Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 69
Đứt quân lương, Tôn Tẫn dọc đường giết ngựa
Đuổi kình địch, Bàng Quyên Mã Lăng sa cơ

❊ ❊ ❊

Sau khi Điền Kỵ rời Sở, vì muốn chiếm lấy tiên cơ, Chiêu Dương thỉnh tấu Sở Vương, đích thân làm chủ tướng, dẫn sáu vạn quân, uy hiếp tới Hình Sơn. Đồng thời, Hoài Vương hạ chỉ cho văn học thị tùng Khuất Nguyên khởi thảo một bản hịch văn khai chiến lời lẽ hùng hồn, rồi đích thân chép lại, đóng ngọc tỷ, phái sứ giả mang tới Đại Lương.

Do mấy năm về trước từng được Tô Tần giao phó thảo minh ước sáu nước phạt Tần, nên Khuất Nguyên không chỉ danh vang liệt quốc, mà còn được trong triều ngoài nội nước Sở suy tôn là đệ nhất tài tử. Phạt Tần thất bại, Khuất Nguyên được thái tử Hoè giữ lại bên mình, hầu hạ sớm tối. Sau khi kế ngôi, trong danh sách nhiệm chức bãi chức đầu tiên, thái tử Hoè đã đặc cách cất nhắc Khuất Nguyên làm văn học thị tùng, liệt vào hàng trung đại phu, chuyên trách thảo các loại chiếu thư, dụ chỉ, tương đương với chức ngự sử của liệt quốc Trung Nguyên. Khuất Nguyên xưa nay tán thưởng sách lược hợp tung của Tô Tần, lấy làm đau lòng trước việc Ngụy hết phạt Triệu lại phạt Hàn, do vậy bản hịch văn đã bộc bạch được cảm xúc trong lòng, lời lẽ bén nhọn, ngôn từ hoa mỹ, dù là Ngụy Huệ Vương đọc nhiều hiểu rộng, cũng không kìm được mà tấm tắc ngợi khen, cứ đọc đi đọc lại mãi.

Trước khi hịch văn nước Sở kịp tới Đại Lương, Bàng Quyên đã nhận được mật báo của sứ Ngụy Phùng Hách, đồng thời thám mã các lộ cũng liên tục cấp báo về tình hình điều động của quân Sở.

Sở có nỗi đau Hình Sơn, điều binh lần này, hẳn là muốn đòi lại Hình Sơn. Bàng Quyên không dám coi thường, một mặt tạm thời trì hoãn tấn công Hàn, tăng cường dò la thám thính, củng cố phòng ngự Hình Sơn, mặt khác chuẩn bị sẵn sàng hai vạn nhuệ binh khinh kỵ mới được tổ chức phỏng theo người Tề, ngày đêm sẵn sàng chờ lệnh, hễ nước Sở tấn công Hình Sơn, lập tức điều động cánh kỵ binh do Tần chi viện, vượt đường xa đánh tập hậu quân Sở, cho Chiêu Dương một đòn trí mạng.

Tuy nhiên, một tháng sau, quân Sở vẫn chưa đánh Hình Sơn, chỉ đóng trại bên một đầm nước cách Hình Sơn chừng ba chục dặm, quân chủ lực vẫn co cụm trong Phương Thành. Lính thám mã ngày nào cũng báo tin về, quân Sở vẫn án binh bất động.

Chính vào lúc quân Ngụy bắt đầu lơ là, công tử Tự tới báo tin, nói là gần sáu vạn đại quân nước Sở hôm qua thình lình xuất phát, vòng qua trọng ải Hình Sơn, tiến về phía đông chọc thẳng vào Hạng Thành, Khổ Huyện.

Bàng Quyên vội vã bước tới trước sa bàn, sau một hồi xem xét, nhận định rằng Chiêu Dương tiến quân chỉ nhằm một mục đích, chính là né tránh Bàng Quyên và quân chủ lực nước Ngụy, thừa cơ tấn công Tương Lăng. Bàng Quyên hiểu rõ, nhiều năm qua, Chiêu Dương lúc nào cũng nhăm nhe đất Tống, mà Tương Lăng nước Ngụy giống như một mũi dao nhọn chặn đứng trước cửa ngõ tây nam nước Tống, chỉ cách kinh đô Tuy Dương nước Tống trong gang tấc, không chỉ khiến người Tống khó chịu, mà còn khiến người Sở phải kiêng dè.

Có được phán đoán này, Bàng Quyên không những không lo lắng, trái lại còn thở phào nhẹ nhõm. Lần trước người Tề cứu Triệu, Tôn Tẫn trận đầu đã đánh Tương Lăng, khiến Bàng Quyên bỗng chốc phát giác ra được tầm quan trọng của vùng đất này. Sau trận Quế Lăng, Bàng Quyên tăng cường phòng ngự Tương Lăng, đặc biệt tấu thỉnh Huệ Vương, cất nhắc tướng quân có công phá địch Trịnh Khắc làm quận thú Tương Lăng, chỉ huy gần bốn vạn quân trấn thủ của năm ấp vùng biên giới. Bên cạnh đó, Bàng Quyên sớm đã biết được, đứng phía sau Trịnh Khắc chính là Công Tôn Diễn, chỉ cần có Công Tôn Diễn ở đó, Chiêu Dương có muốn thừa cơ cũng không phải dễ dàng.

Tạm gác người Sở sang một bên, Bàng Quyên tập trung toàn bộ tâm trí vào người Tề.

Thực ra, Bàng Quyên thực sự lo lắng và cũng thực lòng muốn đánh, vẫn là người Tề. Trận chiến Quế Lăng thất bại trước Điền Kỵ vẫn luôn khiến Bàng Quyên canh cánh trong lòng. Dù biết đối thủ thực sự của mình là Tôn Tẫn, song suy cho cùng, Điền Kỵ vẫn là chủ soái trên danh nghĩa. Tôn Tẫn đã mất, lần này nếu quân Tề lại tới, Bàng Quyên vẫn hy vọng chủ tướng là Điền Kỵ, hắn muốn đánh một trận thực sự với Điền Kỵ, cho Điền Kỵ một lần nữa nếm mùi nhục nhã, nhân tiện lĩnh hội thế nào là chiến thuật.

Thật đáng tiếc, kế hoạch này đã bị Trương Nghi phá đám. Nếu Điền Kỵ không thể về Tề, Tề Vương sẽ không phái quân chi viện Hàn. Nước Sở không dám giao tranh, nước Triệu không còn thực lực, lại không có nước Tề chi viện, nước Ngụy độc chiến với Hàn, đối với Bàng Quyên, đúng là vô vị.

Tuy nhiên, đúng lúc Bàng Quyên đang cảm thấy buồn bực ít nhiều, thì Trương Nghi tới nơi, vừa đưa cho Bàng Quyên bản hịch văn do Khuất Nguyên thảo, vừa gõ lên mặt bàn mà nói: “Bàng huynh, tại hạ còn mang tới cho huynh hai tin nữa.”

“Nói mau!” Bàng Quyên đặt hịch văn xuống, nhìn thẳng vào Trương Nghi.

“Tin thứ nhất, vừa tốt vừa xấu, tức là không phải tin tốt với nước Ngụy, song lại chưa hẳn đã là tin xấu đối với một người hiếu chiến như Bàng huynh. Tại hạ nhận được tin báo, Tề Vương đã hạ chỉ xuất binh cứu Hàn, nếu không nằm ngoài dự liệu, quân năm đô nước Tề sau nửa tháng nữa sẽ tập kết ở A Ấp!”

“Hay lắm!” Bàng Quyên đấm thẳng xuống bàn.

“Bàng huynh đoán thử xem chủ tướng là ai?”

“Không phải Điền Anh chứ?”

“Là Điền Kỵ. Trần Chẩn kia không thể cầm chân Điền Kỵ, đã để hắn chuồn về Tề mất rồi.”

Bàng Quyên ngửa cổ phá lên cười một tràng dài rồi nói: “Mối làm ăn tới rồi, tại hạ đang đợi chính là người này!”

“Tin thứ hai không vui chút nào, e là Bàng huynh không muốn nghe.”

“Trương huynh cứ nói đừng ngại!” Bàng Quyên nói, song vẫn chưa thể thu lại nụ cười.

“Tôn huynh chưa chết!”

Nụ cười vụt tắt trên môi Bàng Quyên. Hắn trợn trừng hai mắt, chết lặng hồi lâu mới thốt được nên lời: “Chuyện này… chuyện này làm sao có thể?”

“Tại hạ nhận được nguồn tin rất đáng tin cậy.” Trương Nghi chậm rãi nói. “Tôn huynh chỉ giả chết. Sau khi Điền Kỵ ra đi, có người tặng Tô huynh một hoàn thuốc, sau đó không lâu, Tôn huynh đã chết. Nhân lúc đại quân ta phạt Hàn, Tô huynh tới Định Đào nước Tống, tìm thấy Tôn huynh ở một khu phố sầm uất, hai người cùng tới Lâm Truy. Không lâu sau đó, Điền Kỵ cũng trở về.”

Bàng Quyên cứ như không nghe thấy Trương Nghi nói gì, hồi lâu sau mới lên tiếng: “Là ai tặng thuốc cho Tô Tần?”

“Đoán là tiên sinh. Theo tin tình báo, người mang thuốc tới là đại sư huynh, nói rằng sư tỷ tặng. Nếu đúng như phán đoán của tại hạ, sư tỷ tặng thuốc, ắt có liên quan tới chuyện Tôn huynh giả chết.”

“Lão già chết tiệt!” Bàng Quyên rít qua kẽ răng.

“Bàng huynh?” Thấy Bàng Quyên buông lời bất kính với tiên sinh, Trương Nghi nghiêm mặt nhắc nhở.

Bàng Quyên lúc này mới bừng tỉnh, bèn cười gượng gạo tỏ vẻ hối lỗi, rồi siết chặt nắm tay, nói: “Tôn huynh chưa chết cũng hay. Tại hạ đang muốn chơi một trận minh bạch rõ ràng với hắn.”

“Cũng phải!” Trương Nghi nửa như phân tích, nửa như xúi bẩy. “Thất bại Quế Lăng lần trước, là do Bàng huynh không ngờ đối thủ lại là Tôn huynh. Tôn huynh ở chỗ tối, Bàng huynh ở chỗ sáng. Lần này Tôn huynh giả chết, hơn nữa cố ý giấu giếm tới tận ngày nay, rõ ràng muốn tái diễn màn kịch cũ, chỉ là không ngờ chúng ta đã biết tỏng chuyện này. Hiện giờ xem ra, tình thế đã hoàn toàn đảo ngược, Tôn huynh ở chỗ sáng, chúng ta lại ở chỗ tối. Hơn nữa, thứ Tôn huynh dựa vào là ‘Binh pháp Tôn Tử’ của tiên tổ, còn Bàng huynh trong tay cũng đã có đủ bộ ‘Binh pháp Ngô Tử’, ai thắng ai thua, phải thử mới biết!”

“Đúng vậy!” Bàng Quyên hào khí bừng bừng, lại siết chặt nắm tay. “Trời không thể có hai thái dương, rừng không thể có hai chúa tể. Khi còn trong Quỷ Cốc, tại hạ đã hiểu rằng, tại hạ và Tôn huynh không thể song hành trên đời. Trận chiến này, kiểu gì cũng khó lòng tránh khỏi.”

“Bàng huynh nói chí phải!” Giọng Trương Nghi cũng trở nên kích động, vung quyền hưởng ứng. “Tại hạ và Tô huynh cũng giống vậy. Tô huynh khởi xướng hợp tung, tại hạ lại khởi xướng liên hoành. Tung hoành không thể cùng tồn tại trên đời, tại hạ và Tô huynh, cũng nên quyết đấu. Lần trước cứu Triệu, Tô huynh tất bật ngược xuôi, đôn đáo khắp nơi. Nay cứu Hàn, Tô huynh lại càng là xắn tay vào trận, nghe nói hiện đã thay thế Trâu Kỵ, đích thân giúp Tôn huynh giám sát vận chuyển lương thảo. Tô huynh đã như vậy, tại hạ cũng không thể ngồi yên. Chúng ta liên thủ, cùng đấu một trận với Tô huynh, Tôn huynh.”

“Được!” Bàng Quyên giọng khàn đi, trên mặt đằng đằng sát khí.

***

Không nằm ngoài dự đoán của Trương Nghi, quân năm đô nước Tề một lần nữa hội tụ ở A Ấp.

Có lẽ đã coi trận chiến với Bàng Quyên sắp tới là trận quyết chiến cuối cùng, nên sau khi rời khỏi Lâm Truy, tâm tư Tôn Tẫn không được vui vẻ, lúc thì ngồi lì trong xe mặc cho lắc lư xóc nảy, lúc thì ngồi im trong doanh trại, nhắm mắt suy tư, cực kỳ ít nói, khác xa với lần vây Ngụy cứu Triệu trước đây cứ thao thao chỉ dẫn Điền Kỵ suốt dọc đường.

Có lẽ biết rõ Tôn Tẫn vẫn chưa mưu tính xong xuôi, Điền Kỵ không hề sốt suột, dặn dò bộ tướng, không ai được phép quấy rầy Tôn Tẫn. Tuy nhiên, toàn bộ đại quân đã đóng tại A Ấp, mà Tôn Tẫn vẫn án binh bất động, từ sớm tới tối cứ ngồi lặng phắc trong trướng, hết ngày này qua ngày khác, cuối cùng Điền Kỵ không nhịn nổi nữa, bèn kéo phó tướng Điền Anh tới trướng Tôn Tẫn, hỏi: “Lần trước cứu Triệu, quân sư vạch ra sách lược vây Ngụy. Lần này cứu Hàn, quân sư hẳn đã có diệu kế?”

“Vây Đại Lương!” Tôn Tẫn hiển nhiên đã tính toán xong xuôi, chỉ chờ hỏi đến.

“Chuyện này, chuyện này…” Điền Kỵ sửng sốt, quay sang Điền Anh, thấy Điền Anh cũng ngỡ ngàng chẳng kém, lại nhìn Tôn Tẫn, hồ nghi nói. “Quân sư không coi Bàng Quyên là kẻ ngốc đấy chứ?”

“Theo ý tướng quân, nên cứu Hàn thế nào?” Tôn Tẫn hé mắt, nhìn vào Điền Kỵ.

“Bàng Quyên lần trước phạt Triệu, lần này phạt Hàn, tình giống mà thế khác!” Điền Kỵ mưu định trong lòng, dõng dạc nói. “Lần trước phạt Triệu, Ngụy hợp sức với quân Tần, Trung Sơn, khí thế ngút trời; lần này phạt Hàn, Ngụy một mình giao chiến. Lần trước, nước Triệu chưa chuẩn bị đã ứng chiến, Bàng Quyên thắng do đánh bất ngờ, người Triệu đông tây chia lìa, bắc nam tan tác; lần này, người Hàn đã chuẩn bị từ trước, binh lính tinh nhuệ, lương thảo đầy đủ, tuy bại vài trận song khí thế chưa giảm. Chuyện này tạm chưa nói đến, người Sở giờ đã khai chiến với Ngụy, Chiêu Dương đóng quân ở Khổ Huyện, quân tiên phong tiến thẳng tới Tương Lăng, quân Sở ở Phương Thành cũng đang rình thời cơ hành động, bất cứ lúc nào cũng có thể uy hiếp Hình Sơn. Lại nhìn người Ngụy, tuy đã tấn công chiếm đất của người Hàn, song chỉ là thắng lợi nhỏ, Trịnh Thành, Dương Địch tới nay vẫn chưa suy suyển. Bàng Quyên bên trong có xương cứng chờ gặm, bên ngoài có địch mạnh nhòm ngó, lòng quân hoang mang, khó mà liệu việc vẹn toàn. Ta nên bắt tay với người Sở, mượn sức của người Sở, quyết chiến với Bàng Quyên ở đất Hàn. Ý tại hạ là, ta có thể chia quân thành hai lộ, một lộ cho quân khinh kỵ qua Tống, từ Tương Lăng đâm thẳng tới tây nam, lại từ đất Sở tiến vào đất Hàn, từ phía đông ép lại, kết hợp với quân Sở ở Phương Thành đánh giáp công vào Hình Sơn, bức bách quân Ngụy vây Dương Địch phải quay về ứng cứu, Dương Địch sẽ được giải vây. Lộ còn lại là quân chủ lực, từ Tương Lăng xuống phía tây, thẳng vào đất Ngụy, từ phía sau chặn đứng người Ngụy, cùng người Hàn đánh giáp công hai mặt, quyết chiến với Bàng Quyên dưới Trịnh Thành!”

Điền Kỵ nói liền một mạch, rồi nhìn Tôn Tẫn chờ đợi.

Tôn Tẫn im lìm bất động, hai mắt mịt mờ.

“Tôn huynh?” Điền Kỵ khẽ giọng thúc giục.

“Loại hết người già yếu, bệnh tật, nhỏ tuổi, tuyển lựa ra sáu vạn quân thiện chiến, vây Đại Lương!” Tôn Tẫn kiệm lời như vàng.

Bàng Quyên dưới trướng có tám vạn lính Ngụy, Tôn Tẫn lại chỉ điểm có sáu vạn, còn ít hơn hai vạn so với lần cứu Triệu trước đây, Điền Kỵ, Điền Anh trong lòng giật thót. Bất kể thế nào, dùng sáu vạn đối đầu với tám vạn võ binh, phần thắng gần như không có.

“Xin hỏi quân sư,” Điền Anh đã trấn tĩnh lại, cắt ngang, “vẫn giống như lần cứu Triệu trước đây, chỉ dùng kỵ binh dương công Đại Lương chăng?”

“Tam quân cùng tiến, dốc hết toàn lực, tấn công Đại Lương!” Tôn Tẫn gằn mạnh từng tiếng, nói xong, lại khép mắt lại.

Hiển nhiên, Tôn Tẫn mưu sách đã định.

Điền Kỵ kinh ngạc mất một lúc, nhìn sang Điền Anh: “Huy động tam quân, chọn ra sáu vạn binh sĩ cảm tử, ba ngày nữa, khởi binh tới Đại Lương!”

***

Chính vào lúc tam quân nước Tề theo mưu Tôn Tẫn, khởi binh tới Đại Lương, thì ở bên ngoài Trịnh Thành, trước đại sa bàn trong đại trướng trung quân nước Ngụy, Trương Nghi và Bàng Quyên cũng đang bàn bạc về động thái của quân Tề.

“Theo tính toán của Bàng huynh,” Trương Nghi chỉ vào sa bàn, nhìn Bàng Quyên hỏi, “lần này Tôn huynh sẽ dụng binh thế nào?”

“Ồ,” Bàng Quyên mỉm cười, đẩy ngược trở lại, “Trương huynh đã thuộc làu ‘Binh pháp Ngô Tử’, hẳn sớm đã suy đoán ra diệu kế của Tôn huynh, dám xin chỉ giáo!”

“Bàng huynh thế là ép tại hạ phải khoe xấu rồi!” Trương Nghi cười đáp, rồi thu thần nói. “Đất Hàn không giống đất Triệu. Triệu, Tề tiếp giáp, Hàn, Tề lại ngăn cách bởi Tống, Ngụy, nên quân Tề là vượt đường trường tập kích. Nếu tại hạ là Tôn huynh, vẫn sẽ bỏ xe dùng ngựa.” Tay chỉ vào sa bàn. “Tôn huynh có lẽ chia quân thành hai lộ, một lộ là khinh kỵ, từ chỗ này tới chỗ này, rong ruổi mà tới, kết hợp với người Sở, giáp công Hình Sơn, để giải vây Dương Địch. Còn ngả kia, từ đây tới Trịnh Thành, kết hợp với người Hàn, quyết chiến với quân chủ lực của ta.”

Bàng Quyên nhếch mép cười, rồi khẽ lắc đầu.

“Ồ…” Trương Nghi đảo con ngươi một vòng. “Tôn huynh có lẽ không đếm xỉa tới nước Hàn, hợp mưu với Sở, giáp công nam bắc, nhân lúc binh lực ta ở Hàn, không còn rảnh tay để nhìn tới việc khác, liền chia xẻ nước Tống, thuận đà cướp lấy Tương Lăng, ép ta rút quân cứu Tống và Tương Lăng, rồi cùng quyết chiến, nước Hàn do đó mà tự được giải vây.”

Bàng Quyên lại nhếch mép cười.

“Chà chà!” Trương Nghi trở nên hào hứng, đưa ra liền ba phương án, nào ngờ đều bị Bàng Quyên phản đối.

“Ồ!” Trương Nghi tắc tị, nhịp ngón tay lên giá sa bàn, nhìn Bàng Quyên với vẻ không phục. “Này Bàng huynh, thế này không đúng, thế kia cũng không phải, vậy theo ý Bàng huynh, Tôn huynh sẽ dụng binh thế nào?”

Bàng Quyên giơ tay chỉ vào Đại Lương, vẽ một vòng tròn quanh đó.

“Ý Bàng huynh là, Tôn huynh vẫn sẽ xuất binh tới Đại Lương?” Trương Nghi kinh ngạc hỏi.

Bàng Quyên gật đầu.

Trương Nghi hừ mũi một tiếng, mỉm cười nói: “Này Bàng huynh, hôm nay có uống rượu đâu, sao lại hồ đồ đến thế? Tôn huynh đã từng bao vây Đại Lương, dù có là kẻ ngốc cũng sẽ không lặp lại chiêu này!”

“Không giấu Trương huynh,” Bàng Quyên nhìn chăm chú vào sa bàn, nói, “tại hạ đã đứng trước sa bàn này vắt óc suy nghĩ suốt mấy ngày nay, đưa ra không dưới ba mươi phương án, nhưng rồi lại đều bác bỏ. Nhìn vào cách Tôn huynh dụng binh, chỉ có một diệu kế, chính là đánh vào chỗ buộc phải cứu. Năm xưa giao chiến Chiêu Dương, người này hiến kế ngoài đánh Hạng Thành, ngầm chiếm Hình Sơn. Lần trước cứu Triệu, mưu của người này vẫn là như vậy. Lần này cứu Hàn, nơi duy nhất ta phải cứu, ngoài chỗ này ra, không còn nơi khác.”

“Ha ha ha!” Trương Nghi cười nói. “Bàng huynh coi Tôn huynh là khúc gỗ đấy ư? Đạo trong trời đất, không nằm ngoài biến hoá. Quân tình vô thường, tuỳ cơ ứng biến, Tôn huynh thông thạo binh pháp, lẽ nào lại nhất thành bất biến, chỉ có một chiêu chế địch?”

“Còn cần xem là ai dụng binh, dụng binh với ai mới được.” Bàng Quyên đáp. “Chính vì Tôn huynh thông thạo binh pháp, tại hạ mới có suy đoán này!”

“Được rồi!” Trương Nghi phẩy tay, nói. “Bàng huynh đã khẳng định như vậy, hẳn đã có kế sách ứng phó?”

“Thứ nhất, tuyệt đường lương thảo. Thứ hai, uy hiếp Tống Vương, ép Tống Vương vào lúc quân Tề rút quân, không được mở đường tiếp nhận.”

Trương Nghi hít sâu một hơi, trầm ngâm hồi lâu, rồi tấm tắc khen ngợi: “Bàng huynh quả nhiên cao mưu. Sau đó thì sao?”

“Giống như cuộc chiến Hàm Đan lần trước, đại quân ta cứ án binh bất động, vây khốn nước Hàn, để mặc cho quân Tề bao vây Đại Lương. Tới lúc lương thực cạn kiệt, quân Tề ắt rối loạn, Điền Kỵ sẽ rút lui. Lúc đó, ta có thể khởi binh truy kích. Con đường nhanh nhất để về Tề chính là tiến vào đất Tống, do người Tống cung cấp lương thảo, từ đó mà quay về Tề. Người Tống nếu không cho mượn đường, Điền Kỵ hoặc sẽ khai chiến với Tống, hoặc phải đổi đường qua Vệ, từ Vệ trở về Tề, hoặc tới biên giới Sở, hợp quân với Sở. Tại hạ phán đoán, người Tề sẽ không khai chiến với Tống, cũng sẽ không chịu để Sở chế ước, ắt sẽ mượn đường nước Vệ. Lúc này, ta sẽ đuổi tới Vệ, quyết chiến với người Tề ở biên giới Tề, Vệ, bắt sống Điền Kỵ!”

“Quả là diệu kế!” Trương Nghi nghe mà con mắt trợn trừng. “Tuy nhiên, nếu Tôn huynh không tới Đại Lương thì sao?”

“Vừa rồi đã nói,” Bàng Quyên đáp, “tại hạ đã suy nghĩ rất nhiều, chiêu này là thượng thượng sách. Tôn huynh dụng binh, ắt theo đạo này, nếu không, người Tề càng không thể thắng!”

“Vậy sẽ đánh cược vào kế sách này vậy!” Trương Nghi chớp mắt vài cái, nói. “Dụng binh giao chiến, vẫn là Bàng huynh lợi hại, tại hạ xin nghe theo Bàng huynh. Bàng huynh chỉ cần ở đây yên tâm diệt Hàn, còn mọi chuyện Bàng huynh vừa nói, cứ để tại hạ lo liệu.”

Từ biệt Bàng Quyên, Trương Nghi thẳng tiến tới Tuy Dương, vào cung Tống bái kiến Tống Vương.

Tống Vương tên Yển, vốn là con trai thứ của Tống Tích Công, từ nhỏ vũ dũng hơn người, nghe nói sức lực có thể bẻ thẳng móc câu. Tống Tích Công băng hà, thái tử Tích Thành tức vị, công tử Yển không phục huynh trưởng, cậy mình vũ dũng, dẫn quân tập kích Tích Thành. Tích Thành chống cự không nổi, chạy trốn sang Tề, không lâu sau chết nơi đất khách. Yển bèn lên ngôi, sau khi Tề, Ngụy cùng xưng vương không lâu, ban chiếu thiên hạ, tuyên bố xưng tôn. Dù cho vương vị này bị khắp trong triều ngoài nội dè bỉu, cho tới nay, đừng nói là nước lớn trong thiên hạ, dù các nước nhỏ ở Tứ Thượng cũng không nhà nào thừa nhận. Song Tống Vương Yển vẫn dương dương tự đắc, không chỉ bỏ ra vô số tiền bạc chiêu mộ võ sĩ trong thiên hạ, tiêu diệt triều thần hai lòng, trọng dụng tiểu nhân a dua nịnh hót, mà ngay từ lúc mới xưng vương, đã bắn trời đánh đất ngay trước triều đường, tỏ thái độ coi thường lễ nhạc Đại Chu.

Trong thời Chiến Quốc, chuyện này đã thành quen thuộc, chẳng còn là sự lạ. Đuổi huynh trưởng, loạn lễ nhạc, khinh nhờn trời đất, ngông cuồng xưng tôn, không biết lượng sức mình như vậy, đáng lẽ thiên hạ phải hợp sức tiêu diệt mới phải. Tuy nhiên, Tống Yển mặc sức bạo ngược trên đất Tống đã hơn tám năm trời, mà cho tới nay, vẫn bình yên vô sự.

Không phải không ai muốn phạt, mà là có quá nhiều người muốn thảo phạt Tống Yển.

Chiêu Dương nước Sở là hăng nhất. Ngay sau khi Tống Yển chiếm ngôi Tích Thành một năm, Chiêu Dương đã dẫn quân phạt Tống, không ngờ Điền Kỵ nước Tề xuất quân chi viện, hai quân Sở, Tề giằng co hơn tháng trời bên bờ Tứ Thuỷ, Chiêu Dương không có cơ hội tấn công, chưa đánh đã phải rút lui. Sau khi Tống Yển xưng vương, Chiêu Dương nhân lúc người Tề đang dồn sức ứng phó với Việt Vương Vô Cương, không còn rảnh rang để ý đến chuyện khác, một lần nữa lại đánh Tống. Nào ngờ nước Ngụy xuất binh, Bàng Quyên, Tôn Tẫn liên thủ, bày mưu đánh vào chỗ buộc phải cứu khiến người Sở đại bại, Chiêu Dương một tấc đất cũng không chiếm được, lại tổn thất sáu vạn binh, đánh mất trọng ải Hình Sơn phía bắc.

Tống Vương Yển hiểu rằng, Tề, Ngụy bất chấp đổ máu tới cứu, không phải vì mình đức cao vọng trọng, mà là vì mình đang chiếm cứ vùng đất phì nhiêu vài trăm dặm vùng Tế Thuỷ, Tứ Thượng, đông tới Bành Thành, tây tới Tuy Dương (vốn là Tương Lăng, năm xưa đã bị tướng Ngụy Ngô Khởi chiếm đoạt), bắc tới Định Đào. Phía bắc có Hồng Câu, phía nam có Hoằng Thuỷ, phía đông có Tứ Thuỷ, ở giữa có Tuy Thuỷ, vùng đất bốn sông đan xen này đích xác là một vựa lương thực thiên nhiên. Bên cạnh đó, tiên tổ nước Tống là Vi Tử, vốn là thương nhân, buôn bán kinh thương là truyền thống đời đời của người Tống, Đào Ấp nơi biên giới phía bắc, cũng chính là Định Đào, lại càng là kinh đô thương nghiệp nức tiếng thiên hạ, ngay từ thời Xuân Thu đã sinh ra vị thương nhân giàu có nghiêng ngửa thiên hạ là Đào Chu Công. Thương nhân Bạch Khuê nước Ngụy mới qua đời trước đó không lâu cũng học được đạo kinh thương từ nơi này, tích luỹ gia tài hàng vạn.

Một miếng thịt béo bị bao vây giữa ba con cá sấu lớn là Tề, Ngụy, Sở, lại thành ra an toàn nhất. Trong ba con cá sấu lớn này, bất luận con nào mở miệng, Tống Yển đều có thể cầu hai con còn lại viện trợ, hơn nữa sẽ luôn luôn được chấp thuận. Có Tề, Ngụy, Tống Yển không sợ Sở; có Tề, Sở, Tống Yển cũng không sợ Ngụy. Chuyện này tạm chưa tính đến, Tống Yển còn nhiều lần phái sứ thần bợ đỡ nước Tần, khích lệ dân chúng trong nước thông thương với Tần. Trong mắt Tống Yển, những nước lớn trong thiên hạ, ông ta đều có thể đùa giỡn trong lòng bàn tay. Đây cũng là căn cơ giúp cho Tống Vương Yển có thể ung dung tự đắc giữa vòng vây nước lớn.

Điều Trương Nghi muốn phá huỷ, chính là cái căn cơ này của Tống Yển.

Tống Vương Yển hiểu rõ con người Trương Nghi, cũng hiểu rõ mục đích hắn tới đây. Thế nhưng, trước có thất bại của Ngụy ở Quế Lăng, nay có hai nước Tề, Sở xuất binh, Tống Yển đã chẳng còn coi người Ngụy ra gì. Vào buổi đại triều, Tống Yển cứ ra vẻ ngẩn ngơ, nhìn sững vào Trương Nghi hồi lâu, mới ngả người về phía trước hỏi, giọng điệu cực kỳ cung kính: “Tống Yển có một thỉnh cầu, không biết Trương Tử có nể mặt hay chăng?”

“Đại vương bất tất phải khách khí, Nghi xin rửa tai lắng nghe!” Trương Nghi cố tình nhấn mạnh hai chữ “đại vương”.

“Nghe nói Trương Tử lưỡi dài ba thước, Tống Yển rất đỗi hiếu kỳ, từ lâu đã muốn chiêm ngưỡng, tới tận hôm nay mới có cơ duyên, mong được Trương Tử nể mặt!”

“Đại vương xin hãy lại gần!”

Tống Yển quả nhiên rời khỏi chỗ, bước về phía Trương Nghi. Trương Nghi há ngoác miệng, thè lưỡi ra ngoài hết cỡ. Tống Yển ngắm nghía một lát, quay lại chỗ ngồi, ngửa cổ cười một tràng.

“Đại vương cười hẳn là vì cái lưỡi dài ba thước của Nghi?” Trương Nghi nghiêng đầu hỏi.

“Lưỡi của Trương Tử, chẳng qua cũng chỉ như người bình thường mà thôi.” Tống Yển thu lại nụ cười, đổi cách xưng hô “Tống Yển” thành “quả nhân”, lắc đầu mà nói. “Nếu không tận mắt chứng kiến, quả nhân suýt nữa tin vào lời đồn nhảm của người đời.”

“Nghi đã khiến đại vương thất vọng!” Trương Nghi nhếch mép cười một cái, khẽ vòng tay nói.

“Nghe nói Trương Tử ở Sở nhiều năm, rất am hiểu Sở. Từ lúc quả nhân tức vị, rất xem trọng người Sở, coi như mãnh hổ. Nào ngờ con hổ này hai lần phạt Tống, song cả hai lần đều phải chuốc nhục. Quả nhân kém cỏi, dám hỏi Trương Tử, là người Sở không tự lượng sức, hay là quả nhân…” Tống Yển cố tình bỏ lửng nửa chừng.

Trương Nghi mỉm cười, hơi ngả người ra phía sau.

“Không giấu Trương Tử, người Sở nhiều lần trêu cợt Tống, thần dân đại Tống cực lực tấu đòi phạt Sở, quả nhân vì chuyện này mà mưu tính nhiều năm, định vào mùa xuân năm sau khởi năm vạn đại quân phạt Sở, Trương Tử thấy có được chăng?”

“Nghe nói đại vương sức khoẻ bẻ thẳng móc câu, Nghi không dám tin, xin được tận mắt nhìn!” Trương Tử lảng sang chuyện khác.

“Mang móc câu lại đây!” Tống Yển quát lớn.

Có người dâng lên một cái móc câu, móc câu được làm bằng sắt ròng, to bằng quả hồ đào. Tống Yển hai tay nắm lấy, thủ thế sẵn sàng, âm thầm vận lực, trước bao nhiêu con mắt của quần thần, móc câu bằng sắt từ từ bị uốn thẳng.

Quần thần vỗ tay như sấm.

“Quả là lực sĩ, Trương Nghi thán phục!” Trương Nghi vòng tay, chỉ vào cây cột trụ bằng gỗ nam đầy một vòng ôm ở bên cạnh. “Xin đại vương hãy thử lay cây cột kia!”

“Ồ…” Tống Yển nhìn cây cột trụ, rồi lại nhìn Trương Nghi đầy khó hiểu. “Đây là cột trụ chống đỡ cung điện, sao có thể lung lay?”

“Đại vương lay chuyển một chút xíu thôi cũng được!”

“Đây là cột trụ gỗ nam, có thể chống đỡ vạn cân, cho dù có sức khoẻ phi thường, cũng không thể khiến nó mảy may xê dịch!”

“Đại vương thánh minh!” Trương Nghi thuận thế đáp. “Đại vương có thể bẻ thẳng móc câu, song không thể lay chuyển cột trụ gỗ nam dù chỉ mảy may. Đại vương trị vì Tống, giống như bẻ thẳng móc câu sắt, còn đại vương phạt Sở, cũng giống như lay chuyển cột trụ gỗ nam!”

“Trương Tử nói hay lắm!” Tống Yển cười lớn vài tiếng, rồi vòng tay nói. “Trương Tử đã nói vậy, quả nhân sẽ không phạt Sở nữa. Dám hỏi Trương Tử tới đây, hẳn có điều muốn chỉ giáo quả nhân?”

“Xin đại vương cho tả hữu lui ra!”

Tống Yển ngẫm nghĩ một lát, phẩy tay: “Chư vị ái khanh, bãi triều!” Rồi quay sang Trương Nghi. “Nếu Trương Tử rảnh rỗi, hãy theo quả nhân tới hậu hoa viên trò chuyện!”

Hai người đi tới hậu hoa viên, cùng ngồi trên một lầu gác bằng gỗ.

“Trương Tử, nơi này không có ai, có gì cứ nói!”

“Trước khi Nghi lên đường,” Trương Nghi khoé miệng mỉm cười, song hai mắt lại lộ rõ vẻ khinh miệt, “Ngụy Vương có ngâm một câu thơ cho Nghi nghe, Tống Vương có muốn biết không?”

“Ồ?” Tống Yển thoáng ngạc nhiên, không nén nổi tò mò hỏi. “Ngụy Vương ngâm thơ gì?”

“Mưa đổ dầm dề, sông sâu lại rộng, chỉ trời mà thề.” Trương Nghi khép mắt ngâm nga.

Tống Yển ngỡ ngàng không hiểu, bèn hỏi: “Dám hỏi Trương Tử, thơ này có ẩn ý gì?”

“Đại vương không biết thật ư?” Trương Nghi mở mắt, lấy làm kinh ngạc. “Nghe nói quý quốc có một thường dân tên gọi Hàn Bằng, Hàn Bằng có vợ tên là Tức Lộ. Tức Lộ ra ngoài hái dâu, nhà vua thấy nàng xinh đẹp, bắt nàng vào cung. Hàn Bằng oán hận, vua bèn thịnh nộ, phạt làm khổ sai, cho đi xây dựng môn lầu ở cung thành. Thơ này do vợ Bằng là Tức Lộ viết ra.”

“Ồ?” Tống Yển vò đầu bứt tai, ánh mắt sửng sốt. “Sao quả nhân lại không biết chuyện này nhỉ? Phải rồi, thơ này phải giải thích ra sao?”

“Mưa đổ dầm dề, ngụ ý nhà vua hiếu sắc dâm đãng. Sông sâu lại rộng, ngụ ý nhà vua thế lớn lực mạnh. Chỉ trời mà thề, ngụ ý người đàn bà này không thiết sống nữa, giao hẹn với chồng cùng chết.”

“Sau đó thì sao?” Tống Yển vội hỏi.

“Người đàn bà này bí mật nhờ người chuyển bài thơ cho Hàn Bằng. Hàn Bằng y hẹn dùng dải lụa treo cổ tự vẫn dưới lầu thành. Vua hay tin hả giận, dẫn Tức Lộ tới xem. Tức Lộ nhân lúc vua không để ý, lao mình nhảy xuống lầu. Vua nhanh tay túm lấy áo nàng, nào ngờ vải áo đã bị nàng cố tình làm mủn từ trước, vua giữ không được, chỉ biết giương mắt nhìn mỹ nữ rơi xuống chân thành. Nhà vua xót thương người đàn bà này, xuống thành xem xét, tìm thấy một vuông lụa giắt ở thắt lưng nàng, bên trên lại có một bài thơ nữa, đại vương có muốn nghe chăng?”

“Thơ thế nào?” Tống Yển lấy làm tò mò hỏi.

“Vua lợi lúc sống, thiếp lợi lúc chết, xin đưa xác thiếp, hợp táng cùng Bằng.”

“Vậy thi thể của họ có được chôn cùng không?” Tống Yển lại hỏi.

“Việc này phải hỏi vua mới phải!” Trương Nghi nhìn thẳng vào Tống Yển.

“Phải, phải!” Tống Yển vỗ vỗ đầu. “Trương Tử hãy kể tiếp.”

“Nhà vua ghen tức, không ban hợp táng, cố tình đặt hai ngôi mộ cách xa nhau vài trượng. Không ngờ chỉ trong một đêm, trên mỗi ngôi mộ mọc lên một cây, một đực một cái, chưa đầy mười ngày đã tán phủ rợp trời, bên trên cành lá nối liền, dưới gốc rễ lan quấn quýt, tình vợ chồng thắm thiết, khiến đất trời cũng phải nghẹn ngào, quỷ thần cũng phải khóc thương. Nghi hay tin, cũng khó tránh thổn thức.”

Tống Yển cũng xuýt xoa một hồi, rồi dường như đột nhiên bừng tỉnh, nhìn thẳng vào Trương Nghi, sắc mặt giận dữ: “Dám hỏi Trương Tử, Trương Tử thêu dệt nên chuyện này, hẳn là cố tình giễu cợt quả nhân?”

“Nghi không dám.” Trương Nghi đáp lời. “Nghi chỉ nghe Ngụy Vương kể lại.”

“Ngụy Vương nghe được từ đâu?”

“Chuyện này Nghi không rõ, có lẽ từ tiểu thuyết gia chăng? Trong ngoài thành Đại Lương, tiểu thuyết gia nhiều không đếm xuể, chuyên thêu dệt chuyện liệt quốc để kiếm cơm ăn.”

“Ha ha ha!” Tống Yển phá lên cười. “Đúng vậy. Có điều Ngụy Vương chỉ biết nghe tin đầu đường xó chợ mà đánh mất sáng trí, đợi quả nhân rảnh rỗi, cũng sẽ tới đầu đường xó chợ, tìm vài tiểu thuyết gia, thêu dệt nên mấy câu chuyện về Ngụy Anh chơi.”

“Đại vương có biết,” Trương Nghi hai mắt nhìn chằm chằm vào Tống Yển, “đám tiểu thuyết gia cớ sao lại thêu dệt chuyện này?”

“Quả nhân không biết!”

“Là vì đại vương thất đạo, đã không được lòng dân!” Trương Nghi gằn mạnh từng tiếng.

Tống Yển sững sờ.

“Từ cổ chí kim, được lòng dân thì được thiên hạ. Không được lòng dân, chết cũng không có chỗ chôn!”

“Ngươi…” Tống Yển tức uất. “Được lắm, Trương Nghi, dám thêu dệt câu chuyện không có thực trước mặt quả nhân, lại còn nói quả nhân thất đạo? Được, ngươi thử nói xem, quả nhân thất đạo ở đâu?”

“Nghe nói đại vương ỷ mạnh đuổi giết tiên quân Tích Thành, có chuyện này chăng?”

“Là người này vô đạo, không thương xót thần dân, đáng chết! Quả nhân giữ lại cho hắn một mạng đến Tề, đã là từ bi lắm rồi!”

“Nghe nói đại vương bắn trời đánh đất, thiêu huỷ xã tắc thần kỳ, có chuyện này chăng?”

“Trời đất bất nhân, xã tắc bất nghĩa, khiến lãnh thổ trù phú màu mỡ vài trăm dặm của quả nhân hạn hán ba năm liền, nhiều ấp không một hạt thóc, lẽ nào không đáng bị bắn, bị đánh, bị thiêu huỷ?”

“Nghe nói đại vương cắt lưng người gù, chặt chân người lội nước buổi sớm, có chuyện này chăng?”

“Nói bậy!” Tống Yển nổi trận lôi đình, đứng phắt dậy, chỉ mặt Trương Nghi. “Đến những lời độc địa ô uế nhường này mà ngươi cũng tin, còn dám nhận bừa là kẻ hùng biện trong thiên hạ!”

“Ha ha ha!” Trương Nghi phá lên cười một tràng dài. “Đại vương bớt giận! Đường ngang ngõ hẹp, đều lan tràn những lời đồn nhảm của đám tiểu thuyết gia, Nghi chỉ tiện miệng nói bừa, đại vương nghe tạm mà thôi.” Rồi chỉ vào chỗ ngồi. “Đại vương mời ngồi, Nghi có lời thực muốn nói!”

Tống Yển thở hồng hộc ngồi xuống.

“Việt Vương Vô Cương sở hữu giang sơn ba nghìn dặm, cai trị trăm năm mươi vạn thần dân, hiệu lệnh hai mươi vạn tinh binh, người Tề phải dốc toàn lực của cả nước ra ứng phó, vẫn không thể đề phòng cho xuể! Dám hỏi đại vương, có thể sánh với Việt Vương Vô Cương?”

Tống Yển thoáng bối rối, nói: “Quả nhân không bằng.”

“Hai vua Ba, Thục thống lĩnh Ba sơn, Thục thuỷ vài nghìn dặm vuông, núi cao vực sâu, tứ bề hiểm trở, lại có hơn hai trăm vạn dân Ba, Thục chưa được giáo hoá, Sở Vương chinh chiến vài trăm năm với Ba mà không làm gì nổi Ba Vương, Tần Quân hẹn Thục Vương dạo chơi ở Hán Trung, Tần Quân bị bỡn cợt. Dám hỏi đại vương, có thể sánh với hai vua Ba, Thục?”

Tống Yển ngoảnh mặt sang chỗ khác, hồi lâu sau mới lẩm bẩm một câu: “Quả nhân không bằng.”

“Không nói đến man di, chỉ nói tới liệt quốc Trung Nguyên, đại vương có thể sánh với Triệu Hầu? Nghe theo Tô Tần, dốc sức toàn quốc, hợp tung sáu nước chống Tần, đại quân kéo tới trước ải Hàm Cốc, nổi trống tiến công, chấn động ngũ nhạc.”

Tống Yển hít sâu một hơi, giọng nói càng thêm yếu ớt: “Quả nhân không bằng.”

“Không nói đến Triệu mạnh, chỉ nói đến Hàn yếu, sự giàu có của Định Đào, liệu có thể sánh với Dương Địch? Mảnh đất năm trăm dặm không có một nơi hiểm yếu để cố thủ, có thể sánh với nghìn dặm sông núi nước Hàn? Uy của đại vương có thể sánh với Hàn Vương?”

Giọng Tống Vương chỉ còn lí nhí trong cổ họng: “Quả nhân không bằng.”

“Đại vương hãy nghe!” Trương Nghi lời như thác đổ, khí thế hào hùng. “Nghi rời khỏi Quỷ Cốc, khiến Việt Vương Vô Cương dẫn theo hai mươi vạn đại quân thuỷ lục quay đầu, rời Tề đến Sở, tự lao vào đường chết. Nghi tới Tây Tần, trước hết phò tá Tần Quân dùng sức của một nước mà đẩy lùi quân sáu nước, tiếp đến dẫn đại quân vượt núi băng rừng, tiến sâu vào vùng đất khô cằn, trong vòng một năm mà tiêu diệt Ba, thu phục Thục, bình định nghìn dặm biên thuỳ tây nam. Nghi rời Tần đến Ngụy, khiến sư đệ Bàng Quyên hãm Triệu vào bước đường cùng, chiếm lấy Hàm Đan, nay lại phạt Hàn, hai vùng Trịnh Thành, Dương Địch, phóng mắt nhìn đi, mênh mông bất tận, đều là doanh trại võ binh Ngụy! Dám hỏi đại vương, miệng lưỡi của Nghi liệu có dài qua ba thước?”

Nghĩ tới lời lẽ khinh miệt của mình khi nãy, Tống Yển cúi gằm mặt xuống. Bất luận thế nào, lời Trương Nghi không hề giả, những điều vừa kể, Tống Yển cũng đều biết rõ.

“Không giấu đại vương,” Trương Nghi đổi giọng, “cách đây mười ngày, Nghi ở dưới chân Trịnh Thành, trong trướng Bàng Quyên, cùng bàn bạc về chuyện của đại vương. Bàng Quyên có ý trách cứ đại vương âm thầm trợ giúp người Tề trong lần phạt Triệu trước đây, nói rằng hạ được Trịnh Thành sẽ điều quân tới Tuy Dương, đích thân hỏi thử đại vương, nước Ngụy rốt cuộc đắc tội với đại vương vào lúc nào và vì chuyện gì? May sao Nghi kịp thời chen ngang một câu, lần này sẽ tới Tuy Dương tìm đại vương thương lượng.”

Nghe Trương Nghi hết dụ dỗ lại đe doạ một thôi một hồi, Tống Yển vốn miệng hùm gan sứa lập tức khí thế xẹp lép, vội vòng tay vái lia lịa mà rằng: “Quả nhân không biết, kính thỉnh Trương Tử chỉ giáo!”

“Chỉ giáo thì không dám, Nghi có vài lời muốn nói với đại vương. Dù là người Tề hay người Sở, đều đang nhòm ngó vùng đất quý báu mà đại vương đang chiếm cứ, đại vương ngồi trên đỉnh núi đao mà lại không hề hay biết. Mười năm về trước, Chiêu Dương phạt Tống, người Tề cứu viện, không phải vì cứu đại vương, mà vì không muốn để người Sở chiếm lấy đất Tống. Sau này quân Việt phạt Tề, Chiêu Dương thừa cơ lại khởi binh phạt Tống, là Bàng Quyên xuất binh, đánh bại Chiêu Dương, mới có thể đảm bảo đất Tống bình yên vô sự. Nay lại là Bàng tướng quân phạt Hàn, Chiêu Dương khởi sáu vạn binh, lấy danh nghĩa cứu Hàn, song lại đóng quân ở Khổ Huyện. Còn như người Tề, Nghi lại càng không phải nói. Lần trước người Tề phạt Ngụy, đại vương cho mượn đường, hẳn là vì muốn lấy Tương Lăng? Tuy nhiên, đường đã mượn rồi, còn Tương Lăng của đại vương đâu? Người Tề đưa binh lính già cả ốm yếu dương công Tương Lăng, chỉ là để đãi bôi với đại vương, song lại dùng quân chủ lực tấn công Đại Lương. Đại vương hãy tự hỏi lòng, trong bốn nước láng giềng, thực tâm giúp đỡ đại vương, phải chăng chỉ có Ngụy Vương? Sở dĩ đại vương được an cư một góc, bình yên vô sự cho tới nay, là vì có mười vạn võ binh Đại Ngụy sau lưng chống đỡ. Nếu đại vương nhìn mà không thấy, ngạo mạn vô tri, đến khi quân Sở, Tề lại sinh lòng, e là Bàng tướng quân...” Trương Nghi bỏ lửng giữa chừng.

“Không không không!” Tống Yển nghe mà mồ hôi đẫm trán, vội vòng tay nói. “Kính thỉnh Trương Tử chuyển lời tới Bàng tướng quân, nói là Tống Yển kính cẩn nghe lời Trương Tử, Bàng tướng quân, chỉ nhất nhất theo ý Trương Tử, Bàng tướng quân.”

“Đại vương nhất nhất theo ý không phải Nghi, cũng không phải Bàng tướng quân, mà là Ngụy Vương!”

“Phải phải phải, là Ngụy Vương! Kính thỉnh Trương Tử chuyển lời tới Ngụy Vương, nói là Tống Yển hồ đồ. Kể từ hôm nay, Tống Yển chỉ nhất nhất theo ý Ngụy Vương.”

Nói rồi, Tống Vương truyền chỉ bày tiệc, cùng Trương Nghi yến ẩm tới tận chập tối.

Trương Nghi thế cờ đã thắng, khe khẽ ngâm nga trở về trạm dịch, bất ngờ thấy công tử Hoa cung kính chờ sẵn ngoài sảnh. Công tử Hoa chuyển lời hỏi thăm của Tần Vương, rồi bẩm báo: “Đại vương hay tin Ngụy, Hàn đang trong thế giằng co, lo lắng Bàng tướng quân lương thảo thiếu thốn, lại điều động thêm ba vạn thạch lương, đủ cho tam quân Đại Ngụy dùng trong vài tháng!”

“Đại vương thánh minh!” Trương Nghi ngước lên bầu không cảm tạ, lập tức cho gọi tuỳ tùng, chuyển tin vui này thành cấp báo, lệnh cho thám mã hoả tốc mang tới cho Bàng Quyên và Ngụy Vương.

“Còn một chuyện nữa, Trương huynh có lẽ còn mừng hơn!” Công tử Hoa hạ giọng nói.

“Công tử cứ nói!”

Công tử Hoa lấy từ trong ống tay áo ra một vuông lụa. Trương Nghi nhận lấy, mở ra đọc kỹ một lượt, sửng sốt kêu lên: “Danh sách quan lại giám sát vận chuyển lương thảo quân nhu của năm đô, đường đi, số lượng, thời gian tới nơi? Mâu Tân? Tô Tần?”

Công tử Hoa gật đầu.

“Cơ mật đến vậy,” Trương Nghi kinh ngạc nói, “Công tử cớ sao lại có được thứ này?”

“Là Tô huynh của Trương huynh cung cấp đấy.” Công tử Hoa thản nhiên nói.

“Tô huynh?” Trương Nghi trợn tròn mắt.

“Không giấu Trương huynh,” công tử Hoa cười bí hiểm, “về Tô huynh của Trương huynh, tại hạ có thể nói là làu làu như lòng bàn tay. Đừng nói là danh sách này, đến cả chuyện ba ngày trước đây Tô huynh ăn phải cơm thừa mà đau bụng, nửa đêm đi ngoài bốn lần, tại hạ cũng đều nắm rõ.”

“Chà chà!” Trương Nghi tặc lưỡi, không thể tin nổi. “Hai nước khai chiến, lương thảo là chuyện hệ trọng, Tô Tần giám sát vận chuyển lương thảo, tất ru rú trong nhà, phòng vệ nghiêm ngặt, dám hỏi công tử, làm thế nào mà có được thứ này?”

Công tử Hoa bèn kể lại đầu đuôi chuyện Thu Quả, Trương Nghi nghe mà luôn miệng xuýt xoa, tấm tắc than thở: “Có Hắc Điêu này ở bên, Tô huynh có thể không bại?”

***

Tích Cương lệnh cho Tô Tần phụ trách vận chuyển lương thảo, quả là đã làm khó cho Tô Tần, bởi lẽ Tô Tần chẳng có căn cơ gì ở Tề, hơn nữa trong tay không có lấy nổi một thân tín tài giỏi đáng tin cậy, thông thạo tình hình các ấp. Tô Tần vốn định dùng Điền Văn, nào ngờ Điền Văn lại được Điền Anh điều làm chủ tướng của hai vạn quân các ấp Nam Đô. Tô Tần biết, Điền Văn bố trí thế này là vì con trai. Bất luận thế nào, trên sa trường sẽ có thể trực tiếp lập công, còn vận chuyển lương thảo, trên phải đối mặt với tam quân viễn chinh, dưới phải đối diện với bách tính các nơi, là công việc vất vả lại không được lòng người. Nếu làm tốt, hoặc giả có thể trở thành “anh hùng phía sau”, nếu làm không tốt, đặc biệt là làm lỡ kỳ hạn vận chuyển, dù là nguyên nhân nào, đều có thể phải gánh trọng tội.

Trong tay không có người, Tô Tần không thể không nhờ cậy vào Mâu Tân vốn đã đồn thú nhiều năm ở biên giới phía tây. Để trấn áp Tô Tần, Mâu Tân ra bài phô trương thanh thế, cho gọi toàn bộ đám quan lại phụ trách vận chuyển lương thảo của năm đô tới, đua nhau khoe khoang tài nghệ trước mặt Tô Tần, gảy bàn tính tanh tách, đối chiếu sổ sách, đưa ra đủ thứ số liệu. Cứ thế tính toán suốt ba ngày trời, Tô Tần quả nhiên đôi mày chau tít. Tam quân mười vạn, tuy tạm thời cắt bớt bốn vạn, song chưa giải tán, vẫn cần cơm ăn, cộng thêm gần năm vạn nhân công phục vụ hậu cần quân nhu các nơi, mỗi ngày tiêu tốn không dưới năm trăm thạch lương, lại cộng thêm những vật tư thiết yếu như rau thịt, củi rơm, thực là một con số khổng lồ tới kinh ngạc. Nước Tề gần đây tuy có tích trữ, song nhiều năm liền nuôi ngựa, ruộng vườn bị chiếm dụng rất nhiều, nông nghiệp hoang phế, lần trước khai chiến với Ngụy, gần như đã dùng hết lương thảo tích trữ trong kho, lại thêm năm ngoái nhiều nơi hạn hán, vụ thu mất mùa, vài tháng trước, các đô ấp chỉ chuyển vào kho lương A Ấp và các nơi khác không tới một vạn thạch lương, chỉ đủ cho tam quân cầm cự trong hai mươi ngày. Còn như cỏ rơm cho ngựa, lại càng thiếu thốn trầm trọng. Tô Tần lần đầu tiên hiểu ra, một cuộc đại chiến không phải trò đùa, cũng thấu hiểu sâu sắc các bậc thánh nhân xưa nay vì sao không tuỳ tiện khai chiến, thậm chí đã loáng thoáng hiểu ra, vì sao Trâu Kỵ vốn giỏi trị nước lại ra sức phản đối chiến tranh.

Khai chiến thông thường, tam quân chưa động, lương thảo đã phải lên đường trước. Lần này xuất chinh gấp rút, nước Tề còn chưa kịp chuẩn bị đầy đủ, cung ứng lương thảo lại càng thêm căng thẳng. Tô Tần lệnh cho Mâu Tân, trong vòng mười ngày phải vận chuyển thêm một vạn thạch lương tới A Ấp, bảo đảm tam quân đủ ăn trong bốn mươi ngày. Còn quân lương sau bốn mươi ngày, Tô Tần dự định sẽ mua của các nước ở Tứ Thượng, việc này do hắn và thái tử trù định.

Mâu Tân nhất loạt lĩnh mệnh, vâng dạ luôn miệng.

Trở về trong trướng, Mâu Tân trằn trọc mãi, cả đêm mất ngủ, bị dằn vặt bởi một nỗi kinh hoảng thấu tâm can. Mâu Tân hiểu, Điền Kỵ trở về, Tôn Tẫn sống lại, tuyệt đối không phải là chuyện hay ho với hắn.

Mãi đến khi trời sáng bảnh, Mâu Tân mới ngủ thiếp đi, quá trưa thì tỉnh dậy, nghe báo là có người đã đợi nhiều giờ liền ở trước trướng. Mâu Tân rửa mặt chải đầu xong xuôi, đủng đỉnh bước ra, thấy tham tướng phụ trách lương thảo và một người lạ vận trang phục thương nhân đang đứng ở ngoài trướng.

Hành lễ xong xuôi, Mâu Tân dẫn hai người vào trướng, tham tướng nói: “Bẩm chúa công, vị thương khách này từ Định Đào tới, hay tin chúng ta có ý định mua lương, nên đặc biệt tới hỏi thăm.”

Quái lạ, Tô Tần vừa dặn mua lương thực ngày hôm qua, vì sao hắn đã biết nhanh đến vậy? Mâu Tân giật thột trong lòng, nhìn sang kẻ đó, khẽ vòng tay, hỏi: “Vị khách thương kia, sao ông biết chúng tôi cần mua lương thực?”

“Ha ha ha!” Người kia cười nói. “Đã là người buôn bán thì mũi phải thính chứ, đặc biệt là chúa công nhà tôi.”

“Chúa công nhà ông quý danh là gì?”

“Chúa công đã dặn, tại hạ không dám nói bừa.”

“Được!” Mâu Tân gật đầu. “Dám hỏi chúa công nhà ông có bao nhiêu hàng tích trữ?”

“Thế này!” Người kia giơ ra ba ngón tay.

“Ba trăm thạch?”

Người kia lắc đầu.

“Ba nghìn thạch?”

Người kia vẫn lắc đầu.

“Không phải là ba vạn thạch đấy chứ?” Mâu Tân hít sâu vào một hơi.

“Chỉ nhiều không ít.” Người kia nở một nụ cười, nói. “Chúa công nhà tôi là nhà buôn gạo lớn nhất Tứ Thượng, có tới vài chục kho tàng, đừng nói là ba vạn thạch, dù là mười vạn thạch, cần ngay lúc này cũng là chuyện nhỏ, đương nhiên, giá cả cũng cần hợp lý.”

“Giá cả thế nào?” Mâu Tân vội hỏi.

“Chuyện này tại hạ không có quyền quyết định, nếu quý quân đưa ra số lượng khả quan, chúa công sẵn sàng gặp mặt tướng quân để bàn bạc.”

Mâu Tân trong lòng chấn động, nghĩ thầm: “Nếu ta mua được nhiều lương thảo đến vậy, ắt lập công lớn với Tề, Tô Tần hẳn sẽ nói giúp ta vài câu, như vậy, Điền Kỵ sẽ không làm gì được ta. Hơn nữa, bức thư kia cũng không phải do ta bịa tạc ra, cho dù không phải sự thực, cũng chẳng phải lỗi của ta. Hơn nữa, tướng quốc và đại vương cũng đã xem qua, sợ quái gì!”

Nghĩ là vậy, Mâu Tân cũng lấy lại chút can đảm, lập tức giữ người kia lại, cấp tốc tới trướng Tô Tần, kể sơ qua sự việc. Tô Tần mừng rỡ, sai hắn gấp rút tới Định Đào đàm phán, cố gắng hạ giá thấp nhất có thể, đặt mua trước ba vạn thạch, còn mình sẽ tới Lâm Truy xoay xở tiền nong.

Mâu Tân từ biệt Tô Tần, dẫn theo vài tuỳ tùng thân tín, cùng với thương khách kia tức tốc tới Định Đào nước Tống. Khi xe ngựa dừng lại trước một toà trạch phủ hào nhoáng nằm khá ẩn khuất, đã có người chờ sẵn ở bên ngoài, đích thân dẫn hai người vào trong sảnh phụ tiếp đón, sau đó chỉ đưa Mâu Tân vào trong sảnh chính.

Người ở trong sảnh chính, chính là Trương Nghi.

Trương Nghi lại không mặc trang phục thương nhân, mà mặc quan phục, khẽ nhổm người lên trước, tươi cười với Mâu Tân, chỉ tay vào chỗ ngồi dành sẵn.

Mâu Tân không hề biết Trương Nghi, thấy thế thì sững sờ, nhìn vào chỗ ngồi mà đối phương dành cho mình, miễn cưỡng ngồi xuống, quay đầu lại tìm vị thương khách dẫn mình tới, song không thấy đâu cả.

“Tại hạ Trương Nghi, cung kính chờ tướng quân ở hàn xá đã lâu rồi!” Trương Nghi vòng tay nói.

Biết được người ngồi trước mặt mình chính là tướng quốc nước địch Trương Nghi nức tiếng thiên hạ, Mâu Tân kinh hãi đến há hốc miệng, toàn thân cứng đờ. Còn chưa hết bàng hoàng thì vị thương khách kia đã bước vào, song lại mặc trên mình trang phục nước Tần.

“Mâu tướng quân!” Trương Nghi chỉ vào người mặc trang phục Tần. “Vị này là công tử Doanh Hoa, hai người hẳn đã quen biết nhau?”

Trời ơi, kẻ đích thân tới doanh trại Tề, dẫn mình tới đây lại chính là công tử Hoa đại danh đỉnh đỉnh, được Tần Vương sủng ái rất mực! Mâu Tân gần như ngộp thở.

“Vị này chính là chúa công của tại hạ!” Doanh Hoa mỉm cười với Mâu Tân, chỉ vào Trương Nghi, đi thẳng vào chuyện chính. “Mâu tướng quân giờ đã có thể bàn bạc chuyện lương thảo.”

“Lương… lương thảo…” Mâu Tân lắp bắp.

“Mâu tướng quân,” Trương Nghi chỉ vào Doanh Hoa, “kỳ thực, tại hạ không có lương thảo, người thực sự có lương thảo, là vị Doanh công tử này. Đã nghe nói về kho lương đất Thục chưa? ở đó, đừng nói là ba vạn thạch, dù là ba mươi vạn thạch cũng không thành vấn đề.”

Mâu Tân định đứng dậy, mà hai mông như thể nặng nghìn cân. Muốn ngồi tiếp, song không biết tiếp theo sẽ xảy ra chuyện gì.

“Trước khi bàn chuyện,” công tử Hoa nhìn thẳng vào Mâu Tân, “tại hạ muốn nhắc tướng quân cảm tạ một người.”

“Là… là ai?”

“Chúa công của tại hạ!” Doanh Hoa hất hàm về phía Trương Nghi, giải thích. “Còn nhớ bức mật thư không? Chúa công của tại hạ nghe nói Trâu công tử chết oan ức trong tay Điền tướng quân, hơn nữa còn liên luỵ tướng quân sa vào hiểm cảnh, cảm thấy bất nhẫn, nên mới viết ra thư đó!”

Mâu Tân lập tức bừng tỉnh, hoàn toàn hiểu ra, không nói thêm lời nào nữa, bèn đứng dậy khấu lạy sát đất: “Mâu Tân và toàn bộ gia quyến lớn nhỏ cảm tạ ân công!”

“Tướng quân mau đứng dậy,” Trương Nghi phẩy tay, “chúng ta cùng bàn chuyện mua bán!”

“Ân công có việc gì, xin cứ căn dặn.”

“Mua bán thì không có chuyện gì khác, chỉ hỏi tướng quân một câu, tướng quân muốn Điền tướng quân tuẫn thân vì nước trên sa trường, hay là muốn Điền tướng quân anh dũng khải hoàn?”

“Mâu Tân chỉ muốn hắn chết!” Mâu Tân rít qua kẽ răng.

“Được!” Trương Nghi dõng dạc đáp lời, quay sang Doanh Hoa. “Công tử sai người tới Cao Đường, đón toàn bộ gia đình Mâu tướng quân tới phủ tướng quốc Đại Lương, tại hạ đã bố trí người lo liệu!”

“Ân công…” Mâu Tân khóc không thành tiếng, lại bái lạy sát đất.

***

Hơn sáu vạn quân Tề, tung tin ra ngoài là mười vạn, thêm hơn một vạn nhân lực lo liệu quân nhu, khí thế hừng hực, bao vây Đại Lương. Cờ quạt đủ loại rợp đất, dễ đến cả vạn lều trại cắm dày đặc bên ngoài thành Đại Lương, từ trên thành nhìn xuống, uy thế ngút trời, khiến người ta nhìn mà choáng váng. Tuy nhiên, vài ngày sau đó, tình hình quân Tề vẫn không có động tĩnh gì, hoàn toàn rập khuôn theo chiến thuật cứu Triệu lần trước, đại quân ban ngày bao vây ngoài thành, hoặc luân phiên khiêu khích, hoặc thu cờ im trống, ban đêm số ít kỵ binh toả ra quấy nhiễu tứ bề.

Ngụy Huệ Vương đã rút ra kinh nghiệm từ trận chiến Hàm Đan, nên lần này hết sức bình tĩnh, không mảy may kinh hãi, cũng không đích thân lên thành khích lệ sĩ khí, mà ngày ngày ung dung ngồi trên đài câu trong hậu hoa viên, khép mắt câu cá. Khác với những lần buông câu bình thường trước đây, bất luận Huệ Vương câu được thứ gì, tỳ nhân lại lớn giọng ngâm nga cứ như là truyền chỉ, rồi lại được các cung nhân khác tiếp giọng tuyên lên, cứ thế cho tới tận tai từng tướng sĩ giữ thành. Chiêu khích lệ sĩ khí kiểu mới của Huệ Vương vô cùng hữu hiệu, thần dân khắp thành thấy đại vương điềm tĩnh tới vậy, cũng hết sức an tâm, ai lo việc nấy.

Vào lúc này, các ấp xung quanh sớm đã nhận được chỉ lệnh của Bàng Quyên, nhà nhà đóng cửa, ruộng vườn thu dọn sạch trơn, nếu có lương thực thừa, đều chôn kỹ dưới đất. Kỵ binh Tề quấy rối nhiều nơi, hầu như chẳng thu hoạch được gì. Lại thêm Tôn Tẫn nghiêm cấm nhũng nhiễu nhân dân, nên lương thảo cho sáu vạn quân Tề hoàn toàn do hậu cần cung cấp.

Hơn mười ngày liền, cuộc đại chiến bốn nước Tề, Ngụy, Sở, Hàn chìm trong trạng thái tĩnh lặng lạ thường. Quân Hàn co cụm trong thành ấp không ra, sáu vạn quân Sở nấp trong Khổ Huyện theo dõi từ xa. Tám vạn quân Ngụy lượn lờ ngoài thành Dương Địch và Trịnh Thành, chẳng khác gì mèo vờn chuột. Sáu vạn quân Tề trật tự bao vây Đại Lương. Trong thành Đại Lương, cuộc sống vẫn diễn ra bình thường, chỉ là cổng thành đóng chặt, trên tường thành chốc chốc lại vang lên tiếng ngâm nga Huệ Vương câu được mấy con cá, cá nặng mấy cân mấy lạng.

Tuy nhiên, phía sau tất cả sự tĩnh lặng này, một cánh quân Ngụy khoảng ba nghìn người, do tướng trấn giữ Tương Lăng Trịnh Khắc chỉ huy, dưới sự dẫn dắt của vài kẻ áo đen, ngày nghỉ đêm đi, bí mật vượt qua nước Tống, vòng qua phía đông đầm Đại Dã, chọc thẳng vào căn cứ lương thảo của quân Tề ở A Ấp, nhờ sự tiếp ứng của Hắc Điêu nước Tần do công tử Hoa thống lĩnh, bất ngờ đột kích trước lúc bình minh. Khi kho lương, rơm cỏ bốc cháy, lính gác quân Tề đa phần vẫn đang ngủ say sưa.

Cùng lúc đó, tất cả đều đúng như kế hoạch, ba cánh quân vận chuyển lương thảo của quân Tề đều bị quân Ngụy chia quân mai phục tấn công tại những chỗ khác nhau trên đường chuyển lương, vài trăm xe quân nhu gần như bị thiêu trụi cùng một lúc, khói bốc cuồn cuộn đến tận trời xanh, lửa cháy rừng rực suốt vài dặm vuông, cảnh tượng vô cùng kinh động.

Tô Tần sau khi đã xoay xở được một khoản tiền từ Lâm Truy, đang hoan hỷ trên đường trở về, từ xa nhìn thấy khói lửa ngút trời, kêu lên một tiếng “thôi rồi”, lập tức thúc ngựa lao đến. Khi tới nơi, chỉ còn một vạt hoang tàn, lương thảo đã bị thiêu rụi toàn bộ, lính Tề canh giữ hoặc chết hoặc bị thương, số sống sót đang hối hả dập lửa.

Tô Tần cuống cuồng cho gọi Mâu Tân, song hắn đã biến mất tự bao giờ.

Hay tin kho lương và lương thảo vận chuyển trên đường chỉ trong một đêm đã bị thiêu huỷ toàn bộ, Điền Kỵ, Điền Anh đều bàng hoàng kinh hãi, ngây ra như tượng. Tôn Tẫn hít sâu vào một hơi, nhắm mắt suy ngẫm.

Trong trướng trung quân, thời gian ngưng trệ.

Không biết đã trôi qua bao lâu, Điền Anh định thần lại đầu tiên, nhìn sang Tôn Tẫn: “Dám hỏi quân sư, trước mắt phải dụng binh thế nào?”

“Lui quân!” Tôn Tẫn bình thản đáp.

Điền Anh nhìn sang Điền Kỵ.

“Theo lời quân sư!” Điền Kỵ buông một câu, mắt ngấn lệ, ngửa cổ thở dài một tiếng, sắc mặt tràn đầy tuyệt vọng. “Trời không giúp ta, biết làm sao đây, biết làm sao đây?”

Điền Anh quay sang Tôn Tẫn: “Lui quân thế nào, lui về đâu, kính thỉnh quân sư nói rõ!”

“Bộ binh đi đầu, phu dịch quân nhu đi giữa, lính nỏ đi sau đoạn hậu, duy trì đội hình, ổn định lui về, đi đường gần nhất tới biên giới Tống. Mặt khác, cho kỵ binh quấy nhiễu tây nam, đột kích Hình Sơn, đánh được thì đánh, không đánh được thì lùi!”

“Mạt tướng tuân lệnh!”

“Còn nữa, chuyện lương thảo bị thiêu huỷ, cấm loan truyền trong tam quân!”

“Mạt tướng tuân lệnh!”

***

“Bà nó chứ!” Bàng Quyên hay tin kho lương của người Tề bị thiêu rụi, siết chặt nắm tay, đi quanh trướng trung quân vài vòng. “Họ Điền kia, và cả Tôn huynh nữa, lần này là do các người tự chuốc lấy, đừng trách Bàng Quyên ta vô tình!”

Sau một hồi hưng phấn, Bàng Quyên nhìn sắc trời, bình tĩnh trở lại, một mặt sai thám mã đi thông báo chư tướng tam quân tới trướng trung quân nghe lệnh, mặt khác ngồi đối diện sa bàn, suy tính lần nữa về kế sách bao vây tấn công mà mình đã hoạch định từ trước, chỉ lo vạn nhất có gì sơ suất.

Chập tối, chư tướng tam quân, bao gồm cả công tử Tự chỉ huy tả quân, đều tới đủ. Một sa bàn cỡ lớn được cố định bằng nhựa cây bày ở chính giữa đại trướng. Trên sa bàn, tất cả hình thế núi sông trong khoảng giao giới giữa Ngụy, Tống, Vệ, Hàn đều được tái hiện chi tiết, vừa nhìn đã thấy rành rành.

Nhận được tin vui kho lương người Tề bị thiêu rụi, chư tướng đều vô cùng phấn khích, đua nhau thỉnh chiến. Đang lúc ồn ào, thám mã bỗng vào cấp báo, nói rằng cả vạn quân Tề xuất hiện ở phía bắc Hình Sơn, nhân lúc đêm tối tấn công quân Ngụy, trong rừng chim bay tán loạn, cát bụi tung mù, dường như cũng có đại quân tập kết, trọng ải báo nguy.

Mọi người thảy đều rụng rời kinh hãi, đặc biệt là chủ tướng tả quân công tử Tự, đang định cấp tốc quay về, thì Bàng Quyên giữ lại. Bàng Quyên không hề lo lắng, ngược lại còn tỏ vẻ vui mừng, lệnh cho thám mã tiếp tục dò la, rồi quay sang thái tử Thân và chư tướng, nói: “Chư vị tướng quân, ta tuyệt đối không thể để đám kỵ binh kia làm lung lạc! Nếu không nằm ngoài suy đoán của bản tướng, lần này người Tề đã lui quân, ta nên dốc toàn lực truy kích!” Rồi quay sang thái tử Thân, vòng tay nói. “Dám hỏi điện hạ phán đoán thế nào?”

“Mọi việc trong quân, Thân nghe theo tướng quân!” Thái tử Thân đáp lễ nói.

“Thái tử có chỉ,” Bàng Quyên quay sang chư tướng, dõng dạc nói lớn, “xét thấy quân Tề cạn nguồn lương thực, toàn quân tan vỡ, ta lập tức nhổ trại, dốc toàn lực truy kích người Tề! Chư vị tướng quân nghe lệnh!”

“Mạt tướng nghe lệnh!” Chư tướng đồng thanh hô vang.

“Trở về bản doanh, đêm nay cho tướng sĩ ăn no ngủ say, chuẩn bị đủ lương khô ba ngày, sáng sớm mai nhổ trại, tiến quân về Đại Lương, truy kích bại binh Tề!”

“Mạt tướng tuân lệnh!” Chư tướng cùng hô lớn, tiếng như sấm rền.

***

Lính Tề vây khốn Đại Lương hơn nửa tháng trời, lương thảo mang theo đã gần cạn kiệt, đang đợi đoàn xe lương tới bổ sung, nào ngờ Mâu Tân cố tình dây dưa, đến khi tiền phương thôi thúc mới phát liền ba chuyến, giờ lại bị thiêu rụi hoàn toàn. Lương thảo chỉ đủ cho tam quân cầm cự ba ngày, mà trong ba ngày, tướng sĩ tam quân kiểu gì cũng không thể rút được về đến lãnh thổ của mình, bởi lẽ Tôn Tẫn, Điền Kỵ đều hiểu rõ, đại quân rút lui, quan trọng nhất là quy củ trật tự, nếu mất quy củ, sẽ thành tai hoạ. Nếu muốn đảm bảo quy củ, cần di chuyển chậm rãi, ổn định, đặc biệt là còn có một lượng lớn phu dịch phụ trách quân nhu không có sức chiến đấu rút lui cùng.

Từ lúc tam quân xuất chinh tới lúc đại quân rút lui, thái độ của Tôn Tẫn đều hết sức lạ lùng, nếu Điền Kỵ, Điền Anh không hỏi đến, thì gần như rất ít mở lời, hoàn toàn khác biệt với thái độ sôi nổi thoả chí khi mưu tính kế sách cứu Triệu trước đây. Điền Kỵ, Điền Anh rõ ràng đã nhận thấy điều này, đặc biệt là sau khi kho lương bị thiêu rụi, đại quân rút lui, hai người ngày càng lo lắng, thậm chí có lúc còn cho rằng sở dĩ Tôn Tẫn hoàn toàn khác trước, có lẽ là do viên thuốc chết mà sư phụ tặng cho đã phá huỷ trí tuệ của Tôn Tẫn mất rồi. Thế nhưng, Tôn Tẫn ngoài lặng lẽ ít nói, mọi việc khác vẫn rất bình thường, đặc biệt là khi ban bố quân lệnh, vẫn lời lẽ súc tích, rành rọt sắc sảo, không hề có chút hàm hồ, càng không rườm lời rối rắm, dù là mệnh lệnh lui quân, cũng rất hợp tình hợp lý, không một sơ hở. Vì thế, tuy hai người có hồ nghi, cũng chỉ là nghĩ thầm trong dạ mà thôi.

Nơi gần Đại Lương nhất là Ngoại Hoàng, ấp biên giới của Tống, từ Đại Lương tới Ngoại Hoàng là một con đường cái quan rộng hơn một trượng, đủ cho hai cỗ xe chiến đi song song, bên cạnh vẫn còn chỗ cho người đi bộ. Sáu vạn đại quân Tề, cộng thêm hơn vạn phu dịch quân nhu, phía trước là bộ binh, ở giữa là xe quân nhu, sau cùng là xe chiến, kỵ binh bảo vệ hai bên, nối đuôi nhau như một con rắn dài dằng dặc, trước sau đến hơn hai mươi dặm, trật tự mà chậm rãi tiến bước. Với lộ trình hơn một trăm năm mươi dặm, tam quân đi suốt hai ngày trời, mới tới được đất Tống.

Tại vùng giáp ranh Tống, Ngụy, hai nước đều bố trí cửa quan. Cửa quan nước Ngụy, lính canh sớm đã kinh hãi mà chuồn sạch, cửa quan mở toang. Điều bất ngờ là cửa quan bên nước Tống lại đóng kín, không thể đi qua.

Điền Kỵ hay tin, bàng hoàng kinh hãi, vội vã chạy lên xem, quả nhiên bên trong cửa quan, người Tống canh phòng nghiêm ngặt, nhìn từ xa lại, phải có đến vài nghìn quân, rõ ràng đã có chuẩn bị từ trước.

Điền Kỵ đánh xe tới trước cửa quan, vòng tay nói: “Tại hạ tướng Tề Điền Kỵ, xin mời tướng Tống trên cửa quan mau ra nói chuyện!”

Một lát sau, trên lầu cửa quan xuất hiện một người dáng chừng là tham tướng, vòng tay đáp lễ nói: “Mạt tướng Sái Bằng bái kiến Điền tướng quân!”

“Tam quân Đại Tề viễn chinh Đại Lương nước Ngụy, hôm nay khải hoàn, muốn mượn đường quý quốc trở về, kính xin hãy mở cửa quan!”

“Điền tướng quân hẳn đã có giấy thông quan?”

“Đại quân quá cảnh, lấy đâu ra giấy thông quan?”

“Đại vương nước tại hạ có chỉ, không có giấy thông quan, bất cứ ai cũng không được phép qua!” Sái Bằng từ chối thẳng thừng.

“Ngươi… dám cản đường mười vạn tướng sĩ quân ta?” Điền Kỵ nổi cơn thịnh nộ, rút kiếm, cố tình khuếch trương quân tình.

“Điền tướng quân bớt giận!” Sái Bằng tươi cười nói, lại vòng tay. “Mạt tướng sức mọn, đã không dám cản đường tướng quân, cũng không dám làm trái vương chỉ. Tướng quân xin chờ bên ngoài cửa quan chốc lát, mạt tướng sẽ lập tức tấu báo đại vương, chờ chỉ đại vương tới rồi, mạt tướng sẽ lập tức mở cửa quan!”

Điền Kỵ tức uất, vung kiếm định xông lên, thì Điền Anh đã thúc ngựa lao đến, hô lớn từ xa: “Tướng quân hãy khoan, quân sư có lệnh, không cần vào Tống, khởi quân tới Tế Dương!”

Điền Kỵ lửa giận ngút trời, giậm chân bình bịch, vung kiếm chỉ thẳng vào lầu cửa quan: “Các ngươi nghe cả đây! Chuyển lời tới Tống Yển, sự việc hôm nay, bản tướng khắc cốt ghi tâm, sẽ có một ngày, lại dẫn ba quân tướng sĩ tới gọi cửa quan!” Nói rồi, quay ngoắt xe lại, cùng đại quân cuốn bụi mà đi.

Nhìn thấy quân Tề xa dần, phía sau lầu cửa quan bước ra hai người, một là Trương Nghi, một là công tử Hoa.

“Công tử!” Trương Nghi nhìn cát bụi mịt mù, khẽ giọng căn dặn. “Tiếp theo đã đến lúc dùng người của công tử rồi!”

“Tướng quốc yên tâm!” Công tử Hoa mỉm cười. “Tại hạ sớm đã sắp xếp ổn thoả!”

“Sao không nhìn thấy Mâu Tân kia đâu?”

“Tại hạ cũng lấy làm lạ, đã nói là hẹn ở Định Đào, chờ hắn hai ngày liền, vẫn không thấy bóng dáng đâu. Hay là, để tại hạ phái người đi tìm hắn?”

“Không cần. Chỉ là loài cặn bã mà thôi.”

Giữa hai cửa quan là một ngã tư, hướng đông tây là từ Đại Lương tới Ngoại Hoàng, thông thẳng đến kinh đô Tuy Dương nước Tống; hướng nam bắc, kẹp giữa vùng tiếp giáp giữa hai nước, từ Tương Lăng thông thẳng tới Tế Dương.

Hai nước lấy con đường này làm ranh giới, song ở cả hai đầu đường đều là ấp của người Ngụy, trên thực tế, con đường này phần lớn là do người Ngụy sử dụng. Vì là đường cái vùng biên nên hơi chật hẹp, chỗ rộng cũng không quá tám thước, do hai bên cần chừa chỗ trống cho người đi bộ, nên chỉ có thể đủ cho một xe chiến đi mà thôi. Vì thế đội ngũ quân Tề lại càng kéo dài lê thê hơn nữa.

Đi chưa tới nửa ngày, lương khô ba quân tướng sĩ mang theo đã dùng hết, gạo cũng cạn kiệt. Do các tướng lĩnh hay tin kho lương bị thiêu rụi đều nghiêm ngặt giấu nhẹm tình hình, nên vào buổi trưa, quân sĩ vẫn như thường lệ, vừa ngồi bên đường nghỉ ngơi, vừa đợi cơm ăn. Tuy nhiên, đừng nói là cơm, đến khói bếp cũng không thấy đâu. Binh sĩ đang băn khoăn nghi hoặc, thì lại có lệnh hành quân, đành phải ôm bụng đói mà đi. Lại qua nửa ngày nữa, binh sĩ bắt đầu đói lả, mệt mỏi khó kham. Ngựa cũng không chịu đi, hễ nhìn thấy cỏ là dừng lại gặm lấy gặm để, có quất roi cũng vô ích.

Binh sĩ nhao nhao đòi tướng lĩnh cơm ăn. Tướng lĩnh cũng đều đã đói meo, người nào biết chuyện thì giả vờ như không biết, tìm mọi cách vỗ yên, người nào không biết chuyện thì kéo nhau lên hỏi cấp trên.

Gió đông nam thổi đến, lay động cành cây, từ cánh rừng nơi đầu gió, đột nhiên xuất hiện rất nhiều quả bóng hơi, bên trên buộc những mảnh lụa mỏng, màu sắc sặc sỡ, bay lượn đầy trời, nhìn rất bắt mắt. Thấy những quả bóng hơi bay qua trên đầu, rất nhiều binh sĩ giương cung bắn rụng, hoá ra đều là bong bóng lợn thổi phồng. Nhìn lại những vuông lụa, có người biết chữ lẩm nhẩm đọc, lập tức rụng rời kinh hãi, bởi lẽ đều viết về chuyện kho lương A Ấp và xe chở lương của Tề đã bị thiêu rụi hoàn toàn. Nhớ lại ba ngày trước, đột nhiên có lệnh rút quân, hôm nay lại mãi không có cơm ăn, lính Tề lập tức bừng tỉnh, lòng quân náo loạn, nỗi hoang mang lập tức lan truyền khắp ba quân, đội ngũ không còn tề chỉnh, có người nhân lúc rối loạn bỏ trốn, song đa số quân sĩ đã được huấn luyện kỹ càng, vẫn giữ được bình tĩnh. Người có kinh nghiệm tìm chỗ ngồi xuống, nhắm mắt dưỡng thần, cố gắng giữ sức.

Điền Anh cấp báo lên Điền Kỵ. Điền Kỵ không biết làm thế nào, kéo Điền Anh nhảy lên cỗ xe tứ mã kéo dài chế riêng cho Tôn Tẫn.

Từ lúc rút quân đến giờ, bất kể ngày đêm, Tôn Tẫn không lúc nào rời khỏi cỗ xe này, cũng không muốn gặp bất cứ ai, kể cả Điền Kỵ. Cùng ở trên xe với Tôn Tẫn có hai tham quân tả hữu, sự tình bên ngoài đều do hai tham quân này bẩm báo với Tôn Tẫn, chỉ lệnh của Tôn Tẫn cũng được hai người này truyền đạt ra ngoài.

Nhìn thấy hai vị tướng quân, tham quân tả hữu đều xuống xe, nhường lại chỗ ngồi.

Tôn Tẫn hai mắt khép hờ, dường như mọi chuyện bên ngoài không hề liên quan tới mình.

“Quân sư!” Điền Kỵ nhìn Tôn Tẫn một lát, thấy Tôn Tẫn vẫn không mở mắt, sốt ruột kêu lên. “Tam quân đã cạn lương một ngày rồi, tướng sĩ đã biết chuyện lương thảo bị thiêu rụi, lòng quân hoang mang, sự tình nguy cấp, giờ phải làm thế nào đây?”

“Người Ngụy ở đâu?” Tôn Tẫn không trả lời, mà lên tiếng hỏi một câu không ăn nhập vào đâu.

“Theo thám mã báo tin, quân chủ lực của Bàng Quyên rút về từ Trịnh Thành tối qua đã tới Đại Lương, cánh quân của công tử Tự rút về từ Dương Địch đoán chừng tối mai sẽ tới.”

“Tốt quá!” Tôn Tẫn thình lình bật ra một câu không đầu không cuối, rồi quay sang Điền Anh. “Hiện tại còn bao nhiêu ngựa?”

“Do chinh phạt quá gấp, điều động không kịp, chỉ có chưa đầy ba vạn cỗ.”

“Ngựa xấu bao nhiêu?”

“Chưa đến bảy nghìn, số còn lại đều là ngựa chiến. Hai vạn để cưỡi, ba nghìn để kéo xe, bảy nghìn để chở quân nhu!”

“Giết một nghìn ngựa xấu, dựng ngay tại chỗ bếp ăn cho sáu vạn quân theo lối hành quân!”

“Giết… giết ngựa?” Điền Kỵ hít vào một hơi khí lạnh.

Tôn Tẫn không trả lời.

“Giết ngựa rồi, xe quân nhu biết làm thế nào?” Điền Kỵ hỏi tiếp.

“Vứt bỏ!” Tôn Tẫn trả lời dứt khoát.

Người Tề đều yêu quý ngựa, ba quân tướng sĩ hay tin giết ngựa, đều đau đớn cõi lòng. Đặc biệt là những con ngựa xấu dùng để kéo xe quân nhu, đều là bảo bối của nhà nông, mà binh sĩ cũng đa phần xuất thân từ nhà nông. Người nuôi ngựa thì khóc, người ăn thịt ngựa thì đau lòng, quang cảnh nơi bếp ăn ảm đạm thê lương, chẳng khác gì đang cử hành tang lễ.

Điền Kỵ, Điền Anh ngồi đối diện nhau, im lặng không nói, vừa ăn thịt ngựa vừa suy nghĩ mải miết.

“Chủ tướng!” Điền Anh như nghĩ ra điều gì, một lát sau, bỏ miếng thịt ngựa xuống. “Hay là quân sư đói quá đâm hồ đồ mất rồi. Giết ngựa thì cứ giết, chất củi nướng thịt là xong, sao lại nhất quyết bắt chúng ta dựng bếp ăn như lệ thường, xẻ thịt nấu nướng, chẳng phải là… rước thêm việc vào thân ư?” Dừng lại một lát, đột nhiên bừng tỉnh. “Phải rồi, quân sư hẳn là lo cho tướng sĩ quá đói, nếu chỉ ăn thịt nướng, sẽ bị mắc nghẹn, tức bụng.”

“Thượng đại phu chỉ nghĩ được những chuyện vặt vãnh thế thôi ư?” Điền Kỵ cười nhăn nhó, chau tít đôi mày. “Chỗ khó lớn nhất của chúng ta không phải ở đây! Lui quân kiểu này, đúng là không sợ người Ngụy rải quân đánh tạt sườn, cũng không dễ tan rã, nhưng… cứ chậm chạp như sên bò thế này, mỗi ngày đi chưa nổi năm mươi dặm, Bàng Quyên có ngốc nghếch đến đâu cũng sẽ đuổi kịp. Nếu như Bàng Quyên chia quân hai lộ, một lộ truy đuổi theo sau, một lộ phi ngựa cấp tốc tới Tế Dương, chắn đầu quân ta, ta trước không có đường đi, sau không có đường rút, bên trái là người Ngụy, bên phải là người Tống, chẳng phải sẽ rơi vào tuyệt địa ư?”

“Phải rồi!” Điền Anh cũng bắt đầu căng thẳng. “Theo kế của tướng quân, nên ứng phó thế nào?”

“Cho một vạn kỵ binh ra roi phi nhanh tới Tế Dương trước, đảm bảo đường lui quân của ta được thông suốt!”

“Tướng quân suy nghĩ rất đúng. Quân sư gần đây lạ lùng quá. Tại hạ sẽ lập tức đi truyền lệnh!”

Điền Kỵ gật đầu: “Cứ làm theo lời thượng đại phu, mau đi truyền lệnh!”

Điền Anh đang định truyền lệnh, thì tham tướng của Tôn Tẫn bước lại, hạ giọng nói: “Quân sư căn dặn, qua ba khắc nữa, tam quân nhổ bếp lên đường, duy trì đội hình, không được khinh suất tiến quân, trật tự tiến về Tế Dương, hạ trại bên bờ Tế Thuỷ nghỉ qua đêm!”

Điền Anh nhìn sang Điền Kỵ.

“Nghe lệnh quân sư!” Điền Kỵ hít sâu vào một hơi, nghiến răng nói.

***

Vào đêm quân Tề bắt đầu giết ngựa chống đói, năm vạn quân chủ lực của Bàng Quyên từ Trịnh Thành rút về đã tới Đại Lương trước một bước, cắm trại cách ngoài thành vài dặm.

Ngụy Huệ Vương vẫn bình thản như không trong suốt thời gian người Tề vây thành, lúc này mở rộng cổng thành, tinh thần phấn chấn, dứt khoát không cho Bàng Quyên vào cung yết kiến, mà khăng khăng ra ngoài thành khao thưởng tam quân. Người Ngụy giết lợn mổ bò, đại trướng trung quân tưng bừng tiếng nhạc.

Ngụy Vương cầm tay Bàng Quyên, giọng đầy hoan hỷ: “Bàng Nhi, con đánh hay lắm, dương đông kích tây, thiêu rụi lương thảo của Tề, người Tề cuống cuồng rút chạy, quả nhân tận mắt nhìn thấy chúng tan tác không thành đội ngũ!”

“Là nhờ phụ vương điềm tĩnh ngồi câu, thần dân Đại Lương ý chí tựa thành đồng, cầm cự với người Tề hơn hai mươi ngày, Trương tướng quốc đích thân tới Tống, Trịnh tướng quân nghìn dặm tập kích bất ngờ, Bàng Nhi không dám nhận công!”

“Ha ha ha, có công, có công!” Huệ Vương khen liền mấy tiếng, chỉ về phía đông mà nói. “Quyên Nhi, Điền Nhân Tề chuyên gây hiềm khích với quả nhân, quả nhân nhẫn nhịn người này đã nhiều năm rồi, trận chiến Hoàng Trì tuy đã hả giận, song hắn lại sai Điền Kỵ, Tôn Tẫn hai lần bao vây Đại Lương ta, làm hỏng việc tốt của ta, thực là đáng hận. Không ngờ ông trời lại không giúp hắn, nay người Tề trong không lương thảo, ngoài không viện binh, chỉ có nước giơ đầu chịu báng. Quả nhân muốn nhắc nhở con một câu, nhất thiết không được sinh lòng từ bi đối với loài quỷ dữ tham lam ấy, hãy dẫn quân đánh thẳng tới, giúp quả nhân trút bỏ nỗi uất ức này!”

“Phụ vương yên tâm, nhi thần sẽ lập tức dẫn quân truy kích, đánh thẳng vào Lâm Truy, bắt sống cả nhà họ Điền, cho phụ vương tuỳ ý xử trí.”

Huệ Vương phấn khởi, khen không ngơi miệng, rồi theo Bàng Quyên đi thị sát một vòng quanh trướng trung quân, sau đó hưng phấn mãn nguyện hồi cung nghỉ ngơi.

Bàng Quyên trở về trướng trung quân, vừa mới ngồi xuống, đã thấy Trương Nghi từ Ngoại Hoàng đất Tống trở về, kể lại tường tận với hắn từ đầu đến cuối chuyện quân Tề tới Tống thế nào, bị người Tống từ chối không mở cửa quan ra sao, rồi chuyện hắn sai người chia đường đốt cháy lương thảo của người Tề, khiến quân Tề kinh hãi ra sao, binh sĩ trốn chạy thế nào, cuối cùng kết luận: “Quân Tề đã tan rã, Bàng huynh có thể mau chóng cho xe nhẹ quân nhanh chọc thẳng vào Tế Thuỷ, chặn đầu người Tề ở phía tây đầm Đại Dã, là đã có thể báo thù trận Quế Lăng.”

“Quân Tề cả thảy bao nhiêu binh mã?” Bàng Quyên hỏi.

“Chưa tính cụ thể, ước chừng sáu vạn.”

“Tôn Tẫn có ở trong quân?”

“Có một cỗ xe dài hơn hẳn, hẳn là chở Tôn huynh!”

Lời nói vừa dứt, lính thám mã đã về báo tin: “Quân Tề bắt đầu giết ngựa, để lại xương ngựa chất đống!”

“Giết ngựa lúc nào?” Bàng Quyên vội hỏi.

“Có lẽ là buổi trưa.”

“Là nướng thịt ngựa ư?”

“Nhìn vào dấu vết để lại, là dựng bếp nấu, trong chỗ canh thừa hắt bỏ dưới đất thấy có nhiều rau dại!”

“Đã đếm số bếp chưa?”

“Đã đếm sơ qua, không dưới hai vạn.”

“Hai vạn?” Bàng Quyên thoáng sửng sốt. “Người Tề bình thường năm người một bếp, hai vạn bếp, tương ứng với mười vạn quân mới phải!” Quay sang Trương Nghi. “Trương huynh, sao huynh nói chỉ có sáu vạn?”

“Tại hạ tận mắt nhìn thấy, hơn nữa, còn sai người nấp trong khu rừng phía xa đếm chừng số lượng, không thể sai lệch lớn đến thế được!”

“Tại hạ tin lời Trương huynh” Bàng Quyên ngẫm nghĩ một lát, gật đầu nói. “Hẳn là Tôn Tẫn cố tình dựng thêm bếp nấu để giở kế trá Ngụy!” Suy nghĩ một lúc, lại nói. “Trương huynh, người Tề đều yêu quý ngựa, hôm nay giết ngựa, cho thấy đã cạn sạch lương thảo, rất trùng hợp với dự đoán của ta trước đó. Một con ngựa bình thường, ít thì vài đĩnh vàng, nhiều thì vài chục đĩnh, ăn thịt ngựa sẽ tổn hại đến ngân khố quốc gia. Thêm nữa, thịt ngựa cũng không thể ăn thường xuyên, lại càng không thể ăn thay cơm, tin chắc người Tề sẽ không thể cầm cự được bao lâu nữa. Nếu không nằm ngoài dự đoán, người Tề hẳn là tiến thẳng tới Tế Dương, dọc theo Tế Thuỷ đi về phía đông, qua Hà Mật rồi tiến vào biên giới Tề. Dựa theo tốc độ hành quân hiện thời của người Tề, có lẽ tối mai sẽ tới Tế Dương, ngày kia tới Hà Mật, thêm một ngày nữa sẽ tới Chân Ấp ở biên giới nước Tề.”

“Bàng huynh phân tích rất đúng!” Trương Nghi khen ngợi.

“Trương huynh, việc quân quý ở thần tốc, chúng ta chia quân hai lộ, tại hạ và thái tử dẫn ba vạn xa kỵ truy kích trước, lập tức khởi hành, cố gắng cầm chân người Tề giữa Hà Mật và Chân Ấp. Còn Trương huynh dẫn bộ binh hợp với hữu quân của công tử Tự, tiếp ứng phía sau, hợp kích tiêu diệt Điền Kỵ ở biên giới Tề, thế nào?”

“Việc quân, xin nhất nhất nghe theo Bàng huynh!”

***

Hành quân đường trường suốt nhiều ngày liền, quân năm đô bình thường rèn luyện không đủ, lại thêm trước đó ăn toàn lương khô, bị bỏ đói một ngày, sau đó lại ăn quá nhiều thịt ngựa, nên bụng no tức, tốc độ hành quân chậm hẳn lại, dự kiến trước khi trời tối sẽ đến Tế Thuỷ, kết quả là qua canh một mới đến nơi, còn có rất nhiều người tụt lùi phía sau, vì phải dừng lại bên đường đi ngoài.

Điền Kỵ điểm lại binh mã, do có thịt ngựa chống đói nên binh sĩ bỏ trốn rất ít. Tôn Tẫn không nói gì thêm, Điền Kỵ hạ lệnh nghỉ ngơi tại chỗ, trước khi trời sáng vượt sông tiến về phía đông, men theo con đường cái quan ở bờ bắc Tế Thuỷ, đến trưa sẽ tới vùng ngoại ô Hà Mật của Ngụy.

Quân trấn thủ Hà Mật như gặp cường địch, đóng chặt cổng thành không ra.

Thịt ngựa tuy chống đói được lâu, song một ngày trời không ăn gì, quân Tề đều đã đói meo.

Tôn Tẫn lại hỏi về tình hình quân Ngụy, truyền lệnh hạ trại bên một đầm nước ngoài thành Hà Mật, vẫn giết nghìn ngựa, song chỉ cho dựng sáu nghìn bếp, vứt lại năm trăm bộ xương ngựa, năm trăm bộ xương còn lại chở theo xe, đồng thời sai kỵ binh bố trí nghi binh dọc theo các tuyến đường lân cận.

Những chuyện khác còn được, song chuyện chở theo năm trăm bộ xương ngựa quả là một mệnh lệnh hết sức kỳ khôi, Điền Kỵ và Điền Anh đều không thể hiểu nổi.

Điền Kỵ càng nghĩ càng băn khoăn, mặt mày rầu rĩ nói: “Quân sư, xe chở quân nhu đã vứt bỏ lại rồi, số còn lại dùng để vận chuyển binh khí, lều bạt, huống hồ binh sĩ đều mỏi mệt, sức ngựa phần nhiều cũng đã rã rời, liệu… liệu có thể đừng lôi theo mớ xương ngựa hay không!”

Tôn Tẫn từ từ khép mắt.

Điền Kỵ đợi thêm một hồi, Tôn Tẫn vẫn chẳng nói chẳng rằng, lại đưa tay kéo rèm xe xuống.

Hai người bước sang bên cạnh. Điền Anh liếc nhìn Điền Kỵ, khẽ nói: “Tướng quân, quân sư cứ khăng khăng ý mình, làm thế nào đây?”

“Cứ làm theo lệnh quân sư!” Điền Kỵ cười méo mó. “Tại hạ cũng muốn xem thử, quân sư muốn dùng đám xương ngựa kia vào việc gì?”

***

Đại Lương cách Tế Dương khoảng hai trăm dặm, Tế Dương cách Đào Ấp khoảng trăm dặm. Bàng Quyên bỏ lại bộ binh, cùng thái tử Thân dẫn ba vạn xa kỵ tiến thẳng tới Tế Dương. Ngựa nhanh xe chậm, song lần bị phục kích ở Quế Lăng vẫn gây ám ảnh sâu sắc trong tâm trí Bàng Quyên, do vậy, Bàng Quyên căn dặn xe chiến và kỵ mã không được tách rời nhau, tăng thêm ít xe quân nhu, lại vượt qua gần mười con sông, ba vạn đại quân tới gần trưa hôm sau thì đuổi tới nơi quân Tề đã hạ trại bên bờ Tế Thuỷ.

Người ngựa đều đã mệt mỏi, Bàng Quyên hạ lệnh nghỉ ngơi một lát, đích thân tới chỗ quân Tề hạ trại thám thính. Nhìn từ xa, lại không thấy có dấu hiệu cắm trại, chỉ thấy trên đất dọc ngang dấu vết binh lính nằm ngủ và một số vật dụng sinh hoạt không mấy quan trọng không ảnh hưởng tới hành quân. Hỏi dân địa phương, quả nhiên được biết đêm hôm kia có đại quân nghỉ chân ở đây, tính toán lộ trình, thấy mình chỉ tới sau người Tề có một ngày rưỡi. Dựa theo tốc độ hành quân năm mươi dặm một ngày của người Tề, thì hai quân chỉ còn cách nhau chưa đầy tám mươi dặm. Tám mươi dặm, đối với xa kỵ thì chưa mất đến nửa ngày.

Bàng Quyên thở phào một tiếng, truyền lệnh khởi hành, tam quân thẳng tiến về Hà Mật trước khi trời sáng, tính toán lộ trình, thấy chỉ còn cách người Tề hơn nửa ngày đường.

Thám mã về báo, các nẻo đường quanh đó đều thấy có kỵ binh Tề thoắt ẩn thoắt hiện, dường như nghi binh, phía trước không xa, có bếp nấu của quân Tề. Bàng Quyên vội tới nơi xem xét, quan sát từ xa, thấy tan hoang một vùng, khắp nơi vung vãi xương ngựa và các loại quân nhu, thậm chí còn thấy cả trong rừng cây và bụi cỏ cách đó rất xa. Xương ống đều bị đập vỡ để hút lấy tuỷ.

Bàng Quyên sai người đếm số bếp, thấy chưa đầy sáu nghìn, sai đếm xương ngựa, không quá năm trăm cỗ, lại đích thân kiểm tra phân ngựa và phân của lính Tề, thấy phần nhiều đen kịt, hỏi thầy lang, được biết người Tề do chỉ ăn thịt mà không có hạt ngũ cốc nào nên mới như vậy.

Không cần hỏi dân địa phương, chỉ nhìn vào phân là đã biết, người Tề mới rời khỏi đây chưa tới nửa ngày, nhiều lắm cũng chỉ đi được ba mươi dặm, nếu phi ngựa đuổi theo, hai canh giờ là kịp.

“Nhìn vào tình hình hiện tại,” Bàng Quyên bẩm báo với thái tử Thân, “Tề đã hoàn toàn cạn kiệt lương thảo, mỗi ngày chỉ nấu một bữa. Quân Tề nấu ăn, thường là năm người một bếp, hôm kia đếm thấy hơn hai vạn bếp, tương đương với mười vạn người ăn, hẳn là Tôn Tẫn hư trương thanh thế, kỳ thực số lượng ước chừng sáu vạn, đúng như Trương huynh quan sát. Hôm nay không tới sáu nghìn, nhìn vào thực tế, cho thấy quân Tề không tới ba vạn. Chỉ trong một ngày, quân Tề từ sáu vạn chỉ còn ba vạn, cho thấy đã trốn chạy quá nửa, chẳng mấy mà tan rã. Người Tề giết năm trăm ngựa, cũng là ứng với ba vạn quân, phù hợp với số lượng bếp. Đoán rằng binh sĩ đã đói khát rã rời, chẳng còn hơi đâu mà dựng bếp giả nữa. Rõ ràng, Tôn Tẫn đã biết nguy, nên cố tình bày kế nghi binh ở các nẻo đường để lung lạc quân ta, cố tìm cách kéo dài thời gian.”

“Người Tề đã tan rã, ta đuổi theo có ích gì?” Thái tử Thân chau mày hỏi.

“Đánh tới Lâm Truy, bắt sống Điền Kỵ!” Bàng Quyên gằn mạnh từng tiếng.

“Cổ nhân nói, quân tan rã chớ đuổi, kẻ tàn tật chớ đánh. Người Tề tự động rút quân, giờ lại đã tan rã, theo ý Thân, ta nên dừng lại thì hơn, thấy đủ là dừng!”

“Thần không cho là vậy!” Bàng Quyên hậm hực nói. “Quân Tề tuy tan rã, song chủ lực vẫn còn. Hai con hổ Điền Kỵ, Tôn Tẫn kia đã hai lần làm hỏng đại sự của ta, nay đã nằm trong tay ta, nhất thiết không thể thả chúng về rừng! Hơn nữa, quân Tề hai lần bao vây Đại Lương ta, gây kinh động đến phụ vương, cớ sao ta lại không thừa thắng mà truy đuổi đến Lâm Truy, cũng để cho Tề Vương nếm mùi bị vây khốn?”

“Tướng quân quyết ý như vậy, Thân cũng không nói gì thêm. Phải truy kích ngay trong đêm ư?”

“Người Tề tuy rơi vào thế bất lợi, song Tôn Tẫn dụng binh quỷ quyệt, chúng ta cũng nên đề phòng hắn. Giờ đã khuya rồi, cứ để tướng sĩ ngủ ngon một đêm, đợi tới sáng mai, dốc sức truy kích, xa kỵ đuổi theo bộ binh, tin rằng tối mai hai quân sẽ chạm trán. Chưa biết chừng tối mai, người Tề đã tan rã ngay trên đường rồi, chúng ta có thể thuận lợi thẳng tới Lâm Truy!”

***

Tam quân nước Tề lại một lần nữa ăn no thịt ngựa, sức khoẻ hồi phục, theo lời Tôn Tẫn, gia tăng tốc độ, chưa đầy ba canh giờ đã hành quân được sáu mươi dặm, vào giờ Nhân định thì tới Chân Ấp.

Chân Ấp là ấp ở biên giới nước Tề, cũng là nơi Tôn Tẫn từng cư ngụ.

Cuối cùng đã về đến nước mình, Điền Kỵ thở phào một tiếng, truyền lệnh hạ trại. Tô Tần sớm đã hay tin, dẫn theo dân chúng và lính hậu cần cầm đuốc xách đèn, đợi sẵn ở bên đường khích lệ lòng quân.

Dù phía Tô Tần đã chuẩn bị đầy đủ lương thảo, nấu nướng sẵn sàng, hơn nữa bữa trưa vừa mới ăn thịt ngựa, song Tôn Tẫn vẫn truyền lệnh, dựng ngay ba nghìn bếp, giết một trăm ngựa, róc thịt nấu ăn, vứt xương xuống đất. Lúc này lương thực đã đầy đủ, hoàn toàn không cần thiết phải giết ngựa, thế mà vẫn cứ giết, Điền Kỵ thực không tài nào hiểu nổi, bèn hỏi Tôn Tẫn, nhưng Tôn Tẫn vẫn ngồi im lìm trong xe, hai mắt khép hờ, cứ như nửa tỉnh nửa mơ, chẳng buồn để ý đến câu hỏi của Điền Kỵ.

Điền Kỵ bực bội trở về đại trướng, càng nghĩ càng hoang mang. Tuy nhiên, lệnh của quân sư, không thể không nghe. Ngộ nhỡ quân sư có kỳ mưu nào thì sao? Điền Kỵ suy nghĩ nát óc mà vẫn không thể lý giải. Vừa hay Tô Tần, Điền Anh đều tới trướng, Điền Kỵ bèn giãi bày mọi thắc mắc trong lòng, rồi nói: “Không giấu Tô huynh, lần này cứu Hàn, thái độ của Tôn huynh hoàn toàn khác với lần cứu Triệu trước đây, về chuyện này, không ai có thể hiểu rõ hơn tại hạ. Tại hạ cứ lo lắng, hay là cái này của quân sư…” chỉ vào đầu mình, “do uống phải viên thuốc chết kia mà hỏng mất rồi?”

Tô Tần nhìn sang Điền Anh.

“Chủ tướng nói đúng đấy!” Điền Anh hùa theo. “Quân sư quả thực rất lạ lùng, ngay cả khi biết tin lương thảo bị thiêu trụi, vẫn không hề hoảng loạn. Còn nữa, quân sư từ sáng tới tối chỉ ngồi lì trong xe mà không chịu ở trong trướng, cũng hiếm khi nói năng với đám tại hạ, lúc nào cũng nhắm mắt dưỡng thần, nửa như suy nghĩ, lại nửa như đang ngủ. Rất hiếm khi hạ lệnh, dù hạ lệnh, cũng thường rất kỳ quặc. Lần trước bao vây Đại Lương, quân sư giải thích rất tường tận, lần này lại bao vây Đại Lương, quân sư một câu cũng không nói. Còn nữa, lần trước bao vây Đại Lương là giả, lần này lại là thật, bảo phải dốc hết sức lực, kết quả là lương thảo bị thiêu rụi. Quân sư hạ lệnh rút lui qua Tống, song người Tống không chịu mở cửa, Điền tướng quân muốn đánh Tống, quân sư lại không cho. Kết quả phải đi đường vòng, buộc phải giết ngựa cứu đói. Quân sĩ đói lả, hành quân lại gấp rút, tốt nhất là nên nướng thịt cho nhanh gọn, vậy mà quân sư lại bắt dựng bếp nấu ăn, còn bắt dựng thêm gấp đôi số bếp, khiến quân sĩ oán thán. Lần thứ hai giết ngựa, quân sư lại bắt chở theo năm trăm bộ xương ngựa, nhìn xem, toàn bộ đều ở đây cả. Hôm nay lại càng kỳ quặc hơn nữa, Tô huynh hẳn đã thấy cả rồi đấy, không cần thiết phải giết ngựa, mà vẫn cứ đòi giết trăm con, còn bắt dựng bếp…”

“Việc quân, tại hạ không tiện hỏi nhiều,” Tô Tần trầm ngâm một lát, rồi chậm rãi nói. “Những gì hai vị tướng quân đây nhìn thấy và đang lo lắng, đều rất hữu lý, nhưng dù là vậy, tại hạ cũng xin hai vị hãy tin tưởng Tôn huynh. Tôn huynh hoàn toàn vẫn giống như trước khi uống thuốc. Nghe hai vị nói, theo tại hạ thấy, mệnh lệnh quân sư đưa ra trước đây, không có gì quá đáng. Lương thảo đã bị thiêu rụi, hoang mang cũng vô ích, quân sư lui quân là rất đúng. Rút lui tới Tống, cũng là hợp lý. Người Tống không cho qua, hẳn là nằm ngoài dự liệu của quân sư. Còn như quân sư không nói, cũng không chịu giải thích với hai vị, hẳn là có nỗi khổ riêng, không tiện nói ra. Cho tới nay, hai vị tuy hồ nghi, song vẫn làm theo lệnh, cho thấy hai vị vẫn rất tin tưởng quân sư. Niềm tin này không hề dao động. Đối phó với Bàng Quyên, ngoài Tôn huynh, thiên hạ không có người thứ hai. Phải rồi, tại hạ còn cần bẩm báo hai vị chuyện lương thảo bị hoả thiêu. Tại hạ đã điều tra rõ, là có Mâu Tân làm nội ứng. Mâu Tân quá ư so đo được mất, đã trúng kế của kẻ địch, lần trước hãm hại Điền tướng quân phải chạy tới Sở, lần này lại làm nội ứng cho người Ngụy, thiêu trụi lương thảo các nơi của ta, khiến đại quân ta phải rút về. Mâu Tân là do Trâu tướng quốc tiến cử, tại hạ đã hấp tấp dùng ngay, mà chưa điều tra cho kỹ…”

Lời còn chưa dứt, Điền Kỵ đã siết chặt nắm đấm, giáng thẳng xuống mặt bàn: “Ác tặc ở đâu?”

