Trương Nghi lại quay về phòng trọ cũ ở khách sạn Vận Lai, phòng trọ của Giả Xá Nhân tạm thời cho Ngô Thanh ở. Sáng hôm sau, Sư Lý Tật dậy từ sớm, dẫn Trương Nghi, Hương Nữ và Ngô Thanh đến kiểm nhận toà phủ trạch mà Huệ Văn Công ban cho.
Mấy cỗ xe ngựa chạy quanh co một hồi, cuối cùng dừng lại trước cổng một toà trạch viện lớn. Mọi người xuống xe, nội thần phụ trách chuyển giao phủ trạch đã đứng đợi sẵn ngoài cổng phủ, vái chào nghênh đón.
Mọi người theo nội thần tiến vào trong phủ, chỉ thấy toà ngang dãy dọc, vườn cảnh non bộ, hoa đẹp cỏ thơm, chẳng thiếu thứ gì. Mức độ xa hoa thậm chí còn vượt qua phủ Chiêu Dương nước Sở, khiến Ngô Thanh nhìn mà hai mắt trợn trừng, ngay cả Hương Nữ cũng bàng hoàng kinh ngạc, miệng xinh há hốc, hít ngược một hơi.
Trương Nghi sững sờ mất một lúc, mới quay sang nhìn Sư Lý Tật: “Sư Lý đại nhân, không đến nhầm chỗ đấy chứ?”
“Phủ này do chúa thượng đích thân lựa chọn, không thể nhầm được!” Sư Lý Tật cười vang mà nói.
“Phủ do chúa thượng đích thân lựa chọn?” Trương Nghi càng thêm kinh ngạc. “Chúa thượng ban thưởng, lẽ nào ngay cả nhà cửa cũng phải khâm định?”
“Đúng vậy! Đúng vậy!” Sư Lý Tật lại cười lớn mà đáp. “Chúa thượng giống như một đại quản gia, hễ quan tâm đến việc gì, bất kể lớn nhỏ thế nào cũng phải tự tay thực hiện. Nhân tiện xin nói một câu, Trương Tử thử đoán xem, toà phủ này có lai lịch thế nào?”
“Điều này thì phải thỉnh giáo Sư Lý đại nhân!”
“Toà trạch viện này xưa kia chính là Đỗ phủ uy danh hiển hách trong thành Hàm Dương. Nhà họ Đỗ ba đời làm quan, mấy đời buôn bán, tích luỹ gia sản kếch xù, sau khi từ Lịch Dương di cư đến đây, đã hưng công rầm rộ, khiến Đỗ phủ trở thành một trong những phủ đệ lớn nhất trong thành Hàm Dương, mức độ xa hoa còn vượt xa phủ của thái phó đại nhân và đại lương tạo. Về sau, Đỗ Chí và một số thành viên cựu đảng vì vụ án Thương Quân mà cả nhà bị chém, phủ này cũng bị tịch thu. Mấy năm gần đây, biết bao người ao ước có được phủ này, trong đó không thiếu quốc thích, công tử, nhưng chúa thượng vẫn chưa đồng ý. Trương Tử đúng là đi sau nhưng lại vượt trước!” Nói đến đây, Sư Lý Tật lại cười vang sảng khoái.
“Nói như vậy, đúng là tại hạ được sủng ái quá thành ra nơm nớp!” Trương Nghi cũng cười.
Mọi người đi ngắm nghía một vòng quanh phủ, Sư Lý Tật bảo nội thần trao lại khế nhà cho Hương Nữ, lại lần lượt bàn giao những đồ vật mà quân chủ ban tặng, sau đó cùng Ngô Thanh cáo từ ra về. Nội thần gọi đám nô bộc đến chào Trương Nghi, Hương Nữ, rồi phân công đi làm việc.
Đến giờ Thân, trong cung phái người mang đến một tấm biển, trên đề dòng chữ: “Phủ hữu thứ trưởng”.
Hương Nữ ngắm nghía tấm biển một hồi, khẽ nhẩm đọc: “Phủ hữu thứ trưởng?” Rồi hơi chau mày, ngẩng đầu nhìn Trương Nghi. “Cái tên này thực kỳ lạ, là chức quan gì vậy?”
Trương Nghi cười nói: “Đây là tên quan của nước Tần. Sau khi nước Tần biến pháp, quan tước chia thành hai mươi cấp, bắt đầu từ cấp thứ mười là tả thứ trưởng, đến cấp thứ mười tám là đại thứ trưởng, tương đương với khanh. Các cấp ở giữa lần lượt là, cấp mười một hữu thứ trưởng, cấp mười hai tả canh, cấp mười ba trung canh, cấp mười bốn hữu canh, cấp mười lăm thiếu lương tạo, cấp mười sáu đại lương tạo, cấp mười bảy tứ xa thứ trưởng, đều là chức khanh. Dưới khanh là sĩ, đại phu, tổng cộng có mười cấp. Trên khanh là quân là hầu, tổng cộng có hai cấp. Trên hầu mới là công.”
Hương Nữ có phần băn khoăn, hỏi: “Nếu nói như vậy, chức quan của phu quân cũng không lớn lắm, sao có thể được ở trong toà phủ hoa lệ nhường này?”
“Phu nhân có điều không biết,” Trương Nghi lại cười mà giải thích, “chiếu theo Tần pháp, chức quan của Nghi không hề nhỏ! Nước Tần hợp nhất quan và tước, Tần pháp quy định, chỉ thăng cấp theo quân công, chưa lập được quân công, trừ phi chúa thượng đặc biệt ban tặng, còn ngoài ra sẽ không được thăng chức. Vì vậy tính cho đến nay, rất nhiều quan tước bên trên tước khanh vẫn còn để trống. Khi mới thực thi biến pháp, Công Tôn Ưởng chỉ là tả thứ trưởng, còn ở dưới hữu thứ trưởng một bậc. Sau do biến pháp lập công, nên chúa thượng mới phá lệ phong cho làm đại lương tạo, vị trí ở cấp thứ mười sáu. Nếu không phải lập được công lớn trong hai trận chiến Hà Tây và Thương Ư, thì Công Tôn Ưởng sẽ không thể trở thành Thương Quân. Nghi mới chân ướt chân ráo đến đây, chưa lập được chút công lao nào, nhưng Tần Công lại lập tức phong làm hữu thứ trưởng, đã là trọng dụng lắm rồi. Còn về toà phủ này, có lẽ vẫn còn ẩn ý gì khác…”
Hương Nữ đang định hỏi xem là ẩn ý gì thì môn nhân đã vào bẩm báo có khách cầu kiến. Trương Nghi mới vừa đặt chân đến Tần, chẳng có người quen nào ở đây, nên trong lòng băn khoăn, đi ra xem thử, thì ra là Giả Xá Nhân đang đứng đợi ngoài cổng.
Trương Nghi vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ, vội bước tới vòng tay vái chào: “Giả huynh!”
Giả Xá Nhân cũng vòng tay chúc mừng: “Chà chà, mấy ngày không gặp, Trương Tử đã phát đạt rồi!”
“Phát đạt gì đâu?” Trương Nghi cười nói. “Vật dễ có thì mất cũng nhanh!” Rồi bước tới cầm tay Giả Xá Nhân. “Giả huynh, mời vào trong phủ!”
Hai người cùng bước vào cổng, dừng lại trong sân ngắm cảnh một lát, Giả Xá Nhân lại chúc mừng: “Trương Tử có được bước tiến thân này, đã có thể thi triển tài năng rồi!”
Nhìn nhà cửa toà ngang dãy dọc và cảnh trí lớp lang hoa lệ, Trương Nghi bất giác thở dài: “Than ôi, nếu như nói ra, lần này được đắc ý, cũng đều là do Giả huynh ban cho cả!”
“Trương Tử cười chê rồi!” Giả Xá Nhân cười vang mà nói. “Tất cả những thứ này đều do Tần Công ban thưởng, tại hạ có công gì đâu?”
“Tại hạ nói thực lòng, Giả huynh bất tất phải khiêm nhường!” Trương Nghi chân thành cảm tạ. “Nếu không có Giả huynh, tại hạ sẽ không đến Hàm Đan, sẽ không phải chịu nỗi nhục kia, sẽ không chạy sang Tần, như vậy đương nhiên sẽ không có được cơ hội ngày nay!” Nhắc đến Hàm Đan, bất giác lại nhớ đến Tô Tần, Trương Nghi nghiến răng kèn kẹt rít lên. “Tên tiểu nhân Tô Tần, tại hạ coi hắn là huynh đệ, nhưng hắn tiểu nhân đắc chí, tuyệt không ngờ hắn lại trở mặt, thực khiến tại hạ…” Lại nghẹn lời, vung nắm tay đấm mạnh vào thân cây liễu bên cạnh. “Giả huynh, huynh hãy đợi xem! Chẳng phải người này mộng tưởng hợp tung hay sao? Tại hạ nhất định sẽ cho hắn biết thế nào là mộng tưởng!”
Nghe thấy lời này, Giả Xá Nhân từ từ thu nét cười lại, mắt nhìn Trương Nghi, thở dài sườn sượt: “Than ôi!”
Trương Nghi ngạc nhiên, đưa mắt nhìn Giả Xá Nhân hỏi: “Giả huynh cớ sao lại than thở?”
Giả Xá Nhân chậm rãi nói: “Vì Tô Tử!”
“Vì hắn?” Trương Nghi kinh ngạc. “Lời này có nghĩa gì?”
“Trương Tử có được ngày hôm nay, nếu muốn đa tạ một người, thì đó chính là Tô Tử!”
“Đa tạ hắn?” Trương Nghi cười nhạt một tiếng, giọng đầy cay độc. “Tuy nhiên, tại hạ sẽ không đa tạ một lúc hết luôn, mà tại hạ sẽ từ từ đa tạ, đa tạ từng chút một. Trước tiên, phải phá hoại hợp tung của hắn, sau đó ép hắn đến bước đường cùng, sống chẳng bằng chết; sau cùng sẽ tìm một cơ hội để gặp mặt đa tạ!”
Nghe Trương Nghi nói ra những lời thâm, Giả Xá Nhân lại thở dài sườn sượt, liên tiếp lắc đầu.
Trương Nghi kinh ngạc: “Chẳng lẽ ý của Giả huynh là tại hạ không nên đối xử với hắn như vậy ư?”
“Trương Tử đối xử với Tô Tử thế nào, đó là việc của Trương Tử, không liên quan gì đến tại hạ. Thế nhưng, nếu như Trương Tử muốn nghe, tại hạ có thể kể cho Trương Tử một câu chuyện cũ.”
“Giả huynh cứ nói!”
Giả Xá Nhân ngồi xuống bãi cỏ, bắt đầu kể lại toàn bộ những chuyện trước đây, đặc biệt là việc Tô Tần đã khổ tâm nghĩ kế để bức ép Trương Nghi đến Tần cho Trương Nghi nghe. Trương Nghi ngồi ngây như khúc gỗ, sững sờ một hồi lâu mới như người vừa tỉnh mộng, hít ngược vào một hơi dài, rồi từ từ thở ra: “Thì ra là như vậy!”
Giả Xá Nhân khẽ than thở: “Than ôi, cho nên Tô Tử đâu có muốn làm nhục Trương Tử? Tô Tử đoán rằng Trương Tử hẳn gặp chuyện bất trắc ở Sở, nên mới vội vàng phái tại hạ đi mời Trương Tử đến Triệu. Tô Tử lại biết chí lớn đời này của Trương Tử là nhất thống thiên hạ, nên chắc chắn sẽ không ủng hộ hợp tung, mà thiên hạ ngày nay, duy chỉ có Tần mới đủ sức nhất thống thiên hạ, Trương Tử có thù với Tần, chắc chắn sẽ không chịu đến Tần. Tô Tử khổ tâm suy nghĩ mà chẳng tìm ra được kế gì khả dĩ, nên mới đành phải làm nhục Trương Tử trước mặt mọi người, bức Trương Tử phải sang Tần. Vào hôm Tô Tử làm nhục Trương Tử, tại hạ cũng ở trong phủ tướng quốc. Sau khi Trương Tử bỏ đi, Tô Tử lòng đau như cắt, khóc than thống thiết, khiến tại hạ trông mà cũng đau xót trong lòng. Đêm hôm đó, Tô Tử cả đêm không ngủ, cùng tại hạ ngồi trong Thính Vũ các, kể cho tại hạ nghe những chuyện cũ của hai người, tất cả đều khắc ghi mồn một trong tâm trí Tô Tử. Tại hạ có thể nhận thấy, trên đời này, nếu Tô Tử chỉ có một tri kỷ, thì người đó nhất định là Trương Tử!”
Trương Nghi chuyển từ ngồi sang quỳ, dập đầu sát đất, nước mắt ròng ròng, bật khóc mà gọi: “Tô huynh…”
Giả Xá Nhân nhìn Trương Nghi, nói tiếp: “Trước lúc lên đường, Tô Tử dặn đi dặn lại tại hạ, không được nói cho Trương Tử biết. Nay thấy Trương Tử ghi hận Tô Tử đến vậy, tại hạ thực lòng không nhẫn tâm nên mới nói ra sự thật. Nay Trương Tử đã được đắc ý, việc trần của tại hạ cũng đã hoàn thành, đã đến lúc phải quay về núi. Lần này đến đây, chính là để cáo từ Trương Tử!”
“Quay về núi?” Trương Nghi thoạt tiên không hiểu, sau đó sững sờ, sau nữa là kinh ngạc, rồi đột nhiên đứng phắt dậy, mở to hai mắt nhìn Giả Xá Nhân. “Giả huynh muốn quay về núi nào?”
“Núi Chung Nam!”
“Chẳng phải huynh vừa từ núi Chung Nam trở về ư?”
“Đó là nói dối Trương Tử mà thôi!” Giả Xá Nhân vòng tay tạ lỗi. “Thực có lỗi với Trương Tử!”
Sau một hồi bàng hoàng kinh hãi, Trương Nghi mới trấn tĩnh lại, khép mắt suy nghĩ một chốc, rồi mở mắt ra than rằng: “Than ôi! Trương Nghi ơi là Trương Nghi, ngay từ lúc lọt lòng đã chỉ biết giăng bẫy lừa người, lừa Tô Tần, lừa Tôn Tẫn, lừa Bàng Quyên, lừa Việt Vương, lừa Sở Vương… Tại hạ cứ tự cho mình là thông minh, nhưng thực không ngờ, trong vòng một năm đã bị người ta lừa gạt hết lần này đến lần khác!”
“Ai lừa ai không quan trọng!” Giả Xá Nhân cười điềm đạm. “Trương Tử xuất thân từ Quỷ Cốc, chắc cũng hiểu điều này!”
Nghe thấy lời này, đột nhiên lại nhớ đến câu “việc trần đã hoàn thành” vừa nãy, Trương Nghi trong lòng chấn động, nhìn chằm chằm vào Xá Nhân: “Xin hỏi Giả huynh, rốt cuộc huynh là ai?”
Giả Xá Nhân từ tốn đáp lời: “Trương Tử đã hỏi, tại hạ cũng không dám giấu. Tại hạ là đệ tử của Hàn Tuyền Tử ở núi Chung Nam, mấy năm trước phụng mệnh gia sư xuống núi tìm hiền tài phò tá Tần Công. Nay đã có được Trương Tử, cũng đến lúc tại hạ phải về núi phục mệnh rồi!”
“Hàn Tuyền Tử ở núi Chung Nam?” Trương Nghi lẩm bẩm nhắc lại, dường như đang cố vắt óc nhớ ra cái tên này.
“Đúng vậy!” Giả Xá Nhân trịnh trọng nói. “Gia sư và Quỷ Cốc tiên sinh là sư huynh sư đệ đồng môn, cùng chung sư phụ là tổ sư Quan Doãn Tử. Tôn sư của Trương Tử cũng là sư bá của tại hạ, vì vậy chúng ta là đồng môn!”
Quen biết Giả Xá Nhân mấy tháng trời, bây giờ Trương Nghi mới biết hai người là đồng môn, nhất thời khó tránh khỏi kinh hãi, chết lặng hồi lâu mới vòng tay nói: “Đệ tử của Quỷ Cốc tiên sinh núi Vân Mộng là Trương Nghi xin chào Giả sư đệ!”
Giả Xá Nhân cũng vòng tay đáp lễ: “Đệ tử của Hàn Tuyền Tử tiên sinh núi Chung Nam là Giả Xá Nhân xin chào Trương sư huynh!”
Tất cả mây mù chốc lát đã xua tan, hai người nhìn nhau một thoáng, rồi lại cùng vỗ tay cười vang.
Giả Xá Nhân vừa đi, Thiếu Lương lệnh Ngô Thanh lại đến cáo từ. Trương Nghi nhờ Ngô Thanh nhắn với Tiểu Thuận, bảo hắn hãy sắp đặt mọi việc ở Trương Ấp rồi nhanh chóng đến Hàm Dương.
Mấy ngày sau, đại lương tạo nước Tần là Công Tôn Diễn đi sứ nước Ngụy trở về, nhưng không hồi phủ ngay mà lập tức vào cung bẩm báo lại chuyện Tô Tần hợp tung thành công Tam Tấn cho Tần Công biết.
Dường như Huệ Văn Công cũng đã dự liệu được kết cục này, cười nhạt mà hỏi: “Bước tiếp theo, Tô Tử dự tính thế nào?”
“Đến nước Tề!” Công Tôn Diễn đáp.
“Nước Tề?” Huệ Văn Công chau tít đôi mày, hai mắt nhìn chằm chằm vào Công Tôn Diễn. “Đáng lẽ người này phải đến nước Sở mới đúng!”
“Sau khi Tề nhập tung, Tô Tần mới sang nước Sở!”
Huệ Văn Công tròn mắt kinh ngạc: “Ý khanh là Tô Tần muốn hợp tung sáu nước để chống lại một mình quả nhân ư?”
Công Tôn Diễn khẽ gật đầu, đôi mày nhíu lại.
“Chẳng phải hắn rêu rao hợp tung Tam Tấn hay sao? Lại đổi thành hợp tung sáu nước từ khi nào vậy?”
“Sau khi đến Ngụy mới thay đổi. Ngụy chính là mạng sườn của hợp tung, vi thần dựa vào đó để công kích, khiến quân thần nước Ngụy đều không đồng ý nhập tung. Chắc hẳn Tô Tần đã phát giác ra điều này, nên lập tức thay đổi chủ trương, đề xuất sáu nước hợp tung, cùng chế cường Tần.”
“Cái gì mà cùng chế? Ý hắn là diệt Tần, diệt quả nhân!” Huệ Văn Công đùng đùng nổi giận, đập bàn quát lớn.
“Chúa thượng!” Công Tôn Diễn suy nghĩ một thoáng, rồi hạ giọng bẩm tấu. “Theo vi thần được biết, Tô Tử không hề có ý này!”
“Không phải ý này?” Huệ Văn Công cơn giận chưa tan, lại đập bàn liền mấy cái. “Vậy hắn có ý gì?”
“Trước lúc lên đường, vi thần có đến gặp Tô Tử, cùng đàm luận với hắn. Tô Tử giãi bày rằng, mục đích của hợp tung là nhằm xây dựng thái bình thịnh thế, khiến chư hầu hoà thuận, liệt quốc cộng sinh, thiên hạ cùng trị. Theo lời Tô Tử nói, sáu nước có Tần nên có thể hợp tung, sáu nước hợp tung sẽ không còn tranh chấp; sáu nước không tranh chấp, Trung Nguyên sẽ bình yên; Trung Nguyên bình yên, Tần sẽ không dám vọng động, thiên hạ sẽ không còn tranh chấp nữa. Thiên hạ đều không tranh chấp, chư hầu sẽ bình tâm lại, để tìm ra điểm chung, gác lại bất đồng, tìm ra cái đạo chung sống hài hòa yên ổn, khôi phục thời thịnh trị của Chu Công, Thiệu Công đầu đời Chu.”
Huệ Văn Công luôn miệng nói “hoang đường”, rồi bật người đứng vụt dậy, đi đi lại lại mấy vòng trong sảnh, thình lình khựng lại, cao giọng gọi lớn: “Người đâu!”
Nội thần vội chạy vào: “Có thần!”
“Mau triệu Sư Lý Tật, Tư Mã Thác, Cam Mậu vào cung nghị sự!”
Nội thần vâng lệnh, đang định lui ra thì Huệ Văn Công nói thêm một câu: “Còn nữa, gọi cả công thúc và hữu thứ trưởng đến!”
Nội thần lui ra, Công Tôn Diễn thoáng ngạc nhiên, hỏi khẽ: “Xin hỏi chúa thượng, ai là hữu thứ trưởng?”
“Trương Nghi! Ái khanh biết người này không?”
“Trương Nghi?” Công Tôn Diễn sững người. “Chẳng phải hắn đang ở nước Sở ư?”
“Giờ đã đến Tần rồi!” Huệ Văn Công đáp một câu, rồi ngồi xuống, hai mắt khép hờ, bắt đầu suy nghĩ. Công Tôn Diễn không dám hỏi tiếp, cũng chẳng dám cáo lui, đành phải ngồi nghiêm trang, từ từ nhắm mắt lại.
Chưa đến nửa canh giờ sau, Sư Lý Tật, Tư Mã Thác, Cam Mậu, Trương Nghi vội vàng đến nơi, chỉ còn tiền thái phó Doanh Kiền vẫn đang trên đường. Nội thần đưa mọi người vào sảnh bên ngồi đợi, còn mình đích thân ra cửa cung đón Doanh Kiền, cùng ông ta đi vào, sau đó mới bẩm báo: “Chúa thượng, lão thái phó và các vị đại nhân đã đến, đang ở ngoài chờ yết kiến!”
Huệ Văn Công nộ khí sớm đã điều hoà, sắc mặt lại điềm tĩnh như cũ, nói: “Truyền vào!”
Lão thái phó dẫn đầu, mọi người xếp hàng đi theo sau, lần lượt tiến vào thi lễ.
Huệ Văn Công mỉm cười, đứng lên đỡ Doanh Kiền dậy, dìu đến ngồi xuống bên cạnh mình, chỉ vào những chỗ còn lại nói với những người khác: “Ngồi đi! Ngồi đi!” Rồi quay sang nội thần. “Dâng trà!”
Nội thần vỗ tay, từ hai bên có mấy cung nữ bước ra, dâng trà cho từng người, rồi khom lưng lui ra.
“Công thúc, chư vị ái khanh!” Huệ Văn Công chậm rãi nói. “Lúc nãy Công Tôn ái khanh đi sứ nước Ngụy trở về, nói rằng nước Ngụy đã nhập tung, Tô Tần đã hợp nhất Tam Tấn và nước Yên làm một. Công Tôn ái khanh còn nói, Tô Tần vẫn chưa chịu thôi, còn định du thuyết Tề, Sở, muốn hợp thân sáu nước Sơn Đông, cùng chế ngự nước Tần ta!” Dừng lời, nâng tách trà lên chiêu một ngụm.
Rõ ràng đây là một biến cố lớn, ngoài Công Tôn Diễn, những người còn lại thảy đều chấn động, đưa mắt nhìn nhau.
Huệ Văn Công nhìn khắp lượt quần thần, thần sắc trở nên nghiêm nghị: “Tam Tấn hợp tung đã là đại họa với Tần, huống chi là sáu nước? Chư vị ái khanh, hiện giờ nước Tần đang trong lúc sinh tử tồn vong, quả nhân cấp tốc triệu chư vị đến là để cùng bàn bạc, tìm ra kế sách đối phó.”
Hồi lâu sau, vẫn chẳng ai lên tiếng, không gian lặng phắc như tờ.
Huệ Văn Công quay sang Doanh Kiền: “Công thúc hiểu nhiều biết rộng, có đối sách nào chăng?”
Từ sau khi Doanh Kiền cáo quan về hưu, Tần Công rất ít khi hỏi Doanh Kiền về chuyện triều chính, Doanh Kiền cũng chẳng mấy quan tâm tới quốc sự. Lúc này lại được triệu kiến, còn được hỏi đầu tiên, Doanh Kiền hơi lúng túng, hai tay xoắn chặt vào nhau một hồi, mới rặn ra được một chữ: “Đánh!”
Mọi người đều bật cười.
Nhưng Huệ Văn Công lại không cười, nghiêm túc nhìn Doanh Kiền: “Xin hỏi công thúc, đánh ai? Đánh ở đâu?”
“Đánh người Triệu! Đánh vào Hàm Dương!”
Huệ Văn Công cúi đầu ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi ngước mắt lên nhìn quần thần: “Mấy tháng trước quả nhân truyền hịch phạt Triệu, coi như đánh dứ một đòn. Nay công thúc kiến nghị đánh thực, ý chư vị thế nào?”
Tư Mã Thác lập tức tiếp lời: “Vi thần tán đồng phạt Triệu! Triệu là nước khởi xướng hợp tung, đương nhiên sẽ phải trả giá! Vi thần nguyện dẫn quân chinh phạt, không chiếm được Tấn Dương, thề không trở về!”
Huệ Văn Công thuận đà đưa mắt nhìn sang Trương Nghi, thấy hắn nhắm mắt ngồi ngay ngắn, miệng như cười lại không phải cười, trông chẳng khác gì pho tượng, trong lòng đã rõ mười mươi, nhưng lại không hỏi đến, mà đưa mắt nhìn sang Công Tôn Diễn, Sư Lý Tật và Cam Mậu: “Công thúc, Tư Mã ái khanh đều muốn phạt Triệu, các khanh có ý kiến gì chăng?”
Cam Mậu đắn đo một thoáng, rồi chậm rãi nói: “Vi thần cho rằng, nếu như đánh Tấn Dương nước Triệu, chi bằng hãy đánh Nghi Dương nước Hàn!”
Huệ Văn Công thoáng ngạc nhiên, nhổm người dậy hỏi: “Ồ, sao lại như vậy?”
“Tấn Dương của nước Triệu nằm ở bình nguyên, không có địa thế hiểm yếu để phòng thủ, vì vậy người Triệu đã đắp tường cao đào hào sâu, tích thảo đồn lương, tăng cường quân đội, phòng bị vô cùng nghiêm ngặt, chúng ta không thể tìm ra sơ hở để thừa cơ, công phá nhiều lần vẫn không hạ được. Ngược lại, hãy nhìn Nghi Dương, xung quanh đều là núi cao sông hiểm, vì vậy mà người Hàn phòng bị lỏng lẻo, chúng ta có cơ hội tấn công, chắc chắn có thể thủ thắng. Còn nữa…” Cam Mậu dừng lại nửa chừng, đưa mắt nhìn Huệ Văn Công.
“Nói tiếp đi!” Huệ Văn Công hai mắt nhìn chăm chú vào Cam Mậu.
“Tấn Dương nghèo nàn cằn cỗi, ta có chiếm cũng chẳng ích gì. Mấy năm nay, sắt quý hơn đồng, Nghi Dương vốn được gọi là kinh đô sắt thép, nếu ta chiếm được Nghi Dương, không biết sẽ tiết kiệm được bao nhiêu tiền bạc!”
“Vi thần tán đồng ý kiến của tả canh!” Công Tôn Diễn nói xen vào. “Từ Đại Lương trở về, suốt dọc đường đi, vi thần đều suy nghĩ đến chuyện này. Mặc dù hợp tung bắt đầu từ nước Triệu, nhưng Triệu lại là khúc xương quá rắn, không dễ nuốt. Ngụy có các hiền tài như Bàng Quyên, Huệ Thi, Chu Uy, hiện giờ không nên thôn tính. Trong Tam Tấn, chỉ có duy nhất nước Hàn là ta dễ dàng xâm chiếm. Thân Bất Hại đã chết từ lâu, Hàn Hầu tuổi tác đã cao, lực bất tòng tâm. Mấy vị công tử của Hàn thất đều là hạng tầm thường. Tô Tần hợp tung, Hàn Hầu tích cực hưởng ứng cũng chính là muốn tự bảo vệ mình. Ngụy Hàn trước nay bất hoà, nếu ta đánh Nghi Dương, Ngụy chắc chắn sẽ không ứng cứu. Người Triệu lại ở xa Nghi Dương, muốn cứu cũng chẳng kịp. Nếu ta có được Nghi Dương, sẽ có thể khống chế Hàn Hầu, ép Hàn Hầu ly khai hợp tung. Chỉ cần nước Hàn ly khai, kế hợp tung của Tô Tần sẽ không cần đánh mà tự phá.”
“Phải! Ái khanh thật biết nhìn xa trông rộng!” Huệ Văn Công gật đầu khen ngợi. “Chiếm được chút sắt vụn chỉ là chuyện nhỏ, phá hợp tung mới là quan trọng! Tuy nhiên, như lời của Cam ái khanh, mặc dù ta có thể đánh Nghi Dương, nhưng quanh Nghi Dương toàn là núi cao sông hiểm, ải Hào Quan lại bị người Ngụy chiếm giữ, ta không thể mượn được đường nào, làm sao có thể đánh đây?”
“Chúa thượng yên tâm!” Công Tôn Diễn dường như đã có sẵn kế sách. “Vi thần đã suy tính đến chuyện này. Khi còn ở Ngụy, vi thần đã đi thăm dò vùng sơn cốc Hàm Hào, hỏi những người đi săn trong vùng, được biết rằng cách ải Hàm Cốc mười dặm về phía đông, đi ngược theo sông Tiêu Thuỷ, vượt qua núi Mã Thủ là có thể tiến vào vùng sơn cốc Lạc Thuỷ. Lần này trở về, vi thần đã đích thân đi thăm dò, đường ấy quả thực có thể đi qua. Ngoài ra, từ mé đông Hoa Sơn tiến xuống phía nam, vượt qua núi Khoa Phụ, núi Dương Hoa, ta cũng có thể đi theo vùng sơn cốc Lạc Thuỷ, đánh vào Nghi Dương!”
“Đại lương tạo nói không sai!” Tư Mã Thác tiếp lời. “Năm xưa vi thần mượn đường qua Nghi Dương để tới Lạc Dương cầu thân, cũng đi qua núi Khoa Phụ, mặc dù đường xa, song có thể đi ngựa. Tuy nhiên, đây là đường hiểm, người Hàn từ lâu đã phát hiện ra, nên đã đặt cửa ải trấn giữ. Năm đó mượn đường đến Lạc Dương là được người Hàn đồng ý. Còn nếu như tiến quân theo đường này, giả sử người Hàn có phòng bị trước, thì ta sẽ lâm vào tuyệt địa!”
Huệ Văn Công kinh ngạc, quay sang Công Tôn Diễn: “Công Tôn ái khanh có nghĩ đến điều này không?”
“Đã nghĩ đến!” Công Tôn Diễn gật đầu. “Dùng binh là ở kỳ, ở trá, ở bất ngờ. Nếu người Hàn đã có phòng bị, thì chỉ có một cách giải thích, là chúng ta hành sự chưa chu đáo, dùng binh chưa đủ kỳ.”
Huệ Văn Công nhắm mắt lại, suy nghĩ một hồi, rồi ngẩng đầu, đưa mắt nhìn sang Trương Nghi, thấy hắn vẫn khép mắt ngồi yên, khác chăng ở chỗ trên miệng không còn thấy nụ cười nửa có nửa không như ban nãy, mà lồ lộ một nụ cười giễu cợt.
Huệ Văn Công khẽ vòng tay, ngả người về phía trước hỏi: “Ý hữu thứ trưởng thế nào?”
Chúng thần đều quay sang nhìn Trương Nghi.
Mấy ngày nay, việc Trương Nghi đến Tần, được phong làm hữu thứ trưởng đã được đồn đại khắp thành Hàm Dương. Nhưng vì Trương Nghi chưa hề lên triều, vì vậy, ngay cả Tư Mã Thác, Công Tôn Diễn, Doanh Kiền, cũng là lần đầu tiên được gặp mặt Trương Nghi, nên ánh mắt ai cũng tràn đầy hiếu kỳ.
Trương Nghi mở mắt ra, vòng tay nói với Huệ Văn Công: “Chúa thượng muốn hỏi chuyện xuất chinh, hay là chuyện hợp tung?”
Huệ Văn Công kinh ngạc: “Hai cái này có khác nhau ư?”
“Đương nhiên là có!” Trương Nghi đáp. “Nếu hỏi chuyện xuất chinh, vi thần mới chân ướt chân ráo đến Tần, chưa hiểu rõ tình thế, nên không dám nói bừa!”
“Nói như vậy, ái khanh đã có diệu kế đối phó với hợp tung rồi ư?” Huệ Văn Công mừng ra mặt, nhổm người về trước hỏi vội.
Trương Nghi lắc đầu nói: “Không có diệu kế!”
“Vậy… ái khanh có cách nào đối phó chăng?”
“Vi thần vẫn đang suy nghĩ!”
Trương Nghi vòng qua vòng lại, cuối cùng lại buông ra một câu tưng tửng. Quần thần vừa cụt hứng vừa tức cười, đều bật cười thành tiếng.
Vào thời khắc này, đương nhiên không thích hợp để nói đùa. Huệ Văn Công đặng hắng một tiếng, ngồi thẳng người dậy, liếc nhìn quần thần một lượt rồi chậm rãi nói: “Chư vị ái khanh, hôm nay tạm thời bàn đến đây. Còn về việc phạt Hàn hay phạt Triệu, đợi quả nhân suy nghĩ xong sẽ lại bàn cùng chư vị!”
Quần thần đều đứng dậy cáo lui.
Trương Nghi vốn nổi tiếng vì tài miệng lưỡi, nhưng hôm nay, trong một cuộc luận bàn quan trọng nhường này, mà lại ngậm miệng ngồi im, quả thực nằm ngoài dự liệu của mọi người. Sau khi ra khỏi cửa cung, dường như chẳng có ai để mắt đến Trương Nghi, Trương Nghi cũng chẳng để tâm đến họ, lập tức lên xe trở về phủ.
Vào lúc hoàng hôn, đột nhiên có một đội thị vệ trong cung rầm rập tiến đến trước phủ Trương Nghi.
Trương Nghi hay tin, chưa kịp ra đón thì Tần Công đã sải bước tiến vào, đội vệ sĩ oai nghiêm đứng chật cả sân.
Trương Nghi vội vàng dập đầu khấu lạy. Huệ Văn Công đỡ Trương Nghi đứng dậy, rồi cùng vào nhà trong, phân ngôi quân thần ngồi xuống. Huệ Văn Công cười lớn mà nói: “Ái khanh chuyển đến phủ mới đã mấy hôm, đúng ra quả nhân phải đến cúng bếp chúc mừng mới phải, nhưng lại chẳng lúc nào rảnh rỗi. Giờ có chút thời gian, quả nhân nhớ tới chuyện này, hỏi nội thần mới biết nay là ngày cát lợi để cúng bếp, nên vội đến đây!”
Cúng bếp hay còn gọi là cúng thần bếp, là phong tục của người Tần. Mỗi khi dọn đến nhà mới, bạn bè thân thích sẽ đến chúc mừng, mang theo các loại thịt sấy, cá khô, cọ nồi thử bếp, bày cỗ linh đình. Hà Tây vốn là đất Tần, Trương Nghi lại sinh trưởng tại Hà Tây, nên đương nhiên cũng biết tập tục này, liền vòng tay đa tạ: “Được chúa thượng giá lâm cúng bếp, thần bếp hẳn cũng lấy làm vinh dự!”
Huệ Văn Công cười vang mà nói: “Chúng ta tuyệt đối không nên đắc tội với thần bếp!” Rồi quay sang nội thần. “Mau, tặng thịt sấy!”
Nội thần vẫy tay, lập tức có mấy người khệ nệ khiêng vào đến vài sọt thức ăn, bên trong đầy ắp thịt sấy, rượu ngon.
Nội thần để Trương Nghi kiểm tra qua rồi sai nô bộc khiêng đi, sau đó cùng với Hương Nữ và đầu bếp trong cung vào bếp, cúng thần bếp, chuẩn bị cơm rượu. Chưa tới một khắc, đầu bếp trong cung đã hâm nóng xong các món ăn và rượu ngon, nội thần sắp xếp mang lên, bày đầy trong sảnh đường.
Huệ Văn Công chỉ vào bụng mình, nói: “Quả nhân đến đây để cúng bếp, nên vẫn chưa ăn gì. Nghe nói ái khanh tửu lượng xuất chúng, hôm nay quân thần chúng ta không say không về!”
Nội thần xua tay bảo nô bộc lui ra, đích thân rót rượu.
Rượu qua mấy tuần, dường như Huệ Văn Công bắt đầu nổi hứng, bảo đổi chén nhỏ thành bát lớn, uống liền mấy bát, rồi đẩy bát mà nói: “Ái khanh quả nhiên tửu lượng hơn người, uống nhiều như vậy rồi mà vẫn như không. Còn quả nhân đã thấy hơi say rồi!”
Trương Nghi cũng đặt bát xuống: “Chúa thượng say mà không say, vi thần không say mà lại say!”
Huệ Văn Công buột miệng khen: “Nói hay lắm!” Suy nghĩ một lát, càng thêm tấm tắc, liên tiếp gật gù. “Nghe người ta nói, rượu ngon có thể khiến đầu óc tỉnh táo, uống tới vừa đủ, trong tâm sẽ sáng như gương. Ái khanh nói được câu này, xem ra đã uống đến chỗ tuyệt diệu nhất rồi!”
Trương Nghi thuận miệng đáp liền: “Chúa thượng thánh đoán, quả là vi thần đã uống tới chỗ tuyệt diệu nhất!”
“Ồ!” Huệ Văn Công cười lớn mà nói. “Ái khanh đã uống đến chỗ tuyệt diệu nhất, vậy việc lúc ban ngày còn suy nghĩ, giờ hẳn đã nghĩ xong rồi?”
Trương Nghi gật đầu nói: “Hồi bẩm chúa thượng, vi thần đã nghĩ xong rồi!”
“Tốt! Tốt lắm! Quả nhân cũng vừa hay uống đến chỗ tuyệt diệu nhất, có thể lắng nghe được rồi!”
“Vi thần nghĩ tới một khẩu quyết, hoặc giả đối phó được với hợp tung!”
“Là khẩu quyết gì?”
Trương Nghi khép hờ hai mắt, như đang đọc sách: “Liên hoành cường Tần, chính danh mở đất, dương đông kích tây, thân xa đánh gần.” Nói xong, hai mắt nhắm hẳn lại.
Huệ Văn Công trầm ngâm một lúc, rồi ngẩng đầu lên hỏi: “Khẩu quyết này thực khó hiểu, quả nhân tối dạ, nhất thời không thể hiểu ra, xin ái khanh hãy giải thích rõ!”
Trương Nghi mở mắt ra: “Dám hỏi chúa thượng, không rõ chỗ nào?”
“Lời của ái khanh, câu đầu tiên là đại cương, ba câu tiếp theo là chi tiết. Tô Tần hợp tung, ái khanh ứng phó bằng liên hoành, quả là diệu kế. Tần cường thịnh là cái gốc, cũng chính là ý chí của quả nhân. Ba câu tiếp theo, xét về lý thì quả nhân cũng đã hiểu, có điều thực thi cụ thể thế nào, quả nhân vẫn chưa nghĩ thông, xin ái khanh chỉ giáo!”
“Chúa thượng khiêm nhường rồi!” Trương Nghi khẽ vòng tay, dõng dạc nói. “Vi thần cho rằng, cái gọi là chính danh, chính là quay mặt về nam xưng vương. Sau hội triều Mạnh Tân, cục thế đại biến, thiên hạ bước vào thời đại nhiều vương. Hiện giờ, trong liệt quốc ở Sơn Đông, Tống, Trung Sơn chỉ đua đòi không tính, chỉ nói đến sáu nước lớn, ba nước Ngụy, Sở, Tề đã xưng vương, nếu Tô Tần hợp tung thành công, chắc chắn sẽ khiến sáu nước cùng xưng vương. Sáu nước ở Sơn Đông cùng xưng vương, Tần vẫn là công quốc, về mặt danh phận sẽ thua kém một bậc, dù có đạo nghĩa, nhưng lại thiếu vương khí!”
“Thế còn mở đất? Nếu như sáu nước phân tranh, quả nhân còn có thể làm ngư ông đắc lợi, xâm lấn được chút ít. Một khi sáu nước hợp tung thành công, khẽ rút dây là động cả rừng, bảo quả nhân phải mở đất thế nào đây?”
“Không xâm lấn được thì nuốt chửng!”
“Nuốt chửng?” Huệ Văn Công trợn tròn mắt, nhìn chằm chằm vào Trương Nghi, hơi chúi người về phía trước. “Nuốt chửng nơi nào?”
“Ba, Thục!”
Huệ Văn Công hít vào một hơi dài, rồi khép mắt lại.
“Chúa thượng!” Trương Nghi chậm rãi nói. “Thiên hạ ngày nay, có khả năng đối đầu với chúa thượng, không phải Tam Tấn, không phải nước Yên, mà là Tề, Sở. Nước Tề cách trở Tam Tấn, roi dài khó với, nên không phải là chuyện cấp bách trước mắt. Nhưng Sở thì khác, Sở đã có được Ngô Việt, bước tiếp theo hẳn sẽ mưu tính Ba, Thục. Hai nước Ba, Thục diện tích không dưới hai nghìn dặm vuông, sản vật phong phú, dân chúng đông đến hàng chục vạn, phong tục thuần phác, không hề thua kém Ngô Việt. Ba Thục nằm ngay phía trên nước Sở, có được Thục sẽ có được Sở, có được Sở sẽ có được thiên hạ. Hơn nữa, miếng thịt béo này nếu chúa thượng không lấy, người Sở ắt sẽ lấy. Nước Sở vốn đã rộng lớn mênh mông, nay lại có thêm Ngô Việt, nếu tiếp tục có được Ba Thục, chúa thượng đừng nói là xuất quan tranh hùng, e rằng muốn yên ổn tại Quan Trung cũng khó!”
“Ừm!” Huệ Văn Công gật đầu. “Đây chính là ‘kích tây’ trong khẩu quyết của ái khanh! Vậy còn ‘dương đông’?”
“Đánh Hàn!”
“Đánh Hàn?” Huệ Văn Công sững người, sau đó lại gật gù. “Ừm, diệu kế! Còn câu cuối cùng, ‘thân xa đánh gần’, ái khanh giải thích thế nào?”
“Xa kết giao với nước Yên để chế Tề, gần tấn công Tam Tấn để chiếm lợi. Tuy nhiên, vi thần cho rằng đây là chuyện về sau. Nhiệm vụ cấp bách hiện giờ là dương đông kích tây, chiếm lấy Ba Thục!”
Huệ Văn Công thoáng chau mày, mắt nhìn Trương Nghi, chậm rãi nói: “Bốn câu khẩu quyết mà Trương Tử vừa nói, như thế nước trút từ trên cao xuống, sát thực khả thi, rất hợp với ý quả nhân. Về chuyện chính danh, Tô Tử cũng từng nhắc tới, nhưng đã bị quả nhân bác bỏ. Nay Trương Tử lại nhắc đến, có thể thấy anh hùng mưu lược tương đồng. Tuy nhiên, đây là việc lớn, hãy để quả nhân suy nghĩ thêm. Xa kết giao với nước Yên, quả nhân vốn cũng từng suy nghĩ về việc này. Trưởng nữ của quả nhân cũng sắp trưởng thành, quả nhân có ý đợi cho đến tuổi cập kê sẽ gả cho thái tử Yên quốc, kết tình thông gia. Song gần đây nghe nói thái tử nước Yên lòng dạ bất chính, quả nhân có chút đắn đo, nay nghe Trương Tử nói như vậy, việc này đã có thể quyết định được rồi. Còn về việc thôn tính Ba, Thục, quả nhân đã muốn từ lâu. Hiện giờ thời cơ đã đến, có thể xem xét. Tư Mã Thác là người hiểu rõ nội tình Ba, Thục nhất, chúng ta hãy nghe xem ông ta nói thế nào!” Quay sang nội thần. “Triệu Tư Mã Thác cấp tốc đến phủ hữu thứ trưởng, nói rằng quả nhân mời đến uống rượu!”
Nội thần vâng lệnh, quay người đi ngay.
Huệ Văn Công lập tức đưa ra quyết định, lại quyết đoán mạch lạc đến vậy, chứng tỏ đã có mưu tính từ trước, hơn nữa, mưu tính của Huệ Văn Công hoàn toàn trùng hợp với suy nghĩ của Trương Nghi. Trương Nghi thực lòng thán phục, đứng dậy khấu đầu: “Chúa thượng quả là hiền quân, Trương Nghi đã đến Tần quá chậm!”
Huệ Văn Công cười vang mấy tiếng, đứng lên đỡ Trương Nghi dậy: “Có được hiền thần, mới là hiền quân. ‘Thi’ có câu, ‘Áo chàng xanh xanh, lòng ta bồi hồi’(1), từ lâu quả nhân đã ngưỡng mộ tài của Trương Tử, nay ông trời giúp quả nhân toại nguyện, thực là sảng khoái! Nào, nhân lúc Tư Mã ái khanh còn chưa đến, chúng ta hãy uống tiếp vài bát!”
Hai người lại uống thêm một lúc, thì Tư Mã Thác phi ngựa nước đại đến nơi.
Vừa nghe nói đến chinh phạt Ba, Thục, Tư Mã Thác mặt mày hớn hở, xoa hai tay vào nhau cười hỉ hả mà nói: “Vi thần đã mong ngày này lâu lắm rồi! Chúa thượng, có được Ba, Thục sẽ có được Sở, có được Sở sẽ có được cả thiên hạ!”
Huệ Văn Công cười nói: “Tư Mã ái khanh, hai câu này của ái khanh, câu trước nói cũng bằng không, còn câu sau, lúc nãy Trương ái khanh đã nói rồi, khanh đúng là hâm cơm nguội!”
“Ồ?” Tư Mã Thác kinh ngạc, quay sang nhìn Trương Nghi. “Nói như vậy, đúng là anh hùng mưu lược tương đồng!”
“Câu này, lúc nãy chúa thượng cũng đã nói rồi!” Trương Nghi tiếp lời.
Tư Mã Thác lại ngẩn người: “Được rồi được rồi, tại hạ không nói gì nữa!” Tiện tay bưng bát rượu lên, uống ừng ực một hơi, khiến cho những người có mặt đều phá lên cười.
Tư Mã Thác uống xong, vớ lấy vò rượu định rót tiếp, thì Huệ Văn Công cười nói: “Tư Mã ái khanh, nếu khanh ngậm miệng không nói, chúng ta sẽ không thể nghe được chuyện hay!”
“Chuyện gì kia?”
“Ba, Thục! Nghe nói nơi đó phong quang vô hạn, tươi đẹp khác thường, chúng ta đều muốn nghe!”
Tư Mã Thác cười hì hì: “Nói tới Ba, Thục, vi thần không còn là hâm cơm nguội nữa!”
Mọi người lại cười, sau đó vừa uống rượu, vừa nghe Tư Mã Thác kể về tình hình Ba, Thục, đặc biệt là những lợi hại, mâu thuẫn và xung đột giữa Ba, Thục, Thư, Sở!
Ba người nói chuyện đến tận khi trời sáng. Nghe tiếng gà gáy, Tần Công dường như đã mệt, ngáp một cái rồi chậm rãi nói: “Hai vị ái khanh, hiện giờ Ba, Thục đang nội tranh, cả hai cùng cầu cứu quả nhân, đúng là thời cơ trời ban. Chuyện chinh phạt Ba, Thục coi như đã quyết định. Còn về việc chinh phạt thế nào, hai vị ái khanh hãy cùng bàn tính, vạch ra một sách lược vẹn toàn, rồi bẩm báo lên quả nhân. Việc này cần tuyệt đối bí mật, không được để lộ bất cứ thông tin gì. Lát nữa lên triều, chúng ta chỉ được bàn chuyện Nghi Dương!”
Hai người cùng khấu đầu: “Vi thần tuân chỉ!”
Trong buổi thiết triều hôm đó, quả nhiên Huệ Văn Công chỉ bàn với chúng thần về chuyện phạt Hàn, lập tức quyết đoán ngay trong buổi triều, phong Công Tôn Diễn làm chủ tướng, Cam Mậu làm phó tướng, hưng binh mười vạn chinh phạt Nghi Dương. Do Nghi Dương là vùng núi non, nên Huệ Văn Công hạ lệnh cho ba quân lập tức diễn tập đánh trận trên địa hình đồi núi, đồng thời lệnh cho Công Tôn Diễn viết hịch phạt Hàn, truyền khắp liệt quốc.
Quyết đoán của Huệ Văn Công khiến Công Tôn Diễn không tài nào hiểu nổi. Phạt Nghi Dương nước Hàn, quan trọng ở đánh úp bất ngờ, tốt nhất là phải tấn công thình lình không báo trước. Huệ Văn Công lại yêu cầu truyền hịch khắp liệt quốc, cũng có nghĩa công khai tuyên bố không chinh phạt. Hơn nữa, dùng Cam Mậu làm phó tướng cũng là điều khiến Công Tôn Diễn hết sức băn khoăn. Mặc dù Cam Mậu nhờ việc buôn bán sắt mà rất thông thạo Nghi Dương, nhưng đó tuyệt đối chưa phải là lý do thuyết phục cho việc được phong làm phó tướng. Cam Mậu trước nay luôn cai quản lục phủ, không am hiểu ba quân, làm sao có thể làm phó tướng? Chinh phạt Nghi Dương, không thể không có Tư Mã Thác.
Tuy nhiên, mệnh của quân chủ không dám không theo. Công Tôn Diễn lặng lẽ về phủ, đóng cửa suy nghĩ suốt một ngày, nhưng vẫn không hiểu được ý đồ của Tần Công.
Sáng sớm hôm sau, Cam Mậu cầu kiến. Cam Mậu đã mấy năm trời chỉ quẩn quanh với kho tàng, quân nhu, đang lúc buồn bực chân tay, đột nhiên lại được phong làm phó tướng, có thể nói đắc ý mãn nguyện, mừng vui khôn xiết. Sau khi nhận lệnh, cả đêm trằn trọc không ngủ, vắt óc suy nghĩ để tìm ra kế sách phạt Hàn. Sáng sớm thức dậy, lập tức đến phủ Công Tôn Diễn bàn luận.
Công Tôn Diễn trong lòng hoài nghi, nhưng lại không dám nói bừa, đặc biệt là không thể nói bừa với Cam Mậu. Nếu Cam Mậu biết quân chủ không hề có ý phạt Hàn, ắt sẽ thất vọng chán nản, khiến lòng quân dao động, từ đó làm hỏng kế hoạch của quân chủ. Suy nghĩ một lúc, Công Tôn Diễn đã có chủ ý, điềm tĩnh đọc kỹ một lượt kế sách của Cam Mậu, chỉnh sửa vài chỗ, rồi cùng với bản hịch mình mới thảo đêm qua đem trình lên Huệ Văn Công. Huệ Văn Công đọc xong, quả nhiên không hỏi gì thêm, lập tức ra lệnh truyền hịch khắp liệt quốc, chuẩn bị quân nhu, cấp tốc luyện binh.
Công Tôn Diễn trong lòng đã tỏ như gương, sau khi về phủ, không chút đắn đo, lập tức giao phó cho Cam Mậu đi thực hiện.
Trương Nghi và Tư Mã Thác bí mật bàn kế phạt Thục.
Tư Mã Thác cho rằng, chướng ngại lớn nhất trước mắt không phải người Thục, mà là đường tới Thục. Tư Mã Thác lấy ra một tấm bản đồ sông núi do những thương nhân buôn bán ở Ba Thục vẽ ra, chỉ vào bản đồ mà nói: “Trương huynh hãy nhìn xem, chỗ này là dòng Tần Xuyên dài tám trăm dặm, chỗ này là sông Bao Hán, cũng chính là vùng sơn cốc Hán Trung. Từ Tần Xuyên đến sơn cốc Hán Trung là vùng núi Chung Nam rộng khoảng sáu trăm dặm. Đừng nói là đường tới Thục, chỉ riêng chuyện vượt qua núi Chung Nam cũng đã rất đỗi khó khăn. Núi Chung Nam đỉnh cao vực sâu, vách núi hiểm trở, tuy thương nhân và người đi rừng qua lại đã mở được mấy con đường mòn, nhưng nếu dùng để hành quân đánh trận, vận chuyển quân nhu, e rằng không thể được!”
Trương Nghi chỉ vào mấy con đường nhỏ ngoằn nghèo trên bản đồ, cười nói: “Tư Mã huynh, mấy con đường nhỏ này cũng thông đến Hán Trung đúng không?”
“Đúng thế!” Tư Mã Thác chỉ vào từng con đường, giải thích. “Từ tây sang đông, con đường sát phía tây nhất chính là đường Trần Thương, kế bên nó là đường Bao Tà, tiếp theo là đường Thảng Lạc, đường sát phía đông nhất là đường Tý Ngọ. Trong bốn con đường này, đường Trần Thương là đường dễ đi nhất, nhưng khoảng cách lại xa nhất, dài đến hơn nghìn dặm. Đường gần nhất là đường Bao Tà, khoảng hơn bảy trăm dặm, nhưng lại phải vượt qua đỉnh Thái Bạch, chủ mạch của núi Chung Nam, người có thể đi, nhưng ngựa thì rất khó. Còn hai con đường ở phía đông, đường dài lại nhiều chỗ hiểm trở, khúc khuỷu ngoằn ngoèo, ngoài người dân bản địa, phần lớn thương nhân đều không dám đi!”
“Nếu là vậy, chúng ta sẽ đi theo đường Trần Thương!”
“Hiện giờ, đường Trần Thương đang nằm trong tay người Thục!”
“Ồ, chẳng phải nghe nói vùng Hán Trung đã thuộc về Tần rồi ư?” Trương Nghi kinh ngạc.
“Than ôi, nói đến chuyện này, một lời khó hết!” Tư Mã Thác thở hắt ra, sau đó thuật lại quá trình tranh đoạt vùng Hán Trung mấy trăm năm nay giữa Tần, Thục, Ba.
Theo lời kể của Tư Mã Thác, do con đường từ Tần đến Hán Trung chưa thông suốt, thực lực lại không đủ, nên cho đến nay, vùng đất Hán Trung vẫn là của Ba, Thục. Lúc người Ba mạnh thì người Ba chiếm, lúc người Thục mạnh thì người Thục chiếm. Thời Hiến Công, sau khi người Tần bị bại dưới tay người Ngụy, Tần Công từng điều quân tinh nhuệ đi theo con đường Thái Thương chinh phạt Hán Trung, chiếm được mấy nơi trọng yếu, nhưng không lâu sau lại bị người Thục đoạt mất. Người Thục rút ra bài học, nên đặt liền mấy cửa ải trấn thủ dọc đường Trần Thương, từ đó việc tiến binh theo đường này đã khó khăn hơn rất nhiều. Hơn nữa, cho dù có đoạt được Hán Trung, nhưng phía nam lại càng là hiểm trở trùng trùng. Phía nam Hán Trung là núi non Ba Thục trập trùng bất tuyệt, nước chảy không thông, đỉnh núi dựng đứng, gần như không có đường thông. Người Ba, Thục mỗi lần đi sứ sang Tần, cả đi lẫn về cũng phải mất đến vài tháng. Ngoài ra, còn rất nhiều cửa ải trấn thủ nghiêm ngặt, xem ra xuất binh là điều không thể.
Hai người bàn bạc liền mấy canh giờ, nhưng vẫn chưa tìm được phương án chinh phạt. Tư Mã Thác có phần thất vọng, nhưng Trương Nghi vẫn không cam chịu, bảo Tư Mã Thác tìm mấy thương nhân am hiểu tình hình Ba, Thục đến, đóng cửa phủ không tiếp khách, ngày ngày nghe họ kể về những điều tai nghe mắt thấy ở Ba Thục. Mấy hôm sau, Trương Nghi đã hiểu thêm khá nhiều về núi sông, sản vật của Ba Thục. Người Ba chiếm cứ vùng núi Xuyên Đông, chuyên khai thác muối sắt, dũng cảm thiện chiến, sức mạnh hơn người, giỏi vác nặng, giỏi đi đường núi, không có chữ viết, mê tín với vu thuật, hài lòng với số mệnh. Kẻ địch lớn nhất của người Ba là người Sở, gần trăm năm nay, người Sở vì muốn chiếm được ưu thế nguồn nước, đã men theo sông Giang Thuỷ đánh tới, người Ba không đủ sức chống trả, nên đành phải từ bỏ hạ lưu Giang Thuỷ, tử thủ tại Bồi Lăng, dựa vào địa thế để đối kháng với người Sở. Còn người Thục cư trú ở vùng châu thổ Xuyên Tây, chuyên trồng lúa gạo, giỏi tưới tiêu, sống bằng nghề trồng trọt, đối thủ lớn nhất chính là người Ba. Mặc dù người Thục không có hứng thú với núi non của người Ba, nhưng lại thèm nhỏ dãi đất Xuyên và Hán Trung ở phía bắc đất Ba, rất muốn biến nó thành vùng lúa gạo trù phú giống như phúc địa Xuyên Tây để đáp ứng cho lượng nhân khẩu đang ngày càng gia tăng. Để đạt được mục đích, người Thục đã nhiều lần khai chiến với người Ba, dần dần chiếm được thượng nguồn Tiềm Thuỷ, không những bành trướng thế lực sang vùng Hán Trung, mà còn đánh bại cả người Tần, chiếm được ưu thế tuyệt đối ở Hán Trung. Người Ba phía đông bị Sở kìm hãm, phía tây bị Thục chèn ép, trước sự bức bách của hai kẻ mạnh, đã lâm vào thế tiến thoái lưỡng nan, nên đành phải rút lui, tử thủ mấy suối muối lớn, liều mạng bảo vệ chỗ dựa sinh tồn cuối cùng.
Nếu xuất binh chinh phạt, người Ba không hề đáng sợ, nên chỉ còn một đối thủ duy nhất, chính là người Thục. Ánh mắt Trương Nghi dán chặt vào đất Thục trên bản đồ, dùng bút khoanh một vòng tròn lớn.
Người Ba thích ở núi không thích ở đồng bằng, lại càng không giỏi trồng trọt, nhờ có nguồn muối ăn trong tay, người Thục không dám không cấp lương, vì vậy không hề hứng thú với nông nghiệp của người Thục, từ trước đến nay chưa bao giờ coi người Thục là kẻ địch. Đất Thục bốn bề khoá kín, lại thêm dân đông thế mạnh, nên cũng không sợ người Ba, vì vậy họ hầu như không xây thành phòng thủ. Đất Thục hiện theo chế độ nô lệ của Tần, người Thục chỉ phân thành hai loại, một loại sinh ra đã là quý tộc, một loại sinh ra đã là nô lệ. Giới quý tộc lại phải phục tùng Thục Vương. Thục Vương nhận lệnh của trời, từ thời Hạ Khải đến nay, tổng cộng đã trải qua năm triều đại là Bách Quán, Tàm Tùng, Ngư Phù, Đỗ Vũ, Biết Linh, kéo dài gần hai nghìn năm. Hai triều cuối cùng của nước Thục là Đỗ Vũ và Biết Linh. Đỗ Vũ còn gọi là Vọng Đế, Biết Linh là hiền thần của Vọng Đế, vì có công trị thuỷ nên Vọng Đế đã nhường đất nước cho để về quy ẩn nơi rừng núi. Biết Linh tự xưng là Tùng Đế, đổi quốc hiệu là Khai Minh, đến đời thứ mười thì chuyển từ đế thành vương, xưng là Khai Minh Thượng Vương. Con của Thượng Vương kế vị, xưng là Hậu Vương, con của Hậu Vương chính là Thục Vương ngày nay, tên là Lô Tử, tức cháu mười hai đời của Biết Linh Đế. Hậu Vương sớm băng hà, năm Lô Tử kế vị, tuổi còn quá nhỏ, nên mẫu hậu chấp chính. Mẫu hậu lại sủng ái con thứ, bắt Lô Tử phong em trai của mình là Vi Tử làm Thư Hầu, cai quản đất Thư. Thư Hầu chiếm cứ vùng thượng nguồn Tiềm Thuỷ và thềm sông Hán Trung, thế lực ngày càng bành trướng, nên ngấm ngầm dòm ngó, có ý tranh giành đất tổ. Lô Tử cũng chẳng phải hạng tầm thường, liền dẫn quân phạt Thư trước. Vi Tử không chống đỡ nổi, đành phải cầu cứu người Ba. Người Ba đang khổ sở vì mối hoạ từ người Sở, cũng muốn mở rộng bờ cõi về phía tây, nên đã hợp binh cùng Thư Hầu chống lại Thục. Giao chiến mấy năm, người Thục dần chiếm được lợi thế, người Thư phải lui quân, nhưng vẫn dựa vào địa thế và người Ba để bám trụ, liều chết chống trả. Thư Hầu thấy tình thế nguy cấp nên đã đề nghị giảng hoà. Người Thục thấy hiện tại không thể thôn tính ngay được, nên cũng đồng ý, dẫn binh trở về.
Trương Nghi biết được những điều này, đầu óc cũng dần dần sáng tỏ. Thư, Thục, Ba, Sở tranh chấp, đây chính là thời cơ tốt trời ban. Hiện giờ, cửa ải khó khăn duy nhất chính là đường đi tới Thục. Muốn chinh phạt Ba Thục, bắt buộc phải mở đường đến Thục, thế nhưng phải mở đường thế nào? Tự mở đường thì không thể, một là hao tốn sức người sức của, hai là Ba Thục sẽ không chịu ngồi yên mà nhìn. Khả năng duy nhất là tính kế thuyết phục người Thục và người Thư, để họ tự mở ra một con đường.
Thoạt nghe, đây là việc không thể, nhưng Trương Nghi đã quyết định lựa chọn cách này. Trương Nghi vắt óc suy nghĩ khổ sở suốt mấy ngày trời, tự đưa ra rất nhiều kế sách, nhưng rồi lại lần lượt sổ toẹt tất cả. Đang lúc đau đầu thì Tiểu Thuận, Tiểu Thuý dắt theo hai đứa trẻ từ Trương Ấp đến nơi. Chủ tớ gặp nhau, đương nhiên mừng vui khôn xiết. Trương Nghi hỏi qua về việc nhà ở Trương Ấp, thấy Tiểu Thuận đã sắp xếp ổn thoả đâu vào đấy, nên rất vui lòng, lập tức triệu tập tất cả gia nô lại, tuyên bố rằng Tiểu Thuận sẽ làm quản gia trong phủ. Tiểu Thuận nhận lệnh xong, lập tức bận rộn với công việc mới.
Hương Nữ thành thân với Trương Nghi đã mấy năm, không hiểu tại sao mà đến nay vẫn chưa mang thai. Hương Nữ lại rất yêu trẻ nhỏ. Khi còn ở Trương Ấp, hai đứa trẻ kia đã rất thân thiết với nàng, đặc biệt là đứa lớn, vừa mới đến đã quấn quýt lấy Hương Nữ, đòi nàng kể chuyện cho nghe.
Hương Nữ thấy Trương Nghi đang tiến lại, thì chỉ vào Trương Nghi, cười mà nói: “Các cháu muốn nghe kể chuyện, hãy tìm lão gia. Chuyện trong bụng lão gia, có kể liền ba năm cũng không hết!”
Hai đứa trẻ đứng nhìn Trương Nghi, nhưng không dám lại gần, vẫn bám lấy Hương Nữ.
Hương Nữ chẳng biết làm thế nào, đành phải học theo bộ dạng của mấy ông già thuyết thư, cất giọng lên bổng xuống trầm mà kể: “Ngày xửa ngày xưa, ở một nơi rất xa, có hai vợ chồng cụ ông và cụ bà, sống nhờ vào mấy mẫu ruộng nước. Hai người tuổi đã cao mà chẳng có con cái. Một sớm nọ, chợt nghe thấy tiếng trẻ con khóc, họ chạy ra cửa nhìn, thì thấy một đứa trẻ mới lọt lòng nằm ngay trước cổng. Hai cụ già mừng rỡ, cảm tạ trời đất một hồi, rồi bế đứa trẻ về nuôi nấng. Đứa trẻ dần dần lớn lên, trở thành một thiếu niên anh tuấn. Một hôm, chàng thiếu niên ra ngoài đi săn, nhìn thấy một cô gái vô cùng xinh đẹp. Chàng vừa gặp đã đem lòng yêu, sau khi trở về, chẳng thiết ăn uống. Ông cụ ba lần bảy lượt gặng hỏi mới biết sự tình. Ông cụ dò hỏi khắp nơi, biết được cô gái kia là con gái một nhà giàu có. Thấy con trai khổ sở vì tương tư, ông cụ đành phải miễn cưỡng đến nhà cô gái cầu hôn. Cha của cô gái là người tham lam, biết cụ già nghèo khổ, liền nhặt một cục đá lên, rồi khinh khỉnh nói: ‘Cóc ghẻ mà muốn ăn thịt thiên nga! Được thôi, muốn cưới con gái ta cũng được, nhưng phải mang một cục vàng to bằng này đến đây làm sính lễ.’ Nói xong, liền ném cục đá về phía ông cụ. Ông cụ nhà nghèo, lấy đâu ra cục vàng to đến vậy, càng nghĩ càng đau lòng, liền nhặt lấy cục đá, vừa đi vừa khóc mà trở về nhà.”
“Sau đó thì sao?” Hai đứa trẻ sốt sắng hỏi.
Trương Nghi cũng thấy tò mò, bèn dừng lại bên cạnh lắng nghe.
“Sau đó…” Hương Nữ kể tiếp, “bệnh tương tư của chàng thiếu niên càng ngày càng trầm trọng, sắp chết đến nơi. Bỗng nhiên, con trâu già của nhà ông cụ rống lên một tiếng, rồi ị ra một cục vàng, vừa hay to đúng bằng cục đá mang về. Ông cụ thấy vậy, biết là trời đã giúp nhà mình, lập tức mang cục vàng và cục đá đến nhà cô gái, cưới được nàng về nhà. Bệnh của chàng thiếu niên cũng tự nhiên mà khỏi!”
Trương Nghi trong lòng chấn động, vội bước lại hỏi: “Phu nhân! Nàng nghe được câu chuyện này từ đâu vậy?”
Hương Nữ cười nói: “Khi còn nhỏ, chú Kinh đã kể cho Hương Nữ nghe. Nghe nói là truyền thuyết nước Việt.”
Trương Nghi lập tức quay người đi thẳng về thư phòng, ngồi xuống tĩnh tâm, suy nghĩ lại một lượt câu chuyện mà Hương Nữ vừa kể và tất cả những điều được biết về Ba Thục trong mấy ngày qua, đột nhiên vỗ mạnh vào trán, kêu lên: “Có rồi!”
Trương Nghi lập tức triệu Tiểu Thuận đến, căn dặn một hồi. Đến khi trời tối, Tiểu Thuận dẫn theo một người thợ đá già, vội vã đi vào, hạ giọng bẩm báo: “Chúa công, tiểu nhân đã dò hỏi khắp lượt rồi, người này là thợ đá giỏi nhất trong thành Hàm Dương. Tiểu nhân đã nhìn thấy những con thú đá mà ông ta chạm khắc, trông chẳng khác nào thú thật!”
Trương Nghi khẽ gật đầu, quan sát lão thợ đá một lượt từ đầu đến chân, rồi hỏi: “Có biết đẽo trâu không?”
Lão thợ đá cười nói: “Ngay cả kỳ lân tiểu nhân còn đẽo được, huống gì là trâu?”
“Con trâu mà bản phủ cần, phải biết vãi phân, ngươi đẽo được không?”
“Con trâu biết vãi phân?” Lão thợ đá hơi sững lại. “Là vãi phân thật hay giả?”
“Đá thì làm sao mà vãi phân thật được!” Trương Nghi bật cười.
“Nếu như là vãi phân giả thì không khó. Tiểu nhân chỉ cần làm một cái hộp có lẫy ở đít trâu, nhét sẵn phân vào bên trong, sau đó cứ vỗ mông một cái là phân sẽ phọt ra.”
“Tốt lắm!” Trương Nghi vỗ tay nói. “Bản phủ đang cần chính là thứ này! Nói đi, đẽo một con như thế bao nhiêu tiền?”
“Ba lượng vàng là đủ!”
Trương Nghi bảo Tiểu Thuận lấy ra ba lượng vàng ra đưa cho lão thợ đá: “Vàng đây! Nếu như đẽo tốt, bản phủ sẽ thưởng thêm ba lượng nữa!”
Lão thợ đá đa tạ, chìa tay ra nhận lấy vàng, nhân tiện hỏi: “Quan nhân muốn dùng loại đá gì?”
Trương Nghi hỏi: “Có những loại đá gì?”
Lão thợ đá bấm ngón tay liệt kê: “Có đá xanh, đá nâu, đá đen, đá ngũ sắc, đá lục, đá đỏ, đá trắng…”
“Khoan đã!” Trương Nghi cắt ngang. “Đá ngũ sắc là gì?”
“Có đỏ có trắng có đen có xanh có tím, giống như ráng mây lúc mặt trời mới mọc, còn gọi là đá ráng!”
“Đá này nguồn gốc ở đâu?”
“Vùng núi Chung Nam!”
“Nơi khác có không?”
Lão thợ đá lắc đầu.
“Tốt! Tốt lắm!” Trương Nghi hoan hỷ, vỗ tay mà nói. “Hãy dùng loại đá này! Ông hãy lập tức trở về đẽo trâu, càng nhanh càng tốt! Nhớ kỹ, không được nói với bất cứ ai, nếu để lộ, bản phủ sẽ nghiêm trị ông theo Tần pháp!”
Lão thợ đá vâng lệnh, sau khi trở về, lập tức từ biệt người nhà, kéo theo mấy đệ tử lên núi, đục đẽo suốt ngày đêm, chưa tới mười ngày, quả nhiên đã đẽo được một con trâu ngũ sắc giống y như thật. Trương Nghi đích thân tới kiểm tra, khẽ vỗ vào mông trâu, chỉ nghe “phẹt” một tiếng, một đống phân trâu đã vãi ra từ đít con trâu đá.
Trương Nghi khoái chí cười ha hả, bảo Tiểu Thuận thưởng thêm cho họ ba lượng vàng, rồi dặn lão thợ đá tiếp tục đẽo năm con y hệt như vậy.
Sau khi đi xem trâu đá xong, Trương Nghi đi thẳng tới phủ quốc uý, cười nói với Tư Mã Thác: “Tin vui lớn đây! Có đường sang Thục rồi!”
Tư Mã Thác kinh ngạc hỏi: “Đường sang Thục ở đâu?”
“Sẽ phái người mở ngay lập tức!”
Tư Mã Thác tiu nghỉu, cười nhăn nhó, lắc đầu quầy quậy mà nói: “Trương Tử đừng nói đùa nữa! Về việc mở đường, tại hạ đã suy nghĩ rất nhiều, chắc chắn không thể làm được đâu!”
“Chúng ta không làm được, nhưng người khác lại làm được!”
“Ai kia?”
“Người Thục!”
Tư Mã Thác thoạt tiên ngẩn người, sau đó thì phì cười: “Người Thục phá núi mở đường cho Trương huynh theo đường đó đến đánh họ, há chẳng phải bảo hổ lột da ư? Không phải Trương huynh suy nghĩ chuyện mở đường nhiều quá mà thành lú lẫn rồi đấy chứ?”
Trương Nghi phì cười một tiếng: “Nếu như Tư Mã huynh không tin, tại hạ sẽ đánh cược một trăm lượng vàng, thế nào?”
Tư Mã Thác cười ha hả mà nói: “Nếu như vậy, tại hạ xin đặt cược một nghìn lượng vàng!”
“Một trăm lượng là đủ!” Trương Nghi cười nói. “Nhiều quá huynh sẽ không đào đâu ra. Tuy nhiên, việc này muốn thành công, còn phải nhờ Tư Mã huynh trợ giúp!”
“Muốn tại hạ trợ giúp thế nào?”
“Từng nghe Tư Mã huynh nói có qua lại thân thiết với thái tử Thông Quốc của Thư Hầu, có thể tìm cách mời người này đến Hàm Dương một chuyến chăng?”
“Không cần nghĩ cách, người này đã đến rồi!”
“Ồ?” Trương Nghi tròn mắt. “Đến khi nào?”
“Hôm qua!” Tư Mã Thác nói. “Thư Hầu phái thái tử Thông Quốc đến vấn an chúa thượng, mang theo rất nhiều cống phẩm!”
“Đúng là trời đã giúp ta!” Trương Nghi cả mừng. “Hiện thái tử đang ở đâu?”
“Đang ở dịch quán. Tại hạ định để hắn nghỉ ngơi mấy hôm, sau đó sẽ dẫn tới yết kiến chúa thượng. Thế nào, Trương Tử tìm hắn có việc gì?”
Trương Nghi vô cùng hoan hỷ, cười lớn mà nói: “Tư Mã huynh, trăm lượng vàng này của huynh, tại hạ thắng chắc rồi!” Tiến lại gần một bước, ghé sát tai Tư Mã Thác, thì thầm mấy câu, dặn Tư Mã Thác làm thế này thế nọ.
Tư Mã Thác nghe xong, đầu óc lùng bùng, tuy bán tín bán nghi, nhưng vẫn gật đầu đồng ý.
Trở ra từ phủ Tư Mã Thác, Trương Nghi lập tức vào cung, bẩm báo tỉ mỉ chuyện trâu đá cho Huệ Văn Công nghe.
Huệ Văn Công nghe xong, phá lên cười lớn mà nói: “Nếu ái khanh thành công, thì đây đúng là giai thoại lạ thiên cổ!” Rồi quay sang dặn nội thần phái người chuyên phụng mệnh Trương Nghi, toàn lực đối phó với thái tử nước Thư.
Trương Nghi gọi nhạc phường lệnh và khố phòng lệnh đến, căn dặn họ những việc cần làm. Hai người nhận lệnh xong, lập tức quay về chuẩn bị.
Ba ngày sau, Tư Mã Thác dẫn Thông Quốc lên triều yết kiến. Thông Quốc dâng cống phẩm, Huệ Văn Công tặng lại nghìn dật vàng, hai mỹ nữ, lệnh cho hữu thứ trưởng Trương Nghi toàn quyền phụ trách các việc của thái tử ở Tần.
Trương Nghi dẫn Thông Quốc đến nhạc phường. Nhạc phường chia thành nội phường và ngoại phường. Ca nữ, nhạc công của nội phường để trong cung dùng, do nội thần quản lý, còn tất cả người ở ngoại phường dùng để tặng cho liệt quốc, do Hắc Điêu đài phụ trách huấn luyện, công tử Hoa quản lý.
Thông Quốc theo Trương Nghi đến ngoại phường. Ngoại phường nằm tiếp giáp với cung thành, bốn bề kín mít. Tại đây có tới hàng trăm trinh nữ được tuyển chọn từ khắp mọi nơi, toàn là những thiếu nữ xinh đẹp, độ tuổi từ mười hai đến mười sáu, bao gồm cả Thu Quả cô nương, tất cả đều ở đây học nghệ, người học múa, người học đàn nhạc, người học đánh cờ, người học vẽ tranh, người học cưỡi ngựa bắn cung, người học ca hát, có động có tĩnh, không thiếu món gì. Ăn mặc cũng đủ màu đủ kiểu, xanh đỏ tím vàng, nhìn mà hoa mắt.
Đám Trương Nghi vừa đến, nhạc phường lệnh đã vội vàng ra nghênh đón. Trương Nghi bảo thái tử Thông Quốc tự mình lựa chọn. Đất Thục không thiếu mỹ nữ, nhưng mỹ nữ đất Thục lại chưa được giáo hoá, không giống như mỹ nữ ở đây, người nào người nấy đọc sách hiểu lễ, đa tài đa nghệ. Thái tử nhìn mà hoa cả mắt, nhưng Tần Công lại chỉ cho phép chọn hai người, nên đành phải đi quanh một vòng, chọn ra hai nàng bắt mắt nhất. Nhạc phường lệnh bèn sai người dẫn họ đi tắm rửa thay y phục.
Trương Nghi thấy ánh mắt của Thông Quốc vẫn nhìn hau háu vào những thiếu nữ khác, liền cười mà nói: “Thái tử, xin mời sang kho vàng!”
Nghe thấy kho vàng, Thông Quốc đành phải quay người, đi cùng Trương Nghi đến đó.
Kho vàng nằm ở bên ngoài cung thành, chỉ là mấy dãy nhà gạch đơn sơ, chẳng hề thấy cảnh canh phòng nghiêm ngặt, trông còn hơi cũ nát xập xệ. Chỉ thấy hai gã trung niên ngồi trong một căn phòng nhỏ, có vẻ như là người giữ chìa khoá.
Thông Quốc thấy vậy, kinh ngạc hỏi: “Kho vàng của các vị, sao lại sơ sài đến vậy, lại chẳng thấy có lính canh giữ?”
Trương Nghi chỉ mỉm cười, không trả lời, bảo hai người kia mở cửa. Một người lững thững bước lại, mở cánh cửa ra, Trương Nghi liền dẫn Thông Quốc đi thẳng vào trong.
Vừa bước vào kho vàng, Thông Quốc đã đứng chết sững, hai mắt trợn trừng. Cả một gian phòng rộng lớn ngồn ngộn sáng choé những vàng. Bên cạnh còn có một đống vàng nữa, hình thù vô cùng quái dị, giống như những đống phân trâu vừa mới vãi ra.
Thông Quốc kinh ngạc thốt lên: “Trời ơi, sao mà nhiều vàng đến vậy?”
Trương Nghi cười nói: “Thái tử nói đùa rồi! Chỗ này có đáng là bao, những nhà kho thế này, ở nước Tần chúng tôi có tới vài chục gian!”
Thông Quốc ngẩn ra: “Lẽ nào các vị không quý vàng ư?”
Trương Nghi lại cười: “Cái gì là đáng quý? Lương thực mới đáng quý! Ở chỗ chúng tôi, không ai thích vàng cả, vì vàng cũng chỉ là phân mà thôi. Sỡ dĩ chúa thượng thu thập nhiều phân thế này, là vì người khác thích chúng, chúng tôi có thể đổi chúng lấy lương thực!”
“Ồ?” Thông Quốc kinh ngạc. “Ở nước Thục chúng tôi, lương thực lại chẳng khác gì phân, vàng mới là quý!” Chợt liếc thấy một đống vàng trông giống như bãi phân trâu ở bên cạnh, liên tưởng đến chữ “phân” mà Trương Nghi vừa nói, cảm thấy băn khoăn, liền hỏi. “Xin hỏi hữu thứ trưởng, tại sao vàng của các vị lại có hình thù kỳ dị như vậy?”
Trương Nghi đáp: “Nếu thái tử có hứng thú, tại hạ sẽ dẫn thái tử đi xem một món bảo bối. Nhìn thấy nó, thái tử sẽ hiểu ngay thôi!” Rồi chỉ tay vào đống vàng trong kho. “Một nghìn dật vàng mà chúa thượng ban thưởng, thái tử có cần lĩnh ngay không?”
Thông Quốc vội nói: “Không vội không vội, hãy đi xem bảo bối trước đã!”
Thái tử Thông Quốc gọi thêm trợ thủ, Trương Nghi cũng gọi thêm Tư Mã Thác, mọi người chia nhau lên hai cỗ xe tứ mã, ra khỏi thành Hàm Dương, tiến thẳng đến vùng núi Chung Nam. Đi đến một nơi vắng vẻ nhỏ hẹp, mọi người bỏ xe đi bộ lên núi. Đi một hồi lâu, mới đến một lũng núi. Lũng núi cây cối um tùm, có một con trâu ngũ sắc đang đứng trong bụi cỏ rậm, bên cạnh con trâu có một đứa trẻ đang ngồi chồm hỗm, hiển nhiên là mục đồng.
Thái tử hiếu kỳ, tiến lại gần xem, mới phát hiện ra đó là một con trâu đá năm màu rực rỡ, hệt như ráng chiều. Nếu không nhìn kỹ, cứ ngỡ là một con trâu sống đang gặm cỏ.
Trương Nghi cười nói: “Đây chính là bảo bối, là vật mà chúa thượng chúng tôi cầu trời cao ban cho!”
“Quả là trâu thần!” Thái tử chưa bao giờ nhìn thấy thứ đá nào rực rỡ đẹp đẽ đến vậy, tấm tắc khen ngợi, rồi đưa tay sờ mó khắp trên dưới trái phải, ngẩng đầu hỏi. “Trâu này có liên quan đến vàng ư?”
“Đúng thế!” Trương Nghi gật đầu, chỉ tay vào mông trâu. “Con trâu này ban đêm hấp thụ linh khí của trời đất, ban ngày sẽ đại tiện ra vàng. Đống vàng mà thái tử nhìn thấy trong kho, chính là do chúng vãi ra đấy!”
Thái tử không tin, lại hỏi Trương Nghi: “Có thể đại tiện ra vàng được ư?”
Trương Nghi ngoảnh đầu hỏi mục đồng ngồi bên cạnh: “Hôm nay đã vãi ra vàng chưa?”
Mục đồng đáp: “Khởi bẩm đại nhân, vẫn chưa ạ!”
“Khi nào mới đại tiện?” Trương Nghi hỏi.
Mục đồng ngẩng đầu nhìn trời, rồi gật gù nói: “Chắc nó cũng sắp ị rồi đấy ạ!”
Trương Nghi cười nói với Thông Quốc: “Thái tử thật có phúc, vừa hay đến đúng lúc con trâu vãi ra vàng!” Rồi quay sang mục đồng. “Bảo nó ị nhanh lên!”
Mục đồng vâng lời, đi tới bên đầu trâu, ghé sát bên tai lầm rầm mấy câu với trâu thần, giống như đang vỗ về, cũng giống như đang niệm thần chú, sau đó vòng ra sau đít trâu, vỗ khẽ vào mông trâu. Vỗ liền mấy cái, càng vỗ càng mạnh. Tiếng vỗ cuối cùng vừa vang lên, bỗng nghe “phẹt” một tiếng, một khối vàng rơi thẳng từ đít trâu xuống cỏ.
Thái tử và đám người Thục đi theo há hốc miệng kinh ngạc, vội nhặt khối vàng lên nhìn kỹ, thấy nó ướt sũng, tay sờ vào thấy vẫn còn hơi ấm.
Người Thục đều lấy làm quái lạ. Thái tử cũng bắt chước mục đồng, bước lại gần con trâu, ghé tai lầm rầm một hồi, sau đó đi về phía mông trâu, vỗ nhẹ mấy cái, nhưng không thấy vãi ra vàng nữa.
Thái tử ngạc nhiên: “Tại sao nó không ị nữa?”
Mục đồng cười nói: “Đại nhân không biết đấy thôi, trâu thần một ngày chỉ ị một lần, nếu như trời mưa thì phải hai ba ngày mới ị một lần. Hôm nay đã ị rồi, nên sẽ không thể ị thêm được nữa!”
Thái tử tỏ ra thất vọng.
Trương Nghi cười nói: “Nếu thái tử muốn đích thân kiểm tra, giờ này ngày mai ta lại đến!”
Thông Quốc gật đầu đồng ý.
Hôm sau là một ngày đẹp trời, cũng cùng giờ hôm trước, Trương Nghi lại đưa thái tử tới lũng núi. Thông Quốc đích thân vỗ vào mông trâu, quả nhiên, trâu thần lại vãi ra một đống vàng. Thái tử cho thuộc hạ kiểm tra, đúng là vàng thật.
Thái tử đã phục, quay sang than thở với Trương Nghi: “Than ôi, ở vùng Ba Thục chúng tôi, để luyện vàng phải bỏ ra không biết bao nhiêu công sức, cực nhọc vô cùng, vì vậy mà vàng rất quý. Quý quốc có con trâu thần này, chẳng mất công sức gì mà một ngày có thể vãi ra cả đống vàng, đúng là bảo bối! Dám hỏi hữu thứ trưởng, quý quốc chỉ có một con trâu như thế này ư?”
Trương Nghi chỉ cười không nói.
Thái tử quay sang Tư Mã Thác. Tư Mã Thác không biết làm thế nào, đành phải bước lại gần ghé sát tai thái tử nói nhỏ: “Đây là bí mật, thái tử không nên hỏi nhiều!”
Nhớ tới trong kho chồng chất những vàng, thái tử chắc mẩm rằng người Tần không chỉ có một con trâu thần. Trong lòng đã có tính toán, nên thái tử cũng không hỏi thêm nữa, sau khi trở về dịch quán, lập tức chuẩn bị lễ vật hậu hĩnh, tới phủ Tư Mã Thác ngay trong đêm. Tư Mã Thác bèn tiết lộ với hắn rằng, nước Tần tổng cộng có một trăm con trâu thần, tất cả đều được nuôi trong núi Chung Nam, do hữu thứ trưởng quản lý. Thái tử bèn khẩn thiết cầu xin trâu đá, Tư Mã Thác không tiện từ chối, bèn bảo hắn hãy đến gặp hữu thứ trưởng.
Thái tử lại chuẩn bị hậu lễ, mời Tư Mã Thác cùng đi, đến cầu xin Trương Nghi.
Trương Nghi lắc đầu quầy quậy, dang rộng hai tay mà nói: “Thái tử điện hạ, không phải tại hạ không giúp, mà đây là việc lớn, tại hạ không thể giúp được!” Dừng lại một lát, mới hạ thấp giọng thì thào. “Không giấu điện hạ, trâu thần là do chúa thượng cầu thần ban cho, chuyên dùng để đổi lương thực cho nước Tần, chúa thượng nghiêm cấm không được tiết lộ ra ngoài. Vì điện hạ là bằng hữu của Tư Mã huynh, tại hạ và Tư Mã huynh tình như huynh đệ, nên mới dẫn điện hạ đi xem để mở rộng tầm mắt. Thái tử có thể tận mắt chứng kiến, đã là may mắn lắm rồi, xin thái tử hãy quay về, chớ nên tiết lộ chuyện này! Không may để kẻ trộm biết được, họ sẽ đến tranh cướp trâu thần, nước Tần sẽ mất đi nguồn lương thực, khiến người Tần bị đói!”
Thông Quốc thở dài sườn sượt, ánh mắt đầy thất vọng.
Tư Mã Thác thấy vậy, liền vòng tay xin giúp: “Thứ trưởng đại nhân, lần này thái tử đến đây, có thành ý hoà hữu, quả là đáng quý. Nay đã mở miệng, cũng không thể không có gì thu về, mong thứ trưởng đại nhân thành toàn cho. Hơn nữa, thái tử chỉ xin có một con trâu, chúng ta có nhiều trâu như vậy, tại hạ cho rằng cho dù có bớt đi một hai con, cũng chẳng có gì tổn hại!”
“Đúng thế đúng thế!” Thông Quốc vội nói. “Tại hạ chỉ xin một con thôi!”
Trương Nghi cúi đầu, trầm ngâm suy nghĩ, rất lâu sau mới ngẩng lên nói: “Chỉ một con trâu sẽ không thể cho vàng. Trâu thần lại phân thành đực cái, chỉ có trâu cái mới vãi ra vàng, nhưng nếu không có trâu đực, có trâu cái cũng vô ích. Nếu tặng trâu, ít nhất phải tặng hai con, một cái một đực mới được!”
“Tốt quá! Tốt quá!” Thái tử mừng rơn, vòng tay vội nói. “Có được cả hai con thì còn gì bằng!”
Trương Nghi cười méo mó, cất giọng bất đắc dĩ: “Một con đã khó, nếu thái tử muốn xin hai con, tại hạ lại càng không thể quyết định. Tuy nhiên, như lời Tư Mã huynh vừa nói, thái tử đã mở miệng, cũng không thể không có gì thu về. Tại hạ có một ý này, ngày mai lên triều, thái tử hãy yết kiến chúa thượng, đích thân khẩn cầu chúa thượng. Chỉ cần chúa thượng đồng ý, đừng nói là hai con trâu, cho dù là tám con mười con, cũng không thành vấn đề!”
Thông Quốc rất đỗi hoan hỷ.
Sáng sớm hôm sau, Trương Nghi, Tư Mã Thác dẫn Thông Quốc lên triều, khẩn cầu trâu đá. Trương Nghi, Tư Mã Thác cũng đều xúm vào nói giúp cho Thông Quốc. Huệ Văn Công giả bộ trầm ngâm, đắn đo hồi lâu, mới ướm hỏi: “Thái tử muốn mấy con?”
Vì đã được Trương Nghi tiết lộ từ trước, nên Thông Quốc nói luôn: “Xin thưởng cho mười con, một con trâu đực, chín con trâu cái!”
Thấy hắn tham lam đến vậy, mọi người đều cố nhịn cười.
Huệ Văn Công chau tít đôi mày, quyết đoán: “Mười con không được! Nhiều nhất là năm con, một con trâu đực, bốn con trâu cái!”
Thông Quốc vòng tay tạ ơn.
Huệ Văn Công lại cúi đầu suy nghĩ, rồi gãi đầu nói: “Khoan!”
Thông Quốc cho rằng Huệ Văn Công hối hận, vội nói: “Chúa thượng!”
Huệ Văn Công nhìn Thông Quốc với ánh mắt nghi ngại: “Cho dù quả nhân có bằng lòng tặng trâu, nhưng những trâu thần đều nặng cả nghìn cân, còn chỗ các vị lại toàn là núi sông hiểm trở, làm sao có thể mang về được?”
Dường như tất cả mọi người đều chưa từng nghĩ tới điều này, thảy đều quay sang nhìn Thông Quốc. Thông Quốc gãi đầu gãi tai, vẻ lo lắng cuống quýt. Đúng lúc đó, Trương Nghi bèn ôm quyền nói: “Chúa thượng, vi thần có một kế. Hãy đến núi Chung Nam phá núi mở đường, những nơi hiểm yếu thì bắc cầu đi qua, chuyển trâu thần đến Nam Trịnh, sau đó giao lại trâu thần cho thái tử ở Nam Trịnh là được!”
“Cũng là cách hay!” Huệ Văn Công khẽ gật đầu. “Thế nhưng núi Chung Nam thuộc địa phận nước Tần, chúng ta có thể làm đường. Còn từ Nam Trịnh trở đi là đất của người Thục, chúng ta không thể làm đường được!”
Mọi người lại quay sang nhìn thái tử. Tư Mã Thác ngấm ngầm đưa mắt ra hiệu cho Thông Quốc.
Thông Quốc hiểu ý, dường như cũng đã suy tính sẵn sàng, vội vòng tay nói: “Chúa thượng yên tâm! Thông Quốc trở về sẽ bẩm báo chuyện này với phụ hầu, sau đó men theo sông Tiềm Thuỷ mở đường, bắc cầu để đón trâu thần.”
Huệ Văn Công gật gù, nhưng vẫn lộ vẻ do dự: “Ồ, nếu làm như vậy cũng là khả dĩ. Có điều… theo quả nhân được biết, núi Ba núi Thục nơi nơi hiểm trở, dằng dặc trăm dặm không một bóng người, nếu như muốn khai thông đường này, không biết sẽ phải đến năm tháng nào mới xong?”
Thông Quốc cười nói: “Chúa thượng yên tâm, người Thục chúng tôi quen đi đường núi, lại có sức khoẻ, nếu như tập hợp tráng đinh, chia đoạn mà làm, có lẽ chưa đầy ba năm, đường sẽ khai thông!”
“Chưa đầy ba năm?” Huệ Văn Công kinh ngạc sững sờ, rồi cười vang, quay sang Trương Nghi, Tư Mã Thác nói. “Hai khanh đều nghe thấy rồi đấy, thái tử nói chưa đầy ba năm sẽ mở được đường sang Thục. Xem ra người Thục cũng thật biết nói đùa!”
Thông Quốc đỏ mặt, chỉ tay lên trời thề: “Trời xanh chứng giám, nếu trong vòng ba năm không thông được đường đến Thục, Thông Quốc thề không làm người!”
Huệ Văn Công nói lớn: “Tốt lắm! Thái tử trở về phải mất đến vài tháng, năm nay coi như không tính!” Rồi quay sang nội thần. “Ghi rõ, bắt đầu từ tháng giêng sang năm, tính tròn ba năm. Đúng ba năm sau, quả nhân sẽ đích thân đi thử đường tới Thục, dâng tặng trâu vàng!”
“Thần tuân chỉ!”
Huệ Văn Công quay sang Thông Quốc: “Thái tử hãy về bẩm rõ với Thư Hầu, nói rằng nếu nước Thục trong vòng ba năm có thể mở được đường sang Tần, ngoài năm con trâu thần, quả nhân sẽ tặng thêm hai mươi mỹ nữ Tần Xuyên, hai nước muôn đời chung sống hoà thuận!”
Thông Quốc vòng tay đa tạ: “Thông Quốc nhất định sẽ bẩm lại!”
Thông Quốc bái biệt Tần Công, ngay cả nghìn dật vàng mà Tần Công ban tặng cũng chẳng cần nữa, ngay sáng sớm hôm sau đã mang theo hai bãi phân vàng do trâu thần vãi ra và hai mỹ nữ, vội vàng trở về nước Thư.
Mấy tháng sau, Thư Hầu lại phái sứ thần đến Tần, báo rằng đã trưng tập được ba vạn tráng đinh đi mở đường Thục, nghênh đón trâu thần. Tần Công cả mừng, dùng mỹ nữ, rượu ngon nhiệt tình khoản đãi, Trương Nghi, Tư Mã Thác đích thân dẫn sứ thần đi xem kho vàng và trâu thần. Thấy năm con trâu thần sống động như thật, bốn con trâu cái đều biết vãi phân vàng, sứ thần nước Thư không chút ngờ vực, hoan hỷ quay về.
Sứ thần nước Thư vừa đi, Tần Công lập tức điều một vạn tráng đinh đến núi Chung Nam, toàn lực phá núi mở đường Bao Tà.