Sư Lý Tật chỉ nhẹ tênh bật ra bốn chữ “Tử Vân công chúa”, đã khiến công tử Ngang biến thành tù binh nước Tần.
Tuy nhiên, công tử Ngang sớm đã có chí nguyện hy sinh vì nước, dù Tần Công đích thân cởi trói cho hắn, đối xử theo nghi lễ thượng khách, công tử Ngang vẫn không chịu hàng phục. Tần Công chẳng còn cách nào, đành “mời” hắn về Hàm Dương, gửi trong phủ Sư Lý Tật.
Nửa tháng sau, Trần Chẩn từ đất Sở khải hoàn, lập tức vào cung tấu báo với Tần Công, thuật lại tỉ mỉ từ chuyện Chiêu Dương chuẩn bị giao chiến ra sao, sốt sắng lập công như thế nào, rồi mình dùng cách gì để thuyết phục Chiêu Dương, khiến Chiêu Dương thay đổi ý định, rồi Sở Vương ra mật chỉ ngồi yên quan sát. Tần Công nghe xong, nắm chặt tay Trần Chẩn, khảng khái mà thốt lên rằng: “Sáu nước phạt ta lần này, thế như Thái Sơn sập xuống đỉnh đầu. Vào thời khắc nguy nan, người can đảm dấn thân, cứu vãn lấy cơ nghiệp Đại Tần bên bờ sụp đổ, không ai khác chính là ái khanh!”
“Chúa thượng…” Trần Chẩn xúc động đến trào nước mắt, quỳ xuống bật khóc mà nói. “Vi thần chẳng qua chỉ là làm tròn chức trách cỏn con của mình, chúa thượng khen ngợi như vậy, vi thần thực sự… hổ thẹn không dám nhận!”
Tần Công phá lên cười sảng khoái: “Ái khanh bất tất phải khiêm tốn. Lần này ngự địch, sở dĩ đường Hàm Cốc chưa mất, Hà Tây, Thương Ư bình yên vô sự, đều là do người Sở không động binh. Mà người Sở không động binh, công lao là ở một mình ái khanh.”
“Tạ… tạ ơn tri ngộ của chúa thượng!”
“Soạn chỉ!” Tần Công quay sang nội thần. “Trần thượng khanh đi sứ sang Sở đẩy lùi hợp tung, công lao hiển hách, thưởng cho trăm lượng vàng, mười vũ nữ, mười bốn súc gấm lụa, một viên dạ minh châu, một cỗ xe kiệu, hai con ngựa quý.”
Nội thần ghi chép lại từng món đồ vật mà Tần Công ban thưởng.
“Chúa thượng!” Trần Chẩn tạ ơn. “Vi thần chỉ làm chút việc cỏn con, chúa thượng lại ban thưởng hậu hĩnh đến vậy, vi thần thực sự không dám nhận…” Nói rồi khấu đầu lia lịa.
“Ái khanh hãy bình thân!” Tần Công mỉm cười với Trần Chẩn, khẽ phất tay. “So với công trạng to lớn của ái khanh, chút lễ vật này có thấm tháp gì? Hơn nữa, quả nhân còn có một thỉnh cầu!”
Trần Chẩn đứng dậy ngồi vào chỗ, vòng tay nói: “Tấm thân hèn này đã thuộc về chúa thượng, chúa thượng nếu cần sai khiến, vi thần sẵn sàng lao vào dầu sôi lửa bỏng, có chết cũng không từ!”
“Không, không, không!” Tần Công lắc đầu quầy quậy. “Ái khanh là bảo bối của quả nhân, không thể chết được!” Rồi ngả người về phía trước. “Quả nhân nghe nói ái khanh có giao tình mật thiết với công tử của Ngụy Vương là An Quốc Quân, có chuyện này chăng?”
“Quả có chuyện này! Dám hỏi chúa thượng có gì sai bảo?”
“Tần không thiếu binh, có thiếu là thiếu tướng tài điều binh. Nhìn vào trận chiến này, An Quốc Quân phạt Hà Tây của ta, mưu trí vũ dũng hơn người, xứng đáng là tướng tài hiếm có.” Tần Công vòng tay. “Đại tài như vậy, quả nhân thực lòng muốn có được, mong ái khanh trợ giúp.”
“Chúa thượng!” Trần Chẩn ngẫm nghĩ một lát, cười mà như mếu. “An Quốc Quân có phải tướng tài hay không, liệt quốc đều biết rõ. Theo vi thần thấy, về tài điều binh của người này, trí không bằng Công Tôn Diễn, dũng không bằng Tư Mã Thác. Trong tam quân của Đại Tần, người có trí như Công Tôn Diễn, dũng như Tư Mã Thác không phải là hiếm, vậy mà chúa thượng lại coi trọng người này đến vậy, dám hỏi…”
“Than ôi!” Tần Công thở dài một tiếng. “Ái khanh đã hỏi như vậy, quả nhân cũng đành nói thực lòng. Năm xưa khi tiên quân còn tại thế, đã gả em gái ta cho An Quốc Quân, tuy là bị bức bởi tình thế, song em gái ta và An Quốc Quân dù sao cũng có nghĩa vợ chồng. Em gái ta đã lập đại công cho nước Tần, nay lại sống lủi thủi trong cung, gả cho người khác e là không thoả, mà nếu không gả, quả nhân sao có thể đành lòng nhìn nó đơn độc cả đời?”
“Chúa thượng!” Thấy Tần Công nói tới nước này, Trần Chẩn rất đỗi xúc động, vòng tay mà nói. “Lòng nhân từ của chúa thượng, vi thần đã thấu hiểu. Chỉ có điều, An Quốc Quân…” Lại ngập ngừng, sắc mặt lộ vẻ băn khoăn.
“Người này không bị tổn thương lấy một cọng tóc, hiện tại đang ở Hàm Dương, sống trong phủ thượng đại phu. Hôm qua nghe Sư Lý ái khanh nói, An Quốc Quân ôm chí hy sinh vì nước, đã tuyệt thực ba ngày trời. Quả nhân không muốn để hắn chết, mà người duy nhất khiến hắn sống, chỉ có thể là ái khanh!”
“Tạ ơn chúa thượng coi trọng!” Trần Chẩn khẽ vòng tay. “Vi thần xin phụng chỉ tới thăm bạn cũ!”
Hậu viện trong phủ thượng đại phu tĩnh mịch không một bóng người.
Trong một căn phòng bên, cánh cửa hơi hé mở, công tử Ngang mình mặc nhung phục, hai mắt khép hờ, ngồi ngay ngắn trên chiếu.
Trên bàn trước mặt bày vài đĩa thức ăn ngon, đều đã nguội tanh nguội ngắt. Dưới đất để một hũ rượu quý, nắp hũ đã mở, chén rượu trên bàn cũng đã rót đầy, mùi rượu thơm, mùi thức ăn sực nức tứ phía, song rõ ràng chưa có ai động chạm, đôi đũa ngọc vẫn đặt ngay ngắn ở nguyên vị trí.
Cánh cửa cót két mở ra. Trần Chẩn bước vào, từ từ ngồi xuống trước mặt công tử Ngang.
Công tử Ngang rõ ràng đã biết có người tới, tấm lưng càng vươn thẳng, hai mắt càng nhắm chặt.
“Thượng tướng quân, là hạ quan Trần Chẩn tới thăm!” Trần Chẩn nói rất khẽ.
Công tử Ngang rùng mình một cái, mở choàng mắt, hai luồng nhãn quang sắc như lưỡi kiếm chiếu thẳng vào Trần Chẩn.
“Trần Chẩn bái kiến thượng tướng quân!” Trần Chẩn vòng tay nói.
“Hừm!” Công tử Ngang liếc xéo Trần Chẩn, không giấu vẻ khinh miệt. “Ta còn tưởng là ai, hoá ra là kẻ gian này!”
“Hay, hay lắm!” Trần Chẩn dựng ngón tay cái lên. “Thượng tướng quân chửi rất hay!”
“Ngươi…” Công tử Ngang giận dữ. “Thực chưa gặp người nào vô sỉ như ngươi!”
“Không, không, không,” Trần Chẩn lắc đầu quầy quậy. “Thượng tướng quân có thể chửi Chẩn là kẻ gian, song không được chửi Chẩn là vô sỉ.”
“Ồ?” Công tử Ngang khựng lại, hai mắt nhìn chằm chằm vào Trần Chẩn. “Vì sao lại không thể?”
“Thượng tướng quân hãy xem!” Trần Chẩn cầm lấy chén rượu trước mặt công tử Ngang, đổ ra một ít, chấm ngón tay vào rượu, vẽ ra một chữ “gian” trên mặt bàn. “Ba nữ thành gian(1), nữ là gia thất, gia thất là riêng tư, gian tức là riêng tư. Chẩn là người thô tục, thích sơn hào hải vị, đam mê mỹ nữ, công danh phú quý, là một kẻ gian thực thụ. Song, Chẩn tuy là kẻ gian, nhưng không phải là kẻ vô sỉ. Chẩn ở Ngụy hơn chục năm, thượng tướng quân đã từng thấy Chẩn làm ra chuyện vô sỉ nào chưa? Đã từng thấy Chẩn cướp bóc lừa gạt ai chưa? Đã từng thấy Chẩn bất trung bất hiếu chưa? Đã từng thấy Chẩn vong ơn phụ nghĩa chưa? Đã từng thấy Chẩn ăn nói bất tín chưa? Đã từng thấy Chẩn ngang nhiên cưỡng đoạt chưa? Chẩn dám thề với trời cao, Chẩn đã dựa vào bản lĩnh để kiếm cơm, cũng dựa theo quy củ để làm người, tuy có lòng gian, song biết liêm sỉ.”
“Trần Chẩn!” Công tử Ngang cười nhạt một tiếng. “Tới nước này mà ngươi còn có thể thốt ra những lời đó! Ta hỏi ngươi, ngươi bày ra sòng bạc, dụ dỗ thiếu gia nhà họ Bạch thua sạch gia sản, đã tính là cướp đoạt chưa? Ngươi bịa ra chuyện phượng hót rồng ngâm gì đó, xúi giục phụ vương quay mặt về nam xưng vương, khiến Đại Ngụy từ đó rơi vào nguy cục, đã tính là bất trung chưa? Phụ vương đối đãi với ngươi không tệ, ngươi lại quay lưng với phụ vương, giúp đỡ kẻ thù không đội trời chung với Ngụy, đã tính là vong ân phụ nghĩa chưa? Còn như đời này đã từng làm chuyện bất tín hay không, ngươi hãy tự hỏi lương tâm mình đi!”
“Than ôi!” Trần Chẩn thở dài một tiếng, nước mắt ứa ra. “Người khác không biết nội tình, nói vậy còn được, sao thượng tướng quân lại có thể thốt ra những lời như thế? Tại hạ mở lầu Nguyên Hanh là thật, song tại hạ mở ra là vì ai? Chẳng phải là vì thượng tướng quân ư? Bạch thiếu gia rơi vào cảnh đó, là do hắn tự nguyện, tại hạ đâu có sai người bức ép hắn? Quay mặt về nam xưng vương vốn là tâm nguyện của bệ hạ, tại hạ nghĩ ra chuyện phượng hót rồng ngâm, là tận trung với bệ hạ. Bệ hạ đối đãi không tệ với tại hạ, song tại hạ cũng đã dốc hết tâm can vì bệ hạ. Còn về việc phải bỏ chạy khỏi Ngụy, thượng tướng quân đã hiểu rõ nội tình. Nếu Chẩn không đi, thượng tướng quân còn có thể gặp Chẩn ở đây chăng? Chuyện giữ chữ tín cũng vậy, Chẩn không muốn tự biện bạch, hãy để công luận phán xét. Người khác không cần nói đến, theo những gì thượng tướng quân biết được, trong những năm qua, Chẩn đã từng làm ra chuyện thất tín nào chưa?”
Công tử Ngang cứng họng không biết phải nói gì.
“Thượng tướng quân!” Trần Chẩn lau nước mắt. “Những năm qua, nỗi lòng của Chẩn, duy có tướng quân là hiểu rõ. Oan khuất của Chẩn, cũng chỉ có thể giãi bày với tướng quân. Chẩn thoát được hoạ lăng trì của Bàng Quyên, cũng coi như đã chết một lần. Từ ngày Chẩn đến Tần, vốn cho rằng đã chẳng còn ai tri kỷ, nào ngờ ý trời thương tình, nay được gặp lại thượng tướng quân, có chết cũng không còn gì đáng tiếc!” Rồi lấy từ trong giỏ ra một cái chén, bưng hũ rượu lên, rót đầy vào chén, hai tay nâng chén rượu đầy đưa tới trước mặt công tử Ngang.
Vỏ quýt dày có móng tay nhọn, Trần Chẩn chính là khắc tinh của công tử Ngang, mới thốt ra vài lời, đã khiến công tử Ngang không còn cách nào phản bác. Thấy Trần Chẩn cung kính dâng rượu mời mình, công tử Ngang không thể từ chối, lưỡng lự một hồi rồi cũng đưa tay nhận lấy.
“Thượng tướng quân!” Trần Chẩn nâng chén rượu trước mặt lên. “Không nói tới chuyện này nữa, hãy cạn chén vì mối giao tình bao năm qua giữa hai ta!” Nói xong, uống liền một hơi, rồi chìa chén rượu trơ đáy về phía công tử Ngang.
Công tử Ngang nhắm mắt lại, cũng một hơi cạn chén.
“Nào!” Trần Chẩn lấy ra một đôi đũa, gõ lanh canh lên đĩa thức ăn. “Thượng tướng quân, hãy lót dạ một chút để còn uống rượu. Ở đây không có người khác, hai ta phải uống thật say mới được!”
Đã có một, đương nhiên sẽ có hai. Công tử Ngang thở dài một tiếng, cầm đũa lên, gắp thức ăn bỏ vào miệng.
Do tuyệt thực đã ba ngày trời, thể lực suy yếu, trong bụng đói khát, giờ lại ăn uống đột ngột, lấy đồ nhắm làm cơm, lấy rượu làm nước, nên chưa đầy nửa canh giờ sau, công tử Ngang vốn dĩ tửu lượng cũng khá đã chịu không nổi, uống thêm chén đầy nữa thì tinh thần kích động, trước tiên là gõ cành cạch chén rỗng xuống bàn, tiếp đến đứng lên nhảy múa điên cuồng, đâm cả đầu vào cột trụ, sau đó nằm phủ phục dưới chân cột trụ gào khóc thống thiết.
Trần Chẩn ngồi im tại chỗ, không động thanh sắc, thấy tiếng khóc của công tử Ngang đã nhỏ lại, mới từ từ đứng dậy, tiến lại gần, hai tay đặt lên vai hắn ấn mạnh một cái mà nói: “Bắt đầu từ hôm nay, tại hạ không gọi công tử là thượng tướng quân nữa, cũng không gọi là An Quốc Quân nữa, mà sẽ gọi là Ngang huynh!”
“Trần huynh…” Công tử Ngang siết chặt tay Trần Chẩn. “Ngụy Ngang đời này sống thật uổng hoài!”
“Ngang huynh, hãy nói thử xem, uổng hoài thế nào?”
“Ngụy Ngang từ nhỏ say mê binh pháp, song hễ chiến là bại, khó khăn lắm mới đánh được một trận thống khoái, mà nay lại trở thành tù binh…” Công tử Ngang nghẹn họng không nói tiếp được nữa, lại đập đầu vào cột trụ.
“Bởi vậy, Ngang huynh, hãy nghe Chẩn nói một câu, núi xanh còn đó, sợ gì không có củi đun. Hãy nghĩ cho rộng, cơ hội chinh chiến ngày sau còn nhiều!”
“Tại hạ…” Công tử Ngang siết chặt nắm đấm, khiến các khớp ngón tay kêu lên răng rắc.
“Ngang huynh, đời người như mộng, nâng rượu ca vang. Thôi, hôm nay không nói chuyện này nữa, uống rượu!” Trần Chẩn nắm lấy cánh tay hắn, kéo trở lại trước bàn, tiếp tục nâng chén rượu mời.
Uống thêm vài chén nữa, công tử Ngang đã say mềm như bún. Trần Chẩn khẽ thở dài một tiếng, sai người cõng hắn lên xe, đưa về phủ của mình, sắp xếp tỳ nữ hầu hạ.
***
Trong trận chiến Hàm Cốc, nước Tần dựa vào sức mạnh một nước mà đối đầu với liên quân sáu nước, không thắng cũng coi như đã thắng.
Đây cũng là một lần hiện diện thực thụ trên vũ đài liệt quốc của Tần Công kể từ sau khi kế vị. Một tháng sau cuộc chiến, Tần Công hạ lệnh kiểm kê tổn thất, trợ giúp người bị thương, phủ tuất người tử chiến, tiếp đó luận công ban thưởng, tất cả các tướng sĩ như Công Tôn Diễn, Trần Chẩn, Tư Mã Thác, công tử Hoa, Sư Lý Tật, Cam Mậu, phàm là người tham chiến, đều được ban thưởng hậu hĩnh. Dù là Ngô Thanh bị công tử Ngang đánh cho tơi bời hoa lá, phải đóng chặt cửa không dám ló đầu ra, thất thủ liền vài chục ấp Hà Tây, song nhờ có kế sách ứng phó khôn khéo mà giúp Tần tránh khỏi tổn thất nặng nề hơn, đã không bị trách phạt, ngược lại còn được thăng tước một bậc.
Tần Công trên triều ban thưởng cho hàng loạt triều thần, duy chỉ không có Trương Nghi.
Triều thần cũng không bàn tán gì, đa phần cho rằng hắn tuy tham chiến, song không lập được công lao, do hắn chưa chém nổi lấy một cái đầu, cũng không trực tiếp cầm quân, mưu sách cũng là ngấm ngầm, đa phần chỉ nói cho một mình Tần Công nghe, dù là Công Tôn Diễn cũng không biết được.
Trương Nghi mới đầu cũng lấy làm ngạc nhiên, cho rằng Tần Công hẳn có sắp đặt khác, song đợi liền vài ngày, vẫn không thấy nói năng gì, dường như trường đại chiến này không có mảy may liên quan gì tới Trương Nghi hắn.
Trong thành Hàm Dương, mọi phủ trạch đều tổ chức ăn mừng, duy có phủ hữu thứ trưởng của Trương Nghi là im lìm như thóc thối, đừng nói là quản gia Tiểu Thuận tính khí hiếu thắng cảm thấy mất mặt, mà ngay cả Hương Nữ cũng tỏ ra bất bình, bảo hắn vào cung đòi lại công bằng. Song Trương Nghi rõ ràng đã nhìn thấu sự tình, chỉ cười mà nói rằng, trò hay còn ở phía sau, bảo Hương Nữ lập tức chuẩn bị tiệc rượu, sắp có khách quý tới nhà.
Quả đúng như vậy. Không lâu sau đó, vài cỗ xe ngựa đỗ xịch trước phủ, ba người Sư Lý Tật, công tử Hoa, Tư Mã Thác cùng bước xuống xe, đi thẳng vào chính đường.
Hương Nữ bày rượu thịt, bốn người vừa uống rượu vừa chuyện trò rôm rả, không đầy nửa canh giờ sau, đều đã ngà ngà say. Trong đám, chỉ có Sư Lý Tật hiểu rõ công lao của Trương Nghi, lúc này uống đã nhiều, bèn mượn rượu tỏ ý bất bình, công tử Hoa lớn tiếng phụ hoạ. Được biết việc mình xuất kỳ binh vốn là kế của Trương Nghi, Tư Mã Thác lấy làm thán phục, lập tức tỏ ý lúc nào lên triều sẽ thỉnh công cho Trương Nghi.
“Chư vị!” Trương Nghi xua xua tay, cầm chén rượu cười mà nói. “Tại hạ gọi chư vị tới, không phải cầu chư vị giúp tại hạ thỉnh công.”
Đám người thoáng ngỡ ngàng.
“Tại hạ có hai chuyện. Thứ nhất là,” Trương Nghi nâng chén rượu lên, “mời chư vị uống rượu. Tại hạ tuy là kẻ nát rượu, song không thích uống rượu buồn, mong chư vị trợ hứng. Nào, xin mời nâng chén!”
Ba người đua nhau nhấc chén rượu lên.
Trương Nghi nâng chén, vòng tay hướng về mọi người, một hơi uống cạn.
Song ba người không nâng chén, chỉ mở thao láo hai mắt nhìn hắn chằm chằm, đợi lời tiếp theo.
“Thứ hai là,” Trương Nghi mím môi, “là muốn tặng chư vị một công lao.”
Ba người đều đặt chén rượu xuống.
Trương Nghi ra hiệu, ba người bèn chụm đầu lại. Trương Nghi nói liền một lèo, ba người nghe xong thảy đều sửng sốt, đưa mắt nhìn nhau.
“Chư vị!” Trương Nghi cất lời dứt khoát. “Nếu tin tưởng tại hạ, hãy làm theo lời tại hạ, chắc chắn không có sai lầm.”
Sau một hồi trầm ngâm, ba người lần lượt gật đầu.
“Tốt lắm!” Trương Nghi lại rót một chén rượu. “Nào, vì công trạng này, cạn chén!”
Bốn người cùng chạm chén.
Nửa tháng sau đó, vào buổi đại triều trong cung Tần, Trương Nghi khởi tấu rằng nửa đêm quan sát thiên văn, thấy trên bầu trời Hàm Dương vương khí xung thiên. Công tử Hoa khởi tấu có phượng hót ở Kỳ Sơn, Sư Lý Tật khởi tấu thấy rồng bay ở Vị Thuỷ, Tư Mã Thác khởi tấu có kỳ lân xuất hiện ở ngoại ô phía bắc Hàm Dương. Mấy vị trọng thần kẻ xướng người hoạ, theo nhau bẩm tấu toàn những tượng lạ điềm lành, khiến toàn bộ triều đường nhất thời ngơ ngác.
Giống hệt như quần thần, Tần Công cũng trợn mắt kinh ngạc. Sau khi định thần trở lại, Tần Công đổi mặt làm giận, trách cứ mấy người một trận nên thân, nói vài câu vu vơ khuôn sáo đại loại như “địch lớn tuy đã lui, song hợp tung còn đó, cuộc chiến đầu tiên tuy thắng, song không được nôn nóng tự mãn, quay mặt về nam xưng vương…”, sau đó hạ lệnh bãi triều, phẩy ống tay áo bỏ đi.
Văn võ bá quan trong triều quay mặt nhìn nhau, rồi cùng đổ dồn ánh mắt vào người khởi tấu đầu tiên là Trương Nghi. Trương Nghi vỗ tay đôm đốp vài tiếng, rồi cũng quay người bước đi.
Chẳng ai hiểu nổi vì sao hắn lại vỗ tay.
Công Tôn Diễn đầy vẻ ngỡ ngàng, khép mắt suy nghĩ một hồi, rồi khẽ thở dài một tiếng, cũng lắc đầu bỏ đi.
Nhìn theo bóng Trương Nghi xa dần, khoé miệng Trần Chẩn bỗng hiện lên một nét cười méo mó rất khó hiểu, chau tít đôi mày tỏ rõ niềm thán phục, từ từ hít vào một hơi dài. Đúng vậy, những lời này đều là trò hay mà ông ta đã từng diễn, song năm xưa ông ta diễn trò này vất vả là thế, mà nay Trương Nghi lại chỉ tiện miệng nói bừa, đến một nhân chứng vật chứng cũng chẳng thèm chuẩn bị.
Quan trọng là, Trương Nghi đã diễn đúng thời điểm.
Luận theo tình thế thiên hạ, Tần Công cũng đã tới lúc xưng vương.
Suốt vài ngày liền, Tần Công không buồn lên triều.
Công tử Hoa có chuyện muốn bẩm tấu, nghe nói quân chủ đang ở trong ngự hoa viên, bèn tới đó cầu kiến, song bị nội thần túc trực chặn lại bên ngoài cổng. Công tử Hoa bèn kéo nội thần lại, hỏi rõ đầu đuôi.
“Không giấu công tử!” Nội thần khẽ nói. “Mấy ngày nay chúa thượng tâm sự trùng trùng, cả ngày chỉ ngồi ngơ ngẩn, đừng nói là gặp người khác, đến ăn uống cũng giờ giấc đảo lộn. Có điều, hôm nay tâm trạng có vẻ tốt hơn, nghe nói hoa nghênh xuân trong vườn nở rộ, đã khởi giá tới thưởng hoa, mọi người đều phấn khởi. Nội tể đặc biệt căn dặn tiểu nhân canh gác ở đây, bất cứ ai tới cũng không cho phép vào, tránh làm chúa thượng mất hứng.”
“Ồ…”
“Nếu là việc gấp, công tử hãy chờ ở đây, đợi lúc chúa thượng trở ra, có thể yết kiến.”
“Cũng được!” Công tử Hoa vòng tay cảm tạ, rồi tiến lại chỗ con đường rợp bóng cây gần đó lững thững tản bộ.
Đang dạo bước, chợt công tử Hoa nghe thấy có tiếng chân bước líu ríu phía sau, một mùi hương thanh tao thoảng tới, bèn quay đầu lại nhìn, ngạc nhiên thốt lên: “Vân muội!”
Là Tử Vân công chúa!
“Nhị ca!” Tử Vân dừng bước, hơi thở có phần hổn hển.
“Vân muội, có chuyện gì mà phải vội vàng đến thế?”
“Tìm nhị ca!” Tử Vân đưa mắt lườm công tử Hoa.
“Tìm ta?” Công tử Hoa cười vui vẻ. “Có đồ ăn ngon chăng, hay là có chuyện gì thú vị?”
“Nhị ca lúc nào cũng chỉ nghĩ đến chuyện tốt cho mình,” Tử Vân lại trách móc, “chưa bao giờ chịu nghĩ cho Tử Vân!”
“Ồ, Vân muội!” Công tử Hoa trông càng hớn hở. “Nói như vậy là oan cho nhị ca rồi! Nhị ca hỏi Vân muội, đã có lúc nào nhị ca không nghĩ cho Vân muội chưa? Đã có chuyện gì nhị ca không nghĩ cho Vân muội chưa? Nhớ năm xưa Vân muội muốn ăn quả trường thọ trong chậu hoa của lão thái hậu, là ai đã đi hái trộm về cho Vân muội ngay dưới cây gậy đầu rồng của lão thái hậu?”
“Chỉ bảo nhị ca trộm quả một lần, mà tối ngày ra rả bên miệng!” Tử Vân làm bộ giận dỗi.
“Được rồi, được rồi!” Công tử Hoa tiến lại, dịu giọng hỏi. “Vân muội muốn nhị ca làm gì, xin cứ hé miệng ngọc!”
“Vân muội…” Tử Vân mặt thoáng ửng hồng, “muốn gặp một người!”
“Ai?”
“Chính là… chính là… chính là…” Mặt Tử Vân càng đỏ bừng.
Công tử Hoa cười hề hề, ghé sát tai nàng thì thào: “Là An Quốc Quân ư?”
Tử Vân nhổ phì một cái, giơ tay túm chặt lấy vành tai công tử Hoa, nghiến răng uất hận: “Còn nhắc tới tên đáng chết đó, xem cái tai này đứt làm đôi!”
“Ái chà!” Công tử Hoa ôm tai xoa lấy xoa để. “Không phải là hắn… thì là ai?”
“Chính là người mà nhị ca thường nhắc tới đấy!”
“Ồ…” Công tử Hoa thoáng bối rối. “Nhị ca thường nhắc tới nhiều người lắm, Vân muội muốn gặp người nào?”
“Chính là… cái người miệng biết nói năng đấy!”
Công tử Hoa gãi đầu gãi tai: “Vân muội ơi, cái miệng nào mà chẳng biết nói năng?”
“Hữu thứ trưởng!” Tử Vân công chúa thẳng thừng. “Chính là Trương Nghi!”
“Trương Nghi?” Công tử Hoa sững sờ. “Vân muội, chuyện này… chuyện này không được!”
“Tại sao?”
“Tại vì…” Công tử Hoa vò đầu bứt tai, “tại vì Trương Nghi đã có gia thất lâu rồi!”
“Tử Vân biết rồi. Phu nhân của chàng tên là Hương Nữ, cơ thể bẩm sinh toả hương thơm lạ, còn biết múa kiếm!”
“Phải, phải, phải!” Công tử Hoa dựng ngón tay cái tỏ vẻ khen ngợi. “Vân muội quả nhiên tai mắt tinh tường!”
“Nhị ca!” Khuôn mặt Tử Vân đã không còn sắc hồng, trong mắt ánh lên vẻ cương quyết ngang ngạnh, chiếu thẳng tới công tử Hoa. “Vân muội đã ưng ý người này, nhị ca nhất định phải giúp!”
“Chuyện này…” Công tử Hoa vô cùng lúng túng. “Vân muội có điều không biết, Trương Nghi và phu nhân ân ái mặn nồng. Không giấu Vân muội, nhị ca chưa từng nghe nói hắn gặp gỡ người đàn bà nào khác bên ngoài, trong phủ cũng không nạp thiếp, hẳn Trương Nghi là kẻ chung tình!”
“Nếu họ không mặn nồng, nếu kẻ đó không chung tình, thì Tử Vân cũng chẳng thèm để mắt!” Tử Vân càng nói càng kiên quyết. “Nhị ca, em đã ưng chàng rồi, em muốn gặp chàng.”
Rõ ràng Tử Vân không phải nhất thời suy nghĩ nông nổi, mà thực sự đã phải lòng. Công tử Hoa trấn tĩnh trở lại, hít sâu một hơi, ngẫm nghĩ một hồi, rồi vỗ đánh đét vào trán mà nói: “Có rồi!”
“Nhị ca hãy nói mau!”
“Trương Nghi rất ham rượu, nhị ca sẽ chuốc hắn say mèm, để Vân muội và hắn gạo nấu thành cơm, thế nào?”
“Chuyện này…” Tử Vân sắc mặt đỏ ửng, chần chừ một lát, rồi lập tức gật đầu. “Cũng được! Nghe nói Hương Nữ năm xưa cũng thành hôn với chàng bằng cách này.”
“Ồ!” Công tử Hoa kinh ngạc. “Vân muội thực thần thông, chuyện gì cũng biết, còn hơn cả đám Hắc Điêu của nhị ca!”
Tử Vân ngượng ngùng, cúi gằm mặt xuống.
Nghĩ lại việc mình cần tấu không thực quan trọng, công tử Hoa lập tức đổi ý, mời Tử Vân tới phủ của mình, dặn dò Phạm Trù chuẩn bị rượu và đồ nhắm ngon lành, đích thân đi mời Trương Nghi.
Trương Nghi sớm đã nghe nói về hũ rượu trăm năm, thấy công tử Hoa tới mời, không chút chần chừ, cất bước đi ngay.
Phạm Trù trổ hết tài nghệ, chuẩn bị một bàn thức ăn đầy ắp với đủ loại món nguội món nóng ngon lành, lại múc lấy một bình từ hũ rượu lâu năm do tổ tiên để lại, bày giữa sảnh đường. Trương Nghi vừa bước vào sân đã ngửi thấy mùi rượu thơm ngào ngạt, tấm tắc khen ngợi, lập tức sà ngay vào mâm, ngồi phịch xuống chiếu.
Công tử Hoa cũng chẳng nhiều lời, liền ngồi xuống đối diện với Trương Nghi, cầm lấy bình rượu đã bày sẵn trên bàn, hít hà vài cái, hào hứng kể lại sự tích về hũ rượu trăm năm của dòng họ Phạm, rồi nói rằng số người được uống rượu này chỉ đếm được trên đầu ngón tay, ở đất Ngụy, duy chỉ có hai người chết và hai người sống là từng được uống. Hai người chết là ông nội và cha của Phạm Trù, hai người sống là Tôn Tẫn và công tử Hoa. Đừng nói là Bàng Quyên, đến Ngụy Vương cũng chưa từng được nếm. Mà ở đất Tần, được uống rượu này cũng chỉ có ba người, một là Tần Công, hai là Doanh Kiền, phụ thân của công tử Hoa, và ba là Trương Nghi. Trương Nghi chưa uống đã say, cầm bình rượu lên, hít hà vài cái, đang định rót rượu vào chén thì công tử Hoa ngăn lại.
“Trương huynh, khoan đã!” Công tử Hoa cầm lấy bình rượu, tươi cười mà nói. “Nay có mỹ tửu, phải có mỹ nhân rót rượu mới đúng!” Nói xong, vỗ tay một tiếng, Tử Vân xiêm y trắng muốt, tha thướt bước vào, không thấy châu báu xa hoa, không thấy tô son điểm phấn, chỉ thấy hai má ửng hồng, đôi mắt long lanh, ánh mắt liếc khoé miệng cười đều toát lên một vẻ đẹp tinh khôi quyến rũ.
Dù Trương Nghi là kẻ lịch duyệt đã nhiều, song lúc này vẫn nhìn mà ngơ ngẩn, trong lòng thốt nhiên xao động, bèn quay sang công tử Hoa khen ngợi: “Quả là mỹ nữ, công tử nhà vàng giấu giai nhân, hôm nay tại hạ đã có phúc ngắm nhìn!”
“Tiểu nữ đa tạ lời hay ý đẹp của tiên sinh!” Tử Vân quỳ xuống, cầm lấy bình rượu, khoan thai rót vào trong chén, cử chỉ giống hệt tỳ nữ bình thường.
Nhìn trang phục của Tử Vân, Trương Nghi cho rằng nàng chỉ là tỳ nữ trong phủ, thì không hỏi thêm gì, quay sang vừa trò chuyện với công tử Hoa, vừa thưởng mỹ tửu.
Quả là rượu ngon. Chẳng mấy chốc, “rượu tiên” trong bình đã thưởng hết, mà tửu hứng của hai người chỉ vừa mới khởi đầu. Công tử Hoa bèn sai người mang lên tiếp bình rượu ủ ba mươi năm, vui vẻ uống tiếp.
Có mỹ nữ rót rượu, lại có mỹ tửu hiếm có dạo đầu, hai người càng thêm tận hứng. Chưa đầy nửa canh giờ sau, hũ rượu lâu năm đã trơ đáy, công tử Hoa lại gọi người mở tiếp một hũ nữa, đồng thời gọi người vào ca múa. Mười sáu nhạc công lần lượt tiến vào, quỳ ngay ngắn dưới chiếu, tấu khúc nhã nhạc. Mời sáu vũ nữ uyển chuyển lướt ra, múa theo tiếng nhạc. Âm nhạc du dương, thế múa yêu kiều, lại có mỹ nhân hầu rượu, công tử chuốc rượu liền tay, Trương Nghi không thể cưỡng lại, chốc lát đã uống tới say mèm.
Người khác say mèm, hoặc nôn hoặc ngủ, Trương Nghi say rượu, lại nổi tính điên khùng, đột nhiên đứng phắt dậy, lảo đảo bước ra giữa sân nhảy múa. Tử Vân thấy vậy, cũng đứng dậy theo, tiến lại bên hắn múa cùng. Trương Nghi hai mắt lờ đờ, Tử Vân thiết tha tình tứ, nhảy múa chưa được bao lâu, hai thân thể đã một qua một lại, áp sát vào nhau.
Thấy Trương Nghi chân bước xiêu vẹo, công tử Hoa liền ra hiệu, Tử Vân bèn dìu ngay hắn vào phòng bên, đỡ hắn nằm lên giường.
Khi Trương Nghi tỉnh dậy đã là nửa đêm. Trong phòng vài ngọn đèn vẫn cháy, hai chậu than đỏ lửa, không gian sáng sủa lại ấm sực. Tử Vân nằm gọn trong lòng hắn, đang ngủ say sưa, nhưng xiêm y lỏng lẻo, đầu tóc xoã rối, thứ gác lên bộ ngực đầy đặn nửa kín nửa hở của nàng chính là cánh tay hắn.
Trương Nghi kinh hãi đến toát mồ hôi hột, cuống quýt buông vội tay ra, lật người ngồi dậy.
Trương Nghi cử động khiến Tử Vân cũng choàng tỉnh dậy theo. Phát giác ra tình thế khó xử, Tử Vân thẹn thùng đỏ mặt, luống cuống khép vội xiêm y, chẳng kịp để ý chỉnh trang đầu tóc, cứ thế chạy vụt ra khỏi phòng.
Thấy Tử Vân bỏ chạy, Trương Nghi mới thở phào một tiếng, hồi tưởng lại toàn bộ những sự việc xảy ra tối qua, vỗ vào trán liền mấy cái, lẩm bẩm: “Trương Nghi, uống rượu là gây chuyện, nhớ kỹ lấy, nhớ kỹ lấy!”
Ngái ngủ mất một lúc, cảm thấy mót tiểu, Trương Nghi đứng dậy, vội đi tìm nhà xí mà không thấy, nhìn ngó xung quanh chẳng thấy ai, bèn xả bừa vào một bụi trúc trong sân, rồi quay trở vào phòng, đổ người xuống giường ngủ tiếp.
Khi Trương Nghi tỉnh lại, trời đã sáng bảnh, trong sân vọng lại tiếng người.
Tiếp đó là tiếng bước chân rậm rịch, rồi công tử Hoa xuất hiện.
Nhớ lại chuyện đêm qua, Trương Nghi tỏ vẻ ngượng ngùng, vòng tay mà nói: “Rượu ngon của công tử, đã khiến Trương Nghi gây chuyện hổ thẹn!”
Công tử Hoa cũng vòng tay, cười sảng khoái mà rằng. “Nghe nói Trương huynh là người nồng nhiệt, đến hôm qua mới tin! Rượu không làm say người, mà là người tự say. Trương huynh uống đến sau cùng, hai mắt đờ đẫn, trong mắt chỉ có mỹ nhân, đến tại hạ cũng không thèm đếm xỉa.”
Trương Nghi khắp mặt nóng ran: “Là công tử mưu hại tại hạ!”
“Ồ, đã được lợi còn lên mặt, trên đời này sao lại có kiểu người như Trương huynh kia chứ?” Công tử Hoa được thể lấn tới.
“Được rồi, được rồi!” Trương Nghi vòng tay vái lia lịa. “Tại hạ phục công tử rồi!” Rồi ngẩng nhìn sắc trời. “Tại hạ xin cáo từ, suốt đêm qua không về phủ, Hương Nữ hẳn đang lo lắng!”
“Này Trương huynh!” Công tử Hoa vẫn không buông tha. “Trương huynh chỉ biết tới tẩu phu nhân, lẽ nào không hỏi xem đêm qua đã ân ái canh thâu, gối ấp tay kề với ai ư?”
“Là ai?” Trương Nghi trong lòng giật thột.
“Chính là ngự muội ruột thịt của bệ hạ Đại Tần tương lai!” Công tử Hoa nhìn thẳng vào Trương Nghi, khẽ mỉm cười, hào hứng nói tiếp. “Huệ nhãn của Tử Vân công chúa đã nhắm trúng Trương huynh, tại hạ sắp được uống rượu mừng của Trương huynh rồi!”
Trương Nghi mặt mày thất sắc, hồi lâu sau mới thở dài một tiếng: “Than ôi, uống rượu mừng cái nỗi gì? Công tử, lần này công tử đã đẩy tại hạ lên tường lửa rồi!”
***
Sau nhiều ngày không lên triều, Tần Công đột nhiên cho gọi đại lương tạo Công Tôn Diễn và thượng khanh Trần Chẩn vào cung yết kiến, khiến hai người đều giật mình kinh ngạc.
Qua lại chưa được vài câu khách sáo, Tần Công đã lập tức nhắc đến bản tấu của Trương Nghi, nhìn hai người chằm chằm mà nói: “Hai vị ái khanh, trời giáng điềm lành, hữu thứ trưởng và các quan dâng tấu xin quả nhân tế trời tế đất, quả nhân không dám làm trái ý trời, song tế lễ trời đất là sự việc vô cùng trọng đại, quả nhân trong lòng thấp thỏm, nay cho gọi hai vị ái khanh tới là muốn nghe cao kiến của hai vị, mong hai vị cứ nói thẳng suy nghĩ trong lòng.”
Công Tôn Diễn, Trần Chẩn đưa mắt nhìn nhau, rồi đều cúi đầu xuống.
Một lát sau, thấy hai người không ai chịu mở miệng, Tần Công bèn chỉ đích danh: “Công Tôn ái khanh!”
“Chúa thượng!” Công Tôn Diễn vòng tay mà nói. “Tấu của hữu thứ trưởng, vi thần cho rằng có ba điều không thoả đáng.”
“Ồ?” Huệ Văn Công ngả người về phía trước. “Ái khanh cứ nói!”
“Thứ nhất,” Công Tôn Diễn liền nói thẳng, “trời giáng điềm lành chỉ là lời đồn thổi, vi thần đã sai người điều tra, tới nay vẫn chưa có bằng chứng xác thực. Theo Tần pháp, không có bằng chứng thì không coi là thực. Thứ hai, liệt quốc Sơn Đông đều đã xưng vương, chúa thượng lúc này lại xưng tôn là bám gót liệt quốc, đã không có gì mới mẻ, cũng khó gây được tiếng vang. Thứ ba, những lời lẽ mà chúa thượng năm xưa từng biện luận với Tô Tử trên Luận Chính đàn, hẳn đã lan truyền khắp thiên hạ, liệt quốc đều nhớ rõ.” Công Tôn Diễn phản đối thẳng thừng Trương Nghi, liên tiếp đưa ra ba điều phản bác, điều nào cũng nhằm trúng trọng tâm. Điều thứ nhất, ở nước Tần, Tần pháp là tối thượng, Trương Nghi tuy suy tính chu toàn, song lại chưa nghĩ tới điều này. Điều thứ hai, chẳng khác nào nhắc lại lời Huệ Văn Công đã nói trước triều đường, dùng ý quân chủ để phản đối Trương Nghi. Còn điều thứ ba, chính là phủ định triệt để tấu chương của Trương Nghi.
Ba lời phản bác này, hiển nhiên là nằm ngoài dự liệu của Tần Công. Tần Công vuốt râu trầm ngâm, không gian lặng phắc như tờ.
Suy nghĩ hồi lâu, Tần Công mới ngẩng đầu, nhìn thẳng vào Công Tôn Diễn: “Ái khanh hẳn có mưu kế lâu dài?”
“Vi thần cho rằng,” Công Tôn Diễn nhân đà nói luôn, “sáu nước hợp tung mưu phạt ta, kẻ thù tuy đã rút lui, song nguy cục chưa được phá giải, ta nên dùng ba sách lược để ứng phó. Thứ nhất là ngấm ngầm tụ thế, tích thảo đồn lương, chuẩn bị chiến sự. Thứ hai là kết giao với liệt quốc, ổn định Nhung Địch, biến thù thành bạn. Thứ ba là theo mưu kế của Tô Tử, chọn thời điểm thích hợp để xưng đế thiên hạ, nhằm áp đảo quần hùng.”
“Ý của ái khanh là, không xưng vương mà xưng đế?” Huệ Văn Công chất vấn.
Công Tôn Diễn hiểu ý, nên ậm ờ không tiện nói tiếp.
“Về bản tấu của Trương Tử, Trần ái khanh có ý kiến gì chăng?” Huệ Văn Công im lặng một lát, rồi quay sang hỏi Trần Chẩn.
“Hồi bẩm chúa thượng!” Trần Chẩn vòng tay bẩm tấu. “Trời giáng điềm lành, ắt có chứng thực, chúa thượng có thể hạ lệnh cung cấp bằng chứng. Chuyện tế lễ đất trời, đã liên quan tới trời đất thì nên nghe theo ý trời, chúa thượng có thể tới Thái miếu bốc quẻ!”
“Ái khanh nói rất phải!” Huệ Văn Công gật gù, rồi vòng tay tiễn khách. “Quả nhân đã làm phiền hai vị ái khanh!”
Công Tôn Diễn, Trần Chẩn bái lạy cáo từ, rồi cùng rời khỏi cung.
Vừa bước xuống bậc thềm trước điện, Công Tôn Diễn rõ ràng không muốn đi cùng Trần Chẩn, đang định sải bước đi luôn thì Trần Chẩn đã dừng lại, vòng tay hướng về phía Công Tôn Diễn vái một vái mà nói: “Công Tôn huynh dừng bước!”
“Ồ?” Công Tôn Diễn cũng dừng bước, ngoảnh đầu nhìn lại, song không đáp lễ. “Là Trần đại nhân đấy ư, chữ ‘huynh’ thực không dám nhận, xin hỏi có việc gì?”
“Tại hạ đã chuẩn bị một bình trà nhạt, muốn mời đại lương tạo nể mặt tới phẩm bình!” Trần Chẩn lại vòng tay nói.
“Phẩm bình thì không dám!” Công Tôn Diễn vòng tay hờ hững. “Tạ ơn đại nhân hậu ái! Chỉ có điều tại hạ bận việc tối mắt, kính mong lượng thứ.” Nói đoạn, lập tức quay người, sải bước đi luôn.
Trần Chẩn biết Công Tôn Diễn vẫn ghi hận chuyện năm xưa, nhìn theo bóng hắn, buồn bã than rằng: “Than ôi, Công Tôn huynh, bụng dạ hẹp hòi là vậy, đến một Trần Chẩn còn không dung nổi, sao có thể là đối thủ của Trương Nghi?” Rồi khẽ lắc đầu, đi thẳng đến phủ Doanh Kiền.
Mấy ngày sau đó, dưới sự phát động của Trương Nghi, Sư Lý Tật, công tử Hoa, triều thần đua nhau dâng tấu, mọi quận huyện lũ lượt tấu báo về các điềm may mắn lạ thường, nhân chứng vật chứng cũng lũ lượt hội tụ về Hàm Dương. Trên bàn đại lương tạo bày la liệt tấu báo về các tượng lạ từ các nơi gửi đến và tấu chương của quần thần thỉnh cầu tế trời.
Đến lúc này, Công Tôn Diễn mới hiểu ra mình đã làm ra chuyện ngu xuẩn, đang ăn năn hối hận, thì ngoài cổng phủ bỗng vọng vào tiếng ồn ào huyên náo. Một đoàn vệ sĩ lao thẳng vào sân, giương thương đứng hầu. Công Tôn Diễn luống cuống chạy ra nghênh đón, vừa ra khỏi cửa sảnh đường đã thấy Huệ Văn Công phăm phăm bước vào, lập tức quỳ xuống dập đầu nghênh giá, được Huệ Văn Công kéo dậy, cầm tay dắt vào trong sảnh đường, phân ngôi quân thần ngồi xuống.
“Công Tôn ái khanh!” Huệ Văn Công khách sáo vài câu, khoé mắt liếc nhìn chồng tấu chương trên bàn, rồi đi ngay vào việc chính. “Tấu chương chỗ ái khanh nhiều thực!”
“Khởi bẩm chúa thượng!” Công Tôn Diễn vòng tay đáp lời. “Vi thần đang định vào cung, tấu báo lên chúa thượng việc này.”
Huệ Văn Công nhìn Công Tôn Diễn bật cười: “Không ngờ quả nhân đã đi trước một bước.” Rồi chỉ tay vào chồng tấu chương. “Những bản tấu kia, ái khanh thấy sao?”
“Chúa thượng!” Công Tôn Diễn lại vòng tay nói. “Trời giáng điềm lành, nơi nơi tượng lạ, nhân chứng vật chứng đều đã đầy đủ ở chỗ vi thần. Vài ngày trước, vi thần sai người ban đêm quan sát thiên văn, thấy Bắc Đẩu chuyển hướng, sao trời di dịch, cán sao Bắc Đẩu chỉ thẳng vào phân dã đất Tần, sao Tử Vi sáng rực lạ thường, là khí tượng đế vương. Ý trời không thể trái, ý dân phải thuận theo, bởi vậy vi thần cho rằng, chúa thượng có thể tế trời, quay mặt về nam xưng vương.”
“Ôi!” Huệ Văn Công thở dài một tiếng. “Công Tôn ái khanh, kỳ thực quả nhân tới đây, không phải để nói chuyện này với ái khanh!”
“Chúa thượng?” Công Tôn Diễn ngẩn người.
“Ở đây không có ai khác, quả nhân cũng nói thực với ái khanh,” Huệ Văn Công chỉ tay vào chồng tấu chương trên bàn, “tất cả những thứ này, chẳng qua đều là đặt chuyện, trong lòng quả nhân hiểu rõ, trong lòng ái khanh cũng hiểu rõ. Quả nhân muốn nói rằng, vật đổi sao dời, sáu nước cùng xưng vương phạt ta, nếu quả nhân vẫn âm thầm thu mình, bên trong không thể khích lệ chí dân, bên ngoài không thể ngang bằng liệt quốc, nên vương vị này, quả nhân không thể không ngồi lên!”
Thấy Huệ Văn Công bộc bạch như vậy, Công Tôn Diễn lấy làm cảm động, hít vào một hơi dài, rồi quỳ xuống đất khấu đầu mà nói: “Chúa thượng, là vi thần mưu tính thiển cận!”
“Ái khanh hãy bình thân!” Huệ Văn Công chìa tay nói, thấy Công Tôn Diễn đã đứng dậy, ngồi vào chỗ cũ mới tiếp lời. “Mưu của ái khanh không phải thiển cận, mà là trước đó quả nhân đã tự chặn đường mình.”
“Chúa thượng…”
“Được rồi!” Huệ Văn Công xua tay. “Chúng ta không nhắc tới chuyện này nữa. Tế trời thế nào, xây dựng chế độ ra sao, quả nhân muốn nghe ý kiến của ái khanh.”
“Hồi bẩm chúa thượng!” Công Tôn Diễn sớm đã chuẩn bị sẵn sàng, bẩm tấu vắn tắt. “Nếu là việc này, vi thần xin có lời tấu.”
“Cứ nói!”
“Pháp trị của Thương Quân tuy rằng có lợi cho trồng trọt chinh chiến, song quá ư hà khắc, đặc biệt là pháp chế liên đới, dân chúng đều khiếp sợ. Dùng uy thế để trị dân, dân sợ mà phục chứ tâm không phục, có thể áp dụng trong chiến tranh, nhưng không thể coi là kế sách lâu dài. Nên vi thần to gan tấu thỉnh chúa thượng mượn uy tế trời, phỏng theo triều chế Trung Nguyên, đặt ra phủ tướng quốc, sửa sang pháp trị của Thương Quân, thi hành nền chính trị mới mẻ, trị dân bằng lòng khoan nhân, dùng đức cai trị thiên hạ, thành tựu vương nghiệp.”
Lời tấu của Công Tôn Diễn, hiển nhiên không phải là suy nghĩ nông nổi nhất thời.
“Công Tôn ái khanh!” Huệ Văn Công khép hờ hai mắt, trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu, rồi mở mắt đáp. “Dân Tần không có giáo hoá, khó mà nói lý, chỉ có dùng luật để nghiêm trị, không thể khoan dung. Pháp trị của Thương Quân thi hành ở Tần đã lâu, dân Tần đều đã hiểu pháp, cũng đều sợ pháp, luôn coi luật pháp là tối thượng, nếu như phế bỏ, lại là không ổn. Có điều, như ái khanh đã nói, thay đổi thích hợp vẫn có thể được. Còn như chế độ quan lại, không thể rập khuôn theo Trung Nguyên, song có thể cải cách, xây dựng chế độ tướng quốc. Ái khanh hãy dựa vào đây soạn ra một bản điều trần, ba ngày sau lên triều, tấu báo với quả nhân.”
“Vi thần lĩnh chỉ!”
Ba ngày sau, trong buổi đại triều của cung Tần, Công Tôn Diễn dâng tấu, Tần Công ban chỉ tế trời.
Đến tháng tư, Tần Công chọn ngày tốt, tế bái trời đất tại ngoại ô Hàm Dương, chiếu cáo thiên hạ, chính thức xưng vương, tức là Tần Huệ Vương. Cùng ngày, Huệ Vương ban chỉ thiết lập phủ tướng quốc, một lần nữa chiếu mệnh bá quan.
Phủ tướng quốc tuy đã đặt ra, song lại chưa lập tướng quốc. Chính vào lúc quần thần đều đang ngỏng cổ chờ xem vị trí này thuộc về tay ai, Tần Vương lại hạ chỉ cho quần thần từ cấp ngũ đại phu trở lên, bao gồm cả quan thú thừa các quận huyện, đều có thể tiến cử tướng quốc. Tất cả thư tín tiến cử vẫn gửi tới phủ đại lương tạo như cũ, do đại lương tạo thống nhất tấu báo.
Rõ ràng, về việc phong ai làm tướng quốc, Tần Vương vẫn đang cân nhắc.
Tần Huệ Vương quả thực lấy làm khó xử trước việc lựa chọn tướng quốc. Lựa chọn duy nhất của ông chính là Trương Nghi, song vấn đề là Công Tôn Diễn biết phải sắp xếp thế nào đây?
Công Tôn Diễn quả thực là bậc đại tài, sau khi tới Tần, liên tiếp lập đại công, lại giữ chức đại lương tạo thống lĩnh bá quan đã nhiều năm, triều thần và quận huyện các nơi không ai không phục. Nếu bỏ Công Tôn Diễn phong Trương Nghi, Công Tôn Diễn sẽ nghĩ thế nào đây? Dựa vào chí của Công Tôn Diễn, ắt sẽ bỏ Tần mà đi. Tần đã mất Tô Tần, lại mất Công Tôn Diễn, chi dựa vào một Trương Nghi, biết chế ngự liệt quốc ra sao?
Huệ Vương nhất thời chưa nghĩ ra giải pháp, đột nhiên sực nhớ tới tiền thái phó Doanh Kiền, bèn vội vã tới thăm. Lựa chọn tướng quốc là việc vô cùng hệ trọng, thân là lão thần tiền triều, lão thái phó có uy vọng khá cao trong công thất nước Tần, Tần Vương rất muốn nghe lời khuyên của ông ta. Kết quả là, Tần Vương còn chưa mở miệng, Doanh Kiền đã lên tiếng tiến cử Trần Chẩn. Trong mắt ông ta, Trần Chẩn mới là đại tài thực thụ, còn hơn Thương Ưởng không biết bao nhiêu.
Huệ Vương chỉ cười, hỏi thăm sức khoẻ, lại tán hươu tán vượn dăm ba câu rồi cáo từ ra về.
Huệ Vương chân trước vừa đi, Trần Chẩn chân sau đã tới, đến tìm Doanh Kiền đánh cờ.
Bàn cờ còn chưa bày, lão thái phó đã vòng tay chúc mừng: “Trần Chẩn, lão hủ có lời chúc mừng!”
“Chúc mừng?” Trần Chẩn ngẩn người. “Dám hỏi thái phó, vãn bối có chuyện gì đáng mừng?”
“Tướng quốc tương lai!” Lão thái phó nở nụ cười bí hiểm, hạ thấp giọng. “Không giấu gì ngươi, vừa nãy bệ hạ tới thăm lão hủ, lão hủ đoán bệ hạ muốn trưng cầu việc phong tướng quốc, bèn tiến cử ngươi với bệ hạ. Ngươi đoán thử xem bệ hạ phản ứng thế nào? Gật đầu lia lịa, mặt mày hớn hở! Ha ha, tiểu tử ngươi cứ đợi mà ngồi vào ngôi tướng quốc đi!”
Rõ ràng, Doanh Kiền đã già rồi. Người già giống như trẻ nít, suy nghĩ cũng trở nên ngây thơ.
Nhìn mái đầu bạc trắng và nét mặt thực thà trước mắt, Trần Chẩn cười gượng một tiếng, vòng tay mà nói: “Đa tạ lão thái phó yêu mến!” Rồi bày bàn cờ, hai tay đưa lại hộp cờ quân đen. “Thái phó, mời đi trước!”
“Ồ!” Doanh Kiền lấy làm ngạc nhiên. “Tên tiểu tử này, đại hỷ lâm môn, ngươi không tạ ơn lão hủ, lại bắt lão hủ đi trước?” Rồi đẩy hộp cờ sang một bên, lắc đầu quầy quậy. “Làm cụt cả hứng của lão hủ, không được, không được!”
“Không giấu thái phó,” Trần Chẩn lại nở một nụ cười méo xẹo, “việc chọn tướng quốc, đại vương sớm đã định đoạt rồi!”
“Ồ?” Doanh Kiền lại sửng sốt. “Là ai?”
“Hữu thứ trưởng Trương Nghi!”
“Sao kia?” Doanh Kiền đập bàn. “Ngươi nói là cái tên ăn trộm ngọc Hoà thị bích ở nước Sở đấy ư? Hắn là cái thá gì? Không được, không được, lão hủ lập tức vào cung hỏi Tứ Nhi cho ra nhẽ!”
Doanh Kiền đứng dậy định đi, song Trần Chẩn sống chết giữ chặt vạt áo kéo lại. Đang lúc giằng co thì công tử Hoa trở về thăm phụ thân, Doanh Kiền túm ngay lấy hắn, gặng hỏi chuyện này. Công tử Hoa nói thác rằng không biết.
“Thấy chưa thấy chưa?” Doanh Kiền phấn khởi ra mặt, quay sang Trần Chẩn. “Tiểu tử đúng là đoán mò. Hoa Nhi và Tứ Nhi chơi với nhau từ bé, thân thiết như hình với bóng, nếu Tứ Nhi lựa chọn ai thì Hoa Nhi phải biết chứ!”
Trần Chẩn tự khắc cũng hiểu rõ chỗ nguy hại bên trong, bèn vòng tay vái công tử Hoa mà nói: “Vừa rồi tiền bối và tại hạ có nhắc tới chuyện tướng quốc, là tại hạ suy đoán bừa bãi, công tử chớ coi là thật, cũng xin đừng để lộ chuyện này ra ngoài!”
“Trần đại nhân!” Công tử Hoa vái đáp lễ. “Tại hạ trong lòng đã hiểu” Rồi nhìn ông ta chằm chằm. “Nhân tiện hỏi luôn, nếu quả là đúng như lời đại nhân vừa đoán, đại vương phong hữu thứ trưởng làm tướng quốc, đại nhân thấy sao?”
“Ồ!” Trần Chẩn thở dài một tiếng. “Không giấu công tử, tại hạ vì Đại Tần đi sứ sang Sở, phụng ý chỉ đại vương mà kết oán với Trương Nghi. Tại hạ từng tới Quỷ Cốc thám thính, ở đất Sở lại kết giao với Nghi nhiều ngày, đã hiểu rõ con người này. Trong chư tử ở Quỷ Cốc, Trương Nghi khác hẳn với Tô Tần, Tôn Tẫn, nhưng lại có vài phần giống với Bàng Quyên, chỉ có điều còn hơn gấp mấy lần. Trương Nghi được trọng dụng ở Tần, tất không dung tha tại hạ, tại hạ hẳn là nguy mất!”
Mâu thuẫn giữa Trần Chẩn và Trương Nghi, công tử Hoa đương nhiên thừa biết, bèn an ủi: “Trần đại nhân suy nghĩ thái quá rồi! Bề tôi ai vì chủ nấy, đại nhân phụng chỉ mưu sự, Trương Nghi sao lại không hiểu? Hơn nữa, trước khác nay khác, Trương Nghi giờ đã cùng đại nhân phò tá một chủ, cùng mưu vương nghiệp, hẳn sẽ không so đo tính toán chuyện trước đây.”
“Được thế thì còn gì bằng!” Trần Chẩn lại vái mà nói. “Nếu công tử rảnh rỗi, cũng mong nói giúp Chẩn vài lời hay ho trước mặt Trương Tử.”
“Đa tạ đại nhân tin tưởng, tại hạ sẽ tận lực!”
Khi công tử Hoa tới phủ hữu thứ trưởng “nói lời hay ho”, Trương Nghi quả như Trần Chẩn dự đoán, nghiến răng kèn kẹt, thề rằng sẽ bắt Trần Chẩn trả giá.
Nói ra cũng thật trùng hợp, trời vừa lên đèn, Tần Vương không hẹn mà tới, lại còn mang theo rượu thịt, nói là muốn uống rượu cùng Trương Nghi trong đình hóng mát ở hậu hoa viên. Vua tôi không ai nhắc tới chuyện trong triều, chỉ đơn thuần uống rượu.
Rượu qua vài tuần, Trương Nghi mượn rượu nói ý: “Bệ hạ, vi thần nghe nói có người hai chân giẫm hai con thuyền, nhấp nhỉnh muốn chuồn đi bất cứ lúc nào!”
“Ồ?” Tần Vương thoáng sững sờ, cho rằng hắn đang ám chỉ Công Tôn Diễn, bèn cười mà hỏi. “Ái khanh hẳn không phải đang nói tới đại lương tạo đấy chứ?”
“Đại lương tạo là người quang minh lỗi lạc, vi thần không dám xếch mé!”
“Ái khanh ý nói…” Huệ Vương lại cười một tiếng, lập tức hiểu ra, “là Trần ái khanh ư?”
“Đại vương thánh minh!”
“Ái khanh dựa vào đâu mà nói vậy?”
“Theo thần được biết,” Trương Nghi dõng dạc đáp lời, “Trần Chẩn ở Sở, rất được lệnh doãn Chiêu Dương tin tưởng, giao tình giữa họ không phải tầm thường. Không chỉ lệnh doãn, nghe nói Sở Vương cũng rất ưu ái Chẩn, Chẩn ra vào đài Chương Hoa giống như ra vào nhà mình. Vùng sơn cốc Thương Ư vốn là của Sở, mấy năm trước lại bị Thương Quân cướp mất. Sáu trăm dặm sơn cốc này là yết hầu của Sở, Tần, là nơi binh gia đều muốn tranh giành, nên người Sở đã coi Tần như kẻ địch. Chẩn thân là sứ Tần, song lại được cả vua tôi nước Sở sủng ái, sự lạ lùng trong đó, không nói cũng rõ!”
“Ái khanh đa nghi thái quá rồi!” Tần Vương cười nói. “Trần ái khanh đi sứ sang Sở, là do một tay quả nhân sắp xếp; kết giao với Chiêu Dương, bức ép ái khanh, cũng là tuân theo mệnh lệnh của quả nhân. Theo những gì đã biết, Trần ái khanh ở Sở, không hề làm việc gì quá đáng.”
“Trong thời gian vi thần trị Việt, có xét xử một án kiện, đại vương có muốn nghe chăng?”
“Quả nhân muốn nghe!”
“Có một nữ tử phong lưu thành tính, dan díu với vô số đàn ông, vài lần kết hôn đều bị trả về, song do dung mạo xinh đẹp, giọng nói ngọt ngào, giỏi chiều chuộng nũng nịu, nên luôn có đàn ông muốn lấy. Lại sau một lần nữa bị trả về, cha mẹ cô ta giận vì con gái mất nết, bôi nhọ dòng tộc, nên đã cấm cửa không cho vào nhà. Cô ta khóc lóc thảm thiết, thề thốt là sẽ sửa chữa lỗi lầm. Cha mẹ vốn nhân từ, nên lại cho phép cô ta trở về tự sám hối. Sau vài tháng hối lỗi, cô ta quả nhiên có thay đổi, ngôn hành cử chỉ đều trở nên hiền thục. Cha mẹ mừng rỡ, lại nhờ người mai mối gả chồng. Hàng xóm xung quanh đều biết cô ta, không ai chịu cưới. Có một vị khách từ phương xa tới, do không rõ sự tình, thấy cô ta xinh đẹp dịu dàng, cử chỉ đoan trang, trông lại phong tình quyến rũ, bèn đem sính lễ tới cưới về. Chưa đầy ba tháng, cô ả tật cũ tái phát, thông dâm với nô bộc, bị người chồng phát hiện. Nô bộc trong lúc hoảng loạn, đã đâm chết người chồng, gây thành án kiện.”
Ý tứ đã rõ rành rành, Tần Vương khẽ chau mày: “Ý ái khanh là, Trần Chẩn có hai lòng?”
“Không phải hai lòng, mà là ba lòng, bốn lòng! Thần nghe nói, Trần Chẩn mới đầu ở Vệ, là mưu đồ giúp Tống. Tới Tống, lại mưu đồ giúp Ngụy. Khi ở Ngụy, lại ngấm ngầm cấu kết với Thương Quân, mưu đồ giúp Tần. Nay Chẩn tới Tần, đại vương có dám trông mong con người này một lòng vì Tần?”
Tần Vương hít vào một hơi dài, đôi mày càng nhíu chặt.
“Theo thần đoán,” Trương Nghi nhân đà tiến tới, “trong thất cường liệt quốc, nước có thể bá chủ thiên hạ, không phải Tần thì là Sở, nên Tần Sở vốn không đội trời chung. Tần coi Sở là kẻ thù, Sở coi Tần là đại địch. Là sứ thần của kẻ địch, quân thần nước Sở tại sao chỉ tin mình Trần Chẩn? Đại vương nước Sở, chẳng lẽ lại chỉ vì ả vũ nữ da trắng kia ư? Đường đường là lệnh doãn, chẳng lẽ lại thiếu vài rương châu báu? Bởi vậy, vi thần ngờ rằng người này đã dùng nội tình quốc gia để đổi lấy lòng Sở.”
Tần Vương khép hờ hai mắt, chìm vào suy tư, hồi lâu sau mới ngẩng đầu mà nói: “Lời của ái khanh, không thể không suy xét. Có điều, bắt gian dâm phải bắt cả đôi, bắt trộm cướp phải có tang chứng, không có chứng cứ, bảo quả nhân xử lý thế nào đây?”
“Nếu không nằm ngoài dự đoán của vi thần,” Trương Nghi đáp, “sắp tới, Trần Chẩn có lẽ sẽ tới từ biệt đại vương.”
“Từ biệt?” Tần Vương sửng sốt. “Cớ sao lại từ biệt?”
“Bỏ Tần sang Sở!”
“Chuyện này… không thể!”
“Nếu đại vương không tin, cứ hỏi thử sẽ biết!”
Tần Vương vốn muốn nghe ý kiến của Trương Nghi về việc lựa chọn tướng quốc, nào ngờ lại bị Trương Nghi chuyển hướng sang Trần Chẩn, tâm tư bỗng nhiên nặng trĩu, càng nghĩ càng thấy hoang mang. Cứ thế mấy ngày trời, Tần Vương cuối cùng không chịu nhịn nổi, bèn cho gọi Trần Chẩn vào cung, trò chuyện dăm ba câu thì đi ngay vào chuyện chính: “Trần ái khanh, quả nhân cho gọi khanh tới, là có một việc nan giải.”
“Hẳn là việc chọn tướng quốc?” Trần Chẩn hỏi thẳng.
“Đúng vậy! Theo ý ái khanh, người nào phù hợp với vị trí này?”
“Trương Nghi!”
“Ồ?” Tần Vương thoáng sững sờ, hít sâu vào một hơi, rồi khẽ gật đầu, chuyển sang chuyện khác. “Quả nhân nghe nói, ái khanh tới đây sắp sửa đi xa, có ý này chăng?”
“Đại vương thánh đoán, vi thần quả là có ý này!”
“Ái khanh muốn đi đâu, quả nhân sẽ chuẩn bị xe ngựa cho ái khanh.”
“Tạ ơn ân điển của đại vương!” Trần Chẩn vòng tay nói. “Vi thần muốn tới Sở.”
Tần Vương nghe vậy, phá lên cười lớn: “Chuyến đi này của ái khanh, đúng là đã có người đoán trúng!”
“Đại vương, dung thứ cho vi thần mạo muội đoán bừa, người đoán trúng về vi thần, hẳn là vị tướng quốc tương lai!”
“Là ai không quan trọng!” Tần Vương lại cười vài tiếng, hai mắt nhìn xoáy vào Trần Chẩn. “Chỉ là hắn có kể về một án kiện, nghe cũng rất thú vị.”
“Dám hỏi đại vương, là án kiện gì?”
“Về một người đàn bà không tiết hạnh, do luôn có hai lòng mà gây tai hoạ cho nhà chồng, dẫn đến án mạng.”
“Vi thần bất tài, xin được nghe về vụ án.”
Tần Vương thuật lại một lượt vụ án đúng như Trương Nghi đã kể, sau đó, hai mắt như hai ngọn đuốc nhìn thẳng vào Trần Chẩn.
“Vi thần không có án kiện nào để kể!” Trần Chẩn trầm ngâm một lát, rồi vòng tay đáp lời. “Song cũng có một chuyện thú vị, đại vương có muốn nghe chăng?”
“Quả nhân muốn nghe.”
“Người Sở nọ có một vợ một thiếp, thiếp trẻ tuổi xinh đẹp, đương nhiên không cần phải nói, còn vợ tuy lớn tuổi, song phong tư vẫn đẹp đẽ như xưa. Có khách đến chơi, ở lại nhà người Sở này, chọc ghẹo người vợ, bị cô ta chửi rủa thậm tệ, lại quay sang tán tỉnh người thiếp, thiếp chỉ chống chế lấy lệ, không lâu sau thì rơi vào tay khách. Khách ở đó chưa lâu thì người Sở chết, có người bạn hỏi rằng: ‘Giờ thì anh đã như ý rồi, vậy tôi hỏi anh, anh muốn cưới người nào.’ Khách bèn đáp: ‘Cưới người vợ.’ Người bạn sửng sốt: ‘Ồ, người vợ chửi rủa anh, người thiếp chiều lòng anh, vì sao không cưới thiếp mà lại cưới vợ?’ Khách cười nói: ‘Nay đã khác trước, suy nghĩ cũng đã thay đổi. Khi là khách ở nhờ, tôi chọn người chiều lòng mình. Còn nay cưới vợ ở nhà, tôi chọn người sẽ vì tôi mà chửi rủa những gã đàn ông khác’.”
Trần Chẩn trong nháy mắt đã nghĩ ra câu chuyện này để đáp trả, Tần Vương lấy làm thán phục, dựng ngón tay cái tấm tắc khen ngợi: “Ái khanh thực nhanh trí!”
“Tạ ơn đại vương quá khen!” Trần Chẩn đáp lời. “Không phải vi thần nhanh trí, mà là câu chuyện này lưu truyền rộng rãi ở đất Sở, vi thần chẳng qua có mối xúc cảm mà nhớ đến thôi.”
“Tấm lòng của ái khanh, quả nhân đã rõ. Chỉ là, quả nhân rất muốn biết, có người dự đoán ái khanh sẽ rời Tần tới Sở, quả nhân cũng đoán biết ái khanh sẽ rời Tần tới Sở, ái khanh trong lòng đã hiểu rõ, tại sao vẫn nói thực với quả nhân rằng muốn rời Tần tới Sở?”
“Hồi bẩm đại vương!” Trần Chẩn cười gượng một tiếng. “Ngoài đất Sở ra, vi thần đâu còn có nơi nào khác để đi!”
“Ồ?” Tần Vương sửng sốt. “Ái khanh cớ sao lại nói vậy? Thiên hạ rộng lớn, lẽ nào ái khanh chỉ có đất Sở để đi?”
“Đúng vậy!” Trần Chẩn lại cười buồn. “Đại vương thử nghĩ mà xem, tướng quốc tương lai đã đoán vậy, đại vương đã biết vậy, vi thần nếu tới nơi khác, chẳng phải sẽ trái với mong muốn của đại vương và tướng quốc hay sao? Còn như vi thần có tiết lộ nội tình đất nước cho Sở hay không, câu chuyện vừa rồi đã biện bạch giúp vi thần. Hẳn đại vương cũng biết, Sở Vương không phải là hôn quân, Chiêu Dương cũng không phải tướng tầm thường. Vi thần nếu dâng tặng nội tình của Tần cho Sở, sẽ chẳng khác gì thiếp của người Sở kia, đại vương lẽ nào tin rằng Sở Vương, Chiêu Dương sẽ trọng dụng vi thần?”
“Đối đáp thực khéo léo!” Tần Vương buột miệng khen ngợi. “Trần ái khanh, quả nhân đã tin khanh, cũng mong khanh hãy tin quả nhân. Thế này vậy, ái khanh nếu đã có ý đi sang đất Sở, quả nhân đương nhiên sẽ chấp thuận, lần này xin tặng ái khanh hai mươi cỗ xe, một trăm dật vàng, hai mươi ca kỹ, vẫn đối đãi theo lễ tiết sứ giả Đại Tần, ái khanh thấy sao?”
“Đại vương…” Trần Chẩn cảm kích không sao tả xiết, khấu đầu sát đất, bật khóc mà nói. “Vi thần… vi thần…”
“Ái khanh mau bình thân!” Tần Vương đích thân đỡ ông ta dậy. “Ái khanh ra đi lần này, muốn ở lại đất Sở bao lâu thì cứ ở, lúc nào cảm thấy mệt mỏi, lại trở về đây. Dù ái khanh ở đâu chăng nữa, quả nhân vẫn sẽ nhớ tới khanh. Hãy nhớ rằng, đất Tần mãi mãi là nhà của khanh. Quả nhân mãi mãi là người thân của khanh.”
“Đại vương!” Trần Chẩn nghẹn ngào. “Chẩn… xin ghi lòng tạc dạ!”
Từ trong cung trở về, Trần Chẩn lo sợ đêm dài lắm mộng, liền dặn nô bộc lập tức chuẩn bị, ngay sáng sớm mai lên đường.
Trần Chẩn đang thu dọn tư trang thì những đồ vật ban thưởng và hai mươi ca kỹ đã từ trong cung chuyển tới. Sau khi kiểm nhận xong xuôi, trời đã tối mịt. Trần Chẩn đang định đi nghỉ, đột nhiên sực nhớ ra một chuyện, bèn sai người hầu bưng theo thức ăn, tự mình xách theo một hũ rượu lâu năm, chậm rãi tiến về phía dãy nhà bên trong phủ.
Nơi đây chính là chỗ ở của công tử Ngang.
Nghe tiếng chân bước, công tử Ngang vội ra cửa đón, vòng tay vái chào: “Nghe tiếng bước chân, biết ngay là Trần huynh tới!”
Trần Chẩn đặt hũ rượu xuống, vòng tay đáp lễ, nói: “Ngang huynh, tại hạ tới đây để từ biệt huynh!”
“Từ biệt?” Công tử Ngang sửng sốt. “Trần huynh, chuyện là thế nào?”
“Uống đã rồi hãy nói.”
Trần Chẩn xách hũ rượu vào phòng, đuổi hết nô bộc đi, bày rượu thịt, rót rượu vào chén, vừa uống rượu cùng công tử Ngang, vừa kể từ đầu chí cuối chuyện gây thù chuốc oán với Trương Nghi ra sao cho công tử Ngang nghe, cuối cùng than thở mà rằng: “Than ôi, Trần Chẩn đây thực là người mệnh khổ, vất vả bao năm ở Ngụy, chưa có được một ngày mở mày mở mặt, đã vô duyên vô cớ đắc tội với Bàng Quyên, bị ép tới Tần. Vừa mới được khởi đầu, đã lại gặp ngay Trương Nghi. Đệ tử Quỷ Cốc đúng là khắc tinh của tại hạ!” Rồi lắc đầu ngao ngán, nâng chén. “Nào nào, Ngang huynh, cạn chén!”
Song công tử Ngang lại đặt chén rượu xuống, hai mắt thẫn thờ.
“Ngang huynh?” Trần Chẩn ngạc nhiên, đưa mắt nhìn.
“Được rồi, được rồi!” Công tử Ngang nhanh chóng lấy lại tinh thần, nâng chén rượu lên, ngoài mặt tuy cười mà giọng nói rầu rĩ. “Đất Sở rộng lớn, Trần huynh đi lần này, khác nào thuồng luồng xuống biển, rất đáng chúc mừng. Nào, Ngụy Ngang xin được chúc mừng!” Nói đoạn, ngửa cổ một hơi uống cạn.
“Ngang huynh!” Trần Chẩn lại không uống, đặt chén rượu xuống, hai mắt nhìn chằm chằm vào công tử Ngang. “Tại hạ thỉnh cầu đại vương, cũng đã được đại vương khẩu dụ, toà trạch viện này từ mai trở đi sẽ là của Ngang huynh. Còn danh phận của Ngang huynh thế nào, đại vương ngày sau sẽ ra chiếu mệnh.” Bên khoé miệng Trần Chẩn lộ ra một nụ cười ít nhiều chua chát. “Sẽ có một ngày, thời thế đổi thay, nếu Chẩn còn có may mắn trở lại đất Tần, trở lại phủ này, sẽ là khách dưới cửa của Ngang huynh.”
“Trần huynh…” Công tử Ngang sững người.
“Đêm nay từ biệt, tại hạ có vài lời muốn hỏi Ngang huynh.”
“Trần huynh cứ nói!”
“Ngang huynh liệu có từng nghĩ đến con đường sắp tới?”
“Có! Nếu có một ngày, Doanh Tứ cho gọi tại hạ tới, đợi khi gặp hắn, tại hạ sẽ thỉnh mệnh hồi quốc!”
Trần Chẩn lắc đầu lia lịa.
“Có gì không thoả đáng ư?”
“Không giấu công tử,” Trần Chẩn đổi cách xưng hô, “theo tại hạ biết, công tử đã không thể về được nữa rồi!”
“Tại sao?” Công tử Ngang sửng sốt hỏi.
“Bởi vì tất cả người Ngụy đều tin chắc công tử đã tử trận sa trường, Bàng Quyên đã thỉnh công cho công tử, Ngụy Vương bệ hạ cũng đã hạ chỉ lập bài vị cho công tử ở chính điện trong Thái miếu, mũ trụ của công tử và mũ trụ của hai mươi dũng sĩ đều được hợp táng tại ải Lâm Tấn. Nếu công tử về, sẽ là người? Hay là ma đây?”
Chén rượu rỗng không tuột khỏi tay công tử Ngang rơi xuống đất đánh “xoảng”, công tử Ngang kinh hãi bàng hoàng.
“Công tử!” Giọng Trần Chẩn không nhanh không chậm. “Đối với người đời, đối với Đại Ngụy, thượng tướng quân công tử Ngang ngày xưa đã tuẫn thân vì nước, không thể sống lại. Có điều, trước mắt công tử vẫn có ba con đường.”
Công tử Ngang ánh mắt thẫn thờ.
“Thứ nhất, sống tạm cho qua ngày. Thứ hai, xin chết. Thứ ba, dốc sức vì Tần.”
Công tử Ngang con ngươi khẽ động, nhìn sang Trần Chẩn.
“Nếu công tử mong được bảo toàn tính mệnh, có thể đi theo con đường thứ nhất, ngày mai tại hạ lập tức đưa công tử theo tới Sở, hai người chúng ta sẽ quên bỏ sự đời giữa vùng sông nước, tiêu dao tự tại, vui cảnh an nhàn. Nếu công tử chấp nhận số mệnh, thoả mãn với công danh hiện tại, có thể đi theo con đường thứ hai, người thực lòng muốn chết, dưới gầm trời không thuốc nào cứu được. Nếu công tử không chấp nhận số phận, không cam chịu thua, vẫn muốn làm một tướng quân thực thụ xông pha sa trường, chứng tỏ bản sắc đại tướng, nhờ vào bản lĩnh để lập công dựng nghiệp, lưu tiếng thơm cho hậu thế, có thể đi theo con đường thứ ba.”
Thời gian như ngưng trệ.
Không biết đã qua bao lâu, công tử Ngang mới cử động trở lại, vòng tay mà nói: “Đa tạ Trần huynh! Tại hạ bất tài, muốn đi theo con đường thứ ba. Tuy nhiên, đường này phải đi thế nào, còn nhờ Trần huynh chỉ bảo.”
“Nếu công tử lựa chọn đường này, có thể chia làm ba bước mà đi. Bước thứ nhất, thay tên đổi họ. Bước thứ hai, kết thân với Trương Nghi. Bước thứ ba, nối lại tình xưa với Tử Vân công chúa.”
Công tử Ngang lại một phen sững sờ.
“Công tử!” Trần Chẩn ngả người về phía trước, giọng nói khẩn thiết. “Ba bước này, công tử bắt buộc phải đi. Thay tên đổi họ, sẽ giúp công tử vứt bỏ gánh nặng quá khứ, thảnh thơi xung trận diệt địch. Kết thân với Trương Nghi, vì Trương Nghi tương lai ắt thành tướng quốc nước Tần. Tướng quân hoà hợp với tướng quốc, có lợi cho kiến công lập nghiệp. Còn về nối lại duyên xưa với công chúa, lợi hại trong đó, tại hạ hẳn không cần phải nói nhiều.”
Công tử Ngang hít vào một hơi dài, nín hơi trong ngực hồi lâu, mới từ từ thở ra.
“Việc thay tên đổi họ, tại hạ cũng đã nghĩ giúp công tử, công tử có thể lấy họ Ngụy tên Chương. Lấy họ Ngụy không phải là đổi họ, cội nguồn mãi còn. Còn chữ Chương này, hàm nghĩa lại khá sâu xa.”
“Sâu xa thế nào?”
“Chữ Chương(2) gồm hai chữ ‘âm’ và ‘thập’ ghép lại với nhau. Âm tức là nhạc, thập là số mười, là chữ số cuối cùng. Như vậy, Chương tức là tận cùng của âm nhạc, cũng chính là khúc kết thúc. Tướng quân nửa đời chinh chiến, khúc nhạc chưa tròn, cái tên này có lẽ sẽ giúp tướng quân hoàn thiện đời này, lập công cái thế, phổ khúc nhạc bất hủ!”
Trần Chẩn thao thao một tràng, công tử Ngang nghe mà phấn chấn, đập bàn reo lên: “Ý nghĩa tuyệt hay!” Rồi vòng tay nói. “Ngụy Chương đa tạ Trần huynh ban tên!”
“Nào!” Trần Chẩn nâng chén rượu, nói. “Vì sự tái sinh của Ngụy huynh, cạn chén!”
“Cạn!”
***
Tấu chương tiến cử tướng quốc của bá quan tới tấp gửi về phủ đại lương tạo, người được tiến cử tuy đông đảo, song hơn tám phần là tiến cử đại lương tạo đương nhiệm Công Tôn Diễn. Do nước Tần trước đó chưa từng có tướng quốc, đại lương tạo lại là chức vị của Thương Quân xưa kia, đứng đầu bá quan trong triều Tần, từ khi Công Tôn Diễn tới Tần, liên tục đảm đương chức vị này, nay được quần thần tiến cử cũng là lẽ đương nhiên.
Do sự việc liên quan tới mình, nên Công Tôn Diễn không bẩm báo về tình hình tấu chương tiến cử trong buổi đại triều, mà đợi sau khi tan triều mới yết kiến riêng.
Tần Huệ Vương đọc hết một lượt tấu chương tiến cử, thuận miệng hỏi luôn: “Ồ, tại sao không thấy tấu chương nào tiến cử hữu thứ trưởng?”
“Vi thần không biết!” Công Tôn Diễn hít ngược một hơi khí lạnh, vòng tay đáp. “Có lẽ do hữu thứ trưởng là người giản dị, công lao chưa nổi bật, nên bá quan không biết được nhiều.”
“Là người giản dị”, tức không khoe khoang kênh kiệu, là khẳng định phẩm chất của Trương Nghi, song “công lao chưa nổi bật” lại là đánh thẳng vào tử huyệt của Trương Nghi. Do nước Tần xưa nay bổ nhiệm thăng quan, ban đất phong tước đều dựa vào công lao chiến trận, cho dù là Công Tôn Ưởng, nếu không có công lao chủ tướng trong đại chiến Hà Tây, thì chỉ có thể làm đại lương tạo, chứ tuyệt đối không được phong làm Thương Quân.
“Phải!” Tần Vương không biết phải nói gì, khẽ gật đầu. “Vậy ái khanh tiến cử ai?”
“Chuyện này…” Công Tôn Diễn hơi bối rối. “Vi thần vẫn chưa nghĩ đến.”
“Quả nhân chiếu mệnh bá quan tiến cử, ái khanh vì cớ gì vẫn chưa nghĩ đến?” Ánh mắt Huệ Vương chiếu thẳng vào Công Tôn Diễn.
“Vi thần cho rằng…” Công Tôn Diễn lúc này đã tìm ra lý do, “tướng quốc là nhân tài phò vua giúp nước, nếu không phải bậc đại tài trong thiên hạ thì không thể đảm đương. Theo quan sát của vi thần, có một người có thể đảm đương vị trí này. Tuy nhiên… người này hiện không ở Tần, nên vi thần vẫn chưa tiến cử.”
“Ái khanh muốn nói tới Tô Tần ư?” Huệ Vương cười cười, đưa ra câu hỏi thay cho lời đáp.
“Đại vương thánh minh!” Công Tôn Diễn lúc này cũng thở phào một tiếng.
“Than ôi!” Huệ Vương thu lại nụ cười, thở dài thườn thượt. “Ái khanh tiến cử rất phải. Tiếc là, quả nhân đã suy nghĩ sai lầm, để vuột mất đại tài, khiến thiên hạ hợp tung, mới gây ra đại hoạ ngày nay!”
“Đây là ý trời, không phải lỗi của đại vương!”
“Được rồi, không nói tới chuyện này nữa!” Huệ Vương quay lại chuyện chính. “Ngoài Tô Tần, trong số triều thần hiện tại, ái khanh tiến cử được ai?”
“Hồi bẩm đại vương!” Công Tôn Diễn vòng tay nói. “Vi thần không tiến cử ai, chỉ nghe theo quyết định anh minh của đại vương!”
Sau khi Công Tôn Diễn cáo lui, Tần Vương lại cẩn thận xem xét một lượt các tấu chương, rồi nhắm mắt chìm vào suy nghĩ miên man.
Lựa chọn duy nhất trong lòng Tần Vương chính là Trương Nghi. Tuy nhiên, những sự việc xảy ra gần đây, đặc biệt là sự hẹp hòi của Trương Nghi đối với Trần Chẩn đã khiến Tần Vương không khỏi suy nghĩ. Tướng quốc đứng đầu bá quan, nếu không có lòng bao dung kẻ khác, sao có thể cai quản triều thần? Xét về mặt trị quốc, người có tài cai quản bá quan, đứng hàng đầu phải là Công Tôn Diễn. Những năm gần đây, chính trị nước Tần căng chùng thích hợp, trong ngoài yên trị, không thể thiếu được công lao của Công Tôn Diễn.
Công Tôn Diễn từ đầu tới cuối một mực không tiến cử Trương Nghi, rõ ràng không chịu thừa nhận Trương Nghi. Nếu dùng Trương Nghi làm tướng quốc, Công Tôn Diễn hẳn sẽ không phục. Ngược lại, nếu dùng Công Tôn Diễn làm tướng quốc, Trương Nghi ắt cũng không phục. Tô Tần, Trương Nghi cùng là cao đồ của Quỷ Cốc Tử, Tô Tần thân đeo sáu ấn tướng quốc, Trương Nghi trải trăm nghìn cay đắng đến Tần, nếu đến một ấn cũng không có được, bảo hắn sao nhẫn nhịn được đây?
Đã xưng vương, không thể thiếu tướng quốc. Một bên là Công Tôn Diễn, một bên là Trương Nghi, Tần Huệ Vương nghĩ thế này không được, nghĩ thế kia chẳng xong, khổ sở suốt mấy ngày trời, đang nát óc suy nghĩ, đột nhiên sực nhớ tới Hàn Tuyền Tử, lập tức tinh thần phấn chấn, vội vã khởi giá tới núi Chung Nam.
“Dám hỏi chúa thượng,” Hàn Tuyền Tử nghe xong sự tình, cười lớn vài tiếng rồi hỏi, “muốn trị một góc, hay muốn trị thiên hạ?”
Tần Huệ Vương trong lòng giật thột, ôm quyền mà đáp: “Dám hỏi tiền bối, Doanh Tứ bất tài, có trị thiên hạ được chăng?”
“Muốn trị thiên hạ, tất phải chống hợp tung, mà hợp tung là do Tô Tần phát động. Đạo trời cân bằng, người có thể chế ngự Tô Tần, duy chỉ có Trương Nghi.” Giọng Hàn Tuyền Tử khẳng định chắc nịch.
“Đa tạ tiền bối đã giải đáp mối băn khoăn!” Tần Huệ Vương thở phào một tiếng, lại vòng tay nói. “Tuy nhiên, hai ngựa không thể ăn chung một máng, nếu dùng Trương Nghi, biết sắp xếp Công Tôn Diễn thế nào đây?”
“Đã không thể chung một máng, sao không chia máng mà nuôi?”
Chia máng mà nuôi!
Tần Vương thoắt nhiên bừng tỉnh, tấm tắc khen là diệu kế. Vấn đề hóc búa nhường này, chỉ vài lời của Hàn Tuyền Tử đã nhẹ nhàng tháo gỡ, thực khiến Huệ Vương vô cùng thán phục. Một canh giờ sau đó, hai người một vua một dân vừa thưởng trà, vừa chuyện phiếm về những việc rất đỗi bình thường như tu thân dưỡng tính, thiên địa âm dương. Thấy sắc trời dần ngả tối, Huệ Vương bèn cáo từ.
Hàn Tuyền Tử cũng không cố giữ, cung kính tiễn ra khỏi sơn cốc.
***
Tần Huệ Vương không hỏi chuyện khác mà chỉ hỏi về Trương Nghi, khiến Công Tôn Diễn càng nghĩ càng chột dạ.
Rõ ràng, Công Tôn Diễn chưa phải là vị tướng quốc lý tưởng trong mắt Tần Vương. Công Tôn Diễn không tham luyến gì chức vị tướng quốc, song từ lúc tới Tần, Công Tôn Diễn bất giác đã coi quốc thể Đại Tần là đại nghiệp một đời mà khổ công vun vén. Giống hệt như trồng cây, đã đào hố, đã đắp đất, đã tưới nước, đã bón phân, cuối cùng hôm nay đã kết thành quả ngọt, nhưng người hái quả lại không phải là Công Tôn Diễn, dù là ai đương nhiên cũng thấy đắng trong lòng.
Tần Vương vào núi, tuỳ tùng là Tư Mã Thác. Sư Lý Tật không thể đồng hành vì bận tiếp sứ thần Nghĩa Cừ vào triều.
Buổi sáng hôm nay, Sư Lý Tật tới phủ đại lương tạo, bẩm báo về các việc liên quan tới Nghĩa Cừ. Bàn xong chuyện chính, Sư Lý Tật đứng dậy định cáo từ, thì Công Tôn Diễn đưa tay ngăn lại, cười mà nói: “Sư Lý huynh dừng bước, tại hạ nhân tiện muốn hỏi thăm dăm ba câu.”
Sư Lý Tật lại ngồi xuống, vòng tay mà nói: “Hạ quan xin kính cẩn lắng nghe lời dặn dò của đại lương tạo!”
“Đại vương xuống chiếu cho quan viên từ chức ngũ đại phu trở lên tiến cử tướng quốc, tại hạ xem khắp lượt tấu chương tiến cử mà không thấy có của Sư Lý huynh. Dám hỏi Sư Lý huynh có tiến cử ai chăng?”
“Hạ quan còn chưa nghĩ xong, nên chưa thể tiến cử.” Sư Lý Tật do dự đáp. “Sao vậy, đại vương giục gấp rồi ư?”
“Ha ha ha!” Công Tôn Diễn cười nói. “Không phải! Đại vương chỉ hạ lệnh tiến cử, còn không giới hạn thời gian cụ thể, Sư Lý huynh cứ thong thả mà suy nghĩ.”
“Vậy thì tốt!” Sư Lý Tật thở phào một tiếng. “Hạ quan dám hỏi đại lương tạo tiến cử người nào?”
“Tại hạ cũng chưa tiến cử. Có điều, hôm kia đại vương hỏi đến chuyện này, tại hạ có nhắc tới một người.”
“Ồ?” Sư Lý Tật nhìn thẳng vào Công Tôn Diễn. “Dám hỏi là người nào?”
“Tô Tần!”
Sư Lý Tật dựng ngón tay cái lên, ghé sát lại gần: “Dám hỏi, đại vương trả lời thế nào?”
“Tô Tần là nỗi đau của đại vương, tại hạ tiến cử xong, cũng tự thấy hối hận. Mà thôi, không nói chuyện này nữa. Sư Lý huynh, tại hạ muốn hỏi, nếu Sư Lý huynh buộc phải tiến cử ngay lúc này, dám hỏi sẽ tiến cử ai?”
Sư Lý Tật ngần ngừ một thoáng: “Tại hạ thực sự chưa nghĩ ra, cũng đang muốn thỉnh giáo đại lương tạo, nếu tiến cử Trương Nghi, có thoả đáng chăng?”
Công Tôn Diễn cười mà nói: “Sư Lý huynh tiến cử ai cũng được, nhưng nếu như tiến cử Trương Nghi, chính là một mình một phe rồi!”
“Ồ!”
“Tất cả các tấu chương tiến cử gửi lên, không có một ai tiến cử Trương Nghi, nếu như Sư Lý huynh tiến cử, chẳng phải một mình một phe ư?”
“Dám hỏi, mọi người tiến cử những ai?”
“Không phải ít người, có người tiến cử Sư Lý huynh, có người tiến cử công tử Hoa, có người tiến cử Cam Mậu huynh, có người tiến cử Trần thượng khanh, cũng có không ít người tiến cử tại hạ.”
Sư Lý Tật lúc này cũng đã nghe ra ẩn ý, vòng tay mà nói: “Từ sau Thương Quân, mọi việc trong triều, cai quản bá quan đều do đại lương tạo kiêm nhiệm, nay bá quan đều tiến cử đại lương tạo làm tướng quốc, thực đúng là mong muốn chung của mọi người, hạ quan xin chúc mừng trước.”
Công Tôn Diễn cũng vòng tay lia lịa: “Đa tạ lời nói tốt đẹp của Sư Lý huynh. Có điều, tướng quốc là chức vị trọng yếu, giúp nước phò vua, không phải là đại tài, không thể đảm đương nổi. Tại hạ bất tài, nào dám mơ mộng với cao?”
“Công Tôn huynh bất tất phải khiêm nhường. Đợi đại vương hồi cung, hạ quan cũng sẽ tiến cử lên đại vương.”
Hai hùng nội tranh, tổn thương đất nước. Công Tôn Diễn xưa nay vốn không coi trọng công lợi, giờ đột nhiên lại chú ý tới ngôi vị tướng quốc, hơn nữa còn công khai tranh giành với Trương Nghi, thực khiến Sư Lý Tật không khỏi lo lắng.
Sư Lý Tật nghĩ thế này cũng không được, thế kia cũng không thông, bèn giãi bày nỗi lo lắng với công tử Hoa. Công tử Hoa gần đây đang vắt óc tính kế vì chuyện của Tử Vân công chúa, hơi một tí là lôi Trương Nghi tới uống rượu, nên lại vô tình tiết lộ cho Trương Nghi biết.
Trong chuyến đi lên núi Chung Nam, Tần Công đã lĩnh ngộ ra kế sách “hai máng”, chính là đặt hai tướng quốc tả hữu, một là tả tướng Trương Nghi, chuyên quản ngoại giao, một là hữu tướng Công Tôn Diễn, chuyên lo nội chính.
Tâm tư của Công Tôn Diễn, Tần Vương đã thấu hiểu, nên sau khi hồi cung, quyết định cho triệu Trương Nghi tới trước hỏi han.
Trương Nghi vào cung, còn chưa kịp đặt mông xuống chiếu đã vòng tay chúc mừng: “Vi thần chúc mừng đại vương, chúc mừng đại vương!”
“Ồ!” Tần Vương thoáng ngạc nhiên. “Ái khanh cớ sao lại chúc mừng?”
“Đại vương có được hiền tướng, là đại hỷ của nước Tần, đại hỷ của đại vương, vi thần đương nhiên phải chúc mừng!”
“Hiền tướng?” Tần Vương ngẫm thấy từ lúc trở về cung, vẫn chưa nói chuyện này với ai, thì rất đỗi kinh ngạc. “Này ái khanh, hãy nói thử xem, quả nhân có được ai làm tướng quốc?”
“Đại lương tạo!” Trương Nghi trả lời tắp lự.
“Ha ha!” Tần Vương bật cười lớn. “Ái khanh hẳn là đã mọc được thiên lý nhãn, thuận phong nhĩ?”
“Không phải!”
“Ồ!” Tần Vương ngạc nhiên nhìn hắn. “Đã không phải vậy, vì sao ái khanh biết được quả nhân đã chọn đại lương tạo làm tướng.”
“Do chính miệng đại lương tạo nói ra!”
“Ồ?” Tần Vương giật mình kinh ngạc. “Đại lương tạo nói thế nào?”
“Đại lương tạo nói với thượng đại phu, thượng đại phu nói với công tử Hoa, văn võ bá quan trong triều ai ai cũng biết. Mọi người đều mừng cho đại vương, mừng cho Đại Tần.”
Tần Vương chau tít đôi mày, trầm ngâm hồi lâu, rồi lệnh cho Trương Nghi lui ra, bí mật triệu kiến công tử Hoa tới, tra hỏi thấy đúng như lời Trương Nghi nói, thì trong lòng không vui, quyết định tạm thời lờ đi Công Tôn Diễn mấy ngày, để có thời gian suy nghĩ thêm.
Trong buổi triều sáng hôm sau, Tần Vương ban chỉ thiết lập phủ tả tướng, bái Trương Nghi làm tả thừa tướng, song chưa định rõ chức trách của tả tướng, càng chưa hạ chỉ cho hắn cai quản bá quan. Người tinh ý có thể lập tức nhận ra, đã lập phủ tả tướng, hẳn sẽ có phủ hữu tướng.
Song Công Tôn Diễn lại không nghĩ như vậy.
Ba ngày sau, khi thư từ nhiệm của Công Tôn Diễn đã đặt trên bàn, Tần Vương mới thấy hối hận, nghĩ mình thân là quân vương mà bụng dạ lại quá hẹp hòi, bèn vội vã cho gọi Sư Lý Tật đến, bảo hắn tới khuyên Công Tôn Diễn ở lại.
Khi Sư Lý Tật tới phủ đại lương tạo, thì đã chậm mất một bước. Công Tôn Diễn đã niêm phong ấn, phủ đại lương tạo và toàn bộ của cải được Tần Vương ban thưởng, chỉ mang theo thanh kiếm và hai gói hành lý sơ sài, đánh xe về phía cổng đông.
Sư Lý Tật đuổi tới cổng đông, thì hay tin đại lương tạo đã rời thành một canh giờ trước đó.
Sư Lý Tật cả kinh, lập tức quay đầu ngựa, phóng gấp về cung.
“Đại vương!” Sư Lý Tật bẩm rõ tình hình, rồi khuyên rằng. “Đại lương tạo không phải người nóng vội, hẳn chưa thể đi xa, nếu đánh ngựa nước đại đuổi theo, thì vẫn còn kịp!”
Tần Vương khép mắt một lát, than thở: “Người này thực lòng muốn đi, thì cứ để hắn đi!”
“Dứt khoát không được, đại vương!” Sư Lý Tật cuống quýt đến mặt mũi đỏ rần. “Nội tình của Đại Tần, người này thuộc làu như lòng bàn tay. Dựa vào tài của người này, dù hắn tới nước nào cũng sẽ là kẻ thù lớn của ta, đại vương!”
“Theo ý khanh, nên làm thế nào?”
“Đại lương tạo phong ấn mà đi, không phải vì tranh giành chức quan, mà chỉ là vì thể diện. Nếu đại vương có thể xuống nước thỉnh cầu, nói vài lời dễ nghe, giúp hắn bảo toàn thể diện, ắt là hắn không đến nỗi không niệm đến tình nghĩa quân thần!”
“Này ái khanh,” Tần Vương cười gượng một tiếng, “ái khanh đã coi Công Tôn Diễn là Trần Chẩn mất rồi!”
Gần đình Tam Thập Lý ở ngoại ô Hàm Dương, một cỗ xe một ngựa kéo đang lọc cọc lăn bánh.
Một người đứng lặng trước đình, ngẩng đầu chờ đợi.
Cỗ xe đi tới trước đình, dừng lại.
Nhận ra người đang đứng vòng tay chờ đợi chính là Trương Nghi, Công Tôn Diễn lúc này mới nhảy xuống xe.
“Công Tôn huynh!” Trương Nghi chỉ tay về phía ngôi đình. “Tại hạ đã chuẩn bị chút rượu nhạt, khó tận lòng thành, tạm để tiễn bước Công Tôn huynh.”
Công Tôn Diễn đưa mắt nhìn về phía ngôi đình, thấy ở đó quả nhiên đã kê sẵn một chiếc bàn, trên bàn bày sẵn mỹ vị, một bình rượu và hai chiếc chén, bên khoé miệng bèn lộ một nụ cười, vòng tay mà nói: “Trương huynh quả là chu đáo! Chỉ là, tại hạ đường phía trước còn xa, không có thời gian rảnh rỗi, kính mong Trương huynh lượng thứ.”
“Công Tôn huynh, có một chuyện thú vị, huynh cũng không muốn nghe ư?” Trương Nghi nở một nụ cười, chìa tay cung kính mời mọc.
Công Tôn Diễn bật cười vang vài tiếng, sải bước lên đình, vén vạt áo, ngồi xuống trước bàn. Trương Nghi cũng cười vài tiếng, ngồi xuống đối diện với Công Tôn Diễn, đưa tới một chén rượu đầy, bản thân cũng nâng chén rượu còn lại lên mà nói: “Công Tôn huynh, mời!”
Công Tôn Diễn tiếp lấy chén rượu, đặt xuống trước mặt, ánh mắt nhìn thẳng vào Trương Nghi: “Tại hạ hiếu kỳ, muốn nghe Trương huynh nói về chuyện thú vị!”
“Được, được, Công Tôn huynh quả là người thẳng thắn!” Trương Nghi cũng đặt chén rượu xuống. “Điều thú vị chính là, sở dĩ Công Tôn huynh phải đánh xe tới đây, là vì một câu nói của tại hạ.”
“Thật ư? Hãy nói nghe thử!”
“Tại hạ nghe nói đại vương muốn bái Công Tôn huynh làm tướng, đã tới trước một bước chúc mừng đại vương!”
“Ồ!”
“Đại vương hỏi tại hạ cớ sao lại biết, tại hạ nói rằng do chính miệng đại lương tạo nói ra. Đại lương tạo nói với thượng đại phu, thượng đại phu nói với công tử Hoa, thế là văn võ bá quan trong triều ai ai cũng biết.”
“Ha ha ha!” Công Tôn Diễn phá lên cười một tràng dài. “Lời nói của Trương huynh, quả là kỳ thú, tại hạ bội phục!” Đoạn nâng chén rượu lên, một hơi uống cạn, sau đó đứng vụt dậy, rảo mấy bước đã xuống dưới đình, nhảy lên xe ngựa thủng thẳng rời đi.
Nhìn theo làn bụi cuốn xa dần, Trương Nghi vòng tay bái biệt, thở dài nói khẽ: “Công Tôn huynh, không phải tại hạ không dung huynh, mà là tại hạ không thể dung huynh, bởi tại hạ và huynh không cùng chí hướng!”