“Sau khi chỉ điểm cho người Ngụy hoả thiêu lương thảo của ta, định trốn sang nước Tống, đã bị tiền bối Mặc gia Khuất Tương Tử sai người bắt sống ở bên ngoài thành Đào Ấp. Tại hạ đã thẩm vấn kỹ lưỡng, tấu báo lên đại vương, áp giải tới Lâm Truy rồi!”

“Đợi tại hạ trở về Lâm Truy, sẽ đích thân róc xương lóc thịt hắn!”

“Hai vị tướng quân!” Tô Tần khẽ vòng tay, đứng dậy cáo từ. “Hai vị cứ ở đây bàn bạc việc quân, tại hạ tới chỗ Tôn huynh xem thế nào.”

Vừa tiễn Tô Tần ra khỏi trướng, đã có thám mã về báo, nói là đại quân Bàng Quyên đã đuổi tới Hà Mật, chỉ còn cách đây không tới sáu mươi dặm, xe ngựa hai canh giờ nữa sẽ tới. Hai người nghe mà dựng tóc gáy. May mà buổi chiều hành quân cấp tốc, nếu không, đã bị người Ngụy đuổi kịp mất rồi.

“Sự việc nguy cấp,” Điền Anh quay sang Điền Kỵ, “đại quân nên ứng phó thế nào, chúng ta nên nghe theo quân sư, hay là…”

“Ý Điền huynh thế nào?”

“Xin nghe theo chủ tướng!”

“Bất luận Tô Tần nói thế nào,” Điền Kỵ dứt khoát, “theo trực giác của tại hạ, không thể nghe theo lệnh quân sư được nữa, tại hạ thấy đó là kế sách sai lầm nhất. Hiện tại quân nhu của ta đa phần đã vứt bỏ, lương thảo không còn, sĩ khí rệu rã, không nên giao chiến. Ngược lại nhìn quân Ngụy, nắm chắc phần thắng trong tay, sĩ khí hừng hực, nóng lòng tìm ta quyết chiến. Quân Ngụy chia quân ba lộ, Bàng Quyên dẫn quân chủ lực, đa phần là võ binh, sức mạnh lớn nhất, mục đích là cầm chân quân ta. Tiếp đến là bộ binh, cuối cùng chắc là quân bao vây Dương Địch. Nhìn vào đó, ta nên tránh địch, không nên giao chiến, dụ địch vào sâu trong vùng đất hoang vu. Theo ý tại hạ, sáng sớm ngày mai, tam quân canh năm khởi hành, rút về phía đông nam tới Lẫm Khâu, vòng qua đầm Đại Dã xuống phía nam, vừa ngăn cản quân Ngụy, vừa rút về Bình Lục. Bình Lục là Tây Đô của ta, tường cao hào sâu, xung quanh đầm Đại Dã lại có rừng rậm um tùm, đầm hồ ngang dọc. Ta bỏ hết quân nhu, di chuyển dễ dàng, ngược lại quân Ngụy giáp trụ nặng nề, đường sá không thông thuộc, đầm nước bùn lầy, xe chiến khó lòng thi triển, xem thử Bàng Quyên làm gì nổi ta?”

“Kế này rất hay, tại hạ chỉ có một băn khoăn, ngộ nhỡ Bàng Quyên không thèm để ý tới ta, cứ tiến thẳng tới Lâm Truy thì sao?”

“Hắn hẳn không dám!” Điền Kỵ tràn đầy tự tin nói. “Chỉ cần tại hạ và Tôn huynh còn quanh quẩn bên đầm Đại Dã, Bàng Quyên có nghìn lá gan cũng không dám bỏ qua mối uy hiếp sau lưng mà xông thẳng tới Lâm Truy!”

“Được, tại hạ sẽ lập tức truyền lệnh tam quân!”

Vào lúc gà gáy ngày hôm sau, tam quân chuẩn bị sẵn sàng, chờ lệnh xuất phát, theo lệnh của Điền Kỵ, sẽ tuần tự tiến về Lẫm Khâu. Sắp tới giờ khởi hành, tham quân của Tôn Tẫn bất ngờ truyền lệnh quân sư, phải hành quân lên phía bắc, trước khi trời tối, rút vào Tân Ấp, hơn nữa vẫn phải chở theo năm trăm bộ xương ngựa.

Điền Kỵ phát hoảng, đang định lờ đi quân lệnh của Tôn Tẫn, thì thấy Tô Tần hối hả bước tới, ghé sát tai thì thầm một hồi, Điền Kỵ thoạt tiên kinh ngạc sững sờ, tiếp đến vui mừng khôn xiết, quay sang Điền Anh nói: “Y lệnh quân sư, tiến quân về bắc tới Tân Ấp!”

***

Gần trưa ngày hôm sau, đại quân Bàng Quyên đã tới biên giới Tề. Chỉ thấy nơi đây tan hoang bát nháo, lính gác cửa ải đã bỏ chạy từ lâu. Tới buổi chiều, đại quân đã tới Chân Ấp, song chỉ thấy cổng thành khép hờ, không có lấy một bóng lính canh, dân chúng trong thành đa phần đã bỏ chạy hết, chỉ còn lại một số ít gia đinh trông nhà của các hộ giàu có và người già cả không nỡ bỏ nhà cửa vườn tược mà đi.

Bàng Quyên tìm thấy vài người, dò hỏi biết được về “thảm trạng” của quân Tề, hơn nữa còn được biết dân chúng sợ bị đánh, nên chút lương thực còn sót lại cũng đã bị đám lính Tề tan rã kia “vét sạch”. Sai người đi kiểm tra số lượng bếp ăn, báo rằng không đến ba nghìn, xương ngựa không quá trăm bộ. Bàng Quyên phân tích, ba nghìn bếp, giảm một nửa so với ngày hôm qua, cho thấy quân Tề đã tan rã rất nhiều, tàn binh sót lại không tới hai vạn, giết ngựa lại chỉ trăm con, hẳn là vì đã “cướp bóc” được lương thực. Sai người đi kiểm tra chỗ quân Tề hạ trại, quả nhiên thấy có ngũ cốc vương vãi dưới đất.

Bàng Quyên không còn nghi ngờ nữa, lúc này việc cần làm là phán đoán chính xác tàn quân chủ lực của Tề hiện rút về đâu. Bởi lẽ Chân Ấp là biên giới của Tề, cũng là đầu mối giao thông quan trọng, có rất nhiều tuyến đường, hai con đường cái quan giao nhau ở đây, hướng đông tây là đường cái quan nối liền hai nước, đủ rộng cho ba xe lớn đi song song; hướng nam bắc là đường cái quan nối liền hai thành, đủ rộng cho hai xe lớn đi song song. Quân Ngụy từ phía tây đuổi tới, hiện đang đứng trước ba ngả đường. Ngả đường thứ nhất tiếp tục đi về hướng đông, qua Lẫm Khâu phía bắc đầm Đại Dã tiến thẳng tới A Ấp, rồi tới Lâm Truy. Ngả đường thứ hai là hướng tây nam, tiến thẳng tới Thuỳ Đô và Thừa Khâu nước Ngụy. Ngả đường thứ ba là hướng bắc, tiến tới Tân Ấp và Cao Đường. Người Tề sẽ không quay về Ngụy nữa, nên ngả đường thứ hai không cần tính tới, trước mặt người Tề chỉ có hai con đường có thể đi, thứ nhất là tiếp tục tiến sang phía đông, rút về Lâm Truy; thứ hai là tiến lên phía bắc, rút tới Cao Đường.

Thám mã hồi báo, hướng đông và bắc đều có dấu xe và đồ vật vứt bỏ lại. Dấu xe ở hướng đông rõ rệt hơn, đồ vật bỏ lại đều là đồ dùng của người dân. Hướng bắc có ít dấu xe hơn, song đồ vật vứt lại đa phần là vật dụng của tam quân như cờ, mâu, kích.

Bàng Quyên cười nhạt một tiếng, nói: “Tôn huynh đúng là mưu cùng rồi, giờ là lúc nào mà còn lôi trò trẻ con này ra lừa ta! Truyền lệnh, dốc toàn lực truy kích về hướng đông, xem Điền Kỵ chạy đâu cho thoát?”

Gần ba vạn xa kỵ của Đại Ngụy tiến như vũ bão về phía Lẫm Khâu, đi khoảng hơn ba mươi dặm, cuối cùng cũng đuổi kịp người Tề, song lại chỉ là đám dân thường đi theo phía sau, có gia đinh, người già và trẻ nhỏ. Nhìn từ phía xa, dân chúng rất đông, chật kín cả đường sá. Thấy quân Ngụy sát khí đằng đằng, dân chúng không ai không kinh hoàng mất vía. Mấy người còn động đậy nổi đầu lưỡi bị đẩy tới trước mặt Bàng Quyên. Bàng Quyên dò hỏi, bách tính đều không nói lời nào, thần sắc hoảng loạn, nhớn nhác nhìn ngang ngó dọc. Bàng Quyên đoán ra nguyên nhân, rút kiếm bức bách, doạ dẫm nếu không nói sẽ chém ngay. Dân chúng hoảng vía, mới chịu nói ra “sự thực”: đi về phía đông toàn là dân thường, Tô đại nhân bảo họ đi về phía đông, lại cho họ mượn xe chiến chở đồ, căn dặn họ không được nói cho người Ngụy biết.

“Tô đại nhân đâu?” Bàng Quyên sầm mặt hỏi.

Đám người chỉ biết lắc đầu.

Hiển nhiên, Tôn Tẫn đã giăng sẵn cạm bẫy, khiến Bàng Quyên phải chui đầu vào rọ. Bàng Quyên giận đến sôi máu, lại không thể phát tiết ra, còn không kịp cả bày sa bàn, cứ thế trải bản đồ, đưa mắt lướt theo con đường phía bắc, dừng lại ở Tân Ấp, đột nhiên bừng tỉnh, nghiến răng trèo trẹo mà nói: “Truyền lệnh, hậu quân đổi thành tiền quân, quay về Chân Ấp.”

Hậu quân do thái tử Thân chỉ huy, nghe thấy lệnh của Bàng Quyên, cho rằng Bàng Quyên không truy kích nữa mà muốn rút lui, lấy làm phấn khởi, truyền lệnh quay đầu.

Lặn lội hơn một canh giờ, đại quân vừa mới về tới Chân Ấp, thái tử Thân đang định đánh xe thẳng tiến về đất Ngụy thì bị Bàng Quyên cấp tốc gọi lại. Một lát sau, Bàng Quyên đã tới trước xe thái tử Thân.

“Có chuyện gì vậy?” Thái tử Thân ngỡ ngàng hỏi thẳng.

“Hồi bẩm điện hạ,” Bàng Quyên vòng tay nói thực, “Quyên đã trúng kế Tôn Tẫn. Chủ lực quân Tề không phải rút lui về phía đông, mà đã rút lui lên phía bắc rồi.”

“Quân Tề cớ sao lại rút lui lên phía bắc?”

“Có hai ý đồ. Thứ nhất là không muốn chiến hoả lan tới Lâm Truy, thứ hai là áp sát vùng biên giới Triệu, Tề, mượn sức người Triệu đối kháng với ta. Người Triệu nợ ân tình của người Tề, lại có Tô Tần khéo ăn khéo nói, hẳn sẽ xuất quân chi viện!”

“Nếu chủ lực của quân Tề rút lên phía bắc, tướng quân đáng lẽ phải nhân cơ hội này đánh vào Lâm Truy mới đúng!” Thái tử Thân băn khoăn hỏi.

“Điện hạ nói chí phải!” Bàng Quyên đáp lời, rồi hậm hực nói. “Có điều, bắt sống Điền Kỵ và Tôn Tẫn, Quyên vẫn thấy hứng thú hơn là tấn công Lâm Truy. Chỉ cần bắt sống được hai người này, đánh tan tành chủ lực quân Tề, chiếm Lâm Truy sẽ dễ như trở bàn tay, muốn lấy sớm hay lấy muộn, chỉ chờ lệnh của điện hạ!”

“Tướng quân đã quyết, Thân chỉ biết nghe theo! Chỉ có điều, truy kích thế nào, còn đợi tướng quân chỉ giáo!”

Bàng Quyên lôi tấm bản đồ da dê ra, vừa chỉ vừa nói: “Chính là con đường này, tiến lên phía bắc thẳng tới Tân Ấp, đi qua Tân Ấp, là tới Cao Đường. Tân Ấp không đáng lo, song Cao Đường lại là Bắc Đô của nước Tề, thành cao hào sâu, dân cư đông đúc, lương thảo sung túc. Người Tề chỉ cần cố thủ mười ngày, viện quân nước Triệu sẽ tới. Nếu Tô Tần lại thuyết phục người Sở, từ phía nam tập kích ta, ta tất rơi vào thế bất lợi!”

“Tướng quân định dùng kế sách nào, xin hãy nói rõ!”

“Tạ ơn điện hạ tin tưởng!” Bàng Quyên vòng tay. “Trời không phụ ta, nay ban cho cơ hội tốt, có thể trút bỏ uất ức tích tụ bấy nay, không thể không theo ý trời. Tính theo tốc độ hành quân của người Tề, một canh giờ chỉ đi được mười lăm dặm, nay lại ôm bụng đói hành quân liên tục nhiều ngày, sức lực đã kiệt quệ, hiện không thể đi quá mười hai dặm. Người Tề xuất phát lúc sáng sớm, lúc này đã đi được bốn canh giờ, hẳn cũng chưa nổi năm mươi dặm. Nơi này cách Tân Ấp khoảng một trăm hai mươi dặm, nếu ta dùng xe chiến đuổi theo, ra roi thúc ngựa, chạy năm mươi dặm một canh giờ, thì chỉ trong vòng hai canh giờ, có thể đuổi kịp Điền Kỵ.”

“Ồ…” Thái tử Thân nhìn sắc trời, chau mày nói. “Giờ đã là nửa chiều, có vội cũng chẳng vội một lúc này, chi bằng tướng quân hãy nghỉ lại đây một ngày, rồi thong thả truy sát cũng chưa muộn!”

“Việc quân quý ở thần tốc, sự việc không thể chậm trễ!” Bàng Quyên rõ ràng đã nắm chắc phần thắng, dõng dạc nói. “Người Tề đã không còn tâm trí giao chiến, ta nên đuổi kịp người Tề nhân lúc chúng chưa kịp tới Tân Ấp! Điện hạ, để đảm bảo chắc chắn, Quyên sẽ dẫn quân hổ bôn truy kích trước, cầm chân quân Tề, điện hạ hãy dẫn quân theo sau. Nhìn vào tình hình trước mắt, chưa cần tới sự trợ giúp của Trương tướng quốc và công tử Tự, chúng ta vẫn có thể đánh cho quân Tề tan tác, bắt sống Điền, Tôn, rửa hận cho phụ vương!”

“Được, Thân nghe theo tướng quân.”

Thanh Ngưu một xe tiên phong đi đầu, Bàng Quyên đích thân dẫn theo hai trăm cỗ xe chiến, năm nghìn lính hổ bôn, gấp rút ruổi lên phía bắc tiến tới Tân Ấp. Thái tử Thân dẫn hai vạn quân, bám theo phía sau.

Thanh Ngưu đuổi miết không nghỉ, cứ thế chạy liên tục hơn một canh giờ, đến sẩm tối thì tiến vào đường Mã Lăng. Phóng mắt nhìn đi, phía trước dốc núi trập trùng cao chừng vài trượng, nhấp nhô như sóng, một con đường quanh co khúc khuỷu chạy ngoằn ngoèo giữa núi cao vực sâu, hai bên rừng rú rậm rạp, cây cao chọc trời, gai góc ken dày, địa thế khá là hiểm trở. Thanh Ngưu từng nếm mùi thất bại trong trận Quế Lăng, theo trực giác vội hô dừng xe ngựa, một mặt sai người lên trước dò đường, một mặt cấp báo Bàng Quyên.

Bàng Quyên đánh xe tới trước khe núi, rồi nhảy xuống khỏi xe. Nào ngờ do trời đã nhá nhem, Bàng Quyên lại quá nôn nóng, vừa nhảy xuống, đã giẫm ngay phải một bãi phân ngựa, trượt một cái, cả người loạng choạng chực ngã, may mà có Thanh Ngưu đỡ kịp. Bàng Quyên đứng vững trở lại, bực bội giơ chân đá bay bãi phân ngựa đi, bước vào trong khe núi, quan sát một lượt, lại leo lên đỉnh núi, phóng mắt nhìn ra xa, thấy con đường trước mặt quanh co ngoắt ngoéo, cây cối đen đặc, ngoài mấy chục bước, chẳng nhìn thấy gì. Lại quan sát những đồ vật bị bỏ lại trong cỏ rậm ven đường, thấy toàn là giáp trụ, đao thương chế tác tinh xảo. Chúng bị bỏ lại, chỉ là vì quá nặng, rõ ràng lính Tề đã không còn sức để mang vác nữa, nên mới lén lút vứt bỏ.

Đang quan sát, thì thám mã áp giải hai lính Tề quay về, báo rằng con đường phía trước càng đi càng hẹp, một số đoạn đường chỉ vừa cho một cỗ xe đi qua, nơi đường hẹp đều có cây cối chắn ngang, còn có vài xe chiến bị tháo bánh, vứt chỏng chơ giữa đường.

Bàng Quyên quan sát hai tên lính, thấy mỗi tên chỉ đi một chiếc giày, một tên đi chân bên trái, một tên đi chân bên phải, lấy làm ngạc nhiên, chỉ vào chân chúng, dịu giọng hỏi: “Bản tướng Bàng Quyên, muốn biết vì sao hai ngươi chỉ đi có một chiếc giày?”

Nghe nói người ở trước mặt chính là Bàng Quyên, hai tên lính đều giật mình kinh ngạc, mặt đầy hoảng hốt. Thấy Bàng Quyên vẫn mỉm cười, tên lính trông nhiều tuổi hơn mới bạo gan nói: “Hồi… hồi bẩm tướng quân, hai… hai chúng tôi là… huynh… huynh đệ kết nghĩa, lòng bàn chân bị phồng rộp, đi không nổi nữa!”

“Bản tướng muốn hỏi, vì sao hai ngươi chỉ đi có một chiếc giày?” Bàng Quyên thu lại nụ cười, nhắc lại câu hỏi.

“Vâng vâng vâng!” Tên lính run rẩy. “Tối qua ngủ ngoài trời, do quá mệt mỏi nên nghĩa đệ bị người ta tháo mất giày mà không hay biết, sáng nay không tìm thấy giày đâu, đại quân lại phải lên đường ngay, tiểu nhân thấy nghĩa đệ hai chân phồng rộp, bèn tháo giày, nhường cho nghĩa đệ đi. Nghĩa đệ khăng khăng không chịu, tiểu nhân cũng không nghe, hai người tiểu nhân đành phải mỗi người đi một bên giày, cứ năm dặm đổi một lần. Đi tới khe núi này, vết phồng rộp của nghĩa đệ bị vỡ, thực sự không thể đi nổi nữa. Tiểu nhân được tướng quân cho phép, ở lại đây để chăm sóc nghĩa đệ.”

“Nói xem, các ngươi có tổng cộng bao nhiêu người? Tới đây vào lúc nào?”

Thấy hỏi về việc quân, tên lính ngoảnh mặt nhìn sang hướng khác.

“Mau trả lời tướng quân!” Thanh Ngưu gằn giọng.

Tên lính run bắn, liếc nhìn Thanh Ngưu một cái, lại quay đầu đi.

Bàng Quyên hất hàm về phía tên nghĩa đệ đứng bên cạnh. Thanh Ngưu hiểu ý, liền kề kiếm vào cần cổ hắn.

“Này vị quân sĩ kia!” Bàng Quyên bình thản nói. “Nếu ngươi chịu nói ra sự thực, bản tướng không chỉ mở đường sống cho hai ngươi, mà còn trọng thưởng cho hai ngươi. Còn nếu không nói, nghĩa đệ của ngươi sẽ đầu lìa khỏi cổ ngay trước mặt ngươi.”

“Tướng… tướng quân!” Tên lính hốt hoảng quỳ sụp xuống. “Tiểu… tiểu nhân sẽ… sẽ nói… sự thực…”

Sau đó, tên này hỏi gì đáp nấy, thật thà kể hết “tình cảnh” của quân Tề, cuối cùng nói: “Bọn tiểu nhân hành quân suốt nhiều ngày trời thì tới khe núi này, thấy đường khó đi thì không muốn đi nữa, lại thêm trời đã tối muộn, bèn nhao nhao thỉnh cầu nghỉ đêm ở đây. Nào ngờ Điền tướng quân dứt khoát không chịu, nói là quân sư lệnh cho đại quân phải tới Tân Ấp trước khi trời sáng, ai trái lệnh chém đầu. Có người không chịu nổi…” đưa tay chỉ vào cánh rừng bên cạnh, “không giấu tướng quân, rất nhiều binh sĩ nhân lúc trời tối đã trốn vào trong cánh rừng này, nếu tướng quân không tin, cứ phái người đi tìm, chưa biết chừng lại bắt được thêm ối người đấy!”

“Con đường núi này dài bao nhiêu?” Bàng Quyên nhìn vào con đường phía trước, nheo mắt hỏi.

“Không dài lắm, chỉ tầm mười dặm đổ lại, đoán chừng đại quân lúc này hẳn đã ra khỏi khe núi rồi. Đoạn này khó đi nhất, Điền tướng quân nói, qua khỏi khe này, sẽ tới đường bằng.”

Bàng Quyên không nghi ngờ nữa, nói với tham tướng ở bên cạnh: “Thưởng hai quân sĩ đây mỗi người một đĩnh vàng, thả cho họ đi!”

Huynh đệ hai người dập đầu cảm tạ, nhận lấy hai đĩnh vàng, vội vã lủi vào trong cánh rừng bên cạnh, bất chấp chân đau, chuồn nhanh như mèo đêm.

“Thanh Ngưu tướng quân!” Bàng Quyên rút bảo kiếm, trỏ vào con đường núi trước mặt. “Truyền lệnh, dọn dẹp chướng ngại vật trên đường, dốc sức truy kích người Tề, bắt sống Điền Kỵ!”

Bàng Quyên vừa hạ lệnh, Thanh Ngưu không còn băn khoăn gì nữa, dẫn vài tướng sĩ lực lưỡng mở đường phía trước, xe ngựa theo sau. Tiến lên thuận lợi, đi khoảng mười dặm, quả nhiên thấy đường đã rộng hơn chút ít, hai xe có thể cùng đi, song còn lâu mới được coi là đường bằng, con đường vẫn bị kẹp giữa hai dãy núi thấp. Bàng Quyên cũng chẳng hề nghi ngờ, tiếp tục hạ lệnh tăng tốc truy kích.

Thanh Ngưu đánh xe đi thêm vài chục bước, đột nhiên thấy trên đường xuất hiện chướng ngại vật màu trắng lờ nhờ, giơ tay nhấc thử, hoá ra là xương ngựa. Ngước mắt nhìn lên, thấy con đường phía trước trắng rợn một màu, sai người đi dò la, thì ra tuyền là xương ngựa. Thanh Ngưu trong lòng giật thột, vừa sai binh sĩ dọn dẹp, vừa hồi bẩm Bàng Quyên. Bàng Quyên tiến lên phía trước, phóng mắt nhìn đi, quả nhiên rặt là xương ngựa, từng bộ từng bộ xếp nối tiếp nhau, trước mỗi bộ xương đều đặt một cái sọ ngựa.

Bàng Quyên chau tít đôi mày.

“Quái lạ thật đấy!” Thanh Ngưu vò đầu bứt tai nói. “Người Tề không thể giết ngựa ở đây, lấy đâu ra nhiều xương ngựa đến thế? Xem ra, không dưới vài trăm bộ.”

Chẳng hiểu vì sao, một cơn ớn lạnh bỗng trỗi dậy trong tâm can Bàng Quyên, chạy dọc sống lưng, khiến hắn bất giác rùng mình.

“Lẽ nào lần trước giết ngựa, quân Tề chưa ăn hết, nên mang theo tới đây?” Thấy Bàng Quyên không đáp, Thanh Ngưu hạ giọng nói khẽ, nửa như tự nhủ, nửa như giải thích, song lại lập tức phủ định. “Vậy cũng không đúng, nếu chưa ăn hết, mang theo thịt là được, còn chở theo xương làm gì? Dùng làm chướng ngại vật ư? Cũng không phải, chặt bừa mấy cây to ven đường, vần tới ít đá, còn tiết kiệm sức bằng mấy so với tha theo cả đống xương!”

Thanh Ngưu còn đang lẩm bẩm, bỗng một binh sĩ đi dọn xương ngựa hộc tốc chạy ngược lại, nói: “Báo cáo, phía trước có cây to chắn ngang đường, bên trên còn có chữ viết!”

Bàng Quyên vội vã chạy tới. Dưới ánh đuốc đám binh sĩ vừa châm lên, thấy rõ thân cây kia vốn dĩ mọc ở ven đường, chắc hẳn vừa bị đốn hạ, nằm chắn ngang đường, đoạn giữa thân cây bị cạo sạch vỏ, bên trên viết một dòng chữ: “Quân sư diệu đoán, đường Mã Lăng ba mươi dặm, bắt sống Bàng Quyên. Điền Kỵ.”

Nhìn thấy hàng chữ “Đường Mã Lăng ba mươi dặm”, Bàng Quyên mới sực tỉnh ra rằng đã bị hai tên lính kia lừa gạt, thì vỗ trán kêu lên: “Hỏng rồi!”

“Sao vậy?” Thanh Ngưu vội hỏi, thuận tay xoay chuyển trường thương, cảnh giác nhìn khắp tứ phía.

Bàng Quyên không trả lời, hai mắt trân trân nhìn vào những bộ xương ngựa la liệt đầy đường. Dưới ánh đuốc lờ mờ, những sọ ngựa trắng ởn ngỏng cao lạnh lẽo, giống như vô số ác ma đang hướng vào Bàng Quyên khiêu chiến.

Bàng Quyên hít ngược một hơi khí lạnh, trước mặt bỗng chốc hiện lên cảnh tượng trước khi xuống núi năm xưa, bên tai lại như văng vẳng lời nói của Quỷ Cốc Tử: “Hoa này tổng cộng có mười hai bông, ý chỉ con sẽ hưng thịnh mười hai năm. Hoa này hái ở Quỷ Cốc, thấy mặt trời mà héo úa, chữ ‘quỷ’ đặt cạnh chữ ‘uỷ’, ám chỉ nơi con thành công sẽ là nước Ngụy… Sau khi con hái được lại vứt đi, vứt đi rồi nhặt lại, là có hai lòng. Trước mặt lão hủ lại giấu giếm không nói, cho thấy con sau này ắt sẽ lừa dối người, cuối cùng bản thân lại bị lừa dối… Hoa này tên là mã đâu linh, ngựa thích ăn nó, nhưng dê thì không, vì vậy lão hủ tặng con một câu: ‘Gặp dê thì vinh, gặp ngựa thì tuyệt’…”

Nghĩ tới đây, tất cả những sự việc xảy ra sau khi xuống núi bỗng chốc nối tiếp nhau lướt nhanh qua trí não hắn. Bàng Quyên bất giác thầm kêu khổ trong lòng, lấy làm hối hận. Phải rồi, bây giờ nghĩ lại, đúng là muôn điều hối hận. Hối hận đã không tin vào chuyện bói hoa, ma xui quỷ khiến thế nào lại đi chọn mã đâu linh, mà thứ hoa hèn hạ này lại chỉ nở có mười hai bông. Hối hận đã xem thường lời dặn dò mà tiên sinh ban tặng trước khi ly biệt, “gặp dê thì vinh” đã ứng nghiệm rồi, vậy thì hắn phải đề phòng “gặp ngựa thì tuyệt” mới phải, tại sao hắn lại quên bẵng mất vào đúng thời khắc then chốt này? Tên hoa có chữ “mã” là ngựa, Tôn Tẫn lần trước dùng ngựa đánh bại hắn ở Quế Lăng. Lần này truy kích, trên đường gặp toàn xương ngựa, vừa rồi lại giẫm phải phân ngựa, ông trời đã liên tiếp cảnh báo, thế mà hắn lại… Than ôi, ngẫm nghĩ kỹ lại, tiên sinh đoán hắn sẽ hưng thịnh mười hai năm, nay đã hết kỳ hạn rồi, tiên sinh dùng từ “tuyệt”, xem ra là trời đã tuyệt đường hắn mất rồi…

“Thanh Ngưu!” Bàng Quyên giờ mới sực nhớ tới vài nghìn tướng sĩ, giật mình kinh hãi, vội vã truyền lệnh. “Ta đã trúng kế, mau, chạy khỏi khe núi!”

Thế nhưng, đã muộn mất rồi. Bàng Quyên còn chưa dứt lời, tiếng trống đã dồn dập tứ bề, tù và rúc vang, chỉ trong chốc lát, từ dãy núi hai bên, tên bắn rào rào như châu chấu. Quân Ngụy bị kẹt giữa đường hẹp, không kịp đề phòng, chắn đỡ không xuể, trúng tên ngã xuống như ngả rạ.

Ác mộng Quế Lăng tái hiện!

Thanh Ngưu không kịp nói năng, quát lên như sấm: “Mau, bảo vệ tướng quân!”

Nói rồi, đẩy mạnh Bàng Quyên tới bên một gốc cây to, lấy thân cây làm lá chắn, dùng thân mình và khiên che kín kẽ cho Bàng Quyên.

Đám lính Ngụy còn sống sót nghe tiếng cũng chạy lại, vây kín thành một vòng tròn lớn xung quanh Bàng Quyên, giơ khiên che chắn.

Trong khe núi, ánh lửa sáng rực tứ bề, muôn tên cùng bắn, tiếng kêu rú thảm thiết của lính Ngụy trúng tên, tiếng hô “bắt sống Bàng Quyên” dồn dập chấn động cả bầu trời đêm trên khe núi.

Khoảng cách chỉ chưa đầy ba mươi bước, hơn vạn xạ thủ của quân Tề hầu hết đều sử dụng nỏ mạnh cung cứng, giáp trụ của võ binh có dày đến đâu, khiên có chắc đến mấy cũng là vô ích. Mười dặm khe núi, chốc đã trở thành pháp trường đẫm máu. Chưa đầy nửa canh giờ, thương thay cho vài nghìn lính hổ bôn và hơn nghìn chiến mã, còn chưa kịp nhìn thấy mặt mũi quân Tề, đa phần đều đã bỏ mạng dưới tên sắc.

Xung quanh Bàng Quyên, lính Ngụy cầm khiên đã tử thương quá nửa, chỉ còn hơn chục người, vẫn đang liều mạng che chắn.

Quân Tề trùng trùng xuất hiện, bủa vây kín mít. Tên bắn như mưa, lửa đuốc sáng rực như ban ngày. Binh tướng Ngụy bên cạnh Bàng Quyên theo nhau ngã gục, cuối cùng chỉ còn lại Bàng Quyên và Thanh Ngưu, cũng đều đã trúng tên. Đặc biệt là Thanh Ngưu, khắp người tên găm chi chít như một con nhím khổng lồ, máu me bê bết, đến mắt cũng không mở nổi.

Một tràng cười vang lên, là tiếng của Điền Kỵ.

Trong vòng bảo vệ của chư tướng, Điền Kỵ tay cầm trường thương, từ trong lớp lớp xương ngựa tiến lại gần, giơ tay hô lớn: “Dừng bắn!”

Trận mưa tên lập tức dừng lại.

Điền Kỵ thủng thẳng bước từng bước về phía Bàng Quyên, còn cách hắn mười bước thì dừng lại, dài giọng mà hỏi: “Đây chẳng phải là Bàng tướng quân ư?”

Bàng Quyên lúc này đã trúng vài mũi tên, chống thương xuống đất, gắng gượng đứng dậy, quệt máu trên mặt, nhìn thẳng vào Điền Kỵ: “Tôn huynh đâu?”

“Tôn huynh?” Điền Kỵ cười nhạt một tiếng, chĩa thương vào hắn. “Ngươi hại quân sư ra nông nỗi này, còn mặt mũi mà gọi là Tôn huynh ư? Mau buông trường thương, giơ tay chịu trói!”

“Tôn huynh đâu?” Bàng Quyên cao giọng quát hỏi.

“Được!” Điền Kỵ lại cười nhạt một tiếng, nói. “Ngươi đã truy hỏi như vậy, Điền mỗ cũng sẽ giúp ngươi thoả lòng hiếu kỳ.” Rồi trỏ thương vào tầng tầng xương ngựa phía trước, “ở đây có năm trăm bộ xương ngựa, là Điền mỗ đã nghe theo lời dặn của Tôn huynh ngươi, cực nhọc chở theo tới tận đây. Tôn huynh của ngươi, và cả Tô huynh của ngươi nữa, đang bày tiệc rượu ở sau dãy xương ngựa này, kính chờ ngươi tới, để giúp ngươi tẩy trần!” Rồi tránh sang bên đường. “Bàng tướng quân, dù ngươi đã từng làm nhục bản tướng, song bản tướng độ lượng, lại nể tình quân sư và Tô tướng quốc năm lần bảy lượt cầu xin tha mạng cho ngươi, mới không so đo với hạng tiểu nhân như ngươi, mà nhường đường cho ngươi. Bàng tướng quân, mời!” Nói đoạn, quay sang quân sĩ. “Chư vị tướng sĩ, hãy nhường đường, đưa Bàng tướng quân tới nơi dự tiệc!”

Tướng sĩ lập tức theo nhau tránh sang bên đường.

“Ha ha ha!” Bàng Quyên cười dài một tràng, chẳng buồn ngó ngàng tới Điền Kỵ, nhìn thẳng vào con đường dằng dặc xương ngựa trắng rợn, không thấy điểm tận cùng. “Tôn huynh, Tô huynh, hai người hãy nghe đây, sư đệ Bàng Quyên xin đi trước một bước. Trước lúc lên đường, tại hạ có lời muốn nói với Tôn huynh. Huynh bị tẫn hình, là do tại hạ vu cáo hãm hại, chúng ta kết nghĩa, tại hạ lừa gạt huynh chỉ duy nhất lần này! Còn huynh giả điên một lần, giả chết một lần, là hai lần lừa tại hạ, cũng coi như đã hoà. Trận chiến hôm nay, và cả trận chiến Quế Lăng, Tôn huynh đã thắng, tại hạ thua rồi, tuy nhiên, tại hạ không phục, bởi Tôn huynh thắng ở chỗ tối, mà tại hạ thua ở chỗ sáng. Thất bại hôm nay, không phải do chiến lực, mà là ý trời diệt ta…” Nói đoạn ngửa cổ, gào lên thật lớn. “Ý… trời… diệt… ta…”

Khe núi giữa đêm khuya dội lại tiếng gào của Bàng Quyên, văng vẳng hồi lâu không dứt.

Tiếng vọng đã im bặt, khe núi lặng ngắt như tờ.

“Thanh Ngưu huynh đệ!” Bàng Quyên ném trường thương đi, nhìn thẳng vào Thanh Ngưu, vòng tay nói. “Là tại hạ đã làm liên luỵ tới huynh đệ và các tướng sĩ!” Nói đoạn, rút ngay bảo kiếm, cứa ngang cần cổ.

“Bàng tướng quân…” Thanh Ngưu rú lên một tiếng bi thiết, vứt thương xuống đất, quỳ sụp xuống, phủ phục lên người Bàng Quyên, hồi lâu không dậy.

Thình lình, Thanh Ngưu lảo đảo đứng dậy, hai tay bế xốc Bàng Quyên lên, loạng choạng bước từng bước về phía dãy xương ngựa dài dằng dặc. Hiển nhiên, hắn muốn đưa Bàng Quyên tới phía cuối con đường xương ngựa, đến chỗ hai vị huynh đệ, cũng đồng thời là đối thủ bình sinh.

Nhìn vào đệ nhất dũng sĩ nước Ngụy trên mình chi chít hơn chục mũi tên, áo giáp đẫm máu, quân Tề bên cạnh ai nấy phát run, cũng lấy làm kính phục, bèn kéo nhau đi theo sau hắn. Ngay cả Điền Kỵ mắt cũng ướt nhoà.

Một bước lại một bước, một bộ xương lại một bộ xương, Thanh Ngưu càng đi càng chậm. Cuối cùng, sau khi đã bước qua một trăm bộ xương ngựa, không biết vướng phải thứ gì mà ngã huỵch xuống đất.

Thanh Ngưu ôm chặt Bàng Quyên, muốn gượng đứng dậy, song hết lần này đến lần khác, đã dốc hết sức tàn mà vẫn không thể đứng lên.

“Bàng tướng quân!” Thanh Ngưu quỳ xuống đất, bật khóc thảm thiết. “Thanh Ngưu… hết sức rồi…”

Nói rồi, ngoái nhìn đám xạ thủ nước Tề phía sau lưng, gầm lên: “Bắn đi, lũ hèn!”

Đám xạ thủ không nỡ nhìn, đua nhau ngoảnh mặt đi chỗ khác.

Điền Kỵ lau nước mắt, cắm phập thương xuống đất, cầm lấy cung tên từ trong tay một binh sĩ, lắp tên, đi vòng tới trước mặt Thanh Ngưu, vái hắn một vái thật sâu, nói: “Thanh Ngưu tướng quân, bản tướng tác thành cho ngươi!” Rồi kéo căng dây cung, một tên xuyên thẳng giữa sống mũi.

Thanh Ngưu lảo đảo, rồi từ từ đổ gục xuống người Bàng Quyên.

Tận cùng đoạn đường xương ngựa là một bãi trống không quá rộng, vài ngọn đuốc chiếu sáng một tảng đá lớn bằng phẳng ở chính giữa bãi trống. Trên tảng đá, không bày thức ăn, không có đũa gắp, chỉ có ba bát rượu.

Tô Tần, Tôn Tẫn ngồi đối mặt nhau, im lìm như tượng. Hai cặp mắt đẫm lệ lấp loáng dưới ánh đuốc.

Bốn bề tĩnh lặng như tờ, tiếng dọn dẹp chiến trường trong khe núi nghe như vẳng đến từ một cõi khác.

Không biết đã qua bao lâu, Tô Tần gạt nước mắt, bưng bát rượu trước mặt lên, khẽ khàng tưới xuống đất, rồi ném cái bát không xuống mặt đá.

Tôn Tẫn cũng làm theo, tưới rượu, ném bát.

Chỉ còn một chiếc bát, vẫn đầy rượu, đơn độc phản chiếu ánh lửa đuốc sóng sánh trong bóng đêm lặng lẽ.

Còn gọi là Đại thượng tạo, tên quan, là chức quan cao nhất của nhà Tần thời Chiến Quốc, nắm giữ đại quyền quân chính, cũng dùng làm tên tước. Nay là phía đông bắc huyện Mạnh Tân, Lạc Dương, Hà Nam. Đô thành nước Sở, nay là phía bắc Kinh Châu, Hồ Bắc. Chức quan thời xưa chuyên trực bên đồng hồ nước để báo thời gian. Nhà chính trị, nhà quân sự nổi tiếng thời kỳ đầu Chiến Quốc, phò tá Ngụy Văn Hầu biến pháp, trước tác có Ngô Tử binh pháp. Đại tướng thời Ngụy Văn Hầu, tổ tiên của Nhạc Nghị. Chức chỉ huy đứng đầu một nghìn quân lính. Cân thời xưa, tương đương khoảng 0,5kg hiện nay. Tức Đạo đức kinh, trước tác của Lão Đam (Lão Tử). Đơn vị trọng lượng thời cổ, một dật bằng hai mươi lượng. Chức quan đặt ra từ thời Chiến Quốc, đứng đầu một quận ở biên cương, nắm quyền hành chính, quân sự tối cao của khu vực đó. Dùng phép chiết tự, trong chữ Hán, ba chữ Mộc-Vũ-Khuy ghép lại chính là chữ Sư. Một đoạn trong bài thơ “Kiêm hà” phần “Tần phong” sách Kinh Thi. Kinh Thi xưa gọi là Thi, là bộ tổng tập thơ ca nổi tiếng tập hợp những sáng tác khuyết danh trong khoảng từ đầu Chu đến giữa Xuân Thu, trong đó phần nhiều là dân ca của các vùng đất khác nhau, như “Tần phong” là thơ ca của đất Tần. Thời Chiến Quốc, Thi được coi là “sách giáo khoa” bắt buộc phải học, về sau được liệt vào Ngũ kinh của Nho gia, gọi là Kinh Thi. Thời xưa, nam giới hai mươi tuổi làm lễ đội mũ, biểu thị đã thành niên. Ngày 16 âm lịch, tức sau ngày rằm một hôm. Nhân định, tức giờ Hợi (21 - 23 giờ). Do lúc này đã rất khuya, mọi người đều chìm vào giấc ngủ, nên gọi là “nhân định”. Tuần ngày xưa gồm mười ngày, cũng chỉ quãng thời gian khá ngắn. Tiền bố: Một loại tiền được sử dụng rộng rãi thời Xuân Thu Chiến Quốc, có hình lưỡi cuốc. Tức sao Kim. Vu chúc, tức thầy cúng, thầy mo. Đại vu chúc là chức quan đứng đầu các thầy cúng, chủ trì các nghi lễ cúng tế, giao tiếp với thần linh trong Thái miếu thời cổ. Tức người chỉ huy nhóm một trăm binh sĩ. Cự tử là danh xưng dùng để gọi nhân vật thủ lĩnh của Mặc gia. Xưa Tấn Hiến Công muốn tiêu diệt nước Quắc, bèn tặng nước Ngu lễ vật hậu hĩnh để mượn đường qua nước Ngu đánh Quắc. Sau khi diệt Quắc, quân Tấn trên đường quay về lại đánh úp nước Ngu. Sau dùng câu “mượn đường diệt Quắc” để chỉ việc dùng lợi ích dụ dỗ, rồi chớp thời cơ tiêu diệt. Một đoạn trong bài “Hà thảo bất hoàng” phần “Tiểu nhã” trong Kinh Thi. Giờ Kê minh, tức giờ Sửu, là khoảng từ 1 giờ đến 3 giờ sáng, do vào giờ này gà bắt đầu gáy, nên gọi là “kê minh”, tức gà gáy. Chỉ đội quân đầu vấn khăn xanh. Thời Chiến Quốc, dùng để chỉ dân đinh dưới cờ của chủ nhân, đa phần là trai tráng ở thôn quê. Liệt Ngự Khấu: Liệt Tử, nhà tư tưởng đầu thời Chiến Quốc. Cùng Lão Tử, Trang Tử, là những nhân vật đại diện cho tư tưởng Đạo gia. Thuần Vu Khôn là nhà chính trị và nhà tư tưởng nổi tiếng thời Chiến Quốc. Học vấn uyên bác, nổi tiếng giỏi biện luận, là một trong những học giả lớn nhất trong học cung Tắc Hạ. Thời xưa thường dùng mạnh, trọng, thúc để chỉ thứ tự lớn bé, trước sau. Trọng thúc là chú thứ hai, quý thúc là chú út. Tử đồng: Cách nhà vua gọi hoàng hậu, hoặc hậu phi tự xưng, có ý khiêm xưng. Trích từ bài “Bắc Sơn” phần “Tiểu Nhã” trong Kinh Thi. Đạo trời thưởng cho người cần cù. Tật lê: Cụm gai sắt có nhiều ngạnh sắc nhọn, dùng để rải lên tường làm chướng ngại vật. Tức bốn thủ thuật chẩn bệnh thời xưa, lần lượt là: quan sát, lắng nghe, hỏi bệnh, bắt mạch. Tức can chi của năm, tháng, ngày, giờ sinh, do có tám chữ, nên gọi là bát tự. Ba đoạn này là bài thơ Thử ly thuộc Vương phong, Kinh Thi, nói về cảnh hoang tàn của cố đô sau khi nhà Chu dời đô về tây và nỗi buồn của người dân nhớ nước cũ. Miếng ngọc hình khuyên tròn, xẻ ở giữa, dùng làm đồ trang sức. Chức quan canh giữ cổng thành. Trùng Nhĩ là tên của Tấn Văn Công (697 - 628TCN), quân chủ đời thứ 24 của nước Tấn. Đến năm 403TCN, nước Tấn cắt đất chia cho ba nhà Hàn, Triệu, Ngụy, sau đó phần đất của Tấn lại bị hai nhà Hàn, Triệu xâm chiếm. Sự kiện “ba nhà phân Tấn” đã đánh dấu cho sự khởi đầu của thời Chiến Quốc. Tức Hữu Sào thị, một vị thủ lĩnh trong truyền thuyết Trung Hoa, tương truyền dạy người dân làm nhà trên cây để tránh thú dữ. Đoạn đầu trong bài Quan thư., bài thơ mở đầu Kinh Thi. Tịch cốc, tức không ăn ngũ cốc, hay nhịn ăn, là một phép tu đạo dưỡng sinh thời xưa, được ghi chép sớm nhất trong Trang Tử. Cơ tâm, thuật ngữ của Đạo gia, chỉ cái tâm khôn khéo phức tạp như máy móc, đối lập với đạo tâm là cái tâm thuần phác, thuận ứng tự nhiên. Một thuật thần thông, có thể nhìn thấu tâm ý của người khác. Quan niệm thiên văn xưa cho rằng, mỗi khu vực trên bầu trời tương ứng với một vùng trên mặt đất. Vị trí của các vùng đất được quy chiếu lên bầu trời theo cách này gọi là “phân dã”. Bài thơ Hoàng điểu thuộc Tần phong trong Kinh Thi, nói về lúc Tần Mục Công qua đời, bắt nhiều người sống phải tuẫn táng, trong đó có ba anh em họ Tử Xa là Yêm Tức, Trọng Hàng, Kiếm Hổ. Bài thơ bày tỏ nỗi đau xót, thương tiếc của người dân trước cảnh ba tráng sĩ bị tuẫn táng. Dịch đạo, hay quan đạo, tức đường lớn do triều điều xây dựng, có đặt dịch trạm dọc đường, làm chỗ nghỉ ngơi, đổi ngựa, chủ yếu để quan viên, tướng sĩ sử dụng vào việc công, như quân sự, kinh tế, truyền tin… Còn gọi là cây khố rách, sơn dịch, phòng kỷ, là một loài dây leo, hoa nở tỏa mùi thối rữa, thu hút các loại côn trùng ưa loại phân hủy như ruồi nhặng tìm đến. Trong chữ Hán, chữ Ngụy 魏 gồm chữ quỷ 鬼 (ma quỷ) đặt cạnh chữ ủy 委 (héo úa). Tức Khương Thượng (?-1015 TCN), còn gọi là Lã Thượng, Lã Vọng, Khương Tử Nha, Khương Thái Công, nhà chính trị, quân sự kiệt xuất, khai quốc công thần của nhà Chu, phò tá Chu Vũ Vương diệt Trụ, được phong đất Tề, trở thành Tề Thái Công. Âm phù bản kinh là một bộ phận trước tác của Khương Thượng, đã thất truyền. Thổ tức thở ra, nạp là hít vào, công pháp thổ nạp tức là công phu hô hấp, phương pháp dưỡng sinh qua cách hô hấp. Hai câu trong bài Tử khâm, phần Trịnh Phong, sách Kinh Thi, nói về niềm nhớ nhung, ở đây chỉ nỗi mong ngóng hiền tài. Hai câu trong bài Lộc minh, phần Tiểu Nhã, sách Kinh Thi, ý nói dùng hiền tài nước khác để phò tá cho nước mình. Hai câu trong bài thơ Quan thư thuộc phần Chu Nam trong Kinh Thi, là bài thơ mở đầu của Kinh Thi, nói về nỗi niềm tương tư. Ba đoạn trong bài Bắc phong phần Bội phong sách Kinh Thi, nội dung mượn cảnh tuyết gió khốc liệt để ví với nền chính trị bạo tàn, khiến người dân phải dắt díu nhau bỏ đi nơi khác. Những câu mở đầu trong bài Quan thư phần Chu nam sách Kinh Thi, nói về tình yêu đôi lứa. Người xưa chia một năm 360 ngày thành 72 giai đoạn nhỏ, gọi là 72 hậu, mỗi hậu kéo dài 5 ngày. Tức đô thành thứ hai sau kinh đô của một nước. Nhẫn là đơn vị đo chiều dài thời xưa. Vào thời Chu, một nhẫn xấp xỉ tám thước. Thuần Quân là tên một thanh kiếm nổi tiếng thời cổ đại, tương truyền do U Dã Tử đúc ra. Tam đại, tức ba triều đại, sách xưa dùng để chỉ ba triều Hạ, Thương, Chu trong cổ sử Trung Quốc. Nay là quần đảo Châu Sơn, ở vùng biển phía đông Chiết Giang. Tức: Cây kéo đệ nhất vương thành. Ba đoạn trên là bài thơ Vô y thuộc phần Tần phong trong Kinh thi, mô tả người dân Tần khẳng khái anh dũng ra sa trường, chống lại quân Tây Nhung xâm lược. Bàn cờ vây thông thường được tạo thành bởi 19 đường ngang và 19 đường dọc, quân cờ được đặt vào giao điểm của các đường thẳng. Giao điểm nằm chính giữa bàn cờ được gọi là thiên nguyên. Xung quanh thiên nguyên có 8 điểm khác phân bố đều trên 4 đường thẳng thứ 4 tính từ mép bàn cờ, đối xứng nhau, 8 điểm này được chấm màu đen để dễ định vị, gọi là “tinh”, “tinh vị” hay “sao”. Khi muốn nhường nhau, người ta thường đặt quân cờ vào các điểm sao. Luật cờ vây là quân đen đi trước, quân trắng đi sau, khi kết thúc ván cờ, tính thắng thua bằng cách đếm số mục. Do đi sau, quân trắng được cộng thêm năm mục rưỡi. Các giao điểm trống nằm ngay sát quân cờ được gọi là khí của quân cờ đó, nếu quân cờ không còn khí, sẽ bị bắt và đưa ra khỏi bàn cờ. Trong Hán tự, ba chữ “Mộc” (木), “Vũ” (雨), “Khuy” (亏) ghép lại sẽ thành chữ “Sư” (樗). ‘Tẫn’ có nghĩa là xương bánh chè. Tẫn hình có nghĩa là khoét bỏ xương bánh chè, khiến người chịu hình phạt không đi lại được. Tiền hoàn là một loại tiền đúc bằng đồng, có hình tròn, ở giữa có lỗ, lưu hành tại nước Tần thời Chiến Quốc. Ngày hối, tức ngày không trăng, là ngày cuối tháng âm lịch. Bộ nạch(疒, tức bệnh tật) ghép với chữ “phong” (風, tức gió), thành chữ “phong” (疯), nghĩa là điên cuồng. Hoạn giả lệnh là một chức quan thời Chiến Quốc, tức viên hoạn quan tổng quản các hoạn quan, nội thị trong cung. Một loại tiền cổ, đúc bằng đồng, có hình thanh đao, diễn biến từ loại đao công cụ sản xuất mà thành. Ba đoạn này là bài Đào yêu phần Chu phong trong Kinh Thi, nói về cảnh người con gái xuất giá vào mùa hoa đào nở. Tức Lễ ký, cuốn sách ra đời vào thời Chiến Quốc, ghi chép lại các lễ nghi, phong tục thời cổ, sau được liệt vào Ngũ kinh của Nho gia, được gọi là Kinh Lễ. Trích trong bài Tử khâm phần Trịnh phong sách Kinh Thi, nói về lòng nhớ nhung mong ngóng người hiền tài. Vũ cống là một thiên trong sách Thượng Thư, cũng chính là Kinh Thư, một trong ngũ kinh của Nho gia sau này. Trích từ chương Nhiệm thành trong Đạo đức kinh. Đan Chu là con trai trưởng của Đế Nghiêu, vì có ba năm xưng đế nên gọi là Đế Đan Chu. Thời cổ, khi hội minh, thường có nghi thức uống máu ăn thề. Minh chủ của hội minh sẽ thực hiện nghi thức cầm tai bò để cắt lấy máu, nên về sau, người cầm tai bò mang ý nghĩa minh chủ, thủ lĩnh. Đây là đoạn thứ hai trong bài Mộc qua phần Vệ phong sách Kinh Thi, nói về sự báo đáp ân tình, có qua có lại. Đạo nhân là tên một chức quan thời Chu, quản lý việc trồng cấy, ruộng đồng. Trích trong thiên Tục bạc sách Đạo đức kinh. Hai câu trong bài Quan Thư, phần Chu Nam sách Kinh Thi. Hai câu trong bài Đường Đệ, phần Tiểu Nhã sách Kinh Thi. ‘Phi công’ là một quan niệm quan trọng trong tư tưởng Mặc gia, cũng là tên một chương trong sách Mặc Tử, nội dung phản đối chiến tranh. Trong dân gian Trung Quốc, từ sau ngày Đông chí thì bắt đầu ‘nhập cửu’ hay ‘đếm cửu’, cứ 9 ngày là 1 cửu, hết 9 cửu là sang xuân. Bởi vậy ‘nhập cửu’ là thời gian giá lạnh nhất trong năm. Củ ấu tàu, hay gấu tàu, ô đầu, là loài thực vật thuộc họ mao lương dùng để làm thuốc, dược tính cực độc, chỉ một lượng nhỏ đã có thể giết chết những động vật lớn. Tịch cốc là một phương pháp tu luyện của Đạo gia, tức không ăn ngũ cốc, không ăn thức ăn nấu qua lửa, chỉ uống nước và ăn một số thức ăn thiên nhiên, hoặc hoàn toàn không ăn, chỉ nạp khí, hấp thu nguồn năng lượng tự nhiên. Trong Hán tự, chữ “gian” (姦) là do ba chữ “nữ” (女) hợp thành. Trong Hán tự, chữ “Chương” (章) gồm hai chữ “âm” (音) và “thập” (十) ghép thành. Là đơn vị đo lường thời xưa, mười thăng bằng một đấu. Trong Hán tự, chữ “tính” (性) do bộ “tâm” (心) và chữ “sinh” (生) ghép lại mà thành. Trong Hán tự, chữ “ba” (波) là sóng do bộ “thuỷ” (水) là nước và chữ “bì” (皮) là da ghép lại mà thành. Trong bài Thất nguyệt thuộc Kinh Thi có câu “Thất nguyệt lưu hoả” (tháng bảy nóng đổ lửa), về sau thường nói tháng lưu hoả tức tháng bảy. Là những câu thơ trong bài “Thái vi” phần “Tiểu nhã” trong “Thi”, nói về chinh nhân phụng vương mệnh xuất chinh vào một ngày xuân, tới tận mùa đông vẫn chưa thể trở về, chỉ có thể dõi trông xa thẳm quê nhà mà nhớ nhung khắc khoải. Hai câu trong bài Thạc thử, thuộc Ngụy phong trong Kinh thi. Trích trong bài Kiêm hà phần Tần phong sách Kinh Thi, trong nguyên văn có từ “y nhân”, có nghĩa là “người ấy”, trong tiến Hán có phát âm giống như “dị nhân”.

đé

Giới Thiệu Tác Giả

Tác giả Hàn Xuyên Tử, tên thậtVương Nguyệt Thụy, là nhà văn,nhà biên kịch kiêm dịch giả.

Từ năm 2003, Hàn Xuyên Tử bắtđầu chấp bút sáng tác bộ tiểuthuyết trường thiên chiến Quốctung hoành – Thế cục Quỷ Cốc Tử. Sau nhiều năm miệt mài sáng tác,liên tục chỉnh sửa, đến năm 2012mới cho ra mắt tập đầu tiên.

Bối cảnh hoành tráng, dung lượng đồ sộ, tình tiết sinh động, nội dung kịch tính cùng với vốn tri thức lịch sử phong phú, giàu triết lý nhân sinh thế sự, cuốn sách ngay lập tức tạo nên tiếng vang lớn trên thị trường, được ca ngợi là cuốn tiểu thuyết lịch sử xuất sắc nhất trong nhiều năm trở lại đây.

MỤC LỤC

Chương 101 Tranh đất Tống, chiêu Dương sinh sự

Giữ Tương Lăng, họ Trịnh quên mình      7

Chương 102 Thêm chân rắn, Trần chẩn bày mưu

Sợ phục thù, Trâu Kỵ giăng bẫy      68

Chương 103 Hiểu thấu trần duyên, Tôn Tẫn ra biển

Thuyết giảng nhân chính, Mạnh Kha sang Tề      132

Chương 104 Tắc Hạ khẩu chiến, á thánh khua môi

Nghìn dặm theo chân, kẻ si chuốc nhục      192

Chương 105 Trong cung Tuyết, Tề Tuyên Vương xét hiền tài

Tới Khang Trang, tung ước trưởng thăm nông phu      251

Chương 106 Mạnh phu tử thất chí cung Tề

Lão chăn dê lấy dê giáo huấn      308

Chương 107 Gặp cao sư, Tô Tần ngộ cục

Gỡ nút thắt, Trương Nghi sang Tần      366

Chương 108 Gặp Lương Vương, Mạnh Kha giảng nghĩa

Giữ hoành cục, Trương Nghi tính mưu      424

Chương 109 Tranh cao thấp, sư hổ đối trận

Quyết thắng bại, anh hùng đấu mưu      485

Chương 110 Loạn nội cung, Ngụy vương phế Tự

Mưu tung cục, quần anh đuổi Nghi      545

Image

TRANH ĐẤT TỐNG, CHIÊU DƯƠNG SINH SỰGIỮ TƯƠNG LĂNG, HỌ TRỊNH QUÊN MÌNH

Đất Vệ, trên con đường cái quan thông tới Đại Lương, hơn năm nghìn cỗ quan tài do người Tề dâng tặng nối đuôi nhau kéo dài dằng dặc đến hơn chục dặm. Số quan tài này vốn dĩ là do Tô Tần chuẩn bị cho lính Tề tử chiến, nào ngờ giờ đây, liệm bên trong lại là quân Ngụy.

Trong dãy quan tài kéo dài bất tuyệt tựa trường xà, dẫn đầu là ba cỗ xe chiến, mỗi xe chở một cỗ quan tài, nằm trong đó, lần lượt là thái tử Thân, Bàng Quyên và Thanh Ngưu. Sáu viên tướng Ngụy áp tải hai bên quan tài Bàng Quyên, mỗi bên ba người, một thân thiết giáp, trên mũ trụ quấn vành khăn trắng. Họ một tay cầm thương, một tay vịn quan tài, giống như đang trợ lực cho chủ tướng. Đi bên cỗ quan tài của Thanh Ngưu cũng có vài kẻ. Do Thanh Ngưu cao lớn hơn người, nên phải dùng quan tài đặc chế, đứng trên đỉnh đồi gần đó nhìn xuống, trông thật nổi bật giữa đội hình.

Đứng trên đỉnh đồi là công tử Tự, giáp trụ chỉnh tề. Bên cạnh có vài thị vệ đứng hầu. Người đứng kề sát bên công tử Tự vóc dáng nhỏ nhắn, trang phục thị vệ không che lấp được vẻ thanh tú kiều diễm. Đó chính là tỳ thiếp của Ngụy Tự, tên gọi Thiên Hương, rất được sủng ái, nên lần này ra trận, đã cho nàng cải nam trang theo sát bên mình, không rời một bước.

Ngụy Tự di chuyển ánh mắt khỏi đầu trường xà, lướt tới đoạn giữa, rồi đoạn đuôi. Thiên Hương cũng đưa đôi mắt đẹp dõi theo ánh nhìn của Ngụy Tự. Cả đoàn quan tài đều được chở trên chiến xa của Đại Ngụy, đây là mệnh lệnh của Trương Nghi do Ngụy Tự ban xuống.

“Tướng quân,” Thiên Hương thu lại ánh nhìn, quay sang Ngụy Tự, chỉ vào khúc giữa trường xà, “phải đưa toàn bộ về Đại Lương ư?”

“Không.” Ngụy Tự đáp, “vào biên giới Ngụy rồi, sẽ chia ra các ngả, mai táng vào mộ địa của mỗi nhà.”

“Ồ,” Thiên Hương có vẻ tư lự, “thật khác nước Tần.”

“Nước Tần mai táng thế nào?”

“Nước Tần chôn cùng một chỗ, để họ chết rồi vẫn sát cánh bên nhau.”

“Ồ?” Ngụy Tự ngoảnh nhìn nàng, dài giọng, “việc của nước Tần, cớ sao nàng lại tường tận nhường vậy?”

“Tướng quân,” Thiên Hương nguýt dài, Tẽ nào tướng quân không biết? Lẽ nào tướng quân muốn thần thiếp cũng không biết gì hết sao?”

“Chà!” Ngụy Tự chép miệng, đoạn quay người đi xuống sườn đồi.

“Tướng quân cần làm một việc!” Thiên Hương đuổi theo, hạ giọng khẽ nói.

“Việc gì?” Ngụy Tự dừng bước, ngoảnh nhìn nàng.

“Đi bên cạnh cỗ chiến xa đầu tiên, cho đến tận Đại Lương, vào trong vương thành!”

“Bắt ta phải ngửi mùi thối rữa của hắn suốt dọc đường ư?” Ngụy Tự chau mày.

“Muốn thành đại sự, tướng quân phải ngửi!” Thiên Hương giọng kiên định, rồi ghé tai hắn, “thiếp sẽ đi cùng!”

Cơn mưa vừa dứt, một cỗ xe mui kín gấp gáp lao khỏi Đại Lương, lăn bánh trên đồng hoang lầy lội, băng qua cánh rừng, dừng lại bên một dòng suối vắng.

Trên suối có nhịp cầu gỗ nhỏ bắc ngang, gồm bốn thân gỗ tròn kết lại, đủ cho hai người sánh vai đi qua, song xe ngựa thì không qua được.

Từ trên xe nhảy xuống một người, sải bước băng qua cầu gỗ, giẫm lên lối nhỏ rải sỏi vụn.

Con đường rải sỏi dài chưa đầy trăm bước, dẫn đến một nếp nhà hương thôn, xung quanh cây cối um tùm, hoa cỏ tươi tốt.

Người tới không phải ai khác, chính là Chu Uy đã vổ “dưỡng bệnh” nhiều năm. Ngôi nhà này là của Công Tôn Diễn. Từ khi Trương Nghi làm tướng quốc ở Đại Lương, Công Tôn Diễn đã chuyển chỗ hai lần, cuối cùng dựng nhà tại đây sinh sống.

Chu Uy chẳng còn tâm trí đâu để thưởng ngoạn phong cảnh, đi thẳng một mạch tới trước cổng gỗ sơ sài, đang định đẩy ra, lại thấy bên trong vắt hờ một vòng dây thừng. Vòng dây lỏng lẻo, chỉ để làm vì, quờ tay là tháo ra được.

Chu Uy không tháo, mà đập vào cánh cổng: “Công

Tôn huynh! Công Tôn huynh!”

Một thiếu phụ bước ra mở cửa, cúi gập người hành lễ.

Chu Uy ngỡ ngàng một lúc rồi mới hỏi: “Công Tôn Diễn có nhà không?”

Thiếu phụ cười đáp: “Tiên sinh vừa đưa khuyển tử đi câu cá.”

“Khuyển tử?” Chu Uy ngỡ ngàng nhìn thiếu phụ, “khuyển tử nào?”

“Là con trai của tiên sinh!” Thiếu phụ cười thẹn.

“Ồ?” Chu Uy sửng sốt, “ồ, thì ra... thì ra là em dâu đấy ư. Hai người... đã có quý tử?”

“Vâng, gần nửa năm rồi.”

“Ái chà, Công Tôn huynh cũng thật là, việc lớn thế này mà không hé răng một tiếng!” Chu Uy giậm chân trách cứ.

Thiếu phụ mỉm cười, vòng tay vái: “Đại nhân hãy vào phòng khách ngồi chơi, đợi tiên sinh về.”

Chu Uy lấy làm sốt ruột: “Hắn câu ở đâu?”

Thiếu phụ chỉ về phía dòng suối trước mặt: “Đại nhân cứ theo bờ suối ngược lên, sẽ thấy tiên sinh.”

Chu Uy vội vã đi ngay, men theo bờ suối đi chừng năm dặm, đến một quãng lượn, quả nhiên thấy Công Tôn Diễn đứng nghiêm trang bất động dưới tán cây, một tay cầm cần câu, một tay bế một đứa trẻ đang ngủ say sưa.

Thấy Chu Uy, Công Tôn Diễn ném luôn cần câu, tiến lại vài bước vái chào: “Chu đại nhân, Tê Thủ có lễ!”

Chu Uy không đáp lễ, hai tay đỡ lấy đứa trẻ, ngắm qua ngắm lại một hồi, lại nhìn sang Công Tôn Diễn.

“Đại nhân bất tất phải so sánh,” Công Tôn Diễn rút từ bên hông ra một bầu hồ lô bằng đồng, ngửa cổ uống một ngụm, cười nói, “đứa trẻ này là do tại hạ nặn ra, không nhờ ai khác!”

“Thực không thể ngờ,” Chu Uy xuýt xoa, rồi vừa bế đứa trẻ vừa vòng tay nói, “tại hạ có lời chúc mừng!” Lại hất hàm về phía đứa trẻ, “tên gì?”

“Tê Giác.”

Chu Uy phì cười: “Tê Thủ độc giác, hay lắm!”

“Nói đi, đại nhân,” Công Tôn Diễn ngửa cổ đổ thẳng ngụm rượu vào họng, “việc gì?”

“Chiến bại nữa rồi.”

“Đã biết!”

“Bàng tướng quân tuẫn quốc rồi.”

“Đã biết!”

“Điện hạ...”

“Cũng đã tuẫn quốc.”

“Than ôi...” Chu Uy thở dài thườn thượt, nhìn xuống dòng nước.

“Đại nhân lội bùn tới tận cửa, chỉ là để than một tiếng này ư?” Công Tôn Diễn đưa bầu rượu cho Chu Uy, đón lấy đứa trẻ từ trong tay ông ta.

Chu Uy uống một ngụm, môi mím chặt, nhìn trân trân vào Công Tôn Diễn: “Công Tôn huynh, tại hạ tới đây là muốn mời tiên sinh xuất thủ. Tiên sinh phải cùng tại hạ trở về, vào cung yết kiến quân chủ!”

“Yết kiến để làm gì?”

“Xoay làn sóng dữ!” Chu Uy bừng bừng kích động, “Đại Ngụy ta... ta...” chợt ho sặc sụa.

“Uống thêm chút nữa, cho hạ hoả!” Công Tôn Diễn nhướng mắt nhìn bầu rượu.

Chu Uy lại uống vài ngụm, kìm cơn ho xuống: “Công Tôn huynh, Đại Ngụy ta... không thể để Trương Nghi tiếp tục gây họa nữa. Tiên sinh phải về, ta sẽ liều cả mạng già này để tiến cử tiên sinh, đuổi Trương Nghi đi, cứu vớt lấy xã tắc trong cơn nghiêng ngả!”

Công Tôn Diễn lấy lại bầu rượu, uống một ngụm, chép miệng thật lớn, rồi ngoảnh mặt nhìn ra dòng nước.

“Công Tôn huynh?” Chu Uy ngỡ ngàng nhìn Công Tôn Diễn.

“Dám hỏi đại nhân, là ai đang khiến xã tắc này nghiêng ngả?” Công Tôn Diễn chợt hỏi.

“Người Tần! Trương Nghi! Và cả người Tề!”

Công Tôn Diễn lắc đầu thật mạnh.

“Không phải họ, thì là ai?” Chu Uy nhìn sững vào Công Tôn Diễn.

“Là bệ hạ của đại nhân.” Công Tôn Diễn gằn mạnh từng tiếng.

Chu Uy im bặt, hồi lâu sau mới thở dài một tiếng, từ từ ngồi phệt xuống.

Công Tôn Diễn lại giắt bầu rượu bên hông, cầm cần câu lên: “Đi thôi, đại nhân, ông đến phá rối, cá không câu được nữa rồi.” Nói đoạn sải bước đi luôn.

Chu Uy đứng dậy, đuổi theo.

“Nhờ đại nhân xách thùng giúp.” Công Tôn Diễn hất hàm về phía thùng nước bên bờ, khẽ cười, “nàng ấy thích ăn cá rán, nhưng giờ thì chỉ có thể húp nước canh thôi.”

Chu Uy xách thùng lên, thấy bên trong chỉ có vài con cá nhép dài chưa đầy gang tay.

Hai người trở về nhà, Công Tôn Diễn đặt đứa trẻ lên giường, đưa cá cho vợ nấu canh, quay trở ra sân, mời Chu Uy ngồi xuống, rồi nhặt đá cuội, que gỗ xếp thành một đồ hình rối mù.

Chu Uy nhìn mãi, mặt mày ngơ ngác.

“Đại nhân, đây chính là thiên hạ mà ông đang quan tâm.” Công Tôn Diễn chỉ vào một vị trí ở giữa đồ hình, “đây là nước Ngụy, đây là Đại Lương, xã tắc Đại Ngụy của đại nhân ở đó. Dám hỏi đại nhân, nhìn vào cục thế trước mắt, xã tắc Đại Ngụy Ngụy nhất ở đâu?”

“Tại hạ đã nói rồi, người Tần, người Tề. Một bên tây, một bên đông.” Chu Uy chỉ vào vị trí hai nước Tần, Tề.

“Điều đại nhân nói, là chuyện lâu dài, tại hạ đang hỏi chuyện trước mắt kia.”

“Ồ...”

“Ở đây!” Công Tôn Diễn chọc thẳng ngón tay xuống.

“Người Sở?” Chu Uy sửng sốt.

Ngoại ô Hạng Thành, trọng trấn phía bắc nước Sở, doanh trại trùng trùng điệp điệp dày đặc một vùng, cổng trại đặt ở chính giữa, từ cổng đi thẳng vào là tới đại trại trung quân.

Giờ gần chính Ngọ, trong trại trung quân, không khí căng như dây đàn.

Chiêu Dương ở ngôi chủ tướng, hai bên có hai người ngồi, một là giám quân Ngận Thượng, một là phó tướng Cảnh Thuý. Trên án trước mặt Chiêu Dương trải rộng một tấm bản đồ bằng vải gai quét sơn dày, trên bản đồ có ba mũi tên đỏ sẫm vẽ bằng bút chấm sơn màu, mỗi mũi tên chỉ vào một vòng tròn, lần lượt là Từ Châu, Tương Lăng, Hình Sơn.

Nhìn vào sắc diện của ba người, rõ ràng vừa trải qua một màn tranh cãi nảy lửa, đặc biệt là Cảnh Thuý, vẻ mặt tràn đầy kích động.

“Chủ tướng!” Cảnh Thuý đứng dậy khỏi chỗ, quỳ xuống trước chiếu của Chiêu Dương.

Chiêu Dương ngả người về trước, tay trái chống cằm, nheo mắt nhìn ông: “Cảnh tướng quân, có chuyện gì chăng?”

“Xin nghe mạt tướng một câu!” Giọng Cảnh Thuý gần như cầu khẩn.

“Xin cứ nói.”

“Mạt tướng một lần nữa khẩn cầu chủ tướng thu hồi Hình Sơn!”

“Nói xem, cớ sao tướng quân cứ mãi đau đáu chuyện Hình Sơn vậy?”

“Nguyên do có ba. Thứ nhất, Hình Sơn vốn là đất của ta, mười năm trước bị Bàng Quyên cướp đoạt, nước Sở trên dưới đều coi đó là quốc nhục. Thứ hai, Hình Sơn là cửa ải trọng yếu ở biên cương phía bắc, có được nơi này, sẽ uy hiếp Đại Lương, để mất nơi này, sẽ nguy tới Phương Thành. Thứ ba, hiện giờ Bàng Quyên tử trận, ba quân nước Ngụy đều ở biên giới Vệ Tề, không còn ý chí chiến đấu, ta đoạt lại Hình Sơn, mười phần chắc chín, mạt tướng dám lập quân lệnh trạng!”

“Còn gì nữa không?” Chiêu Dương nhịp ngón tay xuống án.

“Thưa, hết rồi!” Cảnh Thuý bỗng ớn lạnh trong lòng.

“Cảnh tướng quân, nói hay lắm!” Chiêu Dương ngồi thẳng dậy, đưa mắt quét ngang, “tướng quân đã nhắc đến ba nguyên do, bản tướng cũng xin đưa ra ba nguyên do. Thứ nhất, bảy mươi năm về trước, Đại Lương cũng là đất của ta, sau bị tướng Ngụy Ngô Khởi cướp mất, nước Sở trên dưới đều coi đó là quốc nhục. Thứ hai, Hình Sơn đã mất mười năm, Phương Thành tới nay vẫn sừng sững vững vàng. Thứ ba, trong mắt bản tướng, Hình Sơn chỉ là quả trứng gà, còn Tương Lăng là quả trứng vịt. Giờ đây, cả hai quả trứng đều ở trước mặt, xin hỏi tướng quân, muốn ăn trứng gà hay trứng vịt?”

Cảnh Thuý mấp máy môi, nhìn sang Ngận Thượng.

“Ngận đại nhân,” Chiêu Dương cũng đưa mắt về phía đó, dừng lại trên người Ngận Thượng, “còn như Từ Châu mà đại nhân vừa nhắc đến, là quả trứng ngỗng, trứng càng to, vị càng ngon. Có điều trước mắt, vẫn hơi bỏng tay.”

“Bỏng ở chỗ nào?” Ngận Thượng hỏi.

“Bỏng ở nước Tề. Giám quân hẳn biết, Bàng Quyên lần này chết ở trong tay ai? Điền Kỵ!”

Ngận Thượng hít ngược vào một hơi.

Chiêu Dương chỉ vào bản đồ, nói tiếp: “Ta đánh Tương Lăng, là đánh nước Ngụy, giúp người Tề trút giận, người Tề dù tức tối, ngoài mặt cũng không tiện nói gì. Nếu ta đánh Từ Châu, thì việc lại khác. Từ Châu kền kề đất Tiết, đất Tiết là đất của Tề, nghe nói Tề Vương đã phong cho Điền Anh!”

“Được!” Ngận Thượng khom lưng, cười với Chiêu Dương, vòng tay nói, “tại hạ kính cẩn theo lời chủ tướng!”

“Cảnh đại nhân?” Chiêu Dương nhìn sang Cảnh Thuý.

“Mạt tướng xin tuân lệnh chủ tướng!”

“Được lắm!” Chiêu Dương ôm quyền đáp lễ, “bản tướng đa tạ hai vị đại nhân!” Đoạn vẫy tay, chỉ vào bản đổ, “lại đây, chúng ta cùng bàn xem phải nuốt quả trứng vịt này thế nào mới không bị nghẹn!”

Cảnh Thuý đứng dậy, cùng Ngận Thượng tiến lại trước án của Chiêu Dương.

“Ngận giám quân, Cảnh tướng quân,” Chiêu Dương tươi cười nói, “Bàng Quyên chết rồi, người Ngụy không còn ai ngăn cản nổi Đại Sở ta nữa! Cảnh tướng quân,” chỉ vào bản đồ mỉm cười, “tướng quân muốn công thành hay đánh viện binh?”

Cảnh Thuý trong lòng giật thột. Công thành chiếm đất là đại công, Chiêu Dương lần này gióng trống khua chiêng âm ĩ, nếu đại công này để người khác đoạt mất, ông ta ắt sẽ không vui, nếu bày ra quỷ kế gì, thì Cảnh Thuý sẽ trở thành con dê thế tội.

Nghĩ là vậy, Cảnh Thuý ôm quyền đáp: “Mạt tướng kính cẩn nghe lệnh chủ tướng!”

“Tốt lắm!” Chiêu Dương ôm quyền đáp lễ, “Tương Lăng là toà thành cô lập, phá dễ như trở bàn tay, tướng quân có lẽ chẳng thèm nhìn đến. Vây thành là để đánh viện binh, nếu ta đánh Tương Lăng, người Ngụy kiểu gì cũng cử binh chi viện. Nếu tướng quân có thể đánh tan viện binh, ắt lập đại công.”

“Tạ ơn chủ tướng cất nhắc!” Cảnh Thuý vòng tay nói.

“Các ấp xung quanh, cũng nhờ tướng quân tiện đường thu lấy!”

“Mạt tướng tuân lệnh!”

Trong căn nhà hương thôn của Công Tôn Diễn, vài món ăn đạm bạc đã được dọn lên, Chu Uy cầm đũa nâng chén, nhưng chưa vội uống, mà cứ nhìn Công Tôn Diễn chăm chăm.

“Chu đại nhân, cạn!” Công Tôn Diễn nâng chén rượu về phía Chu Uy, rồi thong thả uống.

“Công Tôn huynh,” Chu Uy chờ Công Tôn Diễn uống xong mới lên tiếng, “theo lời tiên sinh, Chiêu Dương muốn đánh Tương Lăng?”

“Không phải muốn, mà là chắc chắn!”

“Thế thì lại không sợ. Tương Lăng thành cao hào sâu, lại có Trịnh Khắc trấn thủ!”

“Chu đại nhân, đại nhân thực sự nghĩ rằng người Sở là người Tề, Chiêu Dương là Tôn Tẫn ư?” Công Tôn Diễn rót rượu vào chén của mình, đưa mắt liếc xéo Chu Uy.

Chu Uy kinh ngạc: “Lẽ nào Chiêu Dương còn đáng sợ hơn Tôn Tẫn?”

Công Tôn Diễn bật cười: “Xem ra Chu đại nhân vừa không hiểu Tôn Tẫn, vừa không hiểu Chiêu Dương!”

“Lời này nghĩa là sao?”

“Tôn Tẫn vây Tương Lăng, mục tiêu không phải Tương Lăng. Chiêu Dương thì khác, Chiêu Dương sớm đã dòm ngó Tương Lăng, lần này sẽ quyết giành cho bằng được!”

“Tương Lăng nếu mất, nước Tống há chẳng...”

“Chính phải!” Công Tôn Diễn gật đầu, “Chiêu Dương được Tương Lăng, ý không ở Tương Lăng, mà là ở Tống. Với Ngụy, Tương Lăng là bàn đạp để tiến sâu vào giữa Tống, Sở, tiến có thể mở rộng lãnh thổ, lui có thể bảo vệ Đại Lương. Tương Lăng nếu mất, Đại Lương sẽ phơi lộ ra trước mũi giáo của người Sở!”

“Vậy phải làm sao?” Chu Uy quýnh lên.

“Còn có thể làm sao?” Công Tôn Diễn dang tay, “nước tới đất chặn, binh tới tướng ngăn. Bệ hạ Đại Ngụy của đại nhân nếu không muốn mất đi mảnh đất bàn đạp này, phải gấp gáp tăng quân trấn thủ, không thể chậm trễ!”

Chu Uy đặt luôn chén rượu xuống, buông đũa đứng dậy: “Rượu này không kịp uống nữa rồi. Tại hạ phải lập tức yết kiến bệ hạ, xin tăng quân Tương Lăng!”

Hiểu rằng thời gian gấp gáp, Công Tôn Diễn không giữ, bèn tiễn Chu Uy ra cửa, qua cầu gỗ, đợi Chu Uy lên xe rồi, mới vòng tay từ biệt: “Chúc đại nhân thành công!”

Khi đoàn chiến xa chở thi thể của Ngụy Thân, Bàng Quyên, Thanh Ngưu đi qua cổng thành Đại Lương, gần như toàn bộ thần dân trong thành đều kéo tới, ai cũng mặc áo sô đội khăn tang, lặng lẽ quỳ rạp hai bên đường lớn.

Không một tiếng khóc, không một tiếng than, chỉ có thương đau bất tận. Ngụy Tự đang vịn quan tài Ngụy Thân cũng ứa nước mắt. Thiên Hương cải trang thị vệ đi bên Ngụy Tự khẽ đẩy một cái, thì thào: “Công tử, lát gặp đại vương, đã nhớ phải nói gì chưa?”

“Nàng đã nhắc ta ba lần rồi đấy!”

“Thiếp chỉ vì muốn tốt cho công tử. Thời khắc then chốt, phải hết sức cẩn trọng, sẩy một ly, đi một dặm, công tử nói sai một câu, hậu quả ắt...” Thiên Hương úp mở.

Trong ngự thư phòng, sớm đã có người bẩm báo lên Ngụy Huệ Vương.

Huệ Vương không ra đón, cũng không khóc than.

Huệ Vương vẫn ngồi trên chiếu, bất động hoàn toàn, như một pho tượng.

“Đại vương,” tỳ nhân khẽ gọi, “công tử Tự đã về đến, đang đợi ngoài cửa!”

Huệ Vương vẫn không nhúc nhích.

Bóng nắng dịch chuyển.

Ngụy Tự quỳ ở ngoài cửa, lòng như lửa đốt.

“Đại vương?” Không biết bao lâu sau, tỳ nhân lại gọi.

“Cho vào!” Huệ Vương khó nhọc phẩy tay.

Ngụy Tự tiến vào, bước chân loạng choạng, còn chưa tới cửa điện đã quỳ sụp xuống, lê gối vào trong, cất giọng bi thiết: “Phụ... vương...” Đoạn gào khóc nức nở.

Huệ Vương chỉ vào chỗ bên cạnh.

Tỳ nhân đỡ Ngụy Tự dậy, dìu đến chỗ ngồi.

“Nói đi, Quyên Nhi, Thân Nhi đã chết thế nào?” Huệ Vương cất giọng đều đều, nhưng không giấu được bi thương.

“Phụ vương,” Ngụy Tự bật khóc thất thanh, “Bàng tướng quân, và cả Thân huynh, đều... đều đã bị người Tề bắn chết. Nhi thần đuổi tới đất Tề, đến Chân Thành thì nghe nói Tôn Tẫn, Điền Kỵ dẫn tàn quân tháo chạy về phía Lâm Truy, Bàng tướng quân và Thân huynh đang truy kích, thì cũng đuổi gấp theo sau. Được hơn trăm dặm, nghe kỵ mã về báo, Bàng tướng quân bắt được một người Tề, mới biết tàn quân tháo chạy trên đường đều là dân thường chạy nạn, còn tàn quân thực của Điền Kỵ đã chạy về hướng Cao Đường. Bàng tướng quân hạ lệnh lộn lại Chân Thành. Nhi thần nghe vậy, vô cùng lo lắng, thầm nghĩ, đại quân Điền Kỵ đã chạy tới Cao Đường, thành Lâm Truy đang bỏ trống, cớ sao chúng ta không đuổi thẳng tới Lâm Truy, bắt sống Tề Vương? Bởi đó, nhi thần mới gấp gáp đuổi theo, muốn can Bàng tướng quân.”

Huệ Vương càng nghe càng thắt ruột, mắt nhìn Ngụy Tự trân trân.

“Phụ vương, chỉ cần đánh tới Lâm Truy, Điền Kỵ đâu dám không tới cứu? Tới lúc đó, vốn không cần truy đuổi, Điền Kỵ, Tôn Tẫn cũng phải tự động dẫn xác tới. Chúng ta lấy nhàn đối nhọc, muốn không thắng cũng khó!”

Huệ Vương hít sâu một hơi, nhìn trừng trừng vào Ngụy Tự: “Vậy là Bàng Quyên...”

“Nhưng Bàng tướng quân chỉ một lòng mong giao chiến, chăm chăm muốn bắt sống Tôn Tẫn, Điền Kỵ, chứ không phải muốn bắt sống Tề Vương. Bàng Quyên là chủ tướng, nhi thần là phó tướng, Bàng tướng quân bảo đi về phía bắc, nhi thần nào dám đi về phía đông. Để đuổi được nhanh, Bàng tướng quân còn lệnh cho vứt bỏ quân nhu, đích thân thống lĩnh năm nghìn quân hổ bôn, quay đầu trở lại Chân Thành, nhi thần lại khổ sở khuyên can, nhưng Bàng tướng quân nào có chịu nghe. Than ôi phụ vương, Bàng tướng quân bị ma xui quỷ khiến mất rồi, chỉ một lòng muốn bắt sống Tôn Tẫn, báo thù Quế Lăng...” Ngụy Tự lại khóc rống lên thảm thiết.

Huệ Vương thở dài não nuột, nhắm nghiền mắt lại.

“Phụ vương,” Ngụy Tự nói tiếp, “lúc Bàng tướng quân sắp lên đường, nhi thần có nói, đối phó với người Tề, không thể nóng vội, trận Quế Lăng năm xưa, vết xe đổ vẫn còn nguyên đó! Nhưng Bàng tướng quân nhất quyết không nghe! Bàng tướng quân không những không nghe, còn hạ lệnh tăng tốc đuổi gấp. Hổ bôn là quân tinh nhuệ, xe ngựa đều là thượng đẳng, chạy rất nhanh. Nhi thần dẫn đại quân đuổi gấp theo sau, nhưng không tài nào theo kịp. Mắt thấy trời đã tối sập, trước mặt là Mã Lăng. Nhi thần hỏi thăm dân quê, biết được Mã Lăng là khe núi hẹp, lại thấy trời tối mịt, bèn xuống lệnh hạ trại, một mặt sai thám mã lên gọi Bàng tướng quân. Đến khi thám mã quay về, trời đã sáng bảnh, nhi thần mới biết chuyện ở Mã Lăng. Nhi thần... lửa giận bừng bừng, toan dẫn quân xông lên liều mạng với người Tề thì tướng quốc tới kịp. Tướng quốc khăng khăng giữ nhi thần lại, nên nhi thần...”

“Trương Nghi đâu rồi?”

“Nghe nói đã lao lực mà đổ bệnh!”

“Thân Nhi không vào Mã Lăng, cớ sao lại bị người Tề bắn chết?”

“Nhi thần cũng lấy làm quái lạ, Thân huynh lúc đó chưa kịp đuổi vào trong khe, cớ sao... cớ sao lại chết trong tay người Tề được? Nhi thần vội vã tìm đến ngoài khe Mã Lăng dò la, thì thấy Thân huynh cùng đội thị vệ dẫn đầu... đã không còn ai sống sót. Nhất là Thân huynh, chỉ trúng phải một mũi tên, nhưng là mũi tên tẩm độc. Mũi tên ấy, người Tề đã cố tình dành riêng cho Thân huynh. Than ôi, Thân huynh...” Ngụy Tự lại gào khóc thảm thiết.

“Thân Nhi...” Ngụy Huệ Vương cũng nước mắt thành dòng, rít qua kẽ răng, “người Tề... người Tề đã sát hại Thân Nhi của trẫm!” Sắc mặt tím tái, Huệ Vương quay sang gọi lớn, “tỳ nhân!”

Tỳ nhân vòng tay: “Có lão nô!”

“Truyền chỉ ba quân, phạt Tề!” Ngụy Huệ Vương gằn mạnh từng tiếng.

Tỳ nhân nhìn sang Ngụy Tự.

Ngụy Tự hiển nhiên cũng hết sức bất ngờ, đờ người kinh hãi.

“Bệ hạ,” tỳ nhân chớp mắt vài cái, “truyền chỉ cho ai?”

“Ba quân!”

“Ồ...” Tỳ nhân lúng túng, “ai là chủ tướng?”

“Quả nhân!” Ngụy Huệ Vương đứng bật dậy khỏi chỗ, nhìn trừng trừng vào Ngụy Tự, “chiếu cáo thần dân cả nước, quả nhân thân chinh phạt Tề, quyết chém đầu Điền Nhân Tề, Điền Tích Cương để tế Bàng tướng quân, Thân Nhi, cùng năm nghìn quân hổ bôn của ta!”

Ngụy Tự bàng hoàng chết lặng.

Trong phủ tướng quốc rộng thênh thang, toạ lạc trong hậu viện là một từ đường. Từ đường hoàn toàn trống trải, chỉ bày một linh vị duy nhất, của Bàng Quyên. Trên án trước linh vị bày biện đồ cúng tế.

Trương Nghi mình mặc áo tang, ngồi đối diện với linh vị Bàng Quyên, hai mắt khép hờ, trước mặt đặt một bàn cờ, trên bàn cờ đã bày khá nhiều quân đen trắng.

Không biết đã ngồi như vậy bao lâu, Trương Nghi mới đứng dậy, đi tới đi lui trước linh vị Bàng Quyên.

“Bàng huynh,” Trương Nghi dừng bước, nhìn sững vào bài vị của Bàng Quyên, “huynh nói xem, trong ván cờ này, chúng ta rốt cuộc đã thua ở đâu, lại còn thua thật thảm hại!”

Linh vị lạnh lẽo, linh đường vắng tanh, chỉ có dăm ngọn nến phía trước linh vị khe khẽ bập bùng theo cơn gió nhẹ lách vào qua khe cửa.

“Bàng huynh, hai ta hãy sắp bàn cờ, chơi lại từ đầu!” Trương Nghi quay trở lại bên bàn cờ, ngồi xuống, gạt hết quân cờ xuống đất, để lại bàn cờ trống trơn, “hai chúng ta cầm quân đen, Tô huynh, Tôn huynh cầm quân trắng.” Đoạn tách riêng quân đen, quân trắng, nhặt lấy một quân đen, đặt xuống một góc bàn cờ, “đây là Trịnh Thành, Bàng huynh đi trước một nước!” Nhặt lên một quân trắng, đặt xuống một góc khác, “đây là Đại Lương, Tô huynh, Tôn huynh ứng chiến, bản cũ soạn lại.” Rồi cứ lần lượt hết hạ quân đen lại hạ quân trắng, lẩm bẩm một mình, “đây là kho lương của Tô Tần, tại hạ đi cờ, đây là Đại Lương, Tôn huynh rút quân, đây là Trịnh Thành, Bàng huynh điều quân quay lại, đây là nước Tống, tại hạ đi cờ, người Tống không cho người Tề qua ải, đây là Đại Lương, Bàng huynh dẫn quân truy kích, đây là biên giới Ngụy Tống, người Tề cạn lương, Tôn huynh giết ngựa, đây là đường cái quan Vệ Ngụy, Bàng huynh theo đường tắt truy kích. Đây là Chân Thành, Tôn huynh dẫn tàn quân chạy về Cao Đường, Bàng huynh truy kích, đây là Mã Lăng...”

Trương Nghi chợt khựng lại, hai mắt nhắm nghiền.

“Lẽ nào...” Trương Nghi như sực nghĩ ra, nửa như nói với Bàng Quyên, nửa như tự nhủ với mình, “lẽ nào lại là khổ nhục kế của Tô huynh và Tôn huynh?” Trong lòng chợt lạnh toát, “phải rồi, Bàng huynh, chúng ta lại trúng kế nữa rồi. Tôn huynh không thua, mà là giả thua. Lương thảo là do Tô huynh cố tình để chúng ta thiêu huỷ, ngựa, họ cố tình giết ăn, bếp, họ cố tình sắp đặt. Nếu đã cạn lương, phải ăn thịt ngựa, trên đường hành quân, cách nhanh nhất tiện nhất là nướng thịt ăn, cớ sao Tôn huynh lại bắt họ xếp nhiều bếp vậy để làm gì? Trước đã vây Lương cứu Triệu, dựa theo tài trí của Tôn huynh, không thể nào diễn lại trò cũ, lại tới vây Lương. Tôn huynh bao vây, chỉ có một cách lý giải, đó là dọn sẵn đường cho cách ứng chiến của chúng ta, có nghĩa là, đã chuẩn bị sẵn sàng cho chúng ta tới thiêu huỷ lương thảo. Quân Tề rút lui, không đi đường tắt, cố tình theo đường Ngoại Hoàng rút về nước Tống, chính là vì bắt thóp tại hạ sẽ du thuyết nước Tống, nên mới cố tình tạo ra chướng ngại. Quân Tề ba lần dựng bếp, số bếp giảm dần, chính là cố tình tạo ra giả tượng toàn quân tan rã. Nếu không phải vậy, quân Tề vào được đất Tề, hẳn đã được tiếp lương thực, cớ sao vẫn còn giết ngựa? Tô huynh, Tôn huynh đều biết Bàng huynh đa nghi đa mưu, dụng binh cẩn trọng, nên trên đường chạy về Cao Đường mới cố tình vứt bỏ quân nhu, biến giả thành thật...”

Trương Nghi bất giác rùng mình ớn lạnh: “Chuyện này tuyệt đối có thể, Bàng huynh! Tại hạ không hiểu Tôn huynh, song hiểu Tô huynh. Trong Quỷ Cốc, tại hạ si mê sư tỷ, mỗi khi tình ý dâng trào, đều thổ lộ với Tô huynh, nào ngờ Tô huynh không biết bằng cách nào lại đã âm thầm chiếm mất trái tim sư tỷ. Tại hạ mất Sở, khốn cùng vất vưởng chạy tới Hàm Đan nương nhờ Tô huynh, nào ngờ lại bị Tô huynh khiến cho nhục nhã ê chề. Tại hạ ôm hận chạy sang Tần, nào ngờ tất cả đều là nước cờ do Tô huynh sắp đặt! Cuộc chiến lần này, hai ta cứ ngỡ mình ở chỗ tối, Tô huynh, Tôn huynh ở chỗ sáng, nào ngờ kẻ ở chỗ sáng, lại là huynh đệ chúng ta! Chao ôi, hoài bão nhường này, đại lược nhường này, nghiêm cẩn nhường này, trả giá nhường này, Bàng huynh ơi, không biết Bàng huynh nghĩ sao, chứ tại hạ phục rồi!” Đứng bật dậy, đi đi lại lại vài vòng trước linh vị Bàng Quyên, bất chợt ngửa cổ hú dài, “hỡi ôi, Trương Nghi ta... phục rồi...”

Trương Nghi đang lúc than ngắn thở dài, chợt có tiếng bước chân dồn dập lại gần, quản gia trong phủ đứng ngoài cửa khẽ giọng bẩm báo: “Chúa công, công tử Tự tới, nói rằng có việc gấp cần tìm!”

Trương Nghi mở cửa, đi tới phòng khách.

Ngụy Tự kể lại một lượt chuyện Ngụy Vương nổi cơn thịnh nộ, hạ lệnh ba quân viễn chinh nước Tề, cuối cùng lo lắng nói: “Trương tướng quốc, phụ vương còn muốn đích thân làm chủ tướng!”

Trương Nghi chau mày, ngẫm nghĩ chốc lát rồi đáp: “Công tử, đi thôi, cùng tại hạ nhập cung một chuyến!”

Trương Nghi, Ngụy Tự vội vã tới cung Ngụy, thấy Ngụy Huệ Vương đã giáp trụ chỉnh tề, khí thế hừng hực, đang đứng trong sân, tay cầm thanh trường thương đã nhiều năm rồi không động đến.

Trương Nghi khấu bái: “Thần khấu kiến đại vương!”

“Trương ái khanh, khanh tới thật đúng lúc. Điền Nhân Tề dùng mưu hèn sát hại thái tử của quả nhân, thủ đoạn tàn nhẫn, chuyện này mà nhẫn nhịn được, thì còn chuyện gì không nhẫn nhịn được! Quả nhân thề với trời cao, không đội trời chung với hắn!” Ngụy Huệ Vương nói đoạn, dận mạnh cán thương xuống nền gạch đánh chát.

“Thần...”

Chữ “thần” vừa mới thốt ra khỏi miệng Trương Nghi, đã bị Ngụy Huệ Vương chặn đứng: “Ái khanh bất tất nhiều lời, nghe chỉ!”

“Thần nghe chỉ!”

“Ý quả nhân đã quyết, ba ngày sau, viễn chinh nước Tề, quyết chiến cùng Điền Nhân Tề. Trong lúc quả nhân viễn chinh, mọi việc trong triều tạm giao cho ái khanh xử trí!”

“Thần có tấu!” Đợi Huệ Vương dứt lời, Trương Nghi dập đầu hô.

“Cứ nói!”

“Bầu trời không thể một ngày không có mặt trời, nước không thể một ngày không có vua. Điện hạ đã tuẫn thân vì nước, đại vương nếu lại thân chinh, tạp sự bên ngoài không đáng ngại, song nội sự trong cung, bảo thần phải quyết đoán thế nào? Hơn nữa, hiện đang lúc công việc bề bộn, quân Tề phạm ta, liệt quốc rục rịch nổi dậy, triều đình nếu không có đại vương toạ trấn, muôn sự bất ngờ, thần thực không dám tưởng!” Trương Nghi cất giọng khẩn thiết.

Vừa nghe nói tới “nội sự trong cung”, Huệ Vương lập tức trấn tĩnh ngay lại, trầm ngâm chốc lát, rồi nhìn thẳng vào Trương Nghi: “Theo ý ái khanh, thù lớn không cần báo? Người Tề không cần phạt?”

“Cần phạt!”

“Nhưng ai phạt?” Huệ Vương nhìn trừng trừng vào Trương Nghi.

“Thần Trương Nghi!”

“Ái khanh?” Huệ Vương kinh ngạc.

“Đại vương,” Trương Nghi bình thản đáp, “khi ở Tần, thần chịu mệnh Tần Vương viễn chinh Ba Thục, mười tháng thành công, Ba Thục nay đã là đất Tần.”

“Phải!” Ngụy Huệ Vương sải một bước lên phía trước, đỡ Trương Nghi dậy, nắm chặt tay hắn, “Trương ái khanh, quả nhân tin ái khanh! Quả nhân lệnh cho ái khanh làm chủ tướng, Ngụy Tự làm phó tướng, khởi binh cả nước, chinh phạt Lâm Truy, báo thù cho thái tử!”

Trương Nghi lùi lại một bước, vòng tay đáp: “Thần xin lĩnh mệnh!”

Trương Nghi, Ngụy Tự đang chuẩn bị lui, tỳ nhân tiến vào bẩm báo: “Đại vương, Chu thượng khanh tới!”

Ngụy Huệ Vương không ngờ Chu Uy lại tìm tới đúng vào thời khắc này, có phần kích động: “Mau, mời Chu ái khanh vào!”

Chu Uy vừa bước vào, chưa kịp khấu bái, Huệ Vương đã vội bước tới, nắm tay giữ lại: “Ái khanh, quả nhân...” Rồi đưa tay gạt lệ.

Chu Uy nhìn Huệ Vương một thân giáp trụ, thì nước mắt ứa ra, giọng nghẹn lại: “Đại vương...”

“Ái khanh tới thật đúng lúc. Quả nhân chuẩn bị phạt Tề, sống mái một phen với Điền Nhân Tề.” Huệ Vương chỉ sang Trương Nghi, “Trương tướng quốc sẽ nhận ngôi chủ tướng, còn lương thảo quân nhu, trách nhiệm này, ngoài ái khanh ra, không ai có thể đảm đương!”

“Đại vương, thần tới đây, là vì một chuyện còn quan trọng hơn cả phạt Tề!” Chu Uy cất giọng gấp gáp.

“Chuyện gì?”

“Người Sở!”

“Người Sở làm sao?” Huệ Vương nhìn sững vào Chu Uy.

“Người Sở đồn quân, muốn chiếm Tương Lăng. Tương Lăng là bình phong phía đông nam của ta, địa thế trọng yếu, tuyệt đối không thể để mất!”

“Người Sở? Tương Lăng?” Ngụy Huệ Vương chau tít đôi mày, ngẫm nghĩ một lát rồi nhìn sang Trương Nghi, “người Sở muốn đánh Tương Lăng?”

“Thần chưa nghe báo, không biết Chu đại nhân...” Trương Nghi nhìn sang Chu Uy.

Huệ Vương cũng nhìn sang: “Chu ái khanh nghe ai nói vậy?”

“Công Tôn Diễn!”

“Công Tôn Diễn?” Huệ Vương nheo mắt, “sao hắn biết?”

“Ồ...” Chu Uy ngắc ngứ, “thần cũng không biết, là hắn... suy đoán!”

“Há có lý này!” Huệ Vương giận dữ, “người Tề bao vây Đại Lương ta, giết chết thái tử ta, cớ sao hắn không suy đoán?”

“Đại vương?” Chu Uy cuống lên.

“Chu ái khanh,” Huệ Vương đanh giọng, “chớ có nhiều lời!” Quay sang Trương Nghi, “Trương ái khanh, rút lấy một vạn quân tinh nhuệ từ Tương Lăng, tạm thời thế vào chỗ năm nghìn quân hổ bôn! Còn nữa, mau phái sứ giả, đi mượn binh Tần!”

“Thần lĩnh chỉ!” Trương Nghi vòng tay đáp.

“Đại vương!?” Chu Uy bàng hoàng.

“Chu Uy, Trương Nghi, lập tức lĩnh chỉ.” Huệ Vương phẩy tay, gần như gầm lên, “san bằng đông di, bắt sống Điền Nhân Tề!”

Ba người lui khỏi ngự thư phòng.

Ra tới ngoài cổng, Chu Uy giận dữ nhìn Trương Nghi, “hừm” một tiếng, sải bước bỏ đi luôn. Trương Nghi nhìn theo bóng ông ta, cười nhăn nhó, rồi đi theo sau.

Ngụy Tự đuổi lên trước, khẽ giọng hỏi: “Tướng quốc, cớ sao lại vâng lời phụ vương dễ dàng như vậy?”

Trương Nghi nhìn Ngụy Tự, bình thản nói: “Công tử đứng ngay bên cạnh, cớ sao không lên tiếng khuyên can?”

“Ta...” Ngụy Tự cứng họng.

“Đại vương đã giận dữ tới mê muội! Tại hạ nếu không vâng chỉ, sao có thể làm nguôi cơn giận của đại vương? Đại vương giận dữ không nguôi, tổn thương long thể, sự việc há chẳng càng thêm rắc rối?” Trương Nghi giải thích.

“Tướng quốc muốn nói, chúng ta sẽ không phạt Tề thực?” Ngụy Tự nôn nóng hỏi.

“Ai nói không thực?” Trương Nghi ném lại một câu rồi sải bước bỏ đi.

“Ồ...” Ngụy Tự mặt ngây như phỗng, đứng đực tại chỗ, vò đầu bứt tai.

Phủ Vũ An Quân chìm trong tang tóc.

Linh đường bày trong từ đường, chính là khu nhà nơi Bàng Quyên đã dùng đầu Thích Quang để tế Bàng Hành. Cỗ quan tài gỗ bách đen trũi kê chính giữa sân là do Bàng Thông mua về. Hắn không thể dùng cỗ quan tài của người Tề để mai táng Bàng Quyên.

Ba quân tướng sĩ yêu kính Bàng Quyên, trên tới tướng, uý, dưới tới sĩ tốt, đều lũ lượt kéo đến điếu viếng, xếp thành hàng dài đến tận phố lớn, rồng rắn vắt qua hai con phố. Tất cả đều mặc áo tang, người người nối đuôi nhau bước vào trong cổng, người người nối đuôi nhau lê gối tới linh đường, quỳ trước quan tài Bàng Quyên, khấn vái, dập đầu vĩnh biệt.

Xung quanh lặng phắc như tờ, không hề có tiếng khóc hờ. Toàn bộ tướng lĩnh đều hiểu rõ, chủ tướng của họ xưa nay không muốn nghe tiếng khóc.

Chứng kiến cảnh tượng này, Trương Nghi chấn động tâm can.

Trương Nghi chầm chậm bước vào theo lối đi mà tướng sĩ vừa dạt ra nhường đường, đi dọc theo đoàn người lặng phắc áo sô trắng toát, bước về phía linh đường.

Bàng Thông bước ra đón, giọng khàn đặc, vòng tay nói: “Tướng quốc đại nhân, đại ca tôi đợi đại nhân lâu lắm rồi!”

Đám quân sĩ đang tế lễ tự động nhường lối, chừa ra chỗ trống cho Trương Nghi.

Trương Nghi bước lại trước quan tài, không quỳ không lạy, không vái không lễ, chỉ nhìn trân trân vào quan tài hồi lâu không chớp mắt.

Cuối cùng, Trương Nghi chìa tay về phía Bàng Thông: “Rượu đâu!”

Bàng Thông mang rượu tế và chén chân cao lại.

“Đổi bát!” Trương Nghi chẳng buồn nhìn, nói thêm một câu, “phải là bát sành, loại to nhất!”

Bàng Thông mang lại một cái bát sành cỡ lớn.

“Bốn bát!”

Bàng Thông lại mang thêm tới ba cái bát.

Trương Nghi ngồi xuống, bưng hũ rượu lên, ồng ộc rót xuống, cả hũ rượu chỉ rót đầy được hai bát. Trương Nghi lại chìa tay ra, Bàng Thông lập tức đưa thêm một hũ rượu, Trương Nghi tiếp tục rót đầy hai bát còn lại.

Nhìn bốn bát lớn đầy tràn rượu đục, Trương Nghi bỗng nước mắt ròng ròng.

Bàng Thông cũng chảy nước mắt. Toàn bộ tướng sĩ có mặt nhất tề bật khóc.

Trương Nghi không nói không rằng, mặc cho nước mắt giàn giụa trên mặt, bưng một bát rượu lên, tưới xuống quan tài, rồi đập bát vỡ choang. Trương Nghi lại bưng một bát nữa lên, ngửa cổ ừng ực một hơi cạn sạch, lại ném. Hai bát còn lại, Trương Nghi mỗi tay bưng một bát, cẩn thận đặt xuống phía trước quan tài.

Đoạn, Trương Nghi ngoảnh nhìn sang Bàng Thông: “Bàng Thông, từ nay trở đi, ngươi sẽ là em trai của ta!”

Bàng Thông quỳ sụp xuống, bật khóc thành tiếng:

“Nghi huynh...”

“Thông đệ, đến thư phòng của đại ca ngươi, mang một cuốn sách lại đây!”

“Sách nào kia?”

“Cuốn sách mà đại ca ngươi trân quý nhất!”

Bàng Thông chạy đi như bay, chốc lát sau, ôm theo một chiếc hộp tinh xảo quay trở lại, đưa cho Trương Nghi.

Trương Nghi thong thả mở ra, chính là cuốn “Ngô Tử binh pháp” do Trương Nghi năm xưa đọc cho Bàng Qyyên chép lại.

Trương Nghi mở cuốn sách, chậm rãi trải ra từng tấm thẻ tre. Trải xong, Trương Nghi cũng lấy từ trong ngực áo ra một cuốn sách, rồi cũng trải ra từng thẻ y như vậy.

“Bàng huynh,” Trương Nghi bày hai cuốn thẻ tre trên án, lầm rầm khấn trước quan tài, “huynh đã nhìn kỹ chưa? Nếu đã nhìn kỹ rồi, Nghi có lời muốn nói!”

Trương Nghi cuộn hai cuốn thẻ tre lại như cũ, để cạnh nhau trên án, hướng vào quan tài: “Bàng huynh, có một chuyện, tại hạ tới nay vẫn giấu huynh.” Rồi cầm lấy cuốn thẻ tre vừa mang đến, “chính là cuốn sách này. Không phải bị lợn rừng tha đi, mà là bị tại hạ lấy mất. Tại hạ không có ý gì khác, chỉ là muốn trêu đùa... Tại hạ có lỗi với Bàng huynh! Chuyện ở trong cốc, ai cũng có đúng, ai cũng có sai, đến ngày hôm nay, hãy để gió cuốn đi tất cả. Còn như cuốn sách này, là tiên sinh tặng cho Bàng huynh, hôm nay tại hạ sẽ trả lại cho Bàng huynh. Cuốn sách cũ của tiên sinh, tiên sinh đã sai đại sư huynh đốt đi lâu rồi. Cuốn sách Bàng huynh chép trộm, và cả cuốn sách Bàng huynh chép lại, đều đã bày cả ở đây, tại hạ không cất giữ nữa. Còn nữa, Bàng huynh hãy yên tâm, trí nhớ của tại hạ không tốt, tại hạ cũng không hào hứng với binh thư, những gì chép ở trong sách, mười phần sớm đã quên mất tám chín. Nay trước mặt Tô huynh, Tôn huynh, tại hạ xin trả lại toàn bộ cho Bàng huynh! Từ nay về sau, trên đời sẽ không còn ‘Ngô Tử’ nữa, ‘Ngô Tử’ chỉ là của một mình Bàng huynh mà thôi!”

Trương Nghi chậm rãi đứng dậy, cầm lấy giá nến trước linh vị, gác hai cuốn thẻ tre qua miệng chậu than, rưới hai bát rượu còn lại lên trên bó thẻ, rồi châm lửa.

Lửa bốc rừng rực, nhất đại binh thư “Ngô Tử binh pháp” hai cuốn, chỉ trong khoảnh khắc đã hoá tro tàn.

Nhìn tro bay khói tắt, Trương Nghi thở dài một tiếng, lần lượt đập vỡ hai cái bát sành còn lại, đoạn sải bước bỏ đi.

Bàng Thông tiễn chân, vừa ra khỏi cổng sân, một thị nữ đã sấp ngửa đuổi theo tới nơi, vừa chạy vừa la lớn: “Tướng quốc đại nhân, xin dừng bước!”

Trương Nghi dừng lại, ngoảnh nhìn thị nữ.

Thị nữ thở hổn hển: “Đại... đại nhân, phu nhân... có lời mời!”

Trương Nghi nhìn sang Bàng Thông, Bàng Thông vòng tay đáp: “Chị dâu đau thương quá độ, một canh giờ trước ngã bệnh, tiểu đệ vừa mới sai người đi mời y sư trong cung tới chữa trị thì Nghi huynh tới. Chắc hẳn chị dâu hay tin Nghi huynh ghé thăm nên có lời muốn nói chăng!”

Hai người bèn theo thị nữ tới khu nhà chính, đã thấy Thụy Liên mình mặc áo tang ngồi ngay ngắn đó đợi sẵn, đứng hầu bên cạnh là một lão y sư.

Trương Nghi vái dài: “Nghi bái kiến tẩu phu nhân!”

Thụy Liên đứng dậy đáp lễ: “Tiểu nữ bái kiến tướng quốc đại nhân!”

“Bàng huynh tận trung báo quốc, cả nước xót thương, Nghi cũng đau buồn khôn xiết, nên tới đây bái biệt Bàng huynh, cũng mong tẩu phu nhân nén đau thương, bảo trọng phượng thể!” Trương Nghi lại vái một vái.

“Tướng quốc đại nhân,” giọng Thụy Liên tuy điềm tĩnh, song thanh âm khàn đặc, “đại nhân và tướng công có mối thâm giao, tiểu nữ cho người mời đại nhân dừng bước, là có một chuyện muốn nói với đại nhân!”

“Tẩu phu nhân xin cứ nói!”

“Y sư,” Thụy Liên nhìn sang ngự y, “ông nói đi!”

“Xin bẩm báo với tướng quốc đại nhân một chuyện vui,” lão y sư vái dài, “phu nhân Vũ An Quân đã có tin mừng, đoán qua mạch tượng, hẳn là quý tử!”

Đây hiển nhiên là tin đại hỷ!

Trương Nghi, Bàng Thông đưa mắt nhìn nhau, cùng lộ vẻ vui mừng.

“Bàng huynh, Bàng huynh,” Trương Nghi vòng tay hướng lên trời, “tại hạ có lời chúc mừng!” Quay sang Thụy Liên, vái một vái thật sâu, “Nghi kính cẩn chúc mừng tẩu phu nhân. Nghi và Bàng huynh vốn là đồng môn, tình như huynh đệ, tới nay Nghi vẫn chưa có người nối dõi, chờ tẩu phu nhân mãn Nguyệt khai hoa, Nghi muốn nhận con trai Bàng huynh làm nghĩa tử, mong tẩu phu nhân cho phép!”

“Tiểu nữ đồng ý! Tiểu nữ cùng đứa trẻ trong bụng tạ ơn tướng quốc đại nhân thương xót!” Thụy Liên vái đáp lễ.

Từ Bàng phủ trở về, Trương Nghi còn chưa kịp thở lấy một hơi, đã có hai người từ phòng khách bước ra đón, một là công tử Hoa, một là Sư Lý Tật.

Trương Nghi tươi cười, mời hai người ngồi xuống.

Sư Lý Tật không nhiều lời, sau khi hàn huyên dăm câu, liền lấy từ trong tay áo ra một đạo vương chỉ, không tuyên đọc như thường lệ mà đưa luôn cho Trương Nghi. Trương Nghi mở ra đọc, thấy trong đó viết rằng, Tần Huệ Vương đã biết chuyện Mã Lăng, nước Ngụy hết sức quan trọng với Tần, căn dặn Trương Nghi hãy dốc sức chống đỡ, nếu như cần thiết, Tần sẽ trợ lực.

Chỉ vừa mới đó, Tần Vương không những biết rõ toàn bộ sự biến Mã Lăng, lại còn kịp thời phát đi vương chỉ, Trương Nghi vô cùng kinh ngạc, cuộn vương chỉ lại, dựng ngón tay cái với công tử Hoa.

Công tử Hoa ôm quyền nói: “Còn một việc nữa, tướng quốc hẳn rất quan tâm.”

“Là chuyện người Sở ư?”

Công tử Hoa sửng sốt: “Tướng quốc đã biết rồi?”

“Công tử cứ nói.”

“Người Sở muốn nhân cháy nhà hôi của, Chiêu Dương đích thân làm chủ tướng, phát mười sáu vạn đại quân, chủ lực đóng tại Hạng Thành!”

“Mục tiêu là Tương Lăng!” Trương Nghi bình thản đáp.

“Tướng quốc tai mắt quả nhiên nhanh nhạy!” Công tử Hoa vô cùng thán phục, “người Sở hành động hết sức bí mật, Chiêu Dương ba ngày trước đã lặng lẽ tới Hạng Thành, đến cờ cũng không giương, tại hạ cũng chỉ mới vừa nhận được tin báo!”

“Tai mắt nhanh nhạy là người khác, không phải tại hạ!” Trương Nghi đáp.

“Ai kia?” Công tử Hoa vội hỏi.

“Công Tôn Diễn!”

Sư Lý Tật, công tử Hoa đưa mắt nhìn nhau.

Rõ ràng, họ không hề nghĩ tới Công Tôn Diễn, thậm chí đã quên bẵng người này.

“Hoa đệ đã nhắc tới chuyện này, chúng ta hãy cùng bàn bạc!” Trương Nghi cười nói.

“Tướng quốc đã biết sự tình, ắt là có sẵn diệu kế.” Sư Lý Tật vòng tay, “Tật xin rửa tai cung kính chờ nghe!”

“Tại hạ cho rằng,” Trương Nghi cũng không đưa đẩy, dõng dạc tiếp lời, “đối với nước Ngụy, Tương Lăng không thể mất, cũng có thể mất! Đối với nước Tần, Tương Lăng nhất thiết phải mất!”

Sư Lý Tật, công tử Hoa nghe mà ngơ ngác, gãi đầu gãi tai không hiểu.

“Ý của tại hạ là,” Trương Nghi khẽ cười giải thích, “Ngụy mất Tương Lăng, nhìn từ trước mắt, là một nỗi đau, nhưng về lâu dài, lại là có lợi. Còn với nước Tần, thì Sở phải có được Tương Lăng, mới coi là đại thắng!”

“Đại thắng của chúng ta, có thể hiểu được, nhưng Ngụy mất đi bình phong phía đông nam, cớ sao lại bảo là có lợi?” Sư Lý Tật hỏi.

“Chư vị hãy nhìn cho rõ,” Trương Nghi đáp, “Bàng Quyên chết đi, nước Ngụy như mặt trời lặn. Đại chiến của thiên hạ trong tương lai, tất ở ba nước Tần, Tề, Sở. Tề, Sở hợp, Tần sẽ không còn, Tề, Sở đấu, Tần sẽ có được thiên hạ. Giữa Tần và Tề ngăn cách bởi Tam Tấn, muốn lấy không phải chuyện dễ. Tần có thể lấy được, duy có Đại Sở. Tần, Sở giao tranh, ắt ở Thương, Dung, nước Sở đất rộng của nhiều, dân chúng đông đúc, nay lại có thêm nhân khẩu Ngô Việt, thế lực không thể xem thường. Cuộc chiến Tần Sở, chắc chắn cực kỳ khốc liệt. Thế nhưng, nếu Tề, Sở oán hận lẫn nhau, nước Sở đông bị Tề đánh, tây bị Tần công, đông tây đều giao tranh, muốn không bại cũng khó! Đây là nguyên do giúp Tần đại thắng. Còn như nước Ngụy, đã là mặt trời xế bóng, Tương Lăng sớm muộn cũng thuộc về người khác, mất muộn chi bằng mất sớm.”

“Cớ sao mất sớm lại thành hay?”

“Sở được Tương Lăng, ý không ở Ngụy, mà là ở Tống, trong khi Tề nhòm ngó đất Tống đã lâu. Nay Tề, Ngụy giao tranh, Ngụy mất Bàng Quyên, không còn hy vọng thắng Tề. Nếu Ngụy bỏ Tương Lăng cho Sở, Sở, Tề ắt sẽ tranh chấp đất Tống. Chỉ cần Sở, Tề giao tranh, bất luận Tề thắng hay bại, với Ngụy đều là chuyện hay. Tề thắng, lực tất suy yếu, Ngụy có thể kết minh với Sở, tiếp tục đánh Tề. Ngụy, Sở hợp lực, ắt có cơ thắng. Tề bại, Sở sẽ suy yếu, Ngụy có thể thừa cơ giậu đổ bìm leo, đoạt lại Tương Lăng.”

Nghe Trương Nghi phân tích, Sư Lý Tật, công tử Hoa đều xuýt xoa thán phục. Đang lúc bàn bạc, Ngụy Tự tới thăm. Trương Nghi bảo hai người tạm lánh, đón Ngụy Tự vào phòng khách.

“Trương tướng quốc,” Ngụy Tự sắc mặt rầu rĩ, “tại hạ suy đi nghĩ lại, vẫn thấy chuyện phạt Tề không thể khinh suất. Hai ta đều không phải là đối thủ của Tôn Tẫn, không có Bàng tướng quân, chúng ta không có cơ thủ thắng!”

“Công tử cứ yên tâm, tại hạ đã có diệu kế thắng Tề!” Trương Nghi nói nhẹ tênh.

“Là diệu kế gì?” Ngụy Tự lấy làm phấn chấn.

“Công tử lập tức phái người mang vương mệnh tới Tương Lăng, điều động một vạn nhuệ binh, giờ Ngọ ngày mai xuất phát, đóng quân ở Hoàng Trì!”

“Vậy Tương Lăng thì sao? Nghe Chu Uy nói, người Sở...” Ngụy Tự nghi ngại.

“Tương Lăng chẳng phải đã có Trịnh tướng quân đấy ư? Tương Lăng là trọng trấn đông nam của ta, thành cao hào sâu, lại có tám ấp bảo vệ, Tôn Tẫn vây khốn nhiều ngày còn không phá nổi, người Sở dù có tấn công, Chiêu Dương có thể giỏi hơn Tôn Tẫn được ư?”

“Tuân mệnh!” Ngụy Tự đứng dậy, vòng tay đáp, rồi vội vã đi ngay.

Chu Uy không những không xin được viện binh cho Tương Lăng, ngược lại còn bị Huệ Vương lấy bớt một vạn quân thủ thành.

Nghe kể xong, Công Tôn Diễn cười dài vài tiếng, với tay lấy thanh kiếm Thuộc Lũ xuống, đổ đầy bầu rượu, lại vác theo một hũ rượu lâu năm đi qua cầu, đặt lên trên xe của Chu Uy.

Chu Uy ngỡ ngàng: “Công Tôn huynh?”

Công Tôn Diễn cười: “Chu đại nhân, xin mượn xe ngựa của đại nhân dùng tạm!”

“Đi đâu?”

“Tương Lăng!”

Lời vừa dứt, thiếu phụ đã bế đứa nhỏ đi tới, chẳng nói chẳng rằng, leo luôn lên xe ngồi.

Chu Uy cuống lên, ráng sức giữ xe lại.

“Chu đại nhân, xe đẹp không nỡ cho mượn ư?” Công Tôn Diễn bình thản hỏi.

“Công Tôn huynh,” Chu Uy thần sắc kinh hãi, chỉ vào hai mẹ con, “huynh đi đâu cũng được, nhưng... nhưng sao lại có thể lôi cả mẹ con họ đi thế?”

Công Tôn Diễn nhìn sang hai mẹ con: “Chu đại nhân không cho hai người đi, hãy xuống xe!”

Thiếu phụ ôm chặt đứa trẻ, không buồn trả lời, ngoảnh nhìn sang hướng khác.

Công Tôn Diễn quay sang Chu Uy cười nhăn nhó, rồi vung roi: “Chu đại nhân, hoặc là nhường đường, hoặc là cùng đi.”

Chu Uy nhảy tót lên xe: “Đã vậy, thêm tại hạ nữa!”

Khi Ngụy Tự sai người cầm hổ phù, khăng khăng điều động một vạn quân binh tinh nhuệ nhất của Tương Lăng, quận thú Trịnh Khắc mặt mày trắng bệch.

Màn đêm buông xuống, Trịnh Khắc kéo lê bước chân nặng nề, quay trở về phủ quận thú. Hai người con chạy ra đón. Trai là Trịnh Sảng, gái là Trịnh Tụ.

“Cha, cha đã về rồi!” Trịnh Tụ xiêm y lộng lẫy, sắc mặt hân hoan chạy lại, níu lấy tay cha, kéo thẳng tới bên giá áo, giúp cha tháo bỏ giáp trụ, rồi khoác lên bộ lễ phục đã chuẩn bị sẵn, ấn cha ngồi xuống ghế.

Một thị nữ bưng chậu đồng đựng nước ấm lại. Trịnh Tụ đỡ lấy chậu, tự tay bưng đến trước mặt Trịnh Khắc, vớt khăn mặt ngâm trong chậu ra, vắt khô, rồi lau tay cho cha.

Trịnh Khắc mặc kệ Trịnh Tụ muốn làm gì thì làm, mắt nhìn sững vào con gái.

“Cha,” Trịnh Tụ giúp cha rửa tay xong, hớn hở nhìn Trịnh Khắc, “cha có nhớ hôm nay là ngày gì không?”

Trịnh Khắc lắc đầu.

“Là sinh nhật của con gái cha đó!” Trịnh Tụ phục xuống trước đầu gối cha, đưa tay chỉ vào mình, khuôn mặt ửng hồng, “mẹ đích thân vào bếp, chuẩn bị sẵn một bàn thức ăn ngon, chỉ đợi cha về!”

“Ồ, con gái ta đã mười bốn rồi!” Trịnh Khắc đưa tay khẽ vuốt tóc Trịnh Tụ.

“Mười lăm chứ!” Trịnh Tụ dẩu môi.

“Em gái, mười lăm là đến tuổi cập kê, con gái đến tuổi cập kê, cũng phải...” Trịnh Sảng cười trêu.

“Anh biết nhiều quá nhỉ!” Trịnh Tụ nguýt dài, rồi nũng nịu, “đấy là người ta tính cả tuổi mụ!” Rồi kéo tay Trịnh Khắc, “cha, đi nào, mẹ và mọi người đang đợi cha trong hậu hoa viên, đông vui lắm!”

“Tụ Nhi,” Trịnh Khắc gạt tay nàng ra, ngồi lại xuống ghế, “con ra bồi tiếp tân khách trước đi, cha có chuyện muốn nói với anh con!”

“Vâng!” Trịnh Tụ vung tay áo, nhảy chân sáo mà đi.

“Cha?” Trịnh Sảng lúc này cũng đã nhận ra sắc mặt Trịnh Khắc có vẻ bất thường, bèn hạ giọng gọi.

“Sáng sớm mai, con hãy đưa mẹ và em về Đại Lương!”

“Cha, có chuyện gì ư?” Trịnh Sảng thấp thỏm.

“Không có gì, về thăm ông ngoại con.”

“Ông ngoại con làm sao?”

“Ông ngoại... bệnh đang nguy cấp!”

“Sao kia?” Trịnh Sảng kinh ngạc, “tháng trước con đi thăm ông, gà còn chưa gáy ông đã gọi con dậy, dạy con luyện thương kia mà!”

“Đó là tháng trước!” Trịnh Khắc đứng dậy, cởi bỏ lễ phục Trịnh Tụ vừa khoác lên cho mình, rồi mang giáp trụ lại như cũ, “đi đi, nói với em con, cha có việc quan trọng phải làm, các con cứ vui chơi tận hứng!” Nói đoạn đeo kiếm, cầm thương, nặng nề cất bước ra ngoài.

Nhìn theo bóng Trịnh Khắc xa dần, Trịnh Sảng một bụng hồ nghi, chầm chậm đi về phía hậu hoa viên.

Bóng đêm mờ mịt phủ trùm trên thành Tương Lăng trước bình minh, sĩ tốt Ngụy bày trận sẵn sàng, đang ôm binh khí ngủ say.

Lầu thành chính quay mặt về nam, người Sở nếu tới, đứng từ đây sẽ nhìn thấy hết.

Trịnh Khắc toàn thân giáp trụ, nằm trên giường trúc tại tầng cao nhất của lầu thành, cây thương ô kim đặt bên cạnh loang loáng hàn quang. Đống lửa vẫn cháy bập bùng, ba viên tham tướng và hơn chục binh sĩ đang nằm ngồi ngả nghiêng bên đống lửa.

Xa xa, loáng thoáng vọng lại một vài tiếng động, khiến Trịnh Khắc giật mình tỉnh giấc.

Trịnh Khắc mở mắt, đứng dậy dõi nhìn, rồi bỗng giật bắn mình, kêu lên kinh hãi.

“Chư tướng sĩ, dậy mau, kẻ địch tới rồi!” Trịnh Khắc hét lớn.

Chư tướng sĩ cùng giật mình choàng tỉnh, đồng loạt nhìn xuống chân thành.

Chân thành trống trơn.

Chư tướng sĩ nhìn sang Trịnh Khắc, rồi nhìn theo ánh mắt ông.

Tận cùng tầm mắt, quả nhiên thấy người Sở từng đoàn từng đoàn nghìn nghịt như kiến, đội ngũ chỉnh tề đang tràn về phía cổng thành đông. Tốp đi đầu đã rùng rùng vượt qua cầu treo, tuôn vào trong cổng thành.

Đúng lúc mọi người vừa phát giác thấy, thì từ đoàn kiến phía xa xa tách ra một tốp nhỏ, vòng sang cổng nam.

Tất cả đều xảy ra trong bóng đêm và tĩnh lặng. Không ai hiểu nổi người Sở đã áp sát và mở cổng thành đông bằng cách nào.

Chúng tướng thảy đều hãi hùng, cuống quýt không biết phải làm gì, cùng nhìn Trịnh Khắc.

“Làm thế nào bây giờ?” Một tỳ tướng cuống quýt hỏi.

Sự tình không thể chậm trễ, Trịnh Khắc lập tức quyết đoán, lệnh cho tham tướng: “Thành này không giữ được nữa, mau dẫn tướng sĩ mở cổng này mà chạy, bẩm báo lên đại vương!” Quay sang hai viên tham tướng khác, “hoả tốc truyền lệnh, toàn bộ quân dân, ai chạy được thì chạy, ai không chạy được thì hạ binh khí, không được kháng cự!”

“Chúa công?”

“Than ôi!” Trịnh Khắc ngửa cổ than, “để mất Tương Lăng, không phải do Trịnh Khắc!”

Chư tướng đưa mắt nhìn nhau.

“Lão khốn Chiêu Dương,” Trịnh Khắc nhìn ra phía xa, cất giọng lạnh lẽo, “Trịnh mỗ vốn cứ ngỡ ngươi là anh hào, nào ngờ cũng chỉ là phường tiểu nhân xảo trá mà thôi!”

“Chúa công,” ba viên tham tướng vội nói, “chúng tôi thà cố thủ tử chiến, chứ không muốn sống nhục!”

Chư tướng sĩ đều quỳ sụp xuống, đồng thanh hô lớn: “Tướng quân, chúng tôi thà tử chiến, cũng không muốn sống nhục!”

“Hãy tuân lệnh!” Trịnh Khắc nghiêm giọng quát lớn, “các ngươi không muốn sống nhục, nhưng còn bách tính toàn thành thì sao? Đàn bà con trẻ toàn thành thì sao?”

Ba viên tham tướng bật khóc: “Chúa công...”

“Đi mau!”

Ba viên tham tướng lại dập đâu, rồi dẫn theo tướng sĩ thuộc hạ, vội vã chạy xuống thành.

Lính canh trên thành nối tiếp nhau truyền khẩu lệnh: “Trịnh tướng quân có lệnh, người Sở đánh lén, cổng đông đã vỡ, lính canh trên thành không cần kháng cự, mau tự tìm đường đào thoát!”

Chốc lát, trên thành Tương Lăng hỗn loạn như sôi. Lính Ngụy choàng tỉnh giấc, ngơ ngác nhìn nhau. Tiếp đến, đua nhau quăng bỏ vũ khí, tháo chạy xuống dưới thành.

Bàn tời chầm chậm xoay chuyển, cổng thành nam từ từ mở ra, cầu treo hạ xuống trên hào nước, quân sĩ từ trong thành chạy túa như ong vỡ tổ.

Trên lầu cổng thành, thoắt cái chỉ còn trơ lại mình Trịnh Khắc.

Đúng vào lúc này, từ phía cổng đông bỗng ồn lên tiếng reo hò dậy đất, cát bụi mù trời.

Trịnh Khắc bước xuống dưới thành, rảo bước tới bên xe chiến.

Phu xe gọi lớn: “Chúa công, hãy mau lên xe!”

Trịnh Khắc căn dặn: “Ngươi mau về phủ, đón mấy mẹ con họ chạy ra cổng tây, lập tức quay về Đại Lương!”

Phu xe sửng sốt: “Thế còn chúa công?”

Trịnh Khắc bình thản đáp: “Ta phải lĩnh giáo một người!” Đoạn chỉ vào trong thành, “đi mau!”

Phu xe hiểu ông muốn làm gì, đành gạt lệ bái biệt, rồi ra roi thúc ngựa. Bốn con chiến mã hí vang, tung vó kéo theo cỗ xe chiến lao băng băng về phủ quận thú.

Trịnh Khắc chỉnh lại giáp trụ, tay cầm trường thương, tiến từng bước ra khỏi cổng thành, hiên ngang đứng trước đầu cầu treo, chống thương xuống đất, ánh mắt lạnh lẽo quét qua bãi đất rộng lớn phía trước cổng thành, và đoàn quân Sở đang nghìn nghịt áp sát.

Ánh ban mai hừng lên ở trời đông, chiếu trên mũi thương ô kim của nước Hàn, bắt sáng lấp loé, hàn quang rờn rợn.

Trong thành Tương Lăng, tiếng hò hét dậy trời.

Chiến xa nước Sở phi băng băng trên phố lớn trống trơn, lính Sở khát máu điên cuồng lùng sục trong những ngõ hẻm không một bóng người.

Thế rồi, họ từ từ buông chậm bước chân. Trong thành Tương Lăng không thấy một bóng lính Ngụy, không nghe một tiếng hô hoán giao tranh.

Trên tường thành, binh khí của quân Ngụy hoặc sắp xếp ngay ngắn, hoặc vứt bỏ ngổn ngang, nhưng không có lấy một binh một tốt.

Cửa nhà dân đều đóng im ỉm, đến một tiếng trẻ con khóc cũng không có. Tất cả dường như muốn nói, Tương Lăng vẫn đang chìm trong giấc ngủ say.

Quân Sở thoạt tiên hồ nghi, sau đó bừng hiểu, là người Ngụy cố ý lặng lẽ bỏ đi. Có tướng quân truyền lệnh, không được phá cửa, chỉ kiểm soát đường đi lối lại.

Bên ngoài phủ quận thú đỗ hai cỗ xe ngựa, một cỗ xe mui kín, một cỗ chiến xa tứ mã của Trịnh Khắc. Xe mui do lão quản gia chuẩn bị từ sớm, chỉ đợi trời sáng là đưa ba mẹ con Trịnh phu nhân tức tốc quay về Đại Lương thăm ông ngoại. Còn cỗ xe chiến vừa mới đánh tới.

Phu xe vội vã kể sơ qua sự tình, mấy mẹ con Trịnh phu nhân cuối cùng đã hiểu, Trịnh Khắc giục họ quay về, không phải là do ông ngoại lâm bệnh.

Ba mẹ con đưa mắt nhìn nhau.

Tiếng huyên náo đang áp lại gần. Phu xe thúc giục: “Hãy mau lên xe, người Sở sắp tới rồi!”

Tình thế cấp bách, Trịnh phu nhân liền quay sang quản gia: “Chú hãy đưa hai đứa trẻ ra khỏi cổng tây, về Đại Lương tới nhà ông ngoại!” Còn mình nhảy lên xe chiến, nói với phu xe, “mau, cổng nam!”

Thời gian gấp gáp, phu xe lập tức đánh ngựa, lao thẳng về phía cổng nam.

Lão quản gia đưa hai đứa trẻ lên xe, thúc ngựa định đi thì Trịnh Tụ kêu lên: “Chú ơi,, không đi cổng tây!”

“Đi đâu?” Quản gia vội ngoảnh nhìn.

“Cổng nam!” Trịnh Tụ đáp dứt khoát.

“Cháu gái?” Quản gia kinh hãi.

“Chú ơi,” Trịnh Tụ như sực nhớ ra, lại nhảy xuống xe, “cháu vào nhà một chốc, để lấy cây đàn cầm!”

Trịnh Sảng hiểu ý em gái, cũng nhảy xuống theo, cùng Trịnh Tụ chạy trở vào trong phủ. Một lát sau, Trịnh Sảng quay ra, đã mình mang giáp trụ, một tay cầm thương, một tay xách kiếm, Trịnh Tụ ôm hộp đàn, cùng chạy ra ngoài cổng phủ.

Quản gia gạt nước mắt, chờ họ lên xe, rồi mới thúc ngựa chạy gấp về phía cổng nam.

Cổng nam thành Tương Lăng, trời đã sáng tỏ.

Đoàn quân nghìn nghịt như kiến cỏ đã áp tới chân thành, thấy cổng thành mở toang, trên thành vắng tanh vắng ngắt, chỉ có một người đang đứng lừng lững trước đầu cầu, thì đều ngỡ ngàng sửng sốt, cùng khựng lại, không một ai dám tiến lên một bước, dàn trận đứng im cách đó vài trượng.

Một cỗ xe lao nhanh tới, trên xe, một viên tướng trẻ trỏ thương quát lớn: “Người chắn đường kia là ai?”

“Người tới là ai?” Trịnh Khắc nhấc thương, trỏ vào hắn.

“Tiên phong trung quân Đại Sở Chiêu Ngư!” “Quận thú Tương Lăng Trịnh Khắc chờ đã lâu rồi!”

Chiêu Ngư rõ ràng không ngờ được người đứng trước mặt mình lại đường đường là quận thú Tương Lăng tiếng tăm hiển hách, liền đưa mắt nhìn lên lầu cổng thành, rồi nhảy xuống khỏi xe, cắm phập cây thương xuống đất, vòng tay: “Đại danh của Trịnh tướng quân như sấm động bên tai, vãn sinh mạo phạm!”

Trịnh Khắc cũng cắm thương xuống đất, vòng tay đáp lễ: “Người tới đều là khách, cớ sao lại nói mạo phạm! Xin hỏi tiên phong, hẳn có biết lệnh doãn nước Sở Chiêu Dương?”

“Chính là gia phụ!”

“Trịnh Khắc bất tài, xin được bái kiến!”

“Trịnh tướng quân chờ cho một lát!” Chiêu Ngư đánh xe chạy đi, một lát sau, xe chiến của Chiêu Dương lăn bánh chạy tới.

Trên lầu cổng thành rầm rập hỗn loạn, quân Sở thoắt cái đã dàn hàng chật kín.

Cờ Ngụy bị nhổ bỏ, cờ Sở tung bay.

Trước sau đều nghìn nghịt lính Sở, song Trịnh Khắc dường như không nhìn thấy, không nghe thấy, cũng không cảm giác thấy, tay vẫn cầm chắc cây thương, đứng hiên ngang bất động.

Chiêu Dương không xuống xe, vung kích trỏ vào Trịnh Khắc: “Phong thái của Trịnh tướng quân, Chiêu Dương nay đã được lĩnh giáo!”

“Phong thái của đệ nhất tướng quân Đại Sở, Trịnh Khắc nay cũng đã được lĩnh giáo!” Trịnh Khắc cũng trỏ mũi thương, dõng dạc đáp lời.

“Trịnh tướng quân cầu kiến bản tướng, không biết có điều gì muốn nói?”

“Trịnh Khắc vô tri, mong Chiêu đại tướng quân giải đáp giúp một mối ngờ!”

“Tướng quân có gì ngờ?”

“Chiêu tướng quân đã dùng cách nào để phá cổng thành đông của ta?”

“Từ vài tháng trước, bản tướng đã sai dũng sĩ trà trộn vào thành, chính họ đã mở cổng thành!”

“Ha ha ha ha!” Trịnh Khắc ngửa cổ, phá lên cười lớn. “Trịnh tướng quân vì sao lại cười?”

“Vì Đại Sở, vì Chiêu đại tướng quân!” Trịnh Khắc giọng như chuông đồng.

“Đại Sở ta có gì đáng cười?” Chiêu Dương mặt không biến sắc, giọng nói bình thản.

“Đường đường là Đại Sở, đường đường là Chiêu tướng quân, lại phải giở bài lén lút vụng trộm với một Tương Lăng mỏn mọn, chưa tuyên đã chiến, há chẳng đáng cười ư?”

“Ha ha ha ha!” Chiêu Dương cũng phá lên cười, “Trịnh tướng quân, còn điều gì muốn hỏi chăng?”

“Hết rồi!” Trịnh Khắc vung thương trỏ vào ông ta, “nghe nói Chiêu tướng quân võ công cái thế, có dám cùng bản tướng đọ một trận thư hùng chăng?”

“Xe chiến của tướng quân đâu? Bản tướng không giết người không xe!” Chiêu Dương liếc xéo Trịnh Khắc.

“Phụ thân, xe chiến ở đây!” Bỗng một tiếng hô sang sảng từ phía trong cổng thành vọng lại.

Được quân Sở chấp thuận, chiến xa của Trịnh Khắc chậm rãi chạy ra khỏi cổng thành, Trịnh Sảng mặt búng ra sữa, hiên ngang đứng ở trước xe.

Trịnh Khắc ngoảnh nhìn, giật mình kinh hãi.

Càng khiến Trịnh Khắc kinh động hơn nữa, đó là trên lầu cổng thành, chợt vẳng xuống tiếng đàn cầm.

Trịnh Khắc ngẩng đầu nhìn lên, thấy phu nhân của mình đang đứng trên lầu cổng thành, tay cầm dùi trống, hai mắt nhìn không chớp xuống cầu treo. Con gái Trịnh Tụ ngồi ngay ngắn trước đàn cầm, đang vặn trụ so dây.

Xe chiến chạy lên cầu.

Trịnh Sảng vung thương, gọi lớn: “Phụ thân, xin hãy tránh đường, để Sảng Nhi giao chiến!”

Trịnh Khắc xua tay, bảo con trai xuống xe.

Trịnh Sảng nhảy xuống, bước lại trước mặt Trịnh Khắc, sánh vai đứng bên cạnh, ánh mắt sáng rực nhìn thẳng vào Chiêu Dương.

Chứng kiến cảnh một nhà bốn người cùng nhau quyết tử, Chiêu Dương không khỏi bàng hoàng chấn động.

“Trịnh tướng quân,” Chiêu Dương giao kích cho hộ vệ bên trái, vòng tay, “bản tướng không sát hại nhà nhân nghĩa!” Đoạn quay về phía chư tướng sĩ, “lùi lại ba dặm, dẹp đường cho gia đình Trịnh tướng quân!”

Quân Sở đang rục rịch định lui, Trịnh Khắc chợt hô lớn: “Khoan!”

Chư tướng sĩ đồng loạt nhìn lại.

“Trịnh Khắc chỉ có một ước nguyện, quyết chiến một trận cùng Chiêu tướng quân, mong Chiêu tướng quân tác thành!” Trịnh Khắc nhảy lên xe chiến, tay cầm trường thương, quay sang Trịnh Sảng, “Sảng Nhi tránh đường!”

Chiêu Dương cười nhạt, nhìn thẳng vào Trịnh Khắc: “Trịnh tướng quân, cớ sao lại nhất quyết cầu chết?”

“Không phải cầu chết, mà là thành toàn cho danh tiếng của tướng quân, nhân tiện muốn đánh cược với tướng quân!” Trịnh Khắc bình thản đáp.

“Đánh cược thế nào?”

“Nếu tại hạ thắng, Chiêu tướng quân không được sát hại bách tính Tương Lăng!”

“Nếu Trịnh tướng quân thua thì sao?”

“Xin tướng quân đối xử tử tế với bách tính Tương Lăng!”

“Ha ha ha!” Chiêu Dương phá lên cười, “Trịnh tướng quân thật khéo tính toán! Tại hạ chấp thuận!” Rồi lấy lại trường kích từ trong tay thị vệ, phẩy tay ra hiệu cho quân Sở lùi lại, đoạn quay sang thị vệ, “xuống cả đi!”

Hai tên thị vệ nhảy xuống, trên xe chỉ còn lại một mình Chiêu Dương. Chư tướng sĩ nhất loạt thoái lui, chừa ra một khoảnh đất trống, đủ cho hai cỗ xe chiến xông pha qua lại.

“Trịnh tướng quân đã khăng khăng cầu chết, thì chớ có oán hận bản tướng!” Chiêu Dương vòng tay nói, rồi đánh xe chiến chạy sang bên trái.

Trịnh Khắc đánh xe qua cầu, chạy sang bên phải.

Hai cỗ xe cùng quay đầu, dừng lại đối diện nhau. Hai người nhìn chằm chằm vào nhau hồi lâu.

Trịnh Tụ đã chỉnh xong dây, tiếng đàn cầm vang lên, tuy chưa vào khúc, song âm điệu đã vô cùng thê thiết.

Chiêu Dương ngẩng đầu nhìn lên, xa xa trông thấy mỹ nhân xiêm áo thướt tha, tay ngà lên xuống, tâm tư bất giác xao động.

Trịnh Khắc giơ cao trường thương.

Trịnh phu nhân bắt đầu nổi trống.

Tiếng đàn cầm bỗng chốc vút cao đanh thép, xuyên qua tiếng trống, như thét như gào, khiến người nghe trong lòng tê tái.

“Chiêu tướng quân, xem thương!” Trịnh Khắc đánh xe lao tới.

Chiêu Dương cũng đánh xe nghênh chiến. Tiếng trống dậy đất, tiếng đàn dồn dập, hai cỗ xe xáp vào nhau, thương kích giao tranh chát chúa, đã qua một hiệp.

Lại tiếp hiệp thứ hai, trống Sở thúc dồn, tám mặt trống chiến thùng thùng như sấm, nhấn chìm hoàn toàn tiếng trống tiếng đàn trên lầu cổng thành.

Đúng vào thời khắc hai cỗ xe lao vọt qua nhau, trường thương bị họa kích ghì chặt, Trịnh Khắc ngã xuống khỏi xe chiến.

Trịnh Khắc lăn người bật dậy, nhặt lấy trường thương, vừa lúc xe chiến quay vòng trở lại, bèn tung người nhảy lên, lại xông vào Chiêu Dương.

Thế nhưng, cú ngã vừa nãy đã khiến Trịnh Khắc bị trọng thương bên tay phải. Khi hai xe chiến giao nhau lần nữa, họa kích dễ dàng gạt văng mũi thương, mũi kích đâm thẳng vào ngực Trịnh Khắc.

“Lão giặc già Chiêu Dương, hãy nộp mạng!” Tướng sĩ còn chưa kịp nhìn rõ sự tình, đã nghe Trịnh Sảng quát lên thật lớn, từ đầu cầu vùn vụt chạy lại, đuổi tới xe chiến của cha, nhảy vọt lên xe.

Phu xe lại quay đầu, ra roi thúc ngựa, xông thẳng vào Chiêu Dương. Chiêu Dương đã không còn tâm trí giao chiến, thúc ngựa về trận.

“Lão giặc già Chiêu Dương, hãy nộp mạng!” Trịnh Sảng lại hô lên tiếng nữa, như đã phát cuồng, lệnh cho chiến xa đuổi sát không buông.

Trong trận quân Sở, một cỗ xe chiến từ bên cạnh chênh chếch xông ra, đứng trên xe là con trai Chiêu Dương, Chiêu Ngư.

Trịnh Sảng mới mười sáu tuổi, thứ nhất chưa hề kinh qua chiến trận, thứ hai đang trong cơn thịnh nộ, trong mắt chỉ có Chiêu Dương, thình lình bị Chiêu Ngư ngăn trở, chỉ biết múa thương đâm bừa.

Chiêu Ngư rõ ràng không muốn giết Trịnh Sảng, đón đỡ vài chiêu rồi hô lớn: “Trịnh công tử, tại hạ là Chiêu Ngư, con trai của Chiêu tướng quân. Nợ cha con trả, xin cứ ra tay với tại hạ!” Đoạn đánh xe chạy sang một bên.

Trịnh Sảng không nói không rằng, đánh xe chạy sang phía đối diện.

Không còn tiếng trống, không còn tiếng đàn, chỉ có vô số ánh mắt hồi hộp dõi theo.

Hai xe mỗi lúc một gần, bất ngờ lao sát qua nhau, gần như chỉ trong nháy mắt, Trịnh Sảng đã bị đâm ngã khỏi xe, lăn lông lốc dưới đất, rồi bất động.

Bốn bề lặng phắc như tờ, chính giữa bãi trống là thi thể của hai cha con họ Trịnh, máu tuôn xối xả.

Đúng lúc toàn bộ ánh mắt đều đổ dồn vào xác chết của hai cha con, bỗng một tiếng thét vang lên: “Sảng Nhi, mẹ tới đây...”, rồi một bóng trắng từ trên lầu thành phấp phới lao xuống, đập mạnh xuống nền gạch trước cổng thành.

Là Trịnh phu nhân.

Cả nhà họ Trịnh, giờ chỉ còn lại một mình Trịnh Tụ.

Trịnh Tụ ngồi ngây dại trước cây đàn cầm.

Nàng lau nước mắt, chậm rãi đứng dậy, ôm đàn trong lòng, tiến từng bước về phía ụ thành.

Đúng vào khoảnh khắc Trịnh Tụ tung người nhảy ra, một bàn tay to khoẻ đã chụp lấy nàng.

Là Ngận Thượng.

Già trẻ bốn người mà chỉ có cỗ xe một ngựa kéo, Chu Uy cũng đã cao tuổi, không thể bôn ba đường trường, nên mấy người đành phải vừa đi vừa nghỉ, khó khăn lắm mới tới được một trạm dịch, thay hai con ngựa khoẻ, có thể đi nhanh hơn chút ít, đến trưa hôm đó thì tới Ung Khâu.

Ung Khâu còn cách Tương Lăng năm chục dặm, nếu đi nhanh thêm chút nữa, đến tối có thể tới.

Ngựa đã mệt rã. Công Tôn Diễn dừng xe bên đường cho ngựa nghỉ chân, lấy cỏ và nước cho ngựa ăn uống, đang bàn chuyện với Chu Uy, chợt thấy vài cỗ xe chiến cùng một đám đông đi kèm từ xa tiến lại. Dẫn đầu đoàn người chính là tham tướng thuộc hạ của Trịnh Khắc.

“Công Tôn tướng quân!” Tham tướng nhảy xuống xe, quỳ sụp dưới đất, bật khóc thảm thiết. Lần trước, khi người Tề đánh Tương Lăng cứu Triệu, Công Tôn Diễn trợ giúp Trịnh Khắc giữ thành, nên khá quen thần với tham tướng.

Tất cả, không cần phải hỏi nữa. Công Tôn Diễn nhìn sang Chu Uy. Chu Uy sắc mặt trắng bệch.

“Trịnh tướng quân đâu?” Công Tôn Diễn hỏi.

“Trịnh tướng quân... ” Tham tướng nghẹn ngào.

Công Tôn Diễn kéo hắn đứng dậy, đưa bầu rượu cho hắn: “Uống đi, rồi từ từ kể!”

Tham tướng đỡ lấy, uống một ngụm, rồi đem chuyện ở Tương Lăng sáng sớm hôm nay kể lại một lượt.

Công Tôn Diễn nghe xong, ngồi thụp dưới đất hồi lâu, mới đứng dậy, nhìn sang Chu Uy.

“Công Tôn huynh, giờ phải làm sao?” Chu Uy cũng nhìn lại.

“Còn có thể làm sao được nữa?” Công Tôn Diễn cười gượng gạo, dang tay, “chỉ vì tới chậm một bước, Tương Lăng đã của người ta!”

“Than ôi!” Chu Uy giậm chân.

Công Tôn Diễn quay sang tham tướng: “Chư vị hãy tức tốc hộ tống Chu đại nhân tới Đại Lương, bẩm báo lên đại vương toàn bộ sự biến Tương Lăng!”

“Công Tôn huynh định đi đâu?” Chu Uy vội hỏi.

“Gặp Chiêu Dương!”

“Công Tôn huynh?” Chu Uy kinh hãi.

Công Tôn Diễn phá lên cười, nâng bầu dốc rượu: “Dù ông ta có muốn, cũng không ăn thịt nổi tại hạ đâu!”

Ngoại trừ cả nhà họ Trịnh máu nhuộm cổng nam, trong ngoài thành Tương Lăng không hề xảy ra một trận giao tranh. Chiêu Dương đã thăm dò cặn kẽ về Trịnh Khắc suốt mấy tháng qua, đã chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc kịch chiến trong ngõ phố, nào ngờ sự việc lại quá ư dễ dàng, cơ hồ gươm chưa dính máu.

Chiêu Dương sai người chuẩn bị quan tài tốt khâm liệm cha con họ Trịnh và Trịnh phu nhân, theo đúng giao ước, lệnh cho ba quân, ngoại trừ lính gác, toàn bộ rút khỏi thành, đóng quân bên ngoài, không quấy nhiễu đến người dân, cử người tháo vát tiếp quản phủ khố, dán cáo thị vỗ yên dân chúng, phân phát cờ Sở cho các hộ.

Dân chúng Tương Lăng trải qua một ngày đổi chủ trong không khí gần như yên bình tuyệt đối, trước cửa mỗi nhà đều dựng cờ Sở.

Vào lúc chạng vạng, cỗ xe mui của Công Tôn Diễn theo nhịp vó ngựa nặng nề chạy tới trước cổng thành. Môn uý hay tin có Công Tôn Diễn cầu kiến Chiêu Dương, không dám chậm trễ, vội dẫn tới doanh trại ở ngoại thành, giao cho quân uý.

Trong trại trung quân, Chiêu Dương đang vui vẻ mở xem chiến báo của các thuộc hạ dưới trướng.

Ngày hôm nay là ngày vẻ vang của Chiêu Dương. Hay tin Tương Lăng thất thủ, tám ấp xung quanh cũng không kháng cự, hoặc bỏ thành mà chạy, hoặc đầu hàng người Sở. Tổng kết lại, quân Sở xuất mười hai vạn binh, chưa đánh đã lấy được Tương Lăng cùng tám ấp xung quanh, thu về được bốn phủ khố, hơn mười vạn dân, trong khi phía Sở gần như không tổn thương lấy một binh một tốt.

Đây là chiến tích chưa từng có của nước Sở từ lúc lập quốc tới giờ. Chiêu Dương vô cùng phấn khởi, lệnh cho tham quân chuẩn bị tin báo tiệp, sai Chiêu Ngư mời Ngận Thượng tới, định nhờ hắn duyệt qua rồi lập tức phái ngựa phóng gấp về báo lên Sở Vương.

Hai người đang châm chước câu từ, bỗng thấy Chiêu Ngư bước vào, báo tin Công Tôn Diễn cầu kiến.

“Công Tôn Diễn?” Chiêu Dương nheo mắt như kẻ chỉ, nhìn sang Ngận Thượng.

“Còn dẫn theo phu nhân, phu nhân bế một đứa trẻ.” Chiêu Ngư nói thêm.

Chiêu Dương cười nhạt, chau tít đôi mày.

“Lần trước người Tề bao vây Tương Lăng, đánh hơn tháng không phá nổi, chính là nhờ vào mưu của Công Tôn Diễn. Người này và Trịnh Khắc giao tình thân thiết, lần này tới đây, hẳn là...” Chiêu Ngư đoán dò.

Chiêu Dương lại nhìn sang Ngận Thượng.

“Chủ tướng,” Ngận Thượng cười nói, “người này đã tới tìm chủ tướng, tại hạ nên lánh mặt là hơn.”

“Không cần!” Chiêu Dương xua tay, quay sang Chiêu Ngư, “mau cho vào!” Dừng lại chốc lát, “không, mời vào!”

Chiêu Ngư ra khỏi trướng, vòng tay vái Công Tôn Diễn: “Công Tôn tiên sinh, chủ tướng có lời mời!”

Công Tôn Diễn uống một ngụm rượu, giao bầu và kiếm cho phu nhân vẫn đang bế con ngồi ở trong xe, đoạn đi theo Chiêu Ngư, sải bước vào trong trướng.

Chiêu Dương ngồi ngay ngắn trên chiếu chủ, nhìn xoáy vào Công Tôn Diễn, hai mắt như đuốc.

Công Tôn Diễn tiến lại trước án, dừng bước, ánh mắt rừng rực nhìn lại.

“Vị này là giám quân Ngận đại nhân!” Chiêu Dương chỉ vào Ngận Thượng.

“Đại danh của Tê Thủ, tại hạ sớm đã nghe nói!” Ngận Thượng vòng tay.

“Danh tiếng của Ngận đại nhân, tại hạ cũng đã nghe nói!” Công Tôn Diễn vòng tay đáp lễ, rồi quay sang nhìn Chiêu Dương.

“Xin hỏi khách nhân,” Chiêu Dương mở lời, “tại hạ nên gọi là Công Tôn tiên sinh hay là Công Tôn tướng quân?”

“Chiêu tướng quân nếu nhất định hỏi danh xưng, xin cứ gọi tại hạ là dã dân.” Công Tôn Diễn đưa tay giũ tấm áo vải trên mình.

“Vậy sẽ gọi là tiên sinh.” Chiêu Dương vòng tay, ánh mắt thăm dò, “nghe nói tiên sinh mang theo phu nhân và quý tử, chọn ngày lành hôm nay tới trướng của tại hạ, dám hỏi một câu, là tới kết bạn, hay tới tìm thù?”

“Tìm thù!” Công Tôn Diễn bình thản đáp ngay.

“Ồ?” Chiêu Dương ngả người về phía trước, “muốn học Trịnh Khắc ư?”

“Trịnh Khắc làm sao?”

“Sáng sớm hôm nay, hắn khiêu chiến với bản tướng ở ngoài cổng thành nam, hai bên đã đánh cược với nhau!”

“Cược gì?”

“Mười vạn bách tính Tương Lăng,” Chiêu Dương thản nhiên đáp, “nếu hắn thắng, tại hạ sẽ phải đối xử tử tế với bách tính Tương Lăng.”

“Hắn không phải là đối thủ của tướng quân.”

“Phải, tại hạ đã giết hắn rồi.”

“Còn chuyện đánh cược?”

“Tại hạ đã hạ lệnh, theo đúng giao ước, đối xử tử tế với bách tính Tương Lăng!”

“Ồ?”

“Bởi giữa tại hạ và hắn còn một chữ nếu nữa.”

Công Tôn Diễn bừng hiểu, tiếp lời: “Chữ nếu này là, nếu hắn bại trận, tướng quân cũng phải đối xử tử tế với bách tính Tương Lăng?”

“Chính phải.”

“Than ôi,” Công Tôn Diễn lắc đầu, “hắn mang sinh mạng ra đánh cược, quả là uổng phí!”

“Sao kia?” Chiêu Dương nhìn lại.

“Bởi lẽ, bất kể hắn có đánh cược hay không, Chiêu tướng quân vẫn sẽ đối xử tử tế với bách tính Tương Lăng!”

“Ồ, tiên sinh dựa vào đâu mà biết?” Chiêu Dương lấy làm tò mò.

“Người Ngụy thất thủ, Tương Lăng chính là đất của Sở, bách tính Tương Lăng chính là dân của Sở. Thân là tướng quân nước Sở, có thể không đối xử tử tế với người Sở hay sao?”

“Tiên sinh quả nhiên là tiên sinh.” Chiêu Dương đứng dậy, vòng tay, nhiệt tình mời mọc, “tiên sinh, mời ngồi!”

“Tướng quân quên rồi ư, tại hạ tới đây là để tìm thù!” Công Tôn Diễn không động thanh sắc, lùi lại một bước.

“Ồ?” Chiêu Dương trong lòng giật thột, nhìn chằm chằm vào Công Tôn Diễn, “cũng muốn đánh cược ư?”

Công Tôn Diễn bật cười lên vài tiếng: “Tê Thủ không phải là Trịnh Khắc, Chiêu tướng quân nếu như đánh cược cùng Tê Thủ, e rằng không thắng nổi đâu!”

“Tiên sinh...” Chiêu Dương lùi về sau án, giọng nói lại trở nên nghiêm nghị, “cược gì?”

“Tương Lăng!” Công Tôn Diễn gằn mạnh từng tiếng.

Chiêu Dương đặt tay lên chuôi kiếm: “Cược thế nào?”

“Cược một câu nói,” Công Tôn Diễn nhìn chằm chằm vào Chiêu Dương, “phần đời còn lại của tướng quân, hỷ ở Tương Lăng, táng cũng ở Tương Lăng!”

Lời vừa dứt, Công Tôn Diễn quét mắt nhìn sang Ngận Thượng, rồi xoay người, sải bước đi thẳng ra khỏi trướng.

Chiêu Dương bàng hoàng chấn động.

Công Tôn Diễn đã sắp bước đến cửa, Chiêu Dương mới trầm giọng gọi với theo: “Dừng bước!”

Công Tôn Diễn đứng lại, song không ngoảnh đầu.

“Hãy trả lời, táng nghĩa là gì?”

“Mười năm nữa, tướng quân sẽ biết!” Công Tôn Diễn bước ra khỏi cửa, nhảy lên xe mui.

Ngoài trướng vọng vào tiếng ra roi đanh giòn, tiếng vó ngựa xa dần rồi khuất hẳn.

Màn đêm buông xuống, phủ trùm lên doanh trại, cũng phủ trùm lên đại trại của giám quân Ngận Thượng.

Lần này chinh phạt Tương Lăng, là lần đầu dụng binh kể từ sau khi Sở Hoài Vương kế vị. Trong ba hộ lớn của Đại Sở, hiện tại đang nắm đại quyền là họ Chiêu, trụ cột là Chiêu Dương. Chiêu Dương nhờ có công diệt Việt, đuổi Trương Nghi mà lấy được ngôi lệnh doãn, lúc này thế như mặt trời đương trưa. Sau khi diệt Việt, hiện tại nước Sở nên tranh nước nào, giữa họ Chiêu và họ Khuất, họ Cảnh có sự phân rẽ rất lớn. Họ Chiêu chủ trương đánh Tề, nhưng họ Khuất, họ Cảnh vẫn không yên tâm với Tần.

Họ Chiêu muốn đánh Tề, mục đích là ở vùng lưu vực sông Tứ, đặc biệt là nước Tống nằm ở vị trí xung yếu, nông thương phát đạt. Ngay từ khi còn nhiệm chức tả tư mã, Chiêu Dương đã dòm ngó đất Tống, mấy lần cất quân đều bị ngăn trở. Đặc biệt là mười năm trước, ông ta làm chủ tướng dẫn quân đánh Tống, kết quả, đã không giành được lấy một tấc đất, ngược lại còn bị Bàng Quyên đoạt mất Hình Sơn, trở thành nỗi nhục và nỗi đau lớn nhất trong cuộc đời Chiêu Dương.

Lúc này, ba nước Ngụy, Hàn, Tề đại chiến, Bàng Quyên tử trận, đúng là cơ hội trời ban, vì thế Chiêu Dương mới bất chấp tất cả, một mực thuyết phục Sở Hoài Vương đánh về Trung Nguyên.

Giống như phụ thân Hùng Thương, Hoài Vương Hùng Hoè chí hướng cao viễn, hoài bão lớn lao, song từ lúc lên ngôi tới nay, vẫn chưa lập được công tích gì đáng kể. Nếu như mong muốn của Chiêu Dương có thể trở thành hiện thực, lấy được Tương Lăng, quả là một sự khích lệ lớn lao với Sở Hoài Vương. Tương Lăng giống như mũi dao sắc cắt ngang giữa Đại Lương và Tuy Dương, Sở được Tương Lăng, Tống Yển sẽ không còn có thể dựa vào nước Ngụy, chỉ còn cách xưng thần với Sở.

Thế nhưng, trong toàn bộ triều thần, kẻ khiến Hoài Vương không an tâm nhất lại chính là Chiêu Dương. Bởi vì, chính Hoài Vương đã từng phải giương mắt đứng nhìn ông ta cướp công diệt Việt của Trương Nghi, giương mắt nhìn ông ta dùng Hoà thị bích mưu hại Trương Nghi, giương mắt nhìn ông ta bức bách Trương Nghi sang Tần, giương mắt nhìn Trương Nghi trở thành đại địch của Sở. Chính bởi vướng mắc đó, nên trong lần dụng binh này, Hoài Vương đã phái sủng thần thân tín nhất của mình là Ngận Thượng làm giám quân. Chiêu Dương trong lòng thấu tỏ, nên lúc nào cũng tỏ ra hết mực cung kính Ngận Thượng, không dám lơ là mảy may.

Đã gần canh một, Ngận Thượng mới rời đại trướng của Chiêu Dương quay về trại giám quân. Trại giám quân rất rộng rãi, chẳng hề thua kém trại trung quân của Chiêu Dương, được canh phòng nghiêm ngặt.

Trịnh Tụ ngồi thu lu trong góc trại, ôm chặt cây đàn cầm. Hai thị vệ canh chừng hai bên, bốn con mắt nhìn chằm chằm vào nàng, như chỉ sợ nàng bay mất, hay tìm đường tự tận.

Trước mặt Trịnh Tụ bày một mâm cơm thịnh soạn. Ngận Thượng liếc nhìn, thấy vẫn y nguyên, nàng chưa hề động đũa.

“Các ngươi lui cả ra!” Ngận Thượng bảo hai tên thị vệ.

Hai tên thị vệ liền lui ra.

“Cô nương, trong trại giờ không còn ai khác,” Ngận Thượng ngồi xuống chiếu, chỉ vào mâm cơm, “ăn đi, ăn no rồi nói chuyện.”

Trịnh Tụ vẫn ngồi bất động, đôi mắt mở to nhìn trừng trừng vào Ngận Thượng, như đang nhìn một giống ác ma.

“Ta không phải là Chiêu Dương, sẽ không hại nàng đâu!” Ngận Thượng mỉm cười, cố giữ ngữ điệu hiền hoà.

“Nói đi, có chuyện gì?” Trịnh Tụ bật ra một câu.

“Tốt lắm,” Ngận Thượng nhìn thẳng vào nàng, “ta hỏi, nàng trả lời.”

“Cứ hỏi.”

“Cô nương tên gì?”

“Trịnh Tụ.”

“Bao tuổi?”

“Mười bốn.”

“Triệu Khắc là cha nàng, Trịnh Sảng là anh nàng, và vị phu nhân tuẫn thân kia, là mẹ nàng, phải không?”

“Phải!”

Ngận Thượng khép mắt một lát, rồi mở ra, nhìn thẳng vào cây đàn cầm: “Sáng sớm hôm nay, khi nàng gảy đàn, ta đứng ngay bên cạnh xem nàng gảy. Ngón đàn cầm của nàng rất tuyệt diệu, nàng là người con gái khác thường nhất mà ta từng gặp.”

Trịnh Tụ ngoảnh đầu đi chỗ khác.

“Trịnh Tụ!” Ngận Thượng nhìn nàng đăm đăm, cất giọng nghiêm nghị.

Trịnh Tụ ngoảnh lại, đón lấy ánh nhìn của hắn.

“Trước mặt nàng có hai con đường!” Ngận Thượng cất giọng rành rọt, “thứ nhất, cầm lấy lưỡi dao sắc trong tay, tự kết liễu cuộc đời mình giống như cha mẹ và anh trai nàng, ngay tại đây. Nàng yên tâm, sáng sớm mai, ta sẽ khâm liệm nàng vào quan tài, chôn cất bên cạnh người nhà.”

Trịnh Tụ trong lòng giật thột, bất giác đưa tay phải lên.

Quả nhiên trong tay nàng đang giấu một con dao găm, từ sáng tới giờ, nàng vẫn nắm chặt trong lòng bàn tay.

“Nếu nàng không muốn tự tận, hãy chọn cách thứ hai.” Ngận Thượng mắt nhìn nàng không chớp, “đặt lưỡi dao xuống, khắc cốt ghi tâm mối thù hôm nay, nhớ kỹ mười năm, sau đó, tìm thời cơ, dùng mũi dao đang cầm trong tay, đích thân giết chết kẻ thù, lấy máu hắn tế cáo anh linh cha mẹ và huynh trưởng trên trời!”

Trịnh Tụ hai mắt mở to, hai luồng nhãn quang sáng rực nhìn xoáy vào Ngận Thượng.

Ngận Thượng khép mắt lại.

Trong trại lặng phắc như tờ.

Hồi lâu, một giọng nói khe khẽ cất lên: “Ông là ai?”

“Ngận Thượng!”

“Ngận Thượng là ai?”

“Người kề cận bên đại vương nước Sở, lần này phạt Ngụy, ta là giám quân!”

“Giám quân, nghĩa là gì?” Trịnh Tụ rõ ràng không am hiểu việc quân.

“Giám quân nghĩa là... nghĩa là người do Sở Vương phái tới giám sát chủ tướng khi ba quân viễn chinh!”

“Tôi tin ông!” Trịnh Tụ đặt con dao xuống, nhìn thẳng vào Ngận Thượng, “hãy nói đi, tôi phải làm gì?”

“Ăn cơm!”

Trịnh Tụ liền ăn.

Trịnh Tụ đã đói mềm, nên ăn rất nhanh.

Đợi nàng buông bát đũa, Ngận Thượng nhìn xoáy vào nàng: “Tiếp theo, cần làm một việc nữa!”

“Nói đi!”

“Cởi áo!”

Trịnh Tụ giật nảy mình, bất giác chụp lấy con dao.

“Nếu muốn báo thù, nhất định phải cởi!”

“Ông... muốn làm gì?”

“Ta không làm gì cả!”

“Vậy... vậy tại sao lại bắt ta cởi áo?”

“Bởi ta cần biết, nàng có đủ tư cách báo thù hay không!”

“Ta...” Trịnh Tụ nghe mà ngơ ngác, “báo thù cần có tư cách gì?”

“Báu vật trời sinh, hoàn mỹ vô khuyết!”

“Tại... tại sao?”

“Bởi Sở Vương là một người rất cầu toàn!”

Thì ra, Ngận Thượng muốn dâng nàng cho Sở Vương.

Nước mắt Trịnh Tụ lăn dài trên má. Nàng đứng dậy, bắt đầu chậm rãi nới đai cởi áo. Từng chiếc, từng chiếc một, tấm thân mười bốn tuổi non nớt từ từ phô bày trọn vẹn.

“Lại đây, bước lên đứng trên án trước mặt ta!” Ngận Thượng ra lệnh.

Trịnh Tụ nhích từng bước chân tiến lại trước mặt Ngận Thượng, đứng lên trên án.

Ngận Thượng đưa mắt nhìn. Tấm thân ngọc ngà ở ngay trước mặt, một làn hương thơm thoang thoảng lan trong không gian.

Ngận Thượng hít sâu một hơi, trước mặt lại hiện lên hình hài mỹ miều của Hương Nữ năm xưa khi khẩn cầu hắn cứu Trương Nghi, cùng hương thơm trời sinh nồng nàn.

Lịch duyệt khác nhau, phong thái khác nhau, hương thơm khác nhau, cả hai người con gái tự động trút bỏ xiêm y trước mặt hắn, đều vì một kẻ, Chiêu Dương.

Ngận Thượng nuốt nước bọt, khẽ thở dài một tiếng, tâm tư quay trở về với ngọc thể trước mắt.

Ngận Thượng đưa mắt săm soi từng tấc cơ thể nàng, giống như phu nhân của hắn mỗi khi mua lụa trong cửa hàng ở Sính Đô, nhất quyết không bỏ qua dù một vết xước.

“Từ từ quay lại!” Xem xong phía trước, Ngận Thượng lại ra lệnh.

Trịnh Tụ chầm chậm quay lưng.

Ngận Thượng kiểm tra hết sức tỉ mỉ, đến lòng bàn chân cũng không bỏ qua, cuối cùng khẽ vỗ tay một tiếng, thốt lên: “Quả là báu vật trời sinh!”

“Còn phải làm gì?” Giọng Trịnh Tụ nghẹn ngào như sắp khóc.

“Mặc vào!”

Trịnh Tụ mặc xong y phục, nhìn sang Ngận Thượng: “Giờ phải làm gì?”

“Cầm lấy dao của nàng,” Ngận Thượng chỉ vào một gian buồng trong trại, “ghi nhớ kỹ mối thù của nàng, sau đó kéo rèm lại, lên giường kia mà ngủ!”

Trịnh Tụ thở dài một tiếng não nề, nhặt con dao lên, cúi gập người trước hắn một cái, bước vào buồng trong, kéo kín rèm, mặc nguyên y phục nằm xuống giường.

Đây là ngày đầu tiên nàng bước vào tuổi cập kê, một ngày dài dằng dặc, đây rẫy thống khổ, đầy rẫy biến cố.

Đêm khuya, vạn vật im lìm, chỉ ánh nến còn thao thức.

Bên ngoài tấm rèm, Ngận Thượng kéo vài chiếc án ghép lại cùng nhau, trải tấm da báo lên, để nguyên quần áo ngả lưng xuống đó.

Ngận Thượng hai mắt nhìn trân trân lên nóc trại, hình ảnh Hoài Vương như chập chờn trước mặt, tiếng Hoài Vương như văng vẳng bên tai: “Ngận Thượng, quả nhân để ngươi làm giám quân, ngươi phải mở to hai mắt nhìn kỹ cho quả nhân! Có kẻ đang vọng tưởng quá nhiều!”

Hoài Vương biến mất, giọng nói của Công Tôn Diễn lại vang lên: “Cược một câu nói, phần đời còn lại của tướng quân, hỷ ở Tương Lăng, táng cũng ở Tương Lăng... mười năm...”

“Hỷ ở Tương Lăng, táng cũng ở Tương Lăng!” Ngận Thượng thốt lên một lời cảm thán tự đáy lòng, rồi ngoảnh đầu nhìn về phía tấm rèm.

Từ trong rèm vọng ra hơi thở thấp thỏm của Trịnh Tụ.

Image

THÊM CHÂN RN, TRẦN CHẨN BÀY MƯUSỢ PHỤC THÙ, TRÂU KỴ GIĂNG BẪY

Hay tin người Sở tập kích Tương Lăng đúng như dự đoán của Công Tôn Diễn, Ngụy Huệ Vương uất nghẹn, tay ôm chặt lấy ngực, toàn thân run giật một hồi, rồi ngã vật xuống ngai vàng.

Chu Uy chẳng nề nghi lễ quân thần, vội vã chạy lại bấm nhân trung, tỳ nhân cuống quýt hô gọi thái y đến chạy chữa. Qua chừng nửa canh giờ, Huệ Vương từ từ hồi tỉnh, được chúng nhân khiêng lên giường ngự, có ngự y bám sát không rời.

“Triệu... triệu Trương Nghi!” Lời nói đầu tiên của Huệ Vương vẫn là quốc sự, ngón tay run rẩy chỉ ra phía cửa, giọng nói thều thào.

Trương Nghi chạy một mạch vào trong cung, quỳ sụp trước giường, bật khóc: “Đại vương...”

“Phạt... phạt... phạt Sở...” Huệ Vương thở hổn hển.

Trương Nghi ngập ngừng một lát, khấu đầu: “Thn lĩnh chỉ!”

“Đi... đi mau!” Huệ Vương phẩy tay thúc giục.

Trương Nghi đứng dậy, vội vã đi ra.

Vừa ra khỏi cổng điện, Ngụy Tự đã đuổi kịp.

“Nghe nói phụ vương ta bị bệnh, thế nào rồi?” Ngụy Tự nôn nóng hỏi.

“Uất giận mà bất tỉnh!” Trương Nghi lắc đầu cười gượng.

“Vì sao?”

“Chiêu Dương tập kích chiếm Tương Lăng, cha con Trịnh Khắc đều đã tử chiến.”

“Người Sở!” Ngụy Tự bàng hoàng kinh hãi, hồi lâu sau mới nhìn sang Trương Nghi, “phụ vương nói sao?”

“Hạ lệnh phạt Sở, đoạt lại Tương Lăng!”

“Ôi...” Ngụy Tự lo lắng, “phải làm sao?”

“Còn biết làm sao?” Trương Nghi nhún vai.

“Ý tướng quốc là, phạt?”

“Có thể phạt chăng?” Trương Nghi lừ mắt nhìn Ngụy Tự, bồi thêm một câu, “cùng lúc khai chiến với hai nước lớn, công tử dựa vào đâu?”

“Vậy... phải làm sao đây?” Ngụy Tự nghe mà rối bời.

Trương Nghi quét mắt nhìn quanh, chỉ vào đình hóng mát gần đó, ngữ điệu bình thản: “Chúng ta lại đằng kia ngồi một lát, uống chén trà nhạt, chờ đại vương thần trí tỉnh táo trở lại, sẽ vào yết kiến, tấu xin đại vương thu hồi mệnh lệnh!”

“Nếu phụ vương không chịu thu hồi thì sao?” Ngụy Tự thấp thỏm.

“Đại vương sẽ thu hồi thôi!” Trương Nghi khẳng định chắc nịch, rồi nhìn thẳng vào Ngụy Tự, “công tử cho rằng đại vương thực sự đã đến nước già cả lú lẫn, không biết đúng sai rồi ư?”

Ngụy Tự mấp máy môi vài cái, rồi theo Trương Nghi đi về phía đình hóng mát.

Tin Chiêu Dương dễ dàng đoạt được tám ấp Tương Lăng nhanh chóng truyền sang nước Tề, miếng cơm vừa trôi xuống cổ Tô Tần lại sặc lên họng, ho rũ rượi một hồi. Thu Quả vội vã chạy lại, khẽ vuốt lưng giúp. Tô Tần ho văng cả cơm, mới thở hắt ra, vội giục Thu Quả đi gọi Trâu Phi Đao tới, lập tức đánh xe lên đường.

Chập choạng tối, đoàn người tới Chân Ấp, đến thẳng trạch phủ họ Tôn.

Nghe tiếng, hai đứa trẻ trong nhà Tôn Tẫn là Tôn Nam và Tôn Cúc chạy ùa ra, mỗi đứa một bên níu lấy Tô Tần reo vui hớn hở. Hai đứa trẻ đã cao thêm nhiều, nhất là Tôn Cúc, đã cao ngang thắt lưng Tô Tần.

Nhìn hai đứa trẻ mình mặc áo tang, Tô Tần nhớ đến Bàng Quyên và thái tử Thân, lại thấy trong lòng đau xót, mỗi tay bế bổng một đứa lên, rồi giao cho Trâu Phi Đao và Thu Quả. Tôn Nam không thích Thu Quả, giãy ngay khỏi lòng nàng ta, chìa tay về phía Trâu Phi Đao. Trâu Phi Đao mỉm cười, bế cả hai đứa trẻ đi ra ngoài.

Tô Tần quay sang mỉm cười với Thu Quả, rồi sải bước vào trong phòng khách.

Hai vợ chồng Tôn Tẫn cũng đều mang hiếu phục. Thụy Mai bước ra đón khách, rồi gọi Thu Quả cùng xuống bếp. Mỗi lần Tô Tần đến, nàng đều đích thân nấu nướng.

Trong phòng khách, chỉ còn lại Tô Tần và Tôn Tẫn.

Tôn Tẫn không vái chào, cũng không cười, chỉ khẽ đưa tay chỉ vào vị trí khách. Từ khi Bàng Quyên, thái tử Thân tử trận, thậm chí trước cả lúc đó, kể từ khi nhận lệnh cùng Điền Kỵ dẫn quân phạt Lương, Tôn Tẫn đã như biến thành người khác, cơ hồ không còn biết cười, cũng chẳng thiết nói năng, dù với Tô Tần cũng vậy.

Tô Tần thấu hiểu nỗi đau thương của Tôn Tẫn, và cũng mang cùng một nỗi đau thương.

“Tôn huynh, Tương Lăng có chuyện rồi.” Tô Tần nhìn sang Tôn Tẫn.

Tôn Tẫn đưa mắt nhìn lại.

“Là người Sở.” Tô Tần kể lại sơ qua tình hình, “một vạn quân trấn thủ Tương Lăng vừa chiều hôm kia nhận lệnh Ngụy Vương rời khỏi thành lên đường đi báo thù, thì sáng sớm hôm qua, Chiêu Dương đã chiếm được Tương Lăng, nói rằng có nội ứng. Mắt thấy không còn hy vọng giữ thành, để tránh họa Bình Dương tái diễn, quận thú Trịnh Khắc truyền lệnh từ bỏ kháng cự, một mình xuất thành quyết chiến với Chiêu Dương, xả thân tuẫn Ngụy.”

Tôn Tẫn thở dài một tiếng, coi như đáp lời.

“Chiêu Dương mưu Tương Lăng, ý tại đất Tống, Tề Sở giao tranh, đã khó tránh khỏi. Nếu Tề, Sở giao tranh, chỉ lợi cho Tần, con đường hợp tung càng ngày càng khó đi.” Tô Tần đầy bụng lo âu.

“Tô huynh có kế gì ứng phó chăng?” Tôn Tẫn đã chịu lên tiếng.

“‘Sử’ có câu, ‘Khánh Phụ chưa chết, nạn Lỗ chưa hết’.” Tô Tần cười buồn, “hiện giờ Khánh Phụ chính là Trương huynh, Bàng huynh đã bị Trương huynh xúi giục.”

“Tô huynh...” Tôn Tẫn trong lòng thấp thỏm.

“Than ôi,” Tô Tần khẽ thở dài, “ban xưa tại hạ ép Trương huynh sang Tần, là muốn để Trương huynh giúp Tần củng cố nền móng, dựa vào núi sông hình thành thế đối địch, thúc đẩy sáu nước hợp tung. Sáu nước có Tần, kết minh sẽ chắc, Tần có sáu nước, gốc ắt vững bền. Sáu nước và Tần chế ngự lẫn nhau, thiên hạ sẽ không còn giao tranh nữa. Nào ngờ Trương huynh rời Tần sang Ngụy, một tay khuấy đảo, nhiễu loạn thiên hạ, lại trở thành căn nguyên gây nên loạn cục.”

Tôn Tẫn lo âu: “Tô huynh nhắc tới Khánh Phụ, kế sách hẳn không phải là... diệt trừ Trương huynh đấy chứ?”

Tô Tần lắc đầu: “Khánh Phụ năm xưa đã tự động rời khỏi nước Lỗ!”

“Tuyệt diệu!” Tôn Tẫn gật đầu khen ngợi, “có thể ép Trương huynh rời Ngụy, quay trở về Tần, sẽ trợ giúp cho sách lược hợp tung của Tô huynh, khiến ván cờ thiên hạ quay về hoà hợp!”

“Than ôi!” Tô Tần thở dài thườn thượt.

Sau khi chiếm được Tương Lăng, Chiêu Dương lại thực hiện kỳ chiêu vỗ yên dân chúng, tiếp tục dùng các quan viên cũ của Ngụy, dựa theo chức tước cũ để tái nhiệm, lập sổ sách tâu về Sính Đô, đồng thời khích lệ thương nhân buôn bán, thanh lý phủ khố, lấy ra một nửa lương thực trong kho phát chẩn cho người nghèo khó, cứu tế cho kẻ cô quả bệnh tật. Chưa tới vài ngày, tám ấp Tương Lăng đều đã thuận tòng, trăm họ không ai không vui cười hớn hở, nguyện theo quan viên thay đổi hộ tịch, trở thành dân Sở.

Cùng với đó, Chiêu Dương cũng chuyển vào ở trong phủ quận thú của Trịnh Khắc, bố trí quân mã tại các nơi trọng yếu đúng như kế sách đã định, cẩn trọng phòng ngừa quân Ngụy phản kích. Thấy việc Tương Lăng đã ổn thoả, đại quân của Cảnh Thúy cũng rời khỏi Phương Thành, tiến sát tới Hình Sơn, để trợ lực cho Tương Lăng.

Song Ngụy Vương đã không còn hơi sức mà đánh nữa.

Mười ngày trôi qua, không thấy phía Ngụy có động tĩnh gì bất thường, Ngận Thượng quyết định quay về Sính Đô, bèn tới phủ quận thú của Trịnh Khắc để từ biệt Chiêu Dương. Chiêu Dương vốn dĩ chẳng ưa Ngận Thượng kè kè bên cạnh, giả vờ níu giữ vài câu, rồi giao cho Ngận Thượng hơn chục bó thẻ tre và vài chiếc rương lớn, dặn hắn mang về dâng lên Sở Vương. Thẻ tre ghi chép tình hình kho lương của Ngụy và con số đã mang phát chẩn, còn trong rương lớn đựng đầy đặc sản vùng Tương Lăng, Chiêu Dương lấy đó làm đợt chiến lợi phẩm đầu tiên dâng lên Sở Vương.

Chiêu Dương tiễn ra cổng phủ, đỡ lấy một rương lễ vật Chiêu Ngư vừa đưa lại, trao tận tay Ngận Thượng, cười nói: “Không có giám quân đại nhân dốc sức tương trợ, thì đâu có được thắng lợi Tương Lăng, thân là chủ tướng, tại hạ cảm kích vô vàn. Đồ tế nhuyễn trong rương, đều là tài vật trong phủ quận thú, khó mà bày tỏ lòng thành, vẫn mong giám quân đại nhân vui lòng nhận cho, biết đâu có thể mua vui cho phu nhân chốc lát.”

Ngận Thượng hai tay đón lấy, đặt vào trong xe, vòng tay cảm tạ: “Tạ ơn chủ tướng quan hoài! Chủ tướng thần uy, Ngận Thượng thực lòng khâm phục. Cung chúc đại nhân thừa thắng xung phong, lại truyền tiệp báo!”

Nhìn theo xe ngựa của Ngận Thượng xa dần, Chiêu Ngư hạ giọng nói: “Nghe nói mấy ngày nay, con gái của Trịnh Khắc luôn ở trong trướng của hắn!”

“Chà!” Chiêu Dương thở dài, “đứa trẻ đáng thương, mong rằng vật ở trong rương có thể an ủi con bé phần nào!”

“Cha, thì ra cha muốn tặng cho nàng ấy?” Chiêu Ngư ngỡ ngàng.

“Nếu không tặng cho con bé, Ngận Thượng hắn dám nhận không? Ngận Thượng hắn muốn nhận không?”

“Nghe nói phu nhân của Ngận Thượng rất ghê gớm, ở nhà nói một thì không có hai, nay Ngận Thượng dẫn mỹ thiếp về nhà, hậu viện không chừng sẽ một phen bão tố!”

“Đàn bà chỉ là đàn bà, chẳng thể lật đổ bầu trời được!” Chiêu Dương quẳng lại một câu, rồi quay người vào phủ.

Trên đường trở về Sính Đô, Ngận Thượng và Trịnh Tụ đi cùng một xe, hai bên ngồi đối diện nhau.

Hơn chục ngày đêm, cùng Trịnh Tụ ở cùng một trại, ngồi cùng một xe, ngoại trừ đêm đầu tiên kiểm tra ngọc thể của nàng, Ngận Thượng chưa hề vượt qua ranh giới lễ nghi nam nữ. Trịnh Tụ trong lòng cảm khái, đã hoàn toàn tin tưởng Ngận Thượng.

Đường đi gập ghềnh, xe mui lắc lư xóc nảy.

Ngận Thượng lim dim mắt ngủ, Trịnh Tụ nhìn ra ngoài cửa sổ.

“Ngận đại nhân?” Trịnh Tụ chợt ngoảnh đầu, khẽ gọi.

Ngận Thượng mở choàng mắt.

“Còn cách Sính Đô bao xa?”

“Xa lắm!”

“Phải đi bao lâu nữa?”

“Theo tình hình trước mắt, nếu trời không mưa, chí ít cũng phải hai mươi ngày.”

“Ngận đại nhân, ông...” Trịnh Tụ ấp úng, “thực sự muốn tôi lấy Sở Vương ư?”

“Nàng sinh ra đã là nữ nhân của vua rồi.” Ngận Thượng nghiêm trang đáp, “nàng hãy nhớ kỹ, không phải là lấy, mà là tiến cống.”

“Tôi nhớ rồi.” Trịnh Tụ gật đầu, “về tới nơi, đại nhân sẽ tiến cống ngay?”

“Trong cung có đến ba nghìn giai nhân, nếu cứ để nàng thế này mà nhập cung, e là sẽ không có ngày mở mặt.”

“Tôi...”

“Nàng cần ở lại trong phủ của ta đến khi đủ tuổi cập kê, sau đó, ta sẽ tìm cơ duyên thích hợp để mời đại vương đến phủ, cho nàng hầu hạ, khiến đại vương vui lòng. Nếu đại vương thích nàng, sẽ tự đưa nàng vào cung.”

“Nếu không thích thì sao?”

Ngận Thượng nhún vai, chỉ cười khẽ.

“Tôi... phải làm thế nào mới có thể khiến đại vương vui lòng?”

“Chỉ cần nàng làm được hai điều.”

“Hai điều gì?”

“Thứ nhất, quên đi thù hận!”

Sắc mặt Trịnh Tụ sa sầm ngay xuống, hồi lâu mới nói: “Đại nhân bảo tôi quên đi cha con Chiêu Dương?”

“Đúng vậy.” Ngận Thượng rút từ dưới đệm ngồi ra một thứ, mở lớp vải bọc, bày ra chiếc rương mà Chiêu Dương đã tặng trước lúc lên đường, đoạn đẩy về phía Trịnh Tụ, “hãy mở ra xem.”

Trịnh Tụ mở ra, lập tức hai mắt trợn trừng.

Trong rương chỉ đựng hai hộp nữ trang, một là của nàng, một là của mẹ nàng.

Trong hai hộp chứa toàn bộ đồ trang sức mà hai mẹ con nàng thường ngày vẫn dùng.

Trịnh Tụ nước mắt giàn giụa, cảm kích nhìn Ngận Thượng.

“Không phải nhìn ta, là Chiêu Dương bảo ta tặng cho nàng. Mấy hôm nay, ông ta đã chuyển vào ở trong phủ của cha nàng đấy.”

“Tôi căm hận chúng!” Lồng ngực Trịnh Tụ phập phổng dữ dội, giọng nói rít qua kẽ răng, “tôi không thể làm theo yêu cầu này của đại nhân, tôi không thể quên được cha con hai kẻ đó!”

“Nàng dứt khoát phải quên!” Giọng Ngận Thượng bình thản nhưng nghiêm nghị, “chỉ có quên đi thù hận, nàng mới có thể sống vui vẻ thực sự. Chỉ có sống vui vẻ thực sự, nụ hoa này mới có thể xoè nở rực rỡ. Chỉ khi nở rực rỡ rồi, nàng mới có thể khiến Sở Vương yêu thích. Chỉ có khiến Sở Vương yêu thích, nàng mới có thể đâm mũi dao vào ngực kẻ thù.”

Trịnh Tụ hai tay bưng mặt, rũ gục đầu, hồi lâu sau, mới ngẩng lên: “Tôi sẽ thử. Hãy nói cho tôi biết, phải làm thế nào để quên?”

“Chôn chặt thù hận tận đáy lòng, không được hé lộ mảy may, chỉ luôn nghĩ tới điểm tốt đẹp của Chiêu Dương!”

“Hắn giết cha giết anh tôi, bức chết mẹ tôi, có chỗ nào tốt đẹp?”

“Chính là cái này!” Ngận Thượng chỉ vào hộp trang sức, “ông ta đã trả lại những thứ này cho nàng, là muốn nói với nàng rằng, ông ta cũng chỉ vì bất đắc dĩ. Tình cảnh lúc đó, nàng đã thấy cả rồi, ông ta không muốn giết cha nàng, mà do cha nàng tự tìm đến cái chết. Cha nàng đánh cược với ông ta, thứ mang ra đánh cược, chính là phải đối xử tử tế với bách tính. Chiêu Dương đã giữ đúng lời hứa, không hề xử tệ với một người dân Tương Lăng. Còn về anh trai nàng, cũng là tự tìm đường chết. Mẹ nàng, cũng là tình nguyện tự vẫn.”

Trịnh Tụ lại cúi đầu không nói.

“Còn nữa, dù không bị Chiêu Dương giết chết, cha nàng cũng không còn đường sống.” Ngận Thượng tiếp tục giải thích, giọng nói vẫn ung dung điềm đạm như cũ, “quân Sở tập kích, phá vỡ cổng thành đông rồi mà quân Ngụy vẫn ngủ say không hề hay biết. Tới khi cha nàng nhận rõ sự tình, chỉ còn hai đường lựa chọn. Thứ nhất, thúc trống chiến, lệnh cho quân dân toàn thành quyết tử nơi ngõ phố, tám ấp Tương Lăng ắt máu chảy thành sông, toàn bộ dân chúng cùng ngộ nạn. Thứ hai, từ bỏ kháng cự, cha nàng đã chọn cách này. Hãy nhớ, nàng có một người cha thực lòng lo toan cho lê dân bách tính. Không chiến mà bỏ thành, ở bất cứ nước nào cũng là tội chết. Cha nàng lựa chọn xả thân trong trận, có thể nói, đây lựa chọn sáng suốt duy nhất. Còn như mẹ và anh trai nàng, ta không muốn nói thêm.”

“Nếu như Chiêu Dương đã là bất đắc dĩ, thì cớ sao tôi lại phải hận ông ta? Cớ sao tôi lại phải giết ông ta?” Trịnh Tụ nửa như tự vấn, nửa như vặn hỏi Ngận Thượng.

“Nàng buộc phải giết ông ta. ‘Lễ’ có câu, thù giết cha không đội trời chung, thù giết anh em gặp đâu đánh đấy, thù giết bằng hữu không ở chung nước.”

“Có nghĩa là gì?” Đương nhiên Trịnh Tụ chưa được học những điều thế này.

“Có nghĩa là, với kẻ thù giết cha, hoặc là hắn chết hoặc là mình chết. Với kẻ thù giết anh em, sẵn sàng báo thù bất cứ lúc nào. Với kẻ thù giết bạn, không cùng hắn sống chung một nước.”

“Tôi hiểu rồi.” Trịnh Tụ nhìn thẳng vào Ngận Thượng, “Ngận đại nhân, ông có thù với Chiêu Dương ư? Ông cứu tôi chính là muốn để tôi giết hắn?”

Ngận Thượng khẽ cười: “Ta với Chiêu Dương không thù không oán, chỉ là không thích ông ta. Còn như cứu nàng, bởi vì nàng sinh ra để làm nữ nhân của vua. Ta là bề tôi của vua, dâng nữ nhân lên vua cũng là chức trách của ta!”

Trịnh Tụ không còn ngờ vực nữa, điềm đạm nói tiếp: “Đại nhân vừa nói, vẫn còn một yêu cầu nữa!”

“Học làm nữ nhân của vua!”

“Học thế nào?”

“Hiểu vua.”

Tôi còn chưa được gặp vua, làm sao hiểu vua được?”

“Đây chính là điều mà chúng ta sẽ trò chuyện trên đường về, nàng phải lắng tai nghe mới được.

Ngận Thượng vừa đi khỏi, Chiêu Dương lập tức giao Tương Lăng cho Chiêu Ngư cai quản, còn mình quay về Hạng Thành.

Ngày thứ ba sau khi về tới Hạng Thành, Trần Chẩn từ Sính Đô cũng vừa kịp tới.

“Chúc mừng đại nhân đã được thoả nguyện!” Trần Chẩn cười nói.

“Than ôi!” Chiêu Dương thở dài đánh sượt.

Trần Chẩn “ồ” lên một tiếng khoa trương, rồi cười nói: “Chiêu đại nhân nằm mơ cũng nghĩ tới Tương Lăng, hôm nay đã toại nguyện rồi, cớ sao vẫn còn thở ngắn than dài?”

Chiêu Dương bèn đem chuyện cả nhà họ Trịnh tuẫn thân Tương Lăng cùng chuyện Công Tôn Diễn dẫn theo vợ con tìm đến tận cửa kể lại một lượt.

Trần Chẩn rõ ràng không chút hào hứng với chuyện của nhà họ Trịnh, mà nheo tít đôi mắt, lẩm bẩm nhắc lại lời Công Tôn Diễn: “Hỷ ở Tương Lăng, táng cũng ở Tương Lăng!” Rồi tặc lưỡi xuýt xoa, gật đầu, “ồ, thú vị đấy!”

“Nghĩa là gì?” Chiêu Dương đổ người về phía trước.

“Công Tôn Diễn thú vị.”

“Chao ôi, Trần huynh,” Chiêu Dương lấy làm sốt ruột, “hắn thú vị chỗ nào, huynh mau nói ra đi.”

“Hắn đang kê thuốc cho đại nhân đấy!” Trần Chẩn nheo tít mắt, đầu lắc lư, càng cố tình úp mở.

“Thuốc gì?” Chiêu Dương gần như đã ghé sát lại trước mặt Trần Chẩn.

“Thuốc mất ngủ. Ha ha ha, chẳng phải phương thuốc đã hiệu nghiệm rồi đấy ư?”

“Phải rồi.” Chiêu Dương cười nhăn nhó, nhún vai, “suốt mấy hôm nay đúng là không ngủ được, đầu óc chỉ nghĩ tới Công Tôn Diễn. Tại hạ và hắn vốn không qua lại, mà lần đầu tiên gặp mặt, hắn đã...”

Trần Chẩn bật cười: “Hắn và tại hạ, kể đã nhẵn mặt nhau. Dù ở Ngụy, hay ở Tần, hắn đánh một phát rắm, tại hạ cũng biết ngay là hắn vừa ăn gì?”

“Trần huynh nói xem,” Chiêu Dương đã có vẻ bình tâm trở lại, cười nói, “cớ sao hắn lại muốn kê thuốc cho tại hạ?”

“Vì Tương Lăng, vì Trịnh tướng quân.” Trần Chẩn giải thích, “Công Tôn Diễn rất coi trọng Tương Lăng, xem đó như chiếc chìa khoá nắm giữ các nước lưu vực sông Tứ. Lần trước người Tề công thành, Công Tôn Diễn lập tức chạy thẳng tới Tương Lăng, kề vai sát cánh cùng Trịnh Khắc, tình thân khác nào anh em. Nếu không nằm ngoài dự liệu của tại hạ, lần này Tề Ngụy xung đột, Công Tôn Diễn nhất định đã ngửi thấy gì rồi, nên mới tới trợ chiến, kết quả vẫn chậm một bước, để đại nhân nhanh chân thủ thắng. Công Tôn Diễn vô cùng hậm hực. Theo như tại hạ biết, Công Tôn Diễn là người đảm lược, nhưng lòng dạ lại hẹp hòi, là kẻ không chịu thua ai, thấy đại nhân chiếm được Tương Lăng, giết chết Trịnh Khắc, mới tới đại trướng hù doạ vài câu, âu cũng là lẽ thường tình!”

“Ha ha ha ha,” Chiêu Dương như trút được tảng đá đè trĩu trong lòng, phá lên cười sảng khoái, “nghe Trần huynh giải thích, tại hạ đã có thể yên tâm ngủ ngon rồi.” Ghé lại gần, “tại hạ còn một việc muốn nhờ cậy, Trần huynh có rảnh xin qua Tống thất một chuyến, thay mặt tại hạ hỏi thăm Tống Yển.”

“Việc hay đây!” Trần Chẩn cười nói, “lần trước gặp gỡ ở Từ Châu, tại hạ và Tống Yển cũng có qua lại chút ít, lâu rồi không gặp, vừa hay đang muốn tìm ông ta hàn huyên chuyện cũ!”

Trần Chẩn nghỉ lại Tương Lăng một ngày, rồi đánh xe tới Tuy Dương.

Tương Lăng cách Tuy Dương chưa đầy trăm dặm, ngựa Trần Chẩn đi nhanh, chỉ vài canh giờ đã tới nơi.

Mấy ngày gần đây, ba nước lớn luân phiên qua lại, đánh nhau rầm rập ngay trước cửa nước Tống, khiến Tống Yển ăn không ngon ngủ không yên. Nhất là mới đó không lâu, mắt thấy người Tề bại trận, Tống Yển nghe theo lời Trương Nghi, cự tuyệt không cho tàn binh Tề vào ải, nào ngờ đến cuối cùng lại là người Tề thủ thắng. Tống Yển hiểu rõ tính khí hổ lửa của Điền Kỵ, lần này gây thù kết oán sâu dày, đang chưa nghĩ ra kế sách nào hay thì người Sở lại thình lình chen chân vào, phái đặc sứ đến tận cửa, khiến ông ta mừng vui khôn xiết.

Tống Yển đích thân dẫn quý tộc Tống thất ra tận ngoài thành nghênh đón, đẩy Trần Chẩn ngồi lên xe vua, rầm rập lăn bánh vào trong cung thành, bày tiệc khoản đãi, vô cùng trang trọng.

Đêm đó, Trần Chẩn bị quân thần Tống thất chuốc rượu tuý luý, Tống Yển phá lệ giữ ông ta ở lại hậu cung, phái mỹ nữ hầu hạ.

Sáng hôm sau, Tống Yển xử lý xong việc triều chính, vội vã tới chỗ Trần Chẩn ngồi chờ.

Mặt trời lên ba con sào, Trần Chẩn mới ngủ dậy, thấy Tống Yển ngồi thù lù giữa nhà thì giật mình sửng sốt, vội vã hành lễ: “Tại hạ nào có tài đức gì, mà được bệ hạ giữ lại trong cung, còn nhọc đến bệ hạ phải chờ như vậy?”

Tống Yển cười nói: “Đất Tống hẻo lánh, hiếm hoi lắm mới được đặc sứ quang lâm, Yển chỉ lo tiếp đãi không chu đáo, không dám sao nhãng.”

“Chẩn quá chén mất mặt, làm phiền bệ hạ rồi!”

“Đặc sứ có thể quá chén, chính là nể mặt Tống Yển, Yển cảm kích vô cùng!”

Hai người đưa đẩy vài câu, Tống Yển thu thân nghiêm mặt, sửa áo vòng tay, không thể chờ đợi thêm nữa, vào luôn chuyện chính: “Đặc sứ chu du liệt quốc, xứng là đại hiền đại trí. Yển chỉ ru rú nơi xó xỉnh, cô lậu quả văn, khẩn cầu đặc sứ ban cho đôi lời mở mang tầm mắt!”

“Mở mang thì không dám!” Trần Chẩn vòng tay đáp lễ, “đất Tống sản vật phong phú, không lo lũ hạn, nam bắc thông suốt, đông tây khoát đạt, kinh thương nhộn nhịp, xứng danh là vùng đất màu mỡ, nhân kiệt địa linh hàng đầu thiên hạ. Bệ hạ ngự trên mảnh đất màu mỡ này đã hơn chục năm, tuy có kinh động nhỏ nhưng không có nguy hiểm lớn, Chẩn cả gan dám hỏi đại vương, là nhờ đâu?”

“Yển ngu muội, xin đặc sứ chỉ giáo!”

“Nhờ Đại Ngụy.”

“Ồ?”

“Mười hai năm trước, Tề Vương hẹn Ngụy Vương gặp gỡ ở Từ Châu, đại vương có tới dự, tại hạ cũng may mắn có mặt. Đại vương có biết Tề Vương cớ sao lại hẹn Ngụy Vương ở Từ Châu, và hai vương Tề Ngụy cớ sao lại hậm hực ra về?”

Tống Yển lắc đầu.

“Chính vì đại vương đó.” “Ồ?” Tống Yển sửng sốt.

“Người chuyển lời hẹn đến Tề Vương là tại hạ.” Trần Chẩn bèn kể lại đầu đuôi, “lúc đó, Ngụy Vương phía tây đại bại trước Tần, nôn nóng phục thù, mới cầu viện Tề Công, Tề Công nói có thể cứu viện, nhưng Ngụy Vương cũng phải tôn Tề làm vương. Tại hạ lập tức sai ngựa cấp tốc về tấu báo lên Ngụy Vương, Ngụy Vương thuận tình. Tề Vương hẹn gặp Ngụy Vương ở Từ Châu, rồi đòi Ngụy Vương cắt Bành Thành cho Tề. Ngụy Vương không muốn bắt đại vương cắt đất, nên mới mời đại vương cùng tới dự. Tề Vương thấy đại vương cũng đến, hiểu rằng Ngụy Vương không chịu, nên mới ngượng quá hoá giận, trong khi gặp gỡ, tìm đủ mọi cách sỉ nhục Ngụy Vương, nào ngờ sau đó, lại bị nước Ngụy đánh cho thảm bại ở Hoàng Trì.”

Những lời này, tuy đều do Trần Chẩn bịa đặt ra, song Tống Yển lại hoàn toàn tin là thật, bởi ông ta quá hiểu dã tâm của Tề Vương.

“Tiếp đó là nước Sở,” Trần Chẩn tiếp tục thao thao bất tuyệt, “sau cuộc chiến Hoàng Trì, tại hạ do có chút ân oán riêng tư với Bàng Quyên, mới phải rời Ngụy sang Tần. Một năm sau, Chiêu Dương dẫn đại quân thẳng tới Bành Thành. Tề đến Từ Châu mưu lấy đất của đại vương là chuyện trong tối, Sở tấn công Bành Thành uy hiếp đại vương là chuyện ngoài sáng. Ngụy Vương lại tiếp tục xuất binh, lệnh cho Bàng Quyên giao chiến với Sở, diệt sáu vạn quân Sở, ép Sở lui binh, đại vương mới thoát được một cơn kiếp nạn.”

“Chính phải, chính phải!” Tống Yển muôn phần cảm kích, “Ngụy Vương quả nhiên trượng nghĩa.”

Trần Chẩn phá lên cười lớn: “Nếu đại vương nói Ngụy Vương trượng nghĩa, tức là không hiểu Ngụy Vương rồi. Ngụy Vương hai lần khai chiến vì đại vương, đều không bởi lòng trượng nghĩa, mà chỉ muốn độc chiếm đất Tống mà thôi!”

“Chính phải!” Tống Yển thán phục, vòng tay nói, “đặc sứ nói ra, lời lời hữu lý, chữ chữ nhập tâm!”

“Tạ ơn bệ hạ yêu quý!” Trần Chẩn vòng tay đáp lễ, “theo như Chẩn hiểu, thiên hạ ngày nay, chỉ trông vào thế, vào lực, vào danh, vào lợi, kẻ mạnh mưu đồ vương nghiệp, kẻ yếu mong giữ xã tắc, đâu còn ai nhắc đến nhân nghĩa đạo đức, lễ nhạc công lý, ai cũng chăm chăm lừa gạt lẫn nhau. Còn tin vào những ngôn từ hủ lậu rỗng tuếch kia, họa có là kẻ ngốc.”

“Chính phải, chính phải!” Tống Yển càng thêm cảm khái, luôn miệng khen hay.

“Nếu đã là phải, dám hỏi đại vương, có biết Trần Chẩn hôm nay tới đây có ý gì chăng?” Trần Chẩn nhìn thẳng vào Tống Yển.

“Dạy quả nhân nhận rõ thời thế.” Tống Yển đáp.

“Dạy thì không dám.” Trần Chẩn vòng tay, “Chẩn chỉ muốn hỏi bệ hạ, Sở được tám ấp Tương Lăng, đại vương có gì cảm khái chăng?”

Tống Yển cười nhăn nhó: “Quả nhân vô năng, dù là Ngụy hay Sở, Tương Lăng rơi vào tay ai, cũng như nhau cả thôi!”

“Đại vương anh minh!” Trần Chẩn chậm rãi nói, “nay thời thế loạn lạc, đúng như Chẩn vừa bẩm báo, sở dĩ bệ hạ có thể ngự trên mảnh đất màu mỡ này mà vẫn giữ được xã tắc, trải bao phen kinh sợ mà không nguy hiểm, chính là bởi ba nước lớn Tề, Sở, Ngụy ngáng chân lẫn nhau. Có Sở, Ngụy không dám động; có Ngụy, Tề không dám động; có Tề, Sở không dám động.”

“Chính phải!” Tống Yển gật đầu.

“Có điều, đây là cục thế của hôm qua, nay đã tan đi theo gió.”

“Ồ?” Tống Yển ngả người về trước, “xin đặc sứ nói rõ!”

Trần Chẩn hạ giọng thì thào: “Sau khi Bàng Quyên tự vẫn ở Mã Lăng, ngày tháng tốt đẹp của nước Ngụy coi như đã tới hồi kết thúc, đại vương nên tìm một chỗ dựa khác đi thôi.”

“Ý của đặc sứ là... nước Sở?”

“Đại vương anh minh!” Trần Chẩn khen ngợi.

“Thế nhưng... Bàng Quyên tuy đã chết, nước Ngụy vẫn còn Trương Nghi kia mà!”

“Dám hỏi đại vương, khi Trương Nghi ở Sở, đã bị ai tống vào đại lao?”

“Chiêu Dương!”

“Chính phải. Vạn vật trên đời, tương sinh tương khắc, khắc tinh của Chiêu Dương là Bàng Quyên, khắc tinh của Bàng Quyên là Tôn Tẫn, khắc tinh của Tôn Tẫn là Trương Nghi, khắc tinh của Trương Nghi lại là Chiêu Dương!”

“Ồ, Chiêu Dương đến Bàng Quyên còn không địch nổi, lẽ nào lại khắc được Tôn Tẫn?”

“Đương nhiên không thể, có điều, Chiêu Dương có thể khắc được khắc tinh của Tôn Tẫn là Trương Nghi, và kẻ này hiện đang ở nước Ngụy.”

“Trương Nghi không biết đánh trận, đối thủ của hắn nên là Tô Tần mới phải, cớ sao có thể khắc được Tôn Tẫn?” Tống Yển lấy làm khó hiểu.

“Đại vương,” Trần Chẩn hạ giọng, “có biết chuyện Điền Kỵ bỏ đi, Tôn Tẫn giả chết chứ?”

“Đương nhiên là biết, do Trâu Kỵ hãm hại, sự việc rất ồn ào!

“Hoàn toàn không phải, mà là Trương Nghi hãm hại!”

Tống Yển sững sờ kinh ngạc, hồi lâu sau, mới nhổm người về trước: “Tống nên đi đâu về đâu, xin đặc sứ chỉ giáo cho Yển!”

“Kết minh với Sở!” Trần Chẩn gằn từng chữ.

“Quả nhân xin kính cẩn nghe theo!” Tống Yển vòng tay nói.

Dễ dàng thuyết phục được Tống Yển lập minh ước, Trần Chẩn vô cùng đắc ý, miệng hát nghêu ngao quay về Tương Lăng.

Xe đi được chừng mười dặm, Trần Chẩn bỗng sực nhớ đến Huệ Thi, rồi lại nhớ đến Huệ Vương, bất giác rùng mình. Bất luận thế nào, nước Ngụy cũng là nơi Trần Chẩn dốc lòng gây dựng hơn chục năm trời. Từ một môn khách lên đến đại phu, rồi thượng đại phu, rồi thượng khanh, Trần Chẩn đã từng bước ngoi lên trong chốn triều đường nước Ngụy nhân tài như mây, tông thất tầng tầng lớp lớp, tay trắng dựng cơ đồ, suýt chút nữa còn ngồi lên được ngôi tướng quốc, ngờ đâu bao nhiêu nỗ lực đã đổ sông đổ bể sau một đêm chỉ bởi con trai của một gã thợ may. Trầm luân suốt mười mấy năm trời, mãi rồi Bàng Quyên cũng chết, Trần Chẩn cũng không còn trẻ nữa, song một bầu uất hận nín nhịn trong lòng, vẫn muốn tìm chỗ trút ra mới hả. Nếu vào thời khắc này, có thể đuổi được Trương Nghi, quay về nước Ngụy, đứng dậy ở chính nơi vấp ngã, thì đời này của Trần Chẩn mới được coi là mỹ mãn. Hơn nữa, chuyện này cũng không phải không có khả năng. Ngụy Vương đã già, thái tử đã chết, người kế vị trong tương lai, rất có thể là Ngụy Tự. Trần Chẩn không được lòng Ngụy Thân, song cầm chắc có thể thao túng Ngụy Tự. Tuy nhiên, theo tình thế trước mắt, nếu chỉ dựa vào sức một mình mà muốn đuổi Trương Nghi, quả thực rất đỗi khó khăn. Sau lưng Trương Nghi là nước Tần hùng mạnh, trong khi Ngụy Vương, chưa nói đến tuổi già sức kiệt, mà hiện giờ đã trở thành cô gia quả nhân thực thụ. Bàng Quyên, thái tử đều đã chết, Bạch Hổ bỏ đi, Chu Uy cáo bệnh, bên cạnh Ngụy Vương, ngoài tỳ nhân, không còn ai đáng tin nữa, đúng lúc thời thế nhiễu nhương, bốn bề ngự địch, e là càng không thể rời Trương Nghi được.

Huệ Vương bởi Bàng Quyên mà trở mặt với Trần Chẩn, nhất thời khó lòng thuyết phục ngay được, song Huệ Thi thì khác. Ngụy Vương vô cùng tin tưởng Huệ Thi, nếu không vì Trương Nghi phá rối, chắc chắn Ngụy Vương sẽ không bao giờ từ bỏ Huệ Thi.

Trần Chẩn hỏi thăm người qua đường, biết được Huệ Thi đang sống ở Mông Ấp, bèn sai phu xe quay đầu, rẽ về phía Mông Ấp.

Nhà Huệ Thi ở trong thành Mông Ấp, tuy đã lâu năm, nhưng qua tay Huệ Thi sửa sang, trông cũng khá khang trang sáng sủa.

Khi Trần Chẩn tới nơi, trông thấy bên ngoài cổng nhà Huệ Thi đỗ một cỗ xe mui, trên xe đặt một cái sọt, trong sọt đựng vài thứ thức ăn chín, thấy có bánh nướng, thịt sấy, một con ngỗng to nằm ệp bên cạnh sọt, chân trói chặt, đang rướn cổ, trợn tròn mắt nhìn chòng chọc vào Trần Chẩn, miệng kêu oang oác như cầu cứu.

Trần Chẩn đang cùng con ngỗng bốn mắt nhìn nhau, chợt thấy Huệ Thi bước ra, đưa tay đóng cổng lại.

Trần Chẩn nhảy xuống xe, tiến lên một bước, vòng tay chào: “Tiên sinh, lâu rồi không gặp, vẫn mạnh giỏi chăng!”

Huệ Thi tỏ vẻ ngỡ ngàng: “Ồ, là Trần thượng khanh đấy ư, quả thực không ngờ!” Rồi cũng vòng tay đáp lễ.

“Tiên sinh đây...” Trần Chẩn nhìn lên xe của Huệ Thi.

“Thượng khanh đây...” Huệ Thi cũng nhìn lên xe của Trần Chẩn.

Trần Chẩn bật cười: “Tại hạ phụng mệnh Sở Vương đi sứ nước Tống, mới từ Tuy Dương trở về, nhớ tới tiên sinh cũng là người Tống, hẳn có nhà, nên tiện đường ghé vào thăm hỏi.”

“Thượng khanh vẫn nhớ tới lão hủ, lão hủ xin cảm tạ!” Huệ Thi vòng tay, rồi chỉ lên xe, “có điều thượng khanh đến không đúng lúc, có người bạn vừa chết vợ, lão hủ phải đi điếu viếng!”

“Tới đúng lúc đấy.” Trần Chẩn đáp lễ, “bạn của tiên sinh, cũng là bạn của Chẩn, bạn của tiên sinh có tang, cũng là bạn của Chẩn có tang, Chẩn mong được cùng tiên sinh tới viếng!”

Huệ Thi nhìn thẳng vào Trần Chẩn, rồi gật đầu: “Nếu đã nói vậy, xin mời lên đường!” Đoạn nhảy ngay lên xe, ra roi đi luôn.

Trên đường đi qua một quán hàng, Trần Chẩn hô dừng, vào trong mua lễ vật. Trần Chẩn xưa nay chi tiêu rộng rãi, loáng cái đã mua đầy hai sọt. Trần Chẩn từng làm tông bá, hiểu rõ lễ nghi, lại hỏi đường tới một cửa hàng chuyên bán đồ tang, mua thêm không ít vật phẩm, nhồi chật ních một cỗ xe tứ mã lớn.

Thấy Trần Chẩn khách mạnh át chủ, Huệ Thi trong lòng không vui, song cũng không tiện nói gì, chỉ cười một tiếng, đánh xe khỏi thành. Chẳng mấy chốc, đã ra tới ngoại ô, đến một bãi đất trống phía trước cổng nhà Trang Chu thì dừng xe lại.

Nghe thấy tiếng xe ngựa, Giám Hà Hầu cùng quản gia ra nghênh đón.

Ánh mắt Giám Hà Hầu lướt qua Huệ Thi, dừng lại ở Trần Chẩn mũ áo chỉnh tề đứng phía sau.

“Giám Hà Quân,” Huệ Thi chỉ vào Trần Chẩn, “tôi đưa vị quý nhân này tới đây, hai người tự xưng danh với nhau đi.” Vừa dứt lời, đi luôn vào trong cổng gỗ, khi bước qua cổng, lại ngoảnh đầu, “à phải, hãy chuyển các thứ trên xe xuống!”

Giám Hà Hầu gượng cười, rồi sai quản gia dỡ đồ đạc xuống khỏi xe, quay sang Trần Chẩn ôm quyền nói: “Tại hạ Sái Sướng Thuỷ, là quan giám thuỷ lệnh nước Tống, dám hỏi quan nhân đây là...”

“Tại hạ Trần Chẩn, khách khanh nước Sở!” Trần Chẩn đáp lễ.

“Ôi chao ơi,” Giám Hà Hầu vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, “Trần đại nhân danh tiếng lẫy lừng liệt quốc, Sướng Thuỷ từ lâu đã muốn kết giao, hận nỗi chưa có cơ duyên, nào ngờ lại được gặp ở đây! Dám hỏi đại nhân, hôm nay đến đây là...”

Trần Chẩn đang định đáp lời, từ trong cổng bỗng vọng ra tiếng gõ vang vang xen lẫn tiếng hát. Nhà có tang đáng lẽ phải khóc lóc, sao ở đây đã không nghe tiếng khóc thì chố, lại còn ca hát, Trần Chẩn lấy làm lạ, nhìn sang Giám Hà Hầu.

Giám Hà Hầu nhăn nhó chỉ vào trong sân: “Trang huynh vợ mất, đã hát hai ngày rồi.”

Trần Chẩn cất bước đi vào cổng, Giám Hà Hầu theo sát sau lưng.

Trong sân đặt một cỗ quan tài đen kịt, hai đứa con nhà Trang Chu, Trang Tiêu và Trang Dao, đang quỳ ở hai bên cỗ quan tài, thản nhiên lắng nghe cha hát.

Ngay trước đầu quan tài, vốn dĩ là nơi dành cho khách tới viếng, Trang Chu đang ngồi xoạc chân hát nghêu ngao.

Giữa hai chân là cái chậu sành thường ngày vợ Trang Chu vẫn dùng rửa mặt, Trang Chu vừa hát vừa đưa tay gõ chậu bồm bộp. Hát rằng:

“Người sinh trong trời đất,

Như bóng ngựa qua khe.

Vụt cái đà biến mất,

Phải bận lòng làm chi.

Chao ơi,

Tràn trề sôi nổi,

Vạn vật sinh sôi.

Âm thầm lặng lẽ,

Vạn vật phai phôi.

Hoá mà thành sinh,

Lại hoá thành tử.

Chúng sinh buồn thương,

Người coi là dữ.

Gỡ đi buộc ràng,

Vứt bỏ gánh nặng.

Phần vân hốt hoảng,

Hồn phách phân ly.

Thân này chết đi,

Chính là quay về.

Không hình đến có,

Có hình thành không.”

Chỉ vài câu, Trang Chu đảo qua đảo lại, hát hết lần này đến lần khác, lúc khoan lúc nhặt, lúc cao lúc thấp, ngón tay bàn tay, thay nhau gõ xuống chậu sành, trông rất vui vẻ, bình thản an nhiên, không hề có chút vẻ buồn thương.

Trần Chẩn trợn mắt há miệng, đứng ngẩn hồi lâu, mới thì thào hỏi Giám Hà Hầu: “Trang huynh của ông... bình thường sống cùng phu nhân hẳn không được hoà thuận?”

“Cầm sắt hài hoà!”

“Vậy cớ làm sao...” Trần Chẩn chỉ vào Trang Chu.

Giám Hà Hầu cười khan một tiếng, coi như trả lời.

Quả nhiên, Huệ Thi nãy giờ đứng bên cạnh cũng không nhịn nổi nữa, ho lên một tiếng thật lớn, rồi chậm rãi hỏi: “Trang Chu, đã hát đủ chưa?”

Trang Chu dừng hát, nhìn sang.

“Bảo ta phải nói sao đây? Bảo ta phải nói sao đây?” Huệ Thi vẫn thủng thẳng trách móc, “trong ngày này, Trang huynh đã không khóc thương thì chớ, lại còn gõ chậu mà hát, chẳng phải quá đáng lắm ư?”

“Ồ, họ Huệ kia, ông nói thử xem, tại hạ quá đáng chỗ nào?” Trang Chu nhìn thẳng vào Huệ Thi.

“Con người ta sống ở trên đời, chuyện lớn không gì hơn sống chết,” Huệ Thi bắt đầu nói lý, “gặp sống thì vui, gặp chết thì buồn, đó là lẽ thường tình của con người. Tẩu phu nhân từ lúc theo Trang huynh, cay đắng khổ sở trăm đường, nhọc nhằn sinh con nuôi con, đói huynh không thương, ốm huynh không xót, chưa từng được sống một ngày thảnh thơi, một đời bần khổ, suốt kiếp tảo tần, nay chết đi, Trang huynh không khóc thì chớ, còn gõ chậu mà hát, lẽ nào còn không quá đáng? Cái gì mà bóng ngựa qua khe, cái gì mà không phải bận lòng, Trang huynh... lẽ nào chưa từng nghĩ tới, từ nay về sau, ai sẽ bầu bạn bên mình, hỏi han nóng lạnh, chăm lo bữa ăn giấc ngủ?”

“Chao ôi, Huệ huynh,” Trang Chu thở dài, “ngày nào cũng lo tranh luận danh thực với người, sửng cồ như gà chọi, vậy mà trước mặt danh thực, lại chẳng biết thế nào là danh thực!”

“Ái chà,” thấy Trang Chu nhắc tới danh thực, Huệ Thi phấn chấn ra mặt, dựa quan tài ngồi xuống đất, bày thế tranh biện, dài giọng mà nói, “nói thử xem, cớ sao lại bảo Huệ Thi ta không biết đến danh thực?”

“Hãy nói về sống chết vậy,” Trang Chu gạt chậu sành sang bên cạnh, “Chu tôi cứ ngỡ huynh đã nhìn thấu rồi kia, hôm nay mới thấy, huynh đã không biết sống, cũng không biết chết!” Chỉ vào cỗ quan tài “Người kia từng là vợ ta, nhưng nay đã đi xa, bảo Chu không đau buồn sao được? Thế nhưng,” im lặng chốc lát, liếc về phía Trần Chẩn, ánh mắt từ từ di chuyển trên mũ áo của ông ta, “thế nào là sống, thế nào là chết?”

Trần Chẩn lúc này, không chỉ còn là kinh ngạc nữa. Trong mắt Trần Chẩn, Huệ Thi đã sâu xa khôn lường, khiến người ta kiêng nể, nào ngờ hôm nay lại bị một gã dở điên dở khùng, bần hàn túng quẫn coi chẳng ra gì, bắt bẻ từng câu.

“Cứ theo danh thực mà luận, sống tức là không chết, chết tức là hết sống!” Huệ Thi biện luận.

“Thế nào là không chết?”

“Có khí là không chết. Không có khí là chết.”

“Nói hay lắm,” Trang Chu dõng dạc, “Trọng Ni có nói, chưa biết chuyện sống, sao biết chuyện chết. Khổng Trọng Ni chỉ bàn chuyện sống, không nói chuyện chết. Thế nhưng, sao lại không nói về chết được? Câu của Trọng Ni, nếu nói ngược lại, là chưa biết chuyện sống, sao biết chuyện chết. Nếu như giờ đây, chúng ta đã bàn về sống chết, dám hỏi Huệ huynh, sinh từ đâu tới? Chết lại đi đâu?” Lại chỉ vào cỗ quan tài, “cụ thể, hãy nói về nàng ấy, trước khi sinh, nàng ấy ở đâu?”

“Ồ...” Huệ Thi bắt đầu cuống quýt, “trước khi sinh ra, thì không có gì hết!”

“Như lời huynh nói,” Trang Chu tiếp lời, “trước khi sinh ra, nàng ấy không có gì cả, vô thanh, vô sắc, vô vị, vô hình. Vô tức là không, không tức là vô. Nàng ấy sinh ra từ không. Không tức không có khí, không có khí là chết. Rồi bỗng một hôm, cha mẹ kết hợp, âm dương hun đúc, nàng ấy biến thành có, tức thành phôi thai. Có tức là có khí, có khí tức là sống, sống tức là không chết. Khí biến hoá mà nên hình, hình biến hoá mà có sinh, sinh biến hoá mà nên lớn, lớn biến hoá mà thành thịnh, thịnh biến hoá mà thành suy, suy biến hoá mà suy kiệt, suy kiệt tức không có khí, không có khí tức là chết, có phải không?”

“Phải!” Huệ Thi đáp.

“Sống bắt đầu từ đó, vậy thì lại hỏi Huệ huynh, chết rồi sẽ đi đâu?” Trang Chu truy hỏi không tha.

“Ồ... không có khí thì chết.”

“Chính phải!” Trang Chu thuận đà biện luận, “sống là có khí, có khí thì hình thành. Chết thì không có khí, không có khí thì hình tan. Vạn vật trong trời đất, tất thảy sinh linh, không gì không vậy.” Lại chỉ vào quan tài, “nàng ấy từ không sinh ra, rồi lại trở về với không, cũng như vạn vật trong trời đất, cũng như bốn mùa xoay vần, cũng như tất thảy sinh linh, vốn dĩ là tự nhiên, lại về với tự nhiên, ta nên mừng cho nàng mới phải, cớ gì lại khóc?”

“Ờ...” Huệ Thi gãi đầu gãi tai.

Trang Chu bật cười một tràng dài, chợt đứng bật dậy: “Huệ huynh tới thật đúng lúc, tại hạ ngồi đã lâu, đang thấy cuồng cẳng, đi thôi!” Rồi kéo Huệ Thi đi luôn ra cổng, xăm xăm chạy về phía đồng hoang.

Huệ Thi vốn dĩ đang muốn thoát khỏi Trần Chẩn, bèn thuận nước đẩy thuyền, cùng Trang Chu tay dắt tay đi thẳng.

Sự việc quá bất ngờ, đừng nói là Trần Chẩn, ngay cả Giám Hà Hu cũng ngỡ ngàng đứng ngây ra.

Đến lúc định thần, Giám Hà Hầu vội vã đuổi theo, gọi ầm lên: “Trang huynh, quay lại mau, tẩu phu nhân còn chưa an táng kia mà!”

“Cảm phiền ông vậy!” Trang Tử quăng lại một câu.

Nhìn theo bóng hai người xa dần, Trần Chẩn chặc lưỡi vài cái, thực lòng thán phục: “Quả là thần nhân!”

Tề Uy Vương băng hà.

Uy Vương băng hà ngay sau ngày Tương Lăng bị chiếm, trong Tuyết cung mà ông ta yêu thích.

Vào hôm băng hà, đột nhiên, Uy Vương không còn ngây dại, ngôn hành cử chỉ khác hẳn thường ngày, thậm chí còn tỉnh táo hơn cả trước khi lâm bệnh, đi lại phăm phăm trong hoa viên, nội tể còn đuổi theo không kịp.

Hơn thế nữa, Uy Vương còn nhớ được mình là vua nước Tề, hoa tay múa chân đòi lên triều. Tích Cương hay tin, gấp rút chạy tới, thấy phụ vương đã hồi phục hoàn toàn thì vui mừng phát khóc, sai cung nữ bưng nước rửa chân lại, đỡ Uy Vương ngồi lên ngai vàng, đích thân rửa chân cho phụ vương, còn truyền chỉ cho chúng thần cùng tới Tuyết cung, dự buổi đại triều.

Chân Uy Vương còn chưa rửa xong, Trâu Kỵ đã kịp chạy tới, gần như loạng choạng lao vào cửa cung, sụp xuống bên chân Uy Vương, dập đầu sát đất, bật khóc nghẹn ngào: “Đại vương... đại vương...”

Trâu Kỵ khóc vài tiếng, rồi y theo lời căn dặn của Tích Cương, tâu lên Uy Vương tình hình ba nước Tề, Ngụy, Hàn đại chiến gần đây. Nghe tới chuyện Tôn Tẫn giả chết, Bàng Quyên phạt Hàn, Tôn Bàng đấu trí, cùng những tin vui như Tôn Tẫn bày phục binh ở Mã Lăng, tận diệt quân hổ bôn nước Ngụy, bắn chết thái tử Ngụy, chủ tướng Bàng Quyên tự vẫn, Uy Vương vô cùng phấn chấn, sau một tràng cười dài, thình lình tắt thở, cơ thể vẫn còn rung rung, chân hất đổ cả chậu nước rửa, đột ngột băng hà.

Sự thể quá ư đường đột, hết thảy triều thần có mặt, gồm cả Tích Cương, đều bàng hoàng ngây thộn. Tới khi định thần, Tuyết cung chìm trong tiếng khóc, nhất là Tích Cương, khóc tới chết đi sống lại.

Quần thần tiếp chỉ lên triều theo nhau đến nơi, thấy cảnh tượng này, không ai không đau buồn rơi lệ.

Sự việc khéo trùng hợp. Đúng lúc Tuyết cung một bầu hỗn loạn, chiến báo của Điền Kỵ cũng về tới nơi, hơn nữa còn là cấp báo. Chỉ tấu báo một việc duy nhất: Chiêu Dương nước Sở sáng sớm hôm qua đã tập kích, chiếm lấy tám ấp Tương Lăng.

Tích Cương chẳng còn tâm trí đâu để suy nghĩ tới chuyện này, truyền chỉ gióng chuông tang, cả nước ai điếu. Vào buổi đại triều hôm sau, Tích Cương đường hoàng lên ngôi kế vị, lập công tử Địa làm thái tử, chính thức ngồi lên ngai vàng, nhận lễ triều bái của quần thần, chính là Tề Tuyên Vương.

Ngày thứ ba sau khi Uy Vương nhập liệm, Tuyên Vương đại xá hình ngục, cất nhắc người mới, khép Mâu Tân vào tội phản quốc mang chém đầu, bêu thủ cấp trước Tắc Môn thị chúng.

Tuy nhiên, Tích Cương suy cho cùng vẫn là Tích Cương, khó lòng chống đỡ đại cục. Nước Tề dốc cạn quốc lực đại chiến Bàng Quyên, hao tổn vô số quân nhu, đặc biệt là lương thảo tích trữ bao năm bị người Ngụy một mồi lửa đốt sạch, thực khiến người ta đau lòng xót ruột. Dẫu rằng Điền Kỵ đã thu gom được năm nghìn chiến giáp tinh xảo và vũ khí quân trang của quân hổ bôn nước Ngụy, song nước Tề cũng vì việc này mà tổn thất năm nghìn cỗ quan tài cùng hơn hai nghìn chiến mã, chỉ tính riêng điều đó, nước Tề đã thua thiệt đủ đường. Nước Sở thì khác, gần như không tốn chút hơi sức đã dễ dàng chiếm được tám ấp Tương Lăng, thu phục mười vạn dân chúng. Tương Lăng được coi là một ấp trù phú của Ngụy, chỉ riêng phủ khố đã là một khoản tiền của kếch xù. Tạm chưa nói đến điều này, Tương Lăng chỉ cách Tuy Dương gang tấc, Sở được Tương Lăng, khác nào gác mũi dao lên cổ Tống Yển, Tống Yển dù muốn không phục cũng khó.

Tích Cương càng nghĩ càng bực bội, đợi qua ba tuần thất của tiên vương, liền hạ chỉ cho Điền Kỵ đánh Sở.

Sau trận chiến Mã Lăng, Điền Kỵ chỉ huy ba quân dàn trận nghiêm mật chờ người Ngụy đến, không ngờ người Ngụy còn chưa động tĩnh, người Sở đã rục rịch trước. Điền Kỵ lòng như lửa đốt, đợi mãi mới nhận được vương chỉ, ngay ngày hôm đó lập tức lệnh cho Khuông Chương dẫn năm nghìn kỵ binh tiến đánh Sở. Móng ngựa kỵ binh đều được bịt da, chỉ chọn đường quê hẻo lánh mà đi, vòng qua Tương Lăng, vào cuối giờ Tý thì tới Hạng Thành, thả ngựa tản mát trong cánh rừng ở ngoại ô, nhân lúc đêm tối, tập kích vào thành.

Hạng Thành cách xa biên giới, quân Sở không nhận được mệnh lệnh cảnh giới, đừng nói là tường thành, ngay cả cổng thành cũng không ai canh gác, trong đó có ba cổng thành còn mở toang, để tiện cho người về muộn vào thành.

Năm nghìn ky binh đều là quân tinh nhuệ do phó tướng Khuông Chương tuyển lựa, trong cuộc chiến giằng co với Bàng Quyên, đã dày dạn công phu bôn tập đường trường. Vừa thấy cổng thành mở rộng, quân lính đều hân hoan phấn khích, lập tức ùa vào trong thành như bầy ong vỡ tổ, xông thẳng tới chỗ tàng trữ quân nhu, vũ khí, quân trang, binh xưởng, doanh trại theo như thông tin do thám từ trước, nhất loạt phóng hoả thiêu rụi, gặp người là chém giết thẳng tay. Chốc lát, lửa bốc rừng rực bốn bề, tiếng hô giết vang dậy, người Sở giật mình choàng tỉnh, người lớn la hét, trẻ nhỏ khóc gào, cảnh tượng thê thảm không sao tả xiết.

Quân Tề cũng không tham đánh, tung hoành sát phạt khắp thành chừng một canh giờ thì rút khỏi thành, vào rừng lên ngựa quay về, tới khi mặt trời mọc đằng đông, đã về tới doanh trại, kiểm lại quân số, chỉ tổn thất có hai người.

Khi quân Tề tập kích, Chiêu Dương vẫn ở trong thành, đang say giấc nồng. Rõ ràng là quân Tề đã biết phủ thú thừa ở đâu, nhưng lại không phá cổng tấn công, chỉ rào rào quẳng đuốc tẩm dầu vào trong. Đến khi Chiêu Dương kinh hãi choàng tỉnh, phủ trạch đã có vài chỗ bắt lửa. Mắt thấy thế lửa mỗi lúc một dữ, Chiêu Dương một mặt gầm thét gọi người cứu hoả, một mặt lệnh cho vệ sĩ phản kích, trong lúc ngái ngủ, không biết kẻ địch nhiều ít thế nào, phục kích ở đâu.

Chiêu Dương còn chưa hiểu rõ đầu cua tai ốc ra sao, người Tề đã kéo nhau rút sạch. Tới khi trời sáng rạng, người Sở mới dập tắt được lửa, kiểm kê tổn thất, thấy hầu hết kho tàng đều bị thiêu rụi, lương thảo quân nhu thiệt hại không biết bao nhiêu mà kể, nhà cửa bị đốt cháy vài nghìn căn, hơn ba nghìn người tử nạn, số người bị thương nhiều không đếm xuể.

Tới khi biết được là kỵ binh nước Tề tập kích, Chiêu Dương bàng hoàng kinh hãi. Từ lúc bắt đầu theo nghiệp binh đao đến nay, Chiêu Dương chưa từng gặp kiểu giao chiến thế này bao giờ, cũng vì sơ suất của mình mà hối hận mãi không thôi. Chiêu Dương đã bố trí phòng ngự trên khắp mọi nẻo đường, song không thể ngờ kỵ binh nước Tề lại chọn đi đường mòn khuất nẻo, hơn nữa chỉ trong một đêm đã băng qua lãnh thổ nước Tống, vượt Tương Lăng, bôn ba suốt vài trăm dặm đường để tập kích Hạng Thành.

Sửng sốt qua đi, tới hồi thịnh nộ, Chiêu Dương quyết chí khai chiến với Tề.

Kỳ thực, Chiêu Dương sớm đã chuẩn bị sẵn sàng để giao chiến với Tề. Sau trận Mã Lăng, Chiêu Dương dám chiếm Tương Lăng, là bởi hiểu rõ khí thế của người Ngụy đã tới hồi tận, có thể giao tranh, chỉ là người Tề.

Quả nhiên, người Tề đã tới giao tranh.

Chiêu Dương xuất liền ba chiêu, gần như một mạch, thứ nhất truyền lệnh toàn bộ nước Sở sẵn sàng cho đại chiến, lệnh cho Cảnh Thúy dẫn năm vạn quân vượt qua Hình Sơn, đóng bên ngoài Tương Lăng, cầm chân quân Ngụy, chi viện Tương Lăng. Lại điều động năm vạn thuỷ binh, năm trăm chiến thuyền của người Việt, tập hợp ở Lang Nha, theo đường biển tấn công Tề; thứ hai, gửi chiến báo hoả tốc lên Sở Vương, tấu báo phóng đại về thảm trạng của Hạng Thành, cùng sách lược khai chiến cụ thể với Tề; thứ ba, truyền lệnh cho quân chủ lực chinh phạt Tương Lăng tầm bảy vạn, do Chiêu Ngư làm tiên phong, rầm rộ tiến vào đất Tiết, hình thành thanh thế lớn mạnh, sẵn sàng từ đất Tiết đánh tới Lâm Truy.

Đương nhiên, mục tiêu của Chiêu Dương không phải là Lâm Truy, mà là đất Tiết. Tiến đánh Lâm Truy chỉ là hung hăng bày thế hù doạ, ép Tề Vương nhượng bộ. Đất Tiết vốn là nước hầu tại bờ bắc sông Tứ, lập nước đã lâu, hơn chục năm trước bị Tề Uy Vương huỷ diệt từ đường. Đất Tiết phía bắc giáp Trâu, Lỗ, phía tây giáp Đằng, phía nam giáp Tống, phía đông giáp Sở Việt, xứng danh là cây đinh cứng của nước Tề đâm thẳng vào các nước bờ nam sông Tứ, khiến Chiêu Dương ngứa mắt đã lâu. Cũng chính bởi đất Tiết có vai trò trọng yếu, nên Tề Uy Vương đã đặc biệt ban phong cho Điền Anh, Điền Anh tích cực hưng công, xây thành cao, đào hào sâu, biến nơi này thành tiền tuyến chống Sở. Tương Lăng đã ở trong tay, nếu Chiêu Dương lại lấy được Tiết Thành, một đòn nhổ bật mũi đinh nhọn của nước Tề, thì cơ hồ toàn bộ các nước nhỏ ở lưu vực sông Tứ đều đã nắm trọn trong tay người Sở.

Trong các nước nhỏ ở lưu vực sông Tứ, sau khi nước Vệ suy yếu, hiện giờ còn khả năng chống trụ, chỉ còn có Tống và Lỗ. Nước Tống nhiều nhất có thể xuất được năm trăm cỗ xe chiến, thực lực khá mạnh. Nước Lỗ tuy gần đây sức mạnh đã giảm nhiều do bị Tề chèn ép, song vẫn có thể xuất được hai trăm cỗ xe chiến, thực lực vượt trên nước Vệ. Sau khi nước Tống bị Trần Chẩn thuyết khách thành công, người Sở đã có thể dễ dàng mượn đường, nếu lại thuyết phục được Lỗ Công, thì Chiêu Dương càng vững tin để giao chiến với Tề.

Người đi sứ Lỗ, không ai khác ngoài Trần Chẩn.

Chiêu Dương sai người lập tức sang Tống, chặn Trần Chẩn lại giữa đường, mời ông ta đi thẳng sang nước Lỗ.

Nước Lỗ lúc này, Cảnh Công Cơ Yển đang tại vị.

Trong các nước ở lưu vực sông Tứ, nước Lỗ nằm sát nước Tề, từ sau khi Cơ Yển kế vị, tuy rằng không bị nước Tề diệt từ đường giống như nước Tiết, song cũng như các nước khác ở gần Tề là Trâu, Tống, Vệ, thường xuyên bị nước Tề ức hiếp. Lỗ Cảnh Công tuy đầy bụng oán hận, song trước nước Tề hùng mạnh, cũng chỉ biết nuốt giận chịu nhịn. Nhưng quá đáng là ba năm về trước, nước Tề vô duyên vô cớ, đùng đùng bức ép nước Lỗ cắt nhượng bảy thành ấp biên cương, Lỗ Cảnh Công không thể nhẫn nhịn thêm được nữa, lập tức phái sứ thần sang hỏi thăm Ngụy, Sở, mong hai nước lớn giúp mình đứng ra đòi lại công bằng, nào ngờ đều bị đối đãi lạnh nhạt. Lần này Trần Chẩn chủ động tìm đến, gợi lại chuyện cũ, nói rằng chỉ cần Lỗ kết minh với Sở, Sở hứa sẽ giúp Lỗ đòi về bảy ấp đã mất, và đảm bảo đất Lỗ không còn bị ai xâm phạm nữa. Các nước nhỏ ở lưu vực sông Tứ kẹp giữa hai nước lớn là Tề, Sở, người Tề hay quấy nhiễu, người Tống đã nghiêng theo Sở, Lỗ Cảnh Công quyết định đánh liều một phen, kết minh với Sở.

Sau khi minh ước được ký kết, Trần Chẩn dấn thêm một bước, đề nghị mượn quân, nói rằng chỉ khi nước Sở đánh thắng Tề, mới có thể giúp Lỗ thu hồi bảy ấp, nước Sở tuy quân nhiều tướng mạnh, không sợ nước Tề, song Tề có hai danh tướng Tôn Tẫn và Điền Kỵ đã từng đánh bại Bàng Quyên, nên Chiêu Dương cũng không thể nắm chắc mười phần thắng. Hai nước đều có sở trường sở đoản, thực lực tương đương, trên chiến trường khó phân cao thấp. Nếu Lỗ chịu xuất binh tương trợ, Sở sẽ cầm chắc phần thắng.

Việc tới nước này, Lỗ Cảnh Công chỉ còn biết nghiến răng nhận lời, lệnh cho đại tư mã xuất một vạn quân, một trăm xe chiến trợ giúp.

Chiến hoả lan tới đất Tiết, Đằng Văn Công ở nước láng giềng đứng ngồi không yên, phái sứ thần cấp tốc tới đất Trâu, mời Mạnh phu tử về cứu Ngụy.

Nước Đằng tuy nhỏ, song là một trong những công quốc lâu đời nhất ở bờ bắc sông Tứ, tiên tổ là Cơ Tú, em ruột của Chu Vũ Vương, đã từng hiển hách một thuở, truyền tới đời Văn Công, lãnh thổ chỉ còn lại chưa đầy năm mươi dặm. Khi Đằng Văn Công còn là thế tử, từng tới đất Trâu, kết giao với Mạnh phu tử, rất cảm phục nhân phẩm của người này. Sau khi kế vị, Văn Công mời Mạnh phu tử tới Đằng, giúp mình trị quốc. Thế nhưng Mạnh phu tử tới Đằng được hai năm thì cáo biệt hồi hương, phần vì Đằng là nước nhỏ, không phải là chốn rồng cuộn hổ gầm, phần vì Đằng Văn Công không có hoài bão lớn, nhân chính chỉ nói ở đầu môi, mà không chịu thực thi cho đến nơi đến chốn.

Sau khi Mạnh phu tử đi rồi, Văn Công lại thấy vô cùng nhẹ nhõm, nhưng những ngày thư thái chưa kéo dài được bao lâu, chiến hoả đã cháy lan tới cửa. Đằng là mảnh đất cỏn con, đã không có hiền thần, cũng chẳng còn lương tướng, biết lấy gì ứng phó. Văn Công không biết phải làm sao, suy đi nghĩ lại, chỉ còn cách mời Mạnh phu tử quay về.

Mạnh phu tử tên Kha, là hậu duệ của Mạnh Tôn thị, vốn là công tộc nước Lỗ, sau khi gia nghiệp suy vi, dời nhà sang đất Trâu sinh sống. Khi Mạnh phu tử còn nhỏ, Mạnh mẫu nhiều lần chuyển nhà, cuối cùng định cư ở vùng ngoại ô gần Trâu Thành, sau khi trưởng thành, Mạnh phu tử mấy lần sửa sang xây dựng, cơ ngơi hiện tại đã khá khang trang.

Trạch viện cách đô thành không xa cũng không gần, không ồn ào cũng không hẻo lánh, là nơi lý tưởng cho người học vấn. Đất đai rộng chừng năm mẫu vuông, được mẹ con Mạnh phu tử chăm chút vun trồng, xung quanh cây cối xanh rợp, hoa cỏ tốt tươi. Một dãy rào thưa vây quanh trạch viện, gồm ba dãy nhà, dãy ngoài cùng khá sơ sài, là nơi tá túc cho đệ tử từ xa tới; dãy giữa giản dị chân phương, là nơi Mạnh Tử tu học và tiếp đãi tân khách; dãy trong cùng khá lịch sự, là nơi ở của Mạnh mẫu và gia quyến.

Sứ thần của Đằng Văn Công dừng xe ngựa trước dãy nhà đầu tiên, hơn chục đệ tử nghe tiếng bước ra nghênh đón. Hành lễ xong xuôi, sứ thần truyền khẩu dụ của Đằng Văn Công, mời Mạnh phu tử gấp rút tới đất Đằng, có quốc sự khẩn cấp cần thương lượng. Chúng đệ tử đưa mắt nhìn nhau, không hẹn mà cùng đổ dồn ánh mắt vào đại sư huynh Vạn Chương.

Thấy sự việc cấp bách, Vạn Chương vòng tay về phía sứ thần nói: “Sứ thần đi đường mệt nhọc, xin hãy tạm nghỉ ngơi chốc lát, tại hạ sẽ bẩm báo ngay lên tiên sinh!” Nói đoạn đưa mắt ra hiệu với sư đệ Nhạc Chính.

Nhạc Chính tươi cười, tiến lại níu tay sứ thần, dẫn đến chiếu khách, gọi người dâng trà.

Vạn Chương hất hàm với Công Tôn Sửu, hai người bèn đi vào dãy nhà giữa.

Cửa phòng Mạnh phu tử vẫn khép chặt.

Vạn Chương gõ cửa, không nghe tiếng đáp.

Công Tôn Sửu đẩy cửa, đã cài then bên trong.

“Tiên sinh, tiên sinh?” Công Tôn Sửu ngoảnh nhìn Vạn Chương, lùi lại một bước, vòng tay bẩm báo, “sứ thần của Đằng Công đến truyền dụ, nói rằng có việc khẩn cấp, muốn mời tiên sinh.”

Vẫn không có tiếng đáp.

Công Tôn Sửu đang định gọi tiếp, thì bị Vạn Chương kéo sang một bên.

“Ta thấy tiên sinh đang giận đấy.” Vạn Chương hạ giọng nói.

“ồ!” Công Tôn Sửu băn khoăn, “trước kia tiên sinh tức giận, có bao giờ đóng cửa cài then đâu. Vạn huynh có biết đã xảy ra chuyện gì chăng?”

Vạn Chương lắc đầu.

“Hôm nay mọi thứ đều ổn thoả, đâu thấy có ai làm tiên sinh mất vui!”

“Có lẽ là chuyện nhà.” Vạn Chương càng hạ thấp giọng, “lẽ nào lại là sư mẫu...”

“Ồ...” Công Tôn Sửu gãi đầu.

“Hay chúng ta vào nhà trong, nhờ tổ sư mẫu vậy!”

Vạn Chương đi trước, cùng Công Tôn Sửu tới nhà sau, thấy Mạnh mẫu vừa bước ra khỏi phòng của con dâu, sắc mặt nặng nề.

“Tổ sư mẫu!” Hai người liền vòng tay chào.

“Ta nghe thấy có tiếng xe ngựa ở trước nhà, là khách quý phương nào?” Mạnh mẫu hỏi.

“Là sứ thần của Đằng Công, tới truyền chỉ dụ, vời phu tử tới Đằng, thế nhưng phu tử...” Vạn Chương ngập ngừng.

“Các anh ra đi, tiếp đãi khách quý cho tử tế.”

Lời vừa dứt, Mạnh mẫu chống gậy cồm cộp đi về phía khu nhà giữa.

Mạnh mẫu đi tới trước thư phòng của Mạnh phu tử, gõ cửa, nghiêm giọng mà gọi: “Mạnh Kha, mở cửa!”

Lập tức nghe thấy tiếng bước chân vội vã, tiếng then cửa rút ra.

“Mẹ!” Mạnh Kha đỡ Mạnh mẫu đến bên chiếu, hầu bà ngồi xuống.

“Cớ sao lại cài then?” Mạnh mẫu nhìn thẳng vào Mạnh phu tử.

“Mẹ...” Mạnh Kha quỳ xuống dập đầu.

“Có điều gì, con cứ nói ra!” Mạnh mẫu điềm đạm nói.

“Khẩn cầu mẹ cho phép con thôi vợ!” Mạnh Kha lại dập đầu.

“Ồ, chuyện lớn rồi đây.” Mạnh mẫu sửa lại vạt áo, “nói đi, tại sao?”

“Thất lễ.”

“Thất lễ thế nào?”

“Ngồi duỗi chân.”(1)

“Sao con biết vợ con ngồi duỗi chân?” Mạnh mẫu hỏi.

“Chính mắt con nhìn thấy!” Mạnh phu tử đáp.

“Con nhìn thấy ở đâu?”

“Trong phòng ngủ.”

“Nhìn thấy lúc nào?”

“Sau bữa sáng.”

“Chao ôi, Mạnh Kha,” Mạnh mẫu khẽ thở dài, “chính con thất lễ mà không biết tự phản tỉnh, còn đi trách móc vợ mình, bảo mẹ phải nói con sao đây?”

“Con... con thất lễ thế nào?” Mạnh Kha ngỡ ngàng.

(1)Theo nghi lễ thời xưa, phụ nữ khi ngồi phải xếp vạt áo ngay ngắn, hai gối khép lại, quỳ trên đất, mông đặt trên gót chân, cơ thể giữ thẳng. Tư thế ngồi của vợ Mạnh Tử ở đây gọi là "cư toạ”, tức ngồi thẳng xuống vạt áo phía sau, hai chân duỗi thẳng.

“Vậy mẹ hỏi con,” Mạnh mẫu nhìn Mạnh phu tử, “khi con vào phòng, cửa mở hay khép?”

“Thưa, khép.”

“Con có gõ cửa không?”

“Con...”

“‘Lễ’ nói thế nào? ‘Sắp vào cửa, hỏi có ai không. Sắp vào nhà ngoài, phải lên tiếng. Sắp vào nhà trong, mắt phải nhìn xuống.’ Còn con lại làm thế nào vậy? Nơi con thực hiện lễ nghi là ở nhà giữa, nhà trong là buồng riêng của vợ con, ở trong buồng riêng của mình, thì không nhất thiết phải câu nệ lễ nghi. Nó dậy từ tinh mơ, vất vả suốt cả buổi sáng, cơm nước xong xuôi mới về buồng nghỉ ngơi chốc lát. Còn con, cơm nước thảnh thơi, lại ra khỏi nơi con cần tu học lễ nghi, vào buồng riêng của nó đúng lúc nó đang nghỉ mệt, lại không lên tiếng, lại còn nhìn thẳng vào tướng ngồi của nó, con nói xem, là ai thất lễ?”

“Con...” Mạnh phu tử đuối lý, cúi gằm mặt xuống, gần như lấm bẩm, “thật hổ thẹn...”

“Mạnh Kha,” Mạnh mẫu giọng đầy ẩn ý, “mẹ biết vì sao con lại muốn làm như vậy! Không phải con không hiểu lễ, chỉ vì con không ưa nó. Con đã muốn thôi nó lâu rồi, phải không?”

Bị Mạnh mẫu một lời điểm trúng, Mạnh phu tử càng cúi đầu xuống thấp hơn nữa.

“Con chê nó dung mạo không xinh đẹp, con chê nó thân hình không mảnh mai, con chê nó làn da không trắng trẻo, phải không?”

“Mẹ...” Mạnh phu tử không còn lời nào để phân trần.

“Đàn bà trọng ở nội đức, không ở ngoại hình. Nội đức là hiền, là thục, là tuệ, là cần, là kiệm, là trì gia, là giúp chồng, là nuôi con. Con hãy nói xem, nếu xét về mấy điều này, thì vợ con có chỗ nào kém cỏi?” giọng Mạnh mẫu như đang trách móc.

Mạnh phu tử bắt đầu sụt sùi.

“Còn muốn thôi vợ không?” Mạnh mẫu như không nghe thấy, lại hỏi.

“Con không dám nữa.” Mạnh phu tử lí nhí đáp. “Nói to lên!” Mạnh mẫu nói lớn.

“Vợ hiền, con không thôi nữa, con sẽ sống cùng nàng tới đầu bạc răng long!” Mạnh Tử cao giọng.

“Thế mới phải!” Mạnh mẫu đứng dậy, trên mặt đã lộ vẻ tươi cười, “con ra đi. Đằng Công triệu kiến, khách đang chờ ở nhà trước. Đợi xong việc công, hãy vào tạ lỗi với vợ, lần sau đừng nên thế nữa. Khiến vợ con phải kinh sợ.”

“Con xin vâng!”

Mạnh phu tử tiễn Mạnh mẫu quay về, ngồi một mình rầu rĩ trong phòng thêm một chốc, mới rửa mặt, chỉnh trang áo mũ, mang thanh bội kiếm, đổi mặt tươi tỉnh, sải bước ra nhà trước. Sau khi gặp gỡ sứ thần, nghe tuyên chỉ dụ, bèn gọi Vạn Chương, Công Tôn Sửu tới, cùng mình tới đất Đằng.

Nước Trâu tiếp giáp nước Đằng, phía nam nước Đằng chính là đất Tiết. Cổng thành lửa cháy, liên luỵ tới cá trong ao, người Sở phạt Tiết, rất có khả năng tiện tay diệt luôn nước Đằng.

Biết Mạnh phu tử coi trọng lễ nghi, Đằng Văn Công đi chân trần ra đón, khom lưng sát đất, dắt tay dẫn vào chính điện, lại hành lễ một hồi, rồi mới nôn nóng nói về tình thế nguy nan trước mắt, sắc mặt tràn đầy âu lo: “Đất Đằng chật hẹp, không có binh mạnh, nước lớn khai chiến ở đất Tiết, quả nhân vô cùng lo lắng, nên mới phiền tới phu tử!”

Mạnh phu tử kiên nhẫn lắng nghe, đoạn vòng tay, mỉm cười nói: “Chuyện của Sở, Tề, Kha đã biết cả rồi. Sở, Tề khai chiến ở đất Tiết, dám hỏi bệ hạ lo gì?”

“Ồ...” Đằng Văn Công ngẩn ra, “ngộ nhỡ họ xông tới đất Đằng thì sao?”

“Thì nghênh đón!” Mạnh phu tử lại cười.

“Nghênh đón thế nào?”

“Lễ.”

“Đối với đội quân sài lang, phải dùng lễ thế nào?”

“Đội quân sài lang, cũng phải có lễ.”

“Quả nhân dùng lễ, nhưng nếu họ không chịu thì sao?”

“Đao mâu.”

“Chao ôi,” Đằng Văn Công nhún vai, “nếu như có đao có mâu, thì quả nhân đã...” Nói đến đây, sắc mặt rầu rĩ.

“Không có đao mâu, thì có nhân hoà.”

“Nhân hoà?” Đằng Văn Công đổ người về phía trước, rõ ràng là không hiểu.

“Thiên thời không bằng địa lợi, địa lợi không bằng nhân hoà.”

“Quả nhân ngu muội, xin phu tử giải thích rõ.”

“Giả sử bệ hạ dẫn quân viễn chinh, đối phương thành dài ba dặm, quách dài bảy dặm, bệ hạ vây đánh tứ bề, song không thể thủ thắng. Có thể vây đánh bốn bề, là bệ hạ có được thiên thời; bệ hạ chưa thể thủ thắng, là do thiên thời không bằng địa lợi. Giả sử bệ hạ giữ thành, thành đủ cao, hào đủ sâu, binh khí đủ cứng mạnh, gạo thóc đủ ăn, nhưng bệ hạ lại không thể giữ thành, là do địa lợi không bằng nhân hoà.”

“Quả nhân hiểu rồi,” Đằng Văn Công gật đầu, trầm ngâm chốc lát, “nhưng làm thế nào để có được nhân hoà?”

“Thi hành nhân chính.”

Thấy Mạnh phu tử vòng vo một hồi, cuối cùng lại quay về với câu nhân chính lúc nào cũng thường trực nơi cửa miệng, Đặng Văn Công nở một nụ cười gượng gạo, vòng tay nói: “Nhân chính có thể thực thi, song mối lo âu của quả nhân hiện tại không phải ở nhân chính, mà là ở tông miếu xã tắc, kính xin phu tử chỉ giáo!”

“Hỡi ôi,” Mạnh phu tử thở dài, đưa mắt nhìn khắp xung quanh, “đại địa mênh mông, năm mươi dặm cỏn con này chẳng qua chỉ là một xó. Bệ hạ không tu sửa nhân chính mà chỉ khư khư ôm giữ một xó này, lại kỳ vọng xã tắc bền vững, tông miếu thiên thu, há chẳng phải là làm ít muốn nhiều đấy ư?”

“Phu tử,” Đằng Văn Công sắc mặt ngượng ngùng, song vẫn không thôi cố chấp, “bất luận muốn nhiều hay muốn ít, quả nhân cũng cung kính khẩn cầu phu tử bảo vệ đất Đằng, chia sẻ mối lo âu với quả nhân!”

Mạnh phu tử bật cười: “Người Sở còn chưa tới, năm mươi dặm đất của bệ hạ chẳng phải vẫn yên ổn đó sao?”

Đằng Văn Công vòng tay: “Khẩn cầu phu tử lưu lại đất Đằng!”

“Kha cung kính nghe theo!” Mạnh phu tử đáp lễ.

Quân tiên phong nước Sở áp sát Tiết Thành, nước Tống cho mượn đường, nước Lỗ xuất binh tương trợ, người cai quản đất Tiết là Điền Anh đứng ngồi không yên, đánh ngựa thẳng tới Lâm Truy tấu báo quân tình, khẩn cầu Tề cung trợ lực.

Rõ ràng là Tuyên Vương không thể ngờ được Chiêu Dương lại trả đòn hung hãn đến vậy, có phần kinh hãi. Do Tôn Tẫn, Điền Kỵ vẫn đang bận rộn trong quân sắp đặt việc phạt Sở, nên gấp rút triệu bốn triều thần Tô Tần, Trâu Kỵ, Điền Anh, Trương Cái đến bàn bạc kế sách ứng phó.

Mỗi người một ý, tranh luận hồi lâu, Tô Tần đưa ra hai kế sách, một là phái người đi sứ sang Lỗ, hai là điều đại tướng Điền Kỵ tới đất Tiết.

Binh tới tướng cản, điều đại quân đến đất Tiết không có gì phải bàn cãi, vấn đề quan trọng là ai đi sứ sang Lỗ.

Người thích hợp là Điền Anh, song Tiết là đất phong của Điền Anh, bảy ấp nước Lỗ cắt nhượng cũng đã quy về đất Tiết, Lỗ Công sớm đã bất mãn với Điền Anh, nên Điền Anh không thích hợp để đi sứ. Tô Tần trên danh nghĩa vẫn là tướng quốc sáu nước, cũng không thích hợp làm sứ thần. Chiến họa lần này, là do Điền Kỵ bôn tập Hạng Thành châm ngòi, Trâu Kỵ mượn cớ đau đầu, từ đầu chí cuối ngồi im, ra vẻ chuyện này chẳng liên quan đến mình.

Tuyên Vương nhìn sang lão thần Trương Cái.

“Thần xin đi!” Trương Cái vuốt chòm râu bạc trắng phất phơ trước ngực, vòng tay thỉnh mệnh.

Việc lớn bàn xong, Tuyên Vương thoái triều, Tô Tần kéo Điền Anh tới linh đường của Uy Vương tế bái.

“Tô Tử,” Điền Anh vừa đi vừa nói, “trong lòng tại hạ cứ thấy thấp thỏm không yên.”

“Thượng đại phu cớ sao lại thấp thỏm?”

“Ngộ nhỡ quân Sở liều mạng quyết chiến thì sao? Chỉ riêng thuỷ quân người Việt, đã rất phiền hà.”

“Khiến thượng đại phu lo lắng, e rằng không chỉ có thuỷ quân người Việt?”

“Chính phải!” Điền Anh đáp, “khiến tại hạ lo lắng, chính là quân sư, từ sau trận Mã Lăng, quân sư chẳng thiết gặp ai, chẳng hỏi han đến việc gì. Lần trước đại vương hạ lệnh phạt Sở, Điền tướng quân tìm quân sư bàn kế, quân sư không thốt một lời. May sao Điền tướng quân đã mưu tính từ trước, sai Khuông Chương bôn tập Hạng Thành, dẫu thành công mỹ mãn, song lại dẫn lửa tới đất Tiết của tại hạ.”

“Than ôi,” Tô Tần khẽ thở dài, “có lẽ Tôn huynh sẽ không bao giờ đánh trận nữa!”

“Khiến tại hạ lo lắng, chính là chuyện này,” Điền Anh sốt sắng, “nếu không có quân sư, Điền tướng quân và Chiêu Dương khó phân hơn thua. Hơn nữa, phần lớn lương thảo của ta đều đã bị người Ngụy thiêu huỷ, giờ lại chinh chiến nhiều tháng, tướng sĩ năm đô ý khí sa sút, đã nhao nhao đòi quay về nhà!”

“Có một người, hoặc giả có thể đẩy lui quân địch.” Tô Tần nói.

“Ai kia?”

“Trần Chẩn.”

Trương Cái tay cầm sứ tiết, ung dung tiến vào chính điện nước Lỗ.

Trương Cái đi qua cổng điện, không bước nhỏ líu ríu tiến nhanh đến trước mặt quân chủ hành đại lễ giống như thường lệ của sứ thân, mà dừng lại ngay cửa.

Trong lúc Lỗ Cảnh Công đang ngơ ngác không hiểu, Trương Cái chợt bỏ mũ sứ thần, khom lưng vái lạy Lỗ Cảnh Công theo nghi lễ tang sự, lạy xong, khóc lớn ba tiếng.

Lỗ Cảnh Công càng thêm sửng sốt, trợn mắt nhìn Trương Cái.

Khóc xong, Trương Cái bước nhanh tới trước mặt Lỗ Cảnh Công, rồi mới hành lễ yết kiến.

Lỗ Cảnh Công giờ mới định thần, đưa tay chỉ vào Trương Cái: “Sứ thần nước Tề, cớ sao đến cửa lại dừng, còn khóc ba tiếng?”

“Cái tới đây là để điếu viếng, sao có thể không khóc?” Trương Cái bình thản đáp.

“Điếu viếng ai kia?”

“Chính là bệ hạ!”

Lỗ Cảnh Công giận dữ, lại đưa tay chỉ vào Trương Cái, giọng run lên: “Cớ sao lại bảo là điếu viếng quả nhân?”

“Cái là đặc sứ của Tề Vương, không quản đường xa tới viếng, bệ hạ cũng nên ban cho một chỗ ngồi chăng?” Trương Cái vuốt chòm râu bạc trắng, đưa mắt nhìn quanh.

“Ngồi đi!” Lỗ Cảnh Công chỉ vào chiếu khách.

Trương Cái nghiêm trang ngồi xuống.

“Nói đi,” Lỗ Cảnh Công hơi thở vẫn chưa thể điều hoà, “cớ sao lại bảo là điếu viếng quả nhân?”

“Cái hay tin bệ hạ xuất một vạn binh, một trăm chiến xa giúp Sở, có chuyện này chăng?”

“Có đấy. Đại tư mã đã điểm binh, ba quân đã chỉnh trang sẵn sàng, để theo đại quân nước Sở xuất chinh.”

“Cái vì thế mới tới đây điếu viếng! Bệ hạ hồ đồ rồi, bệ hạ sai lầm rồi, bệ hạ thiếu sáng suốt rồi.”

Lỗ Cảnh Công hừ mũi một tiếng: “Sứ thần đến đây là để nói giúp Tề Vương, lẽ nào Tề Vương đã thấy lo sợ?”

“Bệ hạ lầm to rồi.” Trương Cái đáp.

“Quả nhân lầm ở chỗ nào?”

“Ba quân xuất chinh, ai cũng mong thủ thắng. Dám hỏi bệ hạ, cớ sao lại không lựa chọn đứng về phe thắng, mà cứ khăng khăng đứng sang phe bại?”

“Lần này giao chiến, Tề, Sở hai bên, đặc sứ cho rằng bên nào sẽ thắng?”

“Còn chưa giao chiến, thắng thua họa có trời biết được.”

“Đặc sứ nếu đã không biết, có sao lại bảo quả nhân lựa chọn đứng về phe bại?”

“Bởi vì bệ hạ không chịu đứng về phe thắng!”

“Ồ...” Lỗ Cảnh Tông càng nghe càng rối bù canh hẹ.

“Cái cho rằng,” Trương Cái dõng dạc nói tiếp, “Tề, Sở đều là nước lớn, mỗi bên đều có sở trường, cũng đều có sở đoản, song xét về đại thế, là ngang sức ngang tài. Tề, Sở đại chiến, lương thảo cần đến trăm vạn gánh, ba quân cần đến vài chục vạn người, nên vỏn vẹn vạn quân nước Lỗ, thêm vào cũng chẳng nhiều lên, giảm bớt cũng không ít đi, cho dù là với bên nào, có nước Lỗ hay không, cũng hầu như chẳng có gì khác biệt. Nay chiến sự còn chưa bắt đầu, thắng thua còn chưa quyết định, đã vội vàng lựa chọn đứng về phe nào, dám hỏi bệ hạ, dưới gầm trời này có vị quân chủ nào lại làm như vậy chăng?”

“Ờ...” Lỗ Cảnh Công ngắc ngứ, hồi lâu sau, mới ngả người về phía trước, “xin sứ thần chỉ giáo!”

“Tề Sở nếu giao chiến, chỉ có ba kết cục, một là Sở thắng, hai là Tề thắng, ba là hai bên đều không thắng. Có câu rằng, giết được vạn địch, tổn thất tám nghìn. Người Sở nếu thắng, nhuệ khí ắt tổn thương, sức lực ắt cạn kiệt. Người Tề nếu thắng, nhuệ khí ắt tổn thương, sức lực ắt cạn kiệt. Tề, Sở nếu đều không thắng, nhuệ khí hai bên đều sẽ tổn thương, sức lực hai bên đều sẽ cạn kiệt. Lúc đó mới là thời cơ tốt để lựa chọn, minh quân sẽ phải chờ đến lúc ấy.”

“Nếu vậy, quả nhân nên lựa chọn thế nào?”

“Người Sở thắng, chọn Sở. Người Tề thắng, chọn Tề. Hai bên đều không thắng, trung lập.”

“Quả nhân thụ giáo!” Lỗ Cảnh Công lấy làm thán phục, đứng dậy, bước lại phía trước Trương Cái, vái một vái thật sâu, đoạn nắm tay Trương Cái dắt ra hậu hoa viên, quay sang nội thần căn dặn: “Bày quốc yến tiếp đón sứ giả nước Tề. Còn nữa, truyền cho đại tư mã, tạm hoãn xuất binh!”

Quân tiên phong nước Sở do Chiêu Ngư chỉ huy từ Bành Thành băng qua đất Tống, theo như dự kiến, trong vòng hai ngày sẽ tới Tiết Thành. Một vạn kỵ binh tiên phong của nước Tề từ Bình Lục tới chi viện, dưới sự chỉ huy của Khuông Chương, cũng đã rầm rập từ phía tây Khúc Phụ băng qua Bình Lục, Tang Khâu, sải vó băng băng xuống phía nam, rõ ràng là muốn kịp tới Tiết Thành trước quân Sở một bước. Cuộc đại chiến giữa hai nước lớn, huy động không dưới hai mươi vạn giáp sĩ và hơn nghìn cỗ chiến xa đã gần trong gang tấc.

Trần Chẩn nhận được thư cấp báo của Chiêu Dương, nói rằng đã ở trên đường, muốn Trần Chẩn tới đất Tiết trước, đến trướng Chiêu Ngư đợi ông ta. Đang lúc chuẩn bị lên đường, Trần Chẩn thấy sứ Tề Trương Cái tới nơi, cũng vào ở trong dịch quán. Trần Chẩn dò đoán được mục đích của Trương Cái, bèn dặn phu xe tháo cương, quay trở vào dịch quán, nghe ngóng động tĩnh từ cung Lỗ.

Trong lúc chờ đợi, Trần Chẩn thả bộ ra vườn hoa phía sau dịch quán, đang ngẫm nghĩ kế sách ứng phó với Trương Cái, thì tùy tùng bẩm báo có người tới thăm.

Trần Chẩn ra đón, thấy là Tô Tần, vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, vòng tay vái lia lịa: “Ôi chao ơi, thực không ngờ lại là tướng quốc sáu nước giá lâm, thất lễ, thất lễ!”

Khi Tô Tần tới Sính Đô bàn chuyện hợp tung, đã từng gặp Trần Chẩn một lần trong phủ Chiêu Dương, sau đó Tô Tần cũng tới thăm Trần Chẩn. Dù rằng lức đó Trần Chẩn đang dốc lòng phụng sự Tần Công, đối địch với Tô Tần, song trong thâm tâm, Trần Chẩn hết sức khâm phục Tô Tần, cũng tán thưởng sách lược hợp tung của hắn. Nói thực lòng, trong tứ tử Quỷ Cốc, ngoại trừ Tôn Tẫn chưa từng gặp, còn trong ba người Bàng Quyên, Trương Nghi, Tô Tần, chỉ có Tô Tần là không khiến Trần Chẩn bất an. Mấy hôm trước, thậm chí Trần Chẩn còn vắt óc nghĩ cách cầu kiến Tô Tần, bàn chuyện cùng bắt tay để đuổi Trương Nghi, nào ngờ Tô Tần lại tự tìm tới trước!

“Không mời mà đến, đã quấy quả rồi!” Tô Tần vòng tay đáp lễ.

Trần Chẩn bật cười: “Tô Tử khách khí quá!” Đoạn dẫn tới phòng khách, phân ngôi chủ khách ngồi xuống, ‘Tô Tử tới đây, hẳn là vì chuyện của Tiết Thành?”

“Chính phải!” Tô Tần mỉm cười, “tại hạ suy đi nghĩ lại, dưới gầm trời này, người có thể tháo gỡ được nút thắt ấy, e chỉ có Trần huynh mà thôi!”

“Vậy nút thắt này, Tô Tử muốn tháo gỡ thế nào?”

“Chỉ có một cách, Chiêu Dương lui binh.”

“Ồ...” Trần Chẩn nhìn Tô Tần chăm chăm, hồi lâu sau, mới cười nói, “cớ sao Tô Tử lại muốn tháo gỡ như thế?”

“Tốt cho Chiêu Dương, cũng tốt cho Trần huynh!”

“Ồ?”

“Dám hỏi Trần huynh, xét về dụng bnh, Chiêu Dương so với Bàng Quyên thì thế nào?”

“Chiêu Dương không bằng Bàng Quyên.”

“Bàng Quyên chết dưới tay ai, Trần huynh hẳn biết?”

“Chẳng phải là Điền Kỵ ư?”

“LàTônTẫn!”

“Ồ?” Trần Chẩn hít ngược một hơi khí lạnh, “chẳng phải Tôn Tẫn đã chết rồi ư?”

“Giống như việc giả điên năm xưa, Tôn Tẫn chỉ là giả chết. Lúc này, Tôn Tẫn đang ở cung Tề. Phục kích Bàng Quyên, chính là mưu của Tôn Tẫn.”

Trần Chẩn bàng hoàng kinh hãi.

“Quân Tề giả bại,” Tô Tần cường điệu sức mạnh của quân Tề, “tận diệt năm nghìn võ binh hổ bôn của Bàng Quyên, về phía mình, gần như không thương vong là mấy.”

“Chiêu Dương được tám ấp Tương Lăng, cũng gần như không chút thương vong.” Trần Chẩn không chịu lép vế.

“Tuy rằng là vậy, tính chất có khác nhau.” Tô Tần dõng dạc, “trong trận Tương Lăng, về phía Sở, Chiêu Dương không tuyên mà chiến, là dùng nội gián tập kích; về phía Ngụy, Ngụy Vương vừa rút mất quân chủ lực giữ thành, Trịnh Khắc chưa kịp bố trí quân phòng ngự mới, lại thêm Chiêu Dương cài sẵn nội ứng, thắng trong bóng tối. Giả sử Chiêu Dương công khai tuyên chiến, công khai công thành, lại không có nội ứng, dựa vào tài sức của Trịnh Khắc, kết quả ắt sẽ khác hẳn. Trận chiến Mã Lăng, lại không giống thế. Tề, Ngụy công khai tuyên chiến, Ngụy tập kích lương thảo của Tề, người Tề thừa thế giả thua, dẫn dụ nhuệ binh của Bàng Quyên vào Mã Lăng mà tiêu diệt.”

“Được rồi, chớ nhắc chuyện đã qua, hãy chỉ nói chuyện trước mắt. Tề, Sở còn chưa khai chiến, Tô Tử cớ gì đã khẳng định người Sở thua chắc?”

“Xuất binh ở nghĩa.” Tô Tần nói thẳng, “quân Tề đánh Đại Lương, là giải Ngụy cho nước Hàn, là có nghĩa; quân Tề tới đất Tiết, là giữ nhà giữ nước, cũng là có nghĩa. Quân Sở thì khác, đánh lén Tương Lăng, thất nghĩa. Viễn chinh đất Tiết, cũng thất nghĩa. Tự cổ chí kim, kẻ có nghĩa sẽ dũng, kẻ có dũng tất thắng.”

“Được,” Trần Chẩn cười đáp, “Tô Tử đã thuyết phục được tại hạ rồi.” Nhìn thẳng vào Tô Tần, “khiến Sở rút lui, là tốt cho Sở, tốt cho Chiêu Dương, điều này tại hạ đã hiểu. Thế nhưng vừa rồi, Tô Tử còn kéo cả tại hạ vào, phải giải thích ra sao?”

“Trần huynh có thể nhờ đó mà tích đức.”

“Đức ở đâu?”

“Một là với Chiêu Dương, hai là với người Sở, ba là với người Tề, bốn là với thiên hạ. Trần huynh một việc mà tích đức bốn nơi, mở đường tám hướng, cớ sao không vui vẻ mà làm?”

Trần Chẩn phá lên cười lớn: “Tô huynh quả không hổ danh là miệng lưỡi đệ nhất thiên hạ, thằng nhãi Trương Nghi còn xa mới theo kịp!” Thu lại nụ cười, nhìn xoáy vào Tô Tần, “tại hạ ưng thuận. Có điều, tại hạ cũng có một sở cầu, dám mong Tô Tử giúp cho!”

“Trần huynh là bề trên, chữ cầu này, Tần không dám nhận. Trần huynh có gì sai bảo, Tần nguyện dốc sức mọn!”

“Tại hạ cùng Tô Tử hợp sức, đuổi thằng nhãi Trương Nghi ra khỏi nước Ngụy!” Trần Chẩn ngả người về phía trước, sắc mặt khẩn thiết.

Tô Tần cười khẽ: “Đây cũng là việc thứ hai khiến tại hạ tới đây bái kiến Trần huynh!”

“Được lắm!” Trần Chẩn quay sang tùy tùng, “chuẩn bị tiệc rượu!”

Đêm đó, Trần Chẩn và Tô Tần cùng dựa lan can nâng chén, bàn chuyện thiên hạ, biện giải hợp tung, bộc bạch tâm tư, luận thuyết quỷ thần, cho đến tận khi phương đông trắng bạch, gà gáy ba lần, mà vẫn chưa tận hứng.

Mặt trời vừa ló, hai người rửa mặt, ai nấy chuẩn bị xe ngựa, cùng đánh xe ra khỏi đường phố Khúc Phụ, đến đường cái quan ngoài cổng thành tây mới quyến luyến từ biệt nhau.

Trần Chẩn tịnh thần sảng khoái, sớm đã gạt mọi âu lo về Trương Cái sang một bên, dựa nghiêng trong xe, miệng hát nghêu ngao như tự ru mình, một lát sau đã vùi đâu ngủ say sưa.

Từ Khúc Phụ tới Tiết Thành chừng bốn trăm dặm, Trần Chẩn cũng không vội vã, buông lỏng dây cương, đi thong thả ba ngày, tới trưa ngày thứ tư thì đến đất Tiết, vào gặp Chiêu Ngư.

Tới chiều hôm đó, đại quân của Chiêu Dương cũng tới nơi, hơn bảy vạn binh mã hạ trại dọc bờ tây Tứ Thuỷ.

Đến chập tối, Trần Chẩn tắm rửa thay y phục, tới trướng trung quân bái kiến Chiêu Dương.

Chiêu Dương vô cùng nôn nóng: “Lỗ Công nói sao?”

“Xuất một vạn bộ binh, một trăm xe chiến!”

“Tốt lắm!” Chiêu Dương đấm mạnh xuống án, “trong các nước ở bờ bắc sông Tứ, Lỗ Công vẫn thức thời nhất, đừng nói là một vạn, xuất một nghìn quân cũng tốt, quan trọng là ở thành ý. Trần huynh đã hứa hẹn những gì với ông ta?”

Trần Chẩn lấy ra tờ minh ước đã đóng ấn tỷ của Lỗ Cảnh Công, trình lên.

“Ồ, bảy ấp, năm mươi dặm, được thôi, được thôi!” Chiêu Dương đọc xong, ném tờ minh ước xuống án, nhìn sang Trần Chẩn, “tại hạ đã nói rồi, Trần huynh đã ra tay, không việc gì không làm được!”

Vừa lúc đến giờ cơm tối, tham tướng bước vào, bưng theo mấy đĩa thức ăn, Chiêu Dương tự tay bày chén, nâng bình rót rượu: “Cuộc chiến với Tề, Trần huynh mở cờ đã thắng, coi như lập công đầu tiên, xin mời, bản tướng chúc mừng công của Trần huynh!”

“Chủ tướng đã yêu lầm!” Trần Chẩn cũng nâng chén.

Rượu được vài tuần, Trần Chẩn buông chén, rót rượu, đưa mắt nhìn Chiêu Dương, rồi cứ nhìn đăm đăm mãi.

“Trần huynh,” Chiêu Dương mỉm cười, nâng chén hướng vào Trần Chẩn, “bộ mặt già này có gì đáng để nhìn kia, cạn chén!”

Trần Chẩn vẫn ngồi im, mắt nhìn Chiêu Dương không chớp.

Chiêu Dương thu lại nụ cười, đặt chén rượu xuống: “Trần huynh, có điều gì muốn nói ư?”

“Chẩn có một chuyện muốn thỉnh giáo!” Trần Chẩn vòng tay nói.

Chiêu Dương bật cười, nâng chén uống cạn, lại cầm bình rượu rót đầy: “Cái gì mà thỉnh giáo, chúng ta là huynh đệ, có chuyện gì, xin cứ nói thẳng!”

“Theo pháp lệnh Đại Sở, thống lĩnh ba quân, chinh phạt nước khác, vỗ yên nơi xa, diệt quân giết tướng, nhiều nhất có thể nhận được chức gì tước gì?” Trần Chẩn sắc mặt nghiêm trang.

Chiêu Dương phá lên cười lớn, cầm chén rượu chỉ vào Trần Chẩn: “Trần huynh đã uống nhiều đâu, sao đến điều này cũng phải hỏi? Chinh phạt nước khác, vỗ yên nơi xa, diệt quân giết tướng, chức cao nhất nhận được là thượng trụ quốc, tước cao nhất nhận được là thượng chấp khuê!”

“Nếu cao hơn, quý hơn một chút nữa, là gì?”

“Lệnh doãn!” Chiêu Dương đáp ngay không suy nghĩ.

“Đúng vậy,” Trần Chẩn gật đầu, “trên triều đường nước Sở, lệnh doãn ở dưới một người, ở trên trăm người, xét về sang quý, đã là tột bực!”

“Trần huynh?” Chiêu Dương khẽ chau mày.

“Chẩn còn một câu hỏi: Triều đường nước Sở, có thể đặt mấy lệnh doãn?”

“Ồ...” Chiêu Dương gãi đầu, “Trần huynh rốt cuộc muốn nói gì vậy?”

“Muốn xin chỉ giáo mà thôi, triều đường nước Sở có thể đặt mấy lệnh doãn?”

“Tự cổ chí kim, lệnh doãn luôn chỉ có một!” Chiêu Dương miễn cưỡng trả lời.

Trần Chẩn thấy úp mở đã đủ, bèn vào chuyện chính: “Trên đường phố nước Tống, Chẩn gặp một người kể chuyện rong, nghe một câu chuyện cũ, cũng khá thú vị, không biết tướng quân có muốn nghe chăng?”

“Trần huynh cứ nói.”

“Chuyện kể rằng ở đất Sở có một nhà quý tộc,” Trần Chẩn nhìn xuống chén rượu trên án, “chủ nhà sinh được quý tử, vui mừng khôn xiết, bày đại tiệc thết đãi tần khách, sai nô bộc mang cho năm môn khách một bình rượu, để họ cùng vui. Sau khi nô bộc đi rồi, năm môn khách nhìn bình rượu, rồi lại đưa mắt nhìn nhau. Môn khách Giáp nói: ‘Chư vị, chúng ta có năm người, lại chỉ có một bình rượu, nếu ai cũng uống, thì không ai được uống thoả thích. Tại hạ có một ý này, chúng ta cùng vẽ rắn xuống nền đất, ai vẽ xong trước tiên, người đó sẽ được cả bình, được chăng?’ Bốn môn khách còn lại đều cho là phải, ai nấy tự chuẩn bị đồ vẽ. Môn khách Giáp vừa hô bắt đầu, năm người đồng loạt múa bút như bay, môn khách Ất nhanh tay nhất, loáng cái đã vẽ xong con rắn, tay trái cầm bình rượu đưa lên miệng, tay phải vẫn tiếp tục vẽ, vừa vẽ vừa nói: ‘Xem tôi vẽ thêm cả chân đây.’ Thế nhưng, anh ta còn chưa vẽ xong chân, môn khách Bính đã vẽ xong con rắn, rồi với tay giật phắt bình rượu, nói: ‘Rắn vốn không chân, anh thêm chân vào, thì đâu còn là rắn nữa?’ Mọi người đều cười ầm lên. Môn khách Ất chỉ còn biết giương mắt nhìn môn khách Bính cầm lấy bình rượu, nốc cạn chỗ rượu vốn dĩ đã đưa lên tới miệng.” Kể xong, nhìn thẳng vào Chiêu Dương, nở một nụ cười đầy ẩn ý, “dám hỏi chủ tướng, môn khách vẽ rắn thêm chân kia, há chẳng thú vị lắm ru?”

Chiêu Dương vuốt râu một hồi: “Trần huynh có phải đang ám chỉ tại hạ đấy ư?”

“Chẩn không dám.” Trần Chẩn vòng tay, “Chẩn chỉ là đang nghĩ, đại nhân thân là lệnh doãn Đại Sở, đích thân làm chủ tướng, viễn chinh nước Ngụy, công phá tám thành, thu được yếu địa Tương Lăng, công tích vô song, giống như rắn đã vẽ xong. Nay đại nhân lại kết minh Tống, Lỗ, thừa thắng công Tề, muốn thành tựu sự nghiệp lớn lao hơn nữa, thì có khác nào thêm chân cho rắn!”

“Theo lời Trần huynh, tại hạ cũng sẽ mất rượu?” Giọng Chiêu Dương như rít qua kẽ răng, sắc mặt sa sầm.

“Chẩn trộm nghĩ,” Trần Chẩn hạ thấp giọng, “mất rượu chỉ là chuyện nhỏ, tướng quân nếu lại vì việc này mà chuốc họa sát thân, chính là mất nhiều hơn được!”

“Ồ?”

“Đại nhân đã tôn quý đến bậc lệnh doãn, ngôi vị cao nhất triều thần,” Trần Chẩn cao giọng, hỏi ngược lại, “giả sử thắng Tề, đại nhân chiếm thành giết tướng, lập nên công lao hiển hách, bệ hạ còn có gì để thưởng cho đại nhân đây?”

“Ồ...” Chiêu Dương ngắc ngứ.

“Nếu như đại nhân đánh mà không thắng, dám hỏi đại nhân, chiếu theo luật nước Sở, tướng bại trận sẽ bị trừng phạt thế nào? Nếu Chẩn nhớ không nhầm, năm xưa Khuất Hà làm đến chức mạc ngao, địa vị trên triều đường cũng giống như đại nhân hiện tại, dưới một người, trên trăm người, vậy mà kiêu ngạo phạt La, chiến bại mà phải tự vẫn trong khe núi.”

“Ý Trần huynh là,” nghe Trần Chẩn ví mình với Khuất Hà, sắc mặt Chiêu Dương càng thêm khó coi, gằn giọng mà nói, “bản tướng không thắng nổi Điền Kỵ?”

“Tướng quân đương nhiên có thể thắng được Điền Kỵ.” Trần Chẩn mỉm cười.

“Nếu đã thắng được Điền Kỵ, cớ sao Trần huynh lại ví bản tướng với Khuất Hà?”

“Bởi tướng quân chưa chắc đã thắng nổi một người!” “Ai?” Chiêu Dương nhấc chén lên, ghé lại bên miệng. “Tôn Tẫn!”

“A!” Bàn tay Chiêu Dương giật nảy, chén rượu rơi đánh choang xuống đất, “chẳng phải hắn đã chết rồi sao?”

Trần Chẩn không vòng vo nữa, đem chuyện Tôn Tẫn giả chết đánh lừa Bàng Quyên kể lại một lượt, Chiêu Dương nghe xong, mặt cắt không còn hột máu.

“Đại nhân còn muốn vẽ rắn thêm chân nữa chăng?” Trần Chẩn kể xong, cười hỏi.

“Người đâu!” Chiêu Dương quát lớn.

Tham tướng lật đật chạy vào.

“Truyền chỉ, ngay sáng sớm mai, ba quân nhổ trại, rút về Hạng Thành!”

Đại quân của Điền Kỵ còn chưa tới Tiết Thành, người Sở đã kinh sợ rút lui, khiến Trâu Kỵ không khỏi kinh ngạc. Lỗ Công giữ thái độ trung lập, có thể hiểu được, đó là nhờ công lao của Trương Cái. Còn như trung quân Đại Sở đã hành quân tới sát Tiết Thành, thuỷ quân người Việt đã tề tựu ở Lang Nha, người Sở không những đã lắp tên vào cung, không những đã lên dây cung, không những đã buông cung, hơn thế nữa, mũi tên này đã vun vút bay đi, mà Chiêu Dương lại đùng đùng giật lại, là vì nguyên cớ gì?

Là e sợ Điền Kỵ ư? Là e sợ Tôn Tẫn ư? Nếu như e sợ cả hai người này, cớ sao không sợ ngay từ trước khi xuất binh? Nếu không phải vậy, thì chắc chắn còn nguyên nhân khác.

Nguyên nhân khác ấy là gì?

Trâu Kỵ vắt óc suy nghĩ, hồi lâu vẫn không hiểu nổi.

Bất luận vì nguyên nhân gì, công lao đẩy lùi quân Sở trên danh nghĩa vẫn được tính cho Điền Kỵ.

Trâu Kỵ càng nghĩ càng rối. Có thể nói, từ khi Điền Kỵ từ Sở quay về, tới khi Tôn Tẫn sống lại, rồi Đại Lương bị bao vây, rồi lương thảo bị thiêu rụi, cho đến đại thắng Mã Lăng, rồi đến Mâu Tân bị chém, mỗi một nước cờ trong ván, đều nằm ngoài dự liệu của Trâu Kỵ, cũng đều khiến ông ta ăn không ngon ngủ không yên. Đặc biệt là chuyện lương thảo bị thiêu rụi, đã khiến Trâu Kỵ xưa nay có tiếng là thu vén chặt chẽ phải đấm ngực giậm chân, đau xót suốt mấy ngày trời, lôi cả tổ tiên mười tám đời của Mâu Tân ra chửi rủa, mặc dù ở một góc sâu thẳm nào đó trong thâm tâm, ông ta vẫn thấy hả dạ.

Kỳ thực, Trâu Kỵ không ưa gì Điền Kỵ, nhưng chưa bao giờ có ý đối đầu với ông ta, vậy mà cuối cùng vẫn cứ phải đối đầu. Nhất là hôm nay, toàn bộ nước cờ đều đã đi vào đường cụt.

Trâu Kỵ cười buồn, gọi quản gia vào.

“Chúa công,” quản gia lấy từ trong ống tay áo ra một thẻ tre, “tiểu nhân theo lời căn dặn của chúa công, lựa ra được một danh sách tiến cử, xin chúa công xem xét.”

Trâu Kỵ cầm lấy thẻ tre, đọc qua danh sách, khẽ chau mày lại. Mấy hôm trước Tuyên Vương lên triều, muốn quần thần tiến cử hiền tài, Trâu Kỵ bèn sai quản gia lựa chọn lấy

vài người tháo vát trong số môn khách, không ngờ ông ta loáng cái đã liệt kê ra cả mười mấy người.

“Bẩm chúa công, những người khoanh tròn có thể lo liệu chính sự, những người gạch ngang có thể cai quản địa phương, những người đánh dấu móc có thể trị lý việc quân, người cuối cùng có thể trông coi hình luật.” Quản gia khẽ bẩm báo.

“Sao không thấy tên Công Tôn Hãn?” Trâu Kỵ đặt thẻ tre xuống, đưa mắt nhìn quản gia.

“Hắn không được lòng người, không có môn khách nào chịu tiến cử hắn.” Quản gia đáp, “còn nữa, bản thân hắn cũng không muốn làm quan.”

“Biết rồi!” Trâu Kỵ cất thẻ tre vào trong ống tay áo, “gọi hắn lại đây!” Dừng lại một lát, “bảo ta mời!”

Quản gia lật đật đi ngay.

Trâu Kỵ lại rút thẻ tre ra khỏi tay áo, liếc nhìn rồi lại cất đi. Nói thực lòng, Trâu Kỵ còn không ưa Công Tôn Hãn hơn cả quản gia và các môn khách khác, song vào thời khắc này, ông ta thực sự không thể nghĩ ra cách nào hay hơn.

Công Tôn Hãn bước vào.

“Chúa công muốn hoà giải, hay muốn dùng sức mạnh?” Công Tôn Hãn hiển nhiên hiểu rõ nút thắt này.

“Hoà giải bằng cách nào?” Trâu Kỵ nôn nóng hỏi.

“Đợi Điền Kỵ trở về, chúa công cởi trần cõng gai, tới cửa thỉnh tội. Điền tướng quân tuy nóng nảy, song là người khoát đạt. Chỉ cần chúa công tỏ ra thành khẩn, tin chắc Điền Kỵ sẽ không làm gì quá đáng. Hai tướng hoà hợp, sẽ là đại lợi cho đất nước.”

Trâu Kỵ khép mắt hồi lâu, rồi chợt lên tiếng: “Vậy còn dùng sức?”

“Xin mượn một bên tai vàng của chúa công!”

Trâu Kỵ nghiêng tai lại, Công Tôn Hãn ngả người ghé sát bên tai, thì thầm một hồi.

Trâu Kỵ hít sâu một hơi, đưa tay dụi mắt.

Đồng hồ giọt giọt, bóng nắng vươn dài.

“Ngươi đảm bảo thành công chứ?” Trâu Kỵ bỗng mở choàng mắt, nhìn trân trân vào Công Tôn Hãn.

“Hãn không dám!” Công Tôn Hãn khẽ đáp.

Trâu Kỵ lại khép mắt.

“Hãn không dám đảm bảo thành công,” Công Tôn Hãn nói tiếp, “song có thể đảm bảo chúa công sẽ không bị mảy may tổn hại!”

“Nếu là vậy, ngươi cứ thử xem.”

“Hãn xin ba mươi đĩnh vàng!” Công Tôn Hãn nhận lời.

Trâu Kỵ đứng dậy, đi vào buồng trong, lấy ra một túi tiền, đặt xuống trước mặt hắn: “Trong túi có năm mươi đĩnh vàng, ba mươi đĩnh để ngươi dùng, hai mươi đĩnh còn lại, thưởng trước cho ngươi!” Dừng lại một chốc, “nếu như việc thành, bản công sẽ thưởng thêm năm mươi đĩnh nữa! Ngươi hãy mang theo số tiến này tìm lấy một nơi, sống sung sướng nốt quãng đời còn lại!”

“Tạ ơn chúa công thưởng hậu!” Công Tôn Hãn nhận lấy túi tiền, “Hãn xin cáo từ!”

“Nhớ kỹ, trời biết, đất biết, ngươi biết, ta biết!” Đợi hắn ra khỏi cửa, Trâu Kỵ ném theo một câu!

Công Tôn Hãn khựng lại một thoáng, rồi tiếp tục sải bước đi thẳng.

Vài ngày sau, trên phố Bắc Nhai tại A Ấp, trọng trấn quân sự ở phía Tây, xuất hiện một tráng hán trẻ tuổi, đầu đội nón lá rảo bước rẽ vào một con ngõ khuất nẻo, dừng lại phía trước một cửa hiệu.

Cửa hiệu không lớn, chỉ có một gian nhà, mở một cánh cửa, trên cửa treo một tấm biển, đề rằng “Thiên Địa Càn Khôn”, trên cửa vẽ hình bát quái, trước cửa dựng một lá phướn, trên viết “Thành tín thì linh”.

Tráng hán ngắm nghía tấm biển một rồi, rồi sải bước vào trong.

Ngồi ở giữa nhà là một lão thầy bói già, cặp mắt sáng rực có thần. Trước mặt lão là chiếc án, trên án đặt đủ loại đồ lề xem bói. Sau lưng là gian nhà chính, trên tường treo đồ hình sáu mươi tư quẻ, trước đồ hình thờ linh vị tam thánh, lần lượt viết: Thiên thánh Phục Hy, Địa thánh Cơ Xương, Nhân thánh Khổng Khâu.

Cửa hiệu làm ăn rất khấm khá, bên trong đã có mấy người đang ngồi chờ tới lượt mình.

Tráng hán tiến lại, ngồi xuống chiếu sau lưng người cuối cùng. Chờ được một lát, lại có thêm vài người nữa tới, lần lượt ngồi xếp hàng sau lưng tráng hán.

Mấy người tới trước đã xem xong, tới lượt tráng hán.

Lão thầy bói ánh mắt nhìn thẳng, sắc bén tựa mắt ưng.

Tráng hán nhìn tránh sang phía khác.

“Bát tự ngày sinh!” Lão thầy bói hỏi.

Tráng hán lôi từ trong ống tay áo ra một thẻ tre, đưa lại. Lão thầy bói nhìn thấy bàn tay cầm thẻ tre chỉ có ba ngón.

Lão thầy bói đọc thẻ tre, rồi đưa mắt săm soi tráng hán: “Bát tự này dường như không phải của anh!”

“Vâng!” Tráng hán đáp, “là của chúa công nhà tôi!”

“Chúa công nhà anh họ gì tên gì?”

Tráng hán ngập ngừng: “Danh tính của chúa công, không tiện tiết lộ!”

“Không tên không họ, ồ,” lão thầy bói lẩm bẩm, lát sau, lại nhìn tráng hán, “nói đi, chúa công nhà anh muốn xem chuyện gì?”

Tráng hán đáp: “Tiên sinh có thể cho mượn một bên tai chăng?”

Lão thầy bói bèn nghiêng tai lại.

Tráng hán ghé sát bên tai lão, hạ giọng thì thầm, song vẫn đủ rành rọt: “Tôi là môn khách tâm phúc của chúa công, chúa công muốn mưu đại sự, nghe nói tiên sinh gieo quẻ rất linh, mới sai tôi tới bói thử, xem lành dữ ra sao.”

“Là đại sự gì?” Lão thầy bói cũng hạ giọng hỏi.

“Chúa công không nói, chỉ bảo tôi đến gieo quẻ xem lành hay dữ.” Tráng hán lại thò tay vào tay áo, lấy ra mười đĩnh vàng, “đây là tiền gieo quẻ, phiền tiên sinh giúp cho!”

Bỗng thấy mười đĩnh vàng ròng sáng loé, tất thảy những người có mặt không ai không nghển cổ nhìn.

Lão thầy bói hít vào một hơi dài, đưa mắt nhìn tráng hán, dò hỏi: “Chúa công nhà anh là...”

“Chúa công nhà tôi là anh hào đời nay, ba trận ba thắng, uy danh lẫy lừng thiên hạ, có công lớn với xã tắc, nào ngờ thói đời bạc bẽo, dung túng gian tặc, chúa công tôi bị bức bách, không còn nhà để về, phiền muộn bấy lâu, muốn mưu việc lớn, làm phiền tiên sinh gieo quẻ giúp cho. Chúa công đã nói, việc lớn nếu thành, sẽ lại thưởng thêm tiên sinh mười đĩnh!” Tráng hán vòng tay nói.

Mắt nhìn mười đĩnh vàng, lão thầy bói lại hít vào một hơi, mới bày đồ lề ra, chốc sau, gieo được một quẻ thượng thượng. Tráng hán mừng vui khôn xiết, nhận lấy quẻ bói, vái ba vái cảm tạ rồi đi.

Lão thầy bói thận trọng thu lấy mười đĩnh vàng, rồi nhìn sang những người còn lại: “Người tiếp theo, còn ai muốn gieo quẻ?”

Năm ngày sau, vào lúc hoàng hôn, một đoàn vệ binh trong cung ào đến A Ấp, rầm rập xông vào ngõ nhỏ, đạp toang cửa quán, bắt giữ lão thầy bói già. Đến hôm sau, lại lùng bắt toàn bộ những kẻ tìm tới xem bói trong ngày hôm đó, chỉ lọt lưới kẻ đội nón lá, cụt hai ngón tay kia.

Image

HIỂU THẤU TRẦN DUYÊN, TÔN TẪN RA BIỂNTHUYẾT GIẢNG NHÂN CHÍNH, MẠNH KHA SANG TỀ

Sau khi tiên phong Khuông Chương xuất chinh, Điền Kỵ vẫn thấp thỏm trước cuộc chiến với Sở, bèn chạy ngay tới Chân Ấp, dùng đủ mọi cách vừa nài vừa ép, nhấc Tôn Tẫn lên thẳng xe mui của mình.

Đại quân vừa mới qua đầm Đại Dã, đã thấy Khuông Chương phái người hoả tốc cấp báo, quân Sở đã rút sạch, gồm cả thuỷ quân người Việt, không rõ nguyên do.

Điền Kỵ ngỡ ngàng, vội hỏi Tôn Tẫn, Tôn Tẫn chỉ bật ra hai tiếng: “Thu quân”.

Điền Kỵ lo người Sở trí trá, truyền lệnh lui quân tới đầm Đại Dã, hạ trại ven đầm; lại truyền lệnh cho Khuông Chương tiếp tục trấn giữ Tiết Thành, theo dõi sát sao động tĩnh của quân Sở.

Gần trưa hôm sau, xe của Tô Tần từ đất Tống chạy tới, đánh thẳng vào đại doanh. Thì ra, sau khi từ biệt Trần Chẩn, Tô Tần vẫn không yên tâm, dặn Trâu Phi Đao tìm đường rẽ vào đất Tống, đợi trên con đường trung quân nước Sở buộc phải đi qua, tận mắt chứng kiến đại quân Chiêu Dương rầm rập đông chinh, rồi lại tận mắt nhìn họ rồng rắn quay về, sau đó mới đánh xe sang Tề, giữa đường gặp được Điền Kỵ.

Đến khi Tô Tần nói rõ nguyên do khiến Chiêu Dương rút quân, Điền Kỵ xuýt xoa luôn miệng. Chỉ vài lời nói, đã tránh được một trận binh đao, với Điền Kỵ vốn dĩ xưa nay quen cậy vũ lực, đây quả là chuyện khó lòng tưởng tượng.

Dù công lao đẩy lùi quân địch không phải của mình, song Điền Kỵ vẫn mừng vui khôn xiết. Nói thực lòng, Điền Kỵ không hề muốn khai chiến với Sở. Lần trước chạy sang Sở, người Sở đối đãi với Điền Kỵ rất tử tế, nhất là Chiêu Dương. Tuy Điền Kỵ không đến nương nhờ Chiêu Dương, họ Cảnh cũng nhiều lời ra tiếng vào, song Chiêu Dương không hề để bụng, vẫn tiến cử Điền Kỵ làm thú thừa đất Dung, giúp Điền Kỵ không phải hổ thẹn nỗi ăn nhờ ở đậu. Chỉ riêng tình nghĩa này, Điền Kỵ đã không đành lòng tuốt gươm giương kích với Chiêu Dương.

Chiến sự đã dừng, việc tiếp theo sẽ là đại quân nên bố trí ra sao.

“Điền tướng quân,” Tô Tần nhìn Điền Kỵ, “ba quân tướng sĩ đã bôn ba nhiều tháng, cũng nên cho họ trở về quê nhà. Theo ý tại hạ, giờ hãy tấu báo lên đại vương, giải tán binh lính năm đô ngay tại đây, ba người chúng ta quay về Lâm Truy, một là để phục mệnh, hai là để canh linh cữu cho tiên vương.”

Điền Kỵ cắn chặt răng, nhìn ra ngoài trướng, hồi lâu không nói năng gì.

“Ý Tôn huynh thế nào?” Tô Tần quay sang Tôn Tẫn.

“Ba quân xuất chinh, chỉ tuân lệnh chủ tướng!” Tôn Tẫn mỉm cười, thoái thác.

“Điền tướng quân?” Tô Tần cũng cười.

“Quốc sự đã xong, giờ đến gia sự của tại hạ!” Điền Kỵ thu ánh mắt lại, ngoảnh nhìn Tô Tần và Tôn Tẫn.

Rõ ràng, Thành Hầu Trâu Kỵ là một cấi gai không dễ bỏ qua.

Tô Tần cười hỏi: “Điền tướng quân, nếu Trâu tướng quốc chịu nhận lỗi thì sao?”

“Nhận lỗi?” Điền Kỵ hừ mũi một tiếng, “kẻ độc ác làm vậy, bịa tạc tội danh, hãm hại trung lương, lôi bè kết đảng, mưu lợi riêng tư, chính là ung nhọt của đất nước, Điền Kỵ quyết không đội trời chung với hắn!”

“Dám hỏi tướng quân, tướng quốc có giết cha tướng quân không?”

“A...”

“Theo lời Nho gia, chỉ có thù giết cha mới không đội trời chung!”

“Tại hạ không cần nghe họ rườm lời, tại hạ chỉ chắc một điều, có ta thì không có hắn!”

“Than ôi, Điền tướng quân!” Tô Tần thở hắt ra, “xin hỏi tướng quân, nếu có người việc gì cũng chăm chăm đối đầu với tướng quân, còn giết cả con trai tướng quân, tướng quân sẽ làm gì?”

“Tại hạ...” Điền Kỵ khựng lại, rồi cất giọng căm phẫn, “khác nhau chứ, con trai hắn đáng giết!”

“Đúng là đáng giết, nhưng tướng quân không thể giết.”

“Ta là chủ tướng, lý nào lại không giết được?”

“Chính bởi vì ngài là tướng quân.” Tô Tần thuận thế, dõng dạc tiếp lời, chỉ vào Tôn Tẫn, “nếu tướng quân và Tôn huynh diễn một màn kịch, Tôn huynh y theo quân pháp hạ lệnh giết, tướng quân cầu xin giúp công tử kia, Tôn huynh vẫn quyết ý giết, tướng quân vờ nổi giận, tranh cãi kịch liệt với Tôn huynh, Tôn huynh mới nói ra một loạt lý do phải giết, tướng quân không còn lời nào phản bác, mới phải gạt nước mắt mà chém...”

Tôn Tẫn phì cười.

“Ta...” Điền Kỵ chớp mắt lia lịa, cơn giận đã nguôi đi thấy rõ.

“Điền tướng quân,” Tô Tần thu lại nụ cười, “theo như tại hạ biết, Trâu tướng quốc chưa hẳn đã là tiểu nhân. Tướng quân là công tộc vương thần, Trâu tướng quốc là khách khanh, chỉ nhờ vào tài hoa mà bước lên chức tướng quốc. Tề được vinh quang như ngày nay, không thể không kể tới công lao của Trâu tướng quốc. Còn như Trâu tướng quốc có lòng riêng tư, âu cũng nhược điểm trong tính người. Dám hỏi tướng quân, tướng quân lại không có lòng riêng tư hay sao? Tướng quân và Trâu tướng quốc, một là tướng quân, một là tướng quốc. Hai tướng hoà thuận, mới có lợi cho quốc gia, hai tướng bất hoà, sẽ khiến quốc gia suy yếu. Gia quyến của tướng quân đều ở đất Tề, sản nghiệp, hoài bão cũng đều ở đất Tề, nếu nước không mạnh, nếu nhà bất hoà, đối với tướng quân, có lợi gì đây?”

“Được rồi!” Điền Kỵ thở hắt ra, “tại hạ sẽ nhường hắn một bước. Có điều, nếu hắn không chịu giảng hoà thì sao?”

“Việc này, xin cứ để cho Tần.” Tô Tần ôm quyền nói, “Tần nghỉ ngơi một đêm, ngay mai sẽ lập tức lên đường về Lâm Truy, trò chuyện cùng Trâu tướng quốc. Với tài trí của tướng quốc, hẳn sẽ không lấy cứng chọi cứng!”

“Tại hạ cảm tạ!” Điền Kỵ vòng tay đáp lễ, rồi quay sang Tôn Tẫn, “Tôn huynh, nếu Tô huynh không thành công, nếu họ Trâu kia vẫn khăng khăng cố chấp, tại hạ nên làm thế nào?”

“Tướng quân sẽ có ba kế sách thượng, trung, hạ,” Tôn Tẫn đã chịu lên tiếng, “thượng sách là, tạm chưa giải tán ba quân, công khai chân tướng sự việc trước tướng sĩ, kể rõ mối ân oán thị phi giữa tướng quân và Thành Hầu, rồi giương cờ trừ gian thần, diệt Thành Hầu, vây chặt Lâm Truy, chừa ra một đường lớn, ép Thành Hầu phải bỏ đi.”

“Còn trung sách?”

“Giải tán binh lính năm đô, một mình vào cung, bày tỏ oan tình trước đại vương. Khi đại vương còn là điện hạ, đã hiểu rõ sự việc trước kia, hẳn sẽ chịu nghe. Đại vương vừa tức vị, đang muốn lập chính trừ tà, chắc chắn sẽ chủ trì công đạo.”

“Vậy còn... hạ sách?”

“Dẫn dũng sĩ ba quân, xông vào Ung Môn, bắt sống Thành Hầu!”

Điền Kỵ trầm ngâm một chốc, rồi quay sang Tô Tần: “Xin nhờ cậy Tô huynh!” Đoạn quay sang quân úy thân tín, “người đâu, bày rượu!”

Thế nhưng, cây muốn lặng mà gió chẳng dừng.

Đúng lúc Điền Kỵ đã suy nghĩ thông suốt, vui vẻ nâng chén cùng Tô Tần, Tôn Tẫn, thì Điền Anh tìm tới.

Điền Kỵ mắt tinh nhìn thấy, đứng dậy ra đón, phăm phăm kéo lại chiếu ngồi, lập tức rót rượu.

Điền Anh mặt mày nhăn nhó nhìn Điền Kỵ: “Điền tướng quân, tại hạ đến đây, không phải để uống rượu.”

“Ồ?” Điền Kỵ trợn mắt, hít ngược một hơi, “Điền Anh, chúng ta bận rộn tối tăm mặt mũi, khó khăn lắm mới giải vây được cho đất Tiết của ông, ông đã không kính chúng ta vài chén thì chớ, lại ăn nói úp mở khó nghe, là cớ làm sao?”

Điền Anh thở dài đánh sượt, lấy từ trong tay áo ra một đạo chỉ dụ, đưa cho Điền Kỵ: “Tướng quân hãy tự xem đi.”

Điền Kỵ xem xong, bỗng chốc hoả bốc đùng đùng, ném toẹt chỉ dụ đi, đấm bình bịch xuống án, khiến mấy chén rượu rơi đổ nghiêng ngả.

Tô Tần nhặt chỉ dụ lên xem, rồi khép mắt lại, đưa cho Tôn Tẫn.

Tôn Tẫn đọc xong, thở dài một tiếng, cũng khép mắt lại.

“Điền huynh,” Điền Anh vòng tay, “nghỉ ngơi một đêm, sáng sớm mai hãy cùng tại hạ về Lâm Truy, tấu trình rõ ràng lên bệ hạ!”

“Ta nhất định phải đi!” Điền Kỵ giậm chân giận dữ, “nhưng không phải đi như thế này! Người đâu!”

Tham tướng bước vào.

“Truyền lệnh ba quân, sáng sớm ngày mai, nhổ trại!”

Tham tướng vâng dạ lui ra.

Ba người Tô Tần đưa mắt nhìn nhau.

“Điền huynh,” Tô Tần ngẩng đâu, vòng tay với Điền Anh, “thế này đi, tại hạ sẽ cùng Điền huynh về Lâm Truy, ngay bây giờ!” Quay sang vòng tay với Điền Kỵ, “Điền tướng quân, nhất thiết không được nóng nảy, tại hạ sẽ lập tức về yết kiến đại vương, tìm hiểu rõ nguyên nhân!” Rồi lại vòng tay với Tôn Tẫn, hất hàm về phía Điền Kỵ, ôm quyền nói, “Tôn huynh, cáo từ!” Đoạn kéo tay Điền Anh, vội vã đi luôn.

Tô Tần tới Lâm Truy, cùng Điền Anh vào yết kiến Tuyên Vương.

Tuyên Vương cũng không nhiều lời, gọi quan tư hình lại, lệnh cho dẫn Tô Tần tới nhà ngục.

Tô Tần đích thân tra hỏi lão thầy bói và những người đến xem bói vào ngày hôm đó. Tô Tần thẩm vấn từng người một, qua lời cung khai của họ, không nhận ra có dấu hiệu thông cung. Tô Tần cho tìm một họa sĩ đến, dựa theo lời miêu tả của họ, vẽ ra diện mạo của tráng hán xem bói hôm đó.

Tra hỏi xong, Tô Tần đánh xe tới phủ Điền Anh, kể lại vắn tắt chuyện thẩm vấn, rồi đưa bức chân dung cho Điền Anh xem.

“Người này tại hạ đã từng gặp,” Điền Anh chỉ vào chân dung, “là người trong phủ Điền tướng quân.”

“Điền huynh chắc chứ?” Tô Tần vẫn không thôi hy vọng, “bức họa này, tại hạ đã lệnh cho họa sĩ vẽ ra theo lời miêu tả của họ.”

“Diện mạo cũng na ná, tại hạ không thực khẳng định, song cụt hai ngón tay là điều chắc chắn.” Điền Anh đáp, “kẻ này vốn là hộ vệ của Điền tướng quân, chiến đấu dũng mãnh, từng lập công, rất được Điền tướng quân tin tưởng, họ gì tên gì, tại hạ không nhớ rõ, hai ngón tay cũng là bị cụt trên sa trường. Mấy năm trước, quá tuổi nên giải ngũ, nhưng không muốn về làm ruộng, được đưa tới phủ Điền tướng quân giúp việc.”

“Về lý mà nói, chuyện này không thể tin được.” Tô Tần nhìn thẳng vào Điền Anh, “thứ nhất, Điền tướng quân là người bộc trực, muốn đánh là đánh, muốn giết là giết, không bao giờ biết vòng vo. Thứ hai, cho dù Điền tướng quân muốn làm việc lớn, muốn xem ý trời, cũng không bao giờ sai thuộc hạ đi làm. Thứ ba, lần trước Điền tướng quân bị khép tội, kết quả đã chứng thực là bị vu oan.”

“Ý Tô huynh là, vẫn là do tướng quốc giăng bẫy?”

“Có phải tướng quốc giăng bẫy hay không, tại hạ không dám chắc, nhưng theo như tính cách của Điền tướng quân, tướng quân tuyệt đối không làm ra những chuyện thế này!”

“Cũng khó nói lắm,” Điền Anh tiếp lời, “trong nước không ai không biết đến mối hiềm khích giữa Điền tướng quân và Trâu tướng quốc, Điền tướng quân không thể chịu được hạt bụi trong mắt, huống hồ là oan ức nhường này. Giờ thắng trận khải hoàn, trở về phục thù cũng là chuyện dễ hiểu. Trâu tướng quốc có thế lực trong triều, Điền tướng quân lại là người lỗ mãng, nếu về Lâm Truy, chưa hẳn đã giành được ưu thế giữa triều đường. Mấy hôm trước, đúng là Điền tướng quân có nói với tại hạ về chuyện dẫn quân về Lâm Truy, muốn dùng vũ lực bắt lấy Trâu tướng quốc. Nếu như dẫn quân về Lâm Truy, dùng vũ lực bắt người, đây đích xác là việc lớn, Điền tướng quân tìm người gieo quẻ, cũng là dễ hiểu. Hơn nữa, lại gieo quẻ ở A Ấp, mà A Ấp vốn là địa bàn của Điền tướng quân. Có lẽ Điền tướng quân không ngờ được, có người lại tấu báo lên đại vương.”

“Nếu là như vậy, phải làm thế nào?”

“Hết cách rồi. Điền tướng quân nộ hoả ba trượng, nếu về Lâm Truy, ngược lại khó mà giải thích. Hơn nữa, đại vương vừa mới tức vị, đang cất nhắc người mới, nên đối với cựu thần...” Điền Anh dừng lại nửa chừng.

“Hiểu rồi!” Tô Tần gật đầu, “không còn Bàng Quyên, nước Ngụy không còn có thể khuấy động sóng gió, vài năm sắp tới, nước Tề hẳn không phải rầm rộ hưng binh, không cần dùng tới Điền tướng quân nữa, để Điền tướng quân rời khỏi đất Tề cũng là thượng sách. Chỉ có điều, Điền tướng quân tuổi tác đã cao, càng dễ tổn thương, lần này lánh nạn, hẳn không bao giờ chịu quay về nữa. Gia quyến của Điền tướng quân, cảm phiền thượng đại phu dàn xếp giúp cho, nếu muốn theo Điền tướng quân, hãy sắp xếp cho họ lên đường, còn như không muốn, hãy bảo họ tạm rời trạch phủ, chờ xem động tĩnh của đại vương rồi tính.”

“Xin vâng!” Điền Anh nói đoạn, vội vã đi ngay.

Tô Tần quay trở về trạch phủ trong Tắc Hạ, viết một phong thư, sai người mang tới chỗ Điền Kỵ, rồi đưa chân dung tráng hán cụt ngón tay cho Trâu Phi Đao: “Trâu huynh, hãy điều tra người này, xem hắn ẩn nấp nơi đâu!”

Đại quân nước Tề dưới sự điều động của Điền Kỵ, rầm rộ tiến về A Ấp.

Vài ngày sau, đại quân tiến tới Chân Ấp, Tôn Tẫn quay về nhà tổ.

Qua Chân Ấp là đến A Ấp. Điền Kỵ cảm thấy thời cơ đã tới, bèn triệu tập tướng sĩ ba quân, kể lại chi tiết chuyện Thành Hầu Trâu Kỵ hai lần giăng bẫy hãm hại mình. Chư tướng không ai không phẫn nộ sục sôi. Thế nhưng, khi Điền Kỵ hô hào chư tướng dẫn theo thuộc hạ cùng mình quay về bao vây Lâm Truy, bắt sống Thành Hầu, ai nấy lại im thin thít, đưa mắt nhìn nhau.

“Chư vị tướng quân,” Điền Kỵ tâm tư kích động, ngữ điệu bi tráng, “chư vị đã theo bản tướng nhiều năm, hiểu rõ tính khí của bản tướng. Giặc Trâu kia với bản tướng tuy là thù riêng, song cũng không hoàn toàn là ân oán riêng tư. Giặc Trâu kia chỉ nhờ một cây đàn rách để khua môi múa mép, lấy lòng tiên quân, lộng quyền cho tới nay. Theo lẽ thường tình, văn để trị quốc, võ để an bang, bản tướng và giặc Trâu đáng lẽ mỗi người một việc, không ai phạm ai, vậy mà hắn nhất quyết không chịu an phận thủ thường, chỉ thích can thiệp vào việc quân, lúc nào cũng đối đầu với bản tướng. Dựa vào quyền lực, hắn lôi bè kết đảng trong triều, hình thành thế lực, khiến bản tướng chẳng thể làm gì. Hắn lại bày mưu sâu kế hiểm, cấu kết với Mâu Tân, đưa con trai vào trong quân ngũ, phá hỏng đại sự của ta, bản tướng y theo quân pháp, xử chém con hắn, nào ngờ hắn lại ghi khắc tư thù. Bản tướng không sợ thù oán, nếu có bản lĩnh, cứ đường đường chính chính mà tới, nhưng hắn thì không, lần trước gia hại bản tướng một lần, nay lại tiếp tục giăng bẫy vu cáo, chuyện này mà nhịn được, thì còn chuyện gì không nhịn được? Bản tướng quyết liều một mạng với hắn. Lần này dẫn quân bao vây Lâm Truy, chưa hề nhận được vương mệnh, bản tướng cũng không miễn cưỡng chư vị, ai muốn theo bản tướng, bản tướng cảm kích muôn vàn, coi là huynh đệ sống chết; ai không muốn theo, bản tướng cũng không làm khó dễ, cứ đường ai nấy đi. Nếu chư vị đều không muốn theo, bản tướng cũng không một lời oán hận, sáng sớm ngày mai, sẽ một người một xe quay về Lâm Truy, liều một chết cùng giặc Trâu!”

Lời vừa dứt, mấy viên tùy tùng thân tín lập tức giơ tay xin theo.

Điền Kỵ đưa mắt nhìn quanh, chư tướng cũng đua nhau giơ tay.

“Tại hạ cảm tạ chư vị!” Điền Kỵ ôm quyền xoay khắp một vòng, “chư vị đã vì đại nghĩa mà theo, vậy sáng sớm mai, chúng ta sẽ nhổ trại, tiến về Lâm Truy, thanh trừng gian tặc!”

“Tiến về Lâm Truy, thanh trừng gian tặc!” Chư tướng đồng thanh hô vang.

Khi chư tướng ra về cả, Điền Kỵ bèn đánh xe tới nhà tổ của Tôn Tẫn, đem chuyện triệu tập chư tướng, kêu gọi đánh về Lâm Truy kể hết cho Tôn Tẫn nghe. Tôn Tẫn nghe xong, khẽ thở dài một tiếng, khép mắt không nói năng gì.

Sáng sớm hôm sau, bước vào đại trướng trung quân của Điền Kỵ chỉ có hai người, là phó tướng Khuông Chương và tham tướng trung quân.

Điền Kỵ ngồi lặng phía sau án chủ tướng, hồi lâu không thốt một lời.

“Chủ tướng,” Khuông Chương vòng tay, “mọi người... suốt đêm không ngủ, lúc này vẫn đang ở trong trại của mạt tướng, chính mạt tướng đã... không cho họ tới...”

Điền Kỵ nhìn sững vào Khuông Chương, hồi lâu sau mới gật đầu: “Làm rất đúng!”

“Mạt tướng nguyện cùng chủ tướng quay về Lâm Truy, tâu rõ lên đại vương, thỉnh cầu đại vương chủ trì công đạo, nếu không, sĩ khí ba quân ắt sẽ nguội lạnh! Đại vương mới lên ngôi, muốn thành đại sự, ắt sẽ phải vỗ yên ba quân.” Khuông Chương lại vòng tay lần nữa.

“Đại nghĩa của Khuông tướng quân,” Điền Kỵ cười buồn, đáp lễ, “Điền Kỵ đa tạ!”

Rồi lại im lặng rất lâu.

“Than ôi,” cuối cùng, Điền Kỵ buông một tiếng thở dài não nề, “nghĩ lại Điền Kỵ ta, có tài đức gì, có tài đức gì!”

“Chủ tướng,” Khuông Chương và tham tướng quỳ xuống dập đầu, nghẹn ngào mà nói, “không phải chư tướng sĩ không phục tùng chủ tướng, mà là... mà là họ không đành lòng vây khốn Lâm Truy!”

Điền Kỵ đang định buông lời cảm thán, chợt ngoài trướng vọng vào tiếng bước chân gấp gáp.

“Báo!” Quân úy đương trực chạy vào bẩm báo, “có sứ giả của tướng quốc sáu nước Tô đại nhân cầu kiến!”

“Mời vào!” Điền Kỵ khoát tay.

Quân úy bèn dẫn một người mặc áo nâu bước vào, trình lên Điền Kỵ một phong thư mật.

Điền Kỵ mở thư, đọc xong, ngửa cổ cười dài một tràng, tiếng cười nghe đầy bi thiết.

Khuông Chương kinh ngạc, nhìn sững vào Điền Kỵ: “Chủ tướng?”

Điền Kỵ ném phong thư cho Khuông Chương, rồi quay sang quân uý: “Chuẩn bị xe!”

Quân úy nhận lệnh, vội vã rời đi.

Điền Kỵ đứng dậy, quay vào chỗ nằm trong trướng, lấy ra một hộp gấm, đặt lên trên án. Rồi lại quay vào trong, lịch kịch chốc lát, xách ra một tay nải, vừa cười ha hả, vừa sải bước vùn vụt đi ra khỏi trướng.

Điền Kỵ quẳng tay nải lên xe, quát phu xe xuống, tự mình lên xe, ra roi thúc ngựa, đánh xe lao thẳng ra khỏi cổng doanh trại.

Khuông Chương cầm thư đuổi theo ra ngoài, dõi mắt nhìn theo cỗ xe lăn bánh khỏi cổng, từ từ xa khuất.

Khuông Chương khẽ thở dài, quay trở vào trong trướng.

Tham tướng hai tay bưng hộp gấm, trình lên.

Khuông Chương mở ra, là ấn tỷ và hổ phù chủ tướng của Điền Kỵ.

Trong một khách điếm tầm thường trên ngõ nhỏ tại A Ấp, Công Tôn Hãn ngồi trên chiếu, mặt đối mặt với gã cụt ngón tay.

Công Tôn Hãn lấy ra năm đĩnh vàng, lần lượt xếp lên trên án, rồi vòng tay vái gã cụt ngón.

Gã cụt ngón vòng tay đáp lễ, thu lấy năm đĩnh vàng cất đi.

“Tiếp theo biết phải làm gì rồi chứ?” Công Tôn Hãn hỏi.

“Đã biết!” Gã cụt ngón đáp, “ngay ngày mai, tiểu nhân sẽ lập tức rời A Ấp, về quê Tức Mặc, mua đất dựng nhà, sống thảnh thơi đến già.”

“Không phải!” Công Tôn Hãn lắc đầu, “phải đi ngay đêm nay. Không về Tức Mặc, mà mai danh ẩn tích, vĩnh viễn rời khỏi nước Tề, tới bất cứ nước nào khác ngoại trừ nước Sở, tốt nhất là Tam Tấn. Năm đĩnh vàng này, cộng thêm năm đĩnh đã nhận trước đây, đủ cho ngươi mua được một gia nghiệp nhỏ.”

“Nhưng...” gã cụt ngón ánh mắt khẩn thiết, “tiểu nhân không thể về quê được ư?”

Công Tôn Hãn lại lấy từ trong tay áo ra mười đĩnh vàng, xếp thành một dãy dài trên án: “Mười đĩnh vàng này có thể giúp ngươi quên đi cố hương, lấy vợ nạp thiếp, an hưởng tuổi trời!”

Gã cụt ngón lại thu lấy vàng, vòng tay nói: “Tạ ơn Công Tôn huynh thưởng hậu!” Đoạn sải bước khỏi cửa, nghênh ngang đi thẳng.

Đợi gã đi khuất, Công Tôn Hãn mới thở hắt ra, ngoảnh ra ngoài gọi: “Chủ quán!”

Chủ quán bước vào.

“Đã chuẩn bị xong xe ngựa cho ta chưa?” Công Tôn Hãn hỏi.

“Thưa, xong rồi.” Chủ quán đáp.

“Đây là tiền trọ, tiền thừa không phải trả lại.” Công Tôn Hãn lấy ra một đĩnh vàng, đặt xuống án, sải bước ra ngoài, nhảy luôn lên xe, ra roi lao đi.

Hai ngày sau, lúc trời chập choạng, Công Tôn Hãn sải bước vào phủ tướng quốc, bái kiến Trâu Kỵ.

Trâu Kỵ sắc mặt căng thẳng, hai mắt nhìn xoáy vào Công Tôn Hãn.

“Bẩm chúa công,” Công Tôn Hãn vòng tay, “Hãn không làm tròn mệnh lệnh, ba hôm trước, Điền tướng quân đã phong ấn bỏ đi, sang nước Sở rồi.”

“Hả?” Trâu Kỵ đứng dậy, vòng tay, thở hắt ra một hơi thật dài, “ngươi nói đi, muốn bản công trả ơn thế nào?”

“Đa tạ hậu ý của chúa công!” Công Tôn Hãn không đứng dậy, vẫn ngồi nguyên tại chỗ, vòng hờ tay đáp lễ, rồi rút từ trong tay áo ra túi tiền mà Trâu Kỵ đưa cho hôm trước, đặt lên trên án, “Hãn nhận năm mươi đĩnh vàng của chúa công, đưa cho lão thầy bói mười đĩnh, nay đã ở chỗ đại vương. Trả công và thưởng cho nô bộc của Điền Kỵ hai mươi đĩnh; cho những kẻ làm chứng mỗi người một đĩnh, tổng cộng bảy đĩnh; cho người tố cáo ba đĩnh; chi tiêu vào những việc khác năm đĩnh, số vàng còn lại, ở trong túi cả, xin chúa công kiểm tra!”

“Ồ...” Trâu Kỵ nhìn túi tiền, im lặng một chốc, rồi đẩy trả, lại lấy từ dưới án ra một chiếc túi đã chuẩn bị sẵn, cũng đẩy về phía Công Tôn Hãn: “Công Tôn tiên sinh, trong túi này có đủ năm mươi lượng vàng, là bản công thưởng riêng cho tiên sinh!”

“Tạ ơn chúa công thưởng hậu!” Công Tôn Hãn vòng tay, mắt không nhìn túi tiền, chỉ nhìn thẳng vào Trâu Kỵ, “Hãn đã bước vào cửa của chúa công, đương nhiên phải tận lực vì chúa công, số vàng này, xin chúa công thu lại cho!”

“Công Tôn tiên sinh,” Trâu Kỵ sửng sốt, “tiên sinh... vẫn muốn ở lại chỗ bản công?”

Công Tôn Hãn cười nhạt một tiếng: “Chúa công hiểu lầm rồi.

“ồ...” Trâu Kỵ không hiểu, nhìn chằm chằm vào Công Tôn Hãn, “tiên sinh định đi đâu?”

“Trời đất bao la, khắc có chỗ cho Hãn dung thân!”

“Tiên sinh cứ cầm lấy đi!” Trâu Kỵ cầm lấy túi tiền, nâng hai tay đưa lại.

Công Tôn Hãn đỡ lấy, đặt trả xuống án.

“Tiên sinh?” Trâu Kỵ mắt nhìn túi tiền, lòng đầy nghi hoặc.

“Tướng quốc đại nhân hãy yên tâm,” Công Tôn Hãn đổi cách xưng hô, khẽ cười mà nói, “kể từ lúc này, Hãn không còn là môn khách của đại nhân nữa, cũng không bao giờ đặt chân vào cánh cửa này nữa, tất cả những việc mà Hãn đã làm bên trong cánh cửa này, Hãn cũng sẽ xoá sạch hết, tuyệt không bao giờ nhắc tới với ai!”

“Đa tạ nghĩa cử của tiên sinh!” Trâu Kỵ vòng tay, “tuy nhiên, đại đức của tiên sinh, Kỵ không thể không báo đáp. Nói đi, tiên sinh có nguyện vọng gì, Kỵ sẽ tác thành!”

“Đa tạ tướng quốc đại nhân!” Công Tôn Hãn đáp lễ, rồi lấy từ trong tay áo ra một túi gấm, “tướng quốc đại nhân nếu đã nhất quyết, thì Hãn cũng có một lời thỉnh cầu, ở trong túi này, xin đại nhân sau ba hôm nữa hãy mở ra xem!”

Lời vừa dứt, Công Tôn Hãn khẽ đặt túi gấm xuống bên cạnh túi tiền, hơi vòng tay với Trâu Kỵ, đoạn đứng dậy bước luôn ra cửa, không ngoảnh đầu lại.

Trâu Kỵ chậm rãi đứng dậy, tiễn ra ngoài cổng, nhìn Công Tôn Hãn từng bước xa dần, rồi mất hút trong bóng đêm, mới cất bước quay vào phòng khách, cầm túi gấm lên, ngắm nghía một hồi, rồi cất vào trong tay áo.

Trâu Kỵ đợi đúng ba ngày, bèn mở túi, lấy ra một mảnh lụa, đọc vội đọc vàng.

Đọc xong, hai mắt trợn trừng, tay run bần bật, mổ hôi túa ra như tắm.

Mảnh lụa rơi xuống đất.

Trâu Kỵ sắc mặt trắng bệch, mắt miệng méo xệch.

Trên mảnh lụa viết chi chít đến trăm chữ, mỗi một con chữ, như dùi vào tim.

Tướng quốc đại nhân, những lời dưới đây, nếu có chỗ mạo phạm, kính mong đại nhân tha cho Hãn tội bất kính.

Đại nhân đường đường là bậc đại gia, học vấn uyên bác, dùng tiếng đàn ẩn dụ mà được làm quan, nhờ học vấn Pháp gia mà được tham chính, khiến Tề quốc gia đại trị, tiếng hiền vang khắp thiên hạ. Hãn vốn là kẻ bỉ lậu quê mùa, ngưỡng mộ đức độ của đại nhân, mới không tiếc thân mình, xin vào cao môn, đến nay đã được sáu cái xuân thu. Tính Hãn ưa nhàn tản đạm bạc, không cầu danh vọng, không tham tài sắc, chỉ mong tâm bình khí hoà, mặc dầu no đói. Hoài bão mỏn mọn, với sự sáng suốt của đại nhân, hẳn là thấu hiểu.

Người ưa ngao du trông thế núi, nhìn xa thì như tranh vẽ, lại gần mới biết hiểm ác. Hãn nhìn đại nhân, cũng giống như vậy.

Nho gia sùng chuộng quân tử. “Thượng thư” có câu, “không thiên lệch không bè cánh, đạo vua thênh thang”. Theo như Hãn biết, không bè cánh không thiên lệch, mới là chính đạo của người quân tử. Thế nhưng đại nhân lại lôi bè kết đảng rộng khắp, tập hợp đông đảo môn đồ, dùng lợi ích để giao du, lũng đoạn trong triều ngoài nội. Trong Tắc Hạ có bao nhiêu hiền sĩ, bị đại nhân chặn đứng đường hoạn lộ, du sĩ qua lại, nếu không chịu theo về bè đảng, thì khó lòng được Trâu môn dung nạp. Nho gia lấy nhân nghĩa làm gốc, vậy mà đại nhân hại nhân trộm nghĩa, mưu tính lợi riêng, mười năm mà của cải đầy kho, mỹ nữ đầy nhà, đại nhân cũng đắm chìm trong thanh sắc khuyển mã, ngày đêm hoan lạc, bỏ bê quốc sự. Nho gia lấy thành thực làm trọng, vậy mà đại nhân giăng bẫy bày kế, hãm hại kẻ bất đồng, quyết ý truy cùng giết tận. Điền tướng quân nuôi ngựa vì nước, đại nhân nuôi ngựa vì nhà. Điền tướng quân dùng Tôn Tẫn, cường binh hộ quốc, đại nhân đuổi Bàng Quyên dùng Mâu Tân, hại quân hại nước. Điền tướng quân theo quân pháp xử trảm lệnh công tử, trị quân nghiêm minh, đại nhân giở mưu hèn đuổi Điền tướng quân, trị quốc ám muội. Những chuyện như vậy, đều là thứ quân tử khinh thường, tiểu nhân khoái chí, Hãn này đã tận mắt thấy tận tai nghe, tuyệt không phải là vu khống.

Đương nhiên, toàn bộ mưu hèn hãm hại Điền tướng quân, đều từ Hãn mà ra. Thế nhưng, Hãn tuy vô tri, song cũng đủ sáng suốt để tự biết mình. Từ sau khi đặt chân vào chốn cao môn, không biết do đâu, đại nhân lại ghét bỏ Hãn. Hãn có trăm nghìn kế sách đường hoàng, đại nhân không hỏi đến. Đại nhân không hại người thì không gọi Hãn, cứ gọi Hãn là muốn hại người. Hãn bày kế hèn, thứ nhất bởi ăn gạo của đại nhân, thứ hai cũng bởi Hãn hiếu kỳ, muốn thăm dò chừng mực của đại nhân. Chừng mực này, Hãn đã biết rồi.

Tướng quốc nước lớn, thẳng thắn vô tư. Hãn thấy đức của đại nhân, không xứng đáng với ngôi vị này. Đức không xứng vị, ắt sẽ gây hoạ. Nay đại nhân không chỉ kết oán với Điền tướng quân, mà còn kết oán với ba quân tướng sĩ. Nay đại vương mới tức vị, đại nhân đã là cựu thần. Cựu thần đối với Tần Vương, vết xe đổ của Thương Quân vẫn còn nguyên đó. Đại nhân ở ngôi cao mà không tự biết mình, vẫn ra rả tiến cử môn nhân lên vua mới, Hãn trộm nghĩ rất không sáng suốt.

Hãn vốn không rành miệng lưỡi, trước khi ly biệt, nói bừa vài câu, chỉ vì niệm đến cái ơn cơm gạo của đại nhân. Đã trót nói bừa, Hãn xin nói thêm một câu: nếu đại nhân tham sinh tiếc mạng, muốn được sống hết tuổi trời, xin đại nhân hãy lập tức từ bỏ chức vị, quay về đất phong an hưởng tuổi già.

Dã phu Công Tôn Hãn kính thư.

Càng về khuya, đêm càng tĩnh mịch, Trâu Kỵ một mình ngồi trong thư phòng, trong lòng muôn mối tơ vò. Không biết đã ngồi như thế bao lâu, cuối cùng, Trâu Kỵ chậm chạp đứng dậy, cầm lấy mảnh thư của Công Tôn Hãn ghé lại gần ngọn nến, nhìn mảnh lụa bùng lên ngọn lửa xanh lam. Ngọn lửa bốc cháy sáng rực, dần dần lan đến ngón tay Trâu Kỵ, nhưng ông ta vẫn không ném đi, hai mắt trừng trừng nhìn mảnh lụa hoá tàn tro giữa những ngón tay.

Trâu Kỵ không còn cảm giác bỏng rát, cũng không còn cảm giác đau đớn.

Trâu Kỵ thổi bay tro tàn, cười gằn một tiếng, đổ chút nước vào nghiên, cầm thỏi mực, bắt đầu mài từng nhát một.

Mài mực xong, Trâu Kỵ trải tấm lụa, cầm bút lông lên.

Bàn tay cầm bút run lên khe khẽ.

Trâu Kỵ chấm đẫm mực trong nghiên, bắt đầu viết từng nét lên tấm lụa.

Là tấu thư xin từ chức tướng quốc.

Tuyên Vương xem xong tấu chương, đích thân tới Trâu phủ, vờ giữ vài câu, rồi ân chuẩn thỉnh cầu, ban cho năm mươi lăm dật vàng, năm mươi lăm súc lụa, năm mươi lăm nô bộc.

Năm đó, Trâu Kỵ cũng vừa trải đủ năm mươi lăm cái xuân thu.

Ba ngày sau, Tuyên Vương nhiệm Điền Anh làm tướng quốc, đích thân hạ bút đề biển phủ cho tân tướng quốc.

Cùng lúc đó, trong doanh trại ở A Ấp, phó tướng Khuông Chương cũng nhận được chiếu thư vương mệnh, lập tức giải tán binh lính năm đô, cùng chư tướng trung quân quay về Lâm Truy phục mệnh. Tôn Tẫn cũng dâng biểu tấu rõ, rồi quay về Chân Ấp đoàn tụ với gia đình.

Một cuộc tranh giành kéo dài mười năm giữa tướng quân tướng quốc, cuối cùng đã kết thúc một cách âm thầm trong sự thoái lui của cả hai vị tướng.

Kẻ tươi cười khi chung cục chỉ có một, chính là tướng quốc tân nhiệm Điền Anh.

Ngay sau hôm đoàn xe của Trâu phủ lũ lượt rời khỏi Lâm Truy, đi tới đất phong của Trâu Kỵ, phủ họ Điền giăng đèn kết hoa, cha con Điền Anh hân hoan tươi cười, đứng ngoài cổng phủ tướng quốc vừa treo biển mới, nghênh đón quan cao khách quý đến chúc mừng.

Đêm xuống, quan khách đã ra về cả, Điền Anh, Điền Văn mới thay áo vải, đi vào hậu hoa viên, đẩy mở cánh cổng gỗ dẫn vào một khu nhà nhỏ kín đáo, bước vào gian chính.

Trong nhà ánh đèn chập chờn mờ tỏ, tại một góc tranh tối tranh sáng, có một người đang ngồi ngay ngắn, một mình châm rượu.

Là Công Tôn Hãn.

Điền Anh bước đến chiếu chủ, sửa áo ngồi nghiêm. Điền Văn thắp thêm vài ngọn nến, cầm bình rượu lại, rót đầy ba chén, ngồi xuống chiếu bên cạnh.

“Tiên sinh!” Điền Anh nâng chén hướng vào Công Tôn Hãn.

“Chúa công!” Công Tôn Hãn nâng chén với Điền Anh, Điền Văn.

Ba người cùng cạn.

“Dám hỏi tiên sinh, ngày sau có dự tính gì?” Điền Anh đứng dậy, châm rượu.

“Hãn xin nghe theo chúa công!” Công Tôn Hãn đáp.

“Tới đất Tiết, thế nào?” Điền Anh nhìn thẳng vào hắn, nâng chén, “ở đó trời đất bao la, tiên sinh có thể thoả chí vẫy vùng!”

“Xin nghe theo chúa công!” Công Tôn Hãn nâng chén.

Điền Anh quay sang Điền Văn: “Sáng sớm ngày mai, con theo tiên sinh tới đất Tiết, mọi việc ở đất Tiết, đều nghe lời tiên sinh!”

“Nhi thần tuân lệnh!”

Hôm đó, trời đã xế chiều, tiểu đồng lưng cõng giỏ trúc đựng đầy đồ đạc, bước chân nặng nề băng qua khe núi, rẽ vào Quỷ Cốc.

Tiểu đồng giờ đã lớn, cao ngang với Quỷ Cốc Tử, có cơ còn cao thêm nữa. Từ sau khi tứ tử rời núi, việc tới cửa Túc Tư mua sắm đồ dùng, đều do một mình tiểu đồng gánh vác.

Ngọc Thiền trông thấy, ra đón từ xa, đỡ giỏ trúc xuống khỏi lưng tiểu đồng, cõng lên trên lưng.

“Chị Thiền Nhi,” tiểu đồng lấy từ trong áo ra một chiếc bánh nướng, đưa cho nàng, “chị nếm thử xem.”

Ngọc Thiền cắn một miếng, cười nói: “Không phải chỉ mua một cái này đấy chứ?”

“Mua ba cái cả thảy, một của tiểu đồng, đã nằm trong bụng, cái này của chị, còn cái nữa của tiên sinh, vẫn cất trong ngực áo.”

“Thơm ngon lắm, lẽ ra nên mua thêm vài cái!” Ngọc Thiền lại cắn một miếng, khen ngợi.

Tiểu đồng cười đáp: “Tiểu đồng đã trộm được nghề rồi, ngày mai làm cho chị ăn, không ngon không lấy tiền!”

“Tiểu đồng định rao bán đấy ư?” Ngọc Thiền cười nói.

Tiểu đồng bật cười khanh khách, rồi nhìn thẳng vào Ngọc Thiền nói: “Có một tin này, chị Thiền Nhi hẳn là muốn nghe!”

“Là tin tốt chứ?” Ngọc Thiền nghiêng đầu hỏi. “Không tốt, cũng không phải không tốt.” “Ồ?” Ngọc Thiền ngừng ăn.

“Không tốt là, Bàng sư đệ không nghe lời tiên sinh, cuối cùng đã chết bởi chữ Mã. Không phải không tốt là, Bàng sư đệ thất bại trước Tôn sư đệ, điều này, tiểu đồng đã dự đoán được từ mười năm trước. Thiên hạ không còn Bàng sư đệ, hẳn sẽ yên ổn hơn nhiều.”

Ngọc Thiền không đáp, chỉ sải bước nhanh hơn, chân lướt như bay trên con đường núi.

Về tới thảo đường, Ngọc Thiền ngồi lặng lẽ một hồi, rồi lấy đàn cầm, ngửa mặt nhìn lên bầu trời đêm mà gảy.

Tiếng đàn rối bời, hỗn loạn.

Người đàn ông đầu tiên ngoài phụ thân nàng nhìn thấy thân thể của nàng, nay đã chết rồi.

Trong tiếng đàn, tự trong sâu thẳm tâm trí Ngọc Thiền, bất chợt hiện lên từng cảnh tượng trong quá vãng. Rồi giọng Bàng Quyên bỗng vang vang lên bên tai: “Dù rằng ngày trước Bàng Quyên có điều mạo phạm tới sư tỷ, nhưng không có tâm muốn mạo phạm. Sau này, cho dù Bàng Quyên có tâm muốn mạo phạm sư tỷ, cũng chẳng thể mạo phạm được nữa!”

Lại là giọng của Bàng Quyên: “Hôm nay, tại hạ nhìn trăng mà thề, nếu đời này Bàng Quyên có yêu một người con gái nào, thì đó chính là sư tỷ! Bàng Quyên vốn là kẻ đê hèn, không xứng với thân phận thanh cao của sư tỷ, nhưng trời đất nhật Nguyệt có thể chứng giám, tấm lòng của Bàng Quyên đối với sư tỷ là hoàn toàn chân thực. Từ nay trở đi, cho dù Bàng Quyên ở nơi đâu, chỉ cần sư tỷ có điều sai bảo, Bàng Quyên nhất quyết không từ. Nếu làm trái lời, trời đất không dung!”

Nước mắt Ngọc Thiền ứa ra giàn giụa.

Trăng lên giữa trời, rọi chênh chếch qua chấn song thảo đường.

Có tiếng bước chân khe khẽ từ trong động tiến ra, Quỷ Cốc Tử chậm rãi bước lại, ngồi xuống chiếu của mình.

Tiểu đồng châm cháy cành thông, gian thảo đường bừng sáng.

“Tiên sinh,” Ngọc Thiền dừng tay đàn, đưa tay lau dòng nước mắt, nhìn sang Quỷ Cốc Tử, “Bàng Quyên chết rồi, Tôn Tẫn... sẽ trở về chứ?”

Quỷ Cốc Tử từ từ khép hờ đôi mắt.

“Còn Tô Tần, Trương Nghi nữa, hai người họ... vẫn tiếp tục đấu với nhau ư? Liệu rồi họ có như Bàng huynh, Trương huynh...” Ngọc Thiền nghẹn lời, ánh mắt tha thiết nhìn vào Quỷ Cốc Tử.

Quỷ Cốc Tử khẽ thở dài, nhìn sang tiểu đồng, đưa tay ra hiệu.

Tiểu đồng hiểu ý, đi vào trong động, mang ra bàn cờ lớn, cẩn thận đặt xuống trước mặt Quỷ Cốc Tử.

Quỷ Cốc Tử nhìn chăm chú vào thế cờ đang bày, hai chòm lông mày thọ buông dài, nghiêng nghiêng rủ xuống, vắt qua vành tai. Chòm râu bạc trắng dưới cằm chạm xuống tận bàn cờ, từ xa nhìn lại, khác nào núi cao thác đổ.

Không gian như ngưng đọng.

Ngọc Thiền nhìn vào thế cờ.

Trên bàn cờ, đường chạy dọc ngang, trắng đen đan rối vào nhau, sát cơ khắp chốn.

“Thiền Nhi...” Ngọc Thiền nước mắt lăn trào, giọng như thở than, như nghẹn ngào, “Thiền Nhi chỉ mong bốn người họ... quay trở về trong cốc, không làm gì nữa...”

Tiểu đồng tiến lại bên Ngọc Thiền, ngồi xuống, nắm lấy tay nàng.

Quỷ Cốc Tử nhắm mắt lại, hít vào một hơi thật dài, hồi lâu sau, mới chầm chậm thở hắt ra.

Bên ngoài, mây trôi che trăng, gió lạnh ào ào thổi qua sơn cốc.

Tôn Tẫn lâm bệnh.

Hai chân Tôn Tẫn đau đớn kịch liệt, cơn đau lan tới thân trên, lan tới trong tim.

Từ sau trận Mã Lăng, hai đầu gối Tôn Tẫn bắt đầu đau đớn. Mỗi khi cơn đau trỗi dậy, trước mắt lại hiện ra hình ảnh Bàng Quyên, bên tai lại vang lên giọng của Bàng Quyên, văng vẳng giữa bầu trời đêm: “Tôn huynh... sư đệ đi trước một bước... Huynh bị tẫn hình, là do tại hạ vu cáo hãm hại, chúng ta huynh đệ kết nghĩa, tại hạ chỉ lừa huynh đúng một lần này! Còn huynh giả điên một lần, giả chết một lần, là hai lần lừa tại hạ, cũng coi như đã hoà. Thất bại hôm nay, không phải do chiến lực, mà là ý trời diệt ta...”

Rồi bao nhiêu cảnh cũ cứ theo nhau ùa về trong ký ức. Cứ mỗi sớm tối, hễ nghĩ tới đây, Tôn Tẫn lại lệ nhoà hai mắt, nhiều lúc canh ba nửa đêm lại ngồi bật dậy khỏi giường, khiến Thụy Mai giật mình tỉnh giấc.

Đêm hôm nay, Tôn Tẫn lại lên cơn đau, giày vò đến gần sáng mới mụ mị thiếp đi.

Trong lúc mơ hồ, Tôn Tẫn thấy mình đang sải bước thoăn thoắt trên đường núi.

Sương giăng mù mịt, khiến Tôn Tẫn không biết hướng nào với hướng nào, cũng không thể tìm thấy đường về sơn cốc, đang lúc lo lắng, chợt thấy ba cái bóng thấp thoáng hiện ra trong sương mù.

Là Quỷ Cốc Tử, Ngọc Thiền và tiểu đồng.

“Tiên sinh,” Tôn Tẫn xúc động dâng trào, quỳ sụp xuống lạy, nghẹn ngào hồi lâu, “đệ tử Tôn Tẫn... đã trở về...”

Quỷ Cốc Tử khoan thai bước lại, đứng trong màn sương trước mặt Tôn Tẫn, giọng nói vang vang: “Về rồi thì tốt!”

“Bàng Quyên...” Tôn Tẫn nước mắt giàn giụa.

“Đã chết rồi.” Quỷ Cốc Tử tiếp lời.

“Tiên sinh...” Tôn Tẫn bật khóc.

“Tôn Tẫn, giờ con định đi đâu?” Quỷ Cốc Tử hỏi.

“Đệ tử muốn về nhà...” Tôn Tẫn khóc mà nói.

“Nhà con ở đâu?”

“Ở Quỷ Cốc, tiên sinh, đệ tử muốn về Quỷ Cốc, đệ tử muốn tìm tiên sinh!”

“Con hãy nhìn kỹ đi, đây có phải là Quỷ Cốc chăng?”

Tôn Tẫn mở to mắt nhìn, thấy bốn bề mờ mịt, sương mù giăng kín, không thấy núi, cũng không thấy đường.

Tôn Tẫn lại nhìn về phía trước, không thấy Quỷ Cốc Tử, cũng không thấy Ngọc Thiền cùng tiểu đồng. Không còn gì hết, chỉ có sương mù dày đặc.

“Tiên sinh...” Tôn Tẫn cất tiếng gọi.

Không một tiếng đáp.

“Tiên sinh,” Tôn Tẫn đứng bật dậy, gào lên thật lớn, “tiên sinh ở đâu? Tiên sinh ở đâu? Đệ tử muốn tìm tiên sinh, đệ tử muốn về nhà!”

Vẫn không có tiếng đáp.

Tôn Tẫn chạy điên cuồng trong sương mù mờ mịt.

“Tiên sinh...” Tôn Tẫn vừa chạy vừa gọi.

“Ta ở đây kia mà!” Giọng nói vang vang chợt vẳng lại.

“Tiên sinh,” Tôn Tẫn xúc động muôn vàn, vừa gọi vừa chạy, “tiên sinh ở đâu? Đệ tử không nhìn thấy người...”

“Ta ở nơi khuất nẻo giữa mây ngàn, ở nơi tâm con chạm tới!” Giọng nói vang vang kia vẳng lại từ tận chân trời tít tắp.

“Đệ tử đến đây,” Tôn Tẫn chợt thấy mình bay bổng, vẫy tay về phía chân trời, “đệ tử đến đây, đệ tử đến đây...”

“Tiên sinh? Tiên sinh?” Một tiếng gọi vang lên bên tai Tôn Tẫn.

Tôn Tẫn giật mình choàng tỉnh, ngồi bật dậy.

“Tiên sinh, lại mơ thấy ác mộng ư?” Thụy Mai giúp Tôn Tẫn lau mồ hôi rịn đầy trên trán.

“Không phải ác mộng,” Tôn Tẫn khẽ đáp, “ta thấy mình trở về Quỷ Cốc, gặp lại tiên sinh.”

“Hay quá!” Thụy Mai vội hỏi, “tiên sinh đã nói những gì?”

“Tiên sinh hỏi ta định đi đâu, ta nói muốn về nhà, muốn về Quỷ Cốc, tiên sinh nói, con nhìn xem, đây có phải là Quỷ Cốc chăng. Ta đưa mắt nhìn kỹ, thấy nào phải là Quỷ Cốc, khắp chốn sương giăng mờ mịt, lại nhìn tiên

sinh, thì không thấy người đâu nữa. Ta cuống lên tìm kiếm tiên sinh, ta đuổi theo tiên sinh, nhưng vẫn không thấy người đâu. Ta gọi tiên sinh, tiên sinh nói, tiên sinh ở nơi khuất nẻo giữa mây ngàn, ở nơi tâm ta chạm tới. Ta đuổi theo về phía tiếng nói, ta đuổi theo mây trắng trên trời, ta bay lên để đuổi theo, vừa đuổi vừa gọi, sau đó...” Tôn Tẫn im lặng, ánh mắt thẫn thờ.

“Ở nơi khuất nẻo giữa mây ngàn? Nơi tâm chạm tới?” Thụy Mai khép mắt, lấm nhẩm nhắc lại.

Bóng đêm mờ mịt, bốn bề lặng phắc.

Thời gian chậm chạp trôi đi.

“Thiếp biết rồi!” Thụy Mai bất chợt reo lên.

Tôn Tẫn mở mắt, nhìn nàng.

“Chắc chắn tiên sinh đang ở đó, nơi khuất nẻo giữa mây ngàn, nơi tâm chạm tới!”

“Ồ đâu kia?”

“Núi tiên ngoài Đông Hải. Chính là nơi mây giăng sương toả, thoắt ẩn thoắt hiện, phiêu diêu bất định, người tầm thường không thể tới.”

“Nàng muốn nói tới nơi mà Thuần Vu tiền bối đã kể?”

“Vâng!” Thụy Mai gật đầu, sắc mặt nghiêm túc, “chàng là công tử Hư, nên sống ở nơi đó!”

“Mây giăng sương toả, thoắt ẩn thoắt hiện, phiêu diêu bất định, phải, đó đúng là nơi ta mơ thấy. Chỉ có điều,” Tôn Tẫn dừng lời, nhìn sang Thụy Mai, “câu chuyện mà Thuần Vu tiên sinh kể cho nàng, chỉ là hư giả.”

“Thiếp tin!” Thụy Mai giọng đầy kiên định, “Thuần Vu Tử không hề bịa tạc, thiếp đã phái người dò la, chốn ấy gọi là Bồng Lai, ở trên biển lớn phía đông bắc Lâm Truy, có không ít người đã từng nhìn thấy, cảnh trí đẹp đẽ, là nơi sinh sống của thần tiên, Quỷ Cốc tiên sinh...” rồi như sực nhớ ra, “phải rồi, tiên sinh chẳng phải sống ở Quỷ Cốc ư? Chúng ta hãy vào núi Vân Mộng tìm tiên sinh, chẳng phải là được ư?”

Tôn Tẫn lắc đâu.

“Vì sao kia?” Thụy Mai sốt sắng hỏi.

“Tiên sinh không muốn chúng ta trở về.”

“Vì sao kia?” Thụy Mai lại hỏi.

“Sư tử một khi rời tổ, tuyệt không còn đường quay về.”

“Nếu đã là vậy, chúng ta hãy đến Bồng Lai, nơi đó có cỏ tiên, gọi là lan quy tâm, chưa biết chừng có thể chữa khỏi chân cho tiên sinh.”

“Lan quy tâm dùng để trị tâm.” Tôn Tẫn cười nói.

“Thế thì chắc chắn còn có loài lan khác!” Thụy Mai giọng đầy kiên định.

“Cứ theo lời phu nhân!” Tôn Tẫn khép mắt một lát rồi nói, “ngay khi trời sáng, phu nhân hãy chuẩn bị lên đường, đợi ta thảo một bức thư gửi đến Tô huynh, rồi sẽ đi ngay!”

Tô Tần hết sức đau buồn.

Mấy ngày liền, Tô Tần chỉ ở lì trong trạch phủ tại Tắc Hạ, cự tuyệt khách thăm, để chỉnh đốn lại tâm tư rối bời.

Từ lúc hợp tung đến nay, việc này nối tiếp việc kia, việc nào cũng khiến Tô Tần lao tâm khổ tứ. Ngay từ buổi đầu hợp tung, Tô Tần đã hiểu rõ, đây là một con đường hết sức gian nan, song không bao giờ ngờ được, đường này lại khó đi đến thế.

Trong tất cả mọi việc, đau đớn nhất là cái chết của Bàng Quyên.

Nói thực lòng, Bàng Quyên đáng chết. Từ sau khi xuất sơn cho đến trận Mã Lăng, Bàng Quyên không ngừng sinh sự, nước Ngụy bởi hắn mà suy bại, thiên hạ bởi hắn mà bất an. Tuy nhiên, điều này phải trách Bàng Quyên ư? Hắn học binh thuật, hắn làm tướng quân, tướng quân không trị lý quốc gia, không quản thiên hạ, chỉ quản chiến tranh, chỉ lo chiến thắng. Suy cho cùng, Bàng Quyên thua ở cách cục, thua ở tính khí. Song nhìn khắp thiên hạ, có người nào không có khuyết điểm đây? Ngoài tính hiếu chiến, Bàng Quyên vẫn được coi là người tốt. Từ Quỷ Cốc tới Mã Lăng, mỗi lần gặp gỡ đàm đạo với Bàng Quyên, hắn đều tỏ ra rất chân thành, kẻ mưu ma chước quỷ chính là Trương Nghi, kẻ đẩy Bàng Quyên vào chỗ chết, cũng là Trương Nghi.

Nghĩ tới Trương Nghi, Tô Tần càng thấy tâm tư nặng trĩu. Tiên sinh thu nạp Tôn Tẫn, cũng thu nạp cả Bàng Qyyên. Thu nạp Tô Tần, cũng thu nạp cả Trương Nghi. Thế nhưng, tiên sinh vốn dĩ không có ý định thu nạp Bàng Quyên và Trương Nghi. Kiên trì giữ Bàng Quyên lại sơn cốc là Tôn Tẫn, kiên trì giữ Trương Nghi lại sơn cốc là Tô Tần. Quả nhiên, hai người đó đều khiến người ta phải phiền lòng. Bàng Quyên sinh sự với Tôn Tẫn, còn Trương Nghi sinh sự với Tô Tần. Giờ đây mới thấy, tiên sinh quả là bậc cao minh, còn Tô Tần và Tôn Tẫn lại không nhận rõ trắng đen. Tiên sinh sớm đã nhìn thấu mọi chuyện, thậm chí còn đổi tên cho Tôn Tẫn, mà vẫn không thể tránh khỏi kết cục.

Chế Bàng Quyên là Tôn Tẫn, trị Trương Nghi, lẽ nào thực sự là Tô Tần? Nghĩ tới cái chết của Bàng Quyên, lại nghĩ tới Trương Nghi, Tô Tần bỗng thấy sống lưng túa mồ hôi lạnh, không dám nghĩ tiếp nữa.

Càng khiến Tô Tần không dám nghĩ đến, chính là Tôn Tẫn.

Sau khi Bàng Quyên tử trận, Tôn Tẫn đã suy sụp. Tô Tần đã nhận thấy rõ, Tôn Tẫn như đã biến thành một con người khác, không còn một chút tinh thần. Nghĩ đến một ngày nào đó, có lẽ mình sẽ mất Trương Nghi, Tô Tần đã thấy trong lòng đớn đau buốt lạnh.

Tô Tần đang suy nghĩ rối bời, chợt nghe Trâu Phi Đao bẩm báo sư phụ Khuất Tương Tử tìm tới.

Tô Tần ra đón, thấy Khuất Tương Tử đã ngồi trong phòng khách. Hai bên thi lễ xong xuôi, Khuất Tương Tử cũng không nhiều lời, chỉ đem chuyện Điền Kỵ bị vu oan theo như đã điều tra được kể lại chi tiết một lượt, Tô Tần nghe mà bàng hoàng kinh hãi.

“Công Tôn Hãn hiện đang ở đâu?” Tô Tần định thần lại hỏi.

“Chục ngày trước, Điền Văn đã đưa hắn tới đất phong của họ Điền, Tiết Thành.”

“Thực không ngờ được kẻ đứng sau lưng lại là Điền Anh.” Tô Tần cười buồn, “vậy mà tại hạ cứ ngỡ con người ấy...” Tô Tần không muốn nói tiếp.

“Còn nữa,” Khuất Tương Tử tiếp lời, “Công Tôn Diễn không còn ẩn cư, mà tới nước Hàn rồi, nghe nói Hàn Vương muốn bãi chức tướng quốc của Công Trọng, bái Công Tôn Diễn làm tướng quốc!”

“Hay lắm!” Tô Tần gật đầu tán thưởng, “có Công Tôn Diễn ở Hàn, nước Hàn không còn phải lo lắng nữa.”

“Còn một việc nữa, thái tử nước Ngụy rất có thể là do người Tần sát hại.”

Tô Tần sửng sốt: “Tiền bối dựa vào đâu mà đoán là người Tần sát hại?”

“Sau khi thái tử chết, lão hủ đã kiểm tra vết thương tên bắn của thái tử, đoán rằng không phải chết vì vết thương, mà là bởi trúng một thứ chất độc thần bí. Lão hủ điều tra chất độc, gần đây biết được, độc này có nguồn gốc từ Tây Nhung, Trung Nguyên không thể giải được.”

“Phải!” Tô Tần tán đồng, “nếu là độc của Tây Nhung, người Tần khó lòng tránh khỏi liên quan.” Nói đến đây, bỗng trong lòng giật thột, lẩm bẩm, “lẽ nào vì điện hạ không nghe lời Trương Nghi, nên hắn mới...” Nhưng lại lắc đầu quầy quậy, “Trương Nghi không phải là người như thế!”

“Theo như lão hủ được biết,” Khuất Tương Tử nói tiếp, “việc này không liên quan đến Trương Nghi. Mặc giả ở đất Tần báo tin, trong một khe núi lớn tại Nam Sơn, Hàm Dương, Tần Công đã bố trí một căn cứ bí mật, canh phòng nghiêm ngặt, thường thấy những người bí hiểm ra vào, chim ưng chim điêu kết thành bầy bay liệng trên không. Trong tông thất nước Tần có công tử Hoa thường xuyên lui tới, chốn ấy rất có thể do người này cai quản.”

“Nam Sơn? Chim ưng chim điêu?” Tô Tần lẩm bẩm nhắc lại.

“Theo như điều tra của Mặc giả ở đất Tần,” Khuất Tương Tử ngập ngừng chốc lát, rồi nhìn thẳng vào Tô Tần, “những người Tần bí hiểm ra vào nơi đây, phần lớn có liên quan tới liệt quốc Sơn Đông, trong đó nhiều nhất là nước Ngụy, tiếp đến là nước Sở.”

“Ồ!” Tô Tần giọng chắc nịch, “nơi ấy hẳn là đại bản doanh của gián điệp người Tần, xem ra, dã tâm thôn tính thiên hạ của Tần Công đã quá hiển nhiên!”

“Nhìn vào cái chết của thái tử nước Ngụy, có thể thấy rằng, gián điệp nước Tần cực kỳ nham hiểm, không từ thủ đoạn, nên lão hủ cũng xin Tô Tử hãy cần thận để phòng!”

“Tạ ơn tiền bối quan tâm!” Tô Tần vòng tay nói.

Hai người đang bàn bạc cách đề phòng gian tế nước Tần, bỗng có người tìm tới, giao cho Tô Tần một phong thư.

Tô Tần mở thư, đọc xong, vội hô lớn: “Trâu huynh, mau, chuẩn bị xe!”

Tô Tần ra roi thúc ngựa, lao băng băng tới Chân Ấp, dừng xe trước nhà Tôn Tẫn.

Quản gia bước ra đón, nói với Tô Tần, cả nhà chúa công mười hôm trước đã đi rồi, nói là đi thăm bạn, và còn để lại cho Tô Tần một gói đồ.

Quản gia dẫn Tô Tần vào thư phòng của Tôn Tẫn, quả nhiên thấy trên án đặt một cái bọc. Tô Tần mở ra xem, thấy bên trong có hai bó thẻ tre, một bó là “Tôn Tử binh pháp” do Tôn Tẫn sao chép lại dựa theo trí nhớ, bó còn lại ghi chép những tâm đắc của Tôn Tẫn trong việc dụng binh.

Ngoài hai bó sách còn có thêm hai tấm thẻ tre, bên trên viết: “Tô huynh, Trương huynh, khi nhìn thấy thẻ tre này, Tẫn đã dẫn theo vợ con tới một nơi khuất nẻo mây ngàn, chốn của Tử Hư. Mong hai vị tương trợ lẫn nhau, cùng được thoả nguyện. Xin đừng quyến luyến. Ngu đệ Tôn Tẫn.”

“Khuất nẻo mây ngàn, chốn của Tử Hư?” Tô Tần lẩm bẩm, rồi sực nhớ ra Thuần Vu Khôn từng kể cho mình nghe chuyện cướp Tôn Tẫn năm xưa, đã từng đặt tên cho Tôn Tẫn là công tử Hư, thì vội hỏi quản gia: “Quân sư có phải đi về phía bắc?”

“Chính phải!” Quản gia đáp, “tiểu nhân tiễn tới cổng bắc, nhìn theo xe ngựa cho đến khi khuất hẳn.”

“Có những ai đi cùng quân sư?”

“Không có ai khác, chỉ có hai phu xe. Phải rồi, chúa công nói là phải đi xa, nên đã chọn ngựa tốt nhất, mang theo rất nhiều vật dụng, chất đầy một cỗ xe tứ mã lớn, cả nhà ngồi trên xe còn lại.”

“Trâu huynh,” Tô Tần quay sang Trâu Phi Đao, “đổi xe tứ mã, lên phía bắc, đi đường Mã Lăng, qua Cao Đường!”

Trâu Phi Đao đổi xe tứ mã, lựa chọn bốn con ngựa tốt, chở theo Tô Tần, gấp rút đi lên phía bắc, sau khi qua đường Mã Lăng, đến một trạm dịch, quả nhiên dò hỏi được mười ngày trước Tôn Tẫn đã từng nghỉ chân tại đây, bèn tiếp tục đuổi riết lên phía bắc. Dọc đường vừa đi vừa hỏi, tại các trạm dịch giữa đường, đều dò được hành tung của Tôn Tẫn.

Đuổi hơn mười ngày trời, Tô Tần thay ngựa ba lần, qua Lâm Truy, men theo Truy Thuỷ tiến lên phía bắc, tới bờ biển, lại tiếp tục theo đường cái quan dọc bờ biển đi về phía đông, cho tới ấp Bất Dạ. Ấp Bất Dạ là kinh đô của nước Lai thời cổ. Nước Lai vốn là tử quốc (1), đến thời Xuân Thu thì bị nước Tề tiêu diệt. Ấp này vốn dành cho Lai Tử, do mặt trời mọc ở đằng đông, nên đất này đón mặt trời mọc sớm, Lai Tử mới đặt tên cho là Bất Dạ(2) , vẫn gọi thế cho đến nay.

(1)Thời cổ đại, tước vị chia làm năm cấp bậc, là công, hầu, bá, tử, nam, tử quốc là nước được phân phong cho người mang tước tử

(2)Bất Dạ, tức không có ban đêm.

Khi dừng chân nghỉ lại ấp Bất Dạ, Tô Tần lại dò hỏi được hành tung của cả nhà Tôn Tẫn, nghe nói họ mới rời đi chưa đầy bảy ngày. Vậy là trong hơn chục ngày qua, Tô Tần đã rút bớt khoảng cách tám ngày, xem ra Tôn Tẫn đi cũng khá thong dong.

Do sắc trời đã muộn, Tô Tần đi đường cũng thấm mệt, bèn nghỉ lại một đêm ở trạm dịch, hôm sau trời vừa sáng lại tiếp tục lên đường, ruổi về phía đông.

Đường đất ngày càng tệ, còn phải băng qua vài con sông, Tô Tần lại đi thêm bốn ngày nữa mới tới được nơi cần đến, là núi Chi Phù.

Phù nghĩa là bình phong, chi nghĩa là linh chi, núi Chi Phù tức là núi tiên mọc đầy linh chi. Khi ở Quỷ Cốc, Tô Tần từng đọc “Sơn hải” 3, cũng là do Tôn Tẫn mách cho. Theo như ghi chép trong “Sơn hải”, núi Bồng Lai có “đại nhân” sinh sống, “núi Bồng Lai ở ngoài biển”. “Đại nhân” cũng tức tiên nhân, trên núi có nhiều loài cỏ tiên, đại nhân ăn cỏ ấy mà bất tử. Mà muốn tới núi Bồng Lai, nhất định phải qua núi Chi Phù.

(3) Tức “Sơn hải kinh”, một trước tác thời Tiên Tần, ghi chép về địa lý, đi kèm với nhiều nội dung phong phú như động thực vật, truyền thuyết chí quái, phong tục dân sinh, vu thuật, tôn giáo, lịch sử... mang đậm màu sắc thần quái.

Núi không cao, song vươn dài ra biển lớn, hình như linh chi. Gió biển lồng lộng, sóng lớn vỗ bờ, một màu xanh thẳm, mênh mông đến ngút tâm mắt, khiến Tô Tần và Trâu Phi Đao vốn chưa thấy biển bao giờ phải bàng hoàng chấn động.

Xung quanh không thấy bóng người, một vùng tịch mịch.

Hai người đang tìm kiếm trên bãi biển, Trâu Phi Đao chợt kêu lên: “Chúa công, nhìn kìa!”

Tô Tần nhìn về phía đó, thấy xa xa xuất hiện hai cỗ xe mui đang lăn bánh trên bãi cát ven biển, tiến về phía họ. Trâu Phi Đao cũng đánh xe chạy ra bãi cát nghênh đón.

Cỗ xe kia lại gần, Trâu Phi Đao nhận ra phu xe, quả nhiên là xe ngựa của Tôn Tẫn.

Có điều, trên xe trống trơn.

“Quân sư đâu rồi?” Tô Tần hỏi dồn.

“Đã đi ra biển.” Phu xe chỉ ra phía biển.

“Đi bao lâu rồi?”

“Chưa lâu, chừng một canh giờ!”

“Mau lên!” Tô Tần khoát tay, chỉ về phía trước, “dẫn chúng ta đi, tới chỗ nhà họ ra biển!”

Hai phu xe liền quay đầu, dẫn họ men theo bãi cát vòng trở lại.

Tới nơi cả nhà Tôn Tẫn ra biển, là một tảng đá rất lớn.

Tô Tần đứng trên tảng đá, phóng mắt nhìn đi.

Mặt biển mênh mông, một vùng bát ngát, đừng nói là thuyền, đến một cánh chim cũng không có.

“Tô đại nhân,” phu xe đưa tay chỉ ra xa, “hai chúng tôi đứng ở đây, nhìn mãi cho đến khi thuyền khuất bóng mới quay trở về!”

“Mau, lên đỉnh núi, châm lửa, cho khói bốc lên!” Tô Tần sực nhớ ra, bèn chạy như bay lên núi, cuống cuồng gom cành khô lá rụng.

Trâu Phi Đao và hai người phu xe cũng tới giúp một tay, chỉ lát sau, đã gom được một đống lớn lá cây.

Trâu Phi Đao lấy mồi lửa ra đánh, ngọn lửa bùng lên, khói bốc ngùn ngụt.

Lá khô mỗi lúc một ít, cột khói mỗi lúc một lớn, bốc lên mỗi lúc một cao.

“Thuyền lấy ở đâu?” Tô Tần nhìn sang hai phu xe.

“Chúa công mua về.” Một phu xe đáp, “chúng tôi vừa tới nơi, chúa công liền đưa vàng cho chúng tôi, bảo đi mua thuyền, là thuyền đánh cá lớn nhất và có buồm. Chúng tôi tìm suốt hai ngày, mới mua được một con, thuê thêm hai ngư phủ thường xuyên ra khơi xa, tiêu tốn tổng cộng ba mươi lượng vàng. Sáng sớm hôm nay, chúa công bảo ngư phủ chèo thuyền tới đây, rồi từ đây ra biển.”

“Vì sao không lên thuyền ở nhà ngư phủ, mà nhất định phải ra đây?” Trâu Phi Đao hỏi.

“Không biết, chúa công muốn như vậy. Chúa công bảo chúng tôi đánh xe men theo bãi biển này, tới chỗ tảng đá kia, thì chúa công nói, bảo họ đưa thuyền tới đây!”

Tô Tần đứng trên đỉnh núi nhìn xuống, nhận ra tảng đá kia vị thế tuyệt đẹp, quay về hướng chính đông, nơi mặt trời mọc. Lại nhìn địa thế nơi này, trông giống hệt cây linh chi, cắm rễ vào bờ.

Màn đêm bủa xuống mịt mờ.

Một ngư thuyền giương ba lá buồm lướt trên mặt biển.

Trong mui thuyền vọng ra giọng nói của Thụy Mai: “Tiên sinh, thiếp nhìn thấy khói bốc lên, cháy suốt từ giờ Ngọ tới lúc này.”

Giọng Tôn Tẫn: “Là Tô huynh.”

Giọng Thụy Mai: “A, Tô huynh đã đuổi theo tới tận đây ư?”

Giọng Tôn Tẫn: “Than ôi!”

Giọng Thụy Mai: “Hay là, chúng ta hãy quay về?”

Giọng Tôn Tẫn: “Đã ra biển rồi, quay về sao được nữa?”

Giọng Thụy Mai: “Tiên sinh...”

Giọng Tôn Tẫn: “Phu nhân, tiêu sáo của chúng ta để ở chỗ nào?”

Giọng Thụy Mai: “Ở đây!”

Giọng Tôn Tẫn: “Chúng ta hãy thổi một khúc, được chăng? Vì tiên sinh, vì đại sư huynh, vì sư tỷ, vì Tô huynh, vì Trương huynh, vì Bàng huynh, vì toàn bộ những người trên bờ...”

Chốc sau, trên mặt biển tĩnh mịch vang lên tiếng tiêu sáo dặt dìu.

Ánh sao rực rỡ, bóng buồm hun hút.

Đất Tiết không còn chiến sự, Đằng Công thở phào nhẹ nhõm, song Mạnh phu tử rõ ràng chưa muốn về nhà, vẫn ở lại trong Đằng Thành, hoặc dạo chơi ngoài đồng, hoặc ở yên trong quán. Khi du ngoạn ngoài đồng, Mạnh phu tử thích tha thần một mình; lúc ở yên trong quán, thường là cùng vấn đáp với đệ tử.

Mạnh phu tử lưu lại đất Đằng hơn một tháng, dần dần lại có thêm mấy đệ tử đi theo, cộng với người đất Đằng nghe danh tìm đến cầu học, hầu như ngày nào cũng có đệ tử mới tìm tới.

Nhìn đệ tử đầy nhà, Mạnh phu tử mừng khôn xiết. Chỉ cần có khách tới thăm, Mạnh phu tử đều tươi cười vui vẻ, sửa áo ngồi nghiêm, dốc lòng dạy dỗ.

Hôm nay, vừa qua giờ Ngọ, Mạnh phu tử đang định ngủ trưa, ngoài cửa chợt vang lên tiếng xe ngựa lộc cộc, một người mặc áo cừu khoan thai xuống xe, theo sau là ba tùy tùng. Đệ tử Công Đô Tử ra đón, thấy là công tử Canh, em trai của Đằng Văn Công, bèn vội vã vái chào.

“Phu tử có nhà không?” Công tử Canh ôm hờ quyền đáp lễ, chỉ vào trong quán.

“Thưa có!” Công Đô Tử đáp.

“Bẩm báo phu tử, Cơ Canh có điều khúc mắc, tới thỉnh giáo phu tử!”

“Mời công tử!” Công Đô Tử cung kính nhường đường.

Cơ Canh cũng không khách sáo, sải bước vào trong. Ba người tùy tùng bám sát theo sau.

Công Đô Tử theo vào phòng khách, kính cẩn mời công tử Canh ngồi xuống chiếu, mới vào trong bẩm báo Mạnh phu tử.

Mạnh phu tử vẫn chưa ngủ, mọi động tĩnh bên ngoài, đều nghe rõ mồn một như rót vào tai, thấy Công Đô Tử bước vào, thì giả vờ ngáy o o.

Mạnh phu tử ngủ thường không ngáy, đặc biệt là khi ngủ trưa, chẳng qua chỉ chợp mắt chốc lát. Lúc này nghe thấy tiếng ngáy, Công Đô Tử hiểu rằng Mạnh phu tử không muốn tiếp khách, bèn quay trở ra phòng khách, tươi cười tạ lỗi, nói rằng phu tử đang ngủ trưa, đoạn pha trà rót nước, tiếp đãi theo nghi lễ khách quý.

Nghe nói có công tử Canh tìm tới, các đệ tử Vạn Chương, Công Tôn Sửu cũng đều đến chào.

Mạnh phu tử ngủ đúng một canh giờ, mới chịu thủng thẳng bước ra.

Công tử Canh đứng dậy hành lễ, Mạnh phu tử đáp lễ, rồi bước tới chiếu chủ, nghiêm trang ngồi xuống.

“Xin hỏi phu tử,” công tử Canh vòng tay, “tại hạ có điều khúc mắc.”

“Người này là ai?” Mạnh phu tử hỏi.

“Ồ,” công tử Canh sửng sốt, “tại hạ Cơ Canh, công tử Canh!”

“Phu tử không biết công tử Canh!” Mạnh phu tử nói.

“Ờ...” Công tử Canh bắt đầu nóng mặt, “tại hạ là... em ruột của Đằng Công, chúng ta vẫn thường gặp mặt trong cung đấy thôi!”

“Ồ, thế ư?” Mạnh phu tử như đã nhớ ra, bèn nhìn thẳng vào công tử Canh, “nói đi, công tử tới đây có việc gì?”

“Tại hạ có điều khúc mắc.”

“Khúc mắc gì kia?”

“Người Sở rầm rộ hưng binh, cớ sao chưa đánh đã lui? Là người Sở sợ người Tề ư? Nếu sợ, cớ sao còn hưng binh? Nếu không sợ, cớ sao người Tề chưa tới, người Sở đã vội lui?” Công tử Canh hỏi liền một hơi, ánh mắt nôn nóng nhìn vào Mạnh phu tử.

Mạnh phu tử cười mà không đáp.

“Phu tử?” Công Tử Canh đợi một lúc, thấy Mạnh phu tử vẫn không trả lời, bèn nôn nóng gọi.

“Xin hỏi công tử, còn việc gì chăng?” Mạnh phu tử hỏi.

“Không... không còn.” Công tử Canh ngơ ngác.

Mạnh phu tử quay sang Vạn Chương: “Công tử đã không có việc gì, tiễn khách!”

Vạn Chương bước lại, vòng tay vái, chìa tay tiễn khách.

“Phu tử,” công tử Canh mặt đỏ bừng, “thế còn... khúc mắc của tại hạ...”

“Công tử, mời!” Vạn Chương lại vái, rồi chìa tay ra phía cửa.

Công tử Canh ngượng ngùng đứng dậy, đi ra. Ba tùy tùng bám sát theo sau.

Đợi xe ngựa đi khỏi rồi, Công Đô Tử lấy làm khó hiểu nhìn Mạnh phu tử: “Đằng Canh có khúc mắc, cớ sao tiên sinh không giải đáp?”

Chúng đệ tử cũng đều đổ dồn mắt nhìn.

Mạnh phu tử mỉm cười, đưa mắt nhìn khắp lượt đệ tử: “Các trò đều muốn biết nguyên nhân ư?” Thu lại nụ cười, “thầy có năm điều không đáp: cậy quý mà hỏi, không đáp; cậy hiền mà hỏi, không đáp; cậy công mà hỏi, không đáp; cậy giỏi mà hỏi, không đáp; cậy thân mà hỏi, không đáp. Trong năm điều này, Đằng Canh đã chiếm mất hai.”

Mọi người đưa mắt nhìn nhau, rồi cùng gật gù.

“Các trò có khúc mắc gì chăng?” Mạnh phu đang lúc vui vẻ, chủ động hỏi.

“Xin hỏi phu tử,” Công Tôn Sửu đứng dậy, vòng tay mà nói, “giả sử phu tử trị lý nước Tề, có thể tái hiện sự nghiệp của Quản Trọng, An Tử chăng?”

Mạnh phu tử đưa tay chỉ vào Công Tôn Sửu, phá lên cười lớn: “Trò đúng là người nước Tề, chỉ biết đến Quản Trọng và An Tử thôi. Có người hỏi Tăng Tây: ‘Phu tử so với Tử Lộ, ai hiền năng hơn?’ Tăng Tây bối rối đáp: ‘Tiên phụ ta còn phải kính sợ Tử Lộ, ta sao dám so với ông ấy?’ Người kia lại hỏi: ‘Nếu so với Quản Trọng thì sao?’, Tăng Tây bực bội nói: ‘Sao ngươi lại so ta với Quản Trọng? Quản Trọng được vua dùng, được sủng ái như thế. Quản Trọng trị lý việc nước, lâu dài như thế. Công lao của Quản Trọng, ít ỏi như thế. Sao ngươi lại so ta với kẻ ấy?” Kể xong, đưa mắt nhìn khắp lượt đệ tử, rồi lại nhìn Công Tôn Sửu, “Tăng Tây còn coi thường Quản Trọng, sao lại đem ta so với kẻ ấy?”

Công Tôn Sửu hiển nhiên không phục, phản bác: “Quản Trọng phò tá nhà vua xưng bá thiên hạ, An Tử phò tá quân chủ vang danh bốn biền, công tày nhật Nguyệt, lẽ nào vẫn không xứng để so sánh ư?”

Mạnh phu tử vuốt râu cười ha hả: “Cái gì mà công tày nhật Nguyệt? Khiến Tề hưng vượng mà làm vua thiên hạ, như trở bàn tay mà thôi!”

Thấy Mạnh phu tử khẩu khí lớn lao, chúng đệ tử thảy đều chấn động.

“Nếu là vậy, khúc mắc của đệ tử lại càng thêm lớn!” Công Tôn Sửu càng biện luận hăng, “với đức của Văn Vương, thọ đến trăm tuổi mà vương nghiệp vẫn chưa thành, phải nhờ Vũ Vương, Chu Công kế tiếp, mới khiến thiên hạ an định. Nếu làm vua thiên hạ dễ như trở bàn tay, há chẳng phải Văn Vương cũng không đáng để noi theo ư?”

“Văn Vương thì ai có thể bì kịp?” Mạnh phu tử đáp, “từ Thương Thang cho tới Vũ Đinh, có đến sáu bảy đời vua hiền minh, lòng người trong thiên hạ quy phục nhà An đã lâu, lâu thì khó thay đổi. Đến đời vua Vũ Đinh, chư hầu vào chầu, thiên hạ như xoay vần trong lòng bàn tay, tới hồi cực thịnh. Đời Trụ Vương cách Vũ Đinh chưa lâu, nên phong tục cũ vẫn giữ, chính sách hay vẫn còn, lại có Vi Tử, Vi Trọng, vương tử Tỷ Can, Cơ Tử, Giao Cách đều là người hiền trợ giúp, sao có thể nói mất là mất ngay được? So với Ân Thương, Văn Vương khởi dậy từ vùng đất hẻo lánh trăm dặm vuông, có dễ được chăng? Người Tề có câu: ‘Tuy có trí tuệ, không bằng thừa thế; tuy có căn cơ, không bằng chờ thời’. Thời thế ngày nay đã khác hẳn xưa, nên làm vua thiên hạ sẽ dễ như trở bàn tay.”

“Khác như thế nào?” Công Tôn Sửu nôn nóng hỏi.

Ai nấy đều dỏng tai nghe.

“Vào thời cực thịnh của Hạ, Ân, Chu,” Mạnh phu tử dõng dạc, “đất của chư hầu không nhà nào rộng quá nghìn dặm, nay Tề đất rộng nghìn dặm vuông, tiếng chó sủa gà gáy vang khắp ruộng hoang, đường đi thông suốt bốn phương tám hướng, người dân đi đường, tay áo chạm nhau. Nước Tề ngày nay, đất không cần mở mang thêm, dân không cần tập hợp thêm, chỉ cần thi hành nhân chính, muốn không làm vua thiên hạ cũng khó. Huống hồ bậc vương vắng mặt trên đời chưa bao giờ lâu như thời này. Dân khổ sở vì bạo chính cũng chưa bao giờ lâu như thời này. Đói thì không kén ăn, khát thì không kén uống, tất cả giống như lời Khổng Tử đã nói, ‘đức tốt lưu hành, nhanh hơn cả ngựa trạm truyền mệnh’. Như ngày nay, nếu một nước vạn cỗ xe như Tề mà thi hành nhân chính, lòng dân ắt vui vẻ, như được tháo bỏ sợi dây treo ngược vậy, cho nên làm chỉ cần bằng một nửa thời xưa mà công hiệu lại gấp đôi.”

Mạnh phu tử nói xong, chúng đệ tử không ai không thán phục.

Công Tôn Sửu hiểu ý mỉm cười, khẽ huých vào tay Vạn Chương.

Vạn Chương bước lên, vòng tay nói: “Đúng như lời tiên sinh nói, đệ tử cho rằng nước Tề ngày nay, đã có bậc vương giả xuất hiện.”

“Trò muốn nói đến Điền Tích Cương ư?” Mạnh phu tử rõ ràng cũng muốn dẫn dắt câu chuyện tới đây, nghiêng người lại hỏi.

“Chính phải!” Vạn Chương đáp, “tiên Tề Vương băng hà, thái tử Tích Cương kế vị. Theo như đệ tử được biết, Tân Vương nhân từ khoan hậu, có thể thi hành nhân chính.”

“Ồ,” Mạnh phu tử gật đầu, “ta cũng từng nghe không ít lời hay ý đẹp về Tân Vương, nếu như thi hành nhân chính, hẳn có thể thành vương nghiệp.”

“Nếu đã nói vậy,” Công Đô Tử hào hứng, “tiên sinh cớ sao không tới Tề, để thành tựu sự nghiệp của Tử Nha?”

Chúng đệ tử đều ngỏng cổ trông.

“Ồ,” Mạnh phu tử vuốt râu một chặp, dường như đã quyết chí, bèn đứng dậy, “khởi hành về Trâu!”

Từ phòng khách đi ra, Công Tôn Sửu không nén nổi phấn chấn, vòng tay với Vạn Chương: “Sư huynh tính toán như thần, tại hạ chỉ nói vài câu, đã dụ được tiên sinh sang Tề. Đám chúng ta nếu có thể trợ giúp tiên sinh thành tựu sự nghiệp nghìn thu, có chết cũng không hối hận!”

“Không phải Chương tính toán như thần,” Vạn Chương hạ giọng thì thào, “mà là tiên sinh từ lâu đã muốn rời đất Trâu rồi.”

“Từ lâu đã muốn?” Công Tôn Sửu ngạc nhiên, “vậy mà tại hạ cứ ngỡ tiên sinh quyến luyến gia đình lắm kia!” Ngẫm nghĩ một lát, lại hỏi dồn, “nói mau, tại sao tiên sinh từ lâu đã muốn?”

“Ờ...” Vạn Chương nở nụ cười ranh mãnh, nhún vai, “cứ đi hỏi sư mẫu là biết!”

“Ý sư huynh là,” Công Tôn Sửu trong lòng giật thột, “chuyện này liên quan tới sư mẫu?” Ngẫm nghĩ một lát, đột nhiên bừng hiểu, vỗ trán bôm bốp, “phải rồi, phải rồi, trước khi tới Đằng, tiên sinh không chịu gặp đệ tử, mà đóng cửa cài then trong phòng, hẳn là có liên quan tới sư mẫu. Tổ sư mẫu nếu không can thiệp, không biết cái then kia bao giờ mới chịu mở ra!”

Tô Tần đốt lửa suốt bảy ngày trời trên núi Chi Phù, song vẫn không thấy Tôn Tẫn.

Tô Tần hiểu rõ tính khí của Tôn Tẫn, biết chắc Tôn Tẫn không quay về nữa, chờ đợi bảy ngày, chỉ là cho trọn lễ mà thôi.

Vào ngày thứ bảy, lúc lặn mặt trời, Tô Tần thở dài thườn thượt, nhìn ra biển khơi, vái dài một vái, rầu rĩ nhủ thầm: “Tôn huynh, tại hạ đã chờ huynh bảy ngày. Ngày thứ nhất, chờ cho tiên sinh. Ngày thứ hai, chờ cho đại sư huynh. Ngày thứ ba, chờ cho sư tỷ. Ngày thứ tư, chờ cho Trương huynh. Ngày thứ năm, chờ cho Bàng huynh. Ngày thứ sáu, chờ cho tại hạ. Còn ngày thứ bảy này, chờ cho bách tính thiên hạ! Than ôi Tôn huynh, tại hạ biết huynh đau lòng, tại hạ biết huynh muốn bỏ đi thực, thế nhưng... tại hạ vẫn lưu luyến huynh. Đại nghiệp hợp tung, không thể thiếu huynh. Nước Tần một lòng nhất thống thiên hạ, nhưng thiên hạ này, không thể để Tần nhất thống! Nước Tần bắt dân vừa cày ruộng vừa chiến đấu, dùng gian chế lương, nước Tần mà nhất thống, kẻ gian ắt nắm quyền, trăm hoa tàn héo, dân đen không còn đường sống...”

Tô Tần tiếng lòng dồn dập, biển lớn vẫn chỉ lặng câm, duy có trời sao nhấp nháy, gió nhẹ mơn man, sóng lớn ì ào.

Sáng sớm hôm sau, Tô Tần quay mặt ra biển bái biệt, hạ lệnh khởi hành, quay về Lâm Truy.

Bên ngoài nhà họ Mạnh ở Trâu Thành, ba cỗ xe mui đã chuẩn bị sẵn sàng, chỉ chờ xuất phát, hơn chục đệ tử chuyển vật dụng thường ngày xếp lên trên hai cỗ xe phía sau, còn một cỗ xe trống, cho Mạnh phu tử ngồi.

Khu nhà trong của Mạnh phủ rất rộng rãi, có hai gian ở nơi yên tĩnh được Mạnh mẫu dùng làm từ đường, thờ cúng bài vị của thuỷ tổ họ Mạnh là Mạnh Tôn thị Khánh Phụ và các đời tiên tổ tiếp theo.

Mạnh phu tử không ưa Khánh Phụ, mặc dù Khánh Phụ là người có tước vị cao nhất, uy thế hiển hách nhất, cũng đa sự nhất trong các đời tổ tiên họ Mạnh. Ngày hai buổi sáng tối vào từ đường, cứ nhìn thấy bài vị của Khánh Phụ, trong tâm trí Mạnh phu tử lại vang lên tám chữ “Khánh Phụ chưa chết, nạn Lỗ chưa hết”. Là con trai thứ của Lỗ Hoàn Công, em ruột của Lỗ Trang Công Cơ Đồng, Khánh Phụ lại tư thông với phu nhân của Trang Công là Ai Khương, lại ở sau lưng Trang Công hợp mưu với Ai Khương liên tiếp sát hại hai vị quân chủ nước Lỗ, cùng lúc gánh ba tội tày trời “dâm tẩu, thí quân, loạn chính” (1), sau khi chạy trốn, bị người Lỗ bắt về xử tử. Sau đời Khánh Phụ, dòng họ Mạnh không còn ngóc đầu lên được nữa, đúng là che mặt mà sống, gia cảnh ngày càng sa sút, cho tới khi Mạnh Kha ra đời.

(1) Thông dâm với chị dâu, giết vua, làm loạn triều chính.

Nhưng Mạnh mẫu lại hết lòng thành kính, khi dâng lễ cúng, lễ của Khánh Phụ luôn thịnh soạn nhất, các đời tiếp sau lần lượt giảm dân, cho tới chồng bà là Mạnh Tôn Kích, truyền nhân đời thứ mười hai của họ Mạnh Tôn, đồ cúng luôn là ít nhất.

Lúc này, Mạnh Kha đang quỳ trước liệt tổ liệt tông, đối diện trước bài vị của Khánh Phụ.

Con trai độc nhất của Mạnh phu tử, Mạnh Trọng, quỳ ở sau lưng.

Mạnh Trọng đã đến tuổi đội mũ(2), trong các dịp lễ tế, là truyền nhân của họ Mạnh, Mạnh Trọng nhất thiết phải có mặt.

(2)Hai mươi tuổi. Trung Hoa thời xưa, con trai hai mươi tuổi làm lễ đội mũ.

“Anh linh liệt tổ liệt tông trên cao,” hành đại lễ xong, Mạnh phu tử dập đầu khấn, “cháu Kha chí không ở Trâu, cũng không ở Lỗ, mà ở thiên hạ. Kha từ nhỏ học đạo Nho gia, lấy hiếu đễ làm gốc, lấy nhân nghĩa làm tông, ngày không dám biếng nhác, đêm không dám chểnh mảng, tới nay đã trải qua hơn bốn mươi cái xuân thu, tuổi trẻ sắp tận, sự nghiệp chưa thành, tráng chí chưa thoả. Nay Chu thất suy vi, lễ nhạc thêm băng hoại, trăm họ thêm lầm than, nhân nghĩa không được thi hành, vương đạo không được thông suốt, chiến họa triền miên, sinh linh đồ thán, Kha lòng như lửa đốt, đêm ngủ không yên. Nay có Tề quân Tích Cương vừa mới kế ngôi, cai quản đất đai nghìn dặm, dân chúng trăm vạn, hoặc giả có thể hưng vương nghiệp. Nghe nói Tề quân là người độ lượng nhân nghĩa, khác với tiên quân, có thể phò tá, Kha quyết ý sang Tề, thành tựu sự nghiệp của Khương Thượng, đưa quy củ về với lễ nhạc, khiến chư hầu hoà hợp như xưa, nhân chính thi hành khắp bốn biển, vương đạo thống ngự toàn thiên hạ. Khương Thượng tám mươi tuổi mới bắt đầu trị thế, dẫn dắt dân chúng trong trăm dặm vuông, mà thành cơ nghiệp Đại Chu, Kha mỗi lần nghĩ đến, đều muốn noi theo, trăm lần tin tưởng. Hôm nay trời quang mây tạnh, ráng lành rực rỡ, là điềm tốt đẹp, Kha từ biệt lên đường để thực thi tráng chí, khẩn cầu anh linh liệt tổ liệt tông phù hộ cháu Kha, giúp Kha nguyện lớn được thành, tráng chí được thoả!”

Khấn xong, Mạnh Kha vái lạy lần nữa rồi đứng dậy, bái biệt Mạnh Mẫu, từ giã phu nhân, cùng Mạnh Trọng sải bước khỏi cửa, hiên ngang bước lên xe trong vòng vây của chúng đệ tử, cuốn bụi lên đường.

Tô Tần đã quá mệt mỏi.

Suốt nhiều tháng bôn ba ròng rã, lao tâm khổ tứ ngày đêm, đã vắt kiệt sức lực tráng niên.

Thân mệt nhọc, tâm còn mệt nhọc hơn nữa. Mới hôm nào, bốn người còn cùng nhau tranh luận tưng bừng, nói cười hân hoan, ăn cùng nồi ngồi cùng chiếu trong cốc, vậy mà chớp mắt, huynh đệ trở mặt, âm dương cách biệt, chỉ còn duy nhất một người bạn thân chí đồng đạo hợp, thì đã lánh đi, bảo Tô Tần sao không đau lòng cho được.

Trạch phủ của Tô Tần nằm ở một góc khá vắng vẻ trong học cung Tắc Hạ, bên cạnh có một cửa hàng chuyên bán thẻ tre.

Vị trí này là do Tô Tần lựa chọn. Đã nhiều năm qua, Tô Tần vẫn yêu trúc, vẫn thích thẻ tre. Tối ngày nghe tiếng chẻ tre gọt trúc, khiến Tô Tần lại nhớ tới Lạc Dương, nhớ tới con phố bán sách đã gắn bó với mình mười mấy năm trời. Tô Tần là người chốn quan trường, không phải tiên sinh, không nạp đệ tử, nên phòng ốc không nhiều, trong phủ chỉ có ba dãy phòng, bề ngoài bình bình, song bên trong trang nhã lịch sự, đồ dùng thường nhật không thiếu thứ gì.

Nhà chính trong phủ được Tô Tần dùng làm phòng sách, kê một chiếc án sơn đen, trước án trải một tấm thảm lông dê thay cho chiếu. Trên án bày hai cuốn thẻ tre trải rộng, là của Tôn Tẫn để lại. Tô Tần nghiền ngẫm từng chữ một, đọc hết một lượt, lại đọc từ đầu. Đọc mệt rồi thì khép mắt lại, mặc cho suy tư bay loạn.

Nhìn vào nét mực, hẳn là Tôn Tẫn viết đã lâu rồi, có lẽ khoảng hai tháng trước, sau khi Bàng Quyên tự tận. Rõ ràng, mục đích duy nhất khi Tôn Tẫn viết ra sách này, là muốn giao lại cho Tô Tần, rồi lánh khỏi cục thế nhiễu nhương trước mắt. Đúng vậy, Tôn Tẫn và Bàng Quyên, cũng giống như Tô Tần và Trương Nghi, hai bên đều quá hiểu nhau, hai bên đều lưu luyến nhau, song lại không thể ở cùng một chỗ, nếu một người đi về đông, người kia nhất định phải đi sang tây.

Nghĩ đến Trương Nghi, Tô Tần lại thấy trong lòng đau xót. Trương huynh, lúc này, huynh đang làm gì? Nếu biết Tôn huynh đã phiêu diêu ngoài biển, mất hút mù khơi, không biết huynh sẽ nghĩ sao?

Ngồi nhớ Trương Nghi một hồi, rồi nhớ tới tiên sinh, sư huynh, sư tỷ trong Quỷ Cốc, suy nghĩ của Tô Tần lại quay trở về hiện tại, quay trở về với cuộc nội đấu nước Tề, với cuộc phân tranh liệt quốc, trở về với đại thế thiên hạ.

Như một thói quen, Tô Tần lại đưa tay vào lần áo trong rút ra túi gấm mà sư huynh đưa đến, giở tấm da dê, nhìn chăm chăm vào lời kệ mà tiên sinh viết cho mình: “Tung hoành thành cục, giữ lấy điều trung, thiên hạ đại ngã, công tư tư công.”

“Ta hiểu rồi, tiên sinh đang dạy ta đánh cờ.” Tô Tần nhìn mãi vào miếng da dê, lầm bầm tự nhủ, “ta là tung, Trương huynh là hoành, có tung có hoành mới thành cờ.

‘Giữ lấy điều trung’, là tiên sinh chỉ cho ta cách chơi cờ. ‘Thiên hạ đại ngã’, là chỗ kết thúc của ván cờ. Nhưng còn ‘công tư tư công’?” Khép mắt hồi lâu, khe khẽ thở dài, “tiên sinh, rốt cuộc tiên sinh muốn chỉ giáo đệ tử điều gì đây?”

Tô Tần đang trâm ngâm suy nghĩ trong phòng vắng, bỗng nghe ngoài cổng vọng vào tiếng bước chân cấp tập, ngay sau đó, Trâu Phi Đao bước vào, bẩm báo có Trâu tiên sinh trong học cung Tắc Hạ cầu kiến.

Tô Tần ra ngoài cổng đón, thấy một đám hơn chục học trò đứng chờ, dẫn đầu là Trâu Diễn. So với lần đầu gặp mặt mấy năm về trước, Trâu Diễn giờ trông đĩnh đạc hơn nhiều. Đệ tử trong môn từ ba người đã lên gần sáu chục, khiến khí thế tăng lên không ít.

“Nghe nói Tô tiên sinh đã trở về, Diễn vui mừng khôn xiết, nên tìm tới bái kiến!” Trâu Diễn vòng tay thi lễ.

Trong học cung Tắc Hạ, tiên sinh là danh hiệu chí tôn, dù là quan tế tửu cũng thích được người khác gọi là tiên sinh. Là Tắc Hạ tiên sinh, Trâu Diễn vừa mở miệng đã gọi Tô Tần là tiên sinh, bề ngoài là tỏ vẻ thân thiện, nhưng thực chất lại là cào bằng địa vị. Dù gì chăng nữa, Tắc Hạ tiên sinh không phải là chức tước, ở nước Tề chẳng qua cũng chỉ tương đương với đại phu, trong khi Tô Tần trên danh nghĩa vẫn là tướng quốc của sáu nước!

“Trâu tiên sinh, lâu rồi không gặp!” Tô Tần đáp lễ, rồi cũng vòng tay hướng về phía các đệ tử đứng dàn hàng sau lưng, “chư vị sĩ tử, Tô Tần có lễ!”

Chúng đệ tử nhất tề vòng tay vái: “Đệ tử Trâu môn bái kiến Tô tiên sinh!”

Tô Tần hiểu rõ Trâu Diễn tới đây vì mục đích gì. Mấy năm trước trong lễ tế Bành Mông, Tô Tần làm đàn chủ, đã phản bác Trâu Diễn đến cứng họng, lần này Trâu Diễn tìm tới tận cửa, hẳn là muốn phục thù.

Tô Tần, Trâu Diễn sánh vai nhau bước vào trong sân, đám đệ tử Trâu môn đi theo, song sau khi vào cổng, đã bị Trâu Phi Đao chặn lại, mời vào nhà chái.

Trâu Diễn ngồi xuống chiếu khách, người hầu bưng trà lại châm vào chén.

“Người học vốn quý trọng thời gian,” Tô Tần vòng tay, “Trâu tiên sinh không tiếc thời gian, nhọc mình tìm tới tận cửa, Tô Tần bất tài, xin nghe tiên sinh chỉ giáo!”

“Chỉ giáo thì không dám!” Trâu Diễn đáp lễ, lập tức buông lời khiêu chiến, “Tắc Hạ là đất học vấn, Tô tiên sinh sống ở đây, ắt cũng là vì sự học. Diễn biết tiên sinh đầy bụng học vấn, mới mạo muội tới cửa, là muốn thỉnh giáo đôi điều về học thuật!”

“Đa tạ tiên sinh yêu mến!” Tô Tần bưng chén trà, kính Trâu Diễn, “xin mời, chúng ta vừa dùng trà vừa đàm đạo!”

Trâu Diễn đặt tay lên miệng chén trà: “Trước khi dùng trà, Diễn có một thỉnh cầu!”

“Xin cứ nói.”

“Đệ tử của Diễn xưa nay ngưỡng mộ tài của tiên sinh, đều muốn lắng nghe cao luận, Diễn muốn...”

Không đợi Trâu Diễn dứt lời, Tô Tần đã quay ra ngoài gọi: “Trâu huynh, hãy mời chư vị sĩ tử vào phòng khách dùng trà!”

Chúng đệ tử lục tục tiến vào phòng khách, song không dám uống trà, đều đứng ngay ngắn sau lưng Trâu Diễn, giống như một bức tường người. Cũng bởi đó, không khí bỗng chốc trở nên nghiêm trang hơn hẳn.

“Trâu tiên sinh,” Tô Tần khẽ cười, chìa tay, “kính mời chỉ giáo!”

“Diễn bất tài, muốn cầu tiên sinh chỉ giáo về trời đất vũ trụ.” Trâu Diễn bày thế sẵn sàng tranh luận, “dám hỏi tiên sinh, thế nào là trời đất?”

“Học có sở trường, thuật cũng có sở trường,” Tô Tần lại cười, “sở trường của tại hạ là bang giao ngoại vụ, còn trời đất vũ trụ là sở trường của tiên sinh, tại hạ cần thỉnh giáo tiên sinh mới phải!”

“Tại hạ cho rằng, trời tròn, đất vuông, trời như mái vòm, đất có bốn cực tám hoang (1), trời che đất, đất chống trời, trời đất giao hợp, ngũ hành Kim Mộc Thuỷ Hoả Thổ vận hành trong khoảng đó, tương sinh tương khắc, từ đầu tới cuối!” Trâu Diễn thao thao một mạch, ánh mắt khiêu khích nhìn chằm chằm vào Tô Tần.

(1)Hay tứ cực bát hoang. Truyền thuyết xưa cho rằng trời tròn đất vuông, tứ cực là bốn vùng đất xa nhất ở bốn góc, hoặc có thuyết nói là bốn cây cột chống trời. Bát hoang là tám vùng đất xa xôi mông muội ở bên rìa mặt đất.

“Tại hạ hoàn toàn tán đồng!” Tô Tần khẽ cười, gật gù tâm đắc.

Tô Tần không ứng chiến, mà lại làm hoà, là nằm ngoài dự đoán của Trâu Diễn. Trâu Diễn đã chuẩn bị sẵn tâm thế kịch chiến một phen, lại còn dẫn theo đông đảo đệ tử, nào ngờ Tô Tần lại phản ứng thế này.

“Thế nhưng mấy năm về trước, trong lễ tế Bành tế tửu, tiên sinh lại không nghĩ vậy!” Trâu Diễn khựng lại một lát, rồi vẫn khăng khăng.

“Vài năm về trước, trong lễ tế của Bành tế tửu, tại hạ cũng nghĩ như vậy!” Tô Tần đáp.

“Ồ!” Trâu Diễn thoạt tiên ngơ ngác, sau đó sừng sộ như gà chọi, “thế nhưng hôm đó rõ ràng tiên sinh đã phản bác tại hạ, cưỡng từ đoạt lý tranh biện tới cùng, khiến cho tại hạ...”

Tô Tần bật cười vài tiếng, vòng tay nói: “Đúng là tại hạ cưỡng từ đoạt lý, trong mấy năm qua, tại hạ vẫn tâm niệm phải tạ lỗi tiên sinh về chuyện này,” rồi đưa mắt nhìn khắp lượt đệ tử, “hôm nay, cuối cùng đã có cơ hội, tại hạ xin được tạ lỗi với tiên sinh!” Nói đoạn đứng dậy, khom lưng trước Trâu Diễn.

Tô Tần đã không phản bác, lại còn tạ lỗi, hơn nữa, còn tạ lỗi ngay trước mặt chúng đệ tử, quả là đã quá nể mặt Trâu Diễn. Trâu Diễn vội đứng dậy, cũng khom lưng đáp lễ.

Một trường luận chiến kịch liệt được chuẩn bị kỹ lưỡng nhiều ngày, cuối cùng đã kết thúc êm đẹp do Tô Tần không chiến mà hàng, đệ tử Trâu môn vui mừng ra mặt, cũng khom lưng theo tiên sinh.

Không khí lập tức trở nên hoà hảo.

Sau khi Tô Tần tạ lỗi xong, Trâu Diễn nói với chúng đệ tử: “Này các đệ tử, ngồi trước mặt các trò đây chính là tung ước trưởng lừng danh thiên hạ, là tướng quốc chung của sáu nước, Tô Tần Tô đại nhân, quân vương nước lớn gặp đại nhân còn phải đi chân trần ra nghênh đón!”

Chúng đệ tử nhất loạt quỳ xuống dập đầu.

Tô Tần cười, phẩy tay: “Hãy mau đứng dậy, đây nào phải nơi quan phủ, mà là học cung, tại hạ là sĩ tử, cũng giống như chư vị cả thôi!”

Tô Tần càng khiêm nhường, chúng đệ tử lại càng thán phục, cứ quỳ mãi không chịu đứng lên.

“Đứng dậy đi!” Trâu Diễn phẩy tay, “các trò có điều không biết, học vấn của Tô đại nhân đây thực sự bác đại tinh thâm, các trò hãy ngồi xuống đây, rửa tai lắng nghe Tô đại nhân chỉ giáo.”

Chúng đệ tử lúc này mới đứng dậy, đổi quỳ thành ngồi, ánh mắt sùng kính đồng loạt đổ dồn về phía Tô Tần.

Tô Tần lại bật cười vài tiếng, nhìn thẳng vào Trâu Diễn: “Trâu tiên sinh, tiên sinh có biết cớ sao năm xưa tại hạ lại cưỡng từ đoạt lý phản bác tiên sinh chăng?”

“Đây cũng là khúc mắc của tại hạ!” Trâu Diễn đáp.

“Bởi lẽ trong cuộc luận chiến hôm đó, tại hạ bắt buộc phải thắng!”

“Ồ...” Trâu Diễn kinh ngạc, “đã là tranh luận, phải có thắng có thua, chứ đâu thể chỉ được phép thắng?”

“Bởi vì, nếu tại hạ thua, tiên Tề Vương sẽ không chịu hợp tung. Nếu tiên Tề Vương không chịu hợp tung, thì tại hạ cũng không thể có cái danh tướng quốc sáu nước!”

Trâu Diễn kìm lòng không được, “ồ” lên một tiếng.

“Hôm nay thì khác,” Tô Tần tươi cười nói, “tại hạ đã có thể mặc dầu thắng thua rồi.” Nói đoạn ngồi thẳng dậy, sửa ngay vạt áo, “Trâu tiên sinh, tại hạ...”

Tô Tần còn chưa kịp nói dứt câu, từ bãi trống bên ngoài bỗng ồn lên tiếng huyên náo, dường như có người mới tới.

Chúng đệ tử như đã quen, đều nghển cổ, dỏng tai, đưa mắt nhìn ra ngoài cửa.

Tô Tần vẫn điềm nhiên như không, chỉ cười khẽ một tiếng: “Phải chăng lại có khách quý? Trâu huynh, hãy ra xem thử!”

Trâu Phi Đao bước ra ngoài, chốc sau quay vào bẩm báo: “Là Nho gia đến từ đất Trâu, tên gọi Mạnh Kha!”

“Là Mạnh phu tử!” Tô Tần lập tức cung kính ra mặt, quay sang Trâu Diễn, “vị phu tử này, tiên sinh hẳn có biết?”

“Tại hạ không biết.” Trâu Diễn tỏ ra lạt lẽo.

“Khi tại hạ qua nước Lỗ,” Tô Tần nhìn về phía phát ra tiếng huyên náo bên ngoài, “từng nghe người ta kể về Mạnh phu tử, nói rằng đó là môn sinh của Tử Tư, đọc rộng biết nhiều, đầy bụng học vấn, xứng đáng là nhân tài hậu bối của Nho gia!”

“Ha ha ha!” Trâu Diễn phá lên cười, lại càng tỏ ra xem thường, “đệ tử Nho môn, tại hạ nghe thấy đã nhiều!”

“Tại hạ còn nghe nói,” Tô Tần thuận đà tiếp lời, “Mạnh phu tử miệng sắc như kiếm, khí tựa cầu vồng, là nhân tài hùng biện trời sinh. Mạnh phu tử nay tới Tắc Hạ, có lẽ tiên sinh có đối thủ rồi!”

“Tô đại nhân,” Trâu Diễn lập tức trúng đòn khích tướng, khí thế ngùn ngụt, nụ cười vụt tắt, “đại nhân bận trăm công nghìn việc, tại hạ không quấy quả nữa!” Đoạn vòng tay, đứng ngay dậy.

Tô Tần mỉm cười, vòng tay tiễn khách.

Học sĩ tới Tề, Tắc Hạ là nơi tất phải đến.

Thầy trò Mạnh phu tử vừa đến Lâm Truy, ai nấy đều phô bày uy nghi Nho môn, phục sức đi đứng, không gì không hợp lễ, không gì không hợp nghi. Bước qua cánh cổng học cung, lại càng nghiêm trang tề chỉnh, đến ngựa kéo xe cũng hùng dũng nghiêm trang, khiến các sĩ tử đều đổ xô ra xem.

Trước khi vào thành, Mạnh phu tử đã sai Công Đô Tử đi trước thám thính đường đi nước bước, cho nên đoàn người không hề bỡ ngỡ, xe ngựa đi thẳng tới bãi trống ở giữa Tắc cung, dừng lại phía trước trạch viện lớn của quan tế tửu.

Các đệ tử đỡ Mạnh phu tử xuống xe, rồi đứng vòng quanh phu tử, nhìn ngắm cung điện nhà cửa khí thế hùng vĩ xung quanh.

Công Đô Tử sải bước tới trước cổng trạch viện tế tửu, trình bái thiếp cho môn nhân canh cổng.

Một lát sau, Thuần Vu Khôn lắc lư đầu trọc bước ra nghênh đón.

Mạnh Kha tiến lại, vòng tay thi lễ: “Mạnh Kha người đất Trâu bái kiến tế tửu đại nhân.”

Thuần Vu Khôn bật cười ha hả, đáp lễ, chỉ vào cái đầu bóng lưỡng của mình, cười nói: “Cái gì mà tế tửu với không tế tửu, cứ gọi tại hạ là lão trọc thôi!”

Chúng đệ tử đều bật cười.

Mạnh phu tử cũng cười vang, lại vòng tay: “Sớm đã nghe nói tiên sinh hài hước, nay mới được lĩnh giáo!”

“Thế đạo hỗn loạn, cuộc sống gian nan, không cố cười lên, sẽ u uất mà chết mất, phải không?” Thuần Vu Khôn lại cười lớn.

Chỉ một câu nhẹ tênh, đã nói hết được thế đạo nhân tâm lúc này, Mạnh phu tử lấy làm kính phục, vòng tay nói: “Tiên sinh cao luận, Mạnh Kha thụ giáo!”

“Trọc này sớm nghe nói đất Trâu có một vị học vấn uyên thâm, người đời gọi là phu tử, nay may mắn được gặp, không uống chén trà, quả là có lỗi với cơ duyên!” Thuần Vu Khôn chìa tay mời, “Mạnh phu tử, xin mời vào tệ xá!”

“Tạ ơn tiên sinh yêu mến!” Mạnh phu tử vòng tay vái, “Tiên sinh, mời!”

Hai người sóng bước qua cổng, đi vào phòng khách, một con chó mực lao vụt ra, đầu tiên chạy quẩn quanh chân Mạnh phu tử hít ngửi một hồi, sau đó vẫy đuôi rối rít, miệng kêu ư ử như nịnh nọt.

“Y Nhân, là khách của lão trọc đấy, sao mày lại phấn chấn thế hả? Ra đằng kia mau!” Thuần Vu Khôn chỉ sang một bên.

Con chó mực hển chạy xáp lại, cọ mấy cái vào chân Thuần Vu Khôn rồi mới ngoan ngoãn đi đến chỗ chủ nhân vừa chỉ. Thế nhưng ngồi đó chưa được bao lâu, nó lại lăng xăng chạy tới, rúc vào người Thuần Vu Khôn.

“Chà chà, nhãi ranh, muốn xem lễ phải không!” Thuần Vu Khôn vỗ khẽ vào đầu nó, rồi chỉ sang Mạnh phu tử, “hãy khoe tài mọn, vị phu tử này là bậc đại gia sùng lễ đấy!”

Y Nhân nhận được lệnh, mừng rỡ nhảy tới trước mặt Mạnh phu tử, bắt đầu biểu diễn nghi lễ, làm liền một mạch ba động tác vòng tay, khom mình, dập đầu vái, khiến Mạnh phu tử vô cùng kinh ngạc.

Y Nhân lễ xong, nhìn chủ nhân nịnh bợ. Thuần Vu Khôn lại chỉ vào chỗ dành cho nó bên cạnh. Y Nhân lon ton chạy tới chỗ đó, ngồi xuống, tư thế rất ngay ngắn.

Mạnh phu tử vẫn đang tấm tắc, thì Thuần Vu Khôn chỉ vào chiếu khách: “Mạnh phu tử, mời!” Rồi mình cũng ngồi xuống chiếu chủ.

Mạnh phu tử ngồi xuống, ánh mắt vẫn nhìn vào con chó, chốc sau mới vòng tay nói: “Tiên sinh dạy được súc sinh hiểu lễ, chính là nhân vậy!”

Thuần Vu Khôn phá lên cười ha hả, vuốt chòm râu trắng xám: “Con Y Nhân nhà tại hạ chẳng có tài cán gì, duy có biệt tài nhìn mặt, nhìn thấy người như thế nào thì hành xử như thế ấy. Thấy Nho gia, thì hành lễ; thấy Mặc gia, thì trượng nghĩa; thấy Biện gia, thì ngồi đối diện sủa lên nhặng xị; nếu gặp Pháp gia, sẽ chạy lại đớp cho một phát!”

“Cớ sao lại cắn người ta?” Mạnh phu tử ngạc nhiên hỏi. “Không cắn không thể lập uy!” Thuần Vu Khôn bật cười sảng khoái.

Mạnh phu tử đã thực sự lĩnh giáo tài trí của Thuần Vu Khôn, nhìn sang con chó, muốn cười mà không cười nổi, muốn nói mà không biết nói gì, chỉ biết ngồi ngây tại chỗ.

Đệ tử của Thuần Vu Khôn bưng trà lại, đặt lên mặt án.

“Mạnh phu tử, mời dùng trà!” Thuần Vu Khôn bưng chén lên mời.

Mạnh phu tử bưng trà lên mời lại, nhấp một ngụm. “Xin hỏi Mạnh phu tử,” Thuần Vu Khôn đặt chén

xuống, đi vào chuyện chính, “nay tới Tắc Hạ, là khách ngang qua, hay muốn lưu lại một thời gian?”

“Nghe nói học vấn thiên hạ đều ở Tắc Hạ,” Mạnh phu tử cũng đặt chén xuống, vòng tay đáp, “tại hạ ngưỡng mộ đã lâu. Nếu như có thể, tại hạ muốn lưu lại vài ngày để tiện thỉnh giáo bậc đại gia bác học!”

“Tốt lắm!” Thuần Vu Khôn vòng tay đáp lễ, “phu tử quang lâm giáo huấn, quả là phúc của lão trọc này cùng chư học tử Tắc Hạ! Phu tử đi đường vất vả, hẳn đã mệt rồi, hôm khác chúng ta hãy đàm đạo lâu hơn, được chứ?”

Mạnh phu tử vòng tay: “Tạ ơn tiên sinh yêu mến.” Rồi đứng dậy dợm bước đi.

“Người đâu!” Thuần Vu Khôn ngoảnh ra ngoài gọi.

Đệ tử rót trà khi nãy nghe tiếng, nhanh chóng bước vào.

“Phu tử từ xa tới, cần chỗ yên tĩnh nghỉ ngơi, ngươi hãy đến phủ học cung lệnh thông báo, tạm thời sắp xếp nghỉ lại dịch quán!”

“Cung kính tuân mệnh!” Đệ tử quay sang Mạnh phu tử, “phu tử, mời!”

Image

TẮC HẠ KHẨU CHIẾN, Á THÁNH KHUA MÔINGHÌN DẶM THEO CHÂN, KẺ SI CHUỐC NHỤC

Mấy năm gần đây, danh tiếng của học cung ngày một vang xa, hầu như hôm nào cũng có học sĩ nườm nượp tìm tới, phòng ốc dần không đủ cung ứng, học cung lệnh Điền Anh tấu thỉnh lên Tề Vương trích ra ba trăm dật vàng, tiếp tục mở rộng thêm vài con phố nữa.

Nhân khí thịnh vượng, việc kinh doanh tự khắc cũng phát đạt, đủ loại hàng quán phục vụ cho các nhu cầu thường ngày của sĩ tử cũng đua nhau mọc lên xung quanh học cung như măng mọc sau mưa, đến thanh lâu cũng tăng thêm mấy nhà, kỹ nữ điểm trang lộng lẫy đứng trước lầu giở đủ ngón nghề mời chào khách, hoặc dạo đàn cầm sắt, hoặc khoe vẻ xuân tình, khiến trong ngoài Tắc môn thoắt đã biến thành chốn phồn hoa nhộn nhịp bậc nhất nước Tề.

Khách xá nơi thầy trò Mạnh phu tử nghỉ lại nằm ở mé trái con phố chính của học cung, đây là một dãy quán trọ kéo dài, do học cung lệnh quản lý, phàm là sĩ tử tới Tắc Hạ đều có thể tới đây ghi danh, cho ở miễn phí.

Mạnh phu tử có hơn hai chục đệ tử, song đi theo lần này chỉ có mười sáu, học cung lệnh phân cho năm gian phòng, bốn phòng cho đệ tử, mỗi gian bốn người, rải chiếu nằm chung, còn Mạnh phu tử một mình một gian, có giường riêng, còn có một gian tiền sảnh rộng rãi để tiếp đón tân khách. Đồ đạc trần thiết trong phòng khá đầy đủ, gồm cả phòng tắm có cung cấp nước nóng, tiện nghi hơn nhiều so với quán trọ dọc đường.

Đoàn người lục tục dỡ đồ khỏi xe, sắp xếp hành lý xong xuôi, một số đệ tử không nén nổi hưng phấn, bèn rủ nhau ra ngoài tham quan Tắc cung. Đại đệ tử Vạn Chương không đi, cùng Công Tôn Sửu hầu bên Mạnh phu tử.

Mạnh phu tử tinh thần phấn chấn, không thấy có vẻ mệt mỏi, ngồi ngay ngắn trên chiếu, kể cho hai đệ tử nghe chuyện gặp tế tửu, còn hết lời tấm tắc khen con chó Y Nhân.

Đang lúc trò chuyện thì Công Đô Tử trở về, sắc mặt hồ hởi: “Phu tử, học cung lệnh vừa gọi đệ tử báo tin, nói rằng sau ba ngày nữa sẽ khai đàn lập luận cho phu tử tại quảng trường học cung, sai đệ tử về hỏi ý phu tử. Nếu phu tử đồng ý, xin hãy đưa ra chủ đề biện luận.”

Vạn Chương, Công Tôn Sửu đưa mắt nhìn nhau, rồi nhìn sang Mạnh phu tử.

Mạnh phu tử vẫn ngồi bất động.

“Công Đô huynh,” Vạn Chương quay sang Công Đô Tử, “chúng ta vừa chân ướt chân ráo tới nơi, còn chưa biết ai với ai, sao đã bắt mở đàn lập luận ngay thế?”

“Vạn huynh,” Công Đô Tử do tới trước vài ngày nên khá rành rẽ, không giấu nổi hưng phấn, “đây quả là việc tốt ngoài mong đợi. Nghe các sĩ tử nói, được mở đàn lập luận trong học cung là cơ hội hiếm có, sĩ tử bình thường tuyệt không thể có cơ hội này, dù là người học vấn uyên thâm cũng phải du học vài tháng trong cung, được ít nhất hai vị tiên sinh tiến cử, tế tửu chấp thuận, mới được phép khai đàn. Còn phu tử mới vừa tới nơi, không những được tế tửu đích thân nghênh đón, mà còn trực tiếp truyền lệnh cho học cung lệnh ba hôm nữa khai đàn, là chuyện xưa nay chưa từng có, chỉ phu tử mới có được đãi ngộ này thôi!”

Vạn Chương, Công Tôn Sửu đều mừng rỡ.

“Nếu không thể khai đàn thì sao?” Công Tôn Sửu hỏi.

“Tắc Hạ quy định,” Công Đô Tử giải thích, “chỉ có khai đàn lập luận, biện luận thành công mọi chất vấn của sĩ tử, được tế tửu chấp thuận, mới có thể trở thành Tắc Hạ tiên sinh, được học cung lệnh dâng tấu lên Tề Vương, ban cho danh hiệu tiên sinh, nhận chức đại phu trong cung Tề, khi đó sẽ được hưởng bổng lộc, không phải lo chuyện ăn mặc nữa.”

“Bổng lộc thế nào?” Công Tôn Sửu lại hỏi.

“Bổng lộc nhiều ít, phụ thuộc vào số đệ tử.” Công Đô Tử đáp, “theo sự tôn quý của phu tử, đệ tử có mười sáu, mỗi người được một thạch thóc một năm, tổng cộng là mười sáu thạch, riêng tiên sinh được năm thạch, để nuôi gia quyến, đãi tân khách. Ngoài thóc, còn được cấp quần áo, củi đốt và các đồ dùng cần thiết khác, hàng tháng còn có thể tới phủ học cung lệnh nhận tiền chi tiêu để mua sắm ở chợ.”

Công Đô Tử nói xong, Vạn Chương tim thót lên cổ, đưa mắt nhìn sang Công Tôn Sửu. Phu tử xưa nay chỉ nói nhân nghĩa không nói lợi, Công Đô Tử, Công Tôn Sửu lại câu nào cũng chăm chăm một chữ “lợi”, thật chẳng nể mặt phu tử chút nào.

Tuy nhiên, đúng lúc Vạn Chương định ngăn họ lại, thì Mạnh phu tử nãy giờ vẫn ngồi nghiêm trang trên chiếu chợt lên tiếng: “Công Đô, chuyển lời tới phủ học cung lệnh, ta đồng ý khai đàn, còn luận đề thì cần không đặt, đến lúc đó, sẽ cùng bàn luận với các bậc đại gia!”

“Vâng!” Công Đô Tử đáp, cáo lui, nhanh nhẹn đi ra.

Mở đàn mà không đặt luận đề, đây là chuyện chưa từng có trong học cung Tắc Hạ.

Không lập luận đề, tức không đặt ra giới hạn tranh luận, cũng tức là người khai đàn phải tùy cơ ứng đối trước bất kỳ vấn đề nào do người khác nêu ra. Dù là người học vấn đầy năm cỗ xe như Huệ Thi, cũng không dám ngông cuồng như thế trong Tắc Hạ, bởi trong học cung, có thể nói là đại gia như rừng, học thuật phồn tạp, trừ phi học vấn quán thông thực thụ, nếu không, chỉ cần có chút sơ sảy, sẽ chẳng còn mặt mũi nào để đứng trong thiên hạ nữa.

Trong tất cả các cuộc biện luận ở học cung, học giả duy nhất không lập luận đề trước khi khai đàn chỉ có Tô Tần. Năm xưa, Tô Tần vừa hợp tung thành công bốn nước lớn là Hàn, Triệu, Ngụy, Yên, khí thế hừng hực tới Tề du thuyết hợp tung, vì muốn làm nhụt khí thế này, cũng là để thăm dò bản lĩnh, Tề Uy Vương đã mượn lễ tang Bành Mông để cho Tô Tần khai đàn trong học cung. Cho dù là vậy, cũng lập luận đề, chính là “thiên hạ trị loạn”, do Thuần Vu Khôn thay chức tế tửu đặt ra ngay tại chỗ.

Một học trò hậu bối của Nho gia lại dám khai đàn không đặt luận đề tại Tắc Hạ, rõ ràng là công khai khiêu chiến tất cả học phái, khiến toàn bộ học cung như thể nổ tung, đâu đâu cũng thấy bàn tán xôn xao về Mạnh phu tử.

Điền Anh đã trở thành tướng quốc, không thích hợp để đảm đương chức học cung lệnh, Tề Tuyên Vương bèn giao lại chức này cho con trai Điền Anh là Điền Văn.

Giống như Điền Anh, Điền Văn cũng là người tinh khôn tháo vát, thích kết giao, thích nuôi sĩ tử, phàm người có tài, chỉ cần nghe nói, bất luận xa gần thần sơ, đều sẽ tìm cách kết giao. Nếu gặp đại tài, còn tự tay quét phòng trải đệm, chăm lo tận tình. Với những sĩ tử tìm tới Tắc Hạ nhưng không muốn ở trong Tắc cung, đều đưa về nhà cung phụng, bởi vậy, bên ngoài phủ chính, Điền Văn còn đặt một biệt phủ làm nơi ở cho sĩ tử. Gia nghiệp khổng lồ của nhà họ Điền, bao gồm cả đất phong là Tiết Thành, đều được giao cho những sĩ tử này trông nom.

Chính vào đêm trước hôm Mạnh phu tử khai đàn, Điền Văn tìm đến gõ cửa phòng Tô Tần.

“Tô Tử,” Điền Văn sắc mặt lo âu, “Tô Tử hãy nói xem, có phải Mạnh phu tử kia đã phát điên rồi không? Người khác tại hạ không hiểu, nhưng người này sao có thể không hiểu? Đất Trâu không quá năm mươi dặm vuông, nằm kề đất Tiết của tại hạ, theo như tại hạ biết, lão phu tử cả đời chưa từng đi xa, thi thoảng ra ngoài ngao du, chẳng qua cũng chỉ là đất Đằng, đất Lỗ, chứ nào đã bao giờ trông thấy bầu trời rộng lớn hơn thế!”

Tô Tần mỉm cười, tỏ ý cứ nói tiếp.

“Tô Tử có điều không biết,” Điền Văn tiếp lời, “vị phu tử này rất gàn bướng, xưa nay lúc nào cũng cho là mình đúng, người khác đều sai, không coi ai ra gì. Trong mắt người này, ngoài bản thân mình, thì học vấn thiên hạ đều là bàng môn tà đạo, không đáng nhắc đến. Người này thu nạp đệ tử, còn đề ra quy tắc ‘năm không dạy’!”

“Ồ?” Tô Tần lấy làm tò mò.

“Cậy sang không dạy; cậy tài không dạy; cậy công không dạy, cậy giỏi không dạy; cậy thân không dạy.”

“Ồ, thú vị đấy!” Tô Tần chặc lưỡi vài cái.

“Tô Tử nói xem...” Điền Văn lo lắng, “tại hạ vừa mới nhậm chức học cung lệnh, đây là lần khai đàn đầu tiên, mà phu tử kia lại bày trò, nếu như hỏng việc, khiến phu tử bị đuổi xuống đàn, thế chẳng phải... chẳng phải mất mặt tại hạ lắm ư?” Rồi lại lẩm bẩm, “hai hôm nay người ta đồn thổi ầm ĩ, có kẻ nói Mạnh phu tử là do tại hạ mời về, bởi vậy mới dám ngông cuồng đến thế!”

“Ngông cuồng cũng có cái thú của ngông cuồng đấy,” Tô Tần cười nói, “Trương Nghi thất bại, tại hạ cũng suýt thì thảm bại, đều vì một chữ ‘ngông’ này. Hơn nữa, theo tại hạ biết, Mạnh phu tử xưa nay hành sự thận trọng, phu tử dám làm như vậy, chưa hẳn là ngông, ắt đã tính toán cả rồi!”

“Có tính toán rồi!” Điền Văn phản bác, “nhưng đây là Tắc Hạ, đâu có vị tiên sinh nào là hạng tầm thường? Đâu có vị tiên sinh nào không học vấn đầy năm xe? Đâu có vị tiên sinh nào không hùng biện như thần? Chưa nói tới người khác, chỉ nói riêng vị Diễn luận trời kia, những điều bàn đến, rặt là phi lý hoang đường, Mạnh phu tử liệu có biết chăng? Còn có Biền miệng trời (1), biện luận thao thao, rất giỏi tìm sơ hở của người khác, lần trước Tô Tử thắng được, là vì có lập luận đề, mọi người đều phải bàn về ‘thiên hạ trị loạn’. Hơn nữa, Tô Tử vừa đăng đàn đã lập tức dẫn dắt đến hợp tung, về việc này, họ sao có thể tinh thâm bằng Tô Tử được!”

(1) Điền Biền, người nước Tề, rất có tài ăn nói, được mệnh danh là thiên khẩu Biền, tức Biền miệng trời.

Tô Tần bật cười ha hả: “Hình như Điền đại nhân không tin lão phu tử rồi! Có điều, tại hạ lại không nghĩ như vậy!”

‘Tô Tử vì đâu mà tin, có thể cho tại hạ biết chăng?”

“Có hai điều. Thứ nhất, hồi còn ở Quỷ Cốc, từng nghe tiên sinh nhắc tới người này. Có thể khiến tiên sinh nhớ được họ tên, tại hạ không dám bất kính, luôn đối đãi như thầy! Thứ hai, sau khi xuống núi, tại hạ lưu lại Tắc Hạ một thời gian, có nghe được một câu của lão phu tử, cảm thấy vô cùng sâu sắc.”

“Là câu gì vậy?”

“Dân quý nhất, tiếp đến là xã tắc, vua nhẹ nhất.”(2)

(2)Nguyên văn là “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, câu nói này sau được ghi chép lại trong chương “Tận tâm hạ” sách “Mạnh Tử’.

“Ồ, đây thực không giống lời của Nho gia! Nho gia hễ mở miệng là rao giảng đạo vua tôi, vua tôn dân ti!”

Tô Tần cười nói: “Cho nên, dường như Điền đại nhân chưa thực sự hiểu vị hàng xóm này! Đã không thực hiểu, đại nhân lo lắng làm gì?”

Điền Văn cũng cười: “Tại hạ chẳng qua là lo sợ họ cãi vã lớn chuyện thôi. Nghe nói Mạnh phu tử tính khí nóng nảy, chửi người như hắt nước, một lời không lọt tai là mắng liền. Ở trong nhà mắng chửi thì không sao, nếu ở đây mà mắng chửi, bảo tại hạ phải dàn xếp thế nào?”

“Chao ôi, đại nhân!” Tô Tần cười, than thở, “phụ trách quản lý học cung, mà lại không hiểu học cung. Học cung là nơi dùi mài học vấn, người tìm tới đây, đa phần đều vì học vấn, mà học vấn là gì? Chính là có học có vấn, có tranh có luận, đại nhân không cho tranh, không cho luận, không cho ồn ào, chỉ muốn mọi người vui vẻ hoà nhã, anh tốt tôi tốt, thì lấy đâu ra học vấn nữa?”

“Ồ?” Điền Văn không hiểu, “học vấn chẳng phải chính là học và vấn ư? Tôi không hiểu, tới hỏi anh, anh giải thích cho tôi, nên tôi hiểu được.”

“Phải” Tô Tần đáp, “nhưng cách mà đại nhân vừa nói, là cách mà thầy trò truyền dạy cho nhau, nếu chỉ quanh quẩn trong một nhà, thì còn cần tìm tới học cung làm gì nữa? Các sĩ tử chẳng quản đường xa nghìn dặm tìm tới đây, không phải chỉ vì cơm áo. Họ vì cái gì? Chính là muốn lập ra cái mới. Bởi vậy nên học cung mới mở luận đàn, để cho sĩ tử lập luận, luận chứng, biện luận, cuối cùng hình thành định luận. Học vấn của bất kỳ ai, chỉ khi hình thành định luận, được thừa nhận rồi, mới coi là thành tựu, mới được ghi danh lập vị. Có câu, người ngoài cuộc sáng suốt, người trong cuộc u mê. Bất kể là ai cũng luôn cho rằng lập luận của mình đúng, người khác sai, song rốt cục ai đúng, ai sai, cần phải biện luận, cần phải so sánh mài giũa, nhờ so sánh mài giũa, sĩ tử các phái mới nhận ra sai sót của mình, từ đó tìm sở trường, tránh sở đoản, dần khiến lập luận của mình trở thành định luận, được người người truyền tụng.”

Điền Văn nghe vậy mới thở phào, vui vẻ từ biệt ra về.

Tiễn Điền Văn về rồi, Tô Tần đang định quay vào trong cổng, chợt thấy vài bóng người hối hả tiến lại, dẫn đầu là Trâu Phi Đao.

“Chúa công,” Trâu Phi Đao sắc mặt hồ hởi, khẽ giọng bẩm báo, “cự tử tới rồi, còn cả sư phụ của tại hạ nữa!”

Tô Tần vội vã bước ra đón, cùng cự tử Mặc môn Cáo Tử và Khuất Tương Tử thi lễ.

Sau khi xuống núi, những người dốc lòng trợ giúp cho Tô Tần nhiều nhất chính là đệ tử Mặc môn. Lại gặp cự tử, Tô Tần cảm khái muôn phần, vái dài sát đất, hồi lâu không chịu đứng lên.

Hành lễ xong xuôi, ba người quay vào trong phòng khách, phân ngôi chủ khách ngồi xuống. Trâu Phi Đao dâng trà xong thì đứng canh ngoài cửa.

“Nghe Phi Đao nói,” Cáo Tử đi thẳng vào chuyện chính, “Tôn Tẫn bỏ ra ngoài biển, Tô Tử đau buồn khôn nguôi, Bất Hại không an tâm, nên mới tới đây thăm hỏi!”

“Tạ ơn cự tử nhớ đến!” Tô Tần vòng tay, “Bàng huynh và thái tử Thân chết đi, đã khiến Tôn huynh hết sức thương tâm, cộng thêm nước Tề nội đấu, Điền Kỵ bỏ đi, nên Tôn huynh mới quyết định như vậy.” Nói đoạn khẽ thở dài một tiếng.

“Tôn Tẫn ra đi, tuy là tổn thất của thiên hạ, song hợp với tính cách của Tôn Tẫn.” Cáo Tử đáp lời, “Bất Hại và Tôn Tẫn đã từng qua lại, hiểu rõ tính nhau, tuy học binh pháp, song không nỡ nhìn cảnh tàn sát, huống hồ nghìn vạn sinh linh, gồm cả người chí thân của mình, đều hoá đất bùn ngay trước mắt!”

“Ồ!” Khuất Tương Tử thắc mắc, “nhưng Tôn Tẫn cớ sao nhất định phải ra biển? Nếu muốn ẩn cư, dưới gầm trời này thiếu gì chỗ ở, tại hạ có thể dễ dàng tìm giúp một sơn cốc u tịch, chỉ cần Tôn Tẫn chấp thuận, đảm bảo người đời không ai còn gặp được nữa! Chứ giờ đây, biển cả mênh mông, muốn tìm cũng chẳng biết đường nào mà tìm! Hơn nữa, gió bão trên biển nguy hiểm khôn lường, ngộ nhỡ...”

“Đúng vậy!” Cáo Tử than thở, “nghe Phi Đao nói, Tôn Tẫn còn mang theo cả phu nhân và hai đứa trẻ.”

“Theo như Tần biết,” Tô Tần đáp lời, “Tôn huynh muốn đi tìm Doanh Châu. Năm xưa tiền bối Thuần Vu Tử đi sứ Đại Lương để cứu Tôn huynh, biết được mối tình sống chết giữa Tôn huynh và Mai công chúa, lấy làm cảm động, mới thuận miệng thêu dệt ra một công tử Hư, nói rằng đó là công tử nước Tề, trốn đời lánh ra đảo Doanh Châu ngoài biển, đó là đảo tiên, trên đảo có cỏ tiên có thể trị khỏi bệnh điên cho Tôn huynh. Công chúa muốn xin cỏ tiên, Thuần Vu Tử bèn ra điều kiện, rằng nàng phải gả cho công tử Hư. Vì muốn chữa bệnh điên cho Tôn huynh, khiến Tôn huynh trở lại bình thường, Mai công chúa đã gạt nước mắt lên xe hoa, ngồi ngay trên đầu Tôn huynh tới tận nước Tề, chuyện này sớm đã trở thành giai thoại. Tôn huynh từ núi Chi Phù ra biển, hẳn cũng bởi tin vào chuyện đó mà đi tìm Doanh Châu!”

“Ồ,” Cáo Tử trầm ngâm hồi lâu, mới gật đầu, “có nghe tiên cự tử nói, bên ngoài biển lớn, có lẽ có chốn tiên cảnh thực. Trong sách ‘Chu bễ’ có chép: ‘Tượng của trời giống như cái nón đậy, khuôn của đất giống như cái mâm úp’, đất do núi và biển tạo thành. Nếu như ngoài núi còn có núi nữa, thì ngoài biển đương nhiên cũng sẽ có biển nữa. Biển ngoài biển, không qua lại với đại địa Trung Nguyên, có thần tiên sinh sống hay không, cũng chưa biết được.”

“Nếu thuyết này mà thành lập, thì trong Tắc cung cũng có người nghiên cứu học thuật này đấy.”

“Tô Tử đang nói tới Diễn luận trời ư?” Cáo Tử cười hỏi.

“Đúng vậy.” Tô Tần mỉm cười, “mong rằng Trâu Tử không phải nói suông!” Nhìn sang Cáo Tử, quay về chuyện chính, “cự tử bận rộn trăm công nghìn việc, tới Tắc Hạ lần này, hẳn là có việc muốn sai bảo Tô Tần?”

“Tắc Hạ là nơi tàng long ngoạ hổ,” Cáo Tử nhìn thẳng vào Tô Tần, “sĩ tử thiên hạ quần tụ như mây, học giả đại gia đông đúc như rừng, tại hạ lần này tới đây, là muốn ở lại học cung một thời gian, thứ nhất là muốn thỉnh giáo đại gia, dùi mài học vấn, thứ hai là muốn hoằng dương Mặc đạo.”

“Nếu là như vậy,” Tô Tần đáp, “cự tử có thể tạm nghỉ lại hàn xá một đêm, ngày mai Tần sẽ nhờ Điền đại nhân sắp xếp cho một trạch viện, được chăng?”

“Tốt lắm!” Cáo Tử vòng tay nói.

“Cự tử tới cũng thực vừa khéo,” Tô Tần vòng tay đáp lễ, “Mạnh Kha người Trâu chiều mai khai đàn, khiến cả Tắc Hạ chấn động, chắc chắn sẽ có một trường luận chiến sục sôi, cự tử vừa hay có thể chiêm ngưỡng học vấn Tắc Hạ!”

“Bất Hại từng nghe tên người này, đến đây cũng vì muốn thỉnh giáo!” Cáo Tử trầm ngâm chốc lát, “phải rồi, Bất Hại lần này tới đây, chỉ là dùi mài học vấn, xưng hô cự tử không thích hợp ở đây, cũng không muốn để người khác biết được thân phận Mặc giả, mong Tô Tử chiếu cố cho!”

“Tần xin ghi nhớ.”

Buổi chiều hôm sau, tiếng chiêng vang rền, sĩ tử từ khắp các ngả đường kết thành từng nhóm, nườm nượp kéo tới quảng trường, ai nấy đều tự mang theo đệm cỏ ngồi xuống bãi trống, kết thành một hình rẻ quạt trước đàn. Trước đó, phủ học cung lệnh đã căn cứ theo số người của các môn phái để phân chia khu vực, toàn bộ quảng trường chẳng khác gì cảnh tượng tám trăm chư hầu tụ hội về Mạnh Tân phạt Trụ bảy trăm năm trước. Ngồi trên cùng mỗi nhóm là tiên sinh, trước mặt tiên sinh dựng cờ môn phái, trên cờ viết đủ các danh hiệu lẫy lừng, người kín đáo thì có sao viết vậy, như “Tiếp Tử”, “Thận Tử’’, “Chiêm Tử”, “Doãn Tử”, “Nhi Tử”, “Triệu Tử”, “Điền Tử”, “Công Tôn Tử”, người khoáng đạt thì viết cả biệt hiệu, như “Biền miệng trời”, “Diễn luận trời”, “nước sông Giang”, “nguồn sông Hà”, “núi Cối Kê”, “cửa Quý Thân”, “khe Tiêu Dao”, “Thuận Phong Nhĩ”, cũng có lá cờ chẳng viết chữ gì, chỉ vẽ một phù hiệu coi như dấu ấn của môn phái. Còn có một lá cờ trống trơn, có lẽ chưa có đệ tử, dưới cờ chỉ có một người ngồi, rõ ràng là một vị tiên sinh mới chân ướt chân ráo tới nơi, chưa kịp lập môn nhận trò, song đã thông qua sát hạch lập đàn. Cờ của các phái sặc sỡ đủ màu, có vuông, có tròn, có tam giác, có dải dài... đủ mọi hình thù, khó lòng tả hết.

Chỉ nhìn vào cờ, toàn trường không dưới bốn mươi ngọn, đủ biết số Tắc Hạ tiên sinh đã hơn bốn chục, xem ra tế tửu Thuần Vu Khôn là một Bá Nhạc khá dễ tính.

Ngồi ở chính giữa là môn phái khai đàn hôm nay, Mạnh môn.

Là môn phái vừa mới tới, nên Mạnh môn chưa kịp dựng cờ.

Những sĩ tử không thuộc môn phái nào hay vừa mới tới, hoặc ngồi tản về hai bên trái phải, hoặc ngồi rải rác phía sau cùng.

Trước tiên là tế lễ, đây là nghi thức không thể thiếu mỗi khi khai đàn. Tế ở đây là tế trời tế đất, tế thần linh bốn phương. Học cung Tắc Hạ quy định, phàm người đăng đàn đều phải thề trước thần linh bốn phương, bất luận nói gì, cũng phải thực lòng không trí trá.

Chủ tế, đương nhiên là tế tửu Thuần Vu Khôn.

Khi Tô Tần và Trâu Phi Đao tới nơi, lễ tế đã bắt đầu. Hai người mặc trang phục sĩ tử bình thường, đứng ở phía sau xem một lát, thì Tô Tần liếc thấy có một lão trượng ngồi trong một góc, đầu tóc lơ thơ, lông mày dài rủ, tướng mạo rất giống Quỷ Cốc Tử, bèn tiến lại phía đó, ngồi xuống cạnh lão trượng.

Tô Tần vòng tay thi lễ, lão trượng liếc nhìn, mỉm cười đáp lại, chỉ lên trên đàn, ngồi rất nghiêm trang. Trâu Phi Đao không ngồi, đứng sau lưng Tô Tần theo thói quen, cảnh giác nhìn quanh.

Chính giữa đàn bày bài vị thần linh, trước bài vị bày tám loại tế phẩm. Hơn bốn chục tiên sinh xếp thành một hàng dài, đại diện cho môn phái của mình, tuần tự bái lạy các bài vị.

Tế lễ xong, học cung lệnh Điền Văn tuyên bố khai đàn, Thuần Vu Khôn lắc lư đầu trọc đăng đàn, khom lưng vái lạy thần linh các phương, rồi hướng về phía chư sĩ tử, cái đầu bóng lưỡng chầm chậm xoay chuyển từ trái sang phải, rồi lại từ phải sang trái, cứ thế ba lượt liền. Trong khi cái đầu xoay chuyển, hai luồng nhãn quang chiếu ra từ đôi con ngươi bắt đầu vàng đục giữa khe mắt khép hờ, sắc nhọn tựa dùi, như thể xuyên thấu qua mỗi con người ngồi dưới, trên bộ mặt hồng hào do ẩm thực vô lo toát lên một thứ biểu cảm thần bí khó lường, như cười mà không phải cười, như nghiêm mà không phải nghiêm, như hiền từ mà không phải hiền từ, khiến người ta nhìn vào mà như lạc giữa sương mù mười dặm.

Tắc Hạ ai cũng biết Thuần Vu Khôn hài hước thông tuệ, mỗi khi khai đàn, nhìn ngắm đàn chủ đầu trọc để rồi ôm bụng cười ngặt nghẽo là một chuyện thú vị với các sĩ tử. Tuy nhiên, thái độ của Thuần Vu Khôn hôm nay rất khác thường, không những không nói lời trào lộng hoạt kê, mà lại làm ra hành vi khó hiểu, đúng là xưa nay chưa từng có.

Vào lúc mọi người đang ngơ ngác, toàn trường lặng phắc như tờ, Thuần Vu Khôn lại từ từ thu ánh mắt lại, khép mắt một hồi, miệng còn chưa máy, mặt còn chưa động, nhưng một tiếng xuýt xoa thán phục cùng ba tiếng chặc lưỡi lên bổng xuống trầm đã không biết từ nơi nào vang lên, nghe rõ mồn một.

Đây chính là thời khắc tất cả đang mong đợi, ngay sau đó, tiếng hoan hô rển vang như sấm.

Thuần Vu Khôn giơ tay lên, toàn trường lập tức im bặt.

“Chư vị tiên sinh, chư vị sĩ tử,” Thuần Vu Khôn lắc lư cái đầu bóng lưỡng, cất giọng sang sảng, “hôm nay là ngày u ám, mây đen phủ kín mặt trời. Thế nhưng, chư vị bất tất phải lo âu, bởi vì,” đưa tay vỗ lên đầu một cách khoa trương, “đã có thứ này thay thế!”

Toàn trường lập tức cười rộ lên.

“Thứ này, có thể toả sáng...” Thuần Vu Khôn dài giọng ngân nga, nhìn khắp một vòng, khi mọi người cứ ngỡ ông ta nói xong rồi, mới buông ra tiếng “chăng” cuối cùng, dư âm như sóng, biến thành câu hỏi.

Toàn trường lại cười ầm ĩ.

“Không thể!” Thuần Vu Khôn tự mình phủ định, hai mắt trợn trừng.

Mọi người lại được một trận cười nghiêng ngả.

“Thứ gì mới có thể toả sáng cho chư vị hôm nay?” Thuần Vu Khôn khéo léo dẫn dắt, “có một người! Một người như thế nào? Một người từ phương xa tới! Người đó là ai, lão trọc này không nói, chư vị cũng đã đoán ra.” Chìa tay về phía đám đông, “cung kính mời đại nho đất Trâu Mạnh Kha Mạnh phu tử đăng đàn, phát dương quang đại!”

Mọi ánh mắt đều đổ dồn vào Mạnh phu tử.

Mạnh phu tử đứng dậy, chỉnh áo sửa mũ, sải bước lên đài, tiến tới trước bài vị thần linh, hành đại lễ tam bái. Lễ xong, vái một vái dài trước Thuần Vu Khôn, lại vái một vòng về phía chúng nhân phía dưới.

“Mạnh phu tử, mời!” Thuần Vu Khôn đáp lễ, nhường lại vị trí giữa đàn cho Mạnh phu tử, rồi trợn tròn hai mắt, nhìn trân trân vào Mạnh phu tử một hồi, mới quay sang chúng nhân: “Lão trọc đã nhìn kỹ rồi, người ở trước mặt đây, đích xác là người học vấn, là bậc đại học vấn.” Nói xong, lại vái, “Mạnh phu tử, trọc này xin giao lại luận đàn cho phu tử.” Chìa tay về dãy bài vị thần linh, “có chư thần linh thiêng phù hộ, tin chắc phu tử có thể trụ vững trên đàn, chớ có để bị đá văng xuống dưới.” Lại quay về phía chúng nhân, “chư vị tiên sinh, hạ cờ!”

Cờ dựng phía trước các môn phái rào rào hạ xuống, đặt ngang dưới đất.

Thuần Vu Khôn lại vái Mạnh phu tử, rồi rời khỏi đàn.

Mạnh phu tử đáp lễ, nhìn theo Thuần Vu Khôn lúc lắc đầu trọc bước xuống đàn, đoạn tiến lại phía dưới cờ hiệu của mình, khoanh chân ngồi xuống, đoạn quay về phía chúng nhân, khom lưng vái khắp một vòng, đằng hắng lấy giọng.

“Chư vị tiên sinh, chư vị sĩ tử!” Mạnh phu tử lên tiếng, “Mạnh Kha nhà ở đất Trâu. Nước Trâu nhỏ hẹp, đất Trâu hẻo lánh. Người ở nước nhỏ hẻo lánh, tự nhiên kiến văn nông cạn, không dám khoe khoang. Tắc Hạ là đất học, Tắc Hạ tiên sinh tới từ liệt quốc thiên hạ, không ai không đầy bụng học vấn, không ai không phải bậc kỳ tài, Mạnh Kha ngưỡng mộ đã lâu. Kha sớm đã mang ước nguyện, mong được một ngày tới bảo địa này, bái kiến chư vị tiên sinh, chư vị sĩ tử để thỉnh giáo học vấn, thu nạp sở trường. Nhưng vì Kha trên có mẹ già, dưới có con thơ, không dám mơ chuyện viễn du. Kha từ nhỏ mất cha, có mẹ hiền thục, biết Kha quyến luyến Tắc Hạ, bèn nghiêm khắc trách Kha, rằng người Tống có câu, đời người hữu hạn, học vấn vô cùng, nay con đã qua cái tuổi không còn nghi hoặc(1), mà vẫn thiển cận như thế, mơ hồ nghi hoặc như thế, ru rú xó nhà như thế, lẽ nào muốn mơ hồ như thế cả đời?

(1)Chương “Vi chính” sách “Luận ngữ’ có câu: “Bốn mươi tuổi thì không còn nghi hoặc”, nên tuổi bất hoặc, hay không còn nghi hoặc, là chỉ bốn mươi tuổi.

Nay ở Tắc Hạ, hiền sĩ đầy đường, tài tử đầy cửa, có lẽ sẽ giúp con giải đáp được ngàn vạn mối nghi hoặc, cớ sao không mau lên đường. Kha bất tài, duy chỉ biết nghe lời mẹ. Nay từ mẫu đã có lệnh, Kha nào dám không nghe. Nên mới nơm nớp bước lên đường lớn, hoang mang tìm tới Tắc môn, may nhờ tế tửu đại nhân chiếu cố, được học cung lệnh giúp Kha khai đàn, nên Kha mới có cơ duyên thỉnh giáo chư vị đại gia đây!” Nói đoạn ôm quyền thi lễ, “khẩn cầu chư vị đại hiền đừng chê Kha kém cỏi, chớ tiếc lời giáo huấn!”

Mạnh phu tử lời lẽ khiêm nhường, ngôn từ thành khẩn, toát lên khí độ đại nho.

Trong ba ngày lại đây, đủ mọi tin đồn về Mạnh phu tử đã ồn ào truyền khắp Tắc Hạ. Nào là Mạnh phu tử sợ mẹ, nào là Mạnh mẫu chuyển nhà ba lần, nào là Mạnh mẫu chặt con thoi, nào là vợ Mạnh phu tử xấu xí, nào là Mạnh phu tử có năm điều không dạy, nào là Mạnh phu tử đến nước Lỗ, nào là Mạnh phu tử từ chối đại lễ của Đằng Công, nào là Mạnh phu tử khinh miệt học vấn thiên hạ vân vân, tất tật đều được tuôn ra từ miệng đám tiểu thuyết gia tin tức nhạy bén. Lại thêm Mạnh phu tử vừa tới Tắc Hạ đã làm ra chuyện kinh thiên động địa xưa nay chưa từng có là mở đàn mà không lập luận đề, sĩ tử Tắc Hạ không ai không nghĩ rằng sẽ nhìn thấy một vị phu tử ngu độn, ngông cuồng tự đại, để họ đả kích một phen cho thống khoái. Nào ngờ Mạnh phu tử đăng đàn lại tỏ ra khiêm cung nhún nhường thế này, đâm ra lại khiến mọi người ít nhiều hụt hẫng.

Theo như quy định, trong lúc khai đàn, phàm những ai muốn đặt câu hỏi với đàn chủ, đều phải vẫy cờ trước môn phái mình. Người không thuộc môn phái nào nếu muốn hỏi, cần phải tới chỗ viên tư đàn, mượn cờ đàn để vẫy. Hai bên luận đàn có hai viên tư đàn đứng chờ, hễ thấy có người vẫy cờ, tư đàn sẽ tiến lại, dẫn người muốn hỏi lên, mặt đối mặt với đàn chủ để đặt câu hỏi. Với mọi câu hỏi, đàn chủ đều phải trả lời, nếu không trả lời được, người hỏi cùng môn phái của người đó có quyền xin học cung lệnh giải tán luận đàn.

Đây cũng là quy định do Thuần Vu Khôn đề ra sau khi nhiệm chức tế tửu.

Vẫy lên đâu tiên là một lá cờ trắng, trên đề ba chữ “Công Tôn Tử”. Mọi ánh mắt đổ dồn cả lại, té ra là Công Tôn Long, mình mặc áo bào trắng, tay cầm quạt lông vũ trắng, dáng vẻ phong lưu, tư thái khoát đạt. Dưới lá cờ trắng có năm đệ tử ngồi thành vòng tròn, đều mặc áo trắng.

Chúng nhân đều cười.

Công Tôn Long có tiếng là cái gai trong học cung, dựa vào danh thực để lập môn, dùng thuyết kiên bạch(1) để lập luận, vô cùng hiếu thắng, ở Tắc Hạ, gần như không ai muốn tranh luận với Công Tôn Long, bởi người này hoặc là cứ bám riết một chỗ không buông, hoặc là vòng vo qua lại, thay đổi chủ đề chớp nhoáng, quay đối thủ như chong chóng, không biết đằng nào mà lần, tức đến phát uất.

(1)Thuyết kiên bạch, hay kiên bạch luận, là một trong những luận thuyết nổi tiếng của Công Tôn Long. Kiên là cứng, bạch là trắng, ông lập luận rằng tính cứng và tính trắng của cục đá không liên quan gì đến cục đá.

Ngay trận mở màn, Mạnh phu tử đã vấp ngay phải “cái gai” này, mọi người đều lấy làm phấn chấn, hào hứng xem trò hay.

Được viên tư đàn dẫn đường, Công Tôn Long tiến lại trước đàn, vòng tay thi lễ, rồi lập tức phủ đầu: “Tại hạ Công Tôn Long có điều muốn hỏi, học cung Tắc Hạ từ lúc khởi đàn tới nay, đã mở đàn ắt phải lập luận để, phu tử mở đàn song không lập luận đề, là bởi học thông trăm hộ, hay là không hiểu nông sâu?”

Đúng là một câu hỏi lạ đời, bởi trong khi Công Tôn Long đặt cầu hỏi, đã đồng thời đưa luôn hai đáp án, một là học thông trăm hộ, một là không hiểu nông sâu. Dù Mạnh phu tử thừa nhận đáp án nào, cũng đều rơi vào bẫy cả.

“Đa tạ Công Tôn tiên sinh,” Mạnh phu tử vái đáp lễ, nhìn thẳng vào Công Tôn Long, “xin hỏi tiên sinh, học cung đã từng quy định, khai đàn buộc phải lập luận đề chưa?”

“Ồ...” Công Tôn Long rõ ràng không ngờ Mạnh phu tử không đáp thì chớ, còn vặn ngược lại, nên khựng lại mất một thoáng, “đó là quy tắc!”

“Tế tửu tiên sinh!” Mạnh phu tử quay sang Thuần Vu Khôn, “học cung có từng đưa ra quy định này?”

“Theo Khôn được biết,” Thuần Vu Khôn có vẻ rất hài lòng trước cách ứng đối của Mạnh phu tử, chậm rãi đứng dậy, lắc lư đầu trọc, dõng dạc đáp, “cho tới hiện nay, học cung không có quy định này, có lập luận đề hay không, do người mở đàn tự quyết định!”

“Công Tôn tiên sinh?” Mạnh phu tử quay sang Công Tôn Long, cao giọng như muốn hỏi.

“Đây là quy tắc bất thành văn, người trong Tắc Hạ không ai không hiểu, đó gọi là tập tục giao ước!” Công Tôn Long tuy bị dồn vào góc tường, vẫn cố biện luận.

“Tập, nghĩa là thường; tục, nghĩa là làm. Việc thường làm, gọi là tập tục. Một người đề xướng, nhiều người theo, gọi là phong. Nhiều người thường theo, gọi là tục. Tập tục theo lời tiên sinh nói, chính là phong tục. Phong có thể biến, tục cũng có thể đổi, nên mới có câu thay phong đổi tục. Cho nên tự cổ chí kim, không có phong bất biến, cũng không có tục thường hằng. Việc khai đàn phải lập luận đề, là do người khai đàn đầu tiên khởi xướng, dần dần thành phong tục của Tắc Hạ. Nếu như đã có người khởi xướng việc khai đàn phải lập luận đề, cớ sao Kha lại không thể khởi xướng việc khai đàn không lập luận đề?” Mạnh phu tử nhìn chằm chằm vào Công Tôn Long, như đang chất vấn.

Khai chiến thất lợi, Công Tôn Long chấn động trước sự thông tuệ và khí phách của Mạnh phu tử, nhất thời bí nước, bèn đi đi lại lại trước đàn.

Đi đủ một lượt qua lại, Công Tôn Long lại vẫy cờ, tiếp tục phản công: “Phu tử đã không lập luận đề, thì Long lại có một luận, muốn trao đổi cùng phu tử!”

“Tiên sinh cứ nói!”

“Người Trâu không phải là người!”

Đây là một luận đề còn quái đản hơn nữa, liên quan tới danh thực, cũng là biện luận nổi tiếng của Công Tôn Long. Công Tôn Long đưa ra luận thuyết kiên bạch trong danh thực, sở trường nhất là biện luận về tính cứng và tính trắng của đá. Cứng và trắng là hai thuộc tính của đá, tức màu trắng và chất cứng. Một cục đá trắng, nhìn bằng mắt, thấy trắng, sờ bằng tay, thấy cứng. Công Tôn Long cho rằng, trên thế gian có đá trắng, có đá cứng, nhưng không tồn tại đá trắng cứng, bởi mắt nhìn không thấy cứng, tay sờ không thấy trắng. Hay nói cách khác, một hòn đá, hoặc là đá trắng, hoặc là đá cứng, không thể nói đó là đá trắng cứng hay đá cứng trắng. Từ đó có thể kết luận rằng, đá trắng không phải là đá.

“Người Trâu không phải là người” được suy diễn từ kết luận “đá trắng không phải là đá”, nhằm thẳng vào Mạnh Kha vốn là người Trâu. Nếu thừa nhận mệnh đề, có thể suy tiếp rằng, người Trâu là người Trâu, người Trâu không phải là người, sẽ nhục đến thân mình. Thuyết kiên bạch là sở trường của Công Tôn Long, trong khi sở trường của Mạnh phu tử là Nho học, nếu biện luận về sở trường của người khác, rất dễ rơi vào cảnh kéo tay lộ khuỷu.

Nhưng rõ ràng, Mạnh phu tử đã có chuẩn bị từ trước.

“Công Tôn không phải là Tôn!” Mạnh phu tử ngẫm nghĩ chốc lát, dõng dạc đáp lời.

Toàn trường thoạt tiên lặng phắc, tiếp đó rộ lên tiếng vỗ tay như sấm. Mạnh phu tử đã dùng chiến thuật tương tự, lập luận tương tự, không tranh luận trực diện mà dùng câu hỏi để trả lời câu hỏi, hoá giải thế tấn công của Công Tôn Long. “Công Tôn” là họ, cũng là một thứ danh, tương đương với “người Trâu”; Công Tôn cũng là tôn (cháu) của người mang tước công, tương đương với người của đất Trâu. Chữ “tôn” phía sau là chỉ bậc cháu, tức là cháu đời sau của họ Công Tôn.

Qua cách ứng đáp này, có thể thấy Mạnh phu tử không những rất am hiểu luận thuyết kiên bạch của Công Tôn Long, mà còn nhanh chóng tìm ra sơ hở.

Tuy nhiên, sơ hở lại nằm ở đâu?

Hai hiệp đều thất lợi, Công Tôn Long nhất thời tắc tị, lại đi qua đi lại một lượt, hít vào một hơi thật dài, đoạn vòng tay hướng về phía Mạnh phu tử: “Đa tạ câu trả lời tuyệt diệu của phu tử!” Rồi quay trở về dưới cờ.

Bầu không khí bỗng trở nên yên ắng dị thường.

Phải biết rằng, khi Công Tôn Long mới tới Tắc Hạ, đã thành oan gia ngõ hẹp với bậc đại gia danh thực danh tiếng lẫy lừng Huệ Thi, một người đưa ra luận thuyết kiên bạch đá trắng không phải là đá, một người đưa ra thuyết đồng dị trời đất nhất thể, tranh luận suốt ba ngày, ai cũng khư khư quan điểm của mình, không ai thuyết phục được ai. Tuy nói kết cục hoà nhau, song Công Tôn Long tuổi trẻ khí thịnh, giọng nói sang sảng, hoa tay múa chân, thể thái mạnh mẽ, trong khi Huệ Thi nói năng từ tốn, động tác ôn hoà, xét về khí thế, vẫn kém một bậc. Sau đó, Công Tôn Long lại đến tận cửa khiêu chiến, Huệ Thi tranh luận suốt hai ngày, giận dữ mà bỏ khỏi Tắc Hạ, về quê đóng cửa buồn bực suốt một tháng ròng, mới đánh năm cỗ xe bò tới An Ấp, vừa lộ diện đã đánh bại Trần Chẩn, giành lấy ấn tướng, lập nên công nghiệp hiển hách trong đời.

Một đại tướng đàn trường kiêu dũng thiện chiến đến vậy, lại bị Mạnh phu tử đánh bại khỏi trận chỉ sau vài câu đối đáp, thật ngoài sức tưởng tượng.

Một hồi sau, toàn trường vẫn lặng phắc như tờ.

Tô Tần vẫn đang nghiền ngẫm mấy chữ “Công Tôn không phải là Tôn”, càng ngẫm nghĩ, càng nhận ra đây chính là đòn tuyệt sát đối với lập luận “người Trâu không phải là người”. Sở dĩ Công Tôn Long có tiếng là hung hăng hiếu thắng mà nay lại cam chịu thất bại, kỳ thực là do không thể tìm ra cách ứng đối nào kín kẽ hơn, nếu tiếp tục khiêu chiến, sẽ chỉ càng thêm mất mặt.

Đúng lúc Tô Tần đang khép mắt trầm tư, bên tai chợt vang lên một tiếng xuýt xoa kéo dài. Tô Tần ngẩng đầu, thì ra lão trượng bên cạnh vừa lên tiếng.

Tô Tần nhìn sang lão trượng. Lão trượng cũng nhận ra, bèn cười đáp lại, vẫn ngồi nghiêm ngắn như cũ. Tô Tần nhìn kỹ, thấy lão trượng cực giống Quỷ Cốc tiên sinh, một chòm râu trắng buông dài phất phơ trước ngực, hai vệt lông mày thọ như hai vầng trăng khuyết kéo thành hai đường vòng cung tuyệt đẹp ngoài khoé mắt, toát lên vẻ phong sương từng trải.

Tô Tần hít vào một hơi dài, điều hoà lại hơi thở, nhìn lên luận đàn.

Người thứ hai vừa vẫy cờ chính là Biển miệng trời. Long kiên bạch giỏi tranh biện nhất Tắc Hạ vừa bại trận chỉ sau hai hiệp, khiến luận đàn im ắng hồi lâu, bảo Biền miệng trời danh tiếng lẫy lừng sao có thể ngồi im cho được!

Biền miệng trời chính là Trần Biền hay Điền Biền, đệ tử hàng đầu của tiên tế tửu Bành Mông, ngay từ khi Bành Mông còn tại thế đã được thăng làm tiên sinh, có vài chục đệ tử, sau thời Bành Mông lại càng nổi tiếng, đệ tử trong môn đã ngoài ba trăm, gần như sánh ngang với Thận Đáo, rành rành là hào môn Tắc Hạ không phải bàn cãi.

“Đạo lớn, trời lớn, đất lớn, vua cũng lớn,” Biền miệng trời vòng tay đặt câu hỏi, “trong vũ trụ có bốn cái lớn, vua chiếm một(1). Theo ý phu tử, luận này thế nào?”

(1)Câu này xuất phát trong sách “Đạo đức kinh” của Lão Tử.

“Tại hạ cho rằng, bốn cái lớn trong vũ trụ, đều không lớn.” Mạnh phu tử đáp lễ, dõng dạc nói.

Hết thảy học giả có mặt, không ai không sửng sốt.

Cần biết, trong vũ trụ có bốn cái lớn đường đường là luận thuyết của tổ sư Đạo môn Lão Tử, Mạnh phu tử một lời phủ định thẳng thừng, hoặc là vì vô tri, hoặc là vì có cao luận khác trội hơn cả Lão Tử. Nếu là vô tri, Mạnh phu tử coi như thua chắc, do kiến văn hạn hẹp mà rơi vào cạm bẫy của Biền miệng trời. Nếu là có cao luận khác, Mạnh phu tử buộc phải đưa ra cách giải thích mới lạ, vượt qua Lão Tử. ơ Tắc Hạ, tất cả các lập luận mới hay cao kiến siêu việt, đều khiến các học giả vô cùng hứng thú.

“Vậy cái gì lớn?” Biển miệng trời hào hứng ra mặt, nhìn thẳng vào Mạnh phu tử.

“Tự nhiên lớn.” Mạnh phu tử dõng dạc đáp, “Lão Tử có nói, trong bốn cái này, người phỏng theo đất, đất phỏng theo trời, trời phỏng theo đạo, đạo phỏng theo tự nhiên.”

Chúng nhân thảy đều thán phục.

Mạnh phu tử không những chỉ ra được luận đề trên xuất xứ từ “Lão Tử”, mà còn dẫn lời Lão Tử để phủ định “bốn cái lớn”, phản kích cạm bẫy giăng sẵn của Điền Biền, khiến người ta phải nhìn bằng con mắt khác.

“Đạo phỏng theo tự nhiên là lời của Lão Tử,” Biền miệng trời vẫn không chịu buông tha, “điều tại hạ muốn hỏi, đó là ý phu tử thấy thế nào?”

“Kha chỉ có một chữ,” Mạnh phu tử ngẫm nghĩ chốc lát, rồi nhìn thẳng vào Điền Biền, “nhân!”

Biền miệng trời hai mắt sáng rực, giọng nói bức bách, “ý phu tử là, nhân còn lớn hơn đạo ư?”

“Chính phải.”

Hết thảy chúng nhân đều trợn mắt há miệng.

Trong mắt Đạo môn, đạo chính là chí tôn vô thượng, đạo phỏng theo tự nhiên là định luận do Lão Tử xác lập, Mạnh phu tử tuy không phủ định, song lại đưa thêm một thứ, thực khiến người ta mở rộng tầm mắt.

“Xin hãy giải thích!” Biền miệng trời truy kích.

“Kha cho rằng, đạo phỏng theo tự nhiên, tự nhiên phỏng theo nhân.”

“Ý phu tử là,” Biền miệng trời rõ ràng không ngờ Mạnh phu tử lại trả lời như vậy, “nhân còn lớn hơn tự nhiên?”

“Đúng vậy!”

“Nếu nói là vậy,” Điền miệng trời sắc mặt nghiêm nghị, dấn lên một bước, cao giọng mà hỏi, “phu tử muốn phủ định cả Lão Tử!”

“Chính tiên sinh đang nói đấy,” Mạnh phu tử bình thản đáp, “Kha không có ý phủ định. Hơn nữa, về câu hỏi của tiên sinh, Kha có một khúc mắc, kính xin tiên sinh giải đáp giúp cho!”

“Xin cứ nói!”

“Lão Tử có phải là vua?”

“Không phải.”

“Lão Tử có phải là đất, là trời?”

“Không phải.”

“Lão Tử có phải là đạo?”

Biền miệng trời dường như đã nhận ra ẩn ý sâu xa của Mạnh phu tử, ngẫm nghĩ chốc lát mới đáp: “Cũng không phải.”

“Lão Tử có phải là tự nhiên?”

Biền miệng trời làm thinh không đáp.

“Xin hỏi tiên sinh, Lão Tử đã không phải là bốn cái lớn, cũng không phải là tự nhiên, vậy Lão Tử rốt cuộc là gì?”

“Là... thánh nhân.” Biền miệng trời bắt đầu ấp úng.

“Thánh nhân thì cũng là người mà thôi.” Mạnh phu tử nhìn về phía chúng nhân, cất giọng hùng hồn, “Lão Tử đã là người, là người thì cũng có ăn có uống, có sống có chết giống như tất cả những người khác, cớ sao lại không thể phủ định?”

Tất cả mọi người đều sững sờ. Hồi lâu sau, vẫn không một ai lên tiếng. Phủ nhận định luận, lập định luận mới, đây vốn là giấc mộng trong lòng mỗi học giả, có điều không dám nói ra mà thôi.

“Đã là như vậy,” Biền miệng trời lại cố hỏi tiếp, “xin hỏi phu tử, thế nào là nhân?”

“Ái!” Mạnh phu tử đáp ngay lập tức.

Ái, tức yêu, là cảm xúc, không nhìn thấy, không chạm được, cũng giống như đạo của Lão Tử, mơ hồ diệu vợi, không ai có thể giải thích rõ ràng.

“Tạ ơn câu trả lời tuyệt diệu của phu tử!” Trước lời giải thích mông lung huyền diệu này, Biền miệng trời nhất thời không nghĩ ra được cách ứng đối nào hay hơn, đành phải vòng tay cảm tạ, lui về chỗ ngồi.

Trong nháy mắt đã đánh bại liền hai mãnh tướng của Tắc Hạ, Mạnh phu tử hào khí bừng bừng, ngẩng cao đầu đứng giữa luận đàn, thế như cung giương.

Tô Tần nhìn sang lão trượng bên cạnh, thấy lão trượng khí trầm tâm định, bên khoé miệng thấp thoáng một nét cười bí hiểm.

Cùng lúc này, trên quảng trường đồng thời có hai lá cờ phất lên, một là của Diễn luận trời, vốn đã chuẩn bị ứng chiếu mấy ngày nay, một nữa là của Doãn Văn Tử. Có lẽ là nhìn thấy cờ của Doãn Văn Tử giơ lên trước, nên viên tư đàn tiến về phía đó, dẫn Doãn Văn Tử lên đàn, đứng đối diện với Mạnh phu tử.

“Doãn Văn người Tề xin thỉnh giáo!” Doãn Văn Tử vòng tay nói.

“Chữ giáo không dám nhận, tiên sinh cứ nói!” Mạnh phu tử vòng tay đáp lễ.

“Theo luân lý của Nho môn, con không đối nghịch cha, tôi không đối nghịch vua, vợ không đối nghịch chồng, có phải vậy chăng?” Doãn Văn Tử hỏi.

“Chính phải!” Mạnh phu tử đáp lời.

“Vậy thì, con có thể giết cha, tôi có thể giết vua chăng?” Doãn Văn Tử lại hỏi.

“Không thể.”

“Nếu đã không thể, cớ sao Vũ Vương thân là bề tôi triều Thương, lại giết vua Thương, phu tử giải thích thế nào?” Doãn Văn Tử ra đề rất lớn.

Đây chính là biện thuật “lấy giáo của anh đâm mâu của anh”, hay gậy ông đập lưng ông, tức dùng chính lý luận của Nho môn để phản bác thứ Nho môn xem trọng. Nho môn bàn về luân lý, Nho môn xem trọng lễ. Luân lý của Nho môn là tam cương, tức ba rường mối lớn, là cha con, vua tôi, chồng vợ, từ đó sinh ra lễ của Nho môn, tức là ba mối ràng buộc, cha là rường mối của con, vua là rường mối của tôi, chồng là rường mối của vợ. Cha là rường mối của con, từ đó sinh ra nhân, hiếu; vua là rường mối của tôi, từ đó sinh ra nghĩa, trung; chồng là rường mối của vợ, từ đó sinh ra lễ, kính.

Ba mối ràng buộc này, không thể làm trái, làm trái sẽ là bất nhân, bất nghĩa, bất lễ, cũng là bất hiếu, bất trung, bất kính, thành ra đại nghịch. Với kẻ đại nghịch, cả thần và người đều không dung tha.

Thế nhưng, Vũ Vương lại phạt Trụ.

Đây chính là dưới đối nghịch trên, tôi đối nghịch vua, hoàn toàn trái ngược với luân lý mà Nho môn đề xướng, phá huỷ lễ mà Nho môn sùng thượng, hơn nữa, người chế định ra lễ mà Nho môn sùng thượng, lại là Chu Công, người đầu tiên làm loạn lễ!

Trước nghịch lý khó lòng bào chữa này, người nghe thảy đều phấn phấn, mọi ánh mắt đều đổ dồn vào Mạnh phu tử, chờ xem giải thích.

“Tiên sinh hỏi hay lắm!” Mạnh phu tử thu thần, cất lời trịnh trọng, “kẻ hại nhân là giặc, kẻ trộm nghĩa là cướp, đã là giặc là cướp, gọi là cường bạo. Kha chỉ nghe nói người dân trong nước thảo phạt cường bạo Thương Trụ, chứ chưa từng nghe nói Vũ Vương giết vua!”

Quả là lời ứng đối tuyệt diệu, lời lẽ hàm súc mà ý tứ sâu xa, nghe mà chấn động bên tai, sảng khoái trong lòng, chúng nhân đồng thanh tấm tắc khen hay.

Chúng nhân khen ngợi, không phải vì ngôn từ của Mạnh phu tử, mà là ý tứ của Mạnh phu tử, tức tôi có thể đối nghịch vua, con có thể đối nghịch cha, nếu như vua và cha bất nhân bất nghĩa. Biện luận này, vừa hay cũng phù hợp với đại thế thiên hạ bấy giờ, bởi lẽ từ khi ba nhà chia Tấn tới họ Điền thay thế họ Khương, tất cả đều là dưới phạm trên, tôi nghịch vua. Còn như Tấn Quân và Khương Tề có phải hại nhân trộm nghĩa hay không, trong thời điểm này, chưa thể đưa ra định luận.

Doãn Văn Tử kính phục, vòng tay lui về chỗ.

Người tiếp theo đăng đàn, chính là Diễn luận trời.

Vì thời khắc này, Diễn luận trời đã chuẩn bị suốt ba ngày, nên khi đăng đàn, nhãn quang trầm định, mỗi một bước chân đều chắc nịch như sơn.

Diễn luận trời tới nơi, chẳng buồn thi lễ, mà hai mắt như đuốc, nhìn trừng trừng vào Mạnh phu tử.

Mạnh phu tử vốn dĩ đã chuẩn bị đáp lễ sẵn sàng, nào ngờ người này vừa lên đàn đã giương mắt khiêu chiến, nhất thời kinh ngạc, lặng đi mất một thoáng mới định thần trở lại, vội vã ứng chiến.

Hai người như hai con gà chọi bước vào sới đấu, ai nấy mắt mở trừng trừng, nhìn xoáy vào đối phương, dường như thứ chiếu ra từ trong mắt không còn là ánh mắt, mà là kiếm là tên, có thể xuyên suốt qua đối thủ.

Đã qua mười hơi thở.

Đã qua hai mươi hơi thở.

Đã qua ba mươi hơi thở.

Song hai đối thủ vẫn chưa khua chiêng, hai luồng nhãn quang vẫn tiếp tục đối chọi.

Rất dễ thấy, trong trận mục chiến này, Diễn luận trời chiếm thế thượng phong, bởi ông ta đã luyện được một công phu tuyệt kỹ, một khi đã nhìn chăm chú vào mắt đối phương, có thể không chớp suốt ba mươi hơi thở. Mạnh phu tử không có ngón này, nhãn quang tuy sắc bén, song mỗi hơi thở đều phải chóp một lần, qua ba mươi hơi thở, thế bại đã rõ ràng.

Thấy thắng thế đã định, Trâu Diễn mới thu luồng nhãn quang, tiến lên một bước, ôm quyền vái mà nói: “Trâu Diễn người Tề bái kiến phu tử!”

“Mạnh Kha người Trâu bái kiến tiên sinh!” Mạnh phu tử cũng thu lại ánh nhìn, ôm quyền đáp lễ.

“Phu tử học thức uyên thâm, Trâu Diễn bất tài, xin được thỉnh giáo phu tử về thuyết âm dương.” Trâu Diễn mở lời.

Mạnh phu tử khẽ cười: “Kha xin lắng nghe.”

“Diễn cho rằng, trời có ngũ hành, tương sinh tương khắc, phu tử thấy sao?” Trâu Diễn vận ra tuyệt kỹ bản môn.

“Kha mới chỉ thoáng nghe qua, chưa được tường tận, xin tiên sinh chỉ giáo!”

“Diễn cho rằng, ngũ hành là Kim Mộc Thuỷ Hoả Thổ,” Trâu Diễn dõng dạc tiếp lời, “ngũ hành tương sinh, tức Kim sinh Thuỷ, Thuỷ sinh Mộc, Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim. Ngũ hành tương khắc, tức Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thuỷ, Thuỷ khắc Hoả, Hoả khắc Kim.”

“Cái này thì Kha có biết,” Mạnh phu tử điềm đạm đáp, “đó chính là quy luật vận hành của đạo trời, Điền này xuất phát từ thiên ‘Hồng phạm’ sách ‘Thượng thư’. Theo như ghi chép trong ‘Thượng thư’, trời có ngũ hành, người có ngũ sự. Trời có ngũ hành, thứ nhất là Thuỷ, thứ hai là Hoả, thứ ba là Mộc, thứ tư là Kim, thứ năm là Thổ. Thuỷ thì thấm xuống dưới, Hoả thì bốc lên trên, Mộc thì cong thẳng, Kim thì biến hoá, Thổ thì trồng cấy. Thấm xuống dưới thì sinh mặn, bốc lên trên thì sinh đắng, cong thẳng thì sinh chua, biến hoá thì sinh cay, trồng cấy thì sinh ngọt. Người có ngũ sự, thứ nhất là diện mạo, thứ hai là lời nói, thứ ba là nhìn, thứ tư là nghe, thứ năm là nghĩ. Diện mạo nên cung kính, lời nói nên ung dung, nhìn nên sáng suốt, nghe nên thấu tỏ, nghĩ nên thông tuệ. Cung kính sẽ trang nghiêm, ung dung sẽ an định, sáng suốt sẽ minh mẫn, thấu tỏ sẽ sâu sắc, thông tuệ sẽ khoát đạt.”

“Thượng thư” là sách thời thượng cổ, sau được Khổng Tử biên soạn, Mạnh phu tử sớm đã thuộc nằm lòng, lúc này thao thao một hồi, không chỉ phản bác việc Trâu Diễn nhận bừa ngũ hành về mình qua hai câu “Diễn cho rằng”, mà còn nhân tiện nhắc đến ngũ sự của con người mà Nho môn khởi xướng, rất trơn tru liền mạch.

Sĩ tử có mặt đều đua nhau gật gù, ai cũng xuýt xoa khen ngợi Mạnh phu tử học vấn uyên thâm.

Thấy mình rơi vào thế hạ phong, Trâu Diễn hít sâu một hơi, bật cười vài tiếng: “Phu tử đọc rộng biết nhiều, Diễn lấy làm thán phục. ‘Thượng thư’ quả thực có nhắc tới ngũ hành, nhưng ngũ hành của ‘Thượng thư’ lại không phải ngũ hành của Diễn. ‘Thượng thư’ tuy nhắc tới ngũ hành, song không nói tới ngũ sắc và ngũ đức tương ứng, còn ngũ hành của Diễn thì có.”

“Kha kiến văn nông cạn, mong được chỉ giáo!”

“Diễn cho rằng,” Trâu Diễn dẫn dắt tới điều tâm đắc mới của mình, “ngũ hành tương ứng với ngũ sắc, Kim chuộng trắng, Mộc chuộng xanh, Thuỷ chuộng đen, Hoả chuộng đỏ, Thổ chuộng vàng. Trời có ngũ hành, đời có ngũ đức. Ngũ hành tương sinh tương khắc, ngũ đức tương sát tương tòng. Ngũ hành vận hành trên trời, ngũ đức vận hành trên đời.”

“Xin hỏi tiên sinh, ngũ đức vận hành trên đời như thế nào?” Mạnh Kha nheo mắt, chớp lấy thời cơ vặn hỏi.

“Đế vương sắp hưng, trời ắt gieo điềm báo. Thời Hoàng Đế, có giun to, dế to xuất hiện trên đời, khí Thổ thịnh, cho nên Hoàng Đế chuộng màu vàng, dùng đức Thổ trị thế, đức Thổ trung hoà. Cho tới thời Đại Vũ, cây cỏ thu, đông không héo, khí Mộc thịnh, cho nên Đại Vũ chuộng màu xanh, lập nên triều Hạ, dùng đức Mộc trị thế, đức Mộc vươn dài. Đến thời Thang, trong nước xuất hiện dao vàng, khí Kim thịnh, cho nên Thương Thang chuộng màu trắng, lập nên triều Thương, dùng đức Kim trị thế, đức Kim thu tàng. Tới thời Văn Vương, có chim xích điểu (phượng hoàng) ngậm sách đỏ tụ tập về tông miếu của Chu thất, khí Hoả thịnh, cho nên Văn Vương chuộng màu đỏ, lấy đức Hoả trị thế, đức Hoả nóng và bốc lên. Thay thế cho Hoả là Thuỷ, cho nên...” Trâu Diễn thình lình phát giác ra điều bất ổn, lập tức im bặt.

Mạnh phu tử bật cười vang: “Ngũ đức vận hành trên đời, hay lắm!” Rồi thu lại nụ cười, nhìn thẳng vào Trâu Diễn, “theo như tiên sinh nói, thay thế Hoả là Thuỷ, Thuỷ là màu đen, liệt quốc thiên hạ, chuộng màu đen duy có nước Tần. Cho nên thay thế Đại Chu, hẳn là nước Tần?”

“Huyền cơ của trời, Diễn không dám tiết lộ!”

“Huyền cơ của trời, hay lắm!” Mạnh phu tử nắm được trọng tâm, từng bước bức bách, “Hoàng Đế thực thi nhân chính, dùng nhân đức để đánh bại Viêm Đế, mới nhất thống được thiên hạ. Cho tới Đại Vũ, trời giáng hồng thuỷ, khiến dân khốn khổ, Đại Vũ trị hồng thuỷ, lại dùng nhân đức lập nên triều Hạ. Hạ Kiệt không tu nhân nghĩa, mới bị Thương Thang thay thế. Còn như Thương Trụ, hại nhân hại nghĩa, kẻ hiền lương hoặc bị tù đày hoặc tạo phản, đến nỗi thiên hạ đại loạn. Văn Vương bị giam cầm, Vũ Vương dẫn người trong nước thảo phạt, lập nên nhà Đại Chu. Chu Công chế ra lễ, khiến thiên hạ lại quay về trật tự, trải vài trăm năm cho đến đời u Vương, u Vương thất tín, khiến người trong nước phản lại mà giết đi, Bình Vương dời đô về phía đông tới Lạc Dương, lễ dần băng hoại, bang quốc tranh bá, chìm trong chiến loạn. Tiên sinh không xét đến nhân nghĩa, mà lại dựa vào vài ba thiên tượng để giải thích về sự thay triều đổi đại, thực quá khiên cưỡng, không đáng luận bàn!”

Trâu Diễn phá lên cười một tràng còn dài hơn thế nữa: “Chu Công chế ra lễ, coi vua là thiên tử con trời. Sông Hà Thuỷ hiện long mã, sông Lạc Thuỷ hiện rùa thần, long mã chở Hà đồ, rùa thần cõng Lạc thư, Phục Hy nhìn vào đó mà chế ra Bát quái, Văn Vương diễn dịch Bát quái mà có được ‘Chu Dịch’, Khổng Tử tiếp tục truyền thừa. Phượng hót ở Kỳ Sơn, Chu thất bèn lập. Trời giáng điềm lành, vua ắt bày lễ chúc mừng. Trời giáng tai ách, vua ắt tế bái nhận lỗi. Toàn bộ những điều này, chẳng phải Nho gia các vị vẫn thao thao bất tuyệt đó sao?”

Trâu Diễn xuất chiêu liên tiếp, chiêu chiêu nhằm vào yếu huyệt, Mạnh phu tử nhất thời cứng họng, hơi thở trở nên gấp gáp.

Toàn trường ầm ĩ tiếng reo hò, trên mặt Trâu Diễn lộ một nụ cười đắc thắng.

“Hay lắm!” Mạnh phu tử cười gượng một tiếng, vòng tay nói, “Khổng Tử không nói đến những việc quái đản, vũ lực, tác loạn, quỷ thần, nên Kha cũng sẽ không nói. Tiên sinh còn muốn hỏi gì nữa chăng?”

Trâu Diễn thấy đủ là dừng, cũng vòng tay nói: “Được phu tử nhường nhịn, Diễn không còn gì hỏi nữa!” Rồi quay người, khí thế hiên ngang, dõng dạc sải bước xuống đàn.

Nhìn theo Trâu Diễn, Mạnh phu tử vẫn giữ phong thái đĩnh đạc, nét mặt tươi cười, vòng tay cung tiễn.

Trâu Diễn giành thế thắng đã khích lệ thêm nhiều học sĩ, trong suốt một canh giờ sau đó, cờ vẫy lên hồi, tranh biện không dứt, song khí thế đều không bằng được mấy người mở đầu, Mạnh phu tử dễ dàng ứng phó suốt lượt.

Hai canh giờ tranh biện kịch liệt qua đi, Mạnh phu tử vẻ đã bắt đầu thấm mệt, song không thể thoát thân, sắc mặt có phần khó coi.

Thuần Vu Khôn tinh mắt nhận ra, kịp thời giơ cờ hiệu.

Viên tư đàn chậm rãi bước lại bên Thuần Vu Khôn, dẫn lên đàn.

Thấy tế tửu đăng đài, chúng nhân hiểu rằng luận đàn đã đến hồi kết thúc, giờ là màn áp chót đầy kịch tính, ai cũng hào hứng chờ đợi.

Thuần Vu Khôn sải bước lên đàn, vòng tay mà nói: “Phu tử quả nhiên bác học, lão trọc đây đã được mở mang tầm mắt!”

“May được tiên sinh yêu mến, Kha mới có cơ duyên thụ giáo, học hỏi được không ít!” Mạnh phu tử vái dài đáp lễ.

“Trọc này xưa nay vẫn mơ hồ về nhân nghĩa lễ nhạc của Nho môn, đặc biệt là lễ,” Thuần Vu Khôn lắc lư đầu trọc vào đề, “nay gặp được phu tử, vừa hay có thể thỉnh giáo!”

“Tiên sinh cứ nói!” Mạnh phu tử phấn chấn ra mặt.

“Nam nữ thụ thụ bất thân, tính là lễ chứ?” Thuần Vu Khôn hỏi.

“Chính là lễ.” Mạnh phu tử đáp.

“Nếu chị dâu ngã xuống nước, em chồng ở ngay bên cạnh, có nên chìa tay ra giúp không?” Thuần Vu Khôn cất giọng chậm rãi, tung ra đòn sát thương.

Câu hỏi của Thuần Vu Khôn, lại chĩa mũi nhọn vào một nghịch lý khác của Nho gia, chúng nhân đều ồ lên khen ngợi.

“Tiên sinh hỏi hay lắm!” Mạnh phu tử vòng tay vái, “lễ của Nho môn, dưới không trái nhân luân, trên không trái thiên lý. Chị dâu ngã xuống nước, em chồng nếu khoanh tay đứng nhìn, tuy hợp nhân luân, song trái thiên lý, cầm thú cũng không làm thế. Chị dâu ngã xuống nước, em chồng nên chìa tay giúp, đây là cách biến thông trong tình thế đặc biệt.”

Lời giải đáp của Mạnh phu tử, vừa giải thích được lễ, vừa hiểu lẽ biến thông. Chúng nhân đều tấm tắc khen ngợi.

Nhưng Thuần Vu Khôn vẫn chưa chịu thôi, lại lắc lư đâu trọc một hồi: “Nay thiên hạ đang chìm trong nước, phu tử lại ẩn mình suốt bấy nhiêu năm ở đất Trâu, cớ sao không chịu chìa tay giúp?”

“Lẽ nào tiên sinh muốn dùng một tay để cứu vớt thiên hạ?” Mạnh phu tử trước tiên hỏi ngược lại, tiếp đếp mới đáp, “chị dâu ngã xuống nước, muốn giúp cần chìa tay; thiên hạ chìm trong nước, muốn giúp phải nhờ đạo. Kha ở đất Trâu, là để tu đạo. Đạo chưa tu thành, không dám liều lĩnh.”

Mạnh phu tử diệu đáp, khiến chúng nhân xuýt xoa không ngớt.

Thuần Vu Khôn bật cười vài tiếng, thong thả vỗ tay: “Phu tử lần này rời đất Trâu, hẳn là đạo đã tu thành, thật đáng mừng!”

“Kha không dám!” Mạnh phu tử vòng tay nói.

“Chư vị tiên sinh, chư vị sĩ tử!” Thuần Vu Khôn nhìn xuống dưới đàn, giọng như chuông vang, “đã không còn sớm, bản tế tửu tuyên bố, luận đàn hôm nay kết thúc tại đây, Mạnh Kha người Trâu học vấn uyên bác, tài trí tột bậc, biện luận thông đạt, giữ đàn thành công!”

Toàn trường tiếng hoan hô như sấm, mọi người cùng đứng dậy, vẫy cờ rợp đất.

“Chúc mừng phu tử!” Thuần Vu Khôn quay sang Mạnh phu tử, tươi cười nói, “nếu không ngoài dự đoán, không tới vài ngày, phu tử sẽ phải thay đổi danh xưng!”

“Dám hỏi tiên sinh, Kha phải thay đổi thế nào?”

“Là tiên sinh!” Thuần Vu Khôn thủng thẳng nói, “ngay chiều tối nay, Khôn sẽ báo lên học cung lệnh, xin nhiệm phu tử làm Tắc Hạ tiên sinh. Ngày mai, phủ học cung lệnh sẽ đề bảng thông báo trong Tắc Hạ, trong vòng ba ngày nếu, không bị ba vị Tắc Hạ tiên sinh trở lên liên danh phản đối, học cung lệnh sẽ dâng tấu lên Tề Vương, đợi vương mệnh truyền xuống, phu tử có thể chính thức mở quán dựng cờ trong Tắc Hạ!”

“Cảm tạ tế tửu yêu mến!” Mạnh phu tử vòng tay đáp, “Kha có một thỉnh cầu, kính mong tế tửu tác thành cho!”

“Phu tử cứ nói!”

“Kha tới Tắc Hạ, chỉ muốn được cùng các bậc đại gia trau dồi học vấn, lấy trường bù đoản, chứ không phải để mưu cầu hư vị tiên sinh. Danh xưng tiên sinh, Kha không dám nhận, ý tốt của tế tửu, kính mong thu hồi cho!” Mạnh Kha cung kính khom lưng nói.

Thuần Vu Khôn hít ngược một hơi, hai mắt nhìn trân trân vào Mạnh phu tử, kinh ngạc sững sờ.

Luận đàn vừa giải tán, lão trượng lập tức ra về.

Tô Tần lẳng lặng bám theo, cách một quãng không xa không gần.

Lão trượng đi mãi đi mãi, Tô Tần bám riết không rời. Theo sau Tô Tần chừng hai trượng là Trâu Phi Đao, giả làm người đi đường.

Lão trượng không ở trong Tắc Hạ, cứ thế đi thẳng ra khỏi Tắc môn, tới tận đồng hoang ngoại ô mới dừng bước trước một cổng gỗ đơn sơ, rồi ngoảnh đầu nhìn Tô Tần.

Tô Tần tiến lại gần, vái một vái thật sâu: “Vãn bối khấu kiến tiền bối!”

“Này người trẻ tuổi, anh đi theo lão hủ, có việc gì chăng?” Lão trượng đáp lễ, mắt nhìn Tô Tần, một tay vịn vào cổng gỗ.

“Tiền bối tướng mạo kỳ vĩ, dứt khoát không phải người thường, vãn bối ngưỡng mộ, nên mới đi theo!” Tô Tần lại vái.

Lão trượng bật cười vang: “Lão hủ đã sống qua không ít xuân thu, đến tận hôm nay, mới biết được tướng mạo mình kỳ vĩ. Vì câu nói hay ho này, lão hủ cho anh nói ba câu.”

“Tạ ơn tiền bối yêu quý!” Tô Tần lại vái.

“Một câu rồi. Tiếp câu thứ hai!” Lão trượng xoè bàn tay, gập một ngón lại.

“Ồ...” Tô Tần ngẩn người, không biết phải nói gì.

“Hai câu! Chỉ còn một câu cuối cùng.” Lão trượng lại gập một ngón tay.

“Vãn bối họ Tô tên Tần, người Lạc Dương, dám hỏi tôn tính đại danh của tiền bối!” Tô Tần không dám để lỡ mất cơ hội cuối cùng.

“Hiểu rồi Tô sĩ tử!” Lão trượng vuốt chòm râu dài bạc trắng, “cứ gọi ta là Lão Bất Tử vậy.” Đoạn đẩy mở cổng gỗ đơn sơ, bước vào trong, tiện tay đóng luôn lại, còn ngoắc vòng thừng, bước chân chậm rãi đi thẳng vào nhà, không buồn ngoảnh đầu nhìn lại một lần.

Tô Tần thở dài sườn sượt, nhìn theo lão trượng bước vào nhà đóng cửa.

Từ phía sân sau loáng thoáng có tiếng dê kêu be be vọng lại.

“Là một lão chăn dê!” Trâu Phi Đao bước lại, khẽ nói.

Tô Tần chìm trong suy tư.

Mạnh phu tử không quản nghìn dặm tới tận Tắc Hạ, hao tâm tổn trí khai đàn, song lại khước từ danh hiệu Tắc Hạ tiên sinh đã trong tầm tay, lại một lần nữa khiến Tắc Hạ rúng động. Nên biết rằng, Tắc Hạ tiên sinh không chỉ là danh xưng, mà còn được cung Tề đãi ngộ tương đương khanh đại phu, hơn nữa, khoản đãi ngộ này còn tăng lên theo số lượng đệ tử trong môn.

Tô Tần và Trâu Phi Đao từ ngoại ô trở về, thấy Điền Văn đã ngồi trong phòng khách.

“Mạnh phu tử không nhận danh xưng tiên sinh, Tô Tử nói xem...” Điền Văn không kịp hàn huyên, lập tức nôn nóng nói ngay.

“Vậy tế tửu đại nhân nói sao?” Tô Tần hỏi.

“Tế tửu nói, phu tử không phải cá trong ao, Tắc Hạ chỉ là một cái ao nhỏ, không đủ cho phu tử vẫy vùng.”

“Phải!” Tô Tần gật đầu, “nếu chỉ là dùi mài học vấn, cứ ở đất Trâu hay đất Lỗ là được. Chỉ riêng việc khai đàn lần này, đã có thể thấy, học vấn của Mạnh phu tử xứng là bậc đại gia. Điền đại nhân có thể bẩm báo lên tướng quốc, xem ý tướng quốc thế nào.”

“Trước khi bẩm báo, tại hạ muốn gặp phu tử.” Điền Văn nói.

Được, vậy Điền đại nhân hãy đến gặp!”

“Tại hạ muốn mời Tô phu tử đi cùng.”

“Ồ, đại nhân thăng chức cho tại hạ đấy ư?” Tô Tần cười, nhìn thẳng vào Điền Anh, “nói đi, vì sao muốn phu tử này đi cùng?”

“Trên thế gian này, bất luận là về làm quan hay làm người, Văn chỉ phục mình Tô phu tử.” Điền Văn mỉm cười, cất lời khen ngợi, “Mạnh phu tử có phải là cá trong ao hay không, cẫn để Tô phu tử kiểm chứng! Không giấu gì Tô Tử, trong buổi khai đàn chiều nay, mọi thứ đều tốt đẹp, duy có một điều tại hạ cảm thấy thiếu sót, đó là Tô phu tử lại không đăng đàn.”

“Học cung lệnh đại nhân quá yêu mến rồi!” Tô Tần vòng tay cười nói.

Điền Văn cười đáp lễ, rồi hạ giọng nói: “Tại hạ rất muốn biết, nếu Mạnh phu tử gặp Tô phu tử, tình cảnh sẽ ra sao?”

“Nếu học cung lệnh đại nhân muốn biết,” Tô Tần ngẫm nghĩ một thoáng, “có thể mời tới một người!”

“Là ai?”

Tô Tần quay sang cười với Trâu Phi Đao: “Trâu huynh, hãy mau đi mời lão phu tử!”

Trâu Phi Đao hiểu Tô Tần đang nói tới cự tử, bèn quay người đi luôn.

Bóng chiều nhập nhoạng, khách xá Tắc Hạ đèn lửa sáng trưng. Chúng đệ tử không ai không vui mừng hớn hở, phấn chấn ngồi quây quần xung quanh người thầy mà họ càng thêm tôn kính, giống như sao chầu mặt trăng.

Hôm nay là một ngày tốt lành của Mạnh môn, đặc biệt là với Mạnh phu tử. Đại chiến thắng lợi, Mạnh phu tử lại khéo léo từ chối danh hiệu tiên sinh do tế tửu Tắc cung nêu ra ngay trước mặt chúng nhân Tắc Hạ, có lẽ là sự việc sảng khoái nhất trong cuộc đời hơn bốn mươi năm từng trải của Mạnh phu tử.

Sau bữa tối, Vạn Chương cùng chúng đệ tử hầu Mạnh phu tử rửa tay, súc miệng, thu dọn xong xuôi, ngồi xuống xung quanh, mọi ánh mắt đều đổ dồn vào Mạnh phu tử như chờ đợi.

Mạnh phu tử khẽ cười vài tiếng, sửa ngay vạt áo, đỡ lấy chén nước Vạn Chương dâng lên, khẽ nhấp một ngụm, nheo mắt nhìn khắp lượt chúng đệ tử, thần thái hiền từ: “Các con muốn hỏi gì, cứ nói.”

“Đệ tử xin được nói trước,” Công Đô Tử miệng cười hân hoan, sắc mặt lộ vẻ thán phục, “không giấu phu tử, từ trước đệ tử kính phục thầy, là phục học vấn uyên bác của thầy, nhưng hôm nay, sự kính phục đã khác!”

Mạnh phu tử nghe vậy, lại vui vẻ cười vài tiếng, đoạn ngả người về trước: “Khác ở chỗ nào?”

“Phu tử khí độ hiên ngang, như tướng thủ thành, tuy trước cường địch trăm vạn, giáo mác như rừng, mà vẫn uy nghi bất khuất, quả đúng là bậc đại trượng phu!” Công Đô Tử hết lời thán phục.

“Đại trượng phu?” Mạnh phu tử hờ hững nhắc lại, rồi nhìn thẳng vào Công Đô Tử, “như đệ tử vừa nói, gọi là dũng của thất phu!”

“Ồ...” Công Đô Tử ngây thộn.

Mạnh phu tử quay sang chúng đệ tử: “Các đệ tử có ai hiểu được thế nào mới là đại trượng phu chăng?”

Chúng đệ tử đưa mắt nhìn nhau.

“Thống lĩnh thiên binh vạn mã, đánh là thắng, công là hạ, như Tôn Vũ, Ngô Khởi, đã được gọi là đại trượng phu chưa?” Công Tôn Sửu tiếp lời.

Mạnh phu tử liếc mắt nhìn, không đáp, lại nhìn sang người khác.

“Đệ tử biết rồi,” Cảnh Tử ngôi trong một góc dõng dạc lên tiếng, “anh hùng thời nay, hễ nổi giận là chư hầu khiếp sợ, hễ an cư là thiên hạ thái bình, như Tô Tần, Trương Nghi, Công Tôn Diễn, có thể gọi là đại trượng phu!”

Mạnh phu tử đưa mắt nhìn Cảnh Tử, vẫn không lên tiếng.

“Phò tá quân chủ của nước trăm dặm vuông, thống lĩnh dân chúng man di, mưu tính như thần, thảo phạt bạo quân, lập nên vương nghiệp phi phàm, như Khương Thượng, Y Doãn, hẳn đã có thể gọi là đại trượng phu?” Vạn Chương thăm dò.

“Những người mà các trò vừa nhắc đến, có đáng gọi là đại trượng phu không?” Mạnh phu tử sắc mặt nghiêm trang, chậm rãi đưa mắt nhìn từng đệ tử, “lẽ nào các trò chưa từng học qua lễ? Trượng phu đến tuổi đội mũ, tuân theo mệnh cha. Con gái xuất giá, tuân theo mệnh mẹ. Con gái xuất giá, mẹ tiễn ra cửa, luôn dặn một câu, sang đến nhà mình, phải nghe theo chồng, một lòng cung kính! Qua đó mà thấy, đạo của đàn bà, chủ ở thuận tòng. Vậy còn đạo của trượng phu? Tuyệt đối không phải như thế. Vậy thế nào là đạo của trượng phu? Ở nhà lớn của thiên hạ, lập chính vị của thiên hạ, hành đại đạo của thiên hạ.” Ngữ điệu sôi nổi, phong thái bừng bừng, “nếu thoả chí, thì cùng thực thi với dân; không được thoả chí, thì một mình hành đạo, tự sửa thân mình, phú quý không dâm dật, bần tiện không thoái chí, uy vũ không khuất phục, người như thế, mới xứng là đại trượng phu!”

Khí phách của Mạnh phu tử đã khiến tất thảy đệ tử đều rúng động, ai nấy sắc mặt bừng lên vẻ kiên nghị, hào khí dâng tràn.

Mạnh phu tử đang định nói tiếp, bỗng nghe bên ngoài có tiếng chân bước, tiếp đến là tiếng gõ cửa. Công Đô Tử đi ra, thấy là bốn người Tô Tần, Điền Văn, Cáo Tử và Trâu Phi Đao.

Trong bốn người, Công Đô Tử mới chỉ từng gặp Điền Văn, biết đây là học cung lệnh, bèn vái mà nói: “Đệ tử Mạnh môn Công Đô bái kiến Điền đại nhân!”

Điền Văn vòng tay đáp lễ, hỏi: “Mạnh phu tử có nhà chăng?”

“Thưa có.”

“Tại hạ có mấy vị bằng hữu, thành tâm cầu kiến phu tử để thỉnh giáo học vấn, xin bẩm báo giúp cho!” Điền Văn chỉ vào ba người, nói.

“Điền đại nhân xin chờ cho một lát, Công Đô lập tức vào trong bẩm báo phu tử!” Công Đô Tử nói rồi trở vào bên trong.

Công Đô Tử vừa đi vào cửa, từ bên cạnh bỗng có một người tiến ra, vòng tay vái Điền Văn mà nói: “Điền đại nhân, tại hạ Trần Tương, phụng mệnh gia sư, từ đất Đằng tìm tới đây, mong được bái kiến phu tử, chờ ở đây đã nửa canh giờ rồi, có thể cho phép vào cùng được chăng?”

Điền Văn quan sát người này một lượt, nhưng bởi sắc trời nhập nhoạng nên nhìn không rõ hình dung, bèn hỏi: “Ồ, đã chờ nửa canh giờ rồi, sao không tự mình vào?”

“Tại hạ...” Trần Tương ngập ngừng chốc lát, rồi cúi thấp đầu, ấp úng, “tại hạ đã cầu kiến, song... họ dứt khoát không cho tại hạ vào!”

“Tại sao kia?” Điền Văn lấy làm ngạc nhiên.

Trần Tương chỉ vào trang phục của mình.

Điền Văn tiến lại gần nhìn kỹ, thấy người này mình mặc vải thô, áo nâu cánh ngắn, nón lá đeo lệch sau lưng, đúng là lối phục sức của người thôn dã, thì hiểu ra căn nguyên, bèn nhìn sang Tô Tần.

Tô Tần kéo ống tay áo Trần Tương, cho đứng ở giữa mình và Cáo Tử.

Mấy người vừa đứng ngay ngắn lại, chợt thấy trong sân ánh đuốc sáng bừng, Mạnh phu tử cùng chúng đệ tử bước ra nghênh đón.

Hành lễ xong xuôi, Mạnh phu tử và Điền Văn sóng bước đi ở phía trước, Cáo Tử theo sau, tiếp đến là Trần Tương, cuối cùng là Tô Tần, Trâu Phi Đao đứng lại ngoài cổng canh chừng.

Do phòng không đủ rộng, Mạnh phu tử chỉ giữ lại ba đệ tử Văn Chương, Công Tôn Sửu và Công Đô Tử, những người còn lại đều trở về phòng.

Mạnh phu tử ngồi xuống chiếu chủ, Điên Văn ngồi bên cạnh, ba người Cáo Tử, Trần Tương, Tô Tần lần lượt ngồi ở chiếu khách, ba đệ tử ngồi hầu ở bên, châm trà cho khách.

Dưới ánh đèn sáng trưng, Mạnh phu tử lúc này mới nhìn rõ ba người Tô Tần, quan sát phục sức của từng người. Tô Tần không mang quan phục, mà mặc trang phục sĩ tử, sáng sủa tinh tươm. Cáo Tử bận áo nâu, nhưng đã thay áo vạt ngắn của Mặc gia bằng áo bào, trông cũng đĩnh đạc. Duy có Trần Tương, ăn bận theo lối thôn quê, sau lưng còn đeo nón lá, chẳng khác nào mới từ ngoài đồng trở về.

Thấy Mạnh phu tử có ý quan sát, Điền Văn bèn lần lượt giới thiệu, trước hết chỉ vào Cáo Tử: “Vị này là Cáo phu tử, vừa tới Tắc Hạ cũng như phu tử đây, học vấn thâm hậu.” Chỉ vào Trần Tương, “sĩ tử này tên gọi Trần Tương, ngưỡng mộ đại danh của phu tử, từ đất Đằng tìm tới bái kiến!” Lại chỉ vào Tô Tần, cố tình giấu đi thân thế, “vị này là Tô Tử, người Lạc Dương, là bậc cao sĩ bác học!”

Lúc Điền Văn giới thiệu, Mạnh phu tử mỉm cười lắng nghe, lần lượt cúi đầu với từng người, cuối cùng nhìn sang Điền Văn.

“Phu tử học vấn uyên thâm, khai đàn viên mãn, chỉ tiếc thời gian ít ỏi, còn không ít học sĩ muốn trao đổi học vấn cùng phu tử mà không kịp,” Điền Văn chỉ vào ba người, cười nói, “ba vị học sĩ đây đều là bằng hữu của Văn, vừa cùng Văn bàn về học vấn của phu tử, đều có lòng thỉnh giáo. Văn là người nôn nóng, không chờ được đến ngày mai, nên đã dẫn họ tới thẳng đây bái kiến!”

“Kha sống nơi hẻo lánh đã lâu, kiến thức nông cạn, lần này tới Tắc Hạ, là vì muốn thỉnh giáo chư vị học sĩ, chư vị đại gia.” Mạnh phu tử lần lượt vòng tay với ba người, “Kha bất tài, thỉnh cầu chư vị chỉ giáo!”

“Tại hạ Cáo Bất Hại,” thấy ánh mắt Mạnh phu tử dừng lại ở mình, Cáo Tử vòng tay đáp, “chiều nay trước luận đàn, nghe được cao luận của phu tử, vô cùng kính phục, nhất là khi nghe đến câu, thiên hạ đắm chìm, phải cứu bằng đạo, xứng là diệu luận. Tại hạ muốn thỉnh giáo phu tử, thiên hạ vì sao lại đắm chìm?”

“Thiên hạ đắm chìm, là bởi mất đi nhân tính” Mạnh phu tử đáp.

“Theo lời phu tử, nhân tính là gì?”

“Đạo.”

“Theo lời phu tử, đạo là gì?”

“Nhân nghĩa.”

“Nhân nghĩa nhờ đâu mà thành đạo, mà thành nhân tính, Bất Hại ngu muội, xin phu tử giải thích cho.” Cáo Tử nghiêng người lại hỏi.

“Kha cho rằng,” Mạnh phu tử dõng dạc đáp, “con người ta lúc mới sinh ra, bản tính lương thiện, đều có bốn cái tâm, là cái tâm trắc ẩn, cái tâm ghét ác, cái tâm khiêm cung, cái tâm thị phi. Cái tâm trắc ẩn, khởi từ nhân; cái tâm ghét ác, khởi từ nghĩa; cái tâm khiêm cung, khởi từ lễ; cái tâm thị phi, khởi từ trí. Bởi đó, bốn đức nhân nghĩa lễ trí là bản tính mà con người ta sinh ra đã có, tức là nhân tính. Tuy nhiên, từ thời Xuân Thu đến nay, lễ băng nhạc hoại, nhân tính sa đoạ, thiện ác lẫn lộn, người người đều lấy chinh phạt làm vinh, bởi đó nên thiên hạ rối ren loạn lạc.”

“Tại hạ không cho là vậy.” Cáo Tử đáp, “bản tính con người, như cây kỷ liễu; nhân nghĩa, giống như chén bát. Bản tính của con người sinh ra nhân nghĩa, giống như dùng cây kỷ liễu làm chén bát, trước tiên phải dùng sức để mà gò nắn. Bản tính con người lúc mới sinh ra, lợi dục đứng đầu. Đứa trẻ sơ sinh, thấy bất lợi cho mình thì khóc, thấy có lợi cho mình thì vui. Từ đó có thể thấy, người trong thiên hạ, sinh ra đã hiếu lợi, sinh ra đã đa dục. Vì có dục vọng về tai mắt, mới có thanh sắc khuyển mã. Còn như cái tâm nhân nghĩa lễ trí, là do sau này dưỡng thành. Cho nên thánh nhân trị thế, ắt chế ra lễ nghi, đạo đức, phép tắc, khiến nhân tính dần dần quy về giáo hoá, rời xa bản tính.”

“Phu tử sao có thể nói như vậy được?” Mạnh phu tử khí huyết dâng trào, mắt nhìn xoáy vào Cáo Tử, “phu tử thuận theo cái tính của cây kỷ liễu mà chế ra chén bát, hay là ngược lại cái tính của cây kỷ liễu để chế ra chén bát? Sở dĩ cây kỷ liễu có thể chế thành chén bát, là bởi nó có sẵn bản tính để trở thành chén bát. Nếu cây kỷ liễu không có sẵn bản tính này, có thể đem chế thành chén bát được chăng? Nếu như đi ngược lại với bản tính của cây kỷ liễu chế ra chén bát, thì có khác gì đi ngược lại với bản tính nhân nghĩa sinh ra đã có của con người? Khiến người trong thiên hạ đều huỷ hoại nhân nghĩa, chính là những lời lẽ này của phu tử đó!”

Những người có mặt, gồm cả mấy đệ tử Mạnh môn, hiển nhiên không thể ngờ Mạnh phu tử lại kết tội Cáo Tử nghiêm khắc đến vậy, đặc biệt là câu cuối cùng, đúng là chỉ trích thẳng thừng.

“Phu tử bớt giận,” Cáo Tử thoạt tiên sửng sốt, tiếp đến mỉm cười, vòng tay nói, “chúng ta chỉ bàn về việc, thế nào?”

Mạnh phu tử hiển nhiên cũng thấy mình quá lời, cũng mỉm cười, vòng tay đáp lễ: “Kính mong phu tử chỉ giáo!”

“Chúng ta nãy nói tiếp về bản tính,” Cáo Tử vẫn kiên trì, “tại hạ cho rằng, bản tính của con người giống như dòng nước xiết, khơi về đông thì chảy về đông, khơi về tây thì chảy về tây. Bản tính chỉ là bản tính, không thể định là thiện hay không thiện, giống như dòng nước chảy, dẫn đến chỗ thiện thì thiện, dẫn tới chỗ ác thì ác.”

“Được, vậy hãy nói về dòng nước.” Mạnh phu tử tiếp lời, “dòng nước cuồn cuộn, đích xác là không phân biệt đông tây, nhưng lẽ nào cũng không phân biệt cao thấp? Nhân tính là thiện, cũng giống như nước chảy xuống thấp. Người không ai không có tính thiện, như nước không lúc nào không chảy xuống thấp. Như hôm nay, nước bị khuấy động mà phun trào, có thể phun cao quá trán; nếu bị cản đường, dùng sức dẫn dắt, có thể chảy lên tận đỉnh núi. Tuy nhiên, đây có phải là bản tính của nước chăng? Không phải! Là do ngoại lực cưỡng ép. Sở dĩ tính người thành ác, sở dĩ biến thành bất thiện, không phải bởi bản tính thay đổi, mà bởi ngoại lực cưỡng ép!”

Mạnh phu tử lập luận nhường này, khiến Cáo Tử bắt đầu hoang mang, cảm thấy đối thủ dường như đã lạc đề, lại dường như không phải.

“Xem ra,” trầm ngâm hồi lâu, Cáo Tử cười nói, “tại hạ và phu tử khác nhau ở cách lý giải về bản tính. Tại hạ cho rằng, bản tính chỉ là bản tính, không phân thiện hay ác, chỉ có lợi và dục, dẫn dắt tới thiện sẽ thành thiện, dẫn dắt tới ác sẽ thành ác. Phu tử cho rằng bản tính là thiện, bởi ngoại lực ép buộc nên mới thành ác, phải không?”

“Có lẽ là vậy.” Mạnh phu tử đáp, “nhưng Kha muốn hỏi, bản tính là gì?”

“Bẩm tính sinh ra đã có gọi là bản tính.”

“Nếu là vậy,” Mạnh phu tử truy hỏi, “trắng chỉ có nghĩa là trắng phải không?”

“Chính phải”

“Nếu vậy, cái trắng của sợi lông trắng, cũng là cái trắng của tuyết trắng, cái trắng của tuyết trắng, cũng là cái trắng của ngọc trắng, phải không?”

“Phải!”

“Nếu vậy, bản tính của chó cũng là bản tính của trâu, bản tính của trâu cũng là bản tính của người, phải không?”

“Ồ...” Cáo Tử cười gượng một tiếng, nhìn sang Tô Tần.

Tô Tần như thể không nhìn thấy, vẫn hai mắt khép hờ, chuyên chú lắng nghe.

Qua tranh luận, có thể thấy, hai vị phu tử mỗi người một ý, mỗi người một hướng khác nhau. Theo ý Mạnh phu tử, thì việc Cáo Tử cho rằng tính là dục vọng bẩm sinh của con người là không đúng, bởi lẽ ăn ngủ vừa là bản năng của con người, cũng là bản năng của trâu bò, nếu là vậy, thì người và trâu bò có gì khác biệt? Nếu như nhân tính chỉ dừng lại ở tình và dục bản năng, thực quá ư nông cạn. Giống như lông vũ trắng, tuyết trắng, ngọc trắng, tuy đều là “trắng”, song trắng là đặc trưng bên ngoài, chứ không thể coi đó là bản chất của mỗi vật. Nói cách khác, Mạnh phu tử cho rằng, ngoài cái tính dục niệm sinh ra đã có, trong nhân tính còn bao gồm cả cái tính đạo đức, chính nhờ có cái tính đạo đức này, nên con người mới là con người.

Cái tính đạo đức này chính là hai chữ “nhân nghĩa” bẩm sinh mà trước đó Mạnh phu tử đã nhiều lần nhấn mạnh.

Cáo Tử rõ ràng đã có điều thể ngộ, bèn đi thẳng vào đề: “Chuyện ăn uống, nam nữ đều là bản tính. Chữ nhân mà phu tử nói tới, là ở bên trong, không phải bên ngoài; chữ nghĩa mà phu tử nói tới, là ở bên ngoài, không phải bên trong.”

“Vì sao nhân là ở bên trong, nghĩa là ở bên ngoài?” Mạnh phu tử nhìn thẳng vào Cáo Tử.

“Bên trong là tâm sinh, sinh ra từ bên trong, giống như nhân ái; bên ngoài là hiển hiện, xuất hiện ở bên ngoài, giống như hành vi.” Cáo Tử đáp lời, “ví dụ như, tôn kính trưởng giả, là vì trưởng giả nhiều tuổi hơn chúng ta, chứ không phải kính trọng tự đáy lòng. Chúng ta gọi màu trắng là trắng, bởi vì bề ngoài của nó màu trắng, chứ không phải bản chất bên trong của nó màu trắng.”

“Cái trắng của bề ngoài có gì khác so với cái trắng của ngựa trắng? Cái trắng của ngựa trắng có gì khác so với cái trắng của người trắng? Kính trọng một con ngựa già và tôn kính trưởng giả khác nhau ở điểm nào? Là trưởng giả có nghĩa, hay là người tôn kính trưởng giả có nghĩa?” Mạnh phu tử liên tiếp hỏi dồn.

“Thế này vậy,” Cáo Tử tiếp tục giải thích, “nếu đó là em trai ta, ta sẽ yêu; nếu là em trai của người Tần, ta sẽ không yêu. Ta có yêu hay không, điều đó được quyết định ở cái tình trong tâm của ta, cho nên nhân là ở bên trong. Ta tôn kính một trưởng giả người Sở, cũng tôn kính trưởng giả trong nhà ta. Ta có tôn kính hay không, điều đó được quyết định bởi tuổi tác của đối phương, cho nên nghĩa là ở bên ngoài.”

“Vậy thì, thích ăn thịt người Tần nướng và thích ăn thịt tự nướng có gì khác nhau? Nếu theo đó mà suy, vậy thì việc có thích ăn thịt nướng hay không cũng đều là ở bên ngoài hay sao?” Mạnh phu tử lại liên tiếp đưa ra hai câu phản vấn.

Hai câu phản vấn, rõ ràng muốn dịch chuyển luận đề.

Thấy Mạnh phu tử bất chấp lập luận, cố tình bắt bẻ, bác bỏ thẳng thừng, ít nhiều có vẻ cưỡng từ đoạt lý, Cáo Tử chau mày, nhìn sang Tô Tần, thấy Tô Tần vẫn hai mắt khép hờ, dường như đang lắng nghe, cũng dường như chẳng hề nghe.

Cáo Tử chép miệng mấy cái, cười gượng một tiếng, đoạn nhắm mắt lại, không lên tiếng nữa.

Mạnh phu tử cũng không muốn tiếp tục tranh luận với Cáo Tử, bèn đưa mắt nhìn sang Trần Tương.

Trần Tương đang nghiền ngẫm về những lời vấn đáp 'giữa hai cao thủ, không nhận ra Mạnh phu tử đang nhìn mình. Tô Tần ngồi bên kín đáo thúc nhẹ mũi chân vào Trần Tương, đợi Trần Tương nhìn sang thì khẽ hất hàm về phía Mạnh phu tử.

Trần Tương ngẩng lên, thấy Mạnh phu tử đang nhìn mình thì vội vã vòng tay nói: “Vãn sinh Trần Tương, từ lâu đã ngưỡng mộ danh tiếng phu tử, hay tin phu tử tới Đằng, bèn tìm đến bái kiến, nào ngờ phu tử đã quay về đất Trâu. Vãn sinh vội tới đất Trâu, lại hay tin phu tử tới Tắc Hạ. Vãn sinh lại tới Tắc Hạ, cuối cùng cũng được bái kiến phu tử, thực là vạn hạnh!”

Mạnh phu tử bật cười vài tiếng, vòng tay đáp lễ, cất giọng ôn tồn: “Nhọc công Trần Tử rồi!” Đoạn ngả người lại, “Trần Tử không quản nghìn dặm xa xôi tới đây, hẳn là có điều muốn chỉ giáo?”

“Tại hạ... tại hạ... nào dám...” Trần Tương cuống lên, giọng cũng thành ra lắp bắp.

“Ồ, vậy thì xin cứ trò chuyện thoải mái!” Mạnh phu tử bật cười, ngồi thẳng người lại, “Trần Tử sao lại biết tới ta?”

“Tiên sư Trần Lương rất kính phục phu tử, thường xuyên nhắc tới đại danh của phu tử...”

“Ồ, Trần Tử chính là đệ tử của Trần Lương đấy ư, đó chính là bậc đại gia trong Nho môn, ta từng được gặp một lần, về học vấn về kiến văn, ở nước Tống không ai bì kịp!” Mạnh phu tử như chợt nhận ra, chợt nhổm người dậy, “Trần Tử vừa nói là tiên sư, lẽ nào...”

“Tiên sinh đã tạ thế năm năm về trước!” Trần Tương trầm giọng đáp.

“Than ôi, thực đáng tiếc!” Mạnh phu tử khẽ thở dài, rồi nhìn vào tấm áo nâu cánh ngắn trên người Trần Tương, “ồ, Trần Tử đã là đệ tử của Trần Lương, cớ sao không mặc Nho phục?”

“Vãn sinh...” Trần Tương ấp úng, cúi gục đầu, “chuyện là sau khi tiên sinh lìa trần, Tương cùng em trai là Tân không chốn nương thân, nghe nói Đằng Công là hiền quân, thực thi nền chính của thánh nhân, bèn tới đất Đằng, nguyện làm dân Đằng. Đằng quân ban cho điền trạch, đối đãi rất hậu, tiến cử anh em vãn sinh với Hứa Hành người Sở, nói rằng Hứa Tử từ đất Sở tới, sở trường học vấn Thần Nông, giỏi nghề trồng trọt cấy cày. Anh em vãn sinh mới đến bái kiến Hứa Tử, đem lòng kính phục, thế rồi... thế rồi bái Hứa Tử làm thầy, từ đó theo nghề nông canh.”

Phản bội sư môn là khinh thầy vô lễ, là đại nghịch bất đạo, Mạnh phu tử lập tức hoả khí ngùn ngụt, song ngặt vì có mặt học cung lệnh và hai vị khách quý, không tiện nổi xung, gắng gượng nén giận, nhưng giọng nói lạnh lùng thấy rõ: “Tới đây tìm ta, không có việc gì chứ?”

“Có đấy ạ,” Trần Tương khẩn thiết vòng tay, “vãn sinh tới đây, là vì Đằng Quân.”

“Ồ?” Mạnh phu tử hỏi, “Đằng Quân làm sao?”

“Theo vãn sinh thấy, Đằng Quân quả là bậc hiền quân, chỉ tiếc chưa hiểu được đạo trị quốc trị dân của bậc hiền quân. Vãn sinh được biết phu tử thường qua lại chỗ Đằng Quân, lần này tới đây, là muốn thỉnh cầu phu tử khuyên Đằng Quân giúp, để Đằng Quân hiểu rõ đạo này, cùng vui với dân.” Trần Tương thành khẩn nói.

“Nói thử xem, Đằng Quân có chỗ nào không hiền?”

“Bậc hiền quân nên cùng dân cày, cùng dân ăn, tự làm tự hưởng, thế nhưng, Đằng Quân chưa từng cấy hái, mà kho lẫm đầy ăm ắp; chưa từng săn bắn, mà hươu nai treo la liệt, đó là tổn hại dân để nuôi béo cho mình, sao có thể xứng là hiền quân được?”

Trần Tương lặn lội nghìn dặm tới đây, chỉ vì chuyện này, hơn nữa sắc mặt hết mực chân thành, chớ nói là Mạnh phu tử, dù là Tô Tần, Cáo Tử hay Điền Văn cũng lấy làm cảm thán.

Ba người không hẹn mà cùng nhìn sang Mạnh phu tử, xem ông đối đáp thế nào.

Mạnh phu tử ngẫm nghĩ chốc lát, đoạn nghiêng người lại, nhìn thẳng vào Trần Tương: “Trong mắt Trần Tử, ai mới là hiền?”

“Thần Nông thị.” Trần Tương đáp.

“Kha không hỏi cổ nhân!”

“Hứa Hành người Sở.”

“Hay lắm!” Mạnh phu tử hỏi tiếp, “Hứa Tử tự trồng thóc ăn chăng?”

“Đúng vậy.”

“Hứa Tử tự dệt vải tự may áo rồi mới mặc áo chăng?”

“Không. Hứa Tử mặc áo vải.”

“Hứa Tử có mũ chăng?”

“Có.”

“Mũ thế nào?”

“Mũ không nhuộm màu.”

“Áo, mũ của Hứa Tử đều là tự dệt, tự may chăng?”

“Không phải. Là dùng thóc để đổi.”

Mạnh phu tử đã hỏi đúng trọng điểm, lại nghiêng người về trước: “Cớ sao Hứa Tử không tự dệt, tự may?”

“Không làm xuể, Hứa Tử quá bận.” Trần Tương đáp.

“Hứa Tử bận gì?”

“Rất nhiều việc, chủ yếu là nông canh.”

“Hứa Tử dùng nồi, chõ nấu cơm, dùng cày sắt cày ruộng ư?”

“Đúng vậy.”

“Những nồi, chõ, cày ấy đều do Hứa Tử tự làm ra chăng?”

“Không phải. Là dùng thóc để đổi.”

“Dùng thóc đổi lấy đồ dùng, thì không thể nói là làm tổn hại đến thợ gốm, thợ rèn; ngược lại, thợ gốm, thợ rèn mang đồ dùng đổi lấy thóc, lẽ nào cũng là tổn hại tới nông phu? Cớ sao Hứa Tử không tự mình làm ra những đồ gốm, đồ sắt ấy? Cớ sao Hứa Tử không tự làm sẵn những thứ ấy trữ trong nhà để dùng khi cần thiết? Cớ sao Hứa Tử lại đi đổi về từng thứ từ chỗ thợ thuyền? Cớ sao Hứa Tử lại phải phiền hà như vậy?” Mạnh phu tử hỏi dồn một chặp, thế như cầu vồng.

“Các việc thủ công quá phức tạp, con người ta không thể vừa cày cấy vừa làm thợ được.”

“Chính là vậy!” Mạnh phu tử dõng dạc nói, “đã không thể vừa làm thợ vừa cày cấy, lẽ nào lại có thể vừa trị lý thiên hạ vừa cày cấy? Quan có việc của quan, dân có việc của dân. Thời thế ngày nay, làm ra những đồ dùng cần thiết là việc của thợ thuyền, nếu như tất cả mọi thứ đều phải tự làm tự dùng, thì người trong thiên hạ sẽ phải mệt nhoài để đáp ứng! Cho nên mới nói, thời thế ngày nay, trọng ở hợp tác. Hợp tác thì cần phân công, phân công thì có khác biệt, có người phải lao tâm, có người phải lao lực. Người lao tâm sẽ cai quản người lao lực, người lao lực cần có người lao tâm cai quản. Người được cai quản cần nuôi người cai quản, người cai quản đương nhiên có thể tiếp nhận của cải nuôi dưỡng, điều này cả thiên hạ ai ai cũng biết. Giả dụ như thời vua Nghiêu, thiên hạ tắc nghẽn, nước lớn tràn lan, lũ lụt thành hoạ, cây cỏ rậm rạp, ngũ cốc không tốt, cầm thú hại người, dân khó sống yên. Vua Nghiêu lo lắng khôn nguôi, mới cử Thuấn đi trị lý. Thuấn lệnh cho ích đốt lửa thiêu rừng, xua đuổi thú dữ, lệnh cho Vũ khơi thông chín sông, khiến sông Tế, sông Tháp chảy về đông ra biển, khiến sông Nhữ, sông Hán, sông Hoài, sông Tứ hội về sông Giang, từ đó khiến đất Trung Nguyên ấm no sung túc. Khi đó, Vũ bôn ba tám năm bên ngoài, ba lần ngang qua cửa nhà mà không kịp vào, dù muốn làm ruộng, liệu có thể cấy cày chăng?”

“Không... không...” Trần Tương lí nhí đáp.

Mạnh phu tử càng nói càng phấn khích, không đợi Trần Tương dứt câu, lại tiếp tục giáo huấn: “Hậu Tắc dạy dân cấy hái, khiến dân biết trồng ngũ cốc, từ đó trăm họ không còn lo chuyện ăn mặc. Tuy nhiên, ăn no mặc ấm, có nhà để ở, lại không có nghĩa là đã được giáo hoá. Người không được giáo hoá, có khác gì cầm thú? Thánh nhân vì đó mà lo lắng, lệnh cho Tiết làm tư đồ, dạy dân biết đạo nhân luân, khiến cha con có thân, vua tôi có nghĩa, vợ chồng có khác biệt, lớn bé có trật tự, bạn bè có tín. Vua Nghiêu có nói: ‘Thăm hỏi họ, vỗ yên họ, uốn nắn họ, trợ giúp họ, che chở họ, khiến họ được thư thái, khiến họ có đức hạnh.’ Thánh nhân vì dân mà lao nhọc tới mức độ này, còn có thời gian để cấy cày nữa hay chăng?”

Trần Tương cúi gục đầu, lặng im thin thít.

Song Mạnh phu tử vẫn chưa dừng, ánh mắt dịch chuyển khỏi Trần Tương, hướng về phía xa xăm, giọng nói gần như run rẩy: “Mối lo âu của vua Nghiêu, là không có được Thuấn; mối lo âu của vua Thuấn, là không có được Vũ và Cao Dao. Mối lo âu của nông phu, là không cày tốt được trăm mẫu ruộng. Cho người tiền bạc gọi là huệ, dạy người làm việc thiện gọi là trung, tìm kiếm hiền tài cho thiên hạ gọi là nhân. Bởi vậy, tặng thiên hạ cho người thì dễ, tìm hiền tài cho thiên hạ mới khó. Khổng Tử từng nói: ‘Vĩ đại thay vua Nghiêu! Chỉ trời là lớn nhất, chỉ Nghiêu có thể phỏng theo, ơn vua Nghiêu mênh mông, trăm họ khó lòng kể hết. Giỏi giang thay vua Thuấn, ở ngôi cao ngất có cả thiên hạ, nhưng chưa bao giờ muốn chiếm lấy!’ Nghiêu, Thuấn trị lý thiên hạ, lẽ nào không cần lao tâm? Họ còn tâm trí nào để dùng vào việc cấy cày?”

Mạnh phu tử chê trách dồn dập, còn viện đến cả hai vị thánh đế Nghiêu, Thuấn, khiến tất cả những người có mặt một phen choáng váng. Đặc biệt là Trần Tương, vốn tới đây là để thỉnh cầu phu tử, nào ngờ lại khuấy động cơn thịnh nộ của phu tử, dẫn đến một tràng sấm sét phủ đầu, mặt mày xây xẩm.

Song Mạnh phu tử còn chưa nói hết, đòn chí tử vẫn ở phía sau.

“Kha chỉ nghe nói Hoa giáo hoá Man, chứ chưa từng nghe nói Man giáo hoá Hoa.” Mạnh phu tử cao giọng như khiển trách, “Trần Lương vốn là người Sở, lên phía bắc tới Tống, học cái học Hoa Hạ, hiểu được đạo của Chu Công, Trọng Ni, học vấn sâu dày, dù học giả phương bắc cũng hiếm người hơn được. Vậy mà ngươi, cùng với em mình theo thầy hơn chục năm ròng, thầy vừa tạ thế đã quay lưng lại với sư môn, chẳng phải quá đáng lắm ru? Năm xưa Khổng Tử tạ thế, chúng đệ tử để tang ba năm mới thu dọn hành lý, khi bái biệt Tử Cống, không ai không đau buồn ứa lệ. Chúng đệ tử đi rồi, Tử Cống trở lại bên mộ Khổng Tử, lại tiếp tục thủ hiếu thêm ba năm nữa, rồi mới rời đi. Về sau, Tử Hạ, Tử Trương, Tử Du cho rằng Tăng Tử có đức của Khổng Tử, muốn tôn kính Tăng Tử theo lễ với Khổng Tử, Tăng Tử cự tuyệt. Nhưng các ngươi thì sao, tin vào lời lẽ người Man mà phỉ báng đạo thánh hiền tiên vương, phản bội sư môn, theo học người khác, so với Tăng Tử, thật khác một trời một vực! Kha chỉ nghe nói chim dưới khe sâu bay lên cây cao trên đỉnh núi, chứ chưa từng nghe nói bay từ cây cao trên đỉnh núi xuống dưới khe sâu. ‘Lỗ tụng’ có câu: ‘Dẹp yên Nhung Địch, trừng phạt Kinh Thư(1) , đến Chu Công còn muốn trừng phạt nước Sở nam man, mà anh em các ngươi lại ca tụng học vấn của hắn, bái hắn làm thầy, chẳng phải chuyện hoang đường lắm ư?”

(1) Hai câu trong thiên “Lỗ tụng" sách “Kinh Thi”, ca ngợi công lao của Lỗ Hy Công. Nhung, Địch, Kinh, Thư là tên các nước thiểu số xung quanh Hoa Hạ thời Tiên Tần, Nhung, Địch ở phía bắc, Kinh, Thư ở phía nam.

Nói tới đây, mọi người mới vỡ lẽ, Mạnh phu tử nói đi nói lại, mục đích cốt là trách tội khinh sư phản môn, đại nghịch bất đạo của anh em Trần Tương, nhân tiện ca ngợi hai vị thánh đế Nghiêu, Thuấn, tuyên dương mỹ đức của tiên tổ Nho môn Khổng Tử.

Trần Tương là người thực thà, lặn lội nghìn dặm đến tìm hiền nhân, một bầu nhiệt huyết tràn trề, nào ngờ lại nhận về một tràng quở trách nghiêm khắc nhường này, im bặt hồi lâu, mới lí nhí giải thích: “Theo đạo của Hứa Tử, thì buôn bán ở chợ không hai giá, người già trẻ nhỏ không bị dối lừa. Vải vóc định giá theo ngắn dài, tơ đay định giá theo nặng nhẹ, ngũ cốc định giá theo nhiều ít, giày hài định giá theo nhỏ to, thực sự rất công bằng hợp lý!”

“Than ôi,” Mạnh phu tử thở dài, “xem ra ngươi thực sự u mê mất rồi! Cùng một vật phẩm, chất liệu khác nhau, giá cả tự nhiên cũng khác nhau, hoặc hơn kém nhau gấp đôi gấp năm, hoặc hơn kém nhau gấp mười gấp trăm, hoặc hơn kém nhau gấp nghìn gấp vạn. Ngươi lại đánh đồng tất cả với nhau, lẽ nào muốn khuấy loạn thiên hạ? Ví như giày hài, nếu chỉ định giá theo kích thước lớn nhỏ, thì biết đánh đổi ra sao? Liệu còn ai muốn để tâm vào việc làm giày? Nếu theo đạo của Hứa Tử, các ngươi chỉ có thể dẫn dắt người ta đến chỗ hư giả, chứ sao có thể trị lý quốc gia cho được?”

Trước khí thế áp đảo của Mạnh phu tử, Trần Tương bản tính chân chất càng cuống quýt lại càng không biết phải tranh biện thế nào, chỉ cúi gục đầu im bặt.

Mạnh phu tử rõ ràng vẫn chưa tận hứng, hai mắt nhìn trừng trừng vào Trần Tương, đang định thừa thắng truy kích, chợt Tô Tần ho lên một tiếng.

Mọi ánh mắt lập tức đổ dồn vào Tô Tần.

A black and white logo Description automatically generated

TRONG CUNG TUYẾT, TỀ TUYÊN VƯƠNG XÉT HIỀN TÀI TỚI KHANG TRANG, TUNG ƯỚC TRƯỞNG THĂM NÔNG PHU

Từ lúc khai đàn ban chiếu cho tới giờ, Tô Tần vẫn chỉ im lặng lắng nghe.

Vốn dĩ, Tô Tần vô cùng ngưỡng mộ Mạnh phu tử, từ lâu đã muốn tìm gặp vị đại nho đất Trâu đã từng nói câu “dân quý nhất, thứ đến là xã tắc, vua nhẹ nhất”. Lần trước sang Lỗ gặp Trần Chẩn, Tô Tần vốn định rẽ qua đất Trâu, chỉ tiếc chưa kịp thực hiện. Nay nhìn Mạnh phu tử ở ngay trước mắt, Tô Tần phấn chấn không sao kể xiết.

Trong thuật bài hạp, suy đoán làm đầu. Tô Tần sở dĩ im lặng mãi chưa hỏi, là bởi chưa hiểu Mạnh phu tử. Qua luận đàn buổi chiều và cuộc tranh biện vừa nãy, hiện giờ, Tô Tần đã có thể phán đoán được ít nhiều về Mạnh phu tử, trong lòng thấu tỏ, thấy phu tử truy kích Trần Tương tới cùng, không chừa lối thoát, mới chớp lấy thời cơ ho khẽ một tiếng.

Quả nhiên, ánh mắt Mạnh phu tử lập tức chuyển sang Tô Tần

Kỳ thực, Mạnh phu tử sớm đã chú ý tới Tô Tần. Lần này tới Tề, mục đích không phải ở Tắc Hạ, song Mạnh phu tử buộc phải chinh phục Tắc Hạ, thứ nhất, chinh phục được Tắc Hạ tức là chinh phục được học vấn thiên hạ, đây là một trong những chí hướng bình sinh của Mạnh phu tử; thứ hai, Mạnh phu tử sớm đã biết được, nếu muốn có được nước Tề, cần phải qua được cánh cửa Tắc Hạ, do vậy, cuộc chiến Tắc Hạ, nhất thiết phải thắng, đây cũng chính là nguyên do khiến phu tử gặp ai cũng khiêu chiến, cũng tranh biện kịch liệt tới cùng. Cuộc chiến khai đàn mới vừa kết thúc, đã có ba người tới tận cửa khiêu chiến, lại do đích thân học cung lệnh dẫn tới, Mạnh phu tử đương nhiên ý chí sục sôi, gần như toàn thân chuyên chú, sẵn sàng sát phạt. Hai trận hai thắng, liên tiếp trấn áp Cáo Tử và Trần Tương, trước mắt chỉ còn lại một người ngồi ở chiếu dưới, chẳng thể khiến Mạnh phu tử bận tâm, trong ánh mắt thấp thoáng ít nhiều ngạo mạn.

Tô Tần nhận ra vẻ ngạo mạn đó, và nghĩ rằng nhất quyết phải trấn áp sự ngạo mạn này, bằng không, đối phương sẽ nghĩ Tắc Hạ hết người.

Tô Tần vận ra sát khí, ánh mắt kiên định nhìn thẳng vào Mạnh phu tử.

Mạnh phu tử nhận thấy vẻ sắc bén trong ánh mắt đối phương, thoáng kinh ngạc, lập tức dồn tinh tụ lực, đáp lại một luồng nhãn quang sắc bén không kém.

Hai người cùng nhìn nhau chòng chọc.

Bầu không khí phút chốc căng như dây đàn.

Thời gian chậm chạp trôi qua.

Mạnh phu tử dù có định lực, song đâu đã từng được tôi luyện giống như Tô Tần trong Quỷ Cốc, cuối cùng vẫn nhụt thế trước, thu lại ánh mắt, vòng tay nhìn sang Điền Văn: “Vị sĩ tử này là...”

Đây chính là cục diện mà Điền Văn đang trông đợi.

Điền Văn bình thản mỉm cười, khẽ ra hiệu cho Tô Tần.

“Tô Tần người Lạc Dương bái kiến phu tử!” Tô Tần vòng tay đáp lễ.

“Sĩ tử...” Mạnh phu tử thót tim, nhìn sững vào Tô Tần, “chẳng phải chính là... người hợp tung sáu nước đấy ư?”

“Chính là tại hạ!” Tô Tần mỉm cười.

Không chỉ Mạnh phu tử và ba đệ tử trong môn, ngay cả Trần Tương cũng trợn mắt há miệng, sửng sốt nhìn sang Tô Tần, không thể tin nổi con người trước mặt kia lại chính là tướng quốc sáu nước danh tiếng lẫy lừng thiên hạ.

Mạnh phu tử hít ngược một hơi khí lạnh, đưa mắt nhìn mũ áo của Tô Tần, hồi lâu sau, vẻ ngạo mạn mới từ từ quay lại, khẽ vòng tay, cất giọng hờ hững: “Mạnh Kha người Trâu bái kiến Tô đại nhân!”

“Đại danh của phu tử, Tô Tần được nghe đã lâu, nay mới gặp mặt, vô cùng vinh hạnh!” Tô Tần ngữ điệu ôn hoà, vòng tay nói.

“Tô đại nhân thân kiêm sáu tướng, ngày lo trăm việc, là người bận rộn vô cùng, tối nay lại cải trang tới cửa, hẳn muốn chỉ giáo, Kha xin rửa tai lắng nghe!” Mạnh phu tử nói đoạn, bắc hai tay lên tai, xoa vài cái thật mạnh, làm bộ rửa tai rất khoa trương.

“Phu tử quá lời!” Tô Tần cười điềm đạm, “tại hạ hôm nay tìm tới cửa là muốn cầu giáo, hơn nữa cũng không hề cải trang!”

“Mưu sĩ tung hoành chư vị, xưa nay có hay nói dối?” Mạnh phu tử ra đòn khiêu chiến, mắt nhìn xoáy vào Tô Tần, khí thế hừng hực.

“Tại hạ chỉ ưa nói lý, không ưa nói dối.” Tô Tần lại cười đáp.

“Dám hỏi đại nhân,” Mạnh phu tử ngả người lại, hai mắt như đuốc, “xưa nay vẫn mặc mũ áo này?”

“Nếu là mũ áo, tại hạ còn vài bộ nữa.”

Mạnh phu tử đắc ý bật cười vài tiếng, gập ngón tay khẽ nhịp xuống án, “hẳn là mũ áo tướng quốc của sáu nước?”

“Tại hạ chưa từng có mũ áo tướng quốc của sáu nước.”

“Chưa từng có? Dám hỏi đại nhân, khi vào triều mang mũ áo gì?” Mạnh phu tử nhìn Tô Tần chòng chọc.

“Vào triều nước Tề, mang mũ áo của người Tề. Vào triều nước Sở, mang mũ áo của người Sở. Gần đầy không vào triều, nên mang mũ áo này.”

Mạnh phu tử đảo mắt một vòng, cười dài mấy tiếng, cất giọng giễu cợt: “Phải rồi, phải rồi, mưu sĩ tung hoành chư vị ăn cơm bách gia, nên áo mặc đương nhiên cũng phải của bách gia.”

Nói vậy khác nào Công nhiên phỉ báng mưu sĩ tung hoành là phường ăn mày danh lợi ăn cơm của trăm nhà.

Tô Tần thu thần, nhìn chăm chú vào Mạnh phu tử: “Vậy lẽ nào phu tử không ăn cơm của bách gia ư?”

Mạnh phu tử nộ hoả ngùn ngụt, đưa tay chỉ vào Tô Tần: “Đám mưu sĩ tung hoành các người sao dám so sánh với Mạnh Kha ta?”

Tô Tần khẽ cười, ôm quyền nói: “Dám hỏi phu tử, mưu sĩ tung hoành thì sao? Mưu sĩ tung hoành có chỗ nào không sánh bằng phu tử?”

“Mưu sĩ tung hoành, sớm Tần tối Sở, tráo trở lật lọng, khác nào kỹ nữ, để mua vui cho khách làng chơi, khi nhạt phấn, lúc đậm son, gặp người nói tiếng người, gặp ma nói tiếng ma, chuyên bày thuật âm trá, nhờ tài xảo biện để mưu quan cầu danh, sao có thể sánh với Mạnh Kha ta được?” Mạnh phu tử khác nào buông lời thoá mạ.

Tô Tần chặc lưỡi vài cái rồi nói: “Có một người thế này, mở miệng là nói về đạo lớn, làm gì cũng nhắc đến tam thánh, thế mà, gặp việc thì không nghĩ ra được một cách, lập nghiệp thì không dùng nổi một thuật, tòng chính thì không mạnh nổi một nước, trị dân thì không giàu nổi một góc, gặp người nói tiếng ma, gặp ma nói tiếng người, đó là loại người gì vậy?”

“Ông... ông đang,” Mạnh phu tử chỉ tay vào Tô Tần, toàn thân run rẩy, giọng nói cũng trở nên lắp bắp, “ông đang chỉ ai?”

Tô Tần bật cười vài tiếng: “Cho dù là ai, cũng không phải là mưu sĩ tung hoành! Mưu sĩ tung hoành, giống như phu tử vừa nói, gặp người chỉ nói tiếng người, gặp ma chỉ nói tiếng ma!”

“Hay lắm,” Mạnh phu tử đã bình tĩnh trở lại, hiểu rằng đã gặp phải đối thủ thực thụ, vả lại bản thân quá đáng trước, chịu sỉ nhục cũng là lẽ đương nhiên, bèn sửa áo ngồi nghiêm, lấy lùi để tiến, “thiên hạ ngày nay, gian tà lên ngôi, tung hoành ngang ngược, Kha thu lại lời đã nói!”

“Dám hỏi phu tử,” Tô Tần thu lại nụ cười, ánh mắt như kiếm, nhìn thẳng vào Mạnh phu tử, “thế nào là gian tà?”

“Gian tà chính là trắng đen tráo trở, hại nước hại dân!” “Lại hỏi phu tử, lấy gì để phân biệt một người có phải là gian tà?”

“Không thi hành đạo lớn nhân nghĩa, đều là gian tà!” Mạnh phu tử nói như chém đinh chặt sắt.

“Thế nào là đạo lớn nhân nghĩa?” Tô Tần lại dấn tới.

“Chính là nghĩ cho muôn dân thiên hạ, đề xướng vương đạo, chấn hưng vương nghiệp, dẹp yên chiến loạn, khiến thiên hạ cùng theo về đạo đại đồng!” Mạnh phu tử dõng dạc đáp.

“Xin hỏi phu tử,” Tô Tần vỗ tay, lại ngả người về trước, nhìn chằm chằm vào Mạnh phu tử, “nay có một người, không thi hành vương đạo, chuyên làm chuyện gian tà, chưa từng nghĩ cho muôn dân thiên hạ, chinh chiến triền miên, hại nước hại dân, nếu như phu tử nắm quyền chính, sẽ làm thế nào?”

“Diệt!”

“Diệt thế nào?”

“Dấy quân chính nghĩa để tiêu diệt.”

“Nếu như đối phương quân mạnh ngựa khoẻ, lính không sợ chết, phu tử sẽ làm thế nào?”

“Kẻ không thi hành vương đạo sẽ thất đạo, thất đạo thì ít được trợ giúp, sao có chuyện lính không sợ chết?”

“Lính không dám sợ chết!”

“Ồ... vì lẽ gì mà lính không dám sợ chết?”

“Bởi vì người đó chế ra hình phạt hà khắc, nếu ai sợ chết, không chỉ cả nhà mất mạng, mà còn tru di cửu tộc!”

“Ồ... ông đang chỉ nước Tần ư?”

“Còn nữa, nếu người đó dùng quyền uy hình phạt hà khắc để bức ép trăm họ, xua dân đen cả nước ra sa trường, đối kháng với đạo quân chính nghĩa của phu tử là người già, trẻ nhỏ, đàn bà, là người neo đơn cô quả, phu tử cũng sẽ xuống tay tiêu diệt?”

“Chuyện đó... là không thể!”

“Nếu có thể thì sao?”

“Tại hạ...” Mạnh phu tử bắt đầu ấp úng.

“Đây chính là thiên hạ ngày nay!” Tô Tần nhìn thẳng vào Mạnh phu tử, giọng trầm nặng, “nếu phu tử không tin, hãy tới nước Tần một chuyến. Nếu phu tử có hứng thú, tại hạ mách cho phu tử một cuốn sách, thiên hạ là gì, phu tử đọc rồi, tự khắc sẽ biết!”

“Là sách gì kia?”

“Do quyền thần Thương Quân của nước Tần viết ra, gọi là ‘Thương Quân thư’.”

“Sách này ở đâu?”

“Nếu phu tử có hứng, tại hạ có thể tìm giúp.”

“Xin hỏi đại nhân,” Mạnh phu tử chợt nhận ra đã lạc đề, vô thức bị đối phương dắt mũi đi mất, vội vòng trở lại với chủ đề vừa nãy, “chuyện này thì liên quan gì với mưu sĩ tung hoành?”

“Làm thế nào để ngăn cản bạo Tần hại nước hại dân, chính là việc mà đám mưu sĩ tung hoành tại hạ đang dốc hết sức mình!” Tô Tần lời lời như tạc, “phu tử chưa hỏi rõ trắng đen phải trái, đã coi mưu sĩ tung hoành tại hạ là kỹ nữ thất tiết, như vậy là đã đánh mất đại nghĩa khoan dung của Nho gia. Vả lại, dù có là kỹ nữ, cũng không có chỗ nào đáng chịu sỉ nhục. Theo Tần được biết, vào thời tam thánh, thiên hạ đã có xương kỹ. Sở dĩ tam thánh vẫn để yên cho kỹ nữ, là bởi kỹ nữ, dù xét về người hay việc, không gì không hợp với đề xướng của tam thánh. Những gì tam thánh đề xướng, không ngoài năm chữ nhân nghĩa lễ trí tín. Đàn ông không vợ goá vợ khổ sở vì dục, kỹ nữ an ủi, là nhân. Không thích vẫn tiếp, khuất mình mua vui, kỹ nữ làm vậy, là nghĩa. Đến đón về tiễn, quy củ phép tắc, kỹ nữ tuân theo, là lễ. Hiểu phong Nguyệt, thạo cầm sắt, thông thi thư, kỹ nữ phải biết, là trí. Lấy tiền của người, dốc lòng với việc, người muốn nhạt phấn thì mình nhạt phấn, người muốn đậm son thì mình đậm son, kỹ nữ làm vậy, là tín.”

Tô Tần một câu một kỹ nữ, một chữ một đạo thánh hiền, bao nhiêu tội tình mà Mạnh phu tử vừa quy kết, loáng cái đã trở tay đổ hết xuống đầu Nho môn, Mạnh phu tử nghe mà sượng sùng đến đỏ mặt tía tai, mà không phản bác nổi một câu, thực sự bị dồn đến đường cụt.

Điền Văn càng nghe càng sảng khoái, nhịn không nổi mà vỗ tay liền mấy cái.

“Ồ, phải rồi,” Tô Tần như sực nhớ ra điều gì, lại vòng tay nói, “tại hạ tới đây, không phải để biện luận ngắn dài cùng phu tử, mà bởi trong lòng có một khúc mắc đã lâu, khẩn cầu phu tử giải thích giúp cho.”

Lời này của Tô Tần, rõ ràng có ý muốn giải vây cho Mạnh phu tử.

Mạnh phu tử vốn cậy tài khinh người, lần đầu tiên lĩnh giáo bản lĩnh của Tung hoành gia, hít sâu một hơi, thừa thế xuống thang, vòng tay mà nói: “Mạnh Kha bất tài, muốn nghe khúc mắc của đại nhân.”

“Công tư tư công.” Tô Tần nói ra câu cuối cùng trong lời kệ của Quỷ Cốc Tử.

“Công tư tư công?” Mạnh phu tử khép mắt, trầm ngâm nghĩ ngợi hồi lâu, rồi ngẩng đầu nhìn Tô Tần, “Mạnh Kha bất tài, muốn nghe cao luận của đại nhân.”

Tô Tần cười gượng, vòng tay nói: “Tại hạ nếu đã biết, đâu dám đến cửa cầu phu tử.” Dừng lại một chốc, cất giọng thành khẩn, “không giấu phu tử, thiên hạ lễ băng nhạc hoại, thất đạo đã lâu, tại hạ bất tài, suốt mấy năm qua vẫn khổ sở tìm lối thoát. Sư phụ Quỷ Cốc tiên sinh chỉ cho hai đường, một là liệt quốc cùng trị, một là thiên hạ nhất thống, tại hạ cho là phải, lúc mới hạ sơn, lập tức thực thi sách lược nhất thống. Sau khi đến Tần, mới đổi ý, đi theo con đường liệt quốc cùng trị, bắt đầu hợp tung liệt quốc Sơn Đông, dần dà cho đến nay. Tuy nhiên, con đường hợp tung lại không hề bằng phẳng, chư hầu đều có lòng riêng, khó mà hoà hợp, tại hạ khổ sở vô cùng, mới thỉnh cầu cao nhân chỉ điểm, bốn chữ vừa rồi, chính là cao nhân ban tặng. Tại hạ vắt óc suy ngẫm đã lâu, vẫn chưa hiểu được, biết phu tử học vấn uyên thâm, mới đăng môn thỉnh giáo, mong phu tử chớ tiếc lời chỉ dạy!”

Thấy Tô Tần quả thực có điều nghi hoặc, lại rất thành khẩn, không phải cậy quý, cậy tài mà hỏi, Mạnh phu tử thở phào một tiếng, khép mắt suy nghĩ, chốc sau, ngẩng đầu nhìn Tô Tần: “Khúc mắc của đại nhân, chỉ có thể giải thích bằng một chữ.”

“Dám hỏi là chữ gì?” Tô Tần tinh thần phấn chấn, ngả người lại hỏi.

“Nhân!” Mạnh phu tử giọng chắc nịch.

“Tại hạ ngu muội, xin phu tử nói rõ!” Tô Tần hít vào một hơi, ngồi thẳng người dậy.

“Có thể cho đại nhân bốn chữ này, quả là cao nhân!” Mạnh phu tử dõng dạc cất lời, “thiên hạ hỗn loạn, lễ băng nhạc hoại, đạo để thay đổi, duy có đại đồng. Thực thi cái đạo thiên hạ đại đồng, duy có một đường, chính là thiên hạ nhất thống. Làm thế nào để nhất thống? Tiên sư Khổng Tử sớm đã đưa ra một chữ, nhân! Nhân tâm vốn thiện, thế dục lại ác, tư dục tràn lan, bành trướng thành hoạ. Làm thế nào để ức chế ‘tư’? Duy có chữ ‘công’. Hãy nhìn vào thứ tự bốn chữ của cao nhân, là ‘công tư tư công’, bên ngoài là hai chữ ‘công’, bên trong là hai chữ ‘tư’, mà thế đạo hiện nay, vừa hay ngược lại, là ‘tư công công tư’, công tâm quy ẩn, tư dục tràn lan. Cao nhân đã chỉ, là ‘công tư tư công’, tức ẩn đi tư dục bên trong công tâm. ‘Công’ chính là ‘đồng’, ‘đồng’ thì sẽ ‘công’, ‘đại công’ cũng tức ‘đại đồng’. Chỉ khi cái dục ‘tư tư’ được bao bọc bên trong cái tâm ‘công công’, thiên hạ mới có thể thực thi được đạo đại đồng!”

Mạnh phu tử giải thích hợp tình hợp lý, lại độc đáo mới mẻ. Đám Vạn Chương lấy làm thán phục, nhìn nhau gật gù, trên mặt lúc này mới thấy nét cười.

“Đa tạ cao giải của phu tử!” Tô Tần vòng tay, “không còn sớm nữa, phu tử đã lao tâm cả ngày, cũng nên nghỉ ngơi. Hôm khác tại hạ sẽ lại tới bái kiến, để cầu giáo phu tử!” Đoạn đứng dậy trước tiên.

Đám Điền Văn cũng đứng dậy cáo từ.

Mạnh phu tử tiễn ra ngoài cửa, vòng tay từ biệt.

Nhìn theo bóng Tô Tần, trên mặt Mạnh phu tử bỗng hiện lên một vẻ mông lung xưa nay chưa từng thấy. Trong khi ba đệ tử ai nấy đều vui mừng hớn hở, nhất là Công Đô Tử, không kìm nổi niềm hưng phấn trong lòng, quay sang nói với Công Tôn Sửu: “Chao ơi, quả thực là không thể ngờ, té ra người kia chính là tướng quốc sáu nước Tô Tần!”

“Phải đấy,” Công Tôn Sửu đáp, “thoạt tiên tại hạ cứ ngỡ chỉ là sĩ tử, sau lại nghĩ có thể đi cùng học cung lệnh, ắt là tiên sinh, thực không ngờ lại là...”

Công Đô Tử nhìn sang Mạnh phu tử, cất giọng thán phục: “Càng không ngờ nữa, tướng quốc sáu nước mà vẫn có điều ngờ vực không hiểu, phải tới thỉnh giáo phu tử nhà ta, lời giải thích của phu tử, chỉ có thể nói một từ, tuyệt diệu. Hôm nay, Công Đô này coi như đã thực sự hiểu rõ thế nào là nhân!”

Trần Tương vừa chân ướt chân ráo tới Tắc Hạ, chưa có chỗ ở, Điền Văn liền sắp xếp cho nghỉ trong khách xá.

Sáng hôm sau, Trần Tương tìm tới trạch phủ của Tô Tần từ rất sớm, lấy làm cảm kích mà nói: “Tô đại nhân, tại hạ suốt đêm qua mất ngủ, suy nghĩ mãi về lời nói của Mạnh phu tử, cứ cảm thấy lời giải thích của phu tử không đúng, không phải là điều Tô đại nhân muốn nghe.”

“Ồ?” Tô Tần nhìn Trần Tương chăm chăm, “cớ sao Trần Tử biết là không đúng?”

“Tại hạ... tại hạ không biết.”

“Vậy thì...” Tô Tần dừng lại một chốc, “theo ý của Trần Tử, nên giải thích thế nào?”

“Tại hạ cũng không biết, nhưng có một người, chắc chắn có biết.”

“Là ai?”

“Sư phụ của tại hạ, Hứa Hành!”

“Chẳng phải ông ấy đang ở đất Đằng ư?”

“Đúng vậy, không phải quá xa,” Trần Tương chỉ về một hướng, “tại hạ đi bộ, mất chín ngày, nếu như đi xe ngựa, cùng lắm năm ngày là tới!”

“Sao Trần Tử biết lệnh sư chắc chắn có biết?” Tô Tần tò mò hỏi.

“Thầy của tại hạ,” Trần Tương sắc mặt đầy sùng kính, “không chỉ thạo canh nông, mà còn ngày ngày đọc sách, không chỉ nghĩ đến bản thân mình, mà còn nghĩ tới bách tính thiên hạ, thầy là người quan tâm tới nỗi thống khổ của bách tính nhất đời, thầy chỉ mong tất cả mọi người trong thiên hạ có được sống công bằng, ăn no mặc ấm, già trẻ không bị ức hiếp. Thầy sống cuộc đời giống như Nghiêu Thuấn, tại hạ không biết phải kể thế nào, chỉ muốn mời đại nhân tới đất Đằng một chuyến để gặp thầy, tin chắc đại nhân sẽ không thấy uổng công.”

Vừa nghe hai chữ “công bằng”, Tô Tần đã động lòng, ngẫm nghĩ chốc lát, gật đầu đồng ý: “Được, tại hạ nhận lời Trần Tử. Sớm mai gà gáy lên đường, thế nào?”

Trần Tương cảm kích ứa nước mắt, gật đầu lia lịa.

Đã mấy tháng trôi qua, Tuyên Vương vẫn chưa nguôi đau buồn bởi tiên vương tạ thế. Uy Vương là rường cột của nước Tề, cũng là chỗ dựa của Tích Cương, cho dù đã lâm trọng bệnh.

Nhưng giờ thì, mọi thứ đều đã thành quá khứ. Trên tới quốc gia, dưới tới cung thất, mọi gánh nặng đều đè thẳng xuống vai, khiến Tích Cương áp lực nặng nề. Sau khi Điền Kỵ bỏ đi, Trâu Kỵ từ chức, áp lực này thình lình tăng vọt, đè trĩu xuống khiến Tích Cương gần như ngộp thở. Điền Kỵ, Trâu Kỵ trị Tề nhiều năm, mỗi người đều có thế lực riêng. Hai bên tranh đấu, thế lực hai bên đều ỷ vào chủ, nước lửa khó dung hoà, thình lình đều mất đi chúa công, toàn bộ rệu rã, quan viên cả hai bên đều hoang mang hốt hoảng, triều đình ngưng trệ, không ai buồn nói năng, không ai muốn làm việc.

May sao vẫn còn người em trai khác mẹ Điền Anh. Điền Anh là người vụ thực, giữ chức thượng đại phu đã hơn chục năm. Thượng đại phu trên danh nghĩa cai quản toàn bộ đại phu, là cánh tay của phủ tướng quốc, ở nước khác thường là chức hữu danh vô thực, nhưng vào tay vương thân Điền Anh, lại thành hữu thực, dần hình thành thế lực trong triều. Sau khi ép Trâu Kỵ bỏ đi, Điền Anh thừa cơ thay mới đổi cũ, lần lượt đưa người của mình vào các chức vị trọng yếu. Qua vài tháng chỉnh đốn, quan viên đổi mới suốt lượt, Tuyên Vương vừa xuống chỉ, Điền Anh lặp tức thực thi, triều chính coi như bước đầu ổn định.

Song Tuyên Vương vẫn chưa thể kê cao gối ngủ. Mối âu lo của Tuyên Vương là ở bên ngoài.

Đối với bang quốc, đối ngoại có hai, một là bang giao, hai là dụng binh. Vào thời Uy Vương, bang giao có ngoại tướng Tô Tần, dụng binh có quân sư Tôn Tẫn, nhưng hai người này, chỉ trong chốc lát, một người bỏ đi, một người theo tìm, khiến Tuyên Vương lo lắng không yên.

Tuyên Vương không dám tưởng tượng một ngày nước Tề không có Tô Tần và Tôn Tẫn.

Đúng vào lúc này, Mạnh phu tử từ nước Trâu tìm tới, vừa đăng đàn đã liên tiếp đánh bại những tiên sinh giỏi hùng biện nhất Tắc Hạ là Công Tôn Long, Biền miệng trời, Diễn luận trời, chỉ trong một ngày đã trở thành nhân vật lừng lẫy nhất học cung.

Sáng hôm sau, vừa nghe Điền Văn và Thuần Vu Khôn tấu báo chuyện Mạnh phu tử khai đàn biện luận và từ chối tước vị tiên sinh, Tuyên Vương liền nheo mắt lại, nửa như tự nhủ, nửa như nói với hai người: “Chí không ở tiên sinh, thì tới Tắc Hạ làm gì?”

“Chí của người này, có lẽ ở triều đường!” Điền Văn tiếp lời.

“Theo ý tiên sinh,” Tuyên Vương trong lòng chấn động, quay sang Thuần Vu Khôn, “vị phu tử này quả thực có tài trị thiên hạ?”

“Thân là tế tửu, Khôn chỉ có thể phán đoán về tài trị học, còn về tài trị thiên hạ, đại vương hãy hỏi Tô Tử!” Thuần Vu Khôn vòng tay thoái thác.

“Tô Tử?” Tuyên Vương khẽ thở dài, “nhưng Tô Tử không có ở đây, nghe nói đã đi tìm Tôn Tẫn mất rồi.”

“Hồi bẩm đại vương,” Điền Văn vòng tay, “Tô Tử đã trở về rồi.”

“Ồ?” Tuyên Vương mừng rỡ, “chuyện lớn thế này, cớ sao không bẩm báo?”

Điền Văn đứng dậy, khấu đầu đáp: “Thần biết tội! Tô Tử đã về từ mấy hôm trước, vào lúc nửa đêm, không ai trong Tắc Hạ hay biết. Vài hôm sau đó, Tô Tử đóng chặt cửa không ra ngoài, hôm qua Mạnh phu tử khai đàn, Tô Tử mới hiện diện, song ăn vận bình thường, ngồi trong góc khuất, thần cũng không biết. Đến khi đóng luận đàn, mới có người báo lên chỗ thần, nói rằng trông thấy Tô Tử. Thần lập tức tới phủ đệ của Tô Tử, mời đi cùng tới bái kiến Mạnh phu tử. Gặp xong trở về đã là đêm muộn, nên thần chưa kịp tấu báo!”

“Hãy mau mời Tô Tử!” Tuyên Vương quay sang nội thần, “còn nữa, mời cả tướng quốc tới đây!”

Nửa canh giờ sau, Tô Tần, Điền Anh cùng vào yết kiến.

Tuyên Vương tháo hài, ra tận ngoài cửa điện nghênh đón, không để Tô Tần dập đầu, dắt tay dẫn vào trong điện, bắt Tô Tần ngồi xuống chiếu đầu bên cạnh, rồi mới ngồi xuống chiếu chủ.

“Tô ái khanh,” Tuyên Vương trong lòng nôn nóng, lên tiếng hỏi liền, “hẳn là ái khanh đã đưa được Tôn ái khanh trở về?”

Tô Tần lắc đầu.

Tuyên Vương hít vào một hơi, nhìn sững vào Tô Tần: “Vậy Tôn ái khanh... đã đi đâu rồi?”

Tô Tần bèn tâu lại đầu đuôi chuyện Tôn Tẫn ra biển và mình theo đuổi tìm kiếm, Tuyên Vương và chư thần có mặt nghe chuyện, ai cũng trợn mắt sửng sốt, chỉ có Thuần Vu Khôn lắc lư đầu trọc, miệng kêu “cha chả” không ngớt.

Tuyên Vương nhìn sang Thuần Vu Khôn.

Thuần Vu Khôn cười tít mắt, đưa tay vuốt râu: “Phu phụ nhà này thật ngốc nghếch, đã mắc lừa Khôn rồi.”

“Mắc lừa tiên sinh gì kia?” Tuyên Vương nôn nóng hỏi.

“Năm xưa Khôn đi cướp Tôn Tử về, đã thêu dệt ra chuyện công tử Hư để lừa Mai công chúa. Vì muốn chữa khỏi bệnh điên cho Tôn Tử, Mai công chúa đồng ý gả cho công tử Hư. Nay Tôn Tử ra biển, hẳn là do Mai công chúa đã quá tin vào câu chuyện thêu dệt đó!”

Tuyên Vương than thở một hồi, rồi quay sang Tô Tần: “Cảm tạ trời cao, dù sao cũng đã đưa Tô ái khanh về bên quả nhân! Nếu Tô ái khanh cũng ra biển cùng Tôn Tử nốt, thì quả nhân từ nay không thể ngủ yên!”

“Đại vương không thể ngủ yên, hẳn là vì kế sách lâu dài của nước Tề!” Tô Tần đáp.

“Chính phải” Tuyên Vương ngả người về trước, “xin ái khanh chỉ giáo cho quả nhân!”

“Kế sách lâu dài của nước Tề, không có gì khác, duy chỉ giữ được hợp tung!” Tô Tần nhìn thẳng vào Tuyên Vương, “trong vòng ba mươi năm tới, Tam Tấn không phải kẻ địch của Tề, Sở, Yên cũng không phải kẻ địch của Tề, đại địch của Tề, duy một nước Tần!”

“Tô ái khanh, ái khanh thử nghĩ xem, ngoài hợp tung ra, còn có kế sách lâu dài nào khác nữa chăng?” Tuyên Vương ngồi thẳng người dậy.

“Không còn!” Giọng Tô Tần như đinh đóng cột.

“Nhưng nước Tần ở tận phía tây Hà Thuỷ, cách ta nghìn núi muôn sông.” Tuyên Vương khẽ chau mày.

“Đại vương,” Tô Tần đã nhìn thấy cái chau mày của Tuyên Vương, dừng lại chốc lát, cất giọng chậm rãi, “theo Tần được biết, có tâm lại có cả lực thôn tính thiên hạ, duy có nước Tần! Tần thực thi pháp của Thương Quân, cả nước cày ruộng chiến đấu, hễ có chiến sự, nam phụ lão ấu thảy đều cầm vũ khí quyết tử, liệt quốc không ai địch nổi!”

“Quả nhân biết,” Tuyên Vương trầm ngâm một chốc, đổi sang chuyện khác, “nghe nói ái khanh cùng Mạnh phu tử người Trâu trò chuyện khá lâu, theo ái khanh, tài của phu tử thế nào?”

“Tài có nhiều loại, phu tử đa tài, đại vương muốn dùng tài nào của phu tử?” Tô Tần hỏi ngược lại.

“Ồ...” Tuyên Vương ngập ngừng một lát, “chính là tài mà quả nhân cần!”

“Nếu là như vậy, đại vương tốt nhất hãy triệu kiến phu tử, chọn lấy tài của phu tử để dùng vào chỗ đại vương cần!”

“Ái khanh nói phải lắm!” Tuyên Vương quay sang nội thần, “truyền chỉ, mời Mạnh Kha người Trâu ngày mai vào triều yết kiến!”

“Nếu muốn mời phu tử, đại vương nên đích thân đi mời mới được!” Tô Tần nói tiếp.

“Ồ?” Tuyên Vương thoáng trầm ngâm, rồi quay sang nội thần, “đổi chỉ, quả nhân vốn định đích thân cầu giáo, ngặt vì sợ lạnh sợ gió, không thể xuất cung, kính thỉnh phu tử giờ Thìn ngày mai vào cung yết kiến!”

Tô Tần, Thuần Vu Tử, Điền Văn lui ra, chỉ còn Điền Anh ở lại.

“Tướng quốc phải chăng có lời muốn nói?” Tuyên Vương nhìn Điền Anh, cười hỏi.

“Hồi tấu vương huynh,” Điền Anh nghiêm trang đáp, “lời của Tô Tử, có thể nghe, có thể không nghe!”

“Ồ?”

“Hợp tung do Tô Tử khởi xướng, Tô Tử kiên trì sách lược này, có thể hiểu được. Có điều, thần đệ cho rằng, hợp tung với Tề vừa có lợi, cũng vừa có hại, trước mắt thì có lợi, về lâu dài thì có hại, nhìn về tổng thể, lợi ít hại nhiều, lợi nhỏ hại lớn.”

“Hãy nói rõ hơn.”

“Cái gọi là lợi, chính là sáu nước hợp tung. Nước Tề phía đông là biển, nếu Tề, Sở không giao tranh, Tam Tấn và Yên đều không đáng sợ, dân Tề sẽ được nghỉ ngơi, vương huynh có thể kê cao gối ngủ. Tuy nhiên, vương huynh nếu có viễn kiến, nếu muốn lập nên công nghiệp, mở mang bờ cõi, e rằng sẽ bị ước thúc.” Điền Anh cố tình nhấn mạnh vào mấy chữ “mở mang bờ cõi”.

Tuyên Vương tên thật là Tích Cương, Tích là mở mang, Cương là cương thổ, cái tên này cũng đã tỏ được chí của Tuyên Vương. Tuyên Vương lại đặt tên cho thái tử là Địa, vốn cũng mang hàm nghĩa “mở đất”. Điền Anh nói ra bốn chữ này, khiến Tuyên Vương một bầu hào khí sôi nổi dâng trào.

“Không thực thi tung thân, hiền đệ hẳn có kế lâu dài khác?” Tuyên Vương ngả người lại hỏi.

“Kế của thần đệ, đó là ngoài tung, trong không tung, ngoại tung, nội không tung. Bên trong, vương huynh hãy dốc sức trị lý, hưng gốc vụ thực, mở mang cái lợi cá muối nông tang. Bên ngoài, vương huynh ngoài mặt vẫn nêu cao hợp tung theo lời Tô Tử, song kỳ thực là tranh giành thực lợi, xuống nam tranh Sở, lên bắc tranh Yên, còn như Tam Tấn, cứ để mặc cho người Tần cướp đoạt.” Điền Anh thao thao diễn giải phương sách trị Tề.

“Hưng gốc vụ thực thế nào?” Tuyên Vương hỏi.

“Theo kế sách của Trâu Kỵ, bắt đầu từ khuyến nông. Kho lương đầy ắp, quốc khố dồi dào, dân không còn đói, lòng vua yên ổn.”

“Khuyến nông thế nào?” Tuyên Vương lấy làm hào hứng.

“Tiên vương nuôi ngựa chống Ngụy, chiếm mất quá nhiều ruộng cày. Nay Bàng Quyên đã chết, thế Ngụy không còn như xưa, vương huynh có thể dừng việc cả nước đua ngựa, hạ lệnh cho toàn bộ bãi ngựa trả lại làm đất nông tang.”

Tích Cương trầm ngâm chốc lát, quay sang nội thần: “Y theo lời tướng quốc, soạn chỉ.”

Giờ Ngọ hôm nay, một cỗ xe nhẹ chạy thẳng tới dịch quán Tắc Hạ, đỗ lại trước phòng của Mạnh phu tử.

Nghe nói là sứ thần của nhà vua, Mạnh phu tử bèn dẫn toàn bộ đệ tử ra nghênh đón.

Nội thần xuống xe, hành lễ xong xuôi, bèn tuyên khẩu dụ của Tuyên Vương: “Mạnh phu tử là bậc đại hiền tài, hạ cố đến nơi hẻo lánh, thực vinh hạnh cho quả nhân. Quả nhân vốn định đích thân tới bái kiến, ngặt vì thân mắc chứng hàn, không thể ra gió. Buổi chầu sớm mai, quả nhân khẩn thiết mong được lắng nghe phu tử giáo huấn tại triều đường, cung kính thỉnh cầu phu tử quang lâm chỉ dạy!”

Mạnh phu tử hầu như không buồn nghĩ ngợi, vòng tay đáp liền: “Thường dân đất Trâu tạ ơn Tề Vương hậu ái! Kha nhờ sứ thần về bẩm lên đại vương, Kha cũng có bệnh, sợ ra gió, ngày mai không thể vào triều, Kha lấy làm hổ thẹn!”

Nội thần truyền chỉ sững sờ chốc lát, lại nhìn kỹ sắc mặt Mạnh phu tử, rồi khom lưng trở lên xe.

Sáng hôm sau, khi mặt trời lên đầu ngọn cây, Công Đô Tử dẫn Nhạc Chính Tử vào bái kiến Mạnh phu tử.

Nhạc Chính Tử vừa vào cửa đã dập đầu: “Đệ tử Nhạc Chính bái kiến phu tử!”

“Sao ngươi lại tới Tề?” Thấy Nhạc Chính Tử tới bái kiến vào lúc này, Mạnh phu tử sầm mặt xuống, hỏi phủ đầu.

“Theo Vương Tử Ngao tới.” Nhạc Chính Tử đáp.

“Tới lúc nào?” Mạnh phu tử lại hỏi.

“Hôm kia.”

Mạnh phu tử sắc mặt càng thêm khó coi: “Ngươi tới đây là để gặp ta ư?”

“Sao tiên sinh lại hỏi vậy?” Nhạc Chính Tử ngỡ ngàng.

“Vương Tử Ngao là quý tộc nước Tề, ngươi theo Tử Ngao tới đây, chỉ là bởi tham lam ăn uống mà thôi! Hôm kia ngươi tới Tề, mà hôm nay mới tới gặp thầy, lễ có dạy ngươi như vậy chăng?” Mạnh phu tử trách giận.

“Đệ tử biết tội!” Nhạc Chính Tử khấu đầu, giọng lí nhí, “nhưng... đệ tử có nỗi khổ tâm!”

“Ngươi có khổ tâm gì?”

“Đệ tử tới đây, là theo lệnh mẹ. Mẹ hay tin ông ngoại bệnh nặng, bèn sai đệ tử tới thăm, đệ tử không có xe, mới vội vã cuốc bộ tới Tề, giữa đường gặp xe của Vương Tử Ngao, bèn nói rõ điều cấp bách, Tử Ngao mới mời đệ tử lên xe đi cùng. Tới Lâm Truy, đệ tử hay tin phu tử đã tới Tắc Hạ, cũng muốn tới bái kiến, nào ngờ ông ngoại bệnh tình Nguy cấp, đệ tử thay mẹ hầu bên tả hữu, không dám rời xa một khắc. Ông ngoại tạ thế đêm qua, cậu lo việc tang, sợ rằng thất lễ, đệ tử mới nói phu tử đang ở Tắc Hạ, cậu lập tức sai đệ tử đến đây kính thỉnh phu tử tới giúp chủ trì tang sự, cho nên đệ tử...” Nói đến đây thì bật khóc.

“Than ôi,” Mạnh phu tử vội đứng lên, đưa tay đỡ Nhạc Chính Tử dậy, “là thầy đã trách lầm trò!” Quay sang Vạn Chương, “chuẩn bị xe, theo Nhạc Chính Tử, tới điếu viếng tiên tổ công!”

“Phu tử,” Công Tôn Sửu cuống lên, “hôm qua đại vương triệu kiến, phu từ cáo bệnh cự tuyệt. Nay lại đi điếu viếng, e là... không thích hợp!”

“Hôm qua có bệnh, hôm nay khỏi rồi, cớ sao không thể đi viếng?” Mạnh phu tử lớn tiếng đáp.

Rồi Mạnh phu tử dẫn theo Vạn Chương, Công Tôn Sửu tới Đông Quách điếu tang, để con trai Mạnh Trọng, đệ tử Công Đô Tử ở lại đón tiếp tân khách.

Mạnh phu tử vừa đi chừng nửa canh giờ, một cỗ xe ngựa đỗ xịch bên ngoài dịch quán, là ngự y của vương thất, nói rằng phụng mệnh đại vương tới thăm bệnh cho phu tử.

Mạnh Trọng và Công Đô Tử ra cửa đón khách, lúng túng đưa mắt nhìn nhau.

Mạnh Trọng vái mà nói: “Bệnh của phu tử đã đỡ ít nhiều, sớm nay vừa dậy đã ra ngoài, nói là đi dạo, biết đâu sẽ thấy khoẻ hơn.”

“Ồ, vậy ư!” Ngự y dặn phu xe chờ, quay sang Mạnh Trọng, “tại hạ đợi phu tử về!”

“Ồ... đâu có thể như thế được,” Mạnh Trọng cuống lên, “đại nhân bận trăm công nghìn việc, xin hãy hồi cung trước. Đợi phu tử trở về, chúng tại hạ sẽ bẩm lên phu tử, nói rằng có đại nhân tới tìm!”

Ngự y vòng tay: “Tại hạ không dám trái lệnh đại vương!”

Mạnh Trọng không còn cách nào khác, đành phải dẫn ngự y vào phòng khách của Mạnh phu tử, mời trà nước, rồi kéo Công Đô Tử ra ngoài, lo lắng giục: “Hãy mau tới Đông Quách, mời phu tử về gấp!”

“Về thế nào được?” Công Đô Tử nhăn nhó, “phu tử thác bệnh, người ta phái ngự y tới, nếu phát giác ra không có bệnh, chính là khi quân, khi quân sẽ mất đầu đấy!”

Mạnh Trọng kinh hãi, cuống quýt: “Thế thì hãy bảo phu tử mau tới vương cung!”

“Biết rồi.”

Công Đô Tử gọi một cỗ xe, chạy thẳng tới Đông Quách, tìm đến nhà ông ngoại của Nhạc Chính Tử gặp Mạnh phu tử.

Thấy sự việc nghiêm trọng, Mạnh phu tử dặn Công Đô Tử về bẩm với ngự y, cứ nói không tìm thấy phu tử, ngự y chờ mãi không được, có lẽ sẽ ra về.

Nào ngờ ngự y kiên nhẫn khác thường, chờ tới tận nửa chiều vẫn không có ý ra về. Mạnh Trọng ruột gan như lửa đốt, lại bảo Công Đô Tử đi bẩm với Mạnh phu tử. Mạnh phu tử không thể trở về khách xá, cũng không thể ở lại nhà có tang, đang không biết phải làm sao, thì cậu của Nhạc Chính Tử đưa họ tới nhà người bạn là Cảnh Sửu tá túc.

Cảnh Sửu là Nho gia nước Tề, giữ chức trung đại phu trong triều, cai quản lễ nghi, sau khi nghe Công Tôn Sửu kể lại đầu đuôi, khẽ thở dài một tiếng, quay sang Mạnh phu tử trách móc: “Điều lớn nhất trong nhân luân, ở nhà không gì hơn cha con, ở ngoài không gì hơn vua tôi. Cha con lấy ơn làm đầu, vua tôi lấy kính làm đầu. Theo như Sửu thấy, sự việc hôm nay, là đại vương cung kính phu tử, chứ đâu phải phu tử cung kính đại vương!”

“Ồ, cớ sao lại nói những lời như vậy?” Mạnh phu tử phản bác lại ngay, “người Tề không có ai nói với Tề Vương về đạo nhân nghĩa, phải chăng họ cho rằng đạo nhân nghĩa không tốt? Hoàn toàn không phải! Mà họ nghĩ rằng, đại vương thế này, có xứng để nghe nhân nghĩa chăng? Đó mới là sự bất kính lớn nhất đối với đại vương! Còn đối với Kha, đã không nói thì thôi, đã nói thì phải nói về đạo Nghiêu Thuấn, có người Tề nào có thể cung kính đại vương bằng Kha đây?”

“Hoang đường!” Cảnh Sửu vặc lại, “thứ tại hạ nói đến, không phải là chuyện đó. ‘Lễ’ có câu: ‘Cha cho gọi, không kịp đáp đã phải tới ngay, lệnh vua tới, không kịp đợi xe đã phải lên đường ngay!’ Còn phu tử thì sao, vốn dĩ đang chuẩn bị vào triều yết kiến, nghe vương mệnh tới, lại không đi nữa, thế chẳng phải là trái lễ hay sao?”

“Trái lễ chỗ nào?” Mạnh phu tử khí thế hừng hực, cao giọng phản bác, “Tăng Tử có câu: ‘Phú quý của Tấn Sở, không thể theo kịp; họ có phú của họ, ta có nhân của ta; họ có quý của họ, ta có nghĩa của ta, ta có gì mà không bằng họ?’ Lẽ nào Tăng Tử nói sai ư? Thiên hạ có ba thứ chí tôn, một là tước, hai là tuổi, ba là đức. Làm quan không gì quý hơn tước, làm dân không gì quý hơn tuổi, còn phò tá quân vương, trị lý thần dân, không gì quý hơn đức. Nên sao có thể dựa vào sự tôn quý về chức tước mà khinh thường tuổi tác và đức hạnh của ta? Bởi vậy, bậc quân vương có hoài bão lớn lao thực thụ, nhất thiết phải có bề tôi mình vời không chịu tới. Nếu muốn mưu tính đại sự, cần phải tìm đến tận cửa, như thế gọi là tôn đức lạc đạo, nếu không, thì đâu xứng là bậc đại minh quân. Thương Thang đối với Y Doãn, trước là bái sư, sau mới thành bề tôi, cho nên không phải lao nhọc mà vẫn xưng vương. Hoàn Công đối với Quản Trọng, trước là bái sư, sau mới thành bề tôi, cho nên không phải lao nhọc mà vẫn xưng bá. Thiên hạ ngày nay, liệt quốc lãnh thổ tương tự, chư hầu đức hạnh tương đương, không ai có thể trội hơn, nguyên nhân không gì khác, chính là chỉ thích dùng bề tôi biết nghe lời mình, mà không thích dùng bề tôi dám giáo huấn mình. Đối với Y Doãn, Thương Thang không dám triệu. Đối với Quản Trọng, Hoàn Công không dám vời. Đến Quản Trọng còn là người không thể gọi tới, huống hồ ta đây còn chẳng buồn làm người giống như Quản Trọng?”

Cảnh Sửu không biết đối đáp thế nào.

Ngự y chờ tới tận tối mịt, thấy Mạnh phu tử vẫn chưa về, đành phải cáo từ, hồi cung tâu lên Tuyên Vương.

Tuyên Vương hiểu rằng sự việc không đơn giản, lập tức cho gọi cha con Điền Anh, Điền Văn tới bàn. Điền Văn nói, sự ngạo mạn của Mạnh phu tử, khắp đất Trâu, Đằng, Lỗ, Tống đều biết cả, Tuyên Vương lúc này mới nhớ tới lời Tô Tần, bảo mình nên đích thân tới gặp, cảm thấy vô cùng nan giải. Nếu đích thân tới gặp, Mạnh phu tử ắt sẽ cậy được sủng ái, sau này khó mà trấn áp. Mà không tới gặp cũng không được, sự việc đã thành ầm ĩ, học sĩ Tắc Hạ ai cũng ngong ngóng chờ xem.

“Thần cho rằng,” Điền Anh bày kế, “đại vương có thể dùng cách chiết trung.”

“Thế nào là chiết trung?”

“Có thể dùng vương xa đón phu tử tới Tuyết cung, đại vương ra cửa cung đón là được.”

“Được,” Tuyên Vương ngẫm nghĩ một hồi, rồi quay sang nội thần, “y theo lời tướng quốc, giờ Thân ngày mai, cung nghênh phu tử tới Tuyết cung!”

Buổi chiều hôm sau, vương xa của Tề cung tới tận nơi đón Mạnh phu tử. Mạnh phu tử cũng thuận đà xuống nước, lên vương xa vào cung.

Tuyên Vương đi chân trần ra cửa cung nghênh đón.

Đi chân trần là đại lễ kính hiền, Mạnh phu tử bèn khấu đầu sát đất hồi kính.

Vua tôi làm lễ xong xuôi, Tuyên Vương dắt tay Mạnh phu tử vào trong điện, phân ngôi chủ khách ngồi xuống.

Sau dăm ba câu khách sáo, Tề Tuyên Vương nói thẳng vào chuyện, vòng tay mà rằng: “Từ lâu đã nghe nói phu tử học vấn uyên thâm, Tích Cương bất tài, Nguyện làm kẻ hậu học, thỉnh cầu phu tử chỉ giáo!”

“Chỉ giáo thì không dám!” Mạnh phu tử vòng tay đáp lễ, “dám hỏi đại vương muốn biết chuyện gì?”

“Chuyện Tề Hoàn, Tấn Văn xưng bá thiên hạ, Tích Cương có thể nghe chăng?” Tề Vương ngả người lại hỏi.

Mạnh phu tử bèn đáp: “Đệ tử Trọng Ni không nói về bá nghiệp của Tề Hoàn, Tấn Văn, nên không có gì truyền lại, Kha chưa từng được nghe. Nếu đại vương nhất định muốn Kha phải nói, thì Kha muốn nói về vương nghiệp, được chăng?”

“Hay lắm,” Tuyên Vương lấy làm phấn chấn, “đức thế nào mới có thể thành vương nghiệp?”

“Bảo vệ dân mà thành vương nghiệp, thiên hạ không ai địch nổi.”

“Như quả nhân đây, có thể bảo vệ dân chăng?”

“Được chứ.” Mạnh phu tử lập tức khẳng định.

“Phu tử dựa vào đâu mà biết quả nhân có thể bảo vệ dân?” Tuyên Vương sắc mặt hân hoan, lại nghiêng người về trước.

“Kha nghe Hồ Hột kể rằng,” Mạnh phu tử dõng dạc đáp, “đại vương ngồi trên điện, có người dắt trâu ngang qua dưới điện, đại vương nhìn thấy, bèn hỏi tả hữu: Trâu này dắt đi đâu?’ Tả hữu đáp: ‘Dắt đi giết, lấy máu tế chuông.’ Đại vương nói: ‘Thả ra, ta không nỡ nhìn nó run rẩy, không có tội gì mà phải đi vào chỗ chết.’ Tả hữu nói: ‘Đại vương muốn phế bỏ lễ tế chuông ư?’ Đại vương đáp: ‘Sao có thể phế bỏ tế chuông được? Hãy thay bằng dê!’ Dám hỏi đại vương, có chuyện đó chăng?”

“Có đấy!” Tuyên Vương đáp ngay.

“Cái tâm này đã đủ để thực thi vương nghiệp!” Mạnh phu tử khen ngợi, “trăm họ nghe được chuyện này, đều cho rằng đại vương tiếc rẻ, nhưng Kha lại biết, là do đại vương có lòng thương xót.”

“Đúng vậy,” Tuyên Vương có vẻ trách móc, “trăm họ sao lại có thể nghĩ như vậy? Nước Tề tuy ở nơi hẻo lánh, nhưng quả nhân há lại tiếc rẻ một con trâu? Quả nhân thực sự không nỡ nhìn nó run rẩy sợ hãi, không có tội gì mà phải đi vào chỗ chết, nên mới cho đổi bằng dê.”

“Đại vương chớ trách móc trăm họ nói mình tiếc rẻ. Trăm họ chỉ thấy đại vương lấy bé đổi to, cho là keo kiệt, chứ đâu hiểu được nguyên do trong đó? Vả lại, nếu đại vương xót thương nó không có tội tình gì mà phải đi vào chỗ chết, thì trâu hay dê cũng có gì khác nhau?”

“Đúng vậy,” Tuyên Vương cười nói, “quả nhân thực không phải vì keo kiệt. Quả nhân cũng không hiểu sao lúc đó lại nghĩ tới chuyện lấy dê đổi trâu, nên cũng khó trách trăm họ nói quả nhân keo kiệt.”

“Đó cũng là chuyện thường tình,” Mạnh phu tử đáp, “đây gọi là lòng thương xót, cũng là lòng nhân. Sở dĩ đại vương nghĩ như vậy, là bởi thứ đại vương nhìn thấy là trâu chứ không phải dê. Đối với cầm thú, quân tử nhìn nó sống mà không nỡ nhìn nó chết, nghe tiếng nó kêu mà không nỡ ăn thịt nó, bởi vậy quân tử nên tránh xa nhà bếp.”

Tuyên Vương nghe vậy, lấy làm vui thích, thực lòng cảm khái: ‘“Thi’ có câu: ‘Người khác có lòng, ta lường đoán biết’(1), chính là nói tới phu tử đây. Với những việc bản thân đã làm, lại khó lòng chỉ ra nguyên do, được phu tử giảng giải, quả nhân mới đột nhiên bừng tỏ. Xin hỏi phu tử, cái tâm này vì sao lại hợp với vương nghiệp?”

(1)Hai câu thơ trong bài “Xảo ngôn” thiên “Tiều Nhã” sách “Kinh Thi”.

“Nên nói là vương đạo, cái đạo chấn hưng vương nghiệp.” Mạnh phu tử tiếp tục giải thích, “giả sử có người nói với đại vương, thần có thể nhấc nổi trăm cân, nhưng lại không thể nhấc nổi một sợi lông vũ; thần có thể nhìn rõ sợi lông tơ mùa thu, nhưng lại không nhìn thấy một xe củi, đại vương có tin được không?”

“Đương nhiên không thể tin.”

“Ân huệ của đại vương, đủ để ban phát đến cầm thú, song lại chưa thể ban ơn cho trăm họ, là bởi vì đâu? Không nhấc nổi một sợi lông vũ, là vì không chịu dùng sức. Không nhìn thấy một xe củi, là vì không chịu dùng mắt. Trăm họ không nhận được ân trạch của đại vương, là bởi đại vương không ban ơn huệ cho họ. Cho nên, đại vương chưa thực thi vương đạo, không phải đại vương không thể thực thi, mà là đại vương chưa chịu thực thi.”

“Không thực thi và không thể thực thi, có gì khác nhau?” Tuyên Vương hỏi.

Mạnh phu tử lại rành rọt đáp: “Nếu bảo ai đó kẹp Thái Sơn mà nhảy qua Bắc Hải, người đó nói, tôi không làm được, đó là thực sự không thể làm được. Nếu bảo người đó bẻ cành cây làm gậy chống cho người già, người đó nói, tôi không làm được, đó là không chịu làm, chứ không phải không thể làm. Từ đó mà suy, đại vương chưa thực thi vương đạo, không phải giống như kẹp Thái Sơn nhảy qua Bắc Hải; đại vương chưa thực thi vương đạo, cũng giống như bẻ cành cây. Tôn kính người già trong nhà mình, từ đó mở rộng đến tôn kính người già nhà khác; yêu thương con cháu trong nhà mình, từ đó mở rộng đến yêu thương con cháu nhà khác, chỉ cần đại vương làm được điều này, cả thiên hạ sẽ nằm trong tay đại vương. ‘Thi’ có câu: ‘Làm gương cho vợ, rộng tới anh em, rồi trị đất nước’ (1) , có nghĩa là lấy mình làm gương, suy từ mình trước, rồi suy ra người. Khổng Tử có câu, ‘việc mình không muốn, chớ làm cho người’. Từ đó mà thấy, mở rộng ân huệ đủ để bảo vệ bốn biển, không mở rộng ân huệ, còn không bảo vệ nổi vợ con. Sở dĩ người xưa có thể thành tựu lớn lao, không có nguyên do nào khác, chính là giỏi lấy mình làm gương mà thôi. Nay ơn huệ của đại vương đủ để ban cho cầm thú, song lại chưa thể ban cho trăm họ, nguyên do là vì đâu? Cân, sau đó mới biết nặng nhẹ; đo, sau đó mới biết dài ngắn. Vạn vật đều như vậy, huống hồ là tâm? Xin đại vương hãy đoán lường!” Nhìn thẳng vào Tuyên Vương, hai mắt như đuốc, cất giọng sang sảng mà hỏi, “lẽ nào đại vương thực sự phải dấy giáp binh, Ngụy tướng sĩ, kết oán chư hầu, mới thấy vui sướng ư?”

(1) Trích trong bài ‘Tư tể” phần “Đại Nhã” sách “Kinh Thi”.

“Không có chuyện đó,” Tuyên Vương vội nói, “quả nhân sao có thể vì thế mà vui sướng? Quả nhân chẳng qua chỉ muốn thực thi mong ước lớn trong lòng mà thôi!”

“Mong ước lớn của đại vương, Kha có thể nghe chăng?” Mạnh phu tử nghiêng người lại hỏi.

Tuyên Vương chỉ cười không nói.

“Là thức ngon béo chưa đủ ăn? Là áo ấm nhẹ chưa đủ mặc? Hay là sắc diễm lệ chưa đủ ngắm? Tiếng hay ho chưa đủ nghe? Hay là tôi tớ bên mình chưa đủ dùng?” Mạnh phu dồn dập chất vấn, “chắc đại vương không phải vì những thứ đó? Bề tôi của đại vương hẳn đã dâng cống đầy đủ!”

“Đương nhiên không phải,” Tuyên Vương vui vẻ nói, “quả nhân không phải vì những thứ đó!”

“Nếu không phải vì những thứ đó,” Mạnh phu tử nói tiếp, “thì Kha biết mong ước lớn của đại vương là gì rồi, chính là mở rộng quốc thổ, làm vua Trung Nguyên, thần phục tứ di, khiến Tần, Sở triều cống.”

Tuyên Vương tươi cười hớn hở, nhịp ngón tay xuống án, coi như đã thừa nhận.

“Tuy nhiên,” Mạnh phu tử thình lình đổi giọng, “đại vương liệu có biết, dùng hành vi của đại vương để cầu điều đại vương muốn, thực chẳng khác gì leo cây tìm cá?”

“A?” Tuyên Vương nét cười vụt tắt, đổ người lại hỏi, “nghiêm trọng đến thế ư?”

“Nghiêm trọng hơn thế nhiều!” Mạnh phu tử khẳng định, “leo cây tìm cá, tuy không được cá, nhưng không có hậu hoạ. Còn dùng hành vi của đại vương để cầu điều đại vương muốn, dù dốc hết sức mà làm, ắt vẫn có tai ương.”

“Là tai ương gì, có thể nói cho quả nhân nghe chăng?” Tuyên Vương thuỗn mặt hỏi.

“Người Trâu đánh người Sở, theo đại vương, ai thắng?”

“Người Sở.” Tuyên Vương không chút đắn đo.

“Đúng vậy.” Mạnh phu tử tiếp lời, “nhỏ không thể địch lớn, ít không thể đánh nhiều, yếu không thể thắng mạnh, đó là đạo lý xưa nay. Đại vương hãy xem, đất trong bốn biển, rộng nghìn dặm có chín, Tề chỉ chiếm được một trong đó. Dùng một phục tám, có khác gì nước Trâu đánh Sở? Đại vương cớ sao lại bỏ gốc tìm ngọn? Nếu như đại vương thực thi nhân chính, khiến quan viên trong thiên hạ đều muốn đứng trong triều của đại vương, dân cày đều muốn cày cấy trên đồng ruộng của đại vương, thương lái đều muốn buôn bán trong phố chợ của đại vương, lữ khách đều muốn đi lại trên đường của đại vương, người trong thiên hạ căm hận vua nước mình đều muốn tâu bày với đại vương, vậy thì xin hỏi đại vương, dưới gầm trời này, còn ai có thể địch lại đại vương được nữa?”

“Quả nhân ngu muội, không đạt tới mức này.” Tuyên Vương thực lòng thán phục, “mong phu tử hãy phò tá quả nhân, chỉ giáo quả nhân, để giúp quả nhân thực thi được mong ước lớn. Quả nhân tuy trì độn, vẫn xin được thử!”

“Tạ ơn đại vương yêu mến!” Mạnh phu tử vòng tay nói, “thiên hạ ngày nay, kẻ không có của bền mà giữ được tâm bền, chỉ có sĩ tử. Đối với trăm họ, nếu không có của bền, sẽ không có tâm bền. Nếu tâm không bền, sẽ làm điều xằng bậy, không từ thủ đoạn để thoả mãn tư dục riêng mình. Đợi trăm họ phạm tội rồi khép họ vào hình phạt, đó gọi là cố tình giăng bẫy. Người có nhân có chí nắm quyền, sao có thể làm ra chuyện bẫy dân? Cho nên, quân chủ hiền minh khi ban sản nghiệp cho dân, cần phải đủ cho họ trên có thể phụng dưỡng cha mẹ, dưới có thể nuôi sống vợ con, năm được mùa ăn no mặc ấm, năm mất mùa không phải chết đói. Khởi phát từ đó mà đưa trăm họ lánh ác hướng thiện, trăm họ sẽ vui vẻ thuận theo. Quân chủ ngày nay ban sản nghiệp cho dân, trên không đủ phụng dưỡng cha mẹ, dưới không nuôi sống nổi vợ con, năm được mùa lo ăn trầy trật, năm mất mùa khó tránh chết đói. Thế đạo nhường này, trăm họ muốn thoát chết còn không thể, còn tâm trí đâu mà nói đến lễ nghĩa? Đại vương muốn thực thi lễ nghĩa, cớ sao không bắt đầu từ gốc? Nhà rộng năm mẫu, chỉ cần trồng dâu, người năm mươi tuổi có quần áo mặc; gia súc như gà chó lợn, chỉ cần sinh sôi đúng thời, người bảy mươi tuổi có thịt ăn; ruộng rộng trăm mẫu, chỉ cần không lỡ vụ mùa, nhà tám miệng có đủ cơm ăn. Lúc này, đại vương lại lập trường học, dạy trăm họ biết hiếu đễ lễ nghĩa, trên đường sẽ không còn thấy cảnh cụ già tóc bạc vất vả gánh gồng. Người già nếu có áo mặc có thịt ăn, dân đen nếu không ăn đói mặc rét, đại vương dù không muốn làm vua thiên hạ, cũng nào có được!”

Mạnh phu tử vẽ ra viễn cảnh tươi đẹp nhường này, thực khiến người ta ao ước.

Tề Tuyên Vương chầm chậm khép mắt, lâng lâng như say, đoạn ngẩng đầu, vòng tay: “Nhân nghĩa của phu tử, Tích Cương thụ giáo!” Nhìn sắc trời, quay sang nội thần, “là giờ nào rồi?”

“Hồi bẩm đại vương,” nội thần đáp, “đã qua giờ Thân, sang giờ Dậu!”

“Bày tiệc, quả nhân muốn cùng phu tử dùng bữa tối!” Tuyên Vương hạ lệnh.

Nội thần tuân chỉ, đang định đi ra, Tuyên Vương lại nói: “Còn nữa, mời tướng quốc, học cung lệnh cùng đến bồi tiếp!”

Nội thần vội vã đi ngay.

Tuyên Vương tươi cười nhìn Mạnh phu tử, vòng tay nói: “Nghe phu tử dùng thí dụ để giải thích đại đạo, quả là tuyệt diệu. Phu tử hãy tới thiên điện nghỉ ngơi chốc lát, sau đó cùng Tích Cương dùng bữa, để tướng quốc và mọi người cùng tới, lắng nghe phu tử chỉ giáo về nhân nghĩa!”

Thấy Tuyên Vương lời lẽ khiêm cung, Mạnh phu tử cũng lấy làm phấn khởi, vui vẻ nhận lời.

Nửa canh giờ sau, cha con Điền Anh tới nơi, Tuyên Vương lại cho gọi thái tử Địa đến, bày yến tiệc ở chính điện Tuyết cung.

Để thêm trang trọng, Tuyên Vương cho gọi ca vũ. Nội tể đã chuẩn bị sẵn sàng, vỗ tay mấy tiếng, đội nhạc dàn hàng bước vào, chuông khánh tơ trúc cùng ngân, mỹ nữ phất tay áo múa, uyển chuyển tha thướt, ca hát du dương.

Có ca vũ trợ hứng, lại được Tuyên Vương khuyến khích, mọi người đều vui say tận hứng. Mạnh phu tử thoạt tiên còn giữ kẽ, sau ba tuần rượu, hào khí dâng trào, cao hứng rời chỗ, ngâm thơ tỏ chí, ca tụng đại nhân đại nghĩa của Nghiêu Thuấn, khiến buổi yến tiệc càng thêm sôi nổi. Tuyên Vương cũng nhân thế hùa theo, hết lời khen ngợi lòng nhân nghĩa của Mạnh phu tử, cứ mỗi lời khen lại mời một chén. Chúng thần hiểu ý, cũng đua nhau mời rượu nhân nghĩa. Mạnh phu tử uống tới say khướt, ngồi nghiêng trên chiếu, ngủ mê mệt không biết trời trăng gì nữa.

Nhân vật chủ chốt đã say, yến tiệc cũng tàn ngay. Điền Văn xốc Mạnh phu tử lên xe, định đưa về dịch quán, nhưng Tuyên Vương xua tay ngăn lại, lệnh cho nội thần chuẩn bị phòng khách, giữ Mạnh phu tử nghỉ lại trong hậu cung.

Được đại vương giữ lại trong hậu cung là niềm vinh hạnh vô song đối với sĩ tử, trong suốt lịch sử cung Tễ mới chỉ có một lần, chính là tiên Uy Vương giữ Thuần Vu Khôn ở lại, cùng nâng chén rượu, vui say suốt đêm dài. Vì thế, khi Điền Văn chuyển lời tới Vạn Chương và đám đệ tử đến đón Mạnh phu tử, chúng đệ tử đều vui sướng đến phát khóc.

Mạnh phu tử ngủ tới nửa đêm, mót tiểu tỉnh giấc, mở mắt thấy xung quanh tối đen, cứ ngỡ đang trong khách xá, bèn lên tiếng gọi: “Vạn Chương, châm đèn!”

“Hồi bẩm chủ nhân, nô tỳ sẽ châm đèn!” Một giọng nói cất lên, dịu dàng êm ái, tiếp đó có tiếng sột soạt, có tiếng thổi lửa, chốc lát, một pha đèn đồng sáng bừng lên.

Mạnh phu tử giật nảy mình kinh hãi, lập tức tỉnh rượu, loáng thoáng nhớ ra đang ở giữa vương cung, thì mắt không dám mở, giọng nói run lên: “Cô là ai?”

“Hồi bẩm chủ nhân,” giọng nói kia uyển chuyển đáp lời, “nô tỳ là người được hát hầu trong yến tiệc đêm qua, nếu như chủ nhân muốn, có thể gọi nô tỳ là Sở Cơ!”

“Sở... Sở Cơ...” Mạnh phu tử hốt hoảng, nói không tròn tiếng.

“Vâng, nô tỳ tới từ nước Sở, đất tổ tại Cô Tô, tổ tiên xa là người nước Ngô, được Sở Vương tặng cho Tề Vương làm ca cơ...” Sở Cơ có vẻ khá hay chuyện.

“Cớ sao... nàng... nàng lại... ở... ở đây?” Mạnh phu tử cắt ngang lời Sở Cơ.

“Nô tỳ phụng mệnh đại vương, ở đây hầu hạ chúa công...” Sở Cơ vừa đáp, vừa đưa tay nới đai cởi áo, giọng nói càng thêm êm ái ngọt ngào, như ru bên tai Mạnh phu tử, “đã đợi chủ nhân gần nửa đêm rồi!”

Bỗng thấy hương thơm phảng phất, Sở Cơ đã dựa sát bên mình.

“A... nàng?” Mạnh phu tử rùng mình kinh hãi, bật người ngồi dậy, hai mắt vẫn nhắm chặt, “đi, đi ra mau!”

“Chủ nhân?” Sở Cơ ngỡ ngàng, “chủ nhân bảo nô tỳ đi đâu?”

“Tới nơi của nàng!” Mạnh phu tử vội nói.

“Thưa, không được!” Sở Cơ bật khóc, “đại vương lệnh cho nô tỳ hầu hạ chủ nhân, nếu nô tỳ trái chỉ, sẽ... sẽ không còn đường sống!”

Mạnh phu tử hít ngược vào một hơi, hai tay ôm đầu, dụi mắt vài cái, vẫn không mở ra: “Nàng... hãy mặc y phục vào đã!”

“Nô tỳ...”

“Mặc vào!” Mạnh phu tử gần như quát lên.

Sở Cơ ngần ngừ giây lát, rồi mặc lại xiêm y như cũ.

Nghe tiếng sột soạt đã dứt, Mạnh phu tử mới hé mắt, nhìn ra xung quanh.

Là một gian cung thất trang nhã, bên trong chỉ có một chiếc giường, ngoài thiếu nữ kia, không còn ai khác.

Mạnh phu tử nhìn sang Sở Cơ, trong lòng giật thột.

Thiếu nữ trước mặt, xứng là tuyệt sắc giai nhân. Trong cuộc ca vũ tối qua, Mạnh phu tử chỉ mải uống rượu, không hề ngắm sắc, hơn nữa, đám ca nữ người nào cũng xinh đẹp như hoa, muốn ngắm cũng không ngắm xuể. Lúc này thì khác, thiếu nữ trước mặt không những kiều diễm, mà còn hát hay múa giỏi, quan trọng hơn nữa, là nàng đang phụng vương chỉ tới hầu hạ Mạnh phu tử.

Trong lòng căng thẳng, lại càng thấy mót. Mạnh phu tử đứng dậy, định đi ra ngoài.

“Chủ nhân muốn đi đâu?” Sở Cơ hỏi.

“Tịnh... tịnh thất!”

“Nô tỳ sẽ đưa chủ nhân đi!” Sở Cơ mở then cửa, ngoảnh lại đỡ lấy tay Mạnh phu tử.

“Không... không được!” Mạnh phu tử vội vã hất tay nàng ra, đoạn lảo đảo bước ra khỏi cửa, đi chưa nổi vài bước, hơi men bốc lên, hai chân loạng choạng, may nhờ Sở Cơ nhanh tay đỡ kịp,, mới không ngã nhào.

Theo lễ của Nho môn, nam nữ thụ thụ bất thân. Mạnh phu tử bị Sở Cơ giữ chặt lấy tay, như bị ong đốt, vừa kịp đứng vững, lại hất ngay tay nàng ra, chỉ vào trong phòng: “Vào mau!”

Sở Cơ sửng sốt, hai mắt mở to nhìn Mạnh phu tử. Mạnh phu tử lại chỉ vào cửa phòng.

Sở Cơ lui vào, nói khẽ: “Chủ nhân, tịnh thất ở bên trái, cánh cửa màu xanh, bên trong có bô, chủ nhân hãy tự mở nắp, nô tỳ sẽ lấy đèn cho người!” Nói rồi quay trở vào phòng lấy đèn, đặt ở trước cửa.

Nhờ có ánh đèn, Mạnh phu tử quả nhiên nhìn thấy một cánh cửa xanh, bèn chân thấp chân cao đi về phía đó.

Tịnh thất không kín mít, mà thông gió tứ bề. Gió lạnh phả vào trước mặt, xua tan hoàn toàn hơi rượu, Mạnh phu tử tiểu tiện xong, trong lúc quay về, đã nghĩ được cách xử

trí trước tình cảnh trớ trêu, nên sắc mặt điềm tĩnh bước vào trong phòng, sai Sở Cơ châm thêm một ngọn đèn, đoạn vòng tay nói: “Vừa rồi Mạnh Kha thất lễ, kính mong cô nương lượng thứ!”

Sở Cơ nào dám nhận đại lễ nhường này, vội quỳ sụp xuống dập đầu: “Chủ... chủ nhân...”

“Xin hỏi cô nương, ở đây có sách không?” Mạnh phu tử bước ra phòng khách, ngồi xuống, cao giọng hỏi.

Sở Cơ lục tìm một hồi, thấy một cuốn thẻ tre, mang lại dâng lên.

Mạnh phu tử sửa áo ngồi nghiêm, mở sách dưới đèn.

Sở Cơ châm một cây hương, quỳ xuống trước mặt Mạnh phu tử, lặng lẽ chờ hầu.

Mạnh phu tử mê mải đọc chừng non nửa canh giờ, chợt nghe thấy tiếng nấc, trong lòng giật thột, vội ngước mắt nhìn, thấy Sở Cơ khấu đầu sát đất, đang khóc.

“Sở Cơ?” Mạnh phu tử ngạc nhiên.

“Chủ nhân!” Sở Cơ lại dập đầu.

“Sao... sao nàng lại khóc?” Mạnh phu tử hỏi.

“Nô tỳ muốn cầu xin chủ nhân một việc, được chăng?”

“Nàng cầu việc gì?”

“Cầu chủ nhân hãy nói với đại vương, xin ban nô tỳ cho chủ nhân. Nô tỳ... nô tỳ năm nay đã hai mươi ba tuổi, không muốn cả đời ở trong cung, nô tỳ nguyện... nguyện làm trâu làm ngựa, hầu hạ chủ nhân, chỉ hầu hạ một mình chủ nhân, được chăng?” Sở Cơ nước mắt đầm đìa, khẩn thiết ngước nhìn Mạnh phu tử.

“Không được!” Mạnh phu tử dứt khoát cự tuyệt, cuộn sách lại, nhắm mắt ngồi nghiêm.

Sở Cơ lại nức nở.

Bên kia bức tường, trong bóng tối, một vành tai đang áp sát vào tường, lắng nghe từng động tĩnh trong gian phòng.

Sáng sớm hôm sau, cung nhân đem toàn bộ sự việc trong đêm qua bẩm báo lên Tuyên Vương. Nghe xong, Tuyên Vương trầm ngâm chốc lát, rồi đến thăm Mạnh phu tử, thưởng cho một trăm dật vàng.

Mạnh phu tử từ chối không nhận, cáo biệt ra về.

Tuyên Vương phái vương xa tiễn Mạnh phu tử trở về khách xá, gọi Điền Anh lại, cảm khái mà rằng: “Quân tử nhân nghĩa thời nay, không phải Mạnh phu tử thì không còn ai khác, thực sánh ngang với Liễu Hạ Huệ!”

“Vương huynh vì đâu mà nói vậy?” Điền Anh hỏi.

Tuyên Vương bèn kể sơ lược lại chuyện đêm qua.

Điền Anh nghe mà thót tim, trước quái chiêu thử người của Tuyên Vương, vừa thán phục lại vừa ổn lạnh, bèn lựa lời thăm dò: “Nếu có Liễu Hạ Huệ tái thế, dám hỏi vương huynh sẽ trọng dụng chứ?”

“Ý tướng quốc thế nào?” Tuyên Vương hỏi ngược lại.

“Với một người mỹ nữ ngồi lòng không loạn, thưởng trăm dật vàng không nhận, thần đệ tuyệt không dám dùng!” Điền Anh đáp dứt khoát.

“Vì sao kia?”

“Vì thần đệ không biết phải dùng thứ gì để khích lệ người đó!”

Cỗ xe tứ mã của Tô Tần lao băng băng suốt bốn ngày thì vào tới đất Đằng.

Đây là lần đầu tiên Tô Tần tới đất Đằng, bèn lệnh cho Trâu Phi Đao đánh xe chậm lại, thong thả mà đi.

Theo chỉ dẫn của Trần Tương, xe ngựa chưa vội vào đô thành nước Đằng ngay, mà khi còn cách cổng bắc chừng hai dặm thì rẽ về tây, đi chừng hơn ba mươi dặm nữa, lại rẽ xuống nam. Men theo Đằng Thuỷ đi khoảng hai dặm, Tô Tần chợt thấy phía xa có một vật hình vòm to lớn xanh ngắt chắn ngang đường. Đợi xe ngựa tới gần, Tô Tần mới nhìn rõ, thì ra đó là cánh cổng làm bằng thân gỗ lớn, bên trên chằng chịt dây leo, ôm lấy con đường, từ xa nhìn lại, giống như một dải cầu vồng xanh mướt. Bên phải con đường, phía dưới vòm cây dựng một bia đá, bên trên viết bốn chữ “Khang Trang đại đạo”.

Xe qua cổng vòm, thấy đường rất bằng phẳng, mở rộng gấp đôi, hai bên đường là cây cỏ mới trồng, mỗi bên ba lớp, tầng bậc rõ ràng, ngay hàng thẳng lối, trông rất vui mắt.

Vừa vào đến Khang Trang đại đạo, Trần Tương không chỉ đường nữa, cũng không giải thích, rõ ràng có ý để Tô Tần tự quan sát.

Xe ngựa càng chạy chậm hơn.

Lớp cây trong cùng là hoa tươi, đủ màu rực rỡ, phần nhiều là thảo dược. Lớp giữa là cây bụi, cao thấp so le, chủ yếu là cây đay cây dâu. Lớp ngoài cùng là cây gỗ lớn, thường là du, hoè, dương, tùng, bách. Cây mới trồng chừng chục năm, chưa thực cao to, nhưng cảnh sắc đã vô cùng u nhã.

Lại đi thêm hai dặm nữa, xe ngựa băng qua một cây cầu vòm bằng đá, bên cầu dựng một tấm bia, đề bốn chữ “Liên Sơn Khang Kiều”, dưới cầu là Đằng Thuỷ, nước chảy trong vắt, đứng trên cầu có thể thấy cá bơi. Qua cầu trăm bước, lại là một cổng vòm xanh lục, to lớn hơn, trang nghiêm hơn nữa. Cạnh cổng vòm là một tấm bình phong xanh ngắt, từ xa nhìn lại, hệt như một bức tường dài, vây quanh một trang viên. Hai bên cổng vòm mỗi bên dựng một tấm bia đá, mỗi tấm bia khắc bốn con chữ, bên trái là “Đại đồng thế giới”, bên phải là “Liên Sơn Khang Trang”. Liên Sơn vốn chính là tên tự của Viêm Đế Thần Nông thị.

Đi qua cổng vòm là tới trang viên.

Theo chỉ dẫn của Trần Tương, xe ngựa men theo đường lớn ở chính giữa đi thẳng vào trong, dừng lại phía trước một ngôi nhà lớn. Ngôi nhà rất rộng rãi, có vẻ như là căn nhà lớn nhất trong toàn bộ trang viên, tường bằng đất nện, mái lợp cỏ tranh.

Trong sảnh không thấy có người, cánh cửa khép hờ.

“Tô đại nhân,” Trần Tương chỉ vào tấm biển treo trước nhà lớn, “đây là Nghị Sự đường của Khang Trang.” Ngửa mặt nhìn trời, lại nói, “đã qua giờ Thân, cũng đến lúc nghĩ việc ban chiều rồi. Mời đại nhân vào trong nghỉ ngơi một lát, tại hạ sẽ đi mời trang chủ.”

“Trang chủ ở đâu?” Tô Tần hỏi.

“Đang làm việc. Hiện đang lúc nông nhàn, hẳn trang chủ đang bận rộn làm nghề cùng với phường thợ.” Trần Tương trả lời, rồi mời Tô Tần, Trâu Phi Đao vào trong ngồi nghỉ, đang định trở ra, thì em trai Trần Tương về đến.

Trần Tương bèn sai em trai dỡ đồ trên xe xuống, còn mình nhanh chóng đi mời Hứa Hành.

Chốc sau, Hứa Hành hối hả sải bước về Nghị Sự đường.

Biết là tướng quốc sáu nước Tô Tần, Hứa Hành có lẽ vì giữ kẽ, cũng có lẽ bởi chưa quen, nên không nói nhiều như Tô Tần phỏng đoán. Hàn huyên một lát, Hứa Hành dẫn thẳng mọi người tới nhà ăn.

Nhà ăn là một gian sảnh lớn lợp cỏ. Hay nói đúng hơn là một căn lều dựng bằng tre trúc, mái lợp cỏ, xung quanh ghép ván gỗ, để chắn gió che mưa. Trong sảnh trải nhiều chiếu cỏ, trước mỗi tấm chiếu kê một cái án, có thể bày cơm canh. Mỗi người một chiếu, vị trí không cố định, bất kể là ai, tới trước ăn trước, tới sau ăn sau, ăn xong thì đi. Nếu chưa có chỗ, phải xếp hàng đợi.

Rõ ràng đám Tô Tần đã tới muộn, toàn bộ các chiếu trong sảnh đều đã ngồi kín. Hứa Hành quay sang mỉm cười với Tô Tần, rồi tự giác đứng vào cuối hàng. Ai đến sau nữa cũng xếp ở sau họ. Có người cười với Hứa Hành, có người gật đầu với ông ta, trong toàn gian sảnh, người người bình đẳng, trật tự nghiêm túc, không ai lớn tiếng ồn ào.

Đám Tô Tần đợi tới lượt mình, rồi tìm lấy chiếu trống ngồi xuống.

Mọi người vừa yên vị, có mấy người đàn bà bước lại, tay bưng khay, bày cơm canh lên án trước mặt. Thức ăn của ai cũng giống nhau, hai đĩa rau một nóng một nguội, một bát cháo, chủ cũng như khách, không hề khác biệt, kể cả Hứa Hành. Một bên sảnh để sẵn chiếc làn lớn, bên trong đựng đầy bánh nướng, cạnh nữa là một chiếc nồi đại, bên trong đựng cháo, ai ăn chưa no, có thể tự đến lấy. Ăn xong, mọi người tự động mang bát đũa sang một gian khác bên ngoài. Tại đó có hai máng nước, trên mỗi máng bắc một dãy ống tre dẫn nước chảy xuống, ai nấy tự rửa bát đũa của mình.

Trong lúc ăn không ai nói chuyện, toàn bộ sảnh lớn chỉ nghe thấy tiếng nhai.

Tô Tần, Trâu Phi Đao cứ cảm thán mãi không thôi.

Sau bữa tối, không có việc gì khác, người trong trang viên ai về nhà nấy, đều đi ngủ cả. Hứa Hành cũng không cùng Tô Tần trò chuyện thâu đêm giống như Tô Tần kỳ vọng, thái độ vẫn thản nhiên như cũ, căn dặn Trần Tương sắp xếp phòng khách cho hai người.

Phòng khách cũng chẳng khác gì nông xá, mỗi người một gian nhà cỏ, bên trong có một cái giường, một cái chậu, một thùng nước sạch, một tấm khăn, chăn gối đầy đủ.

Trần Tương dẫn hai người tới nhà tắm chung, lấy cho một chậu lớn nước nóng. Hai người tắm rửa xong xuôi rồi về phòng nghỉ ngơi.

Ba ngày sau đó, Trần Tương dẫn Tô Tần đi thăm thú khắp nơi trong trang viên, xem cách người ở đây sinh sống và làm việc.

Về đến trang viên, Trần Tương như biến thành một người khác hẳn, sôi nổi hoạt bát, nhìn thấy thứ gì cũng hồ hởi giới thiệu kỹ càng. Qua lời Trần Tương, Tô Tần biết được Liên Sơn Khang Trang chu vi ba dặm vuông, tiếp giáp với Đằng Thuỷ, gần kề một đầm nước rộng nghìn mẫu. Đây vốn dĩ là mảnh đất hoang trũng thấp lầy lội, không có người ở, hơn trăm năm trước, được công thất khoanh làm nơi săn bắn, sau lại bị bỏ hoang. Mười năm về trước, Hứa Hành từ Sở tới Đằng, thấy thích đất này, hẹn rằng sau năm năm sẽ nộp tô phần mười lên công thất, Đằng Văn Công bèn tiện tay ban cho ông ta. Chưa tới mười năm khai khẩn, Hứa Hành dần dần xây dựng nên trang viên rộng lớn như ngày nay, gồm ba trăm nhân khẩu, tất cả đều là người tin theo luận thuyết của trang chủ Hứa Hành, từ khắp gần xa tìm tới, đa phần là người Sở, Tống, Trâu, Lỗ.

Trang viên nương theo thế đất, chỗ đất cao nhà cửa lô xô, trước sân sau nhà dâu đay um tùm. Lại đắp đê dài men theo đầm nước, đào kênh tưới tiêu, chặn ngang một nhánh của sông Đằng Thuỷ, dồn nước thành đập, dẫn nước vào kênh, toàn bộ trang viên gần như có thể tự tưới tự tiêu. Nhà cửa nhất loạt đều là tường đất nện, mái lợp tranh, trông giống hệt nhau, khoảng cách trước sau đều đặn, trước cửa nhà nào cũng có mương nước, trông rất sạch sẽ chỉnh tề.

Ruộng ở đây không theo phép tính điền của nhà Chu, mà giữ hình thù tự nhiên tùy theo địa thế, chia thành ruộng nước và ruộng cạn, trồng trọt tám loại ngũ cốc, tuân thủ nghiêm ngặt theo cách thức của Thần Nông, lần lượt là lúa, kê, đậu tương, đậu đỏ, kiều mạch, tiểu mạch, vừng, lúa nếp; trong chuồng nuôi ngựa, trâu, dê, gà, bên nhà trồng dâu, bên sông trồng liễu, dưới nước nuôi cá, tôm, vịt, ngỗng.

Trong trang viên còn có lớp học, song tới nghe giảng, đa phần lại không phải trẻ nhỏ, mà là người lớn, đảm đương việc dạy học là Hứa Hành cùng các đệ tử chủ chốt, chủ yếu giảng về cái học Thần Nông, như thời vụ mưa hạn, gieo trồng ngũ cốc.

Tô Tần đến nghe giảng ba lần, lại đích thân xuống ruộng làm theo lời giảng, thầm than thở bản thân từ nhỏ làm nông, nhưng lại chẳng hiểu về nông, quả đúng nghề nào cũng là học vấn. Nếu cha mình có may mắn được tới đây cày ruộng, không biết sẽ còn cảm thán đến độ nào. Hoặc giả người trong thiên hạ đều làm ruộng theo cách này, thì còn lo gì thiếu ăn thiếu mặc?

Ngày thứ ba họp chợ phiên. Chợ mở ngoài trời, theo Khang Trang đại đạo đến chỗ dẫn vào trang viên thì rẽ sang phải đi ba mươi bước, là một chỗ đất cao, rộng chừng ba chục mẫu. Người tới chợ đều mang theo vật che nắng che mưa như lều cỏ. Chợ họp mỗi tháng sáu lần, vào các ngày năm và chín của ba tuần thượng trung hạ, trưa bắt đầu họp, đến giờ Thân thì tan. Trong chợ không dùng tiền, đều là dùng vật đổi vật, cho nên toàn là những thứ cần thiết thường ngày như nông phẩm, đồ dùng, quần áo, không có những vật xa hoa, phù phiếm. Do chợ không có lái buôn nên giá cả rất phải chăng, trao đổi công bằng, bởi vậy chỉ cần thời tiết đẹp, dân chúng trong vòng ba mươi dặm xung quanh đều sẽ mang hàng hoá nhà mình làm tìm đến chợ từ sớm để trao đổi.

Trong suốt một canh giờ họp chợ, Tô Tần chẳng có thứ gì để đổi, nên chỉ quan sát. Trâu Phi Đao đổi một cây phi đao cho một cậu nhóc choai choai được ba đôi giày cỏ, còn Trần Tương đổi ba túi gạo lấy một lưỡi cày.

So với khung cảnh xung quanh và phiên chợ trong trang viên, càng khiến Tô Tần kinh ngạc hơn nữa là cuộc sống thường nhật của người ở đây.

Liên Sơn Khang Trang chính là xã hội đại đồng, toàn bộ tài sản đều là của chung, làm việc chung, ăn cơm chung, tới giờ làm thì gióng chuông, hết giờ làm thì khua chiêng.

Trai cày ruộng, gái dệt vải, trai chủ ngoại, gái chủ nội, trai làm việc sức lực, gái làm việc khéo léo. Nam nữ không ở chung, nữ có nhà riêng, không có chồng cố định, tối đến có thể cho nam giới vào ở cùng. Nữ nếu đã có ý trung nhân, sẽ treo khăn đỏ ngoài cửa, nếu chưa có người hợp ý, thì treo khăn trắng. Nam nhìn thấy ngoài cửa treo khăn trắng, có thể xin vào gặp. Trên cửa có một cái lỗ, nữ nhìn qua đó, nếu như thấy ưng, sẽ mở cửa cho vào. Nếu không ưng, người nam không được khăng khăng đòi vào. Trong trang viên còn dựng nhà lớn, dành cho nam giới không có nhà đến ở. Trẻ nhỏ ở với phụ nữ, do người lớn tuổi trong nhà trông nom, lớn một chút thì đến trường cho trưởng lão dạy dỗ, học sáu mươi tư nghề. Con trai tròn mười tám thì đội mũ, con gái tròn mười lăm thì cài trâm. Trong trường học có phòng lớn cho con gái và phòng lớn cho con trai. Con trai đến tuổi đội mũ có thể đến nhà con gái ở, con gái đến tuổi cài trâm có thể dựng nhà ở riêng.

Trang viên ngày ăn hai bữa, gà gáy là dậy, mặt trời mọc là làm, làm hết buổi thì ăn cơm. Ăn cơm xong là giữa trưa, vào ngày có phiên chợ thì họp chợ, không có chợ phiên thì nghỉ ngơi, tới giờ Thân lại đi làm, làm hết buổi thì về ăn tối. Sau bữa tối, trời cũng đã muộn, về nhà nghỉ ngơi. Vào vụ mùa bận rộn, không cần biết đến thời gian, dốc hết sức lực mà làm. Vào ngày mưa tuyết, là lúc người có học dạy dỗ về những sự việc liên quan đến sinh kế trong trang viên như thời vụ, ngũ cốc, phân bón, trồng trọt, gia súc, cá muối, dưỡng sinh, rau quả, cũng giảng về đạo đức, lễ nghĩa, phép tắc cư xử.

Vào sáng ngày thứ tư, người tới dẫn đường không phải Trần Tương, mà là một thiếu nữ.

Nhìn vào búi tóc, biết thiếu nữ đã đến tuổi cập kê. Thiếu nữ tự xưng danh tính, tên là Trần Tần.

Trần Tần dẫn Tô Tần và Trâu Phi Đao tới xem công việc của phụ nữ, xem họ nấu cơm, giã gạo, may vá thêu thùa, chăm sóc dâu đay, kéo tơ dệt vải, sau đó tới trường học nữ, để xem cách con gái học sáu mươi tư kỹ nghệ.

Sáu mươi tư kỹ nghệ cũng chính là sáu mươi tư kỹ xảo làm nông cơ bản trong Liên Sơn trang viên, chia thành kỹ nghệ cho nam và kỹ nghệ cho nữ. Sáu mươi tư kỹ nghệ cho nam, đã được Trần Tương giới thiệu trong mấy ngày qua.

Rời khỏi trường học, Trần Tân dẫn họ đến xem chỗ ở của phụ nữ. Sau khi đi thăm thú xong mấy ngôi nhà, Trần Tần dẫn Tô Tần tới nhà mình, tiếp đãi trà bánh. Trâu Phi Đao vẫn đứng ngoài cửa canh gác như thường lệ.

Căn nhà khá rộng rãi, ngăn thành hai buồng trong ngoài, buồng trong có giường, buồng ngoài có án, đồ đạc đầy đủ. Trên án bày một cây đàn cầm, trên tường treo vài món tiêu sênh sáo phách.

“Cô nương thích nhạc?” Tô Tần hỏi.

“Vâng!” Trần Tần gật đầu, “đại nhân nếu muốn nghe, đêm nay có thể tới đây, tiểu nữ sẽ tấu nhạc hâu đại nhân.” Nói đoạn, ánh mắt cháy rực nhìn thẳng vào Tô Tần, không chút e thẹn.

Tô Tần cười: “Có thể tấu nhạc ngay bây giờ chăng?”

“Trang viên quy định, ngoại trừ những ngày trọng đại như lễ tết, cúng tế, còn thì ban ngày không được tấu nhạc, để tránh làm phiền nhiễu công việc của người khác.” Trần Tần đáp.

“Ồ,” Tô Tần ngạc nhiên, “nghe nhạc sao lại làm phiền nhiễu công việc?”

“Ở Khang Trang,” Trần Tần nhìn thẳng vào mắt Tô Tần, “nhạc có khác đấy. Nhạc chia thành hai loại, một loại tấu cho thần nghe, một loại tấu cho người nghe. Không phải ngày lễ trọng đại, không phải có chuyện vui mừng, thì không thể tấu nhạc cho thần, chỉ có thể tấu cho người. Khang Trang ban ngày bận rộn làm việc, bất kỳ ai cũng không thể tấu nhạc cho người nghe. Tấu cho người nghe, phải đợi đêm về.”

“Vậy ư?” Tô Tần cười, “nhưng nhạc là để tấu cho tri âm nghe kia mà!”

“Phải rồi,” Trần Tần cũng cười, “nam nữ trong trang viên, ai cũng có tri âm.”

“Trong trang viên hẳn cũng có tri âm của cô nương?”

“Có đấy.” Trần Tần mim cười, đưa tay vén tóc mai, “có điều, tri âm của tiểu nữ không nhiều, chỉ năm bảy người mà thôi, như Hứa Tử, Tiết Tử, Đồng Tử, Dục Tử...”

“Đồng Tử?” Tô Tần có vẻ tò mò với cái tên này.

“Chính là thợ đồng trong xưởng đồng, tất cả đồ đồng trong trang viên, đều do người này làm ra, tay nghề rất giỏi.” Trần Tương hết lời khen ngợi.

Tô Tần đã từng gặp thợ đồng, nên có phần kinh ngạc: “Ồ, ông ấy... cũng cao tuổi rồi, là một trưởng lão!”

“Phải,” Trần Tần đáp, “ông ấy cũng là một tri âm của tiểu nữ, tiểu nữ rất thích gảy đàn cho ông ấy nghe!”

Tô Tần hít vào một hơi thật sâu, rồi chầm chậm thở ra, lại trò chuyện thêm dăm ba câu nữa rồi đứng dậy cáo từ.

Ra tới ngoài cửa, Trần Tần vẫn muốn theo cùng, nhưng Tô Tần ngăn lại.

“Tô Tử,” Trần Tần nhìn Tô Tần đăm đăm, rồi cầm ngay một mảnh khăn đỏ, thoăn thoắt treo lên ngoài cửa, chỉ vào mảnh khăn, cất giọng cao vút, chẳng hề e dè Trâu Phi Đao đang đứng ngay bên cạnh, “đêm nay đêm lành, tấm khăn đỏ này sẽ dành cho Tô Tử. Tô Tử muốn tới lúc nào, tiểu nữ cũng luôn trong nhà chờ đợi, sẽ chỉ diễn tấu cho mình Tô Tử!”

Tô Tần nghe vậy thì mặt mũi nóng ran, nói liền mấy tiếng “không được”, rồi vội vã bỏ đi thẳng.

Về tới Nghị Sự đường, Tô Tần không ngờ Trần Tương đang ngồi chờ sẵn ở đó.

“Dạo chơi vui chứ?” Trần Tương bước ra nghênh đón, vòng tay hỏi.

“Cũng được.” Tô Tần vòng tay đáp lễ, “may quá, tại hạ đang muốn tìm Trần Tử.”

Trần Tương đón Tô Tần vào trong, vừa chầm trà, vừa cười hỏi: “Tiểu nữ nhà tại hạ tiếp đón tốt chứ?”

“Tiểu nữ?” Tô Tần kinh ngạc, nhìn sững vào Trần Tương, “ý Trần Tử là, Trần Tần là lệnh nữ ư?”

“Phải!” Trần Tương gật đầu, Tô đại nhân danh tiếng lừng lẫy liệt quốc, tiểu nữ ngưỡng mộ đã lâu, hay tin Tô đại nhân tới, hôm trước đã muốn đến gặp, song ngặt vì trang viên có quy tắc, nên chưa toại nguyện. Hôm nay trang chủ sắp xếp cho Tô đại nhân đi thăm nữ xá, nên tại hạ mới bảo tiểu nữ đưa đại nhân đi!

Tô Tần hai mắt trợn trừng.

“Tô đại nhân?” Trần Tương gọi.

“Ờ ờ, không sao không sao.” Tô Tần giờ mới định thần, cảm thấy mình quả là kiến văn hạn hẹp, bèn vòng tay nói, “tại hạ đang định nói với Trần Tử, tại hạ tới đây đã vài ngày, đến lúc cần trở về Lâm Truy rồi.”

“A?” Trần Tương ngỡ ngàng, “sao có thể được?”

“Xin hãy chuyển lời tới trang chủ, tại hạ còn có việc ở Lâm Truy, hôm qua đã quyết định phải lên đường.” Tô Tần trả lời dứt khoát.

“Tô đại nhân chờ cho một lát!” Trần Tương nói rồi chạy đi như bay, loáng cái đã dẫn theo Hứa Hành quay lại.

Thấy xe ngựa đã sẵn sàng, Trâu Phi Đao ngồi ở chỗ phu xe, Tô Tần cũng đã yên vị trên xe, Hứa Hành vô cùng kinh ngạc: “Ồ... Tô Tử... thế này là...”

Tô Tần vòng tay: “Hứa Tử bận trăm công nghìn việc, Tần không dám quấy quả thêm, Lâm Truy còn có chút việc thế tục chờ Tần xử trí, nên Tần...”

“Lượng thứ, lượng thứ!” Hứa Hành vòng tay lia lịa, “nghe Trần Tương nói, Tô Tử chí ở thiên hạ, tâm ở bách tính, cũng cùng chí hướng với Hành. Trần Tương tha thiết mời Tô Tử tới Khang Trang, Hành cũng mong được Tô Tử chỉ giáo cho Khang Trang đôi điều. Hành nghe Tô Tử mưu sự, coi trọng suy xét. Tô Tử vừa mới tới đây, chưa kịp suy xét tình hình, Hành vì không dám làm khó, mới cắt đặt Trần Tương đưa Tô Tử đi thăm thú khắp nơi, đợi Tô Tử hiểu rõ tình hình rồi mới dám thỉnh giáo. Vậy mà... Hành còn chưa kịp thỉnh giáo, Tô Tử đã lại...”

“Tạ ơn Hứa Tử khoản đãi!” Tô Tần cười đáp, rồi lại vòng tay, “không giấu Hứa Tử, lần này tới Khang Trang, Tần có nhiều điều cảm khái, trong lòng muôn vàn nghi hoặc, cũng đang muốn thỉnh giáo Hứa Tử đây.”

Hứa Hành bật cười, quay sang Trần Tương: “Trần Tương, mau giúp Trâu Tử dỡ đồ trên xe xuống, gọi Tiểu Tần đến đưa Trâu Tử đi dạo!” Rồi nắm tay Tô Tần, cùng bước vào trong Nghị Sự đường.

Thấy Tô Tần đã vào trong, Trâu Phi Đao cũng nhảy xuống xe, giao dây cương cho Trần Tương, còn mình đứng canh ngoài cửa.

Khi Trần Tương sắp xếp xe ngựa xong xuôi, bước vào trong nhà, thấy Tô Tần, Hứa Hành đang trò chuyện.

Trần Tương cười với Tô Tần, châm thêm trà, ngồi xuống bên cạnh.

Thế nhưng lắng nghe một chốc, mới thấy không phải Tô Tần đang chỉ giáo về tương lai của Khang Trang, mà là Hứa Hành đang giảng giải. Rõ ràng Hứa Hành cũng muốn nhân cơ hội này để ca tụng giáo hoá của Thần Nông trước một nhân vật hiển hách như Tô Tần.

"... Còn như thu hoạch ngoài ruộng,” Hứa Hành nói tiếp, “một phần nộp lên Đằng thất, ba phần trao đổi hàng hoá, bốn phần để ăn, hai phẩn tích trữ trong kho, phòng khi đói kém.”

“Phân chia như vậy, hẳn là có căn cứ?” Tô Tần hỏi. “Phương pháp của Thần Nông, không được ghi chép lại, là Hành dựa theo thu hoạch của Khang Trang, tạm thời phân chia như vậy.”

“Nếu gặp chiến loạn, Khang Trang có chuẩn bị gì chưa?”

“Giáo hoá của Thần Nông, không nói tới chiến loạn.”

“Tại sao kia?” Tô Tần lấy làm khó hiểu.

“Thời đại Thần Nông, xã hội đại đồng. Thời đại đại đồng, có chiến loạn chăng?” Hứa Hành hỏi ngược lại.

Lời của Hứa Hành, dường như đã chạm phải điều gì đó, trong lòng Tô Tần loé lên một tia sáng, nhưng rồi lại nhanh chóng vụt tắt. Tô Tần ngả người lại hỏi: “Hứa Tử giải thích thế nào về thời đại đại đồng?”

“Tài sản chung.”

“Tài sản chung?” Tô Tần nheo mắt lại.

“Vợ chung.”

“Ồ...” Nhớ lại những điều tai nghe mắt thấy mấy hôm nay, Tô Tần chép miệng mấy cái, rồi im lặng.

“Thời đại Thần Nông thượng cổ, chí đức chí thiện, tài sản là chung, vợ cũng là chung.” Hứa Hành dõng dạc giảng giải, “thời đó, dân chỉ biết có mẹ, không biết đến cha, trồng cấy mà ăn, dệt vải mà mặc, chung sống cùng hươu nai, không có lòng hãm hại lẫn nhau! Người còn không hại đến cầm thú, có thể chiến loạn được chăng?

“Vào thời thượng cổ, thế giới đại đồng, chung của chung vợ đã thành phong tục, nên dân không tranh giành lẫn nhau. Thế đạo ngày nay, vợ chồng có lễ, già trẻ có trật tự, lễ nhạc đã thành phong tục, Hứa Tử khởi xướng chung của thì được, lại khởi xướng cả chung vợ thì...” Tô Tần chau mày, dang tay, hai mắt nhìn thẳng vào Hứa Hành, tỏ ý không thể hiểu nổi.

Hứa Hành không giải thích, nhìn sang Trần Tương.

Trần Tương xuất thân Nho môn, vốn chú trọng lễ nhạc đẳng cấp, nam nữ hữu biệt. Chung của thì không còn đẳng cấp, chung vợ thì không còn phân biệt, đây hẳn là điều Trần Tương không thể chấp nhận.

“Không giấu đại nhân,” Trần Tương cười ngượng nghịu, vẫn theo tôn ti Nho môn gọi mà gọi Tô Tần là đại nhân, “khi Tương mới vào trang viên, cũng cảm thấy ngại ngần, mới khẩn cầu với thầy, thầy cho phép Tương được chung một nhà với thê thiếp con cái, gia đình quây quần. Chẳng bao lâu, con gái tới tuổi cập kê, Tương và vợ bàn với con gái chuyện kén rể, nào ngờ con gái tính tình phóng khoáng, muốn theo tập tục trong trang, tự dựng nhà ở, chọn tri âm mà hoà hợp sắt cầm. Lại chẳng bao lâu sau, thê thiếp khuyên Tương hãy theo tập tục, Tương bàn với em trai, rồi cũng thuận theo tập tục trong trang, để thê thiếp ở riêng cho tới nay.” Rồi cười gượng lắc đầu, “Tô Tử có thể coi đây là nhập gia tùy tục. Trang viên có tục, người người làm theo, cứ thế lâu dần, không còn thấy kỳ lạ nữa.”

“Tần còn một câu hỏi,” Tô Tần hít vào một hơi, ngoảnh nhìn Hứa Hành.

“Tô Tử xin cứ nói!”

“Từ lúc Bình Vương dời đô về đông, thiên hạ hỗn loạn, dân chúng lầm than. Nghe Trần Tử nói, Hứa Tử tâm ở lê dân, chí ở thiên hạ. Hứa Tử hoài bão cao xa, hẳn là không dùng cách trị lý một góc để cứu trị thiên hạ đấy chứ?” Tô Tần trong hỏi có đáp, trong đáp có ngờ.

“Dám hỏi Tô Tử,” Hứa Hành nhìn xoáy vào Tô Tần, ánh mắt sắc nhọn, “nếu đến một góc còn không trị nổi, có thể cứu thiên hạ được chăng?”

Tô Tần chép miệng vài cái, lại không đáp được.

Hứa Hành càng thêm phấn khích, thao thao giảng giải về đạo lớn của mình, giống như đang giảng bài trong lớp học, hai mắt sáng rỡ, vung tay thật mạnh: “Thiên hạ không trị, là do người có tư tâm. Tư thì bất công, bất công thì tranh, tranh thì loạn, loạn thì băng hoại. Muốn trị thiên hạ, trước tiên phải trị chữ tư. Tư từ đâu mà ra? Tư từ nhà mà ra. Cốt yếu của nhà là của cải. Của cải từ đâu mà ra? Chữ ‘gia’ gồm một chữ ‘miên’ và một chữ ‘thỉ’(1) , ‘miên’ nghĩa là nhà, ‘thỉ’ nghĩa là lợn, nhà và lợn đều là của cải. Có nhà có lợn, nghĩa là có của cải. Cốt yếu của của cải là an định. Chữ ‘an’ gồm chữ ‘miên’ và chữ ‘nữ’ (2), trong nhà có phụ nữ mới thành an. Nhà và nghiệp gắn liền với nhau, đàn ông có nhà có lợn, có thể coi là lập nghiệp. Lập nghiệp tức thành gia, có nhà thì có thể cưới vợ, cưới vợ thì có thể an gia, an gia thì có thể sinh con, sinh con thì có thể kế nghiệp, kế nghiệp lại có thể thành gia, thành gia lại có thể cưới vợ, cưới vợ lại có thể sinh con... Cứ thế tuần hoàn liên tục, khiến cho tư dục tràn lan, bất công đầy rẫy, con người mới chuyển sang thời thế đại tranh!”

(1)Phương pháp chiết tự chữ Hán, chữ gia (■) gồm chữ miên ở trên và chữ thỉ (■) ở dưới.

(2)Phương pháp chiết tự chữ Hán, chữ an (■) gồm chữ miên (■) ở trên và chữ nữ (■) ở dưới.

“Trời ơi!” Tô Tần cố kiềm chế con tim đang nhảy nhót dữ dội trong lổng ngực, thầm nhủ, “lời Hứa Tử nói, chẳng phải chính là mối hồ nghi mà Tô Tần này nát óc suy nghĩ vẫn chưa tìm ra lời giải đấy ư? Chớ vội, chớ vội, hãy nghe tiếp xem ông ta nói gì!”

Quả nhiên, Hứa Hành tiếp tục hào hứng giảng giải: “Nếu muốn trị thế, trước tiên phải ức chế tư tâm. ức chế thế nào? Bỏ nhà! Bỏ nhà thế nào? Bỏ an! Bỏ an thế nào?

Bỏ nữ! Bỏ nhà thì không còn của cải, không còn của cải thì không có phụ nữ, không có phụ nữ thì không có con cái. Phàm là đàn ông, chỉ khi không có con cái, mới có thể từ bỏ tư tâm được!”

Tô Tần hít sâu một hơi, rồi chầm chậm thở ra. Phải, người ta nếu không có con cái, thì cần của cải để làm gì? Bởi vậy, muốn ức chế tư tâm, buộc phải tuyệt tự, Hứa Tử đang xuất phát từ chính gốc rễ để suy xét về thiên hạ trị loạn đấy thôi.

Thế nhưng, mấu chốt là ở đâu? Đạo của Hứa Tử suy cho cùng sai ở chỗ nào? Lòng người không còn thuần phác như xưa, thế giới đại đồng, sớm đã trở thành quá vãng, tư dục giống như dòng suối tuôn ra khỏi núi, ồ ạt đổ xuống dưới thấp, nay đã tràn ngập đồng bằng, thành nạn lũ lụt, Hứa Tử cố gắng khiến nước lũ tràn lan chảy ngược trở về, quay lại đầu nguồn, chuyện này có thể được chăng?

Tô Tần chau tít đôi mày.

Hứa Hành nhìn thấy, rõ ràng cũng đã đoán ra suy nghĩ trong lòng Tô Tần, bèn nói thẳng: “Tô Tử hẳn đang cho rằng, tại hạ quá ư ngu ngốc?”

“Tần không dám!” Tô Tần vòng tay đáp, “Tần chỉ có một mối hồ nghi. Năm tháng không thể trở ngược, chuyện xưa không thể tìm về, từ thời đại Thần Nông cho đến nay, đã trải mấy nghìn năm rồi. Lòng người sớm đã khác xưa, ước nguyện của Hứa Tử, nếu muốn thực thi, e là rất khó!”

“Dám hỏi một câu, sự nghiệp hợp tung của Tô Tử, có luôn thuận lợi?” Hứa Hành không đáp mà hỏi.

Tô Tần im bặt.

Hứa Hành cười dài vài tiếng: “Đường ở trên đời, chỉ có đi hay không đi, chứ không có dễ đi hay khó đi. Hành bất tài, chỉ muốn thử đi đường này mà thôi!” Rồi nhìn thẳng vào Tô Tần, “tại hạ sẽ trả lời cho câu hỏi của Tô Tử về một góc khi nãy!”

Tô Tần vòng tay: “Tần cung kính lắng nghe!”

“Người thời nay, nói giỏi thì nhiều, mà chịu làm thì ít, Hành rất coi thường.” Hứa Hành thu thần, sửa ngay vạt áo, ánh mắt rời khỏi Tô Tần, dõi ra phía ngoài, nhìn mà như không nhìn, ngữ khí trầm trọng, giọng điệu sôi nổi, “chí của Hành, là noi theo phương pháp của Thần Nông, làm theo cách làm của Thần Nông, khiến người trong thiên hạ phản phác quy chân. Làm theo thế nào kia? Bắt đầu từ một góc.” Nhìn sang Trần Tương, rồi lại nhìn Tô Tần, ánh mắt tràn đầy khao khát, “một góc hôm nay, Hành có ba trăm nhân khẩu. Chờ ba trăm nhân khẩu này đều hiểu đạo của Hành, Hành sẽ khiến họ đi khắp bốn phương, xây dựng Khang Trang ở khắp nơi, từ một thành mười, từ mười thành trăm, từ trăm thành nghìn, từ nghìn thành vạn. Đến lúc đó, núi liền núi, trang liền trang, người trong thiên hạ không ai không noi theo giáo huấn của Thần Nông, không ai không thi hành đạo của Thần Nông, không có của riêng, không có vợ riêng, không có con cái, không có tông miếu, không có xã tắc, không có vua tôi, người già được nuôi dưỡng, trẻ nhỏ được vỗ về, tuy muốn tranh, cũng không có gì để mà tranh nữa.”

Tô Tần nghe vậy, tuy có nể phục, song trong lòng rầu rĩ thê lương, nhãn quang như kiếm chiếu thẳng vào Hứa Hành, như thể muốn nhìn thấu xem rốt cuộc là sức mạnh nào đã đem lại cho ông ta chấp niệm ngoan cường nhường vậy.

Hứa Hành hiển nhiên cũng đã cảm nhận được điều gì, cười buồn vòng tay: “Để Tô Tử cười chê rồi!”

“Chí lớn của Hứa Tử, Tô Tần thực lòng thán phục!” Tô Tần đáp lễ, thuận thế đổi sang chuyện khác, khẽ cười mà nói, “thiên hạ ngày nay, học giả như rừng, ai cũng có học vấn riêng, ai cũng theo thuyết riêng, cũng đều thực thi đạo của riêng mình. Theo như Tần biết, không phải ai cũng chỉ giỏi nói suông. Hứa Tử lại khinh thường tất thảy, Tô Tần ngu muội, xin Hứa Tử giải thích giúp cho!”

“Tô Tử đã hỏi, Hành cũng xin mạo muội đáp bừa!” Hứa Hành không né tránh, vẫn khí thế sục sôi, “học vấn thiên hạ, rậm rạp như rừng, tuy không hề ít, song quy kết lại, đều không ngoài các môn Nho, Mặc, Đạo, Pháp, người học cao, cũng đều không ngoài các vị Khổng, Lão, Dương, Mặc. Lão Tử trọng đạo trời, không quản nhân sự; Nho gia thờ vua, đa phần giả nhân giả nghĩa; Dương Chu chỉ quý thân mình, không có lòng thương xót; Mặc gia không tiếc thân mình, trái ngược lẽ trời; Binh gia nối giáo cho giặc, gầy họa cho thiên hạ; Pháp gia trị ngọn không trị gốc, trị người không trị mình; Tung hoành gia sinh chuyện thị phi, chỉ sợ thiên hạ chưa đủ loạn; Danh thực gia ưa biện luận vô bổ; Tiểu thuyết gia đưa đẩy chuyện hoang đường; Am dương gia võ đoán núi sông; Vu thuật gia gian trá, lợi dụng quỷ thần để trục lợi. Duy chỉ noi theo cái học Thần Nông của tại hạ, mới có được gốc rễ.” Đoạn vòng tay, “nếu có chỗ nào bất kính, dám mong Tô Tử lượng thứ.”

Thấy Hứa Hành khinh miệt học vấn thiên hạ, thẳng thừng chê bai cái học tung hoành, Tô Tần trong lòng kém vui, định phản bác vài câu, song gắng gượng kìm nén, chỉ nở một nụ cười buồn, quay đầu nhìn sang Trần Tương: “Dám hỏi Trần Tử, chỗ này hẳn có tịnh thất?”

Trần Tương mỉm cười, dẫn Tô Tần ra khỏi phòng.

Image

MẠNH PHU T THẤT CHÍ CUNG TỀLÃO CHĂN DÊ LẤY DÊ GIÁO HUẤN

Nhà Nho đất Trâu Mạnh Kha đã nổi danh Tắc Hạ.

Liên tiếp đánh bại cao thủ Tắc Hạ, cự tuyệt Tề Vương, vương xa rước đón, cung Tuyết khoản đãi, Tề Vương chân trần nghênh đón, mở tiệc Bát Dật(1), giữ lại qua đêm trong hậu cung... Sau khi Mạnh phu tử ngạo nghễ tới Tề, một loạt sự việc chấn động liên tiếp theo nhau chỉ trong vài ngày ngắn ngủi, đám tiểu thuyết gia dù miệng lưỡi tài tình cách mấy, cũng khó lòng dựng ra được những tình tiết kịch tính đến vậy.

Nếu như cuộc kỳ ngộ của Mạnh phu tử chốn hậu cung để lọt ra ngoài chút phong thanh, thì Tắc Hạ, thậm chí là cả thiên hạ, không biết sẽ còn ồn ào đến đâu nữa? Sau khi trở về khách xá, hễ nghĩ tới chuyện này, Mạnh phu tử lại thấy lạnh toát sống lưng.

(1)Bát Dật, chỉ đội vũ nhạc thời xưa, một hàng tám người là một dật, chỉ có thiên tử mới được dùng đội nhạc gồm tám hàng.

Đương nhiên, đây cũng là một chuyện khiến Mạnh phu tử càng nghĩ càng thấy đáng kiêu hãnh, bởi phu tử không chỉ “không loạn” giống như Liễu Hạ Huệ, mà còn làm được điều mà Liễu Hạ Huệ không làm được, đó là “không thân”. Chuyện về Liễu Hạ Huệ, Mạnh phu tử từ nhỏ đã được nghe, song khi trưởng thành, lại hồ nghi thật giả. Vả lại, ngồi lòng không loạn cũng có gì đáng phục? Giữa đêm mưa gió rét mướt, trong ngôi miếu hoang, trước một cô gái xa lạ, run rẩy vì rét, phải ngồi vào lòng mình để sưởi ấm, mà không sinh tạp niệm, đừng nói là Liễu Hạ Huệ, dù là sĩ tử bình thường cũng dễ dàng làm được. Còn tình cảnh của Mạnh phu tử lại hoàn toàn khác. Tề Vương giữ Mạnh phu tử ngủ lại hậu cung, lệnh cho cô gái kia đến hầu hạ, là danh chính ngôn thuận, không có gì trái lễ. Hơn nữa, cô gái kia đến đó chỉ là để hầu hạ mình, nên “loạn” với mình là bổn phận duy nhất của nàng ta. Cho dù là vậy, Mạnh phu tử cũng quyết không loạn, quyết không chịu nhìn thân thể nàng ta, quyết không cho nàng ta dìu đỡ, thậm chí khi nàng ta cầu xin làm nô tỳ, cũng quyết không động lòng. Mạnh phu tử thực sự không chút dao động, cho dù cô gái đó rất đẹp, là cô gái đẹp nhất mà Mạnh phu tử từng gặp trong đời.

Tuy nhiên, cuộc kỳ ngộ đáng kiêu hãnh ấy, có đáng để khoe ra không?

Không đáng!

Cũng không thể nói ra!

Nếu chuyện này để lộ ra ngoài, sử gia chắc chắn sẽ viết lại, biến Mạnh Kha thành Liễu Hạ Huệ thứ hai trong thiên hạ. Mạnh phu tử tới Tề là để phò tá Tề Vương thành tựu sự nghiệp thống trị thiên hạ, chứ không phải là để nêu gương đạo đức. Vả lại, nếu để chuyện này đồn đến tai mẫu thân, bà sẽ nghĩ thế nào? Bà có chịu tin không? Lỡ mẫu thân không yên tâm, lại bắt phu nhân sang Tề trông nom Mạnh phu tử, thế chẳng phải sẽ càng thêm rắc rối? Ai sẽ chăm sóc cho mẫu thân đây? Mẫu thân tuổi tác đã cao, lỡ có bề gì, chẳng phải sẽ biến Kha này thành phường bất hiếu?

Suốt mười ngày trời, Mạnh phu tử không bước chân khỏi cửa, chỉ ngồi im trong khách xá. Mạnh phu tử biết, toàn bộ đệ tử trong môn cũng biết, vương xa cung Tề có thể tới bất cứ lúc nào, triệu phu tử vào cung để Tề Vương thỉnh giáo về nhân nghĩa, trọng dụng phu tử để thực thi nhân nghĩa rộng khắp, dùng đạo nhân nghĩa để làm vua thiên hạ.

Cả Mạnh môn đợi suốt mười lăm ngày, vương xa không đến. Đừng nói là vương xa, mà ngay cả học giả Tắc Hạ cũng không thấy một ai tìm tới khách xá thỉnh giáo phu tử.

Vào ngày thứ mười sáu, đợi tới tận giờ Ngọ, trước cổng vẫn không thấy động tĩnh gì. Đệ tử Mạnh môn lấy làm sốt ruột, bắt đầu thì thào bàn tán. Công Đô Tử đứng ngồi không yên, một canh giờ ra ngoài ngóng đến ba lần.

Mạnh phu tử vẫn ngồi ngay ngắn trên chiếu, bất động như sơn, song trong lòng xao động như gió núi lùa qua khe, không thể khiến khí trầm đan điền được.

Gần tới giờ Thân, một hán tử khôi ngô lực lưỡng, dũng mãnh oai vệ bước vào trong cổng, cầu kiến phu tử.

Bước ra đón là Công Đô Tử. Công Đô Tử vừa nhìn tướng mạo của người này đã không ưa, nhìn kỹ, lại thấy mũ áo chỉnh tề, sắc mặt cũng khá ôn hoà, mới hỏi han vài câu khách sáo, nhận lấy bái thiếp, không cả buồn xem, chỉ bảo chờ ngoài cửa, rồi quay vào trong bẩm báo Mạnh phu tử.

Mạnh phu tử đọc bái thiếp, thấy viết là Khuông Chương, thì không khỏi kinh ngạc.

Mạnh phu tử không phải là phường mọt sách. Trước khi tới Tề, Mạnh phu tử đã tìm hiểu kỹ lưỡng mọi mặt về nước Tề, bao gồm cả tam quân, biết Khuông Chương là phó tướng quân Tề trong trận đại chiến với Ngụy, chỉ đứng dưới Điền Kỵ. Vả lại Khuông Chương vốn không phải họ Khuông, mà tên thật là Điền Chương, truy ngược dòng dõi, là hậu duệ của Trần Hoàn, huyết thống chính tông của công thất họ Điền. Cha là Điền Vĩ, đại phu nước Tề, từng phò tá hai vua Hoàn Công và Uy Vương, tuy quyền lực chưa tới mức khuynh đảo trong triều ngoài nội, song cũng được coi là hàng quý nhân. Trong mắt Nho giả đất Tề, Điền Chương mang tiếng xấu bất hiếu, đặc biệt còn dám thay cả họ cha. Mạnh phu tử từng băn khoăn chuyện Điền Chương rốt cuộc là có hiếu hay bất hiếu, nên đã dò la kỹ về con người này. Mẹ Chương họ Khuông tên Khởi, là thiếp. Điền Chương hồi nhỏ thích luyện thương múa kiếm, bất hoà với cha, thường bị cha chửi mắng, mẹ Chương vì che chở cho con mà chống đối Điền Vĩ. Điền Vĩ nổi giận, vung chuỳ đánh chết, chôn xác trong chuồng ngựa, khiến thi thể phải chịu nỗi giày vò bị ngựa phóng uế mỗi ngày. Điền Chương căm phẫn bỏ nhà ra đi, từ bỏ họ Điền, đổi sang họ mẹ, đầu quân ra trận, thề không bao giờ qua lại với cha, cha chết cũng không chịu về nhà chịu tang.

Khiến Mạnh phu tử kinh ngạc, không phải là việc Khuông Chương có hiếu hay bất hiếu, mà là tại sao lúc này, kẻ ấy lại tới tận cửa cầu kiến. Phải chăng là đến theo lệnh Tề Vương? Nếu đúng là vậy, cớ sao Tề Vương lại phái người này tới, mà không phải Điền Anh, Điền Văn hay bất kỳ người nào khác trong cung? Nếu không phải, thì cớ sao một vị tướng quân lại tới tận cửa tìm gặp?

Bất luận tới vì mục đích gì, thân là phó tướng tam quân, Khuông Chương cũng được coi là nhân vật trọng yếu của Tề, không thể coi thường. Mạnh phu tử ngẫm nghĩ một chốc, rồi chỉnh trang mũ áo, dẫn theo mấy đại đệ tử đích thân ra đón, hành lễ cung kính.

Thi lễ xong xuôi, Khuông Chương mới nói rõ mục đích tìm tới, song lại không liên quan tới Tề Vương, mà bởi bản thân mộ danh tiếng mà muốn bái kiến, có điều khúc mắc muốn thỉnh giáo phu tử.

“Dám hỏi có khúc mắc gì?” Mạnh phu tử ngỡ rằng Khuông Chương muốn hỏi việc quân, trong lòng thấp thỏm, khẽ chau mày lại.

“Trần Trọng Tử! (1) ” Khuông Chương nói ra một cái tên.

(1) Tức Trần Định, nhà tư tưởng nổi tiếng thời Chiến Quốc, tổ tiên là Trần Hoàn, công tộc họ Trần, chạy loạn sang nước Tề, đổi sang họ Điền, nên còn gọi là Điền Trọng. Điền Trọng thấy anh trai mình nhận lộc vạn chung, cho là của bất nghĩa, nên từ anh mà đi, cự tuyệt chức quan đại phu nước Tề, chức tướng quốc nước Sở, chuyển đến Ư Lăng, sau ẩn cư trong núi Trường Bạch, quyết không làm quan trong triều nhơ bẩn, không ăn thức ăn của thời loạn, cuối cùng chết đói.

“Trần Trọng Tử làm sao?” Mạnh phu tử mỉm cười, nhìn thẳng vào Khuông Chương.

“Ai ai cũng nói Trần Trọng Tử là người thanh liêm, phu tử thấy thế nào?” Khuông Chương nhìn lại, ánh mắt sắc bén.

Mạnh phu tử lại cười một tiếng: “Vì sao ai ai cũng nói người đó thanh liêm, hẳn Khuông Tử có biết?”

“Khi ở Ư Lăng, Trọng Tử ba ngày không ăn, đói tới mức mắt không nhìn thấy, tai không nghe thấy. May sao bên giếng có cây mận, nhiều quả bị sâu ăn rụng xuống gốc, Trọng Tử bò lại nhặt ăn, ăn liền ba quả, mới bắt đầu nghe lại nhìn lại được. Như thế, lẽ nào vẫn chưa được coi là thanh liêm?” Khuông Chương nhìn thẳng vào Mạnh phu tử.

“Cớ sao người này ba ngày không ăn?” Mạnh phu tử hỏi.

“Bởi lương thực trong nhà đều do huynh trưởng cung ứng.” Khuông Chương đáp.

“Than ôi!” Mạnh phu tử khẽ thở dài, “thế thì sao có thể gọi là liêm được?”

“Ồ?” Khuông Chương mở to mắt, “là phu tử coi thường Trọng Tử, hay là cảm thấy Trọng Tử không xứng với chữ liêm?” Khuông Chương đưa ra hai lựa chọn.

“Đều không phải,” Mạnh phu tử nói, “trong mắt Kha, sĩ tử đất Tề, đứng hàng đầu đương nhiên là Trọng Tử, sao có thể coi thường người này kia chứ? Tuy nói là vậy, song người này còn lâu mới được gọi là liêm! Nếu liêm theo kiểu đó, thì chỉ có thể làm một con giun, trên gặm đất ăn, dưới uống nước suối, chỉ cầu tự nhiên, không cầu ở người. Trọng Tử không ăn thức ăn của huynh trưởng, thế nhà ở thì sao? Có thể khẳng định nhà mình ở là do Bá Di dựng lên không, hay là do Đạo Chích dựng? Có thể khẳng định thóc lúa mình ăn là do Bá Di trồng không, hay là Đạo Chích trồng?”

“Điều đó thì có liên quan gì?” Khuông Chương tranh luận, “nhà Trọng Tử ở, thóc Trọng Tử ăn, là do vợ chồng Trọng Tử bện giày, dệt vải mang ra chợ bán đổi về!”

“Sao lại không liên quan?” Mạnh phu tử phản bác, “Trọng Tử xuất thân là quý tộc nước Tề, anh trai Trần Đới có đất phong, nhận lộc vạn chung, mà Trọng Tử lại cho rằng lộc đó bất nghĩa nên không ăn, cho rằng nhà đó bất nghĩa nên không ở, bởi đó mà từ anh biệt mẹ, dời đến ư Lăng. Kha nghe kể rằng, có một ngày Trọng Tử về nhà, đúng lúc có người mang tới biếu anh trai một con ngỗng sống, bèn chau mày hỏi: ‘Thứ đang kêu quàng quạc kia là gì thế?’ Bà mẹ liền giết con ngỗng đó cho Trọng Tử ăn. Đang ăn thì người anh về nhà, thấy Trọng Tử đang ăn thịt ngỗng, bèn cười nói: ‘Chú đang ăn thịt cái thứ kêu quàng quạc lúc nãy ấy.’ Trọng Tử bèn chạy ra ngoài, móc họng nôn thịt ngỗng ra. Thức ăn của mẹ thì không ăn, thức ăn của vợ lại ăn. Nhà của anh trai không ở, nhà tại Ư Lăng lại ở, như vậy sao có thể gọi là liêm được? Người như Trọng Tử, nếu muốn xứng với chữ liêm, trước hết phải biến thành con giun đã!”

Mạnh phu tử thao thao một mạch, vốn dĩ cứ ngỡ Khuông Chương sẽ nổi giận, tranh biện đến cùng, nào ngờ Khuông Chương chợt đứng lên, sụp xuống khấu đầu, giọng vang như chuông: “Lời của phu tử, đã giúp Chương khai thông chỗ bế tắc, quả đúng là thầy Chương!”

“Khuông Tử?” Mạnh phu tử có phần bối rối.

“Phu tử bề trên, xin nhận của Khuông Chương một lạy!” Khuông Chương lại hành đại lễ.

“Khuông... Khuông tướng quân?” Mạnh phu tử càng lấy làm kinh ngạc, bèn đổi cách xưng hô.

“Chương xin được làm đệ tử!” Khuông Chương lại vái.

Mạnh phu tử lúc này mới biết Khuông Chương thực lòng cầu bái, dường như cũng đã hiểu rõ nguyên do cầu bái, bèn vui vẻ chấp thuận, lập tức sai Vạn Chương sắp xếp, cho Khuông Chương hành lễ nhập môn.

Xong lễ bái sư, Khuông Chương gọi xe ngựa tới, đích thân đánh xe, mời sư tôn tới phủ làm khách, gọi bằng hữu Trang Bộc đi cùng.

Trang Bộc là quan ngự sử trong cung Tề, thường xuyên hầu bên Tuyên Vương.

Mạnh phu tử mừng thầm trong bụng.

Quả nhiên, rượu vừa ngà ngà, không đợi Mạnh phu tử hỏi đến, Trang Bộc đã mượn hơi men kể ra mọi chuyện trong cung, tỏ ra lo lắng vì Tề Tuyên Vương say mê ca vũ.

“Đại vương sao lại say mê đến vậy?” Mạnh phu tử hỏi.

“Đại vương thích nhất là nghe nhiều người tấu nhạc,” Trang Bộc đáp, “nhạc Bát Dật từ lâu đã bị xem thường, hễ nghe là phải cả trăm người tấu. Người giỏi nhạc nước Tề đều ở trong cung cả, nhạc công trong thiên hạ đua nhau tìm tới, đại vương đều thu nạp hết, nay tiêu sáo, mai cầm sắt, kia chuông khánh, rồi lại đàn sáo chuông khánh hoà âm, đại vương mê say với nhạc, đôi khi xao nhãng cả triều chính.”

Nhớ tới yến tiệc hôm đó, Tuyên Vương cũng cho tấu nhạc Bát Dật, Mạnh phu tử liền tin là thực, đổi lo thành mừng, vòng tay mà nói: “Đại nhân chớ lo, Kha tuy bất tài, nhưng có thể khiến đại vương không mê đắm ca vũ nữa!”

“Trâu Kỵ nhờ tiếng đàn mà can gián tiên vương, khiến Tề được trị. Phu tử nếu có thể khiến đại vương không còn mê đắm ca vũ, quả là may mắn cho người Tề, xin nhận của Bộc một lạy!” Trang Bộc bèn đứng dậy, dập đầu mà nói.

Mạnh phu tử đỡ Trang Bộc dậy, nói: “Buổi đại triều sáng mai, đại nhân có thể bẩm lên đại vương, Mạnh Kha xin được bàn với đại vương về nhạc!”

Sáng sớm hôm sau, cung Tề đại triều.

Sau khi bãi triều, Trang Bộc vào yết kiến Tuyên Vương, bẩm báo: “Đêm qua trời đẹp, thần tới phủ Khuông tướng quân, gặp được Mạnh Kha người Trâu, biết người này rất giỏi nhạc. Thần nói đại vương yêu nhạc, Mạnh Kha lấy làm mừng rỡ, xin được bàn về nhạc với đại vương!”

Nhạc vốn để chơi, chứ không phải để bàn. Tuyên Vương nghe vậy thì trong lòng bứt rứt, lập tức hạ lệnh đánh vương xa đến đón Mạnh phu tử.

Hai bên vừa hành lễ xong xuôi, Tề Tuyên Vương đã nôn nóng thúc giục: “Nghe nói phu tử hiểu nhạc, quả nhân bất tài, muốn được lắng nghe!”

“Dám hỏi đại vương thích nhạc gì? Là nhạc của tiên vương, hay nhạc của thế tục?” Mạnh phu tử khom lưng hỏi.

Tuyên Vương có phần lúng túng, mặt hơi đỏ lên: “Quả nhân thích nhạc thế tục, không phải là nhạc của tiên vương.”

“Hay lắm, đại vương,” Mạnh phu tử vòng tay chúc mừng, “đại vương thích nhạc thời nay, quả là phúc cho dân Tề, bởi vì nhạc thời nay vốn dĩ chính là nhạc thời cổ đại!”

“Ồ?” Tề Tuyên Vương lấy làm phấn chấn, “hãy thử nói xem!”

“Nhạc chia làm hai loại, một là tự tấu tự vui, hai là cùng vui với người, đại vương thích loại nào?”

“Cùng vui với người.”

“Đại vương thích cùng vui với ít người, hay là cùng vui với nhiều người?”

“Cùng vui với nhiều người.”

“Thế là phải rồi, Kha xin bàn về nhạc cùng đại vương!” Mạnh Kha đi vào chuyện chính, nín thở thu thần, “giả sử đại vương tấu nhạc ở đây, trăm họ nghe thấy tiếng trống tiếng chuông, tiếng tiêu tiếng sáo của đại vương, mà chau mày nhăn mặt, hối hả chạy đi nói với nhau rằng: ‘Đại vương thích chơi nhạc, nhưng cớ làm sao lại đẩy chúng ta vào cảnh thậm tệ này? Cha con không thể gặp nhau, anh em vợ con ly tán.’ Giả sử đại vương đi săn ở đây, trăm họ nghe thấy tiếng xe ngựa của đại vương, nhìn thấy cờ xí lộng lẫy của đại vương, nhưng lại không vui, hối hả chạy đi nói với nhau rằng: ‘Đại vương thích đi săn, nhưng cớ làm sao lại đẩy chúng ta vào cảnh thậm tệ này? Cha con không thể gặp nhau, anh em vợ con ly tán?’ Nguyên nhân không có gì khác, chính bởi đại vương không cùng vui với dân!”

Tuyên Vương đang nóng lòng chờ đợi được nghe nhạc lý cao siêu, nào ngờ lại chuốc lấy một tràng giáo huấn, hơn nữa ở ngay trước mặt bề tôi, cảm thấy bẽ bàng, sắc mặt sầm lại, đang định lên tiếng ngắt lời, song Mạnh phu tử lại như không nhìn thấy, vẫn thao thao bất tuyệt: “Giả sử đại vương tấu nhạc ở đây, trăm họ nghe thấy tiếng trống tiếng chuông, tiếng tiêu tiếng sáo của đại vương, ai cũng hoan hỉ, hối hả chạy đi nói với nhau rằng: ‘Đại vương ta vẫn mạnh khoẻ, nếu không sao có thể tấu nhạc được?’ Giả sử đại vương đi săn ở đây, trăm họ nghe thấy tiếng xe ngựa của đại vương, nhìn thấy cờ xí lộng lẫy của đại vương, ai cũng hoan hỉ, hối hả chạy đi nói với nhau rằng: ‘Đại vương ta vẫn mạnh khoẻ, nếu không sao có thể đi săn được?’ Nguyên nhân không có gì khác, chính bởi đại vương cùng vui với dân!”

Mạnh phu tử đưa ra hai giả thiết, một phản một chính, một giáo huấn một tán dương, Tuyên Vương mới biết không phải cố tình chỉ trích mình, chẳng qua là cách thuyết giáo thông thường của Mạnh phu tử mà thôi, nên cũng nguôi giận, sắc mặt trở lại bình thường, ngả người về trước, tán thưởng: “Đây đúng là mong muốn của quả nhân!”

Mạnh phu tử nghe rõ bên tai, kích động trong lòng, vòng tay mà nói: “Nếu như đại vương thực sự làm được ‘vui cùng với dân’, dù không muốn làm vua thiên hạ, cũng khó!”

Tuyên Vương cười gượng vài tiếng: “Đây quả không phải chuyện dễ dàng! Có điều, quả nhân sẽ tận lực.” Khoé mắt liếc thấy Mạnh phu tử lại muốn giáo huấn tiếp, bèn vội vã chuyển chủ đề, lấy công làm thủ, “phải rồi, vừa nãy phu tử có nhắc tới săn bắn, giờ hãy bàn về chuyện săn bắn. Nghe nói Văn Vương có vườn săn rộng bảy mươi dặm, có thực lớn đến vậy chăng?”

Tuyên Vương hỏi câu này, rõ ràng là có ẩn ý. Mạnh phu tử vừa mở miệng đã nhắc đến nhạc của tiên vương, từ đó khéo léo đưa ra lời giáo huấn, Tuyên Vương giờ lại lôi chuyện vườn săn rộng lớn của tiên vương ra hỏi, là muốn xem Mạnh phu tử giải thích thế nào.

“Nghe nói là rộng thế thực!” Mạnh phu tử ngẫm nghĩ một thoáng rồi đáp.

“Phải chăng là quá rộng?” Tuyên Vương ngả người về sau, có vẻ đắc ý.

“Song trăm họ vẫn thấy chưa đủ rộng!” Mạnh phu tử nhìn thẳng vào Tuyên Vương.

“Ồ!” Tuyên Vương kinh ngạc, ngả người lại hỏi, “xin hỏi phu tử, vườn săn của quả nhân chẳng qua chỉ bốn mươi dặm, cớ sao trăm họ đã cho là đã quá rộng?”

“Là bởi cách dùng khác nhau!” Mạnh phu tử đáp, “vườn săn của Văn Vương rộng bảy mươi dặm vuông, là cùng chia sẻ với trăm họ, người cắt cỏ đốn củi có thể vào, người bắt gà săn thỏ có thể vào, vì thế trăm họ mới cho là chưa đủ rộng, đó là lẽ đương nhiên. Khi mới đến Tề, Kha chưa hỏi rõ cấm kỵ của Tề thì chưa dám bước vào biên giới. Theo như Kha biết, vườn săn của đại vương rộng bốn mươi dặm vuông, đặt ở ngoại ô Lâm Truy, phàm ai dám tự ý săn bắt hươu nai trong đó, xử tội ngang với giết người. Đại vương làm như vậy, khác nào đặt cạm bẫy ở giữa nước mình, trăm họ nói rằng quá rộng, cũng là lẽ đương nhiên!”

Một đòn công kích nắm chắc phần thắng đã thất bại chỉ trong nháy mắt, Tề Tuyên Vương một lần nữa lại bị Mạnh phu tử dội cho một gáo nước lạnh ngay trước mặt triều thần, nhất thời sượng sùng, chỉ biết cười gượng, khẽ ho hai tiếng, rồi vỗ mạnh lên trán: “Chao ôi, quả nhân suýt nữa thì quên mất, lần này vời phu tử tới đây, là có đại sự cần thỉnh giáo!”

“Chữ giáo không dám nhận!” Mạnh phu tử vòng tay nói, “đại vương muốn hỏi gì, Kha biết sẽ không dám giấu!”

“Trên đỉnh Thái Sơn có một minh đường, là do Chu thiên tử xây dựng khi đi tuần phía đông,” Tề Tuyên Vương lại đổi sang chuyện khác, “nay Chu thất suy yếu, Chu thiên tử không còn đủ sức đi tuần về đông, minh đường ấy cũng thành vô dụng, không ít triều thần khuyên hãy phá bỏ. Xin hỏi phu tử, quả nhân có nên phá bỏ hay không?”

“Minh đường là nhà của bậc vương, đại vương nếu muốn thực thi vương chính, sao có thể phá bỏ minh đường?” Mạnh phu tử lập tức bác bỏ.

“Phu tử hãy nói thử xem, thế nào là vương chính?” Tề Tuyên Vương rõ ràng chưa nghe tới từ này bao giờ, bèn ngả người lại hỏi.

“Vương chính là chính sự của bậc vương,” Mạnh phu tử giải thích, “năm xưa Văn Vương cai trị đất Kỳ, thu thuế của dân cày theo phép chín thu một, ban cho quan lại đời đời hưởng bổng lộc. Qua lại cửa khẩu chợ búa đều không thu thuế, sông núi hồ đầm cho dân cả nước dùng chung, xử phạt kẻ phạm tội không liên luỵ người nhà, bốn loại người nghèo khổ đơn chiếc trong thiên hạ là quan (trai goá vợ), quả (gái goá chồng), cô (trẻ mồ côi), độc (người già neo đơn) được giúp đỡ trước tiên trong lúc thực thi nhân chính, đó đều là vương chính cả. ‘Thi’ có câu: ‘Mừng thay người giàu có, thương xót kẻ đơn côi’ (1) , chính là nói người giàu có không cần phải chăm lo, mà phải chăm chút cho kẻ không nơi nương tựa.”

(1)Trích trong bài “Chính nguyệt” phản “Tiểu Nhã” sách “Kinh Thi”.

Tuyên Vương tấm tắc khen ngợi: “Phu tử nói hay lắm!”

“Đại vương đã cho rằng vương chính là hay, cớ sao lại trì hoãn không làm?”

“Than ôi,” Tuyên Vương cười gượng, rầu rĩ thở dài, “quả nhân có một tật xấu, là ham của.”

“Ham của thì có sao!” Mạnh phu tử dõng dạc đáp, “năm xưa tiên tổ Chu thất là Công Lưu cũng rất ham của. ‘Thi’ có câu: ‘Rồi tích đầy kho, lương đầy đem đóng, đổ vào bao rộng, tiếng yên vang xa. Cung tên giương ra, giáo mác rìu búa, rồi mới lên đường. (2)” Chính là nói tới chuyện Công Lưu ham của thế nào. Vương chính rất ham của, yêu cầu kẻ ở lại tích luỹ lương thực đầy kho, người ra đi gói ghém lương thực đầy túi, sau đó mới có thể khởi hành, lên đường đi xa. Đại vương nếu như ham của, lại khiến cho trăm họ cũng đều được ham của như vậy, thế thì thi hành vương chính đâu còn gì khó?”

(2)Trích từ bài “Miên” phần “Đại Nhã” sách “Kinh Thi”.

Lại một lần nữa bị Mạnh phu tử chặn họng, Tuyên Vương trầm ngâm hồi lâu, dường như cố tình muốn làm khó Mạnh phu tử, nên lại ngẩng nhìn, giọng đầy khiêu khích: “Quả nhân còn có một tật xấu nữa, háo sắc.”

“Háo sắc cũng có sao,” Mạnh phu tử cứ như không nhận ra thái độ của Tuyên Vương, dõng dạc tiếp lời, “năm xưa Chu Thái Vương cũng háo sắc, sủng ái phi tử của mình. ‘Thi’ có câu: ‘Cổ Công Đản Phủ, sáng sớm phi ngựa, theo bến tây đi, tới chân núi Kỳ. Cùng nàng Khương Nữ, tìm chốn an cư (1), chính là nói về thời Thái Vương, bên trong không có gái oán hận, bên ngoài không có trai đơn chiếc. Đại vương nếu như háo sắc, lại khiến cho trăm họ cũng được háo sắc như vậy, thế thì thi hành vương chính đâu còn gì khó!”

(1)Trích từ bài “Miên” phần “Đại Nhã” sách “Kinh Thi”.

“Được rồi,” Tuyên Vương không còn biết nói gì, mặt khó đăm đăm, buông thõng hai tay, uể oải nói, “quả nhân... bãi triều!”

Hiện không phải lúc lên triều, đương nhiên cũng không có chuyện bãi triều, Tuyên Vương bật ra hai tiếng này, rõ ràng là muốn đuổi khách, cũng cho thấy đầu óc đã có phần bấn loạn.

Trang Bộc nhận ra sự tình, khẽ huých khuỷu tay vào Mạnh phu tử, rồi đứng dậy, khấu đầu hô: “Thần cáo lui!”

Thấy thái độ của Tuyên Vương như vậy, Mạnh phu tử hoả khí bốc lên, không cả khấu đầu, chỉ khẽ vòng tay, dõng dạc mà nói: “Mạnh Kha người Trâu cáo lui!”

Giọng Mạnh phu tử vang lên sang sảng, lại nhấn mạnh vào hai chữ “người Trâu”, dư âm chưa dứt, người đã đứng lên, chẳng nói thêm một lời, sải bước đi ngay khỏi cửa.

Thấy Mạnh phu tử tỏ thái độ như vậy, Tuyên Vương giận đến nghiến răng nghiến lợi, hằm hằm lừ mắt với Trang Bộc, hừ mũi một tiếng, đoạn phất tay áo đứng dậy, quay người đi thẳng vào sau điện.

Trong điện, chỉ còn trơ lại mình Trang Bộc quỳ trên chiếu, không biết phải làm sao, ngây ra như phỗng.

Lần thứ hai yết kiến Tuyên Vương, ra về không mấy vui vẻ, Mạnh phu tử hết sức buồn phiền, hai ngày liền không thiết ăn uống. Đệ tử mới nhập môn Khuông Chương sau khi biết được toàn bộ sự tình, bèn đánh xe tứ mã tới tận cửa, nói rằng muốn đưa Mạnh phu tử đi dạo giải khuây.

Mạnh phu tử nhảy lên xe mui của Khuông Chương, cứ thế mà đi, không mang theo một đệ tử cũ nào. Mạnh phu tử đi liền một mạch ba ngày trời, tới ngày thứ tư, tận lúc tối muộn, mới được Khuông Chương đưa về khách xá. Nhìn vào khí sắc, thấy ưu phiền đã vơi đi quá nửa. Mạnh phu tử cung kính tiễn Khuông Chương ra về, rồi tươi cười quay trở vào khách đường.

Chúng đệ tử đưa mắt nhìn nhau, sau đó nhất tề kéo vào trong phòng khách vấn an Mạnh phu tử. Mạnh phu tử phấn chấn kể lại những điều mắt thấy tai nghe trong ba ngày du ngoạn, hoá ra Khuông Chương đã đưa phu tử đi chơi khắp Tắc Sơn.

“Phu tử, đệ tử có điều khúc mắc!” Mạnh phu tử vừa dứt lời, Công Đô Tử đã vòng tay nói.

“Khúc mắc gì kia?” Mạnh phu tử mỉm cười nhìn lại.

“Chúng đệ tử đã dò hỏi, biết được Khuông Chương ở Tề danh tiếng rất tệ, ai ai cũng nói kẻ này bất hiếu bất từ bất lễ. Vậy mà phu tử không những nạp làm đồ đệ, cùng kẻ này đi du ngoạn, mà trước kẻ này còn chưa từng giữ lễ thầy, đệ tử dám hỏi nguyên do.” Công Đô Tử nói thẳng khúc mắc trong lòng.

Mạnh phu tử nhìn các đệ tử, trong ánh mắt ai cũng ánh lên điều băn khoăn tương tự.

Mạnh phu tử bật cười vài tiếng, chỉ vào các đệ tử: “Ta biết trước là các trò sẽ hỏi câu này.” Lại nhìn sang Công Đô Tử, “Công Đô, trò thử nói xem, trò nghe nói Khuông Tử bất hiếu bất từ bất lễ như thế nào?”

“Hắn chống đối cha, không đếm xỉa tới công lao nuôi dưỡng của cha mẹ, bỏ nhà ra đi. Mẹ chết chôn trong chuồng ngựa, hắn không dời mộ, chẳng phải là bất hiếu ư? Hắn đuổi con cái khỏi nhà, bỏ mặc không chăm chút, chẳng phải là bất từ ư? Hắn xua đuổi vợ, chỉ lo cho thân mình, chẳng phải là bất lễ ư?” Công Đô Tử nói liền một mạch.

“Các trò chỉ biết một mà không biết hai!” Mạnh phu tử đưa mắt nhìn khắp lượt đệ tử, “trước tiên nói về bất hiếu. Thông thường, bất hiếu có năm: chân tay biếng nhác, không phụng dưỡng cha mẹ, là điều bất hiếu thứ nhất; rượu chè cờ bạc, không phụng dưỡng cha mẹ, là điều bất hiếu thứ hai; tham lam của cải, chỉ chăm lo vợ con, không phụng dưỡng cha mẹ, là điều bất hiếu thứ ba; phóng túng thanh sắc khuyển mã, khiến cha mẹ hổ thẹn nhục nhã, là điều bất hiếu thứ tư; hiếu chiến hiếu dũng, gây nguy hiểm tới cha mẹ, là điều bất hiếu thứ năm.” Đoạn nhìn thẳng vào Công Đô Tử, “Công Đô, trò thử nói xem, trong năm điều bất hiếu đó, Khuông Tử đã phạm phải điều nào?”

“Ồ...” Công Đô Tử ngắc ngứ.

“Trong năm điều đó, Khuông Tử không phạm lấy một điều,” Mạnh phu tử cất giọng dứt khoát, “còn như chống đối cha theo lời trò nói, như thầy được biết, đó không gọi là chống đối, mà gọi là cùng khích lệ hướng thiện! Khích lệ hướng thiện là đạo của bằng hữu, cha con nếu khích lệ hướng thiện, lại gây tổn thương đến tình cảm!”

“Xin phu tử giải thích rõ hơn!” Công Tôn Sửu vẻ như chưa hiểu.

“Khuông Tử xuất thân dòng dõi,” Mạnh phu tử giải thích, “cha là Điền Vĩ do giỏi đón ý Tề Quân mà ở triều đình như cá gặp nước, hưởng lộc vạn chung. Điền Vĩ dạy Khuông Tử rằng: ‘Muốn lợi cho mình, phải lợi cho vua trước; muốn giàu nhà mình, phải giàu cho nước trước.’ Lại dạy rằng: ‘Vua bán quan tước, tôi bán trí tuệ, cho nên dựa vào mình không dựa vào người.’ Sao có thể như thế được? Đó đâu phải là đạo vua tôi, rõ ràng là trao đổi lợi ích trần trụi, bề tôi như vậy chính là nịnh thần, sẽ hại nước hại vua. Thân làm cha, sao có thể mang đạo gian nịnh ra dạy dỗ con cái? Cha như vậy, lẽ nào không chống đối được chăng?

Khuông Tử dùng đạo bề tôi để khuyên cha mình, bị cha trách mắng, từ đó cha con bất hoà, không thể ở chung một nhà. Bị cha trách mắng, Khuông Tử mới phải bỏ nhà ra đi, tòng quân báo quốc, như thế sao có thể gọi là bất hiếu? Còn như nói Khuông Tử bất từ bất lễ, cũng là hiểu lầm Khuông Tử! Lẽ nào Khuông Tử không muốn đoàn tụ gia đình? Lẽ nào Khuông Tử lại không muốn phụng dưỡng cha mẹ? Đều không phải. Nói Khuông Tử nhẫn tâm vứt bỏ vợ con, đó không phải là vứt bỏ, mà bởi tòng quân chinh chiến, sinh tử nháy mắt, đâu thể mang theo vợ con! Do đắc tội với cha, dẫn tới cha con bất hoà, khi cha qua đời, Khuông Tử không thể tận hiếu. Khuông Tử quyết ý từ bỏ vợ con, không nhận sự chăm sóc của con cháu, chính là muốn tự mình nếm trải nỗi khổ của cha! Nếu Khuông Tử không làm như vậy, nếu Khuông Tử có vợ chăm sóc, có con phụng dưỡng, mà lờ đi nỗi khổ mất vợ bỏ con của cha mình, thế chẳng phải càng bất hiếu hay sao? Như thế mới chính là Khuông Tử, các trò chỉ biết được một phần mà thôi!”

Nghe Mạnh phu tử giải thích như vậy, chúng đệ tử đều lấy làm thán phục.

Buổi sáng hôm sau, Khuông Chương lại tới, chúng đệ tử ra tận cửa nghênh đón, đều cung kính thi lễ, nhiệt tình tiếp đãi.

“Bẩm phu tử,” Khuông Chương thi lễ xong, nói với Mạnh phu tử, “tối qua đệ tử về nhà, giữa đường gặp một người, hẳn sẽ khiến phu tử hứng thú!”

“Ai kia?” Mạnh phu tử hỏi.

“Tô Tử!”

“Ồ, cũng khá lâu rồi không gặp, không biết người này đi đâu?”

“Nói rằng vừa từ bờ nam sông Tứ trở về.”

“Bờ nam sông Tứ? Tới đó để làm gì kia?”

“Đệ tử không biết. Hay tin đệ tử vừa từ chỗ phu tử trở về, và đã bái phu tử làm thầy, Tô Tử rất vui mừng, nhờ chuyển lời hỏi thăm phu tử, nói rằng lúc rỗi sẽ tới bái kiến.”

“Tô Tử khách khí quá!” Mạnh phu tử đáp, “lần trước Tô Tử có tới gặp ta, khiến ta vô cùng cảm khái, thực không ngờ Tô Tử lại uyên bác đến vậy, lần này Tô Tử trở về, ta nên đến thăm mới phải.”

“Vậy đệ tử xin đi cùng phu tử, được chăng?”

“Đi thôi!”

Mạnh phu tử nói đi là đi, lập tức cùng Khuông Chương tới gặp Tô Tần.

Do không được như ý ở cung Tề, cũng khá quen thuộc với đất Tề và Tắc cung, lại thêm đã qua một cuộc luận chiến với Tô Tần trước đó, nên Mạnh phu tử không còn giữ thành kiến với sách lược hợp tung nữa, lần gặp gỡ này, hai bên trò chuyện rất tâm đầu ý hợp. Tô Tần kể lại chi tiết chuyến thăm Liên Sơn Khang Trang, khiến mấy người cứ ngỡ đang nghe chuyện cổ, đến Mạnh phu tử cũng xuýt xoa mãi không thôi.

“Khi Tần sắp sửa lên đường,” Tô Tần dẫn dắt câu chuyện về với Mạnh phu tử, “Tề Vương cho gọi tới, hỏi ý Tần về phu tử, nghe giọng Tề Vương, dường như có ý thỉnh giáo. Dám hỏi phu tử, Tề Vương hẳn đã triệu vào?”

“Than ôi!” Mạnh phu tử thở dài một tiếng, nhìn sang Khuông Chương.

Khuông Chương đem chuyện Mạnh phu tử hai lần vào cung yết kiến Tuyên Vương kể lại đầu đuôi, song lược bỏ bớt những đoạn hỏi đáp sượng sùng.

Tô Tần trầm ngâm hồi lâu, nhìn thẳng vào Mạnh phu tử: “Dám hỏi phu tử, lần này tới Tề, là muốn truyền bá đạo học, hay là...” Dừng lại nửa chừng.

“Than ôi!” Mạnh phu tử lại thở dài não nề, “nếu chỉ là để truyền bá đạo học, Kha hà tất phải tới tận Lâm Truy?”

“Nếu không phải là để truyền bá đạo học, thì hẳn là lập đại nghiệp đời người, thực thi hoài bão lớn lao, có phải vậy chăng?” Tô Tần cười hỏi.

“Hoài bão lớn lao thì không dám, chẳng qua chỉ là muốn khuyến khích nhân chính mà thôi!”

“Tề Vương muốn thi hành nhân chính ư?”

Mạnh phu tử lắc đầu, giọng nói bi thương: “Nước Tề đã không còn nhân nghĩa, sao có thể thi hành nhân chính?”

“Phu tử có muốn nhìn thấy nhân nghĩa của nước Tề?” Tô Tần hỏi.

“Nếu có, Kha cũng muốn được thấy!”

“Hai vị xin đi theo tại hạ!” Tô Tần đứng dậy, sải bước ra khỏi cửa.

Mạnh phu tử, Khuông Chương đưa mắt nhìn nhau, ngơ ngác một hồi, mới đứng dậy đi theo.

Tô Tần cùng Mạnh phu tử, Khuông Chương, Trâu Phi Đao, bốn người ra khỏi Tắc cung, sải bước như bay, chẳng mấy chốc đã tới phủ trạch của Cao Chiêu Tử. Nào ngờ người không thấy bóng, nhà cửa trống trơ, mạng nhện giăng đầy trên xà nhà nhạc sảnh.

Tô Tần sững sờ, quỳ sụp xuống nền gạch phủ đầy bụi bặm, bật khóc.

“Tô Tử?” Mạnh phu tử không hiểu chuyện gì, khẽ gọi.

Tô Tần ngưng khóc, chỉ vào nhạc sảnh: “Phu tử hẳn biết, nơi đây là đâu?”

Mạnh phu tử lắc đầu.

“Phủ trạch này vốn là nhà của Cao Chiêu Tử, sảnh này chính là nơi Trọng Ni nghe nhạc Thiều khi xưa!”

“Chao ôi!” Mạnh phu tử bàng hoàng chấn động, quỳ sụp xuống đất, khiến bụi bặm bay tung.

Nghe nói đây chính là nơi Khổng Tử nghe nhạc Thiều, Khuông Chương cũng lấy làm kinh ngạc, vội quỳ xuống dập đầu.

Tô Tần chỉ vào ngôi nhà, chậm rãi kể lại chuyện năm xưa tới nước Tề hợp tung, đã từng đến đây bái kiến lão nhạc sư, thầy trò Mạnh phu tử nghe mà nước mắt ròng ròng.

Tô Tần đang kể nửa chừng, chợt Trâu Phi Đao đứng canh ngoài cửa dẫn vào một cụ già.

Cụ già nhận ra Tô Tần, bèn vòng tay nói: “Ngài là Tô đại nhân?”

Tô Tần nhìn sững vào cụ già: “Cụ đây là...”

Ông cụ lại vòng tay: “Tiểu nhân là kẻ gõ khánh cho tiên sư!”

“Tiên sư?” Tô Tần giật thột trong lòng, “ý cụ là, lão nhạc sư đã...”

“Phải!” Khánh sư cất giọng điềm đạm, “tiên sư ra đi đã ba năm rồi.” Đoạn chỉ vào một chỗ trong nhạc sảnh, “chính ở đó, tiên sư cầm tiêu, thổi khúc nhạc Thiều, toàn bộ nhạc sư đều ngồi im trước nhạc cụ của mình, chờ tiếng tiêu của tiên sư. Tiên sư thổi tiêu, thổi mãi, thổi mãi, tiếng tiêu chợt yếu dần rồi ngưng bặt. Mọi người thảy đều kinh hãi, nhìn về phía tiên sư, thấy tiêu vẫn ghé bên môi, tay vẫn đặt trên tiêu, song hơi thở đã dứt. Tiên sư đứng nguyên ở đó, ra đi giữa lúc đang tấu nhạc Thiều. An táng tiên sư xong, đội nhạc giải tán, tất cả đều bỏ đi cả, chỉ còn mình tiểu nhân không biết đi đâu về đâu, đành ở lại đây, hàng ngày hễ tới giờ tấu nhạc Thiều, lại tới sảnh này, gõ khánh cho tiên sư!”

“Đa tạ khánh sư!” Tô Tần khom lưng thật sâu, “dám hỏi, hôm nay đã gõ khánh chưa?”

“Tiên sinh tấu nhạc Thiều vào giờ Thân, tiểu nhân cũng gõ khánh cho tiên sư vào giờ Thân, lúc này có lẽ đã tới giờ Thân rồi!” Khánh sư nói đoạn, tiến tới phía trước dãy khánh dài, lấy từ trên giá xuống hai cây dùi, gõ ba tiếng, ngước nhìn lên không mà vái, “tiên sinh, Tô Tử mà người thường nhắc nay đã tới tới rồi, Tô Tử không quên nơi đây, đã quay lại để nghe Thiều!”

Tô Tần dập đầu sát đất, bật khóc.

“Dám hỏi khánh sư,” Mạnh phu tử bất chợt lên tiếng, “tiêu của tôn sư có ở đây chăng?”

Khánh sư nhìn Mạnh phu tử, gật đầu.

“Kha có thể nhìn được chăng?”

Khánh sư bước tới một bên sảnh, gạt bỏ vài mạng nhện, lấy ra một chiếc hộp phủ đầy bụi, đưa cho Mạnh phu tử.

Mạnh phu tử mở hộp, lấy trường tiêu ra, ngắm nghía một hồi, nhìn sang khánh sư: “Tiêu này, có thể cho Kha mượn thổi được chứ?”

Khánh sư ngỡ ngàng, nhìn sững một chốc, gật đầu.

Mạnh phu tử tiến lại nơi lão nhạc sư từng tấu nhạc Thiều, nâng tiêu lên thổi.

Trong sảnh chốc đã vang lên khúc Thiều, khởi điệu bằng tiêu.

Khánh sư bàng hoàng chết lặng.

Tiếng tiêu vang lên, dìu dặt, du dương, thấm vào tâm khảm, đích xác là nhạc Thiều không sai một ly.

Khánh sư cũng đã định thần, nước mắt tuôn trào, gõ khánh hoà nhịp.

Một ống tiêu, một dãy khánh, cùng tấu nhạc Thiều.

Mạnh phu tử tấu xong chín khúc, chợt quẳng tiêu xuống đất, quỳ phịch trên đất bụi, gào khóc thành tiếng: “Ồ hô thương thay, ô hô thương thay...ô hô... thương thay...”

Rồi cứ thế gào khóc cho bằng hết những nỗi trầm uất kìm nén suốt những ngày qua.

Khuông Chương vô cùng thán phục, thực lòng khen ngợi: “Phu tử thổi tiêu thật tuyệt diệu!”

“Là Thiều!” Mạnh phu tử sửa lại.

“Đệ tử sai rồi!” Khuông Chương vòng tay.

“Phu tử không những tấu nhạc Thiều tuyệt diệu, mà còn là xạ thủ cừ khôi!” Tô Tần chen vào một câu.

“Xạ thủ?” Khuông Chương sửng sốt, nhìn sang Mạnh phu tử, “phu tử cũng là thiện xạ?”

“Không phải thiện xạ, mà là xạ vô địch thủ!” Tô Tần lại tiếp một câu.

“Xạ vô địch thủ?” Khuông Chương như không dám tin, quay sang Tô Tần, “vô địch thế nào?”

“Xạ của phu tử, Tần không dám nói là thiên hạ vô địch, song dám nói ở nước Tề này, không ai địch nổi!” Tô Tần nghiêm trang đáp.

“Phu tử, có thực vậy chăng?” Khuông Chương nhìn Mạnh phu tử.

Mạnh phu tử chỉ cười khẽ, không phủ nhận, nhìn sang Tô Tần: “Chút nghề mỏn mọn, Tô Tử vì sao mà biết?”

Tô Tần mỉm cười: “Mưu sĩ tung hoành cũng chỉ có chút nghề mọn này, là khéo suy đoán mà thôi.”

Mạnh phu tử nghe ra Tô Tần đang muốn nhắc đến chuyện mình khinh miệt mưu sĩ tung hoành hôm trước, mặt hơi đỏ lên, bèn chuyển sang chuyện khác, giọng nói không giấu nổi râu rĩ: “Không giấu hai vị, Kha đã quyết định ngày mai rời Tề, đi thăm nơi khác!”

“A?” Khuông Chương cuống lên, “phu tử định đi đâu?”

Mạnh phu tử nhặt cây tiêu của lão nhạc sư lên, lấy ống tay áo khẽ khàng lau đi bụi bặm vừa dính phải, đặt bên miệng như muốn thổi, song lại không thổi thành tiếng: “Nơi có nhân nghĩa!”

“Đệ tử lập tức yết kiến đại vương!” Khuông Chương dừng lại một thoáng, ánh mắt kiên định, “khẩn cầu phu tử lưu lại vài ngày, chờ đợi tin vui!”

Lời vừa dứt, Khuông Chương đã đứng bật dậy, sải bước đi ra khỏi phủ trạch của Cao Chiêu Tử.

Giờ Ngọ hôm sau, vương xa lại tới tận cửa đón Mạnh phu tử. Vương xa không đi đến Tuyết cung, biệt cung của tiên Tề Vương như hai lần trước, mà đưa Mạnh phu tử tới thẳng chính điện trong vương thành nước Tề.

Đứng nghênh đón ngoài cửa điện là Tề Tuyên Vương, thái tử Địa, Điền Anh, Điền Văn và Khuông Chương.

Mạnh phu tử nhìn thấy rõ ràng, trong lòng xúc động.

Hiển nhiên, Tề Vương có ý muốn trọng dụng.

Khuông Chương tiến lên vài bước, đỡ Mạnh phu tử xuống xe.

Mạnh phu tử bước lại, vái dài sát đất: “Thảo dân Mạnh Kha bái kiến đại vương!”

“Phu tử giá đáo, quả nhân không thể nghênh đón từ xa, thất kính!” Tuyên Vương đáp lễ, chìa tay, “phu tử, mời vào trong điện!”

Mạnh phu tử chìa tay nhường lại, thấy Tuyên Vương lại đưa tay ra, cũng không khách khí nữa, cùng Tuyên Vương sánh vai bước lên bậc thềm.

“Nghe Khuông Tử nói,” đợi vua tôi đã lần lượt yên vị, Tuyên Vương nhìn thẳng vào Mạnh phu tử, nói vào chuyện chính, “phu tử lục nghệ(1) tinh thông, có tài văn thao võ lược của Tử Nha, có thể ngồi trong màn trướng mà quyết thắng ngoài ngàn dặm!”

(1)Lục nghệ, tức sáu kỹ nghệ cơ bản mà người học thời xưa phải nắm vững, tức lễ (lễ nghi), nhạc (âm nhạc), xạ (bắn tên), ngự (đánh xe), thư (viết chữ), số (tính toán).

“Kha đâu thể bằng Khương Thượng!” Mạnh Kha đáp.

Tề Tuyên Vương mỉm cười gật đầu, hiển nhiên thừa nhận câu trả lời của Mạnh phu tử, “Khương Thượng phò tá cho Đại Chu, là nền móng ban đầu của nước Tề, là bề tôi đại tài thiên cổ, người bình thường không thể theo kịp.” Rồi ngả người về phía trước, “dám hỏi phu tử, là văn thao không bằng Khương Thượng, hay là võ lược không bằng?”

“Cả hai đều không phải.” Mạnh phu tử lắc đầu.

“Ồ?” Tề Tuyên Vương ngẩn người, “thế thì thật lạ. Vậy phu tử có chỗ nào không bằng Khương Thượng?”

“May mắn”

“May mắn?”

“Khương Thượng may mắn gặp được vua hiền, Kha không có được may mắn đó!”

“Ồ...” Tề Tuyên Vương lúng túng, “quả nhân bất tài, mong được chỉ giáo!”

“Kha hai lần nói về nhân chính, đáng tiếc đại vương không nghe!”

Tề Tuyên Vương sượng sùng, có vẻ giận.

“Dám hỏi phu tử,” Điền Anh tiếp lời, “Khương Thượng đã dựa vào nhân chính để lật đổ Trụ Vương, kiến lập cơ nghiệp vạn thế phải không?”

Mạnh phu tử nhìn sang Điền Anh, khẽ cười, vòng tay mà đáp: “Tướng quốc đại nhân nếu đọc kỹ sử nhà Chu, thì sẽ không hỏi câu này.”

Điền Anh mặt đỏ tía tai, miệng mấp máy vài cái, song lại không nghĩ ra được câu nào đáp lại.

“Đại vương,” Khuông Chương vội lên tiếng xoa dịu, khẽ giọng nhắc, “dụng binh ở pháp, trù mưu ở sách, giao chiến ở thuật!”

“Ồ,” Tề Tuyên Vương lập tức tiếp lời, “phải lắm, phải lắm!” Nhìn thẳng vào Mạnh phu tử, “nghe nói xạ nghệ của phu tử thiên hạ vô song, quả nhân có thể được thấy chăng?”

Mạnh phu tử khẽ thở dài, nhắm mắt không đáp.

“Thiên hạ vô song?” Điền Anh chặc lưỡi thật lớn, rồi nhìn sang Khuông Chương, “chẳng lẽ còn trên tài Khuông tướng quân ư?”

“Chương không dám so với phu tử!” Khuông Chương nghiêm trang đáp.

Điền Anh lại chặc lưỡi vài cái, nhìn sang Mạnh phu tử: “Không ngờ phu tử lại có tuyệt kỹ này! Dám hỏi phu tử có thể kéo cung mấy thạch? Ba thạch ư, hay là năm thạch?”

Mạnh phu tử bỗng thấy bụng dạ quặn lên một hồi, ợ lên đến cổ, muốn nôn mà không nôn được, vô cùng khó chịu, khổ sở nín nhịn một hồi, rồi nhìn sang Tuyên Vương: “Tề Quân cho gọi Kha tới, chỉ vì muốn xem kỹ nghệ này ư?”

Mạnh Kha đổi cách xưng hô, không gọi đại vương mà gọi Tề Quân .

“Ồ,” Tề Tuyên Vương trong lòng giật thột, nặn ra một nụ cười, “quả nhân vốn nghĩ phu tử chỉ giỏi giảng giải nhân chính, nay mới nghe Khuông tướng quân nhắc đến xạ nghệ của phu tử, nói là thiên hạ vô song, khiến quả nhân lấy làm mới lạ. Quả nhân tha thiết mong phu tử trổ bày thần kỹ, để chư ái khanh cùng được mở rộng tầm mắt!”

“Nếu như quân chủ đã muốn, Kha đành phô nghề vụng!” Mạnh phu tử gắng gượng biến một bầu chua chát thành một nụ cười, nhìn sang Khuông Chương, “Khuông Tử, nơi nào có thể kéo cung?”

Khuông Chương nhìn sang Tuyên Vương.

Tuyên Vương đứng dậy, sải bước ra khỏi cửa, dẫn chúng thần đi tới bãi cỏ trong ngự hoa viên. Trong ngự hoa viên có rất nhiều vệ binh, hiển nhiên là phụng mệnh tới đây canh gác. Một viên quân úy đứng hầu sẵn sàng, cách đó năm chục bước thấy có cắm một tấm bia.

Tấm bia rất lớn, lại chỉ cách năm mươi bước, vừa nhìn đã biết là để cho Tề Tuyên Vương tập bắn thường ngày.

“Đổi bia nhỏ!” Mạnh phu tử liếc nhìn tấm bia, lệnh cho Khuông Chương.

Khuông Chương nhìn sang Tuyên Vương, Tuyên Vương nhìn sang nội thần, nội thần hất hàm cho quân uý, giơ ngón út lên.

Quân úy bèn lấy ra tấm bia nhỏ nhất trong cung. Mạnh phu tử nhìn về phía hồ sen tận đằng xa.

Bên hồ có hai ngôi đình, một gần một xa.

Mạnh phu tử chỉ về phía đình: “Cắm lên nóc đình!”

Mọi người nhìn về phía đình, cách đó phải tầm hai trăm bước, không ai không xuýt xoa.

Tên lính cầm tấm bia chạy đến trước ngôi đình ở gần, còn chưa kịp cắm, đã nghe tiếng Mạnh phu tử hô lớn: “Không phải đình này, là đình kia!”

Mọi người thảy đều chấn động.

Ngôi đình còn lại ở bên kia hồ sen, hồ sen chí ít cũng rộng năm mươi bước, tức là tấm bia cách đó khoảng một trăm tám mươi bước. Với khoảng cách này, đừng nói xạ thủ tầm thường, dù là Khuông Chương uy vũ đứng đầu tam quân cũng không dám chắc bắn trúng.

Do khoảng cách quá xa, bia lại nhỏ, tới khi cắm xong, tấm bia chỉ còn là một chấm tí xíu trong mắt mọi người.

Mạnh phu tử liếc mắt nhìn qua, khẽ gật đầu, nhìn sang Khuông Chương: “Mang cung tên lại đây!”

Quân úy sớm đã chuẩn bị sẵn sàng, đích thân mang cung tên lại.

Mạnh phu tử khẽ liếc nhìn: “Đổi cái lớn!”

Quân úy đổi liền vài chiếc, cuối cùng lấy ra một cây cung cực lớn.

Mạnh phu tử vẫn mặt không đổi sắc.

Quân úy nhìn sang Tuyên Vương, khẽ giọng bẩm báo: “Đây là cung năm thạch, cũng là cây cung cứng nhất rồi!”

Tuyên Vương nhìn Mạnh phu tử: “Cung này thế nào?”

“Hồi bẩm Tề Quân,” Mạnh phu tử vòng tay đáp, “đây là cung của lực sĩ, không phải để Kha dùng!”

Những người có mặt thảy đều trợn mắt há miệng.

Khuông Chương sai người phi ngựa về phủ, lấy cây cung cứng của mình tới, trình lên Mạnh phu tử.

Mạnh phu tử xem qua, nói: “Đây là cung của tướng quân, không phải để Kha dùng!”

Mọi người lại một phen chấn động, rồi mọi ánh mắt đều đổ dồn vào Tề Tuyên Vương.

“Đã không dùng cung của lực sĩ, cũng không dùng cung của tướng quân,” Tề Tuyên Vương thu thần hỏi, “dám hỏi phu tử dùng cung gì?”

“Cung của lực sĩ có thể giết người bắn ngựa, cung của tướng quân có thể phá quân lập công, còn cung của Kha dùng, là cung giành thiên hạ!” Mạnh phu tử nói rành rọt từng chữ.

Đây chẳng phải là đang giảo biện?

Điền Anh cất giọng châm biếm: “Phu tử là bậc đại nho, không phải lực sĩ, kéo không nổi cung cũng không có gì mất mặt, đâu cần thiết phải bày trò như thế!”

Ngoài Khuông Chương, tất cả những người có mặt đều cất lời chế nhạo, ầm ĩ nhao nhao: “Phải đấy, kéo không nổi thì thôi, hà tất phải thế?” “Chà, thế mà cũng nói được?” “Biết ngay là sẽ như vậy, quả nhiên!”...

Mạnh phu tử mở to mắt nhìn Tuyên Vương, khoé miệng nhếch một nét cười lạnh lẽo: “Xem ra nước Tề không có cây cung để giành thiên hạ, Mạnh Kha cáo từ!” Ôm hờ quyền, đoạn quay người đi thẳng.

Điền Anh phá lên cười ha hả: “Té ra phu tử thiên hạ vô song như thế đấy!”

Mọi người đều cười ầm ĩ, cục diện hết sức sượng sùng.

Khuông Chương cuống lên, khẽ gọi: “Phu tử?”

Mạnh phu tử quay ngoắt đầu lại, nhìn vào Tề Tuyên Vương, ngữ điệu bi thiết, giọng nói âm vang: “Nước không có khí độ vương giả, tiểu nhân rình rập vòng quanh, đây mà là nước Tề muốn làm vua thiên hạ ư? Đây mà là Tề Quân muốn làm vua thiên hạ ư?”

Lời chất vấn của Mạnh phu tử như một gậy giữa đỉnh đầu, những tiếng cười nhạo lập tức câm bặt.

Tề Tuyên Vương lúng túng.

“Đại vương, thần có tấu!” Ngự sử tiến lại gần, ghé sát tai Tuyên Vương thì thầm vài câu.

Tuyên Vương lập tức phấn chấn ra mặt, cười nhạt một tiếng, quay sang nội thần: “Thỉnh vương cung!”

Nội thần rõ ràng không biết đến vương cung, nhìn sang ngự sử.

“Thần lĩnh mệnh!” Ngự sử quay người, dẫn theo hai tên lính líu ríu lui ra.

Chừng tàn nửa nén hương, ngự sử đi trước, hai tên lính khiêng một cây cung theo sau, từ từ tiến lại.

“Phu tử hẳn biết cung này?” Tuyên Vương nhìn chằm chằm vào Mạnh phu tử, mặt lộ vẻ đắc ý.

“Quả nhiên là cây cung giành thiên hạ!” Mạnh phu tử đưa tay vuốt ve cây cung, ngắm nghía hồi lâu, rồi quay sang Tuyên Vương, “đây là cây cung Vũ Vương đã dùng năm xưa, sau ban cho Thái Công Vọng.” Lại vuốt ve mũi tên, “tên này chuyên dùng cho vương cung, đúc từ đồng xanh thượng đẳng, cách trăm bước có thể bắn xuyên áo giáp!”

“Phu tử quả là biết nhìn bảo bối!” Tuyên Vương buột miệng khen ngợi, “không giấu phu tử, cung này là vật trấn cung của Tề, theo như quả nhân biết, gần trăm năm qua, không ai động tới, hôm nay phu tử đến đây, có thể dùng thử!”

Mạnh Kha hai tay nâng cung, trả lại Tuyên Vương.

“Ồ,” Tuyên Vương ngạc nhiên, “đã có cung tên làm vua thiên hạ, cớ sao phu tử không bắn?”

“Hồi bẩm đại vương,” Mạnh phu tử lại đổi cách xưng hô, “đã là vương cung, mà Kha chỉ là sĩ tử quèn, không dám giương cung.”

“Mạnh Kha!” Điền Anh nổi giận đùng đùng, “ông tự xưng là thiên hạ đệ nhất xạ thủ, không phải cung làm vua thiên hạ thì không bắn. Giờ cung làm vua thiên hạ đã có, ông lại bảo không dám giương, là cố tình đùa cợt nước Tề ta ư?”

Tuyên Vương cũng sầm mặt xuống: “Phu tử phải chăng cố tình trêu cợt quả nhân?”

“Mạnh Kha không dám!” Mạnh phu tử vòng tay nói, “vương cung chỉ dành cho bậc vương, Kha là sĩ tử quèn, không dám thất lễ!”

“Khương Thượng không phải là bậc vương, chẳng phải cũng đã dùng đấy ư?” Tuyên Vương hỏi.

“Khương Thượng giương cung, là được Vũ Vương ban thưởng! Nếu chưa được đại vương ban thưởng, Kha không dám giương cung!”

“Nếu là vậy, quả nhân ban cho phu tử giương cung hôm nay!”

“Kha tuân mệnh!” Mạnh phu tử quỳ xuống đất, bái lạy vương cung, đoạn cầm lên, khẽ kéo một cái, cảm khái than, “chao ôi lớn thay!”

Rồi trước ánh mắt chòng chọc của chúng nhân, Mạnh phu tử vận khí, lắp tên, mắt nhìn bia, kéo dây cung căng như trăng tròn.

Vút một tiếng, tấm bia trên nóc đình theo tiếng đổ nhào.

Quân sĩ nhặt tấm bìa lên, chạy như bay lại.

Mọi người xúm vào nhìn, mũi tên đồng cắm trúng hồng tâm.

Tiếng vỗ tay vang như sấm dậy.

“Tài thiện xạ của phu tử, Điền Anh bội phục!” Điền Anh vòng tay vái lia lịa, rồi quay sang Tuyên Vương, “đại vương, thần có tấu!”

“Cứ nói!”

“Tài thiện xạ của phu tử, quả nhiên danh bất hư truyền, thiên hạ vô song, thần tấu thỉnh đại vương cho phu tử huấn luyện tam quân, truyền dạy xạ nghệ!” Điền Anh nói.

“Ha ha ha ha!” Mạnh phu tử phá lên cười một tràng dài, ôm quyền khẽ vái Tuyên Vương, rồi quay người đi thẳng.

“Phu tử dừng bước!” Tuyên Vương giơ tay.

Mạnh phu tử dừng lại.

“Soạn chỉ,” Tuyên Vương quay sang nội thần, “phong Mạnh Kha người Trâu làm khách khanh, sớm tối cận kề quả nhân, hưởng tước thượng khanh, hưởng lộc vạn chung!”

“Tạ ơn đại vương hậu đãi!” Mạnh phu tử vòng tay nói, “dám hỏi đại vương, có muốn nghe lời Kha, có muốn hành nhân chính chăng?”

“Ờ...” Tuyên Vương do dự, nhìn sang Điền Anh.

“Mạnh Kha cáo từ!” Mạnh phu tử không hỏi gì thêm nữa, ung dung quay người, kiêu hãnh bước đi.

Sáng sớm hôm sau, thầy trò Mạnh phu tử soạn sửa xe ngựa, chuẩn bị lên đường.

Tô Tần, Khuông Chương đến tiễn.

Tô Tần biết, chỉ cần Điền Anh còn giữ chức tướng quốc, thì quyết không dung Mạnh phu tử. Chuyện này tạm không nói tới, trong thời thế phân tranh diệt quốc này, Mạnh phu tử đề xướng nhân chính, rõ ràng không hợp thời, đừng nói là ở nước Tề, dù ở bất cứ nước nào khác, cũng đều khó bề thực thi.

Tuy nhiên, Tô Tần hiểu Mạnh phu tử hơn ai hết. Giống như Hứa Hành, Mạnh phu tử là người không cùng đường không quay bước, cố chấp đến cùng. Vả lại, đúng như Hứa Hành đã hỏi, Tô Tần chẳng phải cũng như vậy? Nghĩ tới Tùy Sào Tử, nghĩ tới Cáo Tử, nghĩ tới rất nhiều sĩ tử Tắc Hạ khác, tất cả chẳng phải cũng đều như vậy? Chẳng phải ai ai cũng ôm ấp lý tưởng riêng mình, biết rõ không được mà vẫn cứ khăng khăng làm cho bằng được đó sao?

Tô Tần, Khuông Chương tiễn ra khỏi Tắc môn chục dặm mới dừng lại.

Tô Tần vòng tay hỏi: “Dám hỏi phu tử định đi đâu?” Mạnh phu tử nhìn về Tắc môn xa tít, thở dài một tiếng, rầu rầu im lặng.

“Về đất Trâu thôi.” Công Tôn Sửu nói lớn.

Mạnh phu tử liếc xéo hắn một cái, lại ngoảnh nhìn Tắc môn lần nữa.

Rõ ràng, Mạnh phu tử không muốn đi, nhưng lại không thể không đi.

Tô Tần dường như đã thấu tỏ, nhìn về phía nước Tống: “Nếu tại hạ đoán không lầm, phu tử lần này ra đi, hẳn là muốn sang Tống!”

Mạnh phu tử ngỡ ngàng nhìn Tô Tần: “Tô Tử dựa vào đâu mà biết Kha muốn tới đất Tống?”

“Đoán tình, suy ý!”

“Nếu như Tô Tử đã đoán ra,” Mạnh phu tử thừa nhận, “Kha cũng xin nói thẳng. Tống có đất rộng năm trăm dặm vuông, Tống Vương dám dẫn đầu thiên hạ, chỉ cần thực thi nhân chính, cũng có thể làm vua thiên hạ.”

“Nếu Tống không hành nhân chính,” Tô Tần tiếp lời, “phu tử có thể tới Lương!”

“Ồ?” Mạnh phu tử nhìn Tô Tần.

“Nghe nói phu tử đề xướng thuyết thiên thời địa lợi nhân hoà, Tần rất tán đồng. Ngụy ở trung tâm, thông suốt thiên hạ, phu tử sẽ được địa lợi. Binh sĩ Ngụy dũng mãnh đứng đầu liệt quốc, Ngụy Vương hùng tâm chưa hết, phu tử hẳn được nhân hoà. Nước Ngụy phô ra cái lợi binh khí, cái dũng võ binh, song lại liên tiếp thảm bại, Hà Tây bại trước Tần, Mã Lăng bại trước Tề, Ngụy Vương ăn năn lầm lỗi, hoặc giả sẽ nghe theo giáo huấn nhân nghĩa, phu tử sẽ được thiên thời.” Tô Tần một mạch chỉ ra ba đại lợi.

Mạnh phu tử hai mắt sáng rực, ngẫm nghĩ hồi lâu, đoạn vòng tay nói: “Cảm tạ lời nói tốt lành của Tô Tử!”

Nhìn theo đoàn xe của Mạnh phu tử cuốn bụi về xa, Khuông Chương quay sang Tô Tần, giọng đầy thương cảm: “Tô Tử có điều không biết, phu tử không muốn đi đâu!”

“Đúng vậy!” Tô Tần gật đầu.

“Tô Tử, Ngụy Vương liệu có giống như lời Tô Tử, thi hành nhân chính của phu tử chăng?” Khuông Chương ngờ vực hỏi.

Tô Tần lắc đầu.

“Vậy...” Khuông Chương cuống lên, “vừa nãy sao Tô Tử lại nói thế? Nếu không phải thế, thì chẳng phải là... đã hại phu tử rồi ư?”

“Tướng quân có điều không biết, phu tử giống hệt Tô Tần, chưa đến đường cùng, quyết không quay bước!” Tô Tần cười buồn bã, “hơn nữa, đi thêm một nơi, biết thêm một bậc. Phu tử ở đất Trâu quá lâu rồi, cần phải hiểu thêm về thiên hạ!” Nhìn sang Khuông Chương, “ồ, phải rồi, tại hạ có một chuyện muốn hỏi tướng quân.”

“Tô Tử cứ nói.”

“Tướng quân muốn lầm lũi một đời, hay là muốn lập nên đại nghiệp nhân sinh?” Tô Tần nhìn xoáy vào mắt Khuông Chương.

“Còn phải nói ư?” Khuông Chương nhún vai, “sống ở trên đời, có người nào muốn vô danh mãi!”

“Nếu là vậy, tướng quân xin hãy đi theo tại hạ!”

Tô Tần dẫn Khuông Chương trở về phủ đệ, sắp xếp cho tắm rửa, thay áo mới, rồi dẫn lại phía trước hương án, chỉ vào hai hộp gấm bày trên án: “Tướng quân, xin hành đại lễ!”

Khuông Chương chẳng hiểu đầu cua tai nheo ra sao, nhưng cũng kính cẩn hành đại lễ ba lạy chín dập đầu.

“Xin tướng quân hãy mở niêm phong!”

Khuông Chương mở hộp gấm, thấy bên trong có một cuộn thẻ tre, không giở ra xem ngay, mà nhìn sang Tô Tần, ánh mắt dò hỏi.

“Tướng quân có thể mở xem!”

Khuông Chương bèn mở ra.

Trên tấm thẻ đầu tiên, rành rành bốn chữ “Tôn Tử binh pháp”.

Khuông Chương chấn động, hít ngược vào một hơi, nhìn sang Tô Tần.

“Tướng quân hẳn biết là ai viết?”

Quân sư!

“Chính phải!” Tô Tần chỉ vào một cuốn, “sách này là binh pháp của Tôn Vũ Tử do quân sư chép lại theo trí nhớ.” Chỉ vào cuốn còn lại, “sách này là tâm đắc của tiên sinh trong việc dụng binh. Kể từ hôm nay, đều sẽ thuộc về tướng quân, mong tướng quân nghiên cứu kỹ lưỡng, chớ phụ uỷ thác của quân sư.”

“Uỷ thác của quân sư?” Khuông Chương hai mắt trợn trừng.

Tô Tần lấy ra một tấm thẻ tre nữa: “Đây là quân sư để lại cho tướng quân, cũng xin tướng quân nhận lấy!”

Khuông Chương quỳ xuống, hai tay đỡ lấy thẻ tre mang thủ bút của Tôn Tẫn, thấy bên trên viết một hàng chữ nhỏ: “Khuông Chương tướng quân, xin nhận lấy hai cuốn binh thư cùng tâm đắc về binh đạo, trợ giúp Tô Tử thành tựu đại nghiệp hợp tung, an định thiên hạ! Người tẫn hình cung kính cậy nhờ.”

“Quân sư...” Khuông Chương dập đầu lia lịa, nước mắt như mưa.

“Khuông Tử,” đợi Khuông Chương trấn tĩnh lại rồi, Tô Tần mới nhìn thẳng vào Khuông Chương, “quân sư đi rồi, Điền Kỵ tướng quân cũng không quay lại nữa, ba quân nước Tề không thể không có thống soái, trọng trách này, tướng quân không thể thoái thác!”

“Tô Tử,” Khuông Chương quay sang dập đầu trước Tô Tần, “quân sư đã trao binh thư cho Chương, thì Chương cũng chính là đệ tử của quân sư. Tô Tử là sư huynh đồng môn với quân sư, thì cũng là sư tôn của Chương. Sư tôn bề trên, xin nhận của đệ tử một lạy!”

Khuông Chương đang định hành đại lễ bái sư, song bị Tô Tần ngăn lại.

“Khuông Tử, không được!” Tô Tần ấn Khuông Chương ngồi xuống, nhìn thẳng vào hắn, cười mà nói, “cứ gọi tại hạ là Tô Tử, Khuông Tử còn lớn tuổi hơn tại hạ kia mà. Hơn nữa, tại hạ chưa từng làm sư phụ, nghe gọi thế này, rất không thuận tai.”

“Được, Tô Tử!” Khuông Chương cũng cười, rồi thu thần, sắc mặt nghiêm trang nhìn thẳng vào Tô Tần, “Tô Tử, Chương xin thề, kể từ hôm nay, kính cẩn vâng lời tôn sư, nghiên cứu binh thư, trợ giúp Tô Tử thành tựu đại nghiệp hợp tung. Tô Tử có điều giao phó, Chương dù phải lao vào nước sôi lửa bỏng, cũng quyết không từ!”

“Tạ ơn đại nghĩa của Khuông Tử!” Tô Tần vòng tay nói.

Hay tin Mạnh phu tử ra đi, Điền Văn không dám chậm trễ, lập tức vào cung bẩm báo.

“Than ôi,” Tuyên Vương khẽ thở dài, “vị phu tử này thực khiến người ta đau đầu nhức óc, đi cũng tốt!”

“Tốt thì có tốt,” Điền Văn đáp, “nhưng có một điều, chuyện của phu tử đã ầm ĩ khắp Tắc Hạ, rất nhiều sĩ tử đều đang chăm chú dõi theo, phu tử ra đi thì nhẹ gánh đấy, nhưng với chuyện nạp hiền sĩ sau này của đại vương, e là...”

“Ồ,” Tuyên Vương vuốt râu, “ái khanh nói rất phải!” Trầm ngâm một lát, ngẩng đầu nhìn sang Điền Văn, “ái khanh có kế nào hay?”

“Theo ý thần, đại vương hãy phái cận thần đuổi theo một chặng, thành tâm níu giữ. Nếu phu tử quay lại, là chuyện đáng mừng với cả hai bên. Nếu phu tử vẫn dứt khoát ra đi, cũng sẽ không oán hận gì đại vương nữa.”

“Hay lắm!” Tuyên Vương gật gù, “theo ý ái khanh, cử ai đi thì thích hợp?”

“Thái sử Doãn Sĩ.”

Doãn Sĩ vừa hai mươi tuổi, huyết khí đương hăng, hơn nữa vừa mới tập ấm tước vị của gia tộc, nhậm chức thái sử. Tuyên Vương hiểu ý, bèn truyền chỉ Doãn Sĩ, đuổi theo giữ chân Mạnh phu tử.

Trước khi Doãn Sĩ lên đường, Điền Văn dặn dò kỹ lưỡng những việc phải làm. Doãn Sĩ hiểu ý, giương rợp cờ quạt, đủng đỉnh mà đi, không nhanh không chậm, gặp ai cũng ồn ào hỏi han hành tung đoàn xe của Mạnh phu tử, kể lể nào là Mạnh phu tử không từ mà biệt, nào là Tề Vương lo lắng ra sao, hạ lệnh cho mình đuổi theo giữ chân hiền tài thế nào. Doãn Sĩ đi liền ba ngày, đến chập tối hôm đó thì tới thành Trú Ấp ở biên giới nước Tề.

Đi qua Trú Ấp là đến biên giới nước Tống, Doãn Sĩ coi như đã hoàn thành sứ mệnh.

Tuy nhiên, lúc này Mạnh phu tử vẫn chưa rời khỏi Trú Ấp, đang lưu lại một quán trọ trong ấp, rõ ràng là có ý chờ.

Doãn Sĩ tới quán trọ, thuê một phòng vào ở, tắm rửa thay y phục sạch sẽ, tới gặp Mạnh phu tử, truyền lại khẩu dụ của Tuyên Vương theo đúng khẩu khí sứ thần, ngạo mạn kẻ cả.

Mạnh phu tử đã lưu lại Trú Ấp chờ đợi hai ngày. Hôm nay là ngày thứ ba.

Doãn Sĩ cậy là sứ thần của vua, thái độ hách dịch, đây là điều Mạnh phu tử không thể chấp nhận. Mạnh phu tử sửa áo ngồi ngay, chờ Doãn Sĩ truyền xong khẩu dụ của Tuyên Vương, bèn chống khuỷu xuống đất, hai tay đỡ cằm, nằm luôn xuống chiếu phía sau án, không thèm đếm xỉa tới Doãn Sĩ.

Doãn Sĩ ngồi chờ một chốc, nhịn không nổi, đằng hắng một tiếng thật lớn, đứng dậy, cất giọng oang oang, nửa như giận dữ, nửa như trách móc: “Vãn bối đuổi theo suốt quãng đường dài, rồi còn tắm rửa chay sạch mới tới bái kiến phu tử, tỏ rõ tấm lòng của đại vương, tuyên đọc khẩu dụ, mà phu tử lại nằm dài không nghe, là coi vãn bối ra gì đây? E là vãn bối sau này không còn dám cầu kiến phu tử nữa.”

“Ngồi xuống đi,” Mạnh phu tử ngồi thẳng dậy, nhìn Doãn Sĩ, thủng thẳng mà nói, “nếu đã nói vậy, ta cũng sẽ nói cho rõ ràng. Thời Lỗ Mậu Công, nếu như Mậu Công không phái người tới chăm sóc Tử Tư, thì sẽ cảm thấy lòng Tử Tư bất an; nếu như bên cạnh Mậu Công không có bậc đại hiền như Tử Tư, thì đám bề tôi như Tiết Liễu, Thân Tường sẽ tự cảm thấy bất an. Sứ thần đã là thay mặt đại vương, lại tự xưng là vãn bối trước mặt Mạnh Kha, bất luận là đại vương kính lễ người hiền, hay là vãn bối kính lễ trưởng bối, thì cả hai bên đều còn xa mới làm được như Mậu Công, Tiết Liễu. Sứ thần hãy nghĩ cho kỹ, là sứ thần cự tuyệt trưởng giả, hay là trưởng giả cự tuyệt sứ thần?”

Doãn Sĩ bị Mạnh phu tử giáo huấn một phen, hậm hực quay về khách xá.

Sáng hôm sau, Mạnh phu tử, Doãn Sĩ ai chuẩn bị xe người nấy, đi về hai hướng đông tây.

Mạnh phu tử sai đệ tử Cao Tử đi tiễn Doãn Sĩ, đang định quay về, Doãn Sĩ chợt gọi lại: “Cao Tử dừng bước, tại hạ có hai câu kính nhờ chuyển tới phu tử!”

“Đại nhân cứ nói!” Cao Tử dừng chân ngoái nhìn.

“Không biết rằng Tề Vương không thể thành Thương Thang Vương, Chu Vũ Vương, thế gọi là bất minh. Đã biết rằng không thể, mà lại đến Tề, hoặc là có mưu đồ, hoặc là bất trí. Nghìn dặm đến gặp vua, một lời không hợp, liền bỏ đi ngay, đi thì cứ đi thẳng, lại còn dừng chân Trú Ấp, trù trừ ba ngày, rõ ràng là nuối tiếc! Gặp phải kiểu người thế này, Doãn Sĩ thực sự vô cùng khó hiểu!” Bao nhiêu uất ức nín nhịn suốt một đêm qua, Doãn Sĩ trút ra bằng hết.

Cao Tử quay về, thuật lại y nguyên lời nói của Doãn Sĩ cho Mạnh phu tử nghe.

“Doãn Sĩ không hiểu ta!” Mạnh phu tử thở dài, “nghìn dặm tới gặp vua, là mong muốn của ta; bỏ đi thế này, há phải là mong muốn của ta? Là bất đắc dĩ mà thôi! Ta nấn ná ở ấp này ba ngày, song trong thâm tâm ta, ba ngày vẫn là ít. Ta vẫn chờ đợi, ngộ nhỡ Tề Vương mời ta trở lại thì sao? Ta vốn dĩ định ở thêm hai ngày nữa, cớ sao hôm nay lại quyết định đi ngay? Bởi vì ta đã gặp phải một tên sứ thân vô tri, đã không hiểu Tề, cũng không hiểu ta, càng không hiểu thiên hạ! Tề Vương nếu như dùng ta, là phúc của dân Tề, càng là phúc của người trong thiên hạ! Tề Vương không dùng ta, là dân Tề mất phúc, song không phải người trong thiên hạ mất phúc!” Nhìn sang Cao Tử, “đi, nói lại những lời này với hắn!”

Khi Cao Tử quay trở lại, Doãn Sĩ vẫn ở trên xe, rõ ràng là muốn chờ hồi âm của Mạnh phu tử.

Nghe Cao Tử thuật lại một lượt lời Mạnh phu tử, Doãn Sĩ sầm mặt, hừ mũi một tiếng: “Coi như Doãn Sĩ nhìn nhầm rồi!” Đoạn tung người nhảy lên xe, cuốn bụi mà đi.

Ngay sau hôm tiễn Mạnh phu tử lên đường, vào giờ Nhân định, tôn giả Mặc môn Khuất Tương Tử tới trạch phủ của Tô Tần, kể lại vắn tắt một lượt đại sự thiên hạ gần đây: ở nước Ngụy, Trương Nghi vẫn là tướng quốc, Ngụy Vương dường như ngày càng ỷ lại Trương Nghi, song đối với thái tử mới lập Ngụy Tự lại có ít nhiều bất mãn. Phu nhân của Bàng Quyên là công chúa Thụy Liên mang thai quý tử, sắp tới ngày lâm bồn. Chu Uy lâm trọng bệnh, đang nằm liệt giường hấp hối, Huệ Vương ba lần tới thăm, song đi lại cũng không còn vững chãi, ở nước Hàn, Công Tôn Diễn làm tướng quốc, chỉnh đốn quan lại, khôi phục nghề rèn binh khí đã bị gián đoạn do Bàng Quyên phạt Hàn trước đây. Bạch Hổ đưa cả nhà chuyển tới Nghi Dương, mở lò rèn. Ở nước Tần, tướng Thục là Trần Trang do Tần Vương bổ nhiệm đã giết chết Thục Hầu, dẫn quân trấn giữ đường trâu đá, phản Tần nổi dậy tự lập làm vua, Tần Huệ Vương đang dốc sức dẹp loạn, không còn rảnh rang để dòm ngó phía đông. Tần Huệ Vương chính thức lập thế tử Đãng làm thái tử, Đãng ngựa non háu đá, ham võ hiếu sát. ở nước Sở, Chiêu Dương dẫn quân khải hoàn về Sính Đô, Trần Chẩn ở lại Tương Lăng, con gái quận thú Tương Lăng là Trịnh Tụ được sủng thần của Sở Vương là Ngận Thượng đưa về Sính Đô, đã trở thành phi tần của Hoài Vương, Ở nước Triệu, đất Hồ gặp thiên tai, người Hồ đánh cướp quận Đại, Triệu Vương thân chinh quận Đại tiễu Hồ...

Khuất Tương Tử kể vắn tắt chừng nửa canh giờ, sau đó cáo từ.

Đêm về khuya càng thêm tĩnh mịch, song Tô Tần lại không muốn ngủ.

Sáu nước hợp tung rầm rộ, đội ngũ tung thân khí thế ngút trời, khẩu chiến sát phạt tưng bừng qua lại, sáu nước phạt Tần bằng mặt không bằng lòng, ngoài hợp trong lìa, hợp tung nội đấu một mất một còn, cuộc chiến Tôn Bàng tổn thất cả đôi bên... Hàm Cốc, Hàm Đan, Mã Lăng, Quế Lăng, Tôn Tẫn, Bàng Quyên, Trương Nghi, Tần Huệ Vương, Ngụy Huệ Vương, Tề Tuyên Vương, Trần Chẩn, Công Tôn Diễn, Quỷ Cốc Tử, đại sư huynh, sư tỷ, Cơ Tuyết, Cáo Tử, Khuất Tương Tử, Mạnh phu tử, Điền Anh... Từng chuyện cũ, từng vùng đất, từng khuôn mặt, sau chuyến viếng thăm của Khuất Tương Tử, cứ từ từ diễu qua tâm trí Tô Tần, triền miên bất tuyệt.

Tô Tần gắng tập trung tinh thần, chỉnh lý lại từng mối tơ rối bời, cuối cùng rút ra được một đầu mối trọng yếu nhất - Trương Nghi.

Đúng vậy, Trương Nghi, sư đệ mà hắn coi trọng nhất dưới gầm trời này, cũng chính là kẻ đã gây nên toàn bộ phiền toái cho Tô Tần.

Tô Tần dồn hết tâm tư suy nghĩ về Trương Nghi, bắt đầu từ Lạc Dương, sau đó lần lượt đến Trương Ấp, Quỷ Cốc, Hàm Đan...

Nghĩ tới những điểm tốt đẹp của Trương Nghi, Tô Tần nhắm nghiền mắt lại, mặc cho nước mắt lăn trào.

Nghĩ đến cái chết của Bàng Quyên, nghĩ đến nỗi đau của Tôn Tẫn, Tô Tần không muốn tranh đấu cùng Trương Nghi nữa. Song không tranh có được không? Nước Tần, pháp của Thương Quân... Nếu hợp tung không thành, thế của nước Tần sẽ không sao cản nổi, thống trị thiên hạ là điều chắc chắn. Pháp của Thương Quân, trọng tại đồng nhất dân, nước Tần mà nhất thống, người dân thiên hạ sẽ bị bức ép hợp thành một thể, quá trình hợp nhất này, ắt sẽ thấm đẫm máu tanh. Đáng sợ hơn nữa là sau khi hợp nhất. Nghĩ tới một nước Tần tương lai do hàng vạn triệu dân hợp thành nhất thể, muôn người như một, không dám suy nghĩ, không dám ca múa, không dám đua văn, không dám đấu võ, không có của riêng, không có lòng riêng, không có chủ kiến, không được biết chữ, chỉ biết trồng ruộng, chỉ biết đánh trận, tất thảy ngồn hành, chỉ nghe theo một người duy nhất... Vừa nghĩ đến đây, Tô Tần bất giác rùng mình ớn lạnh.

Trước một nước Tần muôn dân một thể, chỉ là công cụ cày ruộng và đánh trận, thiên hạ buộc phải kết minh, hợp sức ngăn chặn nước Tần, ngoài ra không còn cách khác. Mà thiên hạ hợp tung, với Tần mà nói, duy có một cách ứng phó, chính là liên hoành. Đây cũng chính là kế sách Trương Nghi dốc sức đề xướng.

Nghĩ tới đây, Tô Tần có chút hối hận vì đã kích Trương Nghi sang Tần.

Tuy nhiên, giả sử nước Tần không có Trương Nghi thì sao? Tần Vương liệu có liên hoành?

Chắc chắn là có. Tô Tần quá hiểu vị quân chủ này. Có thể nói, đối với liên hoành, Trương Nghi chẳng qua chỉ là một cánh tay, kẻ điều khiển cánh tay này, chính là Huệ Văn Công. Trương Nghi không sang Tần, thì Tần Vương cũng sẽ tìm ra Lý Nghi, Lưu Nghi khác, bất luận thế nào, cũng nhất quyết phải liên hoành. Câu đầu tiên trong bài kệ của tiên sinh là “tung hoành thành cục”, Tô Tần đã khởi xướng tung, đương nhiên sẽ sinh ra hoành. Trương Nghi không chỉ mưu hoành, mà còn như một cây đinh đóng chặt vào giữa hợp tung, khiến cả thiên hạ bôn ba mệt mỏi, trong khi người Tần cơ hồ không chút tổn thương.

Nghĩ tới số mệnh này, Tô Tần khẽ thở dài một tiếng, nở một nụ cười rầu rĩ.

Đối với Tô Tần, đối sách cấp bách nhất lúc này cũng chỉ có một, chính là đuổi Trương Nghi khỏi Ngụy, khiến liệt quốc hợp tung lại kết minh với nhau.

Nhìn vào thế cục trước mắt, đuổi Trương Nghi đi, không chỉ có thể, hơn nữa gần như là điều chắc chắn. Không còn Bàng Quyên, Trương Nghi ở Ngụy khác nào nước không nguồn. Hai cuộc chiến đều thất bại, Ngụy Huệ Vương tuổi già xế bóng hẳn đã nản lòng thoái chí với đại nghiệp độc bá thiên hạ, quay lại hợp tung gần như đã trở thành lối thoát duy nhất để ổn định lại cục thế.

Song Tô Tần hiểu rõ, Trương Nghi sẽ không dễ dàng chịu thua. Chưa tới bước đường cùng, hắn tuyệt không lùi bước. Trong những ngày qua, từ thuyết phục Trần Chẩn khuyên Chiêu Dương lui binh tới khuyên Công Tôn Diễn làm quan nước Hàn, rồi lại khuyên Mạnh phu tử sang Ngụy, đều là Tô Tần bài binh bố trận sẵn sàng cho nước cờ cuối cùng này.

Nếu như Tần Vương tiếp tục thực thi pháp của Thương Quân, thiên hạ sẽ nhất thống về Tần; nếu như nhất thống về Tần, thiên hạ sẽ tai ương chồng chất, đó không phải là phúc của dân. Mà nếu muốn ngăn chặn thế nhất thống của Tần, liệt quốc thiên hạ buộc phải kiên trì kế sách lâu dài do Tô Tần khởi xướng: hợp tung, cùng nhau chế Tần. Nước Tần nếu muốn phá vỡ cục diện này, buộc phải phá hoại tung thân, cũng chính là thực thi sách lược liên hoành của Trương Nghi. Nếu như thiên hạ tung hoành đối đầu, giữ thế giằng co, tung sẽ không dám bức hoành, hoành cũng không dám ép tung, thiên hạ nhờ thế giằng co mà ngưng chiến. Nếu như thiên hạ chấm dứt chiến tranh, sư huynh sư đệ hai người sẽ có cơ hội cùng ngồi xuống, bàn bạc kế sách hoà bình dài lâu cho thiên hạ... Mạch suy tư của Tô Tần càng lúc càng sáng tỏ.

Thế nhưng, kế sách hoà bình dài lâu cho thiên hạ rốt cục là gì? Ở đâu? Và làm sao để thành hiện thực?

Trong đầu Tô Tần một lần nữa lại hiện ra bài kệ của Quỷ Cốc tiên sinh: “Tung hoành thành cục, giữ lấy điều trung, thiên hạ đại ngã, công tư tư công.”

Bốn câu kệ này rõ ràng là lời chỉ bảo của tiên sinh về thiên hạ hiện tại và thời thế tương lai. Hiển nhiên, trong bốn câu này, câu đầu tiên là khẳng định cục diện tung hoành, tức là tiên sinh cũng khẳng định kế sách của Trương Nghi. Nếu không có hoành của Trương Nghi, thì tung của Tô Tần cũng không thể lập, Tô Tần và Trương Nghi chính là đen và trắng, động và tĩnh, phản và chính, khác nào Bàng Quyên và Tôn Tẫn, vốn dĩ là một ván cờ. Câu thứ hai là chỉ ra cách thức, tức vừa thích hợp với kế sách hợp tung, cũng thích hợp với kế sách liên hoành, cả Tô Tần và Trương Nghi đều phải tuân theo. Một ngày nào đó sau này, tin rằng Trương Nghi sẽ cùng hắn ngồi lại với nhau, lúc đó, hắn sẽ nói lại bốn câu kệ này cho Trương Nghi nghe, để Trương Nghi cũng biết “giữ lấy điều trung”, chớ nên thiên lệch. Câu thứ ba là mục tiêu mà tiên sinh vạch ra cho họ, điều này thì không cần phải giải thích, mấu chốt là câu cuối cùng, “công tư tư công” phải hiểu thế nào đây?

Trước khi gặp Trương Nghi, Tô Tần buộc phải làm rõ điều này, đưa ra lời giải thích hợp tình hợp lý, nếu không, mỗi người sẽ suy đoán theo một hướng, khó mà thống nhất, và như vậy, cục diện tung hoành sẽ tổn hại lẫn nhau trong thế đối đầu, giống như Bàng Quyên và Tôn Tẫn vậy.

Nghĩ tới Bàng, Tôn, Tô Tần lại thấy lòng mình thắt lại. Tô Tần thực sự không muốn đi đến bước đường đó. Tô Tần tin rằng, tung hoành nếu đã là tương tranh, thì chắc chắn cũng sẽ là tương sinh. Trong tung có hoành, trong hoành có tung. Trương Nghi cũng hiểu Tô Tần, chỉ cần hai người họ liên thủ, thiên hạ sẽ có cơ thái bình. Trương Nghi có Tần, Tô Tần có sáu nước, chỉ cần hai người họ liên thủ, sẽ có thể khiến quân vương bảy nước ngồi lại cùng nhau, cùng bàn về phương kế chung cục của thiên hạ. Mấu chốt là, phương kế chung cục ấy là gì?

Tô Tần tin chắc, bốn chữ cuối cùng của bài kệ là nói về điều này.

Giống như hồi còn trong sơn cốc, Quỷ Cốc tiên sinh không bao giờ giải thích rõ ràng, mà chỉ đưa ra đáp án, để mỗi người tự lĩnh hội.

Cho tới lúc này, bốn con chữ đó, Tô Tần vẫn chưa thể ngộ ra. Tôn Tẫn, Cáo Tử, Mạnh phu tử, và cả Hứa Tử, cũng đều chưa thể giải đáp.

Ai có thể giải đáp được đây? Huệ Thi ư? Hay là đám Tắc Hạ tiên sinh Thuần Vu Tử, Thận Tử, Trâu Diễn, Trần Biền?

Tô Tần lắc đầu. Hiển nhiên, tất cả họ đều học vấn uyên thâm, song học vấn và sở trường của họ, đa phần là thuật, pháp thực dụng để vận vào chính sự đương thời, không thể dùng để lý giải kế sách chung cục của tương lai thiên hạ. Mặc môn? Trước tác của Mặc Tử, Tô Tần đã đọc được từ hồi còn trong Quỷ Cốc, tông chỉ của Quỷ Cốc tiên sinh, rõ ràng không hợp với Mặc đạo, nếu không, cự tử Mặc gia Tùy Sào Tử hẳn đã không phải nhiều lần tìm lên núi.

Nghĩ đi nghĩ lại, vẫn không lần ra manh mối. Tô Tần đang ngồi thần ra nghĩ ngợi, bỗng một tia sáng loé lên trong trí não, một hình bóng vụt qua trước mắt, chính là ông lão chăn dê có tướng mạo hao hao Quỷ Cốc tiên sinh.

Tô Tần lập tức cảm thấy nhẹ lòng, nhanh chóng chìm vào giấc ngủ say sưa, cho tới tận khi mặt trời lên cao ba con sào mới trở dậy, ăn uống qua loa chút ít rồi lập tức cùng Trâu Phi Đao lên đường, đi thẳng tới nhà ông lão chăn dê ở ngoại ô.

Tô Tần đập cổng. Ra mở cổng lại không phải là ông lão chăn dê hôm nọ, mà là một cụ già trông có vẻ ít tuổi hơn, nhìn vào phục sức, cũng là một người chăn dê.

“Các vị đây là...” Ông lão chăn dê dò xét trang phục của Tô Tần và Trâu Phi Đao.

“Vãn sinh bái kiến tiền bối!” Tô Tần vái một vái dài, “vãn sinh tới đây là muốn cầu kiến một vị... một vị tiền bối cao tuổi!”

“Ồ?” Ông lão nhìn chằm chằm vào Tô Tần, “lão tiền bối mà sĩ tử nói tới, tên họ là gì?”

Tô Tần lúng túng: “Vãn sinh không biết tôn danh của lão tiền bối, lão tiền bối...” vừa nói vừa đưa tay ra hiệu, “râu dài bằng này,” lại đưa tay vạch hai bên lông mày, “mày dài thế này! Ô, phải rồi,” đưa tay chỉ vào ấn đường, “ở đây có một nốt ruồi!”

“Ồ, người sĩ tử đang nói tới, hẳn là phu tử,” ông lão chăn dê dang rộng hai tay, nhăn mặt mà nói, “sĩ tử tới không đúng lúc rồi, phu tử trời vừa sáng đã đóng cửa không tiếp khách.”

“Vì sao kia?”

“A...” Ông lão cười gượng gạo, “hẳn vì chuyện mất dê.”

“Mất dê?” Tô Tần sửng sốt, “dê của phu tử đi lạc?”

“Dê bị lạc lại không phải của phu tử.”

“Ồ...” Tô Tần ngơ ngác.

“Là thế này,” ông lão giải thích, “Tâm Đô huynh hôm qua lạc mất một con dê, mới gọi chúng tôi đi tìm giúp. Chúng tôi tìm kiếm suốt nửa ngày trời, vẫn không thấy đâu, nên phu tử không vui!”

“Ồ...” Tô Tần càng thêm khó hiểu, “tiền bối có thể nói rõ hơn chăng?”

“Trước khi đi tìm dê,” ông lão kể lại, “phu tử đã hỏi Tâm Đô, ‘chỉ mất một con dê, mà cần nhiều người đi tìm thế ư?’ Tâm Đô đáp: ‘Vì nhiều lối rẽ.’ Đến tối, chúng tôi quay về, phu tử lại hỏi Tâm Đô: ‘Có tìm thấy không?’ Tâm Đô đáp: ‘Không thấy.’ Phu tử hỏi: ‘Tại sao?’ Tâm Đô nói: ‘Sau một lối rẽ lại có lối rẽ, chúng đệ tử không thể phân thân được, đành phải quay về.’ Sau đó, phu tử đóng cửa không tiếp khách, chẳng buồn gặp ai nữa.”

“Ồ,” Tô Tần chau mày, “không ai thử khuyên phu tử ư?”

“Tôi đã khuyên rồi. Tôi nói: ‘Bẩm phu tử, thứ bị mất đâu phải là dê của mình, lại chẳng đáng giá là bao, để tổn thương đến quý thể, thật không đáng!’ Phu tử chỉ lừ mắt nhìn tôi.”

Tô Tần vòng tay: “Nếu để vãn sinh gặp được phu tử, có lẽ sẽ khuyên nhủ được, làm phiền tiền bối bẩm báo giúp!”

“Ồ,” ông lão đưa mắt liếc xéo Tô Tần và Trâu Phi Đao một cái, khoé miệng thấp thoáng một nét cười, ngừng lại một lát rồi vòng tay nói, “không giấu sĩ tử, phu tử xưa nay không thích tiếp khách, đặc biệt là những người trẻ tuổi mang theo kiếm như sĩ tử đây!”

Tô Tần đang lúc lúng túng khó xử, chợt nghe thấy phía sân sau vọng lại mấy tiếng “be be”, bèn vòng tay nói: “Vãn sinh nghe nói dê của phu tử béo tốt, mới tới đây muốn mua vài con!”

“Chuyện này thì được!” Ông lão bật cười vui vẻ, vào trong bẩm báo, lát sau quay trở ra, dẫn Tô Tần vào trong.

Qua cánh cổng gỗ, bước vào bên trong dãy nhà cũ kỹ, cảnh tượng bỗng dưng đổi khác. Sân trong rộng thênh thang, có hai dãy nhà, dãy phía trước có lẽ là phòng khách, dãy phía sau là phòng ở. Đằng sau phòng ở là một khoảnh sân rộng rãi, có hàng rào ngăn cách, tiếng dê kêu đang vọng ra từ đó.

Ông lão chăn dê dẫn Tô Tần bước ra sân sau.

Trong sân có một cái bục gỗ, trên bục bày một bàn cờ và vài bát trà, vài cụ già tuổi tác khác nhau đang ngồi đó thưởng trà, chốc chốc lại đưa mắt liếc về phía cửa phòng. Tất cả đều mang trang phục chăn dê, song nhìn vào phong thái, rõ ràng không giống như người chăn dê.

Tô Tần ôm quyền vái các cụ già. Các cụ đều đã biết Tô Tần tới để mua dê, đưa mắt quan sát Tô Tần một lượt, hoặc mỉm cười, hoặc gật đầu chào, rồi lại tiếp tục uống trà.

Ông cụ dẫn Tô Tần vào lúc này bước tới trước cửa phòng, khẽ gõ vài cái, rồi cất giọng cung kính: “Phu tử, khách mua dê đã tới!”

Có tiếng bước chân vang lên, cửa phòng cót két mở, rồi lão phu tử bước ra khỏi cửa.

Mấy cụ già vội vàng đứng cả dậy, bước lại nghênh đón, cùng vái thật dài.

Lão phu tử bước lại, xua tay về phía mọi người, ánh mắt chiếu vào Tô Tần, rõ ràng đã nhận ra vị sĩ tử bám theo mình về tận trước cổng hôm đó, thì khẽ chau mày, nhưng không đếm xỉa tới hắn, cứ thế đi thẳng lại bên bục gỗ, ngồi luôn xuống đất.

Tô Tần lúng túng, cứ đứng trơ ra đó. Ông cụ vừa dẫn Tô Tần vào khẽ giật vạt áo hắn, ra hiệu ngồi xuống.

Tô Tần vừa ngồi xuống bên cạnh, lão phu tử đã lên tiếng, chỉ vào một ông lão chăn dê râu quai nón rậm rạp: “Tâm Đô, các trò ngồi đây ồn ào bàn tán nãy giờ, vẫn là chuyện con dê đó ư?”

“Thưa không!” Cụ già tên gọi Tâm Đô vòng tay đáp, “đệ tử có khúc mắc, thỉnh cầu phu tử giải thích giúp cho.”

“Khúc mắc gì?”

“Xưa có ba anh em,” Tâm Đô chậm rãi nói, “đi đến Tề Lỗ, theo học Nho môn, mỗi người đều học được đạo nhân nghĩa rồi trở về. Người cha mới kiểm tra rằng: ‘Các con hãy nói xem, thế nào là đạo nhân nghĩa?’ Anh cả nói: ‘Nhân nghĩa khiến ta xem trọng cái danh sau khi nằm xuống.’ Anh hai nói: ‘Nhân nghĩa khiến ta sát thân thành danh.’ Em út nói: ‘Nhân nghĩa khiến ta xem trọng thân và danh như nhau.’ Đệ tử mới thắc mắc, ba anh em cùng theo một thầy, cùng học đạo nhân nghĩa, song điều tâm đắc lại khác hẳn nhau, xin hỏi phu tử, trong ba người họ, ai đúng ai sai?”

Rõ ràng, đây là một câu hỏi không hề tầm thường, Tô Tần trong lòng chấn động, nhìn sang lão phu tử.

Lão phu tử ngẫm nghĩ một lát, rồi nói: “Trên bến sông Hà Thuỷ có một người, thông thạo bơi lặn, rất giỏi bơi qua sông, nhờ vào nghề chèo đò ngang mà nuôi sống một nhà trăm miệng ăn. Những kẻ hậu bối gần xa đua nhau đến bái làm thầy, học cách bơi lội, nhưng chết đuối đến gần một nửa. Họ tới là để học bơi, chứ không phải học chìm, nhưng kết quả lại khác xa nhau.” Đoạn đưa mắt nhìn khắp lượt đệ tử, “hãy thử nói xem, trong số họ, ai sai ai đúng?”

Lão phu tử dùng hỏi để đáp, hơn nữa hỏi một đằng đáp một nẻo, khiến ai nấy thảy đều ngơ ngác.

Mọi người đưa mắt nhìn nhau.

“Ha ha! Hi hi!” Lão phu tử đổi giọng cười vài tiếng, chống đất đứng dậy, phủi quần phành phạch, liếc nhìn Tô Tần một cái, rồi quay trở về phòng.

“Rầm” một tiếng, cửa phòng đóng sập lại.

Mấy cụ già lại đưa mắt nhìn nhau. Ông cụ dẫn Tô Tần vào nhìn sang Tâm Đô Tử, giọng điệu có phần trách móc: “Tâm Đô huynh, tại hạ khó khăn lắm mới mời được phu tử ra khỏi phòng, còn ngỡ Tâm Đô huynh sẽ hỏi chuyện mất dê, nào ngờ huynh lại vòng vèo quanh co hỏi cái quái gì vậy!

Ngồi bên cạnh là một ông cụ với chòm râu nhỏ bạc trắng, cũng vò đầu bứt tai: “Câu hỏi của Tâm Đô, tại hạ nghe còn hiểu được, chứ câu trả lời của phu tử... thực khiến người ta nhức đầu!

“Chao ôi,” Tâm Đô Tử chỉ cười, đưa mắt nhìn cụ già vừa dẫn Tô Tần vào, “này Mạnh Tôn Dương, và cả các anh nữa, thân là đệ tử, lại chẳng hiểu được tấm lòng của phu tử!”

“Có chỗ nào không hiểu?” Mọi người cùng nhìn vào Tâm Đô Tử.

Tâm Đô Tử lại bật cười một tiếng, quay sang Tô Tần, như thể lúc này mới nhìn thấy: “Này chàng trai, anh là ai?”

“Vãn sinh là Tô Tần người Lạc Dương, bái kiến chư vị tiền bối!” Tô Tần ôm quyền nói.

“Có phải là người đi khắp thiên hạ hô hào hợp tung đó chăng?” Tâm Đô Tử nhìn xoáy lại, chậm rãi đưa tay vuốt chòm râu rậm từ trên xuống dưới, cho tới tận trước ngực, vừa vuốt vừa rung lên đều đều.

“Chính là vãn bối.” Tô Tần điềm đạm đáp.

Tâm Đô Tử phá lên cười lớn, buông tay khỏi chòm râu rậm, nhìn thẳng vào Tô Tần: “Có hợp tung hay không, chẳng liên quan gì tới Tâm Đô cả. Tâm Đô chỉ muốn hỏi Tô Tử một câu, lời dạy của phu tử, Tô Tử có hiểu được không?”

“Trước mặt tiền bối, vãn bối không dám lỗ mãng!” Tô Tần vòng tay, nói một câu khách sáo, đoạn dõng dạc giải thích, “phu tử có lẽ đang tỉ dụ, đường nhiều ngã rẽ thì mất dê, học nhiều thứ quá thì mất sống.”

Tâm Đô Tử hít ngược vào một hơi, hồi lâu sau mới thở ra, vòng tay cung kính: “Hậu sinh khả uý!” Đoạn quay sang các cụ già chăn dê, thay đổi cách xưng hô, “lời giải thích của Tô Tử Lạc Dương, cũng chính là cảm ngộ của tại hạ. Đường nhân sinh quanh co lắt léo, ngã rẽ chằng chịt, nếu như không thể về gốc giữ một, chúng ta bởi muốn tìm dê mà lạc vào ngã rẽ, muốn học bơi mà tự chết chìm!”

Các cụ già lúc này mới hiểu được hàm ý sâu xa trong đoạn vấn đáp giữa phu tử và Tâm Đô Tử khi nãy, đua nhau vòng tay thi lễ với Tô Tần.

“Tô Tử,” Mạnh Tôn Dương nhìn sang Tô Tần, “dê ở đây đều là của phu tử, Tô Tử nếu muốn mua dê...” đoạn hất hàm về phía cửa phòng.

Tô Tần hiểu ý, đáp lại một nụ cười, đứng dậy đi về phía cửa phòng, khẽ gõ.

Tất cả mọi ánh mắt đều dõi theo nhất cử nhất động của Tô Tần.

“Vào đi!” Một giọng nói già nua từ bên trong vọng ra.

Tô Tần đẩy cửa bước vào, đã không khép cửa lại, mà còn mở toang, để ánh sáng tràn vào đầy phòng.

Phòng là tường đất nện, mái lợp cỏ, rất chắc chắn, có ba gian. Gian giữa rất rộng rãi, trên bức tường phía sau có cửa sổ lớn, qua cửa sổ có thể nhìn thấy đàn dê ở sân sau. Mùi dê hoi hoi cũng xộc vào qua cửa sổ, nồng nặc khắp phòng.

Phu tử đang ngồi gần cửa sổ, dường như đang thích thú hít ngửi mùi dê. Trước mặt bày chiếc án, mặt án trống trơn. Trước án bày vài tấm chiếu cỏ, rõ ràng là chuẩn bị sẵn cho khách.

Tô Tần không ngồi xuống chiếu, cũng không hành lễ, mà quỳ luôn xuống, bái lạy sát đất: “Vãn bối Tô Tần khấu kiến tiền bối!”

“Ngồi đi!” Lão phu tử cứ như không hề nhìn thấy, chỉ vào tấm chiếu đối diện.

Tô Tần cảm tạ, ngồi xuống chiếu, nhìn lão phu tử:

“Vãn bối...”

“Tô Tần Tô đại nhân,” phu tử cắt lời, rõ ràng đã biết hắn là ai, cũng đã hiểu rõ hắn tới đây để làm gì, “không phải đại nhân tới đây để mua dê. Tới vì chuyện gì, mau nói ra đi.”

Tô Tần không ngờ phu tử lại nói như vậy, sững lại một thoáng, mới vái mà nói: “Tiền bối huệ nhãn, Tô Tần lấy làm hổ thẹn! Vãn bối mạo muội tới cửa quấy quả, là vì có bốn chữ không hiểu, nên muốn tới đây thỉnh giáo phu tử!”

“Là bốn chữ gì?”

“Công tư tư công.”

“Là câu đố mà lão già Quỷ Cốc đưa cho Tô Tử phải không?” Từ trong cặp mắt già nua của phu tử loé ra hai luồng nhãn quang sáng rực.

“Vãn bối... tiền bối cớ sao lại biết?” Tô Tần kinh ngạc đến há hốc miệng.

Phu tử phá lên cười: “Ngoài lão già ấy, không ai có thể nói ra bốn chữ này.”

Tô Tần hít sâu vào một hơi, hồi lâu sau mới chầm chậm thở ra, vòng tay mà nói: “Câu đố này đích xác là do Quỷ Cốc tiên sinh đưa ra. Vãn bối bất tài, khổ sở suy nghĩ suốt mấy năm trời mà vẫn chưa hiểu được, khẩn cầu tiền bối chỉ giáo!”

“Người làm thầy, là người truyền đạo học, giải nghi ngờ. Lão quỷ đã nhận Tô Tử làm trò, truyền dạy đạo học, giờ ra câu đố cho trò, đương nhiên phải tự mình giải thích rõ ràng. Tô đại nhân chỉ cần chuẩn bị xe ngựa, về cốc một chuyến, nhờ lão giải cho, chẳng phải được rồi ư?”

“Than ôi,” Tô Tần thở dài rầu rĩ, “vãn bối đã rời khỏi sơn cốc, giờ khó lòng quay về được nữa!”

“Phải rồi, phải rồi,” lão phu tử dừng lại một chốc, gật gù tán thành, “đệ tử của lão quỷ đâu phải là dê.” Đoạn nhún vai, “tiếc rằng, lão hủ chỉ là kẻ chăn dê, ngoài chuyện dê, lão hủ chẳng biết gì sất!”

Tô Tần nghe ra ẩn ý, trong đầu loé lên một tia sáng, lại vòng tay nói: “Về dê, vãn bối hoàn toàn không hiểu, thỉnh cầu tiến bối chỉ giáo chuyện dê!”

“Hãy đi theo lão hủ!” Phu tử đứng dậy, dẫn Tô Tần đi qua cửa nách, bước sang gian nhà chái bên trái, đẩy mở cánh cổng trên tường rào phía sau, đi vào trong sân.

Vừa thấy phu tử, cả đàn dê kêu be be chạy lại, vây kín xung quanh hai người.

“Đây chính là dê!” Phu tử chỉ vào đàn dê, “Tô đại nhân muốn biết gì về dê?”

Tô Tần nhìn chăm chú vào đàn dê, ngắm nghía kỹ lưỡng hồi lâu, rồi nhìn sang phu tử: “Dê hẳn có tư?”

“Đại nhân hãy nhổ một sợi lông của nó thử xem!” Phu tử giữ lấy một con dê đực.

Tô Tần nhổ lấy một túm lông nhỏ, rồi băn khoăn nhìn phu tử.

Phu tử không nói gì.

Tô Tần chờ mãi không nghe giải thích, bèn hỏi tiếp: “Dê hẳn có công?”

“Đại nhân lại nhổ một sợi lông của nó thử xem!” Phu tử lặp lại.

Tô Tần nhổ một túm lông nữa, lại càng không hiểu, mặt mày ngơ ngác.

Phu tử huýt sáo một tiếng, không hiểu từ đâu lao vọt tới một con chó to tướng trông y như chó sói, gằm ghè nhìn Tô Tần.

“Đại nhân cũng nhổ một sợi lông của nó thử xem!” Phu tử chỉ vào con chó chăn dê.

Trông con chó hung dữ đang nhìn mình gườm gườm, Tô Tử nào dám chìa tay lại.

Phu tử ôm lấy con chó, nhổ lấy một sợi lông, đặt vào lòng bàn tay vân về một chốc, rồi đưa cho Tô Tần.

Tô Tần băn khoăn không hiểu.

“Đây là một con chó dữ, chủ của con chó là lão hủ, cho nên lông của nó, đại nhân không thể nhổ, lão hủ có thể nhổ.” Phu tử quay lại, chỉ ra phía xa, “giả dụ nó không phải là chó, mà là một con mãnh hổ trong rừng thì sao?”

Tô Tần như chìm trong sương mù, đang vắt óc ngẫm nghĩ những mong tìm ra hàm ý sâu xa, thì phu tử đã chỉ vào cánh cổng: “Tô đại nhân, đại nhân đã hiểu về dê, cũng đã hỏi xong điều khúc mắc, cửa ở đằng kia, xin cứ tự nhiên!” Đoạn vỗ vào con chó, “tiễn khách!”

Con chó nhận lệnh, gừ lên một tiếng, chạy bổ tới trước mặt Tô Tần.

“Phu... phu tử...” Tô Tần kinh hãi.

“Tiễn khách!” Phu tử lặp lại.

Con chó lại sủa lên hai tiếng, nhe ra hàm răng nhọn hoắt, như chực nhảy xổ tới.

Tô Tần khẽ thở dài, hoang mang đi về phía cánh cổng.

A black and white photo of a sign Description automatically generated

GẶP CAO SƯ, TÔ TẦN NGỘ CỤCGỠ NÚT THẮT, TRƯƠNG NGHI SANG TẦN

Thấy Tô Tần từ trong nhà bước ra, mấy ông cụ chăn dê đều nhìn cả lại.

“Mua được dê của phu tử chưa?” Mạnh Tôn Dương hỏi.

Tô Tần lắc đầu.

Tô Tần biết, Mạnh Tôn Dương không hỏi về việc mua dê. Do cửa phòng mở toang, cuộc đối đáp bên trong, chắc chắn họ đều đã nghe rõ cả, chỉ có đoạn hỏi đáp trong chuồng dê phía sân sau, có lẽ họ không nghe thấy.

“Phu tử không chịu bán ư?” Tâm Đô Tử hỏi.

Tô Tần lại lắc đầu.

“Ồ?” Ông cụ chăn dê có chòm râu nhỏ bật lên một tiếng trầm bổng.

“Phu tử bảo vãn bối nhổ lông dê!” Tô Tần xoè tay ra, bên trong là hai túm lông dê.

Nhìn thấy lông dê, tất cả các cụ già không hẹn mà cùng “ồ” lên một tiếng.

Nhìn vào sắc mặt, rõ ràng họ đều đã hiểu.

“Tô Tần ngu muội, khẩn cầu chư vị tiền bối chỉ giáo cho!” Tô Tần vòng tay một lượt, thành khẩn nói.

Tâm Đô Tử bật cười vài tiếng rồi nói: “Tô Tử có muốn nghe một câu chuyện cũ từ sáu mươi năm trước?”

“Sáu mươi năm trước?” Tô Tần sửng sốt, vòng tay nói, “Tô Tần xin được lắng nghe!”

“Chuyện này, hãy để cho Mạnh huynh kể!” Tâm Đô Tử nhìn sang Mạnh Tôn Dương.

“Khi đó, phu tử cùng với chúng ta đang ở nước Tống, có một đệ tử Mặc môn tên là Cầm Tử tìm tới tận cửa,” Mạnh Tôn Dương cũng không đưa đẩy, lập tức tiếp lời, “hỏi phu tử rằng: ‘Nghe nói phu tử quý tiếc thân mình, có chuyện này chăng?’ Phu tử đáp: ‘Có đấy!’ Cầm Tử lại hỏi: ‘Giả sử có người nhổ một sợi lông trên người phu tử mà cứu được cả thiên hạ, phu tử có chịu không?’ Phu tử đáp: ‘Một sợi lông thì làm sao cứu được thiên hạ?’ Cầm Tử lại nói: ‘Giả sử cứu được, phu tử có chịu không?”’

“Vậy phu tử trả lời thế nào?” Tô Tần mở to mắt hỏi.

“Phu tử không trả lời, chỉ nhún vai,” Mạnh Tôn Dương nhún vai một cái, “giống như thế này này, rồi bỏ đi.”

“Thế... Cầm Tử thì sao?” Tô Tần lại hỏi.

“Cầm Tử nào có chịu, nhăm nhăm đuổi theo, bị lão hủ ngăn lại.” Mạnh Tôn Dương úp mở.

“Tiền bối cớ sao lại ngăn cản?”

“Lão hủ hỏi Cầm Tử: ‘Giả sử có người cứa rách da thịt của ông rồi cho ông ngàn vàng, ông có chịu không?’ Cầm Tử đáp: ‘Chịu!’ Lão hủ lại hỏi: ‘Giả sử có người chặt một chân tay của ông rồi cho ông cả một nước thì sao?’ Cầm Tử lặng im không đáp. Lão hủ lại hỏi: ‘Giả sử có người chặt đứt đầu ông rồi cho ông cả thiên hạ thì sao?’”

Không nghi ngờ gì nữa, Cầm Tử chính là Cầm Hoạt Ly, đồ đệ đâu tiên của người sáng lập Mặc môn, Mặc Tử Mặc Địch. Vị phu tử vừa bảo Tô Tần nhổ lông dê kia chính là Dương Tử Dương Chu, nổi danh thiên hạ nhờ thuyết vị ngã. Còn mấy cụ già chăn dê trước mặt, chính là những đệ tử luôn đi theo Dương Tử.

Cứ ngỡ Dương Tử đã là cổ nhân, nào ngờ vẫn đang còn sống, hơn nữa lại ở ngay trước mắt, khiến Tô Tần trong lòng kích động, song vẫn gắng giữ vẻ điềm tĩnh.

“Cầm Tử trả lời thế nào?” Tô Tần khẽ mỉm cười, nghiêng người lại hỏi.

“Cầm Tử thoạt tiên im bặt không nói, hồi lâu sau mới đáp: ‘Chuyện này tôi không trả lời được. Có điều, phàm là việc gì, cũng tùy người mà khác. Câu hỏi của ông, nếu như đem hỏi Lão Dam, Quan Doãn, chắc chắn họ sẽ tán đồng. Nếu đem hỏi Đại Vũ, Mặc Tử, chắc chắn họ sẽ không chịu!”’

“Phải” Tô Tần gật đầu, “Cầm Tử trả lời rất hay. Vậy tiền bối nói sao?”

Mạnh Tôn Dương khẽ cười vài tiếng, nhún vai: “Còn nói gì được nữa? Lão hủ và hắn, chẳng khác gì gà vịt trò chuyện!”

“Đúng vậy!” Tô Tần đáp, “Mặc môn và lão tiền bối đây giống như hai bánh xe, tuy lắp chung một xe, song lại lăn theo hai đường khác nhau.”

“Tuyệt diệu!” Mạnh Tôn Dương gật gù, “Tô Tử ví von hay lắm!”

Mấy ông cụ chăn dê còn lại cũng đều bày tỏ sự tán đồng, hoặc gật đầu, hoặc mỉm cười.

“Nếu gạt sang một bên những tranh cãi với Mặc môn,” Mạnh Tôn Dương vòng tay hỏi, “dám hỏi Tô Tử, có thể hiểu được cái ý một sợi lông không chịu nhổ của phu tử chăng?”

Tô Tần ngẩng đầu, vòng tay nói: “Vãn bối vô tri, thỉnh cầu tiền bối chỉ giáo!”

“Với da thịt mà nói, sợi lông quá ư nhỏ bé; với tứ chi mà nói, da thịt quá ư nhỏ bé. Tuy nhiên, tích dần từng sợi lông mà thành da thịt, tích dần da thịt mà thành tứ chi. Một sợi lông tuy nhỏ, cũng là một phần của cơ thể, do bố mẹ sinh thành, do trời đất hoá dục, sao có thể coi thường được?” Mạnh Tôn Dương buông lời cảm khái,“than ôi, đệ tử Mặc môn sao hiểu được đạo lý này!”

Đúng lúc này, cửa phòng chợt mở, lão phu tử bước ra, bên cạnh lão vẫn là con chó dữ to tướng.

Con chó chăn dê lại gằm ghè nhìn Tô Tần, ánh mắt hung tợn.

Lão phu tử tiến lại gần, nhìn Tô Tần, đoạn chỉ vào dãy nhà tranh: “Tô đại nhân, nhà cỏ này đều là của lão hủ, nếu đại nhân đến đây không phải để mua dê, lão hủ sẽ không giữ nữa!” Rồi lệnh cho con chó, “tiễn khách!”

Con chó liền quay về phía Tô Tần, sủa lên đe doạ.

Tô Tần không hề hoảng hốt, lần lượt vái chào lão phu tử và các cụ già chăn dê, đoạn quay người bước đi. Con chó dữ bám sát theo sau, tiễn ra tận cổng trước, mới há miệng cắn lấy cánh cổng đóng lại, đứng canh bên trong, chờ đến tận khi Tô Tần, Trâu Phi Đao đi thật xa.

Nghe tiếng bước chân hai người họ xa dần, Tâm Đô Tử nhìn sang lão phu tử: “Tô Tử dù gì cũng là đệ tử của Quỷ Cốc Tử, là bậc hiển đạt trong thiên hạ, phu tử lại xua đuổi như thế, phải chăng là hơi quá đáng?”

“Than ôi!” Lão phu tử thở dài.

“Phu tử vì sao lại thở dài?” Mạnh Tôn Dương hỏi.

“Là vì lão quỷ trong núi Vân Mộng đó thôi!” Lão phu tử khép mắt lại, cất giọng chậm rãi, “bốn mươi năm trước, Liệt Ngự Khấu kéo theo lão hủ vào trong cốc gặp người này, lão quỷ ấy thao thao một hồi, nói là đang tìm đạo gì đó, nghe giọng của lão, có vẻ hưng phấn lắm. Lão hủ mới khuyên lão ta hãy quý tiếc thân mình mà làm những việc thực dụng đi, chứ đừng có sa đà vào mấy thứ đạo lý huyền hư kia nữa, mà lão không chịu nghe, còn cười lão hủ. Giờ thì sao, đã bốn mươi năm trôi qua, lão hủ vẫn chưa thấy lão tìm ra đạo gì, mà chỉ thấy lão dạy ra mấy tên đồ đệ nhường ấy, nào là Bàng tướng quân, Tôn quân sư, Trương hoành, Tô tung, anh đánh tôi, tôi đấu anh, kẻ sau ghê gớm hơn kẻ trước, thiên hạ đang yên đang lành lại bị họ xào xáo ra nông nỗi này, than ôi...”

“Phu tử,” Tâm Đô Tử ngơ ngác, “phu tử nói thế nghĩa là sao?”

“Các ngươi còn nhớ gã người Trâu mũi ngang mắt dọc gặp ai cũng hùng hổ tranh cãi đấy chứ?” Lão phu tử mở mắt, nhìn chúng đệ tử.

“Hẳn là người nhà họ Mạnh của huynh đấy, Mạnh Kha!” Tâm Đô Tử nhìn sang Mạnh Tôn Dương, “Mạnh Tôn huynh, ngôi thứ giữa hai người thế nào?”

Mạnh Tôn Dương vuốt râu bật cười: “Xét theo vai vế, hắn phải gọi tại hạ là ông!”

“Mấy tên đệ tử của lão quỷ, và cả gã Kha họ Mạnh nhà anh nữa,” lão phu tử nhìn sang Tâm Đô Tử, ý vị sâu xa, “không ai không phải là con dê bị mất! Đáng tiếc là tiếc cho Tô Tần kia, vốn dĩ đã hiểu thấu rồi, mà vẫn cứ khăng khăng đi theo con đường nhiều ngã rẽ!”

Lão phu tử chỉ ra điều này, chúng đệ tử đều im lặng.

“Ai đang đi theo con đường nhiều ngã rẽ đấy?” Một giọng nói thình lình vang lên.

Mọi người nhìn về phía đó, lại thấy có một cụ già từ sân trước bước vào. Con chó dữ đang chạy lăng xăng quanh chân, hết cắn giày lại níu tay áo, trông rõ mừng rỡ.

Là bạn chung của họ, Nhan Xúc.

“Người nhà của họ Mạnh này!” Tâm Đô Tử hất hàm về phía Mạnh Tôn Dương.

Nhan Xúc bật cười, nói: “Là Mạnh Kha ư, tại hạ có tin mới về hắn đây!”

Mọi người đều nhìn lại.

“Mấy hôm trước, Mạnh Kha lại được vương xa đón vào cung, nghe nói để bắn vương cung, còn nghe nói tướng quốc Điền Anh thấy hắn thiện xạ, mới tâu xin cho hắn dạy ba quân xạ nghệ. Vị phu tử này thấy bị lăng nhục, lập tức phất tay áo bỏ đi thẳng, sáng sớm hôm sau, giận dữ bỏ đi khỏi Tề. Đi thì cứ đi, nhưng Mạnh phu tử kia vẫn không nỡ bỏ, nấn ná lại quán trọ ở biên thành Trú Ấp ba ngày trời, mãi mới đợi được sứ thần của vua là thái sử Doãn Sĩ đuổi tới. Nhưng kẻ này đuổi theo lại không phải để giữ chân. Chư vị nói xem, phu tử kia như thế, có mệt hay không?”

“Than ôi, sao lại không mệt chứ?” Mạnh Tôn Dương thở dài, “thân tâm đều mệt mỏi, bất lợi cho tính!”

“Các trò thử nói xem,” lão phu tử chợt lên tiếng, “vị phu tử đó mệt vì thứ gì?”

“Mệt vì danh lợi!” Cụ già có chòm râu nhỏ đáp.

“Mệt vì nhân nghĩa!” Mạnh Tôn Dương đáp.

“Mệt vì thiên hạ!” Tâm Đô Tử đáp.

Nhan Xúc suốt râu cười: “Trong mắt tại hạ, mấy người các vị mới gọi là mệt đấy! Như các vị đây gọi là chó bắt chuột, lo chuyện bao đồng!” Lại nhìn sang Tâm Đô Tử, “giờ nói chuyện thực tế đi, nghe nói Tâm Đô huynh mất dê, đã tìm được chưa?”

Tâm Đô Tử lắc đầu.

“Có muốn tìm không?”

“Muốn chứ, muốn chứ, muốn chứ!” Tâm Đô Tử đáp liền ba tiếng.

“Nó ở đâu?” Mạnh Tôn Dương kêu lên, “hôm qua tìm suốt ngày trời, báo hại cặp cẳng chân già đau nhức cả đêm!”

“Bị người ta bắt, bán vào trong cung rồi!” Nhan Xúc lại đưa tay vuốt râu, “nếu còn chậm trễ e là...” chỉ vào miệng rồi chỉ xuống bụng, “sẽ chui vào bụng Tề Vương mất!”

Tâm Đô Tử kêu lