Hoài Vương nâng chiến báo từ Đan Dương gửi về, tay run lẩy bẩy, môi miệng lập cập, mặt cắt không còn giọt máu.
Chiến báo đã mở, song vẫn chưa được giở ra.
Chiến báo là do Chiêu Tuy đích thân trình lên. Chiêu Tuy áp tải đoàn thuyền vận lương, xuất phát từ đầm Vân Mộng, đi tới Giao Sính thì gặp một con thuyền nhẹ lướt tới. Thuyền đi rất nhanh, lại xuôi dòng nước, nhìn thấy cờ hiệu trên thuyền Chiêu Tuy thì vội vàng áp lại. Một viên tham tướng áo bào nhuộm máu lấy ra chiến báo, trình lên Chiêu Tuy. Chiêu Tuy đọc xong, lệnh cho thuyền lương tiếp tục đi tới Đan Dương, còn mình nhảy lên thuyền nhẹ, cùng tham tướng kia cấp tốc về Sính.
“Đại vương,” tham tướng kia quỳ mọp dưới đất, giọng nói thảm thiết, kể lại tường tận về trận chiến quỷ khốc thần sầu mà chính mình đã trải qua, đoạn khóc mà nói, “cho tới tận khi Khuất tướng quân tử trận, tướng sĩ bên ta không một ai lùi bước, khi người Tần rút về, mạt tướng tuần sát một lượt chiến trường, thấy tướng sĩ bên ta đa phần trúng thương phía trước. Dù có người bị trúng thương sau lưng, cũng là bị kẻ địch đâm chết trong khi hỗn chiến. Ba gã người Tần kia…thực quá hung hãn, sức khoẻ phi phàm, một người sử thang, một người sử chuỳ, một người sử song chuỳ, đều là ô kim rèn đặc, nặng hàng trăm cân, tung hoành trong trận, cứ chỗ đông người là xông tới, hễ ai ngáng đường, lập tức vong mạng, không thể ngăn cản…Gã sử chuỳ xông thẳng tới tháp chủ tướng, cách vài chục bước ném chuỳ sắt lại, thần lực đó, chẳng ai có thể ngờ…Chuỳ sắt đánh sập tháp tướng, Khuất tướng quân đang ở trên đài phất cờ chỉ huy cũng đổ xuống theo…” Kể đến đây, tham tướng bật khóc.
Hoài Vương nghe mà lệ ứa đầy trong mắt.
“Đại vương,” Chiêu Tuy tiếp lời, “thần đã điều tra kỹ lưỡng, là Ngụy Chương hạ chiến thư trước, Khuất tướng quân không thể không ứng chiến. Nhìn vào cách bài binh bố trận, Khuất tướng quân hoàn toàn không chút sơ hở, thậm chí có thể nói là hoàn mỹ. Người Tần mang năm vạn quân đối trận với sáu vạn nhuệ binh của Khuất tướng quân, sau lưng không có chỗ dựa, trong khi Khuất tướng quân lựa chọn địa thế rất có lợi, lưng dựa Đan Dương, tây là Sơn Lăng, đông là Tích Thuỷ. Ngoài sáu vạn nhuệ binh, Khuất tướng quân còn sắp đặt một vạn quân tiếp ứng trong thành Đan Dương, hai vạn quân mai phục hai bên sơn cốc, lại thêm ba vạn nhuệ binh đồng thời vây đánh Tích Ấp, cắt đứt đường lui của người Tần. Trận thế đó, đủ để tận diệt người Tần…” Dừng lại một chốc, mới tiếp, “than ôi, chỉ là Khuất tướng quân không thể ngờ rằng, trong trận quân Tần lại xông ra ba lực sĩ, không cho ta kịp đề phòng, thình lình xông vào trong trận, thẳng tay tàn sát, khuấy loạn đảo điên. Từ đầu chí cuối, Khuất tướng quân không lúc nào rời khỏi tháp cao, quả là một viên tướng tận trung…Thực quá ư đáng tiếc, nếu như Khuất tướng quân có thể cầm cự thêm nửa canh giờ, để hai cánh viện binh của ta kịp tới, thì người Tần kia…chớ nói có ba lực sĩ, dù thêm ba người nữa, cũng mọc cánh khó bay!”
Hoài Vương nước mắt đầm đìa, chiến báo tuột tay rơi xuống đất.
“Đọc trong chiến báo,” Chiêu Tuy lại tiếp, “tướng sĩ ta hy sinh hơn sáu vạn, song phía Tần cũng tổn thất hơn bốn vạn. Người Tần lần này, thắng nhờ thất tín, nếu như giao chiến theo đúng giao ước, tướng sĩ ta có chút phòng bị, tuyệt đối không đến mức thế này!”
“Người Tần!” Hoài Vương đấm mạnh xuống án, rít lên, “họ đã bao giờ thủ tín?”
“Đại vương,” Chiêu Tuy lại lấy từ trong tay áo ra vài chiến thư nữa, “ta tuy bất lợi trên chiến trường chính, chư tướng Khuất Cái, Phùng Hầu xả thân tuẫn quốc, song thành trì chưa mất, đất vẫn còn nguyên, hơn nữa còn đoạt được vùng núi rộng lớn quanh ải Man Xuyên, giết chết hàng vạn địch. Ngoài ra, phía vương thúc có tiệp báo, vương thúc đích thân dẫn năm trăm dũng sĩ đánh lên núi Thái Bạch, phá huỷ hoàn toàn đàn tế của Tần vu, chém chết toàn bộ hắc vu, rồi rút lui an toàn, không tổn thất lấy một binh một tốt, quả thực là kỳ tích!”
“Kỷ Lăng Quân vẫn ở Hán Trung?”
“Vâng!”
“Hãy vời về ngay!”
“Thần lĩnh chỉ.”
“Còn nữa, điều tra rõ về ba lực sĩ phía Tần, để tìm ra đối sách!”
“Thần lĩnh chỉ.”
Đại thắng bất ngờ đã khiến Trương Nghi thở phào nhẹ nhõm.
Vài ngày sau trận chiến, Trương Nghi xử lý xong xuôi mọi việc, sắp đặt phòng thủ ổn thoả, bèn thủng thẳng theo sau thái tử Đãng quay về Hàm Dương.
Doanh Đãng cậy mình lập được chiến công, dương dương tự đắc quay về cung thành, nào ngờ vừa vào đến cổng cung, đã bị thị vệ phụng chỉ bắt trói, giải vào đại lao. Hai người Nhậm Bỉ, Ô Hoạch cũng cùng chung số phận.
Giam được ba ngày, Trương Nghi vào cung yết kiến.
“Quả nhân tức chết!” Huệ Vương vẫn đùng đùng giận dữ, “quả nhân năm lần bảy lượt dặn dò, bảo nó không được can dự việc quân, chỉ được giám sát quân tình, vậy mà nó…lại dám bức bách chủ tướng thay đổi sách lược, còn không thỉnh tự chiến, coi thường quân pháp, dẫn đầu phá trận…Chao ôi, còn ra thể thống gì đây?”
“Đại vương,” Trương Nghi cười nói, “chuyện trước đó, thần đều có mặt, trận chiến về sau, thần không tận mắt chứng kiến. Theo thần suy đoán, chuyện này không thể hoàn toàn trách điện hạ. Điện hạ làm vậy, hẳn do thiên mệnh sai nên!”
“Thiên mệnh sai nên?” Huệ Vương sửng sốt.
“Điện hạ hiếu võ.” Trương Nghi dõng dạc giải thích, “trong thời chiến tranh này, mọi chuyện đều phải dựa vào vũ lực. Ví như lần này giao tranh với Sở, người Sở thế lớn, binh lực gấp đôi ta. Thần cùng Ngụy Chương vô cùng lo lắng, bởi chỉ được thắng, không được phép bại. Do chỉ được thắng, nên phải suy tính để đánh một trận chắc thắng, bởi đó mà rụt rè nơm nớp, chọn thế phòng ngự, đối luỹ giằng co, muốn kéo dài thời gian để tiêu hao người Sở. Chính vào lúc này, điện hạ xuất hiện. Điện hạ xuất kỳ chiêu thủ thắng, sở dĩ có thể dùng năm vạn nhuệ binh đánh tan chín vạn quân Sở, hoàn toàn nhờ vào hai đại dũng sĩ trợ thủ là Nhậm Bỉ và Ô Hoạch. Nghe điện hạ kể, hai vị dũng sĩ này vừa mới đến đầu quân từ sau khi điện hạ được nhiệm làm giám quân. Đại vương có từng nghĩ rằng, điện hạ hiếu võ, luôn thích tìm kiếm lực sĩ thiên hạ, nhưng sớm không tìm được, muộn không tìm được, lại đúng lúc giao chiến với Sở thì tìm thấy, lẽ nào không phải ý trời?”
“Khanh nói cũng phải.” Huệ Vương nghe đã lọt tai, “thế nhưng, Doanh Đãng coi thường vương mệnh, tự ý chủ trương, đưa thân vào nguy hiểm, phạm đến luật pháp Đại Tần, chiếu theo luật lệnh…phải trị tội!”
“Đại vương thánh minh, điện hạ đưa thân vào nguy hiểm, đúng là nên trừng phạt!
“Theo ý khanh, nên trừng phạt thế nào?”
“Theo ý thần,” Trương Nghi ngẫm nghĩ một thoáng, “điện hạ không tiếc quý thể, mang thân thái tử xông pha trận mạc, đáng phải trừng phạt. Điện hạ dẫn đầu sĩ tốt, dũng cảm xung trận, dùng sức một người mà chém đầu trăm địch, hai dũng sĩ thuộc hạ Nhậm Bỉ, Ô Hoạch bất chấp rừng giáo mưa tên, giết chết chủ tướng quân Sở, lập nên công lao hiển hách, đáng phải trọng thưởng. Còn như thưởng thế nào, phạt thế nào, hoặc là lấy thưởng bù phạt, hoặc là lấy phạt bù thưởng, đều do đại vương quyết định.”
“Truyền chỉ,” Huệ Vương quay sang nội thần, “dẫn tội nhân Doanh Đãng vào cung yết kiến!”
Nội thần dẫn theo thị vệ tức tốc tới đại lao, đưa Doanh Đãng vào cung.
Doanh Đãng cổ đeo gông nặng, chân lê xích sắt loảng xoảng, quỳ xuống trước mặt Huệ Vương: “Nhi thần khấu kiến phụ vương!”
“Doanh Đãng,” Huệ Vương nhìn trừng trừng vào hắn, “đã biết tội chưa?”
“Nhi thần biết tội!” Doanh Đãng đáp.
“Tội gì?”
“Tội tự ý giết địch!”
“Sai!” Huệ Vương vỗ mạnh xuống án.
“Phụ vương?” Doanh Đãng ngước mắt nhìn sững vào Huệ Vương.
“Tội của ngươi, là làm trái ý chỉ của quả nhân!”
“Nhi thần đã biết lỗi rồi, nhưng nhi thần…” Doanh Đãng im bặt, song sắc mặt rất không phục. “Hừm!” Huệ Vương cười nhạt, “một lời ’tự ý’, coi như biết lỗi rồi ư? Quả nhân hỏi ngươi, trận chiến Đan Dương, đã giết tổng cộng bao nhiêu địch?”
“Sáu vạn!”
“Sáu vạn này, đều do ngươi giết?”
“Không phải!”
“Là ai giết?”
“Binh sĩ tam quân ta.”
“Tại sao lại giết?”
“Ra trận giết địch!” Doanh Đãng vội đáp, “là lẽ đương nhiên!”
“Sai!” Huệ Vương chỉ mặt hắn, giọng rít qua kẽ răng, “họ không phải vì giết địch, mà là vì cứu ngươi!”
Doanh Đãng ngậm miệng, tiếng thở phì phì.
“Có biết thế nào là thái tử không? Thái tử là quân vương tương lai của đất nước, là dòng mạch của xã tắc, là quy tụ của lòng dân, trách nhiệm hệ trọng nhường nào, vậy mà ngươi lại dám bức bách chủ tướng đối trận với địch tại nơi bất lợi, ỷ vào sức khoẻ, không bẩm chủ tướng, liều thân xung trận. Ngươi có biết, sau khi ngươi tự tiện xông lên, chủ tướng Ngụy Chương là người đầu tiên xung trận cứu ngươi? Tiếp đến là toàn quân năm vạn tướng sĩ! Ngươi cậy sức một mình mà đẩy năm vạn tướng sĩ vào hiểm cảnh, bị chín vạn quân Sở bủa vây trùng trùng, đó là chưa tính đến ba vạn quân trấn thủ Tấn Dương cùng quân tấn công Tích Ấp gần trong gang tấc! Những hơn chục vạn người Sở! Cho dù tất cả có là lợn đi chăng nữa, ngươi có giết hết được chăng? Các ngươi có thể thủ thắng, các ngươi có thể thoát thân, chỉ nhờ một điều may mắn, chính là kịp giết chủ tướng quân Sở. Bằng không, chỉ cần thêm nửa canh giờ, ba kẻ các ngươi, cộng thêm tất cả tướng sĩ đã kiệt sức vì giao chiến, đều đã nằm lại trên tuyết trắng ngoài thành Đan Dương!” Huệ Vương càng nói càng giận dữ, càng quát lên như sấm, bàn tay vỗ án thình thình.
Doanh Đãng không dám ho he một tiếng.
“Còn may là trời đã giúp ngươi, thắng được trận này!” Huệ Vương thở hắt ra, “bằng không, ta sẽ vằm xác ngươi ra để tế năm vạn anh linh tử trận!” Nhìn sang nội thần, “tháo gông cho thái tử!”
Hai thị vệ bước lại, tháo bỏ gông cùm và xiềng xích cho Doanh Đãng.
“Tạ ơn phụ vương không giết!” Doanh Đãng dập đầu bình bịch.
“Ngươi nên cảm tạ tướng quốc đại nhân đây!” Huệ Vương chỉ vào Trương Nghi, “đều nhờ tướng quốc nói đỡ cho ngươi đó!”
Doanh Đãng quay sang, nhìn trừng trừng vào Trương Nghi.
Trương Nghi nhìn lại, khẽ nheo mắt cười.
“Doanh Đãng tạ ơn tướng quốc nói giúp!” Doanh Đãng ôm hờ quyền một cái, rồi không chờ Trương Nghi đáp lễ, quay sang Huệ Vương, “phụ vương, nếu không có việc gì nữa, nhi thần xin cáo lui!” Nói đoạn đứng dậy, sải bước ra khỏi điện. Trương Nghi khẽ cười, nhìn sang Huệ Vương: “Điện hạ vẫn là điện hạ!”
Huệ Vương sắc mặt tối sầm, thở phì phò vài tiếng, từ từ nhắm mắt lại.
Bạch Vân đã trở về.
Tuy nhiên, mọi thứ đều như hắc hịch kia đã nói, tinh khí của nàng không còn có thể quay về thân xác. Sau khi đám mây trắng kia bay về được ba ngày, cơ thể Bạch Vân tuy vẫn mềm mại, song khí đã tuyệt.
Thợ mộc người Ba đẵn tuyết tùng trên núi đóng cho Bạch Vân một cỗ quan tài, Hát Quan Tử tự tay liệm nàng vào trong quan, đưa vào chính điện của miếu Vu Hàm, thờ ngay dưới tượng đại thần.
Người Ba xa gần kéo nhau tìm tới, mặc trang phục đẹp đẽ nhất, đem theo tài sản quý giá nhất, dâng lên Bạch Vân cùng đại thần Vu Hàm, sau đó ngồi trước miếu, nghe Hát Quan Tử gảy đàn, nghe Khuất Bình ngâm tụng khúc Vân trung quân.
Sau đó, Khuất Dao vì lo lắng chuyện ở Đan Dương, bèn từ biệt Khuất Bình, vội vã xuống núi. Còn Khuất Bình ở lại trong đại điện của miếu Vu Hàm, ngày đêm túc trực bên quan tài của Bạch Vân.
Cùng ở lại với Khuất Bình, còn có Nam Nam.
Ngày lại ngày lặng lẽ trôi qua, rồi đến một hôm, vào một buổi chiều lạnh lẽo, Khuất Dao lại lên núi. Khuất Dao một thân hiếu phục, bước chân nặng nề tiến vào thần điện.
“Hiền đệ?” Khuất Bình nhìn sững vào tấm áo tang.
Khuất Dao khuỵu xuống, bật khóc thảm thiết.
“Sao thế?” Khuất Bình vội hỏi, sực nhớ tới trận chiến với Tần, chợt rùng mình ớn lạnh, “đã có chuyện gì?”
“Ta chiến bại ở Đan Dương, phụ thân đã…” Khuất Dao nghẹn ngào đáp.
“Ta hiểu rồi, ta hiểu rồi, ta sớm đã hiểu rồi…” Khuất Bình giọng cũng lạc đi, không ngừng lẩm bẩm.
“Phải,” Khuất Dao tiếp lời, “đại vương…đã không chịu nghe anh…”
“Tử chiến bao nhiêu?”
“Riêng chiến trường Đan Dương, đã hơn sáu vạn, chiến trường khác chừng hai vạn, tổng cộng tám vạn.”
“Người Tần thì sao?”
“Chừng sáu vạn.”
“Họ…tử chiến thế nào?”
Khuất Dao kể lại một lượt tình hình chiến sự mà mình đã được nghe, đoạn nói: “Đại vương hối hận rồi, hối hận vì đã không nghe lời anh, nên phái em tới đây, vời anh về Sính!” Rồi lấy ra tờ chỉ dụ, trao cho Khuất Bình.
Khuất Bình mở ra, là do Hoài Vương đích thân ngự bút, viết rằng: “Quả nhân lấy làm hối hận, ngày nào cũng tưởng nhớ đến khanh. Quả nhân có lỗi với khanh, với tư tế, với tám vạn tướng sĩ. Khanh hãy về đây, quả nhân không thể thiếu khanh.” Khuất Bình tay nâng chỉ dụ, nước mắt rưng rưng. Rồi ngoảnh đầu lại, nhìn vào cỗ quan tài của Bạch Vân.
Hồi lâu sau, Khuất Bình tiến lại, mở nắp quan tài. Bên trong, Bạch Vân vẫn nằm im như ngủ.
Khuất Bình ghé sát lại bên nàng, thì thầm:
“Vân Nhi, nàng hãy xem, đại vương đã ban chỉ dụ, đại vương đã nhận sai rồi!” Nói đến đây, nước mắt đã tuôn lã chã, “sai lầm lần này, thực sự quá lớn. Vân Nhi, sinh mệnh của tám vạn tướng sĩ, cớ sao đại vương…lại không chịu nghe từ đầu? Cớ sao lại không chịu nghe?” Khe khẽ vỗ về nàng một lát, lại nói, “Vân Nhi, có còn nhớ chú của ta, cha của em Dao, chú ấy đã tử chiến…Và tám vạn tướng sĩ của ta, tất cả đều tử chiến giữa sa trường, không phải trên đường tháo chạy…Than ôi, họ đã kiên cường đối mặt với cường địch, không lui một bước, đánh đổi lấy sáu vạn lính Tần…Ta muốn ngâm tặng họ một bài, tạm gọi là Quốc thương, để dâng lên những anh linh ấy…”
Nói tới đây, trước mặt Khuất Bình như hiện ra cảnh chiến trường bi tráng giữa Đan Dương, Tích Thuỷ, trống chiến vang rền, binh khí va chạm, máu thịt tơi bời, ngựa xe rầm rập…
Khuất Bình tâm tư bi thiết, khe khẽ ngâm nga:
Tay cầm giáo, toàn thân mang giáp,
Xe va nhau, san sát gươm đao.
Cờ rợp hóng địch ào ào,
Quân tranh lên trước, tên rào rào bay.
Vào trận ta xéo giày hàng ngũ,
Ngựa hai bên một tử một thương.
Xe vùi bánh, ngựa ghìm cương
Tay vung dùi ngọc trống vang thùng thùng,
Đất trời thảm đạm mịt mùng
Toàn quân chết thảm, đầy đồng xác phơi.
Biết bao kẻ đi rồi đi mãi,
Chốn xa xôi dầu dãi đồng hoang.
Mang trường kiếm, cắp cung Tần,
Đầu dù lìa xác không sờn lòng trung.
Này vũ dũng oai hùng hết nhẽ,
Sống cương cường đâu dễ chịu khinh.
Chết rồi thần vẫn còn linh,
Phách hồn cương nghị còn vinh anh hùng.
Khuất Bình ngâm rồi lại ngâm, Khuất Dao nghe mà nước mắt giàn giụa.
Sáng sớm hôm sau, Khuất Bình nhìn Bạch Vân lần cuối cùng, rồi đậy nắp áo quan lại, gửi Nam Nam cho Hát Quan Tử, từ biệt lên đường, cùng Khuất Dao xuống núi, đáp thuyền thuận theo dòng nước, xuôi về Sính Đô.
“Khuất Tử…” Nghe nói Khuất Bình đã quay về, Hoài Vương chân thấp chân cao chạy ra tận cửa điện nghênh đón, nắm chặt tay Khuất Bình, nghìn vạn lời muốn nói, gói gọn trong hai tiếng.
“Đại vương…” Khuất Bình cũng đáp lại hai tiếng. Hoài Vương nhìn đăm đăm vào Khuất Bình, hồi lâu mới buột ra một tiếng than: “Khanh gầy đi nhiều quá!”
“Vâng, đại vương, người cũng gầy hơn trước!”
“Là quả nhân đã hại khanh, và cả tư tế. Quả nhân…có lỗi với nàng…” Hoài Vương nắm chặt tay Khuất Bình, kéo vào trong điện, ấn ngồi xuống chiếu.
“Đại vương, đây là nạn không thể tránh của Sở!”
“Than ôi,” Hoài Vương thở dài não nề, “khanh không phải an ủi quả nhân. Là quả nhân quá tin Trương Nghi nên mới gây ra đại hoạ này, hối hận cũng không kịp nữa! Những ngày nay, quả nhân suy đi nghĩ lại, khanh đã nói đúng. Lần này khanh trở về, quả nhân sẽ giao lại trọng trách cho khanh. Trọng trách lệnh doãn, Chiêu Tuy không đủ sức gánh vác. Trước kia nhiệm dụng Chiêu Tuy, chỉ bởi khanh mắc bệnh.”
“Dám hỏi đại vương,” Khuất Bình nhìn thẳng vào Hoài Vương, “liệu còn tạo hiến cải chế?”
“Than ôi, Khuất ái khanh,” Hoài Vương lại thở dài rầu rĩ, “quả nhân thì vẫn muốn tạo hiến cải chế, có điều việc đến hiện tại, khanh đều đã thấy cả rồi. Lần này phạt Tần, dù là vương thân hay tông thân, thảy đều tận tâm tận lực, nhà nào cũng có người bỏ mạng sa trường. Máu họ đổ xuống còn chưa khô, quả nhân nếu lại cải chế, thực là bất cận nhân tình. Bởi vậy, quả nhân mới nghĩ, hiện tại, người Tần mới là việc lớn, cải chế lại là việc nhỏ. Tám vạn tướng sĩ của ta không thể đổ máu vô ích.” Giọng nói chợt trở nên kích động, “quả nhân ý đã quyết, trong vòng ba năm, Đại Sở sẽ dốc hết quốc lực, quyết chiến với Tần. Không đoạt lại Thương Ư, không giết chết Trương Nghi, quả nhân chết không nhắm mắt!”
“Đại vương,” Khuất Bình nhìn sững vào Hoài Vương, “người vừa khẳng định thần nói đúng. Vậy thì, nếu thần đã đúng, cớ sao đại vương lại không nghe?”
“Đó là chuyện quá khứ, quả nhân bị Trương Nghi mê hoặc!”
“Mê hoặc đại vương, không phải là Trương Nghi, mà là chính bản thân đại vương đó. Là đại vương quên mất ý nguyện ban sơ, là đại vương nôn nóng thành công, là đại vương mong không đánh mà được Thương Ư, là đại vương chỉ nghe chỉ tin một phía, là đại vương quyết đoán quá nhanh vào lúc không nên quyết đoán, song lại do dự thoái lui vào lúc nên quyết đoán…” Sau khi trải qua kiếp nạn sinh tử, Khuất Bình đã không màng tất cả, trước mặt Hoài Vương cũng không buồn giữ kẽ, mà nói thẳng thừng không chút nể nang.
Hoài Vương sắc mặt tím tái, hơi thở gấp gáp, hồi lâu sau, mới cười gượng mà nói: “Khuất Tử, chuyện của hôm qua, đừng nên nhắc lại, quan trọng là hôm nay và ngày mai. Bên cạnh quả nhân không thể thiếu khanh. Từ nay về sau, bất luận kẻ khác nói gì, quả nhân cũng sẽ không nghe, chỉ nghe một mình khanh. Việc cấp bách hiện tại, chính là chức lệnh doãn, khanh không thể từ chối. Quả nhân đã hỏi Kỷ Lăng Quân, vương thúc cũng có ý này. Nếu khanh không có ý khác, quả nhân sẽ lập tức triệu Chiêu Tuy tới, nhiệm hắn chức khác.”
“Đại vương nếu chịu nghe thần, thần vẫn giữ nguyên ý định ban sơ, tạo hiến cải chế, thay cũ đổi mới.” Khuất Bình ngữ khí quả quyết, “nếu đại vương quyết theo sách này, thần nguyện làm lệnh doãn, tận lực cải chế, liều chết mở đường. Bằng không, thần…” Dừng lại nửa chừng.
Hoài Vương hít sâu một hơi, hai tay ôm đầu, vò mạnh một hồi.
Không biết bao lâu sau, Hoài Vương mới buông tay, nhìn sang Khuất Bình, cất giọng chậm rãi mà kiên quyết: “Khuất Tử, việc tạo hiến cải chế, có thể thi hành, song không phải việc cấp bách. Ý quả nhân đã quyết, việc cấp bách trước mắt, là quyết chiến với Tần! Quả nhân đã nhẩm tính, trong trận Đan Dương, ta có tám vạn quân tuẫn quốc, song người Tần cũng tổn thất sáu vạn. Đại Sở có hai nghìn vạn dân, Tần kia có được bao nhiêu? Cộng thêm Ba Thục, không quá năm trăm vạn. Ta vẫn đông gấp bốn lần. Hơn nữa, ta có ải Kinh Tử, nay lại thêm Man Xuyên, Thương Ư đã gần trong gang tấc. Nếu lại được Thương Thành, thì ải Vũ Quan khác nào vật trong túi…”
“Đại vương…” Khuất Bình không muốn nghe thêm, lên tiếng cắt lời.
“Thế này vậy,” Hoài Vương im lặng một thoáng, nhìn thẳng vào Khuất Bình, “chức lệnh doãn, khanh tạm thời không làm cũng được. Thứ nhất, khanh vừa hồi phục sau cơn bạo bệnh, vẫn cần nghỉ ngơi tĩnh dưỡng. Thứ hai, cường địch sờ sờ trước mắt, quả nhân chẳng còn tâm trí để lo trị nội. Đợi quả nhân đánh bại người Tần, thu phục Thương Ư, lúc đó lại dùng Khuất ái khanh tạo hiến cải chế, được chứ?”
“Thần…” Khuất Bình không nói được nên lời.
“Khuất Bình,” Hoài Vương lại nhìn xoáy vào Khuất Bình, “ở Đại Sở ta, vương thân, tông thân, rối ren phức tạp, khó mà nói hết. Bất kể thế nào, hơn trăm năm qua, mỗi khi đại sự giáng xuống đầu, thực sự có thể an bang định quốc, vẫn chỉ là ba họ Khuất, Cảnh, Chiêu. Ba họ hưng, Đại Sở hưng; ba họ suy, Đại Sở suy. Tuy nhiên, cho đến giờ đây, ba họ Đại Sở dường như đã vắng người kế tục, khiến quả nhân vô cùng lo lắng. Phải làm thế nào để chấn hưng ba họ, tôi rèn anh tài hậu bối, việc đó có liên quan tới tương lai của Đại Sở. Đây là nhiệm vụ hệ trọng, quả nhân sẽ giao lại cho khanh. Không chỉ là ba họ, cả các chính sự nội vụ của vương tử, vương thân, quả nhân cũng phó thác cho khanh.” Quay sang cung doãn, “soạn chỉ, chiếu mệnh Khuất Bình làm Tam Lư đại phu, tổng quản ba họ Khuất, Cảnh, Chiêu cùng mọi việc liên quan tới vương thất, tông thân.”
“Thần lĩnh chỉ!” Cung doãn lập tức ghi lại.
“Tạ ơn đại vương hậu ái!” Thấy Hoài Vương chủ ý đã quyết, Khuất Bình thở dài một tiếng, cũng đành dập đầu tạ ơn, “thần xin cáo lui!”
Phía bắc Giang Thuỷ, bên bờ Đông Hải có một vùng đất lầy trũng. Nơi đây đất rộng người thưa, đầm trạch tiếp nối, kéo dài tới vài trăm dặm, bốn phía hơi cao, ở giữa trũng xuống, từ trên cao nhìn xuống, hình thù như cái đĩa nông. Hoài Thuỷ cuồn cuộn, chảy qua mé bắc của chiếc đĩa khổng lồ này rồi đổ vào biển lớn. Xung quanh vành đĩa toả ra vô số đường thuỷ, nối liền hồ đầm cùng sông biển. Bình thường không sao, gặp năm lũ lụt, hồng thuỷ dâng cao, hồ chằm trong đĩa thoát nước không kịp, dâng thành biển nước mênh mông, nên dân chúng ở đây không dám định cư trong lòng đĩa, đa phần dựng thôn lập trại ở xung quanh vành đĩa. Khi gặp lũ lụt, họ sẽ chèo chống thuyền bè, đi lại như thoi đưa trong lòng đĩa, đánh bắt cá tôm. Khi nước lũ rút đi, họ lại trồng đay trồng dâu, chăm chỉ với ruộng vườn.
Đất này vốn thuộc Đông Di, sau bị người Ngô chiếm mất, sau nữa thuộc về người Việt, khi Sở được Việt, lại thành đất Sở. Người Sở ở Sính Đô thường gọi vùng đất rộng lớn ở trung du, thượng du Hoài Thuỷ là Đông Quốc, còn vùng hạ du Hoài Thuỷ mới có được từ Việt được họ gọi chung là Hạ Đông Quốc. Khi chinh phục đất này, Chiêu Dương là chủ tướng, công lao lớn nhất, Sở Uy Vương luận công khen thưởng, đã ban cho ông ta vùng sông ngòi đầm trạch hình như chiếc đĩa rộng hơn hai trăm dặm vuông đó. Lúc đó, Chiêu Dương hoài bão cao xa, đương nhiên chẳng thèm để mắt đến mảnh đất này, sau khi thụ phong, chưa từng một lần đặt chân tới. Ngờ đâu thời thế xoay vần, một bức chiếu thư của Hoài Vương, đã biến nơi đây thành nơi phó thác tuổi tàn của Chiêu Dương.
Kẻ tâm đắc với nơi đây, lại bỏ công xây dựng thành một gia viên tuyệt diệu, chính là quản gia đắc lực của Chiêu phủ, Hình Tài. Có lẽ bởi dự cảm trước được điều gì, nên Hình Tài đã dốc sức tôn tạo đất này. Sau nhiều lần thỉnh giáo các phương sĩ phong thuỷ, Hình Tài đã chọn được một nơi cao ráo nằm trên mực nước lũ tại mé tây nam chiếc đĩa để xây dựng trang ấp cho Chiêu Dương. Trang ấp tựa lưng vào ngọn núi đất cao chừng trăm trượng, từ đây nhìn xuống, một vùng hồ đầm bát ngát thu hết vào trong tầm mắt, cho đến tận bờ đối diện, quả là phong cảnh hữu tình. Kỳ diệu hơn nữa, vùng hồ đầm này có đường thuỷ thông tới đầm lớn phía tây, từ đầm lớn này về nam sẽ thông tới Giang Thuỷ, đi được thuyền lớn; lên phía bắc lại thông tới Hoài Thuỷ, xuôi theo Hoài Thuỷ về đông, sẽ ra biển lớn, ngược dòng Hoài Thuỷ lên bắc, sẽ tới các nước thượng du sông Tứ; theo Hoài Thuỷ về tây, có thể xuyên suốt vùng Đông Quốc đất Sở, quả là một nút giao thông đường thuỷ thông suốt bốn phương tám hướng.
Ở chỗ đất cao vốn có một thôn, gồm khoảng trăm hộ người Việt sinh sống, không làm đồng áng, ở trong nhà đất, đánh bắt cá để sinh nhai. Hình Tài nhờ phương sĩ phong thuỷ chọn đất xong rồi, bèn chiêu mộ tới một đội thợ mộc khéo tay từ Sính Đô và các vùng lân cận, dùng thuyền lớn vận chuyển gỗ đá các nơi, rồi phỏng theo kiểu cách của Chiêu phủ ở Sính Đô, xây nên một phủ trạch mới. Sau đó, lại dựng thêm vài dãy nhà dân, sắp xếp cho thôn dân tới ở, dỡ bỏ nhà cũ, khiến diện mạo xóm thôn đổi khác hoàn toàn. Tiếp đến, Hình Tài lại cho tu tạo một loạt công trình, đường sá, bến đò, chợ búa, nhà xưởng, nhà dân, quán trọ, không thiếu thứ gì, rồi dán cáo thị khắp các vùng xung quanh, phàm người thạo nghề, đều có thể tới ấp này nhận nhà ở mở cửa hiệu, chỉ cần ở đủ hai mươi năm, nhà ở cửa hiệu sẽ là của họ mãi mãi. Tiếng lành đồn xa, đã thu hút đến một lượng lớn thợ thuyền có tài nghệ nhưng không nhà không cửa trong vòng vài trăm dặm. Đến khi Chiêu Dương bị biếm trích, dong thuyền tới đây, thì thực ấp này đã trở thành một ấp lớn biên thuỳ sông nước hữu tình với vài nghìn dân, buôn bán giao thương tấp nập.
Trên ngọn núi đất không phải quá cao này, rừng cây rậm rạp, vô số cổ thụ hàng trăm năm tuổi, gốc to đến mấy người ôm không hết. Trong rừng cây có một lầu gác hai tầng mới dựng. Ngồi trên gác này, nhìn về đông bắc, đầm lớn ngay trong tầm mắt; nhìn sang tây nam, tầm nhìn càng mở rộng, bao quát cả vùng đầm trạch sông ngòi, là nơi thông tới Giang Thuỷ, thẳng tới Sính Đô.
Chiêu Dương thích lên gác này, dựa lan can dõi mắt trông xa.
“Chiêu huynh,” Trần Chẩn chỉ vào đầm lớn phía xa, “nghe nói đầm này vốn gọi là Hồng Trạch, là Chiêu huynh đã đổi thành Mộng Trạch ư?”
“Phải!” Chiêu Dương đáp.
“Nếu là vậy,” Trần Chẩn lại chỉ vào một đầm nước ở gần, “đầm này nên gọi là Vân Trạch?”
“Lão đệ đoán đúng rồi đấy!” Chiêu Dương bật cười, thu lại ánh nhìn, ngoảnh sang Trần Chẩn.
Trần Chẩn tới đây vào hai ngày trước, trên một con thuyền lớn, chở theo toàn bộ của nả gia tài. Đi cùng với cả nhà Trần Chẩn còn có nhà Lâm Đông. Lâm Đông thành hôn với Đào Hồng ngay sau khi Trần Chẩn rời khỏi nước Ngụy, hai người đã có với nhau bốn mặt con một trai ba gái. Bao năm sóng gió đã khiến hai kẻ này sáng mắt, quyết định phần đời còn lại sẽ đi theo Trần Chẩn. Họ đều là kẻ tinh ranh, làu thông các mánh cờ gian bạc bịp, đã chơi khắp các sòng bạc liệt quốc, còn ma mãnh hơn Thích Quang nhiều. Thứ họ thiếu, là thế, bởi đánh bạc là trò liều mạng, không có thế để nhờ cậy, rất khó sinh tồn. Ở nước Ngụy, họ dựa thế của Trần Chẩn. Sau khi Trần Chẩn đi rồi, An Ấp suy vi, bọn họ không dám chơi trò cờ bạc, song cũng không nỡ từ bỏ lầu Nguyên Hanh, bèn biến lầu này thành lữ điếm, rửa tay gác kiếm, làm ăn tử tế, cho tới khi Trần Chẩn gọi họ tới Sính Đô. Lần này, Trần Chẩn lại bỏ Sính Đô mà đi, họ không còn chỗ dựa, bèn bỏ luôn lầu Nguyên Cát, dắt díu cả nhà theo Trần Chẩn. Có thêm hai người ở bên chăm lo chu đáo, Trần Chẩn cũng lấy làm vui vẻ, từ đó coi Lâm Đông là quản gia, Lâm Đông cũng mãn nguyện với thân phận này. Còn Đào Hồng thì quấn quýt Y Na như hình với bóng.
Trần Chẩn chép miệng mấy cái: “Xem ra, Chiêu huynh vẫn không quên được Sính Đô!”
Chiêu Dương ngoảnh mặt nhìn về Sính Đô, bỗng nhiên ứa lệ.
Phải, nơi đó có toàn bộ cơ đồ mà Chiêu Dương một tay gây dựng suốt mấy mươi năm, phủ trạch, thê thiếp, cháu con, gia tộc, đồng liêu…Tất cả những thứ này, Chiêu Dương đều không thể hoặc không muốn mang tới, bởi Chiêu Dương không một khoảnh khắc nào không nghĩ đến chuyện quay về.
“Than ôi,” Trần Chẩn thở dài, “hôm qua, ngay trên gác này, tại hạ đã kể hết toàn bộ mọi chuyện xảy ra ở Sính Đô cùng với căn nguyên cho Chiêu huynh nghe, lẽ nào Chiêu huynh vẫn không hiểu?” Dõi mắt nhìn ra cảnh đẹp xung quanh, “đất này tuyệt diệu là thế, sắc hồ bóng núi, ngư thuyền ca hát chiều hôm, nếu đến tầm tuổi như Chiêu huynh đây mà tại hạ có được cơ ngơi thế này, hẳn trong mơ cũng sẽ bật cười tỉnh giấc.”
“Lão đệ,” Chiêu Dương gạt nước mắt, cười nói, “nếu lão đệ thấy thích đất này,” đưa tay chỉ về phía xa, “trăm dặm vuông kia, cứ lựa chọn tuỳ thích, ngu huynh đây chia cho lão đệ một nửa.”
“Chiêu huynh có chia cũng vô dụng thôi.” Trần Chẩn xua tay lia lịa, “tại hạ trọ lại nơi đây, thì không có gì khúc mắc. Thế nhưng sau khi hai ta cùng trăm tuổi, tới đời con, đời cháu, kiểu gì cũng đẩy chúng vào chỗ tranh giành.”
“Tại hạ sẽ lập khế ước làm bằng!”
“Đó là bằng cớ của Chiêu huynh, chứ đâu phải bằng cớ của Sở Vương.” Trần Chẩn lắc đầu, “hơn nữa, dù là bằng cớ của Sở Vương, cũng ích gì? Đến khi người Tần đánh tới, tiên miếu lăng mộ của tông thất Sở Vương e còn khó giữ, huống chi là chứng cứ phân phong của Sở Vương?”
“Ý lão đệ là, Đại Sở mênh mông của ta, thực sự đã đến hồi kết thúc?” Chiêu Dương hai mắt trợn trừng.
“Nước Sở của Chiêu huynh, xét về địa vực, đúng là lớn thực.” Trần Chẩn chỉ ra xung quanh, “chỉ riêng hai trăm dặm vuông này của Chiêu huynh, đã không chỉ gấp đôi kinh kỳ của Chu thiên tử, thế nhưng Chiêu huynh, khi mua đồ ngoài chợ, giá bán có luận theo kích thước không? Nước Sở của Chiêu huynh, nhân khẩu đúng là đông thực, nhưng thế gian hiện tại, con người có luận theo nhiều ít không? Nghìn quân dễ được, một tướng khó cầu. Đại Sở dù rộng lớn, chẳng qua cũng được cai trị bởi một người, mà một người đó, nếu như ngu độn ngông cuồng, thì sao? Năm xưa khi nước Ngụy xưng hùng, Đại Sở mênh mông của Chiêu huynh có dám tranh phong với Ngụy? Vậy mà nước Ngụy sau đó, chỉ vì bị cai trị bởi một người, già nua mê muội, chí lớn tài hèn, kết quả ra sao, Chiêu huynh đều đã thấy.”
“Than ôi!” Chiêu Dương thở dài buồn bực, vỗ mạnh xuống án.
“Người hiểu Ngụy Vương năm xưa, là Chẩn; người hiểu Sở Vương hiện tại, cũng là Chẩn.” Trẩn Chẩn lấy làm cảm khái, “Chiêu huynh, xin hãy bớt nghĩ ngợi, mà coi chỗ này là nhà. Tại hạ thấy đất này tuyệt diệu, chưa biết chừng con cháu đời sau của Chiêu huynh sẽ được phúc ấm tại đây!”
“Lão đệ lẽ nào chịu tha cho Trương Nghi?” Chiêu Dương vẫn không cam tâm.
“Tha cũng thế, mà không tha cũng vậy.” Trần Chẩn cười rầu rĩ, “đều đã không còn là chuyện của hai ta nữa rồi. Tại hạ lần này xuôi dòng tới đây, không có chuyện gì khác, thứ nhất là muốn thăm Chiêu huynh, lần này tạm biệt, chưa biết chừng lại là vĩnh biệt. Thứ hai là muốn ngắm dòng Giang Thuỷ này. Than ôi, người ta sinh trong trời đất, đến đi ồn ào, tranh qua đoạt lại, kẻ hèn vì sinh kế, kẻ sang cầu hư danh, duy có Giang Thuỷ kia, ngày lại qua ngày, chảy từ xuân tới hạ, từ hạ qua thu, từ thu qua đông rồi lại xuân, hết năm này qua năm khác, từ khai thiên lập địa cho tới ngày nay. Chẩn ngược dòng mà lên, tới tận Thục Sơn mà vẫn chưa dò được ngọn nguồn, lại thuận dòng mà xuống, tới tận chỗ Chiêu huynh đây, vẫn chưa thể biết nó chảy đi đâu. Trời bao la thay, đất mênh mông thay, đời người vùn vụt, không tới trăm năm, tính kỹ ra, cũng chỉ hơn ba vạn ngày, đó là còn phải được trời ưu ái. Chiêu huynh đắc chí ở Sở đã mấy chục năm, lẽ nào vẫn thấy chưa đủ? Giờ Chiêu huynh tuổi đã gần tròn hoa giáp, mà vẫn bận lòng vì những chuyện không đáng bận lòng, chẳng phải ngốc nghếch lắm ư?”
“Than ôi, cũng phải.” Chiêu Dương trầm ngâm hồi lâu, lại rầu rĩ thở dài một tiếng, nhìn sang Trần Chẩn, “đã không thể giữ chân lão đệ, tại hạ dám hỏi, tới đây Trần đệ định đi đâu?”
“Tới một nơi có thể khiến tại hạ an lòng!” Trần Chẩn nhìn về hướng bắc.
“Khiến Trần đệ an lòng?” Chiêu Dương hỏi lại, khẽ nheo mắt, “là nơi nào mà có thể khiến Trần đệ an lòng?”
Trần Chẩn chậm rãi bật ra hai tiếng: “Nước Triệu!”
Chiêu Dương khép mắt, không biết bao lâu sau, bất chợt ngẩng đầu, vẻ mặt phấn chấn, nắm tay mà nói: “Lão đệ, tại hạ hiểu rồi!”
“Chiêu huynh hiểu được gì kia?” Trần Chẩn nhìn sang.
“Nguyên do lão đệ tới Triệu!”
“Sao kia?”
“Vì lão đệ cũng không thể nuốt trôi mối hận với Trương Nghi, phải không?”
Trần Chẩn không đáp, chỉ quay đầu nhìn hút về phía tây bắc.
Chiêu Dương phá lên cười lớn, chỉ vào Trần Chẩn: “Hay lắm, lão đệ, ha ha ha ha…”
Nhờ được Cơ Tuyết tận tình chăm sóc, Tô Tần đã hồi phục hoàn toàn, không còn di chứng gì đáng ngại. Chỉ có da dẻ trắng trẻo thêm nhiều, thân thể cũng phát phúc lên không ít.
Tin tức về đại chiến Tần Sở đã tới nơi, là do Khuất Tương Tử mang đến. Khi Khuất Tương Tử kể lại cặn kẽ từ đầu đến cuối về cuộc chiến, Tô Tần không chen vào một câu. Kết cục này, Tô Tần sớm đã dự liệu được, chỉ không ngờ lại bi thảm đến vậy, hai bên cộng lại, những mười bốn vạn người tử chiến.
Mười bốn vạn! Tô Tần nghĩ mà đau đớn trong lòng. Trong mắt Tô Tần, mười bốn vạn người, đâu chỉ là một con số khô khốc, mà là mười bốn vạn sinh mệnh sống động bằng xương bằng thịt, là mười bốn vạn cuộc đời đẹp đẽ đột ngột bị cắt ngang, là mười bốn vạn gia đình sinh ly tử biệt. Khuất Tương Tử về rồi, Tô Tần giam mình trong thư phòng, cài chặt then cửa, ngồi lặng ngưng thần, chìm vào suy nghĩ.
Thiên hạ ngày càng thêm loạn, song Tô Tần không thể loạn. Tô Tần cần phải lần ra đầu mối từ trong mớ bòng bong trước mắt, tìm ra phương kế thích hợp, để giải quyết phân tranh.
Không nghi ngờ gì nữa, nguồn căn lớn nhất của loạn, là nước Tần, là Trương Nghi. Mục tiêu của Trương Nghi, là nước Sở. Trận chiến Đan Dương lần này, chỉ có thể nói rằng nước Tần đã thắng trong đường tơ kẽ tóc, Sở tuy tử vong tám vạn, song Tần cũng tổn thất sáu vạn, hơn nữa còn đánh mất trọng ải Man Xuyên. Nhìn vào tình thế hiện tại, tranh chấp giữa Tần Sở còn lâu mới dứt. Tần Vương là người quyết liệt, đã mưu Sở, tuyệt không có chuyện bỏ cuộc giữa chừng. Nước Sở trên dưới đều căm hận Trương Nghi đến xương tuỷ, đương nhiên cũng không chịu bỏ qua. Bất luận là Sở thắng hay Tần thắng, cũng đều quyết định đến đại thế thiên hạ.
Tuy nhiên, trước một nước Tần hùng hổ ép người, nước Sở liệu có thể trụ vững? Nước Sở biết dựa vào đâu mà trụ vững? Nhìn vào hiện tại, đương kim Sở Vương còn không bằng tiên Uy Vương. Tiên Uy Vương là người vụ thực, biết nghe lời can gián, biết phân biệt đúng sai, biết dùng người hiền tài. Nhưng đương kim Sở Vương thì không, đã dùng Khuất Bình, lại ngờ Khuất Bình, cuối cùng lại bực bội Khuất Bình cản trở mà đuổi đi xa. Chiêu Dương và Trần Chẩn là một bộ đôi hữu dụng, đương kim Sở Vương cũng bỏ không dùng. Để có được lòng tin của người Tần, Sở Vương còn phái đặc sứ sang Tề, làm nhục Tề Vương giữa triều đình, tuyệt giao hoàn toàn với Tề. Than ôi, Sở Vương kia sao có thể u mê đến vậy, làm ra những chuyện xuẩn ngốc nhường này! Không biết máu tươi của tám vạn tướng sĩ có đủ khiến người này tỉnh lại? Lập quốc ở vua, trị quốc ở tôi. Không dùng Khuất Bình, không dùng Chiêu Dương, không dùng Trần Chẩn, nước Sở còn có thể dùng ai làm thần tử? Khuất Cái đã tử trận, đám Cảnh Thuý, Chiêu Tuy, Cảnh Lý không tính là đại tài, nếu lại giao chiến với Tần, Sở Vương biết dùng ai để cầm quân? Vương thúc? Qua thư của Khuất Bình, nước Sở cải chế, trở ngại lớn nhất chính là vương thúc; tin Trương Nghi, chủ trương thân Tần tuyệt Tề, cũng là vương thúc. Lúc này, vương thúc còn tin Trương Nghi? Còn tin nước Tần? Cớ sao ông ta lại thỉnh cầu được trấn thủ Hán Trung? Trận chiến Đan Dương, ông ta đã tỉnh ngộ rồi ư? Liệu ông ta có ủng hộ Khuất Bình tạo hiến cải chế? Một nước Sở không đổi cựu chế, như đĩa cát rời, liệu có thể ngăn cản được nắm đấm sắt nước Tần? Tô Tần không dám nghĩ tiếp.
Bỏ qua nước Sở, khiến người ta càng thêm đau đầu, chính là nước Tề. Đương kim Tề Vương cùng Điền Anh dứt khoát muốn thôn tính nước Yên. Nhưng nước Tề có thể một miếng nuốt trọn nước Yên? Tề dựa vào đâu mà nuốt trọn nước Yên? Bằng việc mở toang kho lẫm vương cung nước Yên, vét sạch bạc vàng châu báu người Yên tích luỹ suốt bảy trăm năm, chở hàng đoàn xe lũ lượt về Tề ư? Bằng việc mặc cho lính Tề cướp bóc khắp nơi, cưỡng bức dân nữ, chà đạp lòng tự tôn của người Yên ư? Bằng việc người Tề ngang nhiên phá dỡ tiên miếu, xã tắc nước Yên để xây dựng từ miếu họ Điền ư? Bằng việc người Tề đuổi hết quan viên người Yên trong các thành ấp, thô bạo biến đất Yên thành địa hạt nước Tề ư? Bằng việc người Tề cùng người Trung Sơn vì tranh đoạt đất Yên mà đao thương hỗn chiến, cãi vã ồn ào ngay trên đất Yên ư? Khi người Tề vào Yên, đã giương cao cờ nhân nghĩa, người Yên đều tin theo. Người Yên tự mở cổng thành, xếp hàng nghênh rước người Tề. Nhưng người Yên hiện tại, còn chịu tin Tề? Phải, người Yên không còn tin nữa! Người dân trên khắp đất Yên đua nhau nổi dậy, bắt đầu truy sát, xua đuổi người Tề và người Trung Sơn đang bá chiếm lãnh thổ của họ.
Tiếp đến, là Hàn và Ngụy. Ngụy, Hàn đều chưa phục hồi nguyên khí sau đại chiến Tề, Hàn, Ngụy do Trương Nghi và Bàng Quyên khởi xướng. Nhất là nước Hàn, số tiền nước Ngụy nợ Hàn, sau một trường đại chiến, đã quỵt luôn không trả. Hai nước tuy không còn đủ sức để giao tranh, song đều đồn quân ở biên giới, suốt tuyến biên cương dài dằng dặc giữa hai nước lúc nào cũng chìm trong căng thẳng, xung đột lẻ tẻ vẫn diễn ra liên tiếp. Muốn khiến hai nước đó hoà hảo như xưa, quả thực không phải chuyện dễ dàng.
Sáu nước tung thân, công nghiệp gian nan mà Tô Tần mới vừa tạo dựng trong minh hội Nghiết Tang, nói tan là tan ngay, cũng giống như chuyện Tô Tần thình lình trúng độc, nhất là Tề, Sở. Trong sáu nước tung thân, có đủ thực lực để đối kháng với Tần, chính là Tề, Sở. Chỉ cần Tề, Sở liên minh, nước Tần kia sẽ không dám ngông cuồng. Than ôi, tiếc là Sở Vương có mắt như mù, khăng khăng biến một thế cờ hay thành tử cục, có muốn vãn hồi cũng khó. Nếu không ngoài dự liệu, chẳng bao lâu nữa, nước Sở không còn nước Tề hậu viện, lại gây thù chuốc oán với Ngụy, Hàn, chẳng khác gì voi độc mắc bệnh, chỉ cần mãnh hổ nước Tần mới thay nanh vuốt giáng thêm một đòn sẽ ngã gục, để rồi bị nuốt chửng từng miếng một. Tần có được Sở, như hổ thêm cánh, lúc đó Tam Tấn và Tề cũng không còn cơ hội để đối kháng với Tần.
Bất luận thế nào, con voi bệnh là nước Sở cũng không thể gục ngã.
Tuy nhiên, phải làm sao để giữ lại nước Sở? Lại nghĩ tới máu tươi của tám vạn tướng sĩ cộng thêm sáu trăm dặm Hà Tây năm xưa còn chưa thể khiến Ngụy Huệ Vương tỉnh ngộ, niềm tin của Tô Tần với Sở Hoài Vương cũng mau chóng tiêu tan, cuối cùng, chỉ còn sót lại một chút tò mò: nếu Tô Tần tới Sở, kết quả sẽ ra sao? Sở Hoài Vương liệu có chịu nghe lời can gián?
Tô Tần lại nhắm mắt suy ngẫm. Hiện tại, khắp trên dưới nước Sở đều thống hận Trương Nghi, là đối thủ duy nhất của Trương Nghi, Hoài Vương lẽ nào lại không nghe Tô Tần? Chỉ cần Hoài Vương chịu nghe lời, Tô Tần tin rằng mình đủ sức du thuyết vương thúc, vực dậy việc biến pháp cải chế sắp thành lại bại của Khuất Bình, hàn gắn quan hệ Sở, Tề, kết tung thân trở lại. Còn như nước Yên, vẫn phải dựa vào chính người Yên, trước mắt chưa có gì gấp gáp. Phải đợi đến khi toàn bộ dân Yên nổi loạn, người Tề không thể trị nổi, mới cùng Triệu Vương đưa công tử Chức ra…
Thực khéo trùng hợp, Tô Tần vừa nghĩ tới Triệu Vương, ngoài cửa đã vọng lại tiếng bước chân hối hả, Trâu Phi Đao tiến vào, khẽ giọng bẩm báo: “Chúa công, Triệu Vương có lời mời, xe đã ở ngoài cửa!”
Tô Tần bèn nhanh chóng thay triều phục, kỳ thực chính là Hồ phục đã được cải tiến, sau đó lên xe ngựa, vào cung yết kiến Triệu Vương.
Nơi yết kiến là thiên điện cung Triệu, người dẫn Tô Tần vào là viên hoạn giả lệnh mới tên gọi Tăng Bình.
Ngoài Triệu Vương, trong điện có năm người nữa, là Phì Nghĩa, Triệu Thành, Triệu Báo, Lâu Hoãn và một thanh niên lạ mặt, tất cả đều vận áo Hồ. Bên cạnh Triệu Vương còn chừa một chỗ, hiển nhiên là dành cho Tô Tần.
Đây là một cuộc nghị sự hệ trọng, dường như họ đã bàn bạc suốt cả canh giờ. Giữa các chỗ ngồi trải rộng một tấm địa đồ lớn, gồm ba mảnh da dê khâu ghép lại với nhau.
Tô Tần liếc nhìn tấm địa đồ, hiểu rằng họ đang bàn về Bắc Hồ.
“Lại đây!” Không để Tô Tần kịp hành lễ, Triệu Ung đã chỉ vào người thanh niên lạ mặt, “xin giới thiệu với khanh một nhân tài, Nhạc Nghị người Trung Sơn.” Lại nhìn sang Nhạc Nghị, cười nói, “Nhạc Nghị, tướng quốc sáu nước mà khanh luôn mong được diện kiến, chính là người này, Tô Tần!” Nhạc Nghị đứng bật dậy, vòng tay vái chào Tô Tần, đôi bên trao đổi vài câu khách sáo, rồi cùng ngồi xuống.
“Nhạc Nghị,” Hoài Vương nhìn sang, “hãy nói qua về tình hình đất Hồ cho Tô đại nhân đây nghe thử.”
“Tô đại nhân,” Nhạc Nghị vòng tay nói, “vãn sinh vừa từ đất Hồ trở về, tấm địa đồ này là do vãn sinh vẽ ra, nên có chỗ chưa thực chuẩn xác. Tất cả tình thế, đều ở cả đây, vãn sinh sẽ dùng địa đồ này để giải thích sơ qua.” Chỉ vào địa đồ, “từ đây tới đây, có một rặng núi chạy dài, cao thấp nhấp nhô, người Hồ gọi núi đó là Đạt Lan Ca Lạt, có nghĩa là bảy mươi ngọn núi đen lớn. Núi này từ đông tới tây kéo dài hơn hai nghìn dặm, chiều nam bắc rộng hơn trăm dặm, chỗ hẹp nhất tám mươi dặm, chỗ rộng hơn hai trăm dặm. Phía bắc núi này đều là hoang mạc, mênh mông bát ngát không thấy tận cùng, sống ở đây là người Bắc Hồ. Người Bắc Hồ có rất nhiều bộ lạc, sống bằng nghề du mục, các bộ lạc lớn nhỏ khác nhau, đến đi bất định, không bộ lạc nào có địa bàn cố định. Từ đông tới tây, núi này có thể chia thành bốn phần, phần thứ nhất khoảng hơn chục ngọn núi, người Hồ ở đây quy phục người Yên, nên đây là địa bàn của Yên. Phần thứ hai, có chín ngọn núi, thuộc quận Đại, hiện tại quy thuộc đất Triệu. Tiếp về phía tây, khoảng năm chục ngọn núi, chủ yếu là nơi sinh sống của hai bộ tộc lớn người Hồ, lấy con sông có tên Ca Bố làm ranh giới, phía tây sông Ca Bố là tộc Đại Lâm, ta thường gọi là Lâm Hồ. Địa bàn hoạt động của Lâm Hồ rất rộng, phía đông tới sông Ca Bố, phía tây tới tận cùng phía tây của núi Đạt Lan Ca Lạt, phía bắc tiếp giáp đại mạc, phía nam tiếp giáp Nghĩa Cừ. Đây là Hà Thuỷ, tại quãng sông Hà Thuỷ này, trong cánh rừng lớn phía nam phía bắc, đều là nơi người Lâm Hồ thường xuyên qua lại, tổng cộng chừng hai mươi vạn nhân khẩu, đàn ông dũng mãnh, đánh được cả gấu, sở trường săn bắn. Phía đông sông Ca Bố cho tới quận Đại là địa bàn của Lâu Phiền. Địa bàn ấy rộng lớn chừng nào, hẳn chư vị đều hiểu rõ hơn vãn bối. Phía đông sông Ca Bố đa phần là thảo nguyên, người Lâu Phiền không tự gọi mình là người Lâu Phiền, mà gọi là người Thảo Nguyên. Người Thảo Nguyên không thạo trồng trọt, không sống định cư, ở trong lều da, toàn bộ gia tài chất gọn trên xe cao, do ngựa kéo đi khắp nẻo. Họ thích sống du mục rày đây mai đó, tới mùa cỏ mọc, cứ chỗ nào cỏ tốt thì dời tới đó, chăn thả gia súc, men theo sông suối mà lang thang. Sông ngòi chủ yếu là những dòng này, quanh co khúc khuỷu, phần lớn đều đổ vào Hà Thuỷ, chỉ vài dòng đổ vào hồ này, chính là đây, họ gọi là hồ Trát Thập Na, có nghĩa là ngôi nhà cuối cùng. Hễ gặp năm đại nạn, đây chính là chốn về của họ. Người Đại Lâm có Hà Thuỷ nuôi dưỡng, cuộc sống sung túc, người Thảo Nguyên nghèo khổ hơn chút ít, nhân khẩu cũng ít ỏi, chỉ hơn chục vạn, đàn ông giỏi cưỡi ngựa bắn cung, việc chính là chăn ngựa, ngựa của họ cao to dũng mãnh, phi rất nhanh, xứng là tuấn mã. Chiến mã các nước Yên, Triệu, Tần, Trung Sơn đa phần đều mua của họ.” Dừng lại một chốc, nhìn sang Tô Tần, “Tô đại nhân, vãn bối xin kể sơ qua như vậy. Phải rồi,” chỉ vào một con sông, “mùa đông đã tới, vua của người Thảo Nguyên di cư tới đây, phía bắc là núi Vua của người thảo nguyên, họ gọi là núi Đại Hắc, giúp họ che chắn gió bắc. Con sông trước mặt này, họ gọi là sông Đại Hắc, là nguồn nước uống cho người và súc vật.”
Những lời trước đó của Nhạc Nghị, đều là kể lể dông dài, đến câu cuối cùng mới là trọng điểm.
“Phì Nghĩa,” quả như dự đoán, Triệu Ung nhìn sang Phì Nghĩa, “hãy nói cho tướng quốc những gì khanh biết.”
“Tô tướng quốc,” Phì Nghĩa vòng tay với Tô Tần, rồi chỉ vào địa đồ, nói thẳng vào chuyện chính, “tình hình của người Hồ, đúng như Nhạc Nghị đã nói. Phì Nghĩa sẽ chỉ nói thêm về binh tình. Tráng nam Lâm Hồ có thể tham chiến không dưới năm vạn, tráng nam thiện chiến chừng hai vạn rưỡi. Tráng nam Lâu Phiền có thể tham chiến không dưới bốn vạn, tráng nam thiện chiến chừng hai vạn. Người Lâm Hồ cuộc sống sung túc, nên khá yên ổn, rất ít khi ra khỏi rừng quấy nhiễu, họ chủ yếu cần đề phòng các tộc Khuyển Nhung phía nam, phía tây, và người Bắc Hồ tới từ phía bắc núi lớn, bởi núi Đạt Lan Ca Lạt phía nam dốc phía bắc thoai thoải, người Hồ sống ở phía bắc sa mạc thường xuyên tới quấy nhiễu họ. Hai tộc Lâm Hồ và Lâu Phiền đa phần sống ở phía nam núi Đạt Lan Ca Lạt, lấy bìa rừng làm ranh giới, gắn bó như môi với răng, ít khi xung đột. Phiền toái của chúng ta đa phần đến từ người Lâu Phiền. Ba mùa xuân, hạ, thu, người Lâu Phiền lang thang theo đồng cỏ và dòng nước, không rảnh để sinh sự. Khi mùa đông tới, họ không biết đi đâu, bèn để người già, đàn bà, trẻ nhỏ ở nhà, còn đàn ông khoẻ mạnh đi cướp phá khắp nơi, không chỉ quấy nhiễu ta, còn cướp bóc các bộ tộc khác, gồm cả người Tần. Nhất là vào năm thiên tai đói kém, ví như năm nay, xuân hạ thu đều hạn hán, không ít sông ngòi khô cạn, châu chấu và chuột hoành hành, đồng cỏ phần nhiều khô héo, khiến người Lâu Phiền sa vào cảnh khó khăn. Họ chia làm hai bộ, một bộ tiến về Mạc Bắc du mục, một bộ men theo bờ đông Hà Thuỷ xuống phía nam, đi đến đâu cướp phá đến đấy, còn may người dân biết họ lâm nạn, nên cũng nhẫn nhịn. Mùa đông năm nay giá lạnh khác thường, khiến họ càng thêm khốn khó, hẳn sẽ hành động, quấy nhiễu các ấp biên thuỳ của ta!”
Ẩn ý của Phì Nghĩa, không nói cũng hiểu, nếu đánh Lâu Phiền, hiện tại là thời cơ tốt nhất. Hơn nữa, Triệu Vương và mọi người đã quyết định xuất chinh, mời Tô Tần tới, chẳng qua chỉ cho phải phép mà thôi.
Tô Tần cười với Phì Nghĩa, rồi quay sang Triệu Vương.
“Tô tướng quốc,” Triệu Ung ôm quyền nói, “Lâu Phiền và Lâm Hồ phải ứng phó ra sao, quả nhân lấy làm lo lắng, tướng quốc hẳn có kế hay?”
“Muốn đánh người Hồ, cần hiểu người Hồ.” Tô Tần mỉm cười, ôm quyền đáp lễ, rồi nhìn khắp lượt mọi người, “tại hạ dám hỏi chư vị, có hiểu người Hồ?”
Mọi người đều ngỡ ngàng, đưa mắt nhìn nhau.
Tô Tần hỏi vậy, khác nào múa rìu qua mắt thợ, bởi lẽ những người ở đây, ngoại trừ Tô Tần, không ai không hiểu tường tận về người Hồ, nhất là Phì Nghĩa, vốn dĩ là một người Hồ. Song người vừa hỏi, lại là Tô Tần!
“Người Hồ, người Hồ,[4] chính là người râu rậm!” Triệu Tạo sắc mặt khinh thường, dõng dạc lên tiếng, “họ ăn mặc lôi thôi, râu ria không cạo, không hiểu lễ nghi, không ưa tắm gội, người ngợm lúc nào cũng hôi rình. Lại không biết liêm sỉ, chỉ tham lợi hại, không màng thể diện, đánh được thì đánh, không đánh được thì cúp đuôi tháo chạy, không biết xấu hổ, không hiểu hiếu đễ, không kính người già, không thương cô quả, chồng chết vợ tái giá, anh chết cưới chị dâu…Tóm lại, người Hồ là một đám mọi rợ chưa được giáo hoá!”
Lời của Triệu Tạo, đều là thường thức, ai ai cũng biết, với trí tuệ của Tô Tần, đương nhiên không thể không hiểu.
Thấy mọi người không ai phụ hoạ, lại đều nhìn vào Tô Tần, Triệu Tạo mới nhận thấy hình như mình chưa hiểu đúng ý, nên cũng nhìn sang.
“Triệu tướng quân nói phải,” Tô Tần vòng tay với Triệu Tạo, cung kính giữ thể diện cho ông ta, “người Hồ chính là những người râu rậm và không ưa tắm gội. Ở phía bắc là Hồ, ở phía tây là Nhung, ở phía đông là Di, ở phía nam là Man. Có điều, truy xét cho kỹ lưỡng, thì người Nhung lại không hẳn chỉ sống ở phía tây, người Hồ cũng không hẳn chỉ sống ở phía bắc. Ví như các tộc Cô Trúc, Lệnh Chi ở phía bắc nước Yên, chính là người Nhung, gọi là Sơn Nhung, đã từng giao chiến với người Yên, người Tề. Hay như người Địch, có các bộ tộc Lộ Thị, Cao Lạc Thị, Giáp Thị, Lưu Hu, Đạc Thần, Tường Cữu, hai trăm năm trước từng tiến về đông ra khỏi núi Thái Hàng, diệt Hình phạt Vệ, khuấy đảo trung nguyên.” Nhìn sang chúng nhân, ánh mắt dừng lại ở Triệu Ung, “Tần hồi ở trong núi, từng được đọc một cuốn sách của tiên sinh, viết về những tộc người này.”
Theo như sách đó, thì người Hồ vốn là người Khương, ở phía tây gọi là Nhung, ở phía bắc gọi là Địch, vốn là ngoại tộc, từ Tây Vực tới, tiến vào lãnh thổ Hoa Hạ, sống tạp cư với người Hoa Hạ ta. Người Hoa Hạ cấy cày trồng trọt trên đồng bằng màu mỡ, còn người Nhung Địch lang thang săn bắn trong rừng núi, thảo nguyên. Trong thời Đường Ngu, Nhung, Địch thần phục, triều cống ta. Tới hai triều Hạ, Thương, người Địch lập nước, hiệu là Quỷ Phương, lang thang trên địa bàn của các bộ tộc Nghĩa Cừ, Lâm Hồ, Lâu Phiền hiện nay. Khi Quỷ Phương hưng thịnh, không chịu theo vua nhà Thương, nên bị vua Vũ Đinh thảo phạt. Quỷ Phương kháng cự ba năm thì chiến bại mà thần phục. Tới thời Trụ Vương, phong Quỷ Hầu làm tam công, sau đó tìm cơ hội mang băm vằm, tộc Quỷ Phương từ đó tứ tán. Tới thời Chu, người tộc Quỷ Phương đổi tên là Hiểm Doãn. Đến thời Bình Vương dời đô về đông, Hiểm Doãn mới chia thành hai tộc Địch nam bắc, sống lẫn với người Tần. Người Địch phía nam lại căn cứ vào sắc áo mà chia thành Xích Địch và Bạch Địch, Xích Địch chuộng áo đỏ, Bạch Địch chuộng áo trắng. Bạch Địch bị người Tần chế ngự, di cư về phía đông tới núi Thái Hàng, lập nước Trung Sơn. Xích Địch sống rải rác trong vùng rừng núi ở Lữ Lương, Thượng Đảng, nay đã phân tán khắp nơi. Người Địch phía bắc chính là các bộ tộc Lâm Hồ, Lâu Phiền ngày nay, sống lang thang, không có chỗ ở cố định, lúc xuống phía nam tập kích liệt quốc trung nguyên, lúc lên phía bắc tiến vào đại mạc, thường qua lại với tộc Hồ sống trong sa mạc.”
Tô Tần giảng giải cặn kẽ về gốc gác và tình hình của người Hồ bên ngoài trung nguyên, mạch lạc rõ ràng, khiến người nghe lập tức sáng tỏ.
“Có điều,” Tô Tần nhìn sang Triệu Tạo, cười nói, “trong lời của Triệu tướng quân đây, tại hạ không đồng tình với một điểm, chính là người Hồ là người chưa được giáo hoá.” Lại nhìn sang Triệu Ung, “theo như Tần biết, người Hồ không những có giáo hoá, mà rất nhiều chỗ còn là thầy của người Hoa Hạ ta.”
“Sao kia?” Triệu Tạo suýt nữa nhảy dựng dậy, “người Hồ là thầy của người Hoa Hạ ta?”
“Ví dụ như, trang phục Hồ và thuật kỵ xạ mà ta đang học theo hiện nay!” Tô Tần chỉ vào tấm áo Hồ mà mọi người đang mặc.
“Đó là vì ta muốn đối kháng với họ!” Triệu Tạo không phục.
“Đại vương khởi xướng mặc áo Hồ, lại không hoàn toàn chỉ vì muốn đối kháng với họ, có phải không?” Tô Tần nhìn Triệu Ung mỉm cười, rồi quay sang Triệu Tạo, “ta có trang phục Hồ và thuật kỵ xạ, sẽ không còn sợ chiến xa, cũng không còn sợ bộ tốt nữa. Năm xưa người Tề đánh thắng võ binh Đại Ngụy, chính là nhờ vào kỵ binh. Theo như Tần biết, nói đúng ra thì trang phục của kỵ binh Tề cũng là trang phục Hồ, bởi vì mặc chiến bào thông thường sẽ không thể cưỡi được trên lưng ngựa. Nếu Tần đoán không lầm, áo Hồ mà đại vương đang sùng chuộng, trong tương lai chắc chắn sẽ trở thành trang phục phổ biến của người Hoa Hạ, còn như kỵ xạ, chính là kết quả tất yếu của việc mặc áo Hồ!”
Nghe Tô Tần tán đồng trang phục Hồ và thuật kỵ xạ, lại ca ngợi đến tận mây xanh, Triệu Ung lấy làm phấn khởi, gật đầu tán thưởng với Tô Tần.
Triệu Tạo chép miệng một cái, lại hỏi: “Ngoài cái này ra, thì còn gì nữa?”
“Còn nhiều lắm!” Tô Tần tiếp lời, “theo như Tần biết, thuật luyện kim của Hoa Hạ ta chính là học từ người Khương. Còn nữa, khi Phục Hy diễn Bát quái, đã căn cứ vào Hà đồ và Lạc thư, dù là Hà đồ hay Lạc thư, kỳ thực cũng đều do người Hồ truyền bá tới.
“Sao kia?” Triệu Tạo lại một phen chấn động.
“Chư vị hãy nghĩ mà xem, sông Hà xuất đồ, sông Lạc xuất thư. Đồ và thư, một thứ hiện trên lưng long mã, một thứ hiện trên lưng rùa thần, đều là do sinh vật trong nước cõng tới. Điều này cho thấy, hai vật này, vốn dĩ đều không phải của chúng ta.”
“Là trời cao ban cho ta!” Triệu Tạo kêu lên.
“Tướng quân có thể nói là do trời cao ban cho.” Tô Tần đáp lời, “tuy nhiên, khi còn trong Quỷ Cốc, tại hạ đã từng thỉnh giáo Quỷ Cốc tiên sinh về chuyện này…”
“Quỷ Cốc tiên sinh nói sao?” Triệu Ung sốt sắng hỏi.
“Hồi bẩm đại vương,” Tô Tần vòng tay, “theo tiên sinh giải thích, hai vật này đều có nguồn gốc từ Tây Vực, tức là do người Khương thượng cổ, chính là tổ tiên của người Hồ hiện nay mang tới.”
“Chuyện xa xôi đến vậy, sao tiên sinh biết được?” Triệu Tạo hồ nghi.
“Quỷ Cốc tiên sinh không gì không biết!” Tô Tần vòng tay, hướng về phía Quỷ Cốc vái sâu một vái, sắc mặt rất mực cung kính.
“Cứ cho là vậy đi, nhưng kiểu cách của họ, tại hạ nhìn không thuận mắt!” Triệu Tạo giọng đầy hậm hực.
“Kỳ thực, ta và người Hồ chẳng qua chỉ là tập tục khác nhau mà thôi. Ta làm ruộng, ăn ngũ cốc; người Hồ nuôi súc vật, ăn thịt. Làm ruộng thì phải an cư, an cư thì phải xây dựng nhà cửa. Ăn thịt thì phải du mục, du mục thì phải đi theo cỏ nước. Chúng ta an cư một phương, kết thành chòm xóm, hôn nhân qua lại, phải theo lễ nghi mới có thể hoà thuận yên ổn. Còn người Hồ lang thang theo cỏ nước, không có nhà cửa, nơi nào nước nhiều cỏ tốt thì tìm tới đó, nên cần đến tốc độ và sức mạnh, lễ nghi đương nhiên không còn quan trọng nữa.” Tô Tần lại nhìn sang Triệu Tạo, “ta ở đây chê cười người Hồ chưa được giáo hoá, còn người Hồ ở kia hẳn cũng đang chê cười ta hủ lậu, không thể chịu đựng nổi thứ lễ nghi rườm rà phức tạp của ta!”
Mọi người đều bật cười. “Tại hạ dông dài quá rồi, giờ hãy quay về hiện tại.” Tô Tần thu lại nụ cười, chỉ vào dãy núi Đạt Lan Ca Lạt, “bảy mươi ngọn núi đen mà Nhạc Nghị đã vẽ, tại hạ nay mới thấy lần đầu, lấy làm chấn động. Núi này chạy từ đông sang tây, nối liền một dải, tạo nên một bức bình phong thiên nhiên, xứng đáng là vùng đất tranh giành của các nhà. Dù là người Yên, người Triệu hay người Tần, có được núi này, nước sẽ an ổn, đánh mất núi này, dân sống không yên!”
Tô Tần từ xa tới gần, không nhìn vào người, mà nhìn vào núi, quả là nhìn xa trông rộng.
“Xem ra, quả nhân nông cạn quá rồi.” Triệu Ung vô cùng kính phục, vòng tay với Tô Tần, “không giấu Tô Tử, lần này chinh phạt nhị Hồ, quả nhân thực sự vẫn chưa coi trọng núi này đến vậy!”
“Dám hỏi đại vương, coi trọng thứ gì?” Tô Tần vòng tay đáp lễ, hỏi ngược lại.
“Trước đây, thứ nhất ngựa Hồ, thứ hai người Hồ, thứ ba đất Hồ. Hiện tại, nên đảo ngược lại, thứ nhất đất Hồ, thứ hai ngựa Hồ, thứ ba người Hồ. Thỉnh cầu Tô Tử chỉ giáo!”
“Nếu là vì đất Hồ, đại vương có thể tiêu diệt tráng nam của họ, xua đuổi người già đàn bà con trẻ ra khỏi địa bàn của họ, đày tới hoang mạc phương bắc, cho họ tự sinh tự diệt. Nếu là vì ngựa Hồ, đại vương có thể chém giết toàn bộ người Hồ, cướp lấy đất đai tài sản của họ. Nếu là vì người Hồ, đại vương sẽ có được tất cả những thứ trên.” Tô Tần cất giọng dõng dạc. Tất cả những người có mặt đều đã nhận ra, thoạt nghe có vẻ như Tô Tần đưa ra ba lựa chọn, song kỳ thực, không còn lựa chọn nào khác, bởi lẽ phàm là người biết suy nghĩ, đều sẽ chọn cách thứ ba, huống hồ là Triệu Vũ Linh Vương.
“Xin hỏi Tô Tử,” Triệu Ung thay đổi cách xưng hô, “Triệu Ung phải làm sao để thực hiện được điều thứ ba, có được người Hồ?”
“Khiến họ tâm phục.”
“Ồ…” Triệu Ung gượng cười, “Tô Tử có lẽ chưa hiểu người Hồ ở đây rồi, nếu như có thể khiến họ tâm phục, thì Triệu Ung đâu cần phải lao tâm khổ tứ vì chuyện Hồ phục kỵ xạ thế này?”
“Dám hỏi đại vương, người Hồ có phải con người?” Tô Tần nhìn thẳng vào Triệu Ung.
“Chuyện này còn phải hỏi sao, người Hồ đương nhiên là con người.”
“Họ có tâm không?”
“Đã là con người, thì phải có tâm!”
“Đã có tâm, đại vương cớ sao không thể khiến họ tâm phục?” Tô Tần vẫn khăng khăng.
“Than ôi,” Triệu Ung khẽ thở dài, “không phải là không thể phục, mà là không có cách nào để phục!”
“Không phải là không có cách, mà là đại vương chưa tìm ra cách đó thôi!” Tô Tần khẽ cười mà nói.
“Tô Tử hẳn là có cách?” Triệu Ung ngả người lại hỏi.
“Hồ phục kỵ xạ!” Tô Tần đưa ra bốn chữ. “Ồ…” Triệu Ung ngẩn người.
“Chẳng phải người Hồ đang gặp thiên tai đói kém đó ư?” Tô Tần dõng dạc tiếp lời, “đại vương có thể dùng lợi để dụ, mang những thứ mà người Hồ cần tới trữ ở vùng biên cương, không buôn bán, mà cứ để cho người Hồ tới cướp. Người Hồ tới cướp, ắt phải dùng tới tráng nam. Cướp bóc là thất nghĩa, đại vương sẽ có lý do để khởi kỵ binh tinh nhuệ, chặn đứng đường lui của họ. Đồng thời, lại phái thêm một đội nhuệ kỵ khác, bao vây bộ tộc của họ, nhưng không tấn công. Trong lúc người Hồ hoang mang kinh hãi, đại vương có thể phái sứ giả tới thương lượng với họ, trách tội cướp bóc, rồi cho họ ba con đường lựa chọn. Thứ nhất, quyết tử một phen. Thứ hai, rời khỏi địa bàn, tới vùng hoang mạc. Thứ ba, trở thành thuộc quốc của đại vương, với điều kiện là, các đời thủ lĩnh của nhị Hồ phải do Triệu Vương nhiệm mệnh, phải tuyên thệ trung thành với Triệu Vương, đổi lại, Triệu Vương sẽ bảo vệ lãnh thổ cho họ, cung ứng lương thảo đồ dùng đầy đủ. Tức là có qua có lại, lợi cả đôi bên. Với nhị Hồ, nhờ Triệu mà không phải lo lắng chuyện ăn mặc, an cư lạc nghiệp, không còn sợ bị các tộc xung quanh, nhất là người Hồ đất bắc tới quấy nhiễu; với Triệu, không đánh mà có được nhị Hồ, nhất là tráng nam người Hồ, khiến kỵ xạ nước Triệu càng thêm lớn mạnh.”
Nghe thấy cao luận của Tô Tần, tất cả mọi người đều lấy làm mới lạ. Họ đã bàn bạc gần một ngày trời, toàn là những chuyện tác chiến thế nào, sát phạt ra sao, mà chưa từng nghĩ đến chuyện không đánh. Sách lược của Tô Tần, không những khả thi, mà còn là diệu sách. Trước tiên, dùng thực lợi dẫn dụ người Hồ, khiến họ thành đuối lý. Tiếp đến, dùng vũ lực bức bách người Hồ, khiến họ quy phục. Nghĩ lại cũng đúng, trai tráng ra ngoài, vợ con tài sản của họ không còn ai bảo vệ mà rơi vào tay người Triệu. Bộ tộc bị khống chế, tráng nam người Hồ có muốn không khuất phục cũng khó. Hơn nữa, điều kiện mà Tô Tần vừa đưa ra, quả thực rất hay, với người Hồ đúng là muôn điều có lợi, chỉ có một điều phải nhẫn nhịn, đó là thủ lĩnh người Hồ không thể lập tuỳ tiện, phải do người Triệu nhiệm mệnh, thề phải trung thành với Triệu. Có điều đối với người Hồ hiện tại, để cho người Triệu lập thủ lĩnh lại không hoàn toàn là chuyện xấu, chí ít có thể giảm bớt những xung đột nội bộ đẫm máu vẫn thường xảy ra do tranh giành quyền lực trong bộ tộc.
“Lời của Tô Tử, các khanh có ý gì khác chăng?” Triệu Vương nhìn sang mọi người, thấy ai cũng gật gù tâm đắc, liền quay sang Tô Tần, “Tô tướng quốc, việc này coi như đã định. Việc chinh phục nhị Hồ, còn phải nhọc đến tướng quốc. Phàm chuyện vũ lực, là của quả nhân, còn như khiến nhị Hồ tâm phục, chính là sở trường của tướng quốc!”
“Thần đã quyết định tới Sở, nhân hôm nay tới đây, cũng là muốn từ biệt đại vương để đăng trình!” Tô Tần vội nói.
“Không được, không được!” Triệu Ung cuống lên, “Đại Sở không có Tô Tử, vẫn là Đại Sở. Nhưng Tiểu Triệu này thì khác, nhất là hiện tại. Nếu là chuyện đánh dẹp sát phạt, tuyệt đối không thành vấn đề.” Chỉ vào mọi người, lại chỉ vào mũi mình, “còn như khiến nhị Hồ tâm phục, Tô Tử cứ nhìn thử mà xem, đất này có ai làm được?”
Mọi người đều bật cười, cũng đua nhau vật nài níu giữ.
Tô Tần khẽ thở hắt ra một tiếng, đáp lại một nụ cười, coi như đồng ý.
Quân Trung Sơn sau khi đánh chiếm được ải Tử Kinh cùng hạ đô Vũ Dương, nhân lúc Khuông Chương dẫn quân lui về, người Tề đổi quân trấn giữ, đã men theo chân núi Thái Hàng tiến lên phía bắc, âm thầm lặng lẽ chiếm lấy ải Cư Dung. Quân Yên canh giữ ải Cư Dung không còn quân lệnh, lại thêm người Tề cũng chưa kịp nhìn tới nơi đây, thấy quân Trung Sơn ập đến, chẳng còn lòng dạ nào mà đánh, lập tức tan vỡ tháo chạy. Quân Trung Sơn không đánh mà được ải Cư Dung, bèn đắp luỹ đặt ải xung quanh, đồn quân một vạn. Cùng lúc này, người Trung Sơn cũng thuận lợi khống chế được vùng núi rộng lớn từ ải Cư Dung về nam tới ải Tử Kinh, cộng thêm dải đất đai màu mỡ chừng ba mươi dặm bên ngoài chân núi, hình thành thế bao vây từ trên cao nhìn xuống kinh đô Kế Thành nước Yên mà người Tề đang chiếm cứ.
Đợi đến khi Tề Vương đổi xong chủ tướng, an định các ấp ở xung quanh Kế Thành, công tử Trọng mới thình lình phát giác, Kế Thành về tây chưa đầy ba mươi dặm đã trở thành địa bàn của Trung Sơn, tiếp đến lại hay tin ải Cư Dung cũng bị Trung Sơn đoạt mất, thì ruột gan như lửa đốt, lập tức soạn thư, triệu mời chủ tướng Trung Sơn Tư Mã Điêu tới Kế Thành nghị sự. Tư Mã Điêu cáo bệnh không tới, phái tham tướng đi thay.
Công tử Trọng giận lắm, muốn khai chiến với người Trung Sơn, song binh lực trong tay chưa tới bốn vạn, bèn vẽ ra một tấm địa đồ có phần khuếch trương về địa bàn đã bị Trung Sơn chiếm giữ, nói rằng phần đất rộng chí ít năm trăm dặm phía tây nước Yên đã bị Trung Sơn chiếm sạch, họ đã xây luỹ dựng ải đến tận ngoại ô phía tây Kế Thành, thỉnh cầu Tề Vương tăng binh, để đánh đuổi người Trung Sơn về Bắc Dịch Thuỷ.
Tề Tuyên Vương tức tốc triệu tập Điền Anh cùng các triều thần thân tín tới mưu sự, trải rộng trên án là tấm địa đồ do công tử Trọng gửi về, những đất bị Trung Sơn chiếm cứ đều được khoanh bằng mực son. Nhìn vào những mảng mực son đó, chúng triều thần đều sục sôi căm phẫn, ồn ào mắng chửi người Trung Sơn tham lam vô độ, không giữ chữ tín. Có người còn kể lại câu chuyện sói Trung Sơn nghe được từ người Triệu, thỉnh cầu Tề Vương nghiêm trị không tha, tăng binh đất Yên, lập tức đánh đuổi người Trung Sơn về phía nam Trung Dịch Thuỷ.
Từ đầu tới cuối, tướng quốc Điền Anh chỉ im lặng, không nói một lời.
Thấy mọi người vẫn chưa nêu được ý gì hay ho, Tuyên Vương chỉ lệnh hôm khác lại bàn tiếp.
Các triều thần ra về, Tuyên Vương giữ Điền Anh lại hỏi: “Sự việc Trung Sơn, tướng quốc không nói một lời, hẳn đã có chủ ý?”
“Thần nghe đại vương!” Điền Anh vòng tay đáp.
“Quả nhân cần nghe khanh!” Tuyên Vương nhìn thẳng vào Điền Anh.
“Thần nghe đại vương!” Điền Anh lại vòng tay lặp lại.
Tuyên Vương ngẩn người: “Khanh nghe quả nhân gì kia?”
“Nước Yên đã là của đại vương rồi, dám hỏi đại vương, đại vương muốn nhất điều gì? Của cải của Yên ư? Đất đai của Yên ư? Hay là người Yên?”
“Nếu quả nhân muốn có cả ba, thì sao?” Tuyên Vương thoáng trầm ngâm, rồi đáp.
“Của cải của Yên thất, đều đã chở về Lâm Truy. Còn đất đai của Yên,” Điền Anh chỉ vào tấm địa đồ vẫn trải rộng trên mặt án, “tây tới ải Cư Dung, đông tới quận Liêu Đông, nam từ Trung Dịch Thuỷ, bắc tới Tạo Dương, nếu lại thêm hai bộ tộc lớn người Hồ mới quy thuận gần đây, rộng không dưới vài nghìn dặm. Đất Hà Gián mà ta giành giật từng li từng tí trước đây, chẳng qua chỉ là một góc nhỏ nhoi của Yên mà thôi, dù là toàn bộ đất Yên mà ta và người Trung Sơn đang chiếm cứ hiện nay, cũng mới chỉ là một phần ba của đất Yên. Thêm một thứ nữa, là người Yên. Đất Yên tuy rộng, song người không đông, theo như thần biết, nhân khẩu người Yên không đầy hai trăm vạn, quá nửa sinh sống xung quanh Kế Thành. Còn các vùng núi lân cận, phía bắc Yên Sơn, trong quận Liêu Đông, lãnh thổ tuy rộng gấp mấy lần, song nhân khẩu không bằng một nửa.” Nghe Điền Anh vanh vách kể ra những việc tỉ mỉ nhường này, Tuyên Vương lập tức trong lòng sáng tỏ, vuốt râu một hồi, nhìn sang Điền Anh, mỉm cười mà nói: “Xem ra, xử trí nước Yên thế nào, tướng quốc sớm đã có mưu tính trong lòng, xin hãy nói thử, để quả nhân được mở mang tầm mắt!”
“Đại vương nếu đã muốn có cả ba, theo như ý thần,” Điền Anh mỉm cười đáp lại, rồi nói ra mưu chước trong lòng, “việc cấp bách hiện tại của ta, là chuyển hết kim ngân tài vật của Yên thất về Tề, như vậy là hoàn thành được điều thứ nhất. Phá huỷ từ đường Yên thất, cắt đặt quận huyện các nơi, đổi quận phủ thành đô, từ đó cai trị dân Yên, như vậy là hoàn thành được việc thứ ba. Còn điều thứ hai, là đất đai của Yên, đại vương cứ từ từ mưu tính, nhất là với Trung Sơn. Lần này phạt Yên, duy có Trung Sơn hưởng ứng đại vương. Sở dĩ Trung Sơn hưởng ứng, là vì nước Triệu. Nước Triệu cướp mất Lai Nguyên, uy hiếp đến tận phúc địa của Trung Sơn. Nước Yên nội loạn, nếu quân Triệu xuất phát từ Lai Nguyên tiến sang phía đông, đánh chiếm ải Tử Kinh, cướp lấy Vũ Dương và Bắc Dịch Thuỷ, Trung Sơn sẽ sa vào thế bị Triệu bao vây bịt bùng, Trung Sơn Vương sao có thể kê cao gối ngủ? May sao nước Triệu chí ở Bắc Hồ, Trung Sơn Vương mới đi trước một bước, chiếm lấy ải Tử Kinh, lại cướp lấy Vũ Dương từ trong tay ta. Dẫu đã có được ải Tử Kinh, Trung Sơn vẫn còn một mối lo, là ải Cư Dung, bởi lẽ người Triệu nếu được Bắc Hồ, sẽ có thể đi qua ải Cư Dung, men theo chân núi Thái Hàng xuống phía nam, vẫn có thể uy hiếp phía bắc Trung Sơn. Tư Mã Điêu suy tính đến điều này, mới mạo hiểm tấn công ải đó, trấn thủ mé đông chân núi Thái Hàng. Như vậy, Trung Sơn có thể phòng ngự người Triệu cả nam lẫn bắc, Trung Sơn Vương không còn gì lo âu nữa!”
“Ồ,” Tuyên Vương vuốt râu, khẽ nheo mắt, “ý tướng quốc là, việc của Trung Sơn, cứ tạm bỏ qua?”
“Tạm bỏ qua, có hai lợi lớn!”
“Ồ?”
“Thứ nhất, Trung Sơn giúp đại vương phạt Yên, được phần thưởng này, cũng là xứng đáng. Thứ hai, Triệu được Bắc Hồ, có người Trung Sơn giữ ải canh chừng, đại vương không phải lo lắng về Triệu nữa.”
“Tuy nhiên,” Tuyên Vương tiếp lời, “Trung Sơn cướp đoạt Vũ Dương từ trong tay ta, giờ lại lẳng lặng chiếm ải Cư Dung, nếu không trừng trị, cứ kệ cho họ tự tung tự tác, đến khi Trung Sơn lớn mạnh rồi, lại nhòm ngó thêm nữa, thì ta phải làm sao?”
Điền Anh vuốt râu, bật cười vài tiếng: “Đại vương yên tâm, có Triệu Vương bên cạnh, người Trung Sơn sẽ không thể nào lớn mạnh!”
“Được,” Tuyên Vương gật gù, lập tức quyết đoán, “việc của Trung Sơn, cứ theo tướng quốc!”
“Thần còn cho rằng,” Điền Anh chầm chậm di chuyển ánh nhìn từ đất Yên tới nước Sở, “hoạ phương bắc đã trừ tận gốc, đại vương đã đến lúc nhìn xuống phía nam. Con gấu ngu ngốc[5] ở Sính Đô kia thực là quá đáng, thần sớm tối cứ nghĩ tới chuyện Tống Di sỉ nhục đại vương ngay giữa triều đình, lại thấy sục sôi căm hận!”
“Than ôi, cứ chờ thêm đã.” Tuyên Vương thở hắt ra một tiếng, thong thả đáp lời, “trận chiến Đan Dương, nước Tần tuy thắng, song tổn thất cũng không hề nhỏ, lại đánh mất ải Man Xuyên. Còn nữa, nghe nói người Sở đánh thốc lên tận đỉnh Thái Bạch, hất đổ đàn tế của Tần, thực sự không thể coi thường!”
“Đại vương anh minh!” Điền Anh đáp lời, “lần này chiến bại, Sở Vương dứt khoát không cam tâm, Tần Sở hẳn còn đánh nữa. Chờ cho Tần, Sở quyết rõ thư hùng, đại vương lại ra tay, dứt khoắt sẽ nắm chắc phần thắng!”
“Ha ha, vậy cứ thuận theo ý trời!”
Khi Khuông Chương, Mạnh Kha giương cao cờ nhân nghĩa đưa quân Tề vào Yên, kết thúc nội loạn nước Yên, khuông phù “chính nghĩa” trong thiên hạ, người Yên xếp hàng hai bên đường nghênh đón. Khi người Tề tiếp quản các thành ấp của Yên, thay người Yên an định đất nước, người Yên bán tín bán nghi. Khi người Tề và người Trung Sơn gằm ghè tranh đoạt, vạch giới chiếm đất, hung hăng thôn tính nước Yên, người Yên bắt đầu bất bình. Khi người Tề thu gom vàng bạc châu báu trên khắp đất Yên chất lên xe chở về Lâm Truy, người Yên nộ khí tăng dần. Khi người Tề ngang nhiên chiếm đoạt của riêng của người Yên, cướp con gái Yên làm vợ, người Yên phẫn nộ tột đỉnh. Khi người Tề thiêu huỷ tiên miếu Yên thất, phá dỡ đền thờ xã tắc nước Yên, cơn phẫn hận của người Yên đã bùng nổ. Người Yên mang theo binh khí, bắt đầu tập kích người Tề, đầu tiên là tập kích lẻ tẻ, tiếp đến là kết nhóm tập kích, sau nữa toàn thành toàn ấp khởi sự. Người Tề cũng bắt đầu thẳng tay chém giết, hễ ai nổi dậy, tàn sát cả nhà, cả tộc, thậm chí cả thành. Người Yên bừng bừng căm phẫn, thành ấp nổi dậy mỗi lúc một nhiều. Người Tề ngày càng co cụm phòng ngự, người Yên ngày càng chiếm thêm nhiều thành ấp. Quý tộc lưu vong đua nhau xuất đầu lộ diện, quy tụ dân chúng đối địch với Tề trên khắp đất Yên.
Công tử Trọng xin Tề Vương tăng binh cứu viện. Tề Vương đưa ba vạn quân Tề vào Yên. Tuy nhiên, người Yên lúc này chẳng khác nào hồ lô trong chảo nước sôi, cái này chìm thì cái kia nổi, người Tề chống đỡ không xuể, chớ nói là tăng binh ba vạn, dù có tăng mười ba vạn cũng không làm gì được. Người Tề buộc phải từ bỏ từng hương thôn, từng thành ấp xung quanh, co cụm trong Kế Thành và một vài thành ấp trung tâm.
Công tử Chức vẫn luôn theo dõi sát sao tình hình đất Yên, lúc này không thể dằn lòng được nữa.
Khiến Tử Chức không vui, đó là bản thân cùng mẫu hậu vẫn ở trong hậu cung nước Triệu, hoàn toàn đánh mất tự do. Hoạn giả lệnh cung Triệu điều tới chỗ họ rất nhiều cung nhân, lại lấy cớ bảo đảm an toàn mà cấm họ ra ngoài. Tử Chức hiểu, mình đã trở thành một quân cờ trong hộp của Triệu Vương, lúc nào cần đặt xuống bàn cờ, thậm chí là đặt xuống chỗ nào, hoàn toàn tuỳ thuộc vào Triệu Vương.
“Mẫu hậu,” Tử Chức đuổi hết cung nhân ra ngoài, khẽ giọng nói với Dịch Vương hậu, “con muốn ra ngoài đi dạo một vòng, trong cung ngột ngạt quá!”
“Ta cũng muốn đi!” Dịch Vương hậu nhún vai bất lực.
“Mẫu hậu,” Tử Chức như thể cầu xin, “người thông minh mưu trí, xin hãy nghĩ giúp con đi.”
“Nói xem, con muốn đi đâu giải khuây?”
“Con muốn ra ngoài cung, con…lâu rồi không được gặp…Phi Phi, nên thấy hơi nhớ!”
“Phi Phi?” Dịch Vương hậu đảo mắt vài cái, rồi chợt phì cười, “xem ra, con muốn ra ngoài, đúng là phải nhờ đến con bé này giúp thực rồi!”
“Vậy hãy mau nhờ em ấy!”
“Con chỉ đi gặp Phi Phi?” Dịch vương hậu nhìn chăm chú vào Tử Chức.
“Con…”
“Hay là muốn đi xa hơn, chẳng hạn như, nước Yên?”
Bị mẫu hậu một lời nói trúng, Tử Chức quỳ sụp xuống, ứa nước mắt mà nói: “Mẫu hậu, nghe nói người Tề…đã dỡ thái miếu của ta, và cả từ đường, xã tắc…Nên Chức Nhi…Mẫu hậu, thân là người Yên, Chức Nhi trong lòng đau xót…” Nói đến đây, bật khóc thành tiếng. “Chức Nhi,” Dịch Vương hậu ôm lấy đầu Tử Chức, kéo vào lòng vỗ về, “phải, nước Yên là của con, nhưng việc tốt không thể vội vàng, cứ để cho họ giày vò thêm chút nữa. Than ôi!” Khe khẽ thở dài, “mẫu hậu vốn dĩ căm hận Tử Chi kia đến xương tuỷ, nhưng giờ đã nghĩ thông rồi, hắn phế Tử Khoái, giết chết toàn bộ công tử, rồi cũng khiến chính mình vong mạng. Vậy nên ở nước Yên giờ đây, con chỉ còn một đối thủ duy nhất, chính là Tử Du, vẫn còn sống sót. Có điều, nó sẽ không sống nổi bao lâu nữa.”
“Vì sao kia?” Tử Chức kinh hãi kêu lên.
“Bởi vì, nó còn sống, con sẽ có thêm một rắc rối.”
Tử Chức hít sâu vào một hơi, hồi lâu sau mới hỏi: “Tử Du đang ở đâu?”
“Đang ở Đông Hồ, chăn cừu cho người ta.”
Tử Chức kinh ngạc: “Ngay cả chuyện này, mẫu hậu cũng biết?”
“Bởi mẫu hậu có một trợ thủ, cái gì cũng biết.”
“Là cô mặt đen kia ư?”
“Phải,” Dịch Vương hậu gật đầu, “cô ta là do cậu con để lại cho ta, là người của Điêu đài nước Tần. Có cô ta hàng ngày ra vào đưa tin, mẫu hậu đương nhiên chuyện gì cũng biết.”
“Nhất định phải…trừ khử Tử Du ư?”
“Đúng vậy. Nếu không ngoài dự liệu, lúc này hẳn nó đã chết rồi.”
Bầu không khí bỗng trở nên trầm lặng. “Mẫu hậu,” Tử Chức ngẩng đầu, nhìn sang vương hậu, “Tử Du đã không còn ở nhân gian, sao con vẫn chưa thể trở về?”
“Con trở về, ai chấp nhận con? Con làm thế nào để chứng minh mình là công tử Chức?”
“Có mẫu hậu kia mà!” Tử Chức kêu lên, “họ không thừa nhận cả mẫu hậu ư?”
“Ai sẽ chứng minh mẫu hậu chính là mẫu hậu? Mẫu hậu quanh năm ở trong hậu cung, người Yên không biết, những bề tôi nước Yên biết mặt mẫu hậu, đa phần đã bị Tử Chi giết chết rồi. Con cũng hiểu, khi mẹ con ta bỏ trốn, đến quần áo trên người cũng bị lục soát kỹ lưỡng, không mang theo được vật gì. Nếu mẹ con ta tay không quay về đất Yên, Chức Nhi, con nghĩ mà xem, liệu có được không?” Vương hậu rầu rĩ hỏi.
Tử Chức lúc này đã hiểu.
“Mẫu hậu,” Tử Chức chau mày hỏi, “vừa nãy người có nói, Phi Phi có thể giúp con. Phi Phi chỉ là một Mặc giả nhỏ tuổi, thì giúp thế nào được?”
“Không phải Phi Phi giúp, mà là ba người khác.”
“Ai kia?”
“Một là Triệu Vương, hai là Tô đại nhân Tô Tần, còn người thứ ba, chính là mẹ nuôi của Phi Phi, người này con cũng đã gặp.”
“Vâng, con đã gặp, cô ấy rất tốt.”
“Người đó, kỳ thực không phải mẹ nuôi của Phi Phi!”
“Ồ…” Tử Chức ngạc nhiên, “không phải là mẹ nuôi, thì là gì?”
“Là mẹ ruột của con bé!” Vương hậu khẳng định chắc nịch, “và Tô đại nhân kia cũng không phải cha nuôi, mà là cha ruột!”
Tử Chức hai mắt trợn trừng, không dám tin vào tai.
“Còn một điều nữa, con cũng không thể nào ngờ.”
Tử Chức ngẩng đầu nhìn vương hậu.
“Mẹ ruột của Phi Phi, lại là ai?”
“Là ai?” Tử Chức vô thức lặp lại.
“Chính là tổ thái hậu của con đó, chính là người lâu nay vẫn sống trong biệt cung Vũ Dương, nói là để hầu hạ bên tiên tổ công của con, chính là công chúa Đại Chu!”
“A?” Tử Chức gần như nhảy dựng dậy.
“Con à,” Dịch Vương hậu chợt than thở, “cung điện thâm sâu, không biết che giấu bên trong bao điều bí mật! Nhớ năm xưa, Kỷ Cửu Nhi nói chắc như đinh đóng cột, rằng tổ thái hậu của con và Tô tướng quốc có điều mờ ám, mẫu hậu dứt khoát không tin, thế nhưng giờ đây, thì đã tin rồi. Chẳng trách cứ năm lần bảy lượt thoái thác không chịu gặp ta, thì ra là sợ ta nhận ra!”
“Mẫu hậu,” Tử Chức đã định thần lại, trầm ngâm một lát, rồi nhìn vương hậu hỏi, “nếu đã là vậy, cớ sao phải kéo Phi Phi vào? Phi Phi…làm sao mà giúp được ta?”
“Con thích con bé?”
“Thích!”
“Phi Phi có thích con?”
“Có lẽ…có. Bao ngày không gặp, ngày nào con cũng nhớ Phi Phi, mà không biết Phi Phi có nhớ con?”
“Nếu như thích, hãy cầu hôn con bé, để Phi Phi trở thành vương phi của con!”
“Con…” Tử Chức ngần ngừ.
“Muốn đứng vững ở Yên, con nhất định phải làm như vậy!” Vương hậu cất giọng rành rọt, “con cưới được Phi Phi, coi như đã giữ được trái tim Tô Tần và tổ thái hậu. Có Tô Tần làm chủ bên ngoài, liệt quốc không dám ức hiếp nước Yên. Có tổ thái hậu làm chủ bên trong, người Yên sẽ phục.”
“Vậy còn Triệu Vương? Chuyện này liên quan gì tới Triệu Vương?”
“Có Triệu Vương, thân thế của con mới được xác thực, chí ít là cho tới hiện tại, Triệu Vương đã thừa nhận con là Tử Chức. Chỉ là lúc này, Triệu Vương đang dồn hết tâm trí vào chuyện người Hồ đất Bắc, chưa rảnh để nhìn đến con. Nghe nói Tô Tần cũng đi rồi, xem ra mùa đông năm nay, người Triệu sẽ vô cùng bận rộn!”
“Ý mẫu hậu muốn nói, Triệu Vương sẽ đưa con về Yên?” Tử Chức không dám tin.
“Không đưa con về Yên, thì giữ con lại trong cung để làm gì? Với Triệu Vương, con chính là món hàng quý hiếm đấy? Chỉ là…” Vương hậu ngập ngừng.
“Chỉ là sao kia?”
“Triệu Vương sẽ không giúp đỡ không công!”
“Ông ta muốn gì?”
“Muốn con nghe lời!”
Tử Chức khẽ hừm một tiếng: “Đừng mơ tưởng!”
“Những lời này, con chỉ được phép nói với mẫu hậu ở đây, còn nếu nói không đúng chỗ, e rằng không bao giờ còn ra khỏi cung này được nữa!” Dịch Vương hậu lừ mắt nhìn Tử Chức.
Tử Chức hít sâu vào một hơi, tuy không phục, song rồi cũng im bặt.
“Còn chuyện Phi Phi,” vương hậu tiếp lời, “con thích con bé, thế là đủ rồi. Qua vài hôm nữa, chờ Triệu Vương thắng trận trở về, nếu ông ta đề nghị đưa con về Yên, con hãy đòi ông ta cho con Phi Phi, nói rằng con bé là ân nhân cứu mạng của con, có con bé ở bên, con mới an tâm. Triệu Vương nếu muốn dùng con làm quân cờ, ắt phải lấy lòng con. Để cho Triệu Vương tự đi nói chuyện này với tổ thái hậu và Tô Tần, mọi chuyện sẽ xuôi chèo mát mái. Đợi đến khi nước Yên an định, Phi Phi cũng lớn rồi, con có thể chính thức thành hôn, để con bé trở thành vương hậu nước Yên.”
“Nhưng như vậy, chẳng phải là trái với luân thường? Phi Phi với tổ thái hậu là…” Tử Chức đắn đo.
“Sao có thể chứ?” Dịch Vương hậu khẽ cười, “về danh nghĩa, con bé là đứa trẻ mồ côi do Mặc giả nuôi lớn, là một tiểu Mặc giả. Tổ thái hậu chẳng qua vì thương xót nên mới nhận làm con nuôi, tới lúc đó, cứ để tổ thái hậu đổi cách xưng hô là được!”
“Chức Nhi kính cẩn nghe lời mẫu hậu!”