Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 10
Lo hỷ sự, Ma Cô bôn ba
Gặp họa lớn, Tô - Trương kết nghĩa

❊ ❊ ❊

Sau khi Tô Tần bỏ đi, không hề có tin tức gì về nhà.

Lúc đầu Tô Hổ cũng không để tâm, vì Tô Tần thường bỏ nhà ra đi, lần nào cũng đi bặt nhiều ngày, nhưng lâu nhất cũng chỉ nửa tháng là quay về. Ai dè lần này đã đi hơn hai mười ngày mà vẫn bặt vô âm tín.

Tô Hổ bắt đầu lo lắng, bảo Tô Đại đến vương thành tìm kiếm. Tô Đại đã biết rõ, nên đi một mạch thẳng đến miếu Hiên Viên phía đông thành Lạc Dương, nhưng chỉ thấy Quỷ Cốc Tử và tiểu đồng. Tô Đại lại tìm kiếm khắp thành Lạc Dương, còn bạo gan xông cả vào nhà Thái học của thiên tử, nhưng vẫn không có kết quả gì.

Tô Đại hết cách, đành quay về kể lại thực tình cho Tô Hổ nghe. Tô Hổ vò đầu bứt tai suy nghĩ nửa ngày trời, sau đó lại bảo Tô Diêu thị bắt gà vịt mang đến nhà Ma Cô, vật nài Ma Cô tìm bằng được một cô vợ cho Tô Tần.

Từ khi Ma Cô nhận lời đám này, ngày nào cũng chạy luôn chân. Chỉ cần nghe nói nhà nào có khuê nữ chưa gả chồng là tìm ngay đến gõ cửa. Chẳng bao lâu sau, đã chạy khắp lượt mười làng tám thôn quanh đó. Song đáng phiền là ở chỗ tai tiếng của Tô Tần quá lớn, bất kể nhà ai, hễ nghe Ma Cô nhắc tới hai chữ “Tô Tần”, đối phương đã lập tức vỗ mặt: “Có phải là cậu hai đeo kiếm gỗ ngược không?” Ma Cô không biết đối đáp thế nào, đành phải gật đầu nói phải. Ngay sau đó, người ta chỉ dăm câu ba lời đã từ chối thẳng thừng, thậm chí chẳng buồn rót trà mời Ma Cô.

Làm mối mà gặp phải cảnh này, cho dù là ai cũng khó tránh khỏi chán nản. Nhưng thật may, Ma Cô vốn dĩ tính khí quật cường không dễ chịu thua, càng là việc khó lại càng nhất quyết làm cho bằng được. Thấy việc của Tô Tần ngày càng bế tắc, Ma Cô không những không chùn bước, mà càng quyết tâm hơn. Nghe nói trong thôn Long Khẩu có mấy nhà vẫn còn khuê nữ chưa gả chồng, Ma Cô lại hăm hở trở lại. Sáng hôm nay, Ma Cô dậy từ rất sớm, men theo con đê ở bờ đông Y Thuỷ đi về phía nam, cứ thế đi đến hơn hai mươi dặm mới tới được thôn Long Khẩu.

Ma Cô đến thôn Long Khẩu, đi từ đầu đông đến đầu tây thôn, gặp nhà nào có con gái mới lớn, đều ghé vào thăm, hết gợi chuyện cà kê, lại nói lời ngon ngọt, bận rộn từ sáng đến tận tối mịt, vận hết tài miệng lưỡi, nhưng cuối cùng, vẫn chẳng nhà nào động lòng.

Ma Cô trên mặt đeo một nụ cười gượng gạo, bước ra khỏi cổng ngôi nhà cuối cùng, rồi mặt mũi ủ ê, bước về phía con đê Y Thuỷ phía đông thôn. Khi gần đến đê, Ma Cô nhìn thấy bên đường có một gò đất, lúc này cũng đã mệt nhoài, nên ngồi phệt luôn xuống đó, rút cây quạt nan giắt ở hông ra, quạt phành phạch mấy cái rồi than ngắn thở dài: “Chà, thế là lại một ngày công cốc!”

Lời vừa dứt, mắt bỗng vụt sáng lên. Từ trên đê có một cô gái đang tiến lại. Ma Cô chăm chú quan sát, thấy cô gái dung mạo cũng đoan trang, chỉ có điều hơi có tật, chân trái bị thọt, đi lại khập khiễng, trông hơi khó coi. Cô gái tay phải xách chiếc thùng giặt, nhắc từng bước băng qua con đê, rồi đi theo con đường nhỏ tiến lại gần.

Ma Cô nhìn cô gái không chớp mắt. Cô gái tập tễnh đi tới trước mặt bà ta, cúi đầu chào, sau đó lại chân thấp chân cao đi vào trong thôn.

Ma Cô nhìn theo một lúc mới định thần lại được, rồi vội vàng vẫy tay gọi: “Cô nương, xin dừng bước!”

Cô gái dừng lại, ngoái đầu nhìn Ma Cô mỉm cười.

Ma Cô vội chạy lại gần, mặt cười tươi rói mà hỏi: “Khuê nữ phải chăng là người ở thôn này?”

Cô gái gật đầu.

“Khuê nữ là con gái nhà ai, hình như Ma Cô chưa từng gặp mặt.”

Cô gái mỉm cười đáp: “Tôi tên Chu Tiểu Hỷ, cha tôi tên Chu Lão Hỷ. Đại nương từ đâu đến đây?”

“Úi chà, là con gái nhà Lão Hỷ ư?” Ma Cô đưa tay vỗ trán, tỏ vẻ ngạc nhiên. “Là người quen! Tiểu Hỷ, Ma Cô từ thôn Hiên Lý đến đây, đang khát khô cổ, muốn đến nhà cô nương xin ngụm nước uống, được không?”

Cô gái không biết Ma Cô là ai, thấy bà ta kêu khát nước thì mỉm cười mà nói: “Xin mời!”

Ma Cô đi theo cô gái về phía nam thôn, từ xa đã nhìn thấy một ngôi nhà trơ trọi. Ngoài sân, tùng trúc xanh mướt, trong sân sạch sẽ gọn gàng, Ma Cô vừa nhìn đã thầm vui trong dạ, vừa đi qua cánh cổng gỗ, đã miệng cười toe toét: “Lão Hỷ, có khách quý đến thăm đây!”

Một người đàn ông chừng năm chục tuổi đi ra đón, thấy Ma Cô đến thì vui mừng khôn tả: “Cha chả, là bà chị đấy ư, đúng là khách quý! Nào, Tiểu Hỷ, mau xuống bếp làm cho đại nương một bát trứng chần, tám quả nhé!”

Ma Cô vừa nghe thấy làm tám quả trứng, trong lòng mừng rơn. Ở vùng này, khi bà mối đến nhà, nếu chủ nhân bưng lên tám quả trứng chần, tức là đã đồng ý cho bà mối bàn hôn sự.

Thấy Tiểu Hỷ đã đi xuống bếp, Ma Cô cười vui vẻ mà nói: “Ông anh, lần này tôi đến cũng là muốn được ăn bát trứng chần của ông anh đấy!”

Lão Hỷ cũng cười: “Không dám giấu bà chị, lần này chị tới thôn, cặp mắt già của Lão Hỷ đây cũng trông thấy rồi, nên chẳng dám đi đâu, cứ ngồi sẵn ở nhà chờ đợi. Lão Hỷ đợi mãi mà không thấy bà chị đến, nhìn trời tối dần, vô cùng sốt ruột, nhưng không thể mặt dày mà đi mời bà chị tới được. Đang lúc sốt ruột, thì bà chị lại tìm đến.”

Ma Cô nhích lại gần thêm một chút, nói: “Ông anh, như thế gọi là việc tốt phải dày công! Khuê nữ năm nay bao lớn rồi?”

Lão Hỷ nói khẽ: “Cũng không còn nhỏ nữa!” Rồi lão khẽ thở dài. “Nhưng bà chị cũng thấy đấy, Tiểu Hỷ điểm nào cũng tốt, chỉ mỗi tội chân trái không được lành lặn, năm ngoái đã đến tuổi cập kê, nhưng chẳng có đám nào đến hỏi, làm tôi lo lắng không yên.”

“Vậy… mẹ nó đâu?”

Lão Hỷ lại thở dài: “Đã đi từ lâu rồi! Tiểu Hỷ mệnh khổ, mới sáu tuổi đầu đã không có mẹ, trong nhà cũng chẳng có anh chị em, phải sống đơn độc một mình với tôi. Không giấu gì bà chị, mặc dù Tiểu Hỷ chân thọt, nhưng nó rất tháo vát, trên dưới trong ngoài, việc to việc nhỏ, cái gì cũng giỏi giang. Tiểu Hỷ nói, nó không muốn gả cho ai, nguyện cả đời sống với Lão Hỷ này. Nhưng như vậy sao được? Nó không gả chồng, cái mặt già của Lão Hỷ này biết để vào đâu? Lại nữa, Lão Hỷ bao năm nay cũng chỉ trông mong sớm được bế cháu ngoại. Không giấu bà chị, xem ra ở quanh đây chẳng còn hy vọng gì nữa, Lão Hỷ đành phải nhờ cậy vào bà chị, chẳng câu nệ xa gần giàu nghèo, chỉ cần tìm được cho nó một chốn. Không ngờ còn chưa lên đường, bà chị đã tìm đến!”

Ma Cô đang muốn tiếp lời, Tiểu Hỷ đã bưng chiếc đĩa bước ra khỏi nhà bếp, trên đĩa đặt hai cái bát sành, mỗi bát đựng tám quả trứng chần!

Khi Ma Cô trở về đến thôn Hiên Lý, đã vào giờ Nhân định, vầng trăng lơ lửng ngọn cây. Ma Cô không quản mệt nhọc, đi thẳng đến nhà họ Tô, đứng ở ngoài cổng gọi lớn: “Anh Tô!”

Do thời tiết nóng bức nên Tô Hổ nằm ngủ luôn trên chiếc giường sơ sài trong sân, nhận ra giọng Ma Cô, liền vội vàng bật dậy mở cổng.

Ma Cô mặt mũi hớn hở, đẩy cổng bước vào, chưa đợi Tô Hổ mời, đã ngồi phịch luôn xuống bên bàn đá. Tô Diêu thị cũng bước ra, thắp đèn dầu, rồi bưng ra một bát trà giải nhiệt đặt lên bàn đá, ngồi đối diện với Ma Cô.

Ma Cô một tay bưng lấy bát trà, nhấp thử một ngụm, thấy không nóng lắm, liền uống một hơi hết nhẵn. Tay còn lại vươn ra sau lưng, rút cây quạt ra quạt lấy quạt để.

Tô Hổ ngồi xổm trên đất, hỏi dò: “Xem bà chị hớn hở thế này, việc ấy… đã thành chưa?”

Ma Cô cố tình thở hắt ra: “Chao ôi, một lời khó mà nói hết!”

“Bà chị nói mau, là thành, hay không thành?”

“Đương nhiên là thành rồi! Anh đã nghe thấy Ma Cô có vụ mai mối nào bất thành chưa?”

Tô Hổ vui mừng khôn xiết: “Chị gái tốt bụng ơi, mau nói xem, là khuê nữ nhà ai?”

“Nhà họ Chu ở Long Khẩu, một nhà nông dân.”

“Nhà họ Chu ở Long Khẩu?” Tô Hổ ngẩn người. “Long Khẩu chỉ có một nhà họ Chu, không lẽ lại là nhà Chu Lão Hỷ?”

Ma Cô cười hi hí: “Còn ai vào đây nữa? Trong nhà Chu Lão Hỷ chẳng có ai khác, chỉ có một mụn con gái, đúng là nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa, một lòng một dạ muốn tìm chàng rể thông minh tài giỏi. Lần này, vừa nhắc đến thiếu gia của Tô huynh, Lão Hỷ chẳng chút ngần ngừ, lập tức đồng ý. Tôi nói chớ vội, chớ vội, trước tiên hãy sắp xếp thời gian gặp mặt, anh đoán xem Lão Hỷ nói sao nào? ‘Nói gì lạ vậy, chẳng lẽ tôi lại không tin anh Tô? Chị hãy về nói với anh Tô, nếu là nhà khác đến hỏi cưới, tôi còn phải gặp gỡ hỏi han dăm lần bảy lượt, duy chỉ có nhà anh Tô, Lão Hỷ tôi không cần nhiều lời, chỉ cần anh ấy không chê Tiểu Hỷ nhà tôi, khuê nữ sớm muộn cũng là người nhà họ Tô, bảo anh Tô chỉ cần chọn ngày đến đón’.”

Tô Hổ trong lòng cảm động, nhìn Tô Diêu thị thở dài: “Chao ơi, nói ra thực đúng là duyên phận! Chu Lão Hỷ là bạn thuở nhỏ của tôi, đã nhiều năm nay không gặp mặt, mà ông ta đã nuôi lớn được một Tiểu Hỷ!”

Tô Diêu thị không nhịn thêm được, bèn xen vào một câu: “Chị ơi, khuê nữ trông như thế nào?”

Ma Cô hớn hở đáp lời: “Chị dâu ơi, Tiểu Hỷ đúng là chẳng chê vào đâu được! Năm nay mười bảy, dung mạo đoan trang, mặt tựa hoa đào, miệng xinh chúm chím, chưa nói đã cười, em đây càng nhìn càng thấy ưng ý!”

Tô Hổ liền nói: “Này bà chị ơi, chúng ta nhà nông, sống được qua ngày mới là quan trọng!”

Ma Cô cười đáp: “Em biết ông anh muốn hỏi gì! Việc nhà, việc đồng, việc gì cũng giỏi, nuôi tằm dệt vải lại càng khéo léo. Không giấu gì ông anh, tất cả mọi việc lớn bé trong nhà Chu Lão Hỷ, cộng với năm mẫu ruộng dâu, toàn bộ đều do khuê nữ đảm đương cả đấy!” Rồi lại ghé sát vào Tô Diêu thị, làm bộ so đo mông ngực. “Nói nhỏ với chị dâu nhé, khuê nữ điểm nào cũng tuyệt, Ma Cô chỉ nhìn qua đã biết là người khéo đẻ khéo nuôi. Chị dâu, chị hãy chuẩn bị bế cháu đi!”

Tô Hổ, Tô Diêu thị đều vui cười hớn hở.

Tô Hổ chợt ngẩng đầu lên: “Suýt nữa thì quên mất. Bà chị, sinh thần bát tự(1) thế nào?”

Ma Cô bĩu môi: “Nghe anh nói kìa, Ma Cô này là ai chứ? Trong vòng mấy chục dặm quanh đây, sinh thần bát tự của tất cả các cô nương, tôi đều nằm lòng tất. Nếu bát tự không hợp, thì tôi chẳng thèm đặt chân đến cổng đâu!”

“Ừ, phải rồi!” Tô Hổ gật gù. “Theo lời bà chị nói, thì vụ xem mặt đã có thể định đoạt! Tất cả mọi chuyện thân già này đều nghe theo bà chị!”

Nghe thấy hai chữ “xem mặt”, Ma Cô liền cười cười mà nói: “Ông anh hãy nghe tôi nói này, Chu Lão Hỷ đã vui vẻ đồng ý chuyện này. Anh xem thử, hay là chuyện xem mặt…”

“Không được, không được!” Tô Hổ lắc đầu quầy quậy. “Chúng ta dù là nhà nông, nhưng lễ nghi cũng phải theo cho đầy đủ. Bà chị, chị xem như thế này có được không? Ngày giờ xem mặt và sính lễ ra sao, đều do chị quyết định, tất cả mọi việc, tôi đều nghe theo chị!”

Ma Cô khẽ đảo con ngươi, rồi cười tít mà nói: “Được, em đây sẽ làm theo lời ông anh, ngày mai sẽ đến nhà họ Chu sắp đặt chuyện xem mặt!”

Buổi trưa hôm sau Ma Cô lại đến, mặt cười rạng rỡ, nói: “Đã bàn xong với Lão Hỷ, Lão Hỷ nói rằng chuyện xem mặt, đều nghe ông anh quyết định!”

“Vậy thì… bà chị xem thử, ngày nào là ngày tốt?”

“Em đây cũng đã tính rồi, ngày mai chính là ngày tốt!”

“Ngày mai?” Tô Hổ ngẫm nghĩ chốc lát. “Được, ngày mai thì ngày mai!”

“Quyết định vậy nhé, tôi đi nói với Lão Hỷ luôn, để còn kịp chuẩn bị cơm rượu!” Vừa nói dứt câu, Ma Cô không kịp uống lấy ngụm nước, đã ngoăn ngoắt đi ra khỏi cửa.

Tô Hổ, Tô Diêu thị tiễn ra đến cổng, nhìn theo Ma Cô. Tô Diêu thị sực nhớ ra một điều, vội quay sang nói với Tô Hổ: “Ông ơi, Tần Nhi vẫn chưa về, ngày mai xem mặt thế nào đây?”

“Hừm!” Tô Hổ hừ mũi một tiếng. “Cho dù thằng ranh ấy có nhà, chưa chắc đã chịu đi. Tôi đã nghĩ rồi, ngày mai tôi đi, một là gặp Lão Hỷ hàn huyên chuyện cũ, hai là xem mặt khuê nữ. Nếu vừa ý, chúng ta sẽ sắp xếp chuyện thành thân. Còn nếu không ưng ý, chúng ta cũng dễ thoái thác cho Tần Nhi, còn có đường mà lui!”

Tô Diêu thị nghe vậy liền gật đầu.

Hôm sau, ăn cơm sáng xong, Tô Hổ liền chuẩn bị đủ bốn đồ thái lễ: gà, vịt, cá, dê, đánh xe trâu, chở theo Ma Cô tiến về phía thôn Long Khẩu, mãi đến chập tối mới vui vẻ trở về nhà.

Tô Diêu thị đã đợi sẵn ngoài cổng, sốt sắng chạy ra đón: “Có gặp được khuê nữ không?”

Tô Hổ cười hí hửng, toét miệng nói: “Nói thừa, không gặp được khuê nữ, còn gọi gì là xem mặt?”

“Trông thế nào?”

Tô Hổ đi vào trong sân, ngồi khoanh chân bên bàn đá, nói: “Ma Cô quả không nói khoác, khuê nữ đúng là điểm gì cũng tốt. Chưa nói tới những cái khác, chỉ riêng cái tính cần cù chăm chỉ, cũng khó tìm được người thứ hai. Tôi vừa đến nhà, đã thấy khuê nữ đang ngồi dệt vải bên khung cửi, cứ thế dệt không nghỉ tay cho đến tận khi tôi về. Tôi thấy thương quá, liền nói với Lão Hỷ sao không để khuê nữ nghỉ tay một lát, bà đoán xem Lão Hỷ nói thế nào? Lão Hỷ nói, từ nhỏ khuê nữ đã có bệnh này, chỉ cần ngồi xuống khung cửi, trời chưa tối thì chưa chịu nghỉ tay!”

Tô Diêu thị cũng vui mừng ra mặt: “Ông chẳng hiểu gì cả! Khuê nữ không chịu rời khung cửi, là vì không chịu gặp ông bố chồng tương lai đấy, như thế gọi là xấu hổ!”

Tô Hổ cười ha hả: “Mặc kệ con bé xấu hổ hay chịu khó, dù sao tôi cũng đã ưng mặt rồi! Cái tính này của Tiểu Hỷ rất hợp với thằng hai nhà chúng ta!”

Tô Diêu thị gật đầu nói: “Đúng thế, có khuê nữ này bên cạnh, chắc chắn tính khí kỳ quặc của Tần Nhi sẽ được chế ngự phần nào!”

“Đúng vậy! Thấy khuê nữ luôn tay dệt vải, trong lòng tôi vui không để đâu cho hết. Trước khi về, tôi đã nói với Lão Hỷ, hôn sự này coi như đã định. Lão Hỷ muốn tôi chọn ngày tốt, tôi nói sẽ trở về bàn bạc!”

Đang lúc trò chuyện, Tô Đại bộ dạng hoảng hốt chạy bổ từ ngoài vào: “Cha ơi, cha…”

Tô Hổ ngẩng nhìn: “Có chuyện gì mà hốt hoảng thế?”

Tô Đại thở hổn hển: “Anh hai… anh hai… anh ấy…”

Tô Diêu thị vội hỏi: “Đại Nhi, anh hai con làm sao?”

“Anh hai đã… đã gỡ cáo thị thiên tử!”

Tô Hổ chau mày: “Cáo thị thiên tử gì?”

“Con không biết! Nghe nói thiên tử viết bố cáo, cả ngày không có ai dám gỡ, sau đó chính là anh hai đã gỡ xuống!”

Tô Hổ sững sờ một hồi lâu mới mở miệng lắp bắp: “Vậy… anh hai con thế nào rồi?”

“Nghe nói đã bị binh lính đưa vào trong cung!”

Tô Diêu thị kinh hãi rú lên: “Trời ơi, Tần Nhi… đã bị binh lính bắt vào trong cung rồi sao?”

Tô Đại lắc đầu nói: “Con cũng không biết, chỉ nghe người khác nói lại như thế!”

Thấy Tô Diêu thị bắt đầu khóc lóc, Tô Hổ liền an ủi: “Mẹ nó ơi, chỉ là lời đồn thổi, sao có thể tin được? Thế nhưng… thằng ranh đó nếu giở thói điên khùng, chưa biết chừng lại gây ra chuyện rầy rà cũng nên!”

Tô Diêu thị khóc mà nói: “Bố nó ơi, nếu Tần Nhi có chuyện bất trắc, phải làm thế nào đây?”

Tô Hổ chau mày suy nghĩ một lát, rồi quyết đoán: “Mẹ nó ơi, chuyện này không thể kéo dài thêm dù chỉ một ngày! Tôi phải nhanh chóng đi tìm Ma Cô, gấp rút đón khuê nữ Tiểu Hỷ về để quản thúc nó!”

Tô Diêu thị không kịp nghĩ gì thêm, chỉ biết gật đầu: “Vậy hãy làm theo lời của bố nó đi!”

Tô Hổ quay lại dặn dò Tô Đại: “Đại Nhi, con mau tới vương thành, sống chết cũng phải tìm bằng được anh hai con về đây!”

Tô Đại lắc đầu nói: “Vương thành rộng như vậy, ai biết được anh hai trốn ở nơi đâu?”

Tô Hổ sầm mặt xuống: “Chẳng phải nói vừa gỡ cáo thị hay sao, còn có thể trốn ở đâu được? Gọi thêm mấy người nữa cùng đi, chia nhau ra mà tìm. Nhớ kỹ, khi gặp được nó, tuyệt đối không được hé lộ cho nó biết về chuyện thành thân, để tránh xảy ra cãi vã!”

“Vậy con phải nói thế nào?”

Tô Hổ cúi đầu suy nghĩ một lát rồi nói: “Hãy nói ta sắp chết, muốn gặp mặt nó lần cuối!”

Tô Đại sững người, nhưng thấy Tô Hổ trừng mắt nhìn mình, đành vội vã lên đường.

***

Đêm đến, trong cung Tịnh An, khung cảnh vô cùng tĩnh mịch. Nghe lời vương hậu, toàn bộ cung nữ đều đã lui ra. Vương hậu suy nghĩ chốc lát, rồi lựa chọn vài bộ quần áo, gói ghém thành một tay nải sơ sài. Cuộc sống trong núi giản dị, bà chẳng cần thiết phải mang theo gì nhiều.

Ngồi lặng một lát, vương hậu lại lấy chiếc túi gấm của Quỷ Cốc Tử ra, bắt đầu suy nghĩ. Trước mắt vương hậu từ từ hiện lên khung cảnh sơn cốc thanh tĩnh, rừng núi um tùm, suối nhỏ róc rách, chim hót ríu ran… Với vương hậu, những điều đó sao mà thân thuộc, vì vương hậu đã mơ đến không biết bao lần, đã tưởng tượng đến không biết bao lần. Chỉ cần nghe khúc Cao sơn, Lưu thuỷ, tất cả những hình ảnh này lại sống động hiện lên trước mắt. Đúng như lời Quỷ Cốc Tử tiên sinh từng nói, bà là nhân tài tu đạo trời sinh, từ khi xuống với thế gian, tất cả những điều này đã hoà tan vào trong huyết quản, sôi trào trong thâm tâm bà.

Chỉ đến tối mai thôi, bà sẽ từ biệt nơi đây để hài hoà làm một với niềm ao ước từ thuở nhỏ, với giấc mộng suốt bấy nhiêu năm. Vương hậu gắng kìm nén nỗi xúc động trong lòng, cất túi gấm đi, lại đưa mắt nhìn quanh, ngắm nghía cung thất mà mình đã sống suốt mười mấy năm nay.

Ánh mắt vương hậu bất chợt chạm phải chiếc bình ngọc đặt trên cửa sổ. Trong ánh nến, bình ngọc phát sáng lấp lánh. Vương hậu khẽ thở dài, từ từ đứng dậy, đi đến bên chiếc bình, rồi ngồi xuống đối diện với nó.

Bình ngọc đã được vương hậu ghép lại, nếu không nhìn kỹ hay chạm vào, sẽ chẳng ai biết được nó đã từng là một đống mảnh vỡ. Vương hậu nhìn chiếc bình đăm đăm, toàn thân bất động.

Nhìn mãi, nhìn mãi, trái tim vương hậu đột nhiên thắt lại, tựa như thình lình bị dùi nhọn đâm vào.

Đúng thế, đây là một đống mảnh vỡ, một đống mảnh vỡ đã được chắp ghép, không chịu nổi một cái chạm. Vương hậu đã ghép nó lại, đã bảo vệ cho nó. Thế nhưng, nếu như vương hậu ra đi, thì bệ hạ sẽ ra sao?

Bệ hạ? Trời ơi, bệ hạ!

Không, ông ấy không phải là bệ hạ, mà là người đàn ông của bà, là người đàn ông đã chung sống với bà, đã cùng bà sớm chiều gắn bó suốt mười mấy năm nay, là người đàn ông duy nhất trên đời này yêu thương bà, che chở cho bà! Một khi bà dứt áo ra đi, ông sẽ ra sao?

Để Chu Vương cùng đi? Đúng thế, Chu Vương từ lâu đã chán chường với tất cả mọi thứ, từ lâu cũng đã muốn vứt bỏ tất cả mọi thứ, nhưng ông không thể, vì trong người ông đang chảy dòng máu chính tông của vương thất Đại Chu, mười mấy đời liệt tổ liệt tông Đại Chu không cho phép ông làm như vậy, giang sơn xã tắc không cho phép ông làm như vậy, lương tâm của ông cũng không thể làm như vậy! Ông đã gả Tuyết Nhi cho Yên thất xa xôi, gả cho một lão già đáng tuổi ông nội của Tuyết Nhi, cũng chính là vì điều đó!

Nếu bà ra đi, Hiển Vương sẽ ra sao? Người Tần sẽ uy hiếp ông! Người Tần có lý do để làm như vậy, vì nếu bà bỏ đi, sẽ chứng tỏ trước đây bà giả bệnh. Người Tần sẽ không dễ dàng bỏ qua, họ sẽ làm lớn chuyện, rêu rao cho khắp thiên hạ biết, nói rằng vương hậu Đại Chu giả bệnh, thiên tử Đại Chu lừa dối thiên hạ. Nếu như vậy, cho dù bệ hạ có trăm cái miệng cũng không thể biện minh. Lại còn người Ngụy, nếu họ biết được chuyện này, điều gì sẽ xảy ra? Người trong thiên hạ sẽ nghĩ thế nào? Nếu như người Tần không chịu bỏ qua, phái người đuổi vào trong núi, vậy chẳng phải đã làm liên lụy đến tiên sinh? Liên lụy đến Vũ Nhi?

Vương hậu đang lúc suy nghĩ bộn bề, thì từ phía ngoài cung, có tiếng bước chân vọng lại. Vương hậu nghe thấy có người khấu bái, biết là Hiển Vương đến, bất giác giật thót mình, chợt nhớ tới tay nải đựng đồ, bèn vội vàng đứng dậy, vừa kịp giấu đi thì Hiển Vương đã bước vào.

Hiển Vương đến đột ngột khiến vương hậu không kịp trở tay, cộng thêm việc vội vàng cất giấu tay nải, nên thần sắc có đôi phần hoảng hốt. Tuy nhiên, lúc này Hiển Vương trong lòng đang nặng trĩu tâm sự, chẳng còn tâm trí đâu để chú ý đến, vừa bước qua cửa cung, đã đi đi lại lại trong phòng khách, sắc mặt vô cùng khó coi. Vương hậu từ từ bình tĩnh trở lại, thấy bước chân của Hiển Vương mỗi lúc một chậm dần, bèn cất giọng quan hoài mà hỏi: “Bệ hạ đang buồn bực vì chuyện gì chăng?”

“Tây Chu Công!” Hiển Vương rít qua kẽ răng ba chữ.

Không cần hỏi thêm, vương hậu đã biết người Tần lại đến, trầm tư chốc lát, bà nhẹ nhàng hỏi: “Quý thúc sao kia?”

Hiển Vương lại lửa giận bừng bừng, uất ức mà nói: “Quý thúc cái nỗi gì? Đúng là một phường hồ đồ, không biết đã trúng tà gì mà giờ một điều Tần hai điều Tần, dường như xã tắc, tông miếu Đại Chu chẳng có liên quan gì đến ông ta nữa!”

“Quý thúc đã nói gì?”

“Hừm, ông ta thì có thể nói được gì?” Hiển Vương thở dài sườn sượt. “Người Tần nói gì thì ông ta nói đấy, chỉ là một con vẹt nhại lời!”

Vương hậu lại suy tư chốc lát, rồi dịu dàng nói: “Bệ hạ, thần thiếp muốn biết, người Tần đã nói những gì?”

“Nói rằng Tần Công lại phái người tới thôi thúc hôn sự, nói rằng hai vạn bộ binh ở Nghi Dương đang trên đường tới Lạc Dương, nói rằng… nói rằng nàng không có bệnh, nói rằng nàng chỉ là giả bệnh, nói rằng…”

Hiển Vương càng nói càng giận dữ, uất ức đến nghẹn giọng không thể nói tiếp.

“Bệ hạ, họ còn nói gì nữa?” Giọng nói của vương hậu càng thêm dịu dàng.

“Nói rằng… Tần Công nghe nói ái khanh có bệnh, lại phái hai thần y đến chẩn trị!”

“Bệ hạ!” Giọng vương hậu bình thản đến vô cảm. “Thần thiếp biết rồi! Nếu họ không tin, thì cứ để họ đến chữa trị!”

“Tử đồng…” Hiển Vương trong lòng chua xót, hai đầu gối mềm nhũn, rồi quỳ sụp xuống đất.

“Bệ hạ…” Vương hậu cũng quỳ xuống, hai người cùng ôm nhau, bật khóc thảm thiết.

Hiển Vương vừa khóc vừa nói: “Tử đồng, nàng… nàng gả cho quả nhân, chưa bao giờ được sống một ngày vui vẻ, quả nhân thực sự… Tại sao Tô Tần vẫn bị nhốt vào ngục một đêm? Chẳng phải đã căn dặn phải đối xử tốt với hắn ư? Quả nhân thật là bất lực!” Hiển Vương nước mắt chan hoà.

“Bệ hạ, người… người đừng nói nữa, bệ hạ…” Vương hậu gục đầu vào lòng Hiển Vương, khóc không thành tiếng.

Buổi trưa hôm sau, Cơ Vũ đến thỉnh an Hiển Vương, lấy được tấm kim bài xá miễn từ quan nội tể rồi đi thẳng tới thiên lao. Quan tư hình hành lễ xong, kiểm tra tấm kim bài, rồi cho hai ngục tốt áp giải Tô Tần đã bị giam cầm gần một đêm ra.

Thấy Tô Tần được hai ngục tốt áp giải ra từ thiên lao, Cơ Vũ vội bước lên một bước, vòng tay vái mà nói: “Đã kinh động đến Tô Tử!”

Tô Tần dập đầu sát đất: “Tô… Tô Tần tạ… tạ ơn… cứu… cứu mạng… của… của công… công chúa!”

Cơ Vũ quay sang nói với một ngục tốt: “Đưa vị sĩ tử này ra ngoài cung!”

Ngục tốt vâng lệnh, dẫn Tô Tần ra khỏi cửa cung. Tiểu Thuận từ xa nhìn thấy Tô Tần đi ra, chẳng kịp nghĩ ngợi, lập tức co giò lao như bay về Quý Nhân Cư. Một loáng sau, gã đã chạy về đến sân nhà trọ, thấy Trương Nghi đứng không ra đứng, ngồi không ra ngồi, đang thần hồn đờ đẫn đi đi lại lại trong sân. Tiểu Thuận hổn hển muốn đứt hơi, bám vào khung cổng, vừa thở vừa nói: “Thiếu… thiếu gia, gã lắp… được thả ra rồi!”

Trương Nghi vọt liền mấy bước đã đến bên cạnh Tiểu Thuận, hỏi gấp: “Thế người đâu?”

“Tiểu nhân không… không biết!”

Trương Nghi gập ngón giữa lại cốc liền mấy cái vào trán Tiểu Thuận, vừa cốc vừa mắng: “Bảo ngươi đứng canh ở đó, ý là để ngươi đón khanh tướng đại nhân về, mà ngươi… ngươi… ngươi vội chạy về làm cái gì?”

Tiểu Thuận đưa tay ôm đầu, ra vẻ tội nghiệp, lụng bụng một câu: “Là thiếu gia dặn tiểu nhân nếu thấy gã nói lắp trở ra là lập tức về báo tin, tiểu nhân có làm gì sai?”

Trương Nghi lại cốc thêm một cái lên trán gã: “Bản thiếu gia nói ngươi sai tức là ngươi sai, còn dám nhiều lời?” Lời còn chưa dứt, người đã ra khỏi cửa. Trương Nghi xoạc chân bước vội, hấp tấp đi về phía vương cung để đón người. Đi được một quãng, quả nhiên thấy Tô Tần rũ rượi như gã say rượu, đang cúi đầu lảo đảo đi về.

Trương Nghi vội chạy tới chặn Tô Tần lại, đưa mắt nhìn khắp một lượt từ trên xuống dưới, thấy hắn không bị sứt mẻ chỗ nào, thì mừng rỡ kêu lên: “Thần kỳ, đúng là thần kỳ!”

Tô Tần chẳng hiểu chuyện gì, hai mắt mở tròn: “Thần… thần kỳ… cái… cái gì?”

Trương Nghi cười vang: “Là nói Tô huynh thần kỳ!” Rồi lùi lại một bước, vái dài mà nói. “Tô huynh ở trên, hãy nhận của Trương Nghi một lễ!”

Tô Tần không hiểu chuyện gì xảy ra, đứng như trời trồng, đến nỗi quên cả đáp lễ: “Trương… Trương Tử, lúc… lúc nãy… gọi… gọi Tô Tần… là… là gì?”

Trương Nghi đứng thẳng dậy, cười lớn: “Gọi là Tô huynh! Chỉ với hào khí ngày hôm nay của Tô huynh đây, bản thiếu gia cũng nên gọi một tiếng Tô huynh mới phải! Đi, Trương Nghi sẽ mời Tô huynh một bữa no say!”

Tô Tần thấy Trương Nghi vồ vập lại đâm ra nghi ngại, vòng tay vái dài sát đất: “Tô Tần tạ… tạ… tạ ơn… ơn Trương… Trương Tử hậu… hậu… hậu ái!”

Trương Nghi lập tức kéo Tô Tần đến quán Vạn Bang, vẫn đến căn phòng mà họ đã từng uống rượu, vẫn gọi tám món nóng tám món nguội, đến rượu vẫn là loại rượu ủ mấy chục năm. Điều khác biệt duy nhất chính là thái độ của Trương Nghi đối với Tô Tần. Trải qua một tháng ở chung, đặc biệt là qua những hành vi của Tô Tần trong mấy ngày nay, Trương Nghi thực sự đã phải nhìn Tô Tần bằng con mắt khác.

Rượu và đồ ăn đã được dọn lên, Trương Nghi rót đầy hai chén, hai tay nâng lên, cung kính đưa cho Tô Tần: “Tại hạ kính huynh một chén, tạm giúp Tô huynh giải trừ kinh sợ, mời!”

Tô Tần hai tay đỡ chén rượu, dè dặt nhìn Trương Nghi: “Tô… Tô Tần không… không dám… dám… dám nhận!”

Trương Nghi chìa tay nói: “Tô huynh bất tất phải khách khí, hãy cạn chén này rồi nói tiếp!”

Tô Tần cảm thấy Trương Nghi không phải đang đùa cợt, bèn ngửa cổ uống cạn chén rượu. Trương Nghi lại rót đầy một chén nữa, đẩy tới trước mặt Tô Tần, còn mình cũng tự rót một chén khác: “Trương Nghi đã đắc tội lớn, tự phạt một chén, coi như để chuộc lỗi với Tô huynh!” Nói đoạn, liền một hơi uống cạn, rồi lại rót đầy một chén, giọng đầy cảm khái. “Từ lúc huynh bước qua cánh cửa sơn son, trái tim này của tại hạ cũng đi theo huynh. Không giấu Tô huynh, suốt đêm qua tại hạ không chợp nổi con mắt!”

Tô Tần vái Trương Nghi một vái dài: “Tô… Tô Tần bất… bất tài, khiến… khiến Trương… Trương Tử phải… lo… lo lắng!”

Trương Nghi lại nâng chén: “Bất tài hay không tạm chưa nói đến, Tô huynh có thể rời khỏi cung mà không sơ sảy lấy một cọng tóc, đủ thấy huynh phúc lớn mệnh lớn, có thể làm nên đại sự! Nào, chén này Trương Nghi chúc Tô huynh ước nguyện chóng thành, vạn sự viên mãn!”

Tô Tần nâng chén chạm với Trương Nghi, nói: “Tô… Tô Tần cảm… cảm… cảm tạ sĩ… sĩ tử… khen… khen ngợi!”

Cả hai cùng uống cạn. Sau đó, hai người cứ chén tạc chén thù, chưa đầy một canh giờ đã uống cạn hũ rượu. Trương Nghi, Tô Tần đều đã ngà ngà say, Trương Nghi nheo nheo đôi mắt lờ đờ nhìn Tô Tần: “Không dám giấu Tô huynh, lúc đầu tại hạ quả thực… quả thực rất coi thường huynh, không ngờ Tô huynh lại là… là một nhân tài! Trương… Trương Nghi phục… phục rồi!”

Vì có hơi rượu, Tô Tần đã mất hẳn bộ dạng rụt rè thường ngày, một tay nâng chén uống cạn, một tay chỉ vào Trương Nghi: “Tô… Tô Tần mặc… mặc dù… thân phận thấp… thấp hèn, song… song dù… dù gì… cũng có… có hiểu biết. Trương… Trương Tử nói… nói ra… lời… lời này, nay lại… lại gọi… gọi tại hạ là… là… là huynh đệ, cho dù… có… có thực… thực tâm… hay không, Tô… Tô Tần cũng sẽ… sẽ… sẽ ghi nhớ… trong… trong lòng!”

Trương Nghi vội nói: “Tô huynh, tại hạ thực tâm, có thể thề cùng trời đất!” Rồi đảo mắt một vòng, vẫy tay về phía tiểu nhị, gọi. “Tiểu nhị, bày hương án, hai vị thiếu gia đây sẽ kết nghĩa kim lan!”

“Thưa vâng!”

Một loáng sau, tiểu nhị đã bày xong hương án, thắp nến sẵn sàng, lại mang ra hai bát lớn, rót đầy rượu vào trong. Trương Nghi đứng dậy, kéo Tô Tần lên, rồi nắm chặt tay hắn, đi thẳng đến trước hương án, mỗi người đều tự thắp hương, rồi cùng quỳ xuống. Dưới sự chỉ dẫn của Trương Nghi, hai người tự cắn rách ngón tay, nhỏ máu vào trong bát rượu.

Trương Nghi khấu dập liền ba cái trước hương án, nói lớn: “Trời xanh chứng giám, Trương Nghi người Ngụy và Tô Tần người Chu nay kết nghĩa kim lan, Tô Tần lớn tuổi là huynh, Trương Nghi nhỏ tuổi là đệ. Từ ngày hôm nay, Trương Nghi nguyện cùng Tô Tần có phúc cùng hưởng, có hoạ cùng chia, cùng mưu nghiệp lớn với Tô huynh! Nếu trái lời thề, trời đất không dung!”

Tô Tần cũng khấu đầu ba lần trước hương án, vất vả lắp bắp từng chữ: “Trời… trời xanh… chứng giám, Tô… Tô Tần và Trương… Trương Tử… kết nghĩa kim… kim lan, nếu… nếu ngày sau… Tô Tần… có được… được phú quý… nhất… nhất định sẽ… không… hưởng… hưởng một mình, nếu… nếu trái… lời… lời thề, trời… trời… trời đất không… không… không… không dung!”

Đã thề xong, Trương Nghi, Tô Tần cùng nâng bát rượu lên, chạm bát cùng nhau, một hơi uống cạn.

Uống xong rượu kết bái, Trương Nghi gọi tiểu nhị đến, đưa túi tiền ra nói: “Đếm… đếm xem, đã đủ tiền rượu chưa?”

Tiểu nhị vội dốc túi tiền ra, thấy có hai lượng vàng, vội nói: “Đủ rồi đủ rồi, tiểu nhân sẽ lấy tiền trả lại!”

Trương Nghi xua tay: “Thôi… khỏi cần trả lại!”

Trương Nghi kéo tay Tô Tần, hai người bá vai bá cổ, cùng lảo đảo bước xuống cầu thang, đi ra ngoài phố. Trương Nghi nhìn Tô Tần, bật cười vang: “Ha ha ha ha, hôm nay kết nghĩa kim lan với Tô huynh, Trương Nghi đời này cũng đã có được huynh trưởng, thật sảng khoái!”

Tô Tần miệng nồng hơi rượu, nói: “Tô… Tô Tần có… có thể… cùng… cùng kết… kết nghĩa kim… kim lan… với Trương Tử, giống như nằm… nằm mơ vậy!”

Trương Nghi trợn mắt nhìn Tô Tần, ra vẻ tức giận: “Không được gọi là Trương Tử nữa, phải gọi là nghĩa đệ!”

Tô Tần lắc lắc đầu: “Không… không phải… nghĩa đệ, mà là… hiền… hiền đệ!”

Trương Nghi vỗ mạnh vào lưng Tô Tần, lại cười lớn mà nói: “Được, hiền đệ thì hiền đệ!”

Lại đi thêm mấy bước, dường như Trương Nghi sực nhớ ra chuyện gì, liền đứng khựng lại, rồi cười phá lên.

Tô Tần kinh ngạc: “Hiền… hiền đệ… sao… sao lại cười?”

Trương Nghi lại tiếp tục cười thêm một hồi nữa rồi mới dừng lại, cao giọng nói lớn: “Tô huynh, huynh còn nhớ ông lão xem tướng có cặp lông mày bạc trắng không? Cái gì mà ‘xa xem tiền đồ vạn dặm, gần đoán họa phúc sớm chiều’, hôm nay coi như đã rõ, đám thuật sĩ giang hồ đúng là toàn nói láo!”

“Hiền… hiền đệ… sao… sao lại… lại… nói vậy?”

Trương Nghi hừ một tiếng trong mũi: “Ông ta nói nội trong vòng một tháng, Tô huynh sẽ gặp được chuyện đại hỷ trong đời, còn Trương Nghi lại gặp phải chuyện đại hung. Tính ra hôm nay đã vừa tròn một tháng, chuyện hỷ của Tô huynh ở đâu? Chuyện hung của Trương Nghi ở đâu?”

Tô Tần gật gù nói: “Hiền… hiền đệ… nói… nói rất đúng, nghĩ đến… tình… tình cảnh của Tô… Tô Tần, ăn… ăn no… no bụng đã… đã chẳng phải… chuyện… chuyện dễ, làm gì… có chuyện… chuyện được làm… làm tới… chức… chức… khanh…”

Chữ “tướng” còn chưa nói dứt, Tô Tần đã lảo đảo ngã gục xuống đất, mấy lần gắng gượng đứng dậy nhưng không đứng lên nổi. Trương Nghi đưa tay kéo, nhưng cũng ngã dúi dụi theo. Hai người liền nằm luôn trên phố, ngửa mặt lên trời nói chuyện, đầu đối đầu nhau, như hình chữ nhất, chắn mất quá nửa con đường.

Trương Nghi nói: “Không giấu Tô huynh, chỉ cần đợi đến ngày mai, nghĩa đệ sẽ đi tìm lão già đó đối chất, xem lão còn nói được gì? Nếu lão nói năng lọt tai, cầu xin đệ vài câu, may ra đệ chịu bỏ qua cho. Nếu lão ăn nói khó nghe, đệ sẽ xé luôn cờ phướn của lão xuống đất mà giày xéo!”

Đúng vào lúc này, trên quãng đường phía trước không xa, Tô Đại và hai người thanh niên đang đi đến.

Một người nói: “Này Tô Đại, trong thành đông đúc thế này, chúng ta đã tìm cả nửa ngày trời mà không thấy, giờ biết đi đâu tìm đây?”

Tô Đại thở dài: “Tìm không thấy cũng phải tìm!”

Một người khác nói: “Ôi trời, nếu quả đúng là tìm không thấy thì vui rồi, bên này tân nương một mình ôm giường cưới, bên kia tân lang tiêu diêu tận đẩu đâu! Không phải nói khoác, trong thôn Hiên Lý của chúng ta, đúng là lần đầu tiên có cảnh khuê nữ một mình vào động phòng thế này đấy, thực tình!”

Tô Đại liền cự nự: “Thực cái đầu ngươi! Cha đang ở nhà bày hỷ sự, mở tiệc ăn mừng, nếu chúng ta không tìm được anh hai, không biết cha sẽ phải dàn xếp ra sao đây?”

Đang lời qua tiếng lại, một người bỗng liếc thấy phía xa có hai người đang nằm dài trên đường, thì ngạc nhiên kêu lên: “Nhìn kìa, trước mặt có hai gã say rượu!”

Người kia vội vàng dụi mắt: “Tô Đại, nhìn kìa, người bên phải trông rất giống anh hai ngươi!”

Tô Đại trố mắt ra nhìn, rồi mừng rỡ kêu toáng lên: “Đúng là anh hai! Mau lên!”

Ba người vội vàng chạy lại gần. Tô Đại dựng Tô Tần dậy, vừa lay vừa gọi: “Anh hai! Anh hai! Mau tỉnh lại đi!”

Tô Tần dụi mắt hỏi: “Ai… ai gọi… gọi ta?”

“Là em đây, Tô Đại, cha bảo anh về ngay!”

“Cha… cha cái gì, ta… ta… ta không về!”

Trương Nghi nghe thấy, liền bò dậy, ngồi bệt trên đất: “Xin hỏi, nhân huynh là ai, cớ sao lại lôi kéo Tô huynh?”

Tô Đại ôm quyền nói: “Tại hạ là Tô Đại, Tô Tần là anh hai của tại hạ. Gia phụ ở nhà muốn gặp anh hai, nên mới bảo tại hạ đi tìm về!”

Tô Tần tiếp lời: “Hiền… hiền đệ, đừng… đừng để… để ý tới… tới hắn, chúng… chúng ta đi mau… mau, ta muốn… muốn học nghệ… để cùng… cùng hiền đệ… mưu… mưu tính… đại phú… đại… đại quý!”

Trương Nghi lảo đảo đứng dậy, vòng tay vái Tô Đại: “Tô huynh đệ, xin hỏi tại sao lệnh tôn lại muốn gặp Tô huynh?”

Tô Đại vòng tay đáp lễ, do dự một lát rồi đáp lời: “Gia phụ nói mình sắp qua đời, muốn được gặp mặt anh hai lần cuối!”

Trương Nghi cả kinh, vội vòng tay vái: “Chuyện đã như vậy, xin được giao lại Tô huynh cho các hạ, Trương Nghi bái biệt tại đây!”

Lúc này, Tô Tần người đã mềm nhũn, bắt đầu ngáy khò khò. Tô Đại bảo người đi cùng gọi đến một cỗ xe lừa, ba người cùng khiêng Tô Tần lên xe, chào từ biệt Trương Nghi, rồi lập tức quay về.

Thấy cỗ xe đã đi xa, Trương Nghi cũng xoay người, chân nam đá chân chiêu đi về Quý Nhân Cư. Vừa vào đến sân, hơi rượu trong người lại bốc lên, hai chân xiêu vẹo suýt nữa thì ngã quay, nên vội vàng bám vào tường mà lần đi, trong đầu vẫn nhớ chuyện ngày mai, bèn lảm nhảm một mình: “Chuyện cực hung trong đời, không gì bằng cha mất. Nếu như cha Tô huynh mất, đương nhiên là đại tang. Hôm nay vừa tròn ba mươi ngày, nếu như Tô huynh gặp đại tang, thì lời của lão già kia cũng không phải là phét lác!”

Đi thêm mấy bước, Trương Nghi bỗng khựng lại, rồi tiếp tục lầm bầm: “Coi như lời của lão già kia ứng nghiệm, nhưng cũng chỉ ứng nghiệm một nửa, hơn nữa một nửa này lại là đảo lộn tùng phèo. Chuyện Tô huynh gặp phải, đương nhiên là chuyện đại hung trong đời, chứ đâu phải đại hỷ?” Nói rồi bật cười một tràng dài, lại tựa vào tường, ngẫm ngợi một chốc, rồi lầm bầm tiếp. “Ồ, nếu nói như vậy, chính là hỷ tang đảo lộn. Nếu Tô huynh đã gặp chuyện đại hung, hẳn ta sắp gặp chuyện đại hỷ rồi! Trời đã sắp tối, chuyện đại hỷ của ta đang ở nơi đâu? Xem ra lão già mày trắng kia cũng chỉ phán bừa! Ha ha ha, lá phướn của lão chỉ ngày mai thôi sẽ bị ta giật xuống là chắc!”

Tiểu Thuận nghe thấy tiếng cười, vội vàng chạy ra, vừa thấy Trương Nghi đã gọi giật: “Thiếu gia, cuối cùng thì cậu đã về rồi!”

Trương Nghi liền quát vỗ mặt: “Tên tiểu tử nhà ngươi chết rấp ở đâu thế, mau dìu… dìu ta về!”

Tiểu Thuận chạy lại dìu Trương Nghi: “Thiếu gia, Trương bá gửi thư gấp đến, tiểu nhân đã tìm cậu khắp nơi, mà không biết cậu đi đâu mất?”

Nghe thấy nhà gửi thư gấp, Trương Nghi lập tức tỉnh rượu, nhìn trừng trừng vào Tiểu Thuận: “Thư của Trương bá? Thư… thư đâu?”

Tiểu Thuận vội vàng lôi ra một cuộn thẻ tre từ trong ống tay áo, đưa cho Trương Nghi. Trương Nghi nhận lấy, miệng lẩm bẩm: “Lẽ nào… thực sự có tin vui?”

Trương Nghi trong dạ hoài nghi, vì đã quá chén nên tay có phần lập cập, vươn ra mấy lần mà vẫn không nắm chắc được cuộn thẻ tre. Tiểu Thuận nhìn thấy sốt ruột, giật cuộn thẻ tre lại, giở ra ngay trước mắt Trương Nghi. Vừa đọc được hai câu, Trương Nghi mặt mũi thình lình biến sắc. Lại đọc thêm mấy dòng nữa, bỗng rú lên một tiếng thảm thiết “Mẹ ơi…” rồi ngã gục xuống đất, bất tỉnh nhân sự.

Tiểu Thuận giật mình kinh hãi, liếc vội qua thư, không nói thêm lời nào, cấp tập đi đóng xe ngựa, rồi đi gặp chủ nhà trọ, thanh toán tiền phòng, sau đó lại chạy lên phố mua ít lương khô, vác Trương Nghi lên xe, rồi khẩn cấp đánh xe về phía Hà Tây.

***

Trời đã quá trưa, cung chính trong tay cầm một hộp gấm, lật đật đi vào cung Tịnh An. Sau khi hành lễ xong xuôi, hai tay dâng lên hộp gấm, nói: “Nương nương, thứ mà nương nương muốn, lão nô đã tìm thấy!”

“Được!” Vương hậu vẫn nằm trên giường, khẽ vươn người dậy, đưa ngón tay chỉ vào bàn trang điểm. “Để đó!”

Cung chính đứng dậy, đi đến trước bàn trang điểm, suy nghĩ một lát, rồi kéo một ngăn kéo, đặt hộp gấm vào trong, quay sang nói với vương hậu: “Nương nương, lão nô đặt nó ở ngăn kéo bên trái!”

Vương hậu gật đầu, dặn dò đám cung nữ: “Các người lui hết ra, bản cung thấy mệt, muốn nghỉ ngơi một lát!”

Đám cung nữ lần lượt lui ra, cung chính đi sau cùng, tiện tay khép cửa lại.

Thấy toàn bộ mọi người đều đã đi hết, vương hậu mới vội vàng ngồi dậy, lấy từ trong tay áo ra chiếc túi gấm của Quỷ Cốc Tử, giở cuộn lụa ra, hai mắt nhìn chăm chăm vào từng dòng chữ viết. Một lát sau vương hậu mới đặt tấm lụa xuống, đôi mắt ướt đẫm những lệ, khiến cảnh tượng trước mắt trở nên nhoà nhạt.

Ngẩn ngơ một lát, vương hậu bèn xuống giường, bước tới trước bàn, cắn rách đầu ngón tay, nhỏ mấy giọt máu tươi vào trong nghiên, rồi chấm bút lông, lại viết thêm vài dòng chữ lên trên tấm lụa. Ngắm nghía một hồi, bèn cẩn thận gấp lại, đặt vào trong túi gấm, lấy kim khâu kín, trở lại trước giường, rồi quay ra phía ngoài gọi khẽ: “Người đâu!”

Cung chính vẫn đứng hầu ngoài cửa, nghe thấy tiếng gọi, vội vã chạy vào: “Nương nương có điều gì căn dặn?”

Vương hậu mỉm cười: “Mấy ngày nay bản cung có bệnh, cũng khiến ngươi phải vất vả nhiều!”

“Đều do lão nô không tốt, chưa hầu hạ nương nương chu đáo, khiến nương nương phải chịu nhiều mệt nhọc!”

Vương hậu chậm rãi nói: “Là do thân thể bản cung không tốt, sao có thể trách ngươi? Nhưng hiện giờ, bản cung cảm thấy khoẻ hơn nhiều, muốn ngủ một giấc dài. Ngươi hãy đứng canh trước cửa, bất kể là ai, cũng không được cho vào cung quấy rầy!”

Cung chính thấy vương hậu tâm bình khí tĩnh, khí sắc quả thực đã tốt hơn, nên cũng không nghĩ ngợi nhiều, liền gật đầu vâng lệnh: “Nương nương an tâm, lão nô sẽ đứng canh ngoài cửa, không rời nửa bước!”

Vương hậu lấy ra túi gấm dưới gối: “Đến khi trời tối, nếu bệ hạ có đến, ngươi hãy nói bản cung đang ngủ, rồi giao lại vật này cho bệ hạ, nói là bản cung gửi cho người.”

Cung chính đưa hai tay nhận lấy, hai mắt nhìn vào túi gấm, hơi lấy làm lạ: “Nương nương, vật này…”

Vương hậu lại điềm tĩnh mỉm cười: “Không có gì, là phương thuốc trị bệnh!”

Cung chính nghe nói là phương thuốc trị bệnh, lập tức yên dạ, quay người bước ra, nhẹ nhàng khép cánh cửa lại.

Lúc này, trong cung Tịnh An rộng thênh thang chỉ còn lại một mình vương hậu. Không gian yên ắng lạ thường. Bên cửa, giọt đồng hồ tí tách nghe rõ ràng từng tiếng.

Vương hậu nằm trên giường một lát, dường như sực nhớ ra chuyện gì, lại chậm rãi xuống giường, bước tới bên cửa sổ, ngắm nghía chiếc bình ngọc bị Hiển Vương đập vỡ đã được bà gắn lại.

Chiếc bình ngọc vẫn trang trọng thanh thoát như cũ, tràn trề khí phách của vương gia. Đúng thế, bà đã nhặt lại từng mảnh vỡ, với một sự khéo léo tuyệt vời, ghép lại chiếc bình gần như hoàn hảo.

Vương hậu từ từ quỳ xuống, nhìn sững vào chiếc bình, hồi lâu sau mới thở dài một tiếng, rồi khẽ thì thầm: “Bệ hạ, thần thiếp… thần thiếp chỉ có thể làm được đến vậy!”

Vương hậu lạy chiếc bình mấy lạy, sau đó từ từ đứng dậy, đi tới trước bàn, rồi ngồi xuống, bắt đầu soi gương trang điểm.

Vương hậu chải chuốt lại mái tóc dài, búi thành kiểu tóc mà Hiển Vương yêu thích nhất, sau đó tô vẽ đôi mày, se mặt. Rồi lại quay sang mở tủ quần áo, lần lượt khoác lên người những trang phục hoa lệ mà bà đã từng mặc trong ngày xuất giá. Cuối cùng, đội lên đầu chiếc mũ phượng của vương hậu.

Vương hậu điềm tĩnh, thong thả hoàn thành tuần tự từng việc, sau đó quay trở lại bên bàn trang điểm, ngồi xuống trước gương.

Trong gương phản chiếu một nhan sắc kiêu sa tuyệt thế không chút khác xưa của vương hậu Đại Chu.

Vương hậu ngắm nghía một hồi, sau đó mở ngăn kéo dưới bàn trang điểm, lấy hộp gấm ra, rồi nhấc lấy lọ sứ trong hộp, tay mở nắp bình, hai mắt nhắm nghiền, môi đào hé mở, chỉ nghe “ực” một tiếng, đã uống cạn.

Vương hậu đặt cái lọ trống rỗng trở lại trong hộp, cất hộp vào ngăn kéo, sau đó lảo đảo đi đến bên giường, từ từ nằm xuống, kéo chăn gấm lên, hai mắt khép lại.

Ngoài cửa, cung chính tuân theo chỉ ý của vương hậu, nghiêm túc đứng canh. Trong khoảng hai canh giờ, trước sau tổng cộng có ba người đến thăm, một là Cơ Vũ, hai là Tây Chu Công, ba là nội tể. Cung chính chỉ truyền lại lời của vương hậu ba lần, không một ai dám bước vào trong.

Trời đã sẩm tối, Chu Hiển Vương cảm thấy không yên tâm, liền đích thân tới thăm. Cửa cung vẫn đóng im ỉm, cung chính vẫn mẫn cán đứng canh bên ngoài. Thấy bệ hạ đích thân giá lâm, cung chính vội quỳ xuống khấu bái: “Bệ hạ, nương nương đã dặn, muốn ngủ một giấc dài, bất kể là ai cũng không được quấy rầy.”

Hiển Vương lừ mắt nhìn cung chính: “Quả nhân cũng không được ư?”

“Là nương nương đã căn dặn như vậy!” Cung chính đáp, rồi lấy từ trong ống tay áo ra chiếc túi gấm. “Nguyên lời của nương nương là, đến khi trời tối, nếu bệ hạ có đến, ngươi hãy nói bản cung đang ngủ, rồi giao lại vật này cho bệ hạ, nói rằng bản cung gửi cho người!”

Hiển Vương vô cùng kinh ngạc, nhận lấy túi gấm, thấy nơi miệng túi là những đường kim dày đặc đều đặn, biết là do vương hậu đích thân khâu, bèn vội vàng dỡ chỉ, lấy ra cuộn lụa ở bên trong. Vừa liếc mắt qua, long nhan đại biến, lập tức xô bật cung chính, đẩy tung cánh cửa, lảo đảo lao vụt đến trước giường, hét lớn: “Tử đồng…”

Cung chính, nội tể đều đứng nghệt ra, đưa mắt nhìn nhau một thoáng, rồi lập tức chạy theo vào trong, nhìn thấy vương hậu phục sức đã thay, thần thái an định nằm yên trên giường. Hiển Vương gục đầu trên cơ thể bà, gào khóc thảm thiết.

Không cần hỏi thêm, nội tể biết ngay chuyện gì đã xảy ra, lập tức quay người gọi lớn: “Mau, truyền thái y!”

Cung chính lao đi như bay, chốc lát sau đã dẫn thái y cấp tốc vào cung Tịnh An. Thái y bắt mạch tượng, kiểm tra hơi thở, rồi run rẩy bẩm báo: “Nương nương đã đi rồi!”

Nội tể kinh hoàng hỏi: “Lúc trưa nương nương vẫn còn khoẻ mạnh, tại sao đột nhiên lại như vậy?”

“Hạ quan cũng không biết! Với bệnh của nương nương, kiểu gì cũng không thể nhanh như vậy được!”

Cung chính đột nhiên sực nhớ ra một chuyện, hốt hoảng chạy tới trước bàn trang điểm, đưa tay mở ngăn kéo, lấy hộp gấm ra. Mở ra xem, thấy bên trong chi còn chiếc lọ rỗng, bèn quỳ sụp xuống đất, khóc rống lên: “Nương nương, lão nô đã hại người rồi!”

Thái y bước tới cầm lấy lọ, nhìn kỹ một chặp, đổ một giọt còn sót lại trong bình lên mặt bàn trang điểm, ghé mũi ngửi thử, rồi chết lặng tại chỗ, thấp giọng kêu lên: “Than ôi, nương nương đã uống thuỷ ngân rồi!”

Nội tể giật bắn mình: “Thuỷ ngân? Nương nương lấy đâu ra thuỷ ngân?”

Cung chính khóc mà nói: “Là lão nô mang đến! Vào giờ Ngọ, nương nương sai lão nô tìm lấy một ít thuỷ ngân, nói rằng phương thuốc trị bệnh cần dùng đến. Lão nô không biết nội tình, cứ nghĩ rằng là thang dẫn cho phương thuốc, nên đã tìm kiếm khắp nơi, khó khăn lắm mới kiếm được lọ thuỷ ngân này về cho nương nương. Ai ngờ nương nương…” Nói rồi gào khóc thảm thiết. “Nương nương, nương nương… tại sao người lại phục phương thuốc này?”

Nội tể đã hiểu ra ngọn ngành, vội vã bước tới trước mặt thái y, giật phắt lấy lọ đựng thuỷ ngân, cất luôn vào trong tay áo, rồi nghiêm giọng nói với cung chính, thái y: “Các ngươi đều thấy rõ rồi, là nương nương bệnh lâu ngày không qua khỏi, nên mới về trời, làm gì có thuỷ ngân nào!”

Cung chính, thái y lập tức hiểu ra, vội vã đáp lời: “Tiểu… tiểu nhân biết sai!”

Nội tể đi tới trước giường, từ từ đỡ Hiển Vương đang khóc ngất dậy. Cung chính tìm lấy một vuông nhiễu trắng, phủ lên trên mặt vương hậu. Nội tể quay sang, lớn giọng tuyên bố với đám cung nhân: “Nương nương bệnh nặng lâu ngày không qua khỏi, đã về trời, cả nước để tang!”

Lập tức trong cung tiếng khóc lóc dậy trời, bi thương khôn xiết. Chỉ một lát sau, từng hồi chuông tang đã vẳng khắp vương cung.

Thị nữ của Cơ Vũ từ xa nhìn thấy nhiều người hối hả chạy về phía cung Tịnh An, lại mơ hồ nghe thấy tiếng khóc hờ thảm thiết, không biết đã xảy ra chuyện gì, liền chặn một người lại hỏi, mới biết nương nương đã qua đời.

Thị nữ kinh hãi đến bàng hoàng, đứng chết lặng một hồi lâu, sau đó mới cố ghìm nước mắt, chạy như bay về phía tẩm cung của công chúa, lao vụt vào trong sân. Thấy công chúa đang ngồi ngay ngắn bên ao sen, trước mặt là một giá đàn, trên giá là cây đàn thất huyền đầu phượng mà Cơ Tuyết đã tặng. Bên cạnh công chúa đặt một tay nải nhỏ, bên trong đựng quần áo và vài món đồ tế nhuyễn. Đợi đến khi trời tối, công chúa sẽ cùng vương hậu mãi mãi rời khỏi chốn thị phi này. Giờ đây, Cơ Vũ không có suy nghĩ gì khác, chỉ muốn đàn một khúc, cho phụ vương, cho người chị gái, và cũng cho cấm cung nhỏ bé nơi Cơ Vũ đã sống gần mười lăm năm nay.

Cơ Vũ vẫn đàn hai khúc Cao sơnLưu thủy. Với hai khúc nhạc này, Cơ Tuyết và Cơ Vũ lại có sở thích khác nhau, Cơ Tuyết thích Lưu thủy, còn Cơ Vũ lại thích Cao sơn. Lúc này, Cơ Vũ trông vật nhớ người, hoài niệm chị gái, tâm tư muôn mối rối bời, ngón tay lướt nhẹ, một khúc Lưu thuỷ dìu dặt vang khắp khu vườn.

Cùng với tiếng đàn, trước mắt Cơ Vũ cũng dường như thấp thoáng muôn vàn cảnh tượng: dòng nước lững lờ không chốn dừng chân, cánh hoa rơi rụng chao theo cơn gió, đường đưa dâu đến nước Yên xa xăm diệu vợi, và người chị Cơ Tuyết có lẽ không còn có ngày về.

Thị nữ không thể nghe tiếp được nữa, chạy tới quỳ đánh phịch xuống đất, khóc oà lên nức nở: “Công chúa…”

Cơ Vũ tay vẫn gảy đàn, chỉ hơi ngẩng đầu lên, nước mắt lưng tròng, ngạc nhiên nhìn thị nữ.

Thị nữ nấc nghẹn: “Công chúa, nương nương… nương nương…”

Cơ Vũ bỗng thấy lòng mình thắt lại, ngón tay run bắn, nhưng vẫn chưa rời khỏi dây đàn, vì trái tim nàng vẫn chưa rời khỏi khúc Lưu thuỷ, chỉ đưa đôi mắt ướt nhoà nhìn trân trối vào thị nữ như muốn hỏi.

Thị nữ khóc thảm thiết mà nói: “Nương nương… nương nương đã… đã băng rồi!”

Một chữ “băng” như sét đánh ngang trời, Cơ Vũ lặng người ngây dại, những ngón tay đang lướt nhẹ cũng lập tức cứng đơ trên dây đàn, hai mắt đờ đẫn nhìn sững vào thị nữ.

Thị nữ hốt hoảng hỏi: “Công chúa! Công chúa làm sao vậy?”

Cơ Vũ vẫn ngồi chết lặng tại chỗ.

Thời gian như đông cứng. Cơ Vũ một tay lơ lửng trong không, một tay buông trên phím đàn, toàn thân cứng đơ như hoá đá.

Thị nữ kinh hoàng tột độ, vội hét thật lớn: “Công chúa! Công chúa! Công chúa…”

Hồi lâu sau, Cơ Vũ mới từ từ giơ cánh tay còn lại lên, giơ cao, giơ đến lúc không thể cao hơn được nữa.

Đột ngột, cả hai tay Cơ Vũ thình lình rơi vụt xuống, đập thẳng xuống mặt đàn. Một sợi dây đàn lập tức đứt tung, ngón tay phải bị dây đàn cứa đứt, máu tươi tứa ra ròng ròng.

Thị nữ rú lên: “Công chúa…”

Cơ Vũ vẫn không đáp lời, mười đầu ngón tay hạ xuống như mưa, hai hàng nước mắt ròng ròng chảy xuống như châu lăn, chỉ một lát sau, toàn bộ cây đàn đầu phượng đã ướt đẫm máu và nước mắt của Cơ Vũ, từng giọt từng giọt như mai rụng trong mưa.

Cơ Vũ đàn xong khúc Lưu thuỷ, rồi lại ngồi đờ đẫn như khúc gỗ trước đàn suốt một canh giờ, sau đó mới chậm chạp đứng dậy, đưa tay lau giọt lệ bên khoé mắt, ôm lấy cây đàn đầu phượng, xách tay nải lên, nhích từng bước lê về phía cung Tịnh An.

Khắp vương thành đèn nến lập loè, chuông tang rền rĩ.

Dưới sự dàn xếp mẫn cán của nội tể, cung Tịnh An đã hoàn toàn thay hình đổi dạng. Linh sàng đặt ở chính giữa, vương hậu nằm im lìm trên linh sàng, cơ thể được phủ dưới một lớp nhiễu trắng.

Chu Hiển Vương mình mặc áo trắng, đứng trước linh sàng, thần tình đờ đẫn, mắt nhìn trân trân vào vương hậu.

Hai bên linh sàng, các phi tần lớn nhỏ quỳ theo thứ tự, vài vương tử và tiểu công chúa đều mặc tang phục, khấu đầu sát đất, không khí trĩu nặng đau thương.

Cơ Vũ vẫn mặc nguyên bộ trang phục giản dị, một tay ôm đàn, một tay xách tay nải, đứng thẫn thờ trước cửa. Nội tể nhìn thấy, vội vàng mang đến một bộ quần áo vải sô cho Cơ Vũ mặc vào, rồi lại phủ lên đầu nàng một dải khăn trắng, còn một dải nữa quấn ở ngang hông. Khi nội tể làm những việc này, Cơ Vũ vẫn mặt mày ngây dại, không khóc, cũng không cử động, chỉ giương hai mắt đờ đẫn nhìn vào linh sàng, chẳng khác gì pho tượng đất.

Nội tể làm xong mọi việc, Cơ Vũ lại ôm lấy cây đàn, chậm chạp đi tới trước linh sàng, đặt cây đàn xuống bên cạnh vương hậu, rồi từ từ lật tấm nhiễu trắng lên.

Vương hậu nằm đó im lìm, hai mắt nhắm nghiền, tựa như trong giấc ngủ say. Cặp mày ngài của bà vẫn nhíu lại như thường nhật.

Cơ Vũ lặng lẽ nhìn trân trân vào vương hậu. Một lát sau, nàng vươn hai tay ra, nhẹ nhàng vuốt ve hai đầu mày của vương hậu, muốn vuốt cho vầng trán bà phẳng phiu trở lại, song hai đầu mày vẫn nhíu nguyên như cũ.

Cơ Vũ nhẹ nhàng áp má vào bên má mẫu hậu, trong miệng rì rầm, không biết nói những lời gì. Lại một lúc sau, Cơ Vũ mới ngẩng đầu lên, đưa tay vuốt ve trên ấn đường vương hậu. Cuối cùng hai hàng lông mày mảnh dẻ cũng đã giãn ra, lúc này, trông vương hậu thực hiền từ và bình thản.

Sau khi vuốt phẳng phiu vầng trán cho vương hậu, Cơ Vũ lại không phủ tấm nhiễu trắng lên, tựa như vương hậu vẫn đang còn sống. Nàng mở hộp đàn ra, dựng giá đàn ngay trước linh sàng, rồi đặt cây đàn đầu phượng của Cơ Tuyết lên trên, ngồi xuống bên cạnh mẫu thân, quay mặt nhìn vào bà, tay nhẹ nhàng gảy đàn.

Mặc dù chỉ còn sáu sợi dây, nhưng trong tay Cơ Vũ, thiếu mất một dây, lại khiến âm điệu càng thêm bi thiết thảm sầu. Vẫn là một khúc Lưu thuỷ, có điều dòng nước lúc này tựa như đang nỉ non dưới lớp băng lạnh buốt, như khóc như than, song không ai thấy được.

Cơ Vũ lặng lẽ ngồi, rồi lặng lẽ đàn, đàn hết lần này đến lần khác, không có nước mắt, cũng không có tiếng khóc.

Không biết đã đàn bao lâu, cũng chẳng biết đã đàn bao nhiêu lần. Trời tối sập, đêm đã về khuya. Không biết từ bao giờ, các phi tần, tiểu công tử, tiểu công chúa quỳ bên giường vương hậu đã lặng lẽ rời đi. Chỉ còn lại cung chính, nội tể và Hiển Vương vẫn còn quỳ trước giường, nuốt nước mắt nghe Cơ Vũ thổn thức.

Cuối cùng, Chu Hiển Vương cũng đã cử động. Hiển Vương từ từ quay người, lặng lẽ nhìn con gái. Lại một hồi sau, Hiển Vương mới chật vật đứng dậy, nhích lại vài bước, rồi ngồi xuống bên cạnh Cơ Vũ, nhẹ nhàng vuốt mái tóc của nàng.

Những ngón tay của Cơ Vũ mỗi lúc một chậm dần, đôi mắt nhắm nghiền, nước mắt từ từ lăn xuống.

Đột nhiên, không thể nhẫn nhịn thêm được nữa, Cơ Vũ xoay người sang, vùi đầu vào lòng Hiển Vương, gào khóc nức nở: “Phụ vương…”

Chu Hiển Vương ôm chặt lấy Cơ Vũ, tựa như sợ hãi bị ai đó cướp mất con gái từ trong lòng mình.

Hai cha con ôm chặt lấy nhau, Cơ Vũ không bộc phát thì thôi, khi đã bộc phát thì không thể nào kìm nén. Cơ Vũ cứ vùi đầu vào lòng Hiển Vương, hết gào khóc thê thảm, lại nức nở nghẹn ngào, không biết đã khóc bao lâu mới chịu dừng lại, rồi đẩy Hiển Vương ra, quỳ sụp xuống đất, ngẩng đầu gọi: “Phụ vương!”

Hiển Vương nhìn Cơ Vũ: “Vũ Nhi, có điều gì, con cứ nói đi!”

Cơ Vũ do dự một thoáng, rồi khóc nấc mà nói: “Vũ Nhi không thể tận hiếu, Vũ Nhi không thể hầu hạ phụ vương, Vũ Nhi… Vũ Nhi cũng phải đi đây!” Nói xong, nước mắt lại tuôn trào như mưa, chậm rãi dập đầu khấu lạy. Một lạy, hai lạy, rồi ba lạy…

Song Cơ Vũ thật không ngờ rằng, dường như Hiển Vương đã sớm biết chuyện này, không hề tỏ ra ngạc nhiên, chỉ lặng lẽ nhìn đăm đăm vào Cơ Vũ.

Cơ Vũ khóc gọi: “Phụ vương…”

Hiển Vương chậm rãi hỏi: “Vũ Nhi, con đi đâu?”

“Núi Vân Mộng!”

Hiển Vương từ từ nhắm hai mắt lại. Hồi lâu, một giọng nói bỗng như bật ra từ tận sâu trong cổ họng: “Đi đi! Quỷ Cốc Tử tiên sinh đang đợi con!”

Lại thành ra Cơ Vũ giật mình sửng sốt: “Phụ vương, sao người lại biết?”

Chu Hiển Vương rút từ trong tay áo ra chiếc túi gấm mà vương hậu đã trao lại, đưa cho Cơ Vũ, chậm rãi nói: “Mẫu hậu của con nói, đây là một phương thuốc,” sau đó ngoảnh sang vương hậu, ngưng lại một lát, nước mắt tràn mi, lầm rầm trong tiếng nghẹn ngào, “là một phương thuốc bí mật!”

Hiển Vương cứ lặp đi lặp lại “là một phương thuốc bí mật”, càng nói càng đau xót, rồi gục xuống người vương hậu, bật khóc thảm thiết.

Cơ Vũ nhận ra đó chính là chiếc túi gấm mà Tô Tần đã nhờ đưa cho vương hậu, bèn vội vàng mở ra. Bên trong có một tấm lụa, trên tấm lụa là hai hàng chữ mực đen do chính tay Quỷ Cốc Tử viết: “Thiên tài tu đạo, Quỷ Cốc tái sinh. Đưa ve về rừng, hoá giải phân tranh”. Bên dưới tấm lụa là một hàng chữ nhỏ mà vương hậu đã viết bằng máu của chính mình: “Bệ hạ, muốn đi theo tiên sinh, nhưng khó dứt tình; muốn đi cùng bệ hạ, sài lang không dung, ơn vua, xã tắc, nguyện xưa, buồn nay, thần thiếp tiến thoái lưỡng nan, chỉ còn cách vĩnh biệt. Khẩn cầu bệ hạ, nghe lời thần thiếp. Tuyết Nhi phải gả đi xa, đã cam khổ mệnh. Chỉ còn Vũ Nhi, gửi gắm tiên sinh…”

Cơ Vũ ôm chặt túi gấm vào trước ngực, từ từ quỳ xuống trước thi thể vương hậu, rồi khóc lớn mà nói: “Mẫu hậu, mẫu hậu, người đã đồng ý với Vũ Nhi là sẽ đi cùng kia mà, mẫu hậu…”

Hiển Vương quay lại, nhẹ nhàng vuốt tóc Cơ Vũ: “Đi đi, con gái! Hãy nghe lời mẫu hậu, đi theo tiên sinh, đi càng xa càng tốt!”

Cơ Vũ ngước đôi mắt đầm đìa những lệ, nhìn sững vào Hiển Vương một chốc, rồi giọng đầy lo lắng: “Phụ vương, còn phía người Tần…”

Hiển Vương ngẩng mặt lên trời, than dài một tiếng, rồi chậm rãi nói: “Sinh ly tử biệt, nước mất nhà tan, quả nhân đã chẳng còn chi, họ còn làm được gì nữa?”

Nói đoạn, nâng tay áo lên lau nước mắt, lại nhìn Cơ Vũ, khẽ ngâm nga:

Lúa tẻ lên mạ,

Lúa nếp xanh rì.

Trong lòng thảng thốt,

Bước chân lầm lì.

Kẻ hiểu ta, nói ta sầu bi.

Kẻ không hiểu ta, hỏi ta tìm gì.

Cao xanh thăm thẳm,

Bởi vì ai kia?

Đây là một bài thơ trong Vương phong mà từ nhỏ Cơ Vũ đã thuộc lòng, song hàm ý sâu xa của nó, phải đến khi Hiển Vương ngâm lên trong tình cảnh này, Cơ Vũ mới thực sự thấm thía. Giọng ngâm của Hiển Vương chậm rãi mà trầm buồn, trong nỗi đau thương có pha chút tình bi tráng, Cơ Vũ nghe mà trong lòng nổi sóng, bất giác cũng ngẩng đầu, gượng nuốt lệ mà cùng ngâm. Trong linh đường chốc lát đã ngân nga tiếng ngâm bi thiết của hai cha con:

Lúa tẻ đòng trổ,

Lúa nếp xanh rì.

Trong lòng chao đảo,

Bước chân lầm lì.

Kẻ hiểu ta, nói ta sầu bi.

Kẻ không hiểu ta, hỏi ta tìm gì.

Cao xanh thăm thẳm,

Bởi vì ai kia ?

Lúa tẻ kết hạt,

Lúa nếp xanh rì.

Trong lòng nghẹn đắng,

Bước chân lầm lì.

Kẻ hiểu ta, nói ta sầu bi.

Kẻ không hiểu ta, hỏi ta tìm gì.

Cao xanh thăm thẳm,

Bởi vì ai kia.(2)

Trời đã gần sáng, đằng đông mới hửng, Cơ Vũ mặc tang phục trên người, lưng đeo cây đàn đầu phượng, vai khoác tay nải, bái biệt phụ vương, vĩnh biệt mẫu hậu, mang theo bảo kiếm, rồi mở cổng bên, đi thẳng tới miếu Hiên Viên phía đông thành.

Cơ Vũ đi ra cổng đông, hỏi thăm hai người đi đường, cuối cùng cũng tìm thấy ngôi miếu hoang.

Lúc này, trái tim Cơ Vũ hệt như một con thỏ non vừa thoát chết, vừa sợ hãi, vừa căng thẳng. Sợ hãi là vì nếu tiên sinh không ở trong miếu, Cơ Vũ sẽ ra sao? Còn căng thẳng là vì nếu tiên sinh có trong miếu, song mình đường đột mà đến, liệu tiên sinh có chịu tiếp nhận hay chăng?

Cửa miếu chỉ khép hờ. Cơ Vũ khẽ gõ nhẹ, lát sau, tiểu đồng ra mở cửa. Nhìn thấy tiểu đồng, cảm giác sợ hãi phấp phỏng của Cơ Vũ mới bớt đi vài phần. Cơ Vũ vòng tay vái, rồi hỏi tiểu đồng: “Xin hỏi tiểu đồng, Quỷ Cốc tiên sinh có ở đây chăng?”

Tiểu đồng đang quét dọn sân miếu, trong tay vẫn cầm cây chổi, thấy Cơ Vũ phục sức tuyền một màu trắng thì kinh ngạc, lại nhìn kỹ một chặp, rồi mới vòng tay vái lại, khẽ giọng hỏi: “Chị là Ngọc Thiền ư?”

Cơ Vũ thầm ngạc nhiên: “Ngọc Thiền? Ta…”

Tiểu đồng đã chắc chắn là nhận đúng người, bèn chỉ vào đại điện: “Chị Ngọc Thiền, gia sư đang đợi trong miếu!”

Cơ Vũ đi vào trong điện, đưa mắt nhìn quanh. Toàn bộ miếu điện trong ngoài đều được quét dọn tinh tươm, tất cả đồ vật đều được xếp dọn gọn gàng, bụi bặm trên tượng Hiên Viên cũng đã được lau sạch. Rõ ràng họ đang chuẩn bị rời đi. Quỷ Cốc Tử ngồi ngay ngắn trước pho tượng Hiên Viên, hai mắt khép hờ.

Cơ Vũ đặt hộp đàn xuống, quỳ trên mặt đất, phấp phỏng lên tiếng: “Tiểu nữ khấu kiến tiên sinh!”

Quỷ Cốc Tử vẫn nhắm hờ hai mắt, dường như không nghe thấy tiếng của Cơ Vũ, cũng không quan tâm tới sự xuất hiện của nàng.

Cơ Vũ lại khấu đầu: “Tiểu nữ khấu kiến tiên sinh!”

Quỷ Cốc Tử mở hé đôi mắt, khoé miệng bắt đầu cử động: “Cô nương vì đâu lại mình mặc áo tang?”

Cơ Vũ bật khóc, giọng lạc đi: “Mẫu hậu, đã… đã…”

Quỷ Cốc Tử lại trầm mặc một hồi lâu, mới thở dài một tiếng, rồi chậm rãi nói: “Mẫu hậu của cô nương cuối cùng cũng đã được giải thoát, cũng là điều đáng mừng. Cô nương đến đây, là muốn cầu việc gì?”

Cơ Vũ khóc ròng mà nói: “Quả nhiên đúng như lời tiên sinh nói, lưới đã giăng bủa, con ve ngọc đã không còn đường thoát, nguyện theo tiên sinh lánh vào rừng sâu, khẩn cầu tiên sinh thu nhận!” Nói rồi lại dập đầu xuống đất, nước mắt như mưa.

“Trong chốn núi rừng tuy tự do tự tại, song tịch mịch hoang liêu, chỉ sợ cô nương không chịu nổi!”

“Tiểu nữ sớm đã chán ghét trần thế ồn ào, không còn mong cầu gì khác, nguyện cùng tiên sinh sống trong rừng sâu đến già đến chết, chuyên tâm cầu đạo!”

Quỷ Cốc Tử trầm tư một lát, rồi gật đầu nói: “Lão hủ thấy cô nương là một thiên tài tu đạo, sẽ thu nhận cô nương. Cô nương đã tự ví mình với con ve ngọc, nên từ hôm nay, sẽ gọi cô nương là Ngọc Thiền.”

Cơ Vũ liên tiếp khấu đầu, vui buồn lẫn lộn: “Ngọc Thiền tạ ơn tiên sinh ban tên!”

***

Thôn Hiên Lý bên bờ sông Y Thuỷ, trong sân nhà họ Tô, đèn lồng giăng kín, hỷ khí tràn trề. Bên ngoài cổng, dàn hàng ba chiếc nồi gang, một nồi nấu lợn, một nồi nấu dê, còn một nồi đang luộc đầu trâu.

Cả thôn kéo nhau tới giúp, trong sân người đến kẻ đi, vô cùng náo nhiệt. Chừng giờ Thân, một chiếc xe trâu kết hoa đỏ rực rỡ thủng thẳng đi đến giữa thôn trong tiếng kèn trống phèng la tưng bừng, từ từ đến trước cổng nhà họ Tô.

Tô Lệ nhìn thấy cỗ xe hoa từ xa tiến lại, vội vã đốt một bó tre khô đã chọn lựa kỹ càng. Thoáng chốc, ngọn lửa bùng lên, các đốt tre cháy nứt đua nhau nổ đùng đoàng. Trong tiếng pháo trúc, một đoàn người khiêng theo của hồi môn đi vào trong sân nhà họ Tô, tiếng kèn trống càng thêm náo nhiệt.

Ma Cô đang tất bật trong động phòng, thấy xe hoa đã dừng lại, liền vội vàng chạy ra ngoài sân gọi lớn: “Ông anh, tân nương đến rồi, mau gọi tân lang ra đón!”

Tô Hổ sải bước vào trong gian nhà chính, thấy Tô Tần vẫn đang say khướt, nằm ngáy pho pho trên giường. Sắc mặt Tô Hổ sầm ngay lại, đùng đùng đi xuống bếp, xách lên một thùng nước lạnh, hắt thẳng vào mặt Tô Tần.

Tô Tần đang ngủ li bì, thình lình bị té nước lạnh thì rùng mình choàng tỉnh, hai mắt vừa mở ra, thấy tình thế có vẻ bất thường, vội vàng nhắm tịt mắt lại, dụi liền vài cái, rồi lại mở ra, mới chắc chắn là mình đang ở trong nhà, liền ngây người chết lặng.

Một lát sau, Tô Hổ lại chạy vào, trên tay cầm một bộ quần áo mới may, ném đánh vèo xuống giường, gằn giọng quát: “Người đã đến rồi, còn không mau thay quần áo?”

Tô Tần lại càng kinh ngạc, cứ ngỡ đang nằm mơ. Tô Hổ trừng mắt nhìn Tô Đại đang đứng bên cạnh, Tô Đại vội vàng đi tới, khoác áo tân lang lên người cho Tô Tần.

Tô Tần mặt mày ngơ ngác, quay sang hỏi Tô Đại: “Có… có chuyện… chuyện gì vậy?”

Tô Đại nói khẽ: “Anh hai! Chị dâu đã đến ngoài cổng rồi!”

Tô Tần lại càng ngớ ra không hiểu: “Chị… chị dâu? Chị dâu… nhà… nhà ai?”

Trong lúc nói qua nói lại, Tô Đại đã mặc quần áo xong xuôi cho Tô Tần, đội mũ lên đầu hắn, ngắm nghía một lát, cảm thấy đã vừa ý, lúc này mới nói rõ ràng: “Hôm nay là ngày đại hỷ của anh hai. Cha đã hỏi cưới chị dâu cho anh hai, chị dâu đang đợi anh ngoài cổng!”

Tô Tần kinh ngạc đến chết lặng, hai mắt mở trừng trừng nhìn Tô Hổ.

Tô Hổ lừ mắt nhìn lại Tô Tần: “Còn đứng ngây ra đó? Mau đi rửa mặt, rồi ra xe hoa bế tân nương vào nhà!”

Dường như Tô Tần đã hiểu ra chuyện gì, tay chỉ vào Tô Hổ, miệng lắp bắp: “Cha… cha…”

Vừa nói, vừa thẳng tay giật tung bộ trang phục tân lang trên người ra, ném toẹt xuống đất, lại tháo luôn cả mũ đai, vứt sang một bên, rồi nằm vật xuống vùi đầu ngủ.

Ngoài sân, tiếng người cười nói tưng bừng, Ma Cô cười hớn hở đứng giữa sân dóng dả thúc giục: “Ông anh ơi, tân nương đợi sốt ruột lắm rồi, mau gọi tân lang ra đây!”

Lúc này thì Tô Hổ đã cuống quýt thực sự, vội liếc mắt ra hiệu cho Tô Đại. Tô Đại lại chạy đến kéo Tô Tần dậy, song hắn vẫn nằm bẹp dí như đống bùn nhão, liền lắc đầu mà nói: “Cha ơi, xem bộ dạng này, anh hai vẫn chưa tỉnh rượu đâu!”

“Cái gì mà chưa tỉnh! Nó giả vờ đấy!”

Tân lang mãi chưa thấy ra, tiếng kèn trống phèng la bên ngoài mỗi lúc càng dồn dập, tựa như hối thúc. Người đến xem bắt đâu hò hét, tiếng huýt sáo liên tục vang lên.

Đến lúc này, Ma Cô không thể cười tiếp được nữa, lập tức nhảy choi choi chạy vào trong nhà, vừa tìm thấy Tô Hổ đã hét tướng lên: “Tân lang đâu?”

Tô Hổ chỉ tay lên giường.

Ma Cô nhìn thấy bộ dạng của Tô Tần, thì giậm chân cuống quýt: “Cái gì thế này? Tân lang say mèm thế kia, không có ai ra bế tân nương, tân nương sẽ không thể xuống xe! Tân nương không xuống xe, cũng không bái thiên địa, không vào động phòng, biết thu xếp thế nào đây?” Đang rối rít tít mù, khoé mắt chợt liếc thấy Tô Đại, hai hàng lông mày lập tức nhướng lên. “Có cách rồi!”

Tô Hổ vội hỏi: “Cách gì?”

Ma Cô đưa mắt sang Tô Đại: “Cậu ba, mau giúp một tay, mặc quần áo tân lang của anh hai cậu vào, cứ bế tân nương vào trước đã rồi tính tiếp!”

Tô Đại mặt đỏ như gấc, cuống quýt: “Cháu là em chồng, sao có thể chạm vào chị dâu được?”

Ma Cô cười rinh rích mà nói: “Cậu là em chồng, không bế được thì cõng! Chỉ cần cõng vào trong nhà, coi như đã cưới về rồi!”

Tô Đại đang định chối tiếp, thì Tô Hổ quát: “Thằng ranh này cũng muốn chống đối hử? Ma Cô bảo ngươi cõng thì ngươi cõng, nhiều lời làm gì?”

Hết cách, Tô Đại đành phải mặc quần áo tân lang vào, mắm môi mắm lợi theo Ma Cô bước ra sân. Ra đến ngoài cổng, đã thấy phù dâu đỡ tân nương đợi sẵn bên xe. Tô Đại chỉ còn cách ngửa cổ lên trời, nhắm chặt hai mắt, khom lưng cõng chị dâu lên rồi đi thẳng vào trong.

Đến lúc này, mọi người đều đã biết tân lang uống quá chén nên cũng không ai xì xầm gì. Chỉ có điều tân nương không phải được bế mà là được cõng; người cõng tân nương không phải tân lang, mà là em trai tân lang, mọi người từ trước tới nay chưa từng chứng kiến chuyện quái lạ thế này, nên tiếng cười trêu càng thêm ầm ĩ. Đến lúc này, phường đánh trống gõ chiêng, thổi sênh thổi kèn cũng đã hiểu ra, lập tức dốc hết hơi sức mà gõ thổi cật lực, đến tận khi tân nương được đưa đến cửa nhà chính mới thôi.

Tân nương đã vào trong nhà, theo tập tục của đất Chu, tiếp theo sẽ phải bái thiên, địa, tông, thân. Việc này không thể nhờ người khác làm hộ. Ma Cô nghĩ ngợi một lát, rồi ghé sát tai Tô Hổ thì thào. Tô Hổ liền gọi mấy gã thanh niên đến, dặn dò một chặp. Họ đều vui vẻ nhận lời.

Chớp mắt, đám người đã ào đến cạnh giường, xúm xít lại giữ chặt lấy Tô Tần, tay năm tay mười khoác quần áo tân lang lên người hắn, rồi lôi xềnh xệch Tô Tần ra ngoài chính đường.

Ma Cô hô lớn: “Nhất bái thiên địa!”

Phù dâu liền bước tới đỡ lấy tân nương, còn bên này cả đám người nhâu nhâu giữ cứng lấy Tô Tần, cuối cùng cũng coi như bái trời đất được ba lạy.

Ma Cô lại hô: “Nhị bái liệt tổ liệt tông!”

Tô Tần lại bị ấn xuống, bái lạy bài vị tổ tông trên hương án. Sau đó là bái cao đường, chính là phụ mẫu song thân.

Ma Cô tiếp tục cao giọng hô: “Phu thê giao bái!”

Tân nương liền xoay người sang, đối mặt với Tô Tần, cúi người vái dài một lễ. Nhưng Tô Tần gồng cứng thắt lưng, nhất định không chịu cúi, nên lại bị đám người hè nhau ấn xuống.

Thấy ván đã đóng thuyền, Ma Cô bèn nói lớn: “Tân lang, tân nương vào động phòng!”

Tô Tần vẫn đứng trơ trơ tại chỗ, sắc mặt tím bầm, hơi rượu sớm đã bị lửa giận đánh bạt.

Kèn trống, thanh la não bạt lại rộn lên inh ỏi.

Vợ Tô Lệ đang bụng chửa vượt mặt bước đến đỡ lấy tân nương, dìu vào động phòng. Đúng vào lúc này, không biết kẻ nào bỗng kêu ré lên: “Nhìn kìa, tân nương bị thọt!”

Mọi người đều kinh ngạc, đổ dồn mắt nhìn, quả nhiên thấy tân nương bước đi khập khiễng, bèn cười ồ cả lên.

Trong đám người, không biết là ai lớn tiếng châm chọc: “Ha ha, còn gì nữa, hai người họ đúng là một cặp trời sinh!”

Có người nói tiếp: “Đúng đấy! Đúng đấy! Nói lắp lấy chân thọt, đúng là một cặp trời sinh!”

Mọi người lại cười ồ lên cả lượt.

Tô Hổ hai tai nóng ran, đứng đờ ra một hồi lâu mới định thần lại được, giận dữ nhìn Ma Cô, rồi lại quay sang Tô Tần đang đứng thộn ra đó, quát lên như sấm: “Còn đứng đực ra đấy, mau vào động phòng!”

Đám thanh niên giữ chặt lấy Tô Tần đang định đẩy hắn vào động phòng, thì Tô Tần không biết lấy đâu ra sức mạnh gớm ghê, hai tay giằng mạnh một cái, vùng được ra, quay ngoắt người lại, hai mắt trợn trừng nhìn vào Tô Hổ, như muốn tóe lửa đến nơi.

Mọi người thấy vậy, ai cũng sững sờ. Tô Hổ cũng lặng người đi, nhưng rồi lập tức lấy lại tinh thần, cũng hung hãn quắc mắt nhìn trả Tô Tần, quát lớn: “Thằng ranh này, dám trợn mắt nhìn ta ư?” Lời còn chưa dứt, đã bước dấn lên, từng bước áp sát Tô Tần, muốn ép hắn vào động phòng.

Tô Tần vô thức lùi lại, nhưng ánh mắt vẫn không hề nhượng bộ. Trước đây, mặc dù Tô Tần không nghe lời, nhưng chưa bao giờ ngang ngược như lúc này, nhất là trong một sự kiện trọng đại có liên quan đến thể diện của nhà họ Tô. Nghĩ tới những việc mà Tô Tần đã gây ra gần đây, lại thêm thái độ bất chấp thể diện lúc này, Tô Hổ giận điên người, đến nỗi quên phắt luôn hôm nay là ngày đại hỷ của Tô Tần, tiện tay với lấy cây gậy chống cửa, vung lên cao.

Tô Tần không thèm né tránh. Tô Hổ giận đến hai tay run rẩy, lao vọt về phía trước, phang thẳng cánh xuống. Thấy Tô Hổ ra tay thật, anh cả Tô Lệ đứng cạnh Tô Tần vội kéo hắn sang một bên. Tô Hổ đánh hụt, cơ thể mất thăng bằng, cả người bổ nhào về phía trước, chẳng may trán đập trúng mép bàn, lập tức ngã gục xuống đất, máu tươi tuôn xối xả.

Đám người hiếu sự đứng xem thấy sắp xảy ra án mạng, chẳng ai còn dám cười cợt nữa, vội vã xúm vào cứu chữa, trong nhà bỗng chốc náo loạn.

Tô Tần cũng đứng chết trân một hồi lâu, thấy Tô Hổ đã lơ mơ tỉnh lại, mọi người cũng chẳng ai chú ý đến mình, thì chợt nảy ra một ý, lặng lẽ nhích dần ra khỏi nhà, nhân lúc hỗn loạn, lén chuồn ra ngoài.

Tô Tần chạy thẳng đến bến đò, lúc này trời đã tối mịt, không tìm được thuyền, bèn cởi luôn quần áo, nhảy ùm xuống Y Thuỷ, bơi qua sông, chạy thẳng đến Lạc Dương.

Khi Tô Tần vào được vương thành, đã đến giờ Nhân định. Tìm về ngõ Quý Nhân Cư, đến khu nhà trọ của Trương Nghi, nhưng gõ cửa hồi lâu mà chẳng có ai trả lời. Tô Tần lo lắng, gọi liên hồi “Hiền đệ! Tiểu Thuận!” Nhưng chẳng thấy động tĩnh gì.

Đến lúc này, Tô Tần mới để ý trên cánh cổng đã có thêm một ổ khoá đồng lạnh lẽo. Tô Tần hết sức băn khoăn, bèn chạy đi tìm chủ nhà trọ, lại gõ cửa một hồi. Có lẽ do trời quá nóng, chủ nhà trọ vẫn chưa ngủ say, nghe tiếng động, bèn ra mở cửa. Nhìn thấy Tô Tần, vội vòng tay hành lễ mà nói: “Là Tô sĩ tử ư? Muộn thế này rồi mà cậu còn chưa nghỉ?”

Tô Tần cũng vòng tay đáp lễ: “Xin hỏi… ông… ông chủ, Trương… Trương sĩ tử… đã… đã… đã đi đâu… đâu rồi?”

“Trương sĩ tử nhận được thư nhà, nói rằng mẫu thân bệnh tình nguy ngập, nên đã đi về ngay trong đêm!”

Tô Tần giật thót mình, thầm nghĩ trong bụng: “Xem ra, lời của vị tiên sinh kia quả thật linh nghiệm. Đại hỷ thì ta đã gặp. Mẫu thân của hiền đệ bệnh nguy, nếu theo lời tiên sinh, chỉ e rằng lành ít dữ nhiều! Không được, ta đã kết nghĩa kim lan cùng hiền đệ, mẹ của hiền đệ cũng là mẹ của ta, ta phải đi thăm mới phải!”

Nghĩ đến đây, Tô Tần liền ôm quyền hỏi: “Xin… xin hỏi, nhà… nhà của Trương… Trương sĩ… sĩ tử ở… ở đâu?”

“Nghe Tiểu Thuận nói là ở Thiếu Lương, Hà Tây, còn cụ thể ở đâu, tại hạ cũng không biết rõ!”

Trương Nghi ở Hà Tây, Tô Tần đã biết từ trước. Thấy ông chủ cũng không biết cụ thể ở đâu, bèn vái mà nói: “Đa… đa tạ!”

Chủ nhà trọ tiện miệng hỏi: “Muộn thế này rồi, Tô sĩ tử định nghỉ đêm ở đâu?”

Tô Tần lộ vẻ lúng túng: “Ờ… ờ…”

Ông chủ không nói gì, chỉ rút ra từ trong tay áo ra chiếc chìa khoá đồng, đưa cho Tô Tần mà nói: “Đây là chìa khoá mà Trương sĩ tử đã trả lại, cậu hãy tới đó ngủ tạm, đến sáng mai mang trả là được!”

Tô Tần nhận lấy chìa khoá, ôm quyền cảm tạ, rồi lại vào căn phòng chái phía tây, nằm ngủ trên chiếc giường trước đây của mình.

Sáng sớm hôm sau, Tô Tần trả chìa khoá, thấy trong túi còn mười mấy xu tiền đồng, nghĩ là của Trương Nghi cho, liền đi ra phố mua một ít lương khô và mấy đôi giày cỏ, chuẩn bị đi Hà Tây, một là thăm Trương Nghi, hai là chạy trốn thật xa khỏi thôn Hiên Lý. Ngôi nhà xưa, quả thực không thể trở về được nữa.

Tô Tần gói ghém lương khô, đang định lên đường, đột nhiên lại nhớ đến cầm sư. Dạo trước học cung đã bị giải tán, cầm sư rảnh rỗi nên đã chỉ bảo Tô Tần rất nhiều, còn đích thân dạy hắn đánh đàn. Lần này ra đi, không biết khi nào mới trở lại, cũng nên đến từ biệt mới phải. Nghĩ như vậy, Tô Tần lại dừng bước, quay người đi thẳng đến nhà Thái học.

Đang đi, chợt thấy phía trước có một cỗ xe kiệu tiến lại. Con đường khá hẹp nên Tô Tần vội vàng tránh sang một bên nhường đường. Không ngờ cỗ xe vừa đi qua, bỗng dừng khựng lại. Tô Tần đang cảm thấy quái lạ, thì trên xe có tiếng người gọi vọng xuống: “Tô sĩ tử…”

Tô Tần ngạc nhiên, vội ngoảnh lại nhìn, thì thấy người vừa gọi chính là cầm sư. Tô Tần vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ, vội vàng bước lại vái một vái thật dài: “Vãn… vãn sinh Tô… Tô Tần… khấu… khấu kiến… tiên… tiên sinh!”

Cầm sư chậm rãi bước xuống xe đáp lễ, trông dáng vẻ rất đỗi bi thương: “Lão hủ xin chào sĩ tử!”

Thấy cầm sư hai mắt đỏ mọng, Tô Tần vô cùng kinh ngạc: “Xin hỏi… tiên… tiên sinh, có… có chuyện gì… mà… mà đau buồn… buồn vậy?”

Cầm sư đưa tay gạt nước mắt, lắc đầu nói: “Hiếp người quá đáng, thật là hiếp người quá đáng!”

Tô Tần vội hỏi: “Ai… ai ức hiếp… tiên… tiên sinh?”

“Không phải là ức hiếp thân già này, mà là ức hiếp Chu thiên tử!”

Tô Tần càng kinh ngạc hơn: “Ai… ai… ức hiếp… Chu… Chu thiên… thiên tử?”

“Than ôi!” Cầm sư than thở. “Lần trước Tần, Ngụy đến cầu hôn, ép Chu thiên tử phải gả Tuyết công chúa đến nước Yên xa xôi. Lần này người Tần lại đến đóng quân ở Lạc Thuỷ, tiếp tục bức bách, ép gả Vũ công chúa. Nương nương vốn mắc bệnh, không chịu đựng nổi nỗi đau lòng, đêm qua đã tạ thế rồi. Vũ công chúa không cam chịu bức bách, bỏ trốn khỏi cung, đến nay sống chết thế nào chưa rõ…”

Lời của cầm sư khiến Tô Tần nghe mà bàng hoàng kinh hãi, trợn mắt há miệng, một lúc sau mới thốt được nên lời: “Nương… nương nương… tạ thế? Vũ… Vũ công chúa… bỏ… bỏ trốn?”

Cầm sư liên tiếp lắc đầu: “Đau đớn thay! Đau đớn thay! Đường đường là Đại Chu, lại để đám man di uy hiếp bức bách, nước mất nhà tan, vợ con ly tán. Lý trời ở đâu? Lý trời ở đâu?” Nói rồi rầu rĩ nhỏ lệ, khóc không thành tiếng.

Tô Tần cuối cùng cũng đã bừng hiểu, thì ra quân Tần đóng trại ở Lạc Thuỷ là vì muốn bức hôn Vũ công chúa! Nghĩ đến Tuyết công chúa phải gả cho nước Yên xa xôi, Vũ công chúa lại chạy trốn hôn sự, xem ra trong thiên hạ này, cho dù là thiên tử công chúa cũng chẳng có được chút tự do. Lại nghĩ đến việc mình cũng phải bỏ nhà trốn hôn sự, Tô Tần đồng bệnh tương liên, bất giác cũng thấy chua xót trong lòng, nhỏ lệ khóc theo cầm sư.

Một lúc sau, Tô Tần ngẩng đầu lên hỏi: “Tiên… tiên sinh, Vũ… Vũ công chúa đi… đi rồi, người… người Tần có… chịu… chịu bỏ… bỏ qua không?”

Cầm sư đưa tay áo lau nước mắt, thở dài mà nói: “Vương thất Đại Chu, người mất thì đã mất, người đi thì đã đi, họ không chịu bỏ qua, thì cũng làm được gì nữa? Lúc nãy, lão hủ nhận được tin, đám người Tần kia đã tự nhổ trại, lặng lẽ rút về rồi!”

Tô Tần cũng thấy yên tâm phần nào, nhìn cầm sư mà nói: “Tiên… tiên sinh, còn ông… ông…”

Cầm sư nghẹn ngào nói: “Lúc nãy cung chính truyền gọi ta vào, muốn lão hủ gảy một khúc nhạc cho linh hồn nương nương được an nghỉ! Than ôi, nương nương thích nghe lão hủ gảy đàn, nên đã mời ta làm cầm sư trong cung, còn nhờ ta dạy hai công chúa học đàn. Không ngờ hôm nay gảy đàn, lại là để… vĩnh biệt!”

Tô Tần căm giận nói: “Người… người Tần… thực… thực là… đáng… đáng hận!”

Cầm sư lại đưa tay áo gạt nước mắt, lắc đầu than thở: “Than ôi, thế đạo như vậy, còn biết làm sao?” Rồi vòng tay hành lễ, nói. “Lão hủ xin cáo từ tại đây, giờ vào cung để vĩnh biệt nương nương!”

Tô Tần đáp lễ: “Tiên… tiên sinh đi… đi cẩn thận!

Cầm sư bước lên xe, đang định đi thì Tô Tần sực nhớ ra một chuyện, vội đuổi theo hỏi: “Xin… xin hỏi… tiên sinh, có biết… nhà… nhà Trương… Trương sĩ tử… ở đâu… đâu không?”

Cầm sư ngẫm nghĩ một lát: “Theo như viết trong danh sách, thì ở phía đông Thiếu Lương, Hà Tây, nơi đó gọi là Trương Ấp!”

“Đa… đa tạ… tiên… tiên sinh!”

Cầm sư vỗ trán, lại nói: “Hồ đồ, hồ đồ, đúng là già hoá hồ đồ rồi! Lúc nãy gọi sĩ tử, là vì có một chuyện quan trọng, mà suýt chút nữa quên mất!”

Nghe nói có chuyện quan trọng, Tô Tần rất ngạc nhiên, đang băn khoăn thì cầm sư lấy từ trong ngực áo ra một chiếc túi gấm, đưa cho Tô Tần: “Có người nhờ lão hủ đưa vật này cho sĩ tử!”

Tô Tần vội vàng mở túi, lấy từ bên trong ra một vuông lụa. Trên vuông lụa chỉ vỏn vẹn một bài khẩu quyết: “Muốn chữa nói lắp, ca hát ngâm vịnh. Muốn trị tận gốc, đến núi Vân Mộng”.

Tô Tần thấy là phương pháp chữa tật nói lắp thì trong lòng mừng rỡ. Bao nhiêu năm nay, khiến Tô Tần phiền não nhất cũng là điều này, đột nhiên có người nói có thể chữa trị tận gốc, há chẳng vui mừng tột độ?

Tô Tần gói túi gấm lại, vòng tay vái cầm sư, rồi hỏi: “Xin… xin hỏi… tiên… tiên sinh…, là… là ai… ai đã gửi… gửi túi… túi này?”

Cầm sư nhìn Tô Tần với ánh mắt buồn rầu, một lúc sau mới lắc đầu than thở: “Than ôi, là thời, là vận! Tô sĩ tử đã có cơ duyên này, lão hủ xin chúc mừng!”

Tô Tần rất đỗi ngạc nhiên: “Cơ… cơ duyên? Chúc… chúc… chúc mừng? Sao… sao tiên sinh lại… lại nói vậy?”

Cầm sư không trả lời, chỉ thở dài hai tiếng rồi ra roi đi mất.

Tô Tần tay cầm túi gấm, đứng trơ ra như khúc gỗ, vẻ mặt ngẩn ngơ.

***

Lại nói Tiểu Thuận đọc xong thư của Trương bá, bèn đưa Trương Nghi lên xe ngựa, đi theo đường Hào Quan, Hàm Cốc, Âm Tấn, gấp rút chạy thẳng về Thiếu Lương. Trương Nghi ngủ vùi đến tận hôm sau mới tỉnh rượu, lấy thư của Trương bá ra đọc lại một lượt, lại khóc lóc một trận, thúc giục Tiểu Thuận đi nhanh hơn nữa. Tiểu Thuận ra roi đánh ngựa, đi suốt ngày đêm, vì đường núi nơi cửa ải Hàm Cốc khó đi, trên đường lại gặp mưa lớn, sức ngựa cũng không đủ, nên phải đi suốt bảy ngày trời mới về đến nhà.

Xe ngựa dừng trước cổng nhà họ Trương. Trương Nghi vội vàng nhảy phắt xuống xe, chạy thẳng vào trong cổng.

Nhưng vừa lao đến cổng, đã bị một gã lính Tần lăm lăm thương nhọn chụp ngay lấy cổ áo, giật mạnh về phía sau. Trương Nghi không kịp đề phòng, ngã đánh huỵch xuống đất.

Trương Nghi lập tức bò dậy, lúc này mới nhìn rõ có hai tên lính Tần đứng ở hai bên cổng, bèn giận dữ mà nói: “Tại sao các ngươi lại ở đây? Tại sao không cho ta vào?”

Một tên lính trừng mắt quát: “Ta còn chưa hỏi ngươi, sao ngươi đã dám lớn tiếng? Không mở to mắt ra xem đây là nơi nào?”

Trương Nghi ngước nhìn lên, thấy tấm biển trên cổng thù lù một hàng chữ lớn: “Phủ Thôi đại phu nước Đại Tần”.

Trương Nghi nổi giận: “Quan đại phu cái gì? Đây là nhà ta!”

Hai tên lính đều ngạc nhiên, đưa mắt nhìn nhau. Rồi một tên hỏi: “Ngươi là ai?”

“Ta họ Trương tên Nghi, đến nước Chu cầu học, nhận được tin mẹ già bệnh nặng nên trở về nhà thăm!”

Tên lính đã hiểu ra, liền gật gù nói: “Ồ, hiểu rồi, hiểu rồi, thì ra ngươi chính là tên tiểu tử nhà họ Trương! Này tiểu tử, báo cho ngươi biết, hai mươi ngày trước nơi đây đã thành phủ quan đại phu, không còn là nhà của ngươi nữa!”

Trương Nghi nổi cơn thịnh nộ, lớn tiếng quát: “Các ngươi là quân cường đạo, tại sao lại cướp nhà ta?”

Tên lính nhếch mép cười nhạt: “Cướp nhà của ngươi? Ta cho ngươi biết, đất này vốn là của người Tần! Chúa công của ta đã xác thực, gia tộc ngươi vốn ở An Ấp, sáu mươi năm trước, ông nội của ngươi là Trương Viêm đã đi theo quân cường đạo Ngô Khởi chiếm đoạt Hà Tây, rồi dựng nhà ở ấp này. Xét thấy Trương Viêm chỉ là kẻ tuỳ tùng trong trướng, không có nợ máu, nên chúa công ta mới ra ơn giữ lại cái mạng sống cho già trẻ nhà ngươi. Còn về tài sản ruộng vườn, tịch biên toàn bộ. Nếu ngươi biết điều, hãy mau cút về An Ấp!”

Trương Nghi giận dữ tột độ, định lao lên lý luận tiếp, nhưng Tiểu Thuận đã vội ngăn lại, sống chết giữ chặt lấy Trương Nghi, rồi vòng tay hỏi: “Xin hỏi quân gia, lão phu nhân hiện giờ ở đâu?”

Tên lính chỉ về một căn nhà thấp lè tè, vốn là chỗ ở của gia nô, nằm ở mé trái cách đó không xa: “Các ngươi tới đó xem sao!”

Tiểu Thuận hai tay ghì chặt Trương Nghi, quay người đi về phía xe ngựa, đang định gọi ngựa, thì một tên lính Tần quát với theo: “Hai người khoan hãy đi!”

Hai người bèn dừng bước.

Tên lính đi thẳng đến, liếc nhìn cỗ xe ngựa của Tiểu Thuận: “Cỗ xe này phải chăng là của nhà các ngươi?”

Trương Nghi gân cổ nói lớn: “Đương nhiên là của nhà ta rồi!

“Đã là tài sản của nhà các ngươi, thì phải tịch thu!” Lời vừa nói dứt, gã liền gọi tên lính kia lại, không thèm nói thêm một lời, lập tức kéo dây cương ngựa, giật lấy chiếc roi trên tay Tiểu Thuận, rồi đánh luôn vào trong sân.

Tiểu Thuận cuống quýt, nhảy dựng lên định đoạt lại, thì Trương Nghi đã lạnh lùng quát lên: “Để chúng lấy đi!”

Tiểu Thuận hậm hực giậm chân bình bịch, rồi quay người cùng Trương Nghi đi về phía căn nhà nhỏ. Khi đi tới gần, đã có người nhận ra Trương Nghi, bèn ra dẫn họ đến một khu nhà đổ nát xiêu vẹo. Tiểu Thuận gõ cửa, lão quản gia vừa ra mở cửa, nhìn thấy Trương Nghi, chẳng kịp cả hành lễ, vội giục rối rít: “Thiếu gia, mau lên!”

Trương Nghi nghẹn ngào hỏi: “Trương bá, mẹ ta đâu?”

“Nhanh lên, phu nhân đang ở trong phòng, đang đợi thiếu gia!”

Trương Nghi lao thẳng vào trong sân, khóc lớn: “Mẹ ơi, Nghi Nhi về rồi đây! Mẹ…” Chỉ vài bước đã chạy vào trong nhà, một tỳ nữ vội dẫn Trương Nghi vào trong.

Đây là một khu nhà tồi tàn đến mức không thể tồi tàn hơn được nữa, còn không xứng là chỗ ở cho người hầu. Tất cả đều lợp cỏ, trên nóc nhà chính đã thủng một lỗ toang hoác, ánh nắng xuyên qua lỗ hổng, chiếu thẳng vào trong, khiến cả gian phòng sáng trưng. Trên giường đất sát tường, Trương phu nhân đang nằm trên chiếu cỏ, hơi thở chỉ còn thoi thóp.

Nghe thấy tiếng gọi của Trương Nghi, Trương phu nhân khó nhọc ngồi dậy nhờ sự nâng đỡ của tỳ nữ, cất giọng yếu ớt, run rẩy gọi: “Nghi Nhi…”

Trương Nghi gấp gáp chạy lao lại, sụp xuống trước giường, gục đầu vào lòng Trương phu nhân, khóc gọi: “Mẹ, mẹ ơi!”

Trương phu nhân gắng gượng vươn cánh tay ra, run rẩy xoa lên đầu Trương Nghi: “Nghi Nhi, con… cuối cùng con cũng đã… trở về!”

Trương Nghi khóc không thành tiếng: “Mẹ, Nghi Nhi bất hiếu, đã về chậm, mẹ ơi…”

“Nghi Nhi, mẹ không trách con, là mẹ… không cho con về!”

Trương Nghi vội vàng đứng dậy, dìu mẹ nằm xuống giường, hai tay nắm chặt đôi tay run rẩy của mẹ.

Trương phu nhân hai mắt nhìn Trương Nghi đăm đăm, một lúc lâu sau mới cất giọng yếu ớt: “Nghi Nhi, mấy hôm nay, cha con ngày nào cũng về, giục mẹ lên đường. Nhưng mẹ còn quyến luyến con nên không chịu đi, chỉ muốn… chỉ muốn nhìn thấy con lần cuối. Giờ mẹ đã gặp con, mẹ đã… mãn nguyện rồi!” Nói xong, nở một nụ cười toại nguyện.

Trương Nghi gục đầu vào lòng Trương phu nhân, nước mắt đầm đìa, liên tục gọi mẹ.

Trương phu nhân gượng vươn tay ra, chỉ xuống dưới gối. Trương Nghi vội thò tay vào, sờ thấy một bọc vải, bèn lấy mở ra, thấy bên trong có mười đĩnh vàng.

Giọng của Trương phu nhân chỉ còn thều thào: “Nghi Nhi, tất cả đều… mất hết, mẹ chỉ… giữ lại… được… một chút đó thôi. Đoạn đường sau này, con… con hãy tự mình… bước tiếp!”

Trương Nghi khóc thảm thiết: “Mẹ ơi…”

Trương phu nhân thở hắt ra mấy hơi, giọng ngắt quãng: “Nghi Nhi, tiết… kiệm, tiến…”

Từ “thủ” còn chưa kịp nói ra, Trương phu nhân đã ngoẹo đầu, tắt thở.

Trương Nghi gào lên xé họng: “Mẹ ơi!”

Ba người hầu nhất tề quỳ sụp xuống, khóc lóc ai oán: “Lão phu nhân…”

Khóc lóc một hồi lâu, Trương Nghi gượng nín, giao toàn bộ số tiền vàng Trương phu nhân để lại cho Trương bá, dặn dò ông lo chuyện hậu sự cho mẹ. Trương bá mua một cỗ quan tài gỗ tốt, may tang phục, các đồ tống táng và một tấm bia đá. Trương Nghi và đám người hầu theo đúng tập tục, canh bên linh cữu ba ngày, rồi đào huyệt mộ của tiên phụ lên, hợp táng cha mẹ cùng một chỗ.

Sau khi chôn cất mẫu thân xong xuôi, Trương Nghi và đám người hầu quỳ trước mộ, bái lạy vài lạy. Lạy xong, Trương Nghi từ từ quay sang, nói với mấy người hầu: “Trương bá, các người hãy lại đây!”

Mấy người đứng lên, cùng băn khoăn nhìn Trương Nghi.

Trương Nghi đưa mắt nhìn Trương bá: “Còn tiền không?”

Trương bá móc lấy túi tiền từ trong tay áo, đổ xuống đất đếm, còn lại ba lượng vàng và mấy chục đồng tiền bố. Trương Nghi liếc mắt nhìn qua, rồi quay sang nói với Tiểu Thuận: “Tên tiểu tử kia, trên người còn bao nhiêu tiền?”

Tiểu Thuận cũng móc túi tiền từ trong ngực áo ra, đổ xuống đất đếm, tổng cộng còn hai lượng vàng và mấy chục đồng tiền bố. Trương Nghi cũng lấy từ trong tay áo ra hai lượng vàng và mấy đồng tiền, ném cả xuống đất. Mọi người cảm thấy khó hiểu, ai nấy đều ngơ ngác nhìn Trương Nghi.

Trương Nghi từ từ quỳ xuống, nhặt lấy một đĩnh vàng trong số ba đĩnh mà Trương bá đã bỏ ra, rồi gộp tất cả số tiền còn lại vào làm một, khẽ giọng nói: “Mẹ ta bỏ cả tính mạng để giữ lại mười lượng vàng, lo tang lễ hết bảy lượng, còn lại ba lượng, tất cả đều ở đây. Ta lấy một lượng này, lúc nào nhớ đến mẹ, ta sẽ nhìn nó!” Nói đoạn, liền nhét đĩnh vàng vào trong tay áo.

Những hành động nãy giờ và lời nói không đầu không cuối của Trương Nghi khiến ba người hầu một già hai trẻ đều khó hiểu, tròn xoe mắt, ngơ ngác nhìn Trương Nghi.

Trương Nghi chỉ vào sáu đĩnh vàng và gần trăm đồng tiền bố còn lại, chậm rãi nói: “Mọi người cũng đã thấy cả rồi, trừ đi đĩnh vàng vừa nãy, tất cả tài sản của nhà họ Trương, toàn bộ đều ở đây. Trương bá, Tiểu Thuận, Tiểu Thuý, nhà họ Trương đã lụn bại, Trương Nghi bất tài, không thể nuôi sống được mọi người, xin mọi người hãy tự tìm đường sống. Ở đây có sáu lượng vàng, mỗi người hãy nhận hai lượng, lấy đó làm vốn mưu sinh. Còn lại đám tiền bố, ta tặng cho Tiểu Thuận. Thường ngày bản thiếu gia hay đánh mắng ngươi, chút tiền nhỏ nhoi này, coi như để bù đắp cho ngươi!”

Ba người hầu chưa kịp định thần, vẫn giương mắt nhìn Trương Nghi chằm chằm.

Trương Nghi thở dài một tiếng, tiếp tục nói: “Nhà họ Trương gặp nạn, mấy chục người hầu, kẻ thì bỏ đi, kẻ thì theo người Tần, chỉ còn lại ba người niệm tình không đi, ân đức này, không phải hai lượng vàng kia có thể báo đáp. Trương Nghi khẩn cầu ba vị hãy nhận của Nghi một lạy!”

Nói đoạn, quỳ sụp luôn xuống đất, chậm rãi dập đầu.

Đến lúc này, ba người mới bừng tỉnh, hiểu rõ đầu đuôi. Trương bá vội đỡ Trương Nghi đứng dậy, rồi quỳ xuống, khóc mà nói: “Thiếu gia, không được làm vậy, thiếu gia, tuyệt đối không được làm vậy!”

Tiểu Thuận, Tiểu Thuý cũng đều quỳ cả xuống. Tiểu Thuận khóc nức nở mà nói: “Thiếu gia, tiểu nhân không cha không mẹ, từ nhỏ đã đi theo thiếu gia. Không có thiếu gia, tiểu nhân… thực không biết sống ra sao, thiếu gia!”

Tỳ nữ Tiểu Thuý cũng khóc mà nói: “Thiếu gia, nô tỳ cũng không có nơi nào để đi, nô tỳ nguyện cả đời này hầu hạ thiếu gia, nguyện gấp chăn trải giường, nấu cơm giặt giũ cho thiếu gia, chỉ xin thiếu gia đừng đuổi nô tỳ đi…” Nói rồi dập đầu liên tiếp, khóc oà lên nức nở.

Trương Nghi cũng đưa tay gạt lệ, song lời nói rất mực quyết đoán: “Không cần nói nữa, trong thiên hạ làm gì có bữa tiệc nào không tàn. Nhà họ Trương đã lụn bại, Trương Nghi cũng chẳng còn cách nào khác, đành phải khẩn cầu mọi người hãy tự tìm lấy đường mưu sinh!”

Nghe vậy, Trương bá từ từ ngẩng đầu lên: “Thiếu gia, lão nô hiểu rồi, lão nô sẽ đi. Có điều số tiền này, lão nô không thể nhận. Lão nô mệnh hèn, kiểu gì cũng sống được. Thế nhưng thiếu gia không thể một ngày không có tiền!”

Tiểu Thuận, Tiểu Thuý nghe thấy Trương bá nói vậy, biết rằng không thể nài nỉ thêm, cùng khóc mà đồng thanh nói: “Thiếu gia, chúng tôi sẽ đi, chúng tôi không cần vàng!”

Trương Nghi nước mắt ròng ròng, nghẹn ngào nói: “Các người không cầm, lẽ nào vì chê ít? Nhưng bây giờ… Trương Nghi chỉ còn lại chừng đó, Trương Nghi không còn cách nào khác, đành phải quỳ xuống cầu xin mọi người vậy!” Nói đoạn, lại chuẩn bị quỳ xuống.

Trương bá vội vàng ngăn lại, đưa mắt cho Tiểu Thuý, Tiểu Thuận, rồi đưa tay cầm lấy hai đĩnh vàng trước. Hai người kia thấy vậy, đành phải nuốt nước mắt, mỗi người lấy hai đĩnh vàng, quay sang lạy Trương Nghi ba lạy, rồi lại quay sang mộ lạy bốn lạy, cùng khóc lóc mà rời đi.

Trương Nghi gọi Tiểu Thuận lại: “Tiểu Thuận, sao không cầm số tiền bố này?”

Tiểu Thuận khóc mà nói: “Thiếu gia, tiểu nhân không thể cầm được!”

“Tại sao không thể cầm?”

“Mặc dù thiếu gia nói đã đánh, mắng tiểu nhân, nhưng trong lòng thiếu gia luôn nghĩ đến tiểu nhân. Tiểu nhân…” Tiểu Thuận càng nói càng đau lòng, lại đưa tay lau nước mắt, “tiểu nhân sẵn lòng nghe thiếu gia mắng, để thiếu gia đánh, tiểu nhân…” Rồi nấc nghẹn nói không thành tiếng.

Nghe thấy Tiểu Thuận nói vậy, Trương bá, Tiểu Thuý đều quay mặt đi gạt nước mắt.

Trương Nghi cũng cảm động trong lòng, gượng nuốt nước mắt, gật đầu nói: “Đến lúc này rồi, ngươi vẫn còn nhớ đến bản thiếu gia, bản thiếu gia thật không đành lòng. Được rồi, ta sẽ nhận số tiền này, tạm coi như vay ngươi. Nếu có một ngày, bản thiếu gia có thể gây dựng lại sự nghiệp, cứ mỗi đồng tiền, sẽ trả lại cho ngươi mười lượng vàng!”

Ba người cùng từ biệt lần cuối. Trương Nghi đứng nhìn theo bóng họ xa dần, khuất sau Trương Ấp phía xa, lúc này mới quay người lại, quỳ xuống trước mộ cha mẹ.

Trương bá, Tiểu Thuận trở về căn nhà rách nát, mỗi người tìm lấy một tảng đá ngồi xuống. Một lúc sau, Tiểu Thuý đã gói ghém xong đồ đạc, xách lên tay, đi ra khỏi nhà.

Trương bá nhìn Tiểu Thuận và Tiểu Thuý, chậm rãi hỏi: “Hai người các ngươi có dự định gì chăng?”

Tiểu Thuận nhìn Tiểu Thuý, Tiểu Thuý nhìn Tiểu Thuận, hai người đều hoang mang lắc đầu. Tiểu Thuý nâng tay áo lên lau nước mắt.

Trương bá thở dài một tiếng rồi nói: “Tiểu Thuận, Tiểu Thuý, các ngươi lại đây!”

Tiểu Thuận, Tiểu Thuý bước đến, quỳ xuống trước mặt Trương bá.

Trương bá đưa hai tay ra, mỗi tay sờ vào một cái đầu: “Năm xưa, hai ngươi không cha không mẹ, bị cắm rơm lên người mang đi bán, Trương bá thấy đáng thương, nên mới lấy tiền của ông chủ mua hai ngươi về. Năm đó Tiểu Thuận bảy tuổi, Tiểu Thúy năm tuổi, Trương bá đây đã tận mắt nhìn các ngươi lớn lên từng ngày. Sự việc đã đến ngày hôm nay, Trương bá đây… than ôi, thực không biết phải nói sao! Trương bá chỉ có một câu, nếu các ngươi muốn nghe, thì ta sẽ nói!”

Hai người cùng chảy nước mắt, nhìn Trương bá, cùng gật đầu.

“Tiểu Thuý năm nay mười bảy, Tiểu Thuận cũng trạc đôi mươi, cả hai đều đã đến tuổi dựng vợ gả chồng. Trương bá nghĩ, các ngươi đều cùng mệnh khổ, lại lớn lên cùng nhau, rất thấu hiểu nhau, có thể xem là một cặp. Trương bá có ý tác hợp cho hai ngươi nên duyên trăm năm, ngày sau sẽ cùng nương tựa vào nhau mà sống. Đây là tâm tư của Trương bá, không biết hai ngươi nghĩ thế nào?”

Tiểu Thuý xấu hổ đỏ bừng mặt, đầu cúi gằm không nói được lời nào. Còn Tiểu Thuận trong lòng mừng rỡ, lập tức khấu đầu lạy Trương bá ba lạy: “Tiểu Thuận tạ ơn Trương bá đã tác thành!”

“Tiểu Thuý! Tiểu Thuận đã đồng ý, còn ngươi thì sao?”

Tiểu Thuý càng cúi đầu thấp hơn, nói lí nhí: “Thuý Nhi xin để Trương bá làm chủ!”

“Tốt, hai người đều đã đồng ý, Trương bá sẽ làm chủ hôn cho các ngươi. Nào, ngay bây giờ hãy bái thiên địa!”

Hai người nhìn nhau, rồi lại cùng quay sang nhìn Trương bá. Tiểu Thuận hỏi: “Trương bá, bái thế nào đây?”

Trương bá chỉ về bãi trống phía trước: “Đã là bái trời đất, thì hãy quỳ xuống chỗ đó, rồi nghe theo lời Trương bá!”

Hai người đứng dậy, đi ra giữa sân rồi cùng quỳ xuống.

Trương bá cao giọng hô lớn: “Nhất bái thiên địa, lần lượt theo thứ tự bắc, đông, nam, tây, mỗi hướng lạy ba lạy.”

Tiểu Thuận, Tiểu Thuý cùng lạy mỗi hướng ba lạy.

Trương bá lại hô: “Nhị bái cao đường!”

Hai chữ “cao đường” vừa thốt ra, Trương bá liền khựng ngay lại mà rơi nước mắt. Tiểu Thuận nhanh trí, liền kéo tay Tiểu Thuý, quỳ xuống trước mặt Trương bá rồi lạy liền ba lạy.

Trương bá đưa tay lau nước mắt, gật đầu nói: “Tốt lắm! Mấy lạy này của các ngươi, Trương bá sẽ nhận! Tiếp theo, phu thê giao bái!”

Tiểu Thuận, Tiểu Thuý cùng bái nhau ba lạy.

“Tốt rồi!” Trương bá nhìn hai người với ánh mắt hiền từ, mỉm cười nói. “Từ ngày hôm nay, hai ngươi đã là vợ chồng, Trương bá chúc mừng hai ngươi!”

Hai người đứng dậy, đi tới trước mặt Trương bá, nghẹn ngào nói: “Tạ ơn Trương bá đã tác thành!”

Trương bá cười phấn khởi: “Tiếp theo, các con dự định đi đâu?”

Tiểu Thuận, Tiểu Thuý đưa mắt nhìn nhau, rồi hoang mang lắc đầu.

Trương bá chậm rãi nói: “Quê Trương bá ở Khúc Ốc, Hà Đông, gọi là thôn Trương Gia, ở ngoại ô phía tây. Trong nhà còn mấy mẫu ruộng, mấy gian nhà nát. Nếu hai vợ chồng ngươi không chê, có thể đến đó an thân.” Nói đoạn, lấy ra một miếng ngọc quyết(3) từ trong ngực áo, đưa cho Tiểu Thuý. “Tiểu Thuý, Trương bá nhận con làm con gái, từ ngày hôm nay con sẽ mang họ Trương, là Trương Tiểu Thuý, còn Tiểu Thuận là con rể. Người trong tộc thấy miếng ngọc này, chắc chắn sẽ tiếp nhận hai con!”

Tiểu Thuý quỳ sụp xuống trước mặt Trương bá, khóc lớn mà gọi: “Cha ơi…”

Tiểu Thuận cũng rơm rớm nước mắt, ngẩng đầu nói: “Cha, chúng ta hãy cùng trở về! Từ hôm nay, con và Thuý Nhi sẽ phụng dưỡng cha!”

Trương bá mỉm cười: “Được rồi, các con hãy trở về trước, ta còn có chút việc riêng với nhà họ Trương, phải đi một chuyến!”

Tiểu Thuý hỏi: “Cha, cha định đi đâu?”

Trương bá ngẩng đầu nhìn trời hồi lâu, rồi chậm rãi nói: “Là một nơi rất xa, nhất thời không thể trở về ngay được. Hai con đừng băn khoăn nữa, nhân lúc trời còn chưa tối, hãy nhanh chóng lên đường!”

Hai vợ chồng gật đầu, rồi lạy Trương bá mấy lạy, tay trong tay ngậm ngùi gạt lệ, bước ra khỏi cổng.

Trương bá tiễn ra ngoài cổng, nhìn hút theo đến khi hai người chỉ còn là hai chấm đen nhỏ xíu, mới thở dài một tiếng, quay người đi vào, khép cổng gỗ lại, bước vào trong nhà. Rồi đóng chặt cửa, lấy hai đĩnh vàng từ trong ngực áo ra, tìm một mảnh vải trắng gói lại, cắn rách ngón tay lấy máu, viết lên vài chữ: “Thiếu gia bảo trọng, lão nô đi đây”. Rồi mang đặt lên mặt bàn.

Một người đàn bà trung niên dẫn đường cho Tô Tần, khó khăn lắm mới tìm được đến đây, vòng vèo tìm kiếm một hồi, rồi đi lại gần gian nhà dột nát kia. Người đàn bà chỉ vào trong nhà, nói: “Đó, người nhà Trương thiếu gia ở trong căn nhà đó!”

Tô Tần vòng tay vái dài, kéo dài giọng, ngân nga nói lớn: “Đa tạ đại tẩu!”

Người đàn bà nghe vậy, thấy vui lòng, bèn gọi vọng vào trong cổng: “Trương bá, có khách quý đến chơi!”

Không có tiếng trả lời.

Người đàn bà lại gọi: “Trương thiếu gia, có nhà không?”

Vẫn không có tiếng trả lời.

Người đàn bà nhìn Tô Tần, cười nói: “Họ không có nhà, chắc là ra mộ Trương phu nhân rồi. Cậu hãy vào trong sân ngồi đợi một lát, tôi ra ngoài mộ tìm Trương thiếu gia!”

Nói xong liền mở cổng, dẫn Tô Tần vào trong, đi thẳng vào nhà chính.

Người đàn bà vừa đẩy nhẹ, cánh cửa đã mở ra. Vừa bước qua ngưỡng cửa, chị ta bỗng rú lên khiếp đảm, mặt cắt không còn giọt máu, nhảy ra ôm chặt lấy Tô Tần: “Ôi cha mẹ ơi!”

Tô Tần vội bước lên nhìn, thì thấy một ông già cổ tròng vào sợi thừng cỏ, treo lủng lẳng trên xà nhà. Tô Tần nhảy vọt tới như một mũi tên, một tay đỡ lấy ông lão, một tay tháo vội nút thừng, hạ ông xuống dưới đất, rồi đặt tay trước mũi xem thử, thấy đã tắt thở tự bao giờ.

Trên khu mộ của nhà họ Trương, bên cạnh ngôi mộ của Trương phu nhân, lại có thêm một ngôi mộ mới đắp.

Trương Nghi, Tô Tần cùng quỳ xuống trước mộ, mỗi người lạy mấy lạy. Trương Nghi ngoảnh lại, đưa mắt nhìn Tô Tần, chậm rãi hỏi: “Tô huynh sao lại đến đây?”

Tô Tần cất giọng ngân nga kéo dài như hát: “Gia phụ bức hôn, Tô Tần không chịu, nửa đêm bỏ trốn, quay lại vương thành, đi tìm hiền đệ, lần đến nơi đây. Hiền đệ mất mẹ, gia đạo suy vi. Thật đáng buồn thay, Tô Tần cũng thấy đau lòng!”

Trương Nghi cảm thán: “Lời của ông lão mày trắng, hôm nay Trương Nghi đã phục rồi! Tô huynh, ông lão đó nói huynh sẽ làm tới chức khanh tướng, xem ra chẳng phải nói chơi!”

Tô Tần lại ngâm nga: “Lời của thầy bói chớ tin tưởng, xin hỏi hiền đệ muốn về đâu?”

Trương Nghi từ từ quay sang ngôi mộ mới đắp của mẫu thân, nghiến răng mà nói: “Mười ba năm trước người Tần xâm lược ta, tiên phụ xả thân vì nước. Nay người Tần lại đến xâm phạm, phá tan nhà ta, giết hại dân ta, cướp của nhà ta, ép chết tiên mẫu và Trương bá! Thù nước hận nhà không đội trời chung, Nghi không có mong muốn gì khác, chỉ muốn được báo thù này!”

Tô Tần ngẫm nghĩ một lát, lại chậm rãi nhấn nhá: “Thù nước hận nhà rồi phải báo, một sớm một chiều chẳng thể xong. Hiền đệ nay cung tên chẳng có, chẳng lẽ tay không bắn chim ưng?”

Trương Nghi trầm ngâm suy nghĩ, một hồi lâu sau, mới đưa mắt nhìn mông lung về phía xa xăm: “Theo ý của Tô huynh, ngu đệ phải làm thế nào?”

Tô Tần rút ra chiếc túi gấm từ trong tay áo, đưa cho Trương Nghi.

Trương Nghi mở ra, đọc: “Muốn chữa nói lắp, ca hát ngâm vịnh. Muốn trị tận gốc, đến núi Vân Mộng”. Trương Nghi suy nghĩ một lát rồi gật gù: “Ồ, thảo nào nãy giờ Tô huynh cứ mở miệng ra là hát, thì ra là được cao nhân chỉ điểm!” Lại suy nghĩ thêm một lát, rồi đưa mắt nhìn Tô Tần. “Xin hỏi Tô huynh, huynh lấy được thứ này từ đâu?”

“Vương thành tìm đệ không thấy, dọc đường gặp được cầm sư, đưa cho túi gấm một chiếc, nói rằng có người gửi cho.”

“Cầm sư? Núi Vân Mộng?” Trương Nghi lầm bầm tự nhủ, rồi đột nhiên kêu lên. “Tô huynh, quả là tạo hoá!”

Tô Tần hai mắt tròn xoe, ngơ ngác không hiểu. Trương Nghi hào hứng nói: “Đệ từng nghe cầm sư nhắc đến núi Vân Mộng, nói rằng ở trong núi có khe Quỷ Cốc, trong khe có một vị Quỷ Cốc tiên sinh, cầm nghệ xuất thần nhập hoá, cho dù Du Bá Nha tái thế, cũng chịu kém ba phần. Nói thực lòng, tài năng của cầm sư, Trương Nghi đã rất khâm phục, hôm đó đùa giỡn cầm sư, một là tuỳ hứng, hai là muốn thử bản lĩnh của ông ấy. Nhưng cầm sư khi nhắc tới Quỷ Cốc tiên sinh, lại hết lời ca ngợi, thiết nghĩ vị Quỷ Cốc Tử này chắc chắn phải là thần nhân. Có điều Quỷ Cốc tiên sinh chưa bao giờ thu nhận đệ tử, cầm sư đã mấy lần tìm đến bái kiến nhưng tiên sinh đều không đồng ý. Hôm nay Tô huynh nhận được thư này, chẳng lẽ lại là…” Nói nửa chừng, đột nhiên ngưng bặt, lại suy nghĩ một lát rồi vỗ trán một cái. “Đúng rồi, chắc chắn là như vậy!”

Tô Tần chẳng hiểu gì, chỉ ngây người giương mắt nhìn Trương Nghi.

Dường như Trương Nghi đã phát giác ra một điều hệ trọng: “Lão già xem tướng chắc chắn là Quỷ Cốc tiên sinh! Tô huynh thử nghĩ xem, nếu là thầy tướng số bình thường, làm gì có được thần công như thế? Lá thư này chắc chắn cũng do Quỷ Cốc tiên sinh gửi. Cũng có nghĩa là, Quỷ Cốc tiên sinh có ý nhận Tô huynh làm đệ tử. Nếu Tô huynh có thể làm môn đệ của tiên sinh, đương nhiên sẽ tu được bản lĩnh hơn người, chắc hẳn sẽ làm tới hàng khanh tướng!”

Tô Tần trầm ngâm suy nghĩ, cũng đã hiểu ra, bèn ngâm nga: “Chẳng trách lúc cầm sư đưa thư, thở than mấy lần rằng thời vận.”

“Vậy thì đúng rồi!” Trương Nghi càng nói càng hào hứng. “Trước đây Quỷ Cốc tiên sinh chưa từng nhận đệ tử, nhưng nay lại thu nhận, đó chính là thời. Cầm sư nhiều lần khẩn cầu nhưng Quỷ Cốc tiên sinh đều không đồng ý, Tô huynh không cầu mà Quỷ Cốc tiên sinh lại chủ động mời đến, đó chính là vận. Tô huynh có thời có vận, cầm sư không than mới lạ!” Rồi vòng tay vái Tô Tần mấy vái. “Tô huynh ở trên, Trương Nghi xin chúc mừng!”

Tô Tần suy nghĩ một lát, lại cất tiếng hát trầm bổng: “Hiền đệ không chê Tần phận hèn, cùng Tô Tần kết nghĩa kim lan. Nếu Tô Tần quả có thời vận, há lại bỏ đệ hưởng riêng mình?”

Trương Nghi nói: “Đa tạ ý tốt của Tô huynh. Nhưng… có trách là trách hôm đó có mắt mà không thấy núi Thái Sơn, đệ đã mạo muội xúc phạm đến tiên sinh. Nếu đệ lên núi, chắc chắn tiên sinh sẽ ghi hận chuyện này, mà không thu nhận.”

“Hiền đệ xin chớ nản lòng, huynh đệ cùng bái sư tôn. Nếu lỡ tiên sinh không nhận, Tô Tần cũng chẳng nhập môn.”

Trương Nghi cảm động, thở dài mà nói: “Đời người như giấc mộng, được một tri kỷ đã là quá đủ. Trương Nghi gặp được Tô huynh, coi như không sống uổng kiếp này. Tô huynh hãy đi trước một bước, Trương Nghi ở đây chịu tang tiên mẫu hết một tháng, sẽ tự tìm đến Quỷ Cốc.”

“Chúng ta đã là thủ túc, mẹ đệ cũng là mẹ ta, Tô Tần nên cùng hiền đệ, cùng chịu ba tháng tang nhà.”

Trương Nghi nắm chặt tay Tô Tần, nước mắt trào ra giàn giụa. Hai người tay nắm tay cùng quỳ trước mộ Trương phu nhân.

Bóng tịch dương đã xế về tây, nửa bầu trời đỏ ối, hắt lên hai bóng người đen thẫm phía xa xa.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử