Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 23
Hiến quốc sách, Tôn Tẫn hiển lộ tài năng
Nhận đặc ân, Trần Chẩn trổ tài mưu trá

❊ ❊ ❊

Sau khi ra khỏi cửa Túc Tư, thái tử Thân và Tôn Tẫn cùng ngồi trên một cỗ xe, đông đảo vệ binh tiền hô hậu ủng, thênh thang đi trên con đường cái quan rộng rãi trong địa giới Toan Táo.

Lúc này đang giữa mùa thu, nhưng đồng ruộng khắp nơi không thấy cảnh được mùa, chỉ rặt đồng hoang xơ xác.

Mặt trời lên gần tới đỉnh đầu, theo lý đã đến giờ cơm trưa. Nhưng phóng mắt nhìn đi, trong các làng xóm gần xa dọc hai bên đường không hề có lấy một làn khói bếp. Tôn Tẫn đang lúc băn khoăn, bỗng có một cỗ xe bò lóc cóc đi đến, kéo xe là một con bò gầy trơ xương, trên xe chở theo toàn bộ của nả và cuốc thuổng của cả gia đình. Ngồi trên mấy tấm chăn rách nát là một cụ bà, tay ôm đứa bé gái chừng hai tuổi. Một ông lão tay cầm roi, đi bên cạnh con bò gầy. Một tráng hán chừng bốn mươi tuổi bị thọt một chân, cùng với một gã thiếu niên gầy gò đi theo phía sau xe, cả hai cùng đặt tay lên thùng xe, đẩy giúp sức cho con bò gầy xác. Đi sau cùng là một người đàn bà trung niên và hai đứa trẻ choai choai.

Chẳng cần hỏi cũng biết gia đình này đang bỏ nhà đi tránh đói, và cũng vừa mới ra khỏi cửa, vì ông lão đánh xe cứ chốc chốc lại ngoái đầu nhìn lại, những người khác cũng liên tục ngoảnh nhìn, hai mắt đỏ hoe.

Nhìn thấy đoàn xe của quan gia nườm nượp diễu đến trước mặt, ông lão vội vã đánh xe bò sang bên đường, mọi người cũng tránh dạt ra.

“Điện hạ,” Tôn Tẫn giơ tay nói, “xin dừng lại một lát!”

“Dừng xe!” Thái tử Thân nói với viên quân uý đánh xe.

Đoàn xe dừng lại, Tôn Tẫn bước xuống, đi thẳng tới trước mặt ông lão, khom lưng vòng tay vái mà hỏi: “Xin hỏi lão trượng, các vị có phải là hộ dân ở vùng này?”

Ông lão vái lại rồi đáp: “Bẩm quan nhân, thảo dân đời đời sống ở vùng này!” Rồi chỉ tay vào mấy căn nhà lúp xúp đằng xa, hai mắt đỏ hoe. “Chính là ở đó, thôn Tiểu Lương!”

Tôn Tẫn đưa mắt về phía thôn Tiểu Lương, nhìn chăm chú một hồi, rồi quay sang ông lão: “Có vẻ các vị là người một nhà?”

Ông lão gật đầu, chỉ tay vào từng người: “Đây là con trai ta, kia là cháu trưởng của ta, hai đứa trẻ đằng sau kia là em trai và em gái của nó, ngồi trên xe là vợ ta và cháu gái ta, người đang cúi đầu kia là con dâu.”

Tôn Tẫn nhìn một lượt cả nhà ông lão, lại nhìn những đồ đạc cũ nát trên xe, trong lòng chua xót, giọng nói có chút nghẹn ngào: “Xin hỏi lão trượng, các vị định đi đâu?”

Ông lão thở dài một tiếng: “Than ôi, trong tình cảnh này, còn có thể đi đâu được nữa? Chẳng phải cũng vì xin miếng cơm ăn!”

Tôn Tẫn chỉ tay vào số nông cụ trên xe, ngạc nhiên hỏi: “Mọi người đã đi xin ăn, tại sao còn mang theo nông cụ?”

“Quan nhân có điều không biết, đám tiện dân như chúng tôi đây, không trồng trọt thì làm gì có ai cho cơm ăn?”

“Ý của lão trượng là, muốn tới vùng khác trồng trọt?”

Ông lão gật đầu.

“Xin hỏi lão trượng, định đi tới vùng nào?”

“Xa lắm!” Cụ già chỉ tay về phía trời tây. “Ở đằng đó, Hà Tây, đất cũ của Ngụy! Nghe nói ở đó có một con đường sống, người trong thôn đều đã tới đó cả, thảo dân cũng đang định tìm tới xem sao.”

“Ồ!” Tôn Tẫn kinh ngạc. “Từ đây đến Hà Tây cách sông cách núi, ít nhất cũng phải hơn ngàn dặm đường, tại sao… tại sao các vị không ở lại đây trồng trọt, mà phải đi xa đến vậy?

Ông lão nhìn Tôn Tẫn một lượt từ đầu tới chân, rồi chậm rãi nói: “Xem ra quan nhân không phải người vùng này, nên không hiểu sự tình. Không giấu quan nhân, nhà thảo dân nhiều đời sinh sống tại thôn Thiếu Lương, nhưng đến nay không thể nào ở tiếp được nữa. Mấy năm nay, quan gia liên tục ra cáo thị, trai tráng trong nhà trước đây là ba bắt một đi lính, bây giờ là ba bắt hai. Thuế ruộng đất trước đây là mười khấu ba, bây giờ là mười khấu năm. Năm nay đại hạn, ruộng đồng không một hạt thóc, cả nhà lớn nhỏ đến cái ăn cũng chẳng có, nhưng quan gia vẫn ra cáo thị, tô thuế vẫn nộp như cũ. Quan gia nói thử xem, như thế bảo đám thảo dân chúng tôi làm sao sống nổi?”

Tôn Tẫn nghe mà đau thắt trong lòng, lại hỏi: “Đi nơi khác trồng cấy, đất Triệu, đất Hàn, đất Sở, đất Yên chỗ nào cũng được, nhưng tại sao mọi người lại đến đất Tần?”

“Quan nhân không biết đấy thôi,” ông lão trả lời, “nghe người ta đồn, Tần Công ban lệnh, ai khai hoang được bao nhiêu đất, đều sẽ thuộc về người đó, mười năm không bắt lính, năm năm không thu thuế. Nếu qua kỳ hạn này, tráng đinh bốn trưng một, thuế ruộng mười khấu một. Hơn bốn mươi hộ dân ở thôn Tiểu Lương đã đi hết cả, thảo dân là hộ cuối cùng. Than ôi, cũng tại thảo dân quyến luyến quê hương, nên đã làm khổ cả nhà!” Rồi lại ngoảnh mặt nhìn về phía thôn Tiểu Lương. “Thôn Tiểu Lương đã nuôi thảo dân suốt mấy chục năm, hài cốt của liệt tổ liệt tông đều ở đầu thôn, phút chốc bỏ đi, bảo thảo dân sao nỡ… sao nỡ đành lòng?”

Nói đến đây, ông lão bật khóc thảm thiết, quỳ sụp xuống đất, quay về phía thôn Tiểu Lương lạy liền mấy cái.

Tôn Tẫn mắt lệ rưng rưng, bèn quay sang nói với thái tử: “Điện hạ, xin cho mượn tạm hai lượng vàng!”

Thái tử Thân quay sang quân uý: “Lấy năm lượng vàng lại đây!”

Tôn Tẫn nhận lấy, hai tay đưa năm lượng vàng cho cụ già: “Lão trượng, lần này đi đường xa xôi, chút tiền này xin lão trượng hãy nhận lấy, để mọi người trong nhà dọc đường không phải đói lòng.”

Ông lão dường như không dám tin, nhìn Tôn Tẫn trân trân, lại quay sang nhìn thái tử, rồi mới hai tay run run nhận vàng, lạy liền ba lạy: “Xin hỏi cao tính đại danh của ân công!

Tôn Tẫn đỡ ông lão đứng dậy: “Lão trượng bất tất phải hỏi, hãy mau lên đường!”

Ông lão nói với người nhà: “Lại đây, mau khấu đầu trước ân công!”

Cả nhà lớn bé đều bước lại, theo nhau quỳ xuống đất, khấu đầu vái lạy. Tôn Tẫn không kịp ngăn, đành phải lần lượt đỡ từng người dậy. Thái tử Thân lại lệnh cho đoàn xe tránh sang bên đường, để cho cả nhà họ đi trước. Ông lão tiếp tục bái tạ, sau đó mới đánh xe bò lên đường.

Nhìn cả nhà họ từ từ đi xa dần, thái tử Thân thở dài: “Than ôi, cứ tiếp tục thế này, người Ngụy sẽ bỏ đi hết mất!”

Nghĩ tới hai hòm lễ vật trên xe và lời của Tô Tần lúc trong thảo đường, Tôn Tẫn thở dài, nửa như tự nhủ, lại nửa như đang nói với thái tử Thân: “Tô huynh nói đúng lắm, quân không hiểu dân, sẽ khốn!”

Phía nam thành Đại Lương, nằm giữa Phùng Trạch và Đại Lương là một dải gò đồi nhấp nhô, trung quân của Bàng Quyên đang đóng trại ở đây.

Bên trong doanh trại, cờ bay phấp phới, sát khí đằng đằng. Ba ngàn quân hổ bôn đứng xếp thành năm hàng ngang, ai nấy cao to lừng lững, rắn rỏi như thép, mang giáp cầm thương, mắt nhìn thẳng vào Ngụy Huệ Vương đang thong thả bước tới cách đó chừng năm bước. Đại tướng quân Bàng Quyên, tham tướng trung quân công tử Ngang đứng hộ vệ hai bên phải trái phía sau Huệ Vương.

Ngụy Huệ Vương thần thái lẫm liệt, hai mắt rực sáng, chân bước chậm rãi, nhưng rất mực uy phong, đi thẳng từ trái qua phải, rồi lại từ phải qua trái, hết sức hài lòng ngắm nghía đội quân uy vũ.

Ngụy Huệ Vương đi qua lại một lượt, sau đó mới bước lên đài cao ở giữa, đứng hiên ngang trên đài, vung tay nói lớn: “Chư vị tướng sĩ, khá lắm!”

Ba quân tướng sĩ “soạt” một tiếng đồng loạt quỳ một gối xuống đất, cùng hô lớn: “Chúng thần nguyện nhảy vào nước sôi lửa bỏng, thề chết trung thành với bệ hạ!”

Ngụy Huệ Vương xua tay: “Chư vị tướng sĩ, bình thân!”

Ba ngàn tướng sĩ lại đồng thanh hô: “Tạ ơn bệ hạ!” Rồi “soạt” một tiếng lại cùng đứng lên, hàng ngũ chỉnh tề như đúc từ một khuôn.

Ngụy Huệ Vương quay sang Bàng Quyên đang đứng hầu bên cạnh, gật gù nói: “Bàng ái khanh, đúng là một đội quân sắt thép!”

Bàng Quyên bước lên bẩm tấu: “Khởi bẩm bệ hạ, ba ngàn giáp sĩ này là đội quân hổ bôn do nhi thần đích thân lựa chọn, sức mạnh địch nổi trâu bò, mỗi người đều có tuyệt kỹ riêng, có thể xung phong lâm trận, chặt cờ giết tướng. Ít có thể khiến kẻ địch bạt vía, nhiều có thể đánh một trận mà định toàn cục!”

Ngụy Huệ Vương liên tiếp gật gù: “Tốt lắm! Tốt lắm! Ý nguyện trong mơ của quả nhân, nay coi như đã thành hiện thực!” Dừng lại một lát, dường như vẫn không thực tin. “Khanh nói họ đều có sức mạnh địch nổi trâu bò, mỗi người đều có tuyệt kỹ riêng?”

Bàng Quyên đưa mắt cho công tử Ngang, công tử Ngang bèn chạy tới trước trận, hô lớn: “Thanh Ngưu!”

Thanh Ngưu đứng đầu lập tức bước ra khỏi hàng, to cao lực lưỡng như một toà tháp sắt, nhanh nhẹn tiến lại: “Có Thanh Ngưu!”

Công tử Ngang lại hô: “Kéo trâu đến!”

Lập tức có một tên lính dắt theo một con trâu mộng to lừng lững tới trước hàng ngũ. Nhìn thấy con trâu, Thanh Ngưu bước thẳng tới, vung hai tay nắm chặt sừng trâu. Con trâu thấy bị giữ sừng, lập tức nổi khùng, giậm chân húc đầu xông lên phía trước. Thanh Ngưu vẫn ghì chặt sừng trâu, không lui nửa bước. Người và trâu đấu sức một hồi, con trâu không thể cự nổi, bắt đầu lùi lại. Thanh Ngưu tiến lên mấy bước, quát lớn một tiếng, hai tay vận lực. Con trâu rống lên một tiếng, ngã kềnh xuống đất. Các tướng sĩ reo hò ầm ĩ.

Ngụy Huệ Vương há hốc miệng kinh ngạc, một lúc lâu sau mới chỉ tay vào Thanh Ngưu, hết lời khen ngợi: “Tráng sĩ hay lắm, tráng sĩ hay lắm!”

Mấy quân sĩ chạy đến, xúm lại lôi con trâu đi. Thanh Ngưu lạy Huệ Vương mấy lạy, rồi quay trở về đội ngũ.

Ngụy Huệ Vương ngoảnh đầu hỏi Bàng Quyên: “Bàng ái khanh, ba ngàn quân sĩ đều có bản lĩnh như vậy ư?”

“Nếu bệ hạ không tin, có thể đích thân thử!”

Ngụy Huệ Vương gật đầu, bước xuống đài, lại đi qua trước đội quân một lượt, rồi đột nhiên giơ tay chỉ về một quân sĩ đứng hàng cuối cùng: “Ngươi, ra khỏi hàng!”

Người này dạ một tiếng, lập tức bước ra khỏi hàng, quỳ một gối xuống, khấu đầu nói: “Nhất đẳng giáp sĩ La Uy khấu kiến bệ hạ!”

Ngụy Huệ Vương nghe giọng hắn vang rền như sấm, thì gật đầu nói: “Ngươi có tuyệt chiêu gì, hãy biểu diễn cho quả nhân xem!”

“La Uy tuân chỉ!”

La Uy đứng dậy, gọi người mang mấy viên gạch xanh đến, xếp chồng lên nhau, khẽ vận khí chốc lát, rồi vung tay chém xuống. Chồng gạch lập tức vỡ làm đôi, mọi người lại ồ lên kinh ngạc.

Ngụy Huệ Vương lại gọi thêm một số người nữa, quả nhiên mỗi người đều có bản lĩnh riêng, người thì sức nâng cối đá, người thì đao đâm không thủng, người thì trèo được cột cờ, lại có người vung búa chém đôi tảng đá lớn, đúng là một đội quân lực sĩ, ai nấy đều có tuyệt chiêu, khiến Huệ Vương mặt mày hoan hỉ, hùng tâm dào dạt.

Tuần sát xong ba ngàn quân hổ bôn, Bàng Quyên dẫn Huệ Vương đi vào trướng trung quân, dừng lại trước một khung gỗ cực lớn. Ngụy Huệ Vương đang ngạc nhiên, Bàng Quyên đã đưa tay giật tấm nhiễu che trên khung gỗ, để lộ một sa bàn quân dụng rất lớn. Sa bàn mô phỏng hình thế thu nhỏ của các nước xung quanh nước Ngụy, vô cùng tinh xảo, trên cắm thẻ tre đề rõ tên nước, thành ấp, sông núi, ao hồ, các chỗ phòng thủ, kho tàng, các nơi hiểm yếu, số quân trấn thủ và họ tên tướng lĩnh.

Ngụy Huệ Vương chưa bao giờ nhìn thấy một sa bàn to lớn và tinh xảo cỡ này, vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, liên miệng tấm tắc: “Đúng là bảo bối! Liệt quốc trong thiên hạ, đều ở trong tầm mắt!” Rồi quay sang Bàng Quyên. “Bàng ái khanh, sao khanh có thể làm được cái này?”

“Khởi bẩm bệ hạ, nhi thần phái người đi quan sát khắp nơi, so sánh hình thế các nước, rồi kết hợp với công sư để thiết kế nên. Một số nơi có lẽ không giống hệt thực tế, nhưng về đại thể, không sai lệch nhiều, có thể dùng trong tác chiến.”

Ngụy Huệ Vương lại ngắm nghía một lúc, giọng đầy phấn khích: “Tốt lắm! Tốt lắm! Ái khanh có tâm như vậy, lo gì thiên hạ không được thái bình?”

“Bệ hạ!” Bàng Quyên thấy thời cơ đã đến, vội bẩm tấu. “Nhi thần có một khẩn cầu, xin bệ hạ ân chuẩn!”

“Ái khanh có yêu cầu gì, cứ nói thẳng!”

“Nếu bệ hạ muốn bình định thiên hạ, e rằng chỉ với sức của một mình vi thần và ba ngàn quân hổ bôn, vẫn là chưa đủ. Vi thần cho rằng, nhiệm vụ cấp bách hiện giờ là chiêu mộ võ binh, tái lập thiết quân cho Đại Ngụy!”

Ngụy Huệ Vương lập tức gật đầu: “Tốt lắm, quả nhân chuẩn tấu!” Suy nghĩ một lúc, lại nói. “Tuy nhiên, đây là việc lớn, không thể sơ sài. Chiêu mộ thế nào, tái lập ra sao, ái khanh hãy soạn thành một bản tấu chi tiết, để đưa ra bàn bạc trong buổi đại triều.”

“Vi thần lĩnh chỉ!”

Hai ngày sau, Ngụy cung đến ngày đại triều. Thấy quần thần đều đã đứng vào vị trí, Ngụy Huệ Vương chìa tay nói: “Buổi đại triều hôm nay, trước tiên quả nhân sẽ ban hai chiếu thư!” Rồi quay sang tỳ nhân. “Tuyên chỉ!”

Tỳ nhân bước lên một bước, rút từ trong tay áo ra một đạo chiếu thư, lớn tiếng đọc: “Tư đồ Chu Uy nghe chỉ!”

Chu Uy bước lên một bước: “Có vi thần!”

Tỳ nhân tuyên đọc: “Tư đồ Chu Uy suốt hai mươi năm không đổi, cần cù triều chính, trung thành tận tuỵ, nay tấn phong làm thượng khanh, thống lĩnh sáu phủ Tư đồ, Tư nông, Tư không, Tư khấu, Tư mã, Tư công, phò tá tướng quốc, đảm trách nông thương, cai quản chính sự, củng cố đất nước!”

Quần thần đều giật mình kinh ngạc, ngay cả Chu Uy cũng hết sức ngỡ ngàng. Mọi người đưa mắt nhìn nhau, sau đó cùng nhìn về phía tướng quốc.

Ai cũng biết Chu Uy là người được Ngụy Huệ Vương tín nhiệm nhất. Từ khi Bạch Khuê qua đời, trên thực tế quyền lực của sáu phủ đã nằm trong tay Chu Uy, hôm nay ban chiếu lệnh, chẳng qua cũng chỉ là khiến cho danh chính ngôn thuận, không có gì đáng ngạc nhiên. Điều kỳ lạ là Ngụy Huệ Vương đột nhiên phong cho ông ta làm thượng khanh, thay thế chức vị của Trần Chẩn, mà ở nước Ngụy, thượng khanh cũng giống như tả sư, hữu sư, thái phó, thiếu phó, bao năm nay vẫn chỉ là tước hão, ngay cả sủng thần Trần Chẩn trước đây, phần lớn cũng chỉ để ông ta kiêm quản vài việc ngoại giao, không hề trao cho thực quyền. Lần này Ngụy Huệ Vương tấn phong Chu Uy làm thượng khanh, lại để ông ta cai quản sáu phủ, rõ ràng đã coi thượng khanh là tước thực, tương đương với phó tướng quốc. Điều này ở nước Ngụy, chẳng khác gì thay đổi chế độ, mà hiện giờ, người có thể khiến Ngụy Vương thay đổi chế độ, chỉ có thể là Huệ Thi.

Huệ Thi đứng đầu bá quan, hai mắt khép hờ, giống như buồn ngủ.

Cơn kinh ngạc qua đi, Chu Uy khấu đầu nói: “Vi thần lĩnh chỉ! Vi thần đa tạ long ân của bệ hạ!”

Tỳ nhân lại rút từ trong tay áo ra đạo chiếu thư thứ hai: “Ngự sử phủ Tư đồ Bạch Hổ nghe chỉ!”

Bạch Hổ bước ra khỏi hàng: “Có vi thần!”

Tỳ nhân tuyên đọc: “Ngự sử phủ Tư đồ cai quản hình ngục nghiêm minh, trong năm không có án lưu, dân không chịu oan, công lao hiển hách, nay tấn phong làm tư đồ, phò tá thượng khanh, tiếp quản mọi việc trong phủ Tư đồ!”

Bạch Hổ khấu đầu: “Vi thần lĩnh chỉ! Vi thần đa tạ long ân của bệ hạ!

Ngụy Huệ Vương mỉm cười, xua tay: “Hai vị ái khanh hãy bình thân!”

Chu Uy, Bạch Hổ lại khấu lạy: “Tạ ơn bệ hạ!”

Hai người đứng dậy, trở về vị trí.

“Chư vị ái khanh!” Ngụy Huệ Vương đưa mắt nhìn khắp lượt quần thần, chậm rãi nói. “Quả nhân đăng cơ đã hai mươi tám năm, đến hôm nay mới có được cảm giác sảng khoái này. Sao lại sảng khoái? Sảng khoái là bởi chư vị ái khanh đồng tâm hiệp lực, cùng đương quốc nạn. Sảng khoái là bởi Huệ ái khanh nhìn xa trông rộng, biết cách vận trù quốc sách. Sảng khoái là bởi Bàng ái khanh trị quân như thần, uy phục liệt quốc. Sảng khoái là bởi Chu ái khanh hành sự chu toàn, cung tiêu ổn định.” Dừng lại một lát. “Chư vị ái khanh, quả nhân có phúc đức gì mà lại được các khanh tận lực giúp rập? Quả nhân có tài cán gì mà lại được hiền tài dốc lòng phò tá?”

Toàn bộ triều đình im phăng phắc, quần thần đều đưa mắt nhìn vào ba người Huệ Thi, Bàng Quyên, Chu Uy. Huệ Vương giọng nói bỗng trở nên trầm nặng. “Quả nhân đã từng sáng suốt, cũng đã từng hồ đồ; đã từng uy phong, cũng đã từng thất vọng. Thảm bại Hà Tây, liệt quốc vây đánh, chỉ trong nháy mắt Đại Ngụy đã chuyển từ thịnh sang suy, nguyên nhân trong đó, cho dù mọi người không nói ra miệng, trong thâm tâm ai cũng hiểu rõ, quả nhân cũng vậy. Nguyên nhân này, chính là do quả nhân! Tất cả mọi lỗi lầm đều do một mình quả nhân gây ra. Sai ở đâu? Sai ở chỗ gần tiểu nhân, xa hiền thần. Trần Chẩn là tiểu nhân, quả nhân lại gần gũi. Bạch Khuê là hiền thần, quả nhân lại xa lánh. Chu ái khanh nhiều lần khuyên bảo, nhưng quả nhân không nghe. Giờ việc đến nước này, mỗi lần nghĩ lại chuyện xưa, lòng quả nhân lại đau như cắt!” Lặng đi một lát, lại hơi cao giọng, sắc mặt cũng lộ vẻ kích động. “Quả nhân đã sai, quả nhân biết sai, hôm nay quả nhân xin được nhận sai. Sở dĩ quả nhân nhận sai, là vì quả nhân không muốn tiếp tục tái phạm sai lầm! Buổi triều hôm nay, quả nhân đã trút bỏ tảng đá trong lòng, một là mong muốn chư vị chứng giám, hai là khẩn cầu chư vị tiến cử hiền tài, khiến cho triều đình Đại Ngụy đều là những người như Huệ ái khanh, Bàng ái khanh và Chu ái khanh, tất cả đều là hiền tài!”

Những lời của Ngụy Huệ Vương, thực tình thực ý, như từ gan ruột. Lời vừa dứt, chỉ nghe thấy lịch phịch một hồi, toàn bộ văn võ bá quan trong triều, gồm cả Huệ Thi, đều quỳ sụp cả xuống đất, khóc lớn thành tiếng: “Bệ hạ…”

Ngụy Huệ Vương liền đứng bật dậy, nói lớn: “Chư vị ái khanh, mau bình thân!”

Quần thần liền lục tục đứng dậy.

Giọng Huệ Vương lại khảng khái sôi nổi. “Đại Ngụy cần phải chấn hưng! Quả nhân cũng phải chấn chỉnh! Các khanh cũng phải chấn chỉnh! Đại Ngụy phải chấn hưng thế nào? Nước giàu binh mạnh! Quả nhân phải chấn chỉnh thế nào? Rửa tai lắng nghe! Các khanh phải chấn chỉnh thế nào? Dám can lời thẳng, dũng cảm gánh vác! Quả nhân hứa rằng, phàm là bàn chuyện chính trị trên triều, cho dù có bàn việc gì, quả nhân cũng sẽ lắng nghe; phàm những ai dám nói thẳng ra chỗ sai của quả nhân, cho dù nói thế nào, quả nhân cũng sẽ sẵn sàng tiếp nạp!”

Lời vừa dứt, Bàng Quyên bước lên trước bái lạy, giọng nghẹn ngào: “Bệ hạ, vi thần có tấu!”

Ngụy Huệ Vương gật đầu, chậm rãi ngồi xuống, thái độ ôn hoà, nét mặt tươi cười: “Bàng ái khanh mau nói!”

“Bệ hạ khoan dung độ lượng, như biển nạp muôn sông, có thể sánh với hiền vương thượng cổ. Vi thần vốn chỉ là một thảo dân, may mắn gặp được bệ hạ, lại được bệ hạ ân sủng, nên mới có được ngày nay. Vi thần nguyện dốc kiệt sức lực, xương tan thịt nát, thề báo đáp ân tri ngộ của bệ hạ!”

“Ái khanh miễn lễ!” Ngụy Huệ Vương khảng khái nói. “Ái khanh biết cách trị quân, chế địch, là tướng tài trăm năm khó gặp! Quả nhân vì có ái khanh nên mới được sảng khoái như hôm nay! Không giấu ái khanh, sau khi quả nhân đi thị sát quân đội trở về, lúc nào cũng tưởng đến ba ngàn quân hổ bôn, trong mơ cũng bật cười tỉnh lại đến mấy lần!”

“Ba ngàn quân hổ bôn đa tạ bệ hạ khích lệ!” Bàng Quyên nói tiếp. “Vi thần cho rằng, trong thời hiện tại, cũng chẳng khác gì trong núi rừng hoang dã, kẻ yếu tất sẽ bị kẻ mạnh ăn thịt. Từ xưa đến nay, chẳng ai không chiến mà thắng, hiếm người không thắng mà thành quân vương. Đất ta nằm ở Trung Nguyên, xung quanh đều là cường quốc, mặc dù được yên một lúc, nhưng vẫn chưa thể kê gối ngủ ngon!”

“Ái khanh nói chí phải. Ái khanh có kế sách gì, hãy mau nói ra!”

“Nước muốn mạnh, trước tiên quân phải mạnh; quân muốn mạnh, không chỉ với ba ngàn quân hổ bôn là được. Theo vi thần được biết, ngày trước Ngô Khởi trị quân, có hàng trăm tướng giỏi, năm vạn kỵ binh, mười vạn võ binh. Binh lính trong quân, đều có sức một địch mười, hành quân trăm dặm vẫn có thể chiến đấu. Vi thần bất tài, nguyện giúp bệ hạ tái lập thiết quân, nhỏ thì có thể bảo vệ đất nước, lớn thì có thể chinh phạt thiên hạ.” Bàng Quyên nói đến đây, rút từ trong tay áo ra một cuộn thẻ tre, hai tay dâng lên. “Vi thần xin chiêu mộ tám vạn trai tráng, ba vạn ngựa hay. Vi thần tin chắc, chỉ cần huấn luyện tốt, trong vòng ba năm, thiết quân của Đại Ngụy có thể quét sạch liệt quốc, uy phục thiên hạ. Đây là bản tấu của vi thần, xin bệ hạ hãy đọc!”

Bàng Quyên nói xong, chúng thần đều kinh ngạc, đưa mắt nhìn nhau.

Tỳ nhân bước tới nhận lấy cuộn thẻ tre, hai tay trình lên Ngụy Huệ Vương. Ngụy Huệ Vương mở ra, đọc lướt qua một lượt, ngẩng đầu nhìn Bàng Quyên, gật gù nói: “Bản tấu của ái khanh cũng chính là mong muốn của quả nhân. Có điều… mộ quân đông đảo như vậy, lại là chuyện quốc gia đại sự, hãy để quả nhân cân nhắc lại, sau đó mới quyết!”

“Vi thần đa tạ bệ hạ!”

Ngụy Huệ Vương đưa mắt nhìn quần thần một lượt: “Còn ai có tấu?”

“Vi thần có tấu!” Chu Uy bước lên trước một bước, khom người bẩm tấu.

“Ái khanh mau nói!”

“Bệ hạ, mấy năm nay chiến tranh triền miên, mùa hạ năm nay lại gặp đại hạn trăm năm mới thấy, vụ thu mất trắng, kho đụn rỗng không, kho không còn lương thực, dân không đủ gạo ăn. Bệ hạ năm năm ba lần bắt lính tăng thuế, quan lại địa phương vơ vét tàn khốc, bách tính khổ sở khó kham, không ít vùng biên cương, người dân đã lũ lượt bỏ quê mà đi, chạy khỏi đất Ngụy, khiến cho vô số ruộng đất bị bỏ hoang, dân gian cũng chẳng còn tráng đinh để chiêu mộ nữa!”

Ngụy Huệ Vương chau mày, trầm ngâm hồi lâu, rồi ngẩng đầu nhìn Chu Uy: “Chu ái khanh, có bao nhiêu dân chúng đã bỏ đi?”

“Khởi bẩm bệ hạ, khoảng hai mươi vạn!”

“Hai mươi vạn?” Ngụy Huệ Vương biến ngay sắc mặt. “Nhiều đến vậy ư?”

“Bệ hạ!” Chu Uy chậm rãi nói. “Hai mươi vạn chỉ là do quan lại địa phương báo lên. Nhưng đa số quan địa phương đều lo sợ bị trách phạt, nên đã kiếm cách giấu giếm không báo. Theo vi thần tính qua, ít nhất đã có tới năm mươi vạn người đã rời khỏi nước Ngụy, chiếm khoảng một phần mười toàn bộ dân nước Ngụy.” Nói đoạn, rút ra một cuộn thẻ tre từ trong tay áo, hai tay dâng lên. “Vi thần đã ngấm ngầm phái người đến biên giới điều tra, dựa vào đó viết ra bản tấu này, xin bệ hạ ngự lãm!”

Tỳ nhân bước xuống nhận lấy, trình lên trước mặt Ngụy Huệ Vương. Ngụy Huệ Vương nhận lấy cuộn thẻ tre, đọc lướt qua một lượt, rồi đặt xuống bàn, thần sắc ủ rũ, trầm ngâm hồi lâu mới ngẩng đầu lên, giọng hơi khản đi: “Chư vị ái khanh, bãi triều!”

Sau khi bãi triều, Bàng Quyên trở về phủ, ngồi lặng suy nghĩ hồi lâu, rồi cho người gọi Bàng Thông đến, đang định dặn dò điều gì, lại xua tay bảo hắn lui ra, đứng dậy đi thẳng ra sân trước, thấy xe ngựa của mình vẫn chưa tháo, chẳng kịp gọi phu xe, đã nhảy ngay lên xe, quất ngựa rời khỏi phủ.

Bàng Quyên đánh xe tới thẳng phủ của Bạch Hổ. Môn nhân báo tin, Bạch Hổ đã đi xem phủ đệ mới. Bàng Quyên hỏi địa chỉ phủ mới, rồi đánh xe tới đó, từ xa đã nhìn thấy Bạch Hổ và lão quản gia râu tóc bạc phơ đứng ngoài cổng chỉ trỏ.

Phủ mới rộng chừng ba mươi mẫu, đình đài lầu gác đều đủ cả, mặc dù không thể so sánh với Bạch phủ khi còn ở An Ấp, cũng không xa hoa bằng phủ An Quốc Quân, Vũ An Quân, nhưng cũng được coi là một trong vài chốn hào hoa bậc nhất có thể đếm được trên đầu ngón tay trong thành Đại Lương. Toà trạch viện này vốn không phải của Bạch Hổ, mà là Ngụy Huệ Vương ban tặng cho Chu Uy làm phủ thượng khanh. Do Chu Uy không muốn chuyển nhà, chỉ thay đổi biển hiệu trước cổng, sau đó bẩm báo với Ngụy Vương, tặng lại toà phủ đệ cho Bạch Hổ.

Nghe thấy tiếng xe ngựa từ phía sau vọng lại, Bạch Hổ ngoảnh đầu nhìn, thấy Bàng Quyên đến, thì vội vàng khấu bái sát đất: “Ân công…”

Vừa nói được hai chữ, Bàng Quyên đã nhảy xuống ngựa đỡ lấy Bạch Hổ, lớn tiếng trách móc: “Tư đồ đại nhân, đại nhân làm gì vậy?”

Bạch Hổ đành phải vòng tay vái: “Hạ quan Bạch Hổ xin chào Vũ An Quân!”

Bàng Quyên lại nghiêm mặt, trách mắng: “Bạch huynh đệ, huynh gọi ta là gì?”

Bạch Hổ chần chừ một lát, gọi khẽ: “Đại ca!”

Bàng Quyên đổi giận làm vui, bật cười mà nói: “Thế mới đúng chứ!” Rồi ngẩng đầu nhìn toà phủ đệ một lượt, khẽ gật đầu. “Ồ, toà trạch viện này cũng có chút khí thế, rất hợp với Bạch huynh đệ!”

Lão quản gia sắc mặt hoan hỉ, vui không kẻ xiết, cảm thán mà rằng: “Chao ôi, lão nô không thể ngờ được nhà họ Bạch vẫn có được ngày hôm nay, đúng là trời xanh có mắt!”

Bàng Quyên cười nói: “Bạch huynh đệ, toà trạch viện lớn thế này, phải dẫn đại ca đi thăm một vòng mới đúng!”

“Đại ca, mời!”

Bàng Quyên đưa roi ngựa cho lão quản gia, cùng Bạch Hổ đi vào cổng chính, men theo con đường lát đá, đi vòng quanh phủ một vòng, cứ đến mỗi một nơi lại bình luận vài câu. Hai người đi vào hậu hoa viên, Bàng Quyên chỉ tay vào mấy chiếc ghế đá trên bãi cỏ, nói: “Nơi này cảnh trí tuyệt đẹp, ngồi nghỉ một lát, được chăng?”

Bạch Hổ nhận thấy Bàng Quyên dường như có tâm sự, bèn cười đáp: “Đại ca, mời!”

Hai người ngồi xuống, Bàng Quyên lập tức nói thẳng vào chuyện chính: “Bạch huynh đệ, sự việc hôm nay ở trên triều, đệ có cảm thấy có phần quái lạ không?”

Bạch Hổ gật đầu: “Đúng là có hơi quái lạ! Tiểu đệ chẳng qua chỉ là một ngự sử trong phủ Tư đồ, tước hạ đại phu, theo lý thì không được lên triều. Song tối qua nội tể đến truyền chỉ, báo tiểu đệ hôm nay lên triều. Tiểu đệ không biết là chuyện gì, suốt dọc đường lên triều, trong lòng cứ thấp thỏm không yên. Không ngờ bệ hạ lại trao cho tiểu đệ trọng trách nhường vậy, tiểu đệ quả thực…”

“Không, không, không!” Bàng Quyên vội lắc đầu. “Đại ca không phải nói Bạch huynh đệ. Với tài năng, thân thế của huynh đệ, cho dù có làm thượng khanh cũng xứng!”

“Đại ca quá đề cao tiểu đệ rồi. Đại ca đã không nói về chuyện này, vậy là chuyện gì?”

“Chu thượng khanh và đại ca xưa nay vốn chẳng dính dáng gì với nhau, đại ca cũng rất khâm phục con người thượng khanh, nhưng hôm nay trên triều đường, đột nhiên lại làm khó đại ca, quả tình rất khó hiểu!”

Bạch Hổ cười nói: “Chu thượng khanh không có ý khác, e rằng đại ca đã hiểu nhầm rồi!”

“Hiểu nhầm?” Bàng Quyên cười nhạt một tiếng. “Đại ca muốn mộ quân, ông ta lại nói dân chúng biên cương bỏ đi, không còn tráng đinh để mộ! Đại ca muốn mở mang quân đội, ông ta lại nói quốc khố trống trơn, thu thuế quá nặng! Đây chẳng phải công khai làm khó đại ca thì là gì?”

“Đại ca có điều không biết!” Bạch Hổ giải thích. “Đã mấy tháng nay, trong kho không còn lương thực, dân chúng không còn gạo ăn, thượng khanh suốt ngày buồn phiền lo lắng, nhiều lần nhắc đến chuyện này trước mặt tiểu đệ, tuyệt đối không phải là làm khó! Hơn nữa, những lời thượng khanh nói hôm nay, tiểu đệ cũng không thấy có bất cứ ý gì tổn hại tới đại ca!”

“Bạch huynh đệ!” Bàng Quyên lắc đầu nói. “Đệ là người tốt, lúc nào cũng nghĩ tốt cho người khác. Quốc khố trống rỗng, dân chúng không có cái ăn, điều này không phải đại ca không biết. Nhưng đệ có biết, phát triển nông tang, củng cố quốc bản là kế sách lâu dài, hưng binh mới là nhiệm vụ cấp bách, không thể chậm trễ một ngày. Một khi người Tần thừa cơ ta đói kém, hưng binh phạt ta, ta phải ứng phó sao đây? Hơn nữa, cho dù bản tấu của thượng khanh chỉ nói về việc dân chúng bỏ đi, không liên quan gì đến đại ca, nhưng ông ta cũng nên tìm cơ hội khác mới phải, tại sao lại dâng tấu ngay sau khi đại ca tấu xin tái lập võ binh Đại Ngụy?”

“Việc này…” Bạch Hổ do dự, “chỉ là trùng hợp mà thôi!”

Bàng Quyên hừ mũi một tiếng: “Cho dù có là trùng hợp, thì cũng là quá trùng hợp!”

Bạch Hổ mở miệng mấy lần, nhưng không nói được gì thêm. Bàng Quyên thấy vậy, ngữ khí cũng hoà hoãn trở lại: “Có lẽ là đại ca đã nghĩ quá xa xôi!” Rồi đứng dậy, bật cười một tiếng. “Bạch huynh đệ, hôm nay là ngày đại hỷ của đệ, đi, đại ca mời đệ uống rượu, coi như là để chúc mừng!”

Bạch Hổ cũng đứng dậy: “Đa tạ ý tốt của đại ca! Nhưng… tối qua khuyển tử đột nhiên sốt cao, khiến cho Khởi Y suốt đêm không ngủ, tiểu đệ thực không yên tâm. Đợi mấy ngày nữa, tiểu đệ nhất định sẽ mời đại ca đến phủ mới, uống một trận thật sảng khoái!”

“Tiểu Bạch Khởi bị ốm ư?” Bàng Quyên vội hỏi. “Đây là chuyện lớn! Đi thôi, đại ca cũng phải đến thăm xem sao!”

Hai người ra tới cổng, đang định lên xe trở về phủ cũ của Bạch Hổ, đột nhiên nhìn thấy một người cưỡi ngựa lao như bay tới, lại gần té ra là Bàng Thông.

Bàng Thông nhảy xuống ngựa, vội vã bẩm báo: “Đại ca, thái tử hồi phủ rồi!”

Bàng Quyên sững người, vội hỏi: “Tôn huynh có đến không?”

“Có đến, đang ở trong cung thái tử!”

Bàng Quyên vòng tay nói với Bạch Hổ: “Bạch huynh đệ, Tôn huynh đã đến rồi! Hôm khác đại ca sẽ đến thăm Tiểu Bạch Khởi, hãy nói với nó là Bàng bá phụ rất nhớ nó!”

Bạch Hổ cũng vòng tay nói: “Tiểu đệ thay khuyển tử đa tạ đại ca nhớ đến! Đại ca đi cẩn thận!”

Trong cung thái tử, Tôn Tẫn và thái tử Thân đang ngồi trong sảnh trò chuyện, vừa mới nhắc đến Bàng Quyên, nội tể ở Đông cung đã bước vào bẩm báo: “Khởi bẩm điện hạ, Vũ An Quân đang ở ngoài điện cầu kiến!”

Thái tử Thân đứng dậy cười nói: “Ồ, vừa nhắc đến Vũ An Quân, người đã đến ngay rồi!”

Tôn Tẫn vội đứng dậy, cùng thái tử Thân đi ra ngoài cửa. Nhìn thấy thái tử Thân, Bàng Quyên quỳ xuống khấu lạy: “Vi thần khấu kiến điện hạ!”

Thái tử Thân chìa tay nói: “Vũ An Quân miễn lễ!”

Bàng Quyên bái lạy: “Vi thần đa tạ điện hạ!” Rồi đứng dậy, lại quỳ xuống hướng về phía Tôn Tẫn. “Tôn huynh ở trên, xin hãy nhận của tiểu đệ một lạy!”

Tôn Tẫn cũng quỳ xuống đất lạy Bàng Quyên, nước mắt ứa ra: “Hiền đệ…”

Hai người cùng lạy nhau mấy lạy, rồi Bàng Quyên ngẩng đầu, nhìn kỹ Tôn Tẫn một lượt, giọng nghẹn ngào: “Tôn huynh, một năm không gặp, hiền đệ rất nhớ huynh!”

Tôn Tẫn nước mắt ròng ròng: “Huynh cũng thế, không ngày nào không nhớ tới hiền đệ! Một năm không gặp, hiền đệ gầy đi nhiều quá!”

Bàng Quyên thở dài một tiếng: “Than ôi, sau khi rời khỏi sơn cốc, mỗi bước đi của tiểu đệ, chẳng khác nào như trèo lên đỉnh Hầu Vọng, thực khó khăn muôn bề!”

Thái tử Thân mỗi tay đỡ một người, cười nói: “Hai vị ái khanh lâu ngày mới được trùng phùng, thật đáng mừng. Nào, cùng vào trong phủ nói chuyện!”

Bàng Quyên vòng tay vái thái tử Thân một vái thật dài: “Vi thần có một khẩn cầu, xin điện hạ ân chuẩn!”

Thái tử Thân đáp lễ: “Vũ An Quân cứ nói!”

“Điện hạ tới núi Vân Mộng xa xôi, chắc đã mệt mỏi, vi thần không tiện quấy rầy. Vi thần và Tôn huynh đã một năm không gặp mặt, có rất nhiều chuyện muốn tâm sự cùng nhau, khẩn cầu điện hạ cho phép Tôn huynh tạm thời ở trong phủ của vi thần, để thoả nỗi nhớ nhung!”

Thái tử Thân khẽ mỉm cười, đưa mắt nhìn Tôn Tẫn: “Tôn Tử, trên đường chúng ta đã nói trước rồi, sau khi khanh đến, sẽ tạm thời ở phủ thái tử. Việc này…”

Bàng Quyên vội quay sang nhìn Tôn Tẫn: “Tôn huynh!”

Tôn Tẫn quay người, vòng tay vái thái tử Thân: “Tấm thịnh tình của điện hạ, Tẫn xin nhận. Tẫn khẩn cầu điện hạ hãy ân chuẩn cho hiền đệ!”

Thái tử Thân gật đầu, đỡ Tôn Tẫn dậy: “Tôn Tử mau đứng lên. Ăn nghỉ ở đâu, Tôn Tử cứ tự nhiên. Ngày mai đợi Ngụy Thân bẩm báo với phụ vương xong, sẽ sắp xếp phủ đệ cho Tôn Tử.”

“Tẫn đa tạ điện hạ!”

Bàng Quyên từ biệt thái tử Thân, dắt Tôn Tẫn lên xe ngựa, tiến thẳng về phủ Vũ An Quân. Bàng Thông đã sắp xếp các gia nô đứng đợi sẵn ở ngoài, thấy hai người đi vào, tất cả đều khấu bái nghênh tiếp.

Bàng Quyên dắt tay Tôn Tẫn, dẫn đi thăm phủ trạch, chỉ tay giới thiệu: “Tôn huynh hãy nhìn xem, dãy này là nhà kho, tổng cộng có mười hai gian. Dãy này là phòng khách, tổng cộng có mười lăm gian. Nhà chái hai bên là cho nô bộc ở; dãy bên trái là phòng ăn, chủ phòng của tiểu đệ ở ngay trước mặt, là dãy nhà thứ ba…”

Tôn Tẫn vừa ngắm nghía, vừa liên tiếp gật gù: “Phủ trạch của hiền đệ, quả nhiên tráng lệ!”

Bàng Quyên cười hỏi: “Tôn huynh có biết phủ này vốn là của ai không?”

Tôn Tẫn mỉm cười: “Hẳn không phải là của Trần Chẩn đấy chứ?”

Bàng Quyên bật cười nói: “Tôn huynh đã đoán đúng rồi đấy, đây chính là phủ của Trần Chẩn! Gian tặc Trần Chẩn đã sợ tội bỏ trốn, bệ hạ tức giận, cho xử lăng trì Thích Quang và Đinh Tam, tặng lại phủ này cho tiểu đệ. Tiểu đệ đã mấy lần cải tạo, loại bớt xa hoa, xoá bỏ dâm dật, nên mới có hình dạng như hôm nay.” Chỉ tay vào chủ phòng. “Đã đến chủ phòng rồi, mời Tôn huynh!”

“Mời hiền đệ!”

Hai người dắt tay nhau cùng vào, lần lượt bước qua hai lần cổng lớn, tiến vào phòng khách. Đã có thị nữ rót trà, quỳ sẵn dưới đất. Hai người chia ngôi chủ khách ngồi xuống, Bàng Quyên nói: “Tôn huynh, mời dùng trà!”

“Hiền đệ, mời!”

Hai người cùng nâng chén trà, mỗi người nhấp một ngụm, sau đó đặt xuống.

Tôn Tẫn vòng tay nói: “Trước lúc lên đường, đại sư huynh, sư tỷ, Tô huynh và cả Trương huynh, tất cả đều nhờ Tẫn hỏi thăm sư đệ!”

“Quyên xin đa tạ. Tiên sinh có khoẻ không?”

“Tiên sinh khoẻ, vẫn như khi hiền đệ còn trong cốc.”

“Tôn huynh xuống núi, tiên sinh không nói gì ư?”

“Tiên sinh đã sửa một chữ trong tên của huynh!”

Bàng Quyên hơi ngạc nhiên: “Ồ, sửa chữ gì?”

“Sửa chữ ‘Tân’ thành ‘Tẫn’.”

“Ồ…” Bàng Quyên nhìn Tôn Tẫn. “Chữ ‘Tẫn’ thực không may mắn, Tôn huynh có biết tại sao tiên sinh lại sửa như vậy không?”

Tôn Tẫn lắc đầu: “Huynh không biết. Lời của tiên sinh, huynh không dám trái.”

“Ha ha ha!” Bàng Quyên cười nói. “Tiên sinh đã sửa tên, chắc hẳn phải có nguyên do. Không giấu Tôn huynh, học vấn của tiên sinh cao thâm khó lường, Quyên thực lòng khâm phục. Tiên sinh cũng từng tặng Quyên mấy chữ, đó là ‘gặp dê thì vinh’. Về sau quả nhiên trùng hợp, đúng là có liên quan đến dê thực…”

Bàng Quyên chỉ nhắc đến bốn chữ đầu, cố ý giấu giếm bốn chữ “gặp ngựa thì tuyệt” đi, Tôn Tẫn hiển nhiên không thể biết được, liền cười mấy tiếng, thán phục nói: “Tiên sinh đúng là chân nhân, lời lời nói ra đều là vàng ngọc.”

Bàng Quyên phụ hoạ thêm một câu, rồi ngẩng đầu nhìn Tôn Tẫn: “Nói đến đây, Quyên có một chuyện, xin được thỉnh giáo Tôn huynh.”

“Hiền đệ cứ hỏi, Tẫn biết sẽ nói!”

“Nghe nói Tôn huynh đã nhận được mật truyền của tiên sinh, có việc này chăng?”

Tôn Tẫn do dự một lát, rồi gật đầu.

Bàng Quyên mặt hơi biến sắc, vội hỏi: “Xin Tôn huynh hãy nói rõ! ”

“Sau khi hiền đệ xuống núi, tiên sinh đã phái ba chúng ta canh chuột, Tẫn đánh chết một con chuột, được truyền một cuốn sách.”

“Ồ?” Bàng Quyên hai mắt mở to. “Dám hỏi Tôn huynh, đó là sách quý gì?”

“Là cuốn ‘Binh pháp Tôn Vũ’ của tiên tổ Tôn Vũ Tử.”

Bàng Quyên hít sâu một hơi dài, sau đó từ từ thở ra, trầm ngâm hồi lâu mới nói: “Chà chà, bảo bối của tiên sinh, quả nhiên lớp lớp khôn cùng! Xin hỏi Tôn huynh, có bao giờ tiên sinh nói với huynh về ‘Binh pháp Ngô Khởi’ không?”

Tôn Tẫn lắc đầu.

Bàng Quyên dường như đã hiểu ra, lại thở dài một tiếng: “Than ôi, tiểu đệ xuống núi quá sớm, đã vuột mất cơ hội thấy được sách quý!”

Tôn Tẫn an ủi: “Hiền đệ đừng lo, đợi khi nhàn rỗi, Tẫn nhất định sẽ giảng lại tất cả những gì mình biết cho hiền đệ nghe.”

Nghe thấy lời này, Bàng Quyên quỳ xuống đất, lạy liền ba lạy: “Tôn huynh nếu có ý này, thật là đức tái sinh với Bàng Quyên, Bàng Quyên suốt đời không quên!”

Tôn Tẫn cũng quỳ xuống: “Hai chúng ta đã kết nghĩa kim lan, giống như anh em một nhà, sao hiền đệ lại nói vậy?”

“Được được được, Quyên sẽ không nói vậy nữa. Hôm nay đi đường vất vả, Tôn huynh hãy đi nghỉ sớm. Người đâu!”

Bàng Thông đi vào: “Chúa công có gì sai bảo?”

“Phòng của Tôn huynh đã sắp xếp xong chưa?”

“Bẩm chúa công, đã sắp xếp xong rồi.”

Bàng Quyên đứng dậy, quay sang Tôn Tẫn: “Tôn huynh, mời!”

Trong phủ tướng quốc, Huệ Thi ngồi khoanh chân trên bãi cỏ bên hồ, đang gật gù buồn ngủ, thì thái tử Thân nhẹ nhàng theo con đường nhỏ đi đến, cũng ngồi khoanh chân xuống bên cạnh. Huệ Thi khẽ mở mắt, thấy là thái tử, liền đứng dậy bái lạy: “Vi thần khấu kiến điện hạ!”

Thái tử Thân đỡ Huệ Thi dậy: “Tiên sinh miễn lễ, Ngụy Thân đã quấy rầy!”

Huệ Thi lại ngồi xuống: “Điện hạ trở về từ lúc nào vậy?”

“Vừa mới trở về!”

“Dám hỏi điện hạ, chuyến đi tới núi Vân Mộng, cảm giác thế nào?”

“Quỷ Cốc quả nhiên là nơi địa linh nhân kiệt, ngay cả một tiểu đồng cũng chẳng phải tầm thường.”

“Ồ?” Huệ Thi kinh ngạc. “Nói như vậy, điện hạ đã gặp được Quỷ Cốc Tử rồi ư?”

Thái tử Thân lắc đầu: “Quỷ Cốc tiên sinh đang bế quan tu luyện, Ngụy Thân không có cơ duyên bái kiến.”

“Vậy thì đúng rồi!” Huệ Thi khẽ mỉm cười, chậm rãi nói. “Đừng nói là thái tử, cho dù là bệ hạ đích thân tìm đến, người này cũng tuyệt đối không chịu gặp. Tôn Tẫn có xuống núi không?”

“Có, Ngụy Thân đã đưa được Tôn Tử về!”

“Người này thế nào?”

“Không giống với Vũ An Quân, người này khiêm nhường cung kính, không nói chuyện binh, mới nhìn qua không giống người luyện binh pháp.”

“Ừm!” Huệ Thi khép hờ hai mắt, gật đầu nói. “Nếu thực như vậy, hẳn là một nhân vật lớn. Hiện Tôn Tẫn đang ở đâu?”

“Vốn định nghỉ ngơi ở trong phủ của Ngụy Thân, nhưng Vũ An Quân biết tin, đã đến mời đi rồi!”

Huệ Thi nhắm chặt mắt lại, một hồi lâu, lại hé mắt ra, nói: “Vũ An Quân kia bắt đầu khiến người ta phải đau đầu rồi đây!”

Thái tử Thân ngạc nhiên hỏi: “Sao tiên sinh lại nói vậy?”

“Người này muốn biến nước Ngụy thành doanh trại.”

Thái tử Thân vội nói: “Như vậy sao có thể được? Lần này đến núi Vân Mộng, trên đường đi, Ngụy Thân đã tận mắt nhìn thấy, đồng ruộng hoang phế, bách tính bỏ quê ly tán, làm sao có thể tiếp tục chinh chiến được?”

“Than ôi!” Huệ Thi trầm ngâm hồi lâu, thở dài một tiếng. “Nước Ngụy lại có chuyện rồi!”

Ngụy Huệ Vương đang dùng bữa ở ngự thiện phòng, tỳ nhân nhẹ nhàng đi vào, phấn khởi bẩm tấu: “Bệ hạ, điện hạ đã trở về!”

“Ồ, Thân Nhi về rồi ư?” Ngụy Huệ Vương bình thản đáp một câu, sau đó đưa tay cầm đũa, gắp một miếng thịt béo cho vào miệng nhai, dường như đây là một chuyện rất đỗi bình thường, không đáng nhắc tới.

Tỳ nhân thoáng sững sờ, rồi lặng lẽ đứng sang một bên, nụ cười trên khuôn mặt cũng trở nên cứng nhắc.

Ngụy Huệ Vương lại nhai thêm vài cái nữa, dường như sực nhớ ra điều gì, đột nhiên quay phắt lại, định lên tiếng nhưng trong miệng đầy thịt, muốn nuốt xuống nhưng vẫn chưa nhai kỹ, cũng chẳng kịp đợi thêm, vội ú ớ mấy tiếng, rồi “phụt” một cái phun thẳng ra, cả một miệng thức ăn bắn đầy lên mặt, lên người tỳ nhân. Tỳ nhân sợ hãi, lau không dám lau, né chẳng dám né, chỉ đứng ngây thôn tại chỗ, ánh mắt đờ đẫn nhìn Huệ Vương.

Ngụy Huệ Vương trong miệng đã trống, bèn hấp tấp hỏi dồn: “Lúc nãy ngươi nói gì? Thân Nhi đã trở về rồi ư?”

Tỳ nhân nhất thời bàng hoàng nói không thành tiếng, đành phải vội vã gật đầu.

Ngụy Huệ Vương hai mắt trợn trừng: “Tôn Tử có về cùng không?”

Tỳ nhân lại gật đầu.

Ngụy Huệ Vương vội vàng đứng dậy, nhanh chóng đi ra khỏi ngự thiện phòng, lớn tiếng ra lệnh: “Mau lên! Mau lên! Truyền Tôn Tử đến thư phòng yết kiến!” Rồi không kịp đợi tỳ nhân đáp lời, lại đột ngột dừng bước, quay đầu lại hỏi. “Hiện Tôn Tử đang ở đâu?”

Tỳ nhân cũng đã kịp định thần, vội bước lên, nói khẽ: “Khởi bẩm bệ hạ, Tôn Tử đã đến phủ Vũ An Quân rồi!”

“Chuẩn bị xe!” Ngụy Huệ Vương nói gấp. “Quả nhân sẽ đích thân đi đón!”

Tỳ nhân thoáng do dự: “Bệ hạ, giờ đã muộn rồi, nếu bệ hạ làm kinh động đến đông người, e rằng không tiện. Hơn nữa, Tôn Tử đã đến Đại Lương, bệ hạ muốn gặp cũng không cần phải vội, lão nô…” Thấy Ngụy Huệ Vương xua tay, lập tức im bặt.

Dường như Ngụy Huệ Vương cũng đã bình tĩnh trở lại, chậm rãi đi đi lại lại một hồi, rồi gật đầu nói: “Ừm, ngươi nói đúng. Hiền tế và Tôn Tử cũng đã một năm không gặp, hãy để họ có thời gian tâm sự. Ngươi đi sắp xếp, sáng sớm ngày mai truyền hai người họ lên điện yết kiến! Triệu Thân Nhi đến!”

“Điện hạ đang ở ngoài thư phòng đợi lệnh!”

Ngụy Huệ Vương nghe báo, lập tức quay đầu, rảo bước đến ngự thư phòng.

Sáng sớm hôm sau, Bàng Quyên dẫn theo Tôn Tẫn vào Ngụy cung.

Từ phía xa nhìn thấy cửa cung, Bàng Quyên cười nói: “Tôn huynh hãy nhìn xem, bệ hạ, điện hạ đều đang ở đó đợi huynh!”

Tôn Tẫn ngẩng đầu, quả nhiên thấy Ngụy Huệ Vương, thái tử Thân, tỳ nhân và một đám cung nhân chừng hơn ba mươi người đứng trên bậc thềm ngoài cửa cung, ai cũng vươn cổ trông ngóng. Nhìn thấy xe ngựa của họ, Ngụy Huệ Vương liền bước xuống thềm nghênh đón.

Tôn Tẫn vội nói với Bàng Quyên: “Hiền đệ, mau, dừng xe!”

Bàng Quyên bảo Bàng Thông dừng xe, cùng Tôn Tẫn xuống xe, đi song song tiến về phía Huệ Vương. Hai bên gặp nhau tại chỗ cách cửa cung chừng năm mươi bước, Tôn Tẫn, Bàng Quyên cùng quỳ xuống, mỗi người lạy ba lạy.

Bàng Quyên tiếp tục lạy, khấu đầu nói: “Vi thần khấu kiến bệ hạ!”

Ngụy Huệ Vương chỉ gật đầu với Bàng Quyên, nói vội: “Ái khanh miễn lễ!”

Tôn Tẫn cũng tiếp tục khấu lạy: “Thảo dân Tôn Tẫn khấu kiến bệ hạ!”

Ngụy Huệ Vương không trả lời, mặt lộ nét cười, hai mắt nheo lại, quan sát Tôn Tẫn khắp trên dưới trái phải, cứ như một vị khách lạ đến từ xứ khác. Tôn Tẫn thấy Huệ Vương không đáp lời, đành phải tiếp tục quỳ mọp sát đất, không dám động cựa.

Một lát sau, Ngụy Huệ Vương mới sực nhớ ra, vội bước lên mấy bước, đưa hai tay đỡ Tôn Tẫn dậy: “Tôn Tử bình thân!”

Ngụy Huệ Vương đỡ Tôn Tẫn đứng lên, kéo lại gần, lại tiếp tục ngắm nghía, rồi gật gù khen ngợi: “Tôn Tử phong thái xuất chúng, vừa có phong độ nho nhã, lại có khí thế hiên ngang, quả là hậu duệ của danh gia!”

Tôn Tẫn vòng tay vái: “Bệ hạ quá khen, thảo dân hổ thẹn không dám nhận.”

Hai người trò chuyện, vô tình quên bẵng mất Bàng Quyên đang quỳ bên cạnh. Bàng Quyên quỳ thêm một lúc, thấy Huệ Vương vẫn không nhìn đến mình, đành phải lầm lũi đứng dậy, cúi đầu sượng sùng đứng dẹp sang bên. Nghe thấy Huệ Vương khen ngợi, Bàng Quyên đưa mắt nhìn trộm, quả nhiên thấy quanh người Tôn Tẫn bừng bừng luồng khí hạo nhiên, khác hẳn so với khi còn trong cốc, trong lòng thoáng chút rúng động, liền bước lên bẩm tấu: “Bệ hạ, nơi này gió lạnh, chớ để tổn thương long thể!”

Ngụy Huệ Vương đưa mắt nhìn Bàng Quyên, cười vang mà nói: “Ái khanh nói đúng, chỗ này không phải nơi tiếp đón hiền tài!” Rồi quay sang Tôn Tẫn, vòng tay vái mà nói. “Tôn Tử, mời vào trong cung nói chuyện!”

Tôn Tẫn cũng vòng tay đáp lễ: “Bệ hạ, xin mời!”

Ngụy Huệ Vương lập tức bước tới cầm tay Tôn Tẫn dẫn vào trong cung. Bàng Quyên thấy vậy, chỉ biết gượng cười, cùng thái tử Thân đi theo phía sau.

Sau khi vào điện, mọi người chia ngôi quân thần ngồi xuống, Ngụy Huệ Vương quay sang Tôn Tẫn, vòng tay nói: “Quả nhân mong Tôn Tử đến, giống như kẻ khát mong nước vậy!”

Tôn Tẫn vòng tay đáp lễ: “Thảo dân mới đến, chưa lập được chút công lao, lại được bệ hạ coi trọng như vậy, quả thực hổ thẹn!”

Ngụy Huệ Vương tiếp tục vòng tay: “Tôn Tử là đại hiền trong thiên hạ, đúng ra quả nhân phải đích thân đến núi Vân Mộng nghênh đón, nhưng do việc nước bận rộn, nhất thời không thể đi được, nên mới lệnh cho Thân Nhi đi thay, đã thất lễ rồi! Nay được Tôn Tử xem trọng, hạ mình tới Ngụy, quả nhân lại không kịp ra xa ba mươi dặm nghênh đón, đây cũng lại là thất lễ!”

Tôn Tẫn cảm động, đứng dậy khấu lạy, giọng hơi nghẹn ngào: “Bệ hạ…”

Ngụy Huệ Vương lại đứng lên đỡ Tôn Tẫn dậy, dắt về chỗ ngồi, sau đó mới quay về chỗ, đưa ánh mắt đầy thân ái nhìn Bàng Quyên, rồi lại nhìn Tôn Tẫn, xúc động nói: “Không giấu Tôn Tử, từ khi quả nhân có được Bàng ái khanh, quốc uy đại chấn. Nghe nói Tôn Tử và Bàng ái khanh cùng học một thầy, có thành tựu lớn, quả nhân trong lòng tưởng nhớ, ăn không ngon ngủ không yên. ‘Thi’ có câu: ‘Áo chàng xanh xanh, lòng ta bối hồi’(1), đây cũng chính là lòng quả nhân! Nay có được Tôn Tử, quả nhân coi như đã có thể ăn ngon ngủ yên được rồi!”

Tôn Tẫn vòng tay nói: “Ơn tri ngộ của bệ hạ, thảo dân nguyện kết cỏ ngậm vành báo đáp!”

“Tôn ái khanh!” Ngụy Huệ Vương vòng tay đáp lễ, rồi đi thẳng vào chuyện chính. “Nước Ngụy nằm ở Trung Nguyên, có năm nước mạnh là Tề, Sở, Tần, Triệu, Hàn bao quanh, bốn mặt đều là cường địch. Quả nhân từ khi kế vị đến nay, lo đông dè tây, không ngày nào yên ổn. Mấy năm trước, người Tần từ tây đánh đến, đoạt mất mấy trăm dặm Hà Tây của ta, chiếm mất trọng ải Hàm Cốc, uy hiếp Hào Quan và Hà Đông. Không lâu trước đây, người Tề từ đông đánh lại, mũi quân uy hiếp Đại Lương. May mà có Bàng ái khanh trụ vững giữa dòng, xoay làn sóng dữ, mới giúp quả nhân hoá nguy thành an. Sau cơn nguy biến, quả nhân quyết định khôi phục lại đội thiết kỵ của tiên vương, tái lập võ binh Đại Ngụy, chấn hưng Đại Ngụy hùng uy. Đây là việc lớn, chỉ với sức lực của một mình Bàng ái khanh, khó lòng thực hiện. Lần này ái khanh đến thật đúng lúc!”

Nghe mấy lời này, Bàng Quyên biết được Huệ Vương về ý tứ đã tán thành bản tấu mở mang quân đội của mình, trong lòng mừng rỡ, nhưng không hề biểu lộ trên nét mặt, chỉ chậm rãi đưa mắt nhìn sang Tôn Tẫn, hy vọng Tôn Tẫn nói giúp mấy câu, tác thành cho việc này.

Tôn Tẫn từ tốn đáp: “Tráng chí của bệ hạ, thảo dân vô cùng ngưỡng mộ. Thảo dân có một câu, không biết có nên nói hay không?”

“Ái khanh cứ nói, đừng ngại!”

“Tiên thánh Lão Đam có nói, ‘binh là thứ không may mắn, bất đắc dĩ mới phải dùng’. Lão Đam lại nói, ‘dùng đại đạo để phò tá quân chủ, không dùng binh lực để hùng cường với thiên hạ… sau khi dấy binh, ắt gặp đói kém’. Bởi vậy thảo dân…”

Tôn Tẫn liên tiếp trích lời của Lão Đam, Bàng Quyên đã biết lời không đúng lúc, liên tục nháy mắt, lại đưa tay ra hiệu, không cho Tôn Tẫn nói tiếp. Tôn Tẫn nhìn thấy, đành phải dừng lời.

Ngụy Huệ Vương hơi ngả người về phía trước, hai mắt nhìn thẳng vào Tôn Tẫn: “Tôn tử, xin hãy nói tiếp!”

Tôn Tẫn nhìn Bàng Quyên, do dự một lát, rồi tiếp tục nói: “Thảo dân cho rằng, lời của tiên thánh, không thể không nghe. Từ xưa đến nay, thánh nhân trị thế, chẳng ai nhờ vào binh mạnh ngựa khoẻ cả!”

“Ồ…” Ngụy Huệ Vương có vẻ không vui, ngồi thẳng người lại. “Xin hỏi Tôn Tử, nếu binh không mạnh, ngựa không khoẻ, chẳng may có người đến đánh, bảo quả nhân phải đối phó thế nào?”

Tôn Tẫn ôm quyền đáp: “Khởi bẩm bệ hạ, trị nước tất phải có binh, nhưng binh phải lấy chấm dứt chiến tranh làm tông chỉ, không được hung hăng hiếu chiến. Tiên tổ Tôn Vũ Tử của thảo dân từng nói, trăm trận trăm thắng, không phải là người tài giỏi nhất trong số những người tài giỏi. Không chiến mà thắng được người, mới là người tài giỏi nhất trong số những người tài giỏi. Nên dùng binh giỏi nhất là dùng mưu, sau đó là dùng ngoại giao, sau đó mới đến đánh trận, sau đó là đánh thành.”

Ngụy Huệ Vương sắc mặt sầm xuống, chau mày trầm tư hồi lâu, khẽ gật gù: “Nghe Tôn Tử nói, quả nhân như được khai sáng. Còn về việc dùng binh trị quân, quả nhân sẽ chọn ngày khác bàn bạc. Tôn Tử nghe chỉ!”

Tôn Tẫn liền đứng dậy, khấu đầu sát đất: “Thảo dân nghe chỉ!”

“Phong sĩ tử Quỷ Cốc Tôn Tẫn làm khách khanh, tặng cho một phủ khách khanh, ba mươi nô bộc, ba trăm lượng vàng, ba mươi súc gấm vóc. Sau khi lập được công trạng, sẽ phong thưởng thêm!”

Tôn Tẫn lại khấu lạy: “Vi thần đa tạ bệ hạ phong thưởng! Vi thần cáo lui!”

“Ái khanh đi cẩn thận!”

Trên đường trở về, Bàng Quyên gục đầu ủ rũ, không nói một lời. Khi gần tới cửa phủ Vũ An Quân, cuối cùng Bàng Quyên cũng lắc đầu, thở dài một tiếng: “Than ôi!”

Tôn Tẫn ngẩng lên hỏi: “Hiền đệ, những lời vừa rồi của Tẫn có chỗ nào không thoả đáng ư?”

“Than ôi!” Bàng Quyên lại thở dài một tiếng. “Cớ sao Tôn huynh lại nói chuyện không chiến trước mặt bệ hạ?”

Tôn Tẫn hơi sững lại: “Hiền đệ, Tân trong lòng nghĩ gì, miệng sẽ…”

“Tôn huynh!” Chưa đợi Tôn Tẫn nói dứt câu, Bàng Quyên đã xua tay ngăn lại. “Thân là tướng soái, nếu không chinh phạt, thì bệ hạ nuôi để làm gì?”

Tôn Tẫn hết sức kinh ngạc: “Hiền đệ…”

“Được rồi, được rồi!” Bàng Quyên lại xua tay ngắt lời. “Tiểu đệ khẩn cầu Tôn huynh, từ nay về sau đừng nói những lời như vậy nữa. Nếu không, trong triều sẽ có người bảo sĩ tử Quỷ Cốc chúng ta là những kẻ ham sống sợ chết, làm mất mặt tiên sinh.”

Tôn Tẫn không nói thêm gì nữa, hai mắt nhìn Bàng Quyên đầy băn khoăn.

Bàng Quyên cười lớn một tiếng, vỗ vào vai Tôn Tẫn, nét mặt đổi sang vui vẻ, nói lớn: “Được rồi, Tôn huynh, đừng nói đến những chuyện không vui này nữa. Ngày mai nếu không có việc gì quan trọng, hãy cùng Quyên đi một vòng quanh đại doanh!”

Tôn Tẫn gật đầu: “Xin nghe theo sắp xếp của hiền đệ!”

Sáng sớm hôm sau, Bàng Quyên theo lời hẹn, mời Tôn Tẫn đến đại doanh trung quân ở phía nam thành, đồng thời phái người mời tư đồ Bạch Hổ đi cùng, cũng giống như lần trước Huệ Vương thị sát, cho họ chứng kiến uy lực của đội quân hổ bôn.

Xem xong các màn phô diễn đặc sắc của các lực sĩ, Bàng Quyên vô cùng đắc ý nhìn Tôn Tẫn và Bạch Hổ: “Không biết hai vị thấy những tướng sĩ này thế nào?”

Bạch Hổ thán phục nói: “Nhìn Bàng tướng quân trị binh, thực không chê vào đâu được! Có những dũng sĩ như thế này tiên phong xung trận, còn phải lo lắng gì nữa?”

Bàng Quyên cười nói: “Ba ngàn quân hổ bôn mỗi người đều có tuyệt kỹ riêng, uy chấn ba quân, đều có thể chặt cờ giết soái!

Tôn Tẫn khen ngợi: “Ý này của hiền đệ rất hay! Đánh rắn phải đánh giập đầu, bắt giặc phải bắt được vua. Những dũng sĩ này nếu có thể giết được tướng soái của địch, thì có thể miễn được rất nhiều binh đao!”

Bàng Quyên phá lên cười sảng khoái. “Tôn huynh quá khen, hay cho câu ‘bắt giặc phải bắt được vua’. Tiểu đệ nuôi họ, chính là để họ bắt vua!” Dừng lại một lát, rồi chỉ tay vào đại trướng phía trước mặt. “Tôn huynh, Bạch huynh đệ, phía trước chính là đại trướng trung quân, mời!”

Mọi người đi vào đại trướng trung quân, công tử Ngang bước ra, dẫn họ đi sang bên cạnh, đưa tay kéo tấm nhiễu xuống, để lộ một sa bàn.

Nhìn thấy một sa bàn đồ sộ đến vậy, đừng nói là Bạch Hổ, ngay cả Tôn Tẫn cũng rất đỗi kinh ngạc.

Bàng Quyên cười nói: “Tôn huynh, sa bàn này là do tiểu đệ tự tay thiết kế, chuyên dùng cho các tướng tập luyện!”

Tôn Tẫn cảm thán: “Hiền đệ lao tâm khổ tứ đến nhường này, sư huynh kính phục!”

“Than ôi!” Công tử Ngang thở dài một tiếng, nửa như lấy lòng Bàng Quyên, nửa như hối hận. “Nhớ năm xưa trong trận chiến Hà Tây, nếu Ngụy Ngang có được sa bàn này, Công Tôn Ưởng sao có thể đánh thắng?”

Bàng Quyên giờ đây đã khác hoàn toàn so với một tháng về trước, không những thân làm chủ tướng, địa vị trong quân doanh còn cao hơn công tử Ngang hai cái đầu, mà hiện giờ chức vị cũng vượt xa hắn, vì vậy lời nói cử chỉ không cần cung kính như trước nữa. Nghe thấy lời này, không những không cảm kích, ngược lại còn khẽ hừ mũi một tiếng, nhếch mép cười: “Trận chiến Hà Tây thất bại là do bản tướng, sao có thể trách được An Quốc Quân?”

Bạch Hổ ngạc nhiên, mở to hai mắt nhìn Bàng Quyên: “Trận chiến Hà Tây đâu có liên quan gì đến Bàng tướng quân, Bàng tướng quân sao lại nói vậy?”

“Sao chuyện này lại không liên quan đến bản tướng?” Bàng Quyên cười nhạt. “Nếu năm năm trước, bản tướng đã bày ra sa bàn này, Công Tôn Ưởng làm sao có thể thắng?”

Công tử Ngang mặt đỏ rần, nhất thời không biết nói gì.

Bàng Quyên dường như cũng cảm thấy mình hơi quá lời, liền thu bớt ngạo khí, lấy lại vẻ nghiêm túc, nói với Bạch Hổ: “Tư đồ đại nhân hãy yên tâm, mối thù Hà Tây nhất định phải báo!” Rồi quay sang công tử Ngang. “Đợi bản tướng chinh phạt xong nước Tần, bắt sống Doanh Tứ, sẽ để cho An Quốc Quân tuỳ nghi xử trí! Thù cha thì con phải trả, mặc dù lão Tần Công đã chết, nhưng chỉ cần bắt được tiểu Tần Công, An Quốc Quân vẫn có thể giải hận!”

Công tử Ngang nghe vậy, liền cười gượng gạo, nói khẽ: “Nếu như đại tướng quân phạt Tần, Ngụy Ngang nguyện làm tiên phong!”

“Không phải nếu như!” Bàng Quyên cau mặt, gằn giọng. “Trong lòng bản tướng, phạt Tần chỉ là chuyện sớm muộn!” Tiện tay cầm lấy cây thước tre, chỉ vào sa bàn. “Các vị hãy xem, từ đây đến đây, đều là đất Tần. Tần, Ngụy vốn là kẻ địch không đội trời chung, nay lại cộng thêm mối nhục Hà Tây, trận chiến này không thể không đánh! Tuy nhiên, Tần đã đoạt mất Hà Tây, chiếm Hàm Cốc, Âm Tấn, giữ hết các chỗ hiểm yếu, phạt Tần sẽ rất gian khổ!” Rồi đưa mắt nhìn Tôn Tẫn. “Vì vậy, Quyên muốn có ba năm chuẩn bị cho chiến sự, chiêu mộ hai mươi vạn đại quân, để quyết chiến với người Tần. Về phía người Tần, Tư Mã Thác mặc dù thiện chiến, nhưng chỉ là kẻ thất phu, chỉ có Công Tôn Diễn xứng là đối thủ. Có Tôn huynh ở đây, hai chúng ta liên thủ, thiết nghĩ Công Tôn Diễn…” Nói đến đây liền dừng lại, cười nhạt một tiếng, đưa cây thước chỉ vào Hà Tây. “Ta có thể chia quân làm hai lộ, một lộ thu hồi đất này, bắt sống Công Tôn Diễn; một lộ tiến thẳng đến Hàm Dương, khiến bọn họ đầu đuôi không thể tiếp ứng lẫn nhau. Sau khi bắt được Doanh Tứ, ta sẽ đuổi toàn bộ người Tần ra khỏi Quan Trung, cho chúng dắt díu nhau đến vùng thảo nguyên hoang dã của bọn Tây Nhung, giúp bệ hạ chăn cừu!”

Bàng Quyên nói ra một tràng toàn những lời lớn lao, mọi người đưa mắt nhìn nhau, công tử Ngang há hốc miệng không nói được câu nào, chỉ chằm chằm nhìn vào đầu thước trên sa bàn.

“Sau khi phá Tần,” Bàng Quyên đột ngột trỏ thước sang nước Hàn, “đại quân trở về, tiện tay chiếm luôn nước Hàn. Hàn Hầu là một tên cáo già, lại có Thân Bất Hại ở bên, thực lực không thể coi thường. Lần này bốn nước đánh Ngụy, chỉ có người Hàn giả vờ công chiến, có thể thấy họ tính toán vô cùng thâm sâu. May mà Thân Bất Hại đã già, Hàn lại không có địa hình hiểm yếu để trấn thủ, lấy Hàn không phải việc đáng ngại.” Rồi đưa mắt nhìn Tôn Tẫn. “Còn về việc chiếm Hàn bằng cách nào, Quyên cũng đã nghĩ xong, trước tiên cần cắt đứt con đường Vũ Toại, chính là chỗ này, khiến nước Hàn nam bắc chia đôi, rồi chia binh ra đoạt lấy Thượng Đảng, Nghi Dương, sau đó bắt sống Hàn Hầu ở đây, chính là Tân Trịnh. Chỉ cần người này sớm tối chịu nghe bệ hạ sai khiến, Quyên cũng sẽ không làm khó ông ta!”

“Sau khi lấy Hàn,” Bàng Quyên lại di chuyển đầu thước tới Hàm Đan, “ta có thể chỉnh đốn đội ngũ, tiếp tục chiếm Triệu. Quyền thần nước Triệu là Phụng Dương Quân hữu dũng vô mưu, lại thâu tóm đại quyền triều chính, lấy Triệu cũng giống như lấy vật trong túi.” Di chuyển đầu thước tới Lâm Truy. “Tề Công chưa tìm được người tài, vẫn phải dùng Điền Kỵ, chỉ e lần này hắn có muốn làm đàn bà cũng chẳng dễ dàng!”

Nói đến đây, có lẽ là nhớ lại cảnh tượng Điền Kỵ phải mặc quần áo đàn bà, Bàng Quyên phá lên cười sằng sặc một tràng dài, cười xong, lại di chuyển đầu thước, nói lớn: “Kẻ địch lớn của Quyên nằm ở đây, nước Sở! Tôn huynh hãy xem…” Rồi vòng đầu thước quanh một vòng tròn lớn nhất trên sa bàn. “Từ đây đến đây, nước Sở quá ư rộng lớn, cho dù chúng ta có ba mươi vạn đại quân cũng vẫn chưa đủ. Tuy nhiên, nước Sở mặc dù rộng lớn, nhưng người Sở lại vô dụng, thế phiệt đông đảo, bất hoà xung đột lẫn nhau, ta có thể công phá từng chỗ một. Nếu không ngoài dự tính, trong vòng năm năm, ta có thể đuổi người Sở qua sông Giang Thuỷ. Phía nam Giang Thuỷ có nhiều gò đồi núi non, mặc dù không giàu, nhưng cũng không thiếu châu báu lâm sản, nếu Sở Vương có thành ý, Quyên sẽ tấu xin bệ hạ, cho ông ta làm một đại vương ở Giang Nam, bắt ông ta hàng năm cống nạp, làm vui lòng bệ hạ. Một khi các nước đều đã thần phục, Yên, Vệ, Tống và các nước lưu vực sông Tứ sẽ đều sẽ nghe tiếng mà hàng, không cần phải động đến binh đao!” Dừng lại một chút, liếc nhìn mọi người, tỏ ra đắc chí. “Nhớ lại thời Ngô Khởi, khi ở nước Ngụy đã đánh bảy mươi sáu trận lớn nhỏ, không bại trận nào, mở mang hàng ngàn dặm đất. Quyên dù bất tài, nhưng cũng nguyện giúp bệ hạ mở rộng một vạn dặm đất, khiến cho chư hầu liệt quốc đều lũ lượt quy về Đại Lương, quay mặt về bắc mà phụng sự bệ hạ…”

Bàng Quyên càng nói càng hào khí ngất trời, mọi người nghe mà há miệng tròn mắt. Tôn Tẫn chau tít đôi mày.

Công tử Ngang vô cùng kích động, ngưỡng mộ thốt lên: “Nếu phụ vương biết được tráng chí của đại tướng quân, không biết trong mơ phải bật cười tỉnh dậy đến mấy lần!”

Bàng Quyên chẳng thèm để tâm đến công tử Ngang, chỉ đưa mắt nhìn Tôn Tẫn. Sở dĩ mời Tôn Tẫn đến đây, sở dĩ thao thao bất tuyệt về chí lớn của mình, Bàng Quyên chỉ có một mục đích, đó là để Tôn Tẫn hiểu được chí hướng của mình. Chí không hợp, tất khó cộng sự. Đã mời Tôn Tẫn đến đây, có nghĩa là Bàng Quyên không còn con đường nào khác, buộc lòng phải cộng sự với Tôn Tẫn. Hơn nữa, trước mắt quả thực cũng rất cần đến đồng minh này. Đối với Bàng Quyên, nhiệm vụ cấp bách trước mắt là thuyết phục Ngụy Huệ Vương chấn hưng võ binh, phát triển quân đội, nhưng trong thời khắc then chốt đó, Chu Uy lại thình lình nhảy vào cản mũi. Một khi Chu Uy đã lên tiếng, thì Huệ Thi, thái tử Thân chắc chắn cũng sẽ nói giúp ông ta. Trong khi với bệ hạ, công tử Ngang vốn không hề có tiếng nói. Hiện giờ, người thực sự có thể giúp được Bàng Quyên, e rằng chỉ có một mình Tôn Tẫn.

Tôn Tẫn liếc nhìn Bàng Quyên, ánh mắt rời khỏi sa bàn, khoé miệng khẽ động, nhưng lại nhanh chóng khép chặt. Đúng vậy, Bàng Quyên đang đứng trước mặt Tôn Tẫn đây, mới chỉ cách có một năm, nhưng đã thành ra hoàn toàn xa lạ.

“Tôn huynh!” Dường như Bàng Quyên đã nhận ra Tôn Tẫn có vẻ không vui, liền nói. “Đây là chí nguyện của Bàng Quyên, có thể thực hiện được hay không, còn phải trông chờ vào sự giúp sức của Tôn huynh. Chỉ cần Tôn huynh chịu giúp, Quyên đệ tin rằng, thiên hạ không ai địch nổi!”

Tôn Tẫn khẽ cười, rồi quay sang hỏi: “Hiền đệ, trong doanh trại có chỗ nào tiện nói chuyện không?”

Bàng Quyên ngẩn ra một thoáng, rồi cười lớn mà nói: “Có chứ! Có chứ! Đệ còn tưởng Tôn huynh liên tục chau mày là vì chuyện gì, không ngờ là vì sốt ruột, ha ha ha ha! Đi, Quyên sẽ dẫn huynh đi!”

Sắp xếp xong cho Tôn Tẫn, Ngụy Huệ Vương quay trở lại ngự thư phòng, bắt đầu lật mở bản tấu chương của Bàng Quyên. Tấu chương được đóng từ những thẻ tre cực mỏng, chữ nhỏ nhưng vuông vắn, vì vậy mặc dù nhìn bề ngoài, bản tấu trông không dài, nhưng nội dung lại rất cặn kẽ, chính là những kế sách về quân lực, chiến lực của nước Ngụy trong tương lai, từ chiến lược đến chiến thuật, từ chiêu mộ binh lính mở rộng quân đội đến chỉnh đốn quân lực, từ việc đoạt lại Hà Tây đến tiêu diệt nước Tần, từ tiện tay chiếm Hàn đến thống nhất Tam Tấn, từ phạt Tề chiếm Sở cho đến thống nhất thiên hạ, khiến Ngụy Huệ Vương đọc mà nhiệt huyết sục sôi, mấy lần vỗ bàn đứng dậy.

Từ giờ Mão buổi sáng đến giờ Thân buổi chiều, Ngụy Huệ Vương không ăn không uống, cũng chẳng hề chợp mắt, lúc nào cũng cầm bản tấu chương trên tay, đọc đi đọc lại, nhắm mắt suy nghĩ, liên tục cất nhắc xem phương án này có thể thực hiện được hay không.

Khi giờ Thân sắp qua, tỳ nhân đích thân mang tới một bát canh nóng, quỳ xuống bên cạnh Huệ Vương. Ngụy Huệ Vương cũng cảm thấy bụng đói cồn cào, liền nhận lấy uống. Uống được mấy hớp, Huệ Vương chỉ tay vào bản tấu chương của Bàng Quyên, hào hứng mà nói: “Lại đây, lại đây, ngươi cũng xem xem!”

Tỳ nhân nhận lấy tấu chương, đọc qua một lượt, đọc xong xuýt xoa khen ngợi: “Chữ của Vũ An Quân thật đẹp!”

“Ngươi…” Huệ Vương lừ mắt với tỳ nhân, trách móc, “chỉ biết nhìn những thứ bề ngoài! Ngươi hãy đọc lại đi, đọc cho kỹ lưỡng! Toàn bộ giấc mộng thuở nhỏ của quả nhân, đều đã được Bàng ái khanh viết ra cặn kẽ!”

Tỳ nhân đọc kỹ lại, rồi đặt bản tấu xuống, nhìn Huệ Vương nói: “Lão nô chỉ biết hầu hạ bệ hạ, những thứ chinh phạt chém giết, lão nô có xem cũng không hiểu!”

Ngụy Huệ Vương cười ha há mấy tiếng, húp một hơi hết sạch bát canh, đặt chiếc bát không lên bàn, đưa tay vờn nghịch mái tóc dài của tỳ nhân, cười nói: “Đương nhiên là người không hiểu được rồi. Nếu ngươi cũng hiểu, bên cạnh quả nhân sẽ chẳng có người hợp ý nữa!”

Tỳ nhân nhìn thấy một bản tấu chương khác trên mặt bàn, là bản tấu của Chu Uy, bèn tiện tay cầm lên, lật qua vài thẻ, nửa như vô tình nửa như hữu ý bình luận: “Bệ hạ, nếu so với Vũ An Quân, chữ viết của Chu thượng khanh còn kém một bậc.”

Ngụy Huệ Vương cười ha hả, cầm lấy bản tấu của Chu Uy, tiện tay giở ra, đọc được mấy dòng, lập tức ngưng cười, tập trung tinh thần, toàn thần chuyên chú mà đọc. Tỳ nhân thấy vậy, liền nhẹ nhàng dọn bát đi, đứng hầu ngoài cửa.

Ngụy Huệ Vương lại đọc một chặp, thấy trời đã sẩm tối, liền gọi lớn: “Người đâu!”

Tỳ nhân vội chạy vào, đáp khẽ: “Có lão nô!”

“Thắp đèn!” Ánh mắt của Ngụy Huệ Vương vẫn nhìn chăm chăm vào bản tấu, không hề liếc sang tỳ nhân.

Tỳ nhân cho người đốt lên sáu ngọn đèn dầu, khiến ngự thư phòng sáng trưng như ban ngày.

Ngụy Huệ Vương lại dời tấu chương của Bàng Quyên lại gần, đặt song song với bản tấu của Chu Uy trên mặt bàn, chốc lật bản tấu này, lát lại giở bản tấu kia, đứng dậy đi đi lại lại mấy vòng trong phòng, sau đó ngồi xuống, tiếp tục đọc, mặt mũi nhăn nhó, khổ tâm suy nghĩ.

Đêm đã về khuya, tỳ nhân bưng tới một bát canh nóng, đứng ở giữa cửa, do dự hồi lâu, rồi tiến lại gần nói: “Bệ hạ, bệ hạ hãy uống một chút canh!”

Ngụy Huệ Vương đưa mắt nhìn tỳ nhân, thở dài một tiếng, lắc đầu.

Tỳ nhân tay bưng bát canh, quỳ xuống bên cạnh Ngụy Huệ Vương: “Bệ hạ…”

Ngụy Huệ Vương đành phải nhận lấy, đặt lên môi khẽ nhấp một ngụm, rồi buông xuống thở dài một tiếng: “Than ôi, quả nhân không nuốt nổi!”

Tỳ nhân liếc nhìn hai bản tấu chương, hỏi khẽ: “Xin hỏi bệ hạ, phải chăng hai bản tấu chương này đã khiến bệ hạ phiền muộn?”

Ngụy Huệ Vương thở dài sườn sượt, gật đầu, chỉ tay vào tấu chương của Bàng Quyên: “Bàng ái khanh tấu xin tái lập võ binh, chiêu mộ mười vạn quân!” Rồi chỉ tay vào tấu chương của Chu Uy. “Chu ái khanh nói, dân chúng bỏ đi đã lên tới năm mươi vạn người, dân không còn gì để ăn!” Đưa tay cuộn hai bản tấu chương lại, gạt sang một bên, chậm chạp đứng dậy. “Việc hai người tấu lên đều là đại sự, đều không thể chậm trễ, nhưng lại đối lập nhau như nước với lửa, bảo quả nhân phải làm thế nào đây?”

Có lẽ vì ngồi quá lâu, nên khi Ngụy Huệ Vương đột ngột đứng lên, bất giác thấy lảo đảo, may mà tỳ nhân nhanh tay lẹ mắt, kịp thời đưa tay đỡ lấy. Ngụy Huệ Vương cười buồn bã, nói với tỳ nhân: “Già rồi! Quả nhân già mất rồi!”

Hai người bước ra khỏi ngự thư phòng, đi theo con đường nhỏ về phía hậu cung. Đi được mười mấy bước, Ngụy Huệ Vương đột nhiên đẩy tỳ nhân ra, nói: “Giờ Thìn ngày mai, truyền Huệ tướng quốc, Vũ An Quân, Chu thượng khanh, Tôn khách khanh, và cả Thân Nhi, đến tiền điện nghị sự!”

“Lão nô tuân chỉ!”

Giờ Thìn ngày hôm sau, Ngụy Huệ Vương ngồi ngay ngắn trên ngai vàng, Bàng Quyên, Huệ Thi, Chu Uy, Tôn Tẫn, thái tử Thân lần lượt ngồi ở hai bên.

Ngụy Huệ Vương chỉ tay vào hai bản tấu chương trên bàn, chậm rãi nói: “Hai bản tấu chương, quả nhân đã đọc xong rồi!” Đưa mắt nhìn Bàng Quyên, Chu Uy, dừng lại một chút, lại nói. “Hai vị ái khanh đều viết rất hay. Trong triều có hiền thần nhường này, đúng là ông trời đã thương đến quả nhân.”

Mọi người đưa mắt nhìn nhau, không ai lên tiếng.

Ngụy Huệ Vương đưa tay cầm lấy bản tấu chương của Bàng Quyên: “Đại Ngụy muốn chấn hưng, không thể không có võ bị. Những năm gần đây, các nước mạnh liên tục xâm chiếm, chiến sự triền miên, khiến cho võ binh của ta hao tổn, quân số không đủ, ngựa chiến thiếu hụt, vũ khí lạc hậu, quả thực là mối lo lớn của đất nước. Chiến lược trị quân của Bàng ái khanh rất mực thiết thực, đó là việc khẩn cấp của đất nước, không thể chậm trễ!”

Bàng Quyên đứng dậy khấu lạy: “Nhi thần đa tạ bệ hạ khen thưởng!”

Ngụy Huệ Vương đặt bản tấu chương của Bàng Quyên xuống: “Ái khanh miễn lễ!”

Bàng Quyên đa tạ xong, đứng dậy trở về chỗ.

“Tuy nhiên,” Ngụy Huệ Vương lập tức đổi giọng, “binh cần phải nuôi. Kho không lương thực, ruộng đất bỏ hoang, quả nhân sao có thể để chư tướng sĩ an tâm luyện võ? Sao có thể để họ liều mạng xuất chinh?” Lại đưa tay cầm lấy bản tấu chương của Chu Uy. “Tấu chương của Chu ái khanh, sự việc xác thực, sinh động thiết tha, mỗi lần quả nhân đọc đến, lại tựa như nghe thấy tiếng oán thán của dân chúng biên cương, nhìn thấy cảnh dân chúng bỏ quê ly tán, đúng là mắt thấy mà đau đớn lòng.”

Bàng Quyên thần sắc hơi biến, liếc mắt nhìn mọi người một lượt, thấy Chu Uy, thái tử Thân ngồi ngay ngắn, hai mắt nhìn thẳng vào Huệ Vương. Huệ Thi hai mắt khép hờ, Tôn Tẫn thái độ ôn hoà, giống như đang nghe tiên sinh giảng đạo khi còn trong Quỷ Cốc.

Ngụy Huệ Vương đặt bản tấu chương lên bàn, nói lớn: “Chu ái khanh viết đúng lắm! Dân chúng bỏ đi, đều do thuế khoá quá nặng. Thuế khoá quá nặng, đều do chiến họa liên miên. Không có dân sẽ không có thuế, không có thuế thì lấy gì để nuôi quân?” Ngừng lại một chút, khẽ thở dài. “Than ôi, hai việc lớn này, thế lại như nước lửa không dung, đều không được phép chậm trễ. Giải quyết thế nào, quả nhân mong chư vị ái khanh hãy cùng bàn bạc.”

“Bệ hạ!” Bàng Quyên quyết định tiên phát chế nhân. “Dân chúng liệt quốc di chuyển qua lại, vốn là chuyện khó tránh. Còn về con số người dân biên cương bỏ đi mà thượng khanh đã tấu, có chính xác hay không, e rằng còn phải kiểm tra lại!”

“Khởi bẩm phụ vương!” Không đợi Ngụy Huệ Vương đáp lời, thái tử Thân đã lên tiếng. “Nhi thần cho rằng, bản tấu của Chu ái khanh hoàn toàn là sự thật. Nhi thần phụng chỉ đến núi Vân Mộng mời Tôn Tử, đi tới vùng Toan Táo, những điều tai nghe mắt thấy trên đường, quả thực vô cùng chua xót. Ruộng vườn không thấy lúa má, chỉ toàn cỏ dại. Trong thôn chẳng thấy khói bếp, chỉ thấy chó hoang. Người dân biên cương đều đã bỏ làng bỏ quê, dắt díu cả nhà chạy về phía tây, một bước ngoảnh đầu đến ba lần, ba bước lại lau nước mắt, tiếng khóc tiếng than dằng dặc suốt dọc đường…”

Thái tử Thân nói đến thương tâm, khiến Ngụy Huệ Vương nghe mà nhỏ lệ, phải đưa tay áo lau nước mắt: “Thân Nhi, đừng nói nữa!” Rồi quay sang Chu Uy. “Chu ái khanh…”

“Có vi thần!” Chu Uy vòng tay, trầm giọng đáp.

“Theo ái khanh thấy, có cách nào ngăn chặn được tình trạng dân chúng bỏ đi hay không?”

“Khởi bẩm bệ hạ,” Chu Uy tấu, “việc cấp bách hiện giờ là cùng dân nghỉ ngơi. Theo ý của vi thần, bệ hạ nên lập tức bố cáo thiên hạ, giảm bớt thuế khoá, khích lệ sản xuất, tu bổ thuỷ lợi, khuyến khích khai hoang!”

Ngụy Huệ Vương liên tiếp gật đầu, quay sang Huệ Thi: “Ý Huệ ái khanh thế nào?”

Huệ Thi thấy được hỏi đến, liền mở mắt ra nói: “Khi vi thần ngao du đến Tắc Hạ, từng gặp được Mạnh Kha. Nói về cái đạo trị nước, Mạnh Tử có nói một câu, đến nay vi thần vẫn cho là đúng đắn.”

“Ồ!” Ngụy Huệ Vương vội hỏi. “Mạnh lão phu tử đã nói thế nào?”

“Mạnh Kha nói: dân là gốc, xã tắc thứ hai, vua thứ yếu.”

Ngụy Huệ Vương ngẩn người: “Câu này phải giải thích thế nào?”

“Vi thần cũng đã thỉnh giáo Mạnh Tử!” Huệ Thi gật đầu nói. “Mạnh Tử giải thích rằng, kẻ được lòng dân, có thể làm thiên tử; kẻ được lòng thiên tử, có thể làm chư hầu; kẻ được lòng chư hầu, có thể làm khanh đại phu. Nước không lấy dân làm gốc, sẽ không có được dân. Nước không có được dân, ắt nguy!”

“Hay lắm! Hay lắm!” Ngụy Huệ Vương tấm tắc khen ngợi. “Lão phu tử nói hay lắm!”

Thấy thái tử, thượng khanh, Huệ Thi đứng về một phía quả như dự liệu, Bàng Quyên trong lòng lo sợ, vội vòng tay bẩm tấu: “Bệ hạ, dân bỏ đi là việc lớn, nhưng việc quân lại càng không thể chần chừ! Hà Tây thất thế, trong một đêm mà mấy trăm dặm đất đai màu mỡ đã rơi vào tay người Tần, số dân mà bệ hạ mất đâu chỉ có năm mươi vạn? Bệ hạ, nay đang trong thời chiến loạn, không có binh sẽ không có nước, không có nước làm sao có dân?”

Lời của Bàng Quyên khiến Ngụy Huệ Vương nhất thời không biết đối đáp ra sao, ấp úng: “Điều này…”

Bàng Quyên liên tiếp nháy mắt ra hiệu với Tôn Tẫn, hy vọng Tôn Tẫn có thể thuận theo ý mình mà nói thêm vào. Nhưng Tôn Tẫn dường như không nhìn thấy, vẫn ngồi nghiêm trang, không nói một lời. Bàng Quyên sốt ruột, liền huých khuỷu tay vào Tôn Tẫn, thúc giục: “Tôn huynh?”

Ngụy Huệ Vương nghe thấy, liền đưa mắt nhìn Tôn Tẫn: “Phải rồi, Tôn ái khanh, khanh vẫn chưa nói gì!”

“Khởi bẩm bệ hạ!” Tôn Tẫn vòng tay nói. “Theo vi thần thấy, việc dân chúng bỏ đi đều là do thuế khoá quá nặng, binh dịch quá phiền. Nơi người dân tìm đến, thường là nước Tần. Tần Công đã ban bố pháp quy, phàm là người Ngụy đến Tần, ruộng đất ai khai hoang được đều thuộc về người đó, mười năm miễn binh dịch, năm năm miễn thuế khoá. Vượt qua kỳ hạn này, đinh bốn người lấy một, thu hoạch mười khấu một. Tẫn lại được biết, quy tắc này là do Tần Công định ra để dành riêng cho những người Ngụy bỏ nước đến Tần.”

Lời của Tôn Tẫn khiến mọi người đều kinh sợ.

Ngụy Huệ Vương rút khăn lụa ra lau mồ hôi lạnh: “Doanh Tứ đúng là đang rút củi dưới nồi!”

Chu Uy cũng đột nhiên sực tỉnh, liền nói: “Bệ hạ, lời của Tôn Tử, câu nào cũng là sự thực. Mấy năm trước, dân bỏ đi thường là ở các quận phía đông Tây Hà, phía tây An Ấp, nhưng nay, ngay cả dân ở Toan Táo, Nghiệp Thành, Thượng Đảng cũng đã dắt díu nhau bỏ tới nước Tần xa xôi ngàn dặm, xét về lâu dài, hậu quả thật khôn lường!”

“Bệ hạ!” Huệ Thi hé mở hai mắt, giống như thuận nước đẩy thuyền. “Kẻ biết Ngụy không ai hơn được Công Tôn Diễn. Nếu không nằm ngoài dự đoán của vi thần, kế này chắc chắn do Công Tôn Diễn nghĩ ra. Nếu bệ hạ không có cách đối phó, ba năm sau, e rằng việc dân chúng bỏ đi không còn dừng lại ở vùng biên thuỳ nữa!”

Ngụy Huệ Vương thần sắc đại biến, liên tiếp gật đầu, nhưng ánh mắt không rời khỏi Tôn Tẫn. Tôn Tẫn đang định nói tiếp, nhưng Bàng Quyên đặng hắng liền mấy tiếng, Tôn Tẫn đành phải ngậm miệng.

Ngụy Huệ Vương chờ đợi sốt ruột, liền giục: “Tôn ái khanh, xin hãy nói tiếp!”

Tôn Tẫn đưa mắt nhìn Bàng Quyên, rồi chậm rãi nói: “Bệ hạ, người Tần muốn chiếm được Trung Nguyên, ắt phải giao chiến với Ngụy. Dân Tần ngày càng đông đúc, lương thực của Tần ngày càng dồi dào, quân lính của Tần cũng ngày càng đông đảo, nếu họ cử binh tiến về phía đông, ta một là không có binh lính chiến đấu, hai là không có dân đóng thuế, ba là không có lương thực dự trữ…” Nói đến đây thì dừng lại.

Ngụy Huệ Vương nghe mà sởn tóc gáy, mặt cắt không còn giọt máu, mắt nhìn trừng trừng vào Tôn Tẫn: “Tôn ái khanh có cách đối phó chăng?”

“Vi thần cho rằng,” Tôn Tẫn khẽ gật đầu, “bệ hạ có thể thực hiện song song hai việc, một tay phát triển quân bị, một tay phát triển nông tang.”

Mọi ánh mắt đều đổ dồn vào Tôn Tẫn. Ngay cả Bàng Quyên cũng không biết Tôn Tẫn đang diễn trò gì, chỉ mở to mắt nhìn trân trối.

Ngụy Huệ Vương dường như cũng chưa hiểu rõ, hơi nghiêng người về phía trước, hỏi nhỏ: “Tôn ái khanh hãy nói rõ hơn!”

“Ý vi thần là, bệ hạ có thể vừa làm theo lời thượng khanh, cùng dân chúng nghỉ ngơi, lại vừa phát triển quân bị như lời Vũ An Quân.”

“Ồ, Tôn ái khanh!” Ngụy Huệ Vương khẽ chau mày, ngả người ra sau, thở dài một tiếng. “Chỗ khó xử của quả nhân chính là điều này! Nếu cùng dân chúng nghỉ ngơi, sẽ không thu thuế. Nếu không thu thuế, sẽ chẳng có quân nhu. Nếu không có quân nhu, làm sao có thể phát triển quân bị? Đây là hai việc khó, quả nhân quả thực không thể thực hiện cùng lúc!”

“Nếu bệ hạ muốn thực hiện cùng lúc, cũng không khó.”

“Ồ!” Ngụy Huệ Vương vội bật người nhổm dậy. “Ái khanh có kế sách gì không?”

Tôn Tẫn dõng dạc: “Việc nhà nông có lúc bận lúc nhàn. Bệ hạ có thể cho những người đợi đi binh dịch biên thành đội ngũ dựa theo quê quán, lúc nông nhàn sẽ tập hợp lại để huấn luyện, đến vụ mùa màng lại cho họ về nhà cấy hái, như vậy hai việc quân bị, nông tang đều không bỏ lỡ. Việc nhà việc nước tron vẹn, dân ắt sẽ vui. Dân vui, chiến đấu ắt dũng cảm. Còn về quân thường bị ở biên thuỳ, cũng có thể tranh thủ lúc quân bị nhàn rỗi cho đi khai hoang trồng trọt, thành quả thu hoạch dùng để bổ sung cho quân nhu. Nếu ba quân có thể tự cung tự cấp, sẽ không phiền tới dân. Nếu dân không bị phiền, chưa đến mười năm, nước ắt giàu!”

Một việc tiến thoái lưỡng nan như vậy, chỉ mấy lời của Tôn Tẫn, đã được giải quyết xong xuôi. Mọi người nhất thời kinh ngạc, không kịp phản ứng, Tôn Tẫn đã nói xong một lúc lâu, nhưng trong điện vẫn lặng phắc như tờ.

Vẫn là Ngụy Huệ Vương định thần lại đầu tiên, vỗ bàn reo lên: “Kế sách của ái khanh, tuyệt diệu! Tuyệt diệu!”

Mọi người liên tiếp gật gù, cùng lên tiếng tán dương. Ngụy Huệ Vương quay qua nhìn Bàng Quyên và Chu Uy: “Bàng ái khanh, Chu ái khanh, sau khi hai khanh về phủ, hãy dựa theo lời của Tôn ái khanh, mỗi người viết ra một bản kế sách thực thi, sau đó trình lên quả nhân!”

Bàng Quyên, Chu Uy đứng dậy khấu bái: “Vi thần lĩnh chỉ!”

Ngụy Huệ Vương xua tay nói: “Bãi triều!” Thấy chúng thần đã ra khỏi cửa, dường như sực nhớ ra chuyện gì, lại gọi. “Huệ ái khanh, thái tử, hãy dừng bước!”

Huệ Thi, thái tử Thân liền quay lại, Huệ Vương bảo họ ngồi xuống, cười vang mà nói: “Huệ ái khanh, Thân Nhi, hai người nói xem, tài của Tôn Tử thế nào?”

Hai người đưa mắt nhìn nhau, Huệ Thi đáp: “Khởi bẩm bệ hạ, Tôn Tử quả là bậc đại tài trị quân!”

Ngụy Huệ Vương lại cười lớn, rồi gật gù khen ngợi: “Phải, quả nhiên là đại tài. Hôm trước quan sát, quả nhân không phát hiện ra. Hôm nay quan sát, tài của Tôn ái khanh quả là vượt hơn Bàng ái khanh! Quả nhân giữ hai khanh ở lại là muốn hỏi xem, với tài của Tôn ái khanh, quả nhân nên dùng thế nào?”

Huệ Thi nhìn thái tử Thân.

Thái tử Thân nói: “Nhi thần cho rằng, đã là đại tài thì không thể dùng vào việc nhỏ, phụ vương có thể phong Tôn Tử làm giám quân.”

Ngụy Huệ Vương quay sang nhìn Huệ Thi: “Thân Nhi nói phong Tôn Tử làm giám quân, ý ái khanh thế nào?”

“Điện hạ sắp xếp rất đúng!”

“Tốt!” Ngụy Huệ Vương lập tức quyết đoán. “Sẽ phong Tôn Tử làm giám quân, ái khanh hãy đi truyền chỉ!”

Huệ Thi vâng lệnh, sau đó cùng tỳ nhân đi sang gian thiên điện kế bên soạn chỉ.

Nhìn thấy Huệ Thi đã đi xa, Ngụy Huệ Vương quay sang thái tử: “Quỷ Cốc đúng là nơi ngoạ hổ tàng long! Thân Nhi, lần này đến Quỷ Cốc, còn nhìn thấy gì khác không?”

Thái tử Thân bất chợt cảm khái, nói lớn: “Quỷ Cốc tiên sinh còn có ba đệ tử khác, một người tên Trương Nghi, một người tên Tô Tần, còn có một cô nương tên gọi Ngọc Thiền. Ngoài ra còn có một tiểu đồng, trông rất thông minh đĩnh ngộ!”

Ngụy Huệ Vương vội hỏi: “Hai người Trương Nghi, Tô Tần cũng học binh pháp ư?”

Thái tử Thân lắc đầu: “Nhi thần không biết. Nhưng theo nhi thần thấy, tất cả đều không phải hạng tầm thường. Chưa nói tới Trương Nghi, Tô Tần, chỉ riêng ngôn hành cử chỉ của cô nương kia thôi, Thân Nhi cả đời cũng không thể quên!”

“Ồ?” Ngụy Huệ Vương rất đỗi hiếu kỳ. “Chỉ là một cô gái, lại có điểm gì bất phàm?”

Thái tử Thân lập tức lời lẽ sôi nổi: “Cô nương đó đúng là kỳ nhân! Theo nhi thần thấy, tất cả những người trong Quỷ Cốc, gồm cả Tôn Tử, đều nhất nhất nghe theo lời nàng ấy. Phụ vương ban tặng ngàn vàng, ban thưởng châu báu, nàng ấy chẳng thèm liếc đến, đã bảo nhi thần mang về. Nhi thần nói rằng, đó là tâm ý của phụ vương, không chịu mang về, nàng ấy liền nói, hãy trở về bẩm lại với phụ vương của người, đạo làm quân vương là phải biết lo cho dân. Tiền bạc lấy từ dân, cũng phải dùng cho dân. Số vàng bạc châu báu này đều là xương máu của dân, không dễ có được, hãy dùng vào những việc đáng dùng, đừng nên tuỳ tiện hoang phí!”

Ngụy Huệ Vương trầm tư hồi lâu, rồi gật đầu nói: “Than ôi, quả nhân nhất thời hồ đồ, đã mang những vật tầm thường đến đất thánh Quỷ Cốc. Xem ra, Quỷ Cốc tiên sinh đúng là thánh sư trong thiên hạ!”

Mấy ngày sau đó, Ngụy Huệ Vương liên tiếp ban vài đạo chiếu thư, lệnh cho ba quân tướng sĩ khai hoang trồng trọt, cả nước không trưng binh dịch, trai tráng vào lúc nông nhàn phải diễn binh tập võ, gặp mùa màng lại về quê cấy hái, bách tính được giảm sáu phần thuế, phàm là dân chúng biên thuỳ nếu quay về nước, sẽ miễn thuế hoàn toàn trong vòng mười năm.

Chiếu lệnh ban xuống, cả nước hân hoan, lòng dân phấn chấn, bách tính rộn rã truyền tai nhau, người dân bỏ xứ ra đi hay tin, cũng lũ lượt quay về. Đến tiết Đông chí, trước sau không quá ba tháng, đã có khoảng mười vạn dân quay trở về Ngụy, còn số nhớ quê muốn về nhiều không đếm xiết.

***

Tin báo nhanh chóng truyền đến Hàm Dương, Huệ Văn Công đọc xong hoảng hốt, nói với nội thần: “Mau, truyền Trúc tiên sinh, đại lương tạo, thượng đại phu, quốc uý nhanh chóng vào cung!”

Nội thần vâng lệnh rời đi. Vừa ra đến cửa, Huệ Văn Công lại gọi giật: “Khoan, nhân tiện dẫn cả tên thượng khanh họ Trần kia tới đây!”

Trúc Viễn, Công Tôn Diễn, Sư Lý Tật, Tư Mã Thác, Trần Chẩn năm người vội vã đến ngự thư phòng, Huệ Văn Công vẫn đang đọc bản cấp tấu gửi đến từ Hà Tây. Nhìn thấy năm người khấu bái dưới đất, Huệ Văn Công cũng không ngẩng đầu, chỉ khẽ xua tay nói vội: “Các khanh miễn lễ!” Hai mắt vẫn không rời khỏi bản tấu.

Năm người đưa mắt nhìn nhau, Công Tôn Diễn do dự một lát, liền đứng lên đầu tiên, chậm rãi quay về chỗ. Ba người còn lại cũng lần lượt đứng lên, trở về chỗ ngồi.

Huệ Văn Công nhìn vào bản tấu, như có điều suy nghĩ, nửa như tự nhủ, nửa như muốn nói cho quần thần nghe: “Người dân Ngụy đã bỏ mặc cả đồng lúa mạch vụ đông đầy hứa hẹn, dắt díu nhau trở về nước Ngụy. Quận Hà Tây trong vòng một tháng đã mất năm vạn dân.” Rồi ngẩng lên, nhìn chúng thần một lượt, hơi cao giọng. “Chư vị ái khanh, các khanh đã thấy cả chưa?”

Chúng thần đều gật đầu.

“Nếu cứ để mặc chuyện này tiếp diễn,” Huệ Văn Công gõ ngón tay lên mặt bàn mấy cái, “nỗ lực suốt hai năm nay của mọi người sẽ trở thành công cốc! Chư vị ái khanh, các khanh có kế sách gì hay không?”

Tư Mã Thác lên tiếng: “Khởi bẩm chúa thượng, theo ý của vi thần, cần phải phong toả Hà Tây, đóng chặt tất cả các cửa ải, xem đám dân Ngụy kia trở về bằng cách nào?”

Huệ Văn Công chẳng buồn để ý đến hắn, chậm rãi đưa mắt nhìn sang Công Tôn Diễn.

Công Tôn Diễn vòng tay nói: “Vi thần cho rằng, cách này không được!”

Huệ Văn Công hỏi: “Tại sao không được?”

“Giữ được người không giữ được tâm, chẳng những vô ích, ngược lại còn là hoạ. Hơn nữa, đã nhiều năm nay, dân chúng ở biên giới ở liệt quốc cũng giống như sĩ tử, đều tự do qua lại, nay nếu ta đóng cửa hòng giữ họ, cho dù có giữ chân được dân Ngụy, cũng chẳng khác nào tự chặn mất đường lui. Từ nay về sau, dân chúng liệt quốc còn ai dám đến Tần nữa?

Huệ Văn Công gật đầu nói: “Ái khanh nói rất đúng, nói tiếp đi!”

“Theo ý của vi thần, việc di dân quay trở về quê vẫn không phải chuyện cấp bách!”

Huệ Văn Công vội hỏi: “Việc gì mới cấp bách?”

“Cấp bách là ở chính sự nước Ngụy. Theo vi thần được biết, mấy ngày nay Ngụy Vương ban bố chính sách mới, ba quân làm ruộng, giảm thuế sáu phần, khích lệ dân hồi hương, những người hồi hương được miễn thuế mười năm. Võ binh thường bị trồng trọt tự cung tự cấp, sĩ khí phấn chấn, sức chiến đấu chỉ tăng không giảm. Trai tráng các nơi vừa trồng trọt vừa tập luyện, lòng dân lại được tập trung.”

“Than ôi!” Huệ Văn Công thở dài. “Lời của ái khanh chính là nỗi lo của quả nhân. Quả nhân thực sự không hiểu, cùng là một Ngụy Anh, khi tiên quân còn thì việc gì cũng hồ đồ, rành rành là một hôn quân, nhưng đến thời quả nhân, ông ta lại đột nhiên tỉnh ngộ, đã trở thành một minh quân rồi!”

Tư Mã Thác nói xen vào: “Ngụy nay đại trị, chắc chắn là bởi Bàng Quyên!”

“Ừm!” Huệ Văn Công gật đầu. “Chắc hẳn là do hắn. Quả nhân khổ tâm tính kế, cũng chỉ vì muốn lấy được Ngụy, ai ngờ giữa đường lại xuất hiện một tên Bàng Quyên, thực khiến quả nhân trở tay không kịp!”

Sư Lý Tật tiếp lời: “Thiên hạ đồn rằng Bàng Quyên trong mơ đã được truyền lại bí kíp ‘Binh pháp Ngô Tử’, ngộ được điểm tinh yếu trong thuật dụng binh của Ngô Khởi. Xem ra, không trừ Bàng Quyên, nước Tần sẽ không một ngày được yên!”

Trần Chẩn khoé miệng khẽ động, hừ mũi một tiếng, trên mặt đầy vẻ coi thường.

Huệ Văn Công nhanh chóng nhận ra, liền nhìn sang Trần Chẩn, ánh mắt đầy nghi hoặc: “Trần ái khanh?”

Trần Chẩn vòng tay nói: “Khởi bẩm chúa thượng, vi thần cho rằng, nước Ngụy đại trị không có liên quan gì tới Bàng Quyên!”

“Ồ?” Huệ Văn Công hai mắt mở to. “Ái khanh hãy nói rõ!”

“Theo vi thần được biết, việc Bàng Quyên nằm mơ được Ngô Khởi truyền thụ binh pháp, hoàn toàn chỉ là bịa đặt!”

Huệ Văn Công vội hỏi: “Sao ái khanh lại biết?”

“Mấy năm trước Bàng Quyên từng đến núi Vân Mộng, theo Quỷ Cốc Tử tu luyện binh pháp ba năm.”

“Quỷ Cốc Tử?” Huệ Văn Công ngạc nhiên, nhanh chóng đưa mắt nhìn sang Trúc Viễn. “Trúc tiên sinh có biết người này chăng?”

Trúc Viễn đang nhắm mắt ngồi yên, bị hỏi thình lình, bất giác “Ồ” lên một tiếng, từ từ ngẩng lên, rồi khẽ gật đầu.

Huệ Văn Công vội hỏi: “Tiên sinh hãy nói rõ hơn!”

Trúc Viễn mở mắt ra: “Quỷ Cốc Tử là sư bá của Tu Trường. Khi còn ở trong núi, Tu Trường nhiều lần nghe gia sư nói về sư bá, nói rằng sư bá đã đắc đạo, trên thông thiên văn, dưới tường địa lý. Nhưng theo như gia sư nói, sư bá chưa bao giờ thu nhận đệ tử, nay cớ sao lại thu nhận Bàng Quyên truyền nghệ, Tu Trường cũng không được rõ.”

Trần Chẩn nói tiếp: “Người theo học Quỷ Cốc Tử không chỉ có Bàng Quyên, còn có mấy người nữa, là Tôn Tân, Trương Nghi. Theo vi thần được biết, Bàng Quyên và sư huynh Tôn Tân của hắn cùng học binh pháp, những gì Bàng Quyên học được, chẳng qua mới chỉ là chút lông da của Quỷ Cốc Tử. Tài của Tôn Tân còn vượt xa Bàng Quyên.”

Huệ Văn Công cả mừng, nói: “Nếu quả thực như vậy, Trần ái khanh hãy mau đến Quỷ Cốc, giúp quả nhân mời Tôn Tân đến đây!”

Trần Chẩn lắc đầu nói: “Khởi bẩm chúa thượng, bây giờ đi mời cũng đã quá muộn rồi!”

“Ồ?” Huệ Văn Công kinh ngạc. “Lẽ nào người này…”

Trần Chẩn tiếp lời: “Theo vi thần được biết, người này đã đến nước Ngụy, được Ngụy Vương phong làm giám quân. Nếu không nằm ngoài dự đoán của vi thần, mưu miễn thuế, khai hoang trồng trọt, đều xuất phát từ Tôn Tân!”

Huệ Văn Công chau tít đôi mày, chậm rãi đứng dậy, đi đi lại lại hồi lâu mới trở về chỗ, trán đã hơi giãn ra, liếc nhìn chúng thần một lượt: “Lời của Trần ái khanh, quả là mới mẻ. Còn về cách đối phó, các vị hãy bàn bạc kỹ lại, hôm khác sẽ nói tiếp!”

Mọi người vâng lệnh, rồi cùng lui ra.

Trần Chẩn đang định ra khỏi cửa, Huệ Văn Công liền gọi lại: “Trần ái khanh, dừng bước!”

Trần Chẩn quay lại, đang định khấu bái thì Huệ Văn Công tươi cười dắt tay ông ta nói: “Ái khanh bất tất phải đa lễ. Nghe nói ái khanh tinh thông âm luật trong thiên hạ, từ lâu quả nhân đã muốn được thỉnh giáo, nhưng chưa có cơ hội. Mấy ngày trước, Nghĩa Cừ Quân đến cống nạp mấy ca kỹ, nói là giọng ca tuyệt diệu, chẳng khác họa mi. Nếu ái khanh có nhã hứng, hãy cùng quả nhân thưởng thức.”

Trần Chẩn trong lòng hiểu rõ, lùi lại một bước, vòng tay vái mà đáp: “Vi thần đa tạ chúa thượng hậu ái!”

Huệ Văn Công cười lớn mấy tiếng, dắt tay Trần Chẩn đi vào nhạc phường, đến một đại sảnh, chia ngôi quân thần ngồi xuống. Huệ Văn Công vỗ tay, chuông trống sáo đàn lập tức nổi lên dìu dặt, từ hậu đài đi ra sáu nàng vũ nữ, nhảy múa dịu dàng trên tấm thảm đỏ trước mặt. Thiếu nữ lĩnh xướng da trắng như tuyết, tóc vàng óng ánh, mắt đẹp đong đưa, môi son hé mở, giọng hát quả nhiên chẳng khác gì tiếng họa mi.

Huệ Văn Công cười nói: “Trần ái khanh, ca khúc này nghe có lọt tai không?”

Trần Chẩn cũng cười, khen ngợi: “Khởi bẩm chúa thượng, ca vũ của Nghĩa Cừ, tiếng hát vui tai, phong thái đẹp lòng, có thể nói là hoàn mỹ tuyệt luân!”

Huệ Văn Công chỉ tay vào sáu nàng ca kỹ: “Trong sáu nàng này, ái khanh có bình xét gì không?”

Trần Chẩn lại cười: “Theo vi thần, sáu nàng này ai nấy đều tuyệt mỹ, đặc biệt là nàng lĩnh xướng kia, uyển chuyển phong lưu, mắt liếc sinh tình, nhất cử nhất động, đều thấy đáng yêu, quả là tuyệt thế giai nhân!”

Huệ Văn Công cười nói: “Ái khanh quả nhiên là có con mắt tinh đời! Mười ngày trước nàng ấy đến đây, cũng là lần đầu tiên quả nhân gặp mặt. Nghe nói nàng ấy đến từ dị quốc phương Tây, Nghĩa Cừ Quân có được, coi như bảo bối, nên mới đặc biệt tiến cống cho quả nhân!”

Trần Chẩn vòng tay nói: “Báu vật trong thiên hạ, đương nhiên phải hầu bên minh chủ, vi thần xin chúc mừng chúa thượng!”

Huệ Văn Công xua tay, cho đám vũ nữ lui xuống, rồi quay sang cười với Trần Chẩn: “Nghe ái khanh nói chuyện, thực là sảng khoái!” Rồi đứng dậy, đi ra ngoài sảnh, ngước nhìn sắc trời. “Giờ không còn sớm nữa, về món báu vật kia, hôm khác quả nhân sẽ lại thỉnh giáo ái khanh!”

Trần Chẩn thoáng ngẩn người, rồi vội vã vòng tay: “Vi thần cáo lui!”

Trần Chẩn đi ra khỏi cửa cung, bước lên xe kiệu, suốt dọc đường vẻ mặt âu sầu. Xe kiệu lóc xóc mà đi, Trần Chẩn nhắm hờ hai mắt, suy nghĩ mải miết. Huệ Văn Công cố ý giữ ông ta lại, trong lòng rõ ràng có chuyện, Trần Chẩn cũng đã đoán ra là chuyện gì, song Huệ Văn Công lại cố tình giấu kín, không để lộ nửa lời, còn kéo ông ta đi xem múa hát, lẽ nào màn múa hát này còn có dụng ý gì khác?

Trần Chẩn suy nghĩ hồi lâu, nhưng đầu óc vẫn mờ mịt như sương. Lần này đến Tần, Huệ Văn Công không nói một lời, lập tức phong ông ta làm thượng khanh, ban cho phủ đệ, thưởng cho vàng lụa, nô bộc, bao nhiêu ân sủng khiến Trần Chẩn cũng phải ngỡ ngàng. Trần Chẩn tự thấy hổ thẹn, vốn dĩ muốn hiến kế hay chế Ngụy để lập công, nhưng sau khi Huệ Văn Công phong ông ta làm thượng khanh, lại chưa hề triệu vào yết kiến, cũng chưa từng hỏi về bất cứ việc lớn nào. Thân là bề tôi, không hiểu ý chúa mà nói bừa, hậu quả thường rất thê thảm. Hơn nữa, Huệ Văn Công không phải là Ngụy Huệ Vương, cứ mỗi lần nghĩ đến chuyện Huệ Văn Công một đá diệt mấy chim, trong vòng vài tháng ngắn ngủi, đã một mạch tiêu diệt Thương Ưởng, Cam Long, khiến quyền thần tiền triều như đất sạt ngói lở, Trần Chẩn lại ớn lạnh xương sống.

Trần Chẩn lại đi thêm một đoạn nữa, thấy trời đã sắp tối, liền ghìm ngựa quay đầu, đánh xe đi về phía phủ Doanh Kiền. Mặc dù Doanh Kiền đã mất chức thái phó, nhưng Huệ Văn Công vẫn niệm tình ông ta là tông thất, nên cho giữ lại phủ đệ ở Hàm Dương để an dưỡng tuổi già. Những ngày này, Trần Chẩn cũng chẳng có việc gì làm, lại không có bạn bè ở Tần, mỗi khi rảnh rỗi lại đến thăm vị cựu thần này, hai người hoặc câu cá hoặc đánh cờ, kể cũng hợp nhau.

Nghe thấy tiếng xe ngựa, Doanh Kiền biết là Trần Chẩn đến, liền tươi cười ra đón vào nhà, vừa ra lệnh thắp đèn, vừa cho thiết yến bày cờ, chuẩn bị kịch chiến một trận.

Trần Chẩn tâm sự trùng trùng, làm gì còn tâm trí đâu để đánh cờ, bèn đưa tay khẽ đẩy bàn cờ sang một bên.

Doanh Kiền ngạc nhiên, mắt nhìn chằm chằm vào Trần Chẩn, nửa đùa nửa thật nói: “Thượng khanh đại nhân, nhìn ngài mặt ủ mày chau thế này, hẳn không phải đang nhớ nhung cô nàng nào đấy chứ?”

Trần Chẩn đáp: “Đúng là quả thực có một cô nàng!”

“Xem kìa xem kìa!” Doanh Kiền vỗ tay cười nói. “Quả nhiên đã bị lão hủ đây đoán trúng! Là con gái nhà nào, thượng khanh chỉ cần nói ra, lão hủ sẽ nghĩ cách giúp cho!”

Trần Chẩn cười gượng một tiếng, lắc đầu than vãn: “Than ôi, nếu có ai để ý đến một kẻ thất thế như ta, chắc hẳn là đã bị mù rồi!”

Doanh Kiền vội nói: “Cớ sao lại nói vậy? Chúa thượng đối đãi với ngài không bạc, thượng khanh tiền đồ vạn dặm, chắc chắn sẽ có đất dụng võ!”

Trần Chẩn tự rót một chén rượu, bưng lên uống cạn, rồi thuật lại một lượt toàn bộ quá trình gặp mặt quân chủ trong ngày hôm nay cho Doanh Kiền nghe, cuối cùng hỏi: “Chúa thượng chỉ giữ một mình hạ quan, mời hạ quan thưởng thức ca vũ do Nghĩa Cừ Quân tiến cống, rốt cuộc là có ý gì, hạ quan nghĩ mãi không ra, mong lão đại nhân chỉ giáo!”

Doanh Kiền vuốt râu suy nghĩ một hồi, rồi gật gù nói: “Nếu là vì cô ả này, lão hủ cũng có biết đôi chút. Hôm trước lão hủ vào cung thăm lão thái hậu, lúc đi qua nhạc phường, nghe thấy trong phòng có tiếng hát véo von, giọng trong vắt như tiếng hoạ mi. Ta nghe thấy thích thú, liền vào xem thử, quả nhiên là báu vật nhân gian. Lão hủ lập tức đi tìm nhạc phường lệnh, định chuộc cô ta ra, song nhạc phường lệnh nói rằng, cô ả đó là cống phẩm của Nghĩa Cừ, mấy ngày nữa sẽ tiến cống chúa thượng, hiện đang tập luyện. Lão hủ nghe vậy, đành phải từ bỏ ý định!”

Trần Chẩn lại trò chuyện với ông ta thêm một lúc, nhưng vẫn không đoán biết được duyên do, đành phải cáo từ, vào giờ Nhân định mới về đến phủ.

Trần Chẩn đi vào nhà trong, giống như thường ngày, cởi áo tháo đai, đang định đi ngủ. Trong ánh nến lờ mờ, thình lình phát hiện ra có một người đang ngồi trên giường. Trần Chẩn giật nảy mình, lập tức thoái lui một bước, rút kiếm quát lớn: “Kẻ nào vào đây?”

Người trên giường từ từ đứng dậy, khấu đầu sát đất, rồi một giọng nói lơ lớ cất lên: “Tiên sinh đừng sợ, nô tỳ đến để hầu hạ tiên sinh!”

Trần Chẩn bước lên mấy bước, mở to mắt nhìn, thì ra chẳng phải ai khác, mà chính là vũ nữ lĩnh xướng trong cung lúc chiều. Trần Chẩn cả kinh, vội hét lớn: “Người đâu!”

Quản gia nghe tiếng vội vàng chạy vào: “Chúa công có gì sai bảo?”

Trần Chẩn nghiêm giọng hỏi: “Tại sao cô ta lại ở đây?”

“Khởi bẩm chúa công,” quản gia đáp, ”một canh giờ trước, nội tể ở trong cung đích thân dẫn cô ta đến, còn mang tặng rất nhiều của hồi môn!”

“Của hồi môn?” Trần Chẩn kinh ngạc hỏi. “Của hồi môn gì?”

Quản gia lấy ra một cuốn sổ, bẩm báo cặn kẽ: “Vàng một trăm lượng, gấm lụa hai mươi súc, ngọc trắng hai cặp, kỳ hương Tây Vực mười hộp, trân châu…”

Chưa kịp đọc xong, Trần Chẩn đã cho quản gia một cái bạt tai: “Tên khốn kiếp! Việc lớn như vậy, lúc nãy tại sao không bẩm báo?”

Quản gia tay ôm má trái: “Tiểu… tiểu nhân không dám! Nội tể trong cung dặn dò, chúa thượng có chỉ, bất kỳ người nào cũng không được báo cho chúa công biết trước, chúa thượng… chúa thượng muốn tặng cho chúa công một niềm vui bất ngờ!”

Trần Chẩn định thần lại, suy nghĩ một lúc, rồi quay sang quản gia: “Chuẩn bị xe!”

Quản gia sững người: “Giờ đã khuya lắm rồi!”

Trần Chẩn quát: “Cái gì mà khuya với không khuya, mau chuẩn bị xe!”

Quản gia vâng lệnh, vội vàng lui ra.

Trần Chẩn vội vàng mặc áo đội mũ, đến trước chiếc gương đồng chỉnh trang một chặp, rồi quay người nói với cô gái vẫn quỳ dưới đất: “Cô nương, cô có tên không?”

Cô gái liền bái lạy: “Khởi bẩm tiên sinh, nô tỳ tên là Trát Y Na.”

“Trát Y Na?” Trần Chẩn gọi không quen miệng, lặp lại ba chữ này mấy lần, ngẫm nghĩ một lúc rồi nói. “Gọi thực không thuận miệng. Hãy bỏ chữ ‘Trát’ đi, gọi là Y Na!”

Cô nương gật gật đầu, lại khấu lạy: “Nô tỳ Y Na đa tạ tiên sinh!”

“Đứng dậy đi!” Trần Chẩn chỉ tay vào chiếc áo cừu bên cạnh. “Mau mặc áo vào, bên ngoài lạnh lắm!”

Cô nương thoáng ngạc nhiên, rồi cũng đứng dậy, cầm lấy tấm áo cừu mặc lên người, sợ sệt nhìn Trần Chẩn.

“Hãy đi theo ta!” Trẩn Chẩn nói đoạn, đi thẳng ra ngoài.

Huệ Văn Công đang ở thư phòng chau mày suy nghĩ, thì nội tể vào báo có Trần Chẩn cầu kiến.

Huệ Văn Công mỉm cười, gật đầu nói: “Truyền vào!”

Trần Chẩn bước vào, dập đầu: “Vi thần khấu kiến chúa thượng!”

Huệ Văn Công cúi đầu đọc tấu chương, thấy ông ta khấu bái cũng không ngẩng lên, chỉ chậm rãi nói: “Là Trần ái khanh ư?” Lại đọc thêm một lúc, thấy Trần Chẩn vẫn quỳ mọp dưới đất, lúc này mới ngẩng đầu nhìn. “Ái khanh không ở trong phủ nghỉ ngơi, muộn thế này rồi còn đến cầu kiến quả nhân, không biết có việc gì quan trọng?”

Trần Chẩn lại lạy thêm hai lạy, rồi quay ra ngoài vỗ tay. Y Na nghe thấy tiếng liền đi vào, quỳ xuống bên cạnh ông ta khấu bái: “Nô tỳ khấu kiến chúa thượng.”

Huệ Văn Công liếc nhìn cô ta, rồi xua tay nói: “Ngươi tạm lui ra!”

“Nô tỳ cáo lui!” Y Na lại bái lạy rồi đứng dậy, từ từ lui ra khỏi thư phòng.

“Vậy là,” Huệ Văn Công nhìn Trần Chẩn, “cô gái này không vừa mắt ái khanh ư?”

Trần Chẩn lại khấu lạy, khóc mà tâu: “Vi thần có tài đức gì mà lại được chúa thượng ân sủng đến vậy?”

“Ân sủng?” Huệ Văn Công cười lớn. “Sao ái khanh lại nói vậy?”

Trần Chẩn khóc mà đáp: “Chúa thượng, vi thần… vi thần gặp nạn phải chạy tới Tần, chúa thượng không những không tính toán chuyện trước đây, đã thu nhận vi thần, còn ban cho vàng ngọc phủ đệ, lại mang… báu vật nhân gian này tặng cho vi thần, bảo vi thần… làm sao dám nhận?”

“Trần ái khanh!” Huệ Văn Công lại cười mấy tiếng, lời nói đầy ẩn ý. “Cái gì mà báu vật nhân gian, chỉ là một người đàn bà thôi mà! Đại trượng phu đứng trong thế gian, đàn bà giống như quần áo, vàng bạc giống như đất bùn. Chỉ có đại nghiệp ngàn thu, ghi danh sử sách mới là điều chí sĩ truy cầu!”

Trần Chẩn trầm ngâm suy nghĩ một lúc, lại bái lạy: “Lời của chúa thượng như nước đề hồ quán đỉnh! Lần này vi thần đến, là có chuyện khác muốn bẩm báo!”

Huệ Văn Công cười nói: “Không giấu ái khanh, quả nhân biết khanh có lời muốn nói!” Rồi chỉ tay vào chỗ ngồi trước mặt. “Ngồi xuống đi, từ từ nói!”

“Đa tạ chúa thượng!” Trần Chẩn đứng dậy, ngồi xuống chỗ Huệ Văn Công vừa chỉ, vòng tay mà nói. “Chúa thượng, vi thần có một kế sách, hoặc giả có thể chế được Ngụy!’

“Ồ!” Huệ Văn Công ngả người về phía trước. “Là kế sách gì?”

“Đá ở núi khác, có thể giũa ngọc.”(2) Trần Chẩn nhấn nhá từng chữ.

“Đá ở núi khác, có thể giũa ngọc?” Huệ Văn Công nhẩm đi nhẩm lại mấy lần, lại trầm tư hồi lâu, dường như vẫn chưa hiểu ra ý tứ, lại ngẩng nhìn Trần Chẩn, lắc đầu cười nói. “Quả nhân ngu muội, xin thượng khanh hãy nói rõ hơn!”

Trần Chẩn gợi ý: “Núi Sở có ngọc, cớ sao chúa thượng không mượn mà dùng?”

Huệ Văn Công sững người, dường như đã hiểu ra một chút, lại dường như chưa thực hiểu, cúi người về trước mà hỏi: “Ý ái khanh là, quả nhân có thể mượn sức của người Sở để… đánh Ngụy?”

Trần Chẩn gật đầu: “Chúa thượng thánh minh!”

Huệ Văn Công mở to mắt: “Sức của người Sở, quả nhân phải mượn bằng cách nào?”

“Từ thời Điền Nhân Tề trở lại đây, các nước lưu vực sông Tứ luôn là vùng đất tranh giành của Tề, Sở. Mười hai nước lưu vực sông Tứ, luận về giàu có không nước nào hơn Tống, Vệ. Mấy năm trước Ngụy Vương phạt Vệ, đã kết oán với cả Tề, Triệu, Hàn; Sở Vương phạt Tống, đã kết oán với Tề. Sở từ lâu đã muốn thôn tính Tống, chỉ là còn sợ người Tề. Nay Tề mới bị Ngụy đánh bại, quốc lực chưa vững, là thời cơ trời cho nước Sở. Nếu chúa thượng khiến cho người Sở phạt Tống…” Nói đến đây liền dừng lại, đưa mắt nhìn Huệ Văn Công.

Huệ Văn Công trầm tư chốc lát, đột nhiên bừng tỉnh, vỗ bàn nói: “Đúng là diệu kế! Nếu Sở phạt Tống, Tống ắt sẽ cầu cứu Ngụy. Ngụy có hai kỳ tài là Bàng Quyên, Tôn Tân, nhất định sẽ chịu cứu Tống, Sở và Ngụy tất xảy ra chiến tranh. Hai hổ đánh nhau, bất kể ai thắng ai thua, quả nhân cũng sẽ là ngư ông đắc lợi!”

“Chúa thượng thánh minh!” Trần Chẩn cười nói tiếp. “Chúa thượng, hành động này còn tạo ra một kết quả.”

Huệ Văn Công lại nhổm người về phía trước: “Xin ái khanh hãy nói rõ!”

Trần Chẩn dõng dạc: “Nếu Ngụy cứu Tống, kẻ dẫn binh chắc chắn sẽ là hai người Bàng Quyên, Tôn Tân. Tài của Bàng Quyên đã vang khắp liệt quốc, Tôn Tân còn giỏi hơn Bàng Quyên, quân Ngụy không khó để giành chiến thắng. Ý vi thần là, sau khi Ngụy giành được phần thắng…” Lại ngưng lại không nói.

Huệ Văn Công vốn là người thông minh tuyệt đỉnh, nghe vậy, lập tức nhướng mày: “Ý ái khanh là, hai kẻ mạnh thờ cùng một chúa, ắt sẽ tương tranh?”

Trần Chẩn gật đầu nói: “Chúa thượng thánh minh!”

Huệ Văn Công rời khỏi chỗ ngồi, nắm chặt tay Trần Chẩn, luôn miệng nói: “Hay lắm, quả nhiên quả nhân không nhìn lầm người, ái khanh đúng là nhân tài trụ cột!” Dừng lại một lúc, dường như sực nhớ ra chuyện gì, bèn buông tay Trần Chẩn ra, lại trầm ngâm như có điều nghĩ ngợi, rồi trở về chỗ ngồi, sắc mặt ưu tư. “Có điều…”

Trần Chẩn hỏi: “Chúa thượng có điều gì lo lắng?”

“Than ôi!” Huệ Văn Công thở dài. “Kế này tuy kỳ diệu, nhưng quả nhân phải làm thế nào mới có thể khiến Sở phạt Tống đây?”

“Chúa thượng yên tâm!” Trần Chẩn khẽ ôm quyền. “Vi thần và tướng Sở là Chiêu Dương có mối quan hệ mật thiết. Hiện giờ Chiêu Dương và Khuất Cái là tả hữu tư mã của Sở Vương, chưởng quản quân vụ nước Sở. Mười mấy năm nay, Chiêu Dương luôn bận rộn với việc chiếm đoạt lưu vực sông Tứ, sáu năm trước đã dẫn binh phạt Tống, vì Điền Kỵ xuất binh, nên phải tay không trở về. Chiêu Dương là kẻ hám lợi, nếu như vi thần lấy lợi mà kết giao, lại thuyết phục bằng điều lợi hại, Chiêu Dương ắt sẽ nghe theo.”

Huệ Văn Công chau mày một lúc, rồi gật đầu nói: “Nói như vậy, cũng có thể thực hiện được. Khanh hãy tiết lộ cho Chiêu Dương, nói là đại quân của Việt Vương đang tập hợp ở Lang Nha, mưu đồ phạt Tề. Người Tề hiện giờ lo cho mình còn chưa xong, không còn rảnh rang lo đến nước Tống.”

“Ồ?” Trần Chấn mở to mắt. “Chuyện này có thật chăng?”

“Quả nhân chẳng lẽ lại nói chơi?” Huệ Văn Công mỉm cười. “Việt Vương Vô Cương không biết tự lượng sức mình, muốn học theo chí của Câu Tiễn ngày trước, hưng binh hai mươi vạn, tiến quân theo cả đường biển và đất liền, đợi đến tiết xuân ấm áp sang năm sẽ tiến lên phía bắc phạt Tề, mưu bá Trung Nguyên.”

Trần Chẩn cả mừng: “Đúng là trời đã giúp chúa thượng! Có người Việt giúp sức, vi thần đi chuyến này chắc chắn sẽ thành công!”

Huệ Văn Công đứng dậy, vòng tay vái Trần Chẩn một vái: “Doanh Tứ đã khiến ái khanh phải vất vả rồi! Cần bao nhiêu vàng bạc châu báu, ái khanh hãy cứ kê ra, chỉ cần nước Tần có, quả nhân đều sẽ chuẩn tấu. Nghe nói Chiêu Dương háo sắc, quả nhân sẽ giao cho khanh hai mươi mỹ nữ, ái khanh hãy đến nhạc phường, tuỳ ý lựa chọn.”

Trần Chẩn đứng dậy khấu lạy: “Chúa thượng hậu ái, vi thần có nhảy vào nước sôi lửa bỏng, cũng quyết không từ nan!”

Huệ Văn Công đưa tay đỡ dậy: “Trần ái khanh, đất Sở rộng lớn, đúng là nơi có thể thoả chí vẫy vùng. Ái khanh đi lần này, phải như cây đinh đóng chắc tại đó, nhất định phải khiến người Sở giúp đỡ chúng ta!”

“Trần Chẩn có chết cũng không phụ ơn chúa thượng!”

“Tốt lắm!” Huệ Văn Công lại vòng tay. “Đợi ngày Trần ái khanh thành công trở về, quả nhân nhất định sẽ báo đáp trọng hậu!” Nói rồi dắt tay Trần Chẩn, vừa cười vừa bước ra ngoài cửa, chỉ tay vào Y Na vẫn đang đứng hầu bên ngoài. “Không còn sớm nữa, trời lạnh thế này, để mỹ nhân đứng đợi trong gió rét, ái khanh đúng là phí hoài báu vật!”

Trần Chẩn hơi đỏ mặt: “Vi thần đa tạ chúa thượng ân sủng! Chúa thượng dừng bước, vi thần cáo lui!”

Mấy ngày sau, Trần Chẩn với thân phận sứ thần nước Tần, mang theo ba mươi cỗ xe, ba trăm giáp sĩ, rời khỏi thành Hàm Dương tiến thẳng tới đất Sở. Huệ Văn Công dùng xe của mình đích thân tiễn Trần Chẩn suốt mười dặm đường, đến lúc chia tay, lại rút từ trong tay áo ra một mảnh lụa đưa cho Trần Chẩn: “Ái khanh hãy mang theo vật này!”

Trần Chẩn nhận lấy xem, thấy bên trên có viết một dãy tên người, thì ngơ ngác ngẩng đầu nhìn Huệ Văn Công: “Chúa thượng…”

“Những người này đều ở đất Sở, hoặc giả sẽ hữu dụng với ái khanh.”

Trần Chẩn từ lâu đã nghe đến Hắc Điêu đài, biết là họ nên cũng không nói gì thêm, liền cất tấm lụa đi, quỳ sụp xuống đất, khóc mà nói: “Tạ ơn chúa thượng hậu ái, vi thần đi đây!”

Huệ Văn Công đỡ ông ta dậy, đích thân dắt lên xe, quân thần hai người từ biệt nhau trong nước mắt.

***

Trần Chẩn ra khỏi Vũ Quan, đi dọc theo sơn cốc Thương Ư, đến Niết Dương, sau đó vòng xuống phía nam đến Tương Dương, tiến thẳng tới Sính Đô. Vì đường núi khó đi, lại bị mưa tuyết cản đường, Trần Chẩn suốt dọc đường lúc đi lúc dừng, nếm trải đủ mùi cực khổ. May mà có Y Na theo hầu, lại có hai mươi mỹ nữ hầu hạ bên cạnh, Trần Chẩn trên đường cũng được tiêu dao, không đến nỗi cô đơn vô vị.

Ba tháng sau, Trần Chẩn đến được Sính Đô, dừng lại dịch quán nghỉ ngơi mấy ngày, rồi dâng biểu yết kiến Sở Vương, trình danh sách lễ vật, trần thuật lại thành ý làm hòa của Tần Công.

Sở Uy Vương dường như vẫn ghi hận chuyện ngày trước Công Tôn Ưởng chiếm Thương Ư, nhận lấy danh sách lễ vật, đọc lướt qua rồi ném lên mặt bàn, cất giọng lạnh nhạt: “Những thứ này, Trần thượng khanh hãy mang về đi! Nếu Tần Công có thành ý làm hoà, vậy hãy trả lại vùng sơn cốc Thương Ư cho quả nhân!”

Trần Chẩn khấu đầu: “Khởi bẩm bệ hạ, theo vi thần được biết, vùng đất Thương Ư là do trọng thần của tiền triều Công Tôn Ưởng chiếm đoạt, không phải là ý của Tần Công. Vì Công Tôn Ưởng cậy có công lớn, tiên quân Hiếu Công cũng không còn cách nào khác, đành phải nghe theo lời ông ta. Sau Hiếu Công băng hà, Tần Công ngũ xa phanh thây Công Tôn Ưởng, cũng coi như đã rửa hận cho người Sở. Cho dù như vậy, trước lúc lên đường, Tần Công vẫn dặn dò Trần Chẩn, phải một lần nữa tạ lỗi với bệ hạ về chuyện này. Còn về việc lúc nào đem đất Thương Ư trả về cho bệ hạ, Tần Công cho rằng, việc này liên quan đến tiên quân, muốn nhanh cũng không được. Chỉ cần Sở, Tần thành ý làm hoà, không có việc gì không thể giải quyết. Thành tâm của Tần Công, trời đất có thể chứng giám, chút lễ mọn này, vẫn mong bệ hạ vui vẻ tiếp nạp!”

Sở Vương chau mày suy nghĩ một lúc, rồi xua tay nói: “Ừm, lời của thượng khanh cũng có lý. Thành tâm của Tần Công, quả nhân tạm thời tiếp nhận!” Rồi hất hàm với nội thần. Nội thần bước tới, nhận lấy danh sách lễ vật, đứng sang một bên.

Trần Chẩn lại khấu lạy: “Trần Chẩn đa tạ bệ hạ đã bớt giận!”

Sở Vương quay sang nội thần: “Thưởng cho sứ thần nước Tần Trần Chẩn hai cặp ngọc bích, mười viên trân châu Nam Hải, hai mươi súc lụa!”

“Trần Chẩn đa ta bệ hạ ban thưởng!”

Trên con phố chính tại Sính Đô, trong phủ tả tư mã, Chiêu Dương đang luyện kiếm ở hậu hoa viên, thì quản gia Hình Tài vội vã chạy vào, thấy Chiêu Dương đang say sưa múa kiếm, liền khom lưng đứng tránh sang một bên.

Chiêu Dương múa xong bài kiếm liền thu thế, đưa mắt nhìn ông ta: “Có chuyện gì ư?”

Hình Tài vòng tay nói: “Bẩm chúa công, sứ giả nước Tần Trần Chẩn cầu kiến!”

Chiêu Dương tra kiếm vào bao, cười ha hả mà nói: “Người này đến Sính đã mấy ngày, đáng ra phải đến gặp ta từ lâu rồi mới đúng! Ngươi ra bảo ông ta đợi thêm một lát, nói bản công lập tức đến ngay!”

Chiêu Dương trở về phòng thay trang phục, rồi đi ra phòng khách. Hai người hành lễ xong xuôi, chia ngôi chủ khách ngồi xuống.

Chiêu Dương vòng tay nói: “Lần trước nghe nói thượng khanh bị Bàng Quyên ám hại, hàm oan mà rời nước Ngụy, tại hạ rất đỗi đau lòng. Sau lại nghe tin thượng khanh được Tần Công trọng dụng, vẫn được phong làm thượng khanh, tại hạ mới thở phào nhẹ nhõm, đang nghĩ không biết phải đi chúc mừng thượng khanh bằng cách nào, thì thượng khanh đã đến! Lần này thì tốt rồi, hôm nay tại hạ đang rảnh rỗi, sẽ cùng thượng khanh đối ẩm một chốc, một là giúp thượng khanh trấn an, hai là để tẩy trần cho thượng khanh, ba là chúng ta cũng đã nhiều năm không gặp, phải hàn huyên cho thoả mới được!”

Trần Chẩn vòng tay đáp lễ: “Chẩn đa tạ trụ quốc đại nhân đã tưởng nhớ!” Rồi bưng tách trà đặt trên bàn lên, nhấp khẽ một ngụm, lắc đầu than thở. “Than ôi, không giấu gì trụ quốc đại nhân, tại hạ đã được Ngụy Vương ân sủng nhiều năm, vốn vẫn muốn dốc lòng phò tá Ngụy, không ngờ lại bị gian tặc Bàng Quyên hãm hại, nên đành phải bỏ đi. May sao Tần Công không chê, nên tại hạ mới có được chỗ đứng như ngày hôm nay.”

Chiêu Dương nói tiếp: “Thượng khanh là đại tài, suốt đời phò tá Ngụy Anh cũng thật uổng phí. Nghe nói thượng khanh bỏ đi, tại hạ nghĩ nếu gặp được thượng khanh, nhất định sẽ tiến cử lên bệ hạ. Với tài của thượng khanh, chắc chắn sẽ được trọng dụng.”

Trần Chẩn lại vòng tay: “Được trụ quốc đại nhân yêu quý nhường vậy, tại hạ vô cùng cảm kích!” Rồi quay ra ngoài vỗ tay, một lát sau, mấy nô bộc khiêng hai chiếc hòm lớn đi vào. Trần Chẩn rút từ trong tay áo ra một tờ danh sách lễ vật, hai tay trình lên Chiêu Dương. “Trụ quốc đại nhân hậu ái, Trần Chẩn không có gì để báo đáp, chút lễ mọn này, mong đại nhân hãy nhận giúp cho!”

Chiêu Dương nhận lấy danh sách, liếc mắt đọc qua một lượt, rồi đưa cho Hình Tài.

Hình Tài mặt mũi hớn hở, mở hòm kiểm tra, đọc lớn: “Vàng năm trăm lượng, ngọc bích hai cặp, chén dạ quang bốn chiếc, lụa hai mươi súc, Tần nữ năm người…”

Hình Tài đọc xong, Trần Chẩn lại vỗ tay, từ ngoài sảnh quả nhiên có năm thiếu nữ lần lượt tiến vào, ai nấy mặt hoa da phấn, mơn mởn tựa hoa đào, khiến Chiêu Dương nhìn không rời mắt.

“Trụ quốc đại nhân!” Trần Chẩn chỉ vào năm thiếu nữ, chậm rãi nói. “Đất Sở mặc dù mỹ nữ vô số, song gái Tần lại không nhiều. Năm cô gái này là do Trần Chẩn đích thân xuống dân gian lựa chọn, lại được huấn luyện qua nhạc phường, thảy đều biết chữ hiểu lý, hát hay múa giỏi, ngoài ra còn có phong vị mới lạ của ngoại bang, hoặc giả có thể giúp đại nhân giải sầu!”

Chiêu Dương lúc này mới sực tỉnh, vội vàng rời mắt khỏi mỹ nữ, vòng tay nói: “Thượng khanh tặng lễ vật hậu trọng như vậy, bảo Chiêu Dương phải báo đáp sao đây?”

Trần Chẩn ra hiệu, các mỹ nữ liền lui ra, Hình Tài cũng cho người khiêng lễ vật đi.

Trần Chẩn lời đầy ẩn ý: “Trước lòng hậu ái của trụ quốc đại nhân, đây chẳng qua chỉ là chút lễ mọn mà thôi!”

“Ồ?” Chiêu Dương nghiêng người về phía trước. “Lẽ nào thượng khanh còn có lễ vật lớn?”

Trần Chẩn mỉm cười: “Trụ quốc đại nhân, trong phủ của đại nhân vàng bạc đầy ắp, mỹ nữ đầy phòng, đâu có thiếu những thứ này?”

Chiêu Dương hơi ngẩn người, nhưng lập tức cười vang mà nói: “Thượng khanh nói cũng đúng!” Rồi khẽ đảo mắt. “Thế nhưng, việc nào ra việc ấy, thứ mà thượng khanh tặng, cho dù chỉ là một sợi tóc, tại hạ cũng vô cùng trân trọng, quý như châu báu!”

Trần Chẩn vòng tay nói: “Tại hạ đa tạ trụ quốc đại nhân yêu quý! Không giấu đại nhân, lần này tại hạ đến là còn có một bảo bối lớn khác, không biết trụ quốc đại nhân có hứng thú chăng?”

Chiêu Dương cảm thấy tò mò, vội hỏi: “Là bảo bối gì, thượng khanh mau nói!”

“Chức lệnh doãn!”

“Chức lệnh doãn?” Chiêu Dương mở to mắt, rõ ràng là không hiểu. “Xin thượng khanh hãy nói rõ!”

“Lệnh doãn nước Sở là Cảnh Xá tuổi tác đã cao, từ lâu đã không thể kham nổi trọng trách. Tại hạ xin hỏi đại nhân, hiện tại có thể thế chỗ Cảnh Xá, là những người nào?”

“Ờ…” Chiêu Dương ngẩn người. “Tại hạ không biết!”

Trần Chẩn khẽ mỉm cười: “Đại nhân trong lòng biết rõ, có điều không muốn nói ra mà thôi. Đại nhân đã không muốn nói, vậy hãy để tại hạ nói hộ. Nếu không nằm ngoài dự đoán của Trần Chẩn, người thay Cảnh Xá chắc chắn sẽ là hai vị trụ quốc đại nhân!”

“Ồ!” Chiêu Dương nín thở, chúi người về phía trước. “Sao thượng khanh lại nói vậy?”

Trần Chẩn lại cười, rồi thong thả nói: “Đây là chuyện sáng tỏ như ban ngày. Ba mươi năm nay, nơi nước Sở muốn tranh giành, chẳng qua chỉ có hai, một là tây bắc, hai là lưu vực sông Tứ. Sở Vương phái họ Khuất trấn thủ phía tây bắc, đề phòng người Tần; để đại nhân trấn thủ phía đông bắc, để tranh lưu vực sông Tứ. Đất Sở rộng năm ngàn dặm, có ba mươi vạn hùng binh, hai vị trụ quốc đại nhân mỗi người nắm giữ mười vạn. Đại nhân thử nghĩ xem, bệ hạ đã tin tưởng giao trọng trách cho hai vị, lẽ nào chức lệnh doãn còn có thể rơi vào tay kẻ khác?”

Phân tích của Trần Chẩn khiến Chiêu Dương không thể không phục, đồng thời, dã tâm tiềm tàng cũng đã bị Trần Chẩn khơi dậy: “Theo ý của thượng khanh, tại hạ và họ Khuất, người nào chiếm thế thượng phong?”

Trần Chẩn đáp: “Nhìn theo tình thế hiện giờ, hai vị đại nhân có thể nói là kẻ tám lạng người nửa cân. Cùng là tư mã đại nhân, mặc dù có chia thành tả hữu, nhưng cả hai cùng quan trọng như nhau, công lao cũng tương đương. Mấy năm trước đại nhân phạt Tống, Điền Kỵ dẫn binh tiếp cứu, đại nhân thất thế ở Tuy Dương, thiệt hại ba vạn binh, coi như đại nhân thua một. Họ Khuất đang lúc đắc ý, lại bị Thương Ưởng cắn cho một miếng, mất luôn sáu trăm dặm Thương Ư, hai người coi như đã hoà.”

Chiêu Dương liên tiếp gật gù, hết lời thán phục: “Đã ngang bằng rồi, vậy chức lệnh doãn…”

“Phải xem hai vị đại nhân ai có thể lập được công lớn.”

Chiêu Dương đứng dậy, vòng tay nói: “Nơi nào có thể lập đại công, tại hạ ngu muội, mong thượng khanh chỉ dẫn.”

Trần Chẩn ung dung bật ra hai chữ: “Lấy Tống!”

“Lấy Tống?” Chiêu Dương kinh ngạc. “Lấy thế nào?”

Trần Chẩn ghé sát vào tai Chiêu Dương, nói nhỏ mấy câu, Chiêu Dương liên tiếp gật đầu, mặt cười rạng rỡ.

Mấy ngày sau, Chiêu Dương yết kiến Sở Uy Vương, bẩm tấu: “Khởi tấu bệ hạ, Tống Yển kết bè đảng nổi loạn, phế huynh trưởng soán vị, đã là đại nghịch. Mấy tháng trước, người này mượn dịp Tề, Ngụy hội vương ở Từ Châu, không những đã tự phong mình làm vương, trong đại lễ xưng vương còn xúc phạm trời đất, dâm loạn hậu cung, chư thần khuyên can đều bị bắn chết, khiến người thần đều căm giận, bị thiên hạ gọi là ‘Kiệt Tống’!”

“Ừm!” Sở Uy Vương gật đầu nói. “Việc này đã đồn khắp thiên hạ. Hôm nay ái khanh nhắc đến, là có ý gì?”

“Khởi bẩm bệ hạ!” Chiêu Dương nói. “Tống là vùng đất màu mỡ, nếu ta không lấy, Tề ắt sẽ lấy; nếu Tề không lấy, Ngụy ắt sẽ lấy. Vi thần cho rằng, bệ hạ hãy nhân lúc Tống Công Yển phạm tội bất kính trời đất, tiếp tục hưng binh chinh phạt!”

“Việc này…” Sở Uy Vương trầm tư hồi lâu, dường như nhớ lại lần phạt Tống mấy năm trước, đã bị liên quân Tống, Tề đánh cho đại bại. “Nếu như người Tề lại dẫn binh cứu trợ, ta phải làm sao?”

Chiêu Dương hạ giọng nói: “Bệ hạ chớ lo! Người Tề mới đại bại trong tay người Ngụy, quốc lực tổn hao nghiêm trọng, không dám khinh suất giao chiến. Tướng Tề Điền Kỵ bị Ngụy làm nhục, sau khi về Tề đã từ quan ở ẩn. Tề không có Điền Kỵ, dù có xuất binh cũng không đáng sợ!”

Sở Uy Vương nhắm mắt suy nghĩ.

“Bệ hạ!” Chiêu Dương vội bước lên một bước, giọng càng hạ thấp. “Vi thần còn nhận được tin báo, Việt Vương Vô Cương đã tập hợp hai mươi mốt vạn đại quân, hành quân đồng thời trên biển và đất liền, bắt đầu tiến về Lang Nha, xem ra hắn muốn đánh Tề. Người Tề lo cho mình còn chưa xong, Tề Vương đã chiêu mộ mười vạn đại quân, phòng thủ nghiêm ngặt ở tuyến nam trường thành, làm sao có thể cứu được Tống?”

“Ồ?” Sở Uy Vương nghe vậy, lập tức phấn chấn tinh thần. “Tin này có thực chăng?”

“Ngàn lần chính xác!”

Uy Vương khẽ gật đầu: “Ừm, nói như vậy, đúng là thời cơ tốt trời ban!” Lời vừa dứt, lại chau tít đôi mày. “Tuy nhiên, dù Tề không đáng lo, nhưng Ngụy lại là phiền phức. Từ lâu Ngụy Anh đã muốn có được Tống, chỉ là còn e ngại quả nhân và Điền Nhân Tề nên chưa dám ra tay. Nếu ta phạt Tống, Tống Yển không được Tề cứu, nhất định sẽ quay sang cầu cứu Ngụy. Ngụy Anh xuất binh danh chính ngôn thuận, đâu chịu bỏ qua cơ hội tốt nhường này? Ngụy có được Bàng Quyên, chuyển bại thành thắng, sĩ khí đang hăng, ái khanh sẽ đối phó bằng cách nào?”

“Bệ hạ chớ lo!” Chiêu Dương tấu. “Nước lớn dụng binh, quan trọng nhất chính là tiền của lương thảo. Theo vi thần được biết, nước Ngụy mặc dù có Bàng Quyên, nhưng quốc khố trống rỗng, dân chúng biên cương lũ lượt bỏ đi đến năm mươi vạn người, lòng dân không vững, giống như người bị trọng thương, trong vòng hai ba năm, làm sao có thể hồi phục? Lại nhìn Đại Sở ta, mấy năm nay không có đại chiến, quốc khố đầy ắp, binh lính tinh nhuệ, lương thực đầy đủ, đừng nói là nước Ngụy không dám xuất binh, cho dù có xuất binh, ta cũng đâu có sợ?”

Sở Uy Vương gật gù: “Ái khanh nói rất có lý!” Dừng một lát, lại hỏi. “Thử nói xem, khanh định đánh Tống thế nào?”

“Bệ hạ!” Chiêu Dương đáp. “Trong tay vi thần có mười vạn đại quân, vi thần sẽ đích thân dẫn sáu vạn quân xa kỵ phạt Tống, Cảnh tướng quân dẫn bốn vạn quân tới Hình Sơn. Hình Sơn cách Đại Lương nước Ngụy chưa đến ba trăm dặm, nếu người Ngụy dám xuất binh, Cảnh tướng quân sẽ đánh thẳng tới Đại Lương, khiến chúng trở tay không kịp!”

Sở Uy Vương lại nhắm mắt trầm tư hồi lâu mới mở mắt ra: “Người đâu!”

Nội thần vội chạy tới: “Có vi thần!”

“Triệu thái tử, lệnh doãn, tả đồ và các vị chấp khuê, trụ quốc đại nhân vào cung nghị sự!”

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử