Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 40
Ngại hợp tung, Ngụy Vương rời Đại Luơng
Đổi sách lược, Tô Tần hợp Tam Tấn

❊ ❊ ❊

Công tử Hoa hỏa tốc trở về Hàm Dương, yết kiến Huệ Văn Công ngay trong đêm, bẩm báo lại toàn bộ câu chuyện Tô Tần dùng kế làm nhục Trương Nghi, bức ép Trương Nghi đến Tần. Huệ Văn Công nghe xong, đôi mày nhíu chặt, nhắm mắt suy nghĩ, hồi lâu vẫn không lên tiếng.

Hồi lâu sau, công tử Hoa thấy Huệ Văn Công sắc mặt giãn ra, hai mắt từ từ hé mở, biết rằng Huệ Văn Công đã suy nghĩ xong, bèn khẽ hỏi: “Chúa thượng, thần đệ có một điều không hiểu, suốt dọc đường nghĩ mãi vẫn chưa thông!”

Huệ Văn Công đưa mắt nhìn công tử Hoa: “Khanh không hiểu tại sao Tô Tần lại hao tâm tổn trí bức bách Trương Nghi đến Tần, đúng không?”

“Chúa thượng anh minh!” Công tử Hoa kinh ngạc. “Điều thần đệ không hiểu chính là việc này!”

Huệ Văn Công mỉm cười: “Quả nhân không hề anh minh, vì điều quả nhân vừa nghĩ ngợi, cũng chính là việc này!” Dừng lại một lát, khẽ thở dài. “Than ôi, Tô Tần quả nhiên là kẻ tinh minh, quả nhân để mất hắn trong gang tấc, thật là đáng tiếc!”

Công tử Hoa vội nói: “Chúa thượng, người… vẫn chưa chỉ giáo thần đệ!”

Huệ Văn Công thoáng ngẫm nghĩ một lát, rồi gật đầu nói: “Được, vậy sẽ nói với khanh thế này, không có trắng, sẽ không có đen; không có trên, sẽ không có dưới; không có thuận, sẽ không có ngược…”

Công tử Hoa càng nghe càng ngơ ngác, gãi đầu gãi tai một hồi, rồi lại ngước nhìn Huệ Văn Công. “Thần đệ ngu muội, xin quân huynh hãy nói rõ hơn!”

“Khanh thật là…” Huệ Văn Công cười vang, “hãy tự suy nghĩ đi!” Rồi quay sang nội thần. “Đã canh mấy rồi?”

Nội thần bẩm báo: “Khởi bẩm chúa thượng, đã sang canh đầu, đến giờ Nhân định!”

“Tiểu Hoa” Huệ Văn Công vô cùng hưng phấn, chậm rãi đứng dậy. “Giờ vẫn còn sớm, chúng ta hãy đi dạo một lát!” Rồi cười nói với nội thần. “Chuẩn bị kiệu đến phủ đại lương tạo!”

Công Tôn Diễn đang ở trong thư phòng, chuyên chú đọc tấu báo, đột nhiên nghe vọng lại tiếng bước chân gấp gáp, đang ngạc nhiên thì tiếng chân đã đến trước cửa.

Công Tôn Diễn vừa ngước mắt lên nhìn, đã giật mình kinh hãi, vì người đứng trước cửa chính là Huệ Văn Công, nội thần và công tử Hoa. Phủ úy gác phủ đang sợ hãi run rẩy đứng phía sau, nhìn bộ dạng của hắn, rõ ràng là Huệ Văn Công cố ý không cho vào bẩm báo trước.

Công Tôn Diễn cuống quýt bái lạy: “Vi thần khấu kiến chúa thượng! Vi thần không biết chúa thượng giá lâm, đã thất lễ, xin chúa thượng thứ tội!”

Huệ Văn Công bước lại gần, đỡ Công Tôn Diễn dậy: “Ái khanh mau bình thân!”

Mọi người đi vào trong phòng, cùng ngồi xuống.

Huệ Văn Công cười nói với Công Tôn Diễn: “Quả nhân nghe nói ái khanh là con cú mèo, nên mới cố tình đến vào lúc này, muốn xem con cú mèo đang bận việc gì.”

Nhìn thấy công tử Hoa, Công Tôn Diễn đã hiểu được tám chín phần, bèn khẽ mỉm cười, cầm lấy bản tấu trên bàn, hai tay đưa lên: “Vi thần đang đọc bản tấu ở Hà Tây!”

Huệ Văn Công nhận lấy bản tấu, đọc lướt qua một lượt, sắc mặt lộ vẻ vui mừng, rồi hoan hỷ gật đầu liên tiếp: “Tốt lắm! Tốt lắm! Năm nay sau khi thu hoạch xong, bách tính ở Hà Tây chủ động nộp lương, tranh nhau đi dịch, thật đáng mừng!” Rồi đặt lại bản tấu xuống bàn, ngẩng nhìn Công Tôn Diễn, vòng tay nói. “Hà Tây được bình trị như vậy, Công Tôn ái khanh phải được ghi công đầu!”

Công Tôn Diễn vòng tay đáp lễ: “Là chúa thượng thánh minh, vi thần sao dám nhận công?”

Huệ Văn Công cười vang mà nói: “Công Tôn ái khanh bất tất phải khiêm nhường. Không có kế sách của ái khanh, quả nhân tuy có muốn, cũng không thể làm được!” Lại đưa mắt nhìn bản tấu báo, dường như sực nhớ ra một việc. “Nói đến Hà Tây, cái tên Ngô Thanh kia dạo này thế nào rồi?”

“Khởi bẩm chúa thượng,” Công Tôn Diễn chỉ vào bản tấu, “tấu báo chính là do người này viết, quận Hà Tây chuyển tấu hộ. Năm kia chúa thượng phong hắn làm phủ lệnh Thiếu Lương, hai năm lại đây làm việc rất tận tụy. Theo vi thần điều tra, hiện giờ dân chúng ở Hà Tây, đặc biệt là Thiếu Lương, đều răm rắp tuân thủ Tần pháp, không thể thiếu được công lao của người này.”

“Có công sẽ có thưởng!” Huệ Văn Công ngẫm nghĩ một lát, rồi nói. “Khanh hãy truyền chỉ, phong Ngô Thanh làm đô uý quận Hà Tây, tấn tước một cấp!”

“Vi thần tuân chỉ!”

“Còn nữa!” Huệ Văn Công dừng lại một thoáng, rồi nói tiếp. “Nghe nói ở phía đông thành Thiếu Lương có Trương Ấp, là quê của họ Trương người Ngụy. Khanh hãy truyền chỉ cho Ngô Thanh tra xét, tất cả tài sản của nhà họ Trương đều phải trả lại cho nhà họ Trương, một ngọn cỏ cũng không được thiếu!”

“Vi thần tuân chỉ!”

“Công Tôn ái khanh!” Huệ Văn Công sắc mặt nghiêm trang. “Tất cả những việc này vẫn chỉ là phụ, quả nhân đến đấy, là có việc lớn muốn bàn với ái khanh!”

Công Tôn Diễn cúi người đáp: “Vi thần xin kính cẩn lắng nghe chúa thượng căn dặn!”

“Tô Tần muốn hợp tung Tam Tấn, thanh thế vô cùng chấn động. Tam Tấn nếu hợp, sẽ không còn coi Tần ra gì! Quả nhân ăn ngủ không yên, lần này đến là muốn lắng nghe ý kiến của ái khanh!”

Công Tôn Diễn biết Huệ Văn Công đã có cách ứng phó, lần này đến đây chẳng qua chỉ là muốn thăm dò, liền vòng tay đáp: “Khởi bẩm chúa thượng, vi thần cho rằng, hành động này của Tô Tần sẽ không thể thành công!”

“Tại sao lại như vậy?”

“Nếu Tam Tấn hợp tung, sẽ không còn là Tam Tấn nữa. Từ khi ba nhà phân Tấn, gần trăm năm nay, Tam Tấn lúc nào cũng tranh chấp mâu thuẫn, đánh qua đánh lại, oán thù tích luỹ đã sâu, căn bản không thể hợp được. Nay Tô Tần cứ khăng khăng làm vậy, chỉ là vọng tưởng, vi thần thấy tiếc thay cho người này!”

“Ái khanh đã đánh giá thấp người này rồi!” Huệ Văn Công chậm rãi nói. “Mặc dù quả nhân mới gặp hắn một lần, nhưng đã phát giác ra trên người hắn mang một làn khí hạo nhiên rất thịnh, thực sự không phải hạng tầm thường, mà là kẻ làm nên đại sự. Nếu người này đã từ bỏ ý đồ nhất thống, toàn lực hợp tung, chúng ta tuyệt đối không được khinh suất!”

Công Tôn Diễn ngẫm nghĩ một lát, rồi ôm quyền nói: “Vi thần có một thỉnh cầu, xin chúa thượng ân chuẩn!”

“Ái khanh cứ nói!”

“Vi thần xin được đi sứ nước Ngụy!”

“Quả nhân cũng đang có ý này!” Huệ Văn Công gật đầu nói. “Hiện giờ Triệu Hầu khởi xướng, Hàn Hầu đã đồng ý hợp tung, phái công tử Chương đến Triệu cùng bàn bạc kế hợp tung với Tô Tần. Nếu không nằm ngoài dự liệu, không lâu nữa Tô Tần sẽ đến Hàn. Trong Tam Tấn, Tô Tần đã hợp được hai, chỉ còn lại Ngụy. Quả nhân nghĩ đi nghĩ lại, người thông hiểu tình hình trong triều ngoài nội nước Ngụy chẳng ai hơn được ái khanh. Ái khanh hãy đến gặp Ngụy Vương một chuyến, cố gắng ngăn cản nước Ngụy hợp tung. Chỉ cần nước Ngụy không hợp, Tam Tấn sẽ không còn gì đáng ngại!”

“Vi thần lĩnh chỉ!”

“Ái khanh!” Huệ Văn Công cất giọng tha thiết. “Ngày trước Ngụy Hầu đại hội chư hầu ở Mạnh Tân, mưu đồ chinh phạt ta. Lúc đó tình thế nguy cấp, Thương Quân phải đơn độc một thân đến Ngụy, dùng sức của một người để vãn hồi bại cục, cuối cùng đã rửa được mối nhục Hà Tây. Lần này, Tô Tần lại hợp lực của Tam Tấn, cũng có ý đồ chinh phạt ta. Ái khanh ra đi, lại cũng là đơn độc một thân đến Ngụy, gắng sức xoay làn sóng dữ, tái diễn tráng cử của Thương Quân năm xưa, một mình thu phục Ngụy!”

“Chúa thượng đã quá khen!” Công Tôn Diễn khẽ ôm quyền nói. “Vi thần không dám so bì với Thương Quân. Ngày trước khác, bây giờ khác. Lần này vi thần ra đi, chỉ dám dốc tận tâm lực, còn việc có thành hay không, vi thần không dám nói trước!”

“Được! Được! Được!” Huệ Văn Công cũng cảm thấy mình hơi quá lời, cười vang mà nói. “Ái khanh nói ra được lời này, coi như đã cách ngày lập công không còn xa nữa!” Rồi quay sang công tử Hoa. “Tiểu Hoa, khanh hãy đi cùng đại lương tạo một chuyến. Đường sá ở Đại Lương, khanh cũng đã thông thạo!”

“Vi thần lĩnh chỉ!”

“Có biết đi để làm gì không?” Huệ Văn Công nhìn chằm chằm vào công tử Hoa.

Nghe Tần Công hỏi thình lình, công tử Hoa ngẩn người ngơ ngác.

Huệ Văn Công cười nói: “Nghe nói Tôn tướng quân kỳ nghệ cao siêu, khanh hãy chuyển lời tới tướng quân, nói quả nhân đã bày sẵn bàn cờ ở Hàm Dương, xin được thỉnh giáo tướng quân về kỳ nghệ.”

Công tử Hoa đột nhiên bừng tỉnh, lớn giọng đáp: “Vi thần lĩnh chỉ!”

***

Tất cả diễn ra đúng như lời Tần Công dự đoán, nước Hàn quả nhiên cực lực ủng hộ hợp tung. Sau khi Lâu Hoãn đến Hàn với tư cách là đặc sứ nước Triệu kiêm phó sứ hợp tung, Hàn Chiêu Hầu lập tức đồng ý không chút đắn đo, hơn nữa, còn nhanh chóng phong công tử Chương làm đặc sứ, đi sứ sang Triệu.

Sau khi tống tiễn Trương Nghi, Tô Tần lập tức hẹn gặp công tử nước Hàn. Công tử Chương chuyển lời đến Tô Tần, nói rằng Hàn Hầu rất mực kính trọng Tô Tần, bỏ trống ngôi tướng quốc để chờ sẵn. Tô Tần hay tin, lập tức bẩm tấu lên Triệu Hầu, lên đường đi sứ nước Hàn với tư cách sứ thần hai nước Yên, Triệu.

Hàn Hầu đã chấp thuận hợp tung, cũng có nghĩa là chưa xuất binh đã thu phục được nước Hàn, nên mục đích chuyến đi sứ Hàn của Tô Tần cũng theo thời mà biến, đổi thành đi đường vòng để thuyết khách Ngụy.

Kinh đô nước Hàn là Trịnh Thành cách Đại Lương nước Ngụy chưa đầy ba trăm dặm, phi ngựa nhanh một ngày là đến. Sứ đoàn hợp tung muốn đến được Trịnh Thành, buộc phải đi qua nước Ngụy. Tô Tần biết đây là một cơ hội, nên khi qua Ngụy đã cố tình đi thật chậm, đồng thời truyền lệnh cho làm rất nhiều cờ đủ màu, viết các yếu chỉ hợp tung như “ngũ thông”, “tam đồng” lên trên, lại đem mục đích và phương thức hợp tung soạn thành những bài vè thông tục dễ hiểu, sao chép thành nhiều bản, rải khắp dọc đường, để cho đám ăn mày, nghệ nhân lang thang… hát hò diễn xướng, lưu truyền khắp nơi. Sứ đoàn hợp tung của hai nước Yên, Triệu có đến gần năm nghìn người, Tô Tần lại cố tình kéo dài đội hình, từ xa nhìn vào, đầu đuôi cách nhau tới hơn mười dặm, suốt dọc đường cờ quạt phấp phới, chiêng trống vang trời, hết sức phô trương.

Thanh thế này đã vượt xa quy mô của những chuyến viếng thăm bình thường trong liệt quốc, nước Ngụy trong triều ngoài nội một phen chấn động, từ trên xuống dưới đều bàn luận ồn ào về Tô Tần và hợp tung. Ngụy Huệ Vương đọc qua tập sách hợp tung mà Tô Tần đã rải trên đường, nhắm mắt suy ngẫm hồi lâu, rồi lệnh cho tỳ nhân triệu Vũ An Quân Bàng Quyên vào cung, giơ cuốn sách hợp tung trên tay, hỏi khẽ: “Quyên Nhi, cái này con đã đọc chưa?”

Nghe thấy hai chữ “Quyên Nhi”, Bàng Quyên vô cùng đắc ý. Bàng Quyên biết rõ, từ sau khi mất đi Tôn Tẫn, địa vị của mình trong mắt Ngụy Vương lại càng lên cao vùn vụt, thậm chí còn vượt qua cả tướng quốc Huệ Thi. Ngụy Huệ Vương ngày càng ỷ lại vào hắn, mỗi khi gặp việc hệ trọng, nhất định phải triệu hắn đến bàn bạc trước tiên. Hiện giờ Tôn Tẫn đã trở thành phế nhân, Bàng Quyên nhìn khắp liệt quốc, thấy không còn ai là đối thủ, hùng tâm trong lòng đương nhiên lại càng bành trướng, cảm thấy ngày thoả tráng chí đã không còn xa nữa.

Lúc này, thấy Huệ Vương nhìn mình với ánh mắt rất mực thân thiết và tin cậy, Bàng Quyên càng thêm vững tâm, đồng thời cũng rất đỗi cảm động, đưa mắt liếc qua bản sách lược hợp tung, khẽ giọng đáp: “Hồi bẩm phụ vương, nhi thần đã đọc rồi!”

“Nghe nói Tô Tần và hiền tế là đồng môn, vậy hắn là người thế nào?”

“Xin hỏi phụ vương, muốn biết chuyện gì về Tô Tần?”

“Tài của người này thế nào?”

“Ồ!” Bàng Quyên khựng lại một thoáng, rồi phì cười nói. “Bảo nhi thần phải nói thế nào đây? Tô Tần và Trương Nghi cùng học thuật du thuyết, cái khác thực không dám khen, nhưng tài khua môi múa mép thì vô cùng ghê gớm.”

“Ồ?” Huệ Vương cũng cảm thấy thú vị, cười mà nói. “Nghe nói Việt Vương đã bị cái lưỡi của Trương Nghi khuấy đảo đến mờ mắt mà mất nước, quả nhân trước nay vẫn cảm thấy quá nực cười. Nay nghe con nói vậy, té ra lại là sự thực! Quyên Nhi, nếu so với Trương Nghi, tài ăn nói của Tô Tần thế nào?”

Trong hai người này, đương nhiên Bàng Quyên thấy ưa Tô Tần hơn, nên lập tức cười nói: “Sau khi rời khỏi Quỷ Cốc, nhi thần cũng không được biết gì thêm. Nhưng nếu chỉ nhìn vào mấy năm sống chung trong Quỷ Cốc, giả sử cho hai người họ mỗi người nói mười câu, nhi thần sẵn sàng tin Tô Tần ba câu, còn chỉ tin Trương Nghi nửa câu mà thôi!”

Nghe nói Trương Nghi chỉ có nửa câu nói thật, Huệ Vương phá lên cười lớn, rồi nói: “Chẳng trách Việt Vương bị mắc lừa, thì ra là vì vậy! Xem ra, ngày sau nếu gặp Trương Nghi, quả nhân nhất định phải cẩn thận mới được!”

Bàng Quyên cười nói: “Việt Vương làm sao có thể so sánh với phụ vương? Chỉ sợ khi gặp phụ vương, cái lưỡi của Trương Nghi lại cứng đơ như gỗ!”

Cả hai đều bật cười ha hả.

Cười xong, Huệ Vương bèn nghiêm nét mặt, đi vào chuyện chính: “Quyên Nhi, theo ý con, với kế sách hợp tung của Tô Tần, chúng ta nên đối phó thế nào?”

Bàng Quyên cũng nghiêm mặt lại, ôm quyền mà nói: “Nhi thần khẩn cầu phụ vương hãy triệu kiến một người!”

“Là người nào?”

Bàng Quyên quay ra ngoài vỗ tay, một người trung niên bước vội theo sau tỳ nhân đi vào, khấu đầu nói: “Thái tử nước Vệ Cơ Hiến khấu kiến bệ hạ, chúc bệ hạ long thể an khang, vạn thọ vô cương!”

Huệ Vương kinh ngạc, nhìn kỹ người đó một lượt từ đầu đến chân: “Đây chính là thái tử Cơ Hiến của nước Vệ?”

Cơ Hiến chảy nước mắt mà nói: “Tiên quân băng hà, thái sư làm loạn triều chính, dám làm trái di mệnh của tiên quân, phế bỏ Cơ Hiến, khiến cho triều đình rối loạn, người người giận dữ. Cơ Hiến khẩn cầu bệ hạ hãy xuất binh dẹp loạn, trả lại công đạo cho thiên hạ!”

Huệ Vương xua tay, rồi gật đầu nói: “Công tử, việc của nước Vệ, quả nhân đã biết rồi!”

Cơ Hiến biết ý, liền bái lạy rồi lui ra.

Thấy hắn đã lui, Huệ Vương liền quay sang Bàng Quyên: “Ý của ái khanh là…”

“Bệ hạ!” Bàng Quyên thấy Huệ Vương gọi mình là ái khanh nên cũng đổi cách xưng hô. “Nước Vệ dù không lớn, nhưng lại là mảnh đất màu mỡ. Nay Vệ thất lục đục, Cơ Hiến cầu cứu, vi thần thiết nghĩ, cớ sao chúng ta không nhân cơ hội này…” Dừng lời lại, đưa bàn tay lên cứa ngang cổ.

“Ừm!” Huệ Vương ngẫm nghĩ một lát, rồi lẩm bẩm. “Nước Vệ xem ra cũng đến lúc tuyệt tự rồi!”

“Bệ hạ,” lúc này Bàng Quyên mới để lộ ý đồ thực sự, “Vệ Hầu mới lập qua lại thân thiết với Hàn, còn lão thái sư lại hữu hảo với Triệu. Nếu ta đồng ý hợp tung, việc diệt nước Vệ, e rằng…”

Huệ Vương khẽ đảo con mắt: “Ừm, quả nhân đã có tính toán!”

Có lẽ do ngồi quá lâu, Huệ Vương bỗng ngáp dài. Bàng Quyên nhìn thấy, liền đứng dậy cáo lui. Huệ Vương đi về phía chiếc giường gỗ kê trong một góc thư phòng, vốn định chợp mắt một lúc, nhưng trong đầu cứ canh cánh chuyện nước Vệ, trằn trọc qua lại, không thể nào ngủ được!

Huệ Vương lại trở người mấy lần, bỗng ngồi bật dậy, gọi tỳ nhân chuẩn bị xe đến phủ tướng quốc.

Huệ Thi có thói quen ngủ trưa, khi Huệ Vương đến là đang giờ Mùi, Huệ Thi chưa ngủ dậy. Quản gia thấy Huệ Vương giá lâm, định chạy vào bẩm báo nhưng bị Huệ Vương ngăn lại.

Huệ Vương bảo quản gia dẫn đường, cùng với tỳ nhân đi tới hậu hoa viên, từ xa đã nhìn thấy Huệ Thi nằm trên chiếc giường mềm trong đình hóng mát, đang ngủ ngon lành. Huệ Vương đi tới bên cạnh, thấy Huệ Thi ngáy pho pho, tiếng sau to hơn tiếng trước, cảm thấy vô cùng ngưỡng mộ, quay sang cười nói với tỳ nhân: “Nhìn tướng ngủ này, Huệ ái khanh quả là người có phúc!”

Nhưng tỳ nhân lại chỉ tay vào nước dãi ròng ròng bên mép Huệ Thi, cười nói: “Nhìn nước dãi của tướng quốc chảy thành dòng, giống như con sâu trên cây nhả tơ xuống, sắp chạm đến đất rồi!”

Huệ Vương đưa mắt nhìn, thấy quả đúng như vậy, liền phá lên cười lớn.

Huệ Thi bị tiếng cười đánh thức, mở mắt ra, nhìn thấy Huệ Vương, cứ ngỡ mình đang nằm mơ, bèn đưa tay dụi mắt, thấy đúng thật không sai, mới vội vàng xuống giường khấu lạy: “Bệ hạ…”

Huệ Vương chìa ra một chiếc khăn tay, cười nói: “Huệ ái khanh, mau lau nước dãi đi rồi hãy nói!”

Huệ Thi nhận lấy khăn tay, nhưng lại đưa tay áo quệt miệng, rồi cười ngượng nghịu: “Đã khiến bệ hạ cười chê!”

Huệ Vương chỉ vào chiếc khăn: “Huệ ái khanh, thế còn khăn tay?”

Huệ Thi mỉm cười, nhét tọt chiếc khăn vào trong tay áo, khấu đầu nói: “Vi thần đa tạ bệ hạ ban khăn!”

Huệ Vương ngẩn người, rồi lại cười nói: “Ái khanh thật giỏi cướp đoạt. Nào, hãy đứng dậy nói chuyện!”

Huệ Thi đa tạ xong, đứng dậy ngồi xuống dưới đình. Hai người chuyện phiếm một hồi, rồi Huệ Vương chuyển sang chuyện chính, nhắc đến hợp tung, chau mày nói: “Theo lý thì Tam Tấn hợp nhất không phải chuyện xấu, nhưng đây là chuyện lớn, Tô Tần không đi tìm quả nhân mà lại đi tìm Triệu Ngữ trước, cho hắn khởi xướng, là đã đặt quả nhân ở vị trí nào vậy? Triệu Ngữ là kẻ kém cỏi vô dụng, sau khi kế ngôi, luôn bị người khác khống chế, chỉ biết vâng vâng dạ dạ, khiến nước Triệu nhiều phen chao đảo, làm sao có thể làm thủ lĩnh Tam Tấn? Điều này tạm chưa nói đến, quả nhân quay mặt về nam xưng vương, đã đi trước một bước dài, nếu lại cùng Triệu, Hàn hợp tung, ngồi ngang hàng với Hàn Cừ, Triệu Ngữ, há chẳng phải…” Dừng lại, đưa ánh mắt giận dữ nhìn Huệ Thi.

“Nếu bệ hạ không muốn, thì không hợp là được!” Huệ Thi chậm rãi rói.

“Ồ…” Huệ Vương lại chau mày. “Tô Tần kia đã rêu rao khắp nơi, tuyên truyền rộng khắp về ích lợi của hợp tung. Tam Tấn vốn là cùng một cội, Triệu Ngữ khởi xướng, Hàn Cừ hưởng ứng, lại được người Yên giúp sức, nếu quả nhân không theo, há chẳng phải công khai đối địch với Tam Tấn? Tạm chưa nói tới Triệu, Hàn, Yên, ngay cả thần dân của quả nhân, chắc hẳn cũng sinh hai lòng. Hơn nữa, Tô Tần trước tiên đến nước Tần, nay lại hợp tung ba nước Yên, Triệu, Hàn, khiến cho thiên hạ bàn tán sôi nổi, đã tạo được danh tiếng lẫy lừng. Người này sau khi đến Hàn, chắc chắn sẽ quay sang phía đông, thuyết phục quả nhân hợp tung. Nếu người này đến, quả nhân không gặp thì không ổn, gặp cũng không ổn. Nghĩ đi nghĩ lại, quả thực quả nhân chẳng biết phải làm sao, nên lần này đến là để hỏi ái khanh xem có kế sách vẹn toàn chăng?”

Huệ Thi ngẩng đầu cười nói: “Nếu bệ hạ thấy khó xử vì chuyện này, thì vi thần có một kế!”

“Ái khanh cứ nói!”

“Đợi khi Tô Tần đến, bệ hạ hãy lấy cớ đi săn mùa thu, trao lại việc nước cho điện hạ, để Vũ An Quân phụ chính. Tô Tần và Vũ An Quân là đồng môn, cả hai đều hiểu rõ nhau. Có Vũ An Quân đối phó, chẳng phải bệ hạ muốn tiến thì tiến, muốn lui thì…”

Chưa đợi Huệ Thi nói hết câu, Huệ Vương đã vỗ tay khen: “Diệu kế!” Lại nghĩ một lúc, càng thấy hưng phấn, cứ tấm tắc “diệu kế” luôn miệng, hớn hở quay trở về cung!

***

Tháng chín năm đó, đúng vào lúc Hàn Chiêu Hầu bái Tô Tần làm tướng, thì ở nước Ngụy, Ngụy Huệ Vương mở đại triều, ngay trong hôm đó ban chiếu, trao lại việc triều chính cho thái tử Thân, để Vũ An Quân Bàng Quyên phụ chính. Ngày hôm sau, Huệ Vương cùng Huệ Thi, tỳ nhân và mấy vị phi tần trong hậu cung, dưới sự hộ tống của công tử Ngang, mang theo mấy nghìn quân lính, rầm rộ tới Lương Hựu săn bắn.

Sau khi Huệ Vương rời khỏi kinh thành mấy ngày, sứ giả nước Tần là Công Tôn Diễn đã đến Đại Lương trước Tô Tần một bước. Biết được Huệ Vương, công tử Ngang đều không có trong thành, triều chính giao lại cho thái tử Thân, Công Tôn Diễn vui mừng khôn xiết. Lần này đi sứ Ngụy, sứ mệnh của Công Tôn Diễn chính là ngăn chặn Tô Tần hợp tung. Huệ Vương lại rời cung vào đúng lúc này, ý đồ không nói cũng đã rõ ràng, chí ít cũng cho thấy Ngụy Vương không tán thành hợp tung Tam Tấn, mà điều này không nằm ngoài dự đoán của Công Tôn Diễn khi còn ở Hàm Dương. Công Tôn Diễn đoán chắc, chỉ cần Ngụy Vương không có trong cung, cho dù Tô Tần có uốn ba tấc lưỡi ba hoa thiên địa, kế sách hợp tung cũng khó mà thành. Trong bụng đã chắc chắn, Công Tôn Diễn càng thêm bình tĩnh, nghỉ lại tại dịch quán, ngày hôm sau lấy tư cách sứ giả nước Tần để lên triều, bẩm báo rõ lý do đi sứ, trình lên quốc thư và lễ vật để cầu Tần, Ngụy kết tình hoà mục.

Thái tử Thân lâm chính, ngày đầu lên triều đã tiếp đãi sứ giả nước Tần. Vì sứ thần vốn là người Ngụy, hiện giờ lại là đại lương tạo địa vị hiển hách tại Tần, nên tỏ ra vô cùng thận trọng, vấn an Tần Công theo đúng nghi lễ, tiếp nhận quốc thư và lễ vật, rồi truyền Công Tôn Diễn về dịch quán chờ chỉ.

Công Tôn Diễn khấu lạy rồi cáo lui, trở về dịch quán, vào trong phòng ngồi xuống, mở hai cuốn thẻ tre ra, đọc chăm chú.

Đến cuối giờ Thân, ngoài cửa bỗng có tiếng xe ngựa ồn ào, quân úy vào bẩm báo có Chu Uy, Bạch Hổ đến thăm. Đây cũng chính là hai người mà Công Tôn Diễn đang chờ đợi, vì vậy vội vàng đi ra, khom lưng vái chào: “Chu huynh, Bạch thiếu gia, Công Tôn Diễn đợi đã lâu rồi!”

Chu Uy, Bạch Hổ đều sững người ngạc nhiên, rồi vòng tay đáp lễ, gần như đồng thanh hỏi: “Đợi chúng ta ư?”

“Chính phải!” Công Tôn Diễn cười nói. “Tại hạ đã chuẩn bị sẵn sàng, nếu giờ Thân vẫn chưa gặp được hai vị, tại hạ sẽ mang theo gậy đánh chó đến hỏi tội hai vị!”

Cả hai người đều bật cười.

Ba người dắt tay nhau vào trong phòng, phân ngôi chủ khách ngồi xuống. Công Tôn Diễn chăm chú nhìn Bạch Hổ, gật đầu khen ngợi: “Bạch thiếu gia, mấy năm không gặp, quả nhiên đã ra dáng lắm rồi!”

Bạch Hổ nhớ lại chuyện cũ, bất giác thở dài: “Than ôi, giờ nghĩ lại chuyện năm xưa mà cứ ngỡ như giấc mộng!”

Ba người lần lượt kể chuyện của mình. Chu Uy bảo Công Tôn Diễn đuổi thuộc hạ ra ngoài, sau đó nói thẳng vào việc chính: “Công Tôn huynh! Lần này chúng ta đến, một là để thăm huynh, hai là có việc muốn khẩn cầu.”

“Chu đại nhân có gì xin cứ nói thẳng!”

“Bệ hạ coi như đã tỉnh lại sau giấc ngủ dài, thân cận hiền thần, xa lánh tiểu nhân, văn dùng Huệ tướng quốc, võ dùng Vũ An Quân, mấy năm nay lại cải cách triều chính, đất nước được đại trị. Oan tình năm đó của Công Tôn huynh, tại hạ cũng đã điều tra rõ ràng và bẩm báo lên bệ hạ. Biết được sự thật, bệ hạ vô cùng hối hận, nhiều lần nhắc đến chuyện này trong triều, nói rằng có lỗi với Công Tôn huynh. Bệ hạ còn nói, cánh cổng nước Ngụy lúc nào cũng mở sẵn chờ đón Công Tôn huynh, bất kể lúc nào Công Tôn huynh muốn quay lại, bệ hạ cũng sẽ ra khỏi thành ba mươi dặm nghênh đón. Còn về việc sau khi Công Tôn huynh đến Tần, mấy lần hại Ngụy, cũng là do ai vì chủ nấy, bệ hạ dứt khoát không tính toán chuyện đã qua!”

“Than ôi!” Công Tôn Diễn thở dài mà nói. “Chuyện đã qua, cũng giống như Bạch huynh đệ vừa nói, chẳng khác nào một cơn ác mộng! Bệ hạ đã tỉnh mộng, Bạch huynh đệ cũng đã tỉnh mộng, song giấc mộng của tại hạ đến giờ vẫn chưa tỉnh. Hơn nữa, tại hạ không phải kẻ bội nghĩa phản chủ, nay đã theo Tần, làm sao có thể hai lòng?”

Chu Uy vội nói: “Người Tần và ta, thế không cùng tồn tại, thù không đội trời chung. Sao Công Tôn huynh có thể nhanh chóng một đao đoạn tuyệt quá khứ như vậy?”

“Không giấu Chu huynh,” Công Tôn Diễn chậm rãi nói, “lúc mới đến Hàm Dương, tại hạ cũng nghĩ mãi mà không hiểu. Đối địch với người Tần suốt bao năm, lại trải qua cuộc huyết chiến với người Tần tại Hà Tây, nhưng đột nhiên lại chạy sang phía người Tần, chẳng khác nào bại tướng xin hàng. Suốt một thời gian dài, tại hạ gần như ngày nào cũng say khướt, không muốn đối mặt với hiện thực. Nhưng sau đó, tại hạ đã nghĩ thông. Tại hạ là tại hạ, chúa thượng là chúa thượng, thiên hạ là thiên hạ. Ngụy thất cũng được, Tần thất cũng được, thiên hạ cũng được, vừa có liên quan, nhưng lại cũng chẳng có liên quan gì với tại hạ. Như ‘Xuân Thu’ đã viết, ‘từ khi Chu thất dời đô về đông, thiên hạ đã chẳng còn chiến tranh chính nghĩa’. Thiên hạ đã chẳng còn chiến tranh chính nghĩa, Công Tôn Diễn cho dù có phò tá ai, cũng chẳng có chuyện có nghĩa hay bất nghĩa. Bệ hạ không biết ta, không dùng ta, song Tần Công lại biết ta, dùng ta, mọi chuyện vô cùng đơn giản!”

“Than ôi!” Chu Uy thở dài. “Nếu Bạch tướng quốc biết được Công Tôn huynh hôm nay nghĩ như vậy, chắc chắn sẽ rất đau buồn!”

Nghe nhắc tới Bạch Khuê, Công Tôn Diễn cúi gục đầu, cười buồn một tiếng, rồi lập tức chuyển sang chuyện khác: “Chu thượng khanh, hôm nay chúng ta chỉ nói về việc hiện tại, đừng nói tới quá khứ nữa, được chăng?”

Chu Uy cũng cười gượng một tiếng, đưa mắt nhìn Bạch Hổ, gật đầu nói: “Cũng được, mọi việc đều có trước sau mau chậm, việc này cũng không nôn nóng được. Nói về hiện tại, tại hạ cũng có một việc muốn thỉnh giáo.”

“Chu huynh cứ nói!”

“Tô Tần đề xướng hợp tung Tam Tấn, Triệu, Hàn đều đứng lên hưởng ứng. Tại hạ đã xem qua chủ trương của hắn, cảm thấy rất hoang mang, đã nhiều lần bàn luận cùng Bạch huynh đệ, nhưng vẫn chưa thông suốt. Lần này đến đây, là muốn nghe ý kiến của Công Tôn huynh.”

“Xin hỏi Chu huynh, cớ sao lại hoang mang?”

“Nói đơn giản, chính là vấn đề lợi hại. Nếu ta hợp tung, là lợi lớn hơn hại, hay là hại lớn hơn lợi?”

“Nói theo thiên hạ, lợi lớn hơn hại; nói theo nước Ngụy, hại lớn hơn lợi.”

“Điều này phải giải thích thế nào?”

“Khi Tô Tần ở Hàm Dương, tại hạ và hắn có qua lại, biết rõ hùng tâm tráng chí của Tô Tần, quả nhiên là bậc kỳ tài. Khi đó, mưu của Tô Tần là phò tá Tần Công, nhất thống thiên hạ, gây dựng đế nghiệp cái thế. Không ngờ Tần Công lại không có chí này, đã phủ nhận ngay trước mặt mọi người. Tô Tần thấy không được Tần Công trọng dụng, nên đã quay đầu bỏ về đông, tiếp tục tìm đường khác, cuối cùng đã nghĩ ra ván cờ lớn hợp tung Tam Tấn. Tại hạ chẳng khác gì Chu huynh và Bạch thiếu gia, cũng đang đau đầu vì chuyện này, thoạt tiên vỗ bàn khen hay, nhưng sau đó càng nghĩ càng không thông. Than ôi, mặc dù người này là đại tài, nhưng lại đi vào đường rẽ, thực đáng tiếc!”

“Vì đâu Công Tôn huynh lại vỗ bàn khen hay?” Bạch Hổ hỏi xen vào.

“Vì ván cờ này quá rộng lớn!” Công Tôn Diễn quay sang Bạch Hổ, nói. “Sĩ tử bình thường như chúng ta đây, gồm cả Thương Quân, cũng đều chỉ mưu cho một nước, thế cờ đánh ra chẳng qua chỉ là một góc. Nhưng Tô Tần thì khác, cho dù là kế xưng đế hay chiêu hợp tung, cũng đều bao quát thiên hạ, đánh ván cờ lớn của cả thiên hạ, cao tay hơn rất nhiều so với chúng ta. Tại hạ nói nó có lợi cho thiên hạ, cũng chính bởi điểm này. Hai vị hãy thử nghĩ xem, nếu Tam Tấn hợp nhất, bên trong không có phân tranh, còn về bên ngoài, đông có thể chế Tề, tây có thể chế Tần, nam có thể chế Sở, còn ai dám đến gây hấn? Liệt quốc đã không dám, tự nhiên sẽ không còn chiến tranh, đây chẳng phải là có lợi cho thiên hạ hay sao?”

“Phải lắm!” Bạch Hổ liên tiếp gật đầu. “Nếu nói như vậy, mưu của Tô Tử quả thực cao minh!”

“Cớ sao lại nói Tô Tần lại đi vào đường rẽ?” Chu Uy hỏi tiếp.

Công Tôn Diễn hỏi vặn lại: “Xin hỏi hai vị, Tam Tấn có thể hợp hay không?”

“Đã có lợi lớn như vậy, Tam Tấn nên hợp mới phải!” Chu Uy gật đầu nói.

“Than ôi!” Công Tôn Diễn khẽ lắc đầu, thở dài mà nói. “Nếu như Tam Tấn có thể hợp, đã chẳng còn là Tam Tấn. Chỉ vì bảy trăm dặm Hà Tây mà Tần Ngụy đã trở thành thù địch, tích hận cho tới tận ngày nay. Trong khi thứ mà Tam Tấn tranh giành, đâu phải chỉ có bảy trăm dặm đất? Cái khác chưa nói, chỉ riêng ân oán trong vòng trăm năm nay, liệu có thể xoá bỏ trong một chốc!” Hắng giọng mấy cái, nói tiếp. “Tô Tần đề xướng ‘tam đồng’, muốn Tam Tấn đồng thù, đồng lực, đồng tâm. Trước tiên là đồng tâm, hai vị nói xem, liệu có thể thực hiện được chăng? Tam Tấn không đồng tâm, liệu có thể đồng lực được chăng? Không đồng lực, liệu có thể đồng thù được chăng? Nói đến đây, tại hạ lại nhớ đến một câu chuyện, kể về một người nước Tề muốn khiến rùa, thỏ, hạc cùng kéo xe, kết quả thỏ kéo về phía cánh đồng, rùa kéo xuống hồ nước, hạc lại kéo lên trời. Ba con vật cùng kéo hết sức, nhưng lại không đồng tâm, cỗ xe không những không thể di chuyển, ngược lại còn bị lôi kéo cho tan tành. Tô Tần vốn muốn Tam Tấn hợp thân, chẳng phải cũng giống như người nước Tề, đi vào đường rẽ hay sao?”

Chu Uy, Bạch Hổ đều gật gù.

Thấy hai người đã hoàn toàn đồng tình, Công Tôn Diễn lại chêm thêm một câu: “Còn nữa, giả sử Tam Tấn thực sự giống như ý nguyện của Tô Tần, đồng tâm hiệp lực, thân thiết như một khối sắt, song kết quả không những không có lợi gì, ngược lại còn tệ hại hơn!”

“Tại sao lại như vậy?” Bạch Hổ ngạc nhiên.

“Hai vị thử nghĩ xem, Tam Tấn hợp thân sẽ gây bất lợi cho ai? Bất lợi cho Tề, Sở, Tần. Tam Tấn coi ba nước Tề, Sở, Tần là kẻ địch. Nếu ba nước này riêng lẻ mà đánh, chắc chắn sẽ không phải đối thủ của Tam Tấn. Tuy nhiên, Tam Tấn có thể hợp, cớ sao ba nước kia không thể hợp? Nếu như ba nước vì sợ Tam Tấn mà kết minh với nhau, Tề từ phía đông đến, Tần từ phía tây lại, Sở từ phía nam lên, cho dù Tam Tấn có vững như khối sắt cũng sẽ bị đánh tan thành trăm mảnh. Hơn nữa, nếu thực sự Tam Tấn hợp tung thành công, Tề, Sở, Tần cũng chẳng còn con đường nào khác, chỉ còn lại duy nhất con đường này. Lúc nãy tại hạ có nói, hợp tung đối với nước Ngụy là hại lớn hơn lợi, chính là vì điều này.”

Phân tích của Công Tôn Diễn rất hợp tình hợp lý, Chu Uy, Bạch Hổ đều bất giác hít ngược một hơi khí lạnh, nhìn nhau hồi lâu, im lặng không nói gì.

***

Hàn Chiêu Hầu không chịu lép vế, cũng chọn ra hai nghìn người, nhập vào sứ đoàn, cộng thêm tuỳ tùng, nên sứ đoàn hợp tung cả thảy đã lên gần tám nghìn người. Kinh đô Trịnh Thành của nước Hàn cách Đại Lương chưa đầy ba trăm dặm, Tô Tần truyền lệnh cho thuộc hạ ngày đi năm mươi dặm như lúc trước, suốt dọc đường phô trương thanh thế, thong thả mà tiến.

Khi chỉ còn cách Đại Lương chưa đến mười dặm, thám mã về báo Ngụy Huệ Vương đã trao lại triều chính cho thái tử Thân, cùng với tướng quốc Huệ Thi, An Quốc Quân công tử Ngang đến Lương Hựu săn bắn. Hành động của Ngụy Vương rõ ràng là muốn tránh né hợp tung, ba vị phó sứ của Yên, Triệu, Hàn biết tin, thảy đều hoảng hốt, vội bẩm báo cho Tô Tần. Lâu Hoãn cho rằng nên đi thẳng tới Lương Hựu, như vậy vừa có thể giảm bớt được mấy ngày đường, lại có thể trực tiếp cầu kiến Ngụy Vương. Cơ Khoái, công tử Chương đều tỏ ý tán đồng, quay sang nhìn Tô Tần.

Tô Tần trầm ngâm một hồi, rồi truyền lệnh đi tiếp, thẳng tiến tới Đại Lương. Đi được nửa ngày, thám mã lại về báo, nói là sứ giả nước Tần Công Tôn Diễn đã đến Đại Lương trước một bước. Mấy vị phó sứ ngơ ngác nhìn nhau, rồi lại cùng quay sang nhìn Tô Tần.

Tô Tần cười nói: “Người Tần nhanh chân thật, có chuyện thú vị rồi đây!”

Sứ đoàn vẫn đi đứng dềnh dàng như cũ, đến tận buổi trưa ngày thứ ba mới đến được bên ngoài Đại Lương, dừng lại dưới chân thành, chờ đợi ý chỉ từ cung Ngụy. Chốc lát sau, một cỗ xe kiệu chạy đến, nội sử của cung Ngụy bước xuống xe, tuyên đọc khẩu dụ của thái tử cho Tô Tần nghe, cho sứ đoàn hợp tung hạ trại tại chỗ, đặc sứ, phó sứ và các sứ thần có liên quan của liệt quốc vào dịch quán trong thành nghỉ ngơi.

Một sứ đoàn quy mô long trọng như vậy, song phía Ngụy chỉ cho một trung đại phu tầm thường ra tuyên chỉ, lại là khẩu dụ của thái tử, khiến mấy vị phó sứ vô cùng bất bình, mặt lộ sắc giận. Nhưng Tô Tần lại mỉm cười, vòng tay cảm tạ, sắp xếp xong cho tướng sĩ của ba nước, rồi dẫn Cơ Khoái, Lâu Hoãn, công tử Chương và các tuỳ tùng thân cận, chia nhau lên hai mươi cỗ xe, giương cờ hiệu, đi theo cỗ xe của nội sử tiến vào trong thành.

Sau khi đoàn xe vào thành, Tô Tần, Cơ Khoái, Lâu Hoãn, công tử Chương và những người khác đều đứng ở trên xe, sắc mặt tươi cười, vòng tay hành lễ với người đến xem đứng chật hai bên đường. Khi tới đầu phố Nam Nhai, Tô Tần đột nhiên nhìn thấy bên đường có một người đang ngồi khoanh chân dưới đất, đầu tóc rối bù, mặt mày lem luốc, ánh mắt đờ đẫn nhìn vào cảnh tượng nô nức trước mặt. Đứng bên cạnh là mấy đứa trẻ, đứa nào cũng lôi thôi nhem nhuốc, rõ ràng là trẻ ăn xin. Có lẽ là do họ hôi hám quá, nên người đến xem đều cố tránh dạt ra, vì vậy họ lại càng thêm dễ thấy.

Tô Tần vừa nhìn đã nhận ra ngay Tôn Tẫn, tim bỗng thót lại, vội hô dừng xe.

Đoàn xe liền dừng lại.

Tô Tần nhảy phắt xuống xe, bước từng bước tiến lại gần Tôn Tẫn. Tôn Tẫn cũng hai mắt không chớp nhìn chằm chằm vào Tô Tần, ngửa cổ cười ngây dại. Đến bên cạnh Tôn Tẫn, Tô Tần bỗng trong lòng đau thắt, hai chân mềm nhũn, quỳ sụp luôn xuống đất, lạy Tôn Tẫn ba lạy, nước mắt ròng ròng, nghẹn ngào cất tiếng gọi: “Tôn huynh…”

Tôn Tẫn vẫn đờ đẫn nhìn Tô Tần, cười ngây ngô. Nhưng lúc này, đã cười thành tiếng, chỉ tay vào Tô Tần mà cười ré lên, nghe như tiếng cục tác của gà mái đẻ.

Cảnh tượng thình lình khiến tất cả mọi người đều kinh ngạc sững sờ. Tô Tần thân là tướng quốc của hai nước Triệu, Hàn, lại là đặc sứ của ba nước Triệu, Hàn, Yên, nhưng lại quỳ xuống trước mặt một gã điên trên phố ngay trước vô số ánh nhìn, quả thực là chuyện chưa từng có. Người dân đến xem lập tức xúm đông xúm đỏ lại, cứ như đang xem diễn trò. Hộ vệ Trâu Phi Đao thoăn thoắt chạy tới, đứng cách Tô Tần vài bước, cảnh giác quan sát xung quanh. Nội sử nước Ngụy đang đi phía trước cũng vội vàng dừng xe, đứng từ xa sững sờ nhìn lại. Cơ Khoái, công tử Chương, Lâu Hoãn đều đứng trơ ra trên xe, sượng sùng kinh ngạc không biết phải làm gì.

Mấy đứa ăn xin sợ đến hết hồn, không dám đi cũng chẳng dám nhúc nhích, mặt tái mét, cứ đứng chết trân mà trợn mắt nhìn, ngỡ mình nằm mơ.

Tô Tần lạy xong liền ngẩng đầu lên, hai mắt nhìn thẳng vào Tôn Tẫn.

Tôn Tẫn không cười nữa, cũng nhìn thẳng vào Tô Tần.

Đúng vào khoảnh khắc này, Tô Tần phát giác thấy có hai luồng sáng rực chiếu ra từ trong mắt Tôn Tẫn, rọi thẳng vào tâm can Tô Tần.

Tô Tần đột ngột hiểu ra, đang lúc mừng rỡ khôn xiết, thì Tôn Tẫn đã thu ngay ánh nhìn lại, ánh mắt lại trở nên đờ đẫn như cũ, hai tay múa tít, bắt đầu gõ trống miệng: “Tùng tùng tùng, tùng tùng tùng, tùng tùng tùng, tùng tùng tùng…”

Tô Tần nhận ra đó là tiếng trống tiến quân, biết Tôn Tẫn đang giục mình đi mau, liền đưa tay áo lau nước mắt, quay sang Trâu Phi Đao: “Lấy năm lượng vàng lại đây!”

Trâu Phi Đao lấy ra năm lượng vàng đưa cho Tô Tần.

Tô Tần cung kính đặt vàng xuống trước mặt Tôn Tẫn, lại lạy thêm ba lạy, rồi mới quay trở về xe. Trâu Phi Đao đã đặt sẵn ghế kê chân, Tô Tần bước lên trên xe. Đoàn xe lại tiếp tục chuyển bánh.

Đoàn xe vừa đi, mấy đứa ăn mày bên cạnh Tôn Tẫn lập tức nhảy vọt đến, xâu xé tranh cướp vàng. Tôn Tẫn tựa như không nhìn thấy, hai mắt vẫn nhìn hút theo Tô Tần đang xa dần, miệng vẫn lầm bầm thúc trống trận.

***

“Cái gì?” Bàng Quyên trợn trừng hai mắt, thất kinh nhìn Bàng Thông. “Tô Tần đã quỳ xuống trước mặt Tôn Tẫn ngay trên phố?”

Bàng Thông gật đầu.

Bàng Quyên trầm ngâm hồi lâu, rồi bỗng ngẩng phắt đầu lên hỏi: “Tôn Tẫn thế nào?”

“Tôn Tẫn vẫn thế, lúc đầu cười ngây ngô, sau lại đánh trống miệng, không hề nhận ra Tô Tần!”

Bàng Quyên thở phào một hơi dài, im lặng một lúc, rồi gật đầu ra chiều thấu hiểu: “Than ôi, năm xưa bốn người chúng ta cùng sống trong Quỷ Cốc, tình như huynh đệ. Hiện giờ chúng ta đều địa vị hiển hách, chỉ có Tôn huynh ra nông nỗi này. Đừng nói là Tô huynh, cho dù đại ca nhìn thấy, chắc chắn cũng đau lòng xót ruột!” Dừng lại một chút, lại nói. “Còn nữa, Tôn huynh cả ngày lê la trên phố, cũng không phải cách hay. Cái khác chưa nói, lỡ khi mưa rơi gió thổi, Tôn huynh biết về đâu?”

Bàng Thông lưỡng lự một thoáng, rồi chậm rãi bẩm báo: “Tôn huynh ở trong nhà ta, rất không vui vẻ. Từ lúc ra ngoài, trời đất bao la, trông cũng vui vẻ hơn nhiều. Sau đó, lại quen biết mấy đứa nhóc ăn mày, Tôn huynh thích lắm, lúc nào cũng cười ngây ngô. Còn về nơi trú chân, tiểu đệ cũng đã sắp xếp ổn thoả cả rồi. Ngôi miếu nhỏ ở đầu phố Nam Nhai vốn thuộc phủ Trần Chẩn, giờ thành vô chủ, trên đương nhiên cũng quy về phủ chúng ta. Tiểu đệ đã kiểm tra, bên trong kín mưa kín gió, yên tĩnh khô ráo, nên đã để Tôn huynh và mấy đứa ăn mày ở trong đó. Khi trời đẹp, có bọn ăn mày ra phố xin ăn, Tôn huynh sẽ không bị đói. Khi trời mưa gió, tiểu đệ sẽ bảo đầu bếp mang chút cơm tới, đảm bảo Tôn huynh luôn được ấm bụng.”

Bàng Quyên liên tiếp gật đầu: “Ừ, sắp xếp như vậy tốt lắm, có điều… để Tôn huynh ở cùng đám ăn mày, cũng thực tội nghiệp cho Tôn huynh!”

“Đại ca!” Giọng Bàng Thông có chút nghẹn ngào. “Tấm chân tình của đại ca đối với Tôn huynh thực khiến tiểu đệ cảm động. Đại ca yên tâm, Tôn huynh đã là nghĩa huynh của đại ca, cũng chính là nghĩa huynh của tiểu đệ! Đại ca cứ việc lo đại sự, chút việc cỏn con này đã có tiểu đệ lo. Hơn một năm nay, tiểu đệ nhận ra Tôn huynh không màng tới ăn mặc, không đếm xỉa đến nhà cửa, chỉ thích tự do tự tại. Trên phố lớn, Tôn huynh được tự do, được vui vẻ, tốt hơn nhiều so với bị nhốt trong nhà. Hơn nữa…” ngập ngừng một chốc rồi hạ thấp giọng nói, “giữ Tôn huynh trong nhà, vừa ồn ào, đôi lúc còn làm phiền đến phu nhân, khiến cho hậu hoa viên cứ như có ma quỷ, chẳng ai dám bén mảng đến!”

Bàng Quyên lại gật đầu: “Thông đệ nói cũng phải! Việc của Tôn huynh, có ai bàn tán gì hay không?”

“Theo tiểu đệ được biết, từ lâu việc đại ca cứu giúp, không chê bỏ Tôn huynh đã được truyền tụng khắp liệt quốc, còn ở Đại Lương thì ai ai cũng biết, không ai không ca ngợi đại ca trọng nghĩa trọng tình, khen là người tốt!”

“Than ôi!” Bàng Quyên thở dài rầu rĩ. “Bọn họ làm sao hiểu nổi, tình nghĩa giữa Tôn huynh và đại ca không chỉ nằm ở những thứ bề ngoài đó. Nhớ năm xưa, vì cứu gia phụ mà Tôn huynh đã cùng đại ca ra vào hang hổ, sa chân chốn lao tù, nếu không phải được Bạch tư đồ cứu giúp, suýt chút nữa đã cùng chết trong tay gian tặc Trần Chẩn!” Nói đoạn, lại than thở. “Than ôi, Thông đệ, đại ca nợ Tôn huynh quá nhiều, chỉ e kiếp này không bù đắp được!” Nói xong, xúc động dâng trào, nước mắt lã chã.

“Đại ca…” Bàng Thông cũng nghẹn ngào.

Đúng vào lúc này, môn nhân chạy vào bẩm báo, nói là đặc sứ ba nước Tô đại nhân cầu kiến.

Bàng Quyên đứng bật dậy, đi đi lại lại trong phòng mấy vòng, rồi ngẩng đầu hỏi: “Cả thảy có mấy người?”

“Khởi bẩm chúa công, chỉ có một mình Tô đại nhân!”

“Ồ?” Bàng Quyên khẽ đảo con ngươi, đoạn nói với Bàng Thông. “Mau, chuẩn bị mấy cành gai, một cái bàn xát, đặt ở trong phòng!”

Lời còn chưa dứt, Bàng Quyên đã cất bước, vội vàng đi thẳng ra cổng, quả nhiên thấy Tô Tần đang đứng đợi.

Bàng Quyên sải bước nhanh hơn, vừa đi vừa gọi: “Tô huynh!”

Tô Tần bước lại, vòng tay vái chào: “Bàng huynh!”

Bàng Quyên đã bước tới nơi, đưa tay nắm lấy tay Tô Tần, siết mạnh: “Tại hạ không biết Tô huynh đến, nghênh đón chậm trễ, nghênh đón chậm trễ!”

Tô Tần cười nói: “Tại hạ không mời mà đến, mạo muội quấy rầy, mong Bàng huynh đừng để bụng!”

Bàng Quyên vỗ vai Tô Tần, trách móc: “Tô huynh đang hỏi tội tại hạ đấy ư? Không giấu gì Tô huynh, gần đây bệ hạ đi săn, điện hạ chấp chính, tất cả mọi việc trong triều đều đến tay tại hạ, khiến tại hạ bận tối tăm mặt mũi. Tại hạ vừa mới từ trong triều về, hay tin Tô huynh đến nên vội vàng ra đón, đến triều phục cũng chưa kịp thay!” Vừa nói vừa giũ giũ bộ triều phục đang mặc trên người.

Tô Tần cười vang mấy tiếng, vòng tay đáp lễ: “Bàng huynh nói đi đâu vậy? Trong thành này ai chẳng biết Bàng huynh bận trăm công nghìn việc, tại hạ đâu dám trách cứ? Chỉ có điều… lần này tại hạ đến đây, lạ nước lạ cái, nghĩ đi nghĩ lại cũng chỉ có Bàng huynh là bạn cũ, nên vừa đến dịch quán, còn chưa kịp nóng chỗ đã vội vàng lên xe đến thăm, đã làm phiền Bàng huynh rồi!”

Hai người cùng qua lại mấy lời khách sáo, sau đó dắt tay nhau vào trong phủ, đến phòng khách, chia ngôi chủ khách ngồi xuống.

Bàng Thông rót trà xong, vòng tay lui ra.

Tô Tần nhấp một ngụm trà, rồi lập tức nhắc tới việc của Tôn Tẫn, sắc mặt rầu rĩ, thở dài não nề: “Than ôi, không giấu Bàng huynh, lúc nãy tại hạ đã nhìn thấy Tôn huynh!”

Bàng Quyên vờ như không biết, kinh ngạc thốt lên: “Ồ!”

Tô Tần lại thở dài: “Than ôi, từ lâu tại hạ đã nghe thấy chuyện của Tôn huynh. Khi đến Hàm Đan, nghe người ta đồn thổi Tôn huynh phạm phải tội chết, may nhờ Bàng huynh cứu giúp nên mới giữ được mạng sống, không ngờ hoạ vô đơn chí, giờ lại trở thành kẻ điên khùng. Trước kia, tại hạ chỉ nghe đồn nên không tin, nhưng hôm nay được thấy tận mắt, tại hạ…”

Tô Tần chưa kịp nói hết câu, Bàng Quyên đã nghẹn ngào, bật khóc thất thanh: “Tô huynh…”

Tô Tần liếc mắt nhìn Bàng Quyên, cũng đưa tay áo lau nước mắt.

“Tô huynh!” Bàng Quyên gắng trấn tĩnh trở lại, chậm rãi nói. “Việc của Tôn huynh, tất cả đều trách tại hạ, là tại hạ có lỗi với Tôn huynh!” Rồi đứng dậy, đặt bàn xát xuống đất, nắm lấy một nắm gai, đưa cho Tô Tần. “Tô huynh, tại hạ đã phụ sự uỷ thác của tiên sinh, đã phụ tình huynh đệ kết nghĩa với Tôn huynh, đã phụ tình đồng môn trong Quỷ Cốc, tội đáng vạn roi! Hôm nay tiên sinh không có ở đây, đại sư huynh cũng không có, đành phải nhờ Tô huynh thay mặt tiên sinh, thay mặt đại sư huynh trừng phạt tại hạ, lấy lại công bằng cho Tôn huynh!” Nói đoạn, hai gối khuỵu xuống, quỳ lên bàn xát, cởi triều phục ra, để lộ lưng trần, khẽ nhắm mắt lại. “Tô huynh, hãy trừng phạt đi! Nếu Bàng Quyên kêu một tiếng, sẽ phạt thêm mười lần!”

Tô Tần liếc nhìn Bàng Quyên, rồi ném luôn cành gai xuống đất, từ từ đứng lên, hai tay đỡ Bàng Quyên dậy, lại thở dài mà nói: “Than ôi, Bàng huynh, việc này… than ôi, huynh bảo tại hạ phải xuống tay thế nào đây?”

Bàng Quyên đẩy Tô Tần ra, tiếp tục quỳ xuống khẩn cầu: “Tô huynh, nếu huynh không đánh, chính là đã hại tại hạ! Không giấu Tô huynh, Tôn huynh gặp phải kiếp nạn này, tất cả đều là do tại hạ. Nếu tại hạ không mời Tôn huynh xuống núi, không mời Tôn huynh đến Đại Lương, Tôn huynh sẽ không… Than ôi, không nói nữa! Đánh đi! Huynh đánh đi, nỗi ăn năn trong lòng tại hạ không thể nguôi ngoai, ăn không ngon ngủ không yên! Huynh đánh đi, huynh đánh một cái, tại hạ sẽ cảm thấy nhẹ nhõm hơn một phần, đánh mười cái, sẽ nhẹ nhõm hơn mười phần, đánh một vạn cái, tại hạ… tại hạ…” Rồi lại bật khóc nức nở.

Thấy Bàng Quyên chân thành thống thiết như vậy, Tô Tần cho dù trong lòng hiểu rõ mười mươi, nhưng vẫn thấy xúc động, khẽ thở dài một tiếng, lại đỡ Bàng Quyên dậy: “Bàng huynh chớ nên tự trách mình! Huynh đối xử với Tôn huynh thế nào, tại hạ từ lâu đã biết!” Cố ý dừng lại một lát, đưa mắt liếc Bàng Quyên. “Tại hạ đi chuyến này, đến đâu cũng nghe người ta truyền tụng về Bàng huynh, ca tụng Bàng huynh trung nghĩa phân minh, trọng tình trượng nghĩa, có thể sánh với cổ nhân. Tại hạ nghe vậy, vừa thấy xót xa cho Tôn huynh, lại càng thấy tự hào về Bàng huynh. Có điều, Tôn huynh là người thực thà, cớ sao lại phạm vào tử tội, tại hạ nghĩ mãi không ra, xin Bàng huynh kể rõ!”

Bàng Quyên đưa tay áo lau nước mắt, ngồi lại vào chỗ, chậm rãi kể lại đầu đuôi câu chuyện Tôn Tẫn phạm tội ra sao, Ngụy Vương thịnh nộ thế nào, rồi Tôn Tẫn chịu hình, Tôn Tẫn phát điên ra sao, cũng không quên kể chuyện mình khổ sở cầu xin tha mạng, cứu chữa thuốc thang, chăm sóc nâng giấc thế nào, rồi tại sao lại phải để cho Tôn Tẫn lang thang đầu phố…

Tô Tần nghe xong, tỏ ra kính phục, vòng tay vái liên hồi mà nói: “Những điều nghe thấy lúc trước chỉ là sơ lược, đến nay tại hạ mới biết việc của Tôn huynh lại có nhiều uẩn khúc đến vậy. Bàng huynh đã lo liệu được đến mức này, coi như cũng đã tận tâm tận lực, về tình về nghĩa, đều khiến tại hạ kính phục!” Rồi lắc đầu, lại thở dài buồn bã. “Than ôi, lúc trước, khi tiên sinh đổi tên cho Tôn huynh, tại hạ cũng cảm thấy băn khoăn. Hôm nay nhìn lại, thì ra tất cả đều là số mệnh an bài!”

Bàng Quyên vẫn tự dằn vặt: “Tất cả đều trách tại hạ, nếu năm xưa không gửi thư cho Tôn huynh, Tôn huynh sẽ không xuống núi, sẽ không đến nước Ngụy, cũng sẽ không… Than ôi, là tại hạ đã hại Tôn huynh!”

“Bàng huynh!” Tô Tần sắc mặt trầm trọng, nhìn Bàng Quyên nói. “Nhắc đến chuyện này, huynh đệ chúng ta phải hợp lực cùng nhau mới được. Theo như lời Bàng huynh vừa kể, Tôn huynh chắc chắn đã bị hàm oan. Theo ý của Bàng huynh, là kẻ nào đã hãm hại Tôn huynh?”

Bàng Quyên đập bàn: “Nếu tại hạ điều tra ra được kẻ đó, dứt khoát sẽ băm vằm hắn thành trăm mảnh!”

“Lúc nãy Bàng huynh có kể,” Tô Tần từ tốn nói, “khi Tôn huynh bị oan, sứ thần nước Tần đang ở Đại Lương, liệu có phải…” ngập ngừng một lát mới tiếp lời, “ý tại hạ là, việc này liệu có liên quan đến người Tần chăng?”

Bàng Quyên hai mắt vụt sáng, lập tức vỗ ngực bình bịch: “Phải lắm! Phải lắm! Tô huynh nói phải lắm! Lúc đó sứ thần nước Tần là Sư Lý Tật đang ở Đại Lương, sau đó tại hạ ngấm ngầm điều tra, có nghe trong cung đồn đại, Tôn huynh và kẻ này có gặp nhau một lần, nói là đến đánh cờ. Huynh cũng biết đấy, bệ hạ hận nhất là người Tần, Tôn huynh không biết nông sâu, đã đánh cờ với kẻ đó, mà phạm vào đại kỵ!”

“Nếu chỉ đánh cờ, sẽ không phạm vào tội chết!” Tô Tần như đang gợi ý cho Bàng Quyên. “Tại hạ ở Tần một năm, hiểu rõ người Tần. Người Tần chiếm đoạt Hà Tây và Hàm Cốc, rất sợ người Ngụy báo thù, thấy Bàng huynh, Tôn huynh đều phò tá Ngụy, có lẽ người Tần sợ hãi nên mới nghĩ ra thủ đoạn này để hãm hại Tôn huynh. Nếu không ngoài dự đoán, Lưu Thanh kia, và cả bức thư, đều là do người Tần sắp đặt!”

Bàng Quyên trầm ngâm một lúc, sắc mặt dần trở nên hung hãn: “Tô huynh nói phải lắm!” Dừng lại một lát, càng thêm khẳng định, nghiến răng trèo trẹo mà rít lên. “Đúng là chó má! Ngay từ đầu tại hạ đã nghĩ, chuyện này chắc chắn có điều uẩn khúc, thì ra là vậy!” Rồi liên tiếp vòng tay với Tô Tần. “Tô huynh, tại hạ xin đa tạ! Từ khi Tôn huynh bị hại, tại hạ vẫn không ngừng điều tra chuyện này, đã suy tính đến tất cả mọi khả năng, chỉ là chưa nghĩ đến người Tần mà thôi. Lũ chó Tần, chiếm Hà Tây, đoạt Hàm Cốc có thể coi là hận cũ, hãm hại Tôn huynh chính là thù mới. Hận cũ thù mới, tại hạ không rửa hận này, thề không làm người!” Nói đoạn, thẳng tay đập xuống mặt bàn đánh chát.

“Bàng huynh!” Tô Tần thấy thời cơ đã đến, cố tình bồi thêm một câu. “Người Tần hãm hại Tôn huynh, thù đó hận này, không phải chỉ của một mình Bàng huynh, mà tất cả đệ tử Quỷ Cốc đều phải báo thù. Có điều…” lập tức đổi giọng, “Bàng huynh đã nghĩ đến việc phải báo thù thế nào chưa?”

Bàng Quyên ngẩn người, thấy Tô Tần nhìn chằm chằm vào mình, thì khẽ đảo mắt, do dự một thoáng rồi nói: “Tại hạ lập tức bẩm báo với bệ hạ, dẫn đại quân chinh phạt bạo Tần, chiếm lại Hà Tây!”

Tô Tần lắc đầu.

“Ồ?” Bàng Quyên ngạc nhiên. “Không phạt Tần, làm sao có thể báo thù?”

“Không phải không phạt, mà hiện giờ không thể phạt!”

“Tại sao không thể phạt?” Bàng Quyên vội hỏi.

Tô Tần cất giọng rành rọt: “Vì Tần quá mạnh. Chỉ với sức của nước Ngụy, rõ ràng là lấy trứng chọi đá!”

Bàng Quyên mặt đỏ rần, vừa thẹn vừa giận: “Tô huynh nói gì vậy? Tại hạ tuy bất tài, nhưng coi người Tần khác nào cá nằm trên thớt, dê ở trong chuồng, chưa từng biết sợ!”

Tô Tần lại lắc đầu, mỉm cười nói: “Bàng huynh nói như vậy, chứng tỏ chưa hề hiểu Tần. Tại hạ ở Tần mấy tháng, đã được tận mắt chứng kiến những điều tốt xấu của Tần, không biết Bàng huynh có muốn nghe hay không?”

“Tại hạ xin nghe!”

Tô Tần lập tức thao thao một tràng: “Tần thực thi nền pháp trị hà khắc, một người phạm pháp, mười xóm liên luỵ, vì vậy người Tần không sợ chết mà sợ pháp. Toàn dân đều sợ pháp, vì vậy trên dưới đồng lòng, cả nước như một, tất cả đều không sợ chết. Tần Công tuổi trẻ tài cao, mưu lược sâu xa, tâm địa thâm hiểm, hành vi tàn độc, ngay cả Thương Quân cũng dám diệt trừ, không chuyện gì là không dám làm. Trong triều đình nước Tần, không ai không sợ Tần Công, vì vậy đều răm rắp phục tùng. Người này hoài bão lớn lao, có phần còn hơn cả cha mình. Còn nữa, Tần Công trong có các hiền tài Công Tôn Diễn, Tư Mã Thác, Sư Lý Tật, Cam Mậu, ngoài có các nơi hiểm trở Hàm Cốc, Hà Thuỷ, nước Tần gần như bốn mặt khoá kín. Sự hiểm trở của Hà Thuỷ, không cần phải nói nhiều, chỉ riêng một cửa ải Hàm Cốc, tại hạ đã từng qua lại, đúng là một người trấn thủ, vạn người khó qua. Cứ coi như Bàng huynh phá được cửa ải này, nhưng đường từ Hàm Cốc đến Âm Tấn dài hơn hai trăm dặm, mỗi bước đi đều hiểm trở gập ghềnh, chỉ cần người Tần liều chết phòng thủ suốt dọc đường, thì chẳng khác nào tường đồng vách sắt, có chắp thêm cánh cũng khó lòng vượt qua!”

Lời của Tô Tần chính là sự thực, Bàng Quyên từ từ cúi đầu, trầm ngâm suy nghĩ.

Tô Tần lại dấn thêm một bước: “Còn nữa, thiên hạ ngày nay, tất cả mọi việc, quan trọng nhất là có được dân. Tần chiếm được Hà Tây, lại đoạt được Thương Ư, không những mở mang được hơn nghìn dặm đất, mà còn có thêm hơn trăm vạn dân. Nếu cứ theo cách mười đinh trưng một, cũng đã nhiều hơn được mười vạn quân so với trước kia. Bàng huynh là người cầm quân, hẳn cũng hiểu con số mười vạn có ý nghĩa gì?”

Bàng Quyên chau tít đôi mày, chìm trong suy nghĩ, hồi lâu sau mới ngẩng đầu lên: “Tại hạ hỏi một câu, Tô huynh khởi xướng hợp tung, phải chăng là để chế Tần?”

Tô Tần gật đầu nói: “Người hiểu tại hạ, không ai hơn được Bàng huynh!”

“Xin hỏi thêm một câu, nếu gác chuyện của Tôn huynh sang một bên, cớ sao Tô huynh lại có thù với người Tần?”

“Than ôi!” Tô Tần thu lại nét cười, thở dài sườn sượt. “Chuyện này muốn nói, thực khó hé răng. Song Bàng huynh đã hỏi, tại hạ cũng đành nói thật. Sau khi tại hạ xuống núi, đã tới nước Tần, vốn dĩ muốn gây dựng đại nghiệp ở đó, nhưng thực không ngờ Tần Công không những không dùng, lại khiến tại hạ mất mặt, làm nhục tại hạ trước đông đảo sĩ tử trong thiên hạ!” Cười gượng một tiếng, lắc đầu thở dài. “Than ôi, tình cảnh đó, sỉ nhục đó… nếu như tại hạ có kiếm trong tay, hẳn là đã cứa cổ tự sát tại chỗ rồi!”

“Tô huynh đừng nói nữa!” Bàng Quyên xua tay ngăn lại. “Người Tần là khối mủ, sớm muộn cũng phải nặn đi. Tại hạ đã suy nghĩ nhiều lần về kế sách hợp tung của Tô huynh. Không giấu Tô huynh, triều thần đều có ý bài xích hợp tung, bao gồm cả bệ hạ. Ý của Tô huynh, hôm nay tại hạ cũng mới tỏ tường. Việc này không thể vội vàng, tuy nhiên, tại hạ nhất định sẽ dốc tận sức mình để thuyết phục triều thần, nói rõ lợi hại với bệ hạ, toàn lực giúp Tô huynh!”

Tô Tần khẽ ôm quyền: “Đa tạ Bàng huynh trợ giúp!”

Bàng Quyên quay ra ngoài gọi: “Người đâu, mang cơm rượu lên đây!” Rồi khẽ ôm quyền với Tô Tần. “Tô huynh, đã lâu không gặp, tạm chưa nói đến chuyện khác, hôm nay không say không về!”

“Được, không say không về!”

***

Mưa thu rả rích. Mặc dù không còn cái thế ồ ạt như hai tháng trước, nhưng dầm dề dai dẳng suốt hơn hai ngày trời. Tôn Tẫn phải khoanh chân lết đi trên đất, nên hễ trời mưa là không thể ra ngoài, đành phải ở lì trong ngôi miếu đổ nát đầu phố Nam Nhai.

Mấy đứa ăn mày đang đùa nghịch với mấy đĩnh vàng mà Tô Tần tặng cho Tôn Tẫn, hết thổi lại búng, không lúc nào rời tay. Tôn Tẫn ngồi trên giường, lặng lẽ nhìn đám ăn mày. Gọi là giường, nhưng chẳng qua chỉ là một cái bệ do Phạm Trù xếp bằng những viên gạch đất, rất rộng rãi, dọc ngang có thể nằm được năm sáu người, bên trên rải cỏ khô, trên nữa là vài manh chiếu rách, mấy tấm chăn cũ nát chất đống ở mé trong giường. Giường đất dù sơ sài, nhưng với đám ăn xin, đã tuyệt vời lắm lắm.

Trời mưa không dễ xin ăn, đứa nhỏ nhất trong đám hình như đã thấy đói bụng, bèn đi ra cửa, ngong ngóng nhìn ra màn mưa.

Quả nhiên nó đã ngóng được! Cách đó không xa có tiếng bước chân vọng lại, lát sau, Phạm Trù khoác áo tơi, xách theo chiếc làn lớn che kín vải dầu, bì bõm đi thẳng đến nơi. Tới cửa miếu, Phạm Trù hắt hơi một cú thật vang, rồi lại đi tiếp. Đứa bé liền hét toáng lên: “Phạm bá bá đến rồi!” Rồi sung sướng lao ra xách làn giúp Phạm Trù.

Phạm Trù đưa làn cho nó xách, vui vẻ đi vào trong miếu.

Thấy đám ăn mày đều xúm cả lại, Phạm Trù lúc này mới mở làn ra, chia bánh bao cho từng đứa tuỳ theo sức ăn, rồi căn dặn: “Mấy đứa sang bên thiên điện mà ăn, để Phạm bá bá thay quần áo cho Tôn bá bá!”

Mấy đứa trẻ cầm lấy bánh, chạy ùa sang thiên điện. Phạm Trù xách làn lên, đi tới trước mặt Tôn Tẫn, lấy ra mấy chiếc bánh bao và hai đĩa thức ăn đặt lên giường đất, sau đó giúp Tôn Tẫn cởi quần áo lót mình, thay bằng tấm áo đã giặt sạch, rồi lại lấy ra hai bộ quần áo mới mặc cho Tôn Tẫn. Tôn Tẫn ngồi yên, lặng lẽ nhìn Phạm Trù, mặc cho hắn muốn làm gì thì làm.

Phạm Trù làm xong mọi việc, bèn rút từ trong tay áo ra một bức thư đưa cho Tôn Tẫn, nói khẽ: “Lúc nãy trên đường đưa cơm, tiểu nhân có gặp Tần gia, Tần gia nhờ tiểu nhân gửi cho tiên sinh thư này, xin tiên sinh hãy đọc!”

Tôn Tẫn mở thư ra đọc, rồi đưa lại cho Phạm Trù: “Đốt đi!”

Phạm Trù gật đầu vâng dạ, rồi lấy đá lửa, dây lửa ra, đánh lửa, bắt đầu đốt thư. Tôn Tẫn nhìn hắn, thấy thư đã cháy gần hết, thì điềm tĩnh hỏi: “Phạm huynh, phía Bàng tướng quân có tin gì không?”

“Khởi bẩm tiên sinh,” Phạm Trù gật đầu đáp, “chiều hôm qua, đặc sứ hợp tung Tô đại nhân đến thăm, buổi tối ở lại uống rượu, là cơm rượu do tiểu nhân làm. Bàng tướng quân và Tô đại nhân vừa uống vừa trò chuyện trên trời dưới bể, đến tận nửa đêm Tô đại nhân mới cáo từ ra về. Hôm qua tiểu nhân nghe nói, Bàng tướng quân còn bảo quản gia chuẩn bị sẵn cành gai, bàn xát, sau đó tướng quân đã quỳ lên bàn xát, khăng khăng bắt Tô đại nhân phải cầm roi gai đánh mình, để trừng phạt tướng quân chưa chăm sóc tiên sinh chu đáo. Sáng sớm hôm nay, Bàng tướng quân thấy trời vẫn mưa, nên đích thân xuống bếp căn dặn tiểu nhân phải mang đến nhiều cơm hơn, còn bảo tiểu nhân mang quần áo mới đến cho tiên sinh, nói rằng trời lạnh rồi, không được để tiên sinh chịu rét. Nghe giọng điệu, biết rằng Bàng tướng quân rất quan tâm tới tiên sinh!” Dừng lại một lát, gãi gãi đầu băn khoăn. “Tiên sinh, rốt cuộc giữa tiên sinh và Bàng tướng quân có khúc mắc gì, tiểu nhân thực sự không thể hiểu nổi!”

Tôn Tẫn không trả lời, hai mắt ướt đẫm, một lúc sau mới ngẩng đầu nhìn Phạm Trù: “Việc tại hạ giả điên, Bàng tướng quân có biết không?”

Phạm Trù lắc đầu: “Tiên sinh yên tâm, trong thành Đại Lương, việc này chỉ có Tần gia và tiểu nhân biết được. Hoàng tiên sinh là người trị bệnh cho tiên sinh vốn dĩ cũng biết, nhưng Tần gia đã bỏ ra một khoản tiền lớn để Hoàng tiên sinh chuyển nhà. Tiểu nhân có hỏi Tần gia là chuyển đi đâu, Tần gia nói, hiện Hoàng tiên sinh đã có nhà mới ở Hàm Dương, việc này coi như kết thúc. Hơn nữa, từ đó về sau, Bàng tướng quân cũng không nhắc lại chuyện này nữa, dường như đã tin tiên sinh bị điên thực!”

Tôn Tẫn khẽ gật đầu.

Phạm Trù tiến lại gần, càng hạ thấp giọng: “Tiên sinh, Tần gia còn nói muốn gặp tiên sinh một lần, bảo tiểu nhân hỏi ý kiến tiên sinh xem thế nào?”

Tôn Tẫn đắn đo một lát, rồi lắc đầu nói: “Hiện giờ không được. Huynh hãy chuyển lời với Tần gia, nói rằng, dưa chín tự rụng cuống, nước đến tự thành hào!”

Phạm Trù đáp: “Tiểu nhân nhớ rồi! Tiên sinh dùng cơm, tiểu nhân cáo lui!”

Tôn Tẫn khẽ ôm quyền: “Đa tạ Phạm huynh!”

***

Tô Tần ở trong dịch quán đợi suốt ba ngày trời, cuối cùng cũng được điện hạ triệu kiến.

Tô Tần và ba vị phó sứ lên triều, trình danh sách lễ vật, đưa ra lời thỉnh cầu Tam Tấn hợp thân, bốn nước hợp tung, đồng thời trình lên bản sao về hiệp ước hợp thân của ba nước Yên, Triệu, Hàn. Thái tử Thân nhận lấy, sau dăm câu khách sáo, liền nói thẳng rằng mình chỉ thay quyền phụ vương chấp chính, còn có gia nhập hợp tung hay không, khó lòng tự quyết, cần bàn thêm rồi bẩm báo phụ vương quyết định.

Thấy thái tử Thân không muốn bàn tiếp, đám Tô Tần bèn cáo lui.

Trở về dịch quán, mấy vị phó sứ, đặc biệt là hai vị công tử nước Hàn, Yên đều tỏ vẻ sốt ruột. Công tôn Khoái là người đầu tiên lên tiếng: “Xem ra, là Ngụy Thân đang muốn lần lữa!”

“Phải đấy!” Công tử Chương gật đầu phụ hoạ. “Người Ngụy đang gây khó dễ cho chúng ta!”

“Hai vị nói rất phải!” Tô Tần đưa mắt nhìn họ, mỉm cười nói. “Việc tốt thường nhiều trắc trở! Hơn nữa, Ngụy Vương và tướng quốc đều không có mặt, Vũ An Quân phụ chính cũng chẳng lên triều, việc lớn như vậy, bảo một thái tử làm sao có thể quyết định?”

Công tử Chương vội nói: “Chúng ta không thể cứ ngỏng cổ một chỗ chờ đợi chết dí ở đây được!”

Tô Tần cười lớn mà nói: “Nếu không muốn chờ đợi chết dí, hai vị có thể đi dạo vài vòng trong ngoài thành Đại Lương. Người Ngụy quả nhiên đáng nể, sau khi dời đô từ An Ấp đến đây, mới có mấy năm mà thành Đại Lương đã biến thành một đô thành nức tiếng thiên hạ, sánh ngang với Lâm Truy.”

Hai người quay mặt nhìn nhau, cho rằng Tô Tần đang nói đùa.

“Còn nữa!” Tô Tần nói tiếp. “Hai vị cũng có thể đến xem kênh đào Hồng Câu, đích thực là một công trình lớn, lợi nước lợi dân, lưu truyền cho con cháu. Mấy năm về trước, tại hạ đã tới đó, đứng bên bờ đê, đúng là cảm khái muôn phần! Than ôi, người ta sống ở trên đời, chẳng qua cũng chỉ muốn lập nên đại nghiệp. Chưa nói đến cái khác, chỉ riêng một việc này thôi, Bạch tướng quốc đã đủ để lưu danh bất hủ!”

Thấy Tô Tần ung dung nhàn nhã, hai người cũng cảm thấy Tô Tần đã nắm chắc phần thắng, liền thở phào nhẹ nhõm, quay sang Lâu Hoãn nói: “Đi nào! Thượng đại phu cũng đi thôi, đông người càng vui!”

Lâu Hoãn ôm quyền cảm tạ: “Tất cả đều đi xem phong cảnh hết, để Tô Tử một mình buồn bã, chẳng phải sẽ lỡ mất việc lớn ư? Hai vị cứ đi đi, tại hạ sẽ ở lại trò chuyện cùng Tô Tử!”

Mọi người đều cười vang. Hai vị công tử chuẩn bị một lát, sau đó cười cười nói nói đi ra khỏi cửa.

Tô Tần ngồi xuống, chỉ tay vào vị trí trước mặt, nói với Lâu Hoãn: “Ngồi đi, quả thực tại hạ cũng thấy hơi buồn!”

Lâu Hoãn liền ngồi xuống.

Tô Tần như sực nhớ ra, bèn hỏi: “À, chẳng phải hôm qua Lâu huynh tới thăm Chu Uy ư? Ông ta nói thế nào?”

Lâu Hoãn khẽ thở dài mà đáp: “Than ôi, Chu thượng khanh toàn nói chuyện trên trời dưới bể, mà không chịu nói vào chuyện chính. Tại hạ mấy lần mở miệng nhưng đều bị ông ta gạt phắt đi.”

“Chẳng trách hôm nay không thấy ông ta lên triều!” Tô Tần cười gượng. “Xem ra, lần này chúng ta đến, họ đã chuẩn bị sẵn sàng cả rồi!”

“Tô Tử!” Lâu Hoãn tỏ ra lo lắng. “Đặc sứ ba nước lên triều trình quốc thư, đây là việc lớn nhường nào, thế mà nhìn người Ngụy mà xem! Trên triều đường chỉ có thái tử, dưới triều đường chỉ có hai trung đại phu vô dụng. Huệ Thi thì không nói làm gì, mấy đại thần như Bàng Quyên, Chu Uy, Bạch Hổ cũng chẳng lên triều…” Dừng lại, đưa mắt nhìn Tô Tần. “Tô Tử, theo lý mà nói, hợp tung chẳng có gì bất lợi với nước Ngụy, tại sao bọn họ lại như vậy?”

Tô Tần hít vào một hơi dài, trầm tư hồi lâu mới từ từ thở ra: “Đúng vậy!” Rồi khép hờ hai mắt. “Tại hạ cũng đang buồn phiền vì chuyện này. Bàng Quyên vốn đã hứa với tại hạ, nhưng hôm nay cũng không thấy lên triều, rõ ràng là cố tình lảng tránh!”

“Đường đường là Vũ An Quân, tại sao có thể nói lời rồi lại nuốt lời?”

Tô Tần trầm ngâm suy nghĩ, rồi quay ra ngoài gọi: “Trâu huynh!”

Chốc lát, Trâu Phi Đao đã có mặt: “Chúa công?”

“Hai ngày nay có ai đến phủ Vũ An Quân không?”

“Buổi chiều hôm qua, có sứ thần nước Tần Công Tôn Diễn đến thăm!”

“Còn ai nữa?”

Trâu Phi Đao lắc đầu.

Tô Tần lại hít vào một hơi dài, tiếp tục nhắm mắt suy nghĩ, một lúc sau mới ngẩng lên hỏi: “Có tin gì về Tôn huynh không?”

“Tôn tiên sinh ở chung với mấy thằng bé ăn mày trong ngôi miếu nát đầu phố Nam Nhai.”

Tô Tần rút từ trong tay áo ra một tấm lụa, đưa cho Trâu Phi Đao: “Huynh hãy tìm cách dụ đám ăn mày đi, rồi đưa bức thư này cho Tôn huynh. Đợi Tôn huynh đọc xong, huynh hãy hẹn huynh ấy canh ba đêm nay ra cửa miếu!” Rồi quay sang Lâu Hoãn. “Lâu huynh hãy tìm lấy một ngôi nhà yên tĩnh, không có người ở gần đầu phố Nam Nhai, đợi Tôn huynh ra, Trâu huynh lập tức cõng Tôn huynh tới, tại hạ sẽ ở đó đợi.”

“Tôn huynh?” Lâu Hoãn kinh ngạc. “Chẳng phải người này đã bị điên rồi ư?”

“Có đôi lúc không điên!” Tô Tần thản nhiên nói. “Đi đi, chuyện này phải tuyệt đối bí mật!”

Hai người lập tức đi ngay.

Lúc chập tối, công tử Hoa vẫn trong bộ dạng thương nhân, nhìn quanh thấy không có người qua lại, vụt một cái lẩn ngay vào dịch quán nước Tần, đi thẳng vào khu nhà của Công Tôn Diễn. Công Tôn Diễn nghe tiếng bước chân, biết ngay ai đến, vội vàng ra đón, cười vang mà nói: “Thật trùng hợp, tại hạ đang nghĩ đến công tử, công tử đã đến rồi!” Rồi cầm lấy tay, nhìn công tử Hoa một lượt từ đầu đến chân. “Ồ, trông thật giống thương nhân. Lần này chắc buôn bán phát đạt lắm đây?”

“Tại hạ đến chính là vì việc này!” Công tử Hoa cũng cười, đi theo Công Tôn Diễn vào trong phòng, ngồi xuống vị trí khách.

“Chắc là sắp phát tài rồi phải không?” Công Tôn Diễn cũng ngồi xuống, rót một chén trà đưa cho công tử Hoa. “Nào, uống chén trà trước đã!”

Công tử Hoa nhận lấy chén trà, nhấp một hớp nhỏ: “Tại hạ đã nhờ Phạm Trù chuyển cho Tôn Tử một bức thư, đại ý nói rằng Bàng Quyên đã lơ là, thời cơ Tôn Tử thoát khỏi miệng hùm đã đến, tại hạ đã sắp xếp xong việc cứu Tôn Tử đến Tần, cuối cùng còn nhắc đến việc chúa thượng đang khắc khoải chờ mong.”

“Ồ, Tôn Tử phản ứng thế nào?”

“Tôn Tử nhắn lại rằng, dưa chín tự rụng cuống, nước đến tự thành hào! Nghe giọng điệu này, rõ ràng Tôn Tử cho rằng thời cơ chưa đến!” Công tử Hoa lại nhấp một ngụm trà, mặt lộ vẻ băn khoăn. “Trong thư đã nói rõ, chúng ta khẳng định có thể cứu được Tôn Tử, nhưng Tôn Tử lại nói vậy, khiến tại hạ không sao hiểu được, nên mới đến nghe Công Tôn huynh giải thích!”

Công Tôn Diễn cúi đầu, trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu, mới ngẩng đầu nói: “Chỉ có một cách giải thích, Tôn Tử không muốn đến Tần!”

“Tại sao?”

“Điều này phải đi hỏi Tôn Tử!” Công Tôn Diễn chậm rãi nói. “Theo lẽ thường tình, với tình cảnh hiện giờ của Tôn Tử, chỉ cần có thể thoát khỏi miệng hùm, đừng nói là nước Tần là nơi Tôn Tử có thể thực thi hoài bão, mà ngay cả hang hùm, Tôn Tử cũng không nên do dự mới phải!”

“Phải đấy!” Công tử Hoa gật gù. “Hiện giờ Tôn Tử đã trở thành phế nhân, sống không bằng chó lợn, vừa phải giả điên giả dại, lại phải nơm nớp đề phòng Bàng Quyên. Chẳng may để Bàng Quyên biết được chân tướng, chắc chắn sẽ không giữ nổi tính mạng.”

“Mấy ngày nay có ai đến tìm Tôn Tử không?” Công Tôn Diễn chợt hỏi.

Công tử Hoa lắc đầu.

“Nếu không ngoài dự liệu, lần này Tô Tần đến, chắc chắn sẽ cứu Tôn Tử đi. Có lẽ Tôn Tử từ chối, cũng bởi điều này.”

“Phải rồi!” Công tử Hoa vỗ đùi đánh đét. “Ngay ngày đầu tiên Tô Tử đến nơi đã quỳ lạy Tôn Tử ngay trên phố. Hiện giờ Tô Tử thanh danh hiển hách, lại là bạn cũ của Tôn Tử, đương nhiên Tôn Tử sẽ tin tưởng, cũng trông mong Tô Tử đến ứng cứu.”

“Công tử hãy đi mau, ngày đêm canh chừng Tôn Tử, không được khinh suất manh động!”

Đêm đến, mưa dầm đã dứt, song mây đen vẫn âm u kín trời, bầu không tối đen như mực, chẳng khác nào chiếc nồi úp ngược.

Vào lúc canh ba, cửa miếu từ từ hé ra một khe hở. Một lát sau, Tôn Tẫn hai tay chống đất, lách người qua khe cửa lết ra. Trâu Phi Đao nấp sẵn ở chỗ khuất bên ngoài, lập tức lao vụt đến, cõng ngay Tôn Tẫn lên lưng, sải bước chạy đi.

Đi được một lúc, Trâu Phi Đao đến một khu nhà. Bốn bề xung quanh không có nhà cửa nào khác, là một trạch viện đơn độc. Vừa mở cổng, Lâu Hoãn đã chạy ra đón, nhìn khắp xung quanh thấy không có người, liền đón họ vào, nhanh chóng đóng chặt cổng lại.

Tô Tần nghe tiếng, vội chạy ra sảnh đường, cùng Lâu Hoãn đỡ Tôn Tẫn xuống, dìu vào trong phòng. Còn Trâu Phi Đao quay trở ra, đứng canh trước cổng. Lâu Hoãn cũng đi ra ngoài, tiện tay đóng cửa phòng lại.

Trong phòng sáng rực ánh nến, nhưng tất cả mọi khung cửa đều đã bị bịt kín, không để lọt một tia sáng ra ngoài.

Thấy Tôn Tẫn đã ngồi vững trên chiếu, Tô Tần cũng ngồi xuống. Hai người nhìn nhau, chẳng ai nói được lời nào. Hồi lâu, Tô Tần mới phá vỡ bầu im lặng, run giọng gọi: “Tôn huynh… thực khổ cho huynh quá!”

Tôn Tẫn khẽ cười, rồi gật nhẹ đầu.

Tô Tần lắc đầu, thở dài: “Trên đường đến Hàm Đan, tại mới được nghe chuyện của Tôn huynh, tại hạ… thực không thể ngờ, sự việc lại tới nước này!” Dừng lại một lát, bèn hỏi. “Tôn huynh, huynh… có hận Bàng Quyên không?”

“Đương nhiên là hận!” Tôn Tẫn cười nói. “Mấy hôm đầu, hận đến nghiến răng nghiến lợi! Sau đó, dần dần không còn hận nữa!”

“Tại sao lại không hận nữa?”

“Đã nghĩ thông suốt!” Tôn Tẫn nói rất chậm. “Suy cho cùng, cũng thực khó cho Bàng sư đệ. Chỉ có điều, Bàng sư đệ đã lo xa thái quá rồi!” Lặng im một lát, nói thêm một câu. “Vì bản thân Bàng sư đệ!”

Tô Tần trong lòng kính phục, vòng tay nói: “Tôn huynh tu được tới cảnh giới này, tại hạ thán phục!”

Tôn Tẫn cười gượng một tiếng, vòng tay đáp lễ: “Như thế đâu gọi là tu? Chỉ là phó mặc cho số phận mà thôi!”

Tô Tần lại vòng tay, thở dài sườn sượt: “Than ôi, người ta sống ở trên đời, có thể đến mức gặp sao yên vậy, mới là tu hành thực sự!”

“Tuỳ huynh nói sao cũng được!” Tôn Tẫn bật cười, rồi lập tức đổi giọng, vòng tay nói. “Đám trẻ nít kia đều có tật đi đại tiện ban đêm, tại hạ không thể ở đây quá lâu, tránh nảy sinh phiền phức!”

Tô Tần gật đầu, kể qua một lượt về phương sách hợp tung và tình hình trong mấy ngày đến Ngụy, rồi nói: “Tôn huynh, theo lý mà nói, hợp tung đối với Ngụy chỉ có lợi mà không có hại, thế nhưng… Ngụy Vương, Bàng Quyên tạm không nói đến, ngay cả Huệ Thi, Chu Uy cũng đều tỏ ra lạnh nhạt, quả thực khiến tại hạ thấy khó hiểu!”

Tôn Tẫn trầm tư một lúc, rồi chậm rãi nói: “Nhìn từ chỗ lớn, liệt quốc hợp tung là cái đạo yêu thương. Đã là đại ái, thì có thể thực hiện được, cũng là kế sách tuyệt diệu để giải quyết phân tranh trong thiên hạ. Còn về việc nước Ngụy lạnh nhạt, tại hạ cho rằng cũng không khó hiểu!”

“Xin Tôn huynh chỉ giáo!” Tô Tần mắt vụt sáng, nghiêng người về phía trước hỏi.

“Theo những gì Tô huynh vừa nói, mục đích của hợp tung là mưu cầu Tam Tấn hợp nhất, kết minh với Yên, từ đó lấy yếu chống mạnh, giúp cho thế lực cân bằng, cưỡng chế hoà giải.”

“Đúng vậy!” Tô Tần liên tiếp gật đầu.

“Tam Tấn kết thân, mục đích là chống lại ba nước lớn Tề, Sở, Tần. Triều thần nước Ngụy đều không nồng nhiệt, hẳn là có điều ngần ngại. Có lẽ họ sẽ thắc mắc, Tam Tấn đã có thể hợp tung, vậy cớ sao Tề, Sở, Tần lại không thể liên hoành?”

“Tại hạ cũng đã nghĩ đến điều này!” Tô Tần giải thích. “Trình tự của tại hạ là, trước tiên hợp tung Tam Tấn và nước Yên, sau đó sang Sở mời tham dự, như vậy từ Bắc Minh đến Giang Nam sẽ đều trở thành tung thân, khiến hai nước Tần, Tề bị chia cách sang hai phía đông tây, khiến họ không còn dám manh động.”

“Ồ!” Tôn Tẫn cười nói. “Như vậy thì tốt hơn nhiều. Nhưng tại hạ nghĩ rằng, cho dù năm nước hợp tung, bài xích Tần, Tề ra ngoài, thì vẫn chưa ổn. Nam bắc là tung, đông tây là hoành. Nam bắc hợp tung, sẽ tạo thành hình con rắn kéo dài, giả sử đông tây liên hoành, thì khác nào cây gậy đập ngang lưng rắn, đây là điều đại kỵ trong dùng binh. Một khi khai chiến, con rắn chắc chắn sẽ phải cảnh giác trước sau, chỉ cắn có chút bất cẩn, sẽ khiến được trái mất phải, đầu đuôi khó toàn.”

Tô Tần lại nhổm người về phía trước: “Ý Tôn huynh là…”

“Người giỏi cầm quân, tuyệt đối sẽ không để mình rơi vào tình cảnh trước mặt sau lưng đều có địch!” Tôn Tẫn nói tiếp. “Tô huynh đã hợp tung năm nước, tại sao không thêm một nước nữa, hợp cả nước Tề vào tung thân, sáu nước hợp nhất, đều coi Tần là kẻ thù chung. Sáu nước tung thân, bên trong sẽ không còn tranh chấp. Nước Tần có bốn ải hiểm yếu, có pháp luật hà khắc uy nghiêm, liệt quốc cho dù có hùng binh, cũng không thể làm gì được. Từ đó thế lực thiên hạ sẽ được cân bằng, há chẳng phải tốt hơn ư?”

Tô Tần nhắm mắt suy nghĩ, một lát sau, bèn vòng tay nói: “Lời của Tôn huynh, chẳng khác nào xua tan mây mù!”

Tôn Tẫn vòng tay đáp lễ: “Tô huynh quá khen!”

“Đâu có quá khen?” Tô Tần khâm phục nói. “Chỉ một lời của Tôn huynh, đã cao hơn tại hạ không biết mấy lần!” Rồi đưa ánh mắt quan hoài nhìn Tôn Tẫn. “Tôn huynh, lần này tại hạ đến, còn có một chuyện hệ trọng nữa, chính là nghĩ cách cứu Tôn huynh. Nếu Tôn huynh thoát khỏi đất này, sẽ định đi đâu?”

“Nước Tề!” Tôn Tẫn không chút đắn đo.

“Nước Tề rất tốt!” Tô Tần chậm rãi gật đầu. “Nếu Tôn huynh có ý này, đợi sau khi Tam Tấn hợp tung thành công, tại hạ sẽ đến nước Tề, một là để thuyết phục nước Tề hợp tung, hai là để trải đường cho Tôn huynh!”

“Đa tạ Tô huynh!”

“Có điều,” Tô Tần tỏ ra lo lắng, “nếu vậy thì phải đợi thêm một thời gian nữa, thực khổ sở cho Tôn huynh!”

“Tôn huynh quá lo lắng rồi!” Tôn Tẫn cười vang mà nói. “Hiện giờ, thứ duy nhất mà tại hạ không phải lo lắng chính là thời gian, có gì mà khổ sở?”

“Được!” Tô Tần vòng tay nói. “Không còn sớm nữa, tại hạ cũng không dám giữ Tôn huynh, đợi ngày Tôn huynh thoát khỏi miệng hùm, sẽ tiếp tục trò chuyện thoả thích!”

Tôn Tẫn gật đầu.

Tô Tần vỗ tay, Trâu Phi Đao nghe tiếng liền đi vào, quỳ xuống cõng Tôn Tẫn lên. Tô Tần ôm quyền, quyến luyến từ biệt Tôn Tẫn.

Đúng vào lúc bước ra đến cửa, Tôn Tẫn quay lại dặn dò: “Tô huynh, tại hạ quên không nhắc một câu: ‘Đánh rắn phải đánh giập đầu, bắt giặc phải bắt vua giặc!’”

“Bắt giặc phải bắt vua giặc?” Tô Tần nhẩm đi nhẩm lại, bất chợt hiểu ra, bèn vòng tay vái tạ: “Đa tạ Tôn huynh chỉ giáo!”

Trâu Phi Đao cõng Tôn Tẫn nhanh chóng quay trở lại ngôi miếu nát, đặt Tôn Tẫn xuống ngoài cửa. Tôn Tẫn từ biệt xong, liền quay vào trong, tiện tay đóng cửa lại. Trâu Phi Đao lao mình vào trong bóng tối, nghiêng tai nghe ngóng một hồi, chắc chắn phía trong không có tiếng động lạ thường, mới quay người bỏ đi.

Đúng vào lúc Tô Tần, Lâu Hoãn, Trâu Phi Đao đi ra khỏi khu nhà hoang, chìm vào bóng tối, có hai bóng đen cũng lách mình lao ra, bám theo họ từ phía xa, đến tận khi họ khuất trong dịch quán.

Sau khi trở về dịch quán, Tô Tần ngồi trong phòng, ngẫm nghĩ về lời nói của Tôn Tẫn, càng nghĩ càng thấy có lý. Đúng thế, nếu chỉ là bốn nước hợp tung, không những quy mô nhỏ, để lại nhiều bất cập về sau, mà còn gây bất lợi cho việc thực thi mục đích thực sự của hợp tung. Nhìn từ bề ngoài, hợp tung là nhằm cân bằng sức mạnh, chế ước lẫn nhau để giảm bớt hoặc ngăn chặn giao tranh, nhưng với Tô Tần, khiến thiên hạ cùng trị, chư hầu hoà bình mới là chí lớn thực sự. Còn hợp tung như trước mắt, đông tây đều có địch, hai mặt bị khắc chế, liệt quốc muốn tiếp ứng cho nhau còn chẳng dễ, còn sức đâu để đi bước tiếp theo?

Đến khi trời sáng, Tô Tần càng thêm vững tin vào gợi ý của Tôn Tẫn: Sáu nước hợp tung, cùng nhau chống Tần.

Tô Tần nằm xuống giường, chợp mắt một lúc, khi tỉnh dậy là đã giờ Thìn. Theo lẽ thường thì cung Ngụy cũng đã bãi triều. Tô Tần rửa mặt chải đầu xong, liền đánh xe đến thẳng phủ thượng khanh.

Sau khi đến nơi, Tô Tần nói rõ mục đích đến tìm, giải thích về kế sách sáu nước hợp tung, cùng nhau chống Tần.

Chu Uy quả nhiên hào hứng thấy rõ, cùng bàn về việc sáu nước hợp tung chống Tần suốt hai canh giờ, hỏi han rất cặn kẽ, cuối cùng gật gù mà nói: “Phải! Sáu nước hợp tung, cùng nhau chống Tần, hay lắm! Có điều…” Dừng lại nửa chừng, mắt nhìn Tô Tần.

“Thượng khanh có điều gì, xin cứ nói thẳng.”

“Chữ ‘chống’ không được hay lắm, theo tại hạ thấy, nên đổi thành chữ ‘chế’.”

Tô Tần liên tiếp vòng tay: “Hay! Hay! Hay! Thượng khanh xứng đáng được tôn là thầy một chữ!”

“Đặc sứ quá khen!” Chu Uy vòng tay đáp lễ, rồi thở dài một tiếng. “Than ôi, không giấu Tô Tử, gần đây tại hạ đã suy nghĩ rất nhiều về chuyện này. Tô Tử đề xướng hợp tung Tam Tấn, quả thực là hoài bão lớn lao, sách lược lớn lao, tại hạ càng nghĩ càng thán phục. Tam Tấn tranh chấp đã lâu, mâu thuẫn kịch liệt, kết quả lại đã ứng nghiệm với câu ‘cò nghêu tranh hùng, ngư ông đắc lợi’, để ba nước Tần, Sở, Tề nhiều lần thừa cơ tranh lợi. Tô Tử hợp tung, đó là đại nghiệp có lợi cho Tam Tấn, vậy mà tại hạ lại…” cười gượng một tiếng, liên tiếp lắc đầu như tự trách mình, “lại tính toán tủn mủn, thực là không nên, hỡi ôi, thực là không nên!”

“Là tại hạ tính toán tủn mủn mới phải!” Tô Tần cười vang mà đáp. “Tại hạ đi khắp nơi khuếch trương hợp tung Tam Tấn, chống lại ba nước Tần, Tề, Sở, quả thực đã phạm vào đại kỵ, không biết nhìn xa trông rộng, ngược lại còn gây bất lợi cho Tam Tấn!”

“Tô Tử nói đúng lắm!” Chu Uy cũng cười, “không giấu Tô Tử, quả thực tại hạ cũng nghĩ như vậy. Thực ra không chỉ có tại hạ, phần lớn triều thần cũng đều nghĩ như vậy!”

Tô Tần cười lớn, nhân đà đi thẳng vào việc chính: “Đúng thế, đúng thế! Đừng nói tới triều thần, ngay cả bệ hạ còn tránh mặt tại hạ, coi tại hạ như ôn thần vậy!”

Chu Uy hiểu ý, liền ngả người về phía trước hỏi: “Xin hỏi Tô Tử, tại hạ có giúp được gì chăng?”

Tô Tần vòng tay nói: “Tại hạ rất muốn yết kiến bệ hạ, hoàn thành đại nghiệp hợp tung sáu nước, xin thượng khanh giúp cho!”

Chu Uy tỏ ra ngần ngại: “Trước lúc đi, bệ hạ đã ban chỉ, lần này đến Lương Hựu là muốn nghỉ ngơi mấy ngày, tất cả mọi việc lớn nhỏ trong triều đều do thái tử tự quyết định, bất kỳ ai cũng không được đến làm phiền.”

Tô Tần suy nghĩ một lúc rồi vòng tay nói: “Vậy nhờ thượng khanh dẫn tại hạ tới gặp thái tử!”

“Tại hạ nguyện dốc sức mọn!”

***

Lương Hựu nằm ở phía tây bắc thành Đại Lương, cách Đại Lương chừng ba trăm dặm, liên kề Dương Vũ. Ở đây núi nhỏ dốc thoải, cây cối rậm rạp, thú hoang đông đúc, là chốn đi săn lý tưởng. Khi còn lập đô ở An Ấp, Ngụy thất đã khoanh sáu mươi dặm vuông ở nơi đây làm nơi đi săn. Sau khi dời đô đến Đại Lương, nơi này càng được coi trọng. Bên cạnh Lương Hựu có một đầm nước, phía bắc đầm có một vạt rừng rậm rạp tên gọi Giáp Lâm, cảnh sắc tuyệt đẹp, rất đỗi thanh u, mọc đủ loại kỳ hoa dị thảo. Huệ Vương rất yêu thích chốn này, đã cho xây dựng biệt cung ven hồ, gần như năm nào cũng đến đó ở lại một thời gian, coi nơi này chẳng khác gì biệt cung Long Sơn bên bờ Phùng Trạch.

Khi Huệ Vương còn trẻ rất thích săn bắn, đặc biệt là săn những loài động vật lớn như hươu, lợn rừng, ngựa hoang… Có lẽ do tuổi tác đã cao, Huệ Vương giờ thích tĩnh mà không thích động, sở thích săn bắn cũng dần dần chuyển sang câu cá. Cũng vì vậy mà phần lớn những biệt cung xây dựng gần đây đều được Huệ Vương cho đặt ven hồ, bên cạnh xây đài câu cá.

Câu cá cũng là một sở thích của Huệ Thi. Từ sau khi rời khỏi Đại Lương, quân thần hai người hầu như ngày nào cũng ngồi lì bên hồ buông cần, câu cá dưỡng thần. Hai người thường ngồi lặng suốt ngày, chẳng ai nói câu nào, ngay cả khi cá cắn câu cũng như không nhìn thấy. Công tử Ngang dẫn người ra ngoài đi săn, xuất phát lúc mặt trời mọc, đến khi mặt trời lặn mới trở về. Đám phi tần cũng được tự do, tha hồ hái hoa đùa nghịch quanh đó, tiếng cười nói giòn tan chốc chốc lại vọng lại bên hồ.

Vào giờ Ngọ hôm đó, hai người đang thả câu, thì tỳ nhân rón rén đi vào, khẽ giọng bẩm báo: “Bệ hạ, điện hạ đến rồi, đang ở ngoài cung cầu kiến!”

Huệ Vương mở mắt ra, trầm ngâm một lúc, quay sang Huệ Thi, thấy ông ta vẫn đang nhắm mắt dưỡng thần, liền nhìn xuống mặt nước, thấy cá không biết đã cắn câu từ lúc nào, chiếc phao đang bị kéo chạy vòng vòng nhào lộn, vội nói: “Huệ ái khanh, mau giật lên, là cá lớn!”

Huệ Thi mở mắt ra, liếc xéo xuống mặt nước, rồi bật cười mà nói: “Bệ hạ, cá lớn cắn vào lưỡi câu của bệ hạ đấy!” Huệ Vương nhìn lại, quả nhiên là lưỡi câu của mình. Thì ra Huệ Vương ngồi ở đâu gió, gió nhẹ đã thổi chiếc phao của ông ta đến trước mặt Huệ Thi từ bao giờ, còn phao của Huệ Thi bị thổi vào rìa bờ, lẫn vào trong một đám cỏ nước.

Huệ Vương vội vàng giật cần, quả nhiên là một con cá nặng đến mấy cân. Có lẽ do con cá đã vật lộn dưới nước quá lâu, nên khi bị nhấc lên khỏi mặt nước đã không còn giãy giụa quá mạnh. Nhờ có tỳ nhân trợ giúp, Huệ Vương chẳng mất mấy công sức đã đưa được con cá lên bờ, quăng vào thùng nước.

Huệ Vương cười hớn hở, nói với tỳ nhân: “Thân Nhi thật có khẩu phúc, đến đúng lúc quá! Ngươi hãy đem con cá này đến nhà bếp để dùng vào bữa trưa nay!”

“Bệ hạ!” Tỳ nhân bước lại một bước, khẽ giọng bẩm báo. “Đến cùng điện hạ còn có một người nữa, là… đặc sứ ba nước Tô Tần!”

“Ồ!” Huệ Vương sững người, một lát sau mới hỏi. “Triều thần có bàn luận gì về chuyện hợp tung không?”

“Khởi bẩm bệ hạ!” Tỳ nhân bẩm báo. “Vũ An Quân né tránh, thượng khanh, tư đồ và một số người khác lúc đầu phản đối, nhưng sau lại tán đồng. Lần này, chính là do thượng khanh tiến cử Tô Tần với điện hạ!”

Huệ Vương khép mắt trầm tư hồi lâu, rồi chậm rãi nói: “Được, người này đã đến, hãy cho hắn ăn cùng một miếng!”

“Vi thần lĩnh chỉ!” Tỳ nhân vâng lệnh, xách thùng cá đi ra.

“Huệ ái khanh!” Huệ Vương từ từ quay sang Huệ Thi. “Xem ra không thể câu tiếp được nữa rồi!”

Huệ Thi khẽ mỉm cười, giọng đầy ẩn ý: “Bệ hạ vốn dĩ đến đây để câu cá. Cá đã câu được, sắp cho vào nồi, bệ hạ cũng nên thu cần về thôi!”

“Ồ?” Huệ Vương liếc nhìn Huệ Thi, tiện miệng hỏi. “Nghe khanh nói vậy, lần này Tô Tần đến, ái khanh đã có cách đối phó rồi ư?”

“Bệ hạ!” Huệ Thi thu nụ cười lại, vòng tay nói. “Mấy ngày hôm nay vi thần đã suy nghĩ rất nhiều về chuyện này, nghĩ đi nghĩ lại, cảm thấy phương pháp hợp tung của Tô Tần quả là tuyệt diệu, ít nhất đối với Đại Ngụy ta, có trăm lợi mà không một hại!”

“Trăm lợi?” Huệ Vương kinh ngạc. “Ái khanh có nói quá chăng?”

Huệ Thi khẽ mỉm cười: “Bệ hạ, chưa nói tới chuyện khác, chỉ tính riêng vùng biên giới Triệu, Hàn, ta đã có thể bớt được rất nhiều phiền phức. Biên giới Tam Tấn đã được quy ước rõ ràng, nếu lại tiếp tục giao tranh, nào có ích lợi gì đâu?”

Huệ Vương trầm ngâm hồi lâu, rồi ngẩng đầu nói: “Tam Tấn không tranh chấp đương nhiên là việc tốt, thế nhưng… lúc trước, Bàng ái khanh có tấu báo, nội cung nước Vệ đang lục đục, công tử nước Vệ soán ngôi, thái tử Hiến chạy sang cầu cứu quả nhân, nếu quả nhân không hành động, sẽ không hợp nghĩa; còn nếu quả nhân giúp họ, Triệu, Hàn chắc chắn sẽ không để yên, gây tổn hại đến hiệp ước hợp tung!”

“Bệ hạ,” Huệ Thi nói tiếp, “thánh nhân mưu sự, mưu lớn chứ không mưu nhỏ. Nước Vệ chỉ là mảnh đất nhỏ bé, hiện giờ đối với ta, chẳng khác gì vật nằm trong túi, lấy hay không đều do bệ hạ quyết định. Bệ hạ mới vừa ra một chiếu thư, Vệ Công đã lập tức tự giáng mình xuống làm Vệ Hầu, ngoan ngoãn cắt đất, liệt quốc cũng không dám dị nghị, cũng là vì vậy. Hiện giờ Vệ thất tranh giành, bệ hạ căn bản không cần động binh, chỉ cần ra thêm một chiếu thư, vỗ yên quân chủ, bảo toàn tông miếu, họ sẽ không dám không nghe. Còn về việc thái tử chấp chính hay công tử chấp chính, đó là chuyện của nhà họ, bệ hạ bất tất phải bận tâm!”

“Phải lắm!” Huệ Vương liên tiếp gật đầu. “Ái khanh nói rất phải. Nước Vệ chỉ là mưu nhỏ, vậy đâu mới là mưu lớn?”

“Vi thần cho rằng,” Huệ Thi đáp lời, “kẻ địch lớn nhất của bệ hạ không phải Triệu cũng chẳng phải Hàn, không phải Tề cũng chẳng phải Sở, mà là nước Tần. Tần đã có được Hà Thuỷ, Hàm Cốc hiểm yếu bao bọc, dễ thủ khó công, chỉ với sức của một mình nước ta thì khó lòng công phá. Nếu bệ hạ gia nhập tung thân, Tam Tấn hợp sức, may ra có thể chế Tần và đoạt lại Hà Tây, phục hưng thời oanh liệt của Văn Công!”

Huệ Vương nhắm mắt một hồi, rồi ngẩng đầu nói: “Lời của ái khanh, không phải quả nhân chưa từng nghĩ đến. Thế nhưng, dường như kẻ địch của Tô Tần không chỉ có một nước Tần, mà còn có cả Tề và Sở. Dù quả nhân có đồng ý hợp tung, e rằng việc phạt Tần cũng khó thành.”

“Bệ hạ!” Huệ Thi chậm rãi nói. “Sáng sớm hôm nay vi thần nhận được thư gấp của thượng khanh, nói là Tô Tần đã thay đổi, muốn hợp tung sáu nước, cùng chế bạo Tần. Hiện giờ Tô Tần đã đến, cớ sao bệ hạ không hỏi rõ kẻ địch thực sự của hắn là ai?”

“Ồ?” Huệ Vương ngẩn người, trầm tư một lúc, rồi đưa tay chống đất đứng dậy, nói. “Nếu đã như vậy thì đi thôi! Tô Tử từ xa đến, để người ta đợi lâu, cũng không hợp đạo tiếp khách!”

Huệ Thi cười vang, ung dung đứng dậy. Quân thần người trước kẻ sau, thong dong trở về cung.

***

Ba ngày sau, Huệ Vương kết thúc cuộc đi săn, rời Lương Hựu quay về Đại Lương. Khiến tất cả dân chúng Đại Lương chấn động, đó là đặc sứ ba nước Tô Tần và Huệ Vương cùng ngồi một xe trở về, uy phong qua phố. Toàn bộ triều thần đều ra ngoài thành nghênh đón, khác hẳn với lần đầu Tô Tần đến Đại Lương, chỉ có một viên quan nhỏ dẫn đường.

Sáng sớm hôm sau, Ngụy cung mở đại triều. Trên triều đường hoàn toàn thấy vẻ hồi hộp bồn chồn, Huệ Vương chẳng cần thông qua bàn bạc, trực tiếp ban chiếu, tấn phong Tô Tần làm khách khanh kiêm đặc sứ hợp tung; phong công tử Ngang làm phó sứ hợp tung, phát động sáu nước kết tung thân. Lại thưởng cho Tô Tần một toà phủ khách khanh, một trăm dật vàng, năm mươi tấm lụa, ba mươi nô bộc. Quần thần còn chưa kịp định thần, Huệ Vương đã tuyên bố bãi triều, toàn bộ quá trình trước sau chỉ vẻn vẹn nửa canh giờ.

Huệ Vương rời khỏi triều đường rồi, bá quan mới kịp hoàn hồn, đua nhau quay sang chúc mừng Tô Tần. Bàng Quyên thấy vậy, trong lòng đủ thứ cảm xúc lẫn lộn, bàng hoàng mất một lúc, nhưng cuối cùng cũng tiến tại chỗ Tô Tần, vòng tay nói: “Tô đặc sứ, tại hạ xin chúc mừng!”

Tô Tần đáp lễ: “Đa tạ Vũ An Quân trợ giúp!”

Bàng Quyên mỉm cười, đưa tay vỗ mạnh vào vai Tô Tần: “Giúp, giúp, việc của Tô huynh, tại hạ đương nhiên phải giúp chứ!” Rồi quay sang công tử Ngang. “Phó sứ đại nhân, tại hạ cũng xin được chúc mừng!”

Bàng Quyên nhấn mạnh vào hai tiếng “phó sứ”, nghe đầy ẩn ý. Công tử Ngang không tán đồng hợp tung, cũng không thể ngờ phụ vương lại bổ nhiệm mình làm phó sứ ngay trên triều, để một An Quốc Quân hiển hách như mình phải đứng ngang hàng với hai công tử và một đại phu vô danh, cùng chịu sự sai khiến của một sĩ tử phố chợ từ trên trời rơi xuống, đã cảm thấy vô cùng mất mặt, lúc này lại bị Bàng Quyên nói khích, nhất thời mặt đỏ phừng phừng, lừ mắt nhìn Tô Tần, hừ mũi một tiếng, rồi sải bước rời khỏi triều đường.

Tô Tần rất đỗi sượng sùng, nhưng cũng nhanh chóng trấn tĩnh trở lại, vòng tay nói với triều thần: “Chư vị đại nhân! Từ thời Xuân Thu đến nay, thiên hạ đã thất đạo, liệt quốc chinh phạt lẫn nhau, sinh linh lầm than, dân chúng khốn khổ. Tại hạ đề ra kế hợp tung, một là để chế Tần, hai là muốn tìm ra một con đường hoà giải cho thiên hạ, ngõ hầu nhanh chóng kết thúc chiến loạn, quay lại thời thái bình thịnh thế. Theo tại hạ thấy, sáu nước hợp tung mới chỉ là bước đầu tiên, thiên hạ hợp tung mới là mục đích sau cùng!” Khẽ hắng giọng một tiếng, thấy quần thần đều đang chăm chú lắng nghe, lại chậm rãi nói tiếp. “Chư vị đại nhân, tại hạ cho rằng, chỉ có hợp tung, chỉ có tìm được điểm chung, gác lại bất đồng, khắc chế tư dục, thì thiên hạ mới có thể kết thúc chiến loạn, tìm lại thái bình. Thiên hạ hợp tung, bách tính an cư lạc nghiệp, đó vừa là ý nguyện của Tô Tần, cũng là ý nguyện của chư vị đại nhân, ý nguyện của cả thiên hạ. Hôm nay bệ hạ ban thánh ân, giáng chỉ hợp tung, thực là cái phúc của vạn dân trong thiên hạ. Tại hạ bất tài, khẩn cầu chư vị đại nhân cùng ra tay góp sức cho đại nghiệp hợp tung, tại hạ xin khấu đầu đa tạ trước!”

Nói xong, Tô Tần lại vòng tay, khom lưng vái một vái thật sâu.

Có lẽ đây là lần đầu tiên quần thần được nghe Tô Tần thổ lộ tâm ý, nói rõ về đại nghĩa của hợp tung, lúc đầu còn chưa kịp phản ứng, chỉ đưa mắt nhìn nhau, nhưng sau đó thảy đều xúc động, lần lượt vòng tay nói: “Hôm nay bệ hạ xuống chiếu, lại có nghĩa cử của Tô Tử, chúng tôi nhất định sẽ tận tâm tận lực vì đại nghiệp hợp tung!”

Tô Tần trên triều đường phong thái lấn lướt, Bàng Quyên đương nhiên trong lòng vô cùng khó chịu, thấy chẳng ai để ý đến mình, thì cũng giống như công tử Ngang, khẽ hừ mũi một tiếng, rồi ngoắt người đi khỏi điện, bước xuống bậc đá. Ra khỏi cửa cung, thấy phu xe đánh xe đến đón, liền nhảy phắt lên xe, giơ chân đạp thẳng gã phu xuống đường, vung roi quất mạnh, lao đi vùn vụt.

Bàng Quyên cứ ra roi phóng bạt mạng một hồi, vô tình thế nào lại đến đầu phố Nam Nhai, từ xa đã nhìn thấy ngôi miếu nát.

Bàng Quyên khẽ đảo mắt, liền thu dây cương lại, dừng xe trước miếu, đẩy cửa miếu ra, đi thẳng vào trong.

Mấy đứa ăn mày đã ra ngoài xin ăn cả, trong miếu không còn ai, chỉ có Tôn Tẫn ngồi trên lớp cỏ khô, hai mắt lờ đờ, đang biếng nhác ngồi phơi nắng. Nghe thấy có người vào, Tôn Tẫn khẽ hé mắt nhìn, thấy Bàng Quyên đứng ngoài cửa, thì cười ngây ngô. Bàng Quyên nhìn Tôn Tẫn một lúc, rồi bước từng bước lại gần, ngồi xuống cách Tôn Tẫn chừng hai bước.

Tôn Tẫn hai mắt đờ đẫn nhìn Bàng Quyên, một lúc sau, dường như phát hiện ra điều gì, liên chỉ tay vào Bàng Quyên, cười khanh khách một tràng. Bàng Quyên sững người, vô thức nhìn lại mình, thấy chẳng có gì bất thường, lại nhìn Tôn Tẫn, vẫn thấy Tôn Tẫn cười ngặt nghẽo mãi không thôi.

Bàng Quyên lúc này mới sực nhớ ra Tôn Tẫn là kẻ điên, một kẻ điên đang cười ngớ ngẩn, mới yên tâm trở lại, từ từ thở hắt ra một hơi dài. Có lẽ đã quá lâu không tắm rửa, người Tôn Tẫn bốc mùi hôi hám nồng nặc, Bàng Quyên vô thức đưa tay bịt mũi, nhưng rồi lại bỏ xuống.

Tôn Tẫn cứ thế ngây dại nhìn Bàng Quyên, cười hềnh hệch, cứ như trước mặt mình là một quái vật.

Bàng Quyên cũng nhìn Tôn Tẫn, trong lòng dấy lên một cảm giác vô cùng khó tả.

Hai người nhìn nhau một lúc, Tôn Tẫn bỗng nhăn mặt, thò tay vào trong áo gãi sồn sột, móc máy một hồi, rồi gãi được một con chấy. Tôn Tẫn như vớ được bảo bối, bỏ con chấy vào lòng bàn tay, gảy qua gảy lại, ngắm nghía say sưa, miệng cười hề hề.

Bàng Quyên chau tít đôi mày, đang lúc ghê sợ, bỗng thấy Tôn Tẫn bỏ tọt con chấy vào trong miệng, hai hàm răng đưa qua đưa lại nhai nghiến hệt như con khỉ. Nhai một lúc, Tôn Tẫn nuốt xuống đánh ực, lại cười ngây ngô với Bàng Quyên.

Bàng Quyên trong lòng muôn mối tơ vò, cơn chua xót bất chợt dâng trào, liền quỳ sụp xuống, nước mắt ứa ra giàn giụa, cất giọng run rẩy: “Tôn huynh!”

Tôn Tẫn như không nghe thấy, không nhìn thấy, vẫn cười ngây dại.

Cười thêm một lúc, Tôn Tẫn lại thò tay vào trong áo, móc ra một con chấy nữa. Con chấy này còn to hơn lúc nãy, Tôn Tẫn mở to mắt hí hửng nhìn con chấy. Bàng Quyên không nhẫn tâm nhìn tiếp, nghẹn ngào một hồi rồi đưa tay áo lau nước mắt, lạy Tôn Tẫn liền ba lạy, hạ giọng nói khẽ: “Tôn huynh, tại hạ… có lỗi với huynh! Tại hạ không muốn như vậy, nhưng… Tôn huynh ơi, tại hạ không thể không làm như vậy! Tại hạ… đã thực lòng cứu chữa, nhưng Tôn huynh…” Nghẹn ngào một lúc, lại lạy thêm ba lạy. “Tôn huynh, việc đã qua không thể vãn hồi, nếu có kiếp sau, tại hạ nguyện làm trâu làm ngựa để tạ lỗi với huynh…”

Bàng Quyên cứ tự lảm nhảm một hồi, song Tôn Tẫn vẫn như không nghe thấy, chỉ chăm chú đùa nghịch với con chấy trong tay, dường trước mắt không hề có Bàng Quyên. Thấy vậy, Bàng Quyên thở dài não nề, từ từ đứng dậy, vòng tay vái Tôn Tẫn một vái dài, rồi quay người đi ra khỏi miếu.

Thấy cửa miếu đã đóng lại như cũ, Tôn Tẫn lúc này mới ném con chấy đi, nước mắt ròng ròng, nghẹn ngào gọi khẽ: “Bàng đệ…”

Bàng Quyên vụt ngựa phóng như điên một hồi, rồi ghìm ngựa lại, quay đầu nhìn về ngôi miếu, sắc mặt lại điềm tĩnh như cũ, khẽ lẩm bẩm: “Tôn huynh, không phải tại hạ độc ác, mà là tình thế bắt buộc. Giống như hôm nay, ngay trên triều đường, Tô Tần kia làm mưa làm gió, chiếm hết phong quang, bảo tại hạ làm sao không bực bội cho được? Hơn nữa, ngay từ đầu tại hạ đã đồng ý trợ giúp hợp tung, chỉ là chưa kịp dẫn tới yết kiến bệ hạ mà thôi. Nhưng Tô Tần lại không chịu đợi, tự mình đến gặp Chu Uy, tự gặp điện hạ, tự đến Lương Hựu yết kiến bệ hạ, đã coi tại hạ là thứ gì đây?” Càng nói càng giận, nghiến răng kèn kẹt. “Hợp tung, hợp tung, hợp tung cái con tườu!”

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử