Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 95 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 68
Giữ Điền Kỵ, Tần Vương nhờ người cầu Chiêu phủ
Bức Huệ Thi, Trương Nghi khiển sứ thuyết Sở Vương

❊ ❊ ❊

Dù đã có chuẩn bị từ trước, song khi hay tin người Ngụy xuất binh thực, trong triều ngoài nội nước Hàn vẫn một phen chấn động. Từ vương công quý tộc đến nô bộc thường dân, trên mặt đều lộ rõ vẻ căng thẳng và kích động trước cuộc đại chiến sắp nổ ra, đừng nói là làm việc hay nói năng, mà đến cả dáng đi cũng khác, nhịp bước hối hả hơn hẳn thường nhật.

Căng thẳng nhất, kích động nhất, đương nhiên chính là Tuyên Huệ Vương vốn chưa hề kinh qua đại chiến kể từ sau khi lên ngôi. Tuyên Huệ Vương đi đi lại lại liên hồi trong cung điện, mặt cúi gằm, đôi mày nhíu chặt như hai con rết lớn.

Trên ngự án chính giữa đại điện, thù lù bản hịch văn tuyên chiến của nước Ngụy.

“Đại vương?” Tướng quốc Công Trọng Xỉ hai mắt nhìn chằm chằm vào Tuyên Huệ Vương không chớp, giọng nói rất khẽ, song vào thời khắc hệ trọng này lại hết sức rành rọt, vừa có ý nhắc nhở rằng mình đã chờ đợi quá lâu, cũng lại như trấn an vị quân vương trẻ tuổi đang ruột gan rối bời.

“Ái khanh!” Tuyên Vương lúc này cũng đã định thần, dừng bước chân lại. “Người Ngụy nói đánh là đánh ngay, khanh hãy nói xem, tình hình hiện tại, quả nhân nên ứng phó thế nào?”

“Quân tới tướng chặn, nước tới đất ngăn.” Công Trọng Xỉ gằn mạnh từng chữ.

“Ái khanh!” Tuyên Vương âu lo thấp thỏm. “Điều này thì quả nhân biết! Thế nhưng… đối thủ của chúng ta là võ binh Đại Ngụy, là Bàng Quyên, biết lấy gì để đối chọi đây? Biết dùng ai để chống đỡ Bàng Quyên đây? Hàn Cử ư? Thân Sai ư?”

“Thần nguyện làm chủ tướng, chống lại Bàng Quyên!”

“Khanh…” Tuyên Vương hít sâu một hơi, hai mắt nhìn sững vào Công Trọng Xỉ.

“Đại vương lẽ nào không tin vi thần?”

“Ồ!” Tuyên Vương cười gượng một tiếng, khẽ lắc đầu. “Ái khanh, đây là dẫn quân đánh trận, động đến đao thương đấy ái khanh…”

“Thần hiểu!” Công Trọng Xỉ bình thản đáp. “Thần tuy không giỏi đao thương, song có thể bày mưu tính kế trong trướng.”

“Dám hỏi ái khanh, sẽ dùng kế sách gì để đối phó với Bàng Quyên?”

“Tường cao hào sâu, lấy nhàn đối nhọc, tạm thời ứng phó, để chờ chi viện từ bên ngoài!”

“Chi viện từ bên ngoài?” Tuyên Vương lại cười não nề. “Ai tới chi viện đây? Người Sở ư? Người Tề ư? Người Triệu ư?”

“Đúng vậy!”

“Than ôi!” Tuyên Vương thở dài thườn thượt. “Ái khanh, khanh là lão thần, sao vẫn còn ngây thơ đến thế? Người Sở xưa nay bất hoà với ta, xây Phương Thành ở phía nam nước ta, thời cơ chưa thích hợp thì co đầu rụt cổ trong thành, đến lúc thời cơ thích hợp lại xông ra quấy nhiễu ta, cứ như hổ đói rình rập bên mình. Sau cuộc chiến Hàm Đan, người Triệu tổn thương nặng nhất, dù muốn cứu viện cho ta, cũng lực bất tòng tâm. Người Tề vốn có thể nhờ cậy, song Điền Kỵ bỏ đi rồi, Tôn Tẫn thì đột tử, không còn ai địch nổi Bàng Quyên nữa.”

“Đại vương!” Công Trọng Xỉ vẫn bình thản đáp. “Thần lại không nghĩ vậy. Thần cho rằng, người Ngụy phạt ta, ba nước Sở, Triệu, Tề ắt sẽ xuất binh cứu trợ, có ba lý do.”

“Ái khanh xin hãy nói rõ!” Tuyên Vương nhổm người về phía trước.

“Người Ngụy nợ tiền không trả, cậy mạnh phạt ta, là mất công nghĩa với thiên hạ. Mất công nghĩa với thiên hạ, thiên hạ cùng diệt, là đạo lý xưa nay, đây là lý do thứ nhất. Minh ước sáu nước hợp tung còn chưa bỏ, Ngụy lại hết lần này đến lần khác cấu kết với địch, thảo phạt nước hợp tung, rõ ràng khinh khi tung ước, đã mất chính nghĩa với thiên hạ. Mất chính nghĩa với thiên hạ, thiên hạ cùng diệt, là đạo lý xưa nay, đây là lý do thứ hai.”

Tuyên Vương cười buồn, nói: “Từ thời Xuân Thu đã không còn chữ nghĩa, huống hồ là ngày nay.”

“Đại vương nói chính phải!” Công Trọng Xỉ trầm giọng đáp lời. “Đừng nói là thời Xuân Thu, dù thời Tam Hoàng Ngũ Đế, thiên hạ cũng không có chiến tranh vì nghĩa. Tuy nhiên, duy có chữ nghĩa là cái cớ xuất binh tốt nhất, dấy binh chinh phạt, không thể thiếu chữ này. Người Ngụy thất nghĩa, chưa chiến đã kém thế rồi!”

“Được rồi!” Tuyên Vương không tranh luận nữa, nhìn Công Trọng Xỉ hỏi. “Hai lý do vừa rồi đều là chữ nghĩa, lý do thứ ba hẳn là chữ lợi!”

“Đại vương thánh minh!” Công Trọng Xỉ vòng tay đáp. “Tam Tấn giao chiến, có lợi cho cường Tần, bất lợi cho Tề, Sở. Tề, Sở bất lợi, ắt không chịu ngồi nhìn, lần trước người Tề vây Ngụy cứu Triệu, có thể thấy được đạo lý này. Tam Tấn lãnh thổ đan cài khăng khít, nương tựa vào nhau, môi hở thì răng lạnh, người Ngụy phớt lờ tình hữu hảo xưa nay, trước phạt Triệu, sau phạt Hàn, người Triệu phẫn nộ đã lâu, ắt sẽ xuất binh cứu ta.”

“Vậy thì tốt quá, quả nhân sẽ lập tức sai sứ đi cầu viện Tề, Sở, Triệu!”

“Theo ý thần, đại vương không cần thiết phải cầu viện ba nước này!”

“Ồ?” Tuyên Vương kinh ngạc. “Đã muốn ba nước ra tay cứu trợ, lại không cho quả nhân đứng ra cầu viện, ái khanh, rốt cuộc khanh muốn quả nhân làm gì đây?”

“Đại vương chỉ cần làm một việc.” Công Trọng Xỉ điềm nhiên nói. “Bình tĩnh ung dung, cố thủ chờ cứu viện!”

“Vậy… ai sẽ đi xin cứu binh đây?”

“Tướng quốc sáu nước, Tô Tần người Lạc Dương!”

Tuyên Vương trong lòng chấn động, ngẩng phắt lên hỏi: “Tô tướng quốc hiện đang ở đâu?”

“Có lẽ vẫn ở Hàm Đan.”

“Phái người ruổi ngựa báo cho Tô Tần!”

“Thần tuân chỉ!”

“Còn nữa, cuộc chiến chống Ngụy, ái khanh nếu là chủ tướng, ai sẽ là phó tướng?”

“Hàn Cử.”

***

Vốn dĩ chẳng cần báo tin, Tô Tần sớm đã hay tin ngay từ khi nước Ngụy xuất binh, là do Công Tôn Diễn sai người mang thư tới. Công Tôn Diễn làm theo uỷ thác của Chu Uy.

Hiển nhiên, việc Bàng Quyên, Trương Nghi hợp mưu phạt Hàn đã không được lòng người Ngụy.

Tô Tần vắt óc suy tính. Nhìn vào cục thế trước mắt, có thể địch nổi Bàng Quyên, chỉ mình Tôn Tẫn. Nhớ tới Tôn Tẫn, trước mắt Tô Tần bỗng vụt hiện ra hoàn thuốc kia. Tiên sinh sai tiểu đồng mang thuốc tới cho Tôn Tẫn, hiển nhiên đã đoán trước mọi chuyện sau này. Nghĩ đến phương thuốc của Quỷ Cốc Tử, Tô Tần bỗng có dự cảm chẳng lành. Nếu Tôn Tẫn tái xuất, thì Bàng Quyên coi như đến hồi chung cục.

Nghĩ tới hai chữ “chung cục”, Tô Tần bất giác rùng mình ớn lạnh.

Tuy nhiên, sự việc đã đến nước này, Tô Tần cũng chẳng còn biết phải làm sao. Trương Nghi xúi bẩy, Bàng Quyên ỷ mạnh, hai người cấu kết, không những gây trở ngại cho đại nghiệp hợp tung, mà còn gieo mầm hoạ cho thiên hạ. Mà tất cả những điều này, lại đều bắt nguồn từ việc năm xưa mình đã cố tình sắp đặt để tiến cử Trương Nghi.

Sớm biết như vậy, hà tất xưa kia. Tô Tần cười buồn một tiếng, khép hờ đôi mắt. Tất cả đều là tạo nghiệp, tất cả đều là số mệnh an bài. Nhớ lại quẻ bói của Quỷ Cốc Tử khi lần đầu tiên gặp mình trên phố Lạc Dương, và những chứng nghiệm sau này, Tô Tần không thể không tin vào thiên mệnh. Đã là thiên mệnh an bài, Tô Tần hắn hà cớ chi lại làm trái ý trời?

Tô Tần suy nghĩ lao lung suốt một đêm ròng, cuối cùng chủ ý đã quyết, bèn lên đường tới Tống.

Tô Tần nói đi là đi ngay, Thu Quả ngỡ ngàng chết lặng.

Thấy Tô Tần đã bước ra tới cổng, xe ngựa của Trâu Phi Đao chờ sẵn bên ngoài, Thu Quả đang sững sờ đột nhiên hét to một tiếng: “Gượm đã!” Rồi quay người chạy vào phòng, tiện tay quơ nháo nhào một gói hành trang, lại vội vã chạy đuổi ra ngoài.

“Thu Quả?” Tô Tần nhìn sững vào nàng.

“Quả Nhi cũng muốn đi!”

“Có biết cha đi đâu không?” Tô Tần cười hỏi.

“Không biết!”

“Không biết vẫn muốn đi theo?”

“Quả Nhi… Quả Nhi không biết tiên sinh đi đâu, nhưng Quả Nhi biết tiên sinh đi xa. Quả Nhi… Quả Nhi không muốn ở nhà một mình!” Thu Quả mím môi. “Quả Nhi nghĩ kỹ rồi, từ nay về sau, tiên sinh đi đâu, Quả Nhi sẽ theo đó!”

“Ồ…” Tô Tần lo lắng. “Cha tới Tống, đường đi trắc trở gian nan, con phận nữ nhi, đi thế nào được!”

“Nghĩa phụ!” Thu Quả đã tìm ra lý do. “Chính vì trắc trở gian nan, Quả Nhi mới phải đi theo, bên cạnh nghĩa phụ không thể thiếu Quả Nhi, bên cạnh Quả Nhi cũng không thể thiếu nghĩa phụ!”

Thấy Thu Quả liên miệng gọi “nghĩa phụ” và sự quan hoài của Thu Quả dành cho mình, trong lòng Tô Tần bỗng trào dâng một cảm giác lạ lùng, không tránh khỏi niềm chua xót.

“Quả Nhi!” Tô Tần nhìn thẳng vào nàng, nói. “Cha đi lần này, trước hết tới Tống, sau đó tới Lâm Truy, xa xôi nghìn dặm, dãi gió dầm sương, con phận nữ nhi yếu đuối, nếu như đi theo, chưa tính đến vất vả nhọc nhằn, mà còn có nhiều bất tiện. Con hãy về đi, đợi cha tới Lâm Truy ổn định rồi, sẽ bảo Trâu thúc quay lại đón con!”

“Trâu thúc?” Thu Quả nhìn sang Trâu Phi Đao cười dịu dàng. “Quả Nhi chỉ gọi là Trâu đại ca thôi! Trâu đại ca, đúng không?” Rồi ném phắt túi hành lý lên xe, nhún nhẹ một cái, đã đứng vững vàng trước mặt Tô Tần.

Trâu Phi Đao cũng cười, rồi ra roi thúc ngựa.

“Quả Nhi!” Tô Tần kinh ngạc nhìn Thu Quả. “Con biết võ công?”

“Vâng!” Thu Quả cười nói. “Quả Nhi chỉ biết một môn công phu, phi thân!”

“Công phu tuyệt diệu, học lúc nào thế?”

“Lần trước nghĩa phụ tới Yên, nghĩa phụ nói một tháng sẽ trở về, nào ngờ đi liền ba tháng, Quả Nhi rảnh rỗi không có việc gì làm, đã bái sư Viên đại ca học võ. Viên đại ca hỏi Quả Nhi muốn học công phu gì, Quả Nhi nói, chỉ học một công phu, là phi thân. Vừa rồi để lộ một ngón, khiến nghĩa phụ đại nhân chê cười rồi.”

“Phi thân được lắm.” Tô Tần khen ngợi. “Nói thử xem, vì sao muốn học công phu này?”

“Ngộ nhỡ có người hành thích nghĩa phụ, Quả Nhi nhảy vọt lên cao, có thể đỡ ám khí cho nghĩa phụ!” Thu Quả nghiêng mặt nhìn Tô Tần.

“Quả Nhi…” Tô Tần trong lòng chấn động, kêu lên. “Con đừng có ngốc nghếch như thế, sẽ không có ai hành thích cha đâu!”

“Quả Nhi chỉ nói ngộ nhỡ thôi mà!”

Mấy người trò chuyện rôm rả suốt dọc đường đi, chưa tới bảy ngày, xe ngựa đã đến Định Đào, dừng lại bên ngoài một con ngõ nhỏ. Trâu Phi Đao dẫn ngựa đi nghỉ ngơi, còn Tô Tần, Thu Quả vào trong con ngõ, gõ một cánh cửa gỗ đơn sơ.

Người mở cửa là Mộc Thực.

Hai người theo Mộc Thực tới hậu viện, thấy Tôn Tẫn và Thuỵ Mai nhàn tản ngồi trong sân, vui vẻ nhìn ngắm Tôn Nam đang chập chững tập đi. Con gái Tôn Cúc cầm một quả bóng gỗ sơn màu sặc sỡ, đứng nhử trước mặt Tôn Nam, Tôn Nam đứng im, Tôn Cúc cũng đứng im, Tôn Nam đi một bước, Tôn Cúc cũng lùi lại một bước. Thấy Tôn Nam đã sắp đuổi kịp, Tôn Cúc lại lùi vài bước, Tôn Nam rối lên, lao lên phía trước, song Tôn Cúc né sang một bên, khiến Tôn Nam ngã sấp xuống đất, khóc toáng lên. Tôn Cúc ném vội quả bóng gỗ đi, chạy lại định đỡ em dậy, song Tôn Tẫn đã ho khẽ một tiếng ngăn lại. Tôn Cúc bèn nhặt quả bóng lên, huơ huơ trước mặt Tôn Nam. Tôn Nam ngẩng đầu, quay sang nhìn Thuỵ Mai, nhưng Thuỵ Mai ngoảnh đi chỗ khác; lại nhìn Tôn Tẫn, Tôn Tẫn cũng nhắm mắt làm ngơ. Tôn Nam đành phải nín khóc, lồm cồm bò dậy, đứng lên.

Tô Tần vỗ tay khe khẽ.

“Tô huynh!” Tôn Tẫn ngoái đầu lại, mừng rỡ reo lên.

Tô Tần vái chào, nói: “Tô Tần bái kiến Tôn huynh, bái kiến tẩu phu nhân!”

Vợ chồng Tôn Tẫn đáp lễ, rồi cùng nhìn vào Thu Quả.

“Tôn bá phụ, Tôn bá mẫu, Quả Nhi xin có lễ!” Thu Quả khom lưng vái thật sâu.

“Đây là Thu Quả?” Thuỵ Mai hỏi.

“Vâng!” Thu Quả đáp lời. “Quả Nhi từ lâu đã nghe nghĩa phụ kể về Tôn bá phụ, Tôn bá mẫu, hôm nay được gặp, thực là vạn hạnh cho Quả Nhi!”

Thuỵ Mai bước tới trước mặt Thu Quả, ngắm nghía một hồi rồi khen ngợi: “Cô bé thật xinh đẹp, thảo nào Tô huynh thường xuyên nhắc tới!”

“Thật ư?” Thu Quả lộ vẻ mừng rỡ, vội hỏi. “Nghĩa phụ nhắc tới Quả Nhi khi nào? Nhắc như thế nào kia?”

Thuỵ Mai cười vui vẻ, thuật lại những chuyện Tô Tần đã kể về việc Thu Quả mấy lần cứu sống Tô Tần. Tôn Tẫn biết Tô Tần có việc mới tới đây, thấy hai người đang chuyện trò rôm rả, thì ra hiệu cho Mộc Thực đẩy xe lăn đi, cùng Tô Tần trở vào phòng khách trò chuyện.

“Tô huynh tới đây, hẳn là vì chuyện nước Hàn?” Tôn Tẫn nói thẳng vào chuyện chính.

“Đúng vậy!” Tô Tần kể sơ qua cục thế hiện tại, rồi lấy bức thư của Chu Uy ra, nói. “Đây là thư do Chu thượng khanh nhờ Công Tôn Diễn chuyển tới. Trương huynh đã đuổi Huệ Thi, bức Bạch Hổ bỏ Ngụy ra đi, Chu thượng khanh cũng cáo bệnh không lên triều. Trương huynh và Bàng huynh hợp sức liên hoành, phá hoại hợp tung của ta, dẫn tới chiến hoạ liên miên, thiên hạ không được yên bình. Bàng Quyên nay lại phạt Hàn, khiến sinh linh thêm đồ thán, hợp tung lần nữa lâm nguy. Khối nhọt mủ này, không thể không nặn bỏ. Người cản được Bàng Quyên, hiện chỉ có Tôn huynh, tại hạ tới đây, chính là để bàn kế cứu Hàn.”

“Than ôi!” Tôn Tẫn than thở. “Thực đúng là vận mệnh trêu ngươi. Tiên sinh sớm đã lường trước mọi chuyện, giữa tại hạ và Bàng huynh, xem ra đã không còn đường lui nữa, chỉ có thể quyết chiến mà thôi. Tại hạ chỉ lo lắng một điều, chính là dụng binh nơi nào, Tô huynh hẳn đã tính tới?”

“Không giấu Tôn huynh,” Tô Tần đáp lời, “nước Triệu vẫn chưa thể phục hồi sau trận chiến Hàm Đan, có thể xuất binh, song không đủ sức chiến đấu. Sở Vương băng hà, nước Sở tang tóc, hiện tại, Tôn huynh có thể dùng được, e vẫn chỉ có quân Tề!”

“Nhìn vào tình thế hiện tại, nước Ngụy đã như tên bắn hết tầm, võ binh cũng đã hết thời, đáng tiếc Bàng huynh vẫn không tỉnh ngộ, cứ hiếu dũng cậy mạnh như trước, không hiểu thời thế, một mực mơ tưởng giấc mộng Ngô Khởi năm xưa. Tại hạ có được quân Tề, đã đủ chống Ngụy, chỉ có điều…” Tôn Tẫn ngập ngừng.

“Tôn huynh cứ nói!”

“Trong trận Quế Lăng, quân năm đô có phần sợ hãi ý chí liều mình quyết tử của võ binh Ngụy, lại thêm Điền Kỵ bị hãm hại phải bỏ trốn, chẳng còn ai chế phục được quân năm đô nữa. Nếu giao chiến với Ngụy, Điền Kỵ tướng quân buộc phải trở về.”

“Điền Kỵ tướng quân hiện đang ở quận Uyển nước Sở, Khuất Tương Tử là người Sở, tại hạ đã phái Mộc Hoa báo tin cho Khuất Tương Tử. Khuất tiền bối sẽ đích thân ra mặt, tới Sở đón Điền tướng quân về.”

“Vậy thì tốt quá. Chúng ta sẽ ở đây đợi Điền tướng quân chăng?”

“Còn có một chỗ khó, chính là cung đình nước Tề. Quế Lăng thắng trận, đối với người Tề, chính là rửa được mối nhục Hoàng Trì, nay muốn nước Tề xuất binh lần nữa, chúng ta vẫn phải bỏ chút công sức! Tiếp nữa chính là chỗ Trâu tướng quốc, ông ta tuyệt đối sẽ không đồng ý xuất binh, huống hồ chúng ta lại mời Điền tướng quân quay về, khác nào đòi mạng ông ta!”

“Hiện tại không thể nghĩ nhiều đến vậy, tại hạ sẽ lập tức cùng Tô huynh tới Lâm Truy!”

***

Sở Uy Vương cuối cùng vẫn chết vì đan dược, là do một tiên nhân tên gọi Lăng Hư Tử ban cho, nghe nói uống vào có thể tóc hạc da hồng, cải lão hoàn đồng. Sở Uy Vương uống liền ba tháng, xem ra đúng là tóc hạc da hồng thực, thậm chí một độ hùng phong tái khởi, một đêm lâm hạnh năm lần vẫn không biết mệt. Song ngày tốt không dài, chưa đầy nửa năm, đầu tiên lỗ mũi chảy máu, tiếp đến đi tiểu ra máu, cuối cùng đại tiện ra máu. “Tiên nhân” trốn bặt tích, thần y khắp nơi đổ xô về, châm cứu thuốc thang đủ cả, song đều vô hiệu. Vào đúng ngày Hạ chí năm đó, Uy Vương băng hà ở đài Chương Hoa, nơi ông ta đã hưởng thụ đủ mùi cực lạc nhân gian.

Ba ngày sau, Hùng Hoè lên ngôi kế vị, quay mặt về nam xưng vương, đại xá thiên hạ, chiếu lệnh cả nước chịu tang. Ở nước Sở, chịu tang vua là đại sự hệ trọng, còn hơn cả chuyện chinh phạt. Phụ trách tang sự, đương nhiên là lệnh doãn Chiêu Dương, mà trợ thủ đắc lực giúp ông ta lo liệu mọi việc trước sau, đương nhiên là thượng khanh nước Tần Trần Chẩn hiện đang làm khách nước Sở, vốn rất thông thạo lễ nghi Trung Nguyên.

Từ sau vụ Thương Ngô Tử, Trần Chẩn thất sủng ở cung Sở, dù là Uy Vương hay thái tử, đều tỏ ra lạnh nhạt với ông ta, chỉ còn một mình Chiêu Dương là vẫn đối đãi như trước, song với Trần Chẩn, chỉ một Chiêu Dương đã quá đủ rồi. Đất Sở tuy rộng, song chẳng qua cũng chỉ ba dòng tộc, mà trong ba dòng tộc này, thao túng quyền bính Đại Sở hiện nay chính là họ Chiêu. Có họ Chiêu là có được Sở, được Sở là được thiên hạ, huống hồ hiện tại Trần Chẩn đã ngũ tuần, qua cái tuổi tung hoành thiên hạ từ lâu, tìm được một chỗ an thân trong thời loạn lạc, được chút nể vì, có miếng cơm ăn, là đã mãn nguyện lắm rồi.

Trần Chẩn đang tất bật vì họ Chiêu, bất đồ nhận được thư tay của Tần Huệ Vương do một người thần bí mang tới. Trong thư, trước tiên là những lời khách sáo, sau đó khẩn thiết cậy nhờ Trần Chẩn làm thêm hai việc cho Tần. Thứ nhất là tìm cách cản trở không cho Điền Kỵ về Tề, thứ hai là đuổi Huệ Thi khỏi Sở. Gửi kèm theo thư còn có một trăm hoàn vàng và một ít báu vật đất Tần.

Nhìn vào thư tay của Huệ Vương, lại ngẫm tới cục thế trước mắt, Trần Chẩn đoán chừng: “Hai sứ mệnh này đều có liên quan tới nước Ngụy, hẳn là do tay Trương Nghi kia xúi bẩy sau lưng. Nếu Ngụy phạt Hàn, người Tề ắt sẽ cứu viện, mà chỉ có Điền Kỵ mới có thể cầm quân. Nay Điền Kỵ ở Sở, Trương Nghi kia muốn ta giữ Điền Kỵ lại, chẳng qua là muốn gây khó dễ cho việc xuất binh của người Tề. Còn đuổi Huệ Tử đi, lại là chuyện đáng hả lòng hả dạ. Huệ Tử tới Ngụy tranh mất chức tướng quốc của ta, khiến ta gặp phải bao điều ngang trái. Lần này lão ta bị Trương Nghi bức ép ra đi, lưu lạc tới Sở, ta ít nhiều thấy hả dạ, xem ra đã quá nhỏ nhen. Huệ Thi ngần ấy tuổi rồi mà không chịu về Tống an hưởng tuổi già, lại vượt nghìn dặm xa xôi lặn lội tới Sở, rõ ràng là nuốt không trôi cục tức này, muốn mượn Đại Sở chế Tần, đấu với Trương Nghi. Than ôi, trời đã ban Huệ Tử cho ta, thế mà ta lại liên tục phá đám lão trước mặt Chiêu Dương hết lần này tới lần khác, quả thực không nên.”

Nghĩ tới đây, Trần Chẩn cầm bút chấm mực, hồi âm một thư, viết rằng: “Thần nhận được thủ bút của đại vương, vừa băn khoăn vừa mừng rỡ. Thần băn khoăn là vì, Chẩn hãm hại Trương Nghi tại Sở là phụng mệnh đại vương. Đại vương dùng Nghi, mà Nghi không dung thứ Chẩn, đại vương tin nghe Nghi mà đuổi Chẩn tới Sở, khiến Chẩn phải lang thang phiêu bạt, hoang mang như chó mất nhà. Thần vui mừng là vì, đại vương hiểu Chẩn, giữ Chẩn, dùng Chẩn, che chở Chẩn, nỗi niềm nhớ nhung tha thiết, đều hiện cả trong thư. Đại vương mệnh cho thần hai việc, một là giữ Điền Kỵ ở Sở, hai là đuổi Huệ Thi khỏi Sở. Giữ Điền Kỵ, thần ắt tận lực. Còn đuổi Huệ Tử, thần lại có thỉnh cầu. Huệ Tử làm tướng quốc Ngụy đã nhiều năm mà một sớm lại bị đuổi đi, cùng chung số phận với Chẩn, làm khách khanh ở Sở, Chẩn thực không nỡ đuổi. Nếu đại vương nhất thiết phải đuổi Huệ Tử, thỉnh cầu hãy tìm người khác. Chút tình riêng mỏn mọn, mong đại vương ân chuẩn. Chẩn lần nữa dập đầu bái thỉnh.”

Trần Chẩn viết xong, làm thành mật thư, lại chia đôi số châu báu và trăm hoàn vàng mà Tần Vương ban tặng, giữ lại một nửa, còn một nửa cất cùng mật thư vào trong chiếc rương tinh xảo mà Tần Vương gửi tới, rồi đích thân niêm phong, giao lại cho kẻ thần bí vẫn đang ở trong sảnh đợi hồi âm.

Tiễn người Tần về rồi, Trần Chẩn thở phào một tiếng, thay phục trang, thủng thẳng đi tới Chiêu phủ.

***

Hàn Tuyên Vương lại không chịu nghe theo lời can gián của Công Trọng Xỉ, mà cắn rách ngón tay, viết huyết thư cầu cứu, sai bề tôi thân tín mang tới ba nước Tề, Sở, Triệu. Sở Vương đang lo tang sự trong cung, sứ Hàn chẳng còn cách nào khác, đành phải hai tay nâng huyết thư của Hàn Vương, học theo cách Thân Bao Tư cầu cứu Tấn năm xưa, quỳ trước phủ Chiêu Dương, khóc lóc thảm thiết cầu viện.

Sứ Hàn quỳ liền ba ngày, không ăn không uống, hai mắt chảy cả máu, khiến người Sở bàn tán xôn xao. Chiêu Dương sợ xảy ra chuyện, sai Hình Tài ra đón sứ Hàn, đích thân nhận lấy huyết thư của Hàn Vương, ngẫm nghĩ một lát, bảo Hình Tài đi mời Trần Chẩn và Huệ Thi lại, bàn bạc chuyện này. Chẳng hiểu vì sao, Chiêu Dương rất có thiện cảm với Huệ Thi, chỉ vì Trần Chẩn lời ra tiếng vào nên vẫn chưa dùng, song mọi chi tiêu của Huệ Thi tại Sở, đều do Chiêu phủ chu cấp.

Trần Chẩn chưa mời đã tự đến, Hình Tài vòng tay đón vào trung đường, hầu trà nước xong bèn đi mời Huệ Thi.

“Hai vị nhân huynh!” Đợi Huệ Thi tới nơi, Chiêu Dương mình mặc áo tang sải bước tiến vào, hành lễ xong xuôi, bèn trải huyết thư của Hàn Vương lên mặt bàn, nói. “Người Ngụy phạt Hàn, Hàn Vương gửi huyết thư cầu cứu. Cung Sở có đại tang, đại vương chẳng tâm trí nào nhìn đến, sứ Hàn cứ khóc lóc trước phủ tại hạ suốt mấy ngày trời, tại hạ bất đắc dĩ, đành nhận lấy huyết thư, còn ứng phó thế nào, tại hạ ngu muội, nên mời hai vị cao hiền tới đây cùng bàn bạc.”

Trần Chẩn cầm huyết thư lên xem kỹ lưỡng. Huệ Thi vẫn giống như khi ở Đại Lương, ngồi ngay ngắn trên chiếu, khép mắt lặng im.

“Kính thỉnh tiên sinh chỉ giáo!” Chiêu Dương biết Huệ Thi đã có chủ kiến, bèn vòng tay gọi đích danh.

“Hồi bẩm đại nhân!” Huệ Thi đáp lễ, nói. “Người Ngụy lần trước phạt Triệu, giờ lại phạt Hàn, xét từ thế nhỏ là bang quốc giao tranh, xét từ thế lớn là tung hoành tranh giành, kẻ chủ mưu đều là Trương Nghi nước Tần. Trương Nghi và Tô Tần cùng học ở Quỷ Cốc, song mỗi người một chí. Tô Tần luận tung, Trương Nghi lại luận hoành. Hoành, có lợi cho người Tần; tung, lại có lợi cho người Sở. Hoành mà thành, Tần sẽ xưng bá thiên hạ. Tung mà thành, Sở sẽ hiệu lệnh chư hầu!”

“Theo ý tiên sinh, ta hẳn nên cứu Hàn?”

“Lời tại hạ nói, chỉ là đại lý, còn cứu hay không, vẫn do đại nhân quyết định.”

“Tiên sinh đã nói là đại lý, thì hẳn sẽ còn tiểu lý. Tại hạ ngu muội, dám hỏi tiên sinh, tiểu lý là thế nào?”

“Tiểu lý sẽ thuận phục theo đại lý.” Huệ Thi dõng dạc nói. “Tần, Ngụy cấu kết, hợp thành thế hoành, lần trước phạt Triệu, hẳn là mưu Tề, lần này phạt Hàn, chính là mưu Sở. Bởi vậy người Tề nên cứu Triệu, người Sở nên cứu Hàn!”

“Ồ?” Chiêu Dương nhổm người về phía trước. “Xin hãy nói kỹ!”

“Người Tề hùng cứ ở phía đông, phía nam có thể tranh giành lưu vực sông Tứ, phía bắc có thể tranh giành Hà Gián, do lưu vực sông Tứ và Hà Gián đều là nước yếu, người Tề dễ dàng khuất phục. Người Tề lo sợ, vẫn là Tam Tấn. Nếu Tam Tấn hợp nhất, phía tây bất lợi cho Tần, phía đông bất lợi cho Tề. Bởi vậy Tam Tấn hợp tung theo Tô Tần, người Tề lại thuận theo, khiến cho ngọn lửa Tam Tấn hoà hợp sẽ thiêu đốt tới Tần phía tây. Người Tần liên hoành, giúp Ngụy diệt Triệu phạt Hàn, mục đích cũng là hợp nhất Tam Tấn. Tam Tấn nếu liên minh thêm Tần, ngọn lửa này ắt thiêu đốt tới Tề phía đông. Người Tề kinh sợ, nên mới dốc sức cứu Triệu.”

“Phạt Triệu có thể hiểu. Thế nhưng người Ngụy phạt Hàn, vì sao lại là giúp người Tần mưu Sở?”

“Người Ngụy phạt Hàn, tất sẽ đánh Trịnh Thành và Dương Địch. Người Hàn ở Nghi Dương ắt sẽ dốc sức cứu Trịnh Thành, cứu Trịnh Thành tất sơ hở, Tần ắt lợi dụng sơ hở mà tấn công. Nghi Dương là kinh đô sắt đồng, sánh ngang với quận Uyển nước Sở. Hiện tại, sắt và đồng mà người Tần sử dụng, quá nửa đến từ quận Uyển, còn hàng của Nghi Dương, đều cung cấp cho Tam Tấn, thậm chí còn bán tới tận nước Tề xa xôi. Nói cách khác, người Sở đang bóp chặt cần cổ của người Tần. Nếu người Tần có được Nghi Dương, không những không cần cậy nhờ đến Sở, ngược lại còn có thể khống chế Tam Tấn, tác động tới nước Tề giáp biển.”

Chiêu Dương nhìn sang Trần Chẩn, thấy Trần Chẩn đã đặt huyết thư của Hàn Vương xuống, bèn vòng tay nói: “Huệ Tử chủ trương cứu Hàn, ý thượng khanh thế nào?”

“Huệ tướng quốc nhìn xa trông rộng, tại hạ thán phục.” Trần Chẩn vòng tay đáp lời. “Tại hạ cho rằng, nếu tính kế vì hợp tung, đại nhân nên cứu Hàn; nếu tính kế vì người Sở, đại nhân nên ngồi xem Tam Tấn giao tranh; nếu tính kế vì đại nhân, nên dốc sức lo tang sự.”

Chiêu Dương nhắm mắt trầm ngâm, lát sau bèn nói: “Hai vị quả không hổ là cao hiền, lời ai cũng đều hữu lý, cho phép tại hạ suy nghĩ kỹ lưỡng, rồi sẽ quyết định sau!”

Huệ Thi cáo từ, Trần Chẩn cũng đứng dậy, song do trong lòng còn vướng mắc, định đi lại dừng, đang lúc chần chừ, thì Chiêu Dương vẫy tay nói: “Thượng khanh xin dừng bước.”

Trần Chẩn nhân thể ngồi luôn xuống.

Chiêu Dương tiễn Huệ Thi về, quay trở vào nói: “Ba kế Trần huynh vừa nói, đều rất hợp ý tại hạ, chỉ là Trần huynh nói quá ngắn gọn, tại hạ ngu dốt, kính mong Trần huynh giải thích rõ hơn!”

“Đại nhân băn khoăn nhất, có lẽ là kế cuối cùng ‘tính kế vì đại nhân’?”

“Chính phải!”

“Dám hỏi đại nhân,” Trần Chẩn nheo mắt hỏi, “dòng họ Chiêu được tiên vương sủng ái, hay là được đại vương đương kim sủng ái?”

“Ồ…” Chiêu Dương thoáng do dự. “Là được tiên vương sủng ái.”

“Dòng họ Chiêu sở dĩ được tiên vương sủng ái, là vì đại nhân được tiên vương sủng ái. Nay tiên vương băng hà, tân vương quay mặt về nam xưng vương, nước Sở, nói một cách nhẹ nhàng là mới cũ thay thế, nói một cách nặng nề là đất trời thay đổi. Đất trời thay đổi, đại nhân ở trong đó, liệu có thể không thích ứng với sự thay đổi của đất trời chăng?”

“Xin hỏi Trần huynh, tại hạ nên thích ứng thế nào?”

“Cung Sở đang có đại sự, là chuyện tang lễ. Nhiệm vụ cấp bách của đại nhân hiện nay, đương nhiên cũng là tang sự. Còn chiến tranh Hàn, Ngụy, lời Huệ tướng quốc không thể không nghe, song theo thần biết, người Tần tuyệt đối sẽ không thừa cơ tấn công Nghi Dương.”

“Vì sao?”

“Nghi Dương địa thế hiểm trở, dễ thủ khó công, nếu chiến sự nổ ra, thì người Hàn cũng đã có chuẩn bị từ trước, người Tần nếu tấn công, tất sẽ tổn thương gốc rễ, Tần Vương có ngốc nghếch đến đâu cũng sẽ biết tính toán chuyện sinh tử, chí ít trước mắt sẽ không dám mạo hiểm. Hơn nữa, Tần Vương cũng chỉ mong người Hàn điều hết binh lực tới, quyết một trận một mất một còn với người Ngụy. Huệ Thi nói ra lời này, hẳn là không hiểu Tần Vương.”

“Trần huynh nói rất đúng. Tuy nhiên, Hàn, Ngụy giao tranh, Hàn tất không địch nổi, nếu hai nơi Trịnh Thành và Dương Địch thực sự bị Bàng Quyên chiếm cứ, cũng là điều tại hạ không mong muốn.”

“Đại nhân bất tất phải lo lắng, tai ương của người Hàn, tự khắc sẽ có người giải cứu!”

“Không phải là người Tề chứ?”

“Người Tề không thể không cứu!”

Chiêu Dương hít sâu một hơi, hồi lâu sau mới nói: “Xin hãy nói rõ!”

“Nếu Tề không cứu Hàn, người Hàn ắt sẽ thất bại. Nếu người Hàn thất bại, thế Ngụy mạnh lên, sẽ chỉ bất lợi cho người Tề.”

“Phải!” Chiêu Dương vuốt râu đáp lời.

“Tuy nhiên, người Tề cứu Hàn, dù thắng dù bại, đều bất lợi cho người Sở.”

“Ồ?”

“Đất Tống ở Tứ Thượng, ruộng đồng màu mỡ, không chỉ người Sở nhòm ngó, mà người Tề, người Ngụy cũng thèm thuồng. Người Tề cứu Hàn, nếu Tề thất bại, đất Tống sẽ quy về Ngụy; nếu Ngụy thất bại, đất Tống sẽ quy về Tề. Nếu như người Sở chỉ ngồi yên quan sát, tâm huyết bao năm của đại nhân cũng sẽ đổ xuống sông xuống biển.”

“Thượng khanh hẳn có diệu kế?”

“Có lợi cho Sở chỉ có một cục diện, không để người Tề xuất binh.”

“Ồ… làm thế nào mới khiến người Tề không xuất binh?”

“Giữ Điền Kỵ lại!” Trần Chẩn trầm giọng đáp. “Tôn Tẫn đã chết, nước Tề nếu cứu Hàn, buộc phải trọng dụng lại Điền Kỵ. Chẩn khuyên đại nhân, nhất thiết không được để Điền Kỵ về Tề!”

Thấy Trần Chẩn vòng vo một hồi, cuối cùng dừng lại ở Điền Kỵ, Chiêu Dương thở phào một tiếng, cười nói: “Thượng khanh mưu hay, song lại không hiểu việc quân, đã khuếch trương Điền Kỵ thái quá rồi. Theo tại hạ biết, Điền Kỵ còn xa mới là đối thủ của Bàng Quyên, lần trước thắng ở Quế Lăng, là công của Tôn Tẫn.”

“Chẩn không cho là vậy.” Trần Chẩn đáp. “Điền Kỵ tuy không phải đối thủ của Bàng Quyên, song cũng là mãnh tướng liệt quốc, hai lần giao chiến Bàng Quyên một thắng một bại. Bàng Quyên tuy mạnh, song thế Ngụy đã suy, đặc biệt sau hai trận chiến Hàm Đan và Quế Lăng, khác nào như tên mạnh hết tầm. Nếu không ngoài dự đoán của tại hạ, lần này Bàng Quyên dụng binh, là dựa vào sức người Tần. Mượn lực chinh phạt, lực tất không đạt, huống hồ nước Ngụy vô duyên vô cớ phạt Hàn, chính là khởi binh phi nghĩa, chưa chiến đã mất khí thế trước. Người Hàn bảo vệ nước nhà, tất sẽ liều mạng quyết chiến. Hai quân tương đương, chỉ cần có ít nhiều viện trợ bên ngoài, chiến cục ắt sẽ thay đổi. Thế nhưng, nếu Điền Kỵ không về Tề, Tề không thể nắm chắc phần thắng, Tề Vương kiêng dè Bàng Quyên, có lẽ không dám xuất binh. Nếu Điền Kỵ về Tề, Tề Vương có lẽ sẽ xuất binh, Tề, Hàn hợp lực, có thể thắng Ngụy. Người Tề thắng Ngụy, thế Tề ắt mạnh, quay đầu lại tranh Tống với đại nhân, đại nhân sẽ ứng phó thế nào?”

“Thù gần của Sở, chỉ có Hình Sơn, Điền Kỵ đánh Ngụy, đáng ra có lợi cho Sở mới phải. Trần huynh thử nghĩ mà xem, nếu Điền Kỵ thắng Bàng Quyên, tại hạ có thể thuận thế thu hồi Hình Sơn. Điền Kỵ không thắng Bàng Quyên, Tề, Ngụy đều tổn thương, tại hạ hẳn có thể thừa cơ phạt Tống!”

“Đại nhân đã có ý này, Chẩn xin hiến một kế, có lẽ càng hợp ý đại nhân.”

“Trần huynh cứ nói.”

“Chỉ cần Điền Kỵ không về Tề, người Tề sẽ không cứu Hàn. Nước Hàn gần đây không có đại chiến, nguyên khí vẫn còn, Ngụy thì lại khác, Hàn, Ngụy một chín một mười. Hai nước đối địch giao tranh, hoặc là cả hai cùng tổn thất, hoặc là Hàn không địch nổi Ngụy. Bất luận kết quả thế nào, tướng quân đều có thể nhân lúc Hàn, Ngụy bận bịu chiến sự mà lơ là đề phòng, vứt bỏ Hình Sơn, đột kích Tương Lăng. Tương Lăng cách biên giới Hàn khá xa, người Ngụy dù thắng hay bại, đều không thể kiêm cả hai nơi. Nếu tướng quân được Tương Lăng, thứ nhất có thể trả mối thù cũ Hình Sơn, thứ hai có thể bảo toàn cho người Hàn, thứ ba có thể hất cẳng người Ngụy, uy hiếp biên giới Tống, tranh giành Tống với người Tề.”

“Trần huynh nói chí phải!” Chiêu Dương đáp. “Chỉ có điều, Điền Kỵ rất thân thiết với Cảnh Xá, sau khi tới Sở, vẫn sống trong Cảnh phủ, nghe nói người này hiện đang ở Uyển Thành. Uyển Thành cách đây khá xa, tại hạ roi dài khó với, làm sao ngăn hắn về Tề được?”

“Đại nhân không cần ngăn cản.” Trần Chẩn đáp. “Điền Kỵ dù gì cũng là mãnh tướng nức tiếng liệt quốc, nay tới Sở, sao có thể ăn nhờ ở đậu mãi nhà người khác? Là mãnh tướng thì nên trọng dụng, đại nhân có thể tấu thỉnh đại vương gia phong Điền Kỵ làm Thượng Dung Quân, cho ông ta trấn giữ Thượng Dung. Đất Thượng Dung ở Hán Trung, là trọng trấn vùng biên giới tây bắc, lại chịu sự cai quản của họ Khuất. Điền Kỵ thân với Cảnh phủ, song lại xa lạ với Khuất phủ. Điền Kỵ khuất mình tới Sở, phải ăn nhờ ở đậu, nay được tướng quân tiến cử, ắt sẽ cảm kích ân đức của đại nhân. Đại nhân làm như vậy, ngoài có thể chế Tần, trong có thể chế họ Khuất, lại thêm thu phục được danh tướng Điền Kỵ, thực là một công ba việc!”

Trần Chẩn phân tích cặn kẽ, suy nghĩ chu toàn không một kẽ hở, khiến Chiêu Dương nghe mà gật đầu lia lịa, thán phục mà rằng: “Tuyệt diệu, cứ làm theo ý thượng khanh!”

***

Tại kinh đô Lâm Truy nước Tề, Tô Tần bố trí cả nhà Tôn Tẫn sống trong phủ trạch của mình tại Tắc Hạ, rồi vào cung yết kiến.

Cung Tề vẫn do thái tử chấp chính. Tô Tần nêu chuyện cứu viện Hàn, Tích Cương lệnh cho Tô Tần về phủ chờ chỉ, rồi triệu đám trọng thần Trâu Kỵ, Điền Anh, Đoạn Can Luân, Trương Cái vào cung nghị sự.

“Chư vị ái khanh!” Điền Tích Cương khẽ vòng tay, nói. “Nước Hàn gặp nạn, mấy ngày trước, Hàn Vương gửi huyết thư tới cầu cứu ta, nay tướng quốc sáu nước Tô Tần lại tới, cũng là bàn chuyện cứu Hàn. Cứu, hay không cứu? Nếu cứu, thì cứu thế nào? Nếu không cứu, thì trả lời sứ Hàn và Tô Tử ra sao? Hưng binh động chúng, là đại sự của quốc gia, Tích Cương ngu dốt, không dám tuỳ tiện quyết định, kính thỉnh chư vị hiến kế sách!”

Tích Cương nói xong, hồi lâu vẫn không có ai lên tiếng.

Trong số quyền thần, Trâu Kỵ quyền cao chức trọng, lại vừa mất đi ái tử trong cuộc chiến với Ngụy lần trước, giờ vừa nghe nói đến chuyện đánh Ngụy, cộng thêm lão thần tiền triều Trương Cái cũng có mặt, thì sắc diện hơi sầm xuống, liếc Trương Cái một cái, khép hai mắt lại, lặng thinh không ừ hữ gì. Điền Anh là phó tướng phạt Ngụy lần trước, sau khi Điền Kỵ bỏ đi đã kiêm luôn ngôi chủ tướng, thấy Trâu Kỵ như vậy, biết ông ta vẫn tức giận chuyện trước đây, nên chỉ mấp máy miệng vài cái rồi lại im bặt. Chỉ còn lại hai người, là Đoạn Can Luân và Trương Cái, tuy đều là chức nhàn quan trong triều, song đều mang danh vị thượng khanh, chuyên tham nghị những chuyện khó quyết. Đoạn Can Luân vốn là người Ngụy, tổ tiên là Đoạn Can Mộc từng được phong làm quốc sư dưới thời Ngụy Văn Hầu. Sau thời Văn Hầu, dòng họ Đoạn Can thất sủng, tới thời Huệ Hầu, hậu duệ họ Đoạn Can đa phần bỏ quê hương đi. Đoạn Can Bằng tới Tề, được Hoàn Công bái làm thượng khanh, con trai Đoạn Can Luân tập ấm chức vị của cha, trở thành thượng khanh của Uy Vương, cha con đều được Tề thất họ Điền hậu đãi. Trương Cái là cựu thần thời Hoàn Công, năm xưa Sở Vương cấu kết với Lỗ Công phạt Tề, Trương Cái phụng mệnh đi sứ sang Lỗ, chỉ nhờ miệng lưỡi đã khiến Lỗ Công không xuất binh. Người Sở thấy người Lỗ không động binh, cũng rút quân đình chiến, vì thế mà trở thành giai thoại dùng miệng lưỡi đánh lui quân địch, nay tuổi đã xế chiều, từ lâu không dự vào quốc sự nữa. Nghị sự lần này, Tích Cương đặc biệt cho vời ông ta tới, thứ nhất là muốn nghe ý kiến, thứ hai cũng là muốn nhờ vào uy vọng của ông ta để trấn áp Trâu Kỵ, bởi lẽ gần đây, thái tử ngày càng tin chắc Điền Kỵ đã phải chịu oan khuất, mà Trâu Kỵ chính là thủ phạm gây ra nỗi oan ức này, nên những chuyện liên quan tới Ngụy, không thể chỉ nghe mình Trâu Kỵ.

“Thần cho rằng,” thấy không khí lặng phắc, Đoạn Can Luân bèn lên tiếng trước, “người Ngụy lần trước phạt Triệu, nay lại phạt Hàn, hoàn toàn dựa vào thế Tần. Tần, Ngụy hợp sức, Tam Tấn chia lìa, người Ngụy dù là diệt Triệu hay diệt Hàn, đều bất lợi cho ta. Ta đã từng cứu Triệu, thì nay cũng nên cứu Hàn.”

Đoạn Can Luân mở miệng đã muốn cứu Hàn, Trâu Kỵ nhịn không nổi, mở mắt ra nói: “Hàn là nước hợp tung, nay gặp nạn, thân là một nước hợp tung, theo lý ta nên cứu. Tuy nhiên, cứu thế nào, cần bàn kế sách. Nước hợp tung không phải chỉ mình ta, nếu không nằm ngoài dự liệu của thần, huyết thư của Hàn Vương hẳn đã tới tay Triệu Vương, Sở Vương. Đã đều là nước hợp tung, người Triệu vì sao không cứu? Người Sở vì sao không cứu? Lại nói Tô Tần, đã là ngoại tướng sáu nước, đương nhiên cũng là ngoại tướng nước Tề. Thế nhưng, nhìn vào cách hành sự của hắn, thoạt tiên thiên vị Yên, sau thiên vị Triệu, nay lại thiên vị Hàn, rất ít khi nghĩ cho ta. Lần trước đại vương nghe theo người này, khởi binh cứu Triệu, kết quả thế nào? Ta một tấc đất cũng không giành được, đã thương vong gần ba vạn tướng sĩ, lương thảo quân nhu hao tổn lại càng nhiều không kể xiết, chỉ có thành công duy nhất là cứu được Triệu thoát khỏi tai ương.”

Trâu Kỵ lời lẽ quyết liệt, không những phủ nhận hợp tung, lại còn tỏ ra bất mãn với Tô Tần, quần thần có mặt thảy đều ngỡ ngàng, bầu không khí một lần nữa lặng im phăng phắc.

“Tam Tấn và ta,” Trâu Kỵ rõ ràng chưa chịu dừng, tiếp tục khảng khái tâu bày, “tuy là môi răng, song lại không nương tựa vào nhau, lần trước ta cứu Triệu, hôm khác Triệu vẫn có thể dẫn binh vào ta. Nay ta cứu Hàn, đạo lý cũng vậy. Thần thấy, hoạ của người Hàn, chi bằng không cứu!”

Không cứu người Hàn, rõ ràng không phải là điều Tích Cương mong muốn. Thấy chư tướng không ai nói gì, Tích Cương hít sâu một hơi, nhìn sang Trương Cái.

“Thần đồng ý với Đoạn Can Tử.” Trương Cái vuốt chòm râu dài, lời lời như chém đinh chặt sắt. “Bất luận có thừa nhận hay không, nay thiên hạ đã ở trong đại cục tung hoành. Hợp tung, bất lợi cho Tần; liên hoành, lại bất lợi cho ta. Tam Tấn phân hợp, không chỉ liên quan tới cách cục hợp tung, liên quan tới tương lai thiên hạ, mà còn liên quan tới lợi ích thiết thân của ta. Liệt quốc thiên hạ, Tam Tấn ở giữa. Tam Tấn, người Ngụy ở giữa. Nước Tần liên hoành nước Ngụy, phía bắc công Triệu, phía nam phạt Hàn, mục đích chỉ có một: nhất thống Tam Tấn. Tam Tấn nếu do Ngụy nhất thống, thế Ngụy sẽ hùng cường, ắt tiến về đông uy hiếp ta. Nay nếu ta không cứu Hàn, chính là vứt bỏ công lao cứu Triệu trước kia, hơn hai vạn tướng sĩ đổ máu coi như công cốc.”

Trương Cái lời lời chấn động tâm can, vô cùng thuyết phục. Trâu Kỵ há miệng ra, nhưng dường như không tìm được lời phản bác, lại khép miệng lại.

Tích Cương nhìn sang Điền Anh: “Lời Trương lão, ái khanh có ý kiến gì chăng?”

“Hồi bẩm điện hạ,” Điền Anh liếc nhìn Trâu Kỵ, Trương Cái và Đoạn Can Luân, rồi dừng lại ở Tích Cương, mỉm cười, nói, “thần cho rằng, Trâu tướng quốc, Trương lão đều có lý, Hàn vừa nên cứu, cũng lại không nên.”

Điền Anh ăn nói nước đôi, chẳng mất lòng ai, Trâu Kỵ, Trương Cái đều sầm mặt xuống, còn Đoạn Can Luân lại cười mà rằng: “Này thượng đại phu, ông học được cái cách nói năng gian ngoan khôn khéo từ khi nào thế? Cứu là cứu, không cứu là không cứu, thượng đại phu nói như vậy, chẳng thà không nói cho xong!”

“Lời Đoạn Can huynh rất chí lý.” Điền Anh mỉm cười đáp, rồi quay sang Tích Cương, giải thích cặn kẽ. “Luận bàn của chư vị quá ư cao rộng, thần tầm nhìn hạn hẹp, không thế trông xa, chỉ nói vài chuyện nhỏ nhặt. Nếu theo ý tướng quốc, ta không cứu Hàn, thì cả nước yên ổn, bách tính an nhàn, thần dân hoan hỷ. Nếu ta cứu Hàn, thì cứu thế nào đây? Địch nổi Bàng Quyên, duy có Tôn Tẫn. Phục tùng được binh lính năm đô, duy có Điền Kỵ. Nay Tôn Tẫn đã chết, Điền Kỵ bỏ trốn, nên thần…” Dừng lại, ngoảnh mặt nhìn ra phía ngoài.

Hiển nhiên, Điền Anh đã nêu ra một vấn đề thực tế. Vấn đề hiện tại, không phải là cứu hay không, mà là dựa vào gì mà cứu? Ép Điền Kỵ bỏ trốn chính là Trâu Kỵ, lời của Điền Anh khiến Trâu Kỵ nghe mà rát mặt, song dù sao cũng nửa vô tình nửa hữu ý hùa theo ông ta, đưa ra được căn cứ chắc nịch cho việc không nên xuất binh, vì thế Trâu Kỵ lấy làm cảm kích liếc sang mỉm cười đáp lễ với Điền Anh. Không có Điền Kỵ và Tôn Tẫn, nước Tề không ai địch nổi Bàng Quyên, dù có xuất binh, chắc chắn cũng sẽ thất bại. Lời của Điền Anh, rõ ràng đã khiến Trương Cái, Đoạn Can Luân cứng họng, cũng đã điểm trúng tử huyệt của nước Tề.

“Than ôi!” Tích Cương thở dài một tiếng. “Nếu ta không xuất binh, biết ăn nói ra sao với Tô Tử và sứ Hàn đây?”

“Điện hạ!” Trâu Kỵ phấn chấn ra mặt, không bỏ lỡ thời cơ nói tiếp. “Hưng binh phạt quốc đã là quốc gia đại sự, thì xuất binh nên hết sức thận trọng. Phía sứ Hàn, thần sẽ lo liệu, còn phía Tô Tử, điện hạ cớ sao lại không đẩy sang đại vương?”

Đẩy sang phụ vương? Tích Cương trong lòng chấn động. Trâu Kỵ đã đưa ra một chủ ý quá ư tuyệt diệu, bởi lẽ bệnh tình của Uy Vương, chắc hẳn không giấu nổi cặp mắt của Tô Tần. Trước mặt một quân vương như vậy, Tô Tần hẳn cũng hết đường xoay sở.

“Cứ theo ý tướng quốc!” Tích Cương dứt khoát.

Nhận được chỉ dụ của Tích Cương, Tô Tần lập tức tới Tuyết cung yết kiến Uy Vương. Tuyết cung hẳn sớm đã nhận được chỉ lệnh của điện hạ, nên nội tể túc trực đã nghênh đón sẵn sàng, dẫn Tô Tần vào trong điện. Song Uy Vương không có ở trong điện, Tô Tần theo nội tể đi lòng vòng một hồi, tới hậu hoa viên của Tuyết cung, từ xa đã nhìn thấy bóng Uy Vương.

Nội tể chỉ về phía Uy Vương, khúm núm chìa tay nói: “Bệ hạ ở phía trước, Tô đại nhân, mời!”

Thấy Uy Vương một mình trơ trọi ngồi xoay mặt vào một gốc cổ thụ, Tô Tần ngập ngừng một lát, rồi quay sang nội tể. Nội tể ngoảnh mặt đi chỗ khác, rõ ràng không muốn nhiều lời.

Tô Tần bước lên phía trước, khi còn cách Uy Vương năm bước, bèn quỳ xuống khấu đầu: “Thần Tô Tần khấu kiến đại vương!”

Uy Vương vẫn lặng phắc, quay mặt vào gốc cổ thụ.

Tô Tần nín thở ngưng thần, đợi một hồi, thấy Uy Vương vẫn không nói gì, lại khấu đầu hô: “Thần Tô Tần khấu thỉnh đại vương vạn an!”

Uy Vương vẫn ngồi im bất động. Tô Tần lại đợi hồi lâu, lấy làm kinh ngạc, quay lại nhìn nội tể, thấy nội tể vẫn đứng nguyên tại chỗ, bộ dạng bình thản như không. Tô Tần dường như đã nhận ra được điều gì, chầm chậm đứng dậy, bước lại sát bên cạnh Uy Vương, nhìn chăm chú.

Tô Tần đã nhìn thấy rõ, người ngồi trước mặt chính là Uy Vương, chỉ có điều trông già nua suy sụp, râu tóc bạc trắng, không còn chút vẻ uy nghi, khoé miệng nhễu cả nước dãi, hai mắt đờ đẫn nhìn dán vào một khối u sần sùi trên gốc cây, dường như đang ngắm nghía, lại dường như nhìn mà không thấy, suy nghĩ đang vơ vẩn tận đẩu đâu.

Chẳng lẽ Uy Vương cố tình làm ra bộ dạng này để ứng phó với Tô Tần? Nghĩ tới những lần đi sứ trước đây, Uy Vương bày đủ mọi cách để chơi trò ú tim với mình, Tô Tần giật thột trong lòng, lại vội vàng quỳ xuống, khẽ gọi: “Đại vương?”

Uy Vương vẫn không phản ứng.

“Đại vương!” Tô Tần cao giọng.

Uy Vương lần này đã nghe thấy, cơ thể khẽ nhúc nhích, ngoảnh mặt lại, cười ngây ngô, nước dãi từ trên cằm nhỏ xuống, nhễu thành một đường lòng thòng trên chòm râu trắng xoá, rớt xuống đất.

“Đại vương, thần Tô Tần khấu thỉnh vạn an!” Tô Tần lại bái lạy.

Uy Vương vẫn cười ngô nghê, nước dãi vẫn nhỏ xuống tong tỏng.

Bộ dạng thảm hại của Uy Vương, dứt khoát không phải là giả tạo để ứng phó với Tô Tần, lẽ nào… Tô Tần đột nhiên bừng tỉnh, sực nhớ tới ông lão hàng xóm hồi mình còn bé tí, ngày ngày ngồi bên bờ Y Thuỷ, cứ thế cười sằng sặc với một búi cỏ tranh, nước dãi ròng ròng bên khoé miệng, hệt như Uy Vương lúc này.

Tô Tần bất giác rùng mình ớn lạnh.

Thảo nào bên cạnh không thấy có phi tần, đến nội tể cũng không.

Uy Vương lâm bệnh thật rồi, là bệnh ngẩn ngơ.

Nhớ tới vẻ uy nghiêm một thuở của Uy Vương, Tô Tần ứa nước mắt, lê gối lên trước vài bước, rút từ trong ống tay áo ra một mảnh khăn lụa, lau nước dãi bên khoé miệng cho Uy Vương, giọng nói run rẩy: “Đại vương…”

Uy Vương vẫn cười ngây dại, nước dãi vừa lau khô đã lại chảy ra.

Một người ngồi, một người quỳ, một người chảy nước dãi, một người lau nước dãi, một người cười ngây dại, vô lo vô nghĩ, một người thấy cảnh sinh tình, trong lòng rỉ máu, một vua một tôi cứ thế nhìn nhau như vậy.

Không biết đã bao lâu, nội tể dẫn hai cung nhân lại, mỗi người đỡ một bên tay Uy Vương, dìu vào trong cung.

“Tô đại nhân!” Nội tể mắt ngấn lệ. “Đại nhân đã thấy hết rồi phải không?”

“Đại vương như vậy đã bao lâu rồi?” Tô Tần hỏi.

“Hơn một năm rồi, từ sau khi Điền tướng quân ra đi, Tôn tướng quân qua đời!”

“Đại vương!” Ngẫm thấy Uy Vương hẳn là mất đi hai ái tướng mới thành ra như vậy, Tô Tần lại nghẹn ngào.

Khi rời khỏi Tuyết cung, nội tể kéo Tô Tần dừng lại, dặn Tô Tần phải tuyệt đối giữ bí mật về bệnh tình của Uy Vương, còn nói đó là ý chỉ của điện hạ. Tô Tần gật đầu đồng ý, buồn bã trở về Tắc Hạ, đem hết mọi chuyện kể cho Tôn Tẫn nghe. Hai người than thở một hồi về nhân tình thế thái, rồi lại quay về tình thế trước mắt. Tô Tần nói: “Trước khi vào cung có gặp Điền Văn, hắn nói thầm với tại hạ, rằng hôm qua điện hạ cho mời bốn triều thần là phụ thân hắn, Trâu Kỵ, Đoạn Can Luân, Trương Cái vào cung nghị sự, rất muộn mới về. Nay điện hạ cố tình để mặc tại hạ tới Tuyết cung tấu thỉnh cứu Hàn, cho thấy nghị sự hôm qua bất lợi cho ta. Bệnh tình của bệ hạ là bí mật lớn nhất trong cung Tề, mà điện hạ lại để tại hạ vào cung tấu thỉnh, có hai dụng ý rõ ràng. Thứ nhất, muốn cho tại hạ thấy được chỗ khó khăn của cung Tề; thứ hai, thoái thác, trì hoãn việc cứu Hàn. Tình thế hiện đã bế tắc, nên làm thế nào mới phải đây?”

“Có thể hỏi Điền Anh!” Tôn Tẫn đáp.

Tô Tần ngẫm nghĩ một hồi, đích thân viết một tấm thiệp mời, giao cho Trâu Phi Đao chuyển tới Điền Văn. Ngay đêm đó, một cỗ xe ngựa phi như bay tới Tắc Hạ, dừng lại bên ngoài cổng phủ Tô Tần. Tô Tần ra nghênh đón, quả nhiên bước xuống xe là hai cha con Điền Anh.

“Tô huynh đại giá quang lâm, Điền Anh chưa kịp nghênh tiếp, thật hổ thẹn!” Điền Anh vừa gặp đã ôm quyền tỏ lòng áy náy.

“Điền huynh khách khí rồi!” Tô Tần đáp lễ, cười vang mà nói. “Là tại hạ lễ tiết chưa được chu đáo, đáng lẽ tại hạ nên tới quý phủ bái kiến Điền huynh mới phải!”

“Tô huynh nói vậy càng khiến người ta hổ thẹn!” Điền Anh cười đáp, rồi giật ống tay áo Tô Tần, khẽ hỏi. “Nghe Văn Nhi nói, trong quý phủ có bậc dị nhân, hãy mau giới thiệu, tại hạ đã sốt sắng suốt dọc đường rồi!”

“Điền huynh, mời!” Tô Tần giơ tay nhường, Điền Anh không khách khí nữa, sải bước vào trong, đi tới phòng khách, thấy đèn nến sáng trưng, dưới ánh đèn, thấy ngay một cái đầu bóng loáng.

Chỉ nhìn vào cái đầu, đã biết ngay là Thuần Vu Khôn.

Điền Anh bước vào trong sảnh, nhìn khắp tứ phía, thấy ngoài Thuần Vu Khôn ra, không còn ai khác, thì ngạc nhiên nhìn về phía Tô Tần.

“Ha ha ha!” Thuần Vu Khôn lúc lắc cái đầu trọc lóc, nheo mắt nhìn thẳng vào Điền Anh. “Điền đại nhân, đại nhân đang tìm gì vậy?”

“Tìm người.”

Thuần Vu Khôn liếc xéo Điền Anh một cái, lại lúc lắc cái đầu, “Ồ” lên một tiếng dài dằng dặc, rồi chỉ vào cái đầu bóng lưỡng của mình, nói: “Này họ Điền kia, chỉ mấy ngày không gặp, mà cặp mắt ti hí kia đã mù nhanh đến thế kia à? Tại hạ có mũi, có mắt, có đầu, có mặt, vừa rồi vẫn còn được coi là người, lẽ nào lúc này không còn là người nữa?”

“Thôi thôi, đừng có phá phách nữa!” Điền Anh lừ mắt nhìn Thuần Vu Khôn. “Tại hạ đang tìm dị nhân!” Rồi con ngươi lại đảo tít vài vòng, hai ánh mắt sáng rực nhìn thẳng vào Tô Tần.

“Y Nhân ư?” Thuần Vu Khôn cười tít. “Sao không nói sớm?” Rồi huýt sáo một tiếng, một con chó mực lập tức lao vọt vào, chạy đến trước mặt ông ta ngoáy đuôi rối rít, kêu lên vài tiếng mừng rỡ, ngồi chồm hỗm trước mặt Thuần Vu Khôn, thè lưỡi chờ lệnh.

“Y Nhân, Điền thúc đây đang tìm mày đấy, mau lên, hãy trổ hết tài nghệ cho Điền thúc mày xem!” Thuần Vu Khôn ra lệnh cho con chó.

Lời nói vừa dứt, Thuần Vu Khôn khe khẽ ngâm nga: “Lau xanh ngăn ngắt, móc trắng làm sương. Người ta nói đến, cách dòng một phương. Ngược dòng theo mãi, trắc trở đường trường. Thuận dòng theo tới, dường như giữa dòng trong…”(1)

Con chó theo giọng ngâm nga của chủ, lúc cúi lúc ngửa lúc đi lúc chạy, hệt như đang múa, trông rất lanh lợi đáng yêu.

Điền Anh lúc này mới nhớ ra con chó cưng của Thuần Vu Khôn tên là Y Nhân thật, thì vừa bực vừa tức cười, nhăn nhó mặt mày, quay đầu nhìn sang Tô Tần, song không thấy bóng dáng đâu nữa, bèn lớn tiếng kêu lên: “Ồ, Tô huynh đâu? Tô huynh… hưng binh động chúng thế này, hẳn không phải để tại hạ tới đây ngắm nghía cái lão trọc này và trò hề của lão đấy chứ?”

Không ai đáp lời.

“Ha ha ha!” Thuần Vu Khôn bật cười vài tiếng, nói. “Họ Điền kia, ông đã coi thường lão trọc ta, lão trọc ta sẽ biểu diễn thêm một trò nữa, xem có doạ chết ông không?”

Lời nói vừa dứt, Thuần Vu Khôn suỵt đuổi con chó mực đi, chắp hai bàn tay lại, vỗ nhẹ ba tiếng. Bên cạnh bỗng vang lên những tiếng lộc cộc, rồi rèm cửa vén lên, một chiếc xe lăn được Tô Tần đẩy ra. Trên xe ngồi chễm chệ một người, chính là Tôn Tẫn!

Điền Anh há hốc miệng, đứng ngây như phỗng.

Thuần Vu Khôn phá lên cười sảng khoái: “Họ Điền kia, đây hẳn là dị nhân mà ông đang nóng lòng muốn gặp?”

Điền Anh như thể không nghe thấy, hai mắt nhìn trân trối vào Tôn Tẫn, cứ như thể gặp ma.

“Điền huynh, từ biệt đến nay vẫn bình an chứ?” Tôn Tẫn mỉm cười, vòng tay với Điền Anh.

Nghe thấy giọng Tôn Tẫn, Điền Anh mới bừng tỉnh, lắp bắp: “Tôn… Tôn huynh… thế… thế này là…”

“Này họ Điền kia!” Thuần Vu Khôn chỉ Điền Anh cười tít mắt. “Thân là tướng quân, gặp quân sư còn không mau hành lễ?”

“Tại hạ bái kiến Tôn huynh!” Điền Anh vội đáp lễ, đưa ánh mắt kinh ngạc nhìn vào Tô Tần đang đẩy xe.

Tô Tần đỡ Tôn Tẫn khỏi xe, ngồi xuống chiếu, còn mình cũng ngồi vào vị trí chủ, thủng thẳng kể lại mọi chuyện cho Điền Anh nghe, từ lúc Quỷ Cốc tiên sinh tặng cho thuốc chết, rồi chuyển cho Tôn Tẫn ra sao, tiếp đó Tôn Tẫn đã hồi sinh thế nào. Hai cha con Điền Anh nghe mà ngỡ như chuyện thêu dệt của đám tiểu thuyết gia.

“Không giấu Điền huynh,” Tô Tần kể xong bèn nói, “tiên sinh sở dĩ tặng thuốc chết, là để tránh Bàng Quyên. Lần trước Bàng Quyên hãm hại Tôn huynh, khiến Tôn huynh phải chịu tẫn hình, nay lại hành động trái đạo, hợp mưu với Tần, trước phạt Triệu, sau phạt Hàn, khiến thiên hạ sinh linh đồ thán. Tiên sinh biết, Bàng Quyên sau khi đuổi Điền tướng quân đi, tiếp theo sẽ hãm hại Tôn huynh, nên đã tặng cho thuốc chết, để Bàng Quyên từ bỏ tâm địa này. Nay Bàng Quyên hưng binh phạt Hàn, hợp tung lại rơi vào nguy cục, nên tại hạ khẩn cầu Tôn huynh xuống núi lần nữa, quyết tử chiến một trận với Bàng Quyên.”

“Than ôi!” Điền Anh thở dài một tiếng. “Hôm qua điện hạ cho mời tại hạ…”

“Khoan khoan khoan!” Điền Anh còn chưa nói hết câu, Thuần Vu Khôn đã giơ tay ngăn lại. “Họ Điền kia, dị nhân đã tới rồi, các người hãy bàn đại sự, lão hủ và Y Nhân ra ngoài chơi đây!” Nói đoạn đứng dậy, khẽ vòng tay về phía mọi người, lúc lắc cái đầu trọc bước ra ngoài cửa, huýt sáo một tiếng, cùng con chó mực ra khỏi cổng.

Mọi người cùng ra cửa tiễn, rồi quay trở vào phòng, Điền Anh lúc này mới nói nốt lời dang dở vừa nãy: “Hôm qua điện hạ cho mời tại hạ vào cung nghị sự, là vì chuyện cứu Hàn. Nghe ý tứ của điện hạ, có lòng cứu Hàn, hai vị lão thần Đoạn Can Luân và Trương Cái đều ra sức ủng hộ, duy có Trâu tướng quốc một mực phản đối. Điện hạ hỏi ý tại hạ, tại hạ ủng hộ Trâu tướng quốc, bởi lẽ trong số quần thần, chỉ có tại hạ hiểu rõ sự tình. Địch được Bàng Quyên, duy có quân sư, trị được quân đội năm đô, duy có Điền Kỵ tướng quân. Nước Tề không có hai người này, nếu đường đột xuất chiến, sẽ cầm chắc thất bại. Nay đại vương mắc bệnh, điện hạ hữu danh vô thực, bách quan hoang mang, cuộc chiến Quế Lăng lần trước tổn thất quá nặng nề, nay còn chưa hồi phục, nước Tề có thể xuất chiến, song chịu không nổi thất bại.”

“Điền huynh nói rất chí lý!” Tô Tần đáp lời. “Có điều sự việc cấp bách, cứu được Hàn, duy có quân Tề. May sao vẫn còn Tôn huynh, nếu thêm Điền Kỵ tướng quân, quân Tề hẳn sẽ thắng lợi. Hơn nữa, theo tại hạ biết, tuy ta mệt mỏi, song Ngụy còn tệ hại hơn. Mấy năm gần đây, nước Ngụy gây chiến liên miên, khác nào tát ao bắt cá, khiến quốc lực suy yếu chưa từng, Huệ Thi, Bạch Hổ theo nhau bỏ đi, Chu Uy một mình khó chống đỡ, cáo bệnh ở nhà, tôi hiền trị nước im tiếng, tướng sĩ hiếu chiến nổi lên, quốc thế đã nguy. Theo tại hạ thấy, Bàng Quyên phạt Hàn, không vì nguyên nhân nào khác, chỉ là để dương oai. Phạt Hàn cho thấy, nước Ngụy đã tới đường cùng, Bàng Quyên đang ráng sức giãy giụa trong ngõ cụt.”

“Tô huynh cao kiến, tại hạ thán phục! Nay có quân sư, ta không phải sợ Bàng Quyên. Song không có Điền Kỵ tướng quân, vậy quân năm đô…” Điền Anh băn khoăn.

“Điền huynh chớ nên lo lắng. Tại hạ đã sai người đến thỉnh cầu Điền tướng quân. Nếu không nằm ngoài dự liệu, Điền tướng quân trong vòng hai tháng nữa sẽ quay trở về Lâm Truy.”

“Tốt quá!” Điền Anh mặt mày rạng rỡ, song lại lập tức sa sầm. “Có Trâu tướng quốc ở đây, Điền tướng quân… liệu có chịu về không?”

“Điền huynh yên tâm, Điền tướng quân vẫn đang canh cánh một chuyện trong lòng, chính là bắt sống Bàng Quyên. Chỉ cần Điền tướng quân biết quân sư còn sống, nhất định sẽ trở về. Có điều, nhắc tới Trâu tướng quốc, lại có chút khó khăn. Điền huynh xem thế này được không? Chuyện của Điền Kỵ và Tôn huynh, tạm thời hãy giữ bí mật, tránh để tướng quốc biết được, gây thêm phiền toái.”

“Đương nhiên rồi!” Điền Anh gật đầu. “Chỉ có điều, chỗ điện hạ, liệu có thể hé lộ chút phong thanh?”

“Được, chúng ta phải cho điện hạ biết sự tình. Nếu điện hạ hay tin Điền tướng quân và Tôn huynh đều quay về, hẳn sẽ vững tin xuất binh. Điền huynh có thể thuận thế tấu thỉnh điện hạ, trả lời sứ Hàn, đồng ý cứu viện, để củng cố ý chí cố thủ của người Hàn. Tiếp đó tấu thỉnh điện hạ, tạm khởi quân năm đô, trước hết đóng tại A Ấp, đề phòng quân Tần, Ngụy vượt biên giới tập kích ta. Tam Tấn giao tranh, ta điều quân cố thủ biên giới là chuyện thường tình, Trâu tướng quốc sẽ không có lý do phản đối. Đợi Điền tướng quân trở về Lâm Truy, chúng ta lại chính thức tấu thỉnh xuất quân cứu viện Hàn, lúc đó, ván đã đóng thuyền, Trâu tướng quốc dù có không vui, cũng phải thuận theo thôi.”

“Cứ theo ý Tô huynh!” Điền Anh đáp lời.

***

Điền Kỵ chạy trốn sang Sở, lại không muốn tới Sính Đô, bởi vì tới Sính Đô, sẽ phải cầu kiến Chiêu Dương, trong khi Điền Kỵ từng giao tranh vài trận với Chiêu Dương ở Tứ Hạ, trước hai quân trận, đã nói vô số lời quá quắt, lại cộng thêm mối nhục bị Bàng Quyên tô son trát phấn lên mặt, lần này tìm tới cửa, ngộ nhỡ Chiêu Dương chê cười, chẳng phải tự chuốc lấy nhục vào thân? Lòng vòng mãi, cuối cùng Điền Kỵ tới thẳng Nam Dương, cậy nhờ Cảnh Thuý. Tiên phụ Cảnh Thuý là Cảnh Xá từng có giao tình tốt đẹp với tiên phụ của Điền Kỵ, khi Cảnh Xá qua đời, Điền Kỵ sai người vượt nghìn dặm xa xôi tới Sở phúng viếng, biếu tặng hậu lễ, Cảnh Thuý lấy làm cảm kích, cũng đáp lễ lại, từ đó hậu duệ hai nhà qua lại thân mật, do đều là võ tướng, nên rất trân trọng nhau.

Nghe nói Điền Kỵ tới cậy nhờ, Cảnh Thuý vội vã từ Sính Đô tới Uyển Thành, đón tiếp hết sức chu đáo. Do Điền Kỵ ở Tề có địa vị rất cao, nên Cảnh Thuý không thể sắp xếp chức vị, cũng không muốn đi cầu cạnh Chiêu Dương, hơn nữa Điền Kỵ cũng không muốn làm quan ở Sở, nên hai người ở Uyển Thành ngày ngày dạo chơi, đêm đêm đàn nhạc, thi thoảng nghiên cứu binh pháp chiến trận, sống những ngày tháng thư thái an nhàn. Sau đó Uy Vương băng hà, Cảnh Thuý về Sính chịu tang, Điền Kỵ mê vàng đen (sắt), bái sư học nghệ, cả ngày ngược xuôi nơi mỏ khoáng lò luyện, tối đến nghiên cứu kỹ thuật hợp kim, dự định tự tay chế tạo một thanh bội kiếm hợp kim và một thanh trường thương sắt ròng. Đúng lúc Điền Kỵ đang hăng say mê mải trước lò rèn, đột nhiên có người từ cung Sở tới, tuyên vương chỉ, phong Điền Kỵ làm Thượng Dung Quân kiêm Thượng Dung quận doãn, ban cho thực ấp nghìn hộ, trong vòng ba tháng tới nhiệm chức.

Sở Vương tức thái tử Hùng Hoè vừa lên ngôi kế vị, sử gọi là Hoài Vương, Điền Kỵ có tìm hiểu về Hùng Hoè, biết rằng Hùng Hoè cũng được coi là chuyên cần chính sự, có hoài bão lớn lao, thụ phong lần này, hẳn là do Cảnh Thuý tiến cử.

Không có công lao mà được phong đất, Điền Kỵ lấy làm cảm thán, thực lòng tin rằng Hùng Hoè là bậc thánh quân. Nghĩ tới mình cả đời chưa từng giao tranh với người Tần, Thượng Dung tuy xa xôi hẻo lánh, song lại là tiền tuyến chống Tần, Điền Kỵ cũng lấy làm phấn khởi, tạ ơn xong, bèn thu dọn hành trang, ba ngày sau đó, cùng vài tuỳ tùng tâm phúc và một người thông thạo đường đất trong phủ Cảnh Thuý rời Uyển Thành, thẳng tới Thượng Dung.

Chưa đầy vài ngày, ba cỗ xe nhẹ đã tới Nhương Ấp. Nhương Ấp vốn là lãnh thổ nước Đặng, thời Sở Văn Vương, Đặng Công bị Sở tiêu diệt, người Sở bèn phong quân đặt huyện ở đây, trở thành trọng trấn. Nước Sở phong quân vô số, ngoài ba dòng họ Cảnh, Chiêu, Khuất, còn thì tuyệt đại đa số phong quân, Điền Kỵ đều không biết, cũng không muốn tìm hiểu. Thân nơi đất khách, Điền Kỵ thừa biết nên khiêm tốn thu mình, bởi vậy không khua chiêng gõ trống, đội ngũ rùm beng dọc đường giống như các phong quân hoặc doãn thừa khác khi nhậm chức. Sau khi tới đất Nhương, sắc trời đã tối, Điền Kỵ đánh ngựa vào Nhương Thành, không đi bái kiến Nhương Quân và huyện doãn theo gợi ý của người trong phủ Cảnh Thuý, nhìn thấy có một quán trọ nhỏ khá sạch sẽ ở bên đường, bèn dừng xe nghỉ chân.

Trời đã về khuya, Điền Kỵ tắm rửa xong, đang định lên giường nghỉ ngơi, bỗng nghe bên ngoài huyên náo, lại có vài người tới thuê trọ. Khách vừa tới rõ ràng không phải người có tiền, chỉ cần nằm ở trước hiên sảnh phụ, ôm mớ rơm trải xuống đất ngủ là xong. Cơm cũng không ăn, chỉ xin vài bát nước trắng, lấy lương khô mang theo ăn cùng. Ngủ hiên và nước trắng, nên chủ trọ cũng ngại thu tiền, nhưng không lấy làm vui vẻ. Nghe giọng nói, nhìn cách ăn bận, Điền Kỵ đoán là người Mặc gia. Điền Kỵ xưa nay vẫn luôn kính phục Mặc giả, bèn sai tuỳ tùng dặn chủ quán trọ sắp xếp cho họ vài gian phòng và một bữa cơm, phí tổn sẽ do Điền Kỵ chi trả.

Chủ quán mừng rỡ, vội đi sắp xếp ngay, Mặc giả cũng không từ chối, ăn uống qua loa, rồi một người trong đám ngỏ ý muốn cầu kiến ân nhân. Điền Kỵ không tiện từ chối, hơn nữa cũng muốn kết thân với Mặc giả, bèn chỉnh trang y phục, chuẩn bị trà bánh, mời người này vào phòng khách.

Người cầu kiến không phải ai khác, chính là Khuất Tương Tử vẫn luôn bám theo Điền Kỵ suốt dọc đường.

Khuất Tương Tử xưng danh, Điền Kỵ thoạt tiên ngỡ ngàng, sau đó vái dài sát đất, nói: “Khuất tiền bối đại danh như sấm bên tai, chỉ là Điền Kỵ phúc mỏng, không có duyên gặp gỡ, nào ngờ ông trời có mắt, đã cho Điền Kỵ gặp mặt ở đây, thực là vinh hạnh!”

“Không phải ông trời có mắt, mà là lão hủ đi tìm đại nhân nên mới lần theo tới đây!” Khuất Tương Tử mỉm cười, đáp lễ mà nói.

“Tiền bối tìm vãn bối?” Điền Kỵ càng kinh ngạc. “Có chuyện gì chăng?”

“Tướng quân xin hãy đọc thư này!” Khuất Tương Tử lần trong ống tay áo lấy ra một bức thư, trình lên Điền Kỵ.

Là thư tay của Tô Tần

Điền Kỵ đọc xong thư, đôi mày chau tít, hồi lâu sau, nhìn thẳng vào Khuất Tương Tử, cười buồn một tiếng, nói: “Tô Tử muốn vãn bối lập tức quay về nước Tề, dẫn quân cứu Hàn, chuyện này…”

“Tướng quân có điều gì lo lắng?”

“Không giấu tiền bối,” Điền Kỵ thở dài một tiếng, “tại hạ đến nằm mơ cũng chỉ muốn về Tề, huống hồ là tái chiến với Bàng Quyên. Tuy nhiên, tại hạ thân đang mang tội, nước Tề hiện nay… tại hạ có muốn về cũng không được nữa rồi!”

“Tướng quân chớ nên lo lắng!” Khuất Tương Tử đáp. “Nước Tề hiện nay đã không còn là nước Tề trước đây nữa, theo lão hủ biết, Tề Vương sau khi hay tin tướng quân chạy trốn sang Sở, Tôn Tẫn lâm bệnh qua đời, liền không rời khỏi Tuyết cung một bước, mọi chuyện trong triều đều phó thác cho thái tử lo liệu. Thái tử biết tướng quân hàm oan, có ý rửa oan cho tướng quân. Hơn nữa, gia quyến tướng quân đều vẫn ở Tề, Tề Vương lại chưa từng vì chuyện tướng quân bỏ đi mà có ý đồ bức hại, giờ tướng quân chịu oan khuất, nếu muốn rửa oan, chỉ có về Tề mới là thượng sách. Lão hủ già cả thế này, Tô đại nhân nếu không nắm chắc mười phần, tuyệt đối sẽ không để lão hủ phải đi một chuyến uổng công.”

“Đa tạ Tô Tử yêu mến!” Điền Kỵ vòng tay về phía xa xăm, rồi mặt lộ vẻ khó xử, lại quay sang Khuất Tương Tử. “Tấm lòng của Tô Tử, không phải vãn bối không nhận, mà là vì có uẩn khúc khác. Tô Tử giỏi đối đáp, song không hiểu việc quân. Tô Tử muốn vãn bối về Tề không khó, khó ở chỗ vãn bối lại phải giao chiến với Bàng Quyên. Cuộc chiến Hoàng Trì, vãn bối vẫn cho rằng Bàng Quyên thắng vì may mắn, trong lòng không phục, nên đã chuẩn bị suốt nhiều năm, mưu đồ phục thù. Cho tới trận chiến Quế Lăng, vãn bối mới hiểu nông sâu, mỗi lần nghĩ lại, khó tránh hãi hùng. Không giấu tiền bối, đừng nói là lính Tề khó lòng địch nổi võ binh Ngụy, chỉ riêng vãn bối, đã thua xa Bàng Quyên. Chiến thắng Quế Lăng là công của một mình quân sư, không phải của vãn bối! Nay quân sư đã qua đời, tại hạ…”

“Quân sư chưa chết!” Khuất Tương Tử mỉm cười cắt lời.

“Sao kia?” Điền Kỵ trợn trừng hai mắt, nhìn sững vào Khuất Tương Tử. “Tiền bối nói gì?”

“Tôn Tẫn vẫn sống, nếu không ngoài dự đoán, lúc này hẳn đã cùng Tô Tần tới Lâm Truy rồi!” Khuất Tương Tử nói xong, kể sơ qua một lượt chuyện Tôn Tẫn giả chết cho Điền Kỵ nghe.

Điền Kỵ vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, thán phục vô cùng, một lúc sau, lấy ra mệnh thư, ấn tỷ của Sở Vương, lại băn khoăn: “Tại hạ nhờ Cảnh huynh tiến cử, được Sở Vương hậu ái, vừa được phong làm Thượng Dung Quân, hiện đang trên đường tới nhậm chức. Giờ nếu quay về Tề, biết ăn nói thế nào với Sở Vương và Cảnh huynh đây?”

“Lão hủ đã điều tra rõ, người tiến cử tướng quân lần này không phải là Cảnh Thuý, mà là Chiêu Dương!”

“Tiền bối làm sao biết được?” Điền Kỵ kinh ngạc hỏi.

“Tướng quân vừa đi khỏi, môn nhân của Cảnh Thuý đã mang thư về. Nghe người này nói, Cảnh Thuý không muốn tướng quân tới Thượng Dung, song mọi việc đã muộn.”

Điền Kỵ hít ngược một hơi khí lạnh, hồi lâu sau mới hỏi: “Cớ sao Chiêu Dương lại tiến cử tại hạ?”

“Vì hắn không muốn tướng quân về Tề, quyết chiến với Ngụy!”

“Vì sao không muốn?”

“Cò ngao tranh hùng, ngư ông đắc lợi. Vị trí ngư ông này, Chiêu Dương chắc chắn không muốn hai tay dâng cho tướng quân và người Tề!”

Điền Kỵ nhắm mắt ngẫm nghĩ.

“Tướng quân, xin nghe lão hủ một câu!” Khuất Tương Tử nói tiếp. “Mặc giả thích nói đến chữ lợi. Tướng quân lập thân, lập nghiệp ở Tề, được lợi ở Tề, nước Tề vẫn là cội gốc của tướng quân, gửi thân đất khách, suy cho cùng không phải kế lâu dài. Từ sau khi tướng quân bỏ đi, tam quân nước Tề không ai trị nổi, Tôn Tẫn tuy có thể vạch mưu lược, song trị quân thứ nhất không có căn cơ, thứ hai không phải chỉ ngày một ngày hai là được. Nếu tướng quân không về, Bàng Quyên sẽ không còn ai chế phục!”

“Lời của tiền bối, Điền Kỵ xin kính cẩn tuân theo, chỉ có điều…” Điền Kỵ ngập ngừng một thoáng, “nếu Chiêu Dương thực sự không muốn vãn bối về Tề đánh Ngụy, ắt đã có đề phòng, cũng sẽ nhúng tay vào việc này, vãn bối làm thế nào mới tránh được sự giám sát của Chiêu Dương, an toàn rời khỏi nước Sở?”

“Tướng quân chớ nên lo lắng!” Khuất Tương Tử đáp. “Kế rời Sở, Tô đại nhân sớm đã bày xong, tướng quân hãy ghé tai lại đây!”

Điền Kỵ nhoài người lại, Khuất Tương Tử ghé sát tai Điền Kỵ thì thầm thế này thế kia, Điền Kỵ cứ thế gật đầu lia lịa.

Sáng hôm sau, ba cỗ xe nhẹ và đám tuỳ tùng của Điền Kỵ tiếp tục thẳng tiến tới Thượng Dung, mấy vị Mặc giả cũng từ biệt chủ quán lên đường.

Chỉ có điều, trong đám Mặc giả, có một người đã đổi chỗ cho Điền Kỵ.

Khuất Tương Tử, Điền Kỵ cứ thế thẳng tiến lên phía bắc, qua vùng ngoại ô Niết Dương, tiến vào vùng núi cao phương bắc, băng qua Phương Thành nước Sở, vòng qua Lỗ Quan, tới đại doanh của Mặc gia, nghỉ ngơi vài ngày ở đó, rồi tiến vào đất Hàn. Điền Kỵ và đám Mặc giả cải trang thành thương nhân Định Đào buôn bán đồ gốm sứ, trà trộn vào một đoàn thương nhân nước Tống, từ Hàn vào Ngụy, thẳng tới Đại Lương, rồi ung dung đi qua ngay trước mũi Bàng Quyên, đến Định Đào nước Tống. Mộc Thực đã chờ sẵn ở đó, đoàn người tiếp tục cải trang thành thương nhân, từ Định Đào vượt sông vào Tề, xe lăn rầm rập, thẳng tiến tới Lâm Truy.

Còn ba cỗ xe nhẹ cứ thế đi tiếp về phía tây, thêm mười ngày nữa, thình lình biến mất tăm hơi. Phong ấn của Điền Kỵ, mệnh thư của Sở Vương, và cả bức thư từ nhiệm do đích thân Điền Kỵ viết đều được để lại trong một quán trọ. Người Sở phát hiện, liền từng cấp báo lên, nhanh chóng chuyển về Chiêu phủ.

Chiêu Dương nhận được tin báo, triệu Trần Chẩn tới, đưa tất cả mọi thứ cho Trần Chẩn xem, nói: “Đúng như Trần huynh dự đoán, Điền Kỵ đã về Tề mất rồi! Than ôi, đúng là đề phòng không xuể!”

“Về cũng tốt!” Trần Chẩn vẫn thản nhiên như không. “Chúng ta lại được xem một tấn trò hay có một không hai!”

“Trò hay gì kia?”

“Tề, Ngụy đại chiến!” Trần Chẩn mặt đầy trông đợi. “Bàng Quyên cấu kết Trương Nghi, đại chiến với Tô Tần và Điền Kỵ!” Dừng lại một lát, cảm khái khẽ thở dài. “Chỉ đáng tiếc là Tôn Tẫn chết rồi, nếu kẻ này còn sống, đúng là Quỷ Cốc tứ tử đại chiến Trung Nguyên, ngàn năm có một!”

“Nếu như Tôn Tẫn còn sống, Bàng Quyên tất bại, Trần huynh hẳn cũng được nguôi ngoai nỗi uất hận năm xưa bị hắn đuổi khỏi nước Ngụy!”

“Ha ha ha!” Trần Chẩn cười đáp. “Già rồi, quên hết rồi, chuyện năm xưa, tại hạ đã không còn nhớ nổi. Chỉ cảm thấy Bàng Quyên kia vẫn là kẻ tài năng, cũng được coi là anh hùng đương thế. Tô Tần so với Trương Nghi, là ngang tài ngang sức. Tôn Tẫn chết rồi, Điền Kỵ so với Bàng Quyên, hơi yếu hơn chút ít, thực là trời không thuận ý người!”

“Đúng vậy!” Chiêu Dương gật đầu. “Xin hỏi Trần huynh, trò hay lần này đã sắp trình diễn, hẳn tại hạ cũng không nên chỉ ngồi xem?”

“Tướng quân nếu có nhã hứng, có thể đồng ý với sứ Hàn, tấu thỉnh phạt Ngụy, ba nước Sở, Hàn, Tề hợp sức chế phục Bàng Quyên, thứ nhất có thể vĩnh viễn trừ bỏ mầm hoạ, thứ hai có thể thu chút lợi lộc, bằng không, trong trận chiến đuổi hươu này, nước Sở đến nước canh cũng chẳng được một muôi!”

Chiêu Dương cũng cho là vậy, lập tức vào cung, trình lên Hoài Vương thư xin từ chức và những vật mà Điền Kỵ để lại, nói đúng như lời Trần Chẩn, tấu thỉnh chấp thuận thỉnh cầu của Hàn, khởi nghĩa binh phạt Ngụy, rửa mối thù Hình Sơn.

Hoài Vương mới lên ngôi, đang muốn hưng binh ra uy, lập tức chuẩn tấu, lệnh cho Chiêu Dương làm chủ tướng, Cảnh Thuý làm phó tướng, Ngân Thượng làm giám quân, điểm đủ sáu vạn quân Phương Thành và Uyển Thành, khởi binh phạt Ngụy.

***

Trương Nghi nhận được tin của Tần Vương, nói là Trần Chẩn chỉ nhận lời giữ Điền Kỵ lại, song không nhận lời đuổi Huệ Thi đi, thì cười nhạt một tiếng, thầm nghĩ: “Tay Trần Chẩn này cũng được đấy, đúng là không thể coi thường! Có kẻ này ở Sở, đã khó nhằn rồi, giờ lại thêm một Huệ Thi, nước Sở ắt sẽ lớn mạnh, Hùng Hoè dù có kém cỏi đến mấy, có hai người này ở bên, cũng sẽ hoàn thành đại nghiệp. Trần Chẩn ở Sở nhiều năm, thông thạo nước Sở, huống gì lại có Chiêu Dương nắm quyền trong tay, muốn động tới hắn ắt phải tiêu hao sức lực. Song Huệ Thi vẫn chưa vững chân, ta phải nghĩ cách, đuổi lão ta ra khỏi Sở mới được.”

Trương Nghi đóng cửa tiễn khách, suy ngẫm hồi lâu, đột nhiên nảy ra một ý, sáng sớm hôm sau tấu thỉnh Ngụy Vương, phái sứ thần tới Sính Đô, thứ nhất là điếu viếng tiên vương nước Sở, thứ hai là kết giao với tân vương Hùng Hoè. Ngụy Vương chuẩn tấu, làm theo thỉnh cầu của Trương Nghi, lệnh cho trung đại phu Phùng Hách vốn giỏi ứng biến đi sứ sang Sở. Phùng Hách trước khi lên đường, tới phủ tướng quốc từ biệt Trương Nghi, Trương Nghi bèn dặn dò kỹ lưỡng những việc cần làm sau khi tới Sở.

Phùng Hách thẳng tiến tới Sính Đô, khi đi qua Phương Thành, Uyển Thành, thấy dọc đường ngựa xe tấp nập, binh mã tập kết, lương thảo quân nhu vận chuyển ùn ùn, rõ ràng đang chuẩn bị chiến tranh. Phùng Hách hỏi dò biết được, Sở Vương đã hạ chỉ cứu Hàn, bèn vội vàng phái người phóng ngựa về cấp báo với Trương Nghi, đồng thời ra roi thúc ngựa, chưa đầy nửa tháng đã tới Sính Đô, vào buổi thượng triều hôm sau, trình lên quốc thư, làm như không hề hay biết chuyện Sở phạt Ngụy, chỉ lấy danh nghĩa Ngụy Vương điếu viếng tiên vương nước Sở, dâng lên hậu lễ.

Sở Hoài Vương mới nắm quyền triều chính, đang nôn nóng gây dựng tiếng vang với bang quốc, nên rất chú ý tiếp đãi sứ thần liệt quốc, đặc biệt là sứ thần nước Ngụy sắp sửa giao chiến, không chỉ nhận trọng lễ của Phùng Hách, mà còn giữ hắn lại thiết yến.

Trong bữa tiệc, Phùng Hách vòng tay nói: “Trên đường tới Sính Đô, Phùng Hách từ xa đã thấy binh mã lương thảo đông đảo khắp đường. Hiện tại không phải dịp đi săn mùa đông, cũng không phải dịp đi săn mùa thu, Phùng Hách lấy làm tò mò, dám hỏi đại vương chuyện này là thế nào?” Rồi chiếu ánh mắt dò hỏi vào Hoài Vương.

Hoài Vương bật cười đáp: “Nghe nói trên thao trường của quý quốc cũng sát khí ngút trời, khắp mọi ngả đường cũng người hô ngựa hí. Đã không phải dịp đi săn mùa đông, cũng không phải dịp đi săn mùa thu, xin hỏi sứ thần, lẽ nào đại vương bên đó đang bắt chước U Vương, tự bày trò tiêu khiển?”

Phùng Hách đảo con ngươi, rồi vòng tay khen ngợi: “Đại Vương tinh anh, Phùng Hách khấu phục. Đại vương thần diễn luyện binh mã, là vì Hàn Vương khinh miệt nước thần, đại vương muốn đòi Hàn Vương lẽ phải.”

“Quả nhân diễn luyện binh mã, là vì Hàn Vương viết huyết thư cầu cứu. Hàn, Sở láng giềng thân thiết lâu năm, Hàn Vương đã phái người mai mối, muốn gả công chúa sang Sở, kết tình thông gia. Nay thông gia có lời cầu xin, quả nhân cũng cần thể hiện thanh thế, nên chăng?”

“Nên, nên!” Phùng Hách gật đầu lia lịa. “Có điều, Phùng Hách ở đây cũng muốn khẩn cầu đại vương, thể hiện thanh thế cũng được, song chớ nên coi là thật. Ngoài ra, nếu đại vương có hứng thú kết thông gia, bất luận là công tử chờ cưới hay công chúa chờ gả, Ngụy thất đều không thiếu, Phùng Hách nguyện làm mai mối!”

Hoài Vương cười lớn một tràng dài: “Hay lắm, hay lắm, đúng là rất hay! Hậu cung của quả nhân đang thiếu người, dám hỏi sứ thần có muốn làm mai mối hay chăng?”

“Phùng Hách lấy làm vinh hạnh!” Phùng Hách vòng tay đáp lời. “Có điều, nếu là chuyện cưới hỏi của đại vương, thần địa vị thấp hèn, e là không dám làm mai mối! Kính thỉnh đại vương hiểu dụ bát tự sinh thần của đại vương cho Phùng Hách, đợi Phùng Hách về Ngụy, sẽ tìm cho đại vương một người mai mối phù hợp!”

“Ồ?” Hoài Vương nhổm người lên trước hỏi. “Là người nào thế?”

“Tướng quốc Trương Nghi!”

“Trương Nghi?” Hoài Vương lại ngồi thẳng dậy, đưa tay vuốt râu, lát sau bèn nói. “Ừm, quả nhân và người này đã từng qua lại, cũng hiểu rõ người này, là một nhân tài. Nghe nói người này lang bạt nhiều nơi, cuối cùng tới Tần, địa vị cực cao, song không hiểu vì nguyên cớ gì, lại bỏ Tần sang Ngụy, được phong tướng quốc, muốn cấu kết Bàng Quyên phạt Triệu lập công, không ngờ binh bại Quế Lăng, hại Bàng Quyên suýt nữa mất mạng, những chuyện này có thực chăng?”

“Đại vương mới chỉ biết một mà chưa biết hai!” Phùng Hách thản nhiên đáp lời.

“Xin sứ thần chỉ giáo!”

“Theo Hách được biết, khi Trương tướng quốc ở Sở, giúp Sở diệt Việt. Khi ở Tần, trước hết giúp Tần chống lại liên quân sáu nước ngoài ải Hàm Cốc, sau đó đích thân chỉ huy quân Tần, chỉ với năm vạn quân ít ỏi mà tiêu diệt Ba, Thục trong vòng một năm, lập nên công lao cái thế. Nay lại tới Ngụy, dẫn quân Ngụy phạt Triệu, chiếm được kinh đô nước lớn. Còn trong trận chiến Quế Lăng, là Bàng tướng quân không chịu nghe theo diệu kế của tướng quốc, tự ý dẫn quân giao chiến với quân chủ lực nước Tề, đã thế còn liều lĩnh tiến công, nên mới trúng bẫy Tôn Tẫn!”

“Quả nhân ngu dốt, dám hỏi tướng quốc có diệu kế gì?”

“Khinh binh vượt sông, tránh thực đánh hư, từ Hà Gián chọc thẳng vào kinh đô Lâm Truy của Tề!”

Hoài Vương hít ngược vào một hơi, nhắm mắt trầm ngâm suy nghĩ, một lát sau, tấm tắc khen ngợi: “Quả là diệu kế!”

“Đại vương có điều không biết,” Phùng Hách lại vòng tay, “ngoài tài bày mưu tính kế, Trương tướng quốc còn có một sở trường nữa.”

“Ồ?” Hoài Vương lại nhổm người về phía trước.

“Đuổi người!” Phùng Hách dõng dạc nói. “Phàm những người tướng quốc không ưa, đều sẽ bị tướng quốc đuổi đi. Ở Tần có Công Tôn Diễn, ở Ngụy có Huệ Thi!”

“Phải!” Hoài Vương khẽ gật đầu. “Có điều, ở đất Sở của quả nhân, hắn cũng bị người khác đuổi đi, nghe nói khi rời khỏi Sở, người này thảm hại vô cùng!”

“Đại vương có điều không biết, Trương tướng quốc xưa nay là người lỗi lạc, hành sự quang minh, mưu dương không mưu âm, đuổi người cũng phải đuổi cho công khai minh bạch. Còn ở quý quốc, lại có người ưa nấp trong bóng tối, ám hại người ta, nên tướng quốc tuy bại vẫn vinh!”

Cảnh ngộ của Trương Nghi ở Sở, Hoài Vương đều hiểu rất rõ, trước lý lẽ của Phùng Hách, đã không phản bác, lại còn thừa nhận, khẽ thở dài một tiếng, đổi giọng mà nói: “Than ôi, tài của Trương Nghi, quả nhân rất tâm đắc, chỉ là người này bỏ Tần tới Ngụy, đúng là ngọc sáng tới chỗ tối.”

“Mỗi người mỗi chí!” Phùng Hách đáp lời. “Huống hồ tướng quốc vốn là người Ngụy, tiên phụ của tướng quốc cũng là bề tôi nước Ngụy, từng vì Ngụy mà đổ máu chốn biên cương, tướng quốc về Ngụy dốc sức vì nước, cũng coi là tận trung báo quốc. Hơn nữa, đại vương thần là người trọng tài, đối đãi với tướng quốc cũng không bạc!”

Hoài Vương lại thở dài vài tiếng, hẳn là tiếc nuối vì Sở đã để mất Trương Nghi.

Phùng Hách nhằm đúng thời cơ, vòng tay nói: “Nhắc tới tướng quốc, thần còn có một chuyện muốn được tấu thỉnh đại vương!”

Cứ nói!”

“Trước khi Hách đi, tướng quốc nắm tay Hách, đặc biệt dặn dò, muốn Hách chuyển lời thăm hỏi tới Huệ tướng quốc. Hách mới đến Sở, còn lạ nước lạ cái, muốn tới vấn an Huệ tướng quốc, lại lo tướng quốc hiềm nghi…” Phùng Hách ngập ngừng một lát, rồi nói thẳng vào trọng tâm. “Nghe nói Huệ tướng quốc đã được đại vương trọng dụng, Phùng Hách bạo gan thỉnh cầu đại vương giúp Hách chuyện này, chuyển lời hỏi thăm của Hách tới Huệ tướng quốc.”

Hoài Vương cười nói: “Sứ thần muốn quả nhân chuyển lời không khó, có điều, sứ thần hãy về hồi bẩm Trương Nghi, nói rằng Huệ Thi ở đây chưa được trọng dụng, nước Sở đất rộng của nhiều, nuôi thêm một người, cũng chẳng có gì khó khăn.”

“Phùng Hách nhất định sẽ chuyển lời tới tướng quốc!” Phùng Hách vòng tay nói. “Đại vương chu cấp cho Huệ tướng quốc, đủ thấy lòng từ ái. Đại vương không dùng Huệ tướng quốc, đủ thấy sự anh minh. Cho dù như vậy, Hách có một lời, như xương mắc trong họng, không nói ra thì ấm ức, mà nói ra, lại e mạo phạm long uy của đại vương!”

“Sứ thần có lời, cứ nói đừng ngại”

“Huệ Tử tới Sở, đại vương giữ lại, là thiếu sáng suốt!”

“Thiếu sáng suốt như thế nào, xin hãy nói tường tận!”

“Dám hỏi đại vương, tài của Huệ Tử so với Trương Nghi thế nào?”

“Huệ Tử không bằng.”

“Đại vương thánh minh.” Phùng Hách thuận thế đáp lời. “Tuy Huệ Tử không bằng Trương Nghi, song vẫn xứng đáng là đại tài của thiên hạ. Huệ Tử tới đây cậy nhờ đại vương, nếu đại vương dùng, Trương Nghi ắt không vui lòng, nếu có một ngày, Nghi không được đắc chí ở Ngụy, có ý tới Sở, song vì chuyện không vui này mà từ bỏ ý định, có lẽ lại quay về Tần, đại vương sẽ mất nhiều hơn được. Nếu đại vương không dùng Huệ Tử, sẽ khiến sĩ tử thiên hạ thất vọng, đại vương cũng mang tiếng có hiền tài mà không biết dùng. Đây chỉ là suy xét về phía đại vương và Trương tướng quốc. Còn về phía Huệ Tử, do bị Trương tướng quốc đuổi đi, sinh lòng căm hận, nếu biết được đại vương có giao tình thân thiết với Trương tướng quốc ắt sinh hai lòng.”

Phùng Hách miệng lưỡi dẻo quẹo, song không phải không có lý. Hoài Vương trầm ngâm một hồi, rồi vòng tay nói: “Dám hỏi sứ thần, hẳn có diệu kế chỉ giáo quả nhân?”

“Diệu kế thì không dám, Hách có lời này, đại vương xin hãy nghe thử!” Phùng Hách vòng tay đáp lễ. “Huệ Tử là người Tống, nghe nói Tống Vương rất coi trọng Huệ Tử, từng chiếu cáo cả nước Huệ Tử là hiền tài, chuyện này đã thành giai thoại trong thiên hạ. Nay Huệ Tử và Trương tướng quốc bất hoà, cả thiên hạ đều biết. Hiện tại, nếu suy xét cho đại vương, Hách cho rằng, đại vương có thể phái người trực tiếp hộ tống Huệ Tử tới Tống, đích thân viết thư tiến cử Huệ Tử lên Tống Vương. Nếu làm vậy, đại vương sẽ một tên trúng ba đích. Thứ nhất gia ân cho Trương tướng quốc, Trương tướng quốc nếu biết được đại vương vì mình mà đuổi Huệ Tử đi, ắt tạ ân đại vương; thứ hai, ban đức cho Huệ Tử, do Huệ Tử nay đã lâm vào đường cùng, được đại vương tiến cử tới Tống, mở cho đường sống, Huệ Tử ắt cảm tạ đức của đại vương; thứ ba, ban huệ cho Tống Vương, do nước Tống gần đây không có đại tài, Tống Vương nếu được Huệ Tử, nước tất thịnh trị, ắt sẽ ghi nhớ ơn huệ của đại vương.”

“Hay lắm, quả là diệu kế!” Hoài Vương lấy làm thán phục, truyền chỉ bày tiệc rượu, cùng Phùng Hách yến ẩm tới tận đêm khuya.

Dụ chỉ của Hoài Vương được Chiêu Dương truyền tới Huệ Thi. Huệ Thi nghe xong, rầu rĩ chán nản, không muốn lưu lại lấy một khắc, ngay đêm đó thu dọn hành trang, gà vừa gáy sáng đã lặng lẽ rời khỏi Sính Đô, thậm chí không cả tới chào Chiêu Dương một tiếng.

Tới khi Trần Chẩn được Hình Tài bẩm báo lại, đã là nửa canh giờ sau.

Trần Chẩn chẳng kịp nói năng, lập tức chuẩn bị xe tứ mã, đuổi gấp lên phía bắc. Đuổi được hơn ba mươi dặm thì nhìn thấy đoàn ngựa xe của Huệ Thi đang lộc cộc lăn bánh.

“Tiên sinh dừng bước!” Trần Chẩn ra roi đuổi theo, lớn tiếng gọi.

Huệ Thi hô dừng xe lại, song vẫn ngồi im trên xe, chỉ ôm quyền mà nói: “Thượng khanh tới đưa tiễn chăng?”

Trần Chẩn xuống xe, vội vã bước tới trước xe Huệ Thi, ôm quyền nói: “Tại hạ không phải tới đưa tiễn, mà là tới giữ tiên sinh!”

“Là thượng khanh muốn giữ, hay là thượng khanh giữ hộ người khác?”

“Là tại hạ muốn giữ!” Trần Chẩn vội nói. “Tại hạ hỏi qua lệnh doãn, biết được đại vương tin lời Phùng Hách, đặc chỉ đưa tiễn tiên sinh. Nếu không nằm ngoài dự đoán của tại hạ, sứ Ngụy Phùng Hách ắt là người của Trương Nghi. Tiên sinh, không phải tại hạ nhất định muốn giữ, mà tại hạ nghĩ rằng, với tài của tiên sinh, vì sao chỗ nào cũng để tên tiểu nhân xảo trá kia chế ngự? Chỉ cần tiên sinh bằng lòng, tại hạ có thể nhờ Chiêu Dương ra mặt, nói rõ chỗ lợi hại với đại vương, tin chắc đại vương sẽ nghe lời Chiêu Dương, giao cho tiên sinh trọng trách. Có tiên sinh ở Sở, chúng ta cùng hợp sức, có thể đấu lại Trương Nghi!”

Huệ Thi cười khẽ mấy tiếng: “Thượng khanh đa nghi quá rồi. Là lão hủ tự rời khỏi Sở, không liên quan tới Trương Nghi!”

“Tiên sinh?” Trần Chẩn kinh ngạc.

“Không giấu thượng khanh,” Huệ Thi đáp lời, “Lão hủ tới Sở, là muốn cậy nhờ Sở Vương, muốn dựa vào sức mạnh của Đại Sở, quyết đấu với Tần. Không ngờ Đại Sở đổi vua, Sở Vương này đã khác Sở Vương kia!”

“Ý tiên sinh là,” Trần Chẩn hít sâu một hơi, “Sở Vương hiện nay chưa xứng đáng để cậy nhờ?”

“Chỉ nghe lời một phía đã lập tức đuổi người đi, là thiếu minh mẫn. Trương Nghi bỏ Tần tới làm tướng Ngụy, muốn hợp Tam Tấn để chế Sở, Sở Vương có mắt mà không thấy, là thiếu sáng suốt. Tần vương mới đăng cơ, đúng lúc đang cần dùng người, lão hủ đường cùng tới cậy nhờ, vua này đã không triệu không gặp thì chớ, giờ lại chưa hỏi cho ra nhẽ đã đuổi đi, là thiếu trí tuệ. Nhà vua đã thiếu minh mẫn, thiếu sáng suốt, thiếu trí tuệ, cậy nhờ thế nào được đây?”

Huệ Thi giờ bỏ đi, cũng chẳng nể nang gì nữa, nói hết ra những bất mãn trong lòng.

Trần Chẩn nghe đã hiểu ra, bật cười vài tiếng, đáp lời: “Theo tại hạ biết, vua thiếu minh mẫn, thiếu sáng suốt, thiếu trí tuệ, thiên hạ không ai hơn được Ngụy Vương, mà tiên sinh đã phò tá Ngụy Vương những mười năm, cớ sao bây giờ một ngày cũng không muốn ở lại Sở?”

“Chính vì lão hủ đã phò tá Ngụy Vương mười năm, nên giờ mới một ngày cũng không muốn ở lại Sở.”

Trần Chẩn thoáng ngỡ ngàng, rồi vô cùng nể phục, vòng tay nói: “Tiên sinh đi lần này, hẳn là muốn tới nước Tống?”

“Đúng vậy.”

“Hẳn muốn phò tá Tống Vương?”

“Than ôi!” Huệ Thi khẽ lắc đầu. “Sở Vương đã không thể phò tá, huống hồ là Tống Vương? Đời người ngắn ngủi, năm tháng uổng hoài, lão hủ đã đến tuổi biết mệnh trời, lá rụng về cội, niềm vui cuối đời, đáng lẽ phải là về nơi quê cha đất tổ, cùng Trang Chu biện luận danh thực mới đúng. Sở dĩ lão hủ bỏ Ngụy tới Sở, kỳ thực là tức giận nhất thời, thật quá ư nực cười.” Đoạn vẫn ngồi nguyên tại chỗ, khẽ vòng tay. “Thượng khanh nếu không còn lời nào khác, lão hủ phải lên đường đây!” Rồi không đợi Trần Chẩn đáp lời, đã vung roi thúc ngựa, tiếp tục hành trình.

Nhìn theo cát bụi mịt mù mỗi lúc một xa, Trần Chẩn không khỏi than vắn thở dài.

***

Tam quân Đại Ngụy chia thành hai lộ, khí thế ngùn ngụt, tiến thẳng tới biên giới Hàn. Ngựa hí xe lăn, bụi cuốn mù trời, tiếng bước chân rầm rập chỉnh tề, nghe đinh tai nhức óc. Võ binh tiên phong đồng loạt khoác giáp trụ sắt ròng do Tần chế tác, bắt sáng lấp loá dưới nắng trời.

Biên giới nước Hàn, lửa hiệu nối nhau bùng cháy.

Cùng lúc đó, năm vạn quân Hàn do Công Trọng Xỉ, Hàn Cử chỉ huy sớm đã dựa vào địa hình, dàn sẵn thế trận ở vùng Hoa Dương phía bắc Trịnh Thành, nghênh đánh trực diện Bàng Quyên.

Đối mặt với kẻ địch yếu ớt, Bàng Quyên có thừa tự tin, vì thế vẫn chọn chính thuật, không giở thủ đoạn kỳ chiêu, binh đối binh, tướng đối tướng, giao tranh trực diện trên sa trường.

Hai quân đối trận, Thanh Ngưu lên khiêu chiến trước, chém liền ba tướng nước Hàn. Quân Hàn đang cơn kinh hãi, bỗng một toán quân uy mãnh xông ra từ bên sườn, tuyền là võ binh giáp trụ, đánh thẳng vào bên phải trận quân Hàn. Sườn phải trận quân Hàn dùng nỏ mạnh tên sắc bắn trả, song giáp trụ và khiên của võ binh Ngụy đúc bằng sắt ròng của chính nước Hàn lại đỡ tên rất hiệu quả, võ binh Ngụy cứ thế ép thẳng tới gần, trường thương tua tủa chĩa thẳng về phía trước, khiến quân Hàn kinh tâm táng đởm, cứ thế đua nhau thoái lui, khiến trận thế rối loạn. Bàng Quyên phất cờ, trung quân thừa thế xông lên chém giết. Quân Hàn chống cự không nổi, hoàn toàn tan rã, lùi liền ba mươi dặm mới ổn định được thế trận, điểm lại binh mã, thương vong hơn vạn, quân nhu, binh khí tổn thất vô số.

Bàng Quyên cũng không vội đuổi theo, quân Ngụy ung dung duy trì đội hình, tiến lên phía trước dọc theo đường lớn, xông thẳng tới phòng tuyến thứ hai của quân Hàn. Quân Hàn dựa vào địa thế lại nghênh chiến, song một lần nữa thất bại, tiếp tục lui về mười dặm hạ trại. Cứ thế đánh liền ba trận, thất bại cả ba, Công Trọng Xỉ không dám đối đầu trực diện, hạ lệnh từ bỏ vùng ngoại ô, rút về cố thủ Trịnh Thành, dựa vào thành trì mà kháng cự đến cùng.

Đại quân Bàng Quyên nhanh chóng áp sát, ung dung bao vây Trịnh Thành từ bốn phía.

Cùng lúc này, Dương Địch cách đó hơn trăm dặm về phía nam cũng bị công phá bởi hữu quân do công tử Tự chỉ huy.

Dương Địch không chỉ là kinh đô thứ hai của nước Hàn, mà còn là trọng ấp kinh thương, có hơn ba vạn binh lính, song đánh hai trận đều thua, đành phải lui về cố thủ trong thành. Quân Ngụy vây thành, Bạch Hổ và Bạch Khởi đích thân lên thành, hỗ trợ phòng thủ. Trong thành, đám thương nhân không ai không căm hận thấu xương người Ngụy quỵt nợ không trả, đua nhau quyên tiền quyên gạo, thợ thuyền các nhà cũng cầm vũ khí, tình nguyện xả thân chống Ngụy.

Trải qua vài ngày kịch chiến, người Ngụy đã để lại dưới chân thành hơn nghìn thi thể, song chưa một lần leo tới được đầu thành. Công tử Tự giận dữ, lại muốn công thành lần nữa, song Bàng Quyên đã ruổi ngựa đến nơi, lệnh cho quân Ngụy lui về năm dặm hạ trại, chỉ bao vây Dương Địch, cắt đứt đường lương. Dương Địch là đất kinh thương, lương thực đều dựa cả vào thương nhân buôn bán, tích trữ không nhiều, Bàng Quyên hiển nhiên muốn vây khốn người Hàn đến chết.

***

Trong lúc Hàn, Ngụy đang hỗn chiến, Điền Kỵ và Tôn Tẫn cùng xuất hiện trong cung Tề.

Bá quan một phen chấn động, đặc biệt là tướng quốc Trâu Kỵ, nhìn thấy Tôn Tẫn, ngỡ là ma quỷ hiện hình, lại thấy Điền Kỵ, lập tức hoả bốc lên đầu, người lảo đảo vài cái, ngã vật xuống đất. Ngự y vội vã tới cứu, hồi lâu mới khiến Trâu Kỵ thở được một hơi, cung nhân bèn đưa về phủ an dưỡng.

Tham gia nghị sự lần này, vẫn là mấy vị trọng thần được Tích Cương vời tới, là Đoạn Can Luân, Trương Cái, Điền Anh và Trâu Kỵ, chỉ là có thêm ba người Tô Tần, Tôn Tẫn và Điền Kỵ.

Trâu Kỵ chết giấc phải đưa về phủ, Điền Tích Cương cười gượng một tiếng, nói: “Về việc cứu Hàn, chư vị cứ bàn bạc trước, đưa ra sách lược, rồi thượng đại phu sẽ bẩm báo lại tướng quốc sau!”

Điền Kỵ khẽ hừ mũi một tiếng, quay mặt sang chỗ khác.

“Chư vị ái khanh!” Tích Cương vào ngay chuyện chính. “Quân Ngụy đã vào biên giới Hàn, nước Hàn bốn bề chiến hoả. Hàn Vương viết huyết thư báo nạn, quả nhân đã hồi âm sứ Hàn, đồng ý cứu Hàn.”

Quần thần nhìn nhau, cùng gật đầu.

“Không giấu chư vị,” Tích Cương nhìn khắp lượt quần thần, rồi ánh mắt dừng lại trên người Tôn Tẫn và Điền Kỵ, “khi hồi âm huyết thư của Hàn Vương, quả nhân vẫn còn băn khoăn trong dạ, nhưng nay trời đã giúp ta, quân sư sống lại, Điền tướng quân trở về, quả nhân cho rằng đã có thể xuất chiến! Bởi vậy, nghị sự hôm nay, không phải bàn chuyện cứu hay không cứu, mà là cứu sớm hay cứu muộn, và cứu như thế nào?”

“Thần cho rằng,” Đoạn Can Luân lên tiếng trước tiên, “cứu muộn không bằng cứu sớm. Nếu cứu muộn, người Hàn có lẽ sẽ phục tùng theo thế Tần, Ngụy mà bỏ tung chọn hoành.”

“Thần không cho là vậy!” Trương Cái tiếp lời. “Cứu sớm không bằng cứu muộn. Hiện tại cuộc chiến Hàn, Ngụy mới chỉ khởi đầu, binh lực đang mạnh, nếu như ta cứu, chính là giơ đầu chịu báng thay Hàn, mất sức mà lại bất lợi, không chừng còn phải nghe theo mệnh lệnh người Hàn. Nhìn vào người Ngụy, hừng hực ý chí phạt Hàn, người Hàn đối mặt với sinh tử tồn vong, lại có đại vương hứa hẹn, ắt sẽ quyết tâm tử chiến. Thần cho rằng, hãy đợi đến khi hai quân Hàn, Ngụy đều mệt mỏi, ta mới xuất quân, thì nước có thể mạnh, lợi có thể được, danh có thể dương.”

Tích Cương nhìn sang Tô Tần, Tô Tần nhìn sang Tôn Tẫn, nói: “Thần tán thành ý của Trương lão, còn dụng binh thế nào, điện hạ có thể hỏi Tôn Tẫn!”

Mọi ánh mắt đều đổ dồn vào Tôn Tẫn.

“Hồi bẩm điện hạ!” Tôn Tẫn vòng tay nói. “Phạt nước lớn, cần chuẩn bị ba năm, tích trữ lương thảo ba tháng. Nay người Ngụy xâm phạm bờ cõi Hàn, hai quân đã giao tranh, sinh tử tồn vong treo trên sợi tóc, bây giờ xuất binh, e đã là cứu muộn rồi. Huống hồ lính năm đô của ta còn chưa tập kết, lương thảo cũng còn chưa cung ứng đủ.”

“Được!” Điền Tích Cương nói. “Chuyện này không cần bàn nữa, quả nhân ý đã quyết, phong Điền Kỵ làm tướng, Tôn Tẫn làm quân sư, Điền Anh làm phó tướng, Khuông Chương chỉ huy tả quân, Trần Đà chỉ huy hữu quân, khởi tam quân mười vạn, chọn ngày làm lễ tế cờ!”

Việc làm đầu tiên của Điền Kỵ sau khi bái tướng chính là cùng Tôn Tẫn vào Tuyết cung thăm Uy Vương. Song Uy Vương không nhận ra họ, nhìn họ mà chẳng khác nào nhìn người xa lạ.

Nhìn vị quân vương uy thế lẫy lừng suốt bao năm qua, nay lại thành ra ngẩn ngơ ngây dại, Điền Kỵ không kìm nổi nước mắt.

Điền Kỵ tính khí nóng nảy, nói làm là làm ngay, vào ngày thứ ba sau khi bái tướng, lập tức điểm binh trên thao trường, vào ngày thứ năm làm lễ tế cờ. Một ngày sau đó, trung quân Lâm Truy khí thế bừng bừng, kéo ra từ các doanh trại dưới chân núi Tắc Sơn, nghìn nghịt tiến về tây.

Trâu Kỵ đổ bệnh.

Ngay sau hôm chết ngất trên triều, Trâu Kỵ đã viện cớ đau ốm, chính thức trình lên thư từ chức, giao trả ấn thụ. Điền Tích Cương tới tận phủ thăm hỏi, an ủi vài câu, trả lại ấn thụ cho Trâu Kỵ, dặn Trâu Kỵ hãy an tâm dưỡng bệnh, trước lúc ra về, còn nắm tay Trâu Kỵ nói: “Hiện tại tam quân đã lên đường, lương thảo quân nhu là quan trọng hàng đầu, ái khanh sức yếu, không tiện đi xa, theo ý ái khanh, giao cho ai giám sát vận chuyển là phù hợp hơn cả?”

“Tô Tần!” Trâu Kỵ ngẫm nghĩ một lát, trầm giọng đáp. “Phạt quốc dụng binh, tướng quân tướng quốc cần hoà hợp. Lần trước phạt Ngụy, lão thần và Điền tướng quân nảy sinh mâu thuẫn, lần này Điền tướng quân lại xuất chinh, chuyện lương thảo, tốt nhất nên giao cho người mà Điền tướng quân tin tưởng đảm nhiệm.”

Tích Cương ngẫm nghĩ một lát, rồi nói: “Cứ theo ý tướng quốc!”

Tô Tần nhận lệnh giám sát vận chuyển lương thảo, tới phủ tướng quốc bái kiến. Trâu Kỵ nằm trên giường, bệnh nặng rên hừ hừ, nên tể phụ Mâu Tân bàn giao cho Tô Tần danh sách quan viên phụ trách lương thảo các ấp và số lượng lương thảo cung ứng các nơi, đồng thời bẩm báo mọi việc liên quan.

Vừa nghe Mâu Tân xưng tên, Tô Tần đã âm thầm kinh ngạc. Trong cuộc chiến vây Ngụy, Tô Tần không dưới một lần nghe Tôn Tẫn nhắc tới Mâu Tân, trong ký ức vẫn còn nhớ như in cái tên này, biết chuyện hắn bao che cho công tử Trâu phủ, cũng là người nhận được mật thư hãm hại Điền Kỵ. Nay người này thoắt cái đã trở thành tể phụ của phủ tướng quốc, hơn nữa tới đây sẽ trợ giúp Tô Tần công việc vận chuyển lương thảo trong một thời gian dài, Tô Tần bất giác hít sâu một hơi, ánh mắt sắc sảo nhìn thẳng vào hắn.

Hai luồng ánh mắt dường như xuyên thấu lục phủ ngũ tạng Mâu Tân!

Mâu Tân cúi gằm mặt, không dám nhìn thẳng.

Hồi lâu sau, Tô Tần thu ánh mắt lại, tiến hành bàn giao. Trong suốt quá trình, có lẽ do kinh hãi trước vẻ uy nghiêm của Tô Tần, cũng có lẽ do khiếp sợ trước chính khí của Tô Tần, Mâu Tân cứ nơm nớp lo sợ, đến thở mạnh cũng không dám. Đợi bàn giao xong xuôi, Mâu Tân cung kính tiễn Tô Tần ra khỏi phủ, nhìn theo xe ngựa khuất dần, cuối cùng mới thở phào một tiếng, buồn bực trở về phủ tướng, tới trước giường Trâu Kỵ.

“Bàn giao xong chưa?” Trâu Kỵ đã ngồi dậy, bỏ khăn ướt đắp trên trán, nhìn Mâu Tân hỏi.

“Đã xong rồi!”

“Ngươi lần đầu tiên gặp Tô Tần?”

“Vâng!”

“Cảm giác thế nào?”

“Ờ…” Mâu Tân thoáng ngập ngừng. “Đệ tử cũng không biết nói thế nào! Chỉ cảm thấy người này lần đầu gặp đệ tử, ánh mắt sắc lẹm, khí thế bức người, khiến đệ tử vô cùng căng thẳng.”

“Sao lại căng thẳng?”

“Cứ như muốn xuyên thấu tâm can đệ tử!”

Trâu Kỵ cười nói: “Là vì ngươi trong lòng có điều chột dạ, nên bản thân ngươi đã căng thẳng, không phải do Tô Tần!” Chỉ vào Công Tôn Hãn bên cạnh. “Nếu là Công Tôn tiên sinh đây, sẽ chẳng có chuyện căng thẳng đâu!”

“Đệ tử…” Mâu Tân ấp úng nói. “Đệ tử không phục! Đệ tử đúng là có điều chột dạ! Chúa công” Giọng nói trở nên khẩn thiết. “Điền Kỵ lần này trở về, hẳn là muốn đòi mạng đệ tử!”

“Đúng vậy. Mâu Tân, ngươi thử nói xem, ngươi có dự định gì?”

“Đệ tử… muốn để họ Điền đó không có gì mà ăn!” Mâu Tân dường như đã bừng tỉnh, dựng ngón cái lên mà nói. “Giờ xem ra, ân sư lần này giả bệnh, thực là tuyệt diệu. Điện hạ để Tô Tần phụ trách lương thảo, mà Tô Tần vốn ở Triệu, chẳng hiểu gì về đất Tề ta, việc phụ trách lương thảo, chẳng phải vẫn nằm cả trong tay đệ tử? Đệ tử chỉ cần giở chút tiểu xảo, Điền Kỵ kia chắc chắn sẽ phải khốn đốn.”

“Hồ đồ!” Trâu Kỵ biến ngay sắc mặt, nghiêm giọng trách cứ. “Mâu Tân, ngươi tuyệt đối không được làm bừa!” Thở hổn hển vài cái rồi mới dịu giọng mà nói. “Mâu Tân, ngươi chớ hiểu lầm ý ta. Chúng ta đều là người Tề, đất Tề là quê nhà của ta. Nếu nước lâm nạn, nhà tất thương vong. Nay ba quân viễn chinh, sự việc liên quan tới tính mạng của nghìn vạn tướng sĩ, chúng ta nên đồng tâm nhất chí, nhất quyết không được làm bừa, lại càng không được vì thù oán riêng tư mà làm hỏng quốc gia đại sự. Còn như Điền Kỵ đắc thế, cũng chỉ là tạm thời, có thể dần dần tính sau!”

“Ân… ân sư!” Mâu Tần giật mình kinh hãi, vội vàng nói chữa. “Đệ tử sai rồi! Đệ tử nhất định kính cẩn tuân lệnh ân sư, tận tâm tận lực, trợ giúp Tô Tần đảm bảo cung ứng quân nhu!”

“Đi đi!” Trâu Kỵ phẩy tay. “Bất luận tiền tuyến xảy ra chuyện gì, đều phải báo ngay cho ta!”

“Đệ tử tuân mệnh!” Mâu Tân quỳ xuống, lạy ba lạy từ biệt.

“Công Tôn tiên sinh!” Nhìn theo bóng Mâu Tân, Trâu Kỵ khẽ thở dài một tiếng, quay sang Công Tôn Hãn. “Lão hủ lần này để Mâu Tân trợ giúp Tô Tần giám sát vận chuyển lương thảo, liệu có sơ suất nào chăng? Nhìn con người này, lão hủ cứ cảm thấy không thể yên tâm!”

“Chúa công!” Công Tôn Hãn nhìn thẳng vào Trâu Kỵ. “Chúa công muốn Điền Kỵ thất bại, hay muốn Điền Kỵ chiến thắng?”

Hiển nhiên, đây là một câu hỏi khiến Trâu Kỵ phải lúng túng. Trâu Kỵ khẽ mấp máy môi vài cái, lại thôi, hồi lâu sau, nằm lại xuống giường, tiếp tục đắp khăn ướt lên trán, từ từ khép mắt lại.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử