Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 95 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 60
Hương Nữ quên mình, cứu phu quân
Trương Nghi trả ấn, theo nương tử

❊ ❊ ❊

Bồi Loan và Trúc Diệp ẩn náu trong cung Thục được mươi ngày, Trương Nghi bất ngờ xuất hiện.

Tất cả đều không nằm ngoài dự đoán của công chúa Bồi Loan, Trương Nghi tới để ngả bài với Thục Vương. Tần Vương là vua, Thục đã là nước phụ thuộc của Tần mà Thục Vương cũng là vua, hiển nhiên không hợp với ý Tần Vương. Nhưng nói đi cũng phải nói lại, từ lúc người Tần tới Thục, Thông Quốc nhất nhất nghe lời, vương vị của Thông Quốc cũng là do Trương Nghi phụng chỉ lập ra, nay đất Thục vừa định, đã vội phế bỏ vương vị, về tình hay về lý, e là Trương Nghi đều khó mà ăn nói.

Tuy nhiên, chính sự không được phép ngần ngừ, đặc biệt là trị Thục. Trương Nghi quyết định phải tạo thế trước, sau đó “khẽ điểm là dừng”, để Thông Quốc ngộ ra, mà tự động hạ mình.

Để tạo thế được tốt, Trương Nghi gần như không cho Thông Quốc thời gian chuẩn bị, chỉ khi sắp tới vương cung, mới sai tướng quân tiên phong đô úy Mặc vào cung “bẩm báo”. Cùng lúc này, vài chục giáp sĩ tuỳ tùng của đô úy Mặc tăm tắp tiến vào cổng chính của vương cung, sục sạo khắp lượt trong ngoài chính điện cung Thục, sau đó rút lui ra ngoài cửa điện, cứ năm bước một người, xếp thành một hàng dài dằng dặc thương kích sáng loà, một trường sát khí ập tới thình lình khiến đám cung nhân không dám nhúc nhích, không dám thở mạnh, nơm nớp run rẩy chen nhau trong gian thiên điện bên cạnh.

Sau khi biết chuyện của Ba Quốc từ miệng Bồi Loan, Thông Quốc ăn không ngon, ngủ không yên, bên cạnh lại không có cao nhân giúp vạch mưu tính kế, bản thân cũng chẳng có chủ kiến gì, lúc này Trương Nghi lại thình lình tìm tới, bày ra trận thế kinh động nhường này, trong lúc cấp bách, lại càng thêm hoảng loạn, tóc chẳng kịp chải, ngọc chẳng kịp đeo, cuống quýt ra ngoài cửa nghênh đón, vội đến nỗi vương miện rơi xuống cũng chẳng kịp nhìn, may nhờ Bàn nội tể nhanh tay nhanh mắt, nhặt lấy vương miện, trang sức cầm trong tay, hổn hển đuổi tới tận cửa cung, rồi xoè ngón tay giúp đại vương chải tóc, đeo ngọc đội mũ ngay dưới rừng kiếm kích của người Tần.

Vua tôi hai người vừa chỉnh đốn xong xuôi, từ phía xa đã vọng lại những tiếng huyên náo còn lớn hơn nữa.

Không cần hỏi cũng biết, là Trương Nghi giá lâm.

Thông Quốc ổn định hơi thở, vươn thẳng thân người, được Bàn nội tể đỡ ra khỏi cửa cung, bước xuống bậc thềm, khom lưng vái dài về phía cỗ xe ngựa của Trương Nghi đang lừ lừ tiến lại.

Trước có đoàn nghi trượng mở đường, sau có đội hộ vệ yểm trợ, cỗ xe tứ mã đặc chế của vợ chồng Trương Nghi cứ thế thẳng tiến vào cửa cung.

Khi còn cách chừng ba chục bước chân, Trương Nghi hô dừng xe, tung người nhảy xuống, tự tay kê ghế, đỡ Hương Nữ lúc này đã thay xiêm y đỏ rực xuống xe, phu thê hai người rảo bước tới trước mặt Thục Vương, phủ phục dưới đất khấu đầu hô: “Bề tôi nhà Tần Trương Nghi và phu nhân bái kiến Thục Vương!”

Thông Quốc lúc này cũng đã định thần, vội tiến lại gần, đỡ Trương Nghi dậy mà nói: “Tướng quốc mau bình thân! Đại lễ của tướng quốc, bảo Thông Quốc sao dám nhận!” Thấy Hương Nữ cũng đồng thời đứng dậy, bèn quay sang vái một vái dài. “Thông Quốc xin chào tướng quốc phu nhân!”

Hương Nữ vòng tay đáp lễ, nở một nụ cười.

“Đại vương, nơi này gió lạnh, kính mời vào cung bàn chuyện!” Trương Nghi đổi khách thành chủ.

“Tướng quốc, mời!” Thông Quốc né sang một bên, rất mực cung kính đưa tay mời.

Trương Nghi cười ha hả, bước lại nắm lấy tay Thông Quốc, cùng hắn sánh bước tiến lên bậc thềm, bước vào cửa cung, Hương Nữ lại mỉm cười với Bàn nội tể, cùng ông ta đi theo phía sau. Đô úy Mặc sắc diện nghiêm trang, tay nắm đốc kiếm, đi sau cùng.

Lúc chạy ra, vì vội vàng quýnh quáng, không kịp cả sợ hãi, giờ quay trở vào, đi ngay bên cạnh là tướng quốc Đại Tần nụ cười giấu dao, phía sau là đô úy Mặc giết người không chớp mắt, hai bên tua tủa thương đao kiếm kích hàn khí rợn người, Thông Quốc bất giác trán vã mồ hôi, hai chân lập bập, bước đi cũng trở nên cứng nhắc, cứ như phải lê từng bước một.

Trương Nghi thấy vậy, cảm thấy tạo thế cũng đã đủ, khi sắp bước lên bậc tam cấp của chính điện thì dừng bước, buông tay Thông Quốc ra, quay lại phía đô úy Mặc, cất giọng đầy ẩn ý: “Mặc tướng quân, Thục Vương đã do Tần Vương sách phong, đất Thục cũng chính là đất Tần, cung Thục cũng chính là cung Tần, Thục Vương và ta là người một nhà, hẳn cũng không nên huy động binh lính rầm rộ đến thế!”

“Mạt tướng tuân lệnh!” Đô úy Mặc đáp lời, phẩy tay về phía đám giáp sĩ. Nháy mắt, toàn bộ lính Tần đã răm rắp lui cả ra ngoài cửa cung.

Nhìn toà cung điện rộng lớn mênh mông thoáng chốc đã trống trơn, Trương Nghi quay sang Thông Quốc bật cười lên vài tiếng, vòng tay nói: “Xuất chinh tại ngoại, tại hạ là chủ tướng ba quân, Mặc tướng quân cũng là làm theo quân luật của Tần, đại vương xin chớ để bụng!”

“Thông Quốc nào dám!” Thông Quốc cũng vội vàng đáp một lễ, lại chìa tay ra. “Tướng quốc đại nhân, mời!”

Hai người bước vào chính điện, phân ngôi chủ khách ngồi xuống.

Bàn nội tể đứng sau lưng Thông Quốc, Hương Nữ ngồi phía dưới Trương Nghi.

Nhìn vào sắc mặt chưa hết kinh hãi của Thông Quốc, Trương Nghi chỉ vào mặt bàn phía trước, nửa như nói đùa, nửa muốn làm dịu bầu không khí căng thẳng: “Mặt bàn trống trơn thế này, đại vương hẳn là không tiếp đãi khách như thế chứ?”

“Dâng… dâng trà!” Thông Quốc bèn ấp úng.

Sự việc xảy ra quá đường đột, lại thêm lính Tần vừa xua hết người đi, nên trong điện lúc này không còn lấy một cung nhân. Bàn nội tể muốn chạy đi gọi người, lại sợ không ổn, muốn đích thân pha trà, song đồ trà để ở đâu cũng không rõ, chỉ biết dáo dác nhìn quanh.

Trương Nghi thấy ông ta lúng túng, thì cười cười, hất hàm ra phía ngoài. Bàn nội tể hiểu ý, hớt hải đi ra, đang ngó quanh tìm người, chợt thấy trong hành lang, Bồi Loan và Trúc Diệp lách người ra, một người bưng bộ đồ trà, trên khay còn đựng sẵn các loại điểm tâm, một người xách chậu than và ấm nước, rõ ràng đang chờ sẵn, than đã cháy đỏ rực.

Bàn nội tể nhận ra ý tứ, liền hạ thấp giọng, cuống quýt: “Công chúa…” Lại nhìn quanh, không thấy có người Tần, mới thở hắt ra một hơi, kéo hai người ra chỗ khuất.

Bồi Loan không giằng được tay ra, bèn cúi gập người hành lễ, nói: “Lão công công, nghe nói có khách quý tới thăm, hãy để hai chúng ta hầu trà nước!”

“Công chúa!” Bàn nội tể xua tay rối rít. “Tuyệt đối không thể được, hai người hãy mau tránh đi, để lão nô sai người khác!”

“Công công!” Bồi Loan giọng nói nhu hoà mà trong mắt toé lửa. “Đám cung nhân kia chẳng có mấy kẻ lịch duyệt, đều bị người Tần dọa cho vỡ mật cả rồi, còn hầu hạ khách quý thế nào được? Hơn nữa, ta và chị dâu vốn là người hiểu trà, cũng thông thạo lễ nghi cung đình, chúng ta đường đường là Đại Thục, không thể vì một chén trà mà để khách quý coi thường, phải không?”

“Công chúa…” Ánh mắt Bàn nội tể dừng lại trên thắt lưng Bồi Loan.

“Công công!” Bồi Loan đoán rằng ông ta đã phát giác ra, thì nước mắt ròng ròng, quỳ phịch xuống đất. “Bồi Loan… thay mặt phụ vương, đại ca, và vô số người Ba, người Thục, cầu xin công công…”

“Than ôi!” Bàn nội tể thở dài một tiếng, nhắm nghiền mắt lại, khoé mắt ứa lệ. “Không được đâu, công chúa, sự việc đã đến nước này, dù hai người có giết chết Trương tướng quốc, thì cũng…” Nói rồi lắc đầu quầy quậy.

“Công công, chúng ta không muốn giết hắn!” Trúc Diệp vội vàng giải thích.

“Ồ?” Bàn nội tể kinh ngạc, nhìn trân trân vào hai người, ánh mắt đầy vẻ nghi hoặc. “Hai người không muốn giết hắn, vậy muốn làm gì?”

Giọng Bồi Loan chắc nịch: “Bắt lấy tên súc sinh không giữ chữ tín kia, đánh đổi lấy phụ vương, đại ca và các Ba tử đang bị hắn giam giữ.”

Bàn nội tể chau mày suy nghĩ, hồi lâu sau, mới gạt lệ, quay ngoắt tấm thân mập mạp, bước thẳng về phía trước, Bồi Loan cũng vội lau nước mắt, ra hiệu cho Trúc Diệp bám sát theo sau.

Hai người theo Bàn nội tể thong thả tiến vào, đặt bộ đồ trà lên mặt bàn trống không bên cạnh, quỳ xuống thi lễ, rồi bắt đầu bận bịu phục vụ trà nước.

Thấy là Bồi Loan, Trúc Diệp, Thông Quốc giật mình kinh hãi, sắc mặt trắng bệch, quay sang Bàn nội tể nói không thành tiếng: “Ngươi… Sao lại là hai người họ? Mau bảo họ ra ngay!”

“Đại vương!” Bàn nội tể điềm tĩnh giải thích. “Vừa nãy thấy lính Tần đông quá, các cung nữ sợ hãi bỏ chạy cả rồi, chỉ còn lại hai người họ, nên lão nô mới…”

Bồi Loan đang rót trà lập tức ra vẻ hờn tủi, nước mắt tràn mi, bèn nâng vạt áo lên lau.

“Ha ha ha!” Trương Nghi không rõ nội tình, bật cười sảng khoái pha trò. “Đất Thục xuất mỹ nhân, hai vị cung nữ đây quả là mỹ nữ, không phải là Thục Vương thương tiếc mà không đành lòng đấy chứ?”

“Thông Quốc không dám!” Thấy không tiện nói gì thêm, Thông Quốc chỉ đành câm bặt, quay sang Bồi Loan giục. “Đừng khóc nữa, mau dâng trà cho khách quý!” Dừng lại một lúc, giọng đầy ẩn ý. “Hai người hết sức cẩn thận cho, làm bỏng khách quý, sẽ không gánh nổi tội đâu!”

“Ha ha, hai vị mỹ nhân, đừng sợ, đã có trà ngon, cứ rót ra đây!” Trương Nghi cười cười vén ống tay áo lên, làm ra vẻ sẵn sàng chịu bỏng.

Bồi Loan thôi khóc, liếc nhìn Trương Nghi nở một nụ cười tươi, thấy Trúc Diệp đã nhấc ấm nước lại, bèn cao giọng hô: “A tỷ, pha trà!”

Rồi chị dâu em chồng chậm rãi đứng dậy, vừa rót trà, vừa đi vòng quanh bàn, ngâm nga hát đối, tay múa chân giậm, lúc cúi lúc ngửa, lúc chậm lúc nhanh, tráng rửa đun pha, khiến toàn bộ lò bát chén bình khua lên rổn rảng, trình tự pha trà ngỡ là rất đỗi bình thường bỗng chốc biến thành một màn biểu diễn trà nghệ thi vị tuyệt vời. Bồi Loan, Trúc Diệp vốn là đại mỹ nữ đất Ba, lại thêm đã nhiều ngày trời rèn luyện, thi triển đủ nghề quyến rũ, nhảy múa điệu vũ dâng trà đất Ba Sơn, đừng nói là Trương Nghi, Hương Nữ, dù là Thông Quốc đã quá quen với hai người, cũng phải ngẩn ngơ.

Trong lúc mọi người đang xem đến say mê, mắt nhìn không chán, thì trà đã qua hai tuần, tuần thứ ba thơm ngon nhất cũng đã pha xong, vừa châm ra chén. Vẫn trong điệu múa lời ca tuyệt mỹ, Bồi Loan, Trúc Diệp mỗi người bưng một chén ngọc, lần lượt dâng tới trước bàn Trương Nghi, Hương Nữ, đặt khẽ lên mặt bàn, nở một nụ cười yêu kiều, rồi lại uốn lượn thân mình, tiếp tục nhảy múa.

Trương Nghi mê đắm trước vẻ phong tình xứ lạ, hai tay đưa về phía chén trà, hai mắt vẫn dán chặt vào hai mỹ nữ.

Nhìn thấy Trương Nghi đã bưng lấy chén trà, đưa lên trước miệng, Hương Nữ đột ngột kêu lên: “Khoan!”

Giọng Hương Nữ gấp gáp quyết liệt, như thể quát lên. Hai mỹ nữ giật nảy mình kinh hãi trước tiếng quát này, đưa mắt nhìn nhau, bỗng chốc khựng cả lại.

Trương Nghi sửng sốt, buông chén trà xuống, hồ nghi nhìn sang Hương Nữ.

Hương Nữ liếc nhìn chén trà trước mặt, lại liếc sang hai mỹ nữ, đưa tay bưng lấy chén trà, khẽ hít một hơi, rồi đưa mắt nhìn Bàn nội tể: “Mời uống chén này!”

Bàn nội tể thoáng do dự, rồi khẽ mỉm cười, đưa tay đỡ lấy, không cả chớp mắt, uống một hơi cạn sạch.

Đúng vào lúc này, Bồi Loan đưa mắt ra hiệu cho Trúc Diệp. Trúc Diệp phất tay áo dài, xoay vụt người lại, hét lên một tiếng: “Trúng!”

Một món ám khí bắn vọt ra, nhằm vào Hương Nữ. Cùng lúc đó, Bồi Loan nhảy bật qua bàn, lao về phía Trương Nghi.

Sự biến chỉ trong chớp mắt. Hương Nữ do có đề phòng từ trước nên nhìn thấy rõ ràng, lập tức lách người né ám khí, mượn đà bật mình nhảy vọt lên, thuận tay rút kiếm Tây Thi, người còn lơ lửng trên không đã chém vào Trúc Diệp. Trúc Diệp hoàn toàn không ngờ Hương Nữ lại có được thân thủ nhường này, không kịp né tránh, chỉ kịp giơ tay lên đỡ theo phản xạ, cổ tay lập tức đứt lìa. Tay còn lại tiếp tục thi triển ám khí, nhưng còn chưa kịp phóng ra, đã bị Hương Nữ một kiếm đâm xuyên ngực trái, kết liễu tính mạng.

Đợi Hương Nữ rảnh tay để cứu Trương Nghi thì đã muộn rồi, Trương Nghi còn chưa kịp phản ứng đã bị Bồi Loan từ phía sau chụp lấy búi tóc, giật ngửa đầu ra phía sau, lưỡi đao sắc lẹm kề ngay trước cần cổ đang phơi ra hết cỡ.

Hương Nữ dừng bước, hai mắt nhìn xoáy vào Bồi Loan.

“Bỏ kiếm xuống, trên đao có độc, dính máu chết liền!” Giọng Bồi Loan rất đỗi bình thản.

Hương Nữ hít ngược vào một hơi, nhìn kỹ lưỡi đao, lát sau, vứt bỏ thanh kiếm Tây Thi, đứng nguyên tại chỗ.

Cần cổ Trương Nghi bị Bồi Loan chặn cứng, đến thở còn khó khăn, nói gì tới lên tiếng, chỉ biết ngửa cổ ngồi yên, phó mặc cho người sắp đặt.

Bồi Loan quét mắt một vòng, thấy Trúc Diệp chỉ còn là cái xác sõng soài, lão nội tể đã trúng thuốc ngã gục vào người Thông Quốc, còn Thông Quốc thì ngây thộn vì kinh hãi, toàn thân cứng đờ, mắt cũng ngây dại, để mặc cho cơ thể to béo của Bàn nội tể đè lên chân mình. Chỉ thấy Hương Nữ mắt hạnh trợn trừng, nhìn chằm chằm vào Bồi Loan không chớp, thân thủ sẵn sàng ứng chiến.

“Lùi lại một bước!” Bồi Loan đanh giọng ra lệnh.

Hương Nữ vẫn đứng im bất động. Dưới chân nàng là kiếm Tây Thi, lùi lại coi như tay không tấc sắt.

“Ta đếm đến ba…” Bồi Loan ấn mạnh lên cần cổ Trương Nghi, bắt đầu đếm. “Một, hai…”

Trương Nghi bị ép tới nghẹt thở, mặt đỏ phừng phừng.

Khi Bồi Loan sắp đếm đến ba, Hương Nữ bèn lùi lại phía sau một bước.

“Lùi thêm ba bước nữa!”

Hương Nữ lại lùi ba bước, phía sau đã là bậc tam cấp của đại điện.

Bồi Loan lúc này mới buông lỏng cần cổ Trương Nghi, song mũi đao vẫn không rời khỏi yết hầu.

Trương Nghi hít liền vài hơi thật sâu, gắng sức trấn tĩnh, khẽ giọng hỏi: “Dám hỏi nữ hiệp, tại hạ có thể nói được chăng?”

“Chẳng phải ngươi đã nói rồi ư?” Bồi Loan lạnh lùng đáp lời.

“Muốn nói thêm một câu nữa!”

“Nói đi!”

“Tại hạ vẫn còn sống, cho thấy nữ hiệp không muốn lấy mạng tại hạ. Nữ hiệp đã không có ý giết tại hạ, mà cứ khư khư thít cổ tại hạ đến thế, chẳng phải mệt sức lắm ư? Tại hạ có chiếc đai lưng, nút cởi ở phía sau, nữ hiệp sao không tháo nó ra mà trói quặt tay tại hạ lại?”

Bồi Loan thoáng ngạc nhiên, nhưng thấy Trương Nghi nói cũng có lý, bèn đưa tay cởi đai lưng của hắn. Trương Nghi chủ động đưa tay ra đằng sau, bắt chéo lại, mặc cho nàng trói nghiến lại.

“Đại vương, phu nhân!” Thấy nàng ta đã trói rất chắc, Trương Nghi mới quay sang Thông Quốc và Hương Nữ, nói. “Oan có đầu, nợ có chủ, nữ hiệp chỉ nhằm vào tại hạ, không liên quan gì tới hai người, mau ra ngoài đi.”

Thông Quốc cũng đã định thần lại, vội vã đẩy nội tể ra, nhấp nhổm đến mấy lần mới đứng dậy nổi, mặt mũi méo xệch méo xẹo, nhìn bộ dạng ấy thì biết, chân cẳng hắn đã bị thân hình phì nộn của Bàn nội tể đè đến tê dại.

“A ca, không được đi!” Bồi Loan như ra lệnh.

Vừa nghe thấy hai tiếng “a ca”, sắc mặt Thông Quốc lập tức tái nhợt, song lại không dám không nghe, đành ngồi xuống chỗ cũ.

Hương Nữ lại lùi thêm một bước, chân trái đã giẫm lên bậu cửa.

Bồi Loan nhận thấy Hương Nữ đang muốn giậm vào bậu cửa để mượn đà tung người nhảy lên, thì cười nhạt một tiếng: “Trương phu nhân, phu nhân cũng muốn ở lại chỗ này sao?”

Hương Nữ nhìn sang Trương Nghi.

Nghe thấy Bồi Loan gọi Thông Quốc là “a ca”, Trương Nghi lập tức hiểu ra, khép mắt một lát, rồi nói với Hương Nữ: “Phu nhân, hãy nghe lời nữ hiệp, ra ngoài đi, ở đây không có việc của nàng.”

Hương Nữ lùi ra khỏi bậu cửa, song chưa vội đi ngay, cứ đứng trơ trơ bên ngoài bậu cửa, hai mắt khép hờ, ánh nhìn không rời khỏi Bồi Loan dù chốc lát.

Bồi Loan liếc nhìn nàng, thấy đã ở ngoài phạm vi nguy hiểm, thì không để ý tới nữa, tiến lên vài bước, cúi xuống nhặt lấy thanh bảo kiếm của Hương Nữ, vuốt thử mũi kiếm, buột miệng khen ngợi: “Kiếm tốt!”

“Nữ hiệp quả là tinh tường.” Trương Nghi buông lời khen ngợi. “Đây là kiếm Tây Thi, vốn do Ngô Vương Phù Sai tặng cho mỹ hậu Tây Thi, sau này Việt Vương Vô Cương có được, đã ban tặng cho phu nhân tại hạ!”

Bồi Loan chẳng buồn đáp lời, cầm kiếm bước tới bên Trúc Diệp, từ từ quỳ xuống, vuốt khẽ hai mắt vẫn đang mở trừng trừng của nàng, miệng thì thầm: “A tẩu, chị cả đời mê võ, chết dưới lưỡi kiếm này cũng đáng!”

“Than ôi!” Trương Nghi thở dài một tiếng.

“Ngươi than thở cái gì?” Bồi Loan đặt thanh kiếm Tây Thi vào trong lòng Trúc Diệp, chầm chậm đứng dậy, quay trở lại bên Trương Nghi, bình thản hỏi.

“Than thở cho vị a tẩu kia.”

“A tẩu của ta đâu cần ngươi phải than thở!” Giọng Bồi Loan vẫn rất đỗi lạnh lùng.

“Tại hạ Trương Nghi dám hỏi tôn tính đại danh của nữ hiệp?”

“Kẻ thù của ngươi, đích nữ của Ba Vương, Bồi Loan!” Bồi Loan vòng ra trước mặt Trương Nghi, tay đao lăm lăm.

“Kẻ thù?” Trương Nghi làm bộ kinh ngạc, quay sang nhìn nàng với ánh mắt khó hiểu. “Tại hạ ngu dốt, dám hỏi công chúa, thù này từ đâu mà có?”

“Thù từ đâu mà có, bản thân ngươi biết rõ!” Bồi Loan giọng nói lạnh lẽo, gần như gằn từng tiếng một.

Trương Nghi nhìn thẳng vào mắt nàng, càng ra vẻ ngơ ngác: “Tại hạ ngu dốt, kính xin công chúa giải thích rõ hơn!”

Bồi Loan nhếch nụ cười nhạt bên khoé miệng, chĩa mũi đao nhọn hoắt về phía Trương Nghi: “Chết đến nơi rồi, vẫn còn múa mép!”

“Được rồi!” Trương Nghi lại khép mắt lại. “Tại hạ không múa mép, tại hạ chỉ cầu xin công chúa một điều, liệu có thể cho tại hạ chết một cách minh bạch?”

“Vậy ta hỏi ngươi, phụ vương của ta đâu? Cả mấy vị a ca của ta nữa?”

Trương Nghi từ lúc nãy đã đọc ra được vài điều từ trong ánh mắt nàng, sớm đã có sẵn chủ ý, do vậy rất đỗi bình thản, cố tình “ồ” lên một tiếng lớn, rồi nói: “Những ngày qua, họ vẫn luôn ở bên cạnh tại hạ!”

“Ngươi… dối trá!” Mũi đao của Bồi Loan một lần nữa lại gí sát cổ Trương Nghi.

“Than ôi!” Trương Nghi thở dài một tiếng. “Công chúa muốn tại hạ giải thích thế nào mới chịu tin đây? Hai mươi hôm trước, tại hạ cùng Ba Vương và các Ba tử gặp gỡ tại Giang Châu, sau đó đi tới Lãng Trung, mấy hôm trước lại cùng tại hạ gấp rút lên đường tới Thục.”

Đây quả là một tin mới mẻ, Bồi Loan hai mắt trợn tròn, ngẩn ra một thoáng, rõ ràng là không tin, mũi đao gí trên cổ Trương Nghi lại gần thêm chút nữa, gằn giọng quát: “Ta không tin! Họ đã bị ngươi chuốc thuốc mê, lúc này đang bị ngươi giam giữ trong đại lao Giang Châu.”

“Họ bị tại hạ giam trong đại lao, công chúa có tận mắt nhìn thấy?”

“Ờ…” Bồi Loan cứng họng.

“Than ôi!” Trương Nghi lại thở dài thườn thượt. “Công chúa, lẽ nào công chúa nhất quyết tin vào lời đồn nhảm mà giết oan Trương Nghi tại hạ? Phụ vương của nàng lúc này đang ở đất Thục, lẽ nào công chúa…” Bỏ lửng nửa vời, cố tình lắc đầu quầy quậy.

Bồi Loan trợn tròn hai mắt: “Chuyện này là thật?”

“Tại hạ thân là tướng quốc Đại Tần, đường đường là nam nhi bảy thước, lại đi lừa gạt một nữ nhi yếu đuối như công chúa đây ư? Phụ vương của nàng mấy hôm trước còn ngồi chung xe với tại hạ tới Thục, muốn bàn với Thục Vương chuyện phân chia ranh giới Ba, Thục, mới tối qua tại hạ còn uống rượu hầu chuyện với phụ vương nàng.”

“Vậy… hiện phụ vương đang ở đâu?”

“Ồ, cũng thật trùng hợp, sáng sớm nay, Thục Vương và tại hạ định cùng lên xe nhập cung, đột nhiên nghe thấy một chuyện lạ kỳ, phụ vương công chúa khăng khăng muốn đi xem, tại hạ giữ không được, đành phải để quốc úy Tư Mã Thác đưa người đi.”

“Chuyện lạ kỳ gì?”

“Nghe nói ở gần đây có người nuôi con lợn nái, hôm trước sinh ra một quái thai, mũi dài, mắt nhỏ, năm chân to bằng cánh tay, nhưng chỉ hai ngày, đã to hơn cả lợn mẹ, có người nói đó là voi!”

Bồi Loan đảo con ngươi vài vòng: “Có chuyện kỳ lạ như thế, sao ngươi lại không đi xem?”

“Ồ, tại hạ kiểu gì cũng không tin! Lợn sinh voi, chẳng phải là hoang đường lắm ư? Hơn nữa, voi cũng chỉ có bốn chân, dưới gầm trời này đào đâu ra voi năm chân? Người Thục sở trường thêu dệt, tại hạ đã mắc lừa đến mấy lần rồi!”

Nhớ lại phụ vương bản tính hiếu kỳ, Bồi Loan bất giác tin ngay, chớp mắt vài cái, lại hỏi: “Thế Tử Trừu a ca đâu?”

“Vốn nói sẽ cùng đi, nhưng trước lúc khởi hành, phụ vương nàng lại lệnh cho ở lại Lãng Trung, nói là để chuẩn bị cho việc dời đô tới Giang Châu.”

“Nếu quả là vậy, ngươi hãy lập tức mời phụ vương ta tới đây! Không thấy phụ vương, ta nhất quyết không tin!”

“Phu nhân!” Trương Nghi nói với Hương Nữ vẫn đang đứng ngoài bậu cửa. “Lúc này Ba Vương hẳn đã xem xong chuyện lạ rồi, nàng hãy mau ra ngoài thành, mời Ba Vương tới đây, đừng nhắc gì tới tại hạ và công chúa, chỉ nói Thục Vương có lời mời!”

Hương Nữ vâng lời, đang định quay đi, Trương Nghi lại nhắc nhở: “Đóng cửa điện lại, tránh để người khác tới quấy rầy! Còn nữa, truyền lệnh Mặc tướng quân, trước khi Ba Vương giá lâm, bất cứ ai cũng không được bước chân vào cửa cung một bước, kẻ nào trái lệnh, chém đầu!”

Hương Nữ đã nghe ra ý tứ, bèn đường hoàng bước vào trong điện, kéo hai cánh cửa, khép hờ lại, rồi thong thả bước xuống bậc thềm, ung dung rời đi.

Nghe thấy tiếng bước chân của nàng xa dần, Trương Nghi thở phào một tiếng, quay sang Bồi Loan: “Tại hạ thực tình không hiểu, vì cớ gì mà công chúa lại đổ cho tại hạ giết hại Ba Vương, Ba tử?”

“Người Ba đều nói như vậy cả!” Bồi Loan đáp, nhưng ngữ khí đã không còn chắc nịch như lúc trước nữa. “Họ còn nói, người Tần các ngươi đã bắn chết toàn bộ các dũng sĩ người Ba.”

“Cha chả, cha chả…” Trương Nghi cười nhăn nhó, nhìn sang Thông Quốc. “Những lời đồn thổi kiểu này, đại vương có tin được không? Tại hạ xuất binh là theo lời thỉnh cầu của đại vương và Ba Vương. Trèo đèo lội suối, nếm đủ mùi cực nhọc giải vây cho người, đúng là thiệt thòi đủ đường, Tần Vương thoạt tiên khăng khăng không chịu, nhưng thấy đại vương khẩn thiết cầu xin, tại hạ không đành lòng, mới thuyết phục Tần Vương, từ ngàn dặm xa xôi vượt đường tới chi viện cứu nguy, thật không ngờ…”

“A muội!” Thông Quốc cũng cảm thấy không phải với Trương Nghi, bèn quay sang Bồi Loan. “Hẳn là tin đồn nhảm mà thôi, theo a ca biết, tướng quốc không phải người như vậy.”

Bồi Loan cúi đầu xuống.

“Công chúa, tại hạ hơi khát, có thể ban cho chút nước được chăng?” Trương Nghi chép miệng vài cái, rõ ràng là khát thật.

Bồi Loan rót nước từ bình vào trong chén, đưa tới trước miệng Trương Nghi.

“Không có độc đấy chứ?” Trương Nghi nhìn chằm chằm vào Bồi Loan, cố tình ra vẻ ngờ vực.

Bồi Loan lừ mắt nhìn Trương Nghi, uống lấy một ngụm, rồi đưa lại cho hắn.

Trương Nghi mới làm ra vẻ yên tâm, uống ừng ực một hơi hết sạch, rồi bắt đầu thao thao bất tuyệt, nào là kể chuyện quen biết hai người Thông Quốc, Tử Trừu ở Hàm Dương, nào là kể chuyện kết giao tình thân khác nào huynh đệ, nào là ca ngợi Tử Trừu tính khí hào sảng, trượng nghĩa, nào là hai người cùng uống rượu đến dở điên dở khùng, tán đủ chuyện trên trời dưới biển, hai bên tuyệt đối không chút hiềm nghi vân vân. Bồi Loan càng nghe lại càng cảm động, dần dần cảm thấy có lẽ mình đã hiểu lầm Trương Nghi.

“Công chúa!” Trương Nghi như thể sực nhớ ra điều gì, nhìn vào Bồi Loan. “Nghe đồn, công chúa và đại vương sớm đã có hôn ước, có chuyện này chăng?”

Nghe thấy hai chữ hôn ước, Bồi Loan mặt đỏ bừng hổ thẹn, lại cúi đầu xuống.

Trương Nghi quay sang Thông Quốc: “Đại vương, có chuyện này chăng?”

“Ờ ờ…” Thông Quốc ậm ừ hai tiếng, giọng lí nhí như muỗi kêu. “Lúc đó hai chúng ta còn nhỏ.”

Trương Nghi phá lên cười sảng khoái. “Ở đất Trung Nguyên tại hạ, đây gọi là đính ước từ nhỏ, trong tất cả các kiểu hôn nhân, đính ước từ nhỏ là đáng quý nhất, hôn sự của hai người, đúng là mối duyên trời ban. Đại vương xem thế này có được không, đợi Ba Vương tới, tại hạ sẽ đứng ra làm chủ, để mối nhân duyên tốt đẹp này trở nên viên mãn!”

Thấy Trương Nghi cứ thế thao thao bàn chuyện thành thân, Bồi Loan ngượng ngùng hổ thẹn, sợi dây cảnh giác luôn kéo căng trong lòng nàng thình lình đứt phựt.

“Công chúa, xin ban thêm chén nước nữa!” Trương Nghi lại khẩn thiết thỉnh cầu.

Bồi Loan khẽ cười, đặt thanh đao xuống bàn, rót nước, rồi bưng cho hắn uống. Sau đó lại rót đầy một chén, đẩy tới trước mặt Thông Quốc.

“Công chúa, tại hạ ngồi lâu, chân cẳng tê dại, có thể đứng dậy đi lại một lát không?”Trương Nghi duỗi chân, làm bộ nhăn nhó.

Bồi Loan gật đầu.

Trương Nghi chật vật đứng dậy, duỗi chân vài cái, vừa đi lại, vừa trò chuyện luôn miệng. Đi được vài vòng, thì kín đáo vòng lại bên bàn, rồi thình lình vận lực, tung chân đá văng thanh đao tẩm độc đi, rồi lao người về phía sau, đâm sầm vào Bồi Loan, rồi như biết chắc bên ngoài có người, lớn tiếng gọi ngay: “Phu nhân mau vào đây!”

Ba động tác của Trương Nghi liền mạch chớp nhoáng, Bồi Loan bất ngờ không kịp đề phòng, bị Trương Nghi đâm cho thẳng cánh, ngã văng đi hai bước.

Gần như cùng lúc đó, Hương Nữ không biết đã quay lại và âm thầm nấp sẵn ngoài cửa tự bao giờ, lập tức đẩy tung cửa điện, phi thân lao vào, chỉ một bước nhảy đã tới bên Trúc Diệp, đưa tay nhặt lấy kiếm Tây Thi.

Hai bên chính điện mỗi bên đều có hai cột trụ to một vòng ôm. Vì đao có độc, nên khi đá thanh đao đi, Trương Nghi nhắm vào chuôi đao, vung chân quét ngang, thanh đao bay nghiêng đi, do chuôi nặng lưỡi nhẹ, nên chuôi đao xoay về phía trước, đâm trúng cột trụ gỗ nam to lớn ở phía trong hàng bên trái, “keng” một tiếng rồi chuyển hướng, bật thẳng về phía Bồi Loan cách đó hai trượng, vừa hay xuyên trúng bắp chân nàng. Lưỡi đao tẩm chất kịch độc, thấy máu là chết, song Bồi Loan sớm đã coi thường sinh tử, chẳng hề kinh sợ, rút phắt lưỡi đao ra, bật người thẳng dậy như cá chép quẫy mình, quát lớn một tiếng: “Gian tặc xem đây!” Rồi vụt một tiếng phóng thẳng lưỡi đao về phía Trương Nghi.

Trương Nghi sau khi xô bật Bồi Loan đi, theo quán tính ngã ngửa xuống đất, lại thêm hai tay đã bị Bồi Loan trói quặt, vả lại sự việc chỉ xảy ra trong nháy mắt, nên chỉ còn biết hai mắt trân trân nhìn lưỡi đao lao về phía mình, không thể và cũng không kịp né tránh.

Mắt thấy tình thế hiểm nghèo, Hương Nữ vội vã quăng ngay kiếm Tây Thi tới. Thanh kiếm va trúng lưỡi đao sắc lẹm ngay sát trước ngực Trương Nghi. Lưỡi thép va nhau, lưỡi đao độc bị đánh bật đi, văng về phía cột trụ bên phải, rơi loảng xoảng xuống đất. Còn mũi kiếm Tây Thi cắm phập vào cột trụ, rung lên bần bật.

Một đòn không trúng, Bồi Loan thuận tay rút phắt cây trâm vàng trên đầu, hú lên một tiếng rùng rợn, tung người nhảy vọt lên cao, rồi lao thẳng vào Trương Nghi.

Hương Nữ lúc này đã chạy được tới bên Trương Nghi trước một bước, vừa che chắn cho Trương Nghi, vừa đưa tay rút kiếm Tây Thi ra khỏi cột trụ, rồi không kịp cả quay mình, ngoặt tay đâm ngược mũi kiếm lên khoảng không sau lưng.

Chiêu thức quá ư chớp nhoáng, Bồi Loan không có thời gian né tránh, cũng chẳng hề có ý định né tránh, cứ thế lao người vào mũi kiếm.

Kiếm Tây Thi xuyên suốt lồng ngực Bồi Loan, cây trâm vàng của Bồi Loan cũng đâm xuyên bả vai Hương Nữ.

Đúng lúc này, đô úy Mặc dẫn lính Tần ồ ạt xông vào, kéo Bồi Loan đang đè sấp trên người Hương Nữ ra, vực Hương Nữ dậy, cởi trói cho Trương Nghi.

Nhìn hình hài mỹ miều vừa mới đây thôi còn nhảy múa yêu kiều, chớp mắt đã nằm co giật dưới đất; một bầu thanh xuân phơi phới đang vội vã tan biến ngay trước mặt, Trương Nghi xót xa khép mắt, thở dài một tiếng: “Thật là một trang liệt nữ!”

Sau màn báo thù kinh tâm động phách của Bồi Loan và Trúc Diệp, Trương Nghi cũng không cần thiết phải “khẽ điểm” nữa. Đối mặt với đông đảo lính Tần kiếm kích sáng loà, Thông Quốc vừa không còn cách thanh minh, cũng không thể thanh minh, chỉ biết quỳ phịch xuống đất, dập đầu thỉnh tội. Lúc này, Bàn nội tể bị trúng thuốc mê vừa hay tỉnh dậy, nhìn thấy chủ nhân đang quỳ sụp dưới đất, lập tức nghiến răng nhận hết toàn bộ tội lỗi về mình. Trương Nghi niệm tình ông ta là người trung nghĩa, bèn lệnh cho lính Tần đưa cho một dải lụa trắng, đợi ông ta tự vẫn xong, liền hạ táng trọng thể cùng Bồi Loan, Trúc Diệp.

Còn đối với Thông Quốc, Trương Nghi cho hắn hai đường lựa chọn, một là đi theo Ba Vương, ngược lên bắc tới Tần, nhận sắc phong của Tần Vương; hai là tạm thời ở lại Thục, Trương Nghi sẽ thay mặt tấu thỉnh. Thông Quốc không dám nhiều lời, tỏ ý thần phục Tần, lại nói do mình đi lại bất tiện, tình nguyện lấy danh phận thuộc hầu của Tần, khẩn thiết thỉnh cầu tướng quốc tấu giúp.

Trương Nghi đồng ý, lập tức thảo tấu chương, tấu thỉnh Tần Vương phân chia đất Ba, Thục thành bốn mươi mốt huyện, chọn nơi địa thế hiểm yếu xây dựng thành lũy, cửa ải, phái quân tinh nhuệ trấn giữ; đặt kinh thành ở Giang Châu, xây Ba đô, tấu thỉnh cho đô úy Mặc làm quận thú, phía bắc kiểm soát đường ra vào, phía đông đối kháng người Sở, đổi tên đất Thư thành huyện Hà Manh, trực thuộc quận Hán Trung. Tấu thỉnh cho Ngụy Chương làm quận thú quận Hán Trung; giáng chức Thục Vương Thông Quốc thành Thục Hầu, tấu thỉnh cho Trương Nhược làm tướng quốc. Ngoài ra, còn tấu rằng Tần pháp tạm thời chưa nên thực thi ở Ba, Thục, khích lệ dân Tần không có đất di cư tới Thục, quân lính giữ Thục thực thi chế độ vừa trồng trọt vừa chiến đấu, có thể kết hôn tại đây, lấy con gái Ba, Thục làm vợ.

Tần Vương nhất nhất chuẩn tấu.

Không đầy một năm, Ba, Thục được yên trị. Đầu năm sau, Trương Nghi phụng chiếu hồi triều, để Tư Mã Thác và ba vạn quân ở lại trấn giữ Hà Manh, còn mình dẫn theo hơn bốn mươi quý tộc Ba Thục đang bị cầm tù, trong đó gồm cả Ba Vương, Ba tử lên đường về bắc.

Từ miệng quân lính áp giải, Ba Vương biết được Bồi Loan đã chết, lại nghĩ đến bản thân tới Tần trong cảnh xiềng xích thế này, đừng nói là viễn cảnh khó lường, mà chỉ riêng mối nhục này, ông ta cũng không muốn chịu đựng, nhân lúc đêm khuya, lính canh không để ý, đã dùng dây mây thắt cổ ngay trên con đường Thục mà chính bản thân mình đốc thúc xây dựng. Ba tử Tử Trừu hổ thẹn không thiết sống, cùng với bốn người anh em khác mẹ bị trói chung một sợi dây thừng nhảy xuống vực sâu thăm thẳm. Vương thất nước Ba do tiên tổ Lẫm Quân một tay gây dựng đã diệt vong từ đây.

Trương Nghi khải hoàn trở về, Tần Vương ra tận ngoài thành ba mươi dặm nghênh đón, lập đàn khao thưởng ba quân, phong Trương Nghi làm Ư Thành Quân, ban cho thực ấp nghìn hộ.

***

Sáu nước phạt Tần, Bàng Quyên chắc thắng đến mười phần song lại nếm mùi thất bại, đau đớn phản tỉnh, quyết chí một lòng chỉnh đốn ba quân. Vì việc này, Bàng Quyên đã thực hiện ba việc lớn:

Thứ nhất, mở rộng ba quân hổ bôn. Nếu nói võ binh là do Ngô Khởi sáng lập, thì quân hổ bôn là do một tay Bàng Quyên gây dựng, hơn nữa trong cuộc chiến Hàm Cốc, đã phô bày được sức mạnh phi phàm. Sau cuộc chiến Hàm Cốc không lâu, Bàng Quyên chiêu mộ rầm rộ nhân tài có năng lực dị thường và lực sĩ sức mạnh siêu quần trong cả nước, còn dán thông cáo chiêu mộ treo thưởng đến cả liệt quốc, chưa đầy hai năm, quân hổ bôn từ ba nghìn đã lên đến một vạn, thiết lập nên ba quân tả trung hữu, Bàng Quyên đích thân đảm nhiệm chức chủ tướng, cầm đầu trung quân; Thanh Ngưu cầm đầu tả quân, Long Hổ cầm đầu hữu quân. Long Hổ là cháu nội của tướng quân Long Giả, nay đã lớn khôn, dũng mãnh hàng đầu ba quân, dưới sự dẫn dắt của Bàng Quyên, đã trở thành một viên mãnh tướng trí dũng song toàn.

Thứ hai, chỉnh đốn lại ba quân võ binh. Ngoài ba quân hổ bôn, Bàng Quyên còn dốc hết quốc lực, tuyển chọn được ba vạn lính tinh nhuệ, tráng kiện từ trong đám binh lính và quân đầu xanh ở các thành ấp, tổ chức thành võ binh trung kiên, chia làm ba quân tả trung hữu, bản thân đảm nhiệm chức chủ tướng, cầm đầu trung quân. Tướng lĩnh của ba quân hổ bôn và ba quân trung kiên, tuy cầm số quân khác xa nhau, song cấp bậc tương đương, đãi ngộ như nhau, có thể điều động song song. Bốn vạn lính tinh nhuệ này đều chịu sự thống lĩnh của Ngụy Vương, do Bàng Quyên chỉ huy, quanh năm bốn mùa không làm việc gì khác, suốt ngày chỉ rèn luyện võ nghệ và bày trận. Tạm chưa nói tới một vạn quân hổ bôn, chỉ riêng ba vạn võ binh cũng đã đủ xuất thần, đều là tráng sĩ hạng nhất, người nào cũng vác nổi trăm cân, đi xa trăm dặm vẫn có thể chiến đấu như thường.

Thứ ba, cải tạo trang bị cho ba quân. Bất luận là quân hổ bôn hay võ binh, đều được trang bị áo giáp mũ trụ bằng sắt, về trang bị, mọi mặt đều phỏng theo quy chế do Ngô Khởi định ra. Bốn vạn lính tinh nhuệ phối hợp với hai nghìn cỗ xe chiến, trong đó hổ bôn, võ binh mỗi bên một nghìn cỗ.

Còn về chế độ đãi ngộ tướng sĩ, lại càng khỏi phải bàn, quân lính được ăn uống đầy đủ theo đúng sức ăn, ngựa chiến ngoài cỏ còn được bổ sung ngũ cốc. Phàm là võ binh trong quân chế, cả nhà sẽ được miễn thuế, miễn lao dịch năm năm. Trong chiến trận, nếu tàn tật sẽ được ban thưởng năm mươi mẫu ruộng, miễn thuế và miễn lao dịch mười năm; nếu tuẫn thân sẽ được ban thưởng một trăm mẫu ruộng, miễn thuế, miễn lao dịch hai mươi năm. Lập quân công, theo công ban thưởng. Ưu đãi dành cho võ binh Đại Ngụy bỗng chốc tăng vọt, khiến con gái tranh nhau đòi gả, đàn ông coi chuyện gia nhập võ binh là niềm tự hào, trẻ nhỏ đua nhau luyện thương múa gậy, phong khí thượng võ thịnh hành trên khắp đất Ngụy.

Cùng với đó, Bàng Quyên còn thường mời Ngụy Vương tới doanh trại duyệt binh, tận mắt chứng kiến uy lực của quân đội. Huệ Vương vui sướng tới độ cười không khép nổi miệng, với các tấu sớ của Bàng Quyên, nhất loạt phê chuẩn.

Và thế là, vua tôi hai người gần như đã dốc toàn lực vào quân đội, khiến nước Ngụy chưa kịp phục hồi nguyên khí sau trận chiến Hàm Cốc đã mau chóng tài lực cạn kiệt. Thượng khanh Chu Uy, tư đồ Bạch Hổ hoang mang lo lắng, năm lần bảy lượt dâng tấu cấp báo. Ngụy Vương chẳng biết giải quyết ra sao, vội cho gọi Bàng Quyên tới nghị sự.

Bàng Quyên lại mời Huệ Vương tới doanh trại, mở sa bàn lớn, chỉ vào một số lá cờ nhỏ màu vàng ở xung quanh nước Ngụy, nói: “Phụ vương hãy xem, những lá cờ nhỏ màu vàng này, đều là kho lương của liệt quốc; những lá cờ nhỏ màu lục, đều là đồng cỏ của liệt quốc. Những chỗ này thuộc nước Vệ, những chỗ này thuộc nước Tống, những chỗ này thuộc nước Tề, những chỗ này thuộc nước Sở, những chỗ này thuộc nước Hàn, những chỗ này thuộc nước Tần.” Rồi nhấn mạnh vào Hàm Đan. “Còn chỗ này, ba lá cờ vàng liền nhau, đều thuộc nước Triệu! Phụ vương thích cờ nơi nào, nhi thần sẽ nhổ ngay chúng lên.”

Ngụy Huệ Vương thở dài một tiếng, sắc mặt đờ đẫn.

“Phụ vương!” Bàng Quyên hai mắt sáng rực, nhìn chằm chằm vào Huệ Vương. “Kẻ có được nô bộc, không lo cơm áo; kẻ có được sĩ tử, sẽ có kế hay; kẻ có được kỹ xảo, vui tai sướng mắt; kẻ có được mỹ nữ, hậu cung đông đảo.” Rồi siết chặt tay quyền. “Phụ vương nay có được dũng sĩ thiên hạ, chắc chắn sẽ có được tất thảy!”

Ngụy Huệ Vương lại hít vào một hơi, hồi lâu, cũng siết chặt nắm tay mà nói: “Hiền tế nói rất phải!” Rồi nhìn vào những lá cờ nhỏ của liệt quốc. “Theo ý hiền tế, cờ nào có thể nhổ?”

“Chính là chỗ này!” Ngón tay Bàng Quyên từ từ dịch về phía kinh đô Hàm Đan nước Triệu.

Ngụy Huệ Vương khép mắt hồi lâu, rồi mở choàng ra, lại tiếp tục nhìn đăm đăm vào những lá cờ nhỏ một hồi, sau đó dứt khoát lắc đầu.

“Phụ vương chớ nên lo lắng!” Bàng Quyên sững sờ mất một chốc, rồi lại chỉ vào sa bàn, hạ giọng nói. “Hai năm qua, nhi thần đã sai người bí mật dò la nước Triệu, kinh đô Hàm Đan, địa thế sông núi, cửa ải doanh trại, tất cả nhi thần đều đã nằm lòng, cuộc chiến này đảm bảo toàn thắng.”

“Than ôi, hiền tế!” Huệ Vương khẽ thở dài một tiếng. “Không phải chuyện thắng hay thua, mà là quả nhân không muốn phạt Triệu!”

“Xin hỏi tại sao?” Bàng Quyên cuống lên, hậm hực nói. “Nước Triệu khởi xướng hợp tung, song khi quân hợp tung phạt Tần, lại bí mật cấu kết với người Tần, hãm hại quân ta, nước phản phúc vô nghĩa như thế, đáng bị trời tru đất diệt!”

“Quả nhân đã nghĩ kỹ rồi,” Huệ Vương giải thích, “thảo phạt nước người phải có chính nghĩa. Tuy Triệu thất nghĩa, song tội chưa đến mức bị thảo phạt. Sáu nước phạt Tần, người Triệu dù sao cũng đã xuất binh, hơn nữa quân của Tam Tấn đều ở tiền tuyến Hàm Cốc, co cụm không tiến là ba quân Tề, Sở, Yên, quân Triệu rút lui là phụng mệnh của ái khanh, còn người Triệu không bị chặn đánh, kho lương của Triệu không bị huỷ hoại, không chừng là kế ly gián của người Tần…”

“Phụ vương, đó là lời giảo biện của người Triệu!”

“Đừng nhắc tới việc này nữa!” Huệ Vương xua tay ngăn hắn lại. “Giảo biện cũng thế, mà sự thực cũng vậy, chúng ta đều không có chứng cứ. Không có chứng cứ mà vẫn thảo phạt, thế gọi là mạo phạm. Quân hợp tung phạt Tần tuy không thành công, song minh ước còn chưa xoá bỏ, hợp tung còn chưa tan rã, quả nhân nếu lại đi thảo phạt nước kết minh, chính là bất nghĩa!”

Thấy Huệ Vương kiên quyết đến thế, Bàng Quyên không tiện tranh luận, ngập ngừng một lát, bèn hỏi: “Vậy phụ vương muốn phạt nơi nào?”

“Chính là chỗ này!” Ngón tay già nua mà rắn rỏi của Huệ Vương chỉ thẳng vào Hà Tây. “Bảy trăm dặm Hà Tây, núi sông như vẽ, tiên tổ phải đổ máu mới giành được, vậy mà chỉ trong một đêm đã bị mất trắng trong tay quả nhân. Hà Tây một ngày chưa đòi lại được, quả nhân một ngày không cam lòng!” Rồi thở dài một tiếng. “Không giấu hiền tế, lần trước sáu nước phạt Tần, phụ vương đây chỉ có một mong muốn, đó là thu phục Hà Tây, nào ngờ…”

Gần hai năm qua, tâm tư Bàng Quyên lúc nào cũng chỉ chăm chăm vào Hàm Đan, lúc này hiển nhiên không khỏi ngỡ ngàng.

“Ái khanh!” Huệ Vương ngẩng nhìn Bàng Quyên, thần sắc trịnh trọng. “Quả nhân già rồi, không sống được bao lâu nữa. Vinh hoa phú quý, quả nhân coi như cũng đã hưởng đủ, không còn luyến tiếc điều gì. Đời này chẳng còn ước muốn gì khác, chỉ canh cánh có một Hà Tây. Các nước hợp tung đã không thể trông chờ, phụ vương đây chỉ cậy vào một mình hiền tế. Nếu hiền tế quả thực có thể giúp quả nhân thu phục Hà Tây, thì quả nhân… có chết cũng cam lòng!”

“Phụ… vương…” Bàng Quyên vẫn chưa hết ngơ ngác.

“Than ôi!” Huệ Vương khẽ thở dài một tiếng. “Ái khanh nếu không chắc chắn, thì bỏ đi vậy. Quả nhân già rồi, cũng không muốn khai chiến nữa.”

“Phụ vương!” Bàng Quyên cũng là kẻ biết lẽ cứng mềm, hiểu rằng đã không còn lựa chọn nào khác, bèn từ từ siết chặt nắm đấm, sắc mặt cũng đã lấy lại vẻ cương nghị. “Nhi thần đã hiểu, lập tức chuẩn bị phạt Tần, đoạt lại Hà Tây!”

***

Hương Nữ bị trâm vàng của Bồi Loan đâm trúng bả vai, may thay trong trâm không có độc, hơn nữa do trúng xương bả vai, chưa xuyên sâu vào trong, lại được chữa trị kịp thời, nên chưa đầy nửa tháng, ngoại thương đã khỏi.

Song đáng ngại lại là nội thương. Do mũi trâm sắc nhọn làm tổn thương tới tận xương, lại thêm trên đường hành quân phải chịu thấp hàn, Hương Nữ từ đó mắc bệnh viêm bả vai, thời tiết chỉ hơi thay đổi, bả vai lại đau nhức vô cùng, có lúc buốt thấu tim gan.

Thấy Hương Nữ vì mình mà bất chấp tính mạng, Trương Nghi lại càng vừa xót vừa yêu. Những khi Hương Nữ đau đớn, Trương Nghi chỉ hận không thể chịu đau thay nàng. Để ghi nhớ sự việc kinh tâm động phách xảy ra trong cung Thục, Trương Nghi đã cố tình bày thanh đao tẩm thuốc độc của Bồi Loan ở bên thư án, những khi nhàn rỗi, lại sai đám lính bắt về vài con thú nhỏ như chuột, rắn để thử đao độc, tận mắt nhìn chúng trúng kịch độc quằn quại mà chết, rồi nhắm mắt hồi tưởng lại cảnh thanh đao chỉ cách ngực mình gang tấc, nếu không nhờ Hương Nữ phi kiếm đánh bạt, thì giờ đây hắn đã…

Cứ nghĩ tới đó, Trương Nghi lại bất giác rùng mình ớn lạnh, càng thêm yêu thương Hương Nữ hơn nữa, hình bóng của sư tỷ Ngọc Thiền cũng nhanh chóng phai dấu trong tâm trí. Cây trâm vàng khiến Hương Nữ đau đớn, Trương Nghi cũng luôn mang theo bên mình, sớm tối mỗi khi nhớ tới Hương Nữ, lại mang ra ngắm nghía. Tất cả những điều này, Hương Nữ nhìn thấy trong mắt, ngọt ngào trong tim.

Tuy nhiên, chút ngọt ngào này, ngay sau khi về tới Hàm Đan, đã nhanh chóng biến thành cay đắng.

Ngày thứ ba sau khi về tới nhà, cũng thật trùng hợp, Hương Nữ nhớ tới hai đứa trẻ nhà Tiểu Thuận, liền tới khu nhà bên chơi với chúng. Không ngờ người còn chưa tới nơi, từ xa đã nghe thấy tiếng đánh mắng và tiếng khóc lóc từ bên trong vẳng ra, rõ ràng là bọn trẻ đang bị phạt.

Hương Nữ thấy thương xót cho lũ trẻ, vội rảo bước tiến lại, chẳng nói chẳng rằng đi thẳng vào trong cổng.

Quả nhiên, hai đứa trẻ đang nằm sấp trên chiếc bàn trong sân, Tiểu Thuận tay cầm một cành roi, đang quật hai đứa túi bụi. Cành roi tuy đã được quấn vải mềm, song đánh xuống mông trần vẫn rất đau, đứa lớn cắn răng chịu đựng, đứa nhỏ chịu không nổi khóc toáng lên. Mẹ chúng là Tiểu Thúy đứng ngay bên cạnh, chẳng hề cầu xin cho bọn trẻ.

“Dừng tay!” Hương Nữ quát to một tiếng, vội vã chạy lại gần, thấy hai cái mông bé nhỏ đã lằn ngang lằn dọc, nhất là trên mông đứa lớn, vết roi chằng chịt, hiển nhiên Tiểu Thuận đánh rất mạnh tay.

Hai vợ chồng Tiểu Thuận không ngờ Hương Nữ lại tới, kinh ngạc đứng ngây ra, đưa mắt nhìn nhau, bối rối không biết phải làm gì.

“Có chuyện gì?” Hương Nữ kéo vạt áo của lũ trẻ xuống, rồi nghiêm giọng hỏi Tiểu Thuận. “Sao lại đánh bọn trẻ ra nông nỗi này? Sao lại không biết chừng mực như thế?”

“Phu… phu nhân…” Tiểu Thuận lắp bắp.

“Các con!” Hương Nữ thấy hắn ấp úng không nên câu, thì mỗi tay đỡ một đứa nhỏ dậy. “Nào, hãy nói cho ta nghe, vì sao cha lại đánh các con? Nếu đánh vô lý, ta sẽ giúp các con đòi lại công bằng!”

“Cha…” Đứa lớn vừa thốt ra một chữ, nghe thấy Tiểu Thuận ho mạnh một tiếng, vội vàng câm bặt.

Hương Nữ lừ mắt nhìn Tiểu Thuận, rồi mỗi tay dắt một đứa, kéo chúng ra khỏi sân.

“Phu nhân, phu nhân…” Tiểu Thuận hốt hoảng đuổi theo. “Phu nhân đừng dẫn chúng đi!”

“Về mau!” Hương Nữ quay đầu lại quát. “Còn đuổi theo một bước, ta sẽ đánh ngươi tuốt xác!”

Tiểu Thuận đành phải dừng bước.

Hương Nữ thong thả dắt hai đứa trẻ ra bên ngoài trăm bước, dừng lại dưới chỗ bóng râm, thấy thằng anh vẫn im thin thít không chịu nói, bèn quay sang hỏi con em: “Con gái, anh con không ngoan, con mới ngoan. Nào, nói cho đại nương biết, chuyện là thế nào?”

“Đại nương!” Đứa bé gái do dự một lát, rồi nói lí nhí. “Là hai anh em con có lỗi, hai anh em con không nên kể chuyện mà cha đã nói với mẹ cho người ngoài biết!”

“Chuyện gì nghiêm trọng mà khiến cha con phải nổi trận lôi đình làm vậy?”

“Tối qua con nghe cha kể với mẹ, kể về cô công chúa gì ấy, còn nói hỷ sự lần này của chúa công, khắp thành bàn tán xôn xao, ngộ nhỡ đến tai người trong phủ, biết làm thế nào? Con chưa ngủ, nghe được lõm bõm mấy câu, sáng sớm nay mới kể cho anh nghe, anh cũng không hiểu, bèn đi hỏi người khác. Thế là đến tai cha, cha liền lôi chúng con ra đánh cho một trận.”

“Công chúa? Hỷ sự của chúa công?” Hương Nữ trong lòng giật nảy, lẩm bẩm một mình, chau mày một lát, rồi lại nở nụ cười, nói. “Con gái ngoan, nói đi, công chúa nào? Hỷ sự gì?”

“Con không biết, cha mẹ nói chuyện rất khẽ, lúc rõ lúc không, tại con không hiểu nên mới đi hỏi anh!”

“Con gái ngoan lắm!” Hương Nữ khen ngợi con em một câu, rồi xoa đầu thằng anh nói. “Chỉ vì một chuyện vặt vãnh thế mà đánh hai con đến nông nỗi này! Giờ thì dắt em ra ngoài chơi, đại nương phải đi gặp cha con, đòi lại lẽ phải cho hai con!”

Không để Hương Nữ nói hết câu, thằng anh đã kéo con em chạy mất.

Hương Nữ quay trở lại trong sân, hai vợ chồng Tiểu Thuận đã quỳ sẵn dưới đất chờ đợi, vẻ mặt đầy hốt hoảng.

“Nói đi, chúa công của ngươi có hỷ sự gì?” Hương Nữ nhìn Tiểu Thuận, vừa lên tiếng đã hỏi thẳng thừng.

Tiểu Thuận biết rằng không thể giấu giếm, bèn kể lại đầu đuôi chuyện của Trương Nghi và Tử Vân công chúa, rồi nói: “Hôn sự lần này là đích thân lão thái hậu khâm định, đại vương đã ân chuẩn, vương thân quý tộc trong thành Hàm Dương ai ai cũng biết, thảy đều tỏ ra cung kính rất mực với Trương phủ chúng ta. Chỉ có điều chúa công lần này trở về, đã chẳng đả động gì tới chuyện này, cũng không căn dặn gì cụ thể. Do là chuyện riêng của chúa công, vả lại phu nhân có vẻ vẫn chưa biết chuyện, nên tiểu nhân không dám nói bừa. Đêm qua đang bàn với Tiểu Thúy xem bao giờ bẩm với phu nhân thì thích hợp, chẳng may đã để trẻ con nghe lén, rồi ầm ĩ lên khiến cho tất cả đám người hầu đều biết cả rồi…”

Tiểu Thuận còn chưa nói xong, Hương Nữ đã thở hổn hển, chẳng nói một lời, quay ngắt người đi ngay, bước chân loạng choạng như kẻ say. Thấy Hương Nữ như vậy, Tiểu Thuận hoảng hồn, bảo Tiểu Thúy đi theo hầu hạ, còn mình vội vàng chạy đi bẩm với Trương Nghi.

Sẩm tối hôm ấy, Trương Nghi bưng một bát canh nóng vào trong phòng ngủ, thấy Hương Nữ đã nằm nghiêng trên giường, mặt quay vào tường, một tấm chăn gập thành súc dài ngăn dọc giữa giường.

“Phu nhân!” Trương Nghi đặt bát canh lên bàn, dịch tấm chăn ra, cúi xuống sát bên người Hương Nữ, nhẹ nhàng vuốt ve bả vai bị thương của nàng. “Sự việc hôm nay, ta biết cả rồi, Tiểu Thuận đã kể hết cho ta nghe.”

Hương Nữ lặng thinh, đưa tay lên mặt, âm thầm lau dòng nước mắt.

“Phu nhân!” Trương Nghi vỗ về nàng, cười hề hề mà nói. “Nàng chớ nên hiểu lầm mà suy nghĩ vẩn vơ, sự thể không phải như vậy, ta sẽ kể thực tình cho phu nhân nghe.”

Trương Nghi đem tất cả những chuyện liên quan tới vương cung và Tử Vân công chúa xảy ra trước khi phạt Thục kể một lượt từ đầu đến cuối cho Hương Nữ nghe, từ chuyện công tử Hoa mời hắn thưởng rượu thế nào, Tử Vân công chúa cải trang chuốc rượu ra sao, hắn đã quá chén thế nào, rồi chuyện múa cùng Tử Vân công chúa trong cơn túy lúy, rồi chuyện công tử Hoa trêu cợt, và thậm chí cả chuyện lão thái hậu triệu kiến mình, không bỏ sót lấy một tiểu tiết.

Thấy hắn kể chi tiết ngọn ngành, giọng nói lại rất đỗi thành khẩn, Hương Nữ hiểu rằng không phải là bịa tạc, bèn ngồi dậy, trầm ngâm một lát, rồi như cười mà lại không cười, nói: “Phu quân, chàng nói hay lắm, cho dù Hương Nữ thiếp đã hiểu lầm, đã suy nghĩ vẩn vơ, song liệu phu quân có thể trả lời thiếp, tại sao công chúa lại ở trong phủ công tử Hoa? Tại sao công tử Hoa lại để công chúa chuốc rượu? Tại sao công chúa sau khi chuốc say phu quân lại ở bên hầu hạ chàng?”

Trương Nghi thoáng bối rối, con ngươi đảo tít vài vòng, rồi vỗ tay lên trán kêu lên: “Phải rồi, công chúa là em gái của đại vương, tự tung tự tác đã quen, trong cung không ai trói buộc nổi nàng, nàng thích đi đâu thì đi, nàng thích làm gì thì làm, hơn nữa, nàng và công tử Hoa là anh em họ, từ nhỏ lớn lên cùng nhau, nên hai người vốn dĩ vô cùng thân thiết, không chút khách sáo, công chúa tới phủ của công tử Hoa là chuyện thường ngày. Còn việc công chúa cải trang chuốc rượu, hoàn toàn chỉ vì đùa cợt, chứ nếu là chuyện nghiêm túc, thì công tử Hoa đã không trêu chọc ta như thế.”

“Chàng đấy!” Hương Nữ lườm Trương Nghi một cái, cười buồn, lắc đầu. “Chỉ giỏi bày mưu tính kế trong trướng, còn đối phó với đàn bà thì quá tệ. Thiếp nói cho chàng hay, gió cứ thổi thì liệu cây có muốn lặng được chăng? Chuyện này ngay từ đầu đã là một cái bẫy, thủ đoạn tép riu này, Hương Nữ từ lâu đã chơi đến phát chán rồi!”

Nhớ lại những màn kịch mà Hương Nữ năm xưa đã bày ra để có được mình, Trương Nghi phá lên cười: “Phu nhân ơi, lần này có lẽ nàng đã nhìn nhầm thật rồi!” Lại hạ thấp giọng. “Không giấu gì phu nhân, công chúa đã có phu quân rồi, nàng đoán thử xem phu quân của công chúa là ai? Chính là nhị công tử nước Ngụy danh tiếng lẫy lừng, thượng tướng quân công tử Ngang!”

“Công tử Ngang?” Hương Nữ thoạt tiên sững sờ, sau đó mới bừng tỉnh. “Chẳng phải hắn đã tử chiến ở Hà Tây rồi sao?

“Làm gì có!” Trương Nghi lại cười. “Hắn không những vẫn sống sờ sờ ra đấy, mà chinh phạt Thục lần này, hắn còn luôn ở bên cạnh ta và nàng, còn lập được cả đại công!”

“Ở bên chúng ta?” Hương Nữ kinh ngạc, sắc mặt đầy vẻ nghi ngờ. “Cớ sao thiếp lại không nghe thấy cái tên này?”

“Đổi tên rồi, chính là Ngụy Chương tướng quân! Nghe Ngụy Chương tướng quân nói, cái tên này chính là do thằng cha Trần Chẩn nghĩ giúp đấy.”

Hương Nữ hít vào một hơi, lại từ từ thở hắt ra, thân thể chợt mềm nhũn, ngả vào lòng Trương Nghi.

Trương Nghi ôm lấy nàng, phu thê đang lúc quấn quýt, chợt nghe có tiếng bước chân hối hả lại gần, Tiểu Thuận đứng ngoài cửa khẽ giọng bẩm báo: “Trong cung có người tới, nói là mời chúa công vào yết kiến.”

Tối rồi mà Tần Vương còn cho triệu kiến, hơn nữa người được phái tới lại chính là nội tể túc trực trong cung, hẳn là có việc cấp bách. Trương Nghi vội vã thay đổi y phục, từ biệt Hương Nữ, gấp rút vào cung.

Trương Nghi vào đến vương cung, đã tới giờ Nhân định.

Trong cung đèn đuốc sáng trưng, thoạt nhìn, đám cung nhân trông ai cũng rất căng thẳng. Trương Nghi không hiểu đã xảy ra chuyện gì, suốt dọc đường đi, nội tể không nói lấy nửa lời, nên hắn cũng không tiện hỏi, chỉ âm thầm theo sau, lật đật tiến thẳng tới hậu cung. Do đang đêm tối, hậu cung lại là vùng cấm địa, Trương Nghi vốn đã chẳng rõ nam bắc đông tây thế nào, sau vài lần rẽ ngoặt, thì chẳng biết phương hướng ra sao nữa.

Lại đi thêm một lúc nữa, thì hai người dừng lại bên ngoài một cửa điện. Nơi này đèn đuốc còn sáng hơn, người qua lại càng bận rộn, đám cung nhân quỳ lạy rợp dưới đất, sắc mặt cung kính, không ai dám lên tiếng, trông như đang cầu khấn. Dưới ánh đèn, Trương Nghi nhìn vào bức hoành phi trước điện, lờ mờ nhận ra ba con chữ “Cung Mộc Từ”, bất giác giật mình kinh hãi.

Cung Mộc Từ không phải nơi nào khác, chính là nơi ở của lão thái hậu, mẹ đẻ của Hiếu Công, bà nội của Tần Vương đương triều, hắn đã từng tới đây một lần.

Nhìn vào cảnh tượng này, e là lão thái hậu…

Vừa nghĩ tới lão thái hậu, Trương Nghi bất giác cảm thấy một luồng khí lạnh chạy xộc lên đỉnh đầu. Hiển nhiên, nếu lão thái hậu có chuyện gì bất trắc, hắn thân là ngoại thần mà được mời tới, thì chỉ có một lý do duy nhất, chính là bởi Tử Vân công chúa.

Quả nhiên.

Nội tể vừa bước vào, đã lật đật trở ra, dẫn Trương Nghi vào trong.

Trong sân điện, quỳ đông nghịt vô số tần phi, công tử, vương tôn các cung, không dưới vài trăm người, không nói cũng biết, tất cả nữ quyến, hậu bối liên quan tới huyết thống Tần thất đều có mặt đông đủ.

Trương Nghi bước vào tẩm cung, thấy trước giường lão thái hậu quỳ tăm tắp một đoàn cả nam lẫn nữ, dẫn đầu là Tần Vương, bên trái Tần Vương là thái hậu, cũng chính là vợ của Hiếu Công, bên phải là vương hậu Ngụy Cơ, phía sau là Doanh Kiền, đám Tử Vân, công tử Hoa quỳ ở hàng thứ ba, giữa Tử Vân và công tử Hoa còn chừa một chỗ trống, nội tể dẫn Trương Nghi lại chỗ đó. Trương Nghi không còn cách nào khác, đành phải quỳ xuống.

Lão thái hậu nằm trên giường, đã trong cơn hấp hối, chỉ thấy thở hắt ra là nhiều chứ hít vào rất ít. Một lão ngự y tóc hoa râm quỳ trước giường, một tay bắt mạch, một tay day kim bạc.

Kim bạc đang châm vào huyệt nhân trung. Tuy Trương Nghi không am hiểu y lý, song cũng có biết về huyệt nhân trung, chỉ khi hai mạch nhâm, đốc không thông, mới dùng đến huyệt này, gọi là huyệt vị cứu mạng, chưa phải lúc nguy kịch, tuyệt đối không dùng.

Ngự y rút kim bạc ra, day huyệt vài cái, thấy máu ứa ra. Lão thái hậu từ từ tỉnh lại.

Ngự y thở hắt ra một hơi dài, lại day thêm mấy cái nữa, rồi quay sang Tần Vương khẽ tấu: “Khởi bẩm đại vương, lão thái hậu đã tỉnh, thần xin cáo lui.”

Tần Vương phẩy tay, ngự y bèn lui ra ngoài.

Tần Vương lê gối lên trước một bước, nắm tay lão thái hậu, nói khẽ: “Tổ hậu, Tứ Nhi thỉnh an người!”

“Trương… Trương…” Lão thái hậu cất giọng ngắt quãng, đưa mắt tìm kiếm.

Tần Vương buông tay ra, nhìn về phía sau.

Trương Nghi lại thầm giật thót trong lòng, đang hồi căng thẳng, chợt thấy có người huých vào khuỷu tay mình, không cần nhìn cũng biết, là công tử Hoa.

Trương Nghi vẫn ngẩn ra.

Tần Vương nhìn sang, trầm giọng: “Trương ái khanh, tổ thái hậu triệu kiến!”

Trương Nghi không còn đường lui, bèn lí nhí ậm ờ tận trong cổ họng: “Thần tạ ân!” Rồi lê gối lên trước vài bước, khấu lạy trước giường, giọng vẫn lí nhí. “Thần Trương Nghi khấu kiến tổ thái hậu, cung thỉnh tổ thái hậu vạn an!”

Lão thái hậu không đáp, song miệng lại gọi: “Tử… Tử…”

Nghe thấy tiếng gọi, Tử Vân hấp tấp lê gối lên vài bước, gục đầu bên giường lão thái hậu, bật khóc nức nở: “Tổ hậu, Tử Vân đây, Tử Vân cung thỉnh vạn an!”

“Được… được…” Lão thái hậu chìa ra hai bàn tay già nua, vừa nói, vừa run rẩy lần tìm.

Tử Vân hiểu ý, bèn đặt tay mình vào trong tay bà.

“Trương… Trương…” Lão thái hậu lại thều thào.

Trương Nghi nghe mà ngây thộn.

“Trương ái khanh, tổ thái hậu đang gọi khanh.” Tần Vương khẽ nhắc nhở.

Trương Nghi vẫn đực ra tại chỗ.

“Trương… Trương…” Giọng lão thái hậu mỗi lúc một thêm yếu ớt.

Tử Vân công chúa cuống lên, trợn mắt lườm Trương Nghi một cái, rồi với bàn tay còn lại ra, nắm luôn lấy tay hắn, đặt vào trong tay lão thái hậu.

“Lão… lão thân… chúc… chúc phúc… cho… cho hai… hai con…” Lão thái hậu dốc hết sức tàn, áp bàn tay Trương Nghi và Tử Vân vào nhau, nở một nụ cười, rồi từ từ khép mắt, tay thõng xuống, trút hơi thở cuối cùng.

“Tổ hậu!” Tử Vân rú lên thê thiết.

“Tổ hậu!” Tần Vương lao lên, phủ phục bên người lão thái hậu.

“Mẫu hậu!” Thái hậu quỳ sụp dưới đất, gục đầu khóc thảm thiết.

Tiếp đến là Doanh Kiền, công tử Hoa, rồi đến toàn bộ đám người trên dưới đầy cung, đầy sân và khắp hậu cung, đều gào khóc bi thương.

Tất thảy mọi người đều khóc lóc thảm thiết, chỉ mình Trương Nghi vẫn đờ đẫn chết lặng như kẻ ngây.

Trương Nghi suốt đêm không về.

Lại qua một ngày nữa, Trương Nghi vẫn không về.

Hương Nữ không cần dò la, bởi lẽ tin lão thái hậu băng hà đã chấn động toàn thành, Hương Nữ hiểu rằng Trương Nghi đang phải lo tang sự. Nước có đại tang, Trương Nghi thân là tướng quốc, gánh vác trọng trách này, cũng là hợp tình hợp lý.

Tuy nhiên, trong lòng Hương Nữ vẫn dâng lên một cảm giác lạ lùng. Cảm giác này mỗi lúc một thêm mãnh liệt, cho tới ngày thứ ba, đã dần dần biến thành sợ hãi. Người xác thực nỗi sợ hãi này, chính là Sư Lý Tật.

Vào lúc sẩm tối, Hương Nữ đang đứng trên bậc thềm ngoài cổng phủ dõi mắt ngóng trông, thì một cỗ xe ngựa bỗng đỗ xịch trước mặt, Sư Lý Tật mình mặc hiếu phục từ trên xe nhảy xuống, nhìn thấy Hương Nữ bèn vòng tay vái chào.

Hương Nữ đáp lễ, dẫn hắn vào trong phòng khách ngồi, đích thân pha trà.

“Tẩu phu nhân!” Sư Lý Tật không dùng trà, mà nhìn thẳng vào Hương Nữ. “Tẩu phu nhân vừa nãy đứng trước cổng, hẳn là đang chờ tướng quốc đại nhân?”

“Cũng đang định hỏi thăm đại nhân đây.” Hương Nữ miễn cưỡng nở một nụ cười. “Phu quân nhà tôi bao giờ mới về?”

“Nhất thời chưa thể về ngay được!” Sư Lý Tật cười đáp, sắc mặt có phần ngại ngần. “Không giấu tẩu phu nhân, tại hạ tới đây, là để chuyển lời tới tẩu phu nhân!”

“Lời gì?”

“Là… là một lời mà có lẽ tẩu phu nhân không thực muốn nghe.”

Hương Nữ thấy tim mình thót lại, môi nàng mím chặt.

Sư Lý Tật bưng chén trà lên, nhấp một ngụm, đặt xuống, rồi lại nhìn thẳng vào Hương Nữ: “Tẩu phu nhân, hay là, ngày mai tại hạ sẽ nói sau vậy!”

“Là Trương Nghi nhờ đại nhân?” Hương Nữ bật ra một câu, vẫn cúi đầu, giọng rất khẽ.

“Là đại vương!”

“Đã là vương chỉ, xin đại nhân cứ tuyên chỉ.” Hương Nữ hiển nhiên đã đoán ra chuyện gì, cõi lòng nặng trĩu, lạnh lùng đáp một câu, rồi đổi ngồi thành quỳ. “Dân nữ đợi chỉ!”

“Tẩu phu nhân!” Sư Lý Tật cười gượng một tiếng. “Không phải là vương chỉ, mà là chúa thượng nhờ tại hạ tới thỉnh cầu phu nhân. Tổ thái hậu băng hà, trước lúc lâm chung đã đặc ban ý chỉ, tác thành hôn sự cho Tử Vân công chúa và tướng quốc đại nhân. Di chỉ của tổ thái hậu, quân vương không dám trái ý, đã phong Tử Vân công chúa là…” Nói đến đây bỗng hít vào một hơi, dừng lại.

Không gian im lìm như hoá đá.

“Tẩu phu nhân!” Sư Lý Tật khẽ thở dài một tiếng, chậm rãi nói tiếp. “Tướng quốc đại nhân…”

Sư Lý Tật vốn định nói rằng “cũng là bất đắc dĩ”, thì Hương Nữ lên tiếng, giọng nói càng thêm lạnh lẽo: “Đại nhân còn chưa nói đại vương đã phong công chúa là gì?”

“Phong là… Ư… Ư Thành Quân… phu nhân.” Sư Lý Tật khó nhọc rặn ra từng chữ.

Ư Thành Quân là phong hiệu mà Trương Nghi vừa được ban.

Hương Nữ đôi môi run rẩy, mặt cúi gằm, vùi kín vào trong ống tay áo. Sư Lý Tật có thể cảm thấy trái tim nàng đang rỏ máu.

“Than ôi, tẩu phu nhân!” Sư Lý Tật thở dài một tiếng, nửa như an ủi, nửa như giải thích. “Toàn bộ sự việc, tại hạ đều tận mắt chứng kiến, cũng hiểu rõ sự tình. Theo những gì tại hạ mắt thấy tai nghe, Trương huynh tuyệt đối không phải là hạng người tham rồng với phượng, Trương huynh lúc nào cũng chỉ một lòng với duy nhất tẩu phu nhân. Chỉ vì lão thái hậu, trong số vãn bối trong hậu cung, lão thái hậu yêu thương nhất là Tử Vân công chúa, năm xưa tiên quân vạn bất đắc dĩ, phải gả công chúa cho Ngụy thất, lão thái hậu từ đó vẫn luôn canh cánh trong lòng, may mà công chúa lại trở về, lão thái hậu mới được an tâm. Mấy năm qua, lão thái hậu luôn để tâm tìm kiếm cho công chúa một đấng lang quân như ý, chọn đi chọn lại, cuối cùng lại nhắm trúng Trương huynh. Lão thái hậu huệ nhãn nhận anh tài, nào ngờ… lại mang tai họa đổ xuống đầu tẩu phu nhân.”

Sư Lý Tật ngừng lời, liếc mắt nhìn Hương Nữ, thấy nàng cứ như thể không nghe, toàn thân cứng đờ như khúc gỗ, lặng phắc bất động.

“Tẩu phu nhân!” Sư Lý Tật liền đổi giọng, ngữ điệu cũng nhẹ nhàng hơn. “Ván đã đóng thuyền, tẩu phu nhân cũng nên suy nghĩ cho khoan hoà là hơn. Tại hạ rất hiểu Trương huynh, trong lòng Trương huynh chỉ có hai báu vật, thứ nhất là tẩu phu nhân, thứ hai là đại nghiệp đời người. Đại nghiệp đời người của Trương huynh là thống nhất sáu nước, mà muốn thực hiện đại nghiệp này, Trương huynh trước tiên phải đặt chân cho vững, phu nhân thấy có phải không? Nơi Trương huynh đặt chân, không còn lựa chọn nào khác, chỉ có nước Tần. Nước Tần ở phía tây, bốn bề hiểm ải, tiến có thể đánh, lùi có thể giữ, lại có được Ba, Thục, khác nào đã xây được kho lương. Quan trọng hơn là quân vương, theo tại hạ biết, trong liệt quốc thiên hạ, Tần Vương xứng danh là đấng minh quân tuyệt thế, quân vương liệt quốc hầu như không ai địch nổi, Trương huynh gặp được quân vương, quân vương gặp được Trương huynh, hai bên trở thành quân thần, là giai ngộ nghìn năm, cơ duyên trời sắp. Tuy là như vậy, tẩu phu nhân cũng nên giả thiết, cho dù quân chủ có sáng suốt đến đâu, bề tôi có hiền tài đến mấy, giữa vua và tôi, vẫn khó tránh khỏi có lúc mâu thuẫn, một khi mâu thuẫn, chỉ một danh phận quân thần, hiển nhiên quá đỗi mong manh. Giả dụ như Thương Quân và tiên quân, thâm tình mật thiết, thế mà vừa mới băng hà, đất trời thay đổi, thiên hạ rộng lớn là thế, song Thương Quân vẫn không có lấy tấc đất dung thân. Vì sao lại tới nước này? Bởi lẽ Thương Quân là khách từ ngoài tới, được tiên quân dung nạp, song không được vương thất dung nạp, không được người Tần dung nạp.”

Sư Lý Tật chậm rãi giảng giải, lời lời thực tình, song Hương Nữ cứ như không hề nghe lọt trong tai, cúi đầu lặng phắc như một pho tượng.

“Theo như hiện tại,” Sư Lý Tật dằn lòng, dứt khoát nói trắng ra, “hôn sự này tuy có hơi bất lợi cho tẩu phu nhân, song lại là đại lợi đối với Trương huynh. Một khi công chúa nhập phủ, Trương huynh chính là vương thân, là em rể của quân vương, quân vương có thể yên tâm dùng, còn Trương huynh cũng không phải lo lắng chuyện về sau, tương lai ngộ nhỡ xảy ra biến cố, chỉ riêng chuyện là vương thân, Trương huynh cũng tránh được mối họa của Thương Quân!”

“Công chúa… chẳng phải đã gả cho công tử Ngang rồi ư? Vả lại Ngụy tướng quân…” Hương Nữ cuối cùng cũng có phản ứng, nàng ngẩng đầu lên, hai mắt nhìn xoáy vào Sư Lý Tật, nửa câu tiếp sau không nói cũng rõ.

“Than ôi!” Thấy tâm tư Hương Nữ khúc mắc ở một điểm này, Sư Lý Tật gượng cười một tiếng. “Tẩu phu nhân hẳn là không biết, công tử Ngang nước Ngụy sớm đã tử chiến ở vùng biên cương, Ngụy Chương tướng quân ngày nay đã không liên quan gì tới Tử Vân công chúa nữa.”

“Nhưng… hai người đó vẫn là một kia mà!” Hương Nữ rõ ràng cảm thấy khó hiểu.

“Đúng vậy!” Sư Lý Tật gật đầu. “Họ đúng là cùng một người, nhưng Ngụy Chương tướng quân ngày nay, xét về danh nghĩa, đã không còn là công tử Ngang ngày trước nữa. Công tử Ngang nước Ngụy đã anh dũng tuẫn quốc trên chiến trường Hà Tây, Ngụy Vương đã bày bài vị của hắn trong từ đường, xây viên lăng ở Hà Tây, vì thế mà người này đã vào tuyệt địa mà được hồi sinh, đổi tên Ngụy Chương, trở thành tướng quân nước Tần. Trước khi chinh phạt Ba, Thục, Ngụy Chương tướng quân lấy danh nghĩa công tử Ngang đích thân viết thư từ hôn, đã chính thức huỷ hôn với công chúa. Cuộc hôn nhân đó, bất luận là trên thực tế hay trên danh nghĩa, đều đã không còn tồn tại.”

“Lẽ nào Trương Nghi…” Nghĩ tới vài ngày trước, Trương Nghi còn giải thích về chuyện này, còn lấy Ngụy Chương ra làm lá chắn, Hương Nữ mím chặt đôi môi, không đành lòng nói tiếp.

Sư Lý Tật đương nhiên đoán ra, bèn nói thẳng: “Là chuyện riêng tư trong vương thất, người ngoài không ai biết được, đương nhiên Trương huynh cũng không ngoại lệ, như tại hạ đây cũng chỉ vừa mới hay tin. Không giấu tẩu phu nhân, khi quân vương uỷ thác tại hạ tới cầu tẩu phu nhân lượng thứ, tại hạ cũng có mối ngờ vực giống như tẩu phu nhân, quân vương chẳng biết làm sao, đành đưa hưu thư của công tử Ngang ra, tại hạ đã tận mắt đọc rồi, đúng là không có nửa lời dối trá. Trong phủ Ngụy Chương tướng quân hiện cũng đã có năm tỳ thiếp, đều do quân vương ban tặng. Nếu hôn nhân còn tồn tại, quân vương sao có thể bất chấp cảm nhận của em gái mình mà ban mỹ nữ tỳ thiếp cho em rể?”

Hương Nữ bỗng chốc bừng tỏ, mặt tái nhợt không còn sắc máu.

“Tẩu phu nhân…” Sư Lý Tật định an ủi thêm, nhưng Hương Nữ không muốn nghe nữa, chậm chạp đứng dậy, lê từng bước ra khỏi cửa, đi về phía nhà sau, nhìn từ sau lưng, chẳng khác gì một xác chết biết đi.

Sư Lý Tật cũng đứng dậy, đưa mắt nhìn theo, thở dài một tiếng, rồi đi ra phía cổng.

Đêm dài dằng dặc, trăng chìm trong mây.

Trời đêm thăm thẳm, gió từng cơn lay động rèm châu, phát ra tiếng lanh canh khe khẽ. Hương Nữ một mình ngồi trước song cửa, suốt đêm không ngủ, nghĩ tới mình cô đơn trơ trọi, chỉ có Trương Nghi, vậy mà giờ lại bị người ta cướp mất; chốc lại nghĩ tới Trương Nghi từ sau khi kết hôn chưa từng làm chuyện gì không phải với mình, ngoài đại nghiệp nhất thống ra, quả thực tâm tư Trương Nghi lúc nào cũng chỉ gắn bó với mình; chốc lại nghĩ Trương Nghi yêu thương mình như vậy, mà tới tận nay mình vẫn chưa có lấy một mụn con, chưa thể sinh được cho họ Trương một đinh nào; chốc lại nghĩ đây là đất Tần, cô dâu lại là công chúa nước Tần, còn chưa bước chân vào cửa mà đã lấn lướt đến vậy, ngày sau không biết sẽ chung sống thế nào đây; chốc lại nghĩ tới lời khuyên nhủ thực lòng của Sư Lý Tật; muôn mối tâm tư, khác nào ngó sen, mới khẽ bẻ đã tơ vương chằng chịt, sầu khổ não nề, đau đớn tâm can, nước mắt cứ tuôn ra dầm dầm.

Gà gáy lần thứ nhất, Hương Nữ chủ ý đã quyết, tác thành cho phu quân, nhường chỗ cho dâu mới.

Gà gáy lần thứ hai, Hương Nữ lau khô nước mắt, thu dọn đồ tế nhuyễn, gói ghém một tay nải nhỏ.

Gà gáy lần thứ ba, Hương Nữ cởi bỏ xiêm y rực rỡ, thay trang phục đơn sơ, khoác tay nải, đeo kiếm Tây Tử, lặng lẽ mở cổng hậu hoa viên, ung dung bước đi, đầu không ngoảnh lại.

Tổ thái hậu quy tiên, cung Tần có đại tang, là cháu rể đích thân, Trương Nghi đương nhiên cũng phải mặc hiếu phục chịu tang, phủ phục bên linh cữu cùng Doanh Tứ và toàn bộ họ hàng thân thích, nên khóc thì khóc, nên gào thì gào, chẳng thể thoát thân lấy một ngày.

Cứ thế tới tận sáng ngày thứ năm, vừa sáng sớm, nội tể dẫn Sư Lý Tật vào, đưa Trương Nghi xuất cung, thấy Tiểu Thuận mặt mày nhớn nhác đứng đợi sẵn ngoài cổng.

“Tiểu Thuận?” Trương Nghi vừa thấy hắn, trong lòng đã giật thột.

“Phu nhân biến mất rồi!” Tiểu Thuận lao lên một bước, quỳ sụp xuống khóc toáng lên.

“Gì kia?” Trương Nghi mặt mày thất sắc. “Nói mau, phu nhân đi đâu?”

“Thuận… Thuận Nhi không biết!” Tiểu Thuận nước mắt ròng ròng. “Hôm qua đã không thấy đâu nữa, đến tận trưa vẫn không thấy phu nhân ra dùng bữa, Tiểu Thúy đi gọi, không thấy người trả lời, khi vào trong phòng, đã không thấy người đâu. Tiểu Thúy bảo Thuận Nhi, Thuận Nhi cứ tưởng phu nhân ra ngoài có việc gì, cũng không để ý. Đợi tới tận tối, vẫn không thấy phu nhân trở về, Tiểu Thúy mới cuống lên, chạy vào phòng phu nhân xem thử, thấy mọi thứ vẫn như bình thường, hộp đựng trang sức vẫn còn nguyên, chỉ có điều y phục tuỳ thân thiếu mất một ít. Tiểu Thúy kéo Thuận Nhi lại xem, nhưng là phòng của phu nhân, Thuận Nhi nào dám tự tiện bước vào, chỉ bảo Tiểu Thúy kiểm tra cho kỹ, còn Thuận Nhi sai người đi hỏi thăm tứ phía, lùng sục suốt hai canh giờ, vẫn không có chút tăm hơi. Thuận Nhi vốn định vào cung bẩm báo chúa công, nhưng lại đang lúc nửa đêm… Chúa công, Thuận Nhi, Tiểu Thúy, cùng đám người hầu kẻ hạ trên dưới toàn phủ cả đêm qua không ngủ, đợi tới tận sáng, tìm tới tận sáng!”

Trương Nghi chẳng kịp nói một lời, lập tức co cẳng chạy thẳng về phủ, nhưng chân còn chưa bước xuống bậc thềm, đã nghe thấy tiếng Sư Lý Tật từ phía sau vọng lại: “Tướng quốc đại nhân, xin đợi một lát!”

Trương Nghi khựng lại.

Sư Lý Tật dặn dò nội tể vài câu, bảo ông ta tức tốc bẩm báo lên Tần Vương, sau đó rảo bước tới trước mặt Trương Nghi, hạ giọng thì thầm: “Tẩu phu nhân hẳn đã bỏ đi rồi!”

“Nàng…” Trương Nghi vừa thốt ra một từ, bất chợt bừng tỏ, hai mắt nhìn trân trối vào Sư Lý Tật. “Sao đại nhân biết?”

“Buổi chiều hôm kia, tại hạ đã tới phủ Trương huynh, hiểu dụ với tẩu phu nhân về sự việc trong cung!”

“Sao đại nhân lại…” Trương Nghi giậm chân kêu lên.

“Là ý chỉ của đại vương!” Sư Lý Tật khẽ thở dài một tiếng, rồi thuật lại chuyện Tần Vương gọi mình đến dặn dò như thế nào, muốn hiểu dụ với Hương Nữ ra sao, bản thân đã khuyên Hương Nữ những gì, Hương Nữ phản ứng thế nào, nhất loạt kể lại cho Trương Nghi nghe không thiếu chuyện gì.

Trương Nghi chau tít đôi mày, bỗng chốc sực nhớ tới trại Ngô Vương ở núi Tra Nha, thì vội vã chạy thẳng ra ngoài, nhảy lên xe ngựa, quát lên với Tiểu Thuận: “Mau, ải Hàm Cốc!”

Phu xe không nói một lời, lập tức ra roi thúc ngựa, cỗ xe lao thẳng ra ngoài thành, hướng về Hàm Cốc quan.

Thấy Trương Nghi nói muốn tới ải Hàm Cốc, Sư Lý Tật không dám chậm trễ, vội vã vào cung lập tức. Tần Vương cũng mới nghe nội tể bẩm báo xong, bèn hỏi Sư Lý Tật: “Trương tướng quốc đâu?”

“Đã tới ải Hàm Cốc rồi!”

“Ải Hàm Cốc?” Huệ Vương hít vào một hơi dài. “Hắn tới đó làm gì?”

“Hẳn là đuổi theo phu nhân!” Sư Lý Tật đáp lời. “Hay là thần cũng đi theo?”

“Không cần!” Huệ Vương xua tay nói. “Cứ để hắn đi!” Rồi ngồi xuống trước bàn, ngẫm nghĩ một lát, khẽ thở dài một tiếng. “Than ôi, Sư Lý ái khanh, là quả nhân sai rồi, quả nhân không nên quá ư nóng vội. Phu thê họ đã ân ái nhiều năm, nên để họ tự quyết định mới phải.”

Trương Nghi và Tiểu Thuận ra roi thúc ngựa, vừa đi vừa hỏi đường, đi liền hai ngày đêm, đến sẩm tối ngày hôm sau, đã ruổi tới trước cửa ải. Khi sáu nước hợp công Tần, quan giữ ải từng theo Trương Nghi vài ngày, cũng đã quen mặt, nay thấy tướng quốc đích thân tới nơi, không dám chậm trễ, lập tức lôi ngay sổ sách thông quan ra tra tìm, song không thấy có người phụ nữ nào một mình qua ải phù hợp với lời miêu tả.

“Chúa công!” Tiểu Thuận nghẹn ngào nói. “Phu nhân một thân một mình lên đường, lại không cưỡi ngựa, tiểu nhân đã kiểm tra rồi, tiền bạc cũng không mang theo, chắc hẳn chỉ có thể đi bộ. Nếu là đi bộ, tiểu nhân đoán, lúc này cùng lắm mới chỉ tới được Ninh Tần. Chi bằng chúng ta hãy chờ ở đây, đợi phu nhân tới!”

Nghe Tiểu Thuận nói vậy, trước mặt Trương Nghi lập tức hiện ra cảnh tượng Hương Nữ không một xu dính túi, đơn độc một thân bôn ba dặm trường mà nước mắt ứa ra.

Tiểu Thuận đã theo Trương Nghi nhiều năm, chỉ trừ lúc lão phu nhân qua đời, còn chưa bao giờ thấy Trương Nghi rơi lệ. Vào lúc này, tận mắt chứng kiến một trang hán tử đổ máu không đổ lệ phải rớt nước mắt, bảo Tiểu Thuận cầm lòng sao nổi, nước mắt kìm nén suốt hai ngày hối hả vượt đường phút chốc đã vỡ òa, rơi xuống lã chã như mưa, vừa nâng tay áo lên quệt nước mắt, vừa thở than thống thiết: “Chúa công, sao phu nhân lại nóng nảy đến vậy, nói đi là đi ngay, đến một câu chào cũng không buồn nói, dù gì cũng phải nhắn lại một lời chứ, vài chữ thôi cũng được. Phu nhân của tôi ơi, người đi thì cũng đi rồi, sao lại chẳng mang theo lấy một xu một cắc? Khát thì còn đỡ, sông lạch chỗ nào cũng có nước, nhưng đói thì người biết làm thế nào đây? Rồi buổi tối ngủ ở đâu đây? Phu nhân của tôi ơi, người là cành vàng lá ngọc, sao có thể ngủ nơi đồng hoang bãi lạnh cho được? Hu hu hu, phu nhân nhẫn tâm của tôi ơi, dù cho người có một nghìn, một vạn điều nghĩ quẩn, thì cũng không nên chà đạp thân xác mình như vậy! Phu nhân ơi, sao người lại không nghĩ cho chúa công của tôi? Chúa công tôi chỉ một lòng một dạ với người, người lại không phải là sắt đá, sao lại không cảm nhận thấy…”

Tiểu Thuận cứ thế thao thao bất tuyệt hàng tràng những lời thương cảm, rồi lại khóc lên tu tu, khiến Trương Nghi nghe mà càng tan nát cõi lòng, đang định khóc lớn theo Tiểu Thuận, chợt nghe thấy dưới bậc thềm có tiếng chân vọng lại. Chủ tớ hai người vội vàng lau nước mắt, gắng gượng định thần, vừa mới bình tĩnh lại, đã thấy quan giữ ải xách tới một vò rượu, theo sau là đầu bếp bưng khay thức ăn, đang tiến vào cửa.

Trương Nghi chẳng còn tâm trí đâu mà uống rượu, tiếp lấy lệ vài chén, rồi nói bụng dạ khó chịu, muốn nghỉ sớm.

Sáng sớm hôm sau, Trương Nghi nghe theo lời khuyên của Tiểu Thuận, đích thân vẽ chân dung Hương Nữ, lệnh cho quan giữ ải sai người tìm kiếm khắp nơi, còn mình và Tiểu Thuận thay phiên nhau ngồi túc trực nơi cửa ải, hễ thấy phụ nữ xuất quan, cho dù là bà già cũng phải kiểm tra tận mắt.

Hai người chực ở cửa ải suốt ba ngày trời, vẫn không thấy Hương Nữ đâu, phía quan giữ ải cũng không có tin tức gì. Trương Nghi đang lúc buồn khổ thì gia bộc tới nơi, nói là Tiểu Thúy dặn hai người lập tức hồi phủ.

Hai chủ tớ gấp rút trở về, vội vã vào phòng khách, đã thấy có một người đang ngồi ngay ngắn, tiến lại gần nhìn, hoá ra là Giả Xá Nhân.

Nghe nói Hương Nữ đã tới núi Chung Nam, Trương Nghi mừng đến phát cuồng, không nói thêm lời nào, lập tức sai Tiểu Thuận gói ghém chăn đệm, mang toàn bộ những vật dụng mà Hương Nữ ngày thường vẫn dùng lên xe, đích thân đánh ngựa, cùng Giả Xá Nhân lên đường, gấp rút tới núi Chung Nam.

Trương Nghi tới suối Hàn Tuyền, theo Giả Xá Nhân bước vào một khu rừng rậm.

Hương Nữ trông đã đổi khác hoàn toàn, ăn mặc theo lối đạo cô, đang ở trong rừng theo tiên cô luyện tập thổ nạp. Rừng sâu vắng lặng, chim muông bặt tích, chỉ mơ hồ có tiếng nước xối trên đá từ phía không xa vẳng lại, hẳn là có thác nước.

Trương Nghi đứng xa xa, hai mắt chỉ nhìn hút vào Hương Nữ, trong lòng đột nhiên trào dâng một cảm giác lạ kỳ. Cảm giác này chập chờn bất định, bồng bềnh trôi nổi, như đắm như say, như ngây như ngất, một thứ cảm giác vô cùng lạ lẫm đối với Trương Nghi, thậm chí cả khi hắn còn si mê Ngọc Thiền trong Quỷ Cốc, cũng chưa từng xuất hiện.

Hương Nữ và tiên cô đang ngồi nghiêm ngắn dưới bóng cây, hai tay đặt trên đầu gối, lòng bàn tay để ngửa, hai mắt khép hờ, im lìm bất động, chỉ có đôi môi thi thoảng mấp máy, toàn bộ thân tâm đều đắm chìm trong cõi thư thái tuyệt vời.

Vài tia nắng nhẹ xuyên qua kẽ lá, hắt nghiêng lên cơ thể Hương Nữ, bóng nắng trập trùng, lốm đốm lung linh.

Bóng nắng chầm chậm dịch chuyển, Hương Nữ lặng phắc như bàn thạch.

Không biết đã qua bao lâu, Trương Nghi mới đột nhiên bừng tỉnh, bước thẳng lại gần, từ từ ngồi xuống bên cạnh Hương Nữ, sử ra công phu từng tu luyện cùng đại sư huynh trong Quỷ Cốc, cùng Hương Nữ luyện tập thổ nạp.

Hương Nữ sớm đã cảm thấy Trương Nghi tìm đến, lại thấy hắn ngồi xuống bên mình, cơ thể khẽ run lên một cái, song lại lập tức lặng phắc, chỉ có hai hàng lệ không kìm nén nổi, cứ thế trào ra, lăn dài xuống má, song vì đang luyện công, nên nàng không thể, cũng không có sức mà lau.

Bóng nắng lại di chuyển, trong rừng tối dần, chim chóc bắt đầu tụ tập, hót ríu ran.

Tiên cô chầm chậm đứng dậy, liếc nhìn hai người một cái, lặng lẽ rời đi.

Hương Nữ, Trương Nghi vẫn ngồi tại chỗ.

Khe núi tối sập, chim chóc đã ngủ.

“Chàng…” Hương Nữ cuối cùng cũng lên tiếng, giọng khẽ run lên, “tới rồi?”

“Phải!” Trương Nghi nhẹ nhàng đáp lời.

“Chàng… sao tìm tới đây được?”

“Giả huynh đã báo tin.”

“Không ở trong cung túc trực linh cữu nữa ư?”

“Không!”

“Vì sao lại không?”

“Không muốn!”

“Vì sao không muốn?”

“Vì phu nhân!”

“Phu nhân của chàng ở trong vương cung kia mà!”

“Người ở trong vương cung, không phải phu nhân của Trương Nghi.”

“Ồ?” Hương Nữ ngỡ ngàng, nhìn thẳng lại. “Nàng ấy… không phải là phu nhân của Trương Nghi, vậy là của ai?”

“Là phu nhân của Ư Thành Quân.”

“Chẳng phải chàng là Ư Thành Quân đấy sao?”

“Đã không phải nữa!”

Hương Nữ nghe mà sửng sốt, vội hỏi: “Đã xảy ra chuyện gì ư?”

“Chỉ có một chuyện, Trương Nghi không còn ngửi thấy hương thơm nữa.”

“Chàng…” Hương Nữ thở phào một tiếng, vừa bực vừa buồn cười, lại vừa như giận dỗi.

“Phu nhân!” Giọng Trương Nghi vô cùng điềm đạm ôn hoà, giống như lời tâm sự thường ngày. “Bên cạnh Trương Nghi không thể thiếu hương. Không giấu phu nhân, ngay trưa nay, sau khi vào khe núi phu quân của nàng đã viết tấu thư, sai Tiểu Thuận mang tới cho Sư Lý đại nhân, nhờ Sư Lý đại nhân trình lên Tần Vương. Trong tấu thư viết rằng, kể từ hôm nay, phu quân của nàng không còn là Ư Thành Quân nữa, không làm tướng quốc Đại Tần nữa, chỉ ở trong khe núi này, bầu bạn cùng phu nhân tới hết cuộc đời.”

Vẻ kinh ngạc trên gương mặt Hương Nữ thoáng chốc đã biến thành xúc động. Nàng nước mắt giàn giụa, nhìn Trương Nghi với đôi mắt đẫm lệ, lặng đi một hồi, rồi không thể nào kìm nén nổi những sóng lòng cuồn cuộn, run rẩy khẽ gọi một tiếng: “Phu quân…” Rồi vùi đầu vào trong lòng Trương Nghi.

Sắc trời mờ mịt. Đêm lặng phắc.

***

Tổ thái hậu thọ hơn tám mươi, đã qua cái tuổi thất thập cổ lai hy, là một trong số ít người sống thọ trong cung Tần, nên đây cũng được coi là hỷ tang, Tần Huệ Vương xuống lệnh, cử hành nghi lễ long trọng tiễn đưa linh hồn tổ mẫu về trời, trong cung Tần, ngoài nghi thức thông thường, cũng không đau thương thái quá. Qua tuần thất đầu tiên, thái hậu, tức Hiếu Công phu nhân, dặn dò các cung tổ chức một số trò vui mà tổ thái hậu ưa thích khi còn sống, như đoán câu đố, thi đuổi vịt, múa hát, ngâm thơ. Các tần phi, công chúa, cung nữ bày linh đài trong hậu hoa viên, rồi cùng thi thố tài năng, nô đùa rôm rả, tiếng cười tiếng nói không ngớt bên tai.

Tần Huệ Vương lúc này cũng đã dứt được ra mà lo việc nước.

Việc nước trọng đại nhất là Tam Tấn. Hắc Điêu của công tử Hoa gửi tin tình báo về, nói rằng gần đây nước Triệu và Trung Sơn nhiêu lần xung đột tại biên cương, Bàng Quyên nước Ngụy chiêu hiền nạp sĩ, dốc sức chỉnh đốn quân đội, ban thưởng hậu hĩnh, nên sĩ tử liệt quốc đua nhau tới Ngụy, Đại Lương đã có một đội võ binh mới lực lượng hùng hậu, sức mạnh đã vượt qua cả thời Ngô Khởi.

“Bàng Quyên?” Tần Huệ Vương khẽ lẩm bẩm, sải bước tới trước bản đồ hình thế liệt quốc, ánh mắt dừng lại ở vùng An Ấp, Hà Đông.

“Đây, và đây!” Công tử Hoa lần lượt chỉ vào Đại Lương, An Ấp. “Võ binh Ngụy chia quân đồn trú hai nơi, trong đó hai phần ba đóng ở Hà Đông. Quan trọng hơn hết, Bàng Quyên sau khi có được Khúc Ốc và bến đò Thái Dương của ta, đã cho xây dựng rầm rộ, dọc theo bờ đê tới tận Khúc Ốc, dựng thành đắp lũy, mở rộng và củng cố cây cầu ở ải Lâm Tấn, bờ đông Hà Thuỷ cứ ba dặm lại dựng thành, tích trữ lương thảo. Xem ra, người Ngụy vẫn luôn canh cánh trong lòng đất Hà Tây của ta.”

“Đúng vậy!” Tần Huệ Vương khẽ gật đầu. “Triệu kiến tướng quốc!”

Công tử Hoa cười gượng gạo: “Tướng quốc đại nhân đã đi tìm phu nhân, e là vẫn chưa trở về!”

“Ồ, không phải hắn đã về rồi ư?” Tần Huệ Vương chau tít đôi mày. “Triệu kiến Sư Lý Tật!”

Lời vừa dứt, nội tể đã dẫn Sư Lý Tật rảo bước vào.

“Quả nhân đang định tìm khanh, mau ngồi đi!” Không để Sư Lý Tật kịp hành lễ, Tần Huệ Vương đã bước lên một bước, nắm lấy tay áo Sư Lý Tật kéo vào chỗ ngồi. “Trương ái khanh có tin tức gì không?”

Sư Lý Tật gật đầu, lần trong ống tay áo lấy ra một vuông lụa, hai tay trình lên Huệ Vương.

Huệ Vương vội vã đọc, rồi hít ngược một hơi khí lạnh, hồi lâu sau, mới nhìn sang Sư Lý Tật, cười gượng một tiếng: “Chuyện này… sao lại thành ra nông nỗi thế?”

Công tử Hoa không biết trong vuông lụa viết gì, nôn nóng nhìn sang Sư Lý Tật, hy vọng được tiết lộ đôi chút.

Nhưng Sư Lý Tật lại quay mặt đi, nhìn ra ngoài cửa sổ.

“Than ôi!” Tần Huệ Vương ném vuông lụa cho công tử Hoa, thở dài một tiếng, lắc đầu nói. “Quả nhân vốn có ý tốt, thứ nhất là tác thành cho Tử Vân, thứ hai cũng là muốn kết thân với hắn, nào ngờ sự việc lại không như mong đợi, cuối cùng lại thành ra bức hắn phải lên núi, than ôi.” Rồi lại lắc đầu liên hồi.

“Vương huynh!” Công tử Hoa lúc này cũng đã đọc xong vuông lụa, vội nói. “Tướng quốc vốn là người nóng nảy, chẳng qua nhất thời mê muội vì tình, thần đệ sẽ lập tức vào núi, lôi hắn về đã rồi tính!”

“Công tử!” Sư Lý Tật bèn quay sang, châm chọc. “Tại hạ xin nói một câu khó nghe, tướng quốc không phải là Ngụy tướng quân!”

“Vậy… ông nói xem nên làm thế nào đây?” Công tử Hoa không phục. “Hôn sự của công chúa là do tổ thái hậu khâm định, đừng nói là trong cung, mà khắp trên dưới nước Tần đều đã hay tin, hắn trốn vào trong núi, việc nước tạm chưa bàn tới, song còn phía tổ thái hậu, biết ăn nói thế nào đây? Tổ thái hậu vẫn còn chưa nhập thổ kia mà!”

Thấy công tử Hoa viện tới tổ thái hậu, Sư Lý Tật đương nhiên không biết nói gì, chỉ mấp máy môi vài cái, rồi nhìn sang Huệ Vương.

“Được rồi, được rồi!” Huệ Vương buồn bực, phẩy tay. “Các khanh lui ra đi!”

Hai người đi rồi, Huệ Vương ngồi một lát, rồi sai nội tể cho gọi Tử Vân tới, kể lại thực tình toàn bộ những chuyện diễn ra trong mấy ngày qua cho công chúa nghe, cuối cùng đưa cho nàng vuông lụa Trương Nghi gửi tới.

Tử Vân cắn chặt răng, không nói một lời.

“A muội!” Huệ Vương khẽ thở dài một tiếng, khuyên nhủ. “Dưa chín ép không thể ngọt, Trương Tử tuy tốt, chúng ta cũng không thể bức bách một phía. Hương Nữ theo hắn tới Việt, qua Sở, sang Triệu, rồi bôn ba đến Tần, trải qua biết bao hiểm nạn, nếm trải muôn nỗi đắng cay, chuyện này tạm chưa tính đến, mà tại đất Thục còn có ơn xả thân cứu mạng Trương Tử. Hai người họ, thật xứng danh là một cặp phu thê hoạn nạn có nhau!”

Tử Vân lại càng nghiến chặt hàm răng, hai tay bất giác xé toang vuông lụa.

“A muội!” Huệ Vương lại dỗ dành. “Hãy nghe lời ta, việc này nên dừng tại đây. Phía tổ hậu, mẫu hậu, cứ để ta giải thích. Còn hôn sự của a muội, hãy cứ để cho ta lo liệu. Kỳ thực, Ngụy tướng quân…”

“Vương huynh!” Tử Vân lắc đầu thật mạnh, hét lên thảm thiết. “Đừng nhắc tới họ Ngụy ấy nữa, a muội dù phải gả cho gà cho chó, cũng không muốn trông thấy kẻ này!”

“Được rồi, được rồi!” Huệ Vương xua tay. “Ta sẽ không nhắc tới nữa!”

“Vương huynh!” Tử Vân nghiến răng nghiến lợi xé tan tành vuông lụa của Trương Nghi thành từng mảnh vụn, ném xuống sàn nhà, hai mắt nhìn chằm chằm vào Huệ Vương. “A muội xin nói thực lòng, a muội ưng dạ nhất chính là tình nghĩa của tướng công. Trừ phi vương huynh muốn muội chết, nếu không, bất luận lên trời hay xuống biển, bất luận làm trâu hay làm ngựa, a muội cũng phải lấy Trương Nghi bằng được. Đời này kiếp này, muội chỉ muốn ở bên Trương Nghi.”

Huệ Vương buồn bực khép hai mắt lại.

“Vương huynh!” Tử Vân công chúa cũng đã nhận ra, ngữ khí có phần dịu bớt. “Vừa rồi vương huynh nói, Hương Nữ theo tướng công, nếm trải muôn ngàn khổ sở, điều này muội thừa nhận. Muội cũng hiểu rằng, lùi một bước biển rộng trời cao, xin vương huynh cũng phong Hương Nữ làm Ư Thành Quân phu nhân, muội nguyện xưng em gọi chị với Hương Nữ, không phân danh phận, cùng trợ giúp tướng công, để tướng công phò tá vương huynh thành tựu đế nghiệp!”

“Vậy thì tốt quá!” Huệ Vương lập tức phấn chấn trở lại, mở choàng mắt, gật đầu lia lịa. “Sẽ theo lời a muội!”

***

Trong gian nhà cỏ trong núi Chung Nam, Hàn Tuyền Tử ngồi ngay ngắn trên chiếu, hai người Trương Nghi, Hương Nữ cùng hành lễ đệ tử, sánh vai quỳ phía dưới.

“Không giấu tiên sinh,” Trương Nghi dập đầu sát đất, cất giọng thành khẩn, “khi ở trong Quỷ Cốc, Nghi tuổi nhỏ ngu độn, trong mắt chỉ có danh tiếng sử xanh, không còn thấy gì khác, bất chấp Quỷ Cốc tiên sinh nhiều lần níu giữ, vẫn đường đột hạ sơn. Xuất sơn loáng cái đã bao năm, Nghi lao tâm khổ tứ, mỏi nhọc bên ngoài, bạt mạng đường xa, thân hình tàn tạ, chưa từng được dừng chân chốc lát, thực sự đã phụ tâm nguyện của tiên sinh. Mất bò làm chuồng, vẫn chưa phải muộn, tâm Nghi đã quyết, song chẳng còn mặt mũi nào mà quay trở về Quỷ Cốc, thỉnh cầu tiên sinh nể mặt Quỷ Cốc tiên sinh, thu nhận Nghi và Hương Nữ ở lại đây tu đạo dưỡng tính, sống thảnh thơi nốt quãng đời còn lại, Nghi sẽ phụng sự tiên sinh thành tâm hệt như đã từng phụng sự Quỷ Cốc tiên sinh, chỉ mong tiên sinh đừng chê bỏ!”

Hàn Tuyền Tử vỗ tay, Giả Xá Nhân và Sư Lý Tật từ cửa phụ bước vào.

Thấy là Sư Lý Tật, Trương Nghi thoáng sửng sốt, rồi khép mắt lại.

“Bẩm tướng quốc đại nhân!” Sư Lý Tật hành lễ với Hàn Tuyền Tử xong, bèn quay sang Trương Nghi vòng tay nói. “Liệt quốc xảy ra chuyện lớn rồi!”

Tai Trương Nghi khẽ giật lên một cái tựa hồ như bản năng, tuy rất khẽ, song không lọt qua được pháp nhãn của Hàn Tuyền Tử.

“Theo tin báo về, Trung Sơn và Triệu tranh chấp tại biên cương, Trung Sơn điều binh khiển tướng, muốn cướp lại Hạo Ấp. Nước Ngụy chiêu hiền nạp sĩ, mở rộng võ binh, Bàng Quyên đao kiếm rậm rịch, có ý đồ phạt ta.”

Tai Trương Nghi không còn nhúc nhích nữa.

“Chúa thượng vì chuyện này mà đêm ngủ không ngon giấc, đặc chỉ phái tại hạ cấp tốc vào núi, mời đại nhân hồi cung nghị bàn chính sự!”

Trương Nghi vẫn lặng im phăng phắc, tựa hồ như chuyện ngoài núi đã không còn liên quan tới hắn.

“Trương Nghi!” Hàn Tuyền Tử nói thẳng vào đề, chỉ ra đường sáng. “Không phải lão hủ không chịu thu nạp, mà lão hủ đã thấu lòng con. Tâm con chưa định, tâm con vẫn vấn vương chuyện ngoài núi. Con và Tô Tần đều là người trong cõi hồng trần, được cao nhân giáo hoá, xứng là anh kiệt của tạo hoá đất trời, đã không phải là dạng cá trong ao, chim trong núi nữa, nhi nữ tình trường lại càng không hợp đạo, thực lòng khó sống đến hết đời trong chốn lâm tuyền. Ý trời không thể trái, trọng trách không thể từ, chí lớn không thể bỏ, hãy mau chóng hạ sơn, tiếp tục sự nghiệp hợp tung bài hạp!”

“Tiên sinh!” Trương Nghi dập mạnh đầu xuống đất, cất tiếng gọi bi thiết.

“Công Tôn Yến nghe chỉ!” Sư Lý Tật liếc hắn một cái, lập tức đổi giọng, cất tiếng sang sảng.

Đột nhiên nghe thấy gọi mình lĩnh chỉ, Hương Nữ giật thót, ngẩn ra hồi lâu, mới kịp định thần, dập đầu đáp: “Dân nữ Công Tôn Yến đợi chỉ!”

“Truyền khẩu dụ của Tần Vương!” Sư Lý Tật dõng dạc tuyên chỉ. “Ngô nữ Công Tôn Yến cùng tướng quốc Trương Nghi kết tình phu thê đã nhiều năm, cùng chung vinh nhục, vất vả có công, tại đất man di lại xả thân bảo vệ phu quân, xứng đáng là hiền nội, quả nhân cảm kích sâu xa, đặc biệt tứ phong Công Tôn Yến là Ư Thành Quân phu nhân, từ ngày hôm nay, làm chị em với Tử Vân công chúa, không phân danh phận, cùng trợ giúp Trương Nghi thành tựu công danh vạn thế!”

Hương Nữ khe khẽ run lên một cái, song lại lập tức ngồi yên.

Còn Trương Nghi thì hết sức kinh ngạc, ngẩng đầu nhìn sang Hương Nữ.

“Cung thỉnh đại nhân hồi bẩm đại vương,” Hương Nữ bình thản nói, “dân nữ Công Tôn Yến cảm tạ hậu ân của Tần Vương, cũng xin đại nhân chuyển lời tới Tần Vương, dân nữ Công Tôn Yến từ ngày vào núi, đã giao phó thân này cho sơn dã lâm tuyền, tấm lòng theo thầy tu đạo của Công Tôn Yến đã thề nguyền cùng thiên địa nhật nguyệt, thần linh bốn phương. Xin thứ tội cho dân nữ không thể phục mệnh, mong đại vương ban ân, thu hồi thánh chỉ!”

“Ồ…” Sư Lý Tật hiển nhiên không ngờ Hương Nữ lại trả lời như vậy, nhất thời chết sững, đưa mắt nhìn sang Hàn Tuyền Tử.

Hàn Tuyền Tử bật cười vài tiếng. “Công Tôn Yến tâm địa thành thực, là đạo khí trời sinh, ta sẽ thu nạp con.”

Phu thê cùng bái sư, Hàn Tuyền Tử lại đuổi một, giữ một, lấy bỏ đã rõ ràng. Mọi người không ai nói gì thêm, Hàn Tuyền Tử dặn dò Giả Xá Nhân đưa Sư Lý Tật lại Hàn Tuyền dùng trà, còn mình khoan thai bước về dãy núi phía sau.

Trong gian nhà cỏ, chỉ còn lại hai người Trương Nghi, Hương Nữ.

“Phu quân!” Hương Nữ dịch lại bên Trương Nghi, đăm đăm nhìn hắn, tình ý thiết tha. “Đây là lần cuối cùng Hương Nữ gọi chàng như vậy!”

Trương Nghi bất chấp tất cả, ôm ghì lấy nàng.

“Phu quân!” Hương Nữ giằng ra, vẫn nhìn Trương Nghi chăm chăm, giọng nói càng thêm bình thản. “Bao năm nay, đều là Hương Nữ nghe lời phu quân, giờ phải phân ly, cũng xin phu quân hãy lắng nghe Hương Nữ nói vài câu. Không phải là Hương Nữ không tuân thánh chỉ, không phải là Hương Nữ không nghĩ cho phu quân, mà là Hương Nữ hiểu rằng, mặt trời trên cao, vĩnh viễn chỉ có duy nhất một mặt trăng. Hai vị phu nhân, không phân trên dưới, trong nhà sẽ không thể êm ấm. Phu quân dốc lòng vì thiên hạ, gia thất không được sinh khói lửa. Tử Vân công chúa đã mến mộ phu quân đến vậy, chiều lòng phu quân đến vậy, hẳn là cũng rất mực yêu quý phu quân. Có công chúa kề bên, Hương Nữ cũng thấy an lòng. Đó mới chỉ là một lẽ. Lẽ thứ hai, buổi tối hôm đó, Sư Lý đại nhân đến gặp Hương Nữ, đã nói nhiều điều, thực khiến Hương Nữ suốt đêm không tài nào chợp mắt. Sư Lý đại nhân giảng giải, xét đến ngày sau, thì Tử Vân công chúa sẽ càng thích hợp với phu quân hơn. Phu quân muốn tung hoành thiên hạ, nhất định phải có khoảnh đất đặt chân. Một khi công chúa vào nhà, phu quân sẽ thành vương thân, thành em rể dòng đích của đương kim Tần Vương, quân vương có thể yên tâm sử dụng, phu quân cũng không còn mối lo lắng về sau. Tương lai vạn nhất có biến, chỉ một danh nghĩa vương thân, phu quân đã có thể tránh khỏi mối họa Thương Quân!”

Trương Nghi ứa nước mắt. Đạo lý kia, với cơ trí của Trương Nghi, từ lâu đã nhìn thấy rõ, nhưng thời khắc này, được nói ra từ miệng Hương Nữ, Trương Nghi nghe mà tâm can đau đớn khác nào cào xé.

“Phu quân ơi!” Giọng Hương Nữ lại càng điềm tĩnh. “Những điều vừa nói đều là vì phu quân, còn tiếp sau đây, có lẽ là vì Hương Nữ. Không giấu phu quân, Hương Nữ từ khi hiểu chuyện, đã chẳng khác gì các bậc hào kiệt như tiên phụ, Kinh thúc, từ lâu đã không màng sinh tử. Tiên phụ, Kinh thúc, hai người theo nhau bỏ thân xác mà đi, tiêu dao tự tại trong cõi đất trời, chỉ còn mình Hương Nữ có điều lưu luyến. Hương Nữ lưu luyến phu quân, không vì gì khác, chỉ vì yêu mến phu quân. Những ngày qua, được phu quân hết mực yêu thương, Hương Nữ thấy đã quá đủ rồi. Phu quân được gặp Quỷ Cốc tiên sinh, mới có ngày hôm nay; Hương Nữ được gặp Hàn Tuyền tiên sinh, hoặc giả sẽ có tương lai.”

Thấy Hương Nữ lúc này cứ như một người khác hẳn, lời lẽ sâu sắc đến độ này, Trương Nghi nghe mà kinh ngạc, trước mắt bất giác hiện ra bóng dáng của Ngọc Thiền.

Trời ơi, người trước mắt kia, lẽ nào lại là một Ngọc Thiền nữa?

Quả nhiên.

“Phu quân!” Ánh mắt Hương Nữ nhìn Trương Nghi càng thêm da diết. “Xin hãy tác thành cho Hương Nữ. Còn nhớ lúc mới gặp Hương Nữ, phu quân trong mơ thường lẩm bẩm gọi Thiền Nhi, Hương Nữ cuối cùng cũng đã hiểu, nàng không phải là ve sầu trên cây, nàng là Ngọc Thiền. Xin hãy tác thành cho Hương Nữ, hãy để cho Hương Nữ trở thành một Thiền Nhi!”

Trương Nghi ngỡ ngàng, nhìn nàng trân trối, trong màn lệ nhạt nhoà, bóng người trước mặt, rành rành là Ngọc Thiền không sai.

“Phu quân?” Hương Nữ khẽ gọi.

Nghe thấy tiếng Hương Nữ, Trương Nghi mới định thần trở lại, kinh ngạc nhìn nàng: “Làm sao phu nhân lại biết về nàng?

“Nghe Giả sư huynh nói. Giả sư huynh nói rằng, sư huynh nghe Tô sư huynh kể lại. Theo lời Tô sư huynh, trong lòng phu quân chỉ có một người con gái, chính là Ngọc Thiền!”

“Đúng vậy!” Trương Nghi gật đầu thừa nhận. “Có điều, đó là Trương Nghi trước đây. Còn Trương Nghi hiện tại, trong lòng vẫn chỉ có một người, chính là…”

Trương Nghi còn chưa kịp nói dứt câu, ngón tay nuột nà của Hương Nữ đã chặn trước miệng hắn.

“Phu quân!” Hương Nữ sắc mặt ửng hồng, giơ tay rút phắt thanh kiếm Tây Tử ra. “Chàng tặng Hương Nữ kiếm Tây Tử, Hương Nữ không có vật gì tặng lại.” Rồi thuận tay vuốt lấy một món tóc mây, lia kiếm cắt đứt, nâng lên trước mặt Trương Nghi. “Tóc này là ngưng kết của tinh cha huyết mẹ, Hương Nữ tối ngày chải chuốt nâng niu, nay xin tặng chàng một món, lúc nào rảnh rỗi, vạn nhất phu quân có nhớ tới Hương Nữ, có thể ngắm nhìn!”

“Hương Nữ!” Trương Nghi hai tay đỡ lấy món tóc, ngón tay run rẩy.

***

Đêm đại hôn lễ, trong phủ tướng quốc đèn hoa rực rỡ.

Trương Nghi hiển nhiên đã uống rất nhiều, bước chân loạng choạng lần tới tân phòng, luôn miệng gọi tên Hương Nữ, rồi ngã sấp xuống đất.

Tân nương nhìn thấy rõ ràng, vội đưa tay giật phắt khăn trùm đầu, chạy lại gần, đỡ Trương Nghi dậy, sai tỳ nữ bưng nước nóng tới, rồi ôm hắn vào lòng, tự tay lau rửa cho hắn.

“Hương Nữ, Hương Nữ, Hương Nữ…” Trương Nghi hai mắt mờ mịt, tay giữ chặt lấy Tử Vân.

“Phu quân!” Tử Vân nước mắt giàn giụa, ôm chặt lấy Trương Nghi, giọng nói run rẩy. “Hương Nữ của chàng đây, Hương Nữ của chàng đây!”

Đêm ấy, sao sáng đầy trời, gió lạnh hiu hắt.

Hương Nữ một mình ngồi bên suối Hàn Tuyền, vuốt ve kiếm Tây Tử, thẫn thờ nhìn mãi về phía Hàm Dương.

Hàn Tuyền Tử lại gần, ngồi xuống bên nàng.

“Tiên sinh…” Hương Nữ phủ phục trước mặt Hàn Tuyền Tử, nước mắt lã chã.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử