yên Công, phong Tô Tần làm khách khanh kiêm đặc sứ của Triệu Hầu. Do thái tử còn quá nhỏ, các công tử khác lại không đủ tư cách đảm đương, bèn bổ nhiệm Lâu Hoãn làm phó sứ, mang theo một trăm cỗ xe ngựa, năm trăm kỵ mã tinh nhuệ, nghìn dật vàng, tập hợp thành sứ đoàn hợp tung Triệu, Yên, lên đường tới Hàn, Ngụy, thúc đẩy hợp tung.
Mục tiêu tiếp theo của Tô Tần là nước Hàn. Theo suy đoán của Tô Tần, trong Tam Tấn, thế của Hàn yếu nhất, hơn nữa lại trực tiếp chịu sự uy hiếp của ba nước mạnh Tần, Ngụy, Sở, ắt sẽ vui vẻ hợp tung. Nước Hàn một khi đã hợp tung, sẽ hình thành áp lực đối với Ngụy, ép nước Ngụy buộc phải tham gia hợp tung. Do Lâu Hoãn đã từng đi sứ sang Hàn, nên thông thạo tình hình nước Hàn, để thêm phần chắc chắn, Tô Tần sai hắn đi trước, truyền đạt ý nguyện hợp tung.
Cùng lúc này, Tô Tần sai người sao chép sách lược hợp tung “ngũ thông”, “tam đồng” thành vô số bản, tuyên truyền khắp liệt quốc, truyền bá ý tưởng hợp tung tới người dân.
Xong xuôi mọi việc, Tô Tần chọn ngày đẹp, từ biệt Túc Hầu, dẫn đầu sứ đoàn hợp tung gồm hai trăm cỗ xe ngựa, hơn bốn nghìn người rầm rập thẳng tiến ra khỏi cổng nam thành Hàm Đan, dự định men theo phía đông núi Thái Hàng, bờ tây Hà Thuỷ, mượn đường qua đất Nguỵ tới kinh thành Trịnh của nước Hàn, sau đó từ Trịnh tới Lương, tiếp tục thực thi đại nghiệp hợp tung.
Tuy nhiên, đoàn người ngựa của sứ đoàn hợp tung chưa đi nổi trăm dặm, còn chưa tới Phẫu Thuỷ, đã nhìn thấy một cung uý dẫn theo vài kỵ sĩ phi ngựa như bay đuổi tới.
Cung uý xuống ngựa trước xe Tô Tần, vòng tay nói: “Chúa thượng khẩu dụ, mời Tô Tử trở lại Hàm Đan gấp!”
Tô Tần truyền lệnh cho Viên Báo quay xe, trở lại Hàm Đan.
Vừa tới cổng nam, đã thấy hoạn giả lệnh Củng Trạch cung kính chờ sẵn ở đó. Củng Trạch vội vã dẫn Tô Tần lên đài Hồng Ba, yến kiến Túc Hầu.
Quân thần hành lễ xong xuôi, Triệu Túc Hầu cười gượng một tiếng, lắc đầu nói: “Thật không may! Tô Tử vừa bước chân đi khỏi, đại sự đã tới. Quả nhân suy nghĩ nát óc, không biết làm sao, đành phải triệu hồi Tô Tử.”
Tô Tần mỉm cười hỏi: “Là người Tần tới phải không?”
“Đúng vậy!” Triệu Hầu kinh ngạc. “Sao Tô Tử biết?”
“Tam Tấn hợp nhất, đương nhiên bất lợi cho Tần. Vi thần vừa nghe nói chúa thượng triệu hồi, đã đoán ngay là người Tần đã tới!”
Triệu Túc Hầu lấy ra chiến thư của người Tần, đưa cho Tô Tần, chậm rãi nói: “Người Tần muốn rửa mối nhục Tấn Dương, lấy cớ giải oan cho Phụng Dương Quân, đã hạ chiến thư, điều động hai mươi lăm vạn đại quân tới chinh phạt Hàm Đan. Tuy quả nhân không sợ, song trong lòng cũng không chắc chắn, nên mới triệu hồi Tô Tử để bàn bạc. Nay thấy Tô Tử vẫn thản nhiên như không, hẳn đã có kế sách hay đẩy lui quân địch?”
Tô Tần cầm lấy chiến thư, đọc lướt qua một lượt, rồi đặt lại lên bàn, cười nói: “Chiến thư thế này, chỉ là ra oai trên giấy, không đáng bận tâm! Vi thần đoán rằng, Tần Công lần này phạt ta, sẽ không xuất ra một binh một tốt!”
Triệu Túc Hầu vô cùng kinh ngạc: “Xin Tô Tử giải thích rõ hơn!”
“Chúa thượng nhìn xem!” Tô Tần đưa lại chiến thư cho Túc Hầu. “Người Tần rêu rao trong vòng một tháng xuất hai mươi vạn binh, đánh thẳng tới Hàm Đan, Tần Công còn tỏ ý muốn đùa giỡn gái Triệu, tất cả đều là giọng điệu doạ dẫm mà thôi! Theo tính toán của vi thần, dựa vào chiến lực của nước Tần hiện tại, đứng nói là điều động hai mươi vạn đại quân trong vòng một tháng, dù chỉ mười lăm vạn, cũng đã kiệt quệ lắm rồi, đây là điều thứ nhất. Lần trước đột kích Tấn Dương, người Tần đại bại đến quăng cả giáp trụ mà tháo chạy, đã rút ra bài học sâu cay, làm sao còn dám tuỳ tiện khởi chiến, đây là điều thứ hai. Tần Công hùng tài đại lược, xưa nay ăn nói thận trọng, trong chiến thư này lại nói muốn tới chơi Hàm Đan thưởng thức gái Triệu, ngôn từ tuỳ tiện, hẳn là tiện miệng nói bừa, đây là điều thứ ba. Tần Công chuẩn bị chiến trận xưa nay vốn rất mực chu đáo, chỉ cầu toàn thắng, nên sẽ không phát động chiến tranh khi không nắm chắc phần thắng, đây là điều thứ tư. Việc binh cốt ở cơ mật, nếu người Tần thực sự đánh ta, đương nhiên sẽ không rêu rao ầm ĩ, đây là điều thứ năm. Tô Tần dựa vào năm điều này, đoán rằng người Tần chẳng qua chỉ là hù doạ mà thôi!”
“Tô Tử suy luận chí phải!” Triệu Túc Hầu rất đỗi thán phục. “Người Tần rêu rao như vậy, quả nhân vốn cũng không tin. Tuy nhiên, nước Triệu yếu ớt, lại vừa xảy ra chiến sự Tấn Dương, triều thần còn chưa hết hoang mang lo sợ. Quả nhân cho triệu Tô Tử về gấp, không phải vì sợ người Tần chinh phạt, mà là muốn bàn bạc kế sách ứng phó nhằm vỗ yên lòng dân.”
Tô Tần phỏng đoán Túc Hầu đã có ý muốn gác lại chuyện hợp tung, trầm ngâm một lát, thuận thế nói luôn: “Chúa thượng thánh minh. Nếu không ngoài dự đoán của vi thần, hịch văn của Tần Công hẳn đã truyền khắp thiên hạ để uy hiếp Hàn, Ngụy. Hàn, Ngụy không biết thật giả, có lẽ sẽ sinh lòng sợ hãi. Vi thần sẽ tạm nán lại Hàm Đan vài hôm, đợi người Tần tự lòi đuôi khuếch trương dối trá, lúc đó lên đường thực thi hợp tung cũng chưa muộn!”
Triệu Túc Hầu gật đầu lia lịa: “Quả nhân cũng có ý này. Ngoài ra, quả nhân còn có một việc nữa muốn thỉnh cầu, mong Tô Tử không từ chối.”
“Chúa thượng cứ nói!”
“Từ sau ngày Phụng Dương Quân tự vẫn, ngôi tướng quốc của Triệu vẫn bỏ trống. Quả nhân thực lòng muốn bái Tô Tử làm tướng, mong Tô Tử không từ chối.”
Lời khẩn cầu của Triệu Túc Hầu, với Tô Tần quả là tin mừng ngoài mong đợi. Chức tướng quốc là điều Tô Tần mơ ước suốt bao năm qua, Tô Tần cũng vững tin sớm muộn sẽ có ngày này, chỉ là không ngờ nó lại tới nhanh như vậy. Ngẫm nghĩ một lát, Tô Tần gắng kiềm chế cơn xúc động, điều hoà hơi thở, chậm rãi đứng dậy, trịnh trọng khấu đầu: “Tạ ơn chúa thượng coi trọng!”
“Tô Tử mau bình thân!” Túc Hầu đứng lên, đích thân đỡ Tô Tần dậy, cười vang mà nói. “Kỳ thực, quả nhân từ ngày gặp Tô Tử, đã có ý này, sở dĩ trì hoãn tới hôm nay, là vì hai nguyên do. Thứ nhất, Tô Tử muốn thực hiện hợp tung, thời gian quá cấp bách, quả nhân không muốn gây thêm phiền nhiễu. Thứ hai, người Triệu coi trọng công lao, Tô Tử tuy có đại tài, song chưa lập đại công ở Triệu, quả nhân lo sợ Tô Tử chưa có công mà đã hưởng lộc, sẽ khiến quần thần không phục, muốn đợi sau khi hợp tung thành công, sẽ đề xuất chuyện này. Nào ngờ thời thế biến đổi, người Tần rêu rao tấn công, khiến trong triều ngoài nội kinh hãi, khí thế bức người, hai lý do quả nhân vừa nói, đương nhiên đã không còn tồn tại.”
Tô Tần vòng tay đáp: “Vi thần bất tài, nguyện dốc hết sức lực báo đáp đại ân tri ngộ của chúa thượng!”
Hôm sau, trong buổi đại triều ở Tín cung, Túc Hầu hạ chiếu thư, bái Tô Tần làm tướng quốc, đảm trách nội chính bang giao, trao kim ấn tướng phủ cho Tô Tần ngay trong buổi chầu, ban cho phủ đệ của Phụng Dương Quân.
Sau buổi chầu, hoạn giả lệnh Củng Trạch dẫn theo các quan viên nội phủ, tháp tùng Tô Tần tới phủ Phụng Dương Quân, để tiếp quản phủ mới.
Tô Tần tế lễ thần linh tại chính đường trong phủ, bái nhận kim ấn. Đám Củng Trạch kiểm tra phủ đệ, đối chiếu sổ sách kiểm kê tài sản. Phủ đệ của Phụng Dương Quân, Tô Tần đã từng tới hai lần, nên khá thông thạo. Chỉ trong chớp mắt, vật đổi sao dời, vật còn người mất, trước sau chưa tới vài tháng, Tô Tần đã nghiễm nhiên trở thành chủ nhân của toà phủ đệ này, trong lòng khó tránh bùi ngùi cảm thán.
Đi quanh một vòng, Tô Tần thấy mọi thứ vẫn còn dùng tốt, nên ngay ngày hôm sau đã chuyển ra khỏi dịch quán, tới sống ở phủ mới, đồng thời bổ nhiệm Viên Báo làm quản gia, Trâu Phi Đao làm hộ viện. Sau khi mọi người chuyển tới, phủ Phụng Dương Quân đang vắng lặng tịch liêu bỗng lại tràn đầy sức sống.
Bận rộn nhất trong phủ là tân quản gia Viên Báo. Từ một tướng quân trở thành quản gia, Viên Báo vừa thấy lạ lẫm, lại vừa hào hứng, suốt mấy ngày liền, cùng Trâu Phi Đao luôn tay luôn chân sai bảo đám gia nô quét dọn, sắp xếp trạch viện tinh tươm.
Vừa qua giờ Ngọ, Củng Trạch sai người mang hoành phi tới, trên đề ba chữ vàng rực rỡ “Phủ Tướng quốc” do đích thân Túc Hầu ngự bút, toàn bộ khung đồng là do viên thợ đồng giỏi nhất thành Hàm Đan đúc nên, tinh xảo đẹp đẽ khiến ai nhìn cũng phải trầm trồ. Tô Tần bái lạy hoành phi, tạ ơn hoạn giả lệnh, rồi sai Viên Báo treo lên. Viên Báo gọi người khiêng theo hoành phi, leo lên hai thang, gỡ hoành phi cũ xuống, thay hoành phi mới lên.
Viên Báo nheo mắt nhìn hai gia đinh trên thang, miệng không ngừng hò hét: “Dịch sang trái một chút, được rồi, được rồi! Để nguyên như thế, đóng đi!”
Hai người vung búa, đóng đinh cồm cộp cố định tấm hoành phi.
Đúng lúc này, Sư Lý Tật mình mặc thường phục chậm rãi bước vào, đi tới trước mặt Viên Báo, vòng tay hỏi: “Vị này phải chăng là Viên tướng quân?”
Viên Báo nhìn Sư Lý Tật dò xét, đáp lễ nói: “Chính tại hạ. Tiên sinh là…”
Sư Lý Tật vòng tay nói: “Xin tướng quân bẩm báo với tướng quốc đại nhân, nói rằng có bạn cũ Mộc Vũ Khuy cầu kiến.”
Viên Báo lại săm soi Sư Lý Tật một lượt, rồi vòng tay nói: “Mộc tiên sinh xin đợi một lát!” Bước vào trong phủ, một lát sau quay trở ra, vòng tay nói. “Mộc tiên sinh, chúa công có lời mời!”
Tô Tần hai lần cầu kiến Phụng Dương Quân, đều là ở Thính Vũ các, biết đây là chốn thanh tao, nên chọn làm thư phòng, chuyên để đọc sách tiếp khách. Nghe thấy tiếng chân bước, Tô Tần vội ra nghênh đón, vòng tay vái Sư Lý Tật: “Mộc tiên sinh giá lâm, tại hạ không kịp ra ngoài nghênh đón, thật thất lễ!”
Sư Lý Tật đáp lễ: “Tô Tử giờ đai ngọc áo gấm, nếu đi ngoài phố, tại hạ thực sự không dám nhận người quen!”
“Vậy ư?” Tô Tần cười vang. “Xem ra, Mộc tiên sinh cũng chỉ nhận mũ áo mà không nhận người!”
Sư Lý Tật cũng cười: “Phải đấy, phải đấy, người xem mũ áo ngựa xem yên, không thể không có mũ áo!”
Hai người nắm tay nhau bước vào trong phòng, phân ngôi chủ khách ngồi xuống. Người hầu rót trà, hai người cùng uống, Tô Tần cười nói: “Mộc tiên sinh tới đây, nghe nói để hạ chiến thư, có chuyện này chăng?”
Sư Lý Tật đưa mắt nhìn Tô Tần, ôm quyền mà nói: “Mục đích của tại hạ khi tìm đến đây, hẳn cũng không giấu được Tô Tử. Trước lúc lên đường, chúa thượng nắm tay tại hạ, tha thiết dặn đi dặn lại, muốn tại hạ nhất thiết phải chuyển khẩu dụ tới Tô Tử.”
“Ồ, Tần Công muốn khẩu dụ việc gì?”
“Chúa thượng khẩu dụ rằng: ‘Quả nhân thỉnh cầu Tô Tử, chỉ cần Tô Tử nguyện tới Tần, quả nhân sẽ khom lưng, đi chân trần ra tận cửa ải nghênh đón, nguyện phó thác cả quốc gia, dốc hết sức lực của Tần, hoàn thành chí nguyện nhất thống của Tô Tử’.”
Nghe thấy mấy chữ “khom lưng đi chân trần”, Tô Tần trong lòng xúc động, trầm ngâm hồi lâu, mới ngẩng đầu lên, thở dài một tiếng: “Than ôi, là thời, là mệnh! Xưa kia khi tại hạ còn ở Hàm Dương, nếu Tần Công nói ra những lời này, thì đâu phải nhiều khổ tâm đến vậy!”
“Tô Tử!” Sư Lý Tật khẩn thiết nhìn Tô Tần. “Trước đây tại hạ đã nói, chúa thượng vô cùng hối hận vì đã không kịp thời trọng dụng Tô Tử. Chuyện này là có thực, tại hạ không dám nói dối nửa lời.”
“Tại hạ đã biết là thực!” Tô Tần lại nhấp một ngụm trà, khẽ mỉm cười mà nói. “Tại hạ cũng biết, Tần Công còn đang hối hận một chuyện, chính là trước kia nhất thời mềm lòng, cho tại hạ thoát được một mạng!”
Sư Lý Tật trong tim giật thột, há miệng cứng lưỡi, hồi lâu sau mới định thần lại được: “Tô Tử, Tô Tử… đúng là đã hiểu lầm chúa thượng rồi!”
“Cứ coi như tại hạ đã hiểu lầm!” Tô Tần cười vang, ôm quyền mà nói. “Đều là chuyện đã qua! Song tại hạ làm phiền Mộc huynh, hãy trở về bẩm với Tần Công, nói là bất luận thế nào, Tô Tần vẫn khấu tạ Tần Công hậu ái. Tô Tần cũng nhờ thượng đại phu chuyển tấu Tần Công, Tô Tần hôm nay đã không còn là Tô Tần hôm qua nữa!”
Sư Lý Tật cười gượng một tiếng, gật đầu mà nói: “Đúng vậy, Tô Tử hôm qua chẳng qua chỉ là một hàn sĩ, Tô Tử hôm nay quý là đặc sứ nước Yên, tướng quốc nước Triệu. Nước Tần nghèo nàn hẻo lánh, đương nhiên không xứng với quý thể của Tô Tử!”
“Sư Lý huynh hiểu lầm rồi!” Tô Tần khẽ lắc đầu.
“Xin Tô Tử giải thích rõ hơn!”
“Ý tại hạ muốn nói,” Tô Tần thong thả nói tiếp, “vật đổi sao dời, Tô Tần vẫn là một người, song ngày nay đã khác hôm qua. Mục đích của Tô Tần hôm qua là mưu cầu thiên hạ nhất thống, còn mục đích của ngày hôm nay là mưu cầu thiên hạ cùng hoà thuận phồn vinh. Tại hạ nhờ thượng đại phu chuyển lời tới Tần Công, Tô Tần đề xướng liệt quốc kết thân, chỉ vì cầu được ‘ngũ thông’, ‘tam đồng’, khiến cho liệt quốc tôn trọng lẫn nhau, chung sống hoà mục. Tô Tần không có ý trở thành kẻ thù của liệt quốc, cũng không có ý trở thành kẻ thù của nước Tần.”
“Ồ!” Sư Lý Tật bưng chén trà lên, nhấp khẽ một ngụm. “Mưu cầu của Tô Tử, chỉ có thể khiến người ta cảm động mà không thể khiến người ta ngưỡng mộ. Những điều khác chưa nói tới, tại hạ chỉ xin Tô Tử suy nghĩ tới một sự thực.”
“Tô Tần xin rửa tai lắng nghe!”
“Sở dĩ Tam Tấn trở thành Tam Tấn, nguyên nhân chỉ có một, đó là người Tấn là một đĩa cát khô, không thể hợp thành một khối. Tô Tử nhất quyết muốn họ kết thân, khác nào bắt thỏ bay lên trời, ép người vào chỗ khó. Tật cả gan nói bừa, dù Tam Tấn miễn cưỡng hợp tung, cũng sẽ giống như hoa quỳnh chớm nở đã tàn, chỉ thoáng gió lay cỏ động, lập tức rụng rời tan tác.”
Tô Tần cười vang mà nói: “Thượng đại phu hiểu sai ý Tô Tần rồi!”
“Ồ?”
“Thứ Tần mong cầu không phải là muốn Tam Tần hợp thành một nước, mà là muốn Tam Tấn tôn trọng lẫn nhau, chung sống hoà thuận. Không chỉ Tam Tấn, Tô Tần cho rằng, liệt quốc thiên hạ, bất luận lớn nhỏ, chỉ cần từ bỏ chiến tranh, chỉ cần chung sống hoà thuận, thì không có mâu thuẫn nào không thể giải quyết. Điều Tô Tần mong cầu, chỉ là muốn mọi người ngồi xuống cùng nhau, tập trung tâm lực hữu hạn để mưu cầu phúc lợi cho chúng sinh trong thiên hạ, chứ không phải tiêu tốn vào những cuộc chiến tranh một mất một còn.”
Sư Lý Tật trầm ngâm hồi lâu, rồi quay sang Tô Tần vái dài một vái: “Tới hôm nay, tại hạ mới biết thiện tâm của Tô Tử. Kính phục! Kính phục!”
Tô Tần đáp lễ: “Tạ ơn Sư Lý huynh đã cảm thông!”
Sư Lý Tật vẫn chưa hết hy vọng, lại nhoài người về phía trước, vòng tay mà rằng: “Điều Tô Tử mong cầu cũng là điều Tần Công mong cầu, càng là điều bách tính thiên hạ mong cầu. Tại hạ khẩn cầu Tô Tử, chỉ cần đồng ý tới Hàm Dương, bất luận Tô Tử muốn thực hiện tráng chí gì, chúa thượng cũng sẽ dốc sức thực hiện.”
“Tạ ơn ý tốt của Sư Lý huynh!” Tô Tần cười nói. “Tô Tần xưa nay làm việc không muốn bỏ dở giữa chừng, mong Sư Lý huynh lượng thứ.”
Sư Lý Tật im lặng, trầm tư hồi lâu, rồi thở dài sườn sượt: “Than ôi, Tần mất Tô Tử, tiếc nuối để đời!”
Tô Tần lại phá lên cười. “Thiên hạ không thiếu người tài giỏi hơn Tô Tần, Sư Lý huynh quá lời rồi!”
“Ồ, còn người nào giỏi hơn được Tô Tử?”
“Trương Nghi!”
“Trương Nghi?” Sư Lý Tật trợn tròn hai mắt. “Chẳng phải người này đang ở nước Sở ư?”
“Đúng vậy!” Tô Tần khẽ mỉm cười. “Hiện tại đang ở Sở. Có điều, Sư Lý huynh có thể chuyển tấu Tần Công, nói rằng tuy tại hạ không có duyên với Tần, song muốn tiến cử người này. Nếu Tần Công có được hắn, có lẽ sẽ không còn lo lắng!”
“Ồ…” Sư Lý Tật ngẩn ra một chốc mới định thần lại được, đảo con ngươi vài vòng rồi nói. “Trương Nghi ở tận nước Sở xa xôi, dù Tô Tử có tiến cử, cũng làm sao có được?”
“Sư Lý huynh chớ lo lắng!” Tô Tần cười nói. “Nếu không ngoài dự đoán của tại hạ, trong vòng năm mươi hôm nữa, người này sẽ tới Hàm Đan. Sư Lý huynh nếu không có việc gấp, cứ lưu lại đây du sơn ngoạn cảnh, giăng sẵn lưới chờ hắn tới là được!”
“Tốt lắm!” Sư Lý Tật vòng tay cười nói. “Có lời này của Tô Tử, tại hạ sẽ không đi nữa!”