Phùng Hầu Mị Sửu dẫn quân tiên phong đi trước, chủ tướng Khuất Cái đi sau cùng. Đến tối hôm đó, ba quân tới Kinh Môn. Tại Kinh Môn có sẵn không ít doanh trại kiên cố, ba quân qua đây, không cần dựng trại, đã có chỗ ngủ ngay.
Cách Kinh Môn không xa có một đầm nước, bên đầm nước có một ấp nhỏ không đầy trăm hộ, nơi đây thanh u yên tĩnh, phong cảnh nên thơ. Bên đầm có một nếp nhà lợp cỏ, cửa sài sớm tối luôn mở rộng. Nhưng tối đến sẽ có vài con ngỗng trắng lớn đứng canh ở trước sân.
Hôm đó, gần tới canh một, chòm xóm xung quanh đều đã tắt đèn, duy chỉ gian nhà cỏ ấy cổng cửa vẫn mở rộng, ánh đèn sáng trưng hắt ra tận cổng sài. Đột nhiên, chó bỗng sủa dậy tứ bề, bầy ngỗng trong sân đều ngỏng cổ, tiếp đến kêu lên quàng quạc.
Cùng với tiếng ngỗng kêu, từ đằng xa trên con đường mòn, một ngọn đèn lồng lắc lư tiến lại, thẳng tới trước nhà cỏ, lờ mờ thấy hai bóng người bước đến bên cổng sài. Bầy ngỗng kêu inh tai, đổ xô chạy lại, chực mổ vào khách lạ. Đúng lúc đó, trong cửa có một người bước ra, quát nạt bầy ngỗng, lùa chúng vào một góc quây kín lại, rồi tiến ra phía cổng.
“Điền Kỵ huynh đấy ư?” Người khách đi phía trước tiến lên một bước, ôm quyền chào hỏi, “tại hạ Khuất Cái!”
Điền Kỵ bật cười, vòng tay đáp lễ mà nói: “Ngư dân này biết Khuất tướng quân thế nào cũng tới, nên vẫn ở đây chờ tướng quân!”
Khuất Cái dặn tuỳ tùng đợi ở ngoài cửa, còn mình theo Điền Kỵ đi vào trong nhà.
Trên mặt án thô sơ đã bày sẵn hai món nguội và một bình rượu.
Điền Kỵ chỉ vào rượu và thức ăn, cười nói: “Tướng quân nếu không tới, coi như chuyết thê uổng công chuẩn bị cả ngày!” Rồi quay ra phía sau nhà, gọi lớn, “khách tới rồi, mau dọn thức nóng lên đây!”
Lời vừa dứt, một thiếu phụ từ sau nhà bước lên, trên tay bưng chiếc khay, trên khay bày vài bát lớn bốc khói nghi ngút, trong bát đựng các món tôm cá, hoặc hấp, hoặc chiên, hoặc nướng. Khuất Cái liếc nhìn thiếu phụ, thấy mới chừng hai mươi tuổi, dung mạo xinh xắn, song nhìn khí chất và dáng dấp lại không giống con nhà sang quý.
Vừa nghe nói “chuyết thê”, giờ lại thấy dáng vẻ này, Khuất Cái ngờ vực một thoáng, rồi nhìn sang Điền Kỵ.
Điền Kỵ chỉ thiếu phụ, cười nói: “Đây là phu nhân mà ngư dân này mới nạp, đã được hai đứa, tướng quân nên gọi nàng là chị dâu!”
“Ôi chao!” Khuất Cái vội đứng dậy, vòng tay với thiếu phụ, “Khuất Cái bái kiến tẩu phu nhân!”
Thiếu phụ luống cuống đáp lễ, sắc mặt đỏ bừng: “Nô tỳ bái kiến tướng quân!”
Điền Kỵ cười cười, chỉ ra ngoài cửa: “Bên ngoài còn có một vị nữa,” lại chỉ xuống án, “hãy phần cho hắn chút cơm rượu!”
Thiếu phụ vội vã quay vào nhà sau, loáng cái lại bưng ra một khay, đi thẳng ra ngoài cổng.
“Khuất tướng quân, mời dùng, đều là tôm cá tại hạ mới bắt dưới đầm hôm nay, vẫn tươi nguyên!” Điền Kỵ châm rượu, nâng chén.
Hai người uống vài chén rượu, ăn vài miếng cá, thì Khuất Cái buông chén, vòng tay, nói vào chuyện chính: “Điền huynh, hôm qua tại hạ tới phủ Cảnh Thuý, mới hay tin Điền huynh sống ở nơi đây.”
“Ngư dân biết, vậy nên mới có ý chờ tướng quân!”
“Là Cảnh Thuý nói lại với Điền huynh?” Khuất Cái thoáng ngỡ ngàng.
“Không có chuyện đó!” Điền Kỵ cười, lại châm rượu đầy chén, nâng lên.
Khuất Cái cười vài tiếng, cũng nâng chén: “Điền huynh chính là Điền huynh!”
“Nói thử xem, trận chiến này, tướng quân định đánh thế nào?”
Khuất Cái liền mở ngay tấm địa đồ mang theo, vừa chỉ vừa giảng giải: “Tại hạ và vương thúc đã bàn bạc nhiều lần, ý vương thúc muốn các ngả đồng loạt xuất kích, vương thúc từ chỗ này, chính là Hán Trung, đánh lên phía bắc, men theo sơn cốc Tuân Thuỷ lên phía bắc, tấn công vào phúc địa Chung Nam, uy hiếp Tần đô, khiến địch ở Thương Ư phải lo lắng phía sau. Còn tại hạ thì chia quân nhiều ngả mà đánh, đoạt lại sơn cốc Thương Ư!”
“Đánh đoạt thế nào?” Điền Kỵ hỏi.
“Chia quân ba lộ tả, trung, hữu. Tả lộ xuất phát từ ải Kinh Tử, men theo thung lũng sông Đan Thuỷ, thẳng tới Thương Lạc. Trung lộ xuất phát từ Đan Dương, đánh lấy Tích Ấp, tiến thẳng tới Ư Thành. Hữu lộ xuất phát từ ải Hắc Thuỷ, men theo đường cái quan, đánh vào Ư Thành, chiếm ải Vũ Quan.”
“Ngoài ra, hẳn tướng quân còn một cánh kỳ binh nữa?” Điền Kỵ nhìn thẳng vào Khuất Cái.
“Quả không hổ danh là Điền huynh!” Khuất Cái thán phục, chỉ vào một khúc Hán Thuỷ, “ở đây có một con đường tắt, chính là đất Vân, núi không thật cao, sườn núi cũng không quá dốc, có ba lũng sông có thể thông tới Thương Thành. Tại hạ lệnh cho một tỳ tướng dẫn theo ba vạn nhuệ binh, men theo ba lũng sông này tiến lên phía bắc vào đất Thương. Do chủ lực quân Tần đang bận đối phó với tại hạ, nên có lẽ họ sẽ có cơ hội nhanh chân đến trước. Chỉ cần chiếm được Thương Thành, sẽ có thể chiếm ải thủ hiểm, cắt đứt toàn bộ đường lui của người Tần, vậy thì có thể cầm chân giặc Tần!”
“Vậy thì tướng quân khác nào bắt ba ba trong hũ!”
Điền Kỵ cười nói. “Mưu của tại hạ, nếu có sơ sót, kính xin Điền huynh chỉ giáo!” Khuất Cái vòng tay nói.
“Mưu của tướng quân rất hay, dù là lão ngư này, cũng chỉ nghĩ được như thế mà thôi.” Điền Kỵ lại cười nói.
“Điền huynh,” Khuất Cái cất giọng chân thành, “tại hạ tới đây, là cầu Điền huynh chỉ giáo. Không giấu Điền huynh, lần này phạt Tần, đại vương cấp cho tại hạ mười vạn binh sĩ, thắng thua đã không còn là chuyện của riêng tại hạ, mà sẽ thành chuyện sinh tử của nước Sở. Điền huynh nếu có lời gì, xin chớ giữ ở trong lòng!”
“Nếu như Tôn Tử ở đây,” Điền Kỵ lại mượn danh Tôn Tẫn, “chắc chắn sẽ khuyên tướng quân chớ nên tuỳ tiện khai chiến!”
“Vì sao kia?” Khuất Cái lo lắng.
“Bởi lẽ trận chiến này, phần thắng của tướng quân không lớn!”
“Ý Điền huynh muốn nói, hai mươi sáu vạn quân ta đấu với mười ba vạn quân địch, vẫn không thể nắm chắc phần thắng?” Khuất Cái lấy làm kinh ngạc.
“Phải!” Điền Kỵ trịnh trọng đáp.
“Vì sao?”
“Đánh mà tất thắng, phải có đầy đủ thiên thời, địa lợi, nhân hoà. Nhưng nhìn vào hiện tại, thiên thời, địa lợi, Sở đều không có, duy có nhân hoà, song cũng chỉ là nỗi giận dữ và oán hận nhất thời khắp trên dưới triều đình do bị Trương Nghi lường gạt, chứ không phải là sĩ khí.”
“Ồ…” Khuất Cái hiển nhiên không phục, im lặng một chốc, rồi nhìn thẳng vào Điền Kỵ, vòng tay nói, “Khuất Cái ngu muội, xin Điền huynh hãy giải thích tường tận!”
“Phải năm Canh Tý, thiên địa bất hoà, tứ thời không thuận, tốt nhất chớ nên động binh đao, vậy mà người Sở lại trái thời mà động. Sáu trăm dặm Thương Ư đều là đồi núi, nơi nơi hiểm trở, người Sở tới tấn công, chớ nói là hai mươi sáu vạn đối địch mười ba vạn, dù là ba mươi sáu vạn đối địch mười ba vạn, cũng chưa thể chiếm ưu thế về binh lực. Chỉ cần người Tần án binh bất động, cậy hiểm cố thủ, tướng quân cũng chỉ đành bất lực quay về. Còn về nhân hoà, tại hạ không nói, tướng quân cũng nên hiểu. Đại nạn vừa qua, dân chúng cơ cực, đại vương lại cố chấp hưng binh, là không biết xót thương dân khổ. Nơi khác không nói, chỉ riêng một ấp nhỏ này, trong những ngày qua, nhà nào cũng chịu cảnh sinh ly tử biệt. Đã không xót thương dân khổ, lại đòi dân chúng liều mạng sa trường, khác nào leo cây tìm cá.” Điền Kỵ nói xong, chìa chén về phía Khuất Cái.
Khuất Cái chẳng còn lòng dạ nào mà uống, khép mắt ngồi yên, bên tai chợt vẳng lên giọng nói của Khuất Bình: “Thần dám hỏi đại vương, lần này phạt Tần, là vì muốn chiến thắng người Tần, đòi lại Thương Ư, hay là vì thịnh nộ một chốc, hả giận nhất thời? Đại vương chẳng phải muốn học theo Tần Vương? Vì muốn đoạt lại Hà Tây, Tần Vương đã dùng biến pháp của Vệ Ưởng, chuyên tâm trị quốc mười sáu năm trời…”
“Điền huynh,” Khuất Cái chợt mở choàng mắt, nhìn sang Điền Kỵ, “thân là bề tôi, chuyện đánh hay không, không phải Khuất Cái có thể định đoạt. Sự việc hiện tại, đã tới nước này, Điền huynh hẳn có kế lưỡng toàn?”
“Một từ, dây dưa!”
“Nghĩa là sao?”
“Nghĩa là không đánh!” Điền Kỵ cầm chén rượu lên, đưa cho Khuất Cái, rồi cũng tự nâng chén mình uống cạn.
“Tại hạ đã thề trước đại vương, không thu hồi Thương Ư, thề không về Sính!”
“Bởi vậy mới bảo tướng quân dây dưa, tướng quân đâu có thề sẽ thu hồi Thương Ư vào lúc nào, phải không?” Điền Kỵ nở nụ cười xảo trá, nhìn chằm chằm vào Khuất Cái, “cuộc chiến lần này, không giống trận Tích Thuỷ xưa, Cảnh Thuý dù sao cũng có lý do thoát tội. Nếu như khai chiến, bất kể là tử chiến hay chiến bại, tướng quân cũng không còn đường về. Chỉ có kế dây dưa này, mới có thể cho tướng quân cơ hội.”
“Nhưng…thân là chủ tướng, sao có thể không đánh?”
“Đánh chứ,” Điền Kỵ lại cười, “tướng quân chớ nên liều lĩnh nóng vội, cần phải đánh đâu chắc đấy. Nước Sở có nghèo đến mấy cũng là nước lớn, dư sức để đánh. Kiểu gì thì đại quân Sở tới đâu cũng không lo đói. Uyển, Trịnh, Tương đều là vựa lúa, chỉ cần quân nhu của đại vương theo kịp, tướng quân dư sức để dây dưa với người Tần. Còn không cung ứng kịp, là việc của đại vương. Sơn cốc Thương Ư chật hẹp, đường đất hiểm trở khó đi, người Tần quân đông, cần cung ứng nhiều, lương thảo đều phải chuyển từ Quan Trung tới, hao tài nhọc dân, chiến cục dây dưa, sẽ càng bất lợi cho Tần. Khi đó, người Tần sốt ruột, lại không thể rút quân, nên hoặc là nôn nóng tiến công, hoặc là để lộ sơ hở. Người Tần nếu tấn công, tướng quân sẽ được địa lợi. Người Tần nếu lộ sơ hở, tướng quân chỉ cần nhắm trúng, có thể một đòn thủ thắng.”
“Điền huynh, quả là diệu kế!” Khuất Cái phấn chấn, hai tay nâng chén, “tại hạ kính huynh!”
“Còn một cách nữa, quấy nhiễu. Tướng quân có thể phái một cánh quân thông thạo vùng núi luồn lách theo khe núi, xuất quỷ nhập thần, đánh được thì đánh, đánh không lại thì chuồn, thường xuyên quấy nhiễu, khuấy đảo quân Tần, khiến chúng không biết đằng nào mà lần. Năm xưa khi đánh Bàng Quyên, Tôn Tẫn chính là theo kế đó.”
“Chao ôi!” Khuất Cái đã hoàn toàn vỡ lẽ, lấy làm cảm khái, “đêm nay nếu như không tới, thì tại hạ đây thực sự…” Nâng cao chén rượu, “hãy cạn!”
Hai người cùng cạn chén.
Khuất Cái nhấc lấy bình rượu, rót đầy hai chén, đưa một chén cho Điền Kỵ: “Tại hạ xin mượn rượu của Điền huynh, kính Điền huynh một chén!”
Hai người lại cạn.
Khuất Cái vòng tay: “Tại hạ có một thỉnh cầu, mong Điền huynh tác thành!”
“Tướng quân cứ nói!”
“Khuất Cái bất tài, thỉnh cầu Điền huynh hãy cùng tới Đan Dương, Cái dẫn tam quân, duy chỉ nghe theo lời của Điền huynh!”
“Tạ ơn ý tốt của tướng quân!” Điền Kỵ vòng tay đáp lễ, “có điều…than ôi, lão ngư này sớm đã đắm mình chốn sông hồ, không còn hứng thú với chuyện sát phạt nữa. Sở dĩ chờ đợi tướng quân, nói ra những lời mạo muội này, là vì Cảnh Thuý. Cảnh Thuý đối đãi với lão ngư này không tệ, mấy hôm trước còn sai người tới, muốn nhờ lão ngư trợ giúp tướng quân đánh Tần, cũng là để rửa hận cho Cảnh Thuý. Lão ngư này mấy hôm nay không còn lòng dạ nào mà đánh cá, suy đi nghĩ lại, vẫn thấy mình không thể giúp được tướng quân. Không giấu tướng quân, lão ngư này bị hãm hại mà chạy sang Sở, được hưởng chút an nhàn, ngoảnh đầu hồi tưởng, chuyện trước đây chợt như sương khói.” Cười buồn một tiếng, “lão ngư này vốn người lỗ mãng, chỉ hiếu võ mà thôi. Còn như hai lần đánh bại Bàng Quyên, đều là công của Tôn Tẫn. Trước lời uỷ thác của họ Cảnh, lão ngư này không thể thoái thác, có thể giúp tướng quân được điều gì, đều đã nói hết cả rồi. Với tài của tướng quân, chỉ cần thực thi hợp lý, hẳn không có gì đáng ngại!”
“Tạ ơn Điền huynh!” Khuất Cái vòng tay, “tại hạ nếu được may mắn trở về, cũng sẽ buông bỏ tất cả, tới đây giăng lưới đánh cá cùng Điền huynh!”
Điền Kỵ bật cười sảng khoái, nâng chén: “Lão ngư này xin chờ tướng quân!”
Được Điền Kỵ chỉ điểm, Khuất Cái phấn chấn hăm hở tiến về Đan Dương, một mặt chờ binh lính điều động từ các ngả kéo đến hội quân, một mặt triệu các bộ tướng tới nghị sự, bài binh bố trận lại suốt lượt, cắt ba vạn nhuệ binh trấn giữ ải Kinh Tử, lập nên ba đường phòng tuyến, hô ứng lẫn nhau. Lại cho ba vạn nhuệ binh trấn giữ ải Hắc Thuỷ, lập nên hai đường phòng tuyến men theo dòng Hắc Thuỷ, đề phòng người Tần tiến về phía đông tập kích Uyển Thành. Lệnh cho năm vạn nhuệ binh men theo Giáp Thuỷ, một chi lưu của sông Hán Thuỷ, ngược dòng lên phía thượng du, chiếm lấy ải Man Xuyên, lại lấy ải Man Xuyên làm tâm điểm, men theo khe núi hoặc lòng sông để kiểm soát các ấp xung quanh, bức bách Thương Lạc. Đồng thời với đó, Khuất Cái dẫn theo trung quân mười vạn, lấy Đan Dương làm điểm tựa, mặt đối mặt với quân địch suốt tuyến Đan Dương, Tích Ấp, Ư Thành, lấy thủ làm công, chờ thời chế địch. Mười vạn còn lại mới là tiên phong thực sự, toàn là nhuệ binh thiện chiến, thành thạo đánh trận vùng núi, phân tán rải rác, xuất phát từ vùng bìa rừng ven núi trong địa bàn người Sở, len lỏi đến mé nam Thương Ư nơi người Tần kiểm soát, đột kích các thành ấp hoặc thôn xóm trong sơn cốc. Các nhóm tiên phong chỉ cần cướp đất, những nơi cướp được sẽ do quân trấn thủ các ải Man Xuyên, Kinh Tử tiếp quản và bố trí phòng ngự. Chiến lược của Khuất Cái là chỉ cần đánh chiếm và kiểm soát toàn bộ vùng núi phía nam Thương Ư, thì sơn cốc Thương Ư rồi sẽ nằm dưới sự giám sát của người Sở, có thể cắt đứt bất cứ lúc nào. Chỉ cần người Sở cắt ngang sơn cốc từ phía Thương Thành, thì có thể giáp công Vũ Quan từ sau lưng, vây khốn người Tần ở Ư Thành, lúc đó, người Tần chỉ còn nước bó tay chờ bắt.
Chiến lược này, có thể nói là hoàn mỹ vô khuyết. Cánh quân chủ lực chỉ cần co cụm lại, lấy thủ làm công, sẽ có thể dùng tĩnh chế động, hoá giải sức mạnh của người Tần. Còn quân tiên phong công thành lại xé lẻ từng tốp, thành từng đội nghìn người, toả ra khắp vùng sơn địa rộng lớn kéo dài tới vài trăm dặm theo hướng đông tây, từ từ tiến lên phía bắc, vừa tiến vừa đánh. Do người Tần là bên giữ đất, ở chỗ sáng, không dám tuỳ tiện hành động. Còn các cánh quân tiên phong của người Sở là bên tấn công, ở chỗ tối, có thể dương đông kích tây, bởi vậy, trong giao chiến vùng núi, người Tần không thể chiếm thế thượng phong.
Khuất Cái bố cục ổn thỏa rồi, lại đặt phủ chủ tướng trong thành Đan Dương, lấy đây làm tâm điểm, lập nên một mạng lưới liên lạc thần tốc, đảm bảo tin tức thông suốt không trở ngại, đồng thời giữ liên lạc mật thiết với Chiêu Tuy, đảm bảo quân nhu vận chuyển kịp thời.
Sắp xếp xong xuôi mọi việc, Khuất Cái cuối cùng cũng thở phào nhẹ nhõm, một mặt sai người dò la động tĩnh người Tần, một mặt soạn tấu chương, nói rõ về sự thay đổi trong sách lược cùng với nguyên do, cho người cấp tốc về Sính bẩm tấu lên Hoài Vương.
Bên này Khuất Cái khua chiêng gióng trống điều động ba quân, phía bên kia, chủ tướng Tần Ngụy Chương cũng không hề rảnh rỗi.
Phủ chủ tướng của Ngụy Chương đặt ở Ư Thành, cũng chính là sáu dặm đất phong mà Trương Nghi đã hứa cho người Sở.
Đi cùng Ngụy Chương tới đây, còn có chủ nhân của đất phong này, Trương Nghi. Đối với Trương Nghi, cuộc chiến với Sở lần này, không chỉ liên quan tới sự hưng vong của Tần của Sở, mà còn quyết định đến tương lai của chính mình, thậm chí còn liên quan đến tính mạng của người nhà. Nói gì thì nói, mọi việc đều do chính tay Trương Nghi khuấy đảo, hơn nữa, để gây ra những chuyện này, Trương Nghi gần như dốc kiệt kim khố nước Tần vào các thương vụ với người Sở, để gây thù chuốc oán triệt để với người Sở, ngay cả vương thúc vốn rất trọng vọng hắn, giờ cũng đã trở mặt thành thù, đích thân cầm quân xung trận.
Chuyện trọng đại nhường này, chỉ dựa vào mình Ngụy Chương, Trương Nghi thực sự không thể yên tâm. Từ lúc xuống núi, bất luận là giúp Sở diệt Việt, hay giúp Tần diệt Ba Thục, mưu kế đều là do Trương Nghi đề xướng. Khi sáu nước đánh Tần, người Tần có thể thủ thắng, không thể phủ nhận, công lao lớn nhất vẫn là của Trương Nghi. Còn như sau khi tới Ngụy, hai lần đánh Tề đều bại, bởi vì đối thủ quá mạnh, đối đầu với Trương Nghi và Bàng Quyên, chính là Tô Tần và Tôn Tẫn.
Chuyện nay đã khác. Đối đầu với Trương Nghi, là Khuất Cái; sát cánh với Trương Nghi, là Ngụy Chương. Ngụy Chương không cố chấp như Bàng Quyên, trước lời của Trương Nghi, đều răm rắp nghe theo. Còn như đối thủ Khuất Cái, theo như Trương Nghi biết, chưa từng kinh qua đại chiến, Sở Vương lần này phong Khuất Cái làm tướng, đúng là đã hết người rồi. Cảnh Thuý vẫn chưa hết khiếp đảm trước trận Tích Thuỷ, Chiêu Dương đã bị phế truất, có thể đảm đương trọng trách này, quả thực cũng chỉ còn Khuất Cái mà thôi.
Bởi cuộc chiến này quá ư hệ trọng, Tần Huệ Vương cũng đã đặt cược toàn bộ vào đó, ngoài mặt nói là giao cho Trương Nghi mười ba vạn nhuệ binh, thực chất lại tăng thêm ba vạn nữa, là cánh vệ binh kinh kỳ bảo vệ Hàm Dương, tất cả đều giao hết cho công tử Tật.
Sau khi rời khỏi Hàm Dương, đám Trương Nghi thẳng tới Lam Điền, đánh xe cho Trương Nghi là Ngụy Nhiễm, đánh xe cho Ngụy Chương là Mị Nhung. Chập tối hôm sau, họ tới Thương Thành, vào nghỉ ngơi trong thủ phủ.
Dùng bữa tối xong, Ngụy Chương, công tử Tật trong lòng thấp thỏm, liền tới tìm Trương Nghi.
“Tướng quốc đại nhân,” Ngụy Chương nhìn Trương Nghi hỏi thẳng, “trận này, nên đánh thế nào?”
“Trong trận Tích Thuỷ, tướng quân đã thắng thế nào?” Trương Nghi hỏi ngược lại.
“Lấy thủ làm công!” Ngụy Chương đáp.
“Vẫn theo cách cũ!” Trương Nghi khẽ cười mà đáp.
“Xin kính cẩn nghe theo tướng quốc!” Ngụy Chương trải rộng cuộn bản đồ địa thế, cười cười nhìn sang, biết rằng Trương Nghi đã suy tính kỹ càng, “xin hãy nói xem, thủ kiểu gì? Và công kiểu gì?”
“Trước tiên, cần phải hiểu rõ, cớ sao phải thủ?”
“Bởi lẽ, người Sở tấn công!” Ngụy Chương đáp ngay không do dự. “Phải,” Trương Nghi gật đầu, “suy theo lý thường, người Sở nếu muốn dùng vũ lực để thu phục Thương Ư, nhất định phải tấn công. Người Sở vừa gặp thiên tai, ắt sẽ thiếu thốn lương thảo, buộc phải tốc chiến tốc thắng.”
“Cụ thể phải thủ như thế nào? Xin tướng quốc chỉ giáo!” Ngụy Chương nôn nóng không thể đợi thêm.
“Công tử, Tật tướng quân,” Trương Nghi quay sang công tử Tật, khẽ mỉm cười, rồi đưa tay vạch trên tấm địa đồ, “tướng quân dẫn năm vạn quân trấn giữ chỗ này, phía tây tới Lam Điền, phía đông tới Vũ Quan, được chứ?”
“Mạt tướng tuân lệnh.” Công tử Tật cười đáp.
“Đã biết phòng thủ thế nào chưa?”
“Xin nghe theo tướng quốc!”
“Phòng thủ Thương Thành không phải chỉ là trấn giữ ở Thương Thành.” Trương Nghi chỉ vào vùng núi rộng lớn phía nam Thương Thành, “then chốt là ở vùng núi này.” Chỉ vào vài dòng sông và quan ải, “tại hạ đã nghiền ngẫm kỹ lưỡng địa thế nơi đây. Phía nam Thương Thành, có ba ấp lớn, hai ấp nhỏ, và vô số thôn xóm. Có ba quan ải gần Thương Thành nhất, cũng là quan trọng nhất, một là ải Man Xuyên, ở đây; hai là ải Thiên Trúc, ở đây; ba là ải Hắc Sơn, ở đây. Trong ba ải này, quan trọng nhất là ải Man Xuyên, cũng chính là chỗ này. Ải Man Xuyên nằm ở chỗ tiếp giáp giữa Sở và Tần, từ xưa đến nay vẫn luôn là vùng đất tranh giành của Tần, Sở, nay đã ở trong tay ta. Tướng quân nếu giữ được ải này, có thể nắm được chỗ yếu hại của người Sở. Ngược lại, nếu để mất ải này, người Sở có thể men theo sông này tiến lên phía bắc, vượt qua Trúc Sơn ở chỗ này, từ đó, tiến sang đông bắc có thể tấn công Vũ Quan của ta, tiến sang tây bắc có thể uy hiếp Thương Thành của ta. Lúc đó, tướng quân sẽ phải tốn sức gấp mười để ngăn người Sở.”
“Mạt tướng đã hiểu.”
“Ngụy tướng quân,” Trương Nghi nhìn sang Ngụy Chương, “từ ải Vũ Quan về đông, là chuyện của hai ta.” Chỉ vào ải Kinh Tử, “ải này hiện ở trong tay người Sở, là nơi trọng yếu nhất. Từ ải này về phía tây bắc, sẽ thông tới ấp Thương Nam, từ đó có thể bức bách Vũ Quan; từ ải này về phía đông bắc, có một con sông, ở đây, không có tên, khi tại hạ tới Sở, đã đi qua nơi này, hỏi thăm người dân biết được, nó chảy thêm vài chục dặm nữa thì đổ vào Đan Thuỷ, thềm sông rất rộng, khó mà canh phòng cho xuể. Tại hạ có lội xuống thăm dò nông sâu, nhặt được hai viên đá cuội, một đen một trắng, sáng bóng như ngọc, hình giống quân cờ, nên hãy tạm gọi nó là Kỳ Thuỷ! Thung lũng sông Kỳ Thuỷ cần tập trung phòng bị, để tránh người Sở theo lòng sông Đan Thuỷ rẽ vào sông này, rồi lại men theo thềm sông này tới đây, chính là nơi tại hạ nhặt được quân cờ, rồi lập phòng tuyến từ hai hướng, cắt đứt con đường sơn cốc Thương Ư của ta.”
“Kỳ Thuỷ mà tướng quốc vừa nói tới, mạt tướng biết rõ, theo dòng sông đó đi xuống phía nam chừng hai mươi dặm, còn nhặt được một con rùa đang nằm phơi nắng nữa kia.” Ngụy Chương cười cười, chỉ vào một chỗ, “chính là đây, thế núi hai bên rất dốc, chúng ta có thể đặt quan ải dưới lòng Kỳ Thuỷ tại đó, rồi dịch lên phía trước ải đó chừng mười dặm, sẽ cắt đặt binh sĩ bí mật canh chừng. Người Sở hễ có động tĩnh, lính gác sẽ lập tức báo về cho quan ải, để vừa cản bước người Sở, vừa kêu gọi cứu binh.”
“Hay lắm. Còn những chuyện khác, tại hạ sẽ không nói thêm, đều do tướng quân bố trí. Tại hạ chỉ muốn nhấn mạnh một nguyên tắc, thuận theo thế địch, địch động ta động, địch tĩnh ta tĩnh.” Trương Nghi nhìn khắp lượt mọi người, “nghe rõ rồi chứ?”
“Đã rõ rồi.” Ngụy Chương, công tử Tật cùng đáp.
“Lương thảo ta dự trữ ở Thương Ư đủ để dùng trong nửa năm, chúng ta sẽ đặt ra chiến lược phòng ngự trong vòng nửa năm. Người Sở năm nay thiên tai nghiêm trọng, theo tại hạ biết, lương thảo dự trữ ở Đan Dương phần nhiều ngập nước, tổn thất không nhỏ. Người Sở nếu muốn đảm bảo lương thảo cho đại quân, sẽ phải vận chuyển từ nơi khác. Chuyện khác chưa nói, chỉ riêng lương thảo quân nhu, ta cầm cự được, nhưng họ thì không.”
Ba người bàn xong, ngay ngày hôm sau, Trương Nghi, Ngụy Chương lên đường về đông, qua ải Vũ Quan, sau hai ngày thì tới Ư Thành, lại bàng hoàng hay tin khắp một vùng núi rộng lớn ở hai bên thung lũng sông Tích Thuỷ đã bị người Sở chiếm cứ, cơ hồ mỗi một khe núi đều có doanh trại quân Sở, mỗi một sống núi đều thấy bóng dáng người Sở. Nhất là xung quanh Tích Ấp, người Sở đã áp lại rất gần.
Tuy nhiên, tại quãng sông dài chừng năm mươi dặm từ Tích Ấp thông tới Đan Dương, ở hai bên lũng sông, cho dù là đồng bằng hay gò núi, đều không có lấy một lính Sở, cứ như thể người Sở đã cố tình chừa lại cho người Tần.
Rõ ràng, rất không bình thường. Thung lũng sông Tích Thuỷ dường như là con đường gần nhất, nhanh nhất nối liền Đan Dương với Ư Thành. Nhớ năm xưa, khi Ư Thành còn là của Sở, người Sở đã đắp một con đường cái rộng lớn men theo bờ đông Tích Thuỷ, đủ cho bốn xe chiến dàn hàng ngang đi qua, đường bộ và đường thuỷ song song, giao thông vô cùng thuận tiện. Giờ đây, Tích Ấp đã bị người Tần chiếm mất, người Sở nếu muốn đoạt lấy Ư Thành, trước tiên phải chiếm được Tích Ấp, mà muốn công chiếm Tích Ấp, theo lý mà nói, buộc phải kiểm soát được vùng núi hai bên bờ trước tiên. Trong trận Tích Thuỷ trước đây, Cảnh Thuý cũng kiểm soát vùng núi ở hai bên Tích Thuỷ đầu tiên, tiếp đến mới tiến về phía bắc, đối đầu với quân Tần.
“Là những vùng núi nào vậy?” Trương Nghi chau tít đôi mày.
Ngụy Chương dẫn Trương Nghi đến bên một sa bàn lớn, vẫy tay gọi Mị Nhung, Ngụy Nhiễm cùng tới. Kỹ nghệ bày sa bàn, Ngụy Chương đã học được từ Bàng Quyên, mô phỏng cũng khá là khéo léo.
Người giảng giải tình thế là một viên tham tướng, sa bàn do hắn sai người chế ra.
Kỳ thực, cũng không cần phải giảng giải, Trương Nghi đưa mắt nhìn bao quát, thấy trên một vùng đồi núi rộng lớn, đông tới ải Hắc Thuỷ, tây tới ải Kinh Tử, đâu đâu cũng thấy cắm cờ Sở đỏ thẫm, mà cách đây chưa lâu, vùng núi đó chỉ lác đác mấy sơn thôn. Đối lập với cờ màu đỏ là cờ màu đen của người Tần, đa phần cắm tại những cửa ải trọng yếu. Nhìn vào tình thế, thì những cửa ải đó đều đã bị cờ đỏ vây kín xung quanh. Còn một sự biến hoá lớn hơn nữa, đó là trên vài sống núi ở phía tây ải Kinh Tử, cách ải Man Xuyên không xa về phía nam, lúc này cũng đã cắm không ít cờ màu đỏ.
Ánh mắt Trương Nghi dán chặt vào những sống núi cách Ư Thành không xa, và cả lòng sông Kỳ Thuỷ vừa nhắc tới trước đó không lâu, trên đó cũng đã cắm lác đác vài lá cờ màu đỏ.
“Những lá cờ nhỏ này là nơi người Sở hoạt động hay đóng quân?” Trương Nghi hỏi.
“Đóng quân.” Tham tướng kia đáp, “quân số cụ thể, đang đợi thăm dò.”
Trương Nghi lại nhìn về phía tây, quả nhiên ngoài ải Man Xuyên cũng cắm vài lá cờ nhỏ màu đỏ, nhưng vì khoảng cách quá xa, tình hình gần đây thế nào, vẫn chưa nhận được tin báo.
“Xem ra, người Sở không giống như đang cố thủ!” Ngụy Nhiễm chỉ vào những lá cờ đỏ, “thực lạ, nếu như tấn công, cớ sao họ lại vứt bỏ Tích Thuỷ? Đây là con đường nhanh nhất kia mà!”
Trương Nghi nhìn chăm chú vào dòng Tích Thuỷ từ Ư Thành xuôi xuống phía nam, chảy qua Tích Ấp nhập vào Đan Thuỷ. Tích Thuỷ tuy có không ít quãng uốn khúc, song về đại thể vẫn là chảy thẳng theo chiều chính nam chính bắc, hơn nữa còn nối liền ba ấp lớn Đan Dương, Tích Ấp và Ư Thành, vị trí chiến lược vô cùng quan trọng.
Ánh mắt Trương Nghi chầm chậm di chuyển từ Tích Thuỷ tới hai bên bờ đông tây, cùng vùng núi cách đó ngoài năm dặm, đa phần đều đã bị người Sở chiếm cứ, hơn nữa còn đang dần dần ép lại gần, nghe tham tướng nói, rất nhiều cờ nhỏ mới được cắm thêm vào hai ngày gần đây.
“Hai người hãy nhìn cho kỹ, đám cờ đỏ kia trông có giống một cái bao gai mở miệng?” Trương Nghi nhìn sang Ngụy Nhiễm và Mị Nhung.
Ngụy Nhiễm lùi lại một bước, quan sát thật kỹ, bất giác hít ngược vào một hơi: “Ý tướng quốc là, người Sở cố tình chừa lại tuyến đường Tích Thuỷ, dụ quân ta tấn công Đan Dương, sau đó,” chỉ vào đoạn Tích Thuỷ ở sau Tích Ấp, “cắt đứt chỗ này, túm chặt miệng bao, vây diệt ta ở giữa Đan, Tích?”
Trương Nghi cười lớn, khen ngợi: “Thực không hổ danh là công tử của Ngụy đại tướng quân!” Quay sang Ngụy Chương, “Khuất Cái lặng lẽ thế thôi, nhưng nhìn vào thế mở bao chờ sẵn này, thì thực lượng của hắn quả không hề nhỏ!”
“Còn phải xem liệu có nuốt trôi được không đã!” Ngụy Chương siết chặt nắm tay.
“Hắn không cần phải nuốt,” Trương Nghi chỉ vào con đường chạy qua sơn cốc, “hắn chỉ cần cắt đứt đường cái, cắt đứt đường thuỷ, sau đó dàn trận vững chãi ngồi đợi, đến khi ta cạn kiệt lương thảo, muốn lui không được, muốn tiến không xong, hoàn toàn sa vào tuyệt lộ!” Ngụy Chương nhắm mắt suy nghĩ, hồi lâu sau, nhìn sang Trương Nghi: “Theo như mưu kế của tướng quốc, nên làm thế nào mới phải?”
“Trữ lương thảo đủ cho ba tháng tại Tích Ấp, chiếm lấy vùng núi hai bên Tích Ấp, ba quân đóng quân tại phía nam Tích Ấp, tiến có thể tấn công Đan Dương, lui thì có thể quay về Ư Thành, nếu không tiến không lui, thì cố thủ tại Tích Ấp, xem hắn làm gì được ta?” Trương Nghi vừa nói vừa đưa tay vạch trên sa bàn.
“Hạ quan tuân lệnh!” Ngụy Chương dõng dạc đáp.
Vào lúc hai quân Sở, Tề đối đầu nhau giữa khoảng Đan, Tích, vương thúc cũng đã tới quận Hán Trung.
Đi cùng vương thúc là năm vạn gia binh của vương thân, chủ tướng Trang Kiều, phó tướng Tử Khải. Nói gì thì nói, công tử Khải đã tới tuổi trưởng thành, tính đến chuyện tương lai, Tử Khải cân phải kiến công lập nghiệp, vương thúc sắp xếp cho hắn dẫn quân theo Trang Kiều, cũng coi như để tôi luyện.
Quận Hán Trung vốn do tả tư mã Khuất Cái phụ trách phòng ngự, song quận thú lại là người của vương thúc, giữ chức vị này là Kỷ Tự Quân Mị Giác, em trai cùng cha khác mẹ của vương thúc. Quận Hán Trung tuy là trọng trấn biên thuỳ, nhưng gần trăm năm qua, Tần Sở không có giao tranh, nên đất này không có chiến sự, luôn được yên ổn. Hiện tại chiến tranh với Tần đã cận kề, quận Hán Trung sắp trở thành chiến địa, Khuất Cái điều quân đến Đan Dương, Kỷ Tự Quân đang lo âu thấp thỏm thì vương thúc tới.
Quận Hán Trung vốn có mười vạn quân trấn thủ, vương thúc lại dẫn theo năm vạn quân cùng tới, khiến khí thế lập tức tăng vọt, chí ít xét về quân số, cũng đã áp đảo được số nhuệ binh Tần đang đóng tại Nam Trịnh. Vương thúc bỏ ra hai ngày để bố trí xong xuôi việc phòng ngự các nơi, rồi sắc mặt nghiêm trang, vòng tay với Trang Kiều mà nói: “Trang tướng quân, việc phòng thủ nơi đây, xin giao phó cho tướng quân.” Lại quay sang Mị Giác, “chú bảy, chú phải tận lực phò trợ cho Trang tướng quân đây, đảm bảo lương thảo quân nhu, chớ để tướng sĩ ta bị đói.”
“Anh hai,” Kỷ Tự Quân ngơ ngác, “ý anh là…”
“Ta phải tới một nơi,” vương thúc chỉ vào địa đồ, “chỗ này, núi Thái Bạch.”
“Núi Thái Bạch?” Kỷ Tự Quân hai mắt trợn tròn, nhìn chằm chằm vào nơi vương thúc vừa chỉ, “anh hai, đó là địa bàn của người Tần…”
“Có ai thành thạo vùng núi đó không?” Kỷ Lăng Quân như không nghe thấy, nhìn thẳng vào Mị Giác mà hỏi.
“Có đấy, lái buôn muối,” Kỷ Tự Quân buột miệng đáp liền, “họ đi lại khắp nơi, không chỗ nào không tới, vùng rừng núi trong vòng ba trăm dặm vuông này, hễ là nơi có người, họ đều qua lại cả.”
“Tìm cho ta mười người, không, hai mươi. Nói với họ, nếu dẫn đường tốt, ta sẽ trả mỗi người ba hoàn vàng!” Không chờ Mị Giáp kịp đáp lời, vương thúc lại quay sang Trang Kiều, “chọn lấy năm trăm dũng sĩ, phải giỏi giao chiến vùng rừng núi.”
“Vương thúc,” Trang Kiều vội nói, “vương thúc không nên dấn thân vào nguy hiểm. Nếu có việc gì, xin cứ sai bảo mạt tướng là được.”
“Việc này, ta nhất định phải đi!” Vương thúc giọng quả quyết.
“Vương thúc,” Tử Khải đã hiểu ra chuyện gì, tiếp lời, “cháu sẽ đi cùng!”
“Cháu, chỉ có một nhiệm vụ, trợ giúp Trang tướng quân, giữ chắc Hán Trung.” Vương thúc ánh mắt kiên định, “Hán Trung nếu mất, lão phu sẽ hỏi tội hai người!”
Việc binh quý ở thần tốc. Chỉ sau hai ngày chuẩn bị, vương thúc đã dẫn theo năm trăm nhuệ binh do Trang Kiều tự tay tuyển lựa, đều cải trang thành lái buôn muối, giấu binh khí vào trong các bao muối, mang theo mười ngày lương khô, chia làm mười tốp, do hai mươi lái buôn muối dẫn đường, len lỏi vào vùng núi phía tây bắc, tiến thẳng lên tuyệt đỉnh Thái Bạch. Trang Kiều vẫn không yên tâm, mười ngày sau, lại điều thêm mấy nhóm nhuệ binh chia làm nhiều ngả tiến lên phía bắc, thứ nhất là để nghi binh, thứ hai là để tiếp ứng.
Đông đảo diêm thương len lỏi vào sâu trong vùng núi Chung Nam vào đúng thời khắc căng thẳng này, lại tiến thẳng lên đỉnh Thái Bạch phía tây bắc, đương nhiên đã kinh động tới hắc điêu nước Tần. Từ sau khi bị Huệ Vương trách cứ vì hắc điêu không phát giác ra đám hắc hịch phương Bắc qua lại trên núi Thái Bạch, công tử Hoa đã tăng cường giám sát ở khắp các vùng núi phía nam Hàm Dương, mỗi một xóm làng trong rừng núi đều có thám báo, cũng chính những thám báo ấy đã phát hiện ra sự việc này đầu tiên, tin tức nhanh chóng được báo lên từng cấp, cho đến chỗ công tử Hoa.
Công tử Hoa tức tốc phái một lượng lớn hắc điêu gấp rút tới núi Thái Bạch, theo dõi sát sao nhất cử nhất động của họ, đồng thời vào cung yết kiến Huệ Vương.
“Bao nhiêu người?” Huệ Vương khẽ nheo mắt hỏi.
“Hiện tại vẫn chưa được rõ,” công tử Hoa bẩm báo, “nhưng tính sơ qua, không dưới một nghìn, phân tán hành động, đều mặc áo vải, cải trang làm lái buôn muối.”
Huệ Vương nhắm mắt ngẫm nghĩ.
“Bọn họ lòng vòng trong núi, song đều tiến về một hướng, núi Thái Bạch.”
“Liệu có phải tìm tới chỗ hắc hịch trên đỉnh Thái Bạch?” Huệ Vương nhìn sang công tử Hoa.
“Thần cho là phải.” Công tử Hoa đáp lời, “theo tin Thiên Hương báo về, Khuất Nguyên mắc phải ôn dịch, tư tế núi Vu Hàm vì cứu Khuất Nguyên nên đã hoá thành mây trắng bay về núi Thái Bạch, hẳn có liên quan tới hắc hịch kia. Lần này giao chiến, vương thúc đích thân thỉnh mệnh trấn thủ Hán Trung, thần đang băn khoăn, cớ sao ông ta lại muốn giữ Hán Trung, giờ thì đã rõ, chắc hẳn ông ta đã phái người lên đỉnh Thái Bạch để cứu con gái.”
“Tư tế kia chẳng phải đã hoá thành mây trắng mà đi?”
“Tinh khí đi rồi, song nhục thân chưa chết, nghe nói vẫn còn hơi thở.”
“Quả là một kỳ nữ!” Huệ Vương thực lòng khen ngợi.
“Phải!” Công tử Hoa cũng lấy làm cảm khái, “nghe Xa Vệ Tần kể, đã từng gặp tư tế ấy vài lần, nhan sắc ấy, phong vận ấy, quả là của người trời, dù là Thiên Hương cũng kém xa, vậy nên đến Sở Vương cũng đem lòng tơ tưởng. Thân mẫu của nàng là tư tế núi Vu Hàm, phụ thân của nàng chính là vương thúc, nên Sở Vương kỳ thực chính là bác ruột của nàng. Quan trọng hơn nữa, thân mẫu của nàng, tư tế miếu Vu Hàm trước kia, lại là con gái của Hát Quan Tử sống ẩn cư trên miếu Vu Hàm, mà Hát Quan Tử ấy lại là hậu duệ đích truyền của Bạch Công Thắng, con trai của thái tử Kiến, cháu nội của Sở Bình Vương, nên tính qua tính lại, ngoài dòng máu Ba vu của mẹ, thì huyết thống cha ông đều là chính tông của vương thất Sở.”
“Đám hắc hịch kia đang làm gì?” Huệ Vương trầm ngâm giây lát, ngẩng đầu lên hỏi.
“Đang dựng nhà.” Công tử Hoa đáp, “gần đây, lại có một toán hắc hịch tìm tới, có nam có nữ, còn có trẻ con, tổng cộng đến hơn trăm người, nhà vốn có không đủ để ở. Lại thêm mùa đông sắp tới, trên đỉnh Thái Bạch đã đổ ba đợt tuyết lớn, bọn họ đang chuẩn bị cho mùa đông, đốt than rất nhiều. Mấy hôm trước, họ đòi thần cấp cho thóc gạo, số lượng tăng gấp đôi so với thoả thuận ban đầu, thần hỏi tại sao, họ mới nói còn một toán nữa đang trên đường tới.” Cười nhăn nhó, “đôi lúc thần nghĩ, phải chăng bọn họ đang muốn lập quốc ngay trên núi Thái Bạch kia? Theo như giao ước, thì toàn bộ vùng núi Thái Bạch hai trăm dặm vuông đều là của họ! Nghe hắc điêu báo về, bọn họ đã bắt đầu cắm mốc giới tại đó!”
“Thực quá đáng!” Huệ Vương giận dữ.
“Vương huynh, việc này phải xử trí thế nào?”
Huệ Vương lại nhắm mắt ngẫm nghĩ.
Trước mắt Huệ Vương lại hiện lên hình bóng của hắc hịch kia, lời nói của hắn như văng vẳng bên tai: “Tại hạ không cầu báo đáp, mà chỉ có một thỉnh cầu, xin nhà vua Đại Tần ban cho bản giáo các đỉnh núi cao Thái Bạch, Chung Nam, giúp bản giáo lập miếu xây đàn ở vùng núi Thái Bạch, để thu nạp đệ tử, truyền bá pháp thuật!”
Tiếp đến lại là giọng của Hàn Tuyền Tử: “Thuật của hịch nhân này chính là hắc thuật, âm thuật, chủ sát. Chủ sát thì không cát tường, gắp lửa bỏ tay hàng xóm, lại càng không cát lợi, mong đại vương hãy suy nghĩ kỹ.”
Huệ Vương bỗng hừ mũi một tiếng.
“Vương huynh?” Công tử Hoa khẽ gọi.
“Hoa đệ vừa bẩm báo chuyện gì?” Huệ Vương ngẩng đầu, nheo nheo mắt hỏi.
“Ồ…” Công tử Hoa ngẩn người, “là chuyện lính Sở!”
“Họ là lính Sở ư?” Hai mắt Huệ Vương càng nheo tít, “Hoa đệ vừa nói, họ chẳng qua là lái buôn muối đất Dung mà thôi, người trong núi muốn có muối ăn không phải dễ dàng, ta nên đối xử tử tế với diêm thương mới phải!”
Công tử Hoa thốt nhiên bừng hiểu, gật đầu lia lịa: “Thần đệ hiểu rồi!” Càng ngẫm càng thấy thú vị, mắt sáng rỡ như sao, “thần đệ sẽ lập tức rút ba trăm nhuệ binh ở đó về, hiện tại chiến sự cấp bách, cần phải đưa họ ra sa trường lập tức!”
“Đi đi!” Huệ Vương xua tay.
Nghe tiếng bước chân của công tử Hoa xa dần, bên khoé miệng Huệ Vương thoáng một nét cười thâm thuý.
“Đại vương,” nội thần tiến lại, “đêm đã khuya rồi, vương hậu hẳn đang chờ đại vương ngự giá!”
Trước mặt Huệ Vương chợt hiện lên hình bóng vương thúc, rồi đến Ngụy Chương, rồi lại đến Mị Nguyệt.
“Đổi người, Mị Bát Tử!” Huệ Vương ra lệnh.
“Đại vương, Mị phi đang hoài thai, đã mấy tháng rồi.”
“Cứ nàng ấy!”
Nhờ có sự “trợ giúp nhiệt tình” của công tử Hoa cùng chúng hắc điêu, chưa đầy mười ngày, đám diêm thương đất Sở len lỏi từ Hán Trung vào trong núi đã thuận lợi tụ hội tại chân núi Thái Bạch.
Đám hắc hịch kia cũng cần đến muối. Để thêm phần chắc chắn, vương thúc bảo mọi người ẩn kỹ trong rừng núi, chỉ cho vài kẻ cõng theo bao muối, trèo lên đỉnh Thái Bạch, tìm đến khu nhà cỏ của hắc hịch, mượn cớ bán muối để dò la tình hình, thăm dò kỹ lưỡng toàn bộ đại bản doanh của họ.
Chỉ ba ngày sau đó, vào lúc bình minh, đại bản doanh bị tập kích thình lình. Bất luận là ai, trước lúc rạng đông vẫn luôn là thời khắc yếu ớt nhất. Bởi nơi đây nằm sâu trong lòng đất Tần, lại thêm núi cao rừng sâu bao bọc, dưới chân núi còn có lính Tần canh gác, nên đám hắc hịch hoàn toàn không chút đề phòng. Người Sở đông đảo, ai nấy đều là dũng sĩ trong dũng sĩ, lẳng lặng vây kín khu nhà cỏ, bất đồ đạp cửa xông vào, cứ gặp là chém, bất kể già trẻ gái trai. Hầu như toàn bộ hắc hịch đều bỏ mạng ngay trên giường trong lúc còn say giấc.
Mọi việc diễn ra trong lặng lẽ, đáng thương cho đám hắc hịch, rất nhiều người mới từ Bắc Minh tìm tới chưa lâu, còn chưa kịp quen với núi rừng lạ lẫm, đã trở thành ma dưới lưỡi kiếm người Sở.
Khi người Sở xông vào gian nhà cỏ lớn nhất nằm ở chính giữa, chuyện bất ngờ đã xảy ra.
Đây chính là nhà của đại tư tế tát man.
Có lẽ bị kinh động bởi âm thanh lạ, cũng có lẽ là nhờ linh cảm, vào lúc người Sở đạp cửa xông vào, đại tư tế đã chộp được kiếm sắc, nhảy bật dậy khỏi giường, húc tung cửa sổ lao ra.
Tuy nhiên, xung quanh khu nhà rộng lớn này, vương thúc sớm đã giăng sẵn thiên la địa võng. Một hàng xạ thủ nấp sẵn ở trong rừng, vừa thấy bóng người lao qua cửa sổ, bèn đồng loạt bắn tên tới tấp.
Đại tư tế trúng liền hai mũi tên, may mắn không trúng vào chân. Thấy xung quanh đều đã bị bao vây kín mít, đại tư tế gầm lên một tiếng, rồi lao như bay lên đỉnh núi.
Đường lên núi, chỉ có một. Vương thúc nhìn thấy rành rành, lập tức dẫn người đuổi theo bén gót. Hai mũi tên đều trúng lưng. Đại tư tế gắng nhịn đau, chạy một mạch lên tới đỉnh, tung mình nhảy lên đài tế.
Lúc này, vẫn là trước bình minh, song đằng đông đã bắt đầu hưng hửng.
Trên khoảng trời phía trên đàn tế, vẫn trôi lững lờ một áng mây trắng từ Sính Đô bay tới hôm nào.
Đại tư tế ngoảnh đầu lại nhìn.
Trong ánh sáng lờ mờ hắt lại phía trời đông, đại tư tế đã nhìn thấy rõ, đuổi theo sau mình toàn là quân Sở, giáp trụ chỉnh tề. Bay phần phật trong gió, cũng là cờ Sở. Dẫn đầu đoàn người là vương thúc, kiếm lăm lăm trong tay, theo sau là hàng trăm lính Sở, hoặc cầm kiếm, hoặc giương cung lắp tên, tất cả đều nhằm vào đại tư tế.
Đây là phúc địa của nước Tần, hắn vốn cho là nơi an toàn nhất, vậy mà giờ đây, hàng trăm lính Sở thình lình xông lên tận đỉnh Thái Bạch không chút kiêng dè, thực không hiểu đám lính Tần canh gác dưới chân núi đảm bảo an toàn cho họ đã đi đâu?
Đại tư tế đột nhiên bừng tỉnh, là Tần Vương qua cầu rút ván, đã bán đứng họ cho người Sở.
Đại tư tế liền quỳ sụp xuống, một tay chỉ trời, nghiến răng rít lên lời nguyền độc địa nhất trong đời: “Vua Tần Doanh Tứ! Chúng ta vì giúp ngươi nên mới tới đây, bởi đất nước của ngươi có mệnh nhất thống thiên hạ. Tiếc là ngươi không phải kẻ quang minh lỗi lạc, nói lời không biết giữ lời, ăn cháo đá bát, dung túng cho kẻ thù tàn sát tộc ta, thất nghĩa thất tín, sẽ chịu quả báo từ trời. Bản tư tế nương oai đại thần Cộng Công, nguyền rủa ngươi cùng đất nước của ngươi. Thứ nhất, thân ngươi sẽ mắc bạo bệnh mà chết. Thứ hai, đất nước của ngươi dù nhất thống cũng diệt vong bởi Sở. Thứ ba, con trai trưởng của ngươi dù kế vị cũng chết bởi man di. Thứ tư, hậu duệ của ngươi anh em sát phạt, cha con nghi kỵ, mất nước mà tuyệt diệt!”
Thấy đại tư tế luôn miệng lẩm nhẩm như đang thi pháp, vương thúc lo lắng hô lớn: “Mau, bắn tên!”
Một trận mưa tên rào rào bay lại.
Đại tư tế trúng tên chi chít, vẫn quỳ trơ trơ.
Vương thúc tung người nhảy lên đài tế, thấy hắc hịch kia tên cắm tua tủa khắp người, song vẫn chưa tắt thở.
Vương thúc vung kiếm, dồn hết sức bình sinh, chém thẳng xuống cổ hắc hịch.
Chớp mắt, đầu lăn lông lốc, máu đen phun tung toé từ cần cổ đứt ngang.
Áng mây trắng vẫn trôi lững lờ trên cao, như đang theo dõi màn sát phạt đang diễn ra dưới bóng râm của chính mình.
Máu đen phụt lên cao hơn ba thước, hoá thành một luồng khí đen, bay vút lên trời, tụ thành một cụm mây đen trên đỉnh Thái Bạch.
Lại thêm vô số vệt khí đen từ bốn phương tám hướng ùn ùn kéo tới, tụ lại cùng nhau, chốc lát, đỉnh núi Thái Bạch đã giăng kín mây đen.
Áng mây trắng bị bao bọc giữa mây đen, vương thúc không còn nhìn thấy nữa. Vương thúc liền vung tay, ráng sức ném thanh kiếm về phía mây đen. Một tia chớp bất thần loé sáng, đánh thẳng vào thanh kiếm. Tiếng sấm nổ đinh tai nhức óc, vương thúc loạng choạng ngã nhào, thanh kiếm xoay tít giữa không trung, rồi rơi xuống vực sâu hun hút.
Cụm mây đen nhanh chóng bay lên cao, hoá thành một đám mây lớn đen kịt.
Đám mây chầm chậm di chuyển, trôi về đông bắc.
Binh sĩ vội vã chạy lên đàn tế, xúm quanh vương thúc.
Vương thúc mở mắt, nhìn lên bầu trời.
Mây đen không còn, mây trắng cũng không thấy đâu nữa, bầu trời xanh thẳm một màu.
“Mây đen đâu rồi?” Vương thúc hỏi dồn.
Binh sĩ liền chỉ về phía trời đông bắc.
Vương thúc nhìn về phía đó, quả nhiên thấy đám mây đen đang trôi đi mỗi lúc một xa.
Vương thúc đang thẫn thờ tuyệt vọng, bỗng nhiên, từ trong vầng mây đen kịt chợt tách ra một áng mây trắng muốt.
Mây đen trôi về đông bắc, mây trắng bay về tây nam, quay lại đỉnh núi. Vương thúc mắt mở trừng trừng, nhìn hút vào áng mây trắng của mình.
Áng mây đã quay về trên đỉnh Thái Bạch, lại phủ bóng râm xuống họ.
Vương thúc nhặt lấy thủ cấp của hắc hịch, hai tay giơ cao, giọng nghẹn lại: “Vân Nhi, con gái của ta, con đã nhìn thấy rồi chứ? Cha đã giết chết ác hịch, đã giết chết toàn bộ hắc hịch nơi đây. Con giờ đã tự do, con có thể đi rồi. Mau, con hãy mau quay về núi Vu Hàm, Khuất Bình đang chờ con ở đó!”
Nói đoạn, vương thúc ném luôn đầu lâu xuống vách núi, lại truyền lệnh cho binh sĩ, ném hết thi thể của đám hắc hịch xuống vực sâu.
Đỉnh núi lại sạch không như trước.
Áng mây trắng từ từ hạ xuống, mỗi lúc một thấp. Chốc lát, toàn bộ đỉnh núi đã chìm trong sương mờ dày đặc.
“Con gái của ta…” Vương thúc dang rộng hai tay như muốn ôm lấy màn sương hư vô, bật khóc thành tiếng.
Lúc này, trời đã sáng rạng, ráng sớm rực hồng.
Vầng dương đỏ thắm đã nhô lên phía trời đông, chiếu ngàn vạn ánh hào quang chói lọi, xuyên qua màn sương trắng. Hơi sương lại bốc lên cao, tụ thành mây trắng, chầm chậm trôi về phương nam.
Vương thúc dõi mắt nhìn theo áng mây trôi cho đến khi xa hút, bèn quay sang đối diện với mặt trời, khuỵu gối quỳ xuống, nước mắt rưng rưng.
Toàn bộ quân Sở cũng quỳ xuống theo, hướng vào vầng dương mới mọc, cùng cầu khấn trước thần Đông Hoàng Thái Nhất.
Khi mặt trời lên cao quá con sào, vương thúc nhảy xuống khỏi đàn tế, sai binh sĩ chặt đứt dây chằng, rồi dùng thương kích gậy gộc, cùng hợp sức bẩy tảng đá hình trứng nặng đến nghìn cân cõng theo đài tế bên trên, cho tới khi lộn nhào xuống dưới vực sâu vạn trượng. Khối đá khổng lồ uỳnh uỳnh lăn xuống, khác nào sấm động liên hồi. Khi tảng đá chạm xuống đáy vực, âm thanh long trời lở đất, rung chuyển cả đỉnh núi cao.
Đã sắp tới hạn trăm ngày.
Bạch Vân cũng sắp về đến nhà.
Hôm đó là một ngày đông nắng ấm, giá rét phương Bắc được Vu Sơn cao ngất chặn lại, bầu trời quang đãng lạ lùng.
Trên con đường núi chạy qua dưới miếu Vu Hàm, Khuất Bình bế Bạch Vân trên tay, gắng sức bước từng bước leo lên bậc đá. Nam Nam đi trước, được vài bước lại ngồi bệt xuống đợi. Khuất Dao đi theo sát phía sau Khuất Bình, để có thể kịp thời trợ giúp, bởi Khuất Bình đã quá mệt mỏi hư nhược, lại phải mang thêm một người.
Theo sau họ còn có hai người Ba, giúp họ gánh hành lý, một trong hai người đó chính là ông lão đã được Bạch Vân châm cứu trước khi xuống núi. Sau nữa là một đoàn dài người Ba đủ cả nam phụ lão ấu, rồng rắn bước theo nhau. Sắc mặt ai cũng đượm vẻ đau buồn. Hay tin tư tế đổ bệnh quay về, họ đã gọi nhau cùng tới, đi theo lên núi.
Chúng Ba nhân muốn khiêng cả Khuất Bình lẫn Bạch Vân lên núi, nhưng Khuất Bình khăng khăng không chịu. Khuất Bình nhất quyết phải đích thân đưa Bạch Vân về nhà, tận tay giao nàng cho ông ngoại.
Bỗng có tiếng đàn vẳng lại. Tiếng đàn đứt quãng, như than như khóc, như thể mỗi một âm thanh đều phải vượt qua thời gian diệu vợi và khoảng cách trùng trùng mới tới được bên tai.
Khuất Bình vẫn bước từng bước chậm chạp, nước mắt rơi giọt giọt, ướt loang trên áo Bạch Vân.
Sau lưng Khuất Bình vọng lại tiếng thút thít, tiếng nghẹn ngào. Ông cụ người Ba đặt gánh xuống, quỳ trên bậc đá. Chúng Ba nhân thấy vậy, cũng theo nhau quỳ xuống, dằng dặc trên quãng đường mòn.
Tất cả, đều do tiếng đàn trên núi mà ra.
Duy chỉ Khuất Bình không quỳ, thậm chí còn không dừng bước.
Tiếng đàn, đã rất gần.
Miếu Vu Hàm, đã tới.
Nam Nam vẫn níu áo Khuất Bình, bước lên bậc đá cuối cùng, nhìn về phía tiếng đàn.
Người gảy đàn, chính là Hát Quan Tử, mặc áo bào trắng, ngồi trên tảng đá cheo leo, hai mắt nhìn ngang, như đang dõi về phía xa xăm.
Tảng đá kia không có lan can, phía dưới là vực sâu hun hút. Tiên tư tế, con gái ông, năm xưa đã tung người nhảy xuống vực chính từ tảng đá này.
Gió núi thổi thốc từ đáy vực, từng đợt từng đợt, khẽ khàng lay động ba sợi lông vũ trên mũ ông lão, chòm râu trắng xoá cũng phất phơ theo gió.
Khuất Bình bước từng bước lại gần, đến bên Hát Quan Tử. Hát Quan Tử vẫn ngồi bất động.
Dây đàn thi thoảng lại bật lên một tiếng.
Khuất Bình quỳ xuống trước mặt Hát Quan Tử, Nam Nam cũng ngơ ngác quỳ theo.
Tiếng đàn dừng lại.
Hát Quan Tử vẫn ngồi bất động, hai mắt trông ngang, dõi về núi non trùng điệp phía xa xăm.
“Ông ngoại…” Khuất Bình lên tiếng, giọng run rẩy, “Vân Nhi đã về!”
Hát Quan Tử vẫn lặng thinh, khuôn mặt phong sương ngửa lên, hứng lấy từng hồi gió núi.
Giờ đang giữa trưa, mặt trời toả nắng vàng rực rỡ, khiến người ta quên bẵng Vu Sơn lúc này đang giữa mùa đông.
Một áng mây trắng lững lờ trôi lại, bay vào sơn cốc trước miếu Vu Hàm.
Nam Nam ngẩng đầu nhìn, chợt kinh ngạc hét lớn một tiếng: “Chị ơi!”
Rồi nhảy dựng dậy, chạy lao về phía mây trắng.
Nhanh như cắt, một bàn tay già nua giữ chặt lấy cô bé.
Chốc lát, áng mây trắng đã lại gần, bềnh bồng phủ trên đỉnh núi.
“Vân Nhi…con đã về đấy ư?” Hát Quan Tử từ từ ngoảnh lại, nhìn sững vào Bạch Vân đang nằm trong tay Khuất Bình.
“Vâng, Vân Nhi…đã trở về rồi!” Khuất Bình nước mắt lã chã, đáp lời thay nàng. Hát Quan Tử buông Nam Nam ra, chìa hai tay lại.
Khuất Bình dịch lên một bước, cẩn thận đặt Vân Nhi vào trong tay Hát Quan Tử.
Hát Quan Tử chầm chậm đứng dậy, bế lấy Bạch Vân, tiến từng bước vào trong miếu.
Đêm đã về khuya, ngự thư phòng của cung Tần ở Hàm Dương vẫn sáng ánh đèn.
Công tử Hoa bước chân hối hả, đi thẳng vào trong.
“Thần đệ bái kiến vương huynh!” Công tử Hoa dập đầu hô.
“Đứng dậy đi,” Huệ Vương chỉ vào chỗ ngồi đối diện, “đoán rằng hôm nay Hoa đệ sẽ về, quả nhân đang chờ!”
“Sự đã thành!” Công tử Hoa ngồi xuống, sắc mặt hân hoan, “người Sở lên núi không đông, chưa đầy năm trăm người, vào trước bình minh hôm qua đã tập kích làng xóm của tát man, tàn sát không sót một ai, lại lật nhào cả đàn tế. Toàn bộ nhà cỏ đều bị người Sở châm lửa đốt trụi. Sau khi người Sở đi rồi, thần cho người tới kiểm tra, đếm được một trăm hai mươi hai thi thể. Đại tư tế bị ném xuống vách núi, thân một nơi đầu một nẻo.”
Huệ Vương khép mắt lại.
“Vương huynh đoán xem, người Sở do ai cầm đầu?”
“Ồ?” Huệ Vương không mở mắt, giọng như muốn hỏi.
“Là vương thúc!” Công tử Hoa lấy làm cảm khái, “thực không thể ngờ, vương thúc lại đích thân xông pha nguy hiểm. Vì ái nữ mà sẵn sàng liều thân!”
“Ồ!”
“Thần đã cho người chôn hết đám hắc hịch, khế ước lấy được trong người đại tư tế, thần đã mang về đây.” Công tử Hoa lấy bản khế ước ra, hai tay trình lên.
Huệ Vương xua tay, không cầm.
Công tử Hoa lại cất đi, ngẩng đầu hỏi: “Xử trí thế nào, xin vương huynh hạ chỉ!”
“Quả nhân không biết gì hết, quả nhân chưa hề nghe thấy chuyện này!” Huệ Vương bật ra một câu.
“Thần sẽ đốt ngay!” Công tử Hoa hiểu ý, liền gọi mang lò sưởi lại, ném bản khế ước vào trong đó. Sực nhớ còn một bản nữa, bèn đưa mắt nhìn sang nội thần.
Nội thần hiểu ý, bước lại bên tủ, mở cửa tìm kiếm, lấy ra bản khế ước của Tần, đưa cho công tử Hoa. Công tử Hoa tiện tay ném luôn vào lò. Lửa bùng lên rừng rực một hồi, hai bản khế ước nháy mắt đã hoá tàn tro.
“Phải rồi,” chờ khế ước cháy hết, công tử Hoa bẩm tấu, “còn một việc nữa, nghe tư tế kia nói, còn một tốp tát man nữa sau vài hôm sẽ tới, những hơn trăm kẻ. Xử trí thế nào?”
“Có khách phương xa tìm tới, hãy tiếp đãi chu đáo.”
“Họ là do đại tư tế gọi tới, ngộ nhỡ có hỏi, thần đệ nên…” Công tử Hoa ngập ngừng.
“Đại tư tế chết trong tay người Sở, Đại Tần ta đang khai chiến với Sở. Hoa đệ thử hỏi họ xem, nếu muốn phục thù, có thể tham chiến!” Huệ Vương gợi ý.
“Thần đệ lĩnh chỉ.”
“À, phải rồi,” Huệ Vương mở mắt, nhìn sang nội thần, “mấy ngày nay, Đãng Nhi đang làm gì?”
“Hồi bẩm đại vương,” nội thần vòng tay đáp, “điện hạ chỉ ở trong Đông cung, không ra ngoài, nói rằng đang luyện võ.”
“Nghe nói có một lực sĩ mới tới, sức hơn trâu mộng, hẳn có chuyện này?” Huệ Vương dò hỏi.
“Người đó họ Nhậm tên Bỉ, từ Lũng Nam tới, trò chuyện với điện hạ rất tâm đầu ý hợp. Nghe nói từ sau khi kẻ này tới, điện hạ tuyệt nhiên không ra khỏi cổng cung!”
“Đãng Nhi chỉ biết có lực sĩ!” Huệ Vương nhìn sang công tử Hoa khẽ cười, giọng như than phiền, “không có trí tuệ, chỉ có vũ dũng, phỏng có ích gì? Rất nhiều khi, thiên hạ có được đâu phải nhờ sức mạnh!”
“Vương huynh nói phải,” công tử Hoa cười đáp, “điện hạ dũng mãnh oai phong, lại quy tụ được nhiều lực sĩ. Nếu có thêm vài mưu sĩ như Trương Nghi, sẽ càng tuyệt diệu!”
“Trương Nghi là người của quả nhân, cũng giống như Công Tôn Ưởng là người của tiên quân, sợ rằng Đãng Nhi không dùng được.”
“Có lẽ không sao.” Công tử Hoa lại cười, “Trương Nghi khác Công Tôn Ưởng. Công Tôn Ưởng là người ngoài, Trương Nghi là người nhà ta, là chú rể của điện hạ!”
Huệ Vương chỉ cười, rồi thở dài một tiếng: “Than ôi, thằng ranh ấy, lúc nào cũng khiến người ta phải lo phiền! Khai chiến với Sở, nó nằng nặc đòi đi, quả nhân đã chuẩn tấu rồi, vậy mà nó lại…”
“Hồi bẩm đại vương,” nội thần khẽ giọng, “theo thần được biết, điện hạ không rời phủ, là để đợi một người!”
Huệ Vương nheo mắt: “Ai?”
“Ô Hoạch!”
Ô Hoạch mới được đón vào Đông cung lúc canh ba nửa đêm.
Vì đón tiếp Ô Hoạch, toàn bộ người trong Đông cung đều không ngủ, gồm cả các cung nhân. Khi cỗ xe lớn chở Ô Hoạch chạy vào qua cổng, Doanh Đãng, Nhậm Bỉ đứng sánh vai nhau ở trên đầu, sau lưng là vài chục lực sĩ dàn hàng, tạo thành một trận thế đón khách vô cùng trang trọng.
Ô Hoạch vừa nhảy xuống xe, thấy cảnh tượng đó thì hết hồn, đứng khựng tại chỗ.
“Nghĩa đệ,” Nhậm Bỉ vẫy tay, “hãy mau lại đây, điện hạ chờ đã hơn canh giờ rồi!”
Ô Hoạch ngập ngừng chốc lát rồi bước lại, tiến tới trước mặt Doanh Đãng, vòng tay lắp bắp: “Điện…điện hạ…”
Doanh Đãng không đáp lời, cũng không đáp lễ, chỉ giương mắt nhìn trừng trừng vào Ô Hoạch, như thể đứng trước mặt mình là một loài quái vật.
Dưới ánh đuốc sáng rực như ban ngày, Doanh Đãng nhìn rõ mồn một, Ô Hoạch kia đích xác chẳng khác gì quái vật, thân cao hơn trượng, hình như toà tháp, da trắng, mũi dài, con ngươi ngả màu xanh lam, tóc vàng quạch, ngọn tóc quăn tít, cơ thể nồng nặc mùi hôi của dê cừu. Doanh Đãng đã gặp không ít người Nhung, nhưng chưa từng thấy ai giống như Ô Hoạch.
Không khí sượng sùng, Ô Hoạch có vẻ lúng túng.
“Điện hạ?” Nhậm Bỉ khẽ gọi.
Doanh Đãng lại ngắm nghía Ô Hoạch một lượt nữa, rồi chìa tay phải ra.
Ô Hoạch không hiểu Doanh Đãng muốn làm gì, bèn nhìn sang Nhậm Bỉ. Không đợi Nhậm Bỉ kịp lên tiếng, Doanh Đãng đã xoè rộng bàn tay. Ô Hoạch hiểu ra, cũng đưa tay lại, nắm lấy bàn tay Doanh Đãng.
Doanh Đãng ngấm ngầm vận lực.
Ô Hoạch luyện công từ nhỏ, mà người luyện công có một điểm thần kỳ, đó là gặp phải ngoại lực, sẽ tự khắc phát lực đối kháng. Vừa chạm vào tay Doanh Đãng, Ô Hoạch liền cảm thấy có một lực đạo dữ dội đánh tới, nên gần như phản xạ bản năng, lập tức vận lực chống lại.
Doanh Đãng sắc mặt vẫn bình thản như không, chỉ có bàn tay càng vận lực mạnh hơn, từ ba thành tăng đến năm thành, rồi đến tám thành.
Tuy nhiên, toàn bộ lực đạo Doanh Đãng vận ra, đều bị Ô Hoạch cự lại bằng nguồn lực đạo cũng mãnh liệt không kém.
Doanh Đãng âm thầm kinh ngạc, liền nghiến răng, vận ra mười thành lực đạo.
Lực đạo vẫn bị chặn đứng bởi sức mạnh hùng hậu như trước. Hai luồng lực đạo đối kháng lẫn nhau, giằng co lẫn nhau, lại thành ra cân bằng bình thản. Dù là Doanh Đãng hay Ô Hoạch, tuy đều vận lực hết cỡ, song nhìn vào nét mặt, không ai có thể phát giác, cứ ngỡ hai người chỉ đơn thuần là nắm tay nhau.
Biết được hai người đang đấu sức, chỉ có Nhậm Bỉ.
Nhậm Bỉ khẽ mỉm cười, như thể đang đứng ngắm nhìn hai đứa trẻ tinh nghịch vừa gặp mặt đã vật tay nhau thử sức.
Hai bàn tay siết chặt nhau đúng một khắc, Doanh Đãng mới chịu buông ra, rồi vòng tay: “Nghĩa đệ Doanh Đãng bái kiến Ô Hoạch huynh!”
“Nghĩa đệ?” Ô Hoạch sửng sốt, lại nhìn sang Nhậm Bỉ.
“Nghĩa đệ, hãy mau bái kiến điện hạ!” Nhậm Bỉ giục.
“Bái thế nào?” Ô Hoạch mặt mày ngơ ngác.
Doanh Đãng phá lên cười sảng khoái: “Bái như thế này!” Rồi đặt một tay lên vai Ô Hoạch, tay còn lại đặt lên vai Nhậm Bỉ, kéo hai người sánh vai bước đi, tiến vào trong cung.
Đêm đó, trong phủ Đông cung đèn đuốc sáng trưng, tiệc tùng tới sáng.
Sáng hôm sau, Doanh Đãng dẫn Ô Hoạch tới bãi luyện công, chỉ vào một cây chuỳ sắt to lớn gác trên giá binh khí bằng sắt, nói: “Ô huynh, mời thử món này!”
Ô Hoạch nhìn cây chuỳ sắt, thấy to đến nửa thước, dài hơn một trượng, cán nhỏ, đầu to, một màu đen kịt, nơi cán cầm quấn vài lớp da thú, chót cán nối với sợi dây xích, cuối dây xích có một khuyên tròn to cỡ cổ tay.
Ô Hoạch tiến lại, nhấc thử lên tay, cười nói: “Món này dùng để làm gì? Giã gạo ư?”
Nhậm Bỉ cười lớn: “Ô huynh nếu dùng nó giã gạo, e rằng chẳng có cái cối nào chịu nổi!”
“Phải, nhấc thấy không hề nhẹ!”
“Cộng thêm vòng xích, vừa đúng ba trăm ba mươi ba cân!”
“Dùng để làm gì?”
“Là điện hạ nảy ra ý lạ, nên đã chế cho nghĩa đệ cái chày giã gạo này, hãy thử dùng xem có thuận tay không?”
Ô Hoạch múa may một chốc, nói: “Sợi xích thực vướng víu quá!”
“Nghĩa đệ hãy nắm chặt vòng khuyên rồi quăng ra thử xem!”
Ô Hoạch làm theo, nắm chặt khuyên sắt, quăng cây chuỳ đi. Sợi xích kéo căng hết cỡ dài đến hơn trượng, cộng thêm chiều dài của thân chuỳ, nếu như quăng đi, trong phạm vi bốn trượng đều nằm trong vòng tấn công của cây chuỳ.
Ô Hoạch càng thử càng thấy thuận tay, chưa tới nửa canh giờ, đã có thể múa chuỳ vun vút, thu ném nhẹ tênh, trong vòng bốn trượng, không ai dám lại gần.
Ô Hoạch thu chuỳ lại, cất trở lên giá, vòng tay vái Doanh Đãng: “Tạ ơn điện hạ thưởng cho diệu khí này!”
“Ô huynh đã từng giết người chưa?” Doanh Đãng chợt hỏi.
“Chưa,” Ô Hoạch lắc đầu, “nhưng từng đập chết vài con gấu!”
“Có thể giết người?”
“Ồ…” Ô Hoạch ngần ngừ một lát, “giết ai?”
“Người Sở!”
Chiều hôm đó, Doanh Đãng vào cung từ biệt Huệ Vương để lên đường tới Thương Ư.
“Đãng Nhi,” Huệ Vương nhìn người con trai rắn rỏi vạm vỡ như toà tháp sắt, nghiêm trang dặn dò, “con tới Thương Ư, quả nhân không ngăn cản, có điều, quả nhân tặng con hai câu, con nhất định phải ghi nhớ!”
“Nhi thần cung kính lắng nghe!”
“Câu thứ nhất, là giám quân, con chỉ có thể giám sát binh tình, không được phép can dự vào việc dụng binh của chủ tướng. Câu thứ hai, không được phép tuỳ tiện điều động ba quân, bởi quyền chỉ huy ba quân, quả nhân đã giao cho chủ tướng!”
“Nhi thần tuân chỉ!”
“Đi đi, vua Tần tương lai không kinh qua chiến trận, sẽ không thể khiến người Tần phục!”
“Nhi thần tuân chỉ!” Tần, Sở đối trận, chiến trường trọng yếu là ở Ư Thành, nhất là vài chục dặm thung lũng sông Tích Thuỷ giữa vùng Đan, Tích.
Trên đất Đan, Tích, gió yên sóng lặng. Hai bên lũng sông Tích Thuỷ ở phía bắc Tích Ấp, hầu như tất cả các khe rãnh chằng chịt xa ngoài năm dặm đều có quân Sở cắm cờ dựng trại, còn trong vòng năm dặm, lại là địa bàn của người Tần.
Trung quân của Ngụy Chương cắm trại cách Tích Ấp chừng năm dặm về phía nam, tiến có thể uy hiếp Đan Dương, lui có thể dựa vào Tích Ấp. Còn xung quanh Tích Ấp, đều do người Tần trấn thủ, canh phòng nghiêm ngặt.
Quân Sở lại không tiến về Tích Ấp, mà cắm trại trong một thung lũng sông cách phía bắc Đan Dương ngoài năm dặm, hai bên thung lũng sông lúc này đều do người Sở kiểm soát.
Nhìn vào sa bàn của Ngụy Chương, tại đoạn lũng sông Tích Thuỷ giữa vùng Đan, Tích, doanh trại chính của hai quân cách nhau gần hai mươi dặm, ở giữa là lòng sông mênh mông trống trải, không có lấy một binh lính. Hai bên lũng sông, chỗ gần cắm cờ Tần, vòng quanh bên ngoài doanh trại Tần đều là cờ Sở. Nếu ví đoạn lũng sông giữa vùng Đan, Tích là một cái bao, thì quân Tần là lớp trong của bao, còn quân Sở là lớp ngoài của bao, giữa hai bên thường chỉ cách nhau một khe núi, khói bếp trộn lẫn, nói chuyện cùng nghe, hai bên sớm tối nhìn nhau, song chẳng ai xâm phạm ai cả. Tuy nhiên, ai cũng hiểu rõ, vẻ bình yên này chỉ là tạm thời, hai bên đối trận, binh sĩ lúc nào cũng nơm nớp trong lòng.
Vũ Quan về phía đông, hầu như không có xung đột.
Xung đột, bùng nổ tại ải Man Xuyên nằm ở phía tây nam Vũ Quan.
Để trấn giữ ải này, công tử Tật bố trí trọng binh năm nghìn, dựng ba tầng luỹ. Song người Tần không thể nào ngờ, người Sở lại không trực tiếp đánh vào cửa ải, mà luồn lách trong núi non hiểm trở vòng lên phía bắc ải Man Xuyên, trước tiên cắt đứt đường liên lạc giữa ải Man Xuyên với Thương Thành, Vũ Quan, dựng luỹ tại nơi hiểm trở, tiếp đến từ hướng bắc tấn công dữ dội xuống phía nam. Ải Man Xuyên chủ yếu để phòng ngự người Sở, nên thành luỹ đa phần dựng ở mặt nam, người Sở thình lình từ phía bắc đánh tập hậu, quân Tần không còn thế hiểm để dựa vào, chỉ còn biết đem thân ra liều mình kháng cự. Trong lúc người Tần đang dốc toàn lực để đối kháng với quân địch từ phía bắc, thì quân Sở ở phía nam cũng bắt đầu tấn công cửa ải. Những cánh quân Sở ẩn nấp ở hai mé đông, tây cũng ồ ạt xông tới. Người Tần bốn bề thọ địch, gắng gượng cầm cự hơn hai canh giờ, cuối cùng ít không địch nổi nhiều, gần như toàn quân tử chiến.
Ải Man Xuyên thất thủ.
Đúng vào hôm ải Man Xuyên thất thủ, Doanh Đãng dẫn theo hai người anh kết nghĩa cùng hơn trăm lực sĩ, gần nghìn thị vệ vừa hay kịp tới Thương Thành. Nghe tin bại trận, Doanh Đãng không thể ngồi yên, lập tức đòi tới Man Xuyên, giành lại cửa ải.
“Điện hạ, dứt khoát không được!” Công tử Tật kiên quyết, “việc ở Man Xuyên, là lỗi của thần, thần sẽ dốc sức thu hồi.” Dừng lại một chốc, rồi nửa như trấn an, nửa như giải thích, “điện hạ có điều không biết, ải Man Xuyên vẫn luôn là nơi tranh giành giữa Tần và Sở. Năm xưa, khi Sở Tuyên Vương tặng đất Thương cho ta, đã viết rõ trên khế ước, rằng phía nam tới ải Man Xuyên. Do ải Man Xuyên là nơi trọng yếu, nên Sở và Tần đều có ý riêng, không chịu từ bỏ. Người Sở cho rằng, cương giới phía nam của Tần chỉ tới ải Man Xuyên, nên không chịu giao ải này. Ta nhận đất của người, không tiện tranh đoạt, cho nên Man Xuyên thoạt tiên là của người Sở. Cho tới khi Tuyên Vương băng hà, ta không còn phải nể nang nữa, lấy cớ khế ước lời lẽ mơ hồ, cướp lấy ải này. Sau đó, người Sở lại cướp về. Do hai bên chỉ tranh giành ải này, lại có khế ước làm chứng cứ, vì thế nơi đây chưa bao giờ có xung đột lớn, bên này thế mạnh thì bên kia bỏ đi, chứ không đến mức tranh giành một mất một còn. Do đó, câu nói ‘sáng Tần tối Sở’, chính là xuất phát từ ải này, buổi sáng còn là đất Tần, buổi tối đã thành đất Sở. Thời gian lâu dần, thương nhân cùng dân chúng xung quanh đều đã quen, nhà nào cũng chuẩn bị sẵn cờ đen cờ đỏ, người Tần đến thì treo cờ đen, người Sở đến thì cắm cờ đỏ. Cho đến khi Thương Quân tới đây, mới không còn phải giằng co với Sở nữa. Sau khi chiếm thêm mười lăm ấp đất Ư, lại thuận thế tiến xuống phía nam chiếm luôn ải Man Xuyên. Không chỉ chiếm một ải này, Thương Quân còn mở đất về nam hơn hai mươi dặm, dựng ba lớp luỹ, điều quân trấn thủ, khiến người Sở uất đến đỏ mắt.”
Doanh Đãng nghe vậy, phá lên cười lớn: “Nếu là như vậy, bản cung sẽ không so đo với họ nữa. Chú Tật, phía Ngụy Chương, chiến sự thế nào?”
“Vẫn chưa đánh.”
“Chưa đánh thì tốt!” Doanh Đãng cười nói, “cháu còn sợ tới muộn, không kịp góp một tay!” Rồi xoa hai bàn tay lớn vào nhau, “chú Tật, việc ở ải Man Xuyên, giao hết cho chú, cháu phải đánh một giấc đã, sáng mai sẽ tới Ư Thành, đến chỗ Ngụy tướng quân góp vui một phen!”
Buổi sáng hôm sau, đám Doanh Đãng ngựa không dừng vó, thẳng tới Ư Thành, hay tin chủ tướng đang ở thung lũng sông Tích Thuỷ, thì không nghỉ lấy một chốc, lập tức theo đường lớn đi tới Tích Thuỷ, khi trời tối thì tới đại doanh trung quân.
Sớm đã có người báo tin cho Trương Nghi và Ngụy Chương. Hai người cho ba quân bày sẵn nghi trượng, ra ngoài cổng trại nghênh đón, hành đại lễ xong, cùng vào đại trại trung quân.
Ngụy Chương nhường lại chiếu chủ tướng cho Doanh Đãng.
Doanh Đãng vừa ngồi xuống, bỗng sực nhớ tới lời dặn của Huệ Vương, lại đứng bật dậy, trả chỗ cho Ngụy Chương, ngồi vào chiếu đối diện với Trương Nghi. Ngụy Chương từ chối không được, bèn ngồi vào chiếu chủ tướng, sai Mị Nhung bày tiệc tẩy trần.
“Tẩy trần thì thôi,” Doanh Đãng giơ tay ngăn Mị Nhung lại, “bản cung tới đây, chỉ muốn uống một thứ rượu, là rượu mừng công đánh bại người Sở!” Nhìn sang Ngụy Chương, “Ngụy tướng quân, Doanh Đãng tính tình nôn nóng, rất muốn nghe xem tướng quân định đánh bại người Sở bằng cách nào và vào lúc nào?”
“Hồi bẩm điện hạ,” Ngụy Chương vòng tay đáp, “chúng thần đang trù bị!”
“Từ lúc tướng quân nhận quân tới nay, nói ít cũng đã hai tháng, lẽ nào tướng quân vẫn chưa trù bị xong ư?” Doanh Đãng khẽ nhếch một nụ cười, giọng có phần khinh miệt.
Ngụy Chương hít vào một hơi, nhìn sang Trương Nghi.
Trương Nghi nhắm mắt, như thể không nghe thấy gì.
“Hồi bẩm điện hạ,” Ngụy Chương do dự một lát, giọng nói có chút ngập ngừng, “chúng thần gần như đã trù bị xong rồi!”
“Thế mới phải!” Doanh Đãng gật gù, “tướng quân hãy nói thử xem, trù bị thế nào?”
“Điện hạ xin hãy theo thần!”
Ngụy Chương dẫn Doanh Đãng tới bên sa bàn, Mị Nhung châm sáng vài ngọn đèn, mang lại một cây thước gỗ đưa cho Ngụy Chương. Ngụy Chương chỉ thước vào sa bàn, giảng giải cặn kẽ về tình hình bài binh bố trận của hai bên.
Kỳ thực, tình hình đại thể không cần Ngụy Chương giải thích, đều đã hiện rõ trên sa bàn. Nhìn vào cờ đỏ của người Sở cắm dày đặc khắp nơi, lại nhìn vào cờ đen của người Tần bị dồn vào trong thung lũng sông Tích Thuỷ, mọi thứ đều đã sáng tỏ như ban ngày.
“Từ đây tới kia bao xa?” Ngụy Chương chẳng hề bận tâm tới cả rừng cờ Sở ở hai bên thung lũng sông, mắt chỉ nhìn chằm chằm vào tiền tuyến trung quân của hai bên, phía Sở là lá cờ lớn màu đỏ thẫm, phía Tần là lá cờ lớn màu đen. Xung quanh cờ lớn của mỗi nhà là trùng trùng hàng rào, vách luỹ, cổng trại, cùng các chướng ngại vật như gai sắt, tật lê.
“Chừng hai mươi dặm.” Ngụy Chương đáp.
“Xin hỏi chủ tướng,” Doanh Đãng biến ngay sắc mặt, “Doanh Đãng không hiểu chiến trận, song cũng đọc qua không ít binh thư. Tự cổ chí kim, Doanh Đãng chưa từng nghe thấy chuyện hai quân giao chiến mà doanh trại hai bên lại cách nhau những hai mươi dặm! Tướng quân có từng nghe nói?”
“Thần chưa từng nghe nói.” Ngụy Chương bỗng thấy ớn lạnh trong lòng. Trước một điện hạ ngựa non háu đá, hắn không thể nói ra mưu kế lâu dài của mình và Trương Nghi. Vả lại, dù có nói ra, cũng chỉ chuốc thêm phiền toái.
“Chưa từng nghe nói, cớ sao lại bố trận thế này?” Doanh Đãng càng sầm mặt xuống.
Ngụy Chương ngần ngừ một lát mới đáp: “Hai bên giao tranh, phải tuỳ theo thế địch. Thần bố trận thế này, là nhân theo tình thế của quân Sở…”
"Tướng quân nói xem, tình thế quân Sở thế nào?”
“Điện hạ hãy xem,” Ngụy Chương chỉ thước gỗ vào những lá cờ nhỏ màu đỏ thẫm rải rác khắp nơi, còn ghi chú rõ tướng lĩnh và số quân, “tại sơn cốc Thương Ư, người Sở tổng cộng xuất hai mươi sáu vạn binh, còn ta chỉ có mười ba vạn, người Sở đông gấp đôi ta. Thương Ư đông tây sáu trăm dặm, trong khoảng đó muôn núi nghìn khe, rừng rậm um tùm, nếu người Sở chia quân rải rác trong khe núi, ta sẽ không đề phòng cho xuể. Sách lược hiện tại, thần và tướng quốc đã bàn bạc kỹ lưỡng, mới quyết định phương kế từ bỏ núi rừng, trấn thủ nơi trọng yếu, lấy tĩnh chế động…”
“Được rồi, được rồi,” Doanh Đãng xua tay, nhìn thẳng vào Ngụy Chương, “bản cung muốn hỏi, các vị tĩnh hai tháng rồi, người Sở đã động chưa?”
“Hiện tại thì chưa.”
“Bản cung tạm hỏi tướng quân, nếu người Sở cũng suy nghĩ giống như tướng quân, lấy tĩnh chế động thì sao?”
“Thần…” Ngụy Chương lời đã lên đến miệng, lại đành nuốt trở xuống.
Phải, nhìn vào tình thế trước mắt mà suy đoán, có lẽ thái tử nói đúng, Khuất Cái quả thực cũng dùng phương sách tương tự.
“Người Sở chiếm ải Man Xuyên, tướng quân hẳn đã biết chuyện?” Doanh Đãng nhìn xoáy vào Ngụy Chương.
“Thần vừa nhận tin báo, đang cùng tướng quốc bàn cách ứng phó, hay tin điện hạ giá đáo, nên…”
“Đã bàn xong chưa?” Doanh Đãng ánh mắt như đuốc, cắt ngang lời Ngụy Chương.
“Vẫn chưa.”
“Nước tới đất cản, binh tới tướng ngăn, đây chẳng phải là đạo lý xưa nay?” Doanh Đãng truy hỏi.
“Phải, điện hạ.”
“Nghe nói trận Tích Thuỷ lần trước, chiến trường hình như cũng ở thung lũng này!” Doanh Đãng nhìn vào sa bàn, “tướng quân có thể chỉ giáo đôi chút, cụ thể là ở nơi nào?”
“Chỗ này.” Ngụy Chương chỉ cây thước vào chỗ giao nhau giữa thung lũng sông Tích Thuỷ và dòng sông nhỏ không tên, chính là chiến trường lần trước.
Nơi này, vừa hay nằm giữa Tích Ấp và Đan Dương.
“Xin hỏi tướng quân,” Doanh Đãng nhìn vào thung lũng sông, “trận chiến lần trước, quân Sở có bao nhiêu?”
“Sáu vạn.”
“Còn dưới trướng tướng quân có bao nhiêu?”
“Hai vạn.”
“Lần trước giao chiến, tướng quân dùng hai vạn chọi với sáu vạn, mà lại có thể tấn công trực diện, không lùi một bước, cuối cùng đại thắng. Lần này giao chiến, tướng quân dùng mười ba vạn chọi với hai mươi sáu vạn, lại rụt rè co cụm, hoà hoãn với địch ở cách xa ngoài hai mươi dặm, Doanh Đãng ngu độn, không hiểu nổi cao mưu của tướng quân, xin tướng quân chỉ giáo!” Doanh Đãng giọng đầy châm chọc. Trước một điện hạ đã không hiểu việc binh lại khăng khăng cố chấp nhường này, Ngụy Chương dù có trăm cái miệng cũng không thể giải thích rõ, vừa khó xử lại vừa bất lực: “Thần…không phải hoà hoãn với người Sở, mà là…”
“Ngụy Chương tướng quân,” Doanh Đãng đưa tay giật lấy thước gỗ, chỉ vào phía Thương Ư, “bản cung chưa từng kinh qua chiến trận, song đã đọc qua không ít binh thư, hiểu lẽ nặng nhẹ chậm gấp. Ở đây, người Sở đã được ải Man Xuyên, vả lại Thương Thành, Vũ Quan đều đã ở trước mũi tiên phong của quân Sở. Bản cung đã gặp chú Tật, tại ải Man Xuyên, chú Tật đã đặt trọng binh trấn thủ, song vẫn không thể chặn được người Sở. Giả sử người Sở lại giở âm mưu tại đây, bày một mũi dương công đánh với tướng quân, còn quân chủ lực từ ải Man Xuyên công chiếm Thương Thành của ta, rồi lại từ ải Kinh Tử công chiếm Ư Thành, trong khi chủ lực quân ta bị vây khốn ở đây, không kịp quay về chi viện, đường lui lại bị cắt đứt, tướng quân hẳn đã từng nghĩ tới hậu quả?”
“Thần…đã nghĩ tới.”
“Đã nghĩ tới, hẳn có cách ứng phó?”
“Ồ…” Ngụy Chương ngập ngừng một lát, nhìn sang Doanh Đãng, “theo ý điện hạ, nên ứng phó thế nào?”
“Hạ chiến thư, lập tức quyết chiến với Sở!” Doanh Đãng chọc ngay đầu thước vào Đan Dương, “ở đây!” Siết chặt tay quyền, lại tiếp, “trước tiên đánh tan kẻ địch trước mắt, đoạt lấy Đan Dương, tiếp đến từ Đan Dương tiến vào Hán Thuỷ, đánh bọc sườn người Sở từ sau lưng, đoạt lại ải Man Xuyên!”
“Điện hạ?” Ngụy Chương cuống lên, “đây chính là điều người Sở đang chờ đợi!” Dừng lại một thoáng, cố gắng lấy giọng điềm tĩnh mà nói tiếp, “điện hạ, trận chiến này không chỉ liên quan tới Thương Ư, mà còn liên quan tới vận mệnh của Đại Tần, thần không dám có một mảy may sơ suất!”
“Tướng quân bố trận thế này thì lấy đâu ra sơ suất!” Doanh Đãng hừ mũi một tiếng.
Ngụy Chương lại thấy ớn lạnh trong lòng, bởi lẽ người vừa bật ra tiếng này, chính là Tần Vương tương lai!
“Bộp bộp bộp”, bên cạnh chợt vang lên ba tiếng vỗ tay không nhanh không chậm.
Là Trương Nghi.
Ngay sau đó, Trương Nghi bước lại gần.
“Ngụy tướng quân,” Trương Nghi nhìn sang Ngụy Chương, “điện hạ từ Hàm Dương tới, là thay mặt cho đại vương, đứng cao, nhìn xa, quyết sách anh minh, chúng ta cũng nên quyết tử một phen với người Sở!”
Thấy Trương Nghi nói ra lời này, Ngụy Chương càng thêm hoang mang, cứ đứng sững sờ nhìn Trương Nghi một hồi, mới quay sang Doanh Đãng: “Thần kính cẩn nghe theo điện hạ, lập tức trù bị việc quyết chiến với Sở!”
“Báo!” Ngụy Nhiễm bước vào, trông thấy Doanh Đãng, vội vòng tay thi lễ, “mạt tướng Ngụy Nhiễm bái kiến điện hạ!”
Doanh Đãng xua tay, coi như đáp lễ. “Bẩm chủ tướng, doanh trại của điện hạ cùng các tướng tuỳ tùng đã dựng xong, cơm canh cũng đã sẵn sàng!”
“Điện hạ?” Ngụy Chương nhìn sang Doanh Đãng.
“Các vị cứ việc trù bị, bản cung nghỉ ngơi cái đã, việc vặt ngày mai bàn sau.” Doanh Đãng nói xong, quay người đi luôn.
Ngụy Chương, Trương Nghi cung kính tiễn Doanh Đãng tới tận trước trại của hắn mới quay trở lại.
“Tướng quốc?” Ngụy Chương nhìn sang Trương Nghi, một bụng ngờ vực.
“Nhìn thấy chưa?” Trương Nghi nhìn thẳng vào Ngụy Chương, “điện hạ đằng đằng sát khí, lần này tới đây, không phải để giám quân, mà là muốn xung trận sát phạt, thấy trận ta và trận Sở cách nhau những hơn hai mươi dặm, mới lấy đó làm khó chịu.”
“Thế càng không được!” Ngụy Chương lo lắng, “điện hạ xung trận sát phạt, ngộ nhỡ có gì sơ sảy, ta…gánh vác không nổi!”
“Gánh không nổi cũng phải gánh!” Trương Nghi khẽ nhún vai, “người ta là vua, chúng ta là tôi, vua muốn liều chết, thì bề tôi còn có cách nào?”
“Tướng quốc?”
“Nhìn thấy chưa, thân hình lực lưỡng của điện hạ,” Trương Nghi giọng đầy tự tin, “nghe nói trong ba quân, phàm ai có chút sức khoẻ đều tới Đông cung đầu quân cho điện hạ, người Sở muốn sát hại điện hạ, e rằng cũng không phải dễ!”
“Ý tướng quốc là, giống như lần trước, ta vẫn bày trận đối đầu với Sở!”
“Tướng quân đã nghe nói đến chiến pháp Xuân Thu?” Trương Nghi cười hỏi.
“Chiến pháp Xuân Thu?” Ngụy Chương ngẫm nghĩ một hồi lâu, mới chợt bừng tỉnh, “tại hạ hiểu rồi, trước lễ sau binh.”
Trương Nghi phá lên cười lớn, rồi nhìn xoáy vào Ngụy Chương: “Thú vị đấy. Tướng quân hãy nói thử xem, trước lễ sau binh là như thế nào?”
“Trước tiên hạ chiến thư với người Sở, hẹn rõ thời gian giao chiến, sau đó, bày nghiêm trận ở biên giới Tần Sở, chờ quân Sở bày trận xong xuôi, ta sẽ dùng lễ giao binh, trách mắng họ tội xâm phạm bờ cõi. Lần này là Sở phạm ta, hẳn sẽ khiêu chiến với ta. Ta sẽ xem tướng địch mạnh yếu thế nào, hoặc giả có thể để điện hạ phô bày thân thủ. Nếu điện hạ đánh thắng, là chuyện đáng mừng. Còn nếu không địch lại…”
“Tướng quân sẽ làm thế nào để điện hạ phô bày thân thủ?”
“Ồ…” Ngụy Chương vò đầu bứt tóc.
“Phải động cái này, để điện hạ tự thử sức mình!” Trương Nghi chỉ vào đầu mình.
Nhận được chiến thư của người Tần, Khuất Cái lấy làm mừng rỡ. Suy nghĩ đầu tiên của Khuất Cái là, chiến thuật “dây dưa” của mình đã hiệu nghiệm. Thu phục được ải Man Xuyên, quân Sở luồn lách trong rừng núi, tấn công, khuấy đảo, quấy nhiễu khắp bốn phía, quân tiên phong áp sát Thương Thành và Vũ Quan, hẳn là Ngụy Chương không dám dây dưa thêm nữa, buộc phải tính chuyện quyết chiến.
Kỳ thực, cứ giằng co mãi thế này, Khuất Cái cũng phải chịu sức ép nặng nề. Chưa kể Hoài Vương tính nóng như lửa, hầu như hôm nào cũng thúc bách tấu báo về chiến sự, chỉ riêng chuyện lương thảo, cũng đủ khiến Khuất Cái lao tâm khổ tứ. Trận lũ lụt sau mùa thu vừa rồi quá ư khủng khiếp, lương thực dự trữ tổn thất nghiêm trọng, rất nhiều kho quân lương bị ngập nước, thóc gạo mốc meo, nấu lên khó ngửi khó ăn vô cùng. Khuất Cái cũng hiểu, dù là thóc gạo mốc meo, e là cũng không cầm cự được bao lâu nữa. Mùa đông không phải là mùa đánh bắt cá, song sông hồ đầm trạch nước Sở chỗ nào cũng thấy ngư thuyền cùng lưới đó, ven sông, bến nước, rừng núi, ao chuôm, đâu đâu cũng thấy bóng người lố nhố. Gặp năm thiên tai, núi rừng và sông nước bỗng chốc trở thành kho báu nuôi sống cho người Sở.
Tuy nhiên, người Tần càng cầu chiến, Khuất Cái càng thận trọng.
Những lời của Điền Kỵ vào buổi tối hôm đó lại như văng vẳng bên tai: “Nếu như Tôn Tử ở đây, chắc chắn sẽ khuyên tướng quân chớ nên tuỳ tiện khai chiến! Tướng quân chớ nên liều lĩnh nóng vội, cần phải đánh đâu chắc đấy…Khi đó, người Tần sốt ruột, lại không thể rút quân, nên hoặc là nôn nóng tiến công, hoặc là để lộ sơ hở. Người Tần nếu tấn công, tướng quân sẽ được địa lợi. Người Tần nếu lộ sơ hở, tướng quân chỉ cần nhắm trúng, có thể một đòn thủ thắng.”
Phải, chỉ cần người Tần nôn nóng giao chiến, ta sẽ có được địa lợi. Trận chiến Tích Thuỷ, Cảnh Thuý tấn công thất bại, có một nguyên nhân quan trọng là không được địa lợi. Lần này giao chiến, chỉ cần chọn được địa thế thuận lợi, bày sẵn thế trận, dụ người Tần tấn công trước. Nếu người Tần không tấn công, ta vẫn sẽ giằng co với họ, vẫn sẽ khiến họ tiếp tục hao tài tổn lực. Nếu người Tần tấn công, ta sẽ toàn lực phòng ngự, bẻ chùn nhuệ khí của họ, sau đó quân ẩn nấp trên núi sẽ bủa xuống tứ bề, công chiếm Tích Ấp, cắt đứt đường lui, vây khốn người Tần trong vùng sơn cốc rộng lớn giữa Đan Dương, Tích Ấp. Lúc đó, người Tần muốn lui không được, muốn tiến không xong, lương thảo mang theo rồi sẽ cạn kiệt, xem có bắt sống được Ngụy Chương kia không?
Khuất Cái suy tính ổn thoả rồi, bèn triệu tập tướng lĩnh các bộ, trước tiên tuyên đọc tin báo tiệp của quân Sở từ các ngả truyền về, nhất là tin từ ải Man Xuyên, sau đó giơ cao chiến thư của Ngụy Chương: “Chư vị tướng quân, người Tần đã nhịn không nổi, hôm nay hạ chiến thư rồi!”
Chư tướng lại càng không thể nhẫn nhịn thêm. Thấy quân Sở các ngả đều có tiệp báo gửi về, đặc biệt là đại thắng Man Xuyên, tiêu diệt toàn bộ năm nghìn quân trấn ải, ai nấy đều phấn chấn sục sôi, đua nhau thỉnh chiến. “Chư vị tướng quân,” Khuất Cái ánh mắt nghiêm nghị nhìn khắp lượt chư tướng, dõng dạc lên tiếng, “người Tần án binh bất động, giằng co với ta đã hai tháng qua, nay thình lình cầu chiến, là bởi ải Man Xuyên đã rơi vào tay tả quân ta. Bản tướng đã lệnh cho tả quân dốc toàn lực để tập kích, quấy nhiễu, khuấy đảo trên khắp một dải đường sơn cốc từ phía đông Nghiêu Quan cho tới Vũ Quan, cắt đứt được thì cắt đứt, không cắt đứt được thì phá rối. Các ấp xung quanh Thương Thành đều là đồi núi, ta trong chỗ tối, Tần ngoài chỗ sáng, ta người đông, Tần quân ít. Chỉ cần ta không tấn công chỗ mạnh, chỉ cần ta cắt đứt giao thông, người Tần sẽ không dám vọng động, hậu phương sẽ không được yên thân. Người Tần đêm không an giấc, lương thảo từ Quan Trung không thể chuyển vào, binh tướng tiền phương đương nhiên sẽ lo âu thấp thỏm. Kẻ địch tâm trí bất an, ắt sẽ hoảng loạn. Kẻ địch hoảng loạn, ta sẽ có được thời cơ. Chư vị đã rõ chưa?”
“Đã rõ!” Chúng tướng đồng thanh đáp.
“Tại sơn cốc Thương Ư, người Tần có tổng cộng mười ba vạn quân, trong đó năm vạn chia ra trấn thủ các trọng ải xung quanh Thương Thành, gồm cả Vũ Quan. Tại Ư Thành, người Tần có tổng cộng tám vạn quân, trừ đi quân trấn thủ các trọng ải, thì số quân mà ta thực sự phải đối đầu ở Tích Thuỷ, chẳng qua chỉ năm vạn mà thôi.” Khuất Cái quay sang chư tướng, “có điều, chớ nên coi thường năm vạn lính Tần ấy, ai ai cũng là nhuệ binh thiện chiến, trận Tích Thuỷ lần trước, Ngụy Chương chỉ dùng hai vạn…” Dừng lại nửa chừng. Chư tướng đưa mắt nhìn nhau. Những tướng lĩnh chưa trải qua trận chiến Tích Thuỷ, sắc mặt đều lộ vẻ khinh thường.
“Khuất tướng quân,” Phùng Hầu Sửu đấm mạnh xuống án, “trước đây là trước đây, hiện tại là hiện tại. Nói đi, ta nên đánh thế nào?”
“Chư vị tướng quân, nghe lệnh!” Khuất Cái lại nghiêm nghị đưa mắt nhìn khắp lượt chúng tướng.
Chúng tướng đồng thanh: “Mạt tướng nghe lệnh!”
“Xạ Cao Quân,” Khuất Cái cắm lên một lệnh, nhìn sang Xạ Cao Quân và chư tướng hữu quân, “lương thảo của người Tần hầu hết đều trữ ở Tích Ấp. Tướng quân hãy dẫn theo năm vạn hữu quân, mai phục trong các khe sông hẻm núi xung quanh thung lũng sông Tích Thuỷ. Tướng quân hãy ghi nhớ kỹ, địch động, ta động; địch không động, ta cũng không động. Chừng nào kẻ địch trên chiến trường chính còn chưa tấn công, thì tướng quân cũng nhất thiết không được vọng động. Khi kẻ địch trên chiến trường chính tấn công ta, tướng quân hãy toàn tuyến xuất kích, bằng mọi giá phải chiếm lấy Tích Ấp, cắt đứt đường lương thảo của người Tần, phong toả thung lũng sông Tích Thuỷ, dựng luỹ sẵn sàng, chỉ phòng thủ không tấn công, chặn đứng đường lui của địch, vây khốn người Tần giữa khoảng Tích Thuỷ và Đan Dương, khiến họ chỉ còn cách uống nước sông qua bữa!”
“Mạt tướng tuân lệnh!” Xạ Cao Quân nhận tướng lệnh, dõng dạc đáp lời. “Còn Kỳ tướng quân,” Khuất Cái nhìn sang lão tướng Kỳ Thắng trấn thủ ải Kinh Tử, “hay tin Ngụy Chương bị bao vây, quân địch ở Ư Thành chắc chắn sẽ tới chi viện, Kỳ tướng quân có thể dẫn binh mã bản bộ toàn lực công chiếm Ư Thành, chặn đứng kẻ địch ở Vũ Quan!”
“Mạt tướng tuân lệnh!” Kỳ Thắng đáp lời, nhận lấy tướng lệnh.
“Chư tướng trung quân!” Khuất Cái nhìn sang Phùng Hầu Sửu và vài viên tướng khác, lại phát lệnh bài, “chư vị hãy theo bản tướng, ba ngày sau bài binh bố trận ngoài thành Đan Dương, nghênh chiến người Tần.”
Chư tướng trung quân nhận lấy tướng lệnh, ai nấy ý khí sục sôi.
Thư ứng chiến của Khuất Cái đã tới, không đồng ý giao chiến tại nơi Ngụy Chương đã hẹn, nói rằng sẽ bày trận trước doanh trại Sở, cung nghênh quân Tần.
Ngụy Chương, Trương Nghi, Doanh Đãng tới trước sa bàn, nhìn vào đại doanh của nước Sở ngoài thành Đan Dương, cùng nơi Khuất Cái định bày trận.
Nơi đó, gần như là tuyệt địa.
Thành Đan Dương nằm ở nơi hợp lưu của hai con sông, phía nam là Đan Thuỷ, phía đông là Tích Thuỷ. Giờ đã sang đông, dòng Tích Thuỷ thu hẹp lại nhiều, bắt đầu đóng băng, song chưa đông cứng hoàn toàn. Trong tiết trời lạnh giá thế này, lội nước là gần như không thể, bởi giày dép, quần áo mà ướt nước, gió lạnh thổi qua, sẽ rét cóng không còn đánh trận nổi nữa. Người Sở bày trận ở đây, có vẻ như đã nắm chắc phần thắng. Với người Sở, lưng tựa Đan Dương, tiến có thể tấn công, lui có thể phòng ngự; đối với người Tần, lại nguy hiểm khôn lường, thứ nhất, phải lội qua Tích Thuỷ; thứ hai, cách xa Tích Ấp, nếu bị người Sở cắt đứt đường lui, hậu quả khó lòng tưởng tượng.
Ngụy Chương, Trương Nghi đều hiểu rõ, trận chiến này, không thể đánh được. Song Doanh Đãng lại lấy làm phấn chấn, chỉ vào vùng đất trống rộng lớn đó mà khen ngợi: “Hay lắm, hay lắm, có thể sát phạt một trận sảng khoái được rồi!”
“Điện hạ?” Ngụy Chương lo lắng.
“Đừng nhiều lời, khai chiến đi!” Doanh Đãng dứt khoát ra lệnh, rồi quay người đi luôn.
Ngụy Chương, Trương Nghi đưa mắt nhìn nhau, đều sững sờ kinh ngạc.
Hồi lâu sau, Trương Nghi mới nhún vai, cười nhăn nhó: “Ngụy huynh, ứng chiến thôi.”
“Đánh thì đánh!” Ngụy Chương nghiến răng, nhìn thẳng vào Trương Nghi, “tướng quốc đại nhân, hãy dẫn Ngụy Nhiễm tới Ư Thành, một là để đề phòng người Sở đánh lén, hai nữa để tiện bề tiếp ứng lẫn nhau.”
“Cũng được.” Trương Nghi lại cười nhăn nhó, “tại hạ ở đây, quả thực cũng bất tiện!”
Ngay ngày hôm ấy, Trương Nghi dẫn Ngụy Nhiễm quay về Ư Thành, một mặt sai người gấp rút bẩm báo lên Huệ Vương, mặt khác tập trung binh lực, chuẩn bị cho việc phòng ngự và cứu viện.
Hai ngày sau, trời trở lạnh thình lình, tuyết lớn bắt đầu rơi từ đêm trước, tới tận tảng sáng mới ngớt. Tuyết tạnh trời quang, mặt đất trắng xoá một màu, cả dòng Tích Thuỷ đều đã đóng thành băng cứng.
Đến ngày thứ ba, quân Tần nhổ trại, rầm rộ theo đường cái tiến xuống phía nam, băng qua Tích Thuỷ, hạ trại cách doanh trại Sở chừng sáu dặm.
Sang ngày thứ tư, cũng chính là ngày giao chiến đã ước định, trời vừa hửng sáng, hai bên đã cùng rúc tù và, bắt đầu bố trận.
Người Sở bày trận trước, xuất sáu vạn nhuệ binh, bày ra trận trăng khuyết, hình thù vừa giống câu liêm, lại vừa giống trăng non, ở giữa lõm xuống thành một đường cong, hai cánh vươn dài, vây lại, mở rộng đến bốn dặm, đoạn chính giữa dày khoảng ba dặm. Để đề phòng bất trắc, Khuất Cái còn bố trí hai cánh phục binh mỗi bên một vạn, nấp sau hai dãy núi phía đông, tây. Trong thành Đan Dương sau lưng, Khuất Cái cũng sắp xếp một vạn nhuệ binh, nếu như khai chiến, cũng lập tức xông lên trợ trận. Như vậy, người Sở đã điều động tổng cộng chín vạn quân, lại có được địa lợi về chiến trường.
Trận hình Khuất Cái bày ra, thoạt trông giống như trận phòng ngự, song thực chất lại chứa đầy sát cơ. Nếu người Tần xung trận, hai cánh bên ngoài sẽ lập tức quây lại, vây kín người Tần vào giữa. Lúc đó, có quân Sở ở vòng ngoài tiếp ứng, quân Sở ở sau lưng cắt đứt đường lui, phía trước lại là thành ấp của người Sở, người Tần sẽ sa vào tuyệt lộ, tiến lui đều không còn lối thoát.
Ngụy Chương nghe được tin thám báo, bất giác rùng mình ớn lạnh.
Tuy nhiên, việc đã tới nước này, Ngụy Chương cũng không còn đường lui nữa.
Sau khi suy tính kỹ lưỡng, Ngụy Chương lệnh cho lính Tần uống hết toàn bộ số rượu mang theo, rồi đập chum vò, quăng chén bát, bày ra thế trận chim ưng xuất kích, hình thù giống như chim ưng săn mồi đang dang rộng cánh, chuẩn bị bổ xuống. Phía trước trận Tần không bố trí bất kỳ công cụ phòng ngự nào như rào cản ngựa, nỏ liên châu, vừa nhìn đã thấy rõ khí thế tấn công quyết tử.
Toàn bộ quân Tần đều hiểu rõ, hôm nay, có lẽ là ngày cuối cùng của họ.
Song Ngụy Chương lại không muốn quyết tử.
Không phải Ngụy Chương sợ chết, mà là hắn không muốn chết thế này, chết trong một tuyệt địa thế này. Quan trọng hơn nữa, là thái tử. Nếu chẳng may thái tử tử chiến tại đây, Ngụy Chương cũng không còn đường sống.
Hiện tại, đối với Ngụy Chương, cơ hội duy nhất là bày ra thế trận tấn công để trấn áp khí thế của người Sở, tiếp đến dựa theo chiến pháp Xuân Thu để cho điện hạ sảng khoái một phen, sau đó thu quân theo lễ, rút khỏi Tích Ấp trước khi trời tối, tống tiễn thái tử quay về Ư Thành, rồi sẽ tìm cơ hội khác để quyết chiến với người Sở. Đến khi hai bên đều đã dàn trận sẵn sàng, Ngụy Chương, Khuất Cái cùng leo lên đài cao quan sát, theo dõi đồng hồ.
Thời gian giao hẹn trong chiến thư là giờ Mão. Lúc này, trời trong mây tạnh, gió lạnh vi vút, tuyết đọng trên trận địa hai bên bị binh mã giày xéo đã hoá thành bùn lầy, chỉ còn khoảng đất trống giữa hai trận quân, rộng chừng ba tầm tên bắn, vẫn được phủ kín một lớp tuyết trắng tinh đã đông cứng lại sau một đêm lạnh giá, chính là nơi sắp sửa biến thành trung tâm của chiến trường.
Giờ Mão đã tới.
Chủ tướng Tần Ngụy Chương đánh xe lên trước trận, chạy tới giữa bãi đất trống. Khuất Cái cũng đánh xe lên nghênh đón.
Hai vị chủ tướng cùng hành lễ, qua lại dăm ba câu khách sáo, lại trách mắng nhau vài câu theo đúng nghi lễ. Sau đó thách chiến, giao hẹn cách đấu trận, mỗi bên cử ra một viên mãnh tướng, giao đấu cùng nhau, bên thua có thể thay người đấu tiếp, cho tới khi định rõ thắng bại.
Giao hẹn xong rồi, hai bên lại đánh xe về trận. Là bên gửi chiến thư, Ngụy Chương cho tướng tiên phong Phù Dũng xung trận trước để khiêu chiến. Từ trong trận quân Sở cũng có một viên tướng xông lên, là mãnh tướng tiên phong Hạng Trạch.
Hai bên cùng báo danh tính, thi lễ xong xuôi, rồi trong tiếng trống thúc dập dồn, cùng đánh xe xáp lại, giao chiến kịch liệt. Hai bên ngang sức ngang tài, đấu liền sáu hiệp, Phù Dũng dần dần lép vế, tới hiệp thứ bảy thì bị Hạng Trạch đâm trúng cánh tay, vội vã quay xe về trận.
Quân Sở hò reo ầm ĩ.
Hạng Trạch vung cao trường thương, ra oai khiêu chiến.
Ngụy Chương nheo mắt, nhìn sang Doanh Đãng.
Hiển nhiên, cuộc khiêu chiến vừa rồi, là cố ý diễn cho Doanh Đãng xem.
Doanh Đãng đứng trên mặt tuyết, bên trái là Nhậm Bỉ, bên phải là Ô Hoạch, phía sau là chiến xa của ba người họ.
Tướng Tần trận đầu thất bại, Ngụy Chương lại cử một viên tướng khác xung trận, lại bại trận quay về.
Hạng Trạch thắng liền hai trận, quân Sở hoan hô dậy đất, trong trận quân Tần, chư tướng máu huyết sục sôi, đua nhau thỉnh chiến.
Ngụy Chương như không nghe thấy, khoé mắt lại liếc sang Doanh Đãng.
Lúc này, Doanh Đãng xung trận là an toàn nhất. Theo như giao ước trong chiến thư, hai bên đấu trận, mỗi lần chỉ được một tướng xuất chiến. Nếu một đối một, Ngụy Chương hiểu rõ, phía Sở không ai là đối thủ của Doanh Đãng. Doanh Đãng nếu như xung trận lúc này, thứ nhất có thể triển lộ uy phong, gây dựng thanh thế, thứ hai sẽ tăng sĩ khí cho quân Tần, làm nhụt bớt khí thế của người Sở. Đến khi đó, Ngụy Chương sẽ thấy đủ là dừng, khua chiêng thu quân, coi như đã ứng phó xong với vị thái tử ương ngạnh. Nhưng Doanh Đãng vẫn nhìn mà như không thấy, Ngụy Chương thoáng ngẫm nghĩ, rồi lại chọn ra một người từ trong đám đông tướng lĩnh cầu chiến đang sôi máu. Lần này càng thảm hại hơn, có lẽ Hạng Trạch thắng trận liên tiếp nên càng đánh càng hăng, có lẽ tướng Tần đã âm thầm kinh sợ trong lòng, nên hai bên vừa giao chiến hiệp đầu, Hạng Trạch đã gạt tướng Tần ngã xuống khỏi chiến xa, đâm chết tại chỗ. Trong tiếng hò reo như sấm của người Sở, lính đánh xe của bại tướng luống cuống nhảy xuống, kéo tướng Tần tử chiến lên xe, hấp tấp quay ngựa về trận.
“Còn ai thách đấu?” Hạng Trạch thắng liền ba trận, khí thế ngùn ngụt, đứng trên chiến xa, giọng như chuông đổ.
Bên trận quân Tần, chư tướng đưa mắt nhìn nhau.
Ngụy Chương không điểm tướng, lại nhìn sang Doanh Đãng.
Doanh Đãng coi như không thấy, lại càng không đếm xỉa tới lời khiêu chiến của tướng Sở, mà lùi lại một bước, nhìn sang Ô Hoạch, Nhậm Bỉ, chỉ vào Khuất Cái đang đứng giữa trận Sở, khẽ giọng hỏi: “Nhậm huynh, Ô huynh, đã nhìn rõ người Sở kia chứ? Hắn chính là chủ tướng quân Sở, Khuất Cái!”
Hai người gật đầu.
“Đãng đã quan sát thế trận,” Doanh Đãng chỉ về cổng bắc của thành Đan Dương phía xa xa, “người Sở dựa lưng vào thành trì này, cổng thành mở sẵn. Trận chiến hôm nay, muốn sát phạt một phen sảng khoái, phải chặn cổng thành kia lại, để quân Sở không còn đường lui. Đãng xuất chiến trước, chờ giết xong tên kia, sẽ lập tức xông thẳng về trước, hai huynh khi đó hãy dẫn các dũng sĩ xông lên. Chúng ta chia quân ba ngả, Đãng ở giữa, Nhậm huynh bên trái, Ô huynh bên phải, thẳng tiến tới cổng thành, cắt đứt đường lui của người Sở. Những việc còn lại, cứ giao hết cho họ Ngụy kia!”
“Làm thế không được!” Nhậm Bỉ vội can.
“Ồ?” Doanh Đãng ngạc nhiên nhìn sang.
“Điện hạ,” Nhậm Bỉ liếc về phía Hạng Trạch, đổi giọng mà nói, “giết tướng Sở kia, không cần điện hạ phải nhúng tay!”
“Huynh thì không được!” Doanh Đãng khẽ nói, “Đãng muốn sau khi giết tướng Sở kia, lập tức phá trận của người Sở, Nhậm huynh thì không thể làm thế.”
“Vì sao kia?”
“Không theo quân lệnh, là tội chém đầu.”
“Làm vậy quá nguy hiểm!” Nhậm Bỉ thất kinh.
“Ra sa trường, không nguy hiểm, còn gì thú vị?”
“Nếu vậy, tại hạ xin đi cùng thái tử!”
“Hai huynh ai biết đánh xe?” Doanh Đãng hỏi.
Nhậm Bỉ, Ô Hoạch cùng gật đầu.
Doanh Đãng nhìn sang Ô Hoạch, ánh mắt dừng lại trên cây chuỳ: “Ô huynh, lại đây!”
Ô Hoạch lại gật đầu.
“Tiệc rượu mừng công đêm nay, trong ba người chúng ta, ai lấy được đầu Khuất Cái sẽ được chén đầu!” Doanh Đãng lại chỉ vào Khuất Cái đang đứng trên chiến xa giữa trận đối phương.
Hai người lại gật đầu.
Doanh Đãng bàn bạc xong xuôi, thấy Ngụy Chương vẫn chưa điểm tướng, thì cười nhạt một tiếng, tung mình nhảy lên xe chiến, đội mũ trụ, mang găng tay, xua lính đánh xe xuống.
Ô Hoạch lập tức thế chỗ, gác dọc cây chuỳ trong xe, rồi vung roi thúc ngựa, lao ra khỏi trận.
Doanh Đãng tay cầm trường thang, oai phong lẫm liệt đứng trên chiến xa. Cây thang nặng đến ba trăm cân, to ngang bắp tay, dài đến hai trượng, toàn thân sáng bóng, ruột là thép đặc, đầu thang rèn ba mũi, mũi giữa là xà mâu, hai bên là sừng rồng, hình như răng cưa, được hắn gọi là long đầu đoạn hồn thang.
Trong số các tướng quân Tần, có người nhận ra thái tử, thì kinh ngạc kêu lên: “Cha mẹ ôi, là điện hạ!”
Ngụy Chương sớm đã liếc thấy Ô Hoạch cùng binh khí mang theo, lại thở phào một tiếng, truyền lệnh: “Thúc trống!”
Từ trong trận quân Tần, tiếng trống vang lên dồn dập.
“Tướng tới là ai?” Hạng Trạch rõ ràng đã bị áp đảo trước khí thế của Doanh Đãng, vung tay quát hỏi, song giọng nói không còn hùng hồn như trước.
“Ngươi không xứng để hỏi, xem thang!” Chiến xa của Doanh Đãng vùn vụt lao thẳng tới. Hạng Trạch định thần, liền giương thương nghênh đón. Hai xe giao nhau, Doanh Đãng giơ thang, đâm thẳng vào Hạng Trạch. Hạng Trạch chưa biết nông sâu, vung thương toan gạt mũi thang đi, ngờ đâu không gạt nổi một ly, mũi thang vẫn đâm thẳng tới, xuyên vào cơ thể, xung lực khủng khiếp hất văng Hạng Trạch đi, bay xa đến vài trượng, đứt làm hai đoạn rơi xuống, máu phun nhuộm đỏ một vùng tuyết trắng.
Tất cả, chỉ diễn ra trong nháy mắt, Hạng Trạch đến một tiếng rú cũng không kịp thốt ra.
Vào lúc hết thảy người Sở vẫn đang bàng hoàng kinh hãi, chiến xa của Doanh Đãng không những không dừng lại, mà vẫn tiếp tục lao đi như bay, xông vào trận Sở, tiến thẳng tới chỗ Khuất Cái.
Cùng lúc đó, chiến xa của Nhậm Bỉ cũng từ trong trận Tần xông ra, cuốn theo bụi tuyết tung mù. Rầm rập theo sau là hai chục cỗ xe chiến, xe nào cũng chở đầy đám lực sĩ thuộc hạ của Doanh Đãng.
Chớ nói là quân Sở, ngay cả quân Tần cũng hoàn toàn bất ngờ trước tình thế này.
Tướng sĩ hai trận đều ngây người sửng sốt. Đến lúc định thần, thì chiến xa của Doanh Đãng đã xông tới sát trước trận Sở, mà nỏ liên châu còn chưa kịp giương, xạ thủ còn chưa kịp bắn. Thấy người tới lao thẳng về phía chủ tướng, phó tướng Phùng Hầu Sửu đứng bên Khuất Cái lập tức hét lớn: “Chủ tướng, mau lên tháp chỉ huy, quyết chiến với Tần!” Lời vừa dứt, liền hạ lệnh xuất xa.
Chiến xa của Phùng Hầu Sửu liều mình như chẳng có, băng băng lao về phía Doanh Đãng. Mấy cỗ chiến xa khác theo sát phía sau, tạo thành một bức tường xe, yểm hộ Khuất Cái rút lui về tháp chỉ huy.
Không đợi chiến xa của người Sở kịp lại gần, Doanh Đãng đã tung người nhảy xuống khỏi xe, gầm lên một tiếng, múa tít trường thang chém ngang vào dãy lính Sở đứng đầu. Ô Hoạch cũng nhảy xuống theo, vung chuỳ quét vào trận Sở.
Lính trường thương đứng ở hàng đầu nhất tề vung thương nghênh chiến, vừa chạm phải trường thang, thương đều tuột tay bay mất. Trường thang trong tay Doanh Đãng khác nào thần chú đoạt hồn, chạm phải kẻ nào, không chết cũng trọng thương, Ô Hoạch quăng dài xích sắt, xoay tít cây chuỳ, lại càng ghê gớm hơn, trong phạm vi bốn trượng, chỉ có nằm rạp dưới đất mới có cơ thoát chết.
Hai người cứ thế xông thẳng vào trong trận, trận quân Sở chốc đã rối loạn nháo nhào. Khuất Cái quay đầu ngựa, chạy theo đường trống lao thẳng về cuối trận, nơi có xe cao để chỉ huy. Cùng lúc này, trận Sở cũng đã kịp phản ứng, cung dài nỏ cứng bắn tới tấp vào các xe ngựa đang lao tới. Doanh Đãng thấy vậy thì không đuổi theo Khuất Cái nữa, lại xông về phía đám cung thủ nỏ thủ. Ô Hoạch bám sát theo sau, tạo thành thế ỷ giốc với Doanh Đãng, qua lại càn quét phía trước trận Sở. Lính Sở không dám lại gần, chỉ xúm xít quây quanh ở đằng xa, vây hai người vào giữa. Cảnh tượng trước mắt khiến Ngụy Chương chết lặng vì kinh hãi.
Điện hạ, lại đã xung trận theo cách thế này…
Đến khi định thần trở lại, Ngụy Chương gầm lên thật lớn: “Giải cứu điện hạ, xông lên!” Rồi vung thương, đánh xe lao thẳng về phía trước, đuổi theo Doanh Đãng.
Toàn bộ trống chiến nhất tề thúc vang, năm vạn quân Tần hay tin kẻ vừa xung trận chính là điện hạ, cứ như phát cuồng, tranh nhau lao vào trận Sở.
Quân trận nước Sở lúc này cũng đã bừng tỉnh từ trong kinh hãi, đều nắm chắc binh khí, giữ vững thế trận, nghênh chiến người Tần.
Thực không may, trận hình đã bị Doanh Đãng và Ô Hoạch phá vỡ một mảng.
Người Sở bao vây lấy họ tầng tầng lớp lớp. Doanh Đãng không chút sợ hãi, hai tay xoay tít trường thang, chém khắp tứ phía, trường thương của lính Sở đâm tới, cái thì gãy lìa, cái thì văng đi, lực va chạm ghê gớm khiến lính Sở mất thương phải ôm tay rú lên thảm thiết. Cây chuỳ của Ô Hoạch còn kinh hồn hơn nữa, vô số lính Sở bị quật trúng, đổ rạp như ngả rạ.
Đánh giáp lá cà, bắn tên không dễ. Phùng Hầu Sửu lo sợ, giật lấy trường cung, mặc kệ tất cả, bắn vào Doanh Đãng. Nào ngờ giáp trụ trên mình Doanh Đãng được kết từ mảnh sắt, mũi tên bắn trúng giáp sắt, hoa lửa toé tung, đầu tên gãy lìa. Phùng Hầu Sửu bèn vứt cung tên, rút lấy mũi lao, đang định phóng vào Doanh Đãng, chợt từ phía bắc vọng lại tiếng ầm ầm chấn động, chiến xa của Nhậm Bỉ đang lao thẳng lại gần.
Phùng Hầu Sửu đành bỏ Doanh Đãng, đánh xe lên nghênh chiến, vung thương đâm vào Nhậm Bỉ. Nhậm Bỉ buông một tay chuỳ, thấy mũi thương vừa đâm lại, tay không chụp ngay lấy đầu thương, xoay tay đẩy mạnh, Phùng Hầu Sửu ngã văng khỏi xe. Nhậm Bỉ không thèm đếm xỉa, tiếp tục đánh xe lao thẳng vào trận Sở, rồi nhảy xuống đất, hai tay hai chuỳ, múa lên như vũ bão mà tiến.
Phùng Hầu Sửu còn chưa kịp bò dậy, chiến xa của quân Tần đã rầm rầm lao tới, nghiến thẳng qua người. Phùng Hầu Sửu rú lên thảm thiết, bỏ mạng dưới vó ngựa bánh xe.
Ba đại lực sĩ tụ lại một chỗ, chờ hơn chục cỗ chiến xa phía sau kéo tới, rồi chia làm ba lộ, lao thẳng vào trung tâm trận Sở mà chém giết thẳng tay, kẻ cản thì chết, kẻ tránh thì sống.
Cùng lúc này, Ngụy Chương cùng đại quân Tần cũng đã ùa lên, xông vào chỗ khuyết đã mở trong trận, chớp mắt, hai trận đã ập vào làm một, binh khí giao nhau chát chúa.
Người Sở không còn chỗ chạy, buộc phải nghênh chiến, lớp sau nối lóp trước.
Lúc này, Khuất Cái đã lên được tháp chỉ huy ở trung tâm hậu trận Sở, chúng vệ sĩ tập hợp xung quanh, bày thành trận thế. Khuất Cái đứng trên cao, dõi mắt nhìn xuống, thấy rõ rành rành ba lộ dũng sĩ quân Tần xé trận mà lên, khí thế không gì cản nổi, thì toàn thân tê dại. Lần này đối trận, Khuất Cái đã suy tính kỹ càng mọi nhẽ, chỉ không thể ngờ lại thình lình mọc ra một đám người này. Thế trận lần này, là để ứng phó với các mũi tấn công của địch, ngờ đâu người Tần trong lúc tướng quân đấu trận lại thình lình nổi điên, xông bừa vào trận. Thế trận xưa nay đều theo một kiểu, những hàng đầu tiên cùng bốn phía đều là dũng sĩ hạng nhất để tăng sĩ khí, binh lính kém hơn xếp ở giữa trận. Tuy nói năm vạn quân ở đây đều là nhuệ binh, song trong nhuệ binh cũng có thấp cao hơn kém. Ba đại dũng sĩ của Tần, các hàng đầu trận đều không đủ sức ngăn cản, mắt thấy đã xông vào đến giữa trận, khác nào sói giữa đàn gà, gió thổi cỏ rạp.
Bất luận thế nào, trước hết cần phải diệt trừ hiểm hoạ từ ba ngả kia, bằng không, tình thế sẽ không thể cứu vãn.
Khuất Cái vội sai lính cầm cờ lệnh cho đầu thành đốt lửa. Tên lính lập tức phất cờ, lát sau, đầu thành khói bốc mù mịt. Quân Sở xung quanh nhìn thấy khói lửa, cùng thúc trống chiến vang rền, nhất tề xông lại, vây đánh người Tần. Hai cánh nhọn hai bên trận cũng ập lại, vây kín năm vạn quân Tần vào giữa trận.
Song ba lộ quân của Doanh Đãng lại chẳng buồn đếm xỉa, chia đường xông thẳng về phía tháp chỉ huy của Khuất Cái. Đại quân Tần dưới sự chỉ huy của Ngụy Chương cũng liều mình như chẳng có, sát phạt trong trận Sở, đánh thẳng vào trung tâm, cố gắng tiếp ứng và giải cứu thái tử. Do sự việc xảy ra quá đường đột, không hề được dự tính trước, bất luận là người Tần hay người Sở, đều có phần bấn loạn, lại không biết tránh vào đâu, chỉ còn biết xông vào đối phương, liều mạng quyết chiến. Trong phút chốc, trên khoảng đất trống tuyết trắng mênh mông rộng đến vài dặm vuông phía bắc thành Đan Dương, tiếng hô tiếng hét vang trời, tiếng khí giới chạm nhau choang choảng, tiếng gào rú thảm thiết liên hồi không ngớt. Vào thời khắc này, bất cứ bên nào khua chiêng thu quân hay tự động tan rã, cũng đều chuốc lấy diệt vong.
Người Sở biết rõ còn quân cứu viện, nên không quá sợ hãi. Người Tần do sa vào tuyệt cảnh, nên liều chết mà đánh.
Cánh quân dự bị phòng khi cấp bách của Khuất Cái đã xuất hiện. Cổng bắc thành Đan Dương mở rộng, từ trong thành ùa ra vài nghìn lính Sở, xông tới trợ chiến. Khuất Cái vẫy cờ, chỉ huy họ chặn đám Doanh Đãng lại, bao vây kín mít vòng trong vòng ngoài.
Trên sa trường, quyết định thắng bại luôn là sức mạnh. Quân Sở dù đông đến mấy, trước sức mạnh khủng khiếp và binh khí đầy uy lực của đám Doanh Đãng, đều không cự nổi. Tuy nhiên, chiến lực của quân Sở cũng không phải tầm thường, đám lực sĩ dưới trướng Doanh Đãng tới lúc này đã tử trận quá nửa, nửa còn lại cũng thương tích đầy mình, sức dần kiệt quệ.
Ba người Doanh Đãng cũng đều đã bị thương, may sao thương thế không quá nghiêm trọng, lại đang trong cơn say máu, nên đều bất chấp. Mắt thấy viện binh của Sở kéo đến mỗi lúc một đông, Doanh Đãng không những không sợ, ngược lại càng thêm hung hãn, nhìn thấy tháp chỉ huy của người Sở đã khá gần, bèn gầm lên một tiếng, xông thẳng tới đó. Nhậm Bỉ, Ô Hoạch bám sát theo sau. Ba kẻ điên cuồng sát phạt, đánh thẳng vào nơi người Sở phòng thủ dày đặc nhất.
Lính Sở không ai đủ sức ngăn cản. Thấy ba người họ chỉ còn cách xe cao chừng một tầm tên bắn, lính Sở càng ồ ạt xông lại như ong vỡ tổ, kết thành một bức tường người dày đặc. Tên bay rào rào như châu chấu, tới tấp bắn vào ba kẻ.
Nhậm Bỉ điên tiết, múa tít song chuỳ ngăn cản mưa tên, cắm đầu lao thẳng về phía tháp chỉ huy. Tên bắn tới như mưa, theo nhau va vào giáp trụ, hoặc văng đi, hoặc kẹt vào khe giáp, Ô Hoạch thấy vậy, cũng gầm lên thật lớn, lao về phía đó. Doanh Đãng cũng chạy theo sát nút. Ba đại lực sĩ cùng múa tít các món binh khí uy lực kinh người, nhanh chóng áp lại gần xe cao.
Còn cách xe cao chừng ba chục bước, Nhậm Bỉ rống lên một tiếng, vận hết sức lực quăng luôn chuỳ sắt bên tay phải về phía đó. Chuỳ sắt nặng chừng một trăm tám mươi cân, ù ù bay qua đỉnh đầu đám đông vệ sĩ, đập thẳng vào giữa tháp cao. “Uỳnh” một tiếng đinh tai nhức óc, tháp kia đổ sập. Tháp chỉ huy cao chừng ba trượng. Sự việc quá bất ngờ, Khuất Cái không còn chỗ né tránh, cũng không kịp nhảy xuống đất, đổ xuống cùng toà tháp. Toà tháp sập xuống, đè chết vô số lính Sở, Khuất Cái văng ra xa đến vài trượng, bị chính trường thương giương thẳng của lính Sở xuyên thấu qua người.
Thấy chủ tướng tử trận, quân Sở bảo vệ tháp cao hiểu rằng không thể địch nổi mấy người kia, liền gào thét ầm ĩ, tháo chạy tán loạn. Lính Tần hay tin Khuất Cái đã chết, lại càng thêm hăng, quân Sở sĩ khí tiêu tan, không còn lòng dạ nào mà đánh, nhất là hai vạn lính Sở đang từ hai bên núi tràn xuống, vừa tới chiến trường, nghe nói trong quân Tần có ba hung thần đoạt mệnh, lại thêm Khuất Cái tử chiến, lập tức quay lưng ào ào tháo chạy. Đám Doanh Đãng được rảnh tay, liền quay sang định chiếm cổng thành Đan Dương, thì thấy cầu gỗ bắc qua hào nước đã bị kéo lên cao.
Đám Doanh Đãng vẫn chưa tận hứng, lại quay trở vào trong trận tiếp tục sát phạt.
Trận ác chiến kinh tâm táng đởm lại tiếp diễn thêm non nửa canh giờ nữa mới kết thúc. Thấy Doanh Đãng vết thương lỗ chỗ song đều không đáng ngại, Ngụy Chương mới thở phào nhẹ nhõm, truyền lệnh lui quân, cứu viện Tích Ấp. Người Sở đang vây đánh Tích Ấp hay tin Đan Dương đại bại, chủ tướng tử chiến, thì chẳng còn lòng dạ nào mà đánh tiếp, đua nhau tháo chạy. Ngụy Chương lại thu quân, hẹn với người Sở cùng thu dọn chiến trường. Đến tối, hai bên điểm xong quân số, tình hình thê thảm không sao kể xiết. Người Sở tử chiến hơn sáu vạn, người Tần tử chiến hơn bốn vạn, binh lính tham chiến không ai không bị thương. Cộng thêm các chiến trường Man Xuyên quan, Ư Thành, Tích Ấp, không tính kẻ bị thương, chỉ riêng số tử chiến trong trận, quân Tần chừng sáu vạn, quân Sở chừng tám vạn.
Trận đại chiến phạt Tần do Hoài Vương thịnh nộ hưng binh đã tạm thời kết thúc bằng một cái giá vô cùng thê thảm: quân Sở đại bại, hai bên tổng cộng mười bốn vạn tướng sĩ bỏ mạng sa trường.