Kể từ sau khi được Hàn Tuyền Tử ở núi Chung Nam chỉ điểm, Huệ Văn Công giống như đứng trên đỉnh Thái Sơn quan sát thiên hạ, tầm mắt được mở rộng, không còn giới hạn trong phạm vi ba nước Ngụy, Triệu, Hàn quanh cổng nhà, mà đã phóng mắt ra xa hơn, hướng tới nước Tề giáp biển nằm tận Sơn Đông và nước Sở ngăn sông cách núi. Cũng vì đó, Huệ Văn Công gần như đã tung ra một nửa số Hắc Điêu của Hắc Điêu đài, phân bố rải rác khắp các thành ấp của hai nước Tề, Sở, hình thành một mạng lưới gián điệp đồ sộ, theo dõi sát sao nhất cử nhất động của hai nước này. Huệ Văn Công còn đặc biệt ra dụ, Hắc Điêu không chỉ theo dõi chặt chẽ cung thất, mà còn giám sát triều thần và dân chúng, chỉ cần có chút biến động dù là rất nhỏ, lập tức có mật thư cấp báo về ngay.
Người chỉ huy mạng lưới đồ sộ này là công tử Hoa. Hàng ngày, sau khi nhận được mật báo, công tử Hoa đều xem cẩn thận, biện biệt thật giả, gặp việc cấp bách, lập tức trình lên Huệ Văn Công. Nếu không cấp bách, thì tổng kết lại rồi trình bày một thể.
Hôm nay, trời mới mờ sáng, công tử Hoa đã hối hả rảo bước vào cung. Do không có buổi chầu sáng, nên vừa nhìn thấy công tử Hoa, nội thần đã biết xảy ra chuyện lớn, bèn mau chóng dẫn công tử Hoa vào ngự thư phòng.
Một lát sau, Huệ Văn Công rửa mặt, chải đầu xong xuôi, cũng vội vàng đi tới. Công tử Hoa lôi từ trong ống tay áo ra một bức mật thư, hai tay dâng lên Huệ Văn Công.
Huệ Văn Công mở ra xem, là mật thư của Trần Chẩn: “… Người Việt lương thảo sắp cạn, đã trở thành bầy thú bị vây. Người Sở bao vây mà không tiêu diệt, chơi trò mèo già vờn chuột…”
“Mèo già vờn chuột! Hay lắm!” Huệ Văn Công đập mạnh xuống bàn, phấn khởi thốt lên. “Văn vẻ của Trần ái khanh, càng viết càng hay!”
“Nói thực,” công tử Hoa bật cười nói, “lúc Trần Chẩn kia mới tới hàng, chúa thượng dùng hắn, thần đệ một dạo rất không ưng dạ. Giờ đây nhìn lại, chúa thượng quả nhiên đã dùng đúng người tài!” Lại lôi từ trong ống tay áo ra một bức mật thư khác. “Chúa thượng hãy xem, đây là mật thư của tay thị vệ thân tín bên cạnh thượng khanh viết riêng cho thần đệ, tấu báo rằng thượng khanh luôn cảm động và tâm niệm tới ân đức của chúa thượng, một lòng một dạ bày mưu tính kế cho chúa thượng, không hề có chút bất trung.”
Huệ Văn Công liếc qua bức mật thư, rồi mỉm cười nói: “Khanh mới nói đúng một nửa, còn một nửa, là hắn đang bày mưu tính kế cho chính mình!” Rồi chuyển ánh mắt sang mật tấu của Trần Chẩn, “… hiện tại Sở Vương trọng dụng Trương Nghi, Chiêu Dương cũng đã có vẻ khâm phục Trương Nghi, nhất nhất nghe theo lời hắn, nên việc đuổi Trương Nghi, không thể nóng vội…” lại gật gù nói tiếp. “Trương Nghi là bậc đại tài, đáng tiếc đã chọn lầm chủ!” Rồi quay sang công tử Hoa. “Khanh điều động thêm người, theo dõi Trương Nghi sát sao. Ngoài ra, cần nói rõ với Trần Chẩn, đuổi hắn đi là được, không được gây tổn hại tới tính mạng hắn!”
“Thần đệ hiểu rồi, chúa thượng làm vậy là để giữ lại núi xanh!”
Huệ Văn Công cười nói: “Hiểu rồi thì tốt, mau làm đi!” Rồi quay sang nội thần. “Truyền Công Tôn Diễn, Sư Lý Tật, Tư Mã Thác, Cam Mậu vào yết kiến!”
“Lão nô lĩnh chỉ!”
Sau khi hai người lui ra, Huệ Văn Công trầm ngâm một lát, bước tới trước tấm bản đồ liệt quốc, nhìn chăm chú vào vùng đất Sở, Việt hồi lâu.
Phóng mắt nhìn ra, thấy nước Sở hệt như một tấm thảm khổng lồ, toạ lạc chắc chắn trên bản đồ. Thiên hạ rộng lớn, hầu hết là của người Sở. So sánh với đó, thì Hàn, Ngụy, Triệu, Tề đều trở nên nhỏ bé. Dù cộng thêm Yên, Tần vào, cũng không quá một phần năm đất Sở. Hàn Tuyền Tử coi Sở đứng đầu ba cường quốc trong thiên hạ, quả là có con mắt tinh đời. Nước Sở vốn đã rộng lớn nhường này, nếu lại tiêu diệt được Việt…
Huệ Văn Công không dám nghĩ tiếp, đôi mày chau tít, mải mê suy tính tới mức nội thần bước vào bẩm báo các vị trọng thần đã tới cũng không hề hay biết. Nội thần đợi một lát, lại bẩm báo tiếng nữa, Huệ Văn Công lúc này mới giật mình bừng tỉnh, nói: “Cho vào!”
Bốn người Công Tôn Diễn, Sư Lý Tật, Tư Mã Thác và Cam Mậu theo nhau bước vào.
Quân thần hành lễ xong xuôi, Huệ Văn Công dẫn họ lại phía trước bản đồ, chỉ vào bản đồ, chậm rãi nói: “Chư vị ái khanh, các khanh đều đã thấy, mấy tháng nay, liệt quốc ngoài cửa ải liên tục đi nước cờ hay. Trước hết, người Việt dàn quân ở Lang Nha, chuẩn bị phạt Tề, người Tề phòng bị nghiêm ngặt đợi địch. Tiếp đến là người Sở phạt Tống, người Ngụy không đi cứu Tống, lại vòng đường xa đánh Hạng Thành, khiến người Sở phải bỏ Tống quay lại ứng cứu, Ngụy Sở đối đầu. Vào lúc người Tề toàn quốc giới bị, người Việt lại đột ngột chuyển hướng, bỏ Tề đánh Sở, song lại bị Sở vây khốn, quả là cờ hay liên tiếp!”
Bốn vị trọng thần mắt nhìn không chớp vào bản đồ. Cả bốn người đều đã hiểu rõ những diễn biến này, chỉ là không biết Huệ Văn Công đột nhiên triệu họ tới, nhắc đến việc này là có ý đồ gì, do vậy vừa nhìn bản đồ, vừa băn khoăn đoán ý.
“Chư vị ái khanh,” Huệ Văn Công rời mắt khỏi tấm bản đồ, nhìn khắp lượt chư thần. “Liệt quốc liên tục xuất kỳ chiêu, chiêu nào cũng bất ngờ khó đoán, khiến thiên hạ phải bàng hoàng sửng sốt, hoa mắt chóng mặt. Quả nhân suy đi nghĩ lại, càng nghĩ càng cảm thấy trong đó có điều huyền diệu, song huyền diệu ở chỗ nào, quả nhân vẫn chưa thấu tỏ hoàn toàn. Nay mời chư vị tới, là muốn nhờ chư vị suy nghĩ giúp. Chư vị chớ ngại, hãy cứ nghĩ gì nói đấy!”
Chư thần đưa mắt nhìn nhau, chẳng ai muốn lên tiếng trước.
Huệ Văn Công bật cười: “Sao thế, các khanh thành câm hết rồi ư! Có suy nghĩ gì hãy cứ nói ra, thoải mái giống như ngày thường vậy!”
Vẫn im lặng.
“Được rồi, nếu các khanh không nói, quả nhân sẽ chỉ đích danh!” Huệ Văn Công nói xong, ánh mắt dừng lại ở Công Tôn Diễn. “Công Tôn ái khanh, khanh nghĩ thế nào?”
Công Tôn Diễn ôm quyền nói: “Vi thần cho rằng, liệt quốc quan ngoại tranh giành lần này, là bắt nguồn từ tranh chấp vùng lưu vực sông Tứ.”
“Ồ, đúng vậy,” Huệ Văn Công gật đầu khen ngợi. “Khanh hãy nói thử xem, vùng lưu vực sông Tứ tranh chấp thế nào?”
“Khởi bẩm chúa thượng,” Công Tôn Diễn nhìn vào bản đồ, chỉ vào khu vực các nước nhỏ ở lưu vực sông Tứ. “Các nước lưu vực sông Tứ ở giữa các nước lớn Tề, Ngụy, Sở, Việt. Vệ, Hàn, Triệu, tuy là nước nhỏ, song đất đai màu mỡ, dân chúng đông đúc, giao thông vô cùng thuận lợi, xưa nay vốn là vựa cá vựa thóc, các nước Sơn Đông đều muốn chiếm đoạt cho mình. Sáu năm trước, Ngụy Vương xuất binh phạt Vệ, không phải vì Vệ Công bất kính, mà thực chất là muốn tìm cớ diệt Vệ. Tần, Hàn, Triệu xuất binh cứu Vệ, trên danh nghĩa là khởi binh vì nghĩa, song thực tế đều có ý đồ riêng, chẳng ai muốn để một mình người Ngụy nuốt gọn miếng thịt béo bở này…”
Không đợi Công Tôn Diễn nói hết, Tư Mã Thác đã hấp tấp cắt ngang: “Sông Tứ Thuỷ mãi tận Lỗ, Tống, chẳng liên quan gì tới nước Vệ, đại lương tạo vì sao lại nhắc đến nước Vệ?”
“Quốc uý có điều không biết,” Công Tôn Diễn cười nói, “tại hạ muốn nói đến toàn bộ lưu vực sông Tứ, không chỉ riêng sông Tứ Thuỷ. Lưu vực sông Tứ, là chỉ hơn mười nước ở khu vực này, chứ không phải chỉ mấy nước nhỏ như Lỗ, Tống, Đằng, Tiết.”
“Ha ha!” Tư Mã Thác cũng cười trừ mà nói. “Đúng là hạ quan dốt nát!”
Công Tôn Diễn nói tiếp: “Các nước lưu vực sông Tứ, tuy nước nhỏ lực yếu, song có thể bảo tồn đất nước tới ngày nay, đều là vì các nước lớn không chịu nhường nhau, kết quả là không nước nào chịu để cho nước nào thôn tính một mình. Trong các nước lưu vực sông Tứ, đất Tống rộng nhất, Tống Công Yển khó đối phó nhất, điểm này nước nào cũng nhìn ra, nên không dám hành động, chỉ lẳng lặng chờ đợi thời cơ. Người Sở đánh tới có người Tề, người Tề đánh tới có người Ngụy, người Ngụy đánh tới có người Sở, hơn chục năm qua tuy có sóng gió, song vẫn bình yên vô sự. Cho tới khi lan truyền tin Tống Công bắn trời đánh đất, các nước lớn mới vin vào cớ này nhằm thảo phạt ông ta. Tống Công lần này xưng vương, hẳn là bị Ngụy Vương bức bách, do người Tống Huệ Thi đứng ra làm trung gian. Ngụy Vương vì chuyện xưng vương mà rước phiền phức vào người, đưa ra kế sách này hẳn là muốn khuấy đảo thiên hạ, đánh lừa dư luận.”
Huệ Văn Công gật đầu liên hồi: “Công Tôn ái khanh, nói tiếp đi!”
“Người Sở vài năm trước phạt Tống, do người Tề tới cứu viện mà việc sắp thành lại hỏng. Lần này người Việt phạt Tề, Tề lo thân còn chẳng nổi, nói gì tới cứu Tống. Người Sở cho rằng trời ban cho thời cơ tốt, lại một lần nữa phạt Tống, không ngờ người Ngụy lại tới cứu viện. Người Ngụy xuất binh cũng đã nằm trong dự đoán của Sở, do vậy người Sở đã có chuẩn bị từ trước, song họ không ngờ được rằng, người Việt lại nhân cháy nhà hôi của…”
Thấy Công Tôn Diễn thao thao bất tuyệt, lại không nói thẳng vào trọng tâm, Huệ Văn Công bất giác chau mày, cắt ngang lời Công Tôn Diễn: “Công Tôn ái khanh, quả nhân đều đã biết những chuyện này. Quả nhân muốn hỏi khanh, phía sau những nước cờ này có ẩn giấu huyền cơ gì chăng? Nếu nói là nước cờ kỳ diệu, thì kỳ diệu ở đâu?”
“Kỳ diệu ở người Ngụy cứu Tống!”
“Phải!” Huệ Văn Công gật gù. “Người Ngụy cứu Tống, không tới nước Tống, lại tới Hạng Thành, quả là một nước cờ kỳ diệu!” Rồi đưa mắt nhìn khắp lượt chư thần. “Chư vị ái khanh, các khanh có biết nước cờ này là của ai không?”
Tư Mã Thác nói ngay: “Hẳn là Bàng Quyên!”
“Không phải, không phải!” Huệ Văn Công lắc đầu phủ nhận. “Nhìn vào thế cờ, nước cờ này tuyệt đối không phải của Bàng Quyên!”
Công Tôn Diễn ngạc nhiên hỏi: “Tại sao chúa thượng lại biết?”
“Nếu là Bàng Quyên, quân Ngụy ắt sẽ tới nước Tống, trước hết cắt đứt Tuy Thuỷ, vây khốn người Sở ở phía bắc Tuy Thuỷ, sau đó mới quyết chiến với Sở.”
“Chúa thượng thánh minh!” Công Tôn Diễn ngẫm nghĩ một lát, thán phục nói. “Không phải Bàng Quyên, vậy là ai đây?”
“Là sư huynh của hắn, Tôn Tẫn!” Huệ Văn Công quả quyết. “Người này sau khi tới Ngụy, trước hết khiến một lượng lớn dân Ngụy bỏ ta mà quay về, làm hỏng việc lớn của ta, nay lại nghĩ ra chiêu ‘tấn công chỗ nhất định phải cứu’, đùa giỡn Chiêu Dương trên lòng bàn tay, khiến quân Sở bôn ba mệt nhoài, hao binh tổn tướng, lại mất cả đất đai. Hiện tại xem ra, tài của người này không biết là hơn gấp mấy lần Bàng Quyên!”
Quần thần gật đầu lia lịa.
“Có điều, nói về mấy nước cờ kỳ diệu này,” Huệ Văn Công mắt nhìn chư thần, chuyển sang chuyện khác, “người Ngụy cứu Tống tuy kỳ diệu, song vẫn chưa phải là kỳ diệu nhất. Chư vị ái khanh, các khanh có biết kỳ diệu nhất là chiêu nào không?”
Thấy quần thần đưa mắt nhìn nhau, Huệ Văn Công nhấn mạnh từng chữ: “Người Việt đánh Sở!”
Quần thần lại thêm một phen kinh ngạc.
“Người Việt đánh Sở?” Sư Lý Tật thoạt tiên sửng sốt, rồi mới bừng hiểu ra. “Phải rồi, người Việt đánh Sở, đúng là nước cờ kỳ diệu. Người Việt không biết người Tề, song biết người Sở. Khuyết điểm của người Sở, chính là ưu điểm của người Việt. Nước Sở nơi nơi sông nước, song lại không có thuỷ quân, thuỷ quân của người Việt lại vô địch thiên hạ, có thể tung hoành ở Sở. Người Sở phía tây bị vây khốn bởi Ba, Thục, phía tây bắc bị vây khốn bởi Tần, phía đông bắc đang đại chiến với Ngụy, vùng nội địa sau lưng trống trải nhất. Người Việt ngược sông mà lên, đánh thẳng vào nội địa, đúng là gặp thế thuận lợi, phát huy sở trường, quả đúng là chiêu kỳ diệu nhất!”
“Thượng đại phu nói rất phải,” Tư Mã Thác vô cùng khâm phục. “Người Việt tới Sở, như vào chỗ không người, chỉ trong vài tháng, đã đánh tới tận đầm Vân Mộng, uy hiếp Sính Đô. Nếu không có đại quân tây bắc của Khuất Vũ kịp thời quay về cứu trợ, e rằng cái hoạ nước Ngô năm xưa sẽ lại tái diễn.”
Huệ Văn Công không để ý tới những lời này, chuyển ánh mắt sang Công Tôn Diễn: “Công Tôn ái khanh, khanh cũng nghĩ vậy ư?”
“Khởi bẩm chúa thượng,” Công Tôn Diễn suy nghĩ một lát rồi nói. “Người Việt đánh Sở có phải là nước cờ kỳ diệu hay không, vi thần hiện tại vẫn chưa nhìn rõ. Có điều, vi thần rất lấy làm kinh ngạc, vì người Việt tràn tới như vũ bão, người Sở đã không hề củng cố phòng ngự, lại vừa động đã tan, không hề kháng cự. Chỉ tới khi người Việt ồ ạt vượt Hán Thuỷ, người Sở mới liều mạng chống trả, hai bên, bên đánh bên giữ, đều chịu thương vong. Ngoài ra, giữa Việt và Sở lại không hề xảy ra kịch chiến. Theo vi thần thấy, người Sở dù nội địa có trống trải tới đâu, cũng không thể tới mức không kham nổi một đòn như vậy.”
Huệ Văn Công gật gù, phấn khởi ra mặt: “Lời ái khanh rất có lý, nói tiếp đi!”
“Vi thần cho rằng, tình thế này chỉ có hai khả năng. Thứ nhất, người Sở vẫn nhớ cái hoạ nước Ngô năm xưa, trong lòng luôn dè chừng người Việt, do vậy gió chiều nào che chiều ấy. Thứ hai, người Sở có mưu đồ khác.”
“Có mưu đồ gì?” Huệ Văn Công nhổm người lên hỏi.
Công Tôn Diễn do dự một lát: “Vi thần vẫn chưa thấu tỏ. Vi thần cho rằng, người Sở rất có thể sẽ hoà giải với người Việt, lấy hoà thay chiến; hoặc giả đang chờ thời cơ, cùng Tề mưu chiếm Việt, đánh giáp công người Việt!”
Thấy Công Tôn Diễn đang sắp nói vào trọng tâm, lại chuyển sang hướng khác, Huệ Văn Công thất vọng vô cùng, khựng lại một thoáng, rồi đưa mắt nhìn khắp lượt chư thần: “Quả nhân vừa nói, người Việt đánh Sở là nước cờ kỳ diệu. Song kỳ diệu ở chỗ nào, các khanh vẫn chưa nói ra được!”
Quần thần lại đưa mắt nhìn nhau.
“Kỳ diệu!” Huệ Văn Công vẫn mải mê với suy nghĩ của mình. “Thực kỳ diệu, nước cờ này quả là diệu không kể xiết!”
“Dám hỏi chúa thượng,” Sư Lý Tật hỏi, “nước cờ này kỳ diệu ở đâu?”
“Nếu chúng ta có thể đoán được người nào nghĩ ra nước cờ này, thì sẽ biết được kỳ diệu ở đâu!”
“Chúa thượng.” Cam Mậu như đã hiểu ra, “vi thần đoán ra rồi, nước cờ này ắt là do người Ngụy nghĩ ra, mục đích là di chuyển chú ý!”
Huệ Văn Công lắc đầu.
Tư Mã Thác đập bàn nói: “Chúa thượng, mạt tướng biết rồi! Thế cờ này ắt là của người Tề! Việt Vương phạt Tề, mục đích là trả mối thù của Câu Tiễn năm xưa. Người Tề sợ thuỷ quân của người Việt, mới nghĩ ra kế này, gắp lửa bỏ tay người!”
Huệ Văn Công vẫn lắc đầu, từ từ di chuyển ánh mắt sang Công Tôn Diễn: “Công Tôn ái khanh lẽ nào cũng không nhìn ra?”
Công Tôn Diễn trầm ngâm một lát: “Không lẽ lại là của người Sở?”
Huệ Văn Công khẽ gật đầu.
“Người Sở?” Quần thần đều kinh ngạc. “Chuyện này không thể!”
Huệ Văn Công mỉm cười: “Có thể hay không thể, các khanh hãy về đi đã, ngẫm nghĩ cho kỹ. Lúc nào nghĩ thông, hãy tới đây bẩm lại với quả nhân.”
Quần thần liếc nhìn nhau, rồi khấu đầu nói: “Vi thần cáo lui!”
Sau khi mọi người lui ra hết, Huệ Văn Công lại ngồi ngẩn ngơ một lúc trong ngự thư phòng, khẽ thở dài một tiếng, rồi gọi: “Người đâu!”
Nội thần hấp tấp chạy lại: “Có thần!”
“Điện Di Tình!”
***
Trong sơn cốc ở núi Chung Nam, suối Hàn Tuyền vẫn ào ạt phun trào. Do thời tiết chuyển lạnh, nước phun ra từ khe suối không còn cảm giác lạnh nữa, mà đã thành nước ấm. Trong đầm nước phía dưới đầu nguồn, hơi nước bốc lên nghi ngút. Bên cạnh đầm nước có một nếp nhà nhỏ, Lâm tiên cô đang ngồi tĩnh toạ trong nhà cùng với vài sư đệ, sư muội trẻ tuổi.
Bên cạnh gian nhà là thảo đường của Hàn Tuyền Tử.
Hàn Tuyền Tử ngồi ngay ngắn trong thảo đường, Trúc Viễn quỳ xuống, bái lạy mà nói: “Đệ tử Tu Trường khấu kiến tiên sinh!”
Hàn Tuyền Tử mỉm cười, gật đầu nói: “Tu Trường, ngồi đi!”
Trúc Viễn cảm tạ xong, chuyển từ quỳ sang ngồi, kể lại sơ qua một lượt về tình hình liệt quốc, cuối cùng nói: “Hai năm gần đây, cục thế thiên hạ biến đổi chóng mặt, đều là vì ba người Bàng Quyên, Tôn Tẫn, Trương Nghi. Đệ tử biết rằng, ba người này đều theo học sư bá Quỷ Cốc Tử ở núi Vân Mộng.”
Hàn Tuyền Tử khép mắt lại, một lát sau, gật đầu nói: “Sư huynh đã động lòng trắc ẩn, thiên hạ có lẽ được cứu rồi!”
“Tiên sinh!” Trúc Viễn nhìn Hàn Tuyền Tử với ánh mắt hoài nghi. “Tại sao sư bá Quỷ Cốc Tử trước đây không quan tâm tới thiên hạ?”
“Than ôi!” Hàn Tuyền Tử khẽ thở dài một tiếng. “Nói ra dài lắm. Sau khi tiên sư Quan Doãn Tử đuổi theo sư tổ Lão Đam tới núi Chung Nam, khổ sở tìm kiếm sư tổ khắp nơi mà không thấy, đành dựng một túp lều cỏ ở đây để tham ngộ cảnh giới đạo. Tuy nhiên tiên tổ tham ngộ cả đời, vẫn chưa thể đắc đạo. Vào ngày quy tiên, tiên tổ lấy làm hối tiếc, đã gọi sư huynh Quỷ Cốc Tử và ta lại, khẩn thiết dặn dò rằng: ‘Tối cực của đời người, không gì bằng đắc đạo. Ta khổ tu suốt mấy chục năm qua, tuy có lĩnh ngộ, song chưa thể đắc đạo. Thường có câu, công đủ tất tự thành, quả chín thì rụng cuống. Ta công lực chưa tới, quả chưa chín, cuống đã rụng, bỏ lỡ cơ hội đắc đạo. Trời đất dằng dặc, đời người ngắn ngủi. Hai con ngày tháng còn dài, nên ngày ngày tham ngộ, tuyệt đối không được trễ nải. Đợi đến lúc thành tựu, mới không phụ lòng mong mỏi của ta. Kẻ làm thầy này không nói nhiều nữa, hai con hãy tự mình thực hiện, ta đi đây’. Nói xong, tiên sư khép mắt ngưng thần trước mặt hai huynh đệ chúng ta, thân hình thu lại nhỏ dần, chớp mắt đã hoá thành một làn khói, từ từ bay đi. Hai huynh đệ chúng ta bàng hoàng kinh hãi, đứng lặng hồi lâu, mới hiểu ra tiên sư đã hoá khí bay đi, giật mình bừng tỉnh, đau thương rơi lệ, bèn đem mũ áo tiên sinh chôn trên núi Hậu Sơn, chính là nơi các trò vẫn lui tới tế lễ hàng năm.”
Nghe tiên sinh kể lại chuyện tổ sư hoá khí, Trúc Viễn hồn bay phách lạc, hồi lâu mới định thần trở lại, như có điều cảm ngộ: “Đệ tử hiểu rồi! Sư bá Quỷ Cốc Tử hẳn là vâng theo lời dặn của tiên sư, một lòng tham ngộ đại đạo, không còn tâm trí để tâm tới thiên hạ.”
“Trò nói rất đúng!” Hàn Tuyền Tử đáp lời Trúc Viễn, rồi kể tiếp. “Sư bá của trò tu đạo vượt xa ta, do vậy càng thể ngộ sâu sắc sự nuối tiếc của tiên sư. Sau khi tiên sư quy tiên, sư bá của trò và ta cùng trông coi mộ mũ áo của tiên sư, để tang tròn ba năm, sau đó sư bá của trò bỗng dưng cáo biệt, nói là muốn vân du thiên hạ, từ đó một đi không trở lại. Sau này, qua tiên hữu Liệt Tử, ta mới biết rằng sư bá của trò đã tìm tới núi Vân Mộng xa xôi, khổ luyện trong động đá, đã đạt đến đại ngộ. Tiên sư nói rằng, trời đất dằng dặc, đời người ngắn ngủi, sư bá của trò cảm nhận sâu sắc ngày tháng thoi đưa, suốt mấy chục năm liền, một mình tu luyện, không nhận đệ tử. Mấy năm trước, tiên hữu Liệt Tử lại tới, nói rằng bên cạnh sư bá có thêm một tiểu đồng, ta mới biết rằng sư bá của trò vẫn chưa đắc đạo, nên đã chọn đệ tử kế tục. Còn việc sư bá của trò đột nhiên quan tâm tới nỗi thống khổ của nhân gian, thu nạp đệ tử thế tục, đúng là nằm ngoài dự đoán của ta. Hẳn là sư bá của trò đã xúc động vì một chuyện gì đó, nên mới phát tâm cứu đời!”
“Sư bá quan tâm thế tục, quả thực phi phàm!” Trúc Viễn giọng đầy khâm phục. “Giờ thì đệ tử đã hiểu, các đệ tử của sư bá, người sau tài giỏi hơn người trước, xuống núi mới chỉ vài năm, liệt quốc thiên hạ đã nằm gọn trong lòng bàn tay họ!”
Hàn Tuyền Tử không đáp lời, khép mắt trầm ngâm suy nghĩ, một lát sau mới ngẩng lên nói: “Vừa rồi trò nhắc tới Bàng Quyên, Tôn Tẫn và Trương Nghi, mới chỉ có ba người. Đáng lẽ phải là năm người mới đúng!”
Trúc Viễn kinh ngạc: “Vì sao tiên sinh đoán rằng họ có năm người?”
“Đạo sinh một, một sinh âm dương, âm dương sinh ngũ hành, ngũ hành tương sinh tương khắc, hoá sinh thiên hạ. Sư huynh nếu quan tâm thế tục, tất thu nạp năm đệ tử, khiến năm người tôi luyện lẫn nhau, tương sinh tương khắc, bổ trợ lẫn nhau.”
“Tiên sinh đoán sự như thần!” Trúc Viễn càng thêm thán phục. Đệ tử đã dò hỏi kỹ, ngoài tiểu đồng, sư bá đúng là đã thu nạp năm người, song hai người còn lại là ai, có xuống núi hay không, sau khi xuống núi ở đâu, hiện tại chưa thể biết được!”
Hàn Tuyền Tử khép mắt ngưng thần, tiến vào cảnh giới thần du, hồi lâu mới mở mắt, nói: “Một người nữa sắp sửa tới Hàm Dương!”
“Tới Hàm Dương?” Trúc Viễn trợn tròn hai mắt.
“Đúng vậy!” Hàn Tuyền Tử khẽ gật đầu. “Trò hãy tìm kiếm người này. Nếu Tần Công được người này trợ giúp, đại nghiệp có lẽ sẽ thành công!”
“Đệ tử xin làm theo lời căn dặn của tiên sinh.”
***
Huệ Văn Công được nội thần thân tín đưa tới điện Di Tình, tẩm cung của tiên quân Hiếu Công. Từ ngày Hiếu Công qua đời, cung điện này do lão nội thần thân tín của Hiếu Công cai quản, ngoài Huệ Văn Công, bình thường hiếm có người lui tới.
Hai người còn chưa tới tẩm cung, từ xa đã nhìn thấy lão nội thần quỳ ở bên ngoài. Huệ Văn Công lấy làm ngạc nhiên, vội bước lại gần, đang định hỏi thì lão nội thần đã dập đầu hô: “Lão nô khấu kiến chúa thượng!”
Huệ Văn Công bước lên một bước, đích thân đỡ lão nội thần dậy: “Cớ sao lão lại quỳ ở đây?”
“Lão nô đang đợi hầu chúa thượng!”
“Đợi hầu quả nhân?” Huệ Văn Công ngạc nhiên. “Vì sao lão biết quả nhân sắp tới?”
“Khởi bẩm chúa thượng,” lão nội thần nói. “Rạng sáng hôm nay, lão nô trong lúc ngủ đã mơ thấy tiên quân, tiên quân bảo lão nô đợi hầu bên ngoài cửa, nói rằng chúa thượng sắp tới. Lão nô không dám trái lệnh, đứng đợi ở đây, quả nhiên chúa thượng đã tới thực.”
“Lão đã đứng đợi ở đây từ sáng?”
“Vâng!”
Huệ Văn Công rất đỗi kinh ngạc, bèn đỡ lão nội thần vào trong cung, quỳ xuống trước linh vị của Hiếu Công ở chính đường, lạy liền mấy lạy, rồi bảo đám cung nhân lui ra, chỉ giữ lại lão nội thần.
“Lão công công,” Huệ Văn Công nhìn lão nội thần, “tiên quân còn nói gì với lão nữa không?”
“Tiên quân còn dặn, ngươi hãy nói với Tứ Nhi rằng, việc mà quả nhân giao phó, nhất thiết không được quên!”
“Còn gì nữa không?” Huệ Văn Công nôn nóng.
Lão nội thần lắc đầu.
Huệ Văn Công trầm ngâm một hồi, rồi nói với lão nội thần: “Lão công công hãy ra ngoài cửa đợi, quả nhân muốn tĩnh tâm suy nghĩ một lát.”
Lão nội thần đứng dậy lui ra, khép cửa lại, đứng đợi bên ngoài.
Huệ Văn Công lại lạy ba lạy trước linh vị tiên quân, rồi đứng dậy bước tới trước giường Hiếu Công, nhắm mắt lại, đưa hai tay vuốt ve mặt giường, như thể Hiếu Công vẫn đang nằm trên đó. Quỳ được một lát, Huệ Văn Công đứng dậy, đi vào mật thất, mở cửa, lấy hộp đá ra, đặt lên mặt bàn, chậm rãi mở ra, hai mắt nhìn chằm chằm vào hàng chữ viết trên hộp đá: “Số Chu tám trăm, đỏ tận đen xuất; xưng đế thiên hạ, bốn biển đều phục. Lão Đam.”
Cùng lúc này, bên tai Huệ Văn Công lại văng vẳng giọng nói của Hiếu Công: “Số Chu tám trăm, nghĩa là vận khí của Chu thất chỉ có tám trăm năm. Đỏ tận đen xuất, ý nói vận khí của Chu thất đã tận, Đại Tần sẽ hưng… Nhà Thương là đức Mộc, quốc sắc là màu xanh. Nhà Chu là đức Hoả, quốc sắc là màu đỏ. Tần là đức Thuỷ, quốc sắc là màu đen. Trời cao tạo vật, khiến ngũ hành tương khắc. Khắc Mộc là Hoả, khắc Hoả là Thuỷ, tức là Chu thay thế Thương, cuối cùng Tần sẽ thay thế Chu. Đó gọi là đỏ tận đen xuất. Vận số tám trăm năm của nhà Chu, đến nay đã được hơn bảy trăm năm. Nói cách khác, không quá trăm năm nữa, vận số nhà Chu sẽ tận! Liệt quốc trong thiên hạ, duy chỉ nước Tần ta có thể thay thế nhà Chu. Đây không phải ý ta, mà là ý trời!… Tứ Nhi, vương nghiệp này, đáng tiếc quả nhân đã bất lực, chỉ còn biết trông đợi vào con! Liệt tổ liệt tông cũng chỉ có thể trông đợi vào con!”
Huệ Văn Công lại lạy ba lạy trước hộp đá, lầm rầm khấn rằng: “Lời dặn của quân phụ, nhi thần một ngày cũng chẳng dám quên. Uỷ thác của thiên mệnh, nhi thần một ngày cũng không dám trái, chỉ có điều…” Nói đến đây, bất chợt nước mắt tuôn trào. “Nhi thần… nhi thần tuy có tâm, song đức mỏng lực yếu, một tay khó vỗ, khẩn cầu tiên quân, khẩn cầu liệt tổ liệt tông linh thiêng trên trời phù hộ cho nhi thần gặp được hiền tài, nhi thần nguyện cúc cung tận tụy để ứng với mệnh trời!”
Nói tới đây, Huệ Văn Công lại lạy thêm mấy lạy, rồi đậy hộp đá lại, đặt trở về mật thất, khoá kín cửa, trở ra chính đường ngồi xuống trước bàn, gọi khẽ: “Người đâu!” Lão nội thần và nội thần cùng bước vào: “Có nô thần!” Huệ Văn Công nhìn nội thần: “Mời Trúc tiên sinh tới ngự thư phòng yết kiến!”
Nội thần bẩm tấu: “Trúc tiên sinh hiện không có ở Hàm Dương!”
“Ồ?” Huệ Văn Công thoáng ngạc nhiên. “Làm sao ngươi biết Trúc tiên sinh không có ở Hàm Dương?”
“Tối qua vi thần có chút chuyện muốn nhờ Trúc tiên sinh, thì Giả tiên sinh nói rằng Trúc tiên sinh đi vắng vài hôm, dặn vi thần hai ngày nữa quay lại. Bởi vậy thần biết Trúc tiên sinh không có ở Hàm Dương.”
Huệ Văn Công ngẫm nghĩ một lát: “Truyền chỉ, khi nào Trúc tiên sinh trở về, truyền tới yết kiến lập tức.”
“Thần lĩnh chỉ!”
Ba ngày sau, Trúc Viễn từ núi Chung Nam trở về, đã có cung nhân chờ sẵn, tuyên chỉ mời vào cung. Trúc Viễn tắm rửa xong xuôi, mũ áo chỉnh tề, theo cung nhân vào cung, được nội thần dẫn vào ngự thư phòng, bái lạy mà nói: “Tu Trường khấu kiến chúa thượng!”
“Tiên sinh bất tất phải đa lễ!” Huệ Văn Công đỡ Trúc Viễn dậy, dắt vào vị trí khách, còn mình cũng ngồi xuống vị trí chủ, vòng tay nói. “Mấy ngày nay Doanh Tứ thấy buồn bực trong lòng, nên muốn mời tiên sinh tới đây trò chuyện.”
Trúc Viễn vòng tay đáp lễ, hỏi: “Chúa thượng có chuyện gì buồn bực?”
“Than ôi!” Huệ Văn Công khẽ thở dài một tiếng. “Không giấu tiên sinh, quân phụ có Thương Quân, mới thành đại nghiệp. Doanh Tứ bất tài, thực lòng muốn học theo quân phụ, lập nên nghiệp lớn, song nhìn khắp xung quanh, chẳng thấy ai tài cán được như Thương Quân. Triều đình không có đại hiền, một mình Doanh Tứ, thực là một tay khó vỗ!”
Trúc Viễn nhìn thẳng vào Huệ Văn Công, mỉm cười hỏi: “Đại lương tạo lẽ nào không phải nhân tài?”
“Công Tôn ái khanh là nhân tài,” Huệ Văn Công mỉm cười đáp, “song chưa phải đại tài. Doanh Tứ vốn cho rằng Công Tôn ái khanh có thể thay thế Thương Quân, nào ngờ mấy năm qua, đã làm quả nhân thất vọng!”
Trúc Viễn gật đâu nói: “Thời thế thay đổi, nhân tài lớp lớp xuất hiện, quần anh tụ hội, hiện tại đừng nói là đại lương tạo, dù là Thương Quân tái sinh, e rằng cũng không thể theo kịp thời thế.”
“Tiên sinh nói rất đúng!” Huệ Văn Công thừa nhận. “Nếu không có Bàng Quyên, Tôn Tẫn, tài của Công Tôn ái khanh có lẽ đã chấn động liệt quốc rồi!” Dừng lại một lát, lại nói. “Xin hỏi tiên sinh, hiện tại trên phố đã có sĩ tử mới chưa?”
“Lệnh chiêu hiền của chúa thượng vừa ban bố, sĩ tử liệt quốc nô nức kéo tới, chỉ trong vài năm, phố Sĩ Tử ở Hàm Dương đã nức tiếng khắp thiên hạ, còn hơn cả Tắc Hạ của nước Tề. Theo thảo dân được biết, các quán trọ trên phố đều chật kín người, ngày nào cũng có sĩ tử mới tới, phòng trọ luôn trong tình trạng cung không đủ cầu.”
Huệ Văn Công phấn khởi, vòng tay cảm tạ: “Nhờ có tiên sinh vạch kế sách mới được như vậy, Doanh Tứ đa tạ!”
Trúc Viễn đáp lễ, nói: “Chúa thượng khao khát hiền tài, dùng người thoả đáng, đây là kết quả tất yếu mà thôi.”
“Xin hỏi tiên sinh, gần đây có hiền tài nào dùng được chăng?”
“Việc nhỏ thì được, việc lớn e là chưa được.”
“Không giấu tiên sinh,” Huệ Văn Công bộc bạch suy nghĩ trong lòng, “tình hình liệt quốc biến đổi khôn lường, nhân tài đua nhau xuất hiện, Doanh Tứ cảm thấy hơi lo lắng. Lần này mời tiên sinh tới đây, là khẩn cầu tiên sinh mở to tuệ nhãn, mau chóng giúp quả nhân tìm ra một đại tài thực thụ.”
“Tu Trường xin tận lực!”
“Nghe nói tiên sinh gần đây trở về Hàn Tuyền, có chuyện này chăng?”
“Tu Trường vừa từ trên núi trở về, lập tức tới yết kiến chúa thượng.”
“Ồ!” Huệ Văn Công vui mừng ra mặt. “Tiên sinh về núi lần này, hẳn là để bái kiến tiền bối Hàn Tuyền Tử?”
“Gia sư nhờ Tu Trường chuyển lời hỏi thăm tới chúa thượng!”
“Tiền bối có điều gì dặn dò Doanh Tứ chăng?”
“Gia sư dặn Tu Trường nói lại với chúa thượng,” Trúc Viễn vòng tay nói, “gia sư gần đây đêm nào cũng quan sát thiên văn, thấy có khí tía từ phương đông tới, là điềm sắp có đại hiền đến Tần, có lẽ chúa thượng sắp có được đại hiền!”
“Vậy thì tốt quá!” Huệ Văn Công hai mắt sáng rực, đứng bật dậy, hướng về phía núi Chung Nam, vái dài sát đất. “Hàn Tuyền tiền bối, xin nhận một lễ của Doanh Tứ!”
***
Sau khi rời khỏi thôn Tiểu Tần, Tô Tần đi thẳng về phía tây, chỉ vài ngày sau, đã gần tới Hàm Dương.
Trên đường đi, Tô Tần nhận thấy, phong tục tập quán của dân chúng nơi đây khác hẳn với các nước Sơn Đông. Tuy chưa tới mức không nhặt của rơi trên đường như nước Tề thời Quản Trọng, song dân chúng sung túc, đêm ngủ không phải đóng cửa là chuyện có thực. Tô Tần sớm đã biết Tần pháp hà khắc, do vậy khi đi qua Vũ Thành, đã mua vài cuốn “Tần pháp”, trên đường tới Hàm Dương, vừa đi vừa đọc, kết hợp với những điều nghe nhìn, đã hiểu khá rõ về Tần, tự tin rằng chuyến này tới Tần là nước cờ đúng đắn.
Khi cỗ xe của Tô Tần từ từ tiến vào cổng thành Hàm Dương, trời đã nhá nhem. Vào thành chưa lâu, Tô Tần nhìn thấy một ông lão đang thu dọn quầy hàng bên đường, bèn dừng xe, nhảy xuống, vái chào mà hỏi: “Xin hỏi lão trượng, từ đây tới phố Sĩ Tử đi như thế nào?”
Lão trượng đáp lễ mà nói: “Quan nhân cứ đi thẳng, khoảng ba tầm tên bắn thì rẽ trái, sau đó lại rẽ phải, gặp một con phố lớn, cứ đi theo con phố này là tới cung thành. Phố Sĩ Tử ở bên trái cung thành.”
Tô Tần cảm tạ ông lão, rồi đánh xe ngựa đi.
Thấy cỗ xe ngựa xa dần, ông lão khẽ lắc đầu, than thở: “Than ôi, lại thêm một kẻ nữa! Phú quý đã khiến người ta phát cuồng mất rồi!”
Đi theo lời chỉ dẫn của ông lão, Tô Tần chẳng mấy chốc đã tới được phố Sĩ Tử.
Trời đã tối sập, gió rét căm căm, dọc hai bên phố toàn là quán trọ, đèn màu sáng rực, bóng người chộn rộn. Tô Tần mừng rỡ, bước vào một quán trọ ở đầu phố. Song liên tiếp hỏi tới hơn chục quán trọ, đều đã hết phòng.
Tô Tần hít ngược một hơi khí lạnh. Tô Tần sớm đã biết rằng sĩ tử liệt quốc đua nhau kéo đến Tần, song đông đến mức này, quả thực khiến Tô Tần không tưởng tượng nổi. Học cung Tắc Hạ tuy có vài nghìn học tử, song đa phần là người trẻ tuổi mộ danh mà tới cầu học, còn sĩ tử học hành có chỗ thành tựu lại không tới vài trăm; những người học thành tài, được gọi là Tắc Hạ tiên sinh, chỉ vỏn vẹn hơn chục. Còn phố Sĩ Tử lại khác hoàn toàn. Phàm người tới Tần, đều là học sĩ có kiến thức uyên thâm, hoặc chí ít cũng ôm ấp hoài bão lớn, vượt nghìn dặm xa xôi mà tới, mưu cầu công nghiệp.
Tô Tần lại hỏi hơn chục quán trọ khác, đi từ đâu phố tới cuối phố, không một chỗ nào còn phòng trống.
Tô Tần bắt đầu cuống quýt. Trời đã tối muộn, nếu không tìm được chỗ ở, trong thành Hàm Dương lại không có bạn bè thân thích, Tô Tần quần áo sang trọng, ngựa đẹp xe sang nhường kia mà lại lang thang trên phố, chẳng phải sẽ thành chuyện nực cười hay sao?
Đang lúc lo lắng, lại nhìn thấy phía trước có một khung cửa, ngước mắt trông lên, thấy trên cửa đề bốn chữ “Vận Lai khách sạn”, bề ngoài hào nhoáng sang trọng, chiếm một đoạn phố dài đến hơn hai mươi trượng, không cần hỏi cũng biết đây là một quán trọ lớn. Lúc này đã là giờ cơm tối, Tô Tần đánh xe tới gần, nhìn thấy bên trong người đông nườm nượp, hẳn cũng đã kín phòng.
Tô Tần khẽ thở dài một tiếng, chẳng buồn vào hỏi nữa, đang định đi sang nhà khác thì tiểu nhị đã bước ra đón, nhìn Tô Tần một lượt, hỏi nhỏ: “Quan nhân hẳn là tới thuê phòng?”
“Phải!” Tô Tần gật đầu, vòng tay vái chào. “Xin hỏi tiểu nhị, quý quán còn phòng trống không?”
“Khách quan đến thật đúng lúc!” Tiểu nhị lại săm soi một lượt xe ngựa và quần áo của Tô Tần, rồi mới đáp lễ. “Bản quán hôm qua mới có được một phòng trống, cũng khá tươm tất, không biết quan nhân có muốn ở chăng?”
Tô Tần mừng rỡ, gật đầu lia lịa: “Muốn, muốn chứ!”
Tiểu nhị sai một thằng nhỏ dắt xe ngựa tới hậu viện, còn mình dẫn Tô Tần vào trong nhà trọ, nói với ông chủ ngồi sau quầy: “Vị khách quan này muốn thuê căn phòng trống kia!”
Chủ quán nhìn Tô Tần một lượt, rồi gật đầu, ôm quyền nói: “Quan nhân muốn thuê, mời đi theo tiểu nhân!”
Tô Tần đáp lễ, theo chủ quán đi về phía hậu viện, rẽ qua vài khúc quanh thì tới một khu nhà nhỏ: “Chính là chỗ này,” rồi đẩy cửa phòng. “Khách quan nhìn xem, đây là sảnh đường, có thể tiếp khách. Đây là thư phòng, có thể đọc sách viết lách. Đây là phòng ngủ, bên cạnh có phòng tắm, sớm tối đều có nước nóng. Đồ đạc trong phòng, tuy chưa phải tốt nhất, song trong thành Hàm Dương, được như vậy cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay.”
Tô Tần đưa mắt nhìn một lượt, quả nhiên hết sức xa hoa sang trọng. Nghĩ tới mình thân phận hàn vi, tiền đồ chưa rõ, lại ở một nơi rộng rãi đẹp đẽ đến thế này, không khỏi chột dạ, bèn thuận miệng hỏi: “Giá cả thế nào?”
“Khách quan ở lâu ngày hay ngắn ngày?”
Tô Tần chần chừ một lát: “Chuyện này cũng khó nói!”
“Phải rồi!” Chủ quán gật đầu đồng tình. “Cũng đúng thôi, phàm là sĩ tử tới đây, có người ở một vài tháng, có người ở nửa năm một năm, cũng có người ở dăm ba năm, không ai giống ai. Xin hỏi quý tính của khách quan?”
“Miễn quý! Tại hạ họ Tô tên Tần, người Lạc Dương.”
“Không giấu Tô Tử, thông thường, bản quán tính tiền theo tháng, ở chưa hết một tháng, vẫn tính là cả tháng. Đây là khu nhà tốt nhất trong bản quán, tiền ở một tháng bốn lượng vàng mười, tiền ăn tính riêng. Tiểu nhân thấy khách quan có dáng đại tài, tương lai hẳn sẽ thăng tiến vùn vụt, nên ưu ái bớt đi một lượng, coi như là để kết giao, sau này cũng có chỗ nhờ cậy.”
Tô Tần nghe mà giật mình, song thầm nghĩ bụng, nếu một ngày được trọng dụng, số vàng này cũng chẳng đáng là bao, hơn nữa ngoài chỗ này ra, cũng chẳng còn nơi nào khác, lập tức bấm bụng, vái mà nói: “Cảm tạ ông chủ, vậy tôi xin thuê!”
Chủ quán đáp lễ: “Mời khách quan đặt cọc năm lượng.”
Tô Tần lấy ra năm lượng vàng từ trong túi, đưa cho chủ quán. Chủ quán kiểm tra, thấy toàn là vàng mười của Đại Chu, lại cầm trên tay ước lượng một lúc, rồi quay ra cửa gọi: “Người đâu!”
Tiểu nhị vừa xách tay nải cho Tô Tần bước lại, đáp lời: “Có tiểu nhị!”
“Hầu hạ quan gia cẩn thận, xem quan gia có yêu cầu gì, nhớ phục vụ đầy đủ!”
Tiểu nhị “vâng” một tiếng, đặt tay nải xuống, vái Tô Tần: “Quan gia, mời!”
Sau khi thu xếp xong xuôi, Tô Tần hào hứng theo tiểu nhị tới tiền sảnh, tìm một chỗ ngồi, thấy trong sảnh có khoảng hơn hai chục người, chẳng cần hỏi cũng biết đều là sĩ tử liệt quốc.
Tuy nhiên, Tô Tần vừa ngồi xuống đã cảm thấy không khí có phần khác lạ. Toàn bộ phòng ăn im ắng như tờ, ánh mắt của đa số sĩ tử đều lộ vẻ xót thương. Không chỉ có thế, đáng lạ lùng hơn là hầu hết mọi ánh mắt đều kinh ngạc đổ dồn về phía Tô Tần, như thể nhìn một vật lạ.
Tình cảnh này khiến Tô Tần cảm thấy lúng túng. Ngẫm nghĩ một lúc, chợt nhận ra phục sức của mình không thích hợp. Bên ngoài trời lạnh, áo cừu quần gấm đã đành, giờ vào trong nhà rồi, vẫn mặc như vậy, đúng là lạ lùng. Trong phòng ấm sực, lúc mới bước vào chưa cảm nhận thấy, đến lúc này mới thấy trong người nóng ran, mồ hôi cũng bắt đầu rịn ra.
Tô Tần đã biết nguyên nhân, bèn đứng dậy quay về phòng, cởi bỏ áo cừu, thay bằng áo mỏng, lại đứng trước gương ngắm nghía một hồi, không thấy có gì bất thường, mới quay trở lại phòng ăn.
Thế nhưng, chư vị sĩ tử không vì Tô Tần đã thay trang phục mà đổi thái độ, vẫn như vừa nãy, nét mặt lộ vẻ thương cảm, ánh mắt kinh ngạc nhìn Tô Tần chằm chằm.
Tô Tần ngẩn người. Rõ ràng, thái độ của đám sĩ tử không hề liên quan tới trang phục trên người mình.
Tô Tần ngẫm nghĩ một thoáng, quyết định lấy động chế tĩnh, bèn ngồi ngay ngắn, lớn tiếng gọi: “Tiểu nhị, cho hai món, một mặn một rau, một bình rượu nóng, thêm gừng hành!”
Tiểu nhị “vâng” một tiếng, quay người bước đi, loáng một cái đã thấy bưng lại hai đĩa thức ăn, một bình rượu nóng, hai chén rượu, bày lên bàn. Tô Tần cầm lấy bình rượu, rót vào trong chén.
Tô Tần động tác chậm rãi đĩnh đạc, nhất cử nhất động đều bộc lộ định lực khác người. Quả nhiên, chỉ một lúc sau, có một sĩ tử tầm ba mươi tuổi bước lại, ngồi xếp bằng trước mặt Tô Tần, quay sang tiểu nhị nói: “Cũng cho hai món, một bình rượu nóng!”
Tô Tần nhìn người này, mỉm cười, rót đầy rượu vào chén không trên bàn, ôm quyền mà nói: “Nhân huynh nếu không coi thường tại hạ, mời uống với Tô Tần một chén được chăng?”
Sĩ tử kia cũng ôm quyền đáp lễ: “Cung kính không bằng tuân lệnh. Tại hạ họ Giả, tên Xá Nhân, tới từ nước Vệ. Xin hỏi Tô huynh từ đâu tới?”
Tô Tần bưng chén rượu lên: “Tại hạ là người Chu, tới từ Lạc Dương. Giả huynh, mời!”
Giả Xá Nhân cũng nâng chén, khẽ cụng với Tô Tần: “Tô huynh, mời!”
Hai người cùng ngửa cổ, một hơi uống cạn.
Tuy nhiên, bầu không khí xung quanh vẫn không vì thế mà thay đổi. Hơn hai mươi sĩ tử ngồi trong phòng vẫn như lúc trước, nhìn Tô Tần bằng ánh mắt thương cảm và kinh ngạc, khiến Tô Tần cảm thấy rờn rợn trong lòng.
Tô Tần nhìn lướt qua đám sĩ tử một lượt, khẽ hỏi: “Xin hỏi Giả huynh, họ làm sao vậy?”
“À!” Giả Xá Nhân khẽ thở dài một tiếng. “Tô huynh có điều không biết, ở đây vừa xảy ra một chuyện lớn!”
“Sao kia?” Tô Tần kinh ngạc. “Là chuyện gì vậy?”
“Vào đêm hôm kia,” Giả Xá Nhân chậm rãi kể, “có một vị nhân huynh nhất thời nghĩ quẩn, đã treo cổ tự vẫn ngay trong khu nhà mà anh ta trọ, trên cây hoè già trong sân. Hôm qua mọi người mới đi đưa tiễn anh ta, hôm nay vẫn chưa bình tâm trở lại.”
“Ồ, hoá ra là vậy!” Tô Tần thở dài một tiếng. “Dám hỏi Giả huynh, vị nhân huynh kia tự vẫn vì chuyện gì?”
Giả Xá Nhân cười buồn mà nói: “Chẳng vì chuyện gì cả, chỉ là nhất thời nghĩ quẩn mà thôi!”
Tô Tần đột nhiên sực tỉnh, rùng mình ớn lạnh: “Nói như vậy, khu nhà mà tại hạ đang ở… chính là nơi anh ta đã trọ trước đó?”
“Đúng vậy!” Giả Xá Nhân gật đầu. “Vị nhân huynh kia họ Ngô, tên Tần, đến từ nước Tống. Khu nhà mà Tô huynh đang ở cũng chính là nơi Ngô sĩ tử trọ bữa trước. Anh ta tới đây cũng vào mùa đông năm ngoái. Hôm anh ta tới, giống như hôm nay, cũng là một ngày giá lạnh, cũng vào chập tối, cũng xe sang ngựa đẹp, áo cừu quần gấm. Nghe nói Ngô huynh tự tin vào một bụng học vấn, đã bán hết ruộng vườn, một mực tới Tần, quyết tâm thực hiện chí nguyện.” Dừng lại một lát, khẽ thở dài một tiếng. “Than ôi, thế mà một năm đã qua đi, Ngô nhân huynh nhất thời nghĩ không thông, đã phất áo đi rồi. Nhìn dáng vẻ của Tô huynh vừa nãy, đúng là giống hệt như lúc Ngô huynh mới tới, vì thế mà mọi người mới sững sờ kinh dị!” Lại cười buồn một tiếng. “Tô huynh, thế gian có lắm sự trùng hợp, phải không?”
Từng câu từng chữ của Giả Xá Nhân giống hệt như đang nói về Tô Tần. Tô Tần nghe mà kinh hãi trong lòng, song mau chóng trấn tĩnh trở lại, cười cười rồi nâng chén: “Giả huynh, thế gian không chỉ khéo trùng hợp, mà còn có kỳ tích nữa! Chén rượu này, coi như tiễn biệt vị nhân huynh xấu số kia!”
Giả Xá Nhân cũng nâng chén rượu, nói: “Tô huynh quả không tầm thường! Được, tiễn biệt Ngô nhân huynh!”
Trong cung Tần, Sư Lý Tật vội vã bước vào ngự thư phòng, dập đầu hô: “Vi thần khấu kiến chúa thượng!”
Huệ Văn Công chìa tay nói: “Ái khanh miễn lễ, ngồi đi!”
Sư Lý Tật đứng dậy, ngồi xuống, rồi ngẩng nhìn Huệ Văn Công: “Chúa thượng cho triệu thần tới gấp, hẳn có điều gì sai bảo?”
Huệ Văn Công cười hỏi: “Phố Sĩ Tử có tin gì chăng?”
“Vi thần đang định bẩm báo chúa thượng,” Sư Lý Tật chau mày nói. “Đêm hôm kia, có một sĩ tử đến từ nước Tống đã treo cổ tự sát!”
“Sao kia?” Huệ Văn Công thu lại nụ cười, sắc mặt sầm xuống. “Chuyện này là thế nào?”
“Người này họ Ngô tên Tần, tuy đầy bụng kinh luân, song kiến giải hủ lậu, không hợp thực tế, là một kẻ mọt sách đích thực. Đừng nói ở chỗ Giả tiên sinh, dù chỉ là vòng bình giá ban đầu, cũng chưa qua được.”
“Nếu đã như vậy, sao không sắp xếp cho hắn công việc viết lách? Người này không thể làm việc lớn, song sao chép hẳn được, dù sao cũng nên cho hắn làm gì đó kiếm cơm ăn mới phải!”
“Giả tiên sinh cũng nói như vậy. Vi thần đã thu xếp cho hắn việc chép sách ở học quán, nào ngờ hắn chỉ tới làm một ngày, rồi lặn mất tăm. Sau đó nghe nói, hắn vốn cho rằng mình là đại tài trong thiên hạ, không chịu làm công việc sao chép lặt vặt.”
Huệ Văn Công thở dài: “Học hành tới nước này, chỉ là học chết mà thôi. Hậu sự lo liệu xong chưa?”
“Vi thần đã sai người chôn cất cẩn thận, tiền trọ mà người này còn nợ, cũng đã thanh toán cả rồi.”
“Vậy là tốt rồi! Nước Tần hẻo lánh, sĩ tử chịu tới, đã là có ân với Tần, dù có dùng hay không, tuyệt đối không được làm tổn thương tới ý chí của họ.”
“Tấm lòng nhân từ của chúa thượng, có thể cảm động đất trời!”
“Quả nhân hôm nay cho gọi khanh tới là vì một việc khác!” Huệ Văn Công trở lại chuyện chính. “Sáng sớm nay, quả nhân nằm mơ thấy chim hồng hạc từ phương đông bay lại. Quả nhân nhờ người giải mộng, biết được có cao sĩ tới Tần. Nếu thực sự có cao sĩ tìm tới, quả là may mắn cho Đại Tần ta. Sư Lý ái khanh, việc này vô cùng trọng đại, quả nhân nhờ cậy vào khanh!”
“Chúa thượng yên tâm, vi thần sẽ toàn lực kiếm tìm!”
Rời khỏi khách sạn Vận Lai, Giả Xá Nhân đi dọc theo phố Sĩ Tử khoảng một tầm tên bắn, rồi rẽ vào một quán trọ khang trang lịch sự, bước vào dãy nhà thứ nhất.
Trong phòng khách, Trúc Viễn ngồi xếp bằng trên chiếu, hai mắt khép hờ. Giả Xá Nhân bước lại, khoanh chân ngồi xuống đối diện, chậm rãi nói: “Khởi bẩm sư huynh, có một người mới tới, tên gọi Tô Tần, có vẻ không phải hạng tầm thường.”
“Ồ!” Trúc Viễn hé mắt. “Không tầm thường thế nào?”
“Thân ổn, khí ổn, tâm ổn. Ở bên cạnh hắn, có thể cảm nhận thấy một luồng chính khí lẫm liệt.”
Trúc Viễn trầm ngâm suy nghĩ một hồi, rồi ngẩng đầu nhìn Giả Xá Nhân, nói: “Nếu đúng như vậy, có lẽ chính là người này!”
“Có điều…” Giả Xá Nhân ngập ngừng.
“Nói đi!”
“Người này xe ngựa sang trọng, áo cừu quần gấm, thực khiến người ta sinh nghi. Nếu là bậc đại hiền, hành vi lẽ ra không nên dung tục đến vậy!”
Trúc Viễn hơi chau mày lại, nhắm mắt một lúc rồi nói: “Thế này vậy, sư đệ hãy tới gặp hắn thêm một lần nữa. Nếu người này là hạng tầm thường thì thôi. Nếu không phải tầm thường, hãy dựng đàn cho hắn, có bản lĩnh hay không, đăng đàn sẽ sáng tỏ ngay thôi!” Dừng lại một lát, rồi thở dài thườn thượt. “Dù sao cũng mong rằng người này chính là người mà tiên sinh nói tới. Nếu đúng như vậy, chúng ta đã hoàn tất một việc lớn, có thể trở về núi tiếp tục tu hành.”
Giả Xá Nhân gật đầu.
Sau khi tạm biệt Giả Xá Nhân, Tô Tần trả tiền cho tiểu nhị, rồi trở về phòng. Có lẽ do quá mệt mỏi, Tô Tần chẳng buồn tắm rửa, cứ thế leo lên giường ngủ sớm.
Nằm được một lúc, Tô Tần trằn trọc trở mình, trong đầu vẫn nhớ tới lời nói của Giả Xá Nhân, nên không tài nào ngủ được. Trằn trọc hồi lâu, Tô Tần đành ngồi bật dậy, khoác áo cừu lên người, đi ra phòng khách, khoanh chân ngồi xuống trước bàn. Ngồi một lúc, Tô Tần vô tình nhìn ra ngoài cửa sổ, đột nhiên rùng mình ớn lạnh. Tô Tần đứng dậy, rảo bước đến bên cửa sổ, kéo rèm ra.
Ngoài cửa sổ, trăng soi vằng vặc. Trong sân, vài góc âm u vẫn còn sót lại chút tuyết đọng từ mấy hôm trước. Tuyết trắng phản chiếu ánh trăng, khiến trong sân sáng loá. Hơi chếch bên sân là một cây hoè già trơ cành trụi lá, đứng im lìm trong gió lạnh. Một chạc cây to đủ sức gánh đỡ trọng lượng một thân người đâm ngang lưng chừng cây. Không nghi ngờ gì nữa, vị nhân huynh tên gọi Ngô Tần kia hẳn là đã tìm đường ra đi trên chạc cây này.
Nhìn lên chạc hoè, Tô Tần bất giác toàn thân nổi da gà, đôi mày chau tít lại, bên tai lại văng vẳng lời nói của Giả Xá Nhân: “… Nhìn dáng vẻ của Tô huynh vừa nãy, đúng là giống hệt như lúc Ngô huynh mới tới, vì thế mà mọi người mới sững sờ kinh dị!… Tô huynh, thế gian có lắm sự trùng hợp, phải không?”
Tô Tần lại bước tới bên cửa sổ, nhìn sững vào cây hoè, đăm chiêu suy nghĩ hồi lâu, rồi lẩm bẩm một mình: “Giả huynh nói rất đúng, việc này thật khéo trùng hợp! Ngô Tần đó vừa bước chân đi, Tô Tần ta đã đặt chân tới, cứ như sắp đặt từ trước. Ta đã tìm khắp vài chục quán trọ, mà cả dãy phố Sĩ Tử dài rộng nhường này, lại chỉ có thể vào ở đúng gian nhà mà anh ta từng ở, hệt như định mệnh đã an bài. Khi Ngô Tần tới là mùa đông, cũng xe sang ngựa đẹp, cũng áo cừu quần gấm, cũng bán hết ruộng vườn, đánh cược một phen, tất cả đều giống hệt như ta. Anh ta tên Ngô Tần, ta tên Tô Tần, chữ ‘Ngô’ đồng âm với chữ ‘Vô’, chữ ‘Tô’ đồng âm với chữ ‘Sơ’, một người là ‘Vô Tần’, một người là ‘Sơ Tần’, đều mang nghĩa không có duyên với Tần…”
Nghĩ tới đây, Tô Tần bỗng thấy run sợ trong lòng, lẩm bẩm: “Nhiều điểm trùng hợp như vậy, lẽ nào ông trời muốn cảnh báo ta?”
Tô Tần cố gắng trấn tĩnh lại, quay trở về trước bàn, khoanh chân ngồi ngay ngắn, khép hờ hai mắt, chìm vào suy tưởng.
Sáng hôm sau, Tô Tần cũng đã bình tâm trở lại.
Nghe thấy bên ngoài, tiếng người mỗi lúc một ồn ào, Tô Tần từ từ mở mắt, đứng dậy, bước lại bên cửa sổ, ngắm nhìn cây hoè và chạc cây mà Ngô Tần đã treo cổ tự vẫn, song vầng trán bình thản, trên mặt tràn đầy vẻ cương nghị và tự tin.
Tô Tần vừa rửa mặt chải đầu xong thì có người gõ cửa.
Nhìn thấy Giả Xá Nhân, Tô Tần bèn vái chào: “Tại hạ bái kiến Giả huynh.”
Giả Xá Nhân đáp lễ: “Xá Nhân không mời mà tới, thực làm phiền Tô huynh!”
“Giả huynh khách khí rồi,” Tô Tần cười nói. “Tại hạ chân ướt chân ráo tới đây, còn chưa am hiểu phong tục tập quán nơi này, gặp được Giả huynh, quả là diễm phúc, đâu dám nói tới hai chữ ‘làm phiền’?” Rồi chìa tay ra nói. “Giả huynh, mời!”
“Tô huynh, mời!”
Hai người sánh bước vào trong phòng, phân ngôi chủ khách ngồi xuống.
Giả Xá Nhân nhìn Tô Tần, hỏi đầy ẩn ý: “Tô huynh đêm qua ngủ có ngon không?”
Tô Tần cười cười, thay cho câu trả lời.
“Ồ!” Giả Xá Nhân quay đầu nhìn quanh, cười nói. “Mọi thứ vẫn hệt như lúc Ngô nhân huynh còn ở đây. Vì sao Tô huynh không thay đổi chút ít, cũng có thể xua đi khí rủi.”
“Ở đây chỉ có chính khí, tại hạ không hề thấy khí rủi!” Tô Tần lại cười, chỉ tay về phía cây hoè. “Xin hỏi Giả huynh, lấy đi tính mệnh của Ngô nhân huynh, phải chăng chính là chạc cây kia?”
Giả Xá Nhân nhìn theo hướng chỉ của Tô Tần, quả nhiên thấy một chạc cây to. Lại nhìn Tô Tần, thấy trên người tuyệt nhiên không thấy có mảy may hốt hoảng bấn loạn, mà ngược lại, quanh người bừng bừng một làn chính khí hạo nhiên sống động, lập tức sinh lòng kính phục, ôm quyền mà nói: “Tô huynh nói không sai, tại hạ cũng đã cảm nhận thấy làn chính khí. Ngô nhân huynh nếu cũng suy nghĩ thông suốt như Tô huynh đây, hẳn sẽ không có kết cục đáng buồn đó.”
Tô Tần cũng ôm quyền mà nói: “Tạ ơn Giả huynh đã quá khen! Dám hỏi Giả huynh, tới đây đã bao lâu rồi?”
Giả Xá Nhân thở dài một tiếng: “Tính ra, cũng đã hai năm có lẻ rồi!”
“Ồ?” Tô Tần ngạc nhiên. “Nhìn cách ăn nói của Giả huynh, hẳn là người có tài, vì cớ gì mà vẫn chưa được trọng dụng?”
Giả Xá Nhân cười buồn bã: “Phàm là những ai tới nơi này, cũng đều nói rằng mình có tài. Tại hạ cũng vậy, cho rằng có tài nên mới tới đây, nào ngờ vận may không đến, tới tận ngày nay vẫn chưa được quân chủ trọng dụng. Hai năm trôi qua, ý chí cầu quan đã tắt rồi!”
Tô Tần lại ngẩn người: “Thiên hạ rộng lớn như vậy, ở đây không được trọng dụng, cớ sao Giả huynh không đi nơi khác?”
“Nơi khác chẳng phải vẫn thế ư? Hơn nữa…” Giả Xá Nhân cười hề hề, “tại hạ vẫn còn chút kế mưu sinh ở đây!”
“Ồ?” Tô Tần cảm thấy thú vị. “Dám hỏi Giả huynh, kinh doanh gì vậy?”
Giả Xá Nhân cười nói: “Làm ăn cỏn con mà thôi, không đáng nhắc đến!” Dừng lại một lát, lại nói tiếp. “Có điều, vụ làm ăn này lại có liên quan tới Tô huynh, không biết Tô huynh có hứng thú không?”
Tô Tần cũng cười nói: “Đã liên quan tới tại hạ, đương nhiên tại hạ có hứng thú!”
Giả Xá Nhân vòng tay: “Tô huynh đã có hứng thú, xin mời theo Xá Nhân tới một nơi!”
Tô Tần cũng vòng tay nói: “Cung kính không bằng tuân lệnh! Giả huynh, mời!”
“Tô huynh, mời!”
Hai người ra khỏi cửa, đi dọc theo phố Sĩ Tử một đoạn, rồi dừng lại trước một cánh cổng lớn.
Giả Xá Nhân chỉ vào cánh cổng, nói: “Tô huynh, tới rồi!”
Tô Tần ngẩng nhìn, thấy tấm biển trên cánh cổng để ba chữ vàng “Anh Hùng cư”, bèn khen ngợi: “Cái tên thực hay!” Rồi quay sang Giả Xá Nhân. “Thì ra Giả huynh kinh doanh ở đây.”
Giả Xá Nhân chìa tay mời: “Tô huynh, mời vào!”
Hai người bước vào trong cổng, chỉ thấy bên trong trống trơn, tuyệt nhiên không có lấy một “anh hùng”. Tô Tần lấy làm ngạc nhiên, đang băn khoăn thì Giả Xá Nhân đã dẫn vào trong dãy nhà thứ nhất, trên cửa đề ba chữ “Luận Chính đàn”.
Tô Tần nhìn vào ba con chữ, hỏi: “Giả huynh, ba chữ này có nghĩa là gì?”
“Tô huynh cứ vào bên trong, tự nhiên sẽ hiểu rõ!”
Tô Tần mỉm cười, sải bước vào trong.
Bên trong là một phòng lớn, rộng thênh thang, có thể chứa đến vài trăm người. Đối diện với cửa vào là một giảng đàn, thẳng phía trước giảng đàn trải bốn tấm chiếu, trước mỗi tấm chiếu đều kê một chiếc bàn. Tiếp theo phía sau trải rất nhiều chiếu, không có bàn, nhìn vào cách bài trí, giống hệt như nơi xem kịch.
Quan sát một lát, Tô Tần có vẻ đã hiểu ra, gật đầu nói: “Đây chính là ba chữ đề trên cửa! Năm ngoái tại hạ ở Tắc Hạ nước Tề, đã từng thấy kiểu bài trí này, song không phải để luận về chính sự, mà là luận về học vấn trong thiên hạ. Đàn này hẳn là được dùng cho sĩ tử bàn luận về chính sự.”
“Đúng vậy!” Giả Xá Nhân đáp. “Đây chính là luận chính đàn nổi tiếng của phố Sĩ Tử. Tại đây, sĩ tử trong thiên hạ có thể thoải mái phát ngôn, bàn luận về chính sự trong thiên hạ.”
“Nghe khẩu khí, hẳn đàn này do Giả huynh mở ra?”
“Tô huynh đề cao tại hạ rồi!” Giả Xá Nhân cười nói. “Tô huynh nhìn tại hạ thế này, liệu có giống người mở đàn hay không?”
“Chân nhân không lộ tướng!” Tô Tần cười đáp. “Đàn này nếu không phải Giả huynh mở ra, vừa nãy cớ sao lại nói là kế mưu sinh của mình?”
“Nói ra dài lắm!” Giả Xá Nhân cười nhăn nhó. “Sau khi Tần Công kế vị, rộng đường ngôn luận, nạp sĩ cầu hiền, sĩ tử liệt quốc nô nức kéo đến. Tuy nhiên, nước Tần nhỏ hẹp, chức tước hạn chế, lại không phải mọi sĩ tử đều có thể trọng dụng. Hơn nữa, sĩ tử tới Tần đông như kiến cỏ, vàng thau lẫn lộn, nhất thời khó lòng phân biệt được nhân tài thực sự. Thế là một số sĩ tử ở lâu trên đất này mà chưa được trọng dụng, do thông thuộc chính đàn nước Tần, đã làm chân chạy cho các sĩ tử, chuyên giúp đỡ cho những sĩ tử mới đến, lâu dần, trở thành một nghề kinh doanh. Quán trọ này vốn dùng để tiếp đón sĩ tử, song ông chủ nhìn thấy mối làm ăn này rất khá, bèn ngừng nhận khách, tu sửa lại quán trọ, xây dựng nên luận đàn này, bản thân làm đàn chủ, quả nhiên kinh doanh rất phát đạt. Tạ hạ bất tài, được đàn chủ cho làm chức bình phán, nhân tiện mời chào khách đến.”
“Thảo nào người này nhiệt tình như vậy, hoá ra là thế!” Tô Tần nghĩ thầm trong bụng, khẽ chau mày, rồi ngẩng đầu hỏi: “Dám hỏi Giả huynh, các vị kinh doanh như thế nào?”
Giả Xá Nhân chỉ vào bục gỗ trước mặt: “Tô huynh nhìn xem, đó là giảng đàn. Người mới tới đều có thể khai đàn diễn thuyết. Khi khai đàn, sẽ lên bục này thuyết giảng về chủ trương chính sự và giải đáp mọi khúc mắc, phản bác!” Rồi chỉ tay về phía bốn chiếc bàn dưới đàn. “Đây là chỗ ngồi của bình phán. Dù là ai khai đàn, liệu chủ trương chính sự của anh ta có hợp ý Tần Công hay không; nếu trúng ý, anh ta có thể được chức vị đến đâu, đều trông vào mấy vị bình phán này. Không giấu Tô huynh, từ ngày lập đàn tới nay, bình xét của họ rất hiếm khi sai!”
“Ồ?” Tô Tần lấy làm kinh ngạc. “Thực sự thần kỳ như vậy ư?”
“Đương nhiên rồi!” Giả Xá Nhân cười nói. “Nếu không, ai chịu bỏ tiền khai đàn ở đây?”
Tô Tần mỉm cười nói: “Đã chuẩn xác đến vậy, những người bình phán như nhân huynh đây tại sao lại không được trọng dụng?”
Giả Xá Nhân cười gượng gạo: “Đều giống như tại hạ, không có tướng phú quý! Nếu không phải vậy, cớ sao các thầy tướng mệnh phải giúp người khác chỉ điểm cát hung?”
“Phải, nói cũng đúng!”
Giả Xá Nhân chỉ về những chỗ ngồi phía sau: “Đó đều là chỗ của người xem. Hễ có người khai đàn, tất có sĩ tử tới nghe. Người nghe càng đông, tranh luận càng sôi nổi, cho thấy luận thuyết của người khai đàn càng đáng chú ý. Dù không được Tần trọng dụng, cũng được các sĩ tử đồn thổi về tài năng khắp liệt quốc.”
Tô Tần đưa mắt nhìn khắp một lượt, rồi quay sang Giả Xá Nhân: “Xin hỏi Giả huynh, đàn chủ ở đâu?”
Giả Xá Nhân chỉ tay về phía Trúc Viễn đang nhắm mắt ngồi ngay ngắn ở phía xa: “Chính là người đó, Trúc tiên sinh!”
Tô Tần tập trung nhãn lực ngắm nhìn, thấy người này tiên phong đạo cốt, thế ngồi vững như bàn thạch, chắc chắn không phải hạng kinh doanh tầm thường, trong lòng lập tức sáng tỏ, đoán rằng đàn này hẳn do Tần Công đặt ra, Trúc tiên sinh hay Giả Xá Nhân ở trước mặt đều là tâm phúc của Tần Công. Giả Xá Nhân nhiều lần thăm dò, lại dẫn Tô Tần tới đây, chẳng qua là muốn thử xem bản lĩnh của hắn đến đâu. Xem ra, muốn gặp Tần Công, không thể không vượt qua ải này.
Nghĩ tới đây, Tô Tần nở một nụ cười, ôm quyền mà nói: “Xin hỏi Giả huynh, nếu khai đàn, cần bao nhiêu tiền?”
“Ba lượng vàng là được!”
Tô Tần cười gượng một tiếng, thuận miệng nói: “Nếu là sĩ tử nghèo túng, trong tay không có nổi ba lượng vàng, hẳn là không thể khai đàn?”
“Không có tiền cũng có thể khai đàn, song có một điều kiện, đó là người này trước hết phải đưa ra thỉnh cầu, và được một trong các bình phán dẫn tới gặp mặt đàn chủ, để đàn chủ xem xét tướng mạo. Sau khi xem tướng mạo, nếu đàn chủ ưng thuận sẽ cho phép khai đàn, song phí khai đàn không phải là ba lượng, mà là sáu lượng.”
Tô Tần kinh ngạc: “Vậy là thế nào?”
“Nếu người này về sau được trọng dụng, có thể dùng bổng lộc để hoàn trả phí khai đàn cho đàn chủ. Còn nếu không được trọng dụng, đàn chủ sẽ tự chịu tổn thất!”
Tô Tần gật gù: “Phải, như vậy rất công bằng!”
Giả Xá Nhân nhìn Tô Tần bằng ánh mắt kỳ vọng: “Dám hỏi Tô huynh, có muốn khai đàn không?”
Tô Tần sớm đã quyết định, bèn khẽ gật đầu, lấy ra ba lượng vàng từ trong ống tay áo, đưa cho Giả Xá Nhân: “Phiền Giả huynh bẩm báo đàn chủ, giúp tại hạ khai đàn!”
“Cảm tạ Tô huynh đã tin tưởng!” Giả Xá Nhân đưa hai tay đỡ lấy ba lượng vàng, khom lưng nói. “Xin Tô huynh đợi ở đây một lát, tại hạ sẽ đi bẩm báo với đàn chủ!”
Giả Xá Nhân rảo bước tới trước mặt Trúc Viễn, đặt ba lượng vàng lên mặt bàn, vòng tay vái mà nói: “Bẩm Trúc tiên sinh, sĩ tử Lạc Dương Tô Tần thỉnh cầu khai đàn!”
Trúc Viễn đáp lễ, đưa mắt nhìn về phía Tô Tần: “Nói lại với Tô Tử, giờ Thân chiều nay khai đàn!”
Giả Xá Nhân quay trở lại trước mặt Tô Tần, vòng tay nói: “Đàn chủ dặn rằng, vào giờ Thân chiều nay sẽ khai đàn cho Tô huynh. Thời gian không còn nhiều, Tô huynh hãy mau về chuẩn bị!”
Tô Tần mỉm cười, vái chào: “Tô Tần cáo từ!”
“Tô huynh khoan đã!” Giả Xá Nhân bước lên một bước chắn trước mặt. “Có thể nói cho tại hạ biết, Tô huynh đã theo học thầy nào, học được những gì, có đồng môn nào thành danh ở liệt quốc, để tại hạ tiện việc truyền bá.”
Tô Tần ngẫm nghĩ một lát, rồi cười nói: “Không có gì đáng để truyền bá cả, cứ nói Tô Tần người Lạc Dương là đủ rồi!”
“Tại hạ đã nhớ. Tô huynh đi cẩn thận!”
Buổi chiều, vừa tới giờ Mùi, trên phố Sĩ Tử đã có người vừa đi vừa gõ chiêng loảng xoảng, lớn tiếng rao: “Khai đàn, khai đàn đây! Luận Chính đàn khai đàn vào giờ Thân! Người khai đàn là Tô Tần, danh sĩ Đại Chu, người Lạc Dương. Tô Tử Lạc Dương học vấn cái thế, được Đại Chu thiên tử ban tặng xe ngựa. Chư vị sĩ tử, mời tới ủng hộ, mở rộng tầm mắt! Khai đàn, khai đàn đây! Luận Chính đàn khai đàn vào giờ Thân…”
Giờ Mùi qua đi, giờ Thân sắp tới, tiếng chiêng càng vang vọng, sĩ tử bắt đầu lục tục kéo ra từ các quán trọ trên phố, túm năm tụm ba, lũ lượt đổ về Anh Hùng cư, bước vào Luận Chính đàn, tìm chỗ ngồi xuống.
Công Tôn Diễn và Sư Lý Tật đang cải trang làm sĩ tử đứng ở trên phố, nhìn thấy người gõ chiêng tiến lại gần, Sư Lý Tật vội lôi Công Tôn Diễn đi. Từ sau khi ra khỏi cung Tần, Sư Lý Tật trong lòng lúc nào cũng chỉ canh cánh việc tìm kiếm vị đại hiền mà Tần Công nhắc tới, bởi vậy muốn tới phố Sĩ Tử xem xét, lại sợ mình nhãn quang kém cỏi, không phân biệt được hiền ngu, nên kéo Công Tôn Diễn đi cùng, để Công Tôn Diễn cùng bình giá.
“Tô Tần, người Lạc Dương?” Sư Lý Tật lắng nghe một lát, quay sang Công Tôn Diễn. “Công Tôn huynh đã từng nghe nói tới người này chưa?”
Công Tôn Diễn lắc đầu.
Sư Lý Tật ngước nhìn mặt trời: “Đã tới giờ Thân rồi, dù sao cũng không có việc gì, chúng ta thử tới đó xem sao!”
Công Tôn Diễn mỉm cười nói: “Đã được Sư Lý huynh dẫn tới đây, tại hạ chỉ biết phục tùng!”
Công Tôn Diễn theo Sư Lý Tật bước vào Anh Hùng cư, thấy trong Luận Chính đàn đã chật kín sĩ tử. Tối qua, Tô Tần đi xe sang ngựa đẹp nghênh ngang trên phố, lại vừa hay ở đúng căn phòng mà Ngô Tần vừa treo cổ tự vẫn, chỉ riêng chuyện này cũng đủ gây xôn xao dư luận, trở thành đề tài bàn tán khắp phố. Lần này, Tô Tần khai đàn, các sĩ tử đương nhiên thấy tò mò, đua nhau tới xem chân tướng của Tô Tần, muốn biết người này bản lĩnh ra sao.
Đám sĩ tử mồm năm miệng mười, ầm ĩ khắp phòng. Sư Lý Tật, Công Tôn Diễn đưa mắt nhìn quanh một lượt, rồi Sư Lý Tật hất hàm ra hiệu, hai người bước tới một góc, ngồi xuống chiếu. Một lát sau, sĩ tử kéo tới càng đông hơn nữa, hơn chục dãy chỗ ngồi đều đã kín mít, người đến sau chỉ còn biết đứng ở cuối phòng, quây thành một vòng cung.
Nhìn thấy cảnh tượng này, Công Tôn Diễn thán phục nói: “Hồi tại hạ mới tới Tần, cũng ở Anh Hùng cư này!” Đưa tay chỉ về một đỉnh nóc nhà chỉ hơi nhô lên bên ngoài cửa. “Ở gian nhà kia. Thời gian thấm thoắt thoi đưa, chớp mắt đã mấy năm rồi. Năm trước nghe nói ông chủ Trúc đổi quán trọ thành Luận Chính đàn, tại hạ cũng muốn tới đây xem thử, nhưng vì công việc bận rộn không thể dứt ra, hôm nay coi như đã được mở rộng tầm mắt!”
“Đàn này rất thú vị,” Sư Lý Tật cười nói. “Tiếng nói nào cũng có thể nghe thấy, có lúc nực cười, có lúc đến cười cũng chẳng cười nổi!”
“Nói vậy, xem ra Sư Lý huynh là khách thường xuyên ở đây?”
Sư Lý Tật gật đầu, chỉ vào Trúc Viễn đang từ cửa bên bước ra: “Nhìn kìa, Trúc tiên sinh đã tới. Giờ đây, Trúc tiên sinh không phải là ông chủ nữa, mà là đàn chủ.”
Do không biết chân tướng của Trúc Viễn, nên Công Tôn Diễn nhìn người này, cười mà nói: “Người này rất biết cách kinh doanh, thấy ở đâu kiếm được tiền là chui ngay vào đấy!”
“Người này không phải chỉ biết có kiếm tiền thôi đâu!” Sư Lý Tật cũng cười nói. “Công Tôn huynh chớ coi thường hắn, hắn không chỉ giỏi văn chương, mà viết chữ rất đẹp, thiên văn địa lý đều tinh thông, kiến thức uyên bác, chí ít cũng có thể làm đến ngự sử đại phu!”
“Ồ?” Công Tôn Diễn sửng sốt. “Đã có tài như vậy, để hắn ở đây mở quán này, há chẳng đáng tiếc lắm ư?”
“Đây là ý của chúa thượng!” Sư Lý Tật hạ thấp giọng nói. “Mấy năm trước, tại hạ có đề cập chuyện này với chúa thượng, chúa thượng nói rằng, người này cần dùng vào việc quan trọng khác. Tại hạ hỏi gặng là việc quan trọng gì, chúa thượng lập tức bảo tại hạ mở một chính đàn ở đây, mời hắn tới làm đàn chủ. Tại hạ chỉ biết tuân lệnh, đổi Anh Hùng cư thành luận đàn, Trúc tiên sinh cũng trở thành đàn chủ.”
“Hoá ra là vậy!” Công Tôn Diễn bỗng chốc bừng tỏ. “Đàn này trên danh nghĩa là do Trúc tiên sinh mở, song trên thực tế lại do thượng đại phu điều khiển, còn đàn chủ thực sự, chính là chúa thượng.”
“Đây cũng là việc bất đắc dĩ mà thôi,” Sư Lý Tật cười nói. “Ngày nào cũng có sĩ tử tới Tần, vàng thau lẫn lộn, không lập đàn này, sao có thể tìm ra đại hiền thực thụ?”
“Phải!” Công Tôn Diễn thán phục. “Chúa thượng mưu sự đúng là tài trí hơn người!”
Sư Lý Tật đang định nói tiếp, chợt nghe thấy tiếng chiêng vang vọng, bèn ngẩng đầu nói: “Công Tôn huynh, đã tới giờ Tô Tử khai đàn!”
Lời nói vừa dứt, lại thêm một tiếng chiêng rền, toàn bộ luận đàn lập tức im phăng phắc.
Đàn chủ Trúc Viễn đĩnh đạc bước lên đàn, dõng dạc tuyên bố: “Chư vị sĩ tử, đã tới giờ Thân, Luận Chính đàn chính thức khai đàn!”
Tiếng chiêng thứ ba vang lên. Trúc Viễn chìa tay, trịnh trọng nói: “Mời bốn vị bình phán!”
Cửa bên mở ra, bốn vị bình phán lần lượt tiến vào, ngồi xuống chỗ dành cho bình phán ở hàng đầu tiên. Giả Xá Nhân cũng xuất hiện uy nghiêm trong hàng ngũ đó.
Lại một tiếng chiêng nữa vang lên, Trúc Viễn chìa tay mời: “Xin mời người khai đàn hôm nay, danh sĩ Lạc Dương Tô Tần đăng đàn luận chính!”
Cánh cửa bên lại mở ra, Tô Tần trong trang phục danh sĩ ung dung bước lên đàn trước vô số cặp mắt háo hức tò mò, quả nhiên phong độ phi phàm, khí thế hiên ngang.
Đám sĩ tử nhìn mà chấn động, kẻ vỗ tay, người gõ nhịp, căn phòng bỗng chốc trở nên ồn ã.
Tô Tần đứng trước đông đảo sĩ tử, khom lưng vái một vái thật sâu, đặng hắng mạnh một tiếng lấy giọng, rồi dõng dạc nói: “Chư vị nhân huynh, theo Tần được biết, mọi người từ bốn phương tám hướng quần tụ về đây, ai cũng thân mang tuyệt kỹ, mục đích chỉ có một, chính là thành tựu đại nghiệp của đời người!”
Tô Tần vừa lên tiếng đã gãi trúng chỗ ngứa của đám sĩ tử, tiếng vỗ tay, tiếng reo hò nổi lên khắp phòng.
“Thiên hạ hiện nay…” Tô Tần quét ánh mắt khắp lượt căn phòng, nói tiếp, “cương thường rối loạn, thất hùng tranh bá, bách tính lầm than, dân chúng đói khổ. Gặp thời loạn này, phàm là sĩ tử có chí, thì đại nghiệp trong đời duy chỉ có một, đó là khiến thiên hạ được yên bình!”
Dưới đài có người lớn tiếng hỏi: “Theo ý của Tô Tử, làm thế nào mới có thể khiến thiên hạ được yên bình?”
Tô Tần dõng dạc trả lời: “Có hai con đường khiến thiên hạ yên bình, thứ nhất là chư hầu hoà thuận, thứ hai là thiên hạ nhất thống.”
Có người hỏi tiếp: “Làm thế nào để khiến chư hầu hoà thuận?”
“Chư hầu hoà thuận, trọng ở tuân thủ cương thường. Hiện tại cương thường rối loạn, chư hầu muốn hoà thuận, e chỉ là nói suông!”
Có người lớn tiếng: “Nói như vậy, thiên hạ chỉ còn cách nhất thống?”
“Đúng vậy!” Tô Tần bèn dẫn vào chuyện chính. “Từ thời Tam Hoàng Ngũ Đế đến nay, đại thế trong thiên hạ phân tất loạn, hợp tất trị!”
Sĩ tử luận chính, mọi người đã được nghe nhiều, thông thường đều trình bày cách trị lý quốc chính, cách khiến nước giàu mạnh, cách hành quân bố trận, cách công phạt chém giết, hiếm có người nào bàn về đại thế thiên hạ, càng chưa có ai nhắc tới việc nhất thống thiên hạ. Do vậy, đám sĩ tử nghe mà kinh ngạc, không hiểu vì sao Tô Tần lại mở đầu bằng vấn đề này.
Song Giả Xá Nhân lại tỏ ra hào hứng: “Đã là phân tất loạn, hợp tất trị, xin hỏi Tô Tử, xưa kia Vũ Vương chia đất phong hầu, thiên hạ lại được đại trị, điều này phải giải thích ra sao?”
Đám sĩ tử đua nhau gật đầu, đều nhao nhao chêm vào: “Phải đấy, Vũ Vương chia đất phong hầu mà thiên hạ đại trị, Tô Tử giải thích sao đây?”
“Hỏi rất hay!” Tô Tử đưa tay lên làm động tác tách và hợp. “Thiên hạ phân hợp, có hai kiểu. Thứ nhất là danh phân thực hợp, thứ hai là danh hợp thực phân. Vũ Vương phân đất phong hầu, là thuộc về danh phân thực hợp. Đầu thời Tây Chu, đại thế thiên hạ là Chu thiên tử uy phục bốn phương. Chu Công chế ra lễ nghi, chư hầu nhất nhất nghe theo, lễ nhạc có trật tự, Tây Chu vì thế mà có được bốn trăm năm đại trị. Tuy nhiên, sau khi Bình Vương dời đô về phía đông, tình thế đã thay đổi, Chu thất suy yếu, chư hầu lớn mạnh, thiên hạ lễ băng nhạc hoại, đại thế thiên hạ bắt đầu đi theo xu hướng danh hợp thực phân, cuối cùng trở thành loạn thế bất trị như hiện nay…”
Trong góc phòng, Sư Lý Tật khẽ huých Công Tôn Diễn, hỏi nhỏ: “Công Tôn huynh, theo con mắt tinh tường của huynh, người này luận bàn thế nào?”
“Chỉ là lý thuyết suông, quá phù phiếm. Để xem hắn nói gì nữa!”
Sư Lý Tật chưa kịp nói gì, quả nhiên lại có sĩ tử lớn tiếng hỏi: “Đều là lý luận cũ rích, nói suông sáo rỗng, Tô Tử có thể nói điều gì mới mẻ hơn chăng?”
Một sĩ tử khác tán đồng: “Phải đấy, phải đấy! Đại thế thiên hạ, chúng tôi nghe đã nhiều rồi, lời bàn của Tô Tử không phải là cao kiến!”
“Này nhân huynh,” Tô Tần chuyển ánh mắt tới vị sĩ tử đó. “Đại thế thiên hạ nghe đã nhiều rồi, vậy tại hạ xin hỏi, thiên hạ hiện nay, nhìn vào mặt đại thế, là theo xu thế hợp hay phân?”
Sĩ tử kia thuận miệng trả lời: “Điều này còn phải hỏi! Thiên hạ hiện nay, đại thế là phân, không phải là hợp!”
Tô Tần lắc đầu lia lịa: “Từ thời Xuân Thu tới nay, liệt quốc thiên hạ từ nghìn tới trăm, từ trăm tới chục, mà nhân huynh lại nói là phân? Tại hạ không biết, nhân huynh dựa vào đâu mà nói như vậy?”
Sĩ tử kia nhất thời cứng họng, những người khác đưa mắt nhìn nhau, rồi không hẹn mà cùng nhìn cả vào Tô Tần.
“Chư vị nhân huynh,” Tô Tần nói rành rọt từng chữ. “Tại hạ cho rằng, năm trăm năm qua, đại thế thiên hạ chỉ có một xu hướng, chính là hợp!”
Đám sĩ tử đua nhau gật đầu.
Một sĩ tử ngồi ở giữa lên tiếng chất vấn: “Ở đây là đàn luận chính, đáng lẽ nên bàn về sách lược trị Tần, Tô Tử lại đề cập tới chuyện phân hợp trong thiên hạ, chẳng phải là vòng vo quanh quẩn, xa rời chuyện chính ư?”
Tô Tần nhìn thẳng vào vị sĩ tử đó: “Xin hỏi nhân huynh, không biết đại thế thiên hạ, sao có thể luận bàn sách lược trị Tần?”
Sĩ tử vừa hỏi ngớ người ra, cũng không nói được gì nữa.
Lại có sĩ tử hỏi: “Đại thế thiên hạ đã theo xu thế hợp, vậy xin hỏi Tô Tử, thiên hạ cuối cùng sẽ hợp vào nhà nào?”
“Hỏi rất hay!” Tô Tần vung tay lên, giọng càng sôi nổi. “Đây cũng chính là việc mà hôm nay tại hạ muốn luận bàn. Chư vị nhân huynh, đại thế thiên hạ là hợp, liệt quốc Trung Nguyên từ nhiều tới ít, cho tới nay không quá hai mươi nước, gọi là liệt quốc. Trong số liệt quốc, chư vị cũng đều biết, những nước có thể tạo nên đại thế, chẳng qua chỉ có bảy, là Sở, Tề, Yên, Tần, cộng thêm tam Tấn Triệu, Hàn, Ngụy!”
Khắp phòng tĩnh lặng, không còn ai hỏi thêm gì nữa.
Sư Lý Tật hai mắt sáng rực, liếc sang Công Tôn Diễn, thấy Công Tôn Diễn đang tập trung tinh thần, ánh mắt như ngọn đuốc dán chặt vào Tô Tần trên đài.
Tô Tần đưa mắt nhìn khắp lượt trong phòng, thần thái bừng bừng, dõng dạc nói tiếp: “Nhìn khắp thất hùng, nước Yên ở nơi xa xôi hẻo lánh, thế yếu, khó thành đại nghiệp; đất Triệu cằn cỗi, khó lòng đối địch với liệt quốc; Hàn, Ngụy ở giữa, tứ bề giao tranh, khó mà tích luỹ thực lực. Thiên hạ trong tương lai, hẳn do ba cường quốc Tề, Sở, Tần tạo thế chân vạc tranh bá, đuổi hươu Trung Nguyên. Ai chiến thắng sau cùng, thiên hạ sẽ hợp về nhà đó!”
Đám sĩ tử nghe mà chấn động, khắp phòng không một âm thanh.
Một lát sau, sĩ tử vừa đặt câu hỏi lại lên tiếng: “Theo Tô Tử, trong ba nước, nước nào sau cùng sẽ giành được thiên hạ?”
“Nhân huynh chớ vội, tại hạ sẽ nói ngay đây!” Tô Tần mỉm cười, nói tiếp. “Trong ba cường quốc, trước hết hãy nói về Tề. Chư vị đều biết, người Tề dân giàu nước mạnh, chính trị sáng sủa, dân chúng giáo hoá đã lâu, hẳn sẽ có thành tựu lớn. Tuy nhiên, nước Tề phải dựa lưng vào biển mà giao chiến, đất liền ít ỏi; dân Tề giàu có, giàu ắt sợ chiến tranh; Tề coi trọng Nho học, Mặc học, luôn dùng nhân nghĩa để trị quốc. Nhân nghĩa có thể thi hành trong đời thịnh, song không thể thi hành trong chiến loạn. Nước Tề có ba điểm yếu này, muốn giành thiên hạ, e là rất khó!”
Đây quả là một luận điệu động trời, đám sĩ tử nghe mà sững sờ kinh hãi, nhất loạt nín thở, đổ dồn ánh mắt vào Tô Tần.
“Lại nhìn nước Sở,” Tô Tần vung tay nói lớn. “Nước Sở ngang dọc vài nghìn dặm, lãnh thổ rộng lớn, sản vật phong phú, dân chúng đông đúc, tiến có thể chiếm lấy liệt quốc Trung Nguyên, lùi có thể dựa vào Giang Thuỷ cố thủ, là vùng đất đầy triển vọng. Tuy nhiên, nước Sở chính trị hôn ám, môn phiệt tranh giành; phong tục Sở khác biệt, khó hoà hợp với giáo hoá Trung Nguyên. Đất Sở rộng lớn, nên dân chúng rải rác, khó mà hợp sức. Nước Sở có ba điểm yếu này, muốn giành thiên hạ, e là rất khó!”
Tô Tần nói tới đây thì dừng lại, nhìn xuống dưới đàn. Hồi lâu sau, đám sĩ tử mới từ từ định thần trở lại, bắt đầu bàn luận xôn xao.
Có sĩ tử lớn tiếng hỏi: “Theo Tô Tử, trong tương lai, thiên hạ hẳn sẽ quy về Tần?”
Tô Tần mỉm cười thay cho câu trả lời.
Một sĩ tử khác nói: “Tô Tử hình như khinh thường liệt quốc thái quá?”
“Phải đấy, phải đấy!” Sĩ tử từng đặt câu hỏi trước đó tiếp lời. “Từ thời Văn Hầu, nước Ngụy xưng bá sáu mươi năm, Ngụy Vương nay có được Bàng Quyên, càng là khó tìm địch thủ, nếu tranh thiên hạ, phải tính là đối thủ đầu tiên, vậy mà Tô Tử lại nhìn mà không thấy, chỉ tiện miệng điểm qua, thực khó khiến người ta phục!”
Đám sĩ tử lại tranh luận sôi nổi. Tô Tần vẫn cười tủm tỉm mà không trả lời.
Giả Xá Nhân đặng hắng một tiếng, khắp phòng bỗng chốc im bặt. Giả Xá Nhân chậm rãi nói: “Tô Tử vừa luận về đại thế thiên hạ, thực khiến người ta cảm thấy mới mẻ. Theo ý của Tô Tử, thiên hạ tương lai ắt quy về Tần. Tuy nhiên, như nước Tần hiện nay mà đối đầu với liệt quốc, thực khó khiến người ta tin phục. Tô Tử nay đã tới đất Tần, hẳn là đã có sẵn kế sách hưng Tần?”
Tô Tần nhìn Giả Xá Nhân, khẽ gật đầu: “Tại hạ đã tới Tần, đương nhiên cũng có kế sách hưng Tần!”
“Tô Tử có thể nói được chăng?”
“Tại hạ có ba kế sách thượng, trung, hạ, có thể khiến nước Tần đạt tới ba cảnh giới thượng, trung, hạ.”
Có một kế sách đã có thể cầu được công danh, huống hồ là ba kế sách? Khắp phòng lặng phắc như tờ, ngay cả đàn chủ Trúc Viễn cũng toàn thần chuyên chú.
Giả Xá Nhân nói: “Xin Tô Tử hãy nói rõ hơn!”
“Thượng sách có thể khiến nước Tần đứng ở ngôi đầu mà bình định liệt quốc, xưng đế thiên hạ, gọi là đế sách. Trung sách có thể khiến nước Tần uy phục thiên hạ, chư hầu không dám tranh đua, gọi là bá sách. Hạ sách có thể khiến nước Tần yên ổn ở Quan Trung, dân chúng an cư lạc nghiệp, gọi là bang sách.”
Khắp phòng lặng ngắt như tờ. Thiên hạ hôm nay vẫn là của họ Chu, Tần chỉ là công quốc, bàn chuyện vương nghiệp đã là tham vọng quá đáng, vậy mà Tô Tần còn vượt qua cả vương nghiệp, nói tới đế nghiệp, rõ ràng vượt khỏi sức tưởng tượng của đông đảo sĩ tử. Tuy nhiên, ngẫm lại cũng thấy Tô Tần nói như vậy cũng không phải vô lý. Thiên hạ ngày nay đã xuất hiện nhiều vương, nếu lại luận về vương nghiệp, quả thực không có gì mới mẻ.
Một lúc lâu sau, có sĩ tử lên tiếng hỏi: “Xin hỏi Tô Tử, có thể giảng về đế sách chăng?”
Tô Tần trả lời: “Đã là đế sách, phải nói với hoàng đế!”
Khắp phòng lại một phen tĩnh lặng.
Lúc này, Tô Tần mới đưa ánh mắt nhìn khắp lượt gian phòng, rồi dõng dạc nói: “Chư vị nhân huynh, tại hạ mới chân ướt chân ráo tới đây, lại dám cả gan khoe khoang ở chốn này, khó tránh làm trò cười cho người am hiểu. Luận bàn của tại hạ, chỉ là thiển kiến, có chỗ nào chưa thoả, mong được chư vị chỉ giáo. Tại hạ hiện đang trọ trong khách sạn Vận Lai, vị nhân huynh nào có nhã ý trò chuyện, tại hạ luôn cung kính nghênh đón, cùng, thảo luận kế sách hưng Tần!” Nói tới đây, Tô Tần vòng tay hành lễ. Mọi người còn chưa ai kịp phản ứng, Tô Tần đã sải bước xuống khỏi luận đàn, đi vào trong cửa bên.
Đám sĩ tử thấy Tô Tần đột ngột lui khỏi luận đàn, bỗng chốc ầm ĩ cả lên, mỗi người một câu náo loạn: “Ơ, còn chưa nghe cho rõ ràng, sao đã hạ đàn nhanh thế?”
“Đế sách không thể nói, vậy bá sách hẳn nói được chứ!”
“Cố tình lấp lửng để làm gì không biết!”
Bốn vị bình phán và đàn chủ đưa mắt nhìn nhau, rồi lần lượt đứng dậy, rời khỏi chỗ ngồi, đi vào gian mật thất bên cạnh, đóng cửa phòng lại.
Sư Lý Tật quay sang Công Tôn Diễn, cười hỏi: “Công Tôn huynh, Tô Tử là nhân tài thế nào, hẳn đã nhìn ra được rồi chứ?”
“Đúng vậy!” Công Tôn Diễn gật đầu nói. “Người này nếu không phải là kẻ ba hoa sáo rỗng, thì hẳn là bậc kỳ tài có một không hai!”
“Công Tôn huynh dựa vào đâu mà nói vậy?”
“Chỗ người này nhìn thấy được, đừng nói là đám sĩ tử tầm thường kia, cho dù là tại hạ, cũng không thể nhìn ra!”
Thấy Công Tôn Diễn thẳng thắn như vậy, Sư Lý Tật thầm khâm phục trong lòng, gật đầu nói: “Đã như vậy, cớ sao Công Tôn huynh lại nói hắn là kẻ ba hoa sáo rỗng?”
“Trông kìa!” Công Tôn Diễn hất hàm ra hiệu. “Đàn chủ sắp tuyên phán rồi!”
Sư Lý Tật ngẩng đầu nhìn lên, quả nhiên cửa mật thất mở rộng, bốn vị bình phán lần lượt bước ra, trở lại chỗ ngồi. Trên đài, tiếng chiêng lại khua vang, Tô Tần cũng từ cửa bên bước lên luận đàn, đứng đợi bên cạnh.
Đàn chủ Trúc Viễn là người cuối cùng bước ra khỏi mật thất. Không khí trong phòng bỗng chốc căng thẳng tựa dây đàn. Trúc Viễn chậm rãi đăng đàn trong bầu không khí lặng phắc ngưng đọng. Đám sĩ tử đều biết, đàn chủ sắp sửa tuyên bố phán đoán cuối cùng của buổi luận chính hôm nay. Mỗi khi khai đàn luận chính, đây là thời khắc quan trọng nhất. Mọi ánh mắt đều đổ dồn vào Trúc Viễn.
Trúc Viễn đưa mắt nhìn khắp lượt dưới đàn, rồi dõng dạc cất tiếng: “Chư vị nhân huynh, bốn vị bình phán cùng nhận định, luận bàn của Tô Tử đã nhằm đúng thời thế thiên hạ. Ba sách lược thượng, trung, hạ của Tô Tử, ý nghĩa thâm thuý sâu xa. Bản đàn dự đoán, Tô Tử sẽ được Tần Công trọng dụng, đế sách của Tô Tử, sẽ là quốc sách tương lai của Tần!”
Đây là lời phán đoán kinh động lòng người nhất kể từ khi bắt đầu khai đàn tới nay. Phút chốc, đám đông sĩ tử thảy đều sững sờ, hồi lâu sau mới định thần trở lại, đứng cả dậy, đua nhau ùa tới chúc mừng Tô Tần.
Tô Tần sải bước lên đàn, khom lưng cảm tạ chúng sĩ tử.
Sư Lý Tật kéo Công Tôn Diễn ra khỏi Luận Chính đàn, bước ra phố lớn. Đi dọc con phố một lát, Sư Lý Tật bỗng dừng bước, hỏi khẽ: “Lời phán đoán vừa nãy, Công Tôn huynh có ý kiến gì chăng?”
“Cũng coi là chuẩn xác!”
“Vừa rồi Công Tôn huynh còn chưa nói hết, tại hạ rất muốn nghe câu trả lời của huynh!”
“Những kẻ cao đàm khoát luận, cũng giống như chim hồng hạc bay cao trên bầu trời, tuy có thể nhìn cao trông rộng, song chưa chắc đã phù hợp thực tế. Luận bàn vừa rồi của Tô Tử, đều chưa nói đến thực hành, bởi vậy, có phải là đại tài hay không, tại hạ vẫn chưa dám đoán bừa.”
Sư Lý Tật cười nói. “Công Tôn huynh luận việc, quả nhiên thiết thực. Tại hạ có kế này, có lẽ sẽ biết được Tô Tử có thực tài hay không.”
Sư Lý Tật ghé sát tai Công Tôn Diễn thì thầm, Công Tôn Diễn gật đầu lia lịa.
Đêm hôm ấy, đến tận giờ Nhân định, Tô Tần mới thoát khỏi vòng bủa vây chất vấn của đám đông sĩ tử, trở về phòng trọ.
Tô Tần vừa ngồi xếp bằng xuống chiếu, đang định nghỉ ngơi, chỉnh đốn lại suy nghĩ, từ bên ngoài bỗng vọng lại tiếng chân bước, tiếp đó là tiếng gõ cửa, rồi giọng nói của tiểu nhị vang lên: “Tô Tử, có người tìm gặp!”
Tô Tần đứng dậy, mở cửa đi ra, thấy Công Tôn Diễn, Sư Lý Tật đứng ở trước cửa.
Sư Lý Tật vái chào: “Tại hạ Mộc Vũ Khuy bái kiến Tô Tử!”
Tô Tần đáp lễ, nói: “Tô Tần người Lạc Dương bái kiến Mộc tiên sinh!”
Sư Lý Tật chỉ tay vào Công Tôn Diễn: “Vị này là Công Tôn tiên sinh!”
Tô Tần quay sang vái chào Công Tôn Diễn: “Tô Tần bái kiến Công Tôn tiên sinh!”
Công Tôn Diễn đáp lễ: “Tại hạ bái kiến Tô Tử! Hôm nay may mắn được nghe cao luận của Tô Tử, tại hạ khó nén cảm hoài, nên đã cùng Mộc huynh tới đây quấy quả, mong Tô Tử chỉ giáo!”
“Công Tôn huynh khách khí rồi!” Tô Tần mỉm cười, chìa tay ra mời. “Hai vị nhân huynh, mời vào trong!”
Công Tôn Diễn chìa tay nhường: “Tô Tử, mời!”
Ba người bước vào phòng, phân ngôi chủ khách cùng ngồi xuống.
Tô Tần quan sát kỹ hai người, nhận ra thần thái, khí phách của họ, trong lòng thầm nghĩ: “Trong Luận Chính đàn, hai người này tới rất sớm, song cố ý ngồi ở góc khuất, lại chọn giờ Nhân định tới tận cửa thăm hỏi, rõ ràng là không muốn gây chú ý. Nếu đúng như ta dự đoán, hai người này hẳn là thân tín của Tần Công!”
Nghĩ là vậy, Tô Tần khẽ mỉm cười, ôm quyền nói: “Tô Tần tối qua mới chân ướt chân ráo tới Tần, hôm nay đã nóng vội khai đàn khoe vụng, chưa kịp chuẩn bị, chỉ nói nhăng nói cuội, đã làm trò cười cho hai vị đại nhân đây!”
“Tô Tử sao lại nói vậy!” Sư Lý Tật cũng ôm quyền đáp. “Tô Tử hiểu rõ đại thế tương lai của thiên hạ, thực khiến tại hạ kính phục. Tô Tử nói đến đế sách, khiến tại hạ cũng có điều cảm ngộ. Tại hạ kiến thức nông cạn, không thể nhìn xa, hiện có một số điều vặt vãnh mong được Tô Tử chỉ giáo, mong Tô Tử vui vẻ dạy cho.”
“Tại hạ xin sẵn lòng cùng Mộc huynh bàn luận.”
Sư Lý Tật chậm rãi nói: “Một năm qua, lệt quốc quan ngoại biến đổi khôn lường. Trước hết là người Việt dàn quân ở Lang Nha, người Tề bày trận nghiêm ngặt trực chiến. Tiếp đến là người Sở tấn công Bành Thành của Tống, người Ngụy tập kích Hạng Thành của Sở, tiêu diệt sáu vạn đại quân của Cảnh Thuý, khiến người Sở phải bỏ Tống quay về giải cứu, Ngụy, Sở đối đầu, đại chiến đã sắp bùng nổ. Nhân lúc này, người Việt lại bỏ Tề, tấn công Sở, Sở giảng hoà với Ngụy, vây đánh người Việt bên đầm Vân Mộng. Vô số sự kiện khiến người ta nhìn mà kinh tâm hoa mắt. Tại hạ nhãn quang kém cỏi, nhìn mà không ra, mong Tô huynh chỉ bảo.”
Nghe những lời này, Tô Tần càng sáng tỏ trong lòng. Có thể hiểu tường tận đến vậy về tình hình liệt quốc, chắc chắn không phải sĩ tử tầm thường. Khi nói, ngữ khí lớn lao, tầm nhìn cao rộng, sĩ tử tầm thường tuyệt đối không thể sánh bằng.
Tô Tần ngẫm nghĩ một lát, cười khẽ mà nói: “Nghe lời của Mộc huynh, biết rằng là bậc đại gia. Mộc huynh đã hỏi, tại hạ bất tài, chỉ biết đoán mò, có chỗ nào không phải, mong hai vị bỏ quá cho!” Dừng lại một lát, nói tiếp. “Tại hạ cho rằng, những điều Mộc huynh vừa nói đều là sự vận động của thế. Đại thế thiên hạ hình thành từ các thế trong thiên hạ, các thế xung đột tương tác lẫn nhau, khiến thiên hạ xuất hiện loạn tượng. Tuy nhiên, các thế trong thiên hạ dù loạn xung loạn động đến đâu, cũng đều phải thần phục đại thế thiên hạ. Chỉ có nắm vững đại thế thiên hạ, mới có thể hoá giải được loạn tượng này!”
Công Tôn Diễn dường như không hiểu: “Xin Tô Tử giải thích rõ hơn!”
“Đại thế thiên hạ quy về một, loạn thế trong thiên hạ cũng theo đó mà chuyển động. Phàm là chuyển động thuận theo đại thế, là thuận động; phàm là chuyển động ngược lại đại thế, là nghịch động. Dựa vào đó mà phán đoán, thì sự chuyển động của các thế sẽ có thể lý giải được. Thế của Việt hướng đến Tề, là vọng động; thế của Sở hướng đến Tống, là thuận động; thế của Ngụy hướng đến Sở, Sở Ngụy hoà giải là trí động; thế của Việt phạt Sở, là xuẩn động.”
Công Tôn Diễn trầm ngâm hồi lâu, như đã hiểu ra, gật gù mà nói: “Tô Tử kiến giải quả thực cao siêu! Song tại hạ vẫn còn một điều chưa rõ, mong Tô Tử chỉ giáo!”
“Công Tôn huynh xin cứ nói!”
“Người Việt phạt Tề, đúng là mù quáng, song người Việt chuyển sang phạt Sở, cũng có thể coi là chiếm được thiên thời, địa lợi, nhân hoà, là hành vi sáng suốt. Hai mươi vạn quân Việt đã thẳng tới Vân Mộng, chẳng mấy mà chiếm được Sính Đô, cớ sao Tô Tử lại nói là xuẩn động?”
Tô Tần mỉm cười: “Dựa vào kiến thức của Công Tôn huynh, dư sức nhìn rõ, hà tất phải hỏi Tô Tần?”
“Tại hạ ngu muội, vẫn mong Tô Tử chỉ giáo!”
“Đã nói như vậy, tại hạ đành phải múa rìu qua mắt thợ!” Tô Tần cười nói. “Người Việt ở vùng đông nam đã lâu, không thấy được sự biến đổi của Trung Nguyên, các mặt chính trị, nông thương, võ bị, thao lược, nhân tài đều lạc hậu so với Trung Nguyên không dưới trăm năm, chỉ có thu thế co mình, giữ gìn kín kẽ mà không lộ, hoặc giả còn có thể giữ được địa lợi mà yên ổn ở một góc. Thế nhưng Việt Vương lại nhìn không ra, vẫn dùng con mắt thời Xuân thu mà quan sát thiên hạ qua miệng ống, không tự lượng sức, đòi xuống núi tranh bá, lại còn chủ động đi tranh giành với Đại Sở, muốn theo vết xe đổ của Ngô Vương năm xưa, há chẳng phải nực cười ư?”
Sư Lý Tật kinh ngạc hỏi: “Theo Tô Tử, lần này người Việt tất bại?”
“Người Việt có bại hay không, Mộc huynh cứ chờ xem sẽ rõ.”
“Tô Tử nói rất đúng!” Công Tôn Diễn tán đồng, lại vòng tay mà rằng. “Có điều, nghe Tô Tử nói, người Việt dù phạt Tề hay phạt Sở, đều không phải hành động sáng suốt. Đã đều không phải hành động sáng suốt, vậy Tô Tử vì sao lại coi phạt Tề là mù quáng, còn phạt Sở là ngu xuẩn?”
“Người Việt phạt Tề, tuy cầm chắc thất bại, song chưa tới mức mất nước. Người Việt phạt Sở, ắt sẽ mất nước.”
“Sao kia?” Công Tôn Diễn sửng sốt. “Dựa vào đâu mà Tô Tử nói vậy?”
“Người Sở phạt Việt, Việt chiếm được địa lợi, nhân hoà, Sở chưa chắc đã thủ thắng. Người Việt phạt Sở, Sở chiếm được địa lợi, nhân hoà, người Việt tất bại. Người Việt phạt Sở, ắt phải dốc toàn bộ sức lực. Đất Sở rộng lớn, ắt sẽ dụ địch vào sâu. Người Việt vào sâu trong đất Sở, đã mất địa lợi, cũng mất cả nhân hoà, càng không có được thiên thời, làm thế nào mà thắng được? Người Việt một khi đã bại, ắt toàn quân tận diệt. Lúc này người Sở thừa thắng ùa vào Việt, giống như vào chốn không người, nước Việt còn có thể không mất được ư?”
Phân tích của Tô Tần vô cùng kín kẽ, Công Tôn Diễn và Sư Lý Tật đưa mắt nhìn nhau, không khỏi thán phục. Một lát sau, Sư Lý Tật lại hỏi: “Nghe nói người Việt quyết chí phạt Tề, song vào lúc then chốt lại đột ngột chuyển hướng. Xin hỏi Tô Tử, người Việt phạt Sở, phải chăng là kế của người Sở?”
“Việt Vương có phải đã trúng kế của người Sở hay không, tại hạ không dám chắc. Tuy nhiên theo tại hạ biết, người Việt hành sự, chưa từng vòng vo phản phúc. Theo như tính cách của Việt Vương, càng không dễ bỏ cuộc giữa chừng. Người Việt đột nhiên chuyển hướng, chắc chắn là có người xúi giục, hơn nữa, người này chắc hẳn là cao nhân đương thời.”
“Tô Tử sao biết người này là cao nhân đương thời?” Công Tôn Diễn vội hỏi.
“Người có thể khiến hai mươi vạn đại quân phấn khởi tự tin bước vào tuyệt lộ, không phải cao nhân, thì thế nào mới được gọi là cao nhân?”
Công Tôn Diễn vội hỏi: “Xin hỏi Tô Tử, cao nhân này vì sao muốn hại người Việt? Hắn có thù với người Việt ư?”
“Không phải!” Tô Tần lắc đầu, cười nói. “Người này lập mưu này, không vì ai khác, chỉ vì người Sở.”
“Vì người Sở?” Sư Lý Tật không hiểu. “Xin Tô Tử nói rõ!”
Tô Tần vòng tay cười nói: “Với nhãn lực của hai vị nhân huynh đây, điều này đâu cần tại hạ phải nói ra!”
“Tại hạ đã được lĩnh giáo rồi!” Công Tôn Diễn đứng dậy, vòng tay vái dài. “Tô Tử kiến giải cao thâm, tại hạ thực lòng kính phục! Đêm đã khuya rồi, tại hạ ngày khác lại tới quấy quả!”
Tô Tần đáp lễ: “Tại hạ ăn nói hồ đồ, xin chớ cười chê!”
Hai người vừa bước ra khỏi khách sạn Vận Lai, Sư Lý Tật không nhịn thêm được nữa, mở miệng hỏi liền: “Công Tôn huynh, giờ đã có thể khẳng định được rồi chứ?”
Công Tôn Diễn thở dài một tiếng: “Không giấu Sư Lý huynh, câu hỏi của chúa thượng, tại hạ đã vắt óc suy nghĩ suốt mấy ngày trời mà vẫn chưa tìm ra lời giải. Vậy mà vừa rồi, Tô Tử chỉ nói dăm ba câu đã giải thích dễ dàng, có thể thấy tài năng vượt xa tại hạ. Bậc đại tài như vậy, nếu chúa thượng có được, vương nghiệp ắt thành!”
Sư Lý Tật hồ hởi nói: “Ngày mai lên triều, tại hạ và Công Tôn huynh cùng tiến cử người này, được chăng?”
Công Tôn Diễn lại xua tay: “Không cần tiến cử!”
“Ồ?” Sư Lý Tật kinh ngạc hỏi. “Cớ sao Công Tôn huynh không tiến cử?”
“Nếu không nằm ngoài dự đoán của tại hạ, ngay bây giờ, đã có người tiến cử lên chúa thượng rồi!”
Quả đúng là vậy.
Trong ngự thư phòng, nến thắp sáng trưng. Huệ Văn Công, Trúc Viễn đang ngồi đối diện nhau, trước mặt mỗi người đặt một chén trà.
Huệ Văn Công mỉm cười hỏi: “Nhìn khí sắc của Trúc tiên sinh, hẳn là có tin tốt lành?”
“Đúng vậy!” Trúc Viễn gật đầu. “Người chúa thượng trông đợi đã tới rồi!”
“Ồ!” Huệ Văn Công vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ. “Mau nói cho quả nhân nghe!”
“Người này họ Tô tên Tần, là người Lạc Dương. Hôm nay khai đàn luận chính, Trúc Viễn quan sát khí chất, tài học của người này, đoán rằng chính là người mà sư phụ của thảo dân đã nhắc tới, có thể phò tá chúa thượng hoàn thành đại nghiệp!”
Huệ Văn Công mở to hai mắt: “Tài của người này so với Công Tôn ái khanh thì thế nào?”
“Không thể so sánh!”
Huệ Văn Công nhổm người về phía trước: “Tài của người này so với Bàng Quyên thì thế nào?”
“Như mặt trời so với sao!”
Huệ Văn Công phấn khởi ra mặt: “Tài của người này so với Tôn Tẫn thì thế nào?”
“Như mặt trời so với mặt trăng!”
“Hay lắm!” Huệ Văn Công vỗ bàn. “Sáng sớm mai, quả nhân phải tới bái Thái miếu!”
Trúc Viễn sửng sốt: “Chúa thượng không gặp mặt Tô Tử, lại đi bái Thái miếu là có ý gì?”
“Bậc đại tài như vậy, nếu không có liệt tổ phù hộ, quả nhân sao có thể có được?”
Trúc Viễn vô cùng cảm động, thán phục mà rằng: “Tấm lòng cầu hiền của chúa thượng, Trúc Viễn đến nay đã hiểu!”
“Tô Tử đã là bậc đại tài, tất có kiến giải mới mẻ. Trúc tiên sinh có thể kể sơ qua về ngôn hành của người này, để quả nhân được nghe trước một hai chăng!”
“Khởi bẩm chúa thượng, Tô Tử quả là có huệ nhãn, nhìn thấu loạn tượng trong thiên hạ, nắm bắt được đại thế của thiên hạ. Tô Tử dự đoán, thiên hạ tương lai tuy loạn tượng rối ren, song cuối cùng vẫn quy về một mối.”
Huệ Văn Công trong lòng kinh ngạc, vô thức nâng chén trà lên môi, hớp khẽ một ngụm, rồi ngẩng đầu hỏi: “Hắn còn nói những gì?”
“Tô Tử đoán rằng, thiên hạ tương lai sẽ hình thành thế chân vạc giữa ba nước Tề, Sở, Tần. Trong ba thế này, Tề, Sở đều có mặt yếu, nên nhất thống thiên hạ, chỉ có thể là Tần!”
Huệ Văn Công giật nảy mình, chén trà đang cầm trên tay “choang” một tiếng rơi xuống đất vỡ tan tành, hai mắt trợn trừng, ngây người chết sững.
Trúc Viễn kinh ngạc, gọi khẽ: “Chúa thượng!”
Huệ Văn Công gắng định thần lại, chậm rãi nhặt các mảnh vỡ dưới đất lên, xếp thành đống trên mặt bàn, mỉm cười nói với Trúc Viễn: “Cao luận của Tô Tử, quả là nằm ngoài dự đoán của quả nhân, khiến quả nhân nghe mà kinh hãi! Sĩ tử có mặt ở đó phản ứng thế nào?”
Trúc Viễn do dự một lát: “Vô cùng sôi nổi!”
“Bình phán thế nào?”
“Bình phán rằng: luận bàn của Tô Tử, đã nhằm đúng thời thế thiên hạ. Ba sách lược thượng, trung, hạ của Tô Tử, ý nghĩa thâm thuý sâu xa. Bản đàn dự đoán, Tô Tử sẽ được Tần Công trọng dụng, đế sách của Tô Tử, sẽ là quốc sách tương lai của Tần!”
“Ba sách lược thượng, trung, hạ là gì?”
“Là những kế sách hưng Tần của Tô Tử. Thượng sách là đế sách, có thể khiến nước Tần nhất thống thiên hạ, xây dựng vương nghiệp. Trung sách là bá sách, có thể khiến nước Tần uy phục chư hầu, xây dựng bá nghiệp. Hạ sách là bang sách, có thể khiến nước Tần yên ổn ở Quan Trung, xây dựng bang nghiệp.”
Huệ Văn Công nhắm mắt lại, trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu, cuối cùng chậm rãi nói: “Đa tạ tiên sinh!”
Trúc Viễn đứng dậy, khấu đầu nói: “Đêm đã khuya rồi, chúa thượng giữ gìn long thể, thảo dân cáo lui!”
Huệ Văn Công ôm quyền nói: “Trúc tiên sinh ra về cẩn thận!”
Nghe tiếng chân bước xa dần, Huệ Văn Công khẽ gọi: “Người đâu!”
Nội thần tiến lại: “Có vi thần!”
“Triệu công tử Hoa vào yết kiến!”
Sáng sớm hôm sau, trên phố Sĩ Tử, có hai sĩ tử vừa đi vừa trò chuyện, một tiểu điêu của Hắc Điêu đài cải trang làm sĩ tử, bám sát phía sau họ một khoảng không xa không gần. Một sĩ tử hỏi: “Hôm qua, nhân huynh có tới Luận Chính đàn không?”
Sĩ tử kia đáp lời: “Không!”
“Chậc chậc, nhân huynh đúng là đã bỏ lỡ một buổi cao luận rồi! Không giấu nhân huynh, Tô Tử dự đoán thiên hạ tương lai sẽ quy về Tần, bình phán đoán định Tô Tần ắt được trọng dụng. Chậc chậc, Tô Tử kia quả thực bất phàm!”
“Ôi, đều tại cái tay nát rượu đó! Tại hạ vốn định tới nghe, hắn lại ép tại hạ đi uống rượu cho bằng được…”
Hai người nói tới đây thì rẽ vào một quán trọ. Tiểu điêu cũng bước vào theo, tìm một góc trong sảnh đường ngồi xuống. Trong sảnh đường lúc này có khoảng hơn chục sĩ tử, đang bàn luận rôm rả chuyện Tô Tần luận chính hôm qua. Một sĩ tử đang cao giọng hùng hồn: “Này, chư vị đều đã nghe lời bình phán hôm qua rồi chứ? Bình phán nói rằng, Tần Công chắc chắn sẽ trọng dụng Tô Tử. Tại hạ muốn hỏi chư vị, Tần Công sẽ trọng dụng Tô Tử thế nào?”
Có sĩ tử tiếp lời: “Thế mà cũng phải hỏi! Chắc chắn sẽ cho hắn thay thế đại lương tạo Công Tôn Diễn.”
“Không thể, không thể!” Có người lắc đầu phản đối. “Đại lương tạo chức tước quá nhỏ, không xứng với Tô Tử!”
“Nhân huynh nói gì vậy?” Sĩ tử ban nãy phản bác. “Chức đại lương tạo mà còn nhỏ ư? Công Tôn Ưởng công lao to lớn đến vậy, cũng chỉ được làm đại lương tạo mà thôi!”
“Ha ha ha!” Người kia cười lớn. “Nhân huynh nhắc tới Công Tôn Ưởng thì lỗi thời quá rồi! Hơn nữa, Công Tôn Ưởng chẳng phải cũng đã được phong cho sáu trăm dặm đất, ba mươi huyện Thương Quận rồi ư?”
Có người gật đầu nói: “Phải, nhân huynh nói rất đúng! Vậy theo ý của nhân huynh, Tần Công sẽ tấn phong Tô Tử ra sao?”
“Theo ý của tại hạ, Tần Công nếu hưng đế nghiệp, ắt sẽ học theo tước chế của quan ngoại, phong cho Tô Tử làm tướng quốc. Chư vị thử nghĩ mà xem, không có tướng quốc, xây dựng đế nghiệp thế nào đây?”
Đám sĩ tử đua nhau tán đồng: “Phải! Có lý, có lý!”
Trong ngự thư phòng, công tử Hoa ôm một bó thẻ tre bước vào, đặt lên trên bàn Huệ Văn Công, quỳ xuống bẩm tấu: “Khởi bẩm quân huynh, thần đệ đã sai người dò la suốt một ngày, đây đều là những điều mắt thấy tai nghe!”
“Cứ để đấy!” Huệ Văn Công liếc mắt nhìn qua đống thẻ tre. “Khanh có thể về được rồi!”
Công tử Hoa thoáng ngẩn người, rồi khấu đầu nói: “Thần đệ cáo lui!”
Sau khi công tử Hoa đi khỏi, Huệ Văn Công lật mở từng tấm thẻ tre ra đọc.
Lật xem một hồi, Huệ Văn Công ngẩng đầu lên, hai mắt khép lại, hai đầu mày càng chau tít, bên tai văng vẳng lời trăng trối của Hiếu Công: “Tứ Nhi, vương nghiệp này, đáng tiếc quả nhân đã bất lực, chỉ còn biết trông đợi vào con! Liệt tổ liệt tông cũng chỉ có thể trông đợi vào con!… Tứ Nhi, đây là thiên cơ, tuyệt đối không được để lộ cho ai biết. Nếu các nước biết được, chắc chắn sẽ hợp sức phạt ta, đại hoạ ắt đến!… Băng dày ba thước, đâu phải do lạnh một ngày. Vương nghiệp cũng vậy, đâu phải một sớm một chiều mà thành tựu. Tứ Nhi, con hãy cất giữ hộp này, thờ cúng cẩn thận, chỉ được truyền lại cho thái tử kế vị… Tứ Nhi, thống trị thiên hạ, nhất thống lục hợp là sứ mệnh mà trời cao giao cho Đại Tần ta, là mệnh trời! Làm trái mệnh trời, trời không dung tha! Mong con luôn tự mình răn dè, không được một ngày xao nhãng!”
Huệ Văn Công nước mắt chảy dài, than thở mà rằng: “Quân phụ! Thiên cơ đã bị Tô Tần kia một lời phá giải, khiến khắp thiên hạ đều bàn tán ồn ào, bảo Tứ Nhi phải làm thế nào đây?”
Huệ Văn Công trầm ngâm hồi lâu, rồi từ từ đứng dậy, đi tới đi lui trong phòng. Đi được vài vòng, lại trở về ngồi xuống trước bàn, thở dài thườn thượt: “Hỡi ôi, Tô Tần ơi là Tô Tần. Ngươi đã là bậc đại tài nhường đấy, đã nhìn ra đại thế của thiên hạ, cớ sao không nhìn thấu tâm tư của quả nhân, lại làm ra việc xuẩn ngốc đến vậy, bảo quả nhân sao có thể dung thứ?”
Nói tới đây, Huệ Văn Công đột nhiên vung mạnh cánh tay, hất chiếc bàn sơn đen trước mặt đổ nghiêng trên đất, cả đống thẻ tre rơi xuống rào rào.
***
Đã nửa tháng trôi qua, Tần Công vẫn chưa triệu kiến Tô Tần, cũng không hề có bất cứ động tĩnh gì.
Sư Lý Tật đánh xe tới phủ đại lương tạo, lòng rối như tơ vò, nói với Công Tôn Diễn: “Công Tôn huynh, chúa thượng lúc nào cũng khao khát hiền tài, nay đại hiền đã tới, Trúc tiên sinh hẳn cũng đã tiến cử với chúa thượng. Tuy nhiên đã mười ngày trôi qua, chúa thượng vẫn chưa có bất cứ động tĩnh nào, là vì nguyên cớ gì?”
“Tô Tử đang làm gì?” Công Tôn Diễn suy nghĩ một lát, ngẩng đầu hỏi.
“Dường như không hề có vẻ sốt ruột, hàng ngày chỉ ở trong phòng, hoặc tĩnh toạ trầm tư, hoặc mang sách ra đọc.”
“Thế còn Trúc tiên sinh?”
“Vẫn ở Luận Chính đàn, đóng cửa không ra ngoài. Hôm kia có một sĩ tử từ nước Hàn tới, bỏ ra ba lượng vàng thỉnh cầu khai đàn, Trúc tiên sinh vẫn chưa đồng ý. Sĩ tử bỏ tiền khai đàn, đàn chủ lại không cho phép, lần đầu tiên Luận Chính đàn có sự việc như vậy đấy.”
Công Tôn Diễn lại trầm ngâm suy nghĩ.
“Công Tôn huynh,” Sư Lý Tật hạ thấp giọng nói. “Tại hạ cho rằng, đại sách của Tô Tử, chính là hợp với tâm ý của chúa thượng, đại tài của Tô Tử cũng chính là thứ chúa thượng đang tìm kiếm. Về lý mà nói, chúa thượng lẽ ra…” Sư Lý Tật dừng lại, mắt nhìn thẳng vào Công Tôn Diễn.
“Sư Lý huynh!” Công Tôn Diễn ngẩng đầu nói. “Cao thủ đấu cờ, mỗi một nước đi, hẳn đều có chỗ mà Sư Lý huynh và tại hạ khó lòng hiểu nổi. Tô Tử đã đi nước cờ đầu tiên, đang đợi chúa thượng hồi âm. Chúa thượng tay nắm quân cờ, mà chần chừ chưa đặt xuống, hẳn là có suy tính khác!”
“Không giấu Công Tôn huynh,” Sư Lý Tật thành thực kể rõ nội tình, “trước khi Tô Tử tới Tần, chúa thượng từng cho gọi tại hạ vào cung, nói là vừa có một giấc mơ, trong mơ thấy chim hồng hạc từ phương đông bay đến, bèn gọi người giải mộng, biết là có đại hiền tới Tần, nên đã phái tại hạ đi tìm kiếm. Tại hạ tự thấy mình nhãn quang kém cỏi, sợ bỏ lỡ đại hiền, mới kéo Công Tôn huynh tới phố Sĩ Tử, quả nhiên đã gặp được Tô Tử.”
Công Tôn Diễn khẽ gật đầu: “Thế thì đúng rồi!”
Sư Lý Tật mắt ngời sáng, nhìn thẳng vào Công Tôn Diễn: “Công Tôn huynh, nói mau lên!”
“Chúa thượng ngoài mặt chưa hạ cờ, song thực tế đã hạ cờ, đây gọi là chiêu ‘vô chiêu’.”
“Thế nào là chiêu ‘Vô chiêu’?”
“Chính là ngồi xem biến hoá, biết mà làm như không biết, yên lặng quan sát phản ứng của Tô Tử.”
“Phải đấy!” Sư Lý Tật gật gù. “Công Tôn huynh nói rất đúng. Tô Tử tới Tần, là Tô Tử cầu chúa thượng, không phải chúa thượng cầu Tô Tử. Tô Tử chưa vào cung cầu kiến, chúa thượng đương nhiên biết mà làm như không biết.” Dừng lại một lát, lại nói tiếp. “Song cứ kéo dài vô ích thế này, sẽ bất lợi cho Tần!”
Công Tôn Diễn mỉm cười: “Không vô ích đâu, Tô Tử hẳn sẽ có chiêu ứng phó.”
Sư Lý Tật lắc đầu: “Đại hiền không như người thường. Năm xưa, Khương Tử Nha ngồi câu cá bên bờ Vị Thuỷ, Văn Vương hay tin hiền tài mà đích thân tới gặp. Tài của Tô Tử không hề thua kém Tử Nha, từ Chu tới Tần, đã là tự hạ mình, làm gì có chuyện tới tận cửa cầu kiến?”
“Phải, nói vậy cũng đúng!” Công Tôn Diễn cười nói. “Tuy tại hạ bất tài, cũng chưa từng cầu xin người khác, huống hồ là Tô Tử. Có điều, cục diện bế tắc này vẫn cần phải phá vỡ mới được!” Suy nghĩ một lát, chợt reo lên. “Có cách rồi!”
Trong ngự thư phòng, công tử Hoa khấu đầu sát đất: “Chúa thượng, Trần Chẩn lại gửi mật thư tới!” Rồi lấy ra một bức thư từ trong tay áo. Nội thần nhận lấy, hai tay dâng lên Huệ Văn Công.
Huệ Văn Công mở mật thư, trên vuông lụa hiện ra thủ bút của Trần Chẩn: “… Người Việt cạn lương, Vô Cương tỉnh ngộ, hối hận vì đã phạt Sở, muốn khẩn cấp rút lui, song mọi ngã đường đều đã bị người Sở cắt đứt. Việt Vương kinh hãi, liên tiếp đột phá vòng vây, đều bị người Sở chặn đứng, nay đã tổn thất vài vạn binh… Chiêu Dương muốn tận diệt người Việt, Trương Nghi chủ trương bao vây không đánh, Sở Vương nghe theo Trương Nghi… Vi thần đã có kế chế Nghi, đợi thời cơ chín muồi, lập tức hành động. Ngoài ra, Ngụy Vương hay tin trận chiến Hình Sơn là mưu kế của Tôn Tẫn, có ý chiêu làm con rể. Thần thấy Bàng Quyên chắc chắn không chịu khuất mình dưới Tôn Tẫn. Nếu đúng như dự đoán của vi thần, chỉ vài tháng nữa, Bàng và Tôn hẳn có phân tranh…”
Huệ Văn Công buột miệng khen ngợi: “Trần Chẩn quả nhiên tuyệt diệu, đúng là bảo bối của quả nhân!”
Đúng lúc này, nội thần vào bẩm báo: “Bẩm tấu chúa thượng, đại lương tạo, thượng đại phu cầu kiến!”
Huệ Văn Công hai mắt vụt sáng: “Đến thật đúng lúc! Truyền họ vào yết kiến!”
Công Tôn Diễn, Sư Lý Tật bước vào, hành lễ xong xuôi, cùng ngồi vào chỗ. Huệ Văn Công cười hỏi: “Hai vị ái khanh hẹn nhau tới đây, hẳn là có việc hệ trọng?”
Sư Lý Tật, Công Tôn Diễn đưa mắt nhìn nhau, rồi Công Tôn Diễn vòng tay nói: “Khởi bẩm chúa thượng, lần trước chúa thượng nói tới thế cờ kỳ diệu gần đây của liệt quốc, mấy ngày qua, vi thần đã giải đáp được rồi!”
“Sao kia?” Huệ Văn Công nhổm người về trước. “Giải đáp thế nào, hãy nói quả nhân nghe thử!”
Công Tôn Diễn bắt chước ngữ khí của Tô Tần: “Chừng một năm nay, liệt quốc quan ngoại liên tiếp đi nước cờ lớn, tạo ra loạn tượng, đều có thể coi là sự vận động của thế. Đại thế thiên hạ hình thành từ các thế trong thiên hạ, các thế xung đột tương tác lẫn nhau, khiến thiên hạ xuất hiện loạn tượng. Tuy nhiên, các thế trong thiên hạ dù loạn xung loạn động đến đâu, cũng phải thần phục đại thế thiên hạ. Chỉ có nắm vững đại thế thiên hạ, mới có thể hoá giải được loạn tượng này!”
Huệ Văn Công mở to mắt: “Ái khanh hãy giải thích kỹ hơn!”
“Đại thế thiên hạ quy về một, loạn thế trong thiên hạ cũng theo đó mà chuyển động. Phàm là chuyển động thuận theo đại thế, là thuận động; phàm là chuyển động ngược lại đại thế, là nghịch động. Dựa vào đó mà phán đoán, thì sự chuyển động của các thế sẽ lý giải được. Thế của Việt hướng đến Tề, là vọng động; thế của Sở hướng đến Tống, là thuận động; thế của Ngụy hướng đến Sở, Sở Ngụy hoà giải là trí động; thế của Việt phạt Sở, là xuẩn động.”
Huệ Văn Công nghe mà chấn động, lại nhoài người về phía trước hỏi: “Người Việt đánh Tề, vì sao lại là mù quáng? Người Việt chuyển sang đánh Sở, vì sao lại là ngu xuẩn?”
Công Tôn Diễn dõng dạc nói: “Người Việt ở đông nam đã lâu, không thấy được sự biến đổi của Trung Nguyên, các mặt chính trị, nông thương, võ bị, thao lược, nhân tài đều lạc hậu so với Trung Nguyên năm chục năm, chỉ có thu thế co mình, giữ gìn kín kẽ mà không lộ, hoặc giả còn có thể giữ được địa lợi mà yên ổn ở một góc. Do vậy, dù người Việt phạt Tề hay phạt Sở, đều không sáng suốt.”
Huệ Văn Công ngẫm nghĩ một lát: “Nếu cả hai đều là không sáng suốt, cớ sao còn phân chia thành vọng động và xuẩn động?”
“Người Việt phạt Tề, tuy cầm chắc thất bại, song chưa đến nỗi mất nước. Người Việt phạt Sở, tất sẽ mất nước.”
“Vì sao?”
“Người Sở phạt Việt, Việt chiếm được địa lợi, nhân hoà, Sở chưa chắc đã thủ thắng. Người Việt phạt Sở, Sở chiếm được địa lợi, nhân hoà, người Việt tất bại. Người Việt phạt Sở, ắt phải dốc toàn bộ sức lực. Đất Sở rộng lớn, ắt sẽ dụ địch vào sâu. Người Việt vào sâu trong đất Sở, đã mất địa lợi, cũng mất cả nhân hoà, càng không có được thiên thời, làm thế nào mà thắng được? Người Việt một khi đã bại, ắt toàn quân tận diệt. Lúc này người Sở thừa thắng ùa vào Việt, giống như vào chốn không người, nước Việt muốn tồn tại, liệu có được chăng?”
“Người Việt tại sao lại có hành động ngu xuẩn này?”
“Bởi vì có người đến Việt, uốn ba tấc lưỡi không xương thuyết khách Việt Vương, khiến Việt Vương đổi ý đánh Sở, tự chuốc bại vong.”
“Người này cớ sao lại giúp Sở diệt Việt?”
“Bởi vì người này muốn tới Sở thực hiện hoài bão, nên diệt Việt coi như món quà bái kiến.”
Huệ Văn Công bàng hoàng kinh dị, sững sờ nhìn Công Tôn Diễn, rồi gật gù khen ngợi: “Sự kỳ diệu trong thế cờ, chính là ở đây! Vài ngày không gặp, Công Tôn ái khanh đã cảm ngộ được tới mức này, thực sự khiến quả nhân phải nhìn bằng con mắt khác!”
Công Tôn Diễn chậm rãi đứng dậy, khấu bái sát đất: “Chúa thượng, xin tha cho vi thần tội khi quân!”
Huệ Văn Công ngẩn người: “Công Tôn ái khanh, khanh nhìn ra được thế cờ là chuyện tốt đẹp, cớ sao lại nói là khi quân?”
“Chúa thượng có điều không biết, người nhìn ra thế cờ, lại không phải là vi thần!”
Huệ Văn Công vội hỏi: “Vậy là ai?”
“Sĩ tử Lạc Dương Tô Tần!”
“Sao kia?” Huệ Văn Công lại giật mình sửng sốt. “Nói như vậy, ái khanh đã gặp mặt hắn?”
Công Tôn Diễn gật đầu: “Những lời nói vừa rồi, đa phần đều là của Tô Tử, vi thần chẳng qua là học vẹt nhại lời mà thôi.”
“Nhưng quả nhân nghe nói,” Huệ Văn Công cố tình ra vẻ dửng dưng, “người này chẳng qua chỉ là một kẻ ba hoa khoác lác.”
“Chúa thượng!” Công Tôn Diễn vội nói. “Tài của người này, hơn vi thần không biết bao nhiêu lần, vi thần nguyện nhường lại chức đại lương tạo, cam lòng đánh xe cho Tô Tử!”
Huệ Văn Công bật cười một tiếng, quay sang Sư Lý Tật: “Sư Lý ái khanh, Công Tôn ái khanh muốn nhường chức cho Tô Tử, còn khanh thì sao?”
“Chúa thượng!” Sư Lý Tật cũng chậm rãi đứng dậy, quỳ xuống bái lạy sát đất. “Vi thần cũng đã gặp mặt Tô Tử. Vi thần cho rằng, người này đúng là nhân tài trụ cột, vi thần nguyện dùng tính mạng cả gia đình để tiến cử Tô Tử.”
“Ha ha ha!” Huệ Văn Công bật cười lớn. “Hay lắm, hai vị trọng thần của quả nhân liên thủ tiến cử, kẻ này hẳn có chỗ hơn người. Vậy thì, đợi quả nhân lo xong việc trước mắt, nhất định sẽ gặp vị đại tài này!”
Sư Lý Tật, Công Tôn Diễn sững lại một thoáng, đưa mắt nhìn nhau, rồi cùng dập đầu nói: “Vi thần cáo lui!”
Huệ Văn Công chìa tay nói: “Sư Lý ái khanh dừng bước!”
Công Tôn Diễn bèn lui ra.
Sư Lý Tật lại khấu đầu hỏi: “Chúa thượng có điều gì căn dặn?”
“Khanh hãy chuẩn bị, ngày mai đi sứ sang Ngụy, công tử Hoa vẫn làm phó sứ cho khanh!”
“Có việc hệ trọng ư?”
Huệ Văn Công gật đầu: “Quả nhân đoán rằng, Bàng Quyên, Tôn Tẫn sắp có tranh chấp. Ái khanh hãy mượn cớ thỉnh cầu thông quan các cửa ải Hàm, Hào, Lâm Tấn, đi sứ sang Ngụy, tìm mọi cách để gặp mặt Tôn Tẫn, tuỳ cơ ứng biến, thuyết phục hắn tới Tần.”
“Chúa thượng?” Sư Lý Tật rất đỗi kinh ngạc.
“Sao?” Huệ Văn Công nhìn Sư Lý Tật. “Có gì không thoả đáng ư?”
“Tài của Tô Tử vượt xa Tôn Tẫn, chúa thượng cớ sao lại bỏ gần cầu xa?”
Huệ Văn Công mỉm cười nói: “Tài của Tô Tử là tài của Tô Tử, tài của Tôn Tẫn là tài của Tôn Tẫn. Hai người họ không giống nhau!” Dừng lại một lát, rồi thu lại nụ cười. “Còn những chuyện khác, ái khanh bất tất phải hỏi nhiều, đi đi!”
“Vi thần lĩnh chỉ!”