Thời đã sang tiết tam phục[1] giữa hè, oi ả nóng nực.
Tại cố đô Đan Dương nước Sở, cái nóng bức lại càng khó chịu, khiến người ta bứt rứt vô cùng. Bầu trời không một gợn mây, song không còn trong vắt như những ngày xưa, phóng mắt nhìn đi, chỗ nào cũng mịt mờ như bị bức màn giăng phủ, không thể xuyên qua. Bờ bãi ruộng đồng không một mây gió, những ngọn cây im lìm bất động, bầu không nặng trĩu hơi nước, mồ hôi chảy ra không thể bốc hơi, ướt sũng quần áo, dính bết vào da thịt.
Tiên miếu nước Sở nằm trên một ngọn đồi chênh chếch mé tây nam thành cổ, là chỗ cao ráo của Đan Dương. Toàn bộ khu miếu xây nương theo thế dốc, cổ thụ xanh rì.
Nằm trên đỉnh đồi là chính điện, phía trước chính điện dựng một đàn tế hình vuông, mỗi chiều ba trượng, cao hai trượng. Đứng trên đàn tế, phóng mắt nhìn về phương nam, Đan Thuỷ cuồn cuộn như dải lụa dài lấp lánh từ phía tây bắc chảy lại, băng băng đổ về hướng đông nam, tại mé đông nam thành Đan Dương mở rộng thành một vòng cung, thu lấy một dải lụa lấp lánh khác, là Tích Thuỷ.
Vào lúc hoàng hôn, Khuất Bình cùng Bạch Vân sánh vai nhau đứng trên đàn tế, dõi mắt nhìn về nơi hai dải lụa hội tụ.
Tại đó, hai sông giao hoà, mênh mông xanh biếc, vài cánh cò trắng liệng vòng giữa không trung, như đang tiếc nuối từ biệt vầng dương chực lặn.
Ánh mắt Khuất Bình men theo Đan Thuỷ, chầm chậm dịch chuyển về tây, cho tới chỗ dải lụa biến mất phía chân trời. Khuất Bình thu lại ánh mắt, lại nương theo dải lụa đằng kia, chầm chậm nhìn về phía bắc, tới chỗ dải lụa mất hút.
Bạch Vân vẫn đứng im lìm, khẽ hỏi: “Khuất Tử nhìn thấy gì?”
“Tư tế, hẳn nàng có biết, nó từ đâu chảy tới?” Khuất Bình chỉ về quãng sông Đan Thuỷ trước mắt.
“Hãy nói xem.” Bạch Vân nhìn sang Khuất Bình.
“Nó chảy tới từ đất tổ tông của Sở!”
“Đất tổ tông?” Bạch Vân chỉ vào đàn tế dưới chân, “đất tổ tông của người Sở, chẳng phải ở đây ư?”
Khuất Bình lắc đầu.
“Vậy thì ở đâu?”
“Chính là đầu nguồn của sông này!” Khuất Bình chỉ về phía tây bắc, “đi thẳng về tây, có một vùng núi, gọi là núi Sở, có mấy dòng sông, gọi là Kinh Xuyên, tổ tiên của chúng ta sống dưới chân núi Sở, uống nước Kinh Xuyên. Mấy dòng Kinh Xuyên hội tụ một nơi, mới hình thành nên sông này, Đan Thuỷ. Tổ tiên chúng ta xây thành dựng ấp ở bờ bắc Đan Thuỷ, an cư lạc nghiệp, bắc sông là dương, nên mới gọi là Đan Dương.”
“Nhưng tại sao Đan Dương lại ở đây?”
“Bởi người Chu đã tới. Người Chu đánh tới Lam Điền, tổ tiên ta không thể chống cự, đành phải men theo sông này chạy về đông, tới đây xây dựng thành này. Thành này cũng ở bờ bắc Đan Thuỷ, nên vẫn gọi là Đan Dương. Sau đó người Chu phạt Ân, tổ tiên ta là Hùng Dịch theo về với Chu, cùng đại quân Chu chinh phạt lập công, được Thành Vương phong làm Sở Tử, lập quốc tại đây, gọi là nước Sở.”
“Vậy còn Đan Dương trước đây?”
“Nơi đó không gọi là Đan Dương nữa, mà đã đổi thành Thương Thành, hơn trăm năm trước, Sở Tần kết tình hoà mục, tiên vương đã tự tay dâng tặng cho Tần.”
“Tiên vương không sợ người Tần men theo Đan Thuỷ này đánh tới ư?” Bạch Vân băn khoăn.
“Đúng vậy.” Khuất Bình chỉ về phía tây bắc, “có điều, thứ nhất, vì đã kết thân; thứ hai, tiên vương đã có phòng bị. Men theo sông này mà lên, ở khoảng giữa Đan Dương và Thương Thành, tiên vương đã cho dựng một ải, gọi là Kinh Tử quan, đặt trọng binh trấn thủ.”
“Ồ.” Bạch Vân nhìn sang con sông còn lại, “còn nó chảy từ đâu tới?”
“Ư Thành.”
“Ư Thành chẳng phải cũng là của người Tần ư?”
“Khi tại hạ sinh ra,” Khuất Bình chỉ vào Tích Thuỷ, “Ư Thành vẫn là đất Sở. Lúc đó, Đại Sở ta và người Tần, mỗi bên dựng một cửa ải ở phía tây Ư Thành, ải của người Sở gọi là Tây Vũ quan, để chặn người Tần. Ải của người Tần gọi là Đông Vũ quan, để chặn người Sở. Bởi vậy, người Tần tuy chiếm được Thương Lạc, song ta có mười lăm ấp Ư Thành, lại có ải Kinh Tử, ải Tây Vũ ngăn chặn, thế nên Tần, Sở chung sống bình yên vô sự. Nhưng đến hôm nay, chính là ở đó, từ đó lên bắc chưa đầy năm mươi dặm, là Tích Ấp, lại chưa đầy năm mươi dặm nữa, chính là Ư Thành, cùng với hơn mười ấp xung quanh, đều đã là của người Tần.” Lại chỉ vào Đan Dương trước mắt, thở dài buồn bã, “kinh đô thuở xưa, nay lại biến thành tiền tuyến chống Tần, vả lại giữa Đan Dương và Tích Ấp không còn cửa ải nào để chặn quân địch, bảo Đại Sở ta biết phải làm sao?”
Im lặng một chốc, Bạch Vân khẽ hỏi: “Đại vương sẽ không giam chân chúng ta ở đây mãi chứ?”
“Là họ, không phải đại vương!” Khuất Bình vẫn biện hộ cho Hoài Vương.
“Ôi!” Bạch Vân khẽ nhếch mép, như một nét cười nhàn nhạt, mắt dõi về phía xa xăm, nơi hai dòng sông lấp lánh như dải lụa. Đột nhiên, Bạch Vân hai mắt mở tròn, sắc mặt bàng hoàng kinh ngạc, nhìn trân trân về phía trời tây, toàn thân cứng đờ như tượng.
Ở đó, tại nơi vầng dương đỏ rực vừa lặn xuống chân trời, vừa xuất hiện ba ngôi sao sáng quắc.
Chúng như thể đột ngột mọc ra, ngay sau khi ánh mặt trời bị núi tây hoàn toàn che lấp. Tuy không xếp thành hàng, song ba ngôi sao nằm rất gần nhau. Bên dưới ba ngôi sao, nơi mặt trời vừa khuất bóng, còn có thêm một ngôi sao chổi kéo theo vệt đuôi dài ngoẵng.
Trong ba ngôi sao, Khuất Bình chỉ biết được một, là sao Trường Canh.
Khuất Bình nhìn chăm chú vào ngôi sao chổi. Khuất Bình biết, sao chổi xuất hiện, không phải là chuyện tốt lành. Song lúc này, sao chổi mọc trên cánh đồng Tần Châu, cũng chính là cương giới nước Tần, nên Khuất Bình lại thở phào.
Ánh mắt Bạch Vân từ từ thu lại, lần theo dòng sông trước mặt, nhìn về phía đông nam.
Đôi mắt Bạch Vân lại mở tròn lần nữa.
“Tư tế?” Khuất Bình ngạc nhiên nhìn nàng.
Bạch Vân lại nhìn về phía núi Vu Hàm, hai tay dang rộng, tĩnh tâm vận khí, khép mắt chìm vào minh tưởng.
Khuất Bình biết nàng đang hành công, không dám lên tiếng, chỉ nhìn nàng không chớp, thấy khoé miệng nàng hơi mấp máy, dường như đang đối thoại cùng ai.
Khuất Bình bắt đầu lo lắng. Hồi lâu sau, Bạch Vân mới mở mắt, thoát khỏi cảnh giới thông linh.
“Tư tế?” Khuất Bình khẽ gọi.
Bạch Vân nhìn thẳng vào Khuất Bình, giọng nàng rất khẽ: “Vân Nhi vừa thấy được một tin chẳng lành.”
“Ồ?” Khuất Bình thấp thỏm nhìn nàng.
Bạch Vân ngửa mặt nhìn trời, ánh mắt u ám.
“Là ngôi sao kia ư?” Khuất Bình ngoảnh nhìn về phía trời tây, ánh mắt dừng lại trên ngôi sao chổi.
Bạch Vân lắc đầu, vẫn ngửa mặt nhìn trời.
“Là trời này ư?”
“Phải. Sắp có mưa lớn.”
“Giờ đang nắng hạn,” Khuất Bình cười, “lúa vừa ngậm sữa, chính là mưa lành.”
“Không phải!”
“Ồ?” Khuất Bình ngạc nhiên.
“Là mưa lớn, mưa như trút nước, mưa không ngừng nghỉ suốt mười bốn ngày trời.” Bạch Vân chỉ vào hai dòng sông phía dưới, “vừa lúc nãy, Vân Nhi không nhìn thấy hai con sông này, mà chỉ nhìn thấy hồng thuỷ cuồn cuộn, trắng xoá một vùng…” Ngoảnh nhìn về phía thành Đan Dương, “và cả toà thành kia, chỗ nào cũng ngập trắng, chỉ còn lác đác vài hòn đảo nhỏ!”
“Ý nàng muốn nói, là lũ lụt?” Khuất Bình thất kinh.
“Một trận lụt vô cùng khủng khiếp. Người Sở phải đề phòng mới được, nhất là những nơi đất trũng, phải dời đi ngay. Lúa mất rồi, có thể trồng lại; nhà mất rồi, có thể dựng lại; duy có mạng người…”
“Ôi chao!” Khuất Bình lo sợ, chụp lấy tay Bạch Vân, hai mắt nhìn xoáy vào nàng, “là…là thật ư?”
“Khuất Tử không tin đại thần Vu Hàm sao?” Bạch Vân giật tay về, khép mắt lại.
Khuất Bình lập tức quay người, chạy như bay xuống đàn tế, lao về phía tiền viện.
Một tháng trước, tiên miếu rộng lớn nơi đây đã được xây thêm một bức tường, trên tường trổ một cánh cửa, để ngăn cách miếu điện với tiền viện là nơi dừng xe buộc ngựa. Cánh cổng giờ đóng im ỉm, bên ngoài khoá trái.
“Người đâu!” Khuất Bình hét lớn, đập cửa ầm ầm.
Có tiếng bước chân hối hả lại gần, một cung uý chạy tới, đó là một viên ngự tiền thị vệ của Hoài Vương, tên gọi Đặng Thuẫn, là hậu duệ của nước Trịnh, hiện đang giữ chức tỳ tướng.
“Tả đồ đại nhân, có gì sai bảo?” Tiếng Đặng Thuẫn vọng vào.
“Tướng quân, xin hãy mở cửa, tại hạ muốn ra ngoài, tại hạ phải về Sính!” Khuất Bình thỉnh cầu.
“Hồi bẩm đại nhân,” Đặng Thuẫn lại nói vọng vào, “đại vương có chỉ dụ, tả đồ phải túc trực trong thái miếu đủ chín mươi chín ngày, không được tự tiện rời khỏi đây nửa bước. Đến nay mới được ba mươi ba ngày mà thôi.”
“Tại hạ có việc khẩn cấp phải bẩm báo đại vương, việc vô cùng trọng đại!”
“Đại vương có chỉ dụ, tả đồ đại nhân nếu có việc gấp cần bẩm báo, có thể viết tấu chương, mạt tướng sẽ chuyển về trình lên!”
“Lời tướng quân nói, có chắc là chỉ dụ của đại vương?” Khuất Bình nghiêm giọng hỏi.
“Hồi bẩm tả đồ đại nhân, mạt tướng là ngự tiền cung uý, chỉ nghe lệnh của đại vương.”
“Chỉ dụ ở đâu?”
“Hồi bẩm tả đồ, là khẩu dụ, chính miệng đại vương ban mệnh!”
“Ngươi…” Khuất Bình giậm chân giận dữ.
“Tả đồ đại nhân,” một vu nữ tiến lại gần, khẽ giọng bẩm báo, “tư tế mời đại nhân dùng bữa!”
Khuất Bình siết chặt nắm tay, đứng đó thêm một chốc nữa, mới từ từ trấn tĩnh lại, cùng vu nữ đi về phía gian nhà chái bên tả chính điện. Từ một tháng trước, nơi đây đã được biến thành phòng ăn.
Gần tới cửa phòng, Khuất Bình chợt dừng khựng lại, quay sang vu nữ: “Đi theo ta!” Rồi sải bước tiến thẳng về phòng mình.
Vu nữ đi theo vào phòng.
“Mài mực!” Khuất Bình chỉ vào nghiên mực ra lệnh, rồi lấy bút lông cùng một bó thẻ tre, trải rộng trên án, chấm mực viết như bay. Đúng vào lúc Bạch Vân nhận được thị hiện từ thần Vu Hàm, quan thái bốc cưu cai quản việc chiêm tinh trong thái miếu nước Tần cũng hối hả vào cung, yết kiến Tần Huệ Vương.
“Thái bốc?” Huệ Vương thoáng ngỡ ngàng, bởi quan thái bốc cầu kiến vào lúc này, chắc chắn có đại sự.
“Khởi bẩm đại vương, trời cao có tượng.” Thái bốc bẩm tấu.
“A?” Huệ Vương hỏi dồn, “là tượng gì?”
Thái bốc dẫn Huệ Vương ra khỏi cung, đứng trên đài lộ thiên, chỉ về phía trời tây: “Đại vương hãy xem!”
Huệ Vương nhìn về phía đó, thấy một vì sao sáng rực kéo theo một vệt đuôi dài.
“Hồi bẩm đại vương,” thái bốc cưu chỉ vào ngôi sao mang đuôi ấy, “nó là bội tinh, xuất hiện vào đêm qua, dài đến hơn trượng, vẻ tựa rồng bay, lại có hai sao bám theo sau, đều không thường gặp. Thần quan sát đã hai ngày, thấy chúng bay suốt ngày đêm, bám đuổi theo nhau, ngôi sao phía trước, ánh sáng đỏ rực, ngôi sao phía sau, ánh sáng trắng vàng, xuất hiện trước khi mặt trời mọc, sau khi mặt trời lặn, muôn dân thiên hạ đều nhìn thấy chúng.”
“Là tượng gì vậy?” Huệ Vương sốt ruột hỏi.
“Dựa theo quẻ tượng, là điềm chẳng lành, vậy nên thần mới gấp rút bẩm báo đại vương.”
“Điềm chẳng lành gì?”
“Thiên sát!”
“Thiên sát?” Huệ Vương rùng mình ớn lạnh, hồi lâu sau, mới nhìn xoáy vào thái bốc cưu, “là sát thế nào?”
“Hồng thuỷ cuồn cuộn, mưa như trút nước, núi lở đất sạt, đê đập vỡ tan, rắn chuột mất hang, chim muông mất tổ, hoa màu mất trắng, dân chúng đói khổ, cướp giật lẫn nhau, can qua không nghỉ, rồng rắn lẫn lộn, thị phi đảo điên, xương trắng thành gò, khó thấy minh quân…” Bốc cưu tuôn ra một tràng, rồi chợt khựng lại.
“Sao không nói nữa?” Huệ Vương truy hỏi.
“Gặp đúng Canh Tý, tất cả đều sát.”
“Phải rồi,” Huệ Vương khẽ gật đầu, “đầu năm nay, thái miếu lệnh đã nói với quả nhân, năm nay là năm Canh Tý, ngũ khí Mộc Thổ Hoả Kim Thuỷ phạm nhật, e có đại tai. Trong lòng quả nhân vốn rất lấy làm lo lắng, nhưng nửa năm đã trôi qua, chưa thấy có tai ương gì giáng xuống, nên dần dần lãng quên đi mất, giờ khanh nhắc đến, mới chợt nhớ ra, than ôi, đúng là có chuyện này!” Lại nhìn sang bốc cưu, “hẳn có cách hoá giải?”
“Đã là thiên sát, không thể hoá giải?”
“Quả nhân biết rồi!” Huệ Vương phẩy tay, bốc cưu liền cáo lui.
Huệ Vương đang vắt óc suy nghĩ, thì công tử Hoa tới.
“Hoa đệ đến thực đúng lúc,” Huệ Vương vẫn ngồi bất động, chỉ đưa tay trỏ vào chỗ ngồi đối diện, khẽ mỉm cười mà nói, “quả nhân đang định có lời mời!”
“Vương huynh,” Công tử Hoa ngồi phịch ngay xuống, sắc mặt lo lắng, “có một đại sự!”
“Không phải đại tai đại hoạ đấy chứ?” Huệ Vương hỏi.
“Ồ, sao vương huynh đã biết rồi?” Công tử Hoa kinh ngạc hỏi.
“Thái bốc vừa tới.” Huệ Vương lại khẽ cười, “chỉ cho quả nhân nhìn sao chổi, gọi là bội tinh gì đó. Nghe lời thái bốc, tai hoạ lần này thực không nhỏ, tất cả đều là thiên sát, nhưng ông trời kia không biết sẽ sát thế nào, quả nhân vẫn đang suy nghĩ!”
“Là thuỷ tai.” Công tử Hoa mở miệng đáp liền.
“Nói xem,” Huệ Vương ngả người lại hỏi, “thuỷ tai thế nào?”
“Chuyện là thế này,” công tử Hoa bẩm báo tường tận, “hai canh giờ trước, có người tới tận phủ thần đệ, dâng lên bái thiếp, trên thiếp chẳng viết chữ gì, chỉ vẽ một hình đầu lâu. Thần đệ bèn triệu vào, là ba vu nhân, đều mặc áo đen, đầu chít khăn đen, người dẫn đầu rõ ràng là thầy tư tế, hai kẻ còn lại, là đệ tử của ông ta.”
Huệ Vương bỗng thấy tim mình thót lại, mắt nhìn xoáy vào công tử Hoa.
“Kẻ đó tự xưng danh, nói rằng mình là sát man, sống ở bên bể Bắc, là tư tế của đại thần Cộng Công.”
“Sát man?” Hoài Vương lẩm bẩm nhắc lại, “nghe cũng hay đấy. Kẻ đó đã nói gì?”
“Kẻ đó nói, qua mười bốn ngày nữa, đồng bằng Kinh Châu, Tân Châu sẽ phải hứng chịu mưa lớn triền miên, khắp dải Tần Châu ngập trong biển nước!”
“A…Kẻ đó hiện đang ở đâu?”
“Thần đệ đã dẫn tới.”
“Truyền vào yết kiến!”
Công tử Hoa đi ra, chốc sau, dẫn vào một vu nhân y phục đen kịt, đầu quấn khăn đen che kín mặt, chỉ để lộ đôi mắt, con ngươi như thể khảm sâu vào trong hốc mắt thâm u hun hút, lấp loé ánh màu xanh lục.
Vu nhân kia không quỳ xuống mà đứng nghiêm trang trước mặt Huệ Vương, vòng tay, cất giọng sang sảng: “Tát man bể Bắc bái kiến vua của Đại Tần!”
“Doanh Tứ bái kiến sát man!” Huệ Vương vòng tay đáp lễ, đoạn chỉ vào chiếu khách bên cạnh công tử Hoa.
“Không phải sát man, là tát man.” Vu nhân sửa lại, rồi ngồi xuống chiếu.
“Tát…man?” Huệ Vương nheo mắt lại, “là họ tên ư?”
“Không phải.” Vu nhân đáp lời, “chúng tôi không có họ tên, đều gọi là tát man.”
“Có nghĩa là gì?”
“Tát, là thông đạt, man, là người, tát man chính là người thông đạt đạo của trời đất, đại vương có thể gọi tại hạ là trí giả.”
“Thất kính, thất kính!” Hoài Vương vòng tay tạ lỗi, “xin hỏi trí giả, ngài từ bể Bắc tìm tới bang này, hẳn là có điều muốn chỉ giáo quả nhân?”
“Trời giáng đại hoạ, quý bang sắp bị lũ lụt nhấn chìm, núi lở đất sạt, dân chúng lầm than, sinh linh đồ thán.” Tát man đáp. “Nước lũ từ đâu tới?”
“Sau mười bốn ngày nữa, thần linh trên trời sẽ xua mây từ bể Nam, bể Bắc tới vùng đồng bằng Kinh, Tần. Núi Ba, núi Thục, núi Chung Nam, núi Lũng, mưa dây gió giật liên miên, sự ghê gớm của gió dữ mưa tuôn, quả thực trăm năm hiếm thấy. Vùng núi Ba, núi Thục sẽ đổ mưa liền mười bốn ngày không nghỉ, núi Chung Nam hai mươi tư ngày, núi Lũng mười sáu ngày. Đến lúc đó, thì dân Tần dân Sở…”
Huệ Vương thất kinh, nhìn sang công tử Hoa.
“Xin hỏi trí giả,” công tử Hoa vòng tay, “hẳn có cách hoá giải?”
“Tại hạ đã tìm lên bảo điện, đương nhiên phải có cách hoá giải.”
“Xin hãy nói mau!” Huệ Vương sốt ruột giục giã.
“Tại hạ có thể thi triển pháp thuật, khiến mây Nam Hải không bay qua được đỉnh Thái Bạch, nhờ đó mưa to gió lớn sẽ không rơi xuống phía bắc Chung Nam. Còn như mây mưa ở Lũng Sơn, tất cả đều chảy vào Giang Thuỷ, mang hoạ cho người Sở, không liên quan tới người Tần.”
“Hay lắm!” Huệ Vương đứng bật dậy, đi tới đi lui trong điện, rồi nhìn sang vu nhân hỏi, “ồ, mây của Nam Hải không bay qua được đỉnh Thái Bạch, vậy sẽ đi đâu?”
“Đều về đất Sở.”
“Ồ…” Huệ Vương khép mắt suy ngẫm hồi lâu, rồi vòng tay nói, “thượng tiên đã lập đại công này, muốn quả nhân báo đáp ra sao?”
“Vận trời xoay vần, đất Tần sắp hưng, nên trời cao mới sai khiến tại hạ tới quý bang, thứ nhất là trợ giúp vua Tần hoàn thành đại nghiệp, thứ hai là hoằng dương đạo tát man. Vậy nên, tại hạ không cầu báo đáp, mà chỉ có một thỉnh cầu, xin nhà vua Đại Tần ban cho bản giáo các đỉnh núi cao Thái Bạch, Chung Nam, giúp bản giáo lập miếu xây đàn ở vùng núi Thái Bạch, để thu nạp đệ tử, truyền bá pháp thuật!” Tát man đưa ra điều kiện.
Huệ Vương khép mắt suy nghĩ rất lâu, mới đáp: “Việc này hệ trọng, xin thượng tiên hãy chờ cho vài ngày, để quả nhân có thời gian suy nghĩ, được chăng?”
“Tát man cung kính chờ tin!” Tát man đáp rồi đứng dậy cáo lui.
Huệ Vương tiễn ra ngoài cổng điện, rồi quay vào suy nghĩ kỹ lưỡng một hồi, lại quay sang công tử Hoa hỏi: “Hoa đệ, tướng quốc phải chăng vẫn đang dưỡng thương ở Hàn Tuyền?”
“Vâng.” Công tử Hoa cười nói, “có vẻ như thương thế không hề nhẹ.”
“Hoa đệ ở Hàm Dương, hãy trông chừng tát man kia cẩn thận.” Huệ Vương nói rồi quay sang nội thần, “sáng mai khởi giá, Hàn Tuyền, núi Chung Nam!”
Ngoài núi nóng nực, trong núi mát mẻ như xuân.
Hàn Tuyền Tử dành riêng cho Hương Nữ một khu nhà, để nàng yên tâm chăm sóc cho tướng quốc Đại Tần Trương Nghi đang tới dưỡng “thương”. Trương Khai Địa giờ đã hiểu chuyện, cũng kế thừa được sự thông minh lanh lợi của cha, từ sáng chí tối bám riết lấy Trương Nghi, chạy lăng xăng khắp vùng rừng núi, hỏi hết chuyện này đến chuyện khác.
Chập tối hôm nay, Trương Nghi đang dẫn con trai thong thả men theo con đường mòn sau núi trở về, thì gặp ngay Hương Nữ đón đầu.
“Mẹ ơi, mẹ xem này!” Nhìn thấy mẹ, Trương Khai Địa chạy như bay lại, trong tay giơ cao một vòng hoa rừng.
“Tặng mẹ đấy ư?” Hương Nữ ngồi xuống, ôm lấy cậu bé hỏi.
“Vâng, con tặng cho mẹ!” Trương Khai Địa tươi cười hớn hở, đặt vòng hoa lên đầu Hương Nữ, ghé mũi lại ngửi mà nói, “thơm quá!”
“Là con tết ư?” Hương Nữ bế lấy con trai, thơm lên má cậu bé, cười hỏi.
“Không phải, là người kia!” Trương Khai Địa chỉ vào Trương Nghi đang thủng thẳng tiến lại, “nhưng hoa thì con hái!”
Hương Nữ ngoảnh sang cười với Trương Nghi.
Trương Nghi nhìn Hương Nữ mang vòng hoa dại trên đầu, không hiểu sao, trước mặt hắn bỗng hiện lên hình ảnh của sư tỷ Ngọc Thiền vào hôm hắn tặng hoa cho nàng trong Quỷ Cốc. Vừa nhớ đến, Trương Nghi mắt chợt ứa lệ.
“Phu quân?” Hương Nữ ngạc nhiên, nhìn Trương Nghi như dò hỏi. “Đẹp lắm!” Trương Nghi định thần trở lại, vội cất lời khen ngợi.
“Chàng đừng có nịnh!” Hương Nữ nguýt Trương Nghi một cái, rồi dắt tay Khai Địa, giục, “mau về chỗ tiên sinh, chủ nhân của chàng tới rồi.”
“Tần Vương? Tới lúc nào kia?”
“Đã gần nửa canh giờ.” Hương Nữ cười nói, “còn dẫn theo phi tử!”
“Phi tử?” Trương Nghi sửng sốt, “phi tử nào?”
“Vị phi tử mà chàng làm mai đó!”
Trương Nghi bật cười vài tiếng, rồi rảo nhanh bước chân quay về thảo đường trong cốc.
Trong gian phòng khách của Hàn Tuyền Tử, có hai người đang ngồi, Huệ Vương ở chiếu khách, Hàn Tuyền Tử ở chiếu chủ. Hàn Tuyền Tử hai mắt khép chặt, như đang chìm vào suy tưởng. Huệ Vương nhìn Hàn Tuyền Tử chăm chú, sắc diện nôn nóng.
Hồi lâu sau, Hàn Tuyền Tử bỗng mở choàng mắt, nhìn sang Huệ Vương.
“Tiên sinh?” Huệ Vương ngả người lại, gọi khẽ.
“Than ôi!” Hàn Tuyền Tử thở hắt ra.
“Tiên sinh, hoạ này…” Huệ Vương càng thêm sốt ruột.
“Đây là hoạ Canh Tý.” Hàn Tuyền Tử chậm rãi nói, “thiên can địa chi, sáu mươi năm xoay vần trọn một vòng, gọi là sáu mươi Giáp Tý. Vận tới Canh Tý, gặp ba sao Thổ, Mộc, Hoả dàn hàng, cộng thêm Kim, Thuỷ qua lại quấy nhiễu, trên trời năm khí cùng phát, khiến cho đại khí thái dương, thái âm rối loạn, âm dương mất cân bằng. Vì thế tự cổ chí kim, cứ tới năm Canh Tý, thiên hạ lại không được an lành.”
“Lại còn thêm một bội tinh?”
“Phải.” Hàn Tuyền Tử tiếp lời, “mấy ngày gần đây, mỗi lúc sớm mai chập tối, lão hủ lại lên núi quan sát, nhìn kỹ sao này, trong lòng rất đỗi bất an. Sao này không phải sao chổi tầm thường, hình dáng đường đi, đều thông với đại khí trời đất. Nghe tiên sư nói, sao này hoặc bảy mươi năm, hoặc tám mươi năm mới gặp một lần, song một khi xuất hiện, sẽ khuấy đảo đại khí đất trời, sinh ra tai ương, nhẹ ắt binh đao chiến loạn, nặng ắt hạn hán lũ lụt hại dân.”
“Cũng có nghĩa là, sao này gây hoạ cho toàn thiên hạ, chứ không phải chỉ riêng nước Tần?”
“Chính phải, như trong năm nay, nước Yên nội loạn, cũng chính là tai ương bởi sao này.” Hàn Tuyền Tử đáp, “Canh Tý vốn là năm tai ương, lại gặp đúng sao này, quả là sự trùng hợp nghìn năm có một, là tai hoạ chồng lên tai hoạ, đại vương không thể coi thường.”
“Nghìn năm có một?” Huệ Vương hít sâu một hơi, lẩm bẩm nhắc lại.
Hàn Tuyền Tử không nói gì thêm nữa.
“Vậy tát man kia thì sao?” Đây mới là mục đích chính của Huệ Vương khi tìm tới đây.
“Hồi bẩm đại vương,” Hàn Tuyền Tử khép hờ hai mắt, “kẻ này thuộc phái vu hịch, thuật của họ, cũng có thể gọi là vu thuật, hịch thuật. Đại vương hẳn có biết đến vu thuật, hịch thuật?” Mở mắt, nhìn sang Huệ Vương.
Vu thuật, hịch thuật không phải thuật gì xa lạ, người hành thuật này, nữ là vu, nam là hịch. Nên Hàn Tuyền Tử hỏi câu này, hẳn có ẩn ý.
“Xin tiền bối chỉ giáo!” Huệ Vương ngẫm nghĩ một thoáng, rồi vòng tay nói.
“Vu thuật, hịch thuật, từ đạo sinh ra. Đạo sinh âm dương, dương thì sinh, âm thì sát; dương thì trắng, âm thì đen. Bởi vậy, thứ chủ sinh là bạch vu, bạch hịch thuật, thứ chủ sát là hắc vu, hắc hịch thuật. Người hành bạch thuật là bạch vu, bạch hịch, áo thường màu trắng. Người hành hắc thuật là hắc vu, hắc hịch, áo thường màu đen…”
“Nói như vậy, kẻ này chính là hành hắc hịch thuật?”
“Đúng vậy.” Hàn Tuyền Tử nói, “theo như lời đại vương, lão hủ đã biết thuật của hịch nhân này chính là hắc thuật, âm thuật, chủ sát. Chủ sát thì không cát tường, gắp lửa bỏ tay hàng xóm, lại càng không cát lợi, mong đại vương hãy suy nghĩ kỹ.”
“Vãn bối hiểu rồi.” Huệ Vương dừng lại một thoáng, “vậy bạch vu hịch thuật thì sao? Tiền bối có biết vu nhân nào hành thuật này?”
“Bạch vu hịch thuật xuất phát từ đại thần Vu Hàm, theo Vu Hàm có mười hai đại vu. Theo lão hủ biết, trong núi Chung Nam cũng có đại vu này, song người luyện bạch vu hịch thuật thường là ai chuyên chức nấy, thuận theo ý trời. Năm Canh Tý đã là thiên sát, thì phải nghe theo mệnh trời. Bởi vậy, lão hủ khuyên đại vương hãy sớm có đề phòng chuẩn bị, di chuyển dân chúng từ nơi thấp trũng lên chỗ cao, dựng lều lập trại, để dân đen không phải chịu nỗi khổ gió mưa; mở kho phát chẩn, để dân đen không phải chịu nỗi khổ đói rét.” Dừng lại một thoáng, Hàn Tuyền Tử vòng tay nói tiếp, “làm được như vậy, trời cao sẽ phù hộ đại vương!”
“Tạ ơn tiền bối chỉ giáo!”
Lời vừa dứt, bên ngoài bỗng có tiếng bước chân hối hả lại gần, rồi giọng của Xá Nhân và Trương Nghi vọng lại.
“Đại vương cùng chư vị hãy nghị sự, lão hủ cáo lui!” Hàn Tuyền Tử đứng dậy, vòng tay vái Huệ Vương rồi sải bước đi ra.
Huệ Vương tiễn ra tới cửa, vừa hay gặp Trương Nghi đi tới.
“Vương huynh,” Trương Nghi trông rất vui vẻ, vòng tay cười nói, “biết vương huynh nóng nực khó chịu, hẳn là muốn vào núi hóng mát.”
“Than ôi,” Huệ Vương thở dài, “Tứ huynh cũng mong được thảnh thơi như em rể đây.” Rồi lắc đầu rầu rĩ, quay trở vào phòng, ngồi xuống chiếu chủ mà Hàn Tuyền Tử mới ngồi, chỉ sang chiếu khách.
“Ồ!” Trương Nghi không ngồi, mà đi quanh Huệ Vương một vòng, “vương huynh tới đây không phải để tránh nóng, lại dẫn theo vương tẩu, là vì lẽ gì?”
“Nghe nói Tứ huynh muốn lên núi tìm em rể, nàng ấy khăng khăng đòi đi theo, nói rằng muốn gặp Hương phu nhân của em rể!”
“Bây giờ không còn ‘hương’ nữa rồi.” Trương Nghi nhăn mặt.
“Tại sao kia?” Huệ Vương tò mò hỏi.
“Vì đã đèo bòng thêm một thằng nhóc thối.” Trương Nghi cười đáp, rồi mới ngồi xuống chiếu khách, “hãy nói việc chính, nhìn thần sắc vương huynh không tốt, hẳn có đại sự gì chăng?”
“Có năm đại sự.”
“Ối chao!” Trương Nghi làm bộ kêu lên, “năm chuyện gì vậy?”
“Thứ nhất, sứ Sở Chiêu Tuy ngày nào cũng nhằng nhẵng đòi vào cung yết kiến, đòi quả nhân sáu trăm dặm Thương Ư!” Huệ Vương lắc đầu, “này em rể, tự mình gây chuyện, giờ lại trốn ở đây hưởng yên tĩnh một mình ư?”
Trương Nghi cười hề hề, trơ mặt mà nói: “Chuyện này vương huynh không cần quan tâm. Còn chuyện thứ hai?”
“Nước Yên.” Huệ Vương nói tiếp, “Tử Chi giết Yên Vương, bức Tử Chức bỏ trốn, lập Yên Vương Khoái, rồi lại tìm cách khiến Yên Vương Khoái nhường lại ngôi vị cho mình. Thái tử Cơ Bình khởi binh làm phản, Tử Chi giết Cơ Bình, sát hại toàn bộ công tử của Yên thất, soán vị xưng vương, khiến Tề nổi giận, phong Khuông Chương làm tướng phạt Yên. Người Yên không đánh, tự mở cổng nghênh đón người Tề, Tử Chi đã chết.”
“Hay lắm!” Trương Nghi vỗ đùi đánh đét, “còn chuyện thứ ba?”
“Tử Chức ở Triệu, suýt bị giết chết trong tay Tử Chi.”
“Giờ thì sao?”
“Đã được Triệu Vương đón vào trong cung.”
“Tốt lắm,” Trương Nghi gật gù, “Triệu Ung đang chơi một ván cờ lớn. Có điều, kỳ thủ thực sự, chính là Tô Tần. Phải rồi, Yên, Tề gây chuyện động trời, Tô Tần thì sao? Hẳn phải bôn ba bận rộn lắm?”
“Đây là chuyện thứ tư,” Huệ Vương cười buồn, “Tô Tần đổ bệnh…”
“Đổ bệnh?” Trương Nghi thắt tim, “bệnh gì?”
“Nói là thương hàn, rất nguy kịch. Nếu không nhờ Quỷ Cốc tiên sinh sai người tới cứu, lúc này e đã…” Huệ Vương đáp.
Trương Nghi cúi gục đầu, hồi lâu mới ngẩng lên, hai mắt đỏ hoe nhìn vào Huệ Vương: “Còn chuyện cuối cùng?”
“Trời hiện hung tượng, bội tinh xung nhật, gặp năm Canh Tý, sắp có thiên tai giáng xuống đồng bằng Tần, Sở. Tứ huynh đến đây, chính bởi chuyện này.”
“Là thiên tai gì?”
“Thuỷ tai!”
Trương Nghi khép mắt một hồi, mới ngẩng lên nhìn Huệ Vương: “Tiên sinh nói sao?” Hiển nhiên, Trương Nghi biết rõ Huệ Vương đã thỉnh giáo chuyện này với Hàn Tuyền Tử.
“Tiên sinh nói, đã là thiên tai, hãy cứ thuận theo tự nhiên, bảo Tứ thuận mệnh trời ứng việc người, cứ chuẩn bị đối sách cho chu đáo.”
“Tiên sinh nói phải.” Trương Nghi gật gù, “có điều, hoạ phúc song hành, xét theo địa thế, nếu là thuỷ tai, hoạ phía Sở sẽ càng ghê gớm. Xem ra, trời muốn diệt Sở thực rồi.”
“Em rể nghĩ vậy thật ư?” Huệ Vương nhìn thẳng vào Trương Nghi.
“Vương huynh lẽ nào không nghĩ vậy?” Trương Nghi hỏi ngược lại.
Huệ Vương phá lên cười lớn, đứng dậy: “Đi, tới thăm cháu ngoại của ta!”
Hai người tới tiểu viện của Hương Nữ, thấy trong thảo đường bé nhỏ đã chật kín những người, có mẹ con Hương Nữ, Lâm tiên cô, Mị Nguyệt và vài cung nữ theo hầu. Giữa vùng sơn dã, đám phụ nữ ngồi với nhau, chẳng ai còn đếm xỉa tới Huệ Vương nữa. Nhất là Hương Nữ và Lâm tiên cô, vái chào thi lễ xong rồi, đều quay sang hỏi han Mị Nguyệt, bỏ bẵng hai gã đàn ông quyền cao chức trọng một bên, thậm chí chẳng buồn sắp chỗ.
Trương Nghi le lưỡi, kéo Huệ Vương ra phòng ngoài.
Mị Nguyệt cứ bế khư khư Trương Khai Địa không chịu buông tay. Thằng bé cũng thực ngoan, ngồi yên cho nàng cưng nựng.
“Chị dâu, à không, phải gọi là em Hương nhi. Ồ, cũng không phải, Mị Nguyệt nên gọi chị là chị Hương mới đúng!” Mị Nguyệt nhìn Hương Nữ, đổi liền ba lối xưng hô, mọi người đều bật cười. “Chị Hương, chị phải mách nước cho em, làm sao để sinh được một báu vật xinh xắn thế này?” Mị Nguyệt liếc nhìn Hương Nữ, “thực đáng ghen tị!”
Hương Nữ mỉm cười, chỉ vào Lâm tiên cô: “Chuyện này, phải thỉnh giáo tiên cô.”
“Ôi chao, đại tiên cô,” Mị Nguyệt ngoảnh mặt nhìn sang, rồi đứng dậy, buông Khai Địa ra, vái liền mấy cái, “tiên cô đại ân đại đức, không thể thiên vị, gặp nhau chính là duyên phận, tiên cô đã tặng cho chị ấy, thì cũng phải tặng cho Mị Nguyệt mới công bằng!”
“Đã tặng cho cô rồi đấy.”
“Gì kia?” Mị Nguyệt sửng sốt, nhìn ra xung quanh, “nó ở đâu?”
“Ở đây!” Lâm tiên cô chỉ vào bụng Mị Nguyệt, cười cười đáp.
“Ồ?” Mị Nguyệt ngơ ngác sờ lên bụng mình, “làm sao có thể! Mới nửa tháng trước, ngự y bắt mạch, nói vẫn chưa có gì!” Sau đó, liếc mắt ra phòng ngoài, “người kia bị một bầy hồ ly tinh giữ rịt, chẳng nhìn đến Mị Nguyệt nữa. Cho đến tận khi hay tin người muốn lên núi, Mị Nguyệt mới chặn vương xa lại, nhất quyết đòi theo, nên mới…”
“Ta đã thấy rồi, là giống quý.”
“Chao ôi,” Mị Nguyệt vừa kinh ngạc, vừa sung sướng, “vừa mới trên đường, nhanh đến vậy ư?” Rồi bước tới trước mặt Lâm tiên cô, “đại tiên cô, xin hãy nhìn cho kỹ, chớ có nhầm, đừng để Mị Nguyệt đáng thương này mừng hụt!” Rồi ghé bụng lại nhất quyết đòi Lâm tiên cô xem kỹ, khiến đám phụ nữ lại cười ngặt nghẽo.
Trương Nghi quay sang Huệ Vương, vòng tay: “Chúc mừng vương huynh, lại có quý tử!”
“Ồ…” Huệ Vương cũng tràn đầy kinh ngạc, “chỉ mới đó thôi, Lâm tiên cô sao có thể…”
Trương Nghi bật cười: “Nếu không phải vậy, sao có thể xưng là tiên cô? Vương huynh cũng biết, Hương Nữ bao năm như mảnh đất cằn, vậy mà mới vào núi này, lập tức đâm chồi nảy lộc!”
Mọi người vui cười trò chuyện, chẳng mấy mà trời tối. Hàn Tuyền Tử sai dọn dẹp một gian thảo đường, cho Huệ Vương và Mị Nguyệt nghỉ ngơi.
Sáng hôm sau, Huệ Vương trong lòng có việc, vội vã lên đường từ sớm, tới lúc hoàng hôn đã về tới cung Tần, chẳng kịp nghỉ ngơi sau chặng đường bôn ba, lập tức cho gọi công tử Hoa tới.
“Tát man kia thế nào rồi?” Huệ Vương hỏi.
“Thần đệ đã an trí ở trong dịch quán, cho vài hắc điêu canh chừng cẩn mật!” Công tử Hoa cười đáp.
“Đã gặp Hàn Tuyền tiên sinh, và cả Trương Nghi.”
“Họ nói sao?”
“Ý của tiên sinh, là tuỳ thuận mệnh trời. Ý của Trương Nghi, là trời sắp diệt Sở.”
“Vậy còn ý của vương huynh?” Công tử Hoa nhìn thẳng vào Huệ Vương. “Than ôi,” Huệ Vương khẽ thở dài, “quả nhân đã suy nghĩ suốt dọc đường về, vẫn chưa biết làm cách nào cho khả dĩ. Thế nên, vừa mới hồi cung, đã cho gọi mọi người tới cùng bàn.”
Công tử Hoa nhìn quanh, chỉ thấy mình mình.
“Sắp tới rồi.” Lời vừa dứt, đã nghe tiếng bước chân hối hả lại gần, nội thần dẫn đám trọng thần công tử Tật, Cam Mậu, Tư Mã Thác rậm rịch bước vào.
Giữa đêm triệu kiến, hẳn là đại sự.
Quả nhiên, mấy người ngồi còn chưa ấm chỗ, Huệ Vương đã nhìn sang Cam Mậu, là người chưởng quản việc nông canh: “Cam ái khanh, tình hình mùa màng thế nào rồi?”
“Hồi bẩm đại vương,” Cam Mậu vòng tay bẩm báo, “năm nay mùa xuân hạn hán, vụ hè thất bát, thần đã dâng biểu tấu rõ. Tuy nhiên, từ lúc vào hè tới nay, mưa thuận gió hoà, hôm trước thần có xuống miền hương thôn thị sát đồng ruộng, thấy các loài ngũ cốc tươi tốt bời bời, trông mà thích mắt. Cứ theo đà này, vụ thu năm nay sẽ bội thu.”
“Kho lương có đủ dùng?”
“Đủ dùng trong ba năm.”
“Đủ dùng cho cả nước, hay chỉ đủ dùng cho ba quân?”
Cam Mậu ngơ ngác: “Đủ dùng cho ba quân cùng cung thất, quan phủ.”
“Nếu tính toàn bộ dân chúng thì sao?” Hoài Vương truy hỏi. “Thần chưa tính đến chuyện này. Có điều, các nhà các hộ đều có thóc gạo dự trữ, còn cụ thể là dự trữ bao nhiêu, thần chưa tính đếm, có lẽ đủ cầm cự nửa năm một năm.”
“Thóc gạo của dân dự trữ ở đâu?”
“Trong nhà của họ, nhà nào cũng có kho chứa.”
Huệ Vương khép mắt ngẫm nghĩ.
Mọi người vẫn chưa hiểu Huệ Vương muốn nói gì, ngỡ ngàng đưa mắt nhìn nhau.
“Còn thóc gạo dự trữ trong quốc khố thì sao? Có phải đều được cất ở chỗ cao?” Huệ Vương bỗng mở choàng mắt.
“Bẩm, đều cất ở chỗ cao.”
“Cao chừng nào? Liệu có tránh được nước ngập không?”
“Ồ…” Cam Mậu ngập ngừng một thoáng, “theo thần được biết, ba mươi năm qua, chưa từng có lũ lụt.”
“Ba mươi năm qua, Vị Thuỷ đã có lần nào vỡ đê?” Huệ Vương nhìn sang chúng thần.
Mọi người đều lắc đầu.
Huệ Vương nhìn xoáy vào Cam Mậu: “Cam ái khanh, giả sử mưa bão thình lình, Vị Thuỷ vỡ đê, Quan Trung lũ lớn, nhà cửa ruộng đồng đều ngập lụt, khanh có thể đảm bảo toàn bộ quốc khố không bị nhận chìm?”
“Chuyện này…” Cam Mậu lí nhí, “thần không dám đảm bảo.”
“Còn bao nhiêu quốc khố đang ở dưới mức nước lụt?”
“Còn cần phải xem nước cao bao nhiêu. Theo thần được biết, ba mươi năm trước, Vị Thuỷ từng vỡ đê một lần, chỉ tính riêng xung quanh Nhạc Dương, đã có ba kho lương gặp lụt, ngũ cốc đều bị nhấn chìm hết cả.”
“Lần vỡ đê đó, quả nhân có biết.” Huệ Vương trầm ngâm một thoáng, lại nhìn thẳng vào Cam Mậu, “nếu di chuyển toàn bộ kho lương nơi trũng thấp lên chỗ đất cao, cần bao lâu?”
“Bẩm…” Cam Mậu đắn đo một chốc rồi đáp, “ba tháng, đó là nhanh nhất!”
“Quả nhân biết rồi!” Huệ Vương phẩy tay, “các khanh mau về, điều tra cho rõ, nếu như Vị Thuỷ vỡ đê, gây đại thuỷ tai ghê gớm hơn cả ba mươi năm về trước, thì khắp Quan Trung có bao nhiêu người dân lâm nạn, trong vòng ba ngày, báo lại cho quả nhân.”
Mấy người vội vàng đứng dậy cáo lui.
“Hoa đệ,” Huệ Vương gọi công tử Hoa lại, “hãy triệu tát man!”
Công tử Hoa lập tức tới dịch quán, dẫn tát man vào yết kiến.
“Có thể nói qua về pháp thuật của thượng tiên chăng?” Huệ Vương không chút quanh co.
“Bẩm Tần Vương,” tát man vòng tay đáp, “tại hạ là hậu duệ của họ Cộng Công, đời đời sống ở bên bờ bể Bắc, thờ phụng thuỷ tổ là đại thần Cộng Công. Thuật của tại hạ, được truyền từ tiên tổ, đời đời kế tục, tại hạ từ nhỏ đã có được thuật này. Cuối năm trước, thuỷ tổ thị hiện, dặn dò tại hạ tìm tới quý bang, trợ giúp đại vương hoàn thành đại công tuyệt thế.”
“Đại thần Cộng Công?” Huệ Vương lẩm bẩm, “quả nhân từ nhỏ đã được nghe kể, rằng vào thời Đại Vũ, họ Cộng Công tác loạn, bị đày tới U Châu.”
“Kẻ bị đày tới U Châu, không phải là đại thần Cộng Công thuỷ tổ của tại hạ, mà là hậu duệ của thuỷ tổ Cộng Công. Còn đại thần thuỷ tổ Cộng Công là hậu duệ của thượng hoàng Phục Hy, được thượng hoàng giao chức thuỷ chính, cai quản việc trị thuỷ trong thiên hạ. Sau thời thượng hoàng, thuỷ tổ của tại hạ tranh ngôi hoàng đế cùng Chuyên Húc, Chuyên Húc phái Chúc Dung đến đánh thuỷ tổ, thuỷ tổ không thể địch lại, giận dữ húc đổ núi Bất Chu, làm đứt địa mạch, khiến trời nghiêng về tây bắc, nước chảy sang đông nam. Bởi vậy mà khiến Nữ Oa nương nương nổi giận, mới lưu đày thuỷ tổ của tại hạ tới bể Bắc. Từ đó, bộ tộc của tại hạ định cư bên bờ Bắc Minh, đời đời thờ cúng thuỷ tổ.”
“Bể Bắc ở đâu?” Huệ Vương hỏi.
“Ở đó!” Tát man chỉ về phía bắc, “cách đây ba vạn ba ngàn ba trăm dặm, nước sâu vạn nhẫn, không dò thấy đáy, phóng mắt bốn phía, không thấy bến bờ. Đất ở đó nửa năm băng tuyết, không một gốc cây ngọn cỏ nào mọc nổi, tối tăm không có ánh mặt trời; nửa năm sáng sủa, cây cỏ tốt tươi, mặt trời không lặn.”
“Chao ôi,” Huệ Vương cảm khái thốt lên, “dưới gầm trời này, lại có nơi kỳ lạ đến vậy sao?”
“Thiên hạ rộng lớn, không điều kỳ lạ nào không có.”
“Các vị đã ở tận bên bờ biển Bắc thờ cúng thuỷ tổ Cộng Công, cớ sao lại tìm tới bang ta, giúp ta thành đại nghiệp?”
“Đây chính là do duyên mà tụ, đạo trời xoay vần!” Tát man nói, “thuỷ tổ của tại hạ căm hận nhất là họ Chúc Dung, mà Sở Vương lại là hậu duệ của họ Chúc Dung, bởi vậy nước đó chuộng màu đỏ mà tôn đức Hoả. Lại nhìn thuỷ tổ của đại vương, quả chính là một chi của họ Cộng Công, nên mới chuộng màu đen mà tôn đức Thuỷ. Năm nay Canh Tý, đạo trời đảo ngược, ngũ khí hỗn loạn, Thuỷ khí thịnh vượng, sát tinh xuất hiện, là điềm đại hoạ giáng xuống nhân gian. Ngay từ vài năm trước, thuỷ tổ đã thị hiện với tại hạ, lệnh cho tại hạ tìm tới Tần Sơn, thứ nhất là để trợ giúp đại vương thành tựu đại công, thứ hai là để dời nạn sang Sở, ngõ hầu báo mối thù năm xưa thuỷ tổ bị họ Chúc Dung ức hiếp, thứ ba là để dựng đại miếu thuỷ tổ trên đỉnh Chung Nam mà thờ phụng.”
“Theo như lời thượng tiên,” Huệ Vương đắn đo một lát, lại hỏi, “hơn chục ngày nữa, mưa lớn sẽ trút xuống, nếu như thượng tiên thi pháp trên đỉnh Thái Bạch, vậy thì cần phải dựng đàn tế. Đỉnh Thái Bạch núi cao đường hiểm, tuyết tụ không tan, gió mây khó lường, liệu có kịp dựng đàn chăng?”
“Nếu là chuyện này, đại vương bất tất phải lo lắng.” Tát man nói, “tại hạ ở bể Bắc đã lâu, không sợ giá rét, hơn nữa tới Tần cũng đã hơn năm, đã dạo quanh khắp nẻo núi Chung Nam, về hình thế của đỉnh Thái Bạch, cũng rất thông thuộc. Mọi thứ cần thiết, đều đã dựng xong. Lúc này mọi sự đã sẵn sàng, chỉ còn thiếu một đạo chiếu thư của đại vương mà thôi!” Huệ Vương nghe vậy, bàng hoàng kinh ngạc, bất giác nhìn sang công tử Hoa. Đám tát man kia qua lại nhộn nhịp suốt một năm trời trong vùng núi Chung Nam, vậy mà hắc điêu đài gần trong gang tấc lại chẳng hề hay biết, nghĩ lại, quả là đáng sợ.
Công tử Hoa cũng trợn trừng hai mắt.
“Nếu thượng tiên thi pháp thành công, kết quả sẽ ra sao?” Huệ Vương lại nhìn sang tát man dò hỏi.
“Mây mưa sẽ không vượt qua được đỉnh Thái Bạch, toàn bộ quay về núi Sở, đất Sở sẽ đổ mưa liên tục suốt hai mươi tư ngày, trong đó mưa rào sầm sập mười ngày, mưa lớn mười ngày, mưa rả rích bốn ngày, trong lúc mưa đổ, còn kèm theo sấm sét mưa đá. Đến lúc đó, Giang Hán nước dâng tràn bờ, hồng thuỷ cuồn cuộn, đầm Vân Mộng bành trướng gấp năm, nửa thành Sính Đô chìm trong biển nước. Chuyện tiếp theo đó, còn khủng khiếp hơn…” Tát man úp mở.
“Sao kia?” Huệ Vương nín thở.
“Ôn thần!”
Hai tiếng “ôn thần”, đủ khiến Huệ Vương kinh hãi đến toát mồ hôi lạnh.
Khép mắt ngẫm nghĩ hồi lâu, Huệ Vương lại quay sang tát man: “Ngoài một chỉ dụ, thượng tiên còn cần gì nữa?”
“Ba trăm sáu mươi binh tốt, canh giữ các nẻo đường dưới chân núi, giống như hộ pháp, để tránh có người lọt vào quấy nhiễu pháp đàn, khiến việc sắp thành lại bại.”
“Quả nhân hiểu rồi, giờ Ngọ ngày mai, hãy chờ chỉ tại dịch quán.” Huệ Vương phẩy tay.
Tát man vòng tay từ biệt, sải bước đi ra.
Tối đó, Huệ Vương suốt đêm không chợp mắt, một mình ngồi trong ngự thư phòng, ngẫm nghĩ lại một lượt tiền căn hậu quả, bên tai như văng vẳng từng giọng nói.
Giọng Hàn Tuyền Tử: “Đã là thiên sát, thì phải nghe theo mệnh trời…Làm được như vậy, trời cao sẽ phù hộ đại vương!”
Giọng Cam Mậu: “Ba tháng, đó là nhanh nhất!”
Giọng tát man: “Mây mưa sẽ không vượt qua được đỉnh Thái Bạch, toàn bộ quay về núi Sở, đất Sở sẽ đổ mưa liên tục suốt hai mươi tư ngày.”
Giọng của Trương Nghi: “Xét theo địa thế, nếu là thuỷ tai, hoạ phía Sở sẽ càng ghê gớm. Xem ra, trời muốn diệt Sở thực rồi.”
Huệ Vương suy nghĩ rối bời, cứ thế trăn trở tới tận khi trời sáng, vừa mới đổ vật xuống giường, mơ mơ màng màng chợp mắt được một chốc, đã gặp ngay cơn ác mộng mà giật mình choàng tỉnh.
Huệ Vương không thiết ngủ nữa, vội vã đi tới thái miếu, tế bái tổ tiên, rồi lại vào trong điện Di Tình, lấy ra tấm bia đá mà Hiếu Công truyền lại, nhẩm thầm vài lượt câu văn bia đó: “Số Chu tám trăm, đỏ tận đen xuất, xưng đế thiên hạ, bốn biển đều phục.”
Bên tai Huệ Vương lại vang lên giọng nói của tát man: “Thuỷ tổ của tại hạ căm hận nhất là họ Chúc Dung, mà Sở Vương lại là hậu duệ của họ Chúc Dung, bởi vậy nước đó chuộng màu đỏ mà tôn đức Hoả. Lại nhìn thuỷ tổ của đại vương, quả chính là một chi của họ Cộng Công, nên mới chuông màu đen mà tôn đức Thuỷ.”
“Tiên quân ở trên, chư linh liệt tổ liệt tông ở trên,” Huệ Vương ý đã quyết, bèn nhìn lên không trung cầu khấn, “Tứ Nhi hôm nay mới biết, thuỷ tổ của ta vốn là hậu duệ của họ Cộng Công, noi theo đức Thuỷ, vậy nên sùng chuộng màu đen, còn họ Sở sùng chuộng màu đỏ. Thuỷ Hoả không dung, ta và Sở không thể cùng tồn tại trên đời. Nay trời trợ giúp ta, mới cho hịch nhân từ tận bể Bắc tìm tới. Tuy nhiên, hịch nhân này hành thuật hắc vu, giá hoạ cho người, thực không phải là hành vi quân tử, song trời đã gieo sát, thì không người nào đủ sức ngăn cản. Dù ta không hành hịch thuật, người Sở cũng khó thoát kiếp nạn lũ lụt. Đã không thể thoát, thì lụt ít lụt nhiều cũng là tai ương, Tứ Nhi ý đã quyết rồi, sẽ cho kẻ kia hành hịch thuật. Tự cổ chí kim, phàm là người làm đại sự, không ai không kiên quyết đến cùng. Tứ Nhi thỉnh cầu chư linh tiên tổ trên cao phù hộ cho Tần thất.”
Huệ Vương khấn xong, đã thấy an tâm hơn chút ít, chợp mắt một chốc, rồi đúng vào giờ Ngọ, cho mời tát man vào yết kiến, ân chuẩn việc lập miếu xây đàn trên đỉnh Thái Bạch, tế bái đại thần Cộng Công, hoằng dương thánh đức, đồng thời lệnh cho công tử Hoa chọn lấy ba trăm sáu mươi lính Tần, cho tát man sai khiến. Tấu chương hoả tốc của Khuất Bình được Đặng Thuẫn sai người chuyển về Sính Đô, song lại không trình lên Hoài Vương ngay, mà đưa thẳng đến phủ Ngạc Quân Khải. Ngạc Quân Khải đọc xong, cười nhạt một tiếng: “Hừm, muốn về Sính Đô thì cứ nói toẹt ra đi, lại bày lý do này nọ, thực là nực cười!”
Tử Khải vứt luôn bản tấu vào một xó, tận hai ngày sau, mới cười cợt kể lại với vương thúc.
“Cháu hiền…” vương thúc ngẫm nghĩ một lát rồi nói, “mang bản tấu báo đó lại đây cho chú xem!”
Ngạc Quân bèn mang tấu chương lại. Vương thúc xem xong, thở hắt ra, lừ mắt nhìn Tử Khải: “Này cháu, suýt làm lỡ đại sự rồi đó!”
“Ý chú muốn nói, nước Sở thực sự sắp gặp nạn hồng thuỷ?” Tử Khải sửng sốt, “mưa xuống cũng tốt mà, chẳng phải ruộng đồng đang hạn hán đó ư, còn sợ mưa sao?”
“Cháu đúng là trẻ người non dạ, không biết thế nào là hay dở nặng nhẹ!” Vương thúc trách móc.
Tử Khải cười hềnh hệch: “Chẳng phải vẫn còn cô em tư tế đó sao? Cô em thờ cúng đại thần Vu Hàm, cai quản được cả thần mây thần mưa kia mà!”
“Cho nên, chỗ hay dở nặng nhẹ chính là ở đó!” Vương thúc chỉ vào tấu chương, “Vân Nhi cũng ở trong tiên miếu, nếu như mưa thuận gió hoà, thì Khuất Bình có phải viết tấu chương này không?” Lại chỉ ra bầu trời bên ngoài, “ngôi sao chổi trên kia, chú đã trông thấy vài ngày, hôm qua còn mời miếu doãn xem thử, lời của miếu doãn, giống hệt như tấu chương này.” Cất bản tấu đi, “giờ chú phải vào cung, còn cháu hãy báo tin cho tất cả thân tộc bằng hữu, cứ nói là chú dặn, lập tức dốc sức chống lụt, chuyển khỏi nơi thấp trũng, củi đốt, thóc gạo cùng những thứ cần thiết, đều phải chuẩn bị cho đầy đủ.”
Vương thúc mang theo tấu chương của Khuất Bình vào cung, thấy Hoài Vương đang trò chuyện cùng Ngận Thượng, sắc mặt cả hai đều lộ vẻ bồn chồn lo lắng.
“Hiền đệ tới thật đúng lúc,” Hoài Vương cất giọng rầu rĩ, “Chiêu Tuy gửi tấu báo về, nói rằng Trương Nghi đau chân chưa khỏi, vẫn đang dưỡng thương trong núi Chung Nam. Chiêu Tuy liên tục cầu kiến Tần Vương, mà Tần Vương không chịu gặp, còn chuyển lời rằng, việc này do Trương Nghi chủ trì, phải chờ Trương Nghi về triều rồi tính. Than ôi, hiền đệ, chuyện này phải tính sao đây?”
“Vương huynh,” vương thúc vòng tay, “chuyện này không còn quan trọng nữa.”
“Ồ?”
“Thần xem thiên tượng, thấy có bội tinh xuất hiện vào lúc sớm mai. Bội tinh xuất hiện, ắt có tai ương. Thần đã hỏi miếu doãn và đại vu, họ đều nói tai ương có lẽ là hồng thuỷ. Mấy ngày gần đây, tiết trời oi ả, hẳn là điềm báo trước. Thần thỉnh cầu đại vương hãy chiếu cáo cho thần dân cả nước đề phòng lũ lụt, dân ở vùng trũng phải chuyển hết lên cao.” Vương thúc bẩm tấu.
“Hồng thuỷ?” Hoài Vương nhìn sang Ngận Thượng, “không thể nào chứ? Mấy ngày qua, cây cỏ trong cung đều khô quăn hết lá, quả nhân còn đang tính chuyện lập đàn cầu mưa.” Nói đến đây, bỗng sực nhớ tới Bạch Vân, “phải rồi, Bạch tư tế đâu? Sao nàng ta vẫn chưa trở về?”
“Bạch tư tế và tả đồ vẫn ở tiên miếu, nói rằng kính cẩn tuân theo chỉ dụ của đại vương, túc trực trong miếu chín mươi chín ngày.” Ngận Thượng đáp.
“Quả nhân đã hạ chỉ dụ như vậy ư?” Hoài Vương ngỡ ngàng hỏi.
“Là đại vương ban khẩu dụ cho quân uý tuỳ tùng, khi đó, thần cũng có mặt.” Ngận Thượng xác nhận.
“Sửa chỉ,” Hoài Vương ngẫm nghĩ chốc lát rồi nói, “mời họ gấp rút về cung, nhất là tư tế, bất luận cầu mưa hay đuổi mưa, cũng đều cần đến nàng ấy. Phải rồi, còn Khuất Bình, hắn thế nào rồi?”
“Thần cho rằng không nên!” Ngần Thượng vội can.
“Sao kia?” Hoài Vương nhìn sang Ngận Thượng.
“Sự việc cấp bách trước mắt, không phải là cầu mưa hay đuổi mưa, mà là sáu trăm dặm sơn cốc Thương Ư.” Ngận Thượng đáp, “theo thần suy đoán, Trương Nghi ngã gãy chân là giả, cố tình không ra mặt mới là thật.”
“Khanh dựa vào đâu mà suy đoán như vậy?”
“Thần rất hiểu Trương Nghi. Cho dù có ngã lăn từ trên dốc xuống, vết thương có nặng đến mấy cũng không đến nỗi không thể nói năng. Nếu hắn thực tình muốn xử trí việc này, chớ nói là ngã gãy chân, dù có gãy cả chân tay, cũng không có chuyện không chịu gặp Chiêu Tuy. Hắn cố tình tránh mặt, chỉ có một nguyên do, chính là hắn không muốn thực hiện việc này!”
“A…” Hoài Vương sững sờ, “việc này chẳng phải đã ước định rồi ư? Minh ước cũng lập xong rồi!”
“Thần đã suy nghĩ kỹ,” Ngận Thượng tiếp lời, “minh ước là do Trương Nghi lập thay, chứ không phải đích thân Tần Vương lập. Nhưng phía chúng ta, lại là đại vương để danh chứ không phải là lệnh doãn. Đất, là của Tần Vương, Trương Nghi chỉ là tướng quốc, minh ước hắn lập, Tần Vương hoàn toàn có thể khước từ. Do vậy, minh ước đó, chỉ là giao ước nửa vời mà thôi. Trừ phi Trương Nghi chịu ra mặt, khuyên Tần Vương đề danh đóng ấn tỉ, giao lại Thương Ư, minh ước mới được tính là đã lập.”
“Khanh nói phải!” Hoài Vương nhìn sang Ngận Thượng, “có điều, chính miệng Trương Nghi đã nhận lời, sao có thể tránh mặt không gặp?”
“Đại vương, xin hãy nhớ lại sự việc xảy ra trong cung hôm đó,” Ngận Thượng đáp. “Đại vương vốn dĩ đã bàn xong với Trương Nghi, nhưng Trần Chẩn kia lại thình lình chen ngang, một hai lên án người Tần không đáng tin, còn viện ra đủ thứ biện luận hoang đường. Trần Chẩn chẳng qua chỉ là một khách khanh, chuyện của Tần, Sở, nào có liên quan gì tới hắn, mà hắn lại…Đâu chỉ có thế, Trương Nghi hôm đó đã thấy mếch lòng, nhưng đại vương lại tán đồng ý của Trần Chẩn, việc đến nước đó, Trương Nghi không thể không chấp thuận. Sau đó thì sao, đại vương lệnh cho Chiêu Tuy theo đến Hàm Dương thực thi giao ước, phái Trần Chẩn sang Lâm Truy tuyệt giao với Tề. Đã thống nhất là khế ước phải thực hiện đồng thời, nhưng Trần Chẩn đã tuyệt giao với Tề chưa? Trần Chẩn còn chưa tuyệt Tề, thì chân Trương Nghi còn chưa khỏi!”
Hoài Vương há miệng một chốc, nhưng không biết phải nói gì. Đúng vậy, một kẻ ở Tần, một kẻ ở Tề, cách nhau hơn hai nghìn dặm, làm sao có thể đồng thời thực thi khế ước?
“Được,” trầm ngâm một chốc, Hoài Vương mới nói, “giờ quả nhân sẽ xuống chiếu cho Trần Chẩn thực thi khế ước, tuyệt giao với Tề!”
“Đại vương,” Ngận Thượng cười nhăn nhó, “sở dĩ Trần Chẩn cứ trù trừ không chịu tuyệt giao, cũng là vì thực thi khế ước, cũng là bởi đang chờ người Tần thực thi khế ước. Trương Nghi gãy chân mãi không khỏi, cũng là vì thực thi khế ước, cũng là bởi đang chờ người Tề thực thi khế ước. Một bên là Trần Chẩn, một bên là Trương Nghi. Đại vương đã biết, Trương Nghi khi còn ở Sở, đã bị Trần Chẩn hãm hại; còn Trần Chẩn khi còn ở Tần, lại bị Trương Nghi đuổi đi. Trần Chẩn và Trương Nghi vốn là kẻ thù không đội trời chung, đại vương lại để cho hai kẻ thù địch đồng thời thực thi cùng một khế ước, lại một kẻ sang đông, một kẻ sang tây, cách nhau hơn hai nghìn dặm. Chớ nói là bây giờ, e rằng tới ba đời tám kiếp nữa cũng chẳng thể làm xong!”
“Than ôi,” Hoài Vương càng nghĩ càng thấy hữu lý, chỉ biết thở dài, nhìn sang Ngận Thượng, “theo ý của khanh, nên làm thế nào mới phải?”
“Theo như thần thấy, đại vương có thể phái sứ thần khác sang Tề tuyệt giao. Sau đó sẽ thực thi khế ước với người Tần. Thấy đại vương đã tuyệt giao với Tề, chân của Trương Nghi sẽ khỏi ngay thôi!”
“Vậy ta nên cử ai đi?”
“Theo thần được biết,” Ngận Thượng đáp lời, “nước Yên nội loạn, người Tề vào Yên, không còn rảnh rỗi để nhìn đến phương nam, nên chắc chắn sẽ không chịu tuyệt giao với ta. Người Tề không chịu, ta cũng đâu thể tuyệt giao. Ta không thể tuyệt giao, người Tần sẽ không tin ta, vậy thì Thương Ư…” Ngận Thượng không dám nói xa hơn nữa, dừng lại một thoáng, lại quay về chuyện chính, “theo ý của thần, đại vương có thể tìm lấy một người miệng lưỡi sắc sảo đi sứ sang Tề, chọc tức Tề Vương, khiến Tề Vương nổi giận mà tự tuyệt giao với ta.”
“Chọc tức thế nào?”
“Trách mắng.”
“Ồ…” Hoài Vương chau mày, “Tề Vương thứ nhất không hề đắc tội với quả nhân, thứ hai không hề có lỗi với người Sở, quả nhân biết phải trách mắng thế nào?”
“Sao lại nói là không?” Ngận Thượng cất giọng hùng hồn, “Tô Tần hợp tung sáu nước, minh ước vẫn còn, mà Tề Vương lại khởi binh phạt Yên, là tự huỷ minh ước, là phản bội đại nghĩa thiên hạ. Đại vương hoàn toàn có thể mượn danh chính nghĩa mà trách mắng Tề Vương!”
Hoài Vương phẩy tay: “Cứ theo ý khanh, hãy mau tìm người!”
“Thần đã tìm được người thích hợp. Người này họ Tống tên Di, can đảm lại giỏi nói năng, một lòng muốn được lưu danh sử sách.”
“Vậy cứ cho hắn đi.”
Trong sự bồn chồn lo lắng tăng theo từng ngày của Khuất Bình và Bạch Vân, mưa to gió lớn đã ập xuống đúng như dự đoán.
May sao, quân uý giám sát cũng chịu nghe lời, dự trữ đầy đủ mọi thứ cần cho phòng lụt như gạo, dầu, thịt, muối, còn mở rộng thêm kho chứa củi, chất đầy củi khô vào đó. Tiên miếu nằm trong khu lăng mộ, là nơi cao nhất trong thành Đan Dương, còn cao hơn lầu cổng thành gần đó rất nhiều, mưa lớn đến mấy cũng không làm gì nổi.
Hôm mưa lớn đổ xuống, lại là một ngày nóng nực oi ả. Sáng sớm trời vẫn tạnh ráo, gà vừa cất tiếng gáy, Bạch Vân đã kéo Khuất Bình ra xem sao chổi, thấy nó đã bay rất xa khỏi vị trí hôm trước, vệt đuôi cũng không còn sáng nữa. Mấy ngôi sao bay theo sau nó đã tản mát ra xa, có một ngôi sao không còn nhìn thấy đâu, song Bạch Vân hiểu rõ, nó vẫn đang di chuyển trên bầu không như cũ. Chỉ bởi bầu trời mờ đục hơn nhiều, lớp hơi mù che phủ càng thêm dày đặc, khiến ánh bình minh vốn dĩ hồng tươi cũng bị tước hết phần sinh khí.
“Tư tế,” Khuất Bình ngáng đầu nhìn trời, “theo như nàng suy đoán, thì mưa lớn sẽ đến vào hôm nay?”
“Giờ Thân!” Bạch Vân dứt khoát. Quả nhiên, đến sáng, gió bắt đầu nổi, đến giờ Ngọ thì gió ù ù, từ phía trời nam, mây ùn ùn kéo đến. Tới gần giờ Thân, cuồng phong gầm thét, mây đen dày đặc, bầu trời tối bưng như bị úp trong một lòng chảo khổng lồ. Trong tiếng gió rít kinh hồn, một cành cây to cỡ bắp chân trong miếu bị vặn răng rắc khỏi cây đại thụ một vòng ôm. Cuồng phong thốc thẳng vào đại điện, hất tung một góc ngói, vụn gạch vụn ngói bay tứ tung, rơi tan tác trong sân miếu.
Không chỉ có thế, cành cây gãy rơi xuống lăn lông lốc trên mái nhà vài vòng, bị gió cuốn bạt đi, bay về phía đàn tế trước điện, quật gãy rời ba cột cờ dựng ở một bên đàn tế. Mấy lá cờ lớn hệt như cánh diều dứt dây, kéo theo khúc cán gãy, bay dạt về phía bức tường. Hai lá cờ bị cuốn bật qua đỉnh tường, bay đi mất hút. Lá cờ còn lại bị kẹt cán trong góc tường, lồng lộn lên xuống trong gió thổi, như một kẻ điên đang nhấp nhỉnh vượt tường.
Mưa còn chưa rơi một giọt, mà ông trời đã ra oai phủ đầu. Hết thảy người trong miếu đều kinh hãi rụng rời, ngay cả Đặng Thuẫn trước giờ trong mắt chỉ có đại vương và vương thúc, giờ cũng phải buột miệng rú lên hãi hùng. Vừa xông ra ngoài định cướp lại cột cờ, đã bị cuồng phong lôi đi, chân rời khỏi đất, phải vội vàng ngã rạp xuống, bò lết mà quay vào.
Cuồng phong thổi chừng một khắc thì dần dần nhỏ lại. Một binh sĩ xông ra, định nhặt lấy cột cờ, còn chưa kịp chạy tới bên đàn tế, thình lình một ánh chớp xé toạc bầu trời đen kịt, kèm theo tiếng nổ chát chúa. Do sét đánh rất gần tiên miếu, tiếng sấm đinh tai nhức óc muốn rách màng nhĩ, hơn chục vu nữ mặt cắt không còn hột máu, rúm lại với nhau, hãi hùng nhìn lên bầu trời.
Binh sĩ kia kinh hãi quá ngã nhào xuống đất, Đặng Thuẫn vội sai người chạy ra cõng hắn vào.
Tiếp đến, chớp loè nhay nháy, sấm nổ đùng đùng, mỗi lúc càng thêm dày đặc, nhưng chỉ vòng vòng xung quanh tiên miếu.
Sau một tràng sấm sét kinh động, mưa bắt đầu trút xuống, hạt nào hạt nấy to như quả táo, dày đặc theo nhau, từ trên lòng chảo khổng lồ đen kịt kia giáng thẳng xuống. Hạt mưa lớn đập xuống mặt đất khô cằn, không kịp thấm xuống, nhanh chóng hội tụ thành dòng, cuốn theo từng đám lá rụng cành gãy trong đợt cuồng phong, chảy dồn xuống rãnh. Rãnh nước không đủ sức chứa, lại thêm tắc nghẽn lá cây, chưa đầy một khắc, nước trong sân miếu đã dềnh lên như ao. Quân uý vội dẫn theo mấy tên lính mặc áo tơi, đội mũ lá, lặn ngụp trong mưa, cật lực khơi thông các rãnh.
Từ đầu đến cuối, Khuất Bình và Bạch Vân sánh vai nhau đứng bất động trước cửa đại điện, mặt không đổi sắc.
Cửa điện mở toang, hai người đứng ngay trước cửa, mặc kệ cuồng phong, mặc kệ lá rụng cành gãy, mặc kệ sấm sét mưa tuôn…Mặc cho trời cao phô bày toàn bộ uy lực dữ dội, giáng từng sát chiêu xuống ngay trước mắt.
Cả hai đều phục sức trắng toát, tay nắm chặt tay.
Mưa trút xuống mỗi lúc một nặng hạt, tiếng sấm nổ mỗi lúc một vang rền, ánh chớp loé mỗi lúc một chói rực. Nói ra cũng thực lạ, chớp loè sấm động không dịch chuyển đi đâu khác, mà trước sau vẫn cứ xoay vòng xung quanh đại điện của tiên miếu, cứ như bao nhiêu uy lực khủng khiếp của trời cao chỉ cốt để san bằng đại điện nước Sở.
Ánh chớp vẫn theo nhau xé toạc bầu trời đen đặc, hết vệt này đến vệt khác. Tiếng sấm vẫn theo nhau nổ rền giữa hư không, hết tiếng này đến tiếng khác.
Đột nhiên, Khuất Bình trở nên kích động.
Khuất Bình buông tay Bạch Vân, chạy lao xuống bậc cấp trước đại điện như một tia sáng trắng, xông ra ngoài trời mưa gió tối tăm, leo thẳng lên đàn tế trước điện.
Mưa đổ như trút, gõ xối xả lên khắp cơ thể Khuất Bình. Tấm áo trắng ướt đẫm dính chặt lấy người, mái tóc dài bết nước vẫn bay tán loạn trong gió dữ. Khuất Bình đứng trên đàn tế, hai tay giơ cao, ngửa mặt lên trời hú dài một tiếng: “Khuất Bình tới đây!”
Dứt tiếng hú, Khuất Bình bắt đầu nhảy múa trên đài tế, vừa nhảy múa điên cuồng, vừa lớn tiếng hô gọi: “Tới đây, kiếm trời! Tới đây, sấm sét! Hãy tới cả đây, trút xuống thân này. Bao nhiêu thần uy, bao nhiêu oán hận, bao nhiêu cuồng loạn, cứ trút xuống đây, xuống Khuất Bình này!”
Quả là kỳ lạ, Khuất Bình vừa dứt lời, một tia chớp sáng loè bỗng rạch trời đánh xuống, trúng gốc cổ tùng già nhất trong miếu. Liền ngay sau đó, sấm nổ dậy đất, gốc cổ tùng bị chẻ toác làm đôi, sân miếu rung lên dữ dội, cơn chấn động kịch liệt hất Khuất Bình ngã nhào xuống đài tế.
“Khuất Tử…” Bạch Vân hét lớn, lao tới như bay, vực Khuất Bình dậy. Hiển nhiên, sét không đánh trúng Khuất Bình.
Khuất Bình định thần trở lại, nhưng không đếm xỉa đến thân cây cổ thụ vẫn đang bốc khói trong mưa, không đếm xỉa đến chớp loé sấm nổ chấn động quanh mình, lập tức vùng khỏi tay Bạch Vân, quỳ xuống trên đàn, lại giơ thẳng hai tay hướng lên bầu trời, hú dài một tiếng, lại cao giọng hát: “Kìa trời xanh mênh mông, sao mây đen giăng kín? Kìa huyền điểu cửu thiên, sao bay tới phương nam? Kìa Vân Mộng mịt mờ, sao không cho giặt mũ? Kìa anh linh tiên tổ, sao không đoái thương dân? Tiểu nhân rậm rịch chừ, sao nút tai bịt mắt? Quân chủ hoang mang chừ, sao không nghe trung thần? Ô hô thương thay, sẻ quạ tung hoành chừ, chim loan kêu bật máu! cỏ dại rậm rạp chừ, chi lan giờ khô héo! Thương Trụ thất đạo, moi tim Tỷ Can! Sâu mọt khắp nước, dân chúng lầm than! Ô hô thương thay, kiếm trời ở đâu? Ô hô thương thay, sấm sét ở đâu? Hãy mau tới đây, giáng xuống thân này!”
Lời hát vừa dứt, lại một tia chớp loé sáng ngang trời, đánh thẳng xuống nóc đại điện.
Sấm nổ nhức óc, nóc đại điện bị đánh vỡ toang, lửa toé lập loè, khói bốc ngùn ngụt. Song khói lửa mau chóng bị dập tắt bởi trận mưa sầm sập, rồi lửa hoá khói, khói lụi hoàn toàn.
Tận mắt chứng kiến sấm chớp từ đầu tới cuối chỉ nhắm vào tiên miếu, Bạch Vân thình lình bừng hiểu.
Bạch Vân đứng bật dậy trên đàn tế, bước chân như lướt, vòng quanh Khuất Bình, nhảy lên điệu vũ Vu Hàm, vừa nhảy vừa vẫy tay về phía chúng vu nữ. Thấy tư tế vẫy gọi, chúng vu nữ bất chấp tất cả, đều chạy ra giữa trời mưa, bám theo sau Bạch Vân, xoay vòng xung quanh Khuất Bình, bắt đầu nhảy múa vùn vụt trong mưa dữ.
Bạch Vân vừa nhảy, vừa luôn miệng tụng niệm từng tràng thần chú.
Chốc sau, sấm sét từ từ dịu lại, chớp không loé nữa, sấm không nổ nữa, chỉ có mưa vẫn ào ào trút xuống như té nước, không mảy may giảm bớt, tựa hồ đổ thẳng xuống khỏi phễu trời, muốn xối sập toà cổ miếu của Đại Sở.
Trên đỉnh Thái Bạch, trời xanh muôn dặm.
Sương giá bồng bềnh, từng đợt khí lạnh thấu vào xương tuỷ. Đỉnh núi vẫn tuyết phủ trắng xoá, không có chỗ hở. Tuyết này đọng từ mùa đông, đến hè thì tan ra dưới nắng ấm, tạo thành mạch nước, chảy xuống xung quanh đỉnh núi, tụ thành bốn đầm nước tại bốn phương, lớn thì vài chục mẫu, nhỏ thì dăm ba mẫu. Bốn đầm nước như bốn mặt gương soi, từ bốn phương phản chiếu đỉnh tuyết trắng chọc trời quanh năm không bao giờ tan hết. Bên cạnh bốn đầm nước có vài chục gian nhà bằng gỗ lợp cỏ, đây chính là nơi cư trú của vài chục hắc hịch tới từ bể Bắc.
Tuyết trên đỉnh Thái Bạch, chỗ thì tan thành nước, chỗ thì lở từng mảng, vừa lở vừa tan, vừa tan vừa lở, số lở nhiều hơn số tan, suốt ngàn vạn năm qua, đã hình thành nên một chỏm tuyết cứng rắn vĩnh cửu. Chỏm tuyết ấy, chỗ dày nhất đến hơn chục trượng, chỗ mỏng nhất cũng đến vài trượng, ngự trên đỉnh cao nhất có một tảng đá tròn cỡ lớn, nhẵn thín đến mức cơ hồ không thể đọng tuyết trước gió dữ quanh năm, nhưng cũng ngưng tụ một lớp băng dày, giẫm lên trên đó, chỉ hơi bất cẩn sẽ trượt chân, rơi xuống vực sâu vạn trượng.
Tảng đá lớn chừng vài trượng vuông, không có lấy một kẽ nứt, không có lấy một vết rạn, tròn trịa như một quả trứng trời sinh. Mặt trên của “quả trứng” có một khoảnh phẳng phiu rộng hơn một trượng, bị che khuất hoàn toàn dưới lớp băng vạn năm, như một lớp vỏ trứng trong veo bóng loáng.
Lúc này, lớp “vỏ trứng” ấy đang nâng đỡ cho đàn tế do đám hắc hịch từ bể Bắc dựng lên.
Đàn tế được dựng cực kỳ chắc chắn. Vài cái móc cỡ lớn bằng ô kim xuyên sâu vào băng cứng, ngoắc vào phiến đá, bấu chặt lấy quả trứng khổng lồ từ tám hướng, giữ vững cho đài vuông được ghép từ thân gỗ lớn đặt ngang trên mặt “quả trứng”.
Đài vuông mỗi chiều trượng tám, giống như một mặt án khổng lồ, quay thẳng lên trời. Xung quanh mặt án dựng một vòng lan can gỗ, hẳn là để giữ an toàn cho hắc hịch không bị trượt chân rơi xuống vực sâu. “Trứng” thì nhỏ mà đài thì to, từ xa nhìn lại, đài tế cứ như bắc lơ lửng giữa chừng không.
Công tử Hoa sùm sụp áo ấm, đầu đội mũ da, được một hắc hịch dẫn đường, leo lên đỉnh núi Thái Bạch, nhìn thấy cảnh tượng trước mặt, chỉ biết tấm tắc tán thán. Lúc này, hắc hịch thủ lĩnh đang làm phép trên đài.
Kẻ đó là thủ lĩnh của toàn bộ hắc hịch, cũng là đại tư tế thờ đại thần Cộng Công.
Khiến công tử Hoa phải trợn mắt kinh ngạc, đó là trong cái giá lạnh cắt da cắt thịt trên đỉnh núi, mà đại tư tế kia vẫn mình trần như nhộng, vừa nhảy vòng vòng quanh đài tế, miệng vừa rỉ rả không ngừng giống như đang niệm thần chú.
Công tử Hoa há miệng, đang định lên tiếng, thì một gã hắc hịch trẻ đã suỵt khẽ rồi chỉ lên đàn tế. Công tử Hoa đành chép miệng im lặng.
“Đại nhân hãy xem!” Tiểu hịch kia chỉ về phía nam, giọng thì thào nhỏ tới mức hầu như không nghe thấy, rõ ràng không dám quấy nhiễu việc làm phép trên đài.
Công tử Hoa nhìn về phía trời nam, mới thấy nơi đó mây đen cuồn cuộn, kéo dài dằng dặc đến hút tầm mắt, không thấy điểm tận cùng. Biển mây đen ấy đang vần vũ từ đằng xa dồn lại, tới đỉnh núi này, lại lập tức quay đầu lộn trở về, nên ùn ứ chồng chất lên nhau, lại càng dày đặc hơn nữa, rồi kéo sang vùng đất Kinh Sở.
Công tử Hoa định thần nhìn kỹ, thấy những vầng mây kia vốn dĩ đang men theo sườn núi tràn lên đỉnh Thái Bạch, tuy nhiên, còn chưa tới đỉnh núi, đã bị một sức mạnh vô hình thổi bạt đi, quay đầu bay lộn về phía Kinh Sở.
Càng khiến công tử Hoa kinh ngạc hơn nữa, đó là ngăn cản biển mây đen ấy, không phải chỉ có một đỉnh Thái Bạch, mà giống như thể có một bức tường vô hình từ đỉnh Thái Bạch kéo dài sang hai bên tả hữu, vắt ngang qua toàn bộ các sườn núi trong dãy Chung Nam dài tám trăm dặm.
Chừng nửa canh giờ sau, đại tư tế làm phép xong, bèn mặc áo đội mũ, vẫy tay với công tử Hoa.
Công tử Hoa đi theo tiểu hịch, men theo bậc thang leo lên đàn tế.
Lúc này, mới thấy trên đàn tế bày bốn thức tế phẩm màu đen, gồm một con gấu đen, một con ưng đen, một con lợn đen và một con cá khô đen trũi. Công tử Hoa chỉ nhận ra ba vật đầu tiên, còn con cá kia thì trông rất lạ.
“Cá gì vậy?” Công tử Hoa hỏi.
“Cá bể Bắc, thức cúng đại thần ưa thích nhất!” Đại tư tế đáp.
Xen giữa bốn vật tế này là ba cái lọ cũng màu đen, một cái mở nắp, một cái nút chặt, một cái nắp mở hờ. Bày phía sau ba cái lọ đen là bài vị của đại thần Cộng Công.
Ánh mắt của công tử Hoa dừng lại trên ba cái lọ đen, rồi nhìn sang đại tư tế dò hỏi.
“Đó là pháp khí của đại thần.” Đại tư tế giải thích ngắn gọn, rồi đưa tay chỉ xuống phía dưới đàn tế, “Hoa đại nhân, mời đến thảo đường!”
“Gió lốc không hết sáng, mưa rào không trọn ngày. Ai làm nên thế? Trời đất.” Lão Tử đã từng nói vậy.
Thế nhưng, mưa to gió lớn trút xuống đại địa Kinh Sở lại hoàn toàn trái ngược với chuẩn tắc của trời đất, không những không chấm dứt trong ngày, mà sau khi sầm sập triền miên suốt ba ngày ba đêm, vẫn không hề có dấu hiệu ngưng nghỉ.
Ngòi lạch kết thành hình chữ Mị khổng lồ trong nội cung Sở vốn nối liền với sông suối của Sính Đô, mà sông suối ở Sính Đô hầu hết đều nối thông với Giang Hán. Mới chỉ vài ngày ngắn ngủi, mực nước Giang Hán đã dâng cao vài trượng, đầm Vân Mộng cũng mở rộng gấp đôi, nước trong cung Sở thoạt tiên còn chảy được, tới ngày thứ tư, bắt đầu ứ trệ.
Mưa lớn tới ngày thứ tám, nước đã ngưng chảy hoàn toàn, bắt đầu dồn tích lại, dâng cao từng tấc từng tấc, rồi tràn trề qua bờ, từ trên gác cao nhìn xuống, chữ Mị cứ phình lên to dần theo từng ngày, rồi nét này nhoà vào nét kia, từ từ biến mất dưới làn nước trắng xoá.
Chỗ trũng trong cung Sở, nước đã ngập mênh mông, cung viện đài tạ, cây cối cỏ hoa đều ngập chìm trong nước. Đường đi lối lại trong cung cũng dần dần ngập lút, may mà các cung nhân đã thạo đường, biết rõ chỗ nông sâu, mới không bị thụt chân chết chìm.
Thế nhưng ở Sính Đô, nơi dựng cung Sở tuyệt không phải vùng đất trũng.
Hoài Vương lấy làm hốt hoảng.
Nhìn thấy hạt mưa đã nhỏ bớt lại, biến thành mưa dầm, Hoài Vương hối hả bước xuống khỏi lầu cao, sải bước tiến vào trong cung.
Cung doãn mình khoác áo tơi, đang luôn tay luôn miệng sai phái cung nhân hoặc khơi thông dòng nước, hoặc di chuyển đồ đạc, cố gắng không để của cải bị ngập chìm. Thấy Hoài Vương tiến lại, cung doãn dừng tay, khom lưng hành lễ: “Đại vương?”
“Lập tức triệu kiến vương thúc, thượng quan Ngận Thượng, cùng toàn bộ triều thần, vào triều nghị sự!” Hoài Vương hạ lệnh.
“Hồi bẩm đại vương,” cung doãn lí nhí đáp, “không thể đi được nữa.”
“Cái gì mà không đi được?” Hoài Vương ngạc nhiên.
“Bẩm, ngoài cổng cung.” Cung doãn đưa tay chỉ ra ngoài, “thần đã sai người thăm dò, trên con đường trước cổng, có vài chỗ tích nước sâu đến hơn ba thước.”
“Sâu ba thước mà không đi được ư?” Hoài Vương nổi giận đùng đùng, “dù sâu một trượng, chúng phải lội tới đây cho quả nhân!”
“Đại vương…” Cung doãn ấp úng, muốn nói lại thôi.
“Nói!”
“Dù có đi mời, e rằng cũng không mấy người chịu tới.”
“Tại sao?”
“Mưa quá lớn, người nào cũng mải lo chống lụt, lo giữ của, e rằng…không ai còn lòng dạ nào ở yên trong phủ. Hôm qua đại vương triệu vương thúc, thần đã sai người năm lần bảy lượt tới tận phủ mời, nhưng đều bảo vương thúc đi vắng. Sau đó mới biết…vương thúc đã tới đất phong, đi bằng thuyền lớn, hình như lũ lụt tại đó còn ghê gớm hơn nhiều.”
“Ngận Thượng thì sao? Cũng không ở trong phủ?”
“Thượng quan đại nhân thì có.” Cung doãn chỉ về phía hậu hoa viên, “vừa mới tới, đang cùng Nam cung nương nương tế bái đại thần Vu Hàm, khẩn cầu đại thần dừng mưa!”
“Hừm, họ thì biết gì về tế bái!” Hoài Vương nổi cơn thịnh nộ, nghiến răng mà nói, “khăng khăng xúi giục quả nhân xua tả đồ và tư tế của đại thần Vu Hàm đi nơi khác, trời lại không đổ mưa ư? Tiếp chỉ!”
“Thần cung kính nghe chỉ!”
“Truyền chỉ Khuất Dao, lập tức tới Đan Dương, đưa tả đồ Khuất Bình, tư tế Bạch Vân gấp rút về Sính, vào cung yết kiến!”
“Thần lĩnh chỉ!” Cung doãn vội vã đi ngay.
Hoài Vương ngẩng đầu nhìn trời, lại thấy một mảng mây đen đang ùn ùn kéo tới, trong lòng giật thót, lấy làm lo sợ, vội rảo bước đi như chạy về phía miếu Vu Hàm.
Đặc sứ mới do Sở Vương chỉ định, Tống Di, sau khi thụ mệnh, lập tức lên đường, giục ngựa chạy suốt ngày đêm không nghỉ, chưa đầy mười ngày, đã vượt gần ba nghìn dặm đường. Đúng vào hôm mưa lớn bắt đầu trút xuống đất Sở thì tới Lâm Truy, đến trước cổng cung trình lên sứ tiết cùng danh thiếp, được đại phu cai quản việc bang giao của nước Tề sắp xếp cho nghỉ lại trạm dịch, hơn nữa, còn ở ngay kế bên phòng của tiền đặc sứ Trần Chẩn.
Tống Di là người nước Tống, gia phả truy ngược về trước mười một đời, tiên tổ chính là Tống Tương Công, vị quân chủ năm xưa đã từng thảm bại trong trận chiến với Sở tại Hoằng Thuỷ do dứt khoát không chịu tấn công khi quân địch chưa bày xong trận, sau đó còn bị trúng tên vào mông. Vì vết thương tên bắn ấy mà Tống Tương Công đã qua đời tại một hành cung có tên là Tuy Ấp ở phía bắc Tuy Thuỷ. Sau khi thái tử nối ngôi, đã mai táng Tống Tương Công ở ngay hành cung, nhân đó đổi tên ấp này thành Tương Lăng. Tổ tiên của Tống Di vẫn sống trong biệt cung Tương Lăng của tiên quân, đời đời trông nom lăng mộ. Hơn trăm năm sau, Tương Lăng bị người Ngụy chiếm mất, tới đời Tống Di, lại bị người Sở Chiêu Dương cướp đi. Cho nên xét theo hộ tịch, thì Tống Di đã biến thành người Sở.
Tống Di là sĩ tử có chí, bác học đa tài, can đảm hoạt ngôn, không cam chịu làm một kẻ coi lăng tầm thường, một lòng muốn học theo thuỷ tổ Tống Tương Công, đến nằm mơ cũng muốn lập nên sự nghiệp hiển hách kinh thiên động địa, lẫy lừng liệt quốc, tiếc rằng vận mệnh trêu ngươi, tới đời ông nội thì gia thế sa sút, tới đời cha Tống Di, lại càng suy bại, đến nỗi phải làm môn khách nương nhờ kẻ khác. Sau khi Tương Lăng quy về Sở, Tống Di thuận đà tìm tới Sính Đô mưu sinh, trước tiên ăn nhờ ở đậu trong phủ Chiêu Dương một thời gian, thấy thế của Chiêu gia có chiều suy yếu, bèn chạy sang Ngận phủ, nhờ lòng trung thành và tài cán hơn người, dần được Ngận Thượng tin tưởng, trở thành tâm phúc của hắn. Lần này, Tống Di nhờ có Ngận Thượng tiến cử mà được Sở Vương thụ mệnh làm đặc sứ sang Tề, đồng nghĩa với việc trực tiếp được thăng làm đại phu nước Sở, có thể nói trong suốt mười đời gia tộc lại đây, chưa từng có ai nhận được ân huệ lớn đến nhường này.
Không thể cùng lúc có hai sứ thần thụ mệnh cùng một quân vương đi sứ cùng một bang quốc, nếu như một kẻ đến trước, một kẻ tới sau, thì người tới sau sẽ chính danh hơn, do vậy, Tống Di tới đây, thực chất chính là tuyên bố sứ mệnh của Trần Chẩn đã đến hồi kết thúc.
Cùng là sứ thần, là người tới trước, Trần Chẩn ra mặt nghênh tiếp.
Rượu qua ba tuần, Trần Chẩn vốn xử thế lão luyện, tuổi tác lại gần như gấp đôi Tống Di, đã dễ dàng moi ra được sứ mệnh mà Tống Di phải thực thi lần này, cũng đoán được kẻ sắp đặt phía sau Tống Di là ai, chỉ biết thở dài thườn thượt.
“Tiền bối cớ sao lại thở dài?” Tống Di đặt chén rượu xuống, nhìn Trần Chẩn chăm chú.
“Nói thử xem, đặc sứ định tuyệt Tề bằng cách nào?” Trần Chẩn nhìn xoáy vào Tống Di hỏi.
“Trình lên quốc thư, tuyên bố giữa triều đình, nước Sở từ đây tuyệt giao với Tề!”
“Bang giao đâu phải trò trẻ nít, muốn tuyệt giao, cần phải có lý do. Lý do của đặc sứ là gì?”
“Lý do thì không thiếu!” Tống Di nhấc chén rượu lên, một hơi uống cạn, rồi gõ mạnh chén rỗng xuống án, “lý do thẳng thừng nhất, chính là đại vương ta đã gả công chúa nước Sở cho Tần, kết tình giao hảo trăm năm. Tề vốn là kẻ thù không đội trời chung với Tần, đương nhiên cũng là kẻ địch của Đại Sở ta. Đại Sở ta sao có thể tiếp tục kết minh với kẻ thù?”
“Đây cũng là lý do của đặc sứ?”
“Còn chưa đủ ư?” Tống Di cao giọng.
Trần Chẩn bật cười ha hả, rồi rót rượu, nâng chén: “Hãy cạn!”
Hai người cùng cạn chén.
“Than ôi,” Trần Chẩn bỗng bật ra một tiếng thở than trầm bổng, lại nhấc bình rượu, nhưng không rót ra chén mà ghé vào bên miệng, ngửa cổ dốc xuống, ừng ực một hơi, cho tới kỳ trơ đáy, mới quăng toẹt xuống đất, nhìn thẳng vào Tống Di, “chàng trai, có biết lần này anh tới đây, là để làm gì không?”
“Tuyệt Tề!” Tống Di cất giọng sang sảng, nắm tay siết chặt, “sứ mệnh của vãn bối, chính là tuyệt giao với Tề!”
“Kẻ mà anh tuyệt giao, lại không phải Tề!”
“Ồ!” Tống Di ngơ ngác, “không phải Tề, thì là ai?”
“Chính là Đại Sở của anh đó!” Trần Chẩn ợ lên một tiếng, rồi đưa tay chỉ thẳng vào Tống Di, “và cả cái thân này của anh nữa, chàng trai!”
“Miễn là hoàn thành sứ mệnh đại vương giao phó, vãn sinh dù thịt nát xương tan, cũng không có gì luyến tiếc!” Tống Di giọng đầy kiên định.
“Chà chà,” Trần Chẩn tặc lưỡi liền vài cái, khe khẽ vỗ tay, “xem ra, anh thực sự muốn lưu danh sử sách?”
“Lưu danh sử sách là ước nguyện bình sinh của vãn bối! Lẽ nào tiền bối không muốn?”
“Muốn chứ,” Trần Chẩn lại chặc lưỡi vài cái, “Trần Chẩn này nào có chuyện không muốn!” Nói rồi từ từ đứng dậy, “thời gian không còn sớm nữa, này chàng trai, chúng ta hãy đi nghỉ sớm, sáng sớm ngày mai, hai ta sẽ mỗi người một đường!”
“Mỗi người một đường?” Tống Di ngạc nhiên.
“Đúng thế, anh đi lưu danh sử sách, còn lão già này sẽ quay về Sính phục mệnh.”
Lời nói vừa dứt, Trần Chẩn đầu không ngoảnh lại, sải bước bỏ đi trước ánh mắt ngơ ngác của Tống Di, đi một mạch về khách xá mình đang ở.
Sáng sớm hôm sau, Tống Di dậy từ rất sớm, tay cầm sứ tiết, ngẩng đầu hiên ngang đứng ngoài cổng cung Tề.
Hôm nay là buổi đại triều của nước Tề, đằng đông vừa hửng sáng, văn võ bá quan từ khắp nơi đã lũ lượt kéo tới, im lặng chờ đợi tiếng chuông thượng triều. Thấy người tới là một sứ thần trẻ tuổi, trong tay còn cầm theo sứ tiết nước Sở, chúng triều thần đều đổ dồn mắt nhìn, thì thào bàn tán. Tống Di nghe thấy họ nhắc đến Trần Chẩn, không hiểu vì sao nước Sở lại thay đổi sứ thần.
Chuông vào chầu ngân lên vang vọng, triều thần sắp hàng theo cấp bậc, tuần tự leo lên bậc thềm chính điện.
Qua chừng ba khắc, nội thần truyền sứ Sở vào triều.
Tống Di sải bước lên thềm, tiến vào chính điện. Sứ thần triều kiến, đều phải tuân theo lễ nghi đã định. Song Tống Di lại chẳng buồn hành lễ, đi trong điện cũng không bước từng bước nhỏ như thường lệ, cứ nghênh ngang sải chân mà tiến, mắt không liếc ngang, ngẩng đầu ưỡn ngực, cứ thế xuyên qua giữa hai hàng triều thần hai bên, đi thẳng tới trước mặt Tề Vương.
Trước hành vi vô lễ của sứ Sở, quần thần cung Tề đều đưa mắt nhìn nhau, đến Tề Tuyên Vương cũng ngẩn người, ánh mắt nghi hoặc nhìn chằm chằm vào Tống Di, không hiểu hắn muốn làm gì.
Chưa hết, khi còn cách Tuyên Vương chừng năm bước chân, Tống Di dừng lại, song không quỳ xuống, chỉ gõ sứ tiết xuống sàn mấy cái, đoạn cất giọng sang sảng: “Đặc sứ của Sở Vương Tống Di bái kiến Tề Vương!”
Trước một sứ thần xấc xược đến vậy, quan viên nước Tề thảy đều phẫn nộ, vô số ánh mắt cùng đổ dồn vào Tề Vương.
“Sứ Sở Tống Di có hiểu lễ bang giao?” Tề Vương sắc mặt tối sầm, ánh mắt như kiếm.
“Đi sứ tới bang vô đạo, Tống Di tự nhiên không phải câu nệ lễ nghi!” Tống Di lại gõ sứ tiết xuống sàn lần nữa.
Là sứ thần nước Sở, Tống Di tới đây, chính là thay mặt Sở Vương.
Tề Vương sắc mặt xanh xám, nhìn sang Điền Anh.
“Cuồng sứ to gan!” Điền Anh giận dữ quát lớn, “minh ước Sở Tề láng giềng hoà mục còn chưa ráo mực, sứ Sở Trần Chẩn tới kết bang giao vẫn ở bang ta, Tề Sở qua lại giao hảo đã nhiều năm, ở đâu ra chuyện Đại Tề ta hôm nay lại trở thành bang vô đạo?”
“Hữu đạo hay vô đạo, hãy xem quốc thư!” Tống Di lấy ra quốc thư từ trong tay áo, cầm ở trên tay, hai mắt không nhìn Điền Anh mà nhìn chòng chọc vào Tề Vương, “xin Tề Vương hãy nhận quốc thư của Đại Sở!”
Tề Vương hất hàm, ngự sử bèn tiến lại, nhận lấy quốc thư.
Ngự sử mở quốc thư ra, liếc qua một lượt, vô thức hít ngược một hơi, ngoảnh sang nhìn Tuyên Vương.
“Đọc!” Tề Vương nheo mắt hạ lệnh.
“Tề Vương các hạ,” ngự sử tay nâng quốc thư, đọc trước triều đình, “hơn mười năm trước, người Lạc Dương Tô Tần khởi xướng hợp tung, khởi đầu từ nước Yên, liệt quốc Sơn Đông thảy đều hưởng ứng, sáu vua gặp tại Mạnh Tân, cùng lập minh ước. Đến nay, minh ước tung thân vẫn còn, mà Tề Vương lại dấy binh bất nghĩa, chinh phạt bang khởi sự hợp tung, đi ngược lại đạo nghĩa thiên hạ. Hùng Hoè bất tài, chỉ nguyện noi theo đại nghĩa thiên hạ, chỉ mong gìn giữ minh ước tung thân, nên kể từ nay, quyết không qua lại với nước Tề vô đạo. Tất cả minh ước đã lập trước đây, xoá bỏ toàn bộ. Sở Vương Hùng Hoè.”
Ngự sử đọc xong, khắp triều đường sững sờ kinh ngạc.
Lời trong quốc thư, quá đỗi hoang đường, quá đỗi phi lý.
Tô Tần khởi xướng sáu nước tung thân, mục đích chỉ có một: chế Tần. Người Tần lại kết thân với Yên, bày mưu tính kế đủ đường, khiến nước Yên rơi vào nội loạn. Sau đó, sứ Tần sang Ngụy, xúi giục người Ngụy hết phạt Triệu lại phạt Hàn, người Tề chẳng quản gian lao, hưởng ứng Tô Tần, trước cứu Triệu, sau cứu Hàn, tiêu diệt Bàng Quyên, mới khiến thiên hạ yên ổn được chốc lát. Sau đó, lại là người Tần xuất binh, mượn đường phạt Tề, bị người Tề đánh cho thảm bại. Mỗi lúc tung thân nội tranh, dù là cứu Triệu hay cứu Hàn, thì người Sở ở đâu? Nay người Yên nội loạn, người Tề đã chiếu cáo khắp liệt quốc, còn lặn lội sang Chu thỉnh vương mệnh thiên tử, đích xác là dấy binh chính nghĩa. Vậy mà giờ đây, lại bị Sở Vương vu cho là bang vô đạo, dưới gầm trời há có lý này?
Tề Tuyên Vương lại càng tóc râu dựng ngược.
Tuy nhiên, Tề Tuyên Vương vẫn chưa đến nỗi cả giận mất khôn. Tuyên Vương hiểu rõ, dù tức giận đến mấy cũng không thể trút lên đầu sứ thần, cũng không cần phải giảng giải phân trần gì với hắn, bởi tất cả mọi chuyện, đều từ Sở Vương.
“Sứ Sở,” Tề Tuyên Vương sắc mặt tối sầm, “quốc thư sứ Sở trình lên, quả nhân đã nhận. Sở Vương đã không muốn giao hảo với quả nhân, quả nhân cũng sẽ tác thành. Kể từ hôm nay, Tề Sở không còn qua lại, mọi minh ước đã lập, đều huỷ bỏ hết. Sứ Sở có thể quay về phục mệnh được rồi!”
Quả là một lời đối đáp vô cùng điềm tĩnh và rành mạch, song Tống Di kia không biết trời cao đất dày, lại dõng dạc nói lớn: “Tề Vương đã chấp thuận tuyệt giao, vậy thì hãy giao ra một bức quốc thư tuyệt giao, bằng không, bản sứ quay về Sính Đô, biết phải phục mệnh thế nào?”
“Quốc thư của Tề, không thể giao cho sứ Sở. Quả nhân sẽ phái sứ thần tới Sính, trình lên Sở Vương quốc thư tuyệt giao!”
“Ồ!” Tống Di đáp, “nếu Tề Vương phái sứ thần sang Sở, há chẳng phải vẫn cứ qua lại với Sở?”
“Vậy theo ý sứ Sở, quả nhân nên làm thế nào?”
“Lập tức tuyệt giao!”
“Quả nhân chẳng phải đã ban chỉ tuyệt giao rồi ư?”
“Tề Vương mới chỉ nói miệng mà thôi, chưa phải tuyệt giao chính thức. Điều Tống Di thỉnh cầu, là tuyệt giao chính thức!”
“Nói đi, tuyệt giao chính thức là thế nào?”
“Viết thành quốc thư tuyệt giao, sau đó giao cho bản sứ mang về phục mệnh!”
“Quốc thư của nước Tề, chỉ có thể do người Tề mang đi, đó là lễ nghi bang giao!” Tề Tuyền Vương chau mày.
“Vậy Tề Vương có luôn tuân thủ lễ nghi?” Tống Di cật vấn.
“Quả nhân có lúc nào không tuân thủ lễ nghi?” Tề Tuyên Vương hỏi lại.
Tống Di chợt phá lên cười lớn: “Tề Vương mà biết tuân thủ lễ nghi, thì thiên hạ này chẳng còn ai không tuân thủ lễ nghi nữa!”
Đối đáp thế này, khác nào công nhiên sỉ nhục.
Mắt Tề Tuyên Vương đã lập loè sát khí, song giọng nói vẫn bình thản như cũ: “Sứ Sở vẫn chưa nói, quả nhân có chỗ nào không tuân thủ lễ nghi!”
“Bản sứ tạm hỏi Tề Vương,” Tống Di mắt trợn tròn xoe, nhìn xoáy vào Tề Tuyên Vương, “họ Điền của Tề Vương vốn dĩ là họ Trần, lưu lạc tới Tề, được Tề Công bao dung thu nạp, trọng dụng làm tôi, đổi sang họ Điền. Thân là bề tôi của họ Khương Tề, mà tiên tổ của Tề Vương không những chưa từng cảm tạ ân đức, trái lại còn cướp ngôi chiếm đất, xua đuổi Tề Công đích mạch, tự mình xưng công xưng vương. Tề Vương hãy thử nói xem, dòng họ các người đã tuân thủ lễ nghi nào vậy?”
Thấy Tống Di thân là sứ thần đại quốc, lại nói năng bạt mạng bất chấp tôn ti ngay giữa triều đường, những người có mặt không ai không kinh hãi.
“Ngươi…” Tề Tuyên Vương cười nhạt, “thực sự muốn nếm mùi tuyệt giao thế ư?”
Tống Di lại phá lên cười lớn: “Tống Di kiến văn hạn hẹp, đúng là chưa từng được nếm thử vị này!”
“Người đâu!” Tề Tuyên Vương thình lình quát lớn.
Mấy viên giáp sĩ lập tức xông vào trong điện, giữ chặt lấy Tống Di.
“Bày vạc lớn ngoài cổng cung, nhóm lửa!”
“Ha ha, sảng khoái, sảng khoái,” Tống Di lại phá lên cười, “sảng khoái lắm!”
Vạc nước lớn đã được bày trên bãi trống bên ngoài đại điện, toàn bộ triều thần nước Tề đứng vây xung quanh, hả dạ nhìn Tống Di bị trói nghiến vào cột gỗ gần đó.
Củi đã chất đống bên dưới vạc nước. Một binh sĩ tay cầm bó đuốc, đứng bên cạnh vạc. “Sứ Sở,” Tề Tuyên Vương ánh mắt lạnh lẽo nhìn sang Tống Di, “quả nhân ban cho ngươi thêm một cơ hội, nếu ngươi chịu khấu đầu nhận tội, thu hồi lời vô lễ vừa rồi, quả nhân sẽ tha cho ngươi một con đường sống!”
Tống Di lại ngửa mặt cười sằng sặc: “Cởi trói cho bản sứ!”
“Cởi trói!” Tề Tuyên Vương hạ lệnh cho quân uý.
Binh sĩ liền cởi trói.
“Còn sứ tiết của bản sứ!” Tống Di lại nói.
Tề Tuyên Vương ra hiệu, quân uý liền trả lại sứ tiết cho hắn.
Tống Di quay mặt về phía nước Sở, vái liền hai vái, rồi tay cầm sứ tiết, ngẩng đầu ưỡn ngực đi thẳng về phía vạc lớn, nhún mình một cái, nhảy tọt vào trong, khiến nước trong vạc bắn ra tung toé. Rồi lớn giọng hô: “Này vua cướp nước, hãy châm lửa đi!”
Tề Tuyên Vương giận đến run người, chỉ mặt Tống Di mà quát: “Kẻ lỗ mãng kia, đã không hiểu lẽ tiến thoái, quả nhân tác thành cho ngươi!” Rồi quay sang binh sĩ cầm đuốc, “châm lửa!”
Binh sĩ kia đưa ngọn đuốc vào giữa đống củi. Củi được tưới đẫm dầu thông, chốc lát đã bốc cháy rừng rực, toàn bộ vạc lớn chìm nghỉm trong ánh lửa.
“Hãy nhìn đi, người trong khắp thiên hạ! Hãy nhìn đi, quan viên khắp thiên hạ! Đều đã thấy rõ rồi chứ? Đây chính là bang lễ nghi của Điền Tề, đây chính là vua nhân nghĩa nước kẻ cướp! Đây chính là…”
“Hừm, một kẻ ngông cuồng tự đâm đầu vào chỗ chết!” Tề Tuyên Vương phẩy ống tay áo, giận dữ quay lưng, sải bước bỏ đi trong tiếng nguyền rủa và tiếng cười điên loạn đang yếu đi nhanh chóng của Tống Di.
“Than ôi!” Từ phía sau đám cung nhân đứng xem, chợt vọng lên một tiếng thở dài rầu rĩ.
Chính là tiền đặc sứ nước Sở, Trần Chẩn.
Bị kẻ lỗ mãng kia chọc giận một thôi, Tề Vương đã thực sự nổi cơn thịnh nộ, ngay trong hôm ấy, ban liền hai chỉ lệnh. Thứ nhất là phái sứ sang Tần, ngỏ ý hoà Tần phạt Sở. Thứ hai là phái người cấp tốc sang Yên, điều Khuông Chương dẫn ba quân quay về, sẵn sàng đợi lệnh phạt Sở, đồng thời nhiệm con trai thứ là công tử Trọng làm chủ tướng phạt Yên, dẫn ba vạn quân, đóng trại tại biên giới Tề Yên.
Kỳ thực, điều Khuông Chương về, không phải bởi Điền Tích Cương nóng giận nhất thời.
Từ sau khi chiếm được Kế Thành, dưới sự đôn đốc của đại Nho Mạnh Kha, Khuông Chương vẫn giương cờ nhân nghĩa, không mảy may xâm phạm đến dân Yên, bao nhiêu bạc vàng châu báu nước Yên mà Tề Vương khao khát, vẫn niêm phong kỹ trong cung Yên, người Tề đã không tơ hào một chút của cải của người Yên thì chớ, lại còn phải bù thêm không ít lương thảo và quân nhu.
Đương nhiên, cũng có cái lợi, binh lính Tề gươm chưa dính máu mà trước được Kế Thành, sau lại có được vô số thành ấp nước Yên. Đất Yên không còn vua, người Yên hoang mang ngơ ngác, thấy người Tề đúng là tới giúp Yên thực, thì đua nhau trao lại quyền cai quản thành ấp cho Khuông Chương. Duy có hạ đô Vũ Dương, Thiện Ưng cố sống cố chết giữ chặt không nhả, khiến tướng Trung Sơn Tư Mã Chu nổi giận, bao vây kín thành, hạn cho thời gian đầu hàng. Thiện Ưng cũng không phải dạng vừa, sai người liên lạc với Khuông Chương, nói rằng muốn giao lại Vũ Dương cho người Tề chứ quyết không giao cho người Trung Sơn. Khuông Chương nhận lời, sai người tới Vũ Dương tiếp quản. Giao nhận xong xuôi, Thiện Ưng lệnh cho quân Yên lập tức giải tán, rồi dẫn theo bầy chim ưng và đám bộ tướng thân tín, chạy lên phía bắc đầu quân cho người Hồ. Ngay trong đêm đó, người Trung Sơn phẫn nộ khởi đại binh đánh thành, ép người Tề bỏ chạy, chiếm lấy hạ đô Vũ Dương.
Khuông Chương gửi cấp báo cho Tề Vương, đồng thời chuẩn bị cướp lại Vũ Dương. Đúng vào lúc đó, chủ tướng mới nhậm mệnh là công tử Trọng mang theo hổ phù của Tề Vương tới, bắt Khuông Chương giao lại quân quyền ngay tại chỗ, rồi chọn lấy năm vạn quân, lập tức hành quân về tây đô Bình Lục, chuẩn bị phạt Sở. Khuông Chương cũng không nhiều lời, lập tức giao lại việc ở Vũ Dương cho công tử Trọng, dẫn theo năm vạn quân quay về Bình Lục nước Tề. Không còn Khuông Chương, công tử Trọng không dám khinh suất khai chiến với Trung Sơn, lại soạn chiến báo, cấp tốc gửi về kinh đô nước Tề, xin Tề Vương quyết định, Vũ Dương sẽ thuộc về ai.
Tướng mới tới nhậm chức, cũng có nghĩa là sứ mệnh của quân sư Mạnh Kha cũng đến hồi kết thúc. Mạnh Kha sai Vạn Chương đánh xe đi quanh cung Yên một vòng, sau đó ra ngoài thành, lại đi một vòng rộng xung quanh Kế Thành, rồi mới tiếc nuối lên đường về Tề.
Mạnh Tử về tới Lâm Truy, vào cung phục mệnh với Tuyên Vương, trả lại vương cung và ba mũi tên đã thu hồi lại sau khi bắn.
Tuyên Vương nhận được tin báo, ra tận cổng cung nghênh đón, dắt tay Mạnh Tử, sánh bước vào cung, bày tiệc tẩy trần.
Rượu qua ba tuần, Tuyên Vương vòng tay cảm tạ: “Phu tử khởi xướng nhân nghĩa, quả nhân cứ nghĩ đó chỉ là chuyện thần kỳ viễn cổ, nay mới được tận mắt chứng kiến. Không có phu tử, việc của nước Yên không biết còn phải trắc trở đến đâu!”
“Tề Vương nghĩ được như vậy, lòng Kha lấy làm an ủi.” Mạnh Kha vòng tay đáp, “đúng như đại vương vừa nói, nhân nghĩa nào đâu phải chuyện thần thánh xa vời, mà hiện hữu ở ngay bên cạnh. Chỉ cần đại vương thành thực muốn cầu, pháp lệnh không nhân nghĩa không lập, chính trị không nhân nghĩa không hành, ba quân không nhân nghĩa không xuất, bang quốc không nhân nghĩa không phạt, chớ nói là chinh phục nước Yên, dù muốn chinh phục thiên hạ, trong mắt Kha, cũng dễ dàng như lấy vật trong túi.”
“Lời của phu tử, quả nhân không chút hồ nghi.” Tuyên Vương rót một chén rượu, hai tay cung kính dâng cho Mạnh Tử, “mời phu tử hãy cạn chén này, quả nhân có một việc nữa muốn thỉnh giáo!” Mạnh Tử cảm tạ, nâng chén uống cạn, rồi vòng tay: “Tề Vương có gì nghi vấn, xin cứ hỏi Kha!”
Tuyên Vương lại rót đầy chén tước, đặt bình rượu xuống, vòng tay nói: “Là chuyện của nước Yên.”
“Là chuyện gì của nước Yên?”
“Như phu tử đã thấy,” Tuyên Vương đưa tay chỉ về phía nước Yên, “Yên thất vô đạo, tự huỷ hoại xã tắc của mình, đến người Yên cũng ghét bỏ, xếp hàng hai bên đường nghênh đón quân nhân nghĩa của ta. Cơ Khoái là cháu ngoại của quả nhân, quả nhân vốn muốn lập lại, nào ngờ lại chết trong tay loạn tặc. Con trai của Khoái, đều đã bị loạn tặc Tử Chi sát hại. Hiện tại xem ra, Yên thất đã không còn người nối dõi. Tuy nhiên, đất Yên rộng lớn, không thể không trị. Người Yên hỗn loạn, không thể vô chủ. Gần đây có người khuyên quả nhân, hãy lấy xã tắc của Yên đặt thành đô ấp mà cai quản, Kế Thành là thượng đô, Vũ Dương là hạ đô. Thượng đô cai quản phía bắc nước Yên, hạ đô cai quản Dịch Thuỷ cùng vùng Hà Gián. Đương nhiên, cũng có người khuyên quả nhân chớ nên lấy đất ấy. Quả nhân đang nghĩ, nước vạn cỗ xe chinh phạt nước vạn cỗ xe, trước sau không tới năm mươi ngày, toàn bộ đất Yên đã ở trong tay ta. Công lớn nhường ấy, dứt khoát không phải bởi sức người, mà là trời cao ban tặng. Đã là trời ban, nếu quả nhân không lấy, liệu có bị trời quở phạt? Quả nhân suy đi nghĩ lại, thực không biết quyết thế nào, nên muốn lắng nghe cao kiến của phu tử.” Lại vòng tay, “rất mong được phu tử chỉ giáo!”
“Đại vương hỏi lầm người rồi.” Mạnh Tử vòng tay đáp. “Vậy quả nhân nên hỏi ai?”
“Người Yên!”
“Ồ…” Tuyên Vương sửng sốt.
“Đại vương muốn lấy nước Yên, nếu dân Yên vui vẻ, đại vương có thể lấy. Việc lấy đất thay vua, xưa đã có tiền lệ, ví như Vũ Vương thay thế nhà Thương. Đại Vương muốn lấy nước Yên, nếu dân Yên không vui, đại vương không thể lấy. Không lấy mà chờ thời cơ, xưa cũng đã có tiền lệ, ví như Văn Vương không diệt nhà Thương. Còn như việc đại vương vừa nhắc tới, nước vạn cỗ xe phạt nước vạn cỗ xe, người Yên mang cơm xách nước nghênh đón quân của đại vương, không có nguyên nhân nào khác, chỉ vì người Yên muốn thoát khỏi hoạ nước lửa của mình. Nếu người Tề trị Yên, khiến hoạ nước của dân Yên càng sâu, hoạ lửa của dân Yên càng nóng, e rằng người Yên sẽ phản kháng.”
“Quả nhân thụ giáo!” Tuyên Vương trong lòng không vui, vái hờ một cái, nhìn sang Điền Anh, “Điền tướng quốc, xin hãy bồi tiếp phu tử thêm vài chén, quả nhân hơi quá chén, không thể ngồi thêm!” Nói đoạn đứng dậy, chậm rãi bỏ đi.
Nhìn theo bóng Tuyên Vương xa dần, Mạnh Tử cười buồn, thấy Điền Anh đứng dậy đi lấy hồ rượu, bèn vòng tay nói: “Tạ ơn ý tốt của tướng quốc. Kha cũng không ngồi thêm được nữa, cáo từ!” Rồi cũng đứng dậy bỏ đi thẳng.
Ra khỏi cổng cung, Vạn Chương nhìn thấy Mạnh Tử, bèn đánh xe lại đón. Mạnh Tử bước lên trên xe, sắc mặt tuy đỏ ửng vì men rượu, song vẫn toát lên vẻ rầu rĩ.
“Phu tử?” Vạn Chương không biết trong cung xảy ra chuyện gì, khẽ giọng hỏi dò.
“Vạn Chương,” Mạnh Tử chỉ về phía khách xá, “hãy nhớ cho kỹ, kể từ hôm nay, việc của nước Yên, không được nhắc tới nữa.”
“Vì sao lại không được nhắc?” Vạn Chương ngơ ngác, “cuộc chiến nhân nghĩa của phu tử, đệ tử còn đang định truyền bá rộng rãi khắp nơi, quả thực kinh tâm động phách, tráng lệ hào hùng, cho dù Tử Nha có sống lại, e rằng cũng…”
“Than ôi,” Mạnh Tử thở dài một tiếng, ngoảnh nhìn về phía bắc, “đất nước mà lão hủ dùng nhân nghĩa để đánh bại, lại không thể dùng nhân nghĩa để gây dựng, e rằng lại sẽ làm khổ người Yên.”
“Phu tử?”
“Đừng hỏi nữa,” Mạnh Tử chỉ về đất Trâu, “về nhà.”
“Phu tử?” Vạn Chương càng cuống quýt, trợn mắt nhìn Mạnh Tử.
“Được rồi,” Mạnh Tử sửa lại, “về khách xá.”