Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 63
Hàm Đan nguy cấp, Tô Tần rong ruổi tìm viện binh
Tề quốc bàng quan, Uy Vương sôi nổi bàn đua ngựa

❊ ❊ ❊

Địa thế Hàm Đan tương đối cao, hơn nữa khi xây thành, để đề phòng ngập nước, tại cửa dẫn nước của hai đường nước chính chảy qua thành đều được thiết kế cửa cống kiên cố, có thể dễ dàng kiểm soát lưu lượng nước, lại có chức năng phòng ngự, do đó người Triệu không cần thiết phải lo lắng bi kịch Hạo Ấp tái diễn. Lương thảo dự trữ trong thành Hàm Đan đủ dùng cho một năm, binh sĩ có thể tham chiến không dưới ba vạn, ngoài ra còn có vài vạn dân đinh trai tráng và nô bộc tạp dịch của quý tộc thế gia, thợ thuyền các ngành, chỉ cần không có nội gián, việc giữ thành sẽ không có gì đáng ngại. Hơn nữa, đại thế đã tới nước này, triều đình và thần dân đã thực sự không còn đường lui, ai ai cũng quyết tâm liều chết tới cùng, người Ngụy công thành thất bại, chiến sự tạm thời lắng xuống.

Triệu Ung lúc này mới được rảnh tay chút ít, bèn cho gọi đám trọng thần Tô Tần, Lâu Hoãn, Triệu Thành tới bàn bạc kế sách đẩy lùi kẻ địch.

“Chư vị ái khanh!” Triệu Ung nhìn vào đám bề tôi có mặt, đặc biệt là Tô Tần, vòng tay với từng người, khoé miệng hiện lên nụ cười buồn bã, giọng nói không lớn, song lời nào cũng như dao chém đá. “Quả nhân mới lên ngôi, ngựa non háu đá, vào thời khắc then chốt đã không nghe theo lời Tô Tử, đến nỗi lâm vào cảnh khốn đốn hôm nay. Thế nhưng, quả nhân tin rằng, trời không diệt Triệu, trừ phi người Triệu tự diệt mình!”

Chỉ vài câu ngắn ngủi đã khiến lòng người ấm lại, ý chí lên cao. Tô Tần chua xót trong lòng, cảm ngộ sâu sắc thời thế tạo con người, trước sau mới chỉ vài ngày, Triệu Ung đã trưởng thành, chín chắn hơn hẳn, trở thành một vị quân chủ có thể đảm đương trọng trách.

Cũng giống như Tô Tần, quần thần đều cảm thấy trong lòng ấm áp, song cũng đau xót vô cùng. Đại thế bỗng chốc biến đổi, mây đen ập xuống đỉnh đầu, phía bắc đại quân Trung Sơn xâm phạm biên cương, phía đông là Hà Thuỷ, phía tây là Thái Hàng núi cao vực thẳm, kinh thành bị cường địch vây hãm trùng trùng, con đường duy nhất về tây lại bị cắt đứt, Tây Đô Tấn Dương cũng chịu sự uy hiếp của bạo Tần, bản thân còn lo chưa xong, người Triệu thực sự đã không còn đường lui, chỉ còn cách tử thủ Hàm Đan.

“Tô ái khanh!” Triệu Ung quay sang Tô Tần, cất lời thẳng thắn. “Sự việc đến nước này, quả nhân hối cũng đã muộn. Kế sách hiện giờ ra sao, thỉnh cầu ái khanh chỉ giáo!”

“Đại vương chớ nên lo lắng!” Tô Tần khẽ ôm quyền, cất giọng sang sảng. “Thần cho rằng, hiện tại ba nước xâm phạm bờ cõi, ta đang ở thế nguy, song không phải không thể phá giải. Mấy năm trước sáu nước phạt Tần, nước Tần chẳng phải cũng lâm vào tình cảnh tương tự đấy ư?”

Thấy Tô Tần lạc quan đến vậy, hiểu rằng đã có cách cứu nguy, quân thần đều thở phào. Đặc biệt là Triệu Ung, nhổm hẳn người về phía trước, ánh mắt khẩn thiết nhìn vào Tô Tần: “Quả nhân muốn nghe lời này, xin Tô Tử chỉ rõ!”

“Xin đại vương hãy nghe!” Tô Tần chậm rãi nói. “Đạo trời có âm dương, âm dương tuân theo nhân quả, tương sinh tương khắc, bổ trợ lẫn nhau, bởi vậy vạn vật vạn tượng trong thế gian, không gì không thành nhân quả. Nay ba kẻ địch phạt ta, mỗi phía đều có nhân riêng, cũng có quả riêng. Sáu nước hợp tung chế Tần, Triệu là nước khởi xướng, Tần tự khắc sẽ coi Triệu là kẻ thù đầu tiên, đó là chuyện đương nhiên. Ngụy sau cuộc chiến Hà Tây, thất bại suy sụp, Ngụy Vương may mắn có được Bàng Quyên, vài lần chấn hưng, vẫn chưa có thành tựu rõ rệt. Đặc biệt là sau khi Hàm Cốc thất bại, Ngụy Vương ý chí chấn hưng nguội lạnh, lại càng ngờ vực về hợp tung, nên đã nghe theo Trương Nghi, quay lưng lại với hợp tung, chuyển sang liên hoành với người Tần. Còn như nguyên nhân Trung Sơn xâm phạm, thần không nhiều lời, tin chắc chư vị đều đã hiểu.”

“Mấu chốt là phá giải!” Chủ tướng Hàm Đan Triệu Ngạn sốt ruột không muốn đợi thêm.

“Phá giải chỉ có một, hợp tung!” Tô Tần nói rành rọt từng tiếng. “Minh ước hợp tung còn chưa huỷ bỏ, Ngụy đã liên hoành với Tần, làm trái minh ước mà kết giao với địch, cùng tấn công nước khởi xướng hợp tung, như thế là thất đạo thất nghĩa với thiên hạ. Ta có thể liên kết các nước hợp tung. Chỉ cần các nước hợp tung xuất binh, Hàm Đan ắt được giải vây!”

“Xin hỏi Tô Tử, trong số liệt quốc hợp tung, liệu có nước nào đồng ý xuất binh?” An Dương Quân Triệu Thành vẫn trùng trùng nghi hoặc.

“Ngoài nước Yên, ba nước Sở, Tề và Hàn đều sẽ xuất binh!” Tô Tần chắc chắn mười phần.

Quân thần đưa mắt nhìn nhau, rồi không hẹn mà đều nhìn cả vào Tô Tần.

“Đương nhiên,” Tô Tần dường như đã nhìn thấu viễn cảnh, “họ chỉ xuất binh mà thôi, còn quyết chiến sống mái với Ngụy, e là chỉ có nước Tề.”

“Vì sao?” Triệu Ngạn không hiểu.

“Bởi vì nước Hàn khá yếu, lại đang bộn bề lo toan, khi cục thế chưa rõ ràng, sẽ không dám khinh suất. Còn nước Sở hẳn là chỉ tọa sơn quan hổ đấu.”

“Dám hỏi tướng quốc, vì sao có thể khẳng định nước Tề chắc chắn sẽ quyết chiến với Ngụy?”

“Bởi lẽ nước Tề đã trông chờ ngày này quá lâu rồi.” Tô Tần khẳng định chắc nịch, song trong giọng nói lại có chút thê lương. Thê lương ở chỗ, giống như một bậc trí giả ngồi trên đỉnh núi cao, Tô Tần sớm đã nhìn thấu tỏ những xung đột trong nội bộ hợp tung vốn đã tích tụ từ lâu, song lại không biết phải xử trí thế nào.

“Tô Tử!” Triệu Ung lòng đầy lo âu. “Người Tề… liệu có phải đối thủ của võ binh Đại Ngụy? Lại còn Bàng Quyên, Điền Kỵ e là…”

Cuộc chiến Hoàng Trì còn gác lại đó, bảy vạn hùng binh bị ba vạn lính mệt mỏi đánh cho tan tác, Điền Kỵ còn bị Bàng Quyên bắt sống, chịu nỗi nhục mặc quần áo đàn bà, tô son trét phấn ngay giữa triều đường, liệt quốc không ai không biết.

“Được!” Tô Tần siết chặt nắm đấm, ngữ khí kiên định.

“Tô Tử!” Triệu Ung đứng dậy, vái một vái dài. “Chuyện của nước Tề, e là phải nhọc công Tô Tử đi giúp một chuyến!”

“Thần phụng mệnh!” Tô Tần cũng đứng dậy, đáp lễ.

“Tử Ngạn tướng quân!” Triệu Ung quay sang Triệu Ngạn. “Sáng sớm ngày mai, khanh hãy chọn ra ba nghìn dũng sĩ, mở cửa đông, đột phá vòng vây, bảo vệ tướng quốc tới ải Lâm Minh, rồi từ ải Lâm Minh xuôi dòng thẳng xuống, băng qua Hà Thủy tới Tề! Quả nhân đích thân dẫn đại quân mở cổng bắc, bày trận giao chiến với Bàng Quyên, để yểm hộ cho Tô Tử.”

“Mạt tướng tuân lệnh!”

“Chúa thượng!” Tô Tần nói xen vào. “Thần không cần một binh một tốt hộ tống!”

“Ái khanh?” Triệu Ung kinh ngạc.

“Thần chỉ xin một cỗ xe một ngựa kéo, mở cổng nam, đường đường chính chính băng qua Chương Thuỷ vào Ngụy, qua Vệ tới Tề!” Tô Tần thủng thẳng đáp lời.

“Vậy Bàng Quyên…”

“Thần tự có cách xử lý!”

Sáng sớm hôm sau, cổng nam thành Hàm Đan mở ra, một cỗ xe một ngựa kéo lao thẳng ra ngoài, ngựa rất khoẻ, rõ ràng là tuấn mã đã được tuyển lựa kỹ càng, Trâu Phi Đao kiêm nhiệm phu xe, ra roi thúc ngựa, bánh xe lịch xịch, cuốn bụi tung mù. Tô Tần ngồi ngay ngắn trong xe, hai mắt khép hờ. Trước và sau xe đều cắm một lá cờ, cờ phía trước để chữ “sứ”, cờ phía sau đề chữ “Tô”.

Xe ngựa đi chưa đầy hai trăm bước thì tới trạm gác của người Ngụy, một quân uý đã chờ sẵn cản đường, sau khi kiểm tra một lượt, biết là xe của tướng quốc liệt quốc Tô Tần, quân uý không dám khinh suất, vừa lựa lời khéo léo giữ người lại, vừa tức tốc bẩm báo Bàng Quyên.

Chưa đầy nửa canh giờ, một cỗ chiến xa tứ mã băng băng lao tới, người đứng trên xe chính là Bàng Quyên.

Hai xe đối mặt. Bàng Quyên và Tô Tần nhìn nhau.

Một lát sau, Bàng Quyên vòng tay nói: “Chẳng phải là Tô huynh đấy ư?”

“Tô Tần bái kiến Bàng huynh!” Tô Tần cũng vòng tay đáp.

“Tô huynh thế này là…” Bàng Quyên nhìn vào tuấn mã, cờ và sứ tiết.

“Giống như đã viết trên cờ,” Tô Tần giơ cao sứ tiết trong tay, “tại hạ phụng mệnh Triệu Vương đi sứ sang Tề, đang phải lên đường gấp.”

“Đã là sứ thần, cớ sao Tô huynh lại chỉ có một xe, một ngựa, một lính?”

“Bàng huynh dẫn đại quân vây thành, xe chiến và binh mã trong thành đều cần dùng đến, Tô Tần không dám mang theo nhiều!”

Bàng Quyên phá lên cười vang: “Tô huynh thực là biết tiết kiệm cho thằng nhóc Triệu Ung. Dám hỏi Tô huynh, đi sứ sang Tề, hẳn có sứ mệnh?”

“Có!”

“Nói cho tại hạ được chăng?”

“Mượn quân Tề cứu Triệu!”

“Ồ?” Bàng Quyên vờ kinh hãi, cố tình ra vẻ sợ sệt. “Tại hạ vừa nghe nói tới quân Tề, tay chân đã run lẩy bẩy. Tô huynh, chuyện này là thật chăng?”

“Thật!”

“Than ôi!” Bàng Quyên trở lại vẻ bình thường, thở dài một tiếng. “Tô huynh này, sao huynh lại nghĩ tới chuyện mượn binh nước Tề?”

“Xin hỏi Bàng huynh, tại hạ nên mượn binh ở đâu?”

“Nước Sở. Người Sở không sợ chết, có lẽ sẽ quyết một trận với tại hạ!”

“Người Sở sẽ xuất binh, song sẽ không tử chiến với Bàng huynh!”

“Tô huynh cớ sao lại suy đoán như vậy?”

“Xuất phát từ nghĩa, Sở sẽ xuất binh. Xuất phát từ lợi, Sở sẽ không tử chiến.”

“Thật không hổ danh Tô huynh!” Bàng Quyên gật đầu, khen ngợi. “Người Sở không chịu, Tô huynh cớ sao không mượn binh người Hàn? Người Hàn nỏ cứng, thương sắc, có lẽ sẽ đâm thủng được giáp trụ võ binh Đại Ngụy!”

“Hàn cũng sẽ xuất binh, song cũng sẽ không tử chiến với Bàng huynh.”

“Tô huynh cớ sao lại suy đoán như vậy?”

“Hàn nỏ cứng, thương sắc, song thế Hàn yếu ớt, nay có ba nước lớn Sở, Ngụy, Tần vây quanh rình rập, nếu Bàng huynh ở Hàn, liệu có muốn giao chiến vì Triệu hay chăng?”

“Ha ha ha, Tô huynh phân tích chí lý! Nếu tại hạ là Hàn Vương, cũng tuyệt đối không liều mạng vì một nước Triệu đã chết đến nơi! Xem ra, Tô huynh tới Tề, là khẳng định người Tề sẽ cho mượn binh!”

“Tại hạ không những khẳng định người Tề sẽ cho mượn binh, mà còn khẳng định Bàng huynh sẽ thất bại!”

“Ồ?” Bàng Quyên hai mắt trợn tròn. “Huynh dựa vào đâu mà chắc chắn đến thế?”

“Do Bàng huynh kiêu ngạo, binh kiêu tất bại!”

Bàng Quyên phá lên cười sằng sặc một tràng dài. “Được được được, coi như tại hạ kiêu ngạo! Vậy theo ý Tô huynh, Điền Nhân Tề sẽ cử ai cầm quân?”

“Điền Kỵ tướng quân!”

“Điền Kỵ là bại tướng trong tay tại hạ, Tô huynh cớ sao lại khẳng định kẻ này tất thắng?”

“Vì chiến sự chưa diễn ra, Bàng huynh đã khẳng định Điền tướng quân thất bại!”

“Còn gì nữa?”

“Điền tướng quân vì thất bại mà chịu nhục, nếm mật nằm gai suốt mấy năm qua, đương nhiên đã nghĩ ra cách phá giải chiến thuật của Bàng huynh!”

“Ha ha ha!” Bàng Quyên ngửa cổ cười lớn một tràng, rồi chìa tay nói. “Tại hạ vốn định bày bữa rượu nhạt tiễn Tô huynh lên đường, song lại không nỡ làm lỡ hành trình của Tô huynh, xin lập tức cung tiễn Tô huynh lên đường!” Quay sang quân uý, giọng nói có phần châm biếm. “Mở đường, cung tiễn sứ Triệu Tô Tần sang Tề mượn binh!”

Cửa luỹ được mở ra.

Tô Tần vòng tay cảm tạ, phu xe vung roi thúc ngựa, lao thẳng ra khỏi cửa luỹ.

Đi được chừng một tầm tên bắn, từ phía sau vẳng đến giọng nói sang sảng của Bàng Quyên: “Tô huynh, hãy chuyển lời tới họ Điền, rằng tại hạ ở đây đợi hắn, bảo hắn dụng binh cho cẩn thận, lần này nếu lại để bị bắt sống, e là không còn cái vinh hạnh mặc váy bôi son nữa đâu!”

“Bàng huynh yên tâm, tại hạ nhất định sẽ chuyển lời!” Tô Tần quay đầu lại, lớn giọng đáp.

***

Cục thế căng thẳng giữa bốn nước Trung Sơn, Ngụy, Tần và Triệu cũng đã truyền tới cung Tề, trở thành chủ đề nghị luận chốn triều đình.

Từ đầu đông năm ngoái, Tề Uy Vương bị phong hàn liên tiếp mấy lần, cơ thể đang khoẻ mạnh là thế, giờ bắt đầu suy sụp, chuyện triều chính gần như giao cả cho thái tử Tích Cương xử lý, còn mình chọn lấy vài ái phi trẻ tuổi, chuyển vào Tuyết cung vui vầy. Thân tín bên cạnh đều biết, long thể của Uy Vương hao kiệt cũng chính là vì đám phi tần trẻ trung kia. Phần vì hiểu rằng ngày tháng không còn dài, phần vì tin vào thuyết lấy âm bổ dương, mà Uy Vương ngày càng mê đắm đàn bà, đặc biệt là đám gái tơ nhỏ tuổi, ngực vừa mới nhú, thậm chí đến cả bé gái chưa đầy mười tuổi, hầu như đêm nào cũng lâm hạnh, bất chấp ngự y khuyên can thế nào cũng không chịu nghe. Có điều, dù xương cốt không còn rắn rỏi, song đầu óc của Uy Vương vẫn minh mẫn như trước, đối với chiến sự bốn nước, lại tỏ ra hào hứng chưa từng có, hầu như hôm nào cũng cho đòi đám trọng thần, bao gồm cả thái tử, tới Tuyết cung nghị sự, nội dung đều là chuyện Hàm Đan.

Mấy vị trọng thần đều hiểu rõ Uy Vương vẫn đang kìm nén trong lòng một cơn uất hận, phàm là chuyện liên quan tới nước Ngụy, đều thu hút sự chú ý của Uy Vương. Không chỉ Uy Vương, các triều thần không ai không nhớ như in mối nhục Hoàng Trì, đặc biệt là thượng tướng quân Điền Kỵ, ngay cả trong mơ cũng nghiền ngẫm chuyện phục thù.

Buổi đại triều hôm nay, quan viên từ cấp đại phu trở lên xếp hàng trong điện, vẫn là thái tử Tích Cương chủ trì buổi nghị triều như lệ thường. Tích Cương vừa ngồi xuống ngai vàng, ngoài cửa bỗng vọng vào những tiếng ồn ào, rồi nội tể túc trực bước vào bẩm báo: “Đại vương giá đáo, chư khanh cung nghênh!”

Thái tử rời khỏi chỗ, cùng quần thần quỳ xuống nghênh đón trước điện. Một lát sau, Uy Vương được hai đồng nữ dìu đỡ, từng bước tiến vào. Theo sau Uy Vương còn có hai người, một là nội tể thân cận, một là thượng đại phu Điền Anh.

Uy Vương ngồi vào ngai vàng, hai đồng nữ đứng hầu phía sau, nội tể đứng bên cạnh, thượng đại phu Điền Anh tự đứng vào hàng ngũ triều thần.

“Các khanh bình thần!” Uy Vương uy nghiêm phẩy tay.

Quần thần tạ ơn, rồi ai ngồi vào chỗ nấy.

“Chư vị ái khanh!” Uy Vương đưa mắt nhìn khắp lượt triều thần đông nghịt hai bên tả hữu. “Quả nhân đã lâu không tham chính, song hôm nay trong lòng bứt rứt, nên mới tới đây thăm các ái khanh.”

Quần thần đều nhìn Uy Vương, chăm chú chờ nghe.

“Vì cớ gì mà quả nhân đột nhiên thấy trong lòng bứt rứt?” Uy Vương tự hỏi rồi tự trả lời. “Là vì Hàm Đan! Sáng sớm nay, quả nhân mơ thấy cả bốn cổng Hàm Đan đều đã bị lính Ngụy công phá, người Triệu tử trận la liệt, máu chảy thành sông!”

Quần thần đưa mắt nhìn nhau.

“Chư vị ái khanh!” Uy Vương nói tiếp. “Về lý mà nói, Ngụy Anh ức hiếp Triệu Ngữ, Đại Lương đánh Hàm Đan, kiểu gì cũng là chuyện của người Tấn họ, không liên quan tới quả nhân. Song quả nhân đã ở độ tuổi này, vừa sáng sớm lại mơ thấy đổ máu, là rất chẳng lành. Quả nhân cứ trằn trọc mãi, không thể nào ngủ tiếp, chợt nhớ hôm nay có buổi đại triều, nên lập tức đến ngay.”

Triều đường tĩnh lặng như tờ, mọi ánh mắt đều đổ dồn vào Uy Vương.

“Chư vị ái khanh, quả nhân xin chư vị hãy bàn luận thử, cuộc đổ máu này, nên xử trí ra sao?” Uy Vương đưa ra câu hỏi.

Gần nửa năm qua, Uy Vương chưa một lần lên triều, lần này không hẹn mà tới, vừa lên tiếng đã nhắc ngay tới Hàm Đan, khiến quần thần không khỏi một phen ngỡ ngàng, đều thắc mắc không biết trong lòng Uy Vương có ẩn ý gì.

Đợi hồi lâu, thấy quần thần vẫn im lặng, Uy Vương không thể kiên nhẫn thêm, bèn chỉ đích danh: “Trâu ái khanh hẳn có cao kiến?”

“Hồi tấu đại vương!” Trâu Kỵ bước ra khỏi hàng, vòng tay vái mà nói. “Thần cho rằng, Hàn, Triệu, Ngụy vốn là một nhà, Ngụy phạt Triệu, là chuyện nội bộ của Tam Tấn, đại vương nên tọa sơn quan chiến!”

“Thần cũng có tấu!” Điền Kỵ bước ra khỏi hàng, liếc mắt nhìn Trâu Kỵ, cất giọng sang sảng. “Sự việc Hàm Đan, liên quan tới bốn nước Trung Sơn, Tần, Ngụy và Triệu, không phải là chuyện của Tam Tấn. Ba đánh một, là lấy nhiều hiếp ít, không phải cuộc chiến có nghĩa. Ngụy, Triệu đều là nước hợp tung, minh ước còn chưa huỷ bỏ, Ngụy đã cấu kết với Tần phạt Triệu, chính là bội ước mà kết giao với địch. Là nước tham gia hợp tung, đại vương không thể ngồi nhìn!”

Lời Điền Kỵ khác nào một hồi chuông vang động, quần thần đều nhìn ông ta với ánh mắt tán thưởng. Trâu Kỵ thấy mất mặt, cười nhạt một tiếng, không nhìn Điền Kỵ, nhưng lời nói rõ ràng mang ý chống đối: “Đại Lương đánh Hàm Đan, kiểu gì cũng là chuyện của người Tấn họ, lời này lẽ nào lại sai?”

Quần thần đều chấn động. Câu này vừa được nói ra từ miệng Uy Vương, Trâu Kỵ giờ nhắc lại y nguyên, khác nào nói Điền Kỵ phạm thượng? Điền Kỵ vốn là kẻ võ biền, nói năng bộc tuệch, thấy Trâu Kỵ dùng câu đó để chặn họng mình thì giận tới tím tái mặt mày, phẩy ống tay áo phần phật mấy tiếng, song lại không thể thốt ra được lời nào.

“Ha ha ha!” Uy Vương cười vang vài tiếng, giải vây cho Điền Kỵ. “Là lời quả nhân không thoả đáng.” Rồi quay sang các triều thần khác. “Trâu tướng quốc cho rằng ta nên ngồi yên quan sát, Điền tướng quân cho rằng ta không thể ngồi xem, chư vị ái khanh có cao kiến gì chăng?”

Triều thần lập tức chia thành hai phe, phe thường xuyên qua lại với tướng quốc thì tìm mọi lý do ủng hộ Trâu Kỵ, phe thường xuyên qua lại phủ tướng quân thì lại một mực tán đồng Điền Kỵ. Thoáng chốc, trên triều đường đã không còn chút kiêng dè, tranh cãi kịch liệt, ồn ào mãi vẫn chưa thể ngã ngũ. Uy Vương vuốt chòm râu dài, mặt hiện nét cười, hai mắt lim dim, nửa như ngủ gật, lại nửa như đang chăm chú lắng nghe.

Tranh cãi suốt một canh giờ, vẫn không bên nào chịu nhường bên nào, chỉ có hai người từ đầu chí cuối không nói một câu, im lặng quan sát, chính là điện hạ Điền Tích Cương và thượng đại phu Điền Anh.

Có lẽ là nghe đã đủ, cũng có lẽ là do cơ thể không kham nổi nữa, Tề Uy Vương ho lớn một tiếng, rồi e lực vẫn không đủ mạnh, bèn gập ngón tay gõ lên mặt bàn.

Quần thần liền im bặt.

“Thượng đại phu!” Tề Uy Vương không còn nhìn vào triều thần nữa, mà ánh mắt chuyển sang Điền Anh. “Hội đua ngựa đã chuẩn bị đến đâu rồi?”

“Khởi tấu đại vương, đã chuẩn bị xong xuôi, chỉ đợi ngày đẹp trời!” Điền Anh bước ra khỏi hàng, dõng dạc bẩm tấu.

“Đi!” Tề Uy Vương quay sang nội tể bên cạnh. “Ra xem hôm nay trời có đẹp không?”

Nội tể rảo bước đi ra ngoài, tới trước cổng điện ngửa cổ nhìn trời, rồi lại hối hả đi vào, bẩm tấu: “Trời quang mây tạnh, đại vương cát tường!”

Uy Vương bật cười vài tiếng: “Các khanh đợi ngày đẹp trời, ngày đẹp trời đã tới, thực là trời thuận lòng người!” Rồi ánh mắt sáng rực quét khắp lượt quần thần. “Ngựa chiến nghỉ qua thu đông, béo tốt sung sức, đã đến lúc phải ra ngoài chạy nhảy. Chư vị đã giam chân suốt một mùa đông, cũng nên ra ngoài đi lại, thư giãn gân cốt. Gần đây thời tiết tuyệt đẹp, vụ xuân cũng đã xong xuôi, chính là thời điểm thích hợp để ruổi ngựa. Quả nhân quyết định, hội đua ngựa sẽ tổ chức sau ba ngày nữa, trình tự cụ thể, sẽ do thượng đại phu tuyên chiếu!”

Điền Anh bước lên tuyên chiếu, chiếu thư đại ý như sau: Hội đua ngựa vẫn giống mọi năm, tự báo danh ứng thí, bề tôi nước Tề phàm là có ngựa, đều được phép tham gia. Vẫn chia thành năm khu vực đua chính, trường đua đặt ở năm đô, lần lượt là Trung Đô Lâm Truy, Đông Đô Tức Mặc, Tây Đô Bình Lục, Nam Đô Doanh Thành, Bắc Đô Cao Đường, mỗi đô sẽ chọn ra một giải nhất, năm ngựa giải nhất của năm đô sẽ tập trung ở Lâm Truy, thi đấu trận cuối cùng, tìm ra ngựa thắng cuộc, có thể thách đấu với vương mã. Người dự thi cần trình ra ba cỗ xe tứ mã, thi đấu theo ba cấp thượng, trung và hạ, hai thắng một thua sẽ được tính là thắng. Ngựa xe dự thi, phàm là vào được trường đua sẽ được thưởng mười đĩnh vàng, phàm là vào được vòng năm đô quyết đấu sẽ được thưởng ba mươi đĩnh vàng, phàm là vào được vòng quốc đô quyết đấu sẽ được thưởng một trăm đĩnh vàng. Nếu đủ tư cách thách đấu vương mã, sẽ được thưởng ba trăm đĩnh vàng. Nếu chiến thắng vương mã, sẽ được thưởng năm trăm đĩnh vàng.

Điền Anh tuyên xong chiếu thư, quay trở về chỗ.

Chư thần có mặt đều ngỡ ngàng, bởi lẽ giải thưởng lần này cao gấp đôi năm ngoái, đặc biệt là phàm người dự thi đều có thưởng, tức là bất kể người nào, chỉ cần đánh ba cỗ xe chiến vào trong trường đua, là nghiễm nhiên được lĩnh mười đĩnh vàng của vương thất.

Thấy quần thần đều ngây người sửng sốt, Tề Uy Vương mỉm cười, giơ tay nói: “Chiếu lệnh đã ban, bãi triều, chư vị ái khanh hãy quay về phủ, dồn hết bản lĩnh vào tàu ngựa nhà mình. Sau ba ngày, ai đúng ai sai, ai cao ai thấp, ai thắng ai thua, trên trường đua sẽ phân định rõ ràng! Còn nữa, quả nhân sửa lại ý chỉ, người thắng vương mã, lĩnh thưởng một nghìn đĩnh vàng!”

Quần thần lại một phen kinh hãi.

“Thần tạ ơn đại vương!” Trâu Kỵ trấn tĩnh lại đầu tiên, quỳ xuống dập đầu hô lớn.

Quần thần giờ mới hoàn hồn, đồng loạt quỳ xuống theo.

Tề Uy Vương chậm rãi đứng dậy, do hai đồng nữ dìu đỡ, từng bước ra khỏi cửa bên.

Uy Vương đã tuyên bố bãi triều và ra khỏi cửa từ lâu, song triều đường vẫn trật tự ngay ngắn, quần thần quỳ nguyên tại chỗ, như thể đại triều vẫn chưa kết thúc.

Người đứng dậy đầu tiên là thái tử, theo sau đại vương, đi ra khỏi cửa bên.

Tiếp đến là Điền Kỵ đứng dậy, vẩy ống tay áo, vòng tay về phía Trâu Kỵ: “Tướng quốc đại nhân, ai đúng ai sai, ai cao ai thấp, ai thắng ai thua, trên trường đua sẽ phân định rõ ràng!” Nói đoạn quay người đi thẳng, vừa đi vừa dài giọng ngân nga: “Ai chà, chúng ta về ruổi ngựa đi thôi!”

Điền Kỵ cố tình nhắc lại lời Uy Vương, rõ ràng muốn cười nhạo Trâu Kỵ, vì trước đó, Trâu Kỵ vừa dẫn lời Uy Vương chặn họng Điền Kỵ.

Hội đua ngựa ba năm lại đây mới trở nên rầm rộ, bắt nguồn từ bản tấu của Điền Kỵ. Trong số quần thần triều đình, người thạo ngựa không ai qua được Điền Kỵ, ba năm liên tiếp, đều là ngựa của Điền phủ giành được tư cách thách đấu vương mã. Còn ngựa của phủ tướng quốc, hai năm trước còn chưa vào được vòng quyết đấu, năm ngoái tuy đã vào được vòng quyết đấu, song cỗ xe tứ mã thượng đẳng lại vẫn về sau cỗ chiến xa của Điền phủ ba thân ngựa, không những thế, cỗ xe ngựa hạ đẳng của Trâu phủ tới khúc ngoặt cuối cùng, do vòng quá gấp mà cỗ xe lật nhào, ngựa chổng bốn vó, khiến đám đông được một phen cười vỡ bụng, đã trở thành chuyện cười trong trường đua.

Trước thái độ thách thức của Điền Kỵ, trước những ánh mắt của triều thần đua nhau chiếu tới, Trâu Kỵ dù điềm tĩnh đến mấy cũng khó tránh mặt đỏ phừng phừng. Nghe tiếng gót giày của Điền Kỵ nện thình thịch trên bậc thềm trước điện, xa dần rồi mất hẳn, nhìn những triều thần khác cũng lục tục ra về, Trâu Kỵ mới đứng dậy, khẽ phủi vạt áo vài cái, miễn cưỡng nở một nụ cười với thượng đại phu Điền Anh đang đứng chờ bên cạnh, khẽ hất hàm, hai người một trước một sau rời khỏi triều đường, ai lên xe người nấy, chỉ một lát sau, đã tới phủ tướng quốc.

Uy Vương không hẹn mà tới, trước tiên nêu ra chuyện Tam Tấn, khiến quần thần tranh luận om sòm, rồi lại đột ngột chuyển sang đua ngựa, lại còn thảo sẵn chiếu thư, rõ ràng là có tính toán từ trước, hơn nữa, mưu tính này, Điền Anh đương nhiên biết rõ. Trong phòng khách của phủ tướng quốc, Trâu Kỵ nói thẳng vào đề: “Ba hội đua ngựa trước đây đều được tổ chức sau tiết Cốc vũ, năm nay đại vương lại quyết định sau ba ngày nữa, thế là sớm hơn chục ngày. Thượng đại phu phụ trách cụ thể về hội đua, trong đó hẳn có ẩn tình, Trâu Kỵ bất tài, xin được thỉnh giáo.”

“Hồi bẩm tướng quốc,” Điền Anh vòng tay đáp lời. “Hội đua ngựa năm nay cớ sao lại tổ chức sớm hơn, hạ quan cũng không được biết. Vào giờ Nhân định tối qua, đại vương đột ngột triệu kiến hạ quan, bàn luận về chuyện đua ngựa, hỏi sau ba ngày nữa có thể cử hành hay chăng. Hạ quan đáp rằng, ngày xuân ấm áp, ngựa đua các nơi sớm đã nhảy nhót chộn rộn, ba ngày nữa có thể tổ chức được. Đại vương không hỏi thêm lời nào, bảo hạ quan hồi phủ. Hôm nay lên triều, có người chặn hạ quan lại, giao chiếu thư cho hạ quan, bảo hạ quan chờ ở bên ngoài. Nào ngờ là vương giá lâm triều.”

Rõ ràng, hiện tại đã không chỉ đơn thuần là chuyện đua ngựa nữa. Trâu Kỵ hít sâu một hơi, khép mắt lại, chìm trong suy nghĩ.

Bất đồ, Trâu Kỵ khẽ “a” lên một tiếng, đôi mày nhướng cao, mí mắt hé mở, như chợt hiểu ra điều gì, rồi nhìn sang Điền Anh.

“Tướng quốc?” Điền Anh cũng nhìn lại.

Trâu Kỵ lại ngẫm nghĩ một hồi, như thể đã khẳng định, bèn hướng về vương cung vòng tay vái lia lịa, giọng tràn đầy khâm phục: “Đại vương thánh minh!”

Điền Anh nhổm người về phía trước, hai mắt nhìn Trâu Kỵ không chớp, muốn nghe lời giải thích.

Trâu Kỵ bật cười vang mấy tiếng: “Xem ra cuộc đua năm nay khác hẳn với năm trước, thượng đại phu đã phụng vương chỉ chủ trì hội đua, hãy nên dốc hết tâm lực, cử hành cho thật long trọng!”

“Ồ…” Điền Anh vẫn mặt mày ngơ ngác. “Hạ quan ngu dốt, dám hỏi tướng quốc, cuộc đua năm nay vì sao lại khác trước đây?”

“Là vì chiến sự Hàm Đan!”

“Chiến sự Hàm Đan?” Điền Anh càng không hiểu.

“Thượng đại phu hãy xem!” Trâu Kỵ đĩnh đạc giảng giải. “Nếu không nằm ngoài dự đoán của tại hạ, ba nước phạt Triệu, Tần là chủ mưu, Trương Nghi từ chức tướng quốc nước Tần sang Ngụy, hất cẳng Huệ Thi, mục đích chỉ có một, kết Ngụy phạt Triệu, phá bỏ minh ước hợp tung để giải vây cho Tần. Triệu là nước khởi xướng hợp tung, Tô Tần là người khởi xướng hợp tung, kinh đô Triệu bị bao vây, ấu chúa Triệu tất trách cứ Tô Tần, Tô Tần chỉ còn biết cầu cứu các nước hợp tung, mà nước Tô Tần lựa chọn đầu tiên ắt là nước Tề. Đại vương hẳn đã đoán được Tô Tần đang trên đường tới Tề, nên mới hạ gấp chỉ lệnh, tổ chức hội đua ngựa trước mười ngày.”

“Ý tướng quốc là,” Điền Anh như đã hiểu ra, “đại vương không muốn xuất binh cứu Triệu, nên mượn hội đua ngựa để ứng phó với Tô Tần?”

“Đúng vậy!” Trâu Kỵ đáp lời. “Thượng đại phu hãy xem, Ngụy đánh Triệu, Triệu ắt liều chết chống cự. Ngụy, Triệu giao tranh, hai bên ắt đều thương vong. Ngụy được Tần trợ giúp, lại cấu kết với Trung Sơn, khí thế đang mạnh. Ta lúc này nếu như cứu Triệu, chính là đối đầu với thế mạnh, trở mặt với bạo Tần. Ta và bạo Tần cách xa nghìn núi muôn sông, không nên vì Triệu mà gây thù chuốc oán với Tần. Bởi vậy nên đại vương…. ha ha ha…” Trâu Kỵ nói rồi nhịp ngón tay xuống mặt bàn, tâm tư vô cùng sảng khoái.

Điền Anh lúc này cũng bật cười. “Tướng quốc yên tâm, về hội đua ngựa, hạ quan nhất định sẽ dốc hết sức mọn, khuấy động đến từng ngóc ngách trên khắp nước Tề!” Rồi đứng dậy vòng tay. “Hạ quan xin được đi thu xếp!”

“Thượng đại phu dừng bước!” Trâu Kỵ giơ tay ngăn lại. “Trâu Kỵ còn có một điều muốn hỏi, nghe nói hội đua ngựa năm ngoái, các thành ấp đều không thiếu người cá cược, chuyện này có thật chăng?”

Điền Anh giật thột trong lòng, lại ngồi trở xuống.

Cá cược trong hội đua ngựa chính là biến tướng của đánh bạc, có thể nói là cơ hội tuyệt hảo để quan viên các phủ thu tiền hợp pháp. Do vậy, ngay từ hội đua ngựa lần thứ nhất, đã có những kẻ đầu óc nhanh nhạy nhờ dẫn dụ cá cược mà phát tài to. Hai hội đua tiếp theo, quan viên các cấp đua nhau đặt cược, cá cược đã trở thành trào lưu, đều thu về bộn bạc, phủ thượng đại phu chưởng quản hội đua ngựa, ngoài mặt sau lưng, đương nhiên cũng thu lời không ít. Đây là một mảnh ruộng màu mỡ cung cấp tiền bạc còn chóng vánh hơn cả phong ấp. Trâu Kỵ lúc này hỏi đến, dụng ý không nói cũng hiểu.

“Quả thực là có chuyện này!” Điền Anh không dám giấu giếm, bẩm báo chi tiết một lượt về nhà cái các vùng, cùng chuyện đặt cược, tỷ lệ phân chia.

“Nhà cái năm nay,” Trâu Kỵ nghe xong, nhổm người về phía trước hỏi, “thượng đại phu hẳn đã định đoạt?”

“Ý của hạ quan là, vẫn tuân theo quy cách của năm ngoái. Nếu tướng quốc đại nhân cảm thấy không ổn thoả, hạ quan sẽ huỷ bỏ toàn bộ nhà cái!”

“Đã thành quy cách rồi, sao có thể huỷ bỏ được?” Trâu Kỵ cười nói. “Hơn nữa, đến đại vương cũng còn đặt cược cả nghìn vàng, cho thấy cá cược là hợp với ý bề trên. Theo ý lão hủ, cá cược không những không nên huỷ, mà ngược lại, nên tăng cường gấp bội! Còn chuyện nhà cái, nếu như phủ doãn các nơi đều đã tham gia, thì phủ tướng quốc hẳn cũng nên góp vui, ý thượng đại phu thế nào?”

“Thế thì tốt quá!” Điền Anh thở phào nhẹ nhõm, cũng cười vài tiếng. “Có phủ tướng quốc tham gia làm nhà cái, hội đua ngựa năm nay chắc chắn sẽ khởi sắc chưa từng có.”

Tiễn Điền Anh về rồi, Trâu Kỵ lại ngồi thêm một lúc, rồi cho gọi quản gia lại, hai người đánh xe ra khỏi thành, tới thẳng bãi thả ngựa nhà mình.

Bãi thả ngựa của Trâu phủ mới được xây dựng vào năm kia, nằm dưới chân Tắc Sơn cách Lâm Truy hơn chục dặm về phía nam, chủ yếu là để hưởng ứng chiếu lệnh của Uy Vương. Lâm Truy địa thế nam cao bắc thấp, khắp vùng Tắc Sơn rừng cây rậm rạp, dưới chân núi vốn là ruộng vườn bát ngát, mấy năm gần đây thịnh hành nuôi ngựa, những mảnh ruộng này đa phần đã bị quý tộc trong thành khoanh thành bãi thả ngựa. Phủ tướng quốc tới sau mà vượt trước, chiếm lấy một mảnh tại đó, rộng chừng bốn tỉnh, bên trong nuôi trăm con ngựa, đều là ngựa tốt trăm con chọn một, hơn nữa ngày càng lớn mạnh thêm.

Trâu Kỵ đi xem xét một lượt các chuồng ngựa, rồi vòng về nhà chứa cỏ bên cạnh sân đua, ngồi nghỉ trên đài quan sát dựng tạm, đợi xem diễn tập đua ngựa. Một lát sau, ba cỗ xe đua đã qua tuyển lựa kỹ càng tề tựu ở sân đua, tổng quản trường ngựa Cừu Quy vừa phát hiệu lệnh, ba cỗ xe tứ mã đồng loạt lao vụt đi, bánh lăn rầm rập, cuốn bụi mịt mù. Trên ba cỗ xe chiến ghi rõ thứ hạng của ngựa đua, cứ thế lao vòng quanh sân đua. Tới vòng thứ năm, cỗ xe hạ đẳng đã bị bỏ lại tít phía sau, khoảng cách giữa xe ngựa thượng đẳng và trung đẳng dần dần xích lại, tới vòng cuối cùng, chỉ còn kém nhau đúng nửa thân xe.

Nhìn thấy Trâu Kỵ mặt mày rầu rĩ, Cừu Quy chỉ vào cỗ xe thượng đẳng, nói: “Bẩm chúa công, sở dĩ không thể kéo dài khoảng cách, là vì ngựa kéo xe. Bốn ngựa kéo xe thượng đẳng sức mạnh tương đương, ngựa thắng càng xe không thể bứt lên, không đảm đương được nhiệm vụ thống lĩnh ba ngựa còn lại, nên đã gây cản trở. Ngược lại, nhìn cỗ xe trung đẳng, ngựa thắng càng xe ngang sức với ngựa kéo xe thượng đẳng, nên có thể ung dung thống lĩnh ba con ngựa còn lại, xe ổn định mà chạy nhanh.”

Cừu Quy vốn là lái buôn ngựa đất Yên, giỏi nuôi ngựa, cũng am hiểu ngựa, hai năm trước gây ra án mạng ở nước Yên, bèn sang Tề lánh nạn, vừa hay Trâu phủ đang tuyển nhân tài nuôi ngựa, được Trâu Kỵ cất nhắc làm gia thần, cai quản bãi ngựa mới lập.

“Ồ…” Trâu Kỵ chau tít đôi mày hồi lâu. “Làm thế nào mới tìm được ngựa thắng càng thích hợp?”

“Ngựa kéo xe thượng đẳng đều là ngựa ký, một ngày có thể chạy tám trăm dặm, duy chỉ thiên lý mã mới có thể thống lĩnh được nó!”

“Thiên lý mã?” Trâu Kỵ hít ngược một hơi khí lạnh.

Cừu Quy khẽ thở dài một tiếng, ủ ê lắc đầu.

***

Tất cả đều đúng như dự tính. Sau hôm Tề Uy Vương ban chiếu tổ chức hội đua ngựa một ngày, Tô Tần từ Hàm Đan cuốn bụi suốt dọc đường tìm tới Lâm Truy, một xe một ngựa thẳng tiến vào cổng Tắc Môn phía tây thành, men theo con đường cái quan chạy giữa học cung Tắc Hạ, rong ruổi về đông, hai lá cờ lớn tung bay phấp phới trước sau cỗ xe, đặc biệt là lá cờ viết chữ “Tô” thật lớn cắm phía sau xe, càng thêm chói mắt dưới ánh nắng xuân rực rỡ đương lúc chính ngọ.

Xe Tô Tần chạy thẳng tới cung Tề, xin vào yết kiến Tề Vương. Nội thần túc trực ra đón, nói rằng Tề Vương không ở trong cung, đã tới trường đua ngựa rồi, còn nói hội đua ngựa sắp sửa diễn ra, quân thần nước Tề đều không còn tâm trí đâu mà lo quốc sự, khuyên Tô Tần tốt nhất đợi đến khi hội đua kết thúc hãy quay lại.

Đây là điều Tô Tần đã lường trước được, bởi lẽ khi sắp tới Lâm Truy, qua miệng ông chủ quán trọ, Tô Tần đã biết hội đua ngựa sẽ diễn ra sớm hơn thường lệ, và cũng đoán được rằng, nguyên do cử hành sớm hơn, có đến quá nửa là để đối phó với mình. Nhớ lại mấy năm về trước, khi tới nước Tề hợp tung, Tề Uy Vương đã đặc biệt bày ra cho mình cuộc thử thách Tắc Hạ, Tô Tần cười gượng một tiếng, bảo Trâu Phi Đao đánh xe quay lại trở về học cung Tắc Hạ.

Học cung Tắc Hạ vẫn giữ lại tòa trạch viện cho Tô Tần, còn có ba nô bộc thường xuyên quét dọn. Tô Tần sắp xếp xong xuôi, ăn qua loa chút trà bánh điểm tâm rồi sai Trâu Phi Đao đánh xe tới phủ Điền Kỵ.

Điền Kỵ không ở trong phủ, quản gia cho hay tối qua ông ta đã tới trường ngựa ở Nam Sơn. Tô Tần nhìn sắc trời, quyết định tới trường ngựa gặp Điền Kỵ. Thấy cỗ xe của Trâu Phi Đao chỉ có một ngựa kéo, lại mệt nhọc thấy rõ, quản gia bèn sai nô bộc dắt xe ngựa của Tô Tần vào chuồng ngựa ở hậu viện, tháo ngựa ra cho nghỉ ngơi, thay bằng một cỗ xe tứ mã, đích thân đưa Tô Tần lên đường tới trường ngựa.

Trường ngựa này, Điền Kỵ chăm chút đã nhiều năm, rộng gấp hơn hai lần so với trường ngựa của phủ tướng quốc, có đến gần năm trăm con ngựa, đa phần được lựa chọn từ trong nghìn vạn ngựa chiến. Trường ngựa có vài chục mã phu, gần trăm tay đánh xe cừ khôi, một khi xảy ra chiến sự, chỉ tính riêng gia binh, Điền Kỵ đã có thể xuất đến trăm cỗ xe chiến. Đây là một khối tài sản cự phách, cũng là nền móng vững vàng giúp Điền Kỵ dám ra mặt đối đầu với đám đại thần giữa chốn triều đường, bao gồm cả Trâu Kỵ.

Ráng chiều đỏ rực khắp trời, Điền Kỵ vẫn chưa hết cơn hào hứng, đang trò chuyện với mấy con ngựa cưng trong trường ngựa, hết vỗ về con này lại vuốt ve con kia. Mấy con ngựa mỗi con một kiểu biểu lộ niềm hoan hỷ. Thấy Tô Tần đến, Điền Kỵ vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ, đưa cho Tô Tần một sợi dây cương, mình cũng dắt theo một con, để mấy con còn lại đi theo sau, vừa rong ngựa, vừa trò chuyện dọc theo trường ngựa. Tô Tần kể sơ qua về tình cảnh nguy khốn của Hàm Đan, Điền Kỵ cũng thẳng thắn thuật lại cuộc tranh luận trong triều đình.

“Phải rồi!” Tô Tần dừng bước. “Tại hạ suýt nữa thì quên mất một chuyện. Khi rời khỏi Hàm Đan, người Ngụy cản đường, nghe nói là tại hạ, Bàng Quyên đã đích thân tới gặp, nói là muốn bày tiệc tiễn đưa tại hạ. Được biết tại hạ muốn tới Tề cầu cứu, Bàng Quyên bèn giở giọng châm chọc, nói rằng ở trên đời này hắn chẳng sợ ai, chỉ sợ quân Tề, lại hỏi liệu Tề Vương sẽ cử ai cầm quân. Tại hạ có nhắc tới danh hiệu tướng quân, Bàng Quyên bèn nhờ tại hạ gửi lời nhắn tới tướng quân.”

Điền Kỵ biến ngay sắc mặt, cổ họng cũng cứng lại, chỉ ngắc ngứ được vài tiếng: “Hắn nói gì?”

“Than ôi!” Tô Tần thở dài một tiếng. “Lời này… không nói là hơn!”

“Tô Tử cứ nói chớ ngại!” Điền Kỵ thúc giục.

“Tại hạ đi được một tầm tên bắn, Bàng Quyên còn gọi giật theo sau,” Tô Tần nhìn về phía tây, kéo dài giọng, bắt chước ngữ điệu của Bàng Quyên, “Tô huynh, hãy chuyển lời tới họ Điền rằng, tại hạ ở đây đợi hắn, bảo hắn dụng binh cho cẩn thận, lần này nếu lại để bị bắt sống, e là không còn cái vinh hạnh mặc váy bôi son nữa đâu!”

Dù đã lường trước, Điền Kỵ vẫn giận dữ đến thở phì phò, nắm tay siết chặt đến mức kêu lên răng rắc.

Nhẫn nhịn không quá ba hơi thở, Điền Kỵ bốc hoả đùng đùng, ném toẹt luôn dây cương xuống đất, chụp ngay lấy vạt áo Tô Tần nói: “Tô Tử, đi thôi, lập tức theo tại hạ tới Tuyết cung, cầu kiến đại vương, khởi binh hợp sức đánh thằng giặc kia!”

“Điền tướng quân!” Tô Tần xua tay nói. “Đại vương chí ở đua ngựa, không còn lòng dạ nào để bàn chính sự đâu!”

“Đua ngựa cái gì nữa?” Điền Kỵ thất khiếu bốc khói. “Họ Bàng làm nhục Đại Tề ta, đây là cố tình khiêu khích!”

“Điền huynh xin hãy nghe lời tại hạ!” Tô Tần nhặt dây cương ngựa lên, đặt lại vào trong tay Điền Kỵ. “Quân tử phục thù, mười năm chưa muộn. Điền huynh đã nhẫn nhịn chín năm rồi, đợi thêm vài ngày nữa cũng có hề gì?”

Điền Kỵ lại giậm chân vài cái, gắng gượng kìm nén cơn giận dữ.

Tô Tần thấy Điền Kỵ đã nguôi ngoai phần nào, mới vòng tay nói: “Điền huynh, các vị bận rộn với hội đua ngựa, tại hạ không có việc gì làm, lâu rồi không được gặp Tôn huynh, tại hạ muốn gặp gỡ để hàn huyên chuyện cũ.”

“Việc này thì dễ thôi!” Điền Kỵ đưa tay chỉ vào trong ngọn núi phía xa. “Tôn huynh ở tại sơn trang trước mặt!”

Hai người lập tức lên đường, đánh xe vào trong núi, đi chừng một canh giờ thì tới một thung lũng. Nói là thung lũng, kỳ thực là một khe cụt không có đường ra, đáy khe bằng phẳng, rộng khoảng trăm mẫu. Ngoài con đường dẫn vào trong khe, ba mặt khác đều là vách đá, cao tới vài chục trượng, đá nhiều đất ít, dựng đứng cheo leo. Trong kẽ đá cây cối um tùm, che khuất cảnh vật trong khe. Trên triền núi bên trái có thác nước đổ xuống, nước tuôn rào rào, nghe đến vui tai trong màn đêm tĩnh mịch.

Thung lũng này là sản nghiệp do tổ tiên Điền Kỵ để lại, truyền tới đời Điền Kỵ, liền cho xây tường cao trên các đỉnh dốc xung quanh, lại thiết kế cổng lớn ở ngay lối vào khe, cả ngày đóng kín, có nô bộc chuyên trông coi, người ngoài không được phép đặt chân vào, vừa là khu vườn nghỉ mát của Điền phủ, lại vừa làm chốn ẩn thân tạm thời những lúc nguy nan.

Trời đã tối hẳn. Điền Kỵ gọi người mở cổng sơn trang, đi thẳng vào trong.

Trong khe núi tối đen như mực, không một chút ánh sáng. Điền Kỵ đánh xe tới trước một gian nhà cỏ, nhảy xuống đất, cất giọng oang oang gọi: “Tôn huynh, tẩu phu nhân, có khách quý tới thăm!”

Âm thanh bên ngoài rõ ràng đã làm kinh động đến gian nhà cỏ từ nãy. Đèn nến vụt sáng, cánh cửa mở ra, một người đàn bà từ bên trong bước tới, cúi gập người vái chào. Nhận ra đó là Thụy Mai công chúa, Tô Tần cũng khom lưng đáp lễ, nói: “Tô Tần bái kiến tẩu phu nhân!”

Thụy Mai nhận ra Tô Tần, thì vô cùng mừng rỡ: “Đúng thực là khách quý! Phu quân nhà tôi chiều nay vừa mới nhắc tới Tô đại nhân.” Rồi lui sang một bên, nhường đường nói. “Tô đại nhân, Điền đại nhân, mời!”

Hai người vào phòng, Tôn Tẫn đã đợi sẵn bên trong. Huynh đệ gặp nhau, mừng vui khôn xiết. Phía này ba người hàn huyên tâm sự, phía kia Thụy Mai lúi húi trong bếp, chưa đầy nửa canh giờ, đã bưng lên mấy món ngon lành.

Tôn Tẫn tiếp hai người được vài tuần rượu, thì vào chuyện chính, cười hỏi Điền Kỵ: “Nghe nói hội đua ngựa tổ chức sớm hơn, đại vương treo thưởng nghìn đĩnh vàng, có chuyện này chăng?”

Điền Kỵ lập tức sầm mặt xuống, ực một hơi cạn sạch chén rượu, quẹt miệng nói: “Tôn huynh, uống rượu thì cứ uống đi, đừng nhắc tới chuyện không vui nữa!”

“Có chuyện gì không vui?”

“Đua ngựa!”

“Ha ha, đua ngựa chẳng phải là việc tướng quân yêu thích nhất ư?”

“Nếu là bình thường, đúng là thích nhất, nhưng lúc này,” Điền Kỵ thở dài một tiếng, cười gượng gạo, lắc đầu mà rằng, “chiến sự ở Hàm Đan vô cùng nguy cấp, đại vương lại hạ chỉ đua ngựa cược tiền, Tôn huynh nói thử xem, thế có sốt ruột không kia chứ?”

“Nói như vậy,” Tôn Tẫn quay sang Tô Tần, “Tô huynh tới đây cũng vì chiến sự Hàm Đan?”

Tô Tần gật đầu.

“Nhắc tới chuyện đua ngựa lần này, Tôn huynh cũng thực là đáng trách!” Điền Kỵ quay sang Tôn Tẫn, cất giọng trách móc.

“Cớ sao lại trách Tôn huynh?” Tô Tần ngạc nhiên.

“Không giấu gì Tô huynh,” Điền Kỵ có phân kích động, nói liền một mạch. “Ba năm trước, Tôn huynh bảo tại hạ tấu thỉnh đại vương tổ chức hội đua ngựa, không ngờ đại vương là kẻ mê ngựa, lập tức tán thành, hạ ngay chỉ lệnh cho thượng đại phu Điền Anh chủ trì, mỗi năm mở hội đua ngựa một lần vào sau vụ xuân tháng ba. Hiện tại, vụ xuân còn chưa tới, Hàm Đan lại quân tình nguy cấp, đại vương không bàn chuyện xuất binh cứu Triệu, ngược lại còn xuống chiếu cho mở hội đua ngựa sớm hơn lệ thường, thực khiến người ta…” Rồi lắc đầu nặng nề, thở dài sườn sượt, đấm mạnh xuống mặt bàn.

“Nói tới đua ngựa, tại hạ lại có điều muốn hỏi!” Tôn Tẫn thong thả cất lời, nheo mắt nhìn sang Điền Kỵ.

“Cứ hỏi!” Điền Kỵ nhìn lại, vẫn chưa hết bực bội.

“Năm nay có tổng cộng bao nhiêu xe ngựa dự thi?”

“Tính cả năm đô, không dưới ba trăm cỗ xe, một nghìn hai trăm ngựa kéo.”

“Một nghìn hai trăm ngựa kéo!” Tôn Tẫn nhắm mắt một lát, rồi ngẩng đầu hỏi tiếp. “Nếu như chiêu mộ, theo tính toán của tướng quân, trong vòng mười ngày, nước Tề có thể trưng dụng được bao nhiêu ngựa?”

Điền Kỵ gập ngón tay nhẩm tính, lẩm bẩm: “Ngựa đua ba cấp thượng, trung, hạ, nếu tính ba mươi chọn một, cũng phải tới ba vạn sáu nghìn con, cộng thêm những con khác, có lẽ sẽ trưng dụng được bốn vạn con.”

“Bốn vạn con?” Tôn Tẫn khẽ chau mày, lắc đầu. “Vẫn hơi ít!”

“Cái gì? Hơi ít?” Điền Kỵ trợn trừng con mắt. “Bốn vạn con ngựa có thể trưng dụng, nếu dùng vào kéo xe thì cũng đủ cho một vạn cỗ xe chiến tứ mã, xếp vào trận quân, thiên hạ vô địch!”

“Điền tướng quân!” Tôn Tẫn cứ như thể không nghe thấy, lại hỏi tiếp. “Trong số binh sĩ của tướng quân, bao nhiêu người có thể bỏ xe cưỡi ngựa?”

“Gì kia?” Điền Kỵ sửng sốt. “Vì sao lại muốn họ bỏ xe cưỡi ngựa?”

“Tướng quân còn chưa trả lời câu hỏi của tại hạ!”

“Có thể bỏ xe cưỡi ngựa, có lẽ khoảng ba nghìn người!”

“Tại hạ còn một câu hỏi, tướng quân có mong quyết chiến một trận với Bàng Quyên chăng?”

“Lại còn phải hỏi?” Điền Kỵ siết chặt nắm tay. “Tại hạ đến trong mơ cũng muốn băm vằm tên khốn đó thành trăm nghìn mảnh!”

“Nếu nói như vậy, tướng quân có thể để ba nghìn người này huấn luyện ra được ba vạn kỵ sĩ trong vòng một tháng không?”

“Ba vạn?” Điền Kỵ kinh ngạc.

“Điền tướng quân!” Tôn Tẫn mỉm cười, lại bồi thêm một câu. “Nếu muốn thủ thắng, việc này cần đảm bảo bí mật, còn như hiện tại, tướng quân hãy cứ an tâm dốc sức vào đua ngựa. Đại vương đã treo thưởng nghìn đĩnh vàng, tướng quân cũng nên giành lấy giải đầu mới đúng.”

“Được!” Điền Kỵ cất giọng sang sảng đáp lời. “Tô huynh, Tôn huynh, hai vị cứ từ từ thưởng thức rượu ngon món ngon của tẩu phu nhân, tại hạ lập tức trở về chuẩn bị, thề phải giành lấy giải đầu!” Rồi lần lượt vòng tay vái chào hai người, đứng dậy ra về luôn.

***

Đêm đã về khua, trong Tuyết cung một màu tăm tối. Thái tử Tích Cương thần sắc căng thẳng, theo sau nội tể, hấp tấp sải bước vào trong chính điện.

Dưới ánh đèn, Uy Vương ngồi ngay ngắn trên chiếu, rõ ràng đang chờ thái tử. Tề Uy Vương hiếm khi triệu kiến quần thần vào ban đêm, lần này gọi thái tử tới, chắc chắn là đã xảy ra chuyện lớn.

“Nhi thần khấu kiến phụ vương!” Tích Cương phủ phục dưới đất, giọng nói hơi run run.

Uy Vương phẩy tay, chỉ vào vị trí đối diện, thấy Tích Cương đã ngồi vào chỗ, lập tức nói thẳng vào chuyện: “Cương nhi, phụ vương cho vời con tới, không vì chuyện khác, mà chính là chuyện đua ngựa.”

“Chuyện đua ngựa?” Tích Cương nhìn sang Uy Vương, có phần ngỡ ngàng. “Dám hỏi phụ vương, chuyện đua ngựa thế nào?”

“Tôn ái khanh.” Uy Vương nhìn sang bên phải. “Khanh hãy nói cho thái tử biết, chuyện đua ngựa thế nào?”

Tích Cương đưa mắt nhìn theo, lúc này mới thấy chỗ đối diện có một người đang ngồi, chính là mã sư cung đình Tôn Duyệt. Do Tôn Duyệt vận trang phục đen, lại vừa hay ngồi chỗ khuất sáng nên Tích Cương trong lúc vội vã đã không nhận ra.

“Khởi bẩm điện hạ!” Tôn Duyệt vòng tay nói. “Hội đua ngựa trước đây đều do thượng đại phu Điền Anh chủ trì, năm nay đại vương triệu thần tới bàn bạc chuyện này, thần cho rằng, hội đua ngựa năm nay không như thường lệ, mới đề nghị điện hạ chủ trì. Đại vương lập tức ân chuẩn, nên mời điện hạ tới cùng bàn đại sự.”

Thấy là chuyện này, Tích Cương thở phào một tiếng, tâm tư nhẹ nhõm hẳn, nhìn sang Tôn Duyệt. Tôn Duyệt là hậu duệ đời thứ tám của mã sư nổi tiếng Bá Nhạc Tôn Dương thời Tần Mục Công, đời đời sống ở đất tổ Cáo Ấp. Cáo Ấp vốn là đô thành của nước Cáo, Cáo thất đã tuyệt tự từ trăm năm trước, lãnh thổ bị nước Tống thôn tính, ba mươi năm trước cắt cho Tề, hậu duệ của Bá Nhạc cũng theo đó mà trở thành dân Tề. Còn như Tôn Duyệt, do tinh thông thuật xem tướng ngựa tổ truyền mà được Uy Vương trọng dụng, đặc biệt cất nhắc làm mã sư của vương thất, chức quan tới đại phu, mười năm qua đã tìm kiếm cho vương thất được vài con thiên lý mã, còn ngựa hay thì chật ních trong chuồng. Nước Tề mấy lần đua ngựa, mà địa vị vương mã cho tới nay vẫn không hề suy suyển, đều là nhờ công lao của Tôn Duyệt.

Tích Cương nở một nụ cười, vòng tay đáp lễ, nói: “Tích Cương dốt nát kém cỏi, năm nay vì sao lại khác với trước đây, còn nhờ tiên sinh chỉ giáo!”

“Điện hạ cười chê nô tài rồi!” Tôn Duyệt cười đáp, rồi cất giọng dõng dạc. “Đua ngựa trước đây, chỉ là đua ngựa. Còn đua ngựa năm nay, ngoài đua ngựa còn có thêm một cuộc đua khác, chính là đua tiền!”

“Đua tiền?” Tích Cương hít vào một hơi thật sâu, ngả người về phía trước, sốt sắng hỏi lại.

“Theo thần được biết, nhà giàu có trong các đô ấp, không ai không đặt cược vào đua ngựa, ít thì vài đĩnh vàng, mà nhiều thì vài trăm đĩnh, thậm chí có người còn hơn thế nữa, đánh cược tới nghìn đĩnh vàng, vì thế nên thần mới nói là đua tiền.”

“Cương Nhi!” Uy Vương tiếp lời, cố tình kéo dài giọng. “Ngựa cũng tốt, mà tiền cũng tốt, đều là quốc lực. Thứ mang ra đua đã là quốc lực, thì nhất thiết không được qua loa đại khái, con phải tận tâm tận lực, không được sơ suất!”

“Phụ vương!” Thấy Uy Vương nhắc tới quốc lực, Tích Cương đột nhiên bừng tỉnh, hạ giọng bẩm báo. “Ba nước điều quân tới Triệu, Bàng Quyên vây khốn Hàm Đan, Tô Tần thỉnh cầu viện trợ, tình thế quá ư cấp bách!”

“Người Ngụy phạt Hàm Đan,” Uy Vương mỉm cười, liếc thái tử một cái, “chứ đâu phải là Lâm Truy, con sốt ruột gì kia?”

“Phụ vương?” Tích Cương ngỡ ngàng.

“Tích Cương!” Uy Vương thu lại nụ cười, nhổm người về phía trước. “Con nên nhớ, năm xưa Ngụy phạt Trung Sơn, có Văn Hầu anh minh, có Nhạc Dương, Ngô Khởi mưu trí, có võ binh Đại Ngụy hùng mạnh, vậy mà phải mất ba năm mới phá nổi, huống hồ ngày nay phạt Triệu?”

Tích Cương dường như đã hiểu ra, khẽ gật đầu.

“Hơn nữa, con lấy gì để đánh? Chiến tranh cần có tiền bạc, lương thảo. Quả nhân đã hỏi kỹ rồi, lương thảo tuy rằng không thiếu, song tiền bạc không đủ. Không có tiền, lấy đâu ra binh khí, quân nhu? Tiền ở đâu? Tiền ở trong tư khố của hộ giàu có các ấp. Làm thế nào mới khiến cho họ cam tâm tình nguyện bỏ ra? Chính là cá cược! Cho nên trong cuộc đua này, đua ngựa chỉ là thứ yếu, đua tiền mới là chủ chốt! Con có thể truyền ý chỉ của quả nhân, cấm chỉ năm đô lập nhà cái, tất cả nhà cái đều quy về vương thất quản lý!”

Thấy phụ vương tính toán tới nước này, Tích Cương lập tức bừng tỏ, thán phục sát đất, nhắm mắt suy ngẫm một hồi, dường như sực nhớ ra điều gì, bèn ngập ngừng lên tiếng: “Đúng là tuyệt diệu. Chỉ có điều quan lại các cấp, nhà cái các nơi, sớm đã rậm rịch chuẩn bị, đổ bao tâm huyết vào hội đua ngựa năm nay, nếu thình lình cấm chỉ năm đô lập nhà cái, e là sẽ khiến họ nhất thời…”

“Phải, ý con là lửa không thể dập vội!” Uy Vương gật đầu lia lịa, trầm ngâm một lát. “Vậy thì, hãy truyền chỉ Điền Anh, nhà cái ở năm đô vẫn do năm đô thiết lập, song cá cược trong cuộc quyết đấu sau cùng, phải do vương thất lập nhà cái, người khác không được can dự vào!”

“Nhi thần tuân chỉ!”

“Còn nữa,” Uy Vương nhìn sang Tôn Duyệt, “Tôn ái khanh, theo nhãn lực của khanh, hội đua năm nay, liệu có ngựa nhà nào có thể đọ tài cao thấp cùng vương mã?”

Tôn Duyệt lắc đầu.

“Ngựa của năm đô, liệu có con nào có thể đọ tài cao thấp cùng ngựa của phủ Điền tướng quân?”

Tôn Duyệt vẫn lắc đầu.

“Thế thì không thoả đáng!” Uy Vương ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi lắc đầu nói. “Sức mạnh chênh lệch quá lớn, cuộc đua sẽ không còn thú vị. Không còn thú vị, sẽ không thể kích thích. Không thể kích thích, thì còn có ai dám đứng ra làm nhà cái nữa?”

“Nếu nói như vậy,” Tôn Duyệt cười nói, “thần xin có một chủ ý!”

“Ái khanh cứ nói!”

“Có thể đọ tài cao thấp với ngựa đua của phủ Điền tướng quân, có lẽ là ngựa của Trâu tướng quốc, song ngựa của Trâu tướng quốc thua ở tứ mã thượng đẳng, là vì trong đó thiếu một con ngựa thắng càng xe hợp ý. Nếu như…” Tôn Duyệt dừng lại nửa chừng.

“Nói tiếp đi!” Uy Vương nhìn sang.

“Hai tháng trước, thần tìm được ở Trung Sơn một con tuấn mã, đặt tên là Như Phong, hiện tại bên ngoài vẫn chưa ai hay biết. Nếu đại vương không tiếc, thần xin…”

“Đi mau!” Uy Vương phẩy tay chặn lời Tôn Duyệt. “Cứ theo ý của ái khanh, nhất thiết phải sắp xếp cho ly kỳ vào. Mà phải rồi, con ngựa này đã tiêu tốn bao nhiêu kim khố của quả nhân?”

“Hai trăm đĩnh!”

“Nghe nói người nhà tướng quốc kinh doanh muối và thép, sản nghiệp không hề nhỏ, cái giá này…” Uy Vương hất hàm, nheo nheo mắt lại.

Tôn Duyệt hiểu ý, vòng tay nói: “Thần lĩnh chỉ!”

“Thiên lý mã?” Trâu Kỵ hai mắt sáng rực, hít sâu một hơi, ngả hẳn người về phía trước, nhìn trừng trừng vào môn khách Công Tôn Hãn vừa tới phủ. “Ngươi dám khẳng định?”

“Hồi bẩm chúa công!” Công Tôn Hãn có vẻ ngập ngừng. “Thần không am hiểu về ngựa, chỉ là sáng nay đi dạo ở chợ ngựa, tình cờ gặp một người bán con ngựa đang cưỡi. Thần quan sát thấy con ngựa đó hình thể tráng kiện lạ lùng, tiếng hí vang tận mây xanh, đoán rằng chẳng phải ngựa thường, cũng vì nhất thời hiếu kỳ, nên tiến lại hỏi giá. Người này mở miệng liền đòi ba trăm đĩnh, không bớt một đồng. Ba trăm đĩnh đúng là cái giá trên trời, thần vô cùng sửng sốt, quay trở về chỗ ở, bèn đem chuyện này kể với mọi người, mới biết chúa công đang khao khát ngựa quý, chỉ sợ làm lỡ đại sự của chúa công, nên mạo muội tới cầu kiến.”

“Con ngựa đó hiện đang ở đâu? Chủ ngựa là ai?” Trâu Kỵ vội hỏi.

“Chợ ngựa phố Bắc Nhai, thần chưa hỏi tên chủ ngựa, quan sát diện mạo, có lẽ là người Hồ đất Bắc, nói rằng vì hội đua ngựa nên mới đặc biệt tìm tới đây, giữa đường gặp mưa, do xót ngựa mà lỡ mất hành trình. Hôm qua mới tới chợ ngựa, muốn tìm chủ mới cho con ngựa này.”

Trâu Kỵ trầm ngâm một lát, thảo ngay một bức thư, đưa cho Công Tôn Hãn, nói: “Ngươi hãy cầm bức thư này, tới ngay trạch phủ của mã sư cung đình Tôn đại nhân, thỉnh cầu Tôn đại nhân cất công tới chợ ngựa phố Bắc Nhai một chuyến!”

Công Tôn Hãn vâng lệnh, vội vã đi ngay. Trâu Kỵ thay đổi trang phục, dặn quản gia chuẩn bị đủ ba trăm đĩnh vàng, chia làm ba rương xếp lên xe, dẫn theo vài chục gia thần tiền hô hậu ủng tiến thẳng tới phố Bắc Nhai, vào trong chợ ngựa. Công Tôn Hãn đã cung kính chờ sẵn ở bên ngoài nhà người Hồ, nói Tôn đại nhân sốt sắng không thể chờ đợi, đã theo người Hồ kia tới sân sau xem ngựa rồi. Trâu Kỵ không kịp hỏi han gì thêm, cứ thế ba chân bốn cẳng chạy theo Công Tôn Hãn tới tàu ngựa. Từ xa đã nhìn thấy Tôn Duyệt đang vuốt ve vành tai một con tuấn mã, miệng lẩm bẩm điều gì, hẳn là đang trò chuyện với ngựa. Tuấn mã đứng im phăng phắc, cứ như thể đang lắng nghe. Một hán tử tráng niên vận trang phục Hồ, râu quai nón, đứng dựa người vào cây cọc buộc ngựa, mặt mày dương dương tự đắc.

“Làm phiền Tôn đại nhân rồi!” Trâu Kỵ tiến lên một bước, vòng tay về phía Tôn Duyệt. “Công Tôn Tử tiến cử ngựa này, lão hủ mắt kém, nên thỉnh cầu đại nhân tới đây, là muốn nhờ cặp huệ nhãn của đại nhân xem thử!”

“Tạ ơn tướng quốc yêu mến, Tôn Duyệt hổ thẹn không dám nhận!” Tôn Duyệt rời khỏi con ngựa, vòng tay vái mà nói. “Tướng quốc nếu có việc cần, Tôn Duyệt nguyện dốc sức mọn.”

“Tôn đại nhân, vậy ngựa này…” Trâu Kỵ vô cùng nôn nóng, hỏi thẳng vào đề.

“Tướng quốc hãy xem!” Tôn Duyệt quay trở về bên tuấn mã, chỉ vào các bộ phận trên cơ thể ngựa mà tán thưởng luôn miệng. “Ngựa này sắc lông thuần nhất, đầu như đầu thỏ lột, hai mắt lồi ra, tròn mà ướt, to mà sáng, trông như chuông rủ, mũi to mà vuông, sắc đỏ như máu, miệng đỏ sáng bóng, môi trên xéo lại vuông, môi dưới phẳng lại nhiều vân, răng trên như móc câu, răng dưới như lưỡi cưa, tai căng mà ngắn, cứng dài hai tấc, hình như trúc vót, sống lưng to mà rộng, bằng phẳng mà cân đối, bụng đầy đặn, đùi chắc thịt dày, âm nang ngược với chiều lông, ẩn vào trong bụng, mông mỏng mà rộng, xương sườn có mười hai chiếc, tam phủ chỉnh tề, xương to mà dài, đuôi cứng lại khoẻ, xương đuôi cao mà rủ, chân trước thon dài, nách mở rộng, xương đùi ngắn mà cứng, vai rộng lại dài, miệng hùm mở rộng, rãnh mồ hôi sâu mà rõ…”

Tôn Duyệt dốc hết bản lĩnh nhà nghề, thao thao bất tuyệt tán dương con ngựa khắp một lượt trên dưới trong ngoài, bởi dùng toàn từ ngữ chuyên về ngựa, nên dù Trâu Kỵ là người trí tuệ, nhưng nghe cứ ù ù cạc cạc như lạc trong sương mù, song trong lòng hiểu rõ đã gặp được ngựa quý. Khó khăn lắm mới chờ được tới lúc Tôn Duyệt ngừng lời, bèn khẽ giọng hỏi: “Theo ý của tiên sinh, ngựa này…”

“Chính là thiên lý mã!” Tôn Duyệt một lời chắc nịch.

Trâu Kỵ chẳng nói thêm một lời, quay đầu lại, hất hàm với quản gia.

Quản gia lập tức sai nô bộc khiêng ba chiếc rương xuống, nói với người Hồ: “Khách nhân, tuấn mã này, chúa công nhà tôi xin mua. Ba chiếc rương này, mỗi rương đựng một trăm đĩnh vàng, xin khách nhân kiểm lại.”

“Ba trăm đĩnh?” Người Hồ nhún vai, khẽ lắc đầu.

“Ơ!” Quản gia nhìn sang Công Tôn Hãn.

“A?” Công Tôn Hãn quýnh quáng. “Chẳng phải hôm qua anh đã nói là ba trăm đĩnh rồi ư?”

“Đó là hôm qua!” Người Hồ cười. “Hôm nay không có giá này nữa!”

“Sao lại thế…” Công Tôn Hãn thấy mất mặt, đang định cãi lý thì quản gia xua tay, khoé miệng nặn ra một nụ cười, đổi cách xưng hô, trong giọng nói không còn vẻ khách sáo: “Khách thương, hãy ra giá đi!”

“Không giấu quan gia,” Người Hồ kia vẫn giữ nụ cười trên môi, “vừa rồi có rất nhiều đại nhân tới xem ngựa, giá đã tăng rồi, có người áp đảo quần hùng, ra giá bốn trăm năm mươi đĩnh, đang trở về phủ lấy vàng, để lại thanh kiếm này làm tin!” Người Hồ nói đoạn, bước tới bên tường, lấy ra một thanh kiếm.

Quản gia cầm lấy thanh kiếm, xem xét cẩn thận, thấy cuối chuôi tạc một chữ Điền, đoán là người của phủ Điền Kỵ, trong lòng giật thột, song ngoài mặt vẫn bình thản như không, đưa trả bảo kiếm, nói: “Khách thương xin đợi một lát!”

Quản gia bước về phía chuồng ngựa, ghé sát tai Trâu Kỵ thì thầm một hồi. Trâu Kỵ hít ngược một hơi khí lạnh, vuốt râu một lát, rồi giơ ra năm ngón tay, hất hàm ra hiệu. Quản gia hiểu ý, quay trở về chỗ người Hồ, cũng bắt chước xỉa năm ngón tay ra, chỉ vào ba chiếc rương nói: “Ngựa này phủ tôi nhất quyết mua, đây là vàng đặt cọc, chỗ còn lại sẽ mang tới trả đủ trong vòng một canh giờ nữa!”

Người Hồ gật đầu đồng ý. Quản gia không chút chậm trễ, sai nô bộc tâm phúc trở về phủ lấy vàng, rồi lôi thẻ tre, mực ra viết khế ước, ký tên điểm chỉ với người Hồ kia, trước sau chưa đầy một khắc, cuộc mua bán đã hoàn tất.

***

Có lẽ đi xa thấm mệt, sau khi gặp Tôn Tẫn lại quá chén, nên Tô Tần vừa đặt lưng xuống đã ngủ một mạch tới tận trưa ngày hôm sau.

Khi Tô Tần tỉnh dậy, thấy Tôn Tẫn ngồi đợi bên giường, đang nhìn mình chăm chú, không biết đã ngồi như thế bao lâu rồi. Tô Tần trong lòng chua xót, cảm động tới suýt rơi lệ, vội vàng dụi mắt, trở dậy vái mà nói: “Tôn huynh…” Giọng nói đã có phần nghẹn ngào.

“Tô huynh ngủ say quá!” Tôn Tẫn cười. “Hẳn mấy ngày qua không lúc nào tròn giấc?”

“Đúng vậy!” Tô Tần cười đáp. “Chỉ ở chỗ Tôn huynh, mới có được một giấc ngủ ngon!”

Trong lúc nói chuyện, Thụy Mai bưng chậu đồng vào, mang khăn lụa lại, hầu Tô Tần rửa mặt, súc miệng, sau đó đẩy chiếc xe lăn mà Điền Kỵ chế riêng cho Tôn Tẫn, dẫn Tô Tần vào trong vườn mai phía sau nhà.

Tới lúc này, Tô Tần mới phát hiện ra bụng Thụy Mai hơi nhô cao, rõ ràng đã mang thai, thì vô cùng cảm khái.

Vườn mai rất rộng, phải đến vài mẫu vuông, mới được trồng ba năm trước, nên thân cây phần nhiều mới chỉ to bằng quả trứng gà, đều chưa kết trái, chỉ có một gốc mai già to bằng miệng bát do Điền Kỵ sai người bứng tới trồng, qua hai mùa mưa móc thấm nhuần, lại được Thụy Mai tận tình chăm chút, năm nay rễ đã vươn sâu cắm chắc, cành lá sum suê, quả xanh trĩu cành, đều đã to bằng quả táo, khiến Tô Tần không khỏi mường tượng tới khung cảnh diễm lệ hoa nở đầy cành trong tiết tháng chạp mùa đông giá lạnh. Giữa vườn mai có một hồ sen, rộng chừng nửa mẫu, lá sen xanh ngát một màu, hệt như những tán quạt tròn xoe, nhưng không thấy một bông sen nào, có lẽ vì chưa đến mùa. Vào lúc bắt đầu hợp tung, Tô Tần từng nghe phó sứ nước Ngụy công tử Ngang kể chuyện gả em gái Thụy Liên cho Bàng Quyên, nói nàng và chị gái Thụy Mai tình như tay chân, nên thầm nghĩ hồ sen này hẳn là Thụy Mai trồng vì em gái.

Bàn ăn được kê ngay phía dưới cội mai già. Thụy Mai sắp xếp Tôn Tẫn, Tô Tần ngồi xuống trước bàn ăn, hai tỳ nữ bưng bát đũa, thức ăn tới. Tô Tần ăn uống thoải mái cho đến kỳ no. Thụy Mai thu dọn xong, bảo người hầu lui ra, để Tôn Tẫn và Tô Tần tiếp tục hàn huyên.

Nhìn theo bóng Thụy Mai vác bụng bầu đi xa dần, Tô Tần vòng tay về phía Tôn Tẫn nói: “Chúc mừng Tôn huynh, tẩu phu nhân đã có tin vui!”

“Ha ha ha, vui lắm, vui lắm, còn một tin vui nữa!” Tôn Tẫn cười rạng rỡ, quay sang gọi Thụy Mai. “Mai Nhi, đưa Cúc Nhi lại đây, cho Tô huynh bế nào!”

Thụy Mai ngoảnh lại nói: “Cúc Nhi theo Trâu huynh ra thác nước chơi rồi, không có nhà, xin Tô huynh hãy đợi cho một lát.”

“Được!” Tôn Tẫn đáp lời, quay sang Tô Tần. “Xem ra Tô huynh phải chờ rồi.”

“Cúc Nhi là…” Ánh mắt Tô Tần dò hỏi.

“Là cháu gái cả của Tô huynh đó, đã tròn hai tuổi, rất nghịch ngợm!”

“Tuyệt, tuyệt, đúng là tuyệt vời!” Tô Tần vòng tay lia lịa. “Chúc mừng Tôn huynh. Tôn huynh trước hết có được tẩu phu nhân, sau được Cúc Nhi, giờ lại quả treo đầu cành, Tô Tần vô cùng ngưỡng mộ!”

Tôn Tẫn bật cười vui vẻ: “Không giấu Tô huynh, tại hạ cũng chỉ có chút phúc báo này, có Mai, có Cúc, nếu lần này ông trời rủ lòng thương, cho mọc ra được tùng được bách, cũng coi như là trọn vẹn với tổ tông nhà họ Tôn!”

“Than ôi!” Tô Tần khẽ thở dài một tiếng, quay sang nhìn những quả xanh đơm trĩu đầu cành. “Mấy huynh đệ chúng ta, Quỷ Cốc vừa từ biệt, chớp mắt đã xa vời, nếu Trương huynh, Bàng huynh cũng có mặt ở đây, huynh đệ chúng ta sẽ nâng chén chúc mừng Tôn huynh tin vui liên tiếp, cùng mong cho họ Tôn có được người nối dõi, thì tốt biết bao!”

“Cảm tạ ý tốt của Tô huynh!” Tôn Tẫn vòng tay. “Nghe nói Trương huynh lấy được con gái của Ngô quốc công họ Công Tôn, rất mực hiền thục, Bàng huynh có được công chúa Thụy Liên, cũng rất đẹp đôi, hẳn đều đã con cái đề huề. Duy có Tô huynh, Tẫn chưa từng nghe nói đến chuyện gia thất, rất đỗi băn khoăn, ở đây không có người ngoài, dám hỏi Tô huynh, liệu có thể tiết lộ một hai, để Tẫn được chia vui cùng không?”

Tô Tần ngoảnh mặt sang bên, thẫn thờ nhìn vào hồ sen cách đó không xa. Lá sen xanh mướt, đọt non đâm lên tua tủa, che phủ quá nửa mặt nước hồ, do vẫn đang xuân, chưa thấy ếch kêu bướm lượn. Tô Tần thu lại ánh nhìn, khép mắt một lát, thân tâm hoàn toàn thả lỏng, rồi không hề đề cập tới Tiểu Hỷ, chỉ kể lại từ đầu tới cuối chuyện mình với Cơ Tuyết, không giấu giếm điều gì, khiến Tôn Tẫn nghe mà xuýt xoa mãi không thôi.

“Không giấu Tôn huynh,” Tô Tần sắc mặt rầu rĩ, trút hết nỗi lòng, “nếu ông trời không thương xót, lúc này đây, e là công chúa cũng… cũng đã giống như tẩu phu nhân rồi!”

Tôn Tẫn hít vào một hơi dài, trầm ngâm suy nghĩ.

“Tôn huynh!” Tô Tần trong lòng trăm mối tơ vò. “Nếu công chúa mang thai thực, e là không phải hỷ sự, mà là tai hoạ. Tại hạ thì không đáng sợ, nhưng còn công chúa…”

“Tuyết công chúa nói rất phải!” Tôn Tẫn ngẩng đầu, mỉm cười. “Tất cả đều là ý trời. Nếu đã là ý trời, Tô huynh cũng nên thuận theo. Nghe Tô huynh vừa nói, công chúa là người thận trọng. Nàng có ý này, hẳn đã sắp xếp ổn thoả mọi chuyện, Tô huynh cũng không nên lo lắng. Hơn nữa, từ thời Xuân Thu, lễ nghi sớm đã băng hoại, giữa Tô huynh và công chúa, tình sinh ở trong, nghĩa vẹn ở ngoài, thực là hợp với ý trời, không phải là nhất thời dâm dật. Đạo tuân theo tự nhiên, chứ không phải quy củ do con người đặt ra, tại hạ và huynh đều theo tiên sinh học đạo nhiều năm, Tô huynh cũng chớ nên câu nệ lễ nghi Nho môn mà làm khó cho mình.”

“Được Tôn huynh giảng giải,” Tô Tần cười đáp lời, “tại hạ đã thấy yên tâm phần nào.” Rồi thu lại nụ cười. “Phải rồi, nhắc tới tiên sinh, tại hạ vừa hay có việc cần thỉnh giáo. Sáu nước hợp tung, tại hạ vốn cho rằng, loạn cục liệt quốc sẽ được thay đổi. Nào ngờ thiên hạ ngày càng hỗn loạn, tại hạ hoang mang, suy nghĩ mãi mà không tìm ra cách, vừa hay ngang qua Quỷ Cốc, bèn trở về chốn cũ, định thỉnh cầu tiên sinh giải đáp bến mê. Tiên sinh không chịu lộ mặt, chỉ sai đại sư huynh mang một bài thơ đến tặng, tại hạ bất tài, tới nay vẫn chưa ngộ ra. Các huynh đệ trong cốc, ngoài đại sư huynh, duy có Tôn huynh là tại hạ thực lòng thán phục. Lần này cầu kiến, một là để thoả nỗi khổ nhớ mong, hai là muốn thỉnh cầu Tôn huynh giải thích giúp thơ này!”

“Tô huynh quá lời rồi!” Tôn Tẫn ngửa cổ cười mà nói. “Tuy nhiên, dám hỏi tiên sinh đã tặng thơ gì?”

“Tung hoành thành cục, giữ lấy điều trung. Thiên hạ đại ngã, công tư tư công.” Tô Tần ngâm nga.

Tôn Tẫn ngẫm nghĩ một lát, ngẩng đầu cười nói: “Tâm của Tô huynh gần với tiên sinh nhất, Tô huynh còn không ngộ ra, thì tại hạ nào dám đoán bừa.”

“Nhìn sắc mặt Tôn huynh, hẳn đã có điều lĩnh ngộ, tại hạ xin cung kính lắng nghe!” Tô Tần vòng tay chờ đợi.

“Chỗ Tô huynh chưa hiểu, hẳn là câu cuối cùng, công tư tư công!”

“Đúng vậy!” Tô Tần gật đầu.

“Tiên sinh giỏi chuyện huyền hư, câu này có lẽ là thời vận của đạo trời, chỗ này Tô huynh mãi chưa lý giải được, hẳn là vận số chưa tới, Tô huynh bất tất phải nhọc lòng suy đoán. Còn như chuyện thiên hạ phân tranh khiến Tô huynh lo lắng, Tẫn tuy bất tài, cũng nguyện chia sẻ một hai phần với Tô huynh.”

Tô Tần kể sơ qua một lượt về tình hình liệt quốc từ sau khi sáu nước hợp tung đến nay, rồi khắc khoải nói: “Trương Nghi nay đã từ chức tướng quốc Tần, tới Ngụy liên hoành, ép đuổi Huệ Thi, giành chức tướng quốc Ngụy, bí mật cấu kết Bàng Quyên, liên minh Tần, Trung Sơn, ba lộ phạt Triệu. Triệu là nước khởi xướng hợp tung, Trương Nghi ngoài mặt phạt Triệu, thực chất là nhằm vào hợp tung. Nay Hàm Đan bị bao vây, ải Phẫu thất thủ, Triệu thất khác nào bị chém ngang lưng thành hai đoạn, nguy trong sớm tối. Bàng Quyên, Trương Nghi đều là kẻ hiếu chiến, nhìn vào thế này, ắt muốn diệt Triệu. Triệu vong, Hàn tất nguy, Trung Sơn rồi cũng sẽ diệt. Tam Tấn nếu như nhất thống, Tần, Ngụy ắt hợp lực đánh Tề, Tề cũng sẽ lâm nguy!”

“Điều Tô huynh lo lắng, e rằng không phải Tề lâm nguy, mà là thiên hạ lâm nguy!”

“Than ôi!” Tô Tần vòng tay, thở dài thườn thượt. “Suy nghĩ của tại hạ, Tôn huynh đều đã thấu tỏ. Thiên hạ mất tung mà thành hoành, dù có đổ máu, cũng chưa hẳn là không được. Vấn đề là ở chỗ, thiên hạ tuyệt đối không được để Tần nhất thống, Tần pháp nếu không trừ bỏ, thiên hạ do Tần nhất thống, ắt nguy!”

“Nếu nói như vậy, Tô huynh cớ sao không khuyên can Trương huynh, khiến Tần từ bỏ Tần pháp trước, rồi mới nhất thống thiên hạ, chẳng phải tốt hơn ư?”

“Than ôi!” Tô Tần lắc đầu nói. “Tại hạ đã nghĩ rồi, đây là nút chết, không thể gỡ được!”

“Vì sao không thể gỡ được?”

“Nếu Tần bỏ pháp, sẽ khó thành nhất thống. Nếu không bỏ pháp, nhất thống lại có thể thành, song thiên hạ ắt nguy!

“Tô huynh quả nhiên suy tính sâu xa!” Tôn Tẫn mỉm cười gật đầu. “Cuộc chiến tung hoành, liên quan tới thiên hạ, Tô huynh gánh nặng mà đường lại xa.”

“Nguy cấp trước mắt, là cứu Triệu!” Tô Tần nhìn sang Tôn Tẫn. “Nước tới đất chặn, binh tới tướng ngăn, cứu Triệu chống Ngụy, sự việc liên quan tới đại cục tung hoành, mà hiện giờ, cứu được Triệu, chỉ có thể là người Tề. Giao chiến với Ngụy, tức là đánh Bàng Quyên; đánh được Bàng Quyên, thiên hạ e rằng chỉ có một mình Tôn huynh!”

“Than ôi!” Tôn Tẫn thở dài một tiếng. “Những chuyện này, khi còn trong Quỷ Cốc, tiên sinh sớm đã đoán ra. Bàng huynh đi tới nước này, cũng là ý trời. Đã là ý trời, tại hạ chẳng còn lựa chọn nào khác, chỉ biết thuận theo. Chỉ có điều…”

“Tôn huynh cứ nói đừng ngại!”

“Ngụy hiện tại, đã khác xa với Ngụy trước đây, Bàng huynh hiện tại, cũng không còn là Bàng huynh lúc mới hạ sơn nữa.”

“Ồ?” Tô Tần nhoài người lên trước hỏi. “Tôn huynh dựa vào đâu mà nói vậy?”

“Một là cuộc chiến Hàm Cốc, hai là bao vây Hàm Đan!” Tôn Tẫn dõng dạc nói. “Nhìn vào cuộc chiến Hàm Cốc, Bàng huynh mưu kế không phải không chu toàn, không phải không thần kỳ, đặc biệt đã dựa vào thời tiết lạnh giá, dựng cầu băng, chặn Hà Thuỷ, cắt ngang cửa ải trọng yếu Hàm Cốc, khiến người ta nhìn mà xuýt xoa khen tuyệt. Sở dĩ không thể thành công, là do trời không giúp Bàng huynh, chứ không phải do dụng binh sai lầm. Lại nhìn trận vây Hàm Đan lần này, Bàng huynh dụng binh, có thể nói là kín kẽ liền mạch, hai đường phòng tuyến Chương, Phẫu của người Triệu đều không cầm cự nổi một ngày, trọng ải Phẫu Thuỷ thậm chí mới hai canh giờ đã thất thủ. Trong việc này, không phải người Triệu không thiện chiến, không chuẩn bị chu đáo, mà sự thực là do Bàng huynh dụng binh thoả đáng, võ binh Ngụy sức mạnh không tiền khoáng hậu, tới đâu cũng là vô địch.”

“Võ binh Ngụy tới đâu cũng là vô địch?” Tô Tần kinh ngạc hỏi lại.

“Đúng vậy!” Tôn Tẫn gật đầu. “Theo như Tẫn biết, võ binh kiểu mới do Bàng Quyên huấn luyện, đặc biệt là gần vạn quân hổ bôn, người người đều có thể một chọi mười, còn hơn cả thời Ngô Khởi, liệt quốc hiện tại, ngoài quân Tần ra, không ai địch nổi, quân Tề còn xa mới là đối thủ!”

Tô Tần hít sâu một hơi, sắc mặt trầm trọng. Rõ ràng, Tô Tần hiểu biết quá ít về quân sự, Bàng Quyên dụng binh tới trình độ này, càng là điều Tô Tần chưa từng liệu tới.

“Đương nhiên!” Thấy Tô Tần sắc mặt âu lo, Tôn Tẫn bèn nói thêm. “Nước Tề cũng có ưu thế tương đương, dựa vào sức mạnh hiện tại của Tề, cũng không phải không thể giao chiến! Tuy nhiên, hai quân đối trận, Tẫn không thể đảm bảo mười phần thắng lợi!”

“Theo Tôn huynh, sẽ được mấy phần?” Tô Tần nhìn xoáy tới.

“Nếu ý trời tuỳ thuận, quân thần nước Tề đồng tâm hiệp lực, Tẫn đoán, hoặc giả sẽ được bảy phần.”

Tô Tần thở phào một tiếng, phủ phục xuống đất, bái lạy mà nói: “Tôn huynh ở trên, xin nhận của Tô Tần ba lạy!”

Tôn Tẫn cuống quýt, muốn lại đỡ Tô Tần dậy, song đang ngồi trên xe lăn, chỉ biết vỗ ghế kêu lên: “Tô huynh, đừng, đừng, đừng…”

“Không phải Tô Tần bái lạy, mà là Tô Tần thay mặt muôn dân thiên hạ kính bái Tôn huynh!” Nói đoạn, Tô Tần lại lạy thêm hai cái nữa.

***

Nước Tề ba năm liền tổ chức hội đua ngựa mùa xuân, đất Tề sôi sục, người người phát cuồng vì ngựa, giá ngựa tăng vọt, đừng nói là ngựa đua thượng đẳng, dù có là ngựa tồi cũng tăng từ ba đĩnh lên năm đĩnh, ngựa từ các nơi đổ về đất Tề như nước chảy. Từ đầu mùa đông, lái buôn ngựa ở các nước phương bắc, đặc biệt là Triệu, Trung Sơn, Yên đã ùn ùn kéo tới, những đoàn ngựa đông đến cả trăm rồng rắn nối đuôi không dứt trên đường. Thức ăn cho ngựa, vật dụng cho ngựa, xe ngựa cũng theo nhau tăng giá, nước nổi thuyền lên, người am hiểu ngựa đều đi tìm chủ, tha hồ triển lộ biệt tài.

Được biết năm nay giải thưởng tăng gấp đôi, những nhà phú hộ cỡ vừa và nhỏ không có ngựa đua hoặc ngựa đua không đạt tiêu chuẩn dự thi đều vô cùng hối tiếc, đua nhau tham gia cá cược, tiền đặt cược tại các đô ấp cứ tăng lên vùn vụt từng ngày.

Năm đô tổ chức thi đấu trong năm ngày, cuối cùng đã tìm ra được năm đội đua chiến thắng. Trải qua vài ngày bôn ba đường sá, vào ngày thứ mười, năm đội đua đã lần lượt tới Lâm Truy. Theo chân các đội đua còn có khách xem tứ xứ đổ về, nhất thời, quán sá hàng ăn trong thành Lâm Truy nhộn nhịp tưng bừng, phòng trọ kín mít không còn chỗ trống, thậm chí khách xem còn ngủ la liệt dưới mái hiên nhà người ta. Vương thất chủ trì cuộc đua, đúng là đại đại phát tài, không những nhà cái của vương thất mọc lên nhan nhản quanh trường đua, mà xung quanh trường đua còn được quây kín mít, chỉ mở một lối đi, ra vào đều phải trình một tấm thẻ đồng do chính vương thất phát hành, mà toàn bộ thẻ đồng đều do vương thất uỷ nhiệm cho nhà cái bán ra, mỗi tấm thẻ đồng có giá ba mươi đồng tiền đao. Tuy nhiên, số thẻ đồng này đa phần đều bị nhà cái mua đi bán lại, đưa vào chợ đen, cho đến trước khi cuộc thi diễn ra, do khách xem tranh cướp nhau mua, nên thông thường, giá thẻ đồng của cuộc đua bình thường đã lên tới một đĩnh, cuộc đua thách đấu vương mã còn vọt lên tới ba đĩnh.

Nơi được chọn làm trường đua quyết đấu chính là thao trường diễn tập và tuyên thệ trước khi xuất quân của ba quân ở gần Tắc Môn trong thành Lâm Truy, cách học cung Tắc Hạ chỉ ba tầm tên bắn. Theo quy định, đội đua của năm đô thi đấu luân lưu với nhau, trong hai ngày sẽ kết thúc, chọn ra hai đội, lại tiếp tục thi đấu, tìm ra đội thắng cuộc, sẽ có tư cách thách đấu với vương mã, rồi quyết chiến vương mã.

Để tăng thêm kịch tính, vào đêm trước ngày diễn ra trận quyết đấu, Uy Vương còn đặc biệt ban bố một chỉ lệnh cho cuộc đua, chia thành bốn điều. Thứ nhất, tăng tiền thưởng cho đội có được tư cách thách đấu vương mã từ ba trăm đĩnh lên năm trăm đĩnh. Thứ hai, phàm là người sống ở Lâm Truy, không phân biệt quê quán, nam nữ, già trẻ, đều có thể tham gia cá cược, tiền cược không giới hạn cao thấp. Thứ ba, tất cả mọi nhà cái đều phải được vương thất trao quyền, phàm những nhà cái tự lập, đều bị quy tội kháng chỉ, xử chém không tha. Thứ tư, mọi nhà cái thu tiền đặt cược, đều theo nguyên tắc tự nguyện đặt cược, nhà cái không được bức ép, dụ dỗ đặt cược, hoặc dùng cách thức nào khác làm khó dễ người đặt cược. Nhà cái cần lập khế ước với người đặt cược, sau khi đã đặt cược, tính toán quy đổi nhất loạt căn cứ đúng theo kết quả thắng thua của cuộc đua, được ăn cả, ngã về không, tất cả đều phải tuân thủ đúng theo khế ước đã lập từ trước, vương thất và nhà cái đều được rút lợi tức từ người thắng theo tỉ lệ mười ăn một. Những ai thua cược mà bất chấp khế ước, gây gổ sinh sự đều khép tội kháng chỉ, trừng phạt nghiêm khắc.

Tề Vương vừa hạ ý chỉ, toàn bộ Lâm Truy như thể phát cuồng, trước cửa những nhà cái lớn, đoàn người rồng rắn xếp hàng dài dằng dặc, người đặt cược qua lại như mắc cửi.

Hay tin Tề Vương tăng tiền thưởng cho người đủ tư cách thách đấu vương mã từ ba trăm đĩnh lên năm trăm đĩnh, Trâu Kỵ càng tin rằng việc bỏ ra năm trăm đĩnh vàng mua thiên lý mã là đúng. Suốt một ngày thi đấu luân lưu, tất cả khách xem đều phát cuồng vì Trâu phủ. Ngựa của Điền phủ trong những hội đua năm trước vốn không có đối thủ, lần này lại ngang ngửa với ngựa của Trâu phủ, trong một vòng đấu, ngựa của Trâu phủ thua một thắng hai, đấu trường hò reo bất tuyệt, thực khiến cho những người đã đặt cược cho Điền phủ trước trận đấu phải trợn mắt há miệng, không hiểu vì sao, còn Điền Kỵ lại càng gạt mồ hôi không ngơi tay.

Cuộc đấu ngày đầu, kết quả không có gì bất ngờ, ngựa của Điền phủ và Trầu phủ cùng sánh bước vào vòng quyết đấu để giành tư cách thách đấu với vương mã.

Trải qua trận đấu này, Trâu Kỵ càng thêm tin tưởng, lại mời Tôn Duyệt tới, vái dài mà nói: “Tạ ơn tiên sinh đã giới thiệu ngựa tốt, khiến bản tướng nở mày nở mặt!”

“Là tướng quốc gặp được phúc vận, đâu có liên quan gì tới hạ quan!” Tôn Duyệt đáp lễ nói.

“Dám hỏi tiên sinh, trận chiến ngày mai, liệu bản phủ nắm được mấy phần thắng?”

“Tướng quốc có thể nắm chắc năm phần thắng!”

“Dám hỏi năm phần là ở đâu?”

“Tướng quốc có lẽ thắng ở tứ mã thượng đẳng, thua ở tứ mã hạ đẳng, coi như đã hoà. Hươu chết về tay ai, cần xem tứ mã trung đẳng.”

“Tứ mã trung đẳng?” Trâu Kỵ chau tít đôi mày. “Đại nhân liệu có kế hay để tăng cường sức đua cho tứ mã trung đẳng chăng?”

“Theo như Tôn Duyệt thấy, tứ mã trung đẳng của Điền phủ và của tướng quốc sức lực khó phân cao thấp, khác biệt là ở người đánh xe!”

“Người đánh xe?” Trâu Kỵ thoáng ngỡ ngàng. “Đại nhân huệ nhãn biết người tài, liệu có thể tiến cử đại hiền?”

“Không giấu tướng quốc,” Tôn Duyệt cười gượng một tiếng, khẽ lắc đầu, “thuật đánh xe, trọng điểm là người, ngựa, xe phải hoà hợp thành một thể, không được thiếu thứ nào. Về mặt kỹ nghệ, mọi cỗ xe đua ở Lâm Truy đều có quy định rõ ràng, có thể xem là bất biến, còn người và ngựa đều là khả biến, chỉ khi hai bên thấu hiểu lẫn nhau, đánh xe mới được tài khéo. Nếu nhất thời đổi người đánh xe, sẽ gây trở ngại cho sự giao tiếp giữa người và ngựa, không có lợi.”

“Nếu nói như vậy,” Trâu Kỵ kinh hãi, “thì tứ mã thượng đẳng của bản tướng chẳng phải cũng…”

“Tướng quốc nhắc nhở rất đúng!” Tôn Duyệt gật đầu nói. “Tuy ngựa tại hạ giới thiệu là thiên lý mã, song cũng vì mới được đóng vào xe, nên giữa ngựa và ngựa, ngựa và người đánh xe đều thiếu hoà hợp, năm phần thắng của tướng quốc coi như mất đi một phần, nên chỉ còn là bốn phần thêm chín phân!”

Tiễn Tôn Duyệt về rồi, Trâu Kỵ ngẫm nghĩ một hồi, rồi cho triệu Công Tôn Hãn tới, lời lẽ cung kính, gọi bằng tiên sinh: “Công Tôn tiên sinh, đúng như Tôn đại nhân đã nói, ngựa của bản phủ và ngựa của Điền Kỵ đều có ưu thế riêng, sàn sàn như nhau, khó mà nắm chắc phần thắng, ngày mai quyết đấu, bản công thấy tiên sinh là đại tài, liệu có thể chỉ giáo cho kế hay chế địch?”

“Tạ ơn chúa công coi trọng!” Công Tôn Hãn vòng tay cảm tạ. “Hãn có một kế, không biết có nên nói hay không?”

“Tiên sinh cứ nói đừng ngại!”

“Nhìn vào trận đua ngày hôm nay,” Công Tôn Hãn dõng dạc nói, “có thể đoán rằng, trong trận quyết đấu ngày mai, chúa công có lẽ thắng ở ngựa thượng đẳng, thua ở ngựa hạ đẳng, ngang bằng ở ngựa trung đẳng. Theo Hãn, chúa công hãy tráo đổi ngựa trung đẳng thành ngựa hạ đẳng, bỏ một tranh hai, hoặc giả thắng được đối phương!”

Kế này xứng đáng là kế tuyệt sát.

Trâu Kỵ hít sâu một hơi, từ từ nhắm mắt lại, một lát sau, mở mắt ra nhìn vị học tử Tắc Hạ vừa tới tuổi tam thập nhi lập này.

Chẳng hiểu sao, từ khi Công Tôn Hãn vào phủ tới nay đã vài tháng, Trâu Kỵ chẳng hề có chút cảm tình đối với hắn. Thứ nhất vì thấy người này miệng nhọn má hóp, tướng mạo đê hèn, thứ hai là nghe nói hắn lang bạt liệt quốc, đổi chủ liên tục, sau khi tới Tề vẫn chưa an phận, trước hết theo Điền Anh nửa năm, sau tới Tắc Hạ bái Thận Tử làm thầy, còn chưa được nửa năm, lại đổi theo Thuần Vu Tử, cũng chính vì Thuần Vu Khôn ra sức tiến cử, nên Trâu Kỵ mới nể mặt, miễn cưỡng nhận làm môn khách, song trong lòng vẫn luôn dè chừng, chưa dám dùng vào việc lớn, nào ngờ người này đúng là không thể trông mặt mà bắt hình dong.

Tuy nhiên, Trâu Kỵ vẫn có nguyên tắc của riêng mình. Trâu Kỵ xưa nay luôn tự cho mình là Quản Trọng đương thời, phàm làm việc gì cũng học theo Quản Trọng, mà Quản Trọng cả đời dùng tín mà được lòng dân, dùng nghĩa để phò tá quân vương, dùng nhân mà dẹp yên thiên hạ, dùng lễ mà phụng sự thiên tử, mới có thể hoàn thành bá nghiệp một đời. Nay nếu nghe theo Công Tôn Hãn, đổi ngựa trung đẳng thành hạ đẳng, hạ đẳng thành trung đẳng, tuy có thể thủ thắng, song không phải chính đạo, nếu truyền tới tai thiên hạ, chẳng phải sẽ bị cười chê là thắng bằng mưu trá?

Trâu Kỵ khép mắt, ngẫm nghĩ hồi lâu, quyết định sẽ không vì cái nhỏ mà để mất cái lớn, lắc đầu nói: “Kế này của tiên sinh tuy tuyệt diệu, song không thích hợp với Trâu phủ! Bản tướng xưa nay luôn lấy tín nghĩa làm gốc, trận quyết đấu ngày mai, bản tướng có thắng cũng phải thắng cho đường đường chính chính, có thua cũng phải thua cho quang minh lỗi lạc.”

Một diệu kế thủ thắng tuyệt đối như thế, Điền Kỵ không dùng thì thôi, lại còn đem quang minh lỗi lạc ra để khinh thường, thực nằm ngoài tưởng tượng, khiến Công Tôn Hãn mặt mũi sượng sùng, thở dài một tiếng, đoạn cáo lỗi lui ra.

Vào trận quyết đấu ngày hôm sau, kết cục không nằm ngoài dự đoán của Tôn Duyệt, Trâu phủ một thắng hai thua, ngựa thượng đẳng thắng nửa thân xe, ngựa trung đẳng thua nửa thân xe, duy có ngựa hạ đẳng về sau ngựa Điền phủ đúng năm thân xe, khiến toàn bộ Trâu phủ trên dưới đều thấy mất mặt không để đâu cho hết.

Đêm ấy, trong phủ Điền Kỵ giết lợn mổ dê, bày tiệc rượu linh đình ăn mừng chiến thắng.

Điền Kỵ phấn khởi tột bực, nâng chén đón gió, hướng về phía đám triều thần, tướng quân, bằng hữu, gia thần tới chúc mừng mà nói lớn: “Chư vị bằng hữu, vì năm trăm đĩnh vàng đã về tay, cạn!”

“Chúc mừng tướng quân, vì năm trăm đĩnh vàng, cạn!” Đám đông đua nhau nâng chén.

Điền Kỵ một hơi uống cạn, đặt đánh cạch chén không xuống mặt bàn, hừ mũi một tiếng: “Lão cáo già Trâu Kỵ kia cứ ngỡ mình là thần thánh vạn năng cơ đấy, cái gì cũng muốn vơ cả về mình, lần này lại chẳng ngã cho dập mũi, cuối cùng cũng phải cúp đuôi rồi. Ha ha ha, hôm nay thật là hả dạ. Nào nào nào, để tại hạ rót rượu cho chư vị, không say không về!” Rồi nhấc bình rượu lên, lần lượt rót cho mọi người.

“Không say không về!” Đám đông nhao nhao hưởng ứng, giơ cao chén rượu, đang uống đến cao trào, bỗng một giọng nói từ bên ngoài vọng vào: “Điền tướng quân, có rượu ngọt thức ngon, sao không cho tại hạ nếm cùng?”

Mọi người quay đầu lại nhìn, thấy Tô Tần đẩy theo xe lăn bước vào trong tiệc, ngồi trên xe lăn chính là Tôn Tẫn xưa nay chưa từng lộ diện.

“Tiên sinh?” Điền Kỵ đặt bình rượu xuống, vội bước ra đón, đỡ lấy xe đẩy, hạ giọng hỏi. “Sao tiên sinh… lại tới?”

Tôn Tẫn cười nói: “Nghe nói hôm nay tướng quân đại thắng, muốn tới đây uống chén rượu mừng!”

“Uống, uống chứ!” Điền Kỵ vội nói. “Mau mang rượu lại đây, rót cho Tô đại nhân và… tiên sinh đây!”

Đã có người bưng rượu lại, Điền Kỵ sắp xếp chỗ ngồi cho Tô Tần, lại đưa chén rượu cho Tôn Tẫn, nâng chén nói với mọi người: “Chư vị bằng hữu, tại hạ xin giới thiệu,” chỉ vào Tô Tần, “vị này chính là tướng quốc sáu nước Tô Tần đại nhân danh chấn thiên hạ, hẳn mọi người đều đã biết.” Lại chỉ sang Tôn Tẫn. “Còn vị này chính là…”

Điền Kỵ cho rằng Tôn Tẫn tới đây lộ diện, là không muốn ẩn thân nữa, đang định trịnh trọng giới thiệu thì Tô Tần đằng hắng một tiếng cắt lời, nâng chén đứng dậy, cười nói: “Tại hạ Tô Tần, hay tin hôm nay tướng quân đại thắng, lấy làm vui mừng, đặc biệt dẫn bạn cũ Tôn tiên sinh tới chúc mừng, nào ngờ lại chậm một bước, quấy nhiễu nhã hứng của chư vị. Tại hạ xin uống phạt một chén!” Nói đoạn, một hơi cạn chén.

Đám người đua nhau đứng dậy, nâng chén uống cạn.

Điền Kỵ không ngờ Tôn Tẫn lại tới, càng không đoán nổi Tôn Tẫn đến đây là có ý gì, ngập ngừng một lát, rồi không nhịn nổi tò mò, đẩy xe lăn qua một bên, khẽ hỏi: “Tiên sinh tới đây, ắt có chuyện lớn, xin hãy nói mau!”

“Ha ha ha!” Tôn Tẫn lại cười. “Hay tin tướng quân ngày mai thách đấu vương mã, tại hạ không thể kìm được niềm phấn khởi, nên cậy nhờ Tô huynh tới đây xin hai tấm lệnh bài vào trường đua, cũng muốn tới xem náo nhiệt!”

“Tiên sinh chịu tới, quả thực tại hạ mong còn chẳng được. Sáng sớm ngày mai, tại hạ sẽ đích thân tới khe núi nghênh đón.”

“Đa tạ tướng quân đã tác thành!”

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử