Hoài Vương tâm tư rất đỗi nặng nề. Hai bề tôi thân tín nhất, Ngận Thượng và Khuất Bình, lại cùng lớn tiếng tố giác đối phương dối trá ngay trước mặt Hoài Vương, đây quả là một chuyện khó lòng tưởng tượng.
Hiển nhiên, một người không thể làm hai việc cùng một lúc, trong hai người kia, chắc chắn có một người nói dối, chỉ cần Hoài Vương hạ lệnh điều tra nghiêm ngặt!
Nhưng có thể điều tra được không? Nếu điều tra ra Khuất Bình nói dối, bảo Hoài Vương phải xử trí thế nào? Mấy năm qua, nhất là mấy tháng lại đây, Hoài Vương đã tin tưởng quá nhiều, kỳ vọng quá nhiều vào Khuất Bình, nhưng suy cho cùng, Khuất Bình mới chỉ hai mươi ba tuổi!
Hoài Vương hiểu Khuất Bình rất trung thành với mình, hiểu Khuất Bình một lòng muốn làm đại sự, muốn trừ Tần cường Sở, thu phục Thương Ư. Song nói thật lòng, liệu có chắc chắn thành công hay không? Khuất Bình quá chính trực, cũng quá cố chấp, chỉ làm những việc mà Khuất Bình cho là đúng. Ví như chuyện cải chế lần này, Hoài Vương gần như đã ám thị với Khuất Bình hãy phỏng theo Tần chế, song Khuất Bình dứt khoát không nghe.
Khuất Bình muốn, là muốn lập chế theo cách của Khuất Bình!
Đương nhiên, tân chế này vô hại đối với Hoài Vương, chịu bất lợi bởi tân chế, chỉ có quý tộc. Cải chế cũng tốt, bè đảng quý tộc đã càn rỡ quá rồi!
Liệu Ngận Thượng có nói dối không? Hoài Vương hiểu Ngận Thượng, suốt hai mươi năm có lẻ, dường như Ngận Thượng chưa bao giờ nói dối trước mặt Hoài Vương. Nhìn bộ dạng đòi sống đòi chết của hắn hôm đó, lại còn đâm đầu vào cột, nếu không phải chịu oan ức tày trời, thì sao phải làm như thế? Ngận Thượng có nhân chứng, có vật chứng rõ ràng, lúc ra vào cổng thành, hẳn có thể điều tra, sứ Tần cũng có thể điều tra, phải rồi, và cả thầy lang đã gắp xương cá cho hắn nữa, tất cả đều có thể chứng minh cho Ngận Thượng! Còn Khuất Bình? Nói đi nói lại, nhân chứng của Khuất Bình chỉ có một lão bộc và một con bé gái. Hai kẻ này đều là nô bộc của Khuất Bình, chủ nhân đã căn dặn, thì nào dám không nghe.
Liệu Khuất Bình có nói dối? Nghĩ đi nghĩ lại, Khuất Bình dứt khoát không phải là người biết nói dối!
Hoài Vương càng nghĩ càng rối, đang không biết phải xử trí ra sao, thì vương thúc tới cầu kiến.
Vào thời khắc then chốt này, Hoài Vương hiểu rõ, vương thúc cớ sao lại tới.
Tuy nhiên, người khác còn có thể không gặp, song vương thúc thì Hoài Vương không thể không gặp.
Hoài Vương gắng gượng định thân, bước ra khỏi cửa điện, nghênh đón vương thúc vào trong.
Vương thúc ra hiệu, Hoài Vương xua hết tả hữu, ngay cả nội doãn cũng lui ra ngoài cửa.
Thấy trong điện không còn ai nữa, vương thúc mới từ từ đứng dậy, lùi lại vài bước, đoạn quỳ sụp xuống đất, nước mắt tuôn rơi lã chã, phải nâng ống tay áo lên lau.
“Hiền đệ?” Hoài Vương sửng sốt.
“Vương huynh,” vương thúc giọng nghẹn ngào, “thần đệ tới đây, là để thỉnh tội. Thần đệ đã chuẩn bị sẵn sàng, vương huynh muốn chém muốn giết, muốn trừng phạt thế nào, thần đệ quyết không nửa lời oán thán!”
“A…” Hoài Vương kinh ngạc, vội vã đứng lên, kéo vương thúc dậy, dìu về chỗ ngồi, rồi hỏi dồn, “hiền đệ, xin hãy nói thực, đã xảy ra chuyện gì?”
“Than ôi,” vương thúc thở dài não nề, “vương huynh nếu như không biết, thần đệ xin kể ngọn nguồn. Cả đêm hôm qua, thần đệ lo lắng sợ hãi, không thể chợp mắt, suýt chút nữa…là không còn được gặp vương huynh!” Nói rồi lại nâng tay áo lau nước mắt.
“Nói mau, đã xảy ra chuyện gì?” Hoài Vương càng thêm lo lắng.
“Vương huynh hãy xem!” Vương thúc lấy từ trong ống tay áo ra một bức mật báo, hai tay trình lên Hoài Vương.
Hoài Vương mở ra, đọc xong, sắc mặt bàng hoàng sửng sốt, buột miệng lẩm bẩm: “Ba nhà Khuất, Cảnh, Chiêu cùng khởi gia binh, muốn tru diệt vương tộc trong thành…Không…dứt khoát không thể có chuyện này!”
“Than ôi, vương huynh,” vương thúc than thở, “trong chốn cung đình, không chuyện gì là không thể. Trước khi tới đây, thần đệ đã sắp xếp xong xuôi mọi việc. Nếu là lỗi của thần đệ, vương huynh muốn chém muốn giết, thần đệ cũng cam lòng! Trước khi bị ba họ tru diệt, thần đệ chỉ có một thỉnh cầu duy nhất, xin vương huynh hãy hạ dụ chỉ, tha mạng cho mấy anh em ruột thịt, họ đều là…đều là cốt nhục của tiên vương!” Nói xong, lại bật khóc nghẹn ngào.
“Hiền đệ,” Hoài Vương cũng ứa nước mắt, “vương huynh e rằng hiền đệ đã hiểu lầm rồi!” Lại nhìn kỹ mảnh lụa, lẩm bẩm, “Khuất Bình không phải người như vậy!”
“Than ôi,” vương thúc lại thở dài, “tả đồ là người tốt! May có tả đồ và Bạch tư tế tới báo tin, bằng không, thần đệ đến giờ vẫn hoàn toàn mù tịt, e là đến chết cũng không biết vì sao mà chết!”
“Tả đồ báo tin?” Hoài Vương lại một phen sửng sốt, “báo tin thế nào?”
“Không giấu vương huynh,” Vương thúc đáp, “gần đây, trước là chuyện ô kim, sau là chuyện muối Ba, rồi chuyện nhà, chuyện dòng tộc, chuyện thiên hạ, mọi chuyện đều không thuận lợi, thần đệ khổ sở mà không biết làm sao trút bỏ, nên trong lòng u uất. Nghe nói vườn Vân Mộng cảnh sắc diệu kỳ, lại gặp lúc trời quang mây tạnh, nên muốn tới đó giải khuây. Thế là hôm trước, thần đệ hẹn với Bành đệ, Xạ Cao đệ, và cả cháu hiền Tử Khải, hôm nay sẽ lên đường tới đó. Thường có câu, đi xa trăm dặm, chuẩn bị từ đêm, thần đệ đi săn mùa thu, vườn săn cũng khá rộng lớn, lại thêm không ít người trong thân tộc sau khi hay tin lũ lượt kéo tới tham gia, đêm qua có lẽ cũng hơi chộn rộn. Hôm nay, trời vừa sáng, thần đệ nhìn sắc trời, thấy nắng mai tươi đẹp, lấy làm phấn chấn, đang định bảo cháu hiền chuẩn bị lên đường, thì tả đồ và tư tế tới gặp. Thần đệ cứ ngỡ hai người họ cũng muốn đi săn, còn chưa kịp lên tiếng hỏi, tả đồ đã nói có việc muốn thỉnh cầu thần đệ…”
Thỉnh cầu hiền đệ?” Hoài Vương nheo mắt, “thỉnh cầu chuyện gì?”
“Thỉnh cầu thần đệ hãy niệm đến con dân Đại Sở, niệm đến thiên hạ nước nhà, niệm đến tôn vị đại vương, mà buông bỏ giáo mác chấm dứt phân tranh, chớ nên nội đấu, bởi Đại Sở đang đối diện cường địch, không thể nội đấu!” Vương thúc lắc đầu, cười gượng, “thế là thế nào kia? Thần đệ sửng sốt không hiểu đầu đuôi, bèn hỏi nguyên do, mới vỡ lẽ lệnh doãn Chiêu Dương đại nhân sớm đã triệu tập vài nghìn tộc binh, còn hẹn thêm hai họ Khuất, Cảnh phục nơi kín đáo, muốn tiên phát chế nhân, một đòn tận diệt thần đệ cùng chư huynh đệ, và cả cháu hiền!” Nói rồi chỉ vào mật thư trong tay Hoài Vương, “mật hàm này, là tai mắt của thần đệ đánh đổi cả tính mạng mới có được, than ôi…”
Hoài Vương đọc lại bức mật thư, chau mày trầm ngâm: “Vừa hôm trước, Chiêu Dương còn vào cung, cùng quả nhân và tả đồ bàn quốc sự! Nhìn vào thần thái và khẩu khí của ông ta, không giống như muốn gây ra chuyện này!”
“Vương huynh,” vương thúc khẽ cười, “con người Chiêu Dương, người khác không hiểu, lẽ nào vương huynh cũng không hiểu? Đừng nói là Chiêu Dương, mà thần tử nào cũng vậy, có ai dám phô bày tâm địa thực của mình trước đại vương? Kẻ tham lam có dám nhận mình tham lam? Kẻ hiếu sắc có dám nhận mình hiếu sắc? Kẻ tham quyền có dám nhận mình tham quyền?”
Hoài Vương hít sâu vào một hơi, hồi lâu sau mới lại nhìn sang vương thúc: “Ông ta phải tới mức đó sao? Đã xảy ra chuyện gì?”
“Chưa xảy ra chuyện gì, có điều, Trương Nghi đã tới!” Vương thúc đáp rành rọt, “khúc mắc giữa Chiêu Dương và Trương Nghi, vương huynh cũng biết rõ. Chiêu Dương nợ Trương Nghi một chức lệnh doãn, cộng thêm nửa tính mạng. Nay Trương Nghi đã làm đến tướng quốc nước Tần, giờ lại đi sứ sang Sở, giúp Tần Vương cầu thân với đại vương, đại vương cũng đã đồng ý. Trương Nghi lúc này thù lù ngay trước mặt Chiêu Dương, bảo ông ta làm sao có thể ngủ ngon? Lại thêm Trần Chẩn, thần đệ nghe nói hắn chính là người của Tề Vương. Mấy năm trước Chiêu Dương chiếm được Tương Lăng, định thừa thắng phạt Tề, song nửa đường lại lui quân quay về, là bởi bị Trần Chẩn phá rối. Tứ Hạ, là miếng thịt béo của thiên hạ; nước Tống, là tim gan của Tứ Hạ. Mối lợi lớn của Sở chính là ở Tứ Hạ, ở nước Tống; dục vọng lớn của Tề, cũng là ở Tứ Hạ, ở nước Tống, Trần Chẩn lại du thuyết Chiêu Dương bỏ cuộc, không đánh chiếm vùng Tứ Hạ phì nhiêu, mà quay lại kết oán với Tần. Tần có Trương Nghi, Chiêu Dương lẽ nào không canh cánh bên lòng?”
Hoài Vương lau mồ hôi trên trán.
“Vương huynh ở ngôi vị tôn nghiêm, trong tầm mắt không phải là nước Sở, mà là thiên hạ.” Vương thúc dõng dạc tiếp lời, “thiên hạ hiện nay, Tề ở đông, Tần ở tây, Đại Sở ta phía nam nằm giữa, ở giữa thì điều hoà. Theo thiển ý của thần đệ, vương huynh nên tận dụng cái thế trung gian, để được lợi từ hai phía mới phải. Mà nay vương huynh lại tin theo loạn ngôn, kết Tề chế Tần, thực khiến thần đệ nghĩ mãi mà không tài nào hiểu nổi!”
“Nhưng người Tần cướp mất Thương Ư của ta…” Hoài Vương phản bác.
“Vương huynh,” vương thúc cắt ngang lời Hoài Vương, “sơn cốc Thương Ư là nợ cũ của tiên vương, chứ đâu có liên quan tới vương huynh. Khi tiên vương còn sống, chỉ dốc sức thảo phạt Ngô Việt mà không thu phục Thương Ư, vương huynh hẳn biết duyên do?”
“Hiền đệ hãy nói rõ!”
“Không phải tiên vương không đủ sức thu phục, mà bởi tiên vương không muốn kết oán với người Tần! Nguyên do là đâu? Chính là bởi kế sách lâu dài của tiên vương: tranh đông không tranh tây. Đông, tức các nước phía đông, cũng tức là Tứ Hạ; tây, tức Ba Thục, Tần Xuyên. Đông, đất đai nghìn dặm màu mỡ. Tây, đất đai cằn cỗi hoang vu. Tiên vương chính là đã bỏ lợi nhỏ để cầu lợi lớn!”
Lời vương thúc nói ra, nghe đều hữu lý, Hoài Vương bất giác hít sâu một hơi.
“Vương huynh,” vương thúc nói tiếp, “người Tần hiểu rõ lợi hại, nên mới không muốn tranh giành với ta. Còn như sơn cốc Thương Ư, nghe nói sứ Tần Trương Nghi đã hứa trả, thực có chuyện này?”
Hoài Vương gật đầu: “Có.”
“Thế thì phải rồi!” Dừng lại một thoáng, vương thúc lại tiếp, “gần đây, khắp phố chợ Sính Đô bàn tán xôn xao, nói rằng vương huynh phó thác cho tả đồ bí mật soạn hiến lệnh, muốn thay đổi pháp chế của tiên vương, thực có chuyện này?”
Hoài Vương do dự một lát rồi đáp: “Có.”
“Khuất Bình là một đại tài, muốn mượn sức của vương huynh để triển khai chí hướng. Vương huynh ngân khố thiếu hụt, muốn cải chế để bù đắp lại. Những chuyện này, đều tốt cho nước lợi cho nhà, thần đệ không có điều gì trách cứ. Nhưng đã nhắc tới tạo hiến cải chế, thần đệ cũng muốn nói đôi lời, không biết vương huynh có muốn nghe?”
“Hiền đệ cứ nói.”
“Thời thế thay đổi,” vương thúc nói tiếp, “hiến phải sửa, chế phải đổi, việc này không có gì sai. Tuy nhiên, sự có nhanh chậm, việc có trước sau, vương huynh sao có thể mong một lần mà xong chuyện được? Vương huynh trọng dụng Khuất Tử không sai, Khuất Tử xứng đáng là đại tài hiếm có của Sở, thậm chí là của thiên hạ, song đại tài lại chưa hẳn đã là nhân tài trị thế! Lão Đam có câu, trị nước lớn giống như nấu cá nhỏ. Sở là nước lớn, phải như nấu cá nhỏ mới phải, há có thể đao to búa lớn thình lình như cách của Khuất Tử được?”
Hoài Vương lấy làm chấn động, lại hít ngược một hơi dài.
“Còn nữa,” vương thúc vẫn tiếp, “vương huynh hẳn cũng nghe đồn thần đệ vơ vét của cải. Phải, đúng là thần đệ có tích luỹ của cải. Nhưng vương huynh hãy thử nghĩ mà xem, thần đệ có phải kẻ tham tài hay không? Lãnh thổ vạn dặm, thần đệ chỉ cần một góc dung thân là hài lòng! Mỹ nữ vạn người, thần đệ chỉ cần một tri kỷ là thoả nguyện! Vậy mà thần đệ lại không hưởng an nhàn, xông pha mưa nắng, là vất vả vì ai đây?”
Hiển nhiên, đây cũng là việc mà Hoài Vương tò mò muốn biết. Hoài Vương hai mắt mở to, nhìn thẳng vào vương thúc.
“Là vì Sở thất!” Vương thúc ngữ điệu dứt khoát, “ai là Sở thất?” Nhìn sang Hoài Vương, “ngoài vương huynh ra, còn có hàng trăm hàng nghìn họ hàng thân thích! Gần thì tông tộc vương thất, xa thì ba họ Khuất, Cảnh, Chiêu, xa hơn nữa là trăm họ tông thân, họ nào nhà nào, truy nguyên về trước vài trăm năm, cũng đều là huyết mạch của thần đệ và vương huynh cả!”
Hoài Vương hoàn toàn khuất phục trước những lời biện luận của vương thúc, bất giác hít sâu vào một hơi.
“Xin vương huynh hãy nhớ lại chuyện xưa,” vương thúc nói tiếp, “Đại Sở ta từ khi lập quốc đến nay, là ai đã mở mang bờ cõi? Vương thất tông thân! Là ai đã trấn áp điêu dân? Vương thất tông thân! Lại nữa, là ai đã chống giặc ngoài cửa ải? Vương thất tông thân! Vương thất tông thân đầu rơi máu chảy, cúc cung tận tuy, lập bao công trạng, đều là vì muốn cho hậu bối được sống đường hoàng. Nay họ được ăn chút ít, được uống chút ít, được dùng chút ít, chính là đã được sống đường hoàng hơn chút ít, vương huynh không thể mắt nhắm mắt mở được ư?”
Vương thúc lời lẽ hùng hồn, Hoài Vương toàn thân toát mồ hôi lạnh, chóp mũi cũng rịn mồ hôi, phải nâng ống tay áo lên lau.
Vương thúc lại đổi giọng chậm rãi, thái độ chân thành: “Từ lúc vương huynh được lập làm thái tử, thần đệ đã không còn hỏi chuyện triều chính, nay thần đệ đánh liều tới đây, vừa là vì Sở thất, cũng là vì vương huynh.”
Hoài Vương ngẩng đầu, nhìn chăm chú vào người em luôn khiến mình nể sợ.
“Thần đệ muốn vương huynh hiểu rõ,” vương thúc nói tiếp, “không có vương thất tông thân, thì cũng không có vương huynh. Nếu xoá bỏ phong quân thế tập, vậy thì vương huynh sẽ dựa vào đâu để ngồi lên vương vị? Sau khi vương huynh trăm tuổi, thái tử lại dựa vào đâu để kế thừa vương nghiệp?”
Vương thúc lời lời bén nhọn, xuyên thấu tâm can, Hoài Vương nghe mà mồ hôi thánh thót.
“Vương huynh,” vương thúc thở dài cảm thán, “ngày hôm nay, ba họ tông thân nghe lời xúi giục, mài dao xoèn xoẹt, muốn tru diệt vương thân. Chư quân vương thân hay tin, cũng bừng bừng phẫn nộ, kiếm kích sẵn sàng, nóng lòng đánh trả, một trận huyết chiến sắp sửa bùng khắp trong ngoài Sính Đô! Vương huynh, thần đệ cho rằng, bất luận là tông thân hay vương thân, suy đến cùng cũng đều chung huyết mạch tổ tiên, không thể nội đấu! Đại Sở đất rộng năm nghìn dặm, mênh mông bát ngát, trùng trùng điệp điệp, càng không thể xảy ra nội loạn!” Nhìn thẳng vào Hoài Vương, cất giọng rành rọt, “kế sách lâu dài của Đại Sở ta, chính là kết Tần tranh Tề, duy trì an ổn!”
Hoài Vương lau mồ hôi trán, chầm chậm ngẩng đầu: “Lời của hiền đệ, huynh sẽ nghe theo!” Rồi hướng ra phía ngoài, giọng khản đặc, “người đâu!”
Nội doãn bước vào.
“Truyền Chiêu Dương!”
Vừa nghe thấy lời nhắn gửi của Khuất Bình, Chiêu Dương hiểu rằng đại thế đã mất, chỉ biết thở dài thườn thượt, nhìn Trần Chẩn lắc đầu: “Văn nhân thơ phú, không thể bàn mưu!” Lập tức cho gọi cốt cán trong tộc tới, tìm cách xử trí.
Trần Chẩn cũng hết cách, cùng với Chiêu Dương bàn bạc cách ứng đối xong, bèn quay về nhà ngủ.
Quả như dự liệu, vừa dùng xong bữa sáng, Chiêu Dương đã nhận được vương chỉ, truyền vào cung yết kiến.
“Chiêu Dương,” Hoài Vương sắc mặt không vui, gọi thẳng tên họ, “nghe nói khanh suốt đêm qua không ngủ, là bận rộn việc gì?”
“Hồi bẩm đại vương,” Chiêu Dương vòng tay đáp, “trước nửa đêm, đúng là lão thần không thể chợp mắt, nhưng nửa đêm về sáng lại ngủ rất ngon.”
“Ồ?” Hoài Vương ngả người lại, “trước nửa đêm, cớ sao lại không ngủ được?”
“Từ tối đến đêm, ngoài phố có nhiều tốp người rậm rịch chạy qua chạy lại, khí giới lăm lăm, toàn thân mang giáp. Sính Đô là đất kinh kỳ trọng yếu, mà lại có người khoác giáp cầm thương, đêm hôm qua lại thậm thịch ngoài phố, thần là lệnh doãn, thần nào dám làm ngơ, sợ rằng xảy ra chuyện không hay, lo lắng cho sự yên ổn của đại vương, nên không dám ngủ.”
“Là kẻ nào mang khí giới qua lại ngoài phố?” Hoài Vương ánh mắt như đuốc.
“Lão thần thoạt tiên không biết, nên lấy làm căng thẳng.” Chiêu Dương vuốt râu, chậm rãi trả lời, “nhưng rồi sau đó, lão thần cho người thăm dò, biết được đám đông giáp trụ ấy đang kéo tới phủ vương thúc, mới lấy làm an tâm, vậy nên nửa đêm về sáng ngủ rất ngon lành.”
Thấy Chiêu Dương ứng đáp trôi chảy, hơn nữa không chút sơ hở, không mảy may ấp úng, Hoài Vương cũng thở phào, mặt hiện nét cười: “Ồ, xem ra đã có hiểu lầm rồi.” Chỉ ra bên ngoài giải thích, “là Kỷ Lăng Quân, Bành Quân dự định hôm nay đi săn ở vườn Vân Mộng, nên mới chuẩn bị suốt đêm qua, không ngờ lại khiến Chiêu ái khanh kinh động. Nếu là vậy, quả nhân không còn gì băn khoăn nữa!”
“Tạ ơn đại vương khoan dung!” Chiêu Dương dừng lại một thoáng, rồi lấy từ trong ống tay áo ra kim ấn lệnh doãn, hai tay dâng lên, “lão thần năm nay đã ngoại lục tuần, vốn dĩ vẫn cố gắng gượng được, nhưng dạo gần đây, lại thấy thân thể suy sụp, mắt hoa tai ù, đầu óc mụ mẫm, tay thường run rẩy. Hôm trước mời thầy lang tới khám, nói rằng tì gan đều hư, tâm thận bất giao, dặn lão thần phải nghỉ ngơi, chớ nên lao lực nữa. Thỉnh cầu đại vương niệm tình lão thần đã tận lực bấy lâu, cho phép lão thần từ chức lệnh doãn, về quê dưỡng lão!”
“Ồ…” Hoài Vương im lặng một chốc, rồi đổi giọng quan hoài, “cũng phải. Con người sống ở trên đời, duy có sinh tử là trọng. Chiêu ái khanh cả đời bôn ba chinh chiến vì đất nước, cũng đã tới lúc an hưởng tuổi già!” Rồi phẩy tay, ra hiệu cho lệnh doãn thu nhận kim ấn.
“Tạ ơn đại vương ân chuẩn!” Chiêu Dương đứng dậy, dập đầu sát đất.
“Chiêu ái khanh mau đứng dậy!” Hoài Vương phẩy tay, chờ cho Chiêu Dương lại ngồi yên vị, trỏ vào kim ấn trên án, “theo ý Chiêu ái khanh, ai có thể giữ ấn này?”
“Lão thần đã tiến cử một người, tả đồ Khuất Bình!” Chiêu Dương đáp.
“Ngoài Khuất Bình, còn ai có thể tiến cử?”
“Thần không có!”
“Được rồi.” Hoài Vương nhìn sang Chiêu Dương, ánh mắt ôn tồn, chìa tay hỏi, “Chiêu khanh, cùng quả nhân ra vườn đi dạo một vòng, được chứ?”
“Lão thần cung kính tuân lệnh!”
Vua tôi hai người bước ra khỏi thiên điện, men theo con đường rợp bóng cây trong vườn mà đi, một lát thì tới hậu cung. Ngận Thượng đang ở trong miếu Vu Hàm nhìn thấy cảnh này, lại thấy nội doãn đi theo ở tít đằng sau, phải cách xa hơn năm chục bước, bèn lẻn lại, chặn đầu nội doãn, moi được tin Chiêu Dương xin từ chức lệnh doãn, đã được đại vương ân chuẩn.
Ngận Thượng vội vã đi ngay, sai người bẩm lên Nam hậu, mời Nam hậu tới miếu Vu Hàm.
Chỉ một lát sau, Trịnh Tụ đã tới.
Ngận Thượng bẩm báo về việc dựng miếu Vu Hàm trên các vùng đất Sở, rồi nháy mắt ra hiệu với Nam hậu. Nam hậu bèn đuổi hết thân tín ra ngoài, nhìn Ngận Thượng dò hỏi.
“Trịnh Tụ!” Khác hẳn với ngày thường, Ngận Thượng gọi đích danh nàng.
Trịnh Tụ sửng sốt, sắc mặt kinh hãi: “Thượng quan đại nhân?”
“Còn nhớ chuyện năm xưa chứ?” Ngận Thượng gằn mạnh từng tiếng.
“Chuyện gì kia?” Trịnh Tụ càng thêm bấn loạn.
“Chuyện Tương Lăng, cổng thành Nam!”
“Nhớ!”
“Kẻ đó là ai?”
“Chiêu Dương!”
“Nàng tới Sính Đô, đã bao năm rồi?”
“Không nhớ nữa. Năm năm? Sáu năm?”
“Quân tử báo thù, mười năm chưa muộn. Đàn bà không phải là quân tử, hẳn không cần đến mười năm?”
“Thượng quan đại nhân?” Trịnh Tụ ngờ vực nhìn Ngận Thượng.
“Kẻ thù của Trịnh gia,” Ngận Thượng chỉ ra ngoài miếu, “vào lúc này, có lẽ đang ở trong cung. Nếu muốn báo thù, có thể thử xem!”
“Đại nhân…” Trịnh Tụ ngỡ ngàng, nhìn trân trân vào Ngận Thượng, “muốn nói gì?”
“Muốn cho nàng báo thù!” Ngận Thượng đáp, “Chiêu Dương hôm nay vào cung xin từ quan, đã không còn là lệnh doãn Đại Sở nữa!”
“Nhưng ông ta…”
“Vào đêm qua, Chiêu Dương tụ tập tộc binh, có ý diệt trừ vương thúc, Ngạc Quân, Bành Quân cùng chúng vương thân, may sao phía vương thúc sớm đã có chuẩn bị, nên việc không thành. Sáng sớm nay, vương thúc vào cung tố cáo họ Chiêu. Đại vương đã cho gọi Chiêu Dương vào hỏi tội!”
“Đại vương đã gọi ông ta vào hỏi tội, chẳng phải là chuyện tốt ư?”
“Đại vương không có chứng cứ, họ Chiêu nói dăm ba câu, đại vương đã không thể phản bác.”
“Ồ…” Trinh Tụ chau mày.
“Chiêu Dương hiện giờ đã đắc tội với đại vương, vương thúc cùng chúng vương thân, vì sợ tội nên mới từ quan, giờ khác nào chó rơi xuống nước. Nương nương nếu muốn phục thù, không chọn lúc này, còn chờ lúc nào?”
“Nhưng ta…” Trịnh Tụ rầu rĩ, “biết báo thù bằng cách nào đây?”
“Thần mạo muội mượn một bên tai của nương nương!” Ngận Thượng đứng dậy, ghé sát tai Nam hậu, thì thầm một hồi, Trịnh Tụ gật đầu liên tiếp.
Tối đến, Trịnh Tụ chờ Hoài Vương tới, ra tận ngoài cửa nghênh đón, dắt tay vào trong phòng, đuổi hết cung nữ ra ngoài, tự tay cởi bỏ triều phục cho Hoài Vương.
Hoài Vương sắc mặt sầu muộn.
“Đại vương,” Trịnh Tụ dịu dàng hỏi, “có chuyện gì ư?”
Hoài Vương thở dài một tiếng, ngồi phịch xuống mép giường.
Trịnh Tụ bưng lại một chén nhỏ: “Nước sương này, thần thiếp tự tay hứng về, mời đại vương hãy dùng chút ít, có thể trừ hoả giải nhiệt.”
Hoài Vương khẽ nhấp một ngụm rồi đẩy ra.
“Đại vương,” Trịnh Tụ cười nói, “đại vương đang không vui vì chuyện Chiêu Dương mưu phản đấy ư?”
“Không phải.” Hoài Vương buột miệng đáp, rồi đột ngột ngẩng phắt lên, nhìn xoáy vào Trịnh Tụ, “Ồ, sao nàng lại biết chuyện này?”
“Thần thiếp rất lưu tâm đến người này,” Trịnh Tụ thu lại nụ cười, giọng nói rít qua kẽ răng, “dám hỏi đại vương, không phải mưu phản, thì nửa đêm nửa hôm tụ tập tộc binh để làm gì?”
Hoài Vương sầm mặt, giọng nói có phần giận dữ: “Đàn bà con gái, chớ hỏi quốc sự!”
Trịnh Tụ vụt cái đổi ngay sắc mặt, quay ngoắt đi, giấu khuôn mặt xinh đẹp sau cánh màn, bật khóc thút thít.
“Ái phi,” Hoài Vương dường như cũng thấy mình hơi nặng lời, bèn đứng dậy, vỗ khẽ lên vai nàng, “quả nhân trong lòng muộn phiền, mới buông lời gắt gỏng, chứ không hề có ý oán trách nàng, nàng đừng khóc!”
“Đại vương,” Trịnh Tụ quỳ sụp xuống đất, ôm lấy chân Hoài Vương, nức nở, “tại thần thiếp…chợt nhớ tới tiên phụ đã bỏ mạng oan ức ngoài thành Tương Lăng, và cả thân mẫu, và cả anh trai thần thiếp…Họ đều chết không nhắm mắt…”
Hoài Vương khẽ vuốt tóc nàng: “Tiên phụ của nàng tử chiến sa trường, sao lại nói là chết oan ức được?”
“Đại vương,” Trịnh Tụ nghẹn ngào đáp, “tiên phụ không phải là tử chiến, mà là bảo vệ cho sự trong sạch của thần thiếp, nên mới bỏ mạng oan uổng!”
“Ồ?” Hoài Vương ngỡ ngàng.
“Tiên phụ bất mãn với Ngụy Vương, sớm đã có ý định quy hàng Sở, nếu không phải thế, Chiêu tặc sao có thể dễ dàng công phá thành trì?” Trịnh Tụ khóc lóc giãi bày, “chuyện khác không nói, riêng chuyện Tương Lăng, thần thiếp hiểu rất rõ. Tương Lăng thành cao hào sâu, tiên phụ dũng mãnh thiện chiến, năm xưa người Tề Tôn Tẫn, Điền Kỵ tấn công hơn một tháng ròng cũng không thể công phá. Đại vương thử nghĩ xem, Chiêu tặc tài gì đức gì, dựa vào đâu mà không đánh đã có được tám ấp Tương Lăng?”
Tương Lăng đúng là không đánh mà được, Điền Kỵ, Tôn Tẫn đúng là đã vây đánh Tương Lăng mà không thể hạ, Hoài Vương nghe đã tin, bèn nhìn thẳng vào Trịnh Tụ: “Ái phi hãy kể chuyện là thế nào?”
“Vốn dĩ tiên phụ đã hẹn trước với Chiêu tặc, để bộ tướng mở cổng thành Đông đón quân Sở nhập thành. Vậy nên người Sở vào thành, không tổn hao một binh một tốt, bởi lẽ không hề có quân Ngụy canh giữ trên thành, tất cả hoặc là ở trong doanh trại, hoặc là ở nhà. Tiên phụ phái người ra cổng thành Nam nghênh đón Chiêu tặc, cùng tiến hành nghi thức xin hàng trên lầu cổng thành…” Kể tới đây, Trịnh Tụ lại nghẹn ngào.
“Hãy nói mau!” Hoài Vương nôn nóng thúc giục.
“Để tỏ bày tình thân mật, cha sai thần thiếp gảy đàn cho thân mẫu múa. Nào ngờ Chiêu tặc kia nhìn thấy thần thiếp, lại nổi lòng hiếu sắc, buông lời chòng ghẹo sỗ sàng ngay trước mặt cha mẹ, huynh trưởng của thần thiếp. Lúc đó thần thiếp mới mười bốn tuổi. Anh trai thiếp cũng mới chỉ mười sáu, trẻ người non dạ, không chịu nhịn được, cầm kiếm chỉ mặt Chiêu tặc mắng là súc sinh. Chiêu tặc thẹn quá hoá giận, một thương đâm chết anh trai thần thiếp. Cha thần thiếp đau đớn giận dữ, bèn cầm thương tới khiêu chiến Chiêu tặc. Nhưng Chiêu tặc kia không dám tiếp chiến, lệnh cho binh tướng xông vào, đâm chém túi bụi một hồi giết chết cha thần thiếp. Mẹ thần thiếp đau đớn quá đỗi, mới nhảy xuống chân thành chết thảm. Thần thiếp cũng định nhảy theo, song bị Chiêu tặc kéo lại, bắt vào doanh trại, định giở trò sàm sỡ. Thần thiếp mới kề mũi trâm vàng vào cổ, thà chết không chịu. Chiêu tặc nổi giận, truyền lệnh đẩy thần thiếp cho đám binh lính giày vò. May sao thượng quan đại nhân tới kịp, cứu lấy thần thiếp. Đại vương, nếu không nhờ có thượng quan đại nhân, thì thần thiếp đã…”
“Chiêu Dương…” Hoài Vương sửng sốt, “mà cũng làm ra chuyện thế ư?”
“Đại vương nếu không tin, có thể cho gọi thượng quan đại nhân tới đối chất.”
“Oan tình lớn nhường này,” Hoài Vương chau mày nhìn nàng, “ái phi vào cung đã nhiều năm, sao lại chưa từng kể với quả nhân?”
“Đại vương!” Trịnh Tụ càng lấy làm đau buồn, “Chiêu tặc quý là lệnh doãn, tộc lớn thế mạnh, còn thần thiếp chỉ có mình đại vương, đại vương lại tam cung lục viện, thần thiếp…thế mỏng sức yếu, nào dám hé răng. Nay thấy Chiêu tặc khởi binh mưu phản, thần thiếp nghĩ rằng cơ duyên đã tới, cho nên mới dám nói ra…” Nói rồi, lại bật khóc thảm thiết.
Hoài Vương đã tin là thực, bèn ôm lấy Trịnh Tụ, giọng rít qua kẽ răng: “Chiêu Dương!”
Trịnh Tụ vòng tay ôm lấy cổ Hoài Vương, thủ thỉ: “Dám hỏi đại vương, nên xử trí tên giặc già đó thế nào?”
“Than ôi,” Hoài Vương thở dài, “quả nhân đã tra hỏi rõ ràng, Chiêu Dương không hề mưu phản, tất cả chỉ là hiểu lầm mà thôi!”
“Hiểu lầm?” Trịnh Tụ giận dữ, “động đao thương ngay trước mắt đại vương, sao lại nói là hiểu lầm cho được?”
“Ừm…” Hoài Vương ngần ngừ một thoáng, “vậy theo ý ái phi, nên xử trí chuyện này thế nào?”
“Nếu không thể giết dâm tặc,” Trịnh Tụ đã từ từ trấn tĩnh lại, mà lui một bước, “xin đại vương hãy thu hồi tước vị của kẻ này, đuổi khỏi Sính Đô vĩnh viễn! Cứ nhìn thấy kẻ này, thần thiếp lại nhớ đến cái chết thảm thương của cha mẹ cùng anh trai năm xưa, và bộ dạng đê tiện của hắn lúc giở trò sàm sỡ!”
“Chuyện này thì được.” Hoài Vương nhận lời, rồi bế bổng Trịnh Tụ lên, “giờ thì, hãy lại hồ thơm, để quả nhân giúp ái phi xua hết đau buồn!”
Trong phủ họ Chiêu, ba cỗ xe đã sửa soạn sẵn sàng, Hình Tài đang hô hào đám nô bộc xếp đồ lên xe. Chiêu Ngư mình mang nhung phục tiến lại gần, đứng nghiêm trang bên cạnh.
Bỗng thấy Chiêu Tuy hối hả bước lại, bám sát theo sau là Trần Chẩn, rảo bước như chạy.
Hai người vòng qua xe, tiến về phía khu nhã phòng tráng lệ cách đó không xa. Đó là nơi Chiêu Dương đọc sách, tiếp đón khách quý.
Hai người bước vào, trông thấy Chiêu Dương đang ngồi thẫn thờ nhìn sững vào bản vương chỉ bày trên án, khoé mắt ứa hai hàng lệ đục.
“Lão huynh?” Trần Chẩn liếc nhìn, rồi ngồi xuống chiếu khách.
Chiêu Dương nhìn sang, cười buồn bã, nước mắt vẫn lăn trên khuôn mặt già nua, rơi lộp độp xuống vạt áo.
“Có chuyện gì?” Trần Chẩn nhìn sang, lên tiếng hỏi.
Chiêu Dương hất hàm xuống mặt án. Trần Chẩn cầm vương chỉ lên, đọc lướt qua, đập vào mắt là hàng chữ: "…Ân chuẩn Chiêu khanh từ chức lệnh doãn, trở về Giang Thành an dưỡng tuổi già, vào ngày tiếp chỉ, giờ Ngọ lên đường…” Trần Chẩn thở hắt ra một tiếng: “Than ôi!”
Chiêu Dương gượng cười đáp lại, rồi cũng thở dài thườn thượt.
Trần Chẩn đặt vương chỉ về chỗ cũ: “Tối qua nghe lão huynh kể, cứ nghĩ đã yên chuyện rồi, nào ngờ…”
“Phải,” Chiêu Dương đáp, “mọi chuyện, tại hạ đều đã giải thích rành mạch với đại vương, nào ngờ hôm nay lại lật lọng, trời vừa sáng, đã truyền tới chỉ dụ này…” Nói rồi giận dữ đấm mạnh xuống án.
“Hẳn là biến cố xảy ra vào đêm qua!” Trần Chẩn khẳng định, “Trương Nghi, Ngận Thượng có vào cung trong đêm không?”
“Không!” Chiêu Dương lắc đầu, “Ngận Thượng chỉ tới một lần vào ban ngày!”
“Vậy thì, chuyện ắt đến từ bên gối. Đêm qua, đại vương nghỉ ở đâu?”
“Phải rồi!” Chiêu Dương vỗ trán thật mạnh, phẫn hận kêu lên, “chính là ả đàn bà đó!”
“Nam hậu?”
“Ngoài ả, còn có thể là ai?” Chiêu Dương siết chặt tay quyền, nghiến răng mà đáp.
“Còn nhớ lão huynh từng kể, sau khi công phá Tương Lăng, Công Tôn Diễn có tìm tới trướng cảnh cáo lão huynh. Hắn đã nói gì nhỉ?”
“Than ôi,” Chiêu Dương thở dài, “hắn nói, quãng đời còn lại của tướng quân, hỷ ở Tương Lăng, táng cũng Tương Lăng, nay đã ứng nghiêm thật rồi”
“Hỷ ở Tương Lăng, táng cũng Tương Lăng,” Trần Chẩn lặp lại, chép miệng vài cái, “quả là thú vị.”
“Hiền đệ,” Chiêu Dương nhìn xoáy vào Trần Chẩn, “tại hạ tuổi già sức yếu, quả tình không muốn rời khỏi Sính. Gọi lão đệ tới đây, thứ nhất để chào từ biệt, thứ hai, là muốn lắng nghe cao kiến, xem liệu có thể…”
“Hỷ ở Tương Lăng, táng cũng Tương Lăng!” Trần Chẩn lẩm bẩm nhắc lại, từ từ khép mắt.
Chiêu Dương đã hiểu, không nói thêm câu nào nữa, vòng tay gọi: “Trần lão đệ!”
Trần Chẩn ngẩng đầu.
“Tại hạ đi lần này, e rằng không có ngày trở lại. Tại hạ có một thỉnh cầu, hiền đệ nhất định phải nhận lời!”
“Chiêu huynh xin cứ nói!” Trần Chẩn cũng vòng tay đáp lễ.
“Đời này của tại hạ, chỉ có hai điều mưu tính, thứ nhất là vì Chiêu môn, thứ hai là vì nước Sở. Qua sự việc hôm nay, cuối cùng thì tại hạ cũng hiểu, nước Sở là việc lớn, Chiêu môn là việc nhỏ. Tại hạ thỉnh cầu hiền đệ, hãy phò trợ tả đồ. Có lẽ, tả đồ đã đúng.”
“Tại hạ có thể giúp Chiêu huynh, song lại không thể giúp tả đồ!” Trần Chẩn cười buồn bã.
“Vì sao?”
“Bởi người này đâu có chịu nghe!” Trần Chẩn nhún vai.
“Giúp hay không, là việc của hiền đệ. Nghe hay không, là việc của tả đồ.” Chiêu Dương lại vòng tay, “tại hạ chỉ cậy nhờ hiền đệ một việc này thôi!” Nói đoạn, từ từ đứng dậy, “giờ Ngọ sắp tới rồi,” siết chặt tay Trần Chẩn, “hiền đệ, từ nay về sau, anh em ta chỉ còn gặp nhau trong mộng!”
Trần Chẩn, Chiêu Dương cùng ôm lấy nhau, ứa nước mắt từ biệt.
Môn uý cổng thành Đông vào cung bẩm báo, ba cỗ xe của Chiêu Dương đã rời thành vào khắc cuối cùng của giờ Ngọ, đánh về phía đông, đi theo hộ tống là người con trai thứ Chiêu Ngư. Hoài Vương thở phào một tiếng, song vẫn không tránh khỏi buồn lòng, bất giác hồi tưởng lại những lần nam chinh bắc chiến, đông thảo tây phạt của Chiêu Dương suốt hơn ba chục năm qua, lại thở ngắn than dài.
Từ lúc đăng cơ, những chuyện khiến Hoài Vương canh cánh bên lòng kỳ thực đều không quá trọng đại, duy có vùng đất Thương Ư, chính miệng Hoài Vương đã hứa với tiên Uy Vương rằng sẽ đoạt về. Những năm trước, Hoài Vương cũng từng ấp ủ ước mong làm nên đại nghiệp lừng lẫy hơn cả tiên vương, ví như xưng bá thiên hạ, tây chiếm Ba Thục, giam chặt người Tần ở Quan Trung; bắc ép Hàn, Ngụy, đoạt lấy Tứ Hạ, tiêu diệt Tống, Vệ, thậm chí thay ngôi Chu Vương, nhất thống thiên hạ. Tuy nhiên, những chuyện này, đều chỉ là mong ước mà thôi. Nhất là sau trận Tích Thuỷ, Hoài Vương coi như đã bừng tỉnh mộng, nên mới trọng dụng Khuất Bình biến pháp cải chế, nào ngờ…
Vừa nghĩ tới Khuất Bình, nội doãn đã bước vào, bẩm báo tả đồ Khuất Bình đang ở ngoài điện cầu kiến.
Trước mặt Hoài Vương lập tức hiện lên cảnh tượng Ngận Thượng, Khuất Bình đối chất ngay trước mặt mình đêm trước, bỗng thấy chua xót trong lòng. Phải, Khuất Bình kia, tài hoa là thế, giỏi giang là thế, thông tuệ là thế, thấu tình đạt lý là thế, nhưng tại sao lại ấu trĩ đến vậy? Tạo hiến chế lệnh là chuyện cực kỳ hệ trọng, sao có thể khoe khoang khắp Sính Đô, đến nỗi hang cùng ngõ hẻm ai ai cũng biết? Chuyện khác còn có thể ngờ, nhưng sứ Tần đã đọc vanh vách ngay tại chỗ, đúng là không sai lấy một chữ!
Còn Ngận Thượng thì sao. Liệu Ngận Thượng có vu oan cho Khuất Bình?
Hoài Vương lại nhớ đến hai mươi năm qua, Ngận Thượng lúc nào cũng một lòng cúc cung tận tụy vì mình, thì lại khe khẽ lắc đầu. Bất luận thế nào, hiến lệnh cũng là bại lộ từ chỗ Khuất Bình. Thấy chuyện vỡ lở, tìm cách giá hoạ cho người khác cũng là dễ hiểu. Than ôi, Khuất Bình kia vẫn còn non trẻ quá. Nhớ năm xưa, khi mình hơn hai mươi tuổi, cũng từng làm ra không ít chuyện điên rồ, Hoài Vương gượng cười một tiếng, xua tay với nội doãn: “Không gặp, bảo hắn về đi, về mà sám hối.” Dừng lại một thoáng, lại ra lệnh, “phải rồi, truyền sứ Tần Trương Nghi vào yết kiến, có lời mời vương thúc, Ngận Thượng!”
Khi vương thúc, Trương Nghi, Ngận Thượng hối hả tới nơi, Khuất Bình vẫn chưa về, giống như lần trước, đang quỳ đợi ngoài cổng điện.
Sớm đã có cung nhân vào bẩm báo, Hoài Vương bèn truyền yết kiến.
Hành lễ xong xuôi, Hoài Vương vào ngay chuyện chính, hỏi về việc Thương Ư. Trương Nghi hiển nhiên đã có chuẩn bị, lấy từ trong tay áo ra tấm địa đồ Thương Ư, trải lên mặt án, rồi rút một cây bút lông chấm mực son, khoanh tròn toàn bộ đất Thương Ư. Lại cầm bút chấm mực đen, kẻ ra một đường thẳng tắp qua Vũ Quan nằm giữa đất Thương và đất Ư.
“Đại vương hãy xem,” Trương Nghi trỏ ngọn bút vào tấm địa đồ, “đây là sơn cốc Thương Ư, từ đông tới tây chừng sáu trăm dặm. Vệt mực đen này là ải Vũ Quan trước đây, cũng chính là di chỉ ải Vũ Quan năm xưa trước khi Thương Quân đánh chiếm Ư Thành. Theo như Nghi thấy, Tần và Sở vẫn nên lấy đây làm ranh giới, ba trăm sáu mươi dặm từ Vũ Quan về đông quy về Sở, hai trăm bốn mươi dặm từ Vũ Quan về tây quy về Tần, đại vương thấy sao?”
Hoài Vương sầm ngay nét mặt, gằn mạnh từng tiếng: “Còn nhớ sứ Tần đã hứa với quả nhân, là toàn bộ sơn cốc Thương Ư sáu trăm dặm!”
“Ồ…” Trương Nghi có vẻ khó xử, nhìn sang vương thúc.
“Chuyện này, Thu cũng nhớ!” Vương thúc lập tức tiếp lời, “sơn cốc Thương Ư vốn là đất của tổ tiên Đại Sở, không thể chia cắt, vẫn mong sứ Tần châm chước!”
“Vương thúc đã nói vậy,” Trương Nghi cất giọng quả quyết, “Nghi xin cung kính nghe theo đại vương, nay thay mặt Tần Vương mà quyết đoán rằng, Tần sẽ dịch chuyển Vũ Quan tới Nghiêu Quan, Lam Điền, sáu trăm dặm đất từ cửa ải mới về đông, cũng chính là toàn bộ sơn cốc Thương Ư, đều quy về Sở!”
Hoài Vương, vương thúc cùng thở phào, nhìn nhau mỉm cười, rồi vỗ tay.
Hàm doãn từ bên ngoài bước vào, khẽ giọng bẩm báo: “Đại vương, tả đồ có việc gấp, thỉnh cầu yết kiến!”
“Vẫn chưa về ư?” Hoài Vương khẽ chau mày, liếc nhìn Trương Nghi, vương thúc, “bảo hắn chờ đi.” Rồi quay sang nội doãn, “bày tiệc tiếp đãi!”
Nội doãn vội đi truyền chỉ.
“Trương Tử,” Hoài Vương thay đổi cách xưng hô, nhìn sang Trương Nghi, vòng tay mà nói, “quả nhân có một lời mời, mong Trương Tử không từ chối!”
“Đại vương cứ nói!” Trương Nghi đáp lễ.
“Chiêu Dương tuổi cao sức yếu, đã từ chức lệnh doãn, trở về Giang Thành an dưỡng tuổi già. Sở là nước lớn, ngôi vị lệnh doãn không thể để trống. Quả nhân muốn giao phó trọng trách này cho Trương Tử, mời Trương Tử nhiệm chức lệnh doãn, không biết ý Trương Tử ra sao?” Hoài Vương nhìn thẳng vào Trương Nghi dò hỏi.
Vương thúc, Ngận Thượng cũng nhìn sang Trương Nghi, nôn nóng chờ đợi.
“Thần Trương Nghi khấu tạ đại vương tin tưởng!” Trương Nghi vòng tay đáp, “Sở là nước lớn, lệnh doãn là chức quan trọng, nay đại vương giao phó cho Nghi, đặt Nghi lên tôn vị, khiến Nghi hoang mang lo lắng, nơm nớp kinh sợ. Tuy nhiên, Nghi cũng muốn được thử sức mình!”
“Hay lắm!” Hoài Vương lấy làm phấn chấn, đưa mắt lướt qua vương thúc, Ngận Thượng, dừng lại ở nội doãn, “soạn chỉ…”
“Đại vương khoan đã!” Trương Nghi vòng tay, lên tiếng cắt ngang, “nếu Nghi nhận chức lệnh doãn, e rằng có một người không vui!”
“Ai kia?”
Trương Nghi liếc ra ngoài cửa điện.
“Trương Tử hẳn muốn nói tả đồ?” Hoài Vương hỏi.
“Chính phải!” Trương Nghi gật đầu, rồi cất giọng khen ngợi, “tài của tả đồ, trội hơn thần cả chục lần; thân của tả đồ, quý hơn thần cả chục lần. Dám hỏi đại vương, cớ sao lại bỏ gần mà cầu xa?”
“Ồ…” Hoài Vương nhìn sang vương thúc.
Vương thúc khép mắt im lặng.
Hoài Vương lại nhìn sang Ngận Thượng.
Trương Nghi cũng nhìn sang, nháy mắt ra hiệu.
“Hồi bẩm đại vương,” Ngận Thượng hiểu ý, vòng tay đáp, “thần tán thành ý của sứ Tần, tiến cử tả đồ làm lệnh doãn Đại Sở!”
“A…” Hoài Vương trợn mắt ngỡ ngàng, nhìn xoáy vào Ngận Thượng, “mấy hôm trước, chẳng phải các khanh…”
“Đại vương,” Ngận Thượng vòng tay, “mấy hôm trước là mấy hôm trước, hôm nay là hôm nay. Hơn nữa, thần hiểu, tả đồ sở dĩ muốn hãm hại thần, là vì bất đắc dĩ, chứ tả đồ thực tâm không muốn. Theo như thần thấy, tả đồ thực sự là bậc đại tài, người Sính ngày nay ai ai cũng biết. Đại vương lệnh cho tả đồ tạo hiến chế lệnh, kết giao các nước, người Sính ai ai cũng biết. Nay lệnh doãn từ quan, tả đồ tiếp nhận chức này, là hoàn toàn xứng đáng.”
“Được rồi!” Hoài Vương sầm mặt, xua tay, đưa mắt nhìn sang Trương Nghi, “tả đồ vẫn là tả đồ, quả nhân đã nghĩ kỹ rồi, vị trí lệnh doãn, ngoài Trương Tử ra không còn ai khác!”
“Tạ ơn đại vương tín nhiệm!” Trương Nghi lại vòng tay, “đại vương sủng ái mà giao phó, khiến Nghi lo lắng vô cùng. Nghi chỉ có một lời thỉnh cầu này muốn nói!”
“Trương Tử cứ nói.”
“Nghi không phải Tô Tử, làm tướng quốc sáu nước dễ dàng như trở bàn tay. Nghi sức hèn lực mỏng, không thể một thân kiêm tướng quốc hai nước. Giờ đây, Nghi đang là tướng quốc nước Tần, phụng mệnh Tần Vương đi sứ sang Sở cầu hôn, nay vương mệnh còn chưa hoàn tất, Nghi nào dám phụng mệnh mới của đại vương. Đợi Nghi cầu hôn xong công chúa cho Tần Vương, quay về Hàm Dương phục mệnh xong rồi, sẽ xin từ chức tướng Tần, sau đó mới có thể tới Sính Đô, dốc sức phò tá đại vương!”
“Nếu Tần Vương không chịu thì sao?”
“Tần Vương đã định trường sách kết tình láng giềng hoà mục với Sở, có Nghi ở Sở lo toan, Tần Vương càng thêm an tâm, sẽ không có chuyện không đồng ý.”
“Nếu là như vậy,” Hoài Vương vòng tay, “quả nhân sẽ dành chỗ chờ người!”
Tận mắt thấy cảnh sứ Tần nghị luận sôi nổi trong chính điện Đại Sở, sau đó còn yến tiệc ca vũ tiếp đãi, Khuất Bình cõi lòng tan nát.
Khuất Bình đứng dậy, bước từng bước chậm chạp ra khỏi cung, đứng giữa ngã tư đường do dự hồi lâu, cuối cùng, tiến về phía trạch viện của Trần Chẩn.
“Tiên sinh,” sau khi kể lại chuyện trong cung, Khuất Bình thở dài não nề, “than ôi, thực không thể ngờ, sự tình lại tới nước này! Vãn bối thực không cam tâm!”
“Tả đồ,” Trần Chẩn gượng cười buồn bã, lắc đầu, “cam tâm cũng vậy, mà không cam tâm cũng vậy mà thôi, không còn lệnh doãn Chiêu Dương, không còn ba họ chống lưng, thì không thể đấu lại họ đâu.”
“Tiên sinh hiểu lầm ý vãn bối rồi,” khuôn mặt thanh tú của Khuất Bình méo xệch vì đau lòng quá đỗi, “không phải vãn bối tính chuyện đấu đá với họ, mà là…mà là lo lắng cho nước Sở! Nước Sở hiện tại, chỉ có một con đường duy nhất, chính là biến pháp cải chế, kết Tề chế Tần, thế nhưng…”
“Tả đồ này,” Trần Chẩn lại cười buồn, “đối thủ của tả đồ sớm đã ấn tả đồ lên trên mặt thớt, đao bén lăm lăm, vậy mà tả đồ lại không tính chuyện đấu đá với họ! Đã không đấu đá với họ, thì cứ yên thân mà an hưởng phú quý, cớ gì lại khăng khăng đòi lo lắng cho nước Sở!” Bật ra một tiếng thở dài đầy ẩn ý, “than ôi, Trần Chẩn đi nam về bắc, loại người nào cũng gặp cả rồi, chỉ duy nhất người như tả đồ là chưa từng gặp!”
“Tiên sinh,” Khuất Bình siết chặt tay quyền, “tiên sinh hãy nói xem, có phải vãn bối đã thực sự cùng đường rồi ư?”
“Đường thì có đấy, chỉ là xem tả đồ có muốn đi hay không mà thôi!”
“Xin tiên sinh cứ nói!”
Trần Chẩn gằn mạnh từng tiếng: “Giết Trương Nghi!” Khuất Bình hít ngược một hơi khí lạnh.
Về tới phủ tả đồ, Khuất Bình kể lại vắn tắt cuộc trò chuyện với Trần Chẩn cho Khuất Dao nghe. Khuất Dao gần như không cần suy nghĩ, đấm mạnh xuống án, hô lớn: “Diệu kế!”
Khuất Bình nhắm mắt, chìm vào suy tư.
“Cứ thế làm thôi!” Khuất Dao ánh mắt khẩn thiết, “giết chết Trương Nghi rồi, đám vương thúc sẽ bó tay hết cách, đại vương cũng không còn đường lui, cả ván cờ này sẽ được hồi sinh!”
Khuất Bình sắc mặt căng thẳng, nắm tay từ từ siết chặt, trán rịn mồ hôi.
“Anh?” Khuất Dao nôn nóng, “lời của Trần thượng khanh, đáng để ta nghe! Nếu như hôm trước chịu nghe lời thượng khanh, bắt hết đám vương thúc, Trương Nghi khép vào tội mưu phản, thì sự việc đâu đến nông nỗi này!”
Khuất Bình từ từ trấn tĩnh lại, thở hắt ra một hơi, đưa mắt nhìn Khuất Dao: “Đường này, không đi được!”
“Vì sao lại không được?”
“Hai nước giao chiến còn không được giết sứ thần,” Khuất Bình cất giọng quả quyết, “huống hồ, Trương Nghi tới đây là để cầu hôn!”
“Hắn tới đây, đâu phải chỉ để cầu hôn!” Khuất Dao lập tức phản bác, “hơn nữa, thượng khanh cũng không nói là giết công khai!”
“Công khai cũng thế mà ngấm ngầm cũng vậy,” Khuất Bình tiếp lời, “chỉ cần Trương Nghi vô duyên vô cớ bỏ mạng ở Sính Đô, chúng ta sẽ không thể giải thích rõ ràng, như vậy là thất nghĩa với thiên hạ, cũng là tạo cớ cho người Tần xuất binh!”
“Sợ quái gì!” Khuất Dao nghiến răng, “lần này mà đánh nữa, chắc chắn sẽ khác với trận Tích Thuỷ!”
“Thất nghĩa mà giao chiến, chưa đánh đã thua trước rồi. Vả lại, người Tần sớm đã có chuẩn bị, còn ta, nội chưa trị, binh chưa chỉnh, binh khí ô kim vừa mới bắt đầu rèn, chưa kịp để phân phát cho ba quân. Không chuẩn bị đã vội vàng giao chiến, lại dụng binh thất nghĩa, mà muốn khác với trận Tích Thuỷ, dựa vào đâu kia?”
“Thưa anh,” Khuất Dao lấy làm lo lắng, “nước Sở ta đã không còn cơ hội nữa, lẽ nào anh lại muốn giương mắt chờ chết mới chịu ư?”
“Ta sẽ vào cung lần nữa, cầu kiến đại vương, nói rõ lợi hại!”
“Nhưng đại vương có chịu gặp anh đâu!”
“Đại vương không chịu gặp ta, nhưng có lẽ sẽ chịu gặp tư tế!”
Sau bữa trưa, Hoài Vương có thói quen ngủ một giấc ngắn ngay trong ngự thư phòng.
Hôm nay cũng vậy. Hoài Vương nằm trên giường tre, đắp chăn mỏng ngang bụng, lơ mơ chìm vào giấc ngủ.
Trong lúc nửa tỉnh nửa mê, Hoài Vương thấy mình ngồi trên vương xa, xe lăn lộc cộc dọc theo phố lớn. Ngồi trước đánh xe là Ngận Thượng. Hoài Vương tay ôm Trịnh Tụ, ngắm nghía khung cảnh nên thơ ngoài cửa sổ, lấy làm khoan khoái.
Đột nhiên, bầu trời mây giăng ùn ùn tối sập, ngựa kéo hoảng sợ, lồng lên chạy như điên.
Xe ngựa lao đi như bay, rung lắc dữ dội. Trịnh Tụ kinh hãi rú lên, ôm chầm lấy Hoài Vương.
“Ngận Thượng, xảy ra chuyện gì vậy?” Hoài Vương hét lớn.
“Bẩm đại vương, phía trước có đám cháy lớn!” Ngận Thượng vừa đánh ngựa, vừa đáp.
Hoài Vương thò đầu ra ngoài cửa sổ, quả nhiên thấy bên trái phía trước khói bốc cuồn cuộn, lửa cháy ngùn ngụt, quầng mây tối sầm trên trời, té ra là khói bốc từ đám cháy tụ lại mà thành.
Xe ngựa vẫn tiếp tục lao thẳng về phía đám cháy, Ngận Thượng không còn điều khiển nổi ngựa kéo nữa.
May sao, tới gần đám cháy, ngựa kéo tự phi chậm lại, rồi dừng lại bên rìa biển lửa. Hơi nóng táp rừng rực, xung quanh hỗn loạn tiếng người kêu ngựa hí.
Từ phía trước, có một người hộc tốc chạy lại. Là vương thúc. Vừa chạy, vương thúc vừa hổn hển gọi lớn: “Vương huynh, tiên miếu cháy rồi!”
“Tiên miếu? Tiên miếu nào?”
“Tiên miếu ở Đan Dương!”
“A, là tiên miếu thờ liệt tổ liệt tông!” Hoài Vương kinh hãi, xô Trịnh Tụ ra, nhảy phóc xuống xe, trợn mắt nhìn về phía đó. Quả nhiên, nơi lửa rừng rực, chính tiên miếu nước Sở ở Đan Dương.
“Mau, mau, mau dập lửa!” Hoài Vương bất chấp tất cả, cứ thế chạy thẳng về phía đám cháy.
Vương thúc, Ngận Thượng và toàn bộ triều thần đều vội vã chạy theo Hoài Vương, tất cả đều hai tay trống không lao vào đám cháy.
Thế nhưng, đám cháy lại như thể mỗi lúc một xa, đám người chạy mãi mà không tới.
Đang lúc chạy hăng, bỗng thấy từ trong đám cháy có một người chạy lại, tay xách thùng rỗng.
Là Khuất Bình.
Khuất Bình chỉ về phía sau Hoài Vương, vừa chạy vừa hét lớn: “Đại vương, mau, mau, nước…nước…nước…”
Hoài Vương vội ngoảnh đầu nhìn, thì thấy hồ nước ở ngay sau lưng.
“Nước, nước, nước!” Hoài Vương cũng hét lên theo, rồi chạy lộn trở lại, lao đến bên hồ nước, cứ thế nhảy thẳng xuống. Quần thần phía sau bám theo sát gót, cũng ùm ùm nhảy xuống hồ.
Chỉ mình Khuất Bình không nhảy.
Khuất Bình chạy tới bên hồ, vục thùng xuống múc đầy, rồi chạy như bay về phía đám cháy.
“Mau lên, thùng, thùng!” Hoài Vương quát lớn. Nhưng quần thần người nọ nhìn người kia, ai cũng hai tay trống không, chẳng ai mang theo thứ gì múc nước.
Hoài Vương không nghĩ được gì thêm, cuống quýt cởi phăng tấm áo, nhúng xuống nước cho ướt sũng, rồi xách trên tay chạy đuổi theo Khuất Bình. Quần thần cũng cởi bỏ quan phục, nhúng xuống nước, hối hả chạy theo.
Càng gần đám cháy, hơi nóng càng thêm bỏng rát. Hoài Vương sợ hãi, nhưng vẫn guồng chân chạy gấp. Đang lúc chạy thục mạng, bất thình lình choàng tỉnh, đầu tóc ướt sũng mồ hôi, hai chân vẫn đạp loạn xạ.
“Đại vương?” Nội doãn nghe thấy tiếng động lạ, vội vã chạy vào.
Hoài Vương ngồi bật dậy, ngơ ngác một hồi, mới thở phào nhẹ nhõm: “May quá, chỉ là một giấc mơ!”
“Đại vương mơ thấy gì?”
“Tiên miếu bốc cháy!”
“A!” Nội doãn thất kinh, “vậy có dập được lửa không?”
Hoài Vương lau mồ hôi trên trán, nhìn sang nội doãn: “Tới miếu Vu Hàm, truyền tư tế!”
Nội doãn lập tức sai người tới miếu Vu Hàm, nhưng Bạch Vân không có trong miếu, đoán rằng đã tới chỗ tả đồ.
“Truyền miếu doãn, triệu đại vu chúc!” Hoài Vương lại hạ chỉ.
Nội doãn vừa đi truyền chỉ, thì có cung nhân vào bẩm, sứ Tần cầu kiến.
“Có lời mời sứ Tần!” Hoài Vương im lặng một thoáng, rồi chỉ ra ngoài, “ở thiên điện!”
Hoài Vương rửa mặt qua loa, chỉnh sửa mũ áo, rồi tới thiên điện, ngồi ngay ngắn vào chỗ, sau đó cho truyền Ngận Thượng và Trương Nghi đang cung kính chờ hầu vào yết kiến.
Hành lễ xong, Hoài Vương nhìn sang Trương Nghi hỏi: “Trương Tử tới đây, hẳn có điều chỉ giáo quả nhân?”
“Đại vương khách khí rồi, hai chữ chỉ giáo, Nghi không dám nhận!” Trương Nghi vòng tay đáp, “tính ra, Nghi tới đất Sính đã ba tháng rồi, Tần Vương không chờ được nữa, nên hôm trước đã di giá tới Ư Thành, chờ đón nàng dâu. Nghi xin được thỉnh cầu đại vương, sớm định ngày cho công chúa xuất giá, ấn định trường sách kết Tần tuyệt Tề!”
“Theo ý sứ Tần, ngày xuất giá bao giờ thì hợp?”
“Càng sớm càng tốt.”
“Vừa hay, miếu doãn và vu chúc lát nữa sẽ tới, quả nhân sẽ thỉnh vu chúc gieo quẻ xem ngày lành, được chứ?”
Trương Nghi nhìn Hoài Vương chăm chú, thấy ánh mắt tản mạn, sắc mặt u ám, rõ ràng đang có điều lo lắng. Lại nghe thấy hai chữ “vừa hay”, thì đảo con ngươi một vòng, đoạn vòng tay hỏi: “Dám hỏi đại vương, người cho gọi miếu doãn tới, là vì chuyện xem ngày lành ư?”
“Không phải,” Hoài Vương đáp, “vừa nãy ngủ trưa, quả nhân gặp một giấc mộng chẳng lành, muốn mời vu chúc tới giải đoán.”
“Đại vương mơ thấy giấc mộng thế nào, Nghi xin được giải.” Trương Nghi nhìn thẳng vào Hoài Vương, khẽ mỉm cười mà nói.
“Ồ…” Hoài Vương ngập ngừng một lát, rồi cũng nhìn thẳng vào Trương Nghi mà hỏi, “sứ Tần cũng biết đoán mộng ư?”
Trương Nghi, khẽ cười vài tiếng: “Thầy của Nghi là Quỷ Cốc tiên sinh, đạt đạo thông huyền, hiểu lẽ biến hoá, vận thế của đạo trời, có thể suy ngược về trước tám trăm năm, suy tiếp về sau tám trăm năm. Còn như giải mộng giải ngờ, thông tâm chế nhân, với tiên sinh dễ dàng như trở bàn tay, Nghi tuy bất bài, chưa đạt tới cảnh giới của tiên sinh, song việc giải mộng giải ngờ, cũng hiểu chút ít.”
Hoài Vương lấy làm mừng rỡ, lập tức kể lại chi tiết giấc mơ vừa nãy cho Trương Nghi nghe.
Trương Nghi ngồi nghiêm trang, nhắm mắt lắng nghe, lại bắt chước theo lối vu sư, phác ra vài cử chỉ thần bí, sau ba hơi thở, hoàn toàn chìm vào cảnh giới mặc tưởng. Lại qua một hơi thở nữa, toàn thân bất động, duy chỉ hai môi vẫn mấp máy liên hồi.
Cứ thế mấp máy chừng ba mươi lần thì dừng lại, mở mắt, nhìn sang Hoài Vương.
Trong lúc Trương Nghi “làm phép”, Hoài Vương mắt không lúc nào rời khỏi Trương Nghi, thấy hắn chỉ mấp máy miệng, chưa thốt một lời nào, vốn đã âm thầm kinh ngạc. Giờ thấy Trương Nghi mở mắt, vội hỏi: “Trương Tử giải mã thế nào?”
“Hồi bẩm đại vương,” Trương Nghi vòng tay đáp, “linh thần của Nghi đã bay tới tiên miếu Đan Dương, điều tra hư thực!”
“Cái gì?” Hoài Vương sửng sốt, “Trương Tử đã bay qua tiên miếu?”
“Linh thần của Nghi không những bay qua tiên miếu, mà còn bái yết tiên tổ của đại vương, có nghe thấy vài lời oán thán.”
“A?” Hoài Vương thất kinh, “nói mau, tiên tổ oán thán những gì?”
“Dám hỏi đại vương,” Trương Nghi nhìn Hoài Vương, “từ lúc đăng cơ tới nay, đã từng tới tế bái tiên miếu?”
“Có chứ, có chứ!” Hoài Vương rối rít, “sau khi đăng cơ không lâu, quả nhân đã dẫn theo thái tử tới tiên miếu tế bái.”
“Đấy là đại lễ. Sau đó thì sao?” Trương Nghi lại hỏi.
“Than ôi,” Hoài Vương khẽ thở dài, “quả nhân từ lâu đã muốn tới tiên miếu tế bái lần nữa, thế nhưng…”
“Lửa, chính là cấp bách.” Trương Nghi giảng giải, “đại vương kế vị đã vài năm, ngoài lần đại tế đầu tiên, đại vương chưa từng tới đó tế bái thêm lần nào nữa. Tiên tổ chờ đợi mãi, không thấy đại vương tới, cho rằng đại vương đã lãng quên tiên tổ mất rồi. Bởi vậy mới báo mộng cho đại vương, chẳng qua là nhắc nhở đại vương mà thôi.”
“Chao ôi,” Hoài Vương thở phào, “nếu là như vậy, quả nhân sẽ lập tức thu xếp để lên đường tế bái!”
Trương Nghi đang định đáp lời, thì nội doãn bước vào, khẽ giọng bẩm báo: “Bẩm đại vương, tư tế miếu Vu Hàm thỉnh cầu yết kiến!”
“Ồ, vừa hay đang muốn mời tư tế!” Hoài Vương mừng rỡ, “có lời mời!”
“Đại vương,” nội doãn thoáng ngập ngừng, “đi cùng tư tế, còn có tả đồ!”
Vừa nghe thấy hai tiếng “tả đồ”, Hoài Vương bất giác nhớ lại cảnh tượng trong mơ, trong bá quan văn võ triều đình, duy chỉ có Khuất Bình xách thùng dập lửa, bất giác trong lòng cảm khái, toan truyền triệu kiến, nhưng lại sực nhớ Trương Nghi vẫn còn bên cạnh, bèn phẩy tay với nội doãn: “Truyền chỉ tư tế và tả đồ, hãy vào miếu Vu Hàm nghỉ ngơi, chờ quả nhân một chốc.”
Nội doãn vừa đi khỏi, Trương Nghi trong đầu bỗng loé lên một ý, bèn vòng tay nói: “Đại vương, thần có một thỉnh cầu!”
“Trương Tử cứ nói.”
“Đại vương kể lại giấc mộng, có nhắc tới tả đồ xách nước dập lửa. Thần vừa nói tới chuyện tế lễ, tả đồ đã cùng Bạch tư tế thỉnh cầu yết kiến. Đại vương có thấy, chuyện này dường như có vẻ…” Trương Nghi lấp lửng.
“Có vẻ gì kia?” Hoài Vương nôn nóng hỏi.
“Có vẻ như…có một điều gì đó rất khó nói ra, chẳng hạn như, một manh mối…”
“Manh mối?” Hoài Vương chau mày.
“Ái chà,” Ngận Thượng lúc này cũng đã phản ứng kịp, vỗ tay reo lên, “thần đã hiểu rồi!”
“Khanh hiểu gì?” Hoài Vương nhìn sang.
“Hẳn là tiên tổ tưởng nhớ đại vương, lại biết đại vương bận trăm công nghìn việc, không có thời gian rong ruổi đường xa, nên muốn nói với đại vương, có thể cho Khuất Bình thay mặt đại vương tế lễ. Lúc này, tư tế và tả đồ lại cùng tới, cũng là ngụ ý của tiên tổ, vì tiên tổ đã biết đại vương cúng tế Ba thần Vu Hàm. Thần thỉnh tấu đại vương, hãy ban lệnh cho tả đồ cùng Bạch tư tế tới Đan Dương, thay đại vương tế lễ ở tiên miếu!”
“Khanh nói rất phải.” Hoài Vương gật gù.
“Đại vương,” Trương Nghi bổ sung, “tiên tổ đưa tả đồ vào trong giấc mộng, có lẽ còn dụng ý khác.”
“Dụng ý gì kia?” Hoài Vương nhìn sang.
“Tả đồ nhất quyết tuyệt Tần hoà Tề, vừa không hợp ý trời, lại trái với ý nguyện của đại vương. Nay đại vương và Tần sắp kết tình hoà mục, tả đồ ắt sinh ý khác. Tả đồ là đại tài của Sở, trung thành với đại vương, đại vương cũng coi tả đồ là tâm phúc. Tả đồ nếu sinh ý khác, ắt sẽ trái ý đại vương. Đại vương nếu như trách cứ, sẽ gây tổn thương tới lòng trung của tả đồ; nếu không trách cứ, lại không hợp với ý trời. Tiên tổ báo mộng, cho tả đồ thay thế đại vương tới Đan Dương, cho tư tế đồng hành chủ trì tế lễ, thứ nhất là để vẹn toàn nghi lễ, thứ hai là để tròn nghĩa quần thần!”
Nghe Trương Nghi giảng giải, Hoài Vương tấm tắc khen hay, đang định cất lời cảm khái, thì nội thần vào bẩm báo thái miếu doãn và đại vu chúc đã tới. Do ác mộng đã được giải xong, nên Hoài Vương không nhắc với miếu doãn nữa, chỉ hạ lệnh gieo quẻ xem ngày lành, cho Mị Nguyệt xuất giá sang Tần.
Đợi miếu doãn, Trương Nghi lui về rồi, Hoài Vương cùng Ngận Thượng lại tiếp tục bàn bạc chuyện tế lễ tiên tổ ở Đan Dương. Bàn xong rồi, mới sai cung nhân đến miếu Vu Hàm mời Khuất Bình, Bạch Vân lại.
Nơi yết kiến đổi sang ngự thư phòng, Hoài Vương vẫn thường triệu kiến cận thần tại đây. Khuất Bình, Bạch Vân sóng đôi bước vào, tiến tới trước mặt Hoài Vương, Bạch Vân đứng nghiêm trang vòng tay, Khuất Bình quỳ xuống dập đầu.
Trên mặt án phía trước Hoài Vương đang bày hiến lệnh do Khuất Bình soạn thảo.
Thi lễ xong xuôi, Hoài Vương mời hai người vào chỗ, ánh mắt dừng lại ở Khuất Bình, nhìn chăm chú hồi lâu, rồi thở dài một tiếng đầy ẩn ý: “Than ôi, Khuất Bình, những ngày qua, quả nhân đã xử tệ với khanh rồi!”
“Đại vương…” Khuất Bình lấy làm xúc động, giọng nghẹn lại.
“Khuất ái khanh,” ánh mắt Hoài Vương lại di chuyển đến bản hiến lệnh trên án, “hiến lệnh khanh soạn thảo, quả nhân đã đọc qua rồi, đều là những điều vua tôi ta đã bàn luận kỹ, đều có thể thực thi. Tuy nhiên, mấy ngày qua xảy ra quá nhiều sự việc, quả nhân suy đi nghĩ lại, chuyện hiến lệnh, có lẽ vẫn nên tạm hoãn thực thi là hơn…”
“Đại vương?” Khuất Bình kinh hãi.
“Khanh chớ lên tiếng, hãy nghe quả nhân nói hết!” Hoài Vương xua tay ngăn lại, “quả nhân cho gọi khanh tới đây,” nhìn sang Bạch Vân, “và cả tư tế, là có một việc quan trọng hơn muốn làm.”
Khuất Bình, Bạch Vân cùng nhìn Hoài Vương, thấp thỏm chờ nghe.
“Việc này, chính là tế lễ tiên miếu!”
Khuất Bình kinh ngạc, bất giác nhìn sang Bạch Vân. Thấy Bạch Vân cũng sửng sốt không kém, Khuất Bình bèn vòng tay hỏi: “Dám hỏi đại vương, tế lễ tiên miếu ở nơi nào?”
Sở dĩ Khuất Bình hỏi câu này, là bởi nước Sở từ sau khi lập quốc, đã nhiều lần dời đô, nên kinh đô nào cũng đều táng tiên quân, lập tiên miếu.
“Đan Dương!”
Đan Dương là kinh đô đầu tiên của Sở, nên chính là đất phát của Sở. Bởi vậy, tiên miếu Đan Dương là tôn quý nhất trong các tiên miếu, cũng là nơi tân Sở Vương nhất thiết phải tới tế lễ sau khi đăng cơ.
“Dám hỏi đại vương,” Khuất Bình ngần ngừ một thoáng, rồi nhìn thẳng vào Hoài Vương hỏi, “hiện tại không phải mùa xuân mùa thu, không phải lễ tết, cớ sao đột nhiên đại vương lại muốn tế lễ tiên miếu Đan Dương?”
“Than ôi,” Hoài Vương cảm thán, “trưa nay, quả nhân vừa chợp mắt chốc lát trong thư phòng này, giữa lúc mơ màng, chợt thấy tiên miếu Đan Dương bốc cháy bừng bừng, kinh hãi choàng tỉnh, may sao chỉ là một giấc mơ. Quả nhân hết sức hãi hùng!”
Khuất Bình vội hỏi: “Dám hỏi đại vương, tiên miếu trong mơ cháy như thế nào?”
Hoài Vương bèn kể lại vắn tắt giấc mộng ban trưa. Khuất Bình nghe mà kinh hãi, bất giác nhìn sang Bạch Vân.
Hoài Vương cũng nhìn sang nàng.
Bạch Vân nhắm mắt ngưng thần, chốc sau, vầng trán nàng chợt rịn mồ hôi. Bạch Vân từ từ mở mắt, nhìn thẳng vào Hoài Vương một lúc lâu, rồi mới chậm rãi lên tiếng, ngữ điệu rành rọt, tràn đầy nội lực: “Hỡi vua Đại Sở, đại thần Vu Hàm đã thị hiện, mộng này là mộng đại hung!”
Than ôi,” Hoài Vương lại thở dài, “mộng này quả thực chẳng lành. Không giấu hai vị, Đan Dương là đất hưng của Đại Sở, lại gần Thương Ư, mấy năm gần đây, chỉ bởi người Tần mà quả nhân chưa thể tới đó tế bái, hẳn là tiên quân mong nhớ quả nhân nên mới về báo mộng. Vốn dĩ quả nhân định đích thân tới đó tế lễ, nhưng ngặt vì việc triều chính bộn bề, không thể dứt ra.” Nhìn sang Khuất Bình, “nhìn khắp trong triều, người am hiểu lễ nghi, lại thấu hiểu suy nghĩ của quả nhân, duy có mình khanh, quả nhân đành phải phiền khanh khó nhọc một phen, thay quả nhân tới đó tế lễ.” Vòng tay nói tiếp, “khanh nhất thiết phải thay quả nhân bày tỏ tâm tư cùng tiên tổ!” Rồi quay sang Bạch Vân, “cũng phiền tư tế vất vả một chuyến, đồng hành cùng tả đồ, đảm nhiệm chủ tế!”
Khuất Bình bàng hoàng chết lặng, lại nhìn sang Bạch Vân.
Bạch Vân khép mắt im lặng.
“Hồi bẩm đại vương,” Khuất Bình định thần trở lại, cất giọng khẩn thiết, “tế lễ tiên miếu là đại tế của xã tắc, cần phải tuân theo thời vụ của đất trời, hoặc vào mùa xuân, hoặc vào mùa thu, hoặc là đại tế cuối năm. Hiện tại, đang lúc giữa hè, dương khí cực thịnh, không thích hợp cho tế lễ, thần e rằng không những tiên tổ không thể tiếp nhận lễ tế, mà ngược lại còn bị quấy quả mà kinh hãi!”
Lời của Khuất Bình hoàn toàn là sự thực.
“Ờ…” Hoài Vương nhất thời không nghĩ ra lời nào ứng phó, đang lúc ngần ngừ, bên cạnh bỗng nghe có tiếng động, là Ngận Thượng vừa từ phòng bên cạnh rẽ vào, theo sau là Tử Khải và Tử Lan.
Tử Khải kéo vạt áo Tử Lan, cùng quỳ xuống dập đầu: “Nhi thần khấu kiến phụ vương, xin phụ vương hãy hạ chỉ!”
“Mị Khải, Mị Lan nghe chỉ!” Hoài Vương thấy vậy, không do dự gì thêm nữa, lập tức dõng dạc tuyên chỉ, “giờ Thìn ngày mai, hai con hãy cùng tả đồ và tư tế lên đường tới tiên miếu Đan Dương, thay mặt quả nhân tế bái tiên tổ. Mị Khải thay quả nhân tế lễ, Mị Lan làm thi^[Trong nghi thức tế lễ thời cổ, sẽ có một người làm thi, tức đóng vai người đã khuất để nhận tế lễ.], nghi lễ thế nào, nhất nhất nghe theo tả đồ và tư tế, không được trái lời!”
Tử Khải, Tử Lan dập đầu: “Nhi thần lĩnh chỉ!”
“Tả đồ, tư tế, nghe chỉ!” Hoài Vương quay sang Khuất Bình, Bạch Vân, ngữ khí kiên quyết, “quả nhân đã hiểu dụ miếu doãn, mọi vật phẩm cần cho cúng tế, thượng quan đại phu sẽ báo cho thái miếu chuẩn bị.” Rồi thở hắt ra, “quả nhân mệt rồi, hãy lui ra cả đi.” Nói đoạn, từ từ đứng dậy, theo lối cửa bên mà đi.
Sự việc quá ư bất ngờ, nằm ngoài dự liệu, song rõ ràng là một thế cục đã được sắp đặt từ trước.
Khuất Bình, Bạch Vân không hẹn mà cùng nhìn sang Ngận Thượng.
“Tả đồ, tư tế,” Ngận Thượng vòng tay, “thời gian không còn sớm nữa, hãy mau đi chuẩn bị, chớ làm lỡ vương mệnh!”
“Ngận Thượng,” Khuất Bình nhìn trừng trừng vào Ngận Thượng, ánh mắt toé lửa, gằn mạnh từng tiếng, “ngươi…các ngươi…thực sự muốn diệt Sở?”
“Diệt Sở?” Ngận Thượng chau mày nhìn Khuất Bình, sắc mặt khinh khỉnh, “đường đường Đại Sở, bờ cõi năm ngàn dặm, dân chúng ngàn vạn người, giơ tay áo đủ che trời, vẩy mồ hôi thành mưa rơi, kẻ nào dám diệt? Kẻ ưa nói càn hù doạ kiểu này, Ngận Thượng ta hôm nay mới gặp lần đầu!” Nói đoạn, phẩy ống tay áo, nghênh ngang bỏ đi.
Thân là bề tôi, vương mệnh đã ban, Khuất Bình không thể kháng cự.
Giờ Thìn hôm sau, Khuất Bình lòng tựa tro tàn, giao lại phủ tả đồ cho Khuất Dao, nhờ lão bộc trông nom nhà cỏ, được hộ tống bởi Ngạc Quân Tử Khải, công tử Lan cùng đám đông vu chúc, vu nữ của thái miếu và vệ binh, bất đắc dĩ bước lên xe lớn. Đội ngũ vương tế rồng rắn kéo dài tới hai dặm đường. Là tư tế của cung Sở, Bạch Vân ngồi riêng xe khác, là xe ngựa của Nam cung nương nương, đi theo sau xe của Khuất Bình.
Đoàn xe đi tới trường đình mười dặm ở ngoại ô phía bắc Sính Đô thì đột nhiên dừng lại.
Tử Khải tiến lại, gõ ầm ầm vào cửa xe của Khuất Bình. Khuất Bình kéo rèm cửa sổ ra nhìn hắn.
“Tả đồ,” Tử Khải khẽ nói, “nơi đây là trường đình mười dặm, có người bày tiệc tiễn hành, có lời mời đại nhân cùng tư tế!”
Khuất Bình sửng sốt, nhảy xuống khỏi xe, thấy Bạch Vân cũng đã bước xuống, đang tiến về phía mình.
Hai người đưa mắt nhìn nhau, rồi theo Tử Khải đi vào trong ngôi đình ở bên đường.
Khuất Bình biết đình này. Khi tiễn người thân đi xa, người ta thường tiễn mười dặm, rồi từ biệt nhau ở đây. Đình vốn bốn bề thông thống, có cột không tường, nhưng lúc này đã được người ta cố tình bài trí lại, dùng vải gai màu tía quây kín xung quanh, biến ngôi đình thành túp lều, từ ngoài nhìn vào, không thấy được cảnh bên trong.
Tử Khải vén một tấm rèm, chìa tay mời.
Khuất Bình, Bạch Vân sóng đôi bước vào, rồi cùng khựng lại kinh ngạc.
Trong đình kê ba chiếc án, trên mỗi án đều bày vài đĩa thức ăn và chén uống rượu. Ngồi ngay ngắn trên chiếu chủ ở giữa, chính là vương thúc. Chiếu khách hai bên trái phải đang bỏ trống.
Tử Khải không vào, sau khi buông rèm thì lui lại vài bước, đứng chờ ở ngoài đình.
Khuất Bình, Bạch Vân nhanh chóng trấn tĩnh lại, đưa mắt nhìn nhau, rồi cùng vòng tay hành lễ.
Vương thúc không đứng dậy, chỉ vòng tay đáp lễ, rồi chỉ sang hai bên.
Khuất Bình, Bạch Vân lần lượt ngồi xuống.
Vương thúc liếc nhìn Khuất Bình một cái, rồi ánh mắt chuyển sang Bạch Vân, nhìn nàng chăm chú.
Bạch Vân cũng nhìn đáp lại.
Qua chừng ba hơi thở, vương thúc thu lại ánh nhìn, mỉm một nụ cười, đứng dậy, nhấc bình rót rượu, rót xong, lại ngồi xuống chiếu: “Lão phu chờ ở đây, là có hai việc. Thứ nhất, để tiễn tả đồ lên đường; thứ hai, là vì tư tế.” Nói rồi nâng chén, “trước tiên, vì việc thứ nhất, tiễn tả đồ lên đường, cạn chén!” Ngửa cổ uống cạn, đặt chén không xuống án.
“Tạ ơn hậu ý của vương thúc!” Khuất Bình nâng chén rượu trước mặt lên uống cạn.
Bạch Vân không nâng chén, hai mắt vẫn nhìn vương thúc không chớp.
“Còn việc thứ hai,” vương thúc nhìn sang Bạch Vân, “nghe nói tư tế xuống núi là để tìm một vật,” lần tay vào trong ngực áo, kéo ra nửa miếng ngọc bội của mình, “xin tư tế hãy nhìn cho kỹ, để xem có phải vật này?” Nói rồi đưa ngay cho Bạch Vân.
Đây là cảnh tượng mà Bạch Vân sớm đã lường trước, và cũng rất đỗi mong chờ. Nhưng Bạch Vân chỉ không thể ngờ, cuối cùng nó lại xảy ra tại đây, vào một thời khắc thế này.
Bạch Vân tay run run, đỡ lấy miếng ngọc bội. Nàng không xem, chỉ nắm mãi trong lòng bàn tay, khoé mắt ứa ra hai giọt lệ, từ từ lăn dài trên má.
Vương thúc cũng hai mắt nhoà lệ.
Bạch Vân chầm chậm áp miếng ngọc bội lên trước ngực, hồi lâu sau, cũng đưa tay vào trong ngực áo, lấy ra miếng ngọc bội của mình. Rồi nàng đặt hai miếng ngọc bội sát vào nhau, ghép lại. “Cách” một tiếng, hai miếng ngọc hợp lại làm một, hoàn chỉnh nguyên vẹn, với hoa văn rồng bay phượng múa, tình ý triền miên.
Bạch Vân ngước mắt, nhìn sang vương thúc: “Sao vương thúc…lại có vật này?”
“Là lão phu…” Vương thúc không thốt nổi nên lời, giọng nói như tắc nghẹn trong cổ họng, “đã nhờ thợ trong cung tách nó làm đôi!”
Bạch Vân từ từ quỳ xuống, tay nâng miếng ngọc hướng lên không trung, nước mắt đầm đìa, nức nở rì rầm: “Mẹ…Vân Nhi…đã tìm thấy…ông ấy rồi…”
Vương thúc cũng nghẹn ngào, hai hàng nước mắt tuôn rơi lã chã.
Bạch Vân chợt nín bặt, lau khô nước mắt, ánh mắt rực lên như lửa, nhìn chằm chằm vào vương thúc, giọng nói nửa nghẹn ngào, nửa bi thiết: “Sao lại là ông, vương thúc?”
Nghe thấy hai tiếng “vương thúc”, vương thúc bỗng lạnh người, buột kêu lên: “Con gái, lão phu là cha của con!”
Bạch Vân mắt loé hàn quang, lặp lại câu hỏi trước đó, nhưng đã bỏ đi hai chữ “vương thúc”, giọng nàng rít qua kẽ răng: “Sao lại là ông?”
“Vân Nhi, con gái…” Vương thúc khóc mà gọi.
“Thảm sát người trong tộc mẹ ta, cướp đoạt ruộng muối của tộc ta, bức mẹ ta phải tự tận, mà giờ còn dám…” Bạch Vân ngoảnh nhìn Khuất Bình, bật khóc.
“Con gái!” Vương thúc lúc này cũng đã định thần trở lại, đưa tay áo lau nước mắt, nửa như giải thích, nửa như biện bạch, “với chuyện đã qua, cha không muốn giải thích, cha chỉ muốn nói với con một câu, những gì con nhìn thấy, những gì con nghe thấy, chưa hẳn đã là sự thật.” Lại quay sang Khuất Bình, “tả đồ!”
“Vương thúc?” Khuất Bình vòng tay đáp.
Vương thúc nhìn thẳng vào Khuất Bình: “Nay lão phu giao phó đứa con gái máu mủ này cho Khuất Tử, Khuất Tử sẽ là người chí thân của lão phu. Với những việc mà người chí thân một lòng muốn làm, lão phu lại chưa thể ủng hộ hoàn toàn, Khuất Tử có biết vì sao không? Là vì, Khuất Tử còn quá trẻ! Khuất Tử còn phải tôi rèn thêm nhiều! Không giấu Khuất Tử, khi bằng tuổi Khuất Tử bây giờ, lão phu cũng giống như vậy, khí huyết sôi nổi, hoài bão ngất trời, một lòng nghĩ tới kiến công lập nghiệp, mở mang bờ cõi, ưu tư thời thế, thương xót chúng nhân. Thế nhưng…” Nhìn sang Bạch Vân, rõ ràng cũng là muốn nói để nàng nghe, “Khuất Tử thực sự cho rằng, lão phu muốn giết người Ba? Khuất Tử thực sự cho rằng, lão phu muốn bội bạc chân tình? Khuất Tử thực sự cho rằng…Mà thôi, không nhắc tới những chuyện này nữa,” ánh mắt lại nhìn sang Khuất Bình, “lão phu muốn nói với Khuất Tử, lão phu đời này đã làm không ít chuyện, có đúng, có sai. Lão phu đời này đã giết không ít người, có tốt, có xấu. Lão phu đời này đã giúp không ít người, có quân tử, có tiểu nhân. Lão phu đời này cũng có lỗi với không ít người, có nam, có nữ. Trong số những người lão phu mắc nợ, tiên tư tế miếu Vu Hàm chính là người lão phu mắc nợ nhiều nhất, cũng chính là người lão phu yêu thương nhất, có trời cao làm chứng!”
Vương thúc rời khỏi chỗ, quỳ xuống đất, ngước mặt nhìn trời mà hành đại lễ.
Lễ xong, vương thúc quay lại chỗ ngồi, nhìn thẳng vào Khuất Bình: “Tả đồ, lão phu rất coi trọng tả đồ. Vân Nhi là con gái của lão phu, cũng là đứa con gái duy nhất, lão phu…giao nó lại cho tả đồ, mong tả đồ hãy thay lão phu chăm sóc cho nó!” Nói rồi, chậm chạp đứng dậy, đi về phía tấm rèm.
“Vương thúc, hãy khoan!” Khuất Bình chợt đứng dậy, gọi giật.
Vương thúc dừng bước, ngoảnh nhìn Khuất Bình.
“Vương thúc,” Khuất Bình vòng tay, “tạ ơn vương thúc đã coi trọng vãn bối. Nhưng không phải là vương thúc giao phó tư tế cho vãn bối, mà phải là vãn bối giao phó cuộc đời này cho tư tế mới phải! Sự việc gần đây, vương thúc hẳn đều đã rõ, nếu như kiếp này, vãn bối có được một người thân thực sự, một tri âm thực sự, thì đó chính là nàng ấy, Bạch Vân! Việc đã tới nước này, vãn bối cầu trời cũng vô ích, duy chỉ còn cách khẩn cầu vương thúc, hãy nghe vãn bối một câu: Trương Nghi không đáng tin, người Tần không đáng tin, sáu trăm dặm sơn cốc Thương Ư, người Tần quyết không chịu bỏ! Nước Sở mắc bệnh trầm kha, muôn dân đồ thán, chỉ có một con đường duy nhất để đi, chính là sửa đổi hiến chế, khiến cho quốc phú dân cường mà thôi, vương thúc!”
“Khuất Bình,” vương thúc vòng tay đáp lễ, “ai đáng tin, ai không đáng tin, cứ để thời gian trả lời. Đại Sở ta đã trải bảy trăm năm, thoạt tiên chỉ là một xó nhỏ, dần dần mở mang hàng vạn dặm như ngày nay, vĩ nghiệp huy hoàng, rành rành trước mắt. Còn như có vài bệnh vặt lâu năm, âu cũng là khó tránh. Tả đồ tìm cách trừ bệnh cũ, sửa hiến mới, hoàn toàn có thể thực thi, chỉ là không nên quá nôn nóng mà thôi! Nước Sở giống như con thuyền lớn trên mặt biển, rẽ ngoặt quá gấp, ắt sẽ lật nhào!” Nói rồi quay mình, vén rèm, sải bước đi thẳng.
Chiêu Dương, Khuất Bình kẻ trước người sau rời khỏi Sính Đô, triều đình Đại Sở không còn nghe tiếng phản đối nước Tần. Ngay sau hôm Khuất Bình rời Sính, Hoài Vương mở đại triều, hạ chỉ thay đổi quốc sách, kết Tần tuyệt Tề.
Đại triều hôm đó, để thêm phần long trọng, Hoài Vương hạ lệnh, triều thần từ cấp đại phu trở lên đều phải vào chầu.
Hoài Vương vừa yên vị, người khởi tấu đầu tiên chính là Ngận Thượng, dõng dạc tấu thỉnh về kế sách kết Tần tuyệt Tề, không đánh mà được sơn cốc Thương Ư. Tiếp đến, sứ Tần Trương Nghi trình lên quốc thư, cầu hôn công chúa Mị Nguyệt, kết minh Tần Sở, lại thỉnh cầu nước Sở sau khi lập minh ước cần chiếu cáo thiên hạ, xoá bỏ minh ước Nghiết Tang do tiền lệnh doãn Chiêu Dương đã lập trước đây, cùng minh ước Sở Tề mà Sở Vương mới vừa đặc phái Trần Chẩn tới Lâm Truy lập với Tề Vương. Để báo đáp, nước Tần sẽ hoàn trả cho Sở sáu trăm dặm sơn cốc Thương Ư, Tần Sở kết tình hoà hảo trăm năm.
Hai người tấu xong, Hoài Vương nhìn khắp lượt văn võ bá quan, lớn tiếng hỏi: “Chư khanh còn ai có tấu?”
Quần thần đưa mắt nhìn nhau, không ai lên tiếng.
“Nếu các khanh không có ý khác,” Hoài Vương dõng dạc nói, “quả nhân quyết ý, ân chuẩn tấu thỉnh của thượng quan đại phu cùng sứ Tần, kể từ lúc này, tuyệt Tề thân Tần, Tần Sở kết tình hoà mục trăm năm!”
Trương Nghi cùng Ngận Thượng bước ra khỏi hàng, vòng tay hô lớn: “Đại vương thánh minh!”
Chư quân Bành Quân, Xạ Cao Quân cũng đều bước ra, tung hô theo: “Đại vương thánh minh!”
Đám tông thân Cảnh Thuý, Khuất Cái, Khuất Dao, Chiêu Tuy đưa mắt nhìn nhau, thấy quần thần đều đang đổ dồn ánh mắt nhìn lại, bất đắc dĩ đang định bước ra lên tiếng, thì bất chợt, từ trong một góc vang lên tiếng đặng hắng rất mạnh.
Tiếp đến, một giọng nói vọng ra từ dãy sau cùng trong góc, khiến toàn bộ triều đường chấn động: “Khách khanh Đại Sở Trần Chẩn có tấu!”
Quần thần thảy đều sửng sốt, nhất là Trương Nghi.
Tuyệt Tề thân Tần chính là thay đổi quốc sách, liên quan trực tiếp tới khách khanh Trần Chẩn vừa đi sứ sang Tề, hẳn là hàm doãn cung Sở phụ trách sắp xếp buổi đại triều đã mời Trần Chẩn tới. Do Chiêu Dương không có mặt, toàn bộ triều thần hầu như không ai để ý tới Trần Chẩn. Trần Chẩn cũng tự biết thân biết phận, chỉ lặng lẽ ẩn mình trong góc. Trần Chẩn vóc dáng thấp bé, lại đứng sau cùng, bị mấy quan viên cao lớn phía trước che khuất, nên gần như không ai nhìn thấy, gồm cả sứ Tần Trương Nghi.
Lúc này, Trần Chẩn bất ngờ lộ diện, quả là nằm ngoài dự liệu của Trương Nghi. Nước Sở hiện tại, người thực sự có thể đối đầu với Trương Nghi, chỉ mình Trần Chẩn. May sao Chiêu Dương đã đi rồi, Trần Chẩn không còn chỗ dựa, nên sau khoảnh khắc kinh ngạc, Trương Nghi mau chóng lấy lại tinh thần, nhìn xoáy vào Trần Chẩn, chờ xem người này định giở trò gì.
“Khách khanh Trần Chẩn, có điều gì muốn tấu, cứ nói!” Hoài Vương phẩy tay về phía Trần Chẩn.
Trần Chẩn từ phía sau bá quan bước lên, một thân triều phục đỏ sẫm.
Mọi ánh mắt đều đổ dồn vào Trần Chẩn.
Trần Chẩn cất bước vững chãi tới trước long án cao lớn của Hoài Vương, cố tình phẩy ống tay áo sột soạt thành tiếng, sửa sang vạt áo, rồi quỳ sụp xuống, đầu dập sát đất, mông nhổm lên cao, còn chưa tấu tiếng nào, đã bật khóc thành tiếng, thảm thiết vang vọng: “Ô hô thương thay! Ô hô thương thay! Ô hô thương thay!”
Trần Chẩn khóc liền ba tiếng, rồi lại thình lình im bặt, phủ phục sát đất, dập đầu bất động.
Khắp cung điện lặng phắc như tờ, toàn bộ triều thần đều chấn động trước ba tiếng khóc kỳ khôi của Trần Chẩn.
Hoài Vương hít sâu vào một hơi, nheo nheo mắt nhìn, rồi lớn giọng hỏi: “Trần khanh cớ sao lại kêu khóc ngay giữa triều đường?”
“Hồi bẩm đại vương,” Trần Chẩn dõng dạc đáp, “Chẩn trong lòng đau đớn, không thể nhẫn nhịn, nên mới phải bật khóc giữa triều đường!”
“Trần khanh vì chuyện gì mà đau đớn?”
“Thứ nhất, đau đớn vì Đại Sở; thứ hai, đau đớn vì đại vương!”
“Trần khanh,” Hoài Vương đổi ngay sắc mặt, ngồi thẳng dậy, dài giọng mà nói, “Sở Tần kết thân, không đánh mà lấy lại được sáu trăm dặm sơn cốc Thương Ư, là chuyện đáng mừng. Thân là khách khanh, Trần khanh đã không chúc mừng thì chớ, lại còn buông lời bi thương, hẳn có nguyên do?”
“Chẩn có nguyên do.”
“Nói đi!”
Không chờ Sở Vương phải mời, Trần Chẩn đã tự đứng dậy, hai mắt như đuốc, nhìn xoáy vào Hoài Vương, cất giọng rành rọt: “Đại vương ở trên, Chẩn tuy bất tài bất trí, song cũng từng làm quan ở Ngụy ở Tần, khách khanh ở Sở, đi sứ sang Tề, chủ trì minh hội chư hầu, thông thạo các việc bang giao. Nay thấy đại vương coi đại sự bang giao như trò đùa trẻ nít, mà văn võ bá quan không một ai lên tiếng can ngăn, nên trong lòng khôn xiết đau đớn, không thể kìm nén!”
Lời của Trần Chẩn, khác nào hắt nguyên một xô nước lạnh vào giữa mặt Hoài Vương cùng văn võ bá quan, triều thần có mặt đều lấy làm bực bội, đưa mắt nhìn nhau.
“Trần khanh,” Hoài Vương sắc mặt sượng sùng, cố kìm lửa giận, giọng nói trầm nặng, “quả nhân có chỗ nào coi bang giao như trò trẻ nít, hãy nói rõ xem!”
“Hồi bẩm đại vương,” Trần Chẩn vẫn hết sức ung dung, thong thả đáp, “chuyện bang giao, cốt ở tình lý, cũng cốt ở công bằng. Xét về tình lý, sở dĩ Tần coi trọng Sở, sở dĩ Tần Vương coi trọng đại vương, lại còn hứa trả sơn cốc Thương Ư, là bởi vì Sở có Tề, là bởi đại vương có Tề Vương. Nay sáu trăm dặm Thương Ư, một tấc còn chưa lấy được, đại vương lại tuyên bố tuyệt giao với Tề, há chẳng phải tự cắt đường lui, tự cô lập trước Tần? Sở mà không có nước Tề, thế tất yếu; đại vương mà không có Tề Vương, thân tất nhẹ; thế yếu, thân nhẹ, đại vương lại muốn được Tần Vương coi trọng, liệu có được chăng?”
Trần Chẩn cố tình kéo dài hai chữ cuối cùng, khiến câu hỏi như ngân dài trong không khí, nghe đầy uy lực.
Không chỉ Hoài Vương, mà hết thảy triều thần đều bị thuyết phục trước ngôn luận của Trần Chẩn.
“Đó là xét về tình lý,” Hoài Vương nghe đã lọt tai, khép mắt ngẫm ngợi chốc lát, rồi nhìn sang Trần Chẩn, “thế còn xét về công bằng, Trần khanh hẳn cũng có nguyên do?”
“Hồi bẩm đại vương,” Trần Chẩn đứng thẳng, mắt nhìn xoáy vào Hoài Vương, “công bằng, tức là trao đổi quân bình. Người Tần đi sứ sang Sở, đề xướng kết tình láng giềng hoà mục trước, hứa trả lại sơn cốc Thương Ư trước, để đánh đổi lấy việc đại vương tuyệt giao với Tề. Vậy thì hãy cứ để Tần Vương trao trả sơn cốc Thương Ư trước đã, rồi đại vương hãy tuyệt giao với Tề sau!”
Lời của Trần Chẩn, cực kỳ hữu lý, triều thần đua nhau gật đầu, rồi cùng nhìn sang Hoài Vương.
Hoài Vương như choàng tỉnh, cúi đầu trầm ngâm.
“Đại vương,” Trần Chẩn nhân đà tiến tới, “nếu quả thực người Tần trả lại Thương Ư trước, cho thấy người Tần thành tâm kết tình láng giềng hoà mục với Sở, đại vương đương nhiên có thể tuyệt giao với Tề, kết minh với Tần. Thế nhưng, thỉnh cầu của sứ Tần lại không công bằng ở chỗ, đại vương còn chưa nhận được một tấc đất nào từ người Tần, mà sứ Tần đã muốn đại vương tuyệt giao tức khắc với Tề. Đại vương nếu như chấp thuận, rất có thể kết cục sẽ là, người Tần không chịu trao trả Thương Ư nữa! Lúc đó, dám hỏi đại vương, phải làm thế nào? Bị Trương Nghi lừa dối, đại vương ắt sẽ oán hận. Đại vương oán hận, ắt sẽ hưng binh phạt Tần. Đại vương, tới lúc đó, tây có Tần thù, đông có Tề oán, Tần Tề chung một kẻ thù, ắt sẽ liên minh, nước Sở sẽ sa vào cảnh hai đầu thọ địch. Với sức của Sở hiện tại, nếu gây thù chuốc oán với hai nước lớn tiếp giáp đông, tây, thần thực không dám nghĩ tiếp, chỉ biết xót thương cho Đại Sở mà thôi!”
Biện luận của Trần Chẩn, sâu sắc kín kẽ, khắp triều đường lặng phắc như tờ, ngay cả đám thân Tần như Ngận Thượng, cũng không tìm được lời nào phản bác.
“Ha ha ha ha…” Giữa điện bất ngờ vang lên một tràng cười vang vọng.
Không phải nghi ngờ, chính là Trương Nghi.
Mọi ánh mắt đều đổ dồn cả lại.
Hoài Vương nhìn sang Trương Nghi: “Sứ Tần cớ sao lại cười?”
“Hồi bẩm đại vương,” Trương Nghi bước ra khỏi hàng, ngẩng đầu đứng bên cạnh Trần Chẩn, vòng tay đáp, “kiến giải kém cỏi đến vậy, mà cũng dám gào thét giữa triều đường, Nghi cười Đại Sở đã hết người rồi!”
“Dám hỏi sứ Tần.” Hoài Vương nhìn trừng trừng vào Trương Nghi, “cớ sao lại nói lời của thượng khanh là kiến giải kém cỏi?”
Trương Nghi dõng dạc đáp: “Giang hồ cốt ở nghĩa, bang giao cốt ở tín, tín cốt ở thành. Nay Tần có thành ý kết tình láng giềng hoà mục, giao ước còn chưa lập, Sở đã không tin Tần, bảo Tần lấy gì tin Sở? Nếu theo như lập luận của khách khanh kia, nếu Tần trao trả sơn cốc Thương Ư trước, mà Sở lại không chịu tuyệt giao với Tề, Tần Vương nếu trách Nghi, bảo Nghi biết ăn nói thế nào đây? Có kẻ lăng nhục Nghi bất tín, thử hỏi, Nghi đã bao giờ bất tín? Nghi đã bao giờ lừa dối Sở? Nghi đã bao giờ trí trá đại vương? Có kẻ lớn giọng đòi công bằng, thì Nghi cũng sẽ nói tới công bằng. Sơn cốc Thương Ư đông tây sáu trăm dặm, là đất thực. Còn Sở tuyệt giao với Tề, chỉ là lời suông. Tần dùng sáu trăm dặm đất thực để đổi lấy một lời nói suông của Sở, mà cũng loanh quanh rắc rối đến nhường này, chư vị hãy nghĩ mà xem, trên đời này có kiểu công bằng nào như thế?”
Nghe Trương Nghi phản bác, quần thần đưa mắt nhìn nhau, rồi lại theo nhau nhìn sang Sở Vương.
Sở Vương hoang mang, nhìn sang Trần Chẩn: “Lời của sứ Tần, thượng khanh thấy sao?”
“Hồi bẩm đại vương,” Trần Chẩn vòng tay, liếc nhìn Trương Nghi cười nhạt một tiếng, “lời của sứ Tần, thoạt nghe cũng ra chiều hữu lý, nhưng xét về thực chất, lại chẳng hề đáng giá.” Ánh mắt chuyển sang Hoài Vương, sau đó xoay mình, hướng về toàn bộ triều thần, cất giọng sang sảng, “theo lời sứ Tần, giang hồ cốt ở nghĩa, bang giao cốt ở tín, tín cốt ở thành.” Thình lình quay ngoắt sang Trương Nghi, “xin hỏi sứ Tần, người Tần đã từng lập tín trong bang giao? Sứ Tần đã từng trượng nghĩa ở giang hồ? Người Tần và sứ Tần, đã có bao giờ thành thực?”
“Người Tần bất tín lúc nào, tại hạ thất nghĩa lúc nào, ông nói ra xem!” Trương Nghi bị dồn đến chân tường, cũng thủ thế phản vấn.
“Xem ra,” khoé miệng Trần Chẩn hiện một nét cười khinh miệt, “trí nhớ của sứ Tần tệ thực, vậy thì hãy nghe Chẩn kể đây.” Quay mặt vào chúng triều thần, cao giọng, “chuyện xa tạm không nhắc tới, chỉ xem những gì Chẩn đã mắt thấy tai nghe, thì người Tần lập ước đấy rồi huỷ ước đấy, đâu chỉ có một lần. Trước có Công Tôn Ưởng, đầu tiên huỷ ước với Ngụy, lừa cướp Hà Tây; sau lại huỷ ước với Sở, chiếm lấy mười lăm ấp Ư Thành. Sau có sứ Tần đây, trước lừa Việt Vương Vô Cương, hãm hại người Việt, khiến đất Việt quy Sở; sau lại dùng kế trâu đá sinh vàng, lừa ba nước Thư, Ba, Thục, dụ Thư, Ba diệt Thục, rồi quay lại diệt Thư, Ba, thử hỏi tín ở chỗ nào? Nghĩa ở chỗ nào? Về sau, sứ Tần sang làm tướng Ngụy, dám hỏi sứ Tần, thân là tướng Ngụy, sứ Tần có thực lòng phò Ngụy? Nếu quả thực lòng phò Ngụy, có dám thề trước thiên địa thần linh ngay lúc này không?”
Trần Chẩn đứng giữa triều đường, thao thao kể ra một loạt chuyện huỷ ước, thất nghĩa của người Tần và Trương Nghi trước đây, chuyện nào cũng là sự thực rành rành, khác nào vỗ mặt Trương Nghi trước bá quan văn võ. Những triều thần vốn bất mãn với người Tần đều hả lòng hả dạ, còn đám vương thân, Ngận Thượng tuy đầy bụng hậm hực, song cũng chẳng thể phản bác.
Thế nhưng, Trương Nghi nghe vậy, lại phá lên cười ha hả: “Tại hạ cứ tưởng khách khanh sẽ nói ra đạo lý to tát gì kia, nào ngờ rặt những lời vu khống. Khi Công Tôn Ưởng mưu Hà Tây, dám hỏi khách khanh, phò tá bên cạnh Ngụy Vương, là người nào vậy? Khi người Tần lấy được Hà Tây, dám hỏi khách khanh, bày trò trong triều đình nước Ngụy, là người nào vậy?” Nói đoạn, nhìn xoáy vào Trần Chẩn, rành rọt từng tiếng, “theo Nghi được biết, chính là khách khanh các hạ đây!” Nhìn sang Hoài Vương, “đại vương, chuyện khác không nói, nhưng có một sự thực không phải bàn cãi, đó là người được gọi là khách khanh ở trước mặt đây, trước tiên gây hoạ cho Ngụy, sau đó giáng hoạ cho Tần, sau nữa là tới Sở. Chuyện ở Ngụy, Tần, đại vương có lẽ không hay, nhưng chuyện ở Sở, đại vương chắc chắn nhớ rõ.” Quay sang Trần Chẩn, ánh mắt toé lửa, “dám hỏi khách khanh, là ai đã cấu kết tới tiền lệnh doãn, giở thủ đoạn bỉ ổi, vu cáo Nghi trộm Hoà thị bích, đẩy Nghi vào chốn lao tù, cắt đứt tiền đồ của Nghi, thiếu chút nữa là tước mất tính mạng của Nghi ở trong hình ngục Đại Sở? Xin hỏi khách khanh, có dám thề trước trời đất ngay tại chốn này, rằng chính tại hạ đã trộm Hoà thị bích? Rằng chuyện oan khuất của tại hạ trong Chiêu phủ, không hề liên quan tới khách khanh?”
Một bên là tướng quốc Đại Tần, một bên là khách khanh Đại Sở, một bên là đặc sứ do Tần Vương phái sang Sở, một bên là đặc sứ do Sở Vương phái sang Tề, hai kẻ hùng biện lừng danh, xứng đáng là cao thủ tuyệt thế, thi nhau bóc mẽ đối phương ngay giữa triều đường Đại Sở, thực sự là chuyện ly kỳ hiếm có, không chỉ triều thần nước Sở, mà ngay cả Hoài Vương cũng được đại khai nhãn giới.
Trần Chẩn hoàn toàn không thể ngờ được Trương Nghi lại lôi cả chuyện này vào, nhất thời cứng họng, không biết phải đối đáp ra sao. Chuyện Hoà thị bích dính dáng đến quá nhiều người, Trần Chẩn có miệng cũng chẳng thể cãi. Hơn nữa, bản thân khi mới tới Sở, đúng là cũng mưu tính cho Tần, những chuyện này, Trương Nghi chắc chắn đều biết cả. Nếu bức bách tới đường cùng, để hắn nói toẹt ra, hậu quả thực khó lòng tưởng tượng.
Người trong cung Sở hầu như đều biết, trong vụ án Hoà thị bích năm xưa, Trương Nghi đã chịu hàm oan. Lúc này, Trương Nghi thình lình nhắc lại chuyện cũ, quả đúng là một chiêu trám miệng.
Trần Chẩn đang vắt óc nghĩ cách đối đáp, Hoài Vương bỗng bật cười vài tiếng, ra mặt giải vây: “Sứ Tần, Trần khanh, chuyện cũ đã qua rồi, hai vị bất tất phải tranh cãi nữa. Quả nhân chỉ quan tâm đến chuyện hiện tại, tức việc Tần Vương trao trả sơn cốc Thương Ư và quả nhân tuyệt giao với Tề. Các khanh hãy nói xem, nên là Tần Vương trả Thương Ư trước rồi quả nhân tuyệt giao với Tề, hay là quả nhân tuyệt giao với Tề trước rồi Tần Vương trả Thương Ư?” Nhìn sang Trương Nghi, “sứ Tần nghĩ sao?”
“Hồi bẩm đại vương,” Trương Nghi vòng tay đáp, “ý của Nghi, Nghi vừa nãy đã nói rõ ràng. Tần trao trả Thương Ư, là sáu trăm dặm đất thực, Sở tuyệt giao với Tề, chỉ là lời nói suông. Dám hỏi đại vương, trọng suông hay trọng thực? Suông trước hay thực trước?”
“Ồ…” Hoài Vương nhìn sang Trần Chẩn, “Trần thượng khanh, chuyện nan giải này, khanh hẳn có cách xử trí?”
“Hồi bẩm đại vương,” Trần Chẩn vòng tay đáp, “trên đời này không có chuyện nan giải, trừ phi là người ta không muốn giải!”
“Ồ?” Hoài Vương nhổm người về trước, “thượng khanh có diệu kế nào chăng?”
“Chẩn cho rằng, tự cổ chí kim, giao ước lập giữa các bên, lập xong sẽ sinh hiệu lực. Tần, Sở đã là hai bên giao ước, phải cùng thực thi giao ước, vốn không có chuyện phân biệt trước sau. Thần thỉnh cầu đại vương hãy một tay nhận Thương Ư, một tay tuyệt giao vói Tề. Bên này giao nhận xong xuôi, bên kia tuyệt giao hoàn tất, vẹn cả đôi đường!”
Rõ ràng, đề nghị của Trần Chẩn rất công bằng hợp lý, dù là bên nào, cũng không có lý do để từ chối.
Quần thần ghé tai thì thầm, bàn tán xôn xao.
Hoài Vương cười lớn, chủ ý đã quyết, vỗ án ra hiệu im lặng: “Các khanh không phải tranh luận nữa. Quả nhân đã quyết rồi, vừa theo lời Trương Tử, tuyệt Tề thân Tần, cũng vừa theo lời Trần Tử, hai bên đồng thời thực thi giao ước, bên này giao nhận Thương Ư với Tần, bên kia tuyệt giao với Tề.”
Quần thần liền đồng thanh hô lớn: “Đại vương thánh minh!”
Hoài Vương lấy làm đắc ý, nhìn sang Trương Nghi: “Sứ Tần thấy có được chăng?”
“Hồi bẩm đại vương,” Trương Nghi vòng tay đáp, “Nghi thỉnh cầu hôm nay lập ước, ngày mai lên đường về Tần, xin đại vương hãy phái sứ thần theo Nghi tới Hàm Dương, cùng Nghi giao nhận Thương Ư!”
Hoài Vương ngẫm nghĩ một chốc, ánh mắt dừng lại ở Chiêu Tuy: “Chiêu khanh nghe chỉ!”
Chiêu Tuy bước ra khỏi hàng: “Thần chờ chỉ!”
“Chiếu mệnh, tả tư mã Chiêu Tuy đi sứ sang Tần, thực thi hai sứ mệnh, một là hộ tống Nguyệt công chúa sang Tần thất, hai là cùng sứ Tần giao nhận Thương Ư!”
Chiêu Tuy vòng tay hô: Thần thụ mệnh!”
“Khách khanh Trần Chẩn nghe chỉ!” Hoài Vương nhìn sang Trần Chắn.
“Chẩn chờ chỉ!” Trần Chẩn đáp.
“Chiếu mệnh Trần Chẩn làm đặc sứ, đi sứ sang Tề, đoạn tuyệt bang giao!”
“Chẩn thụ mệnh!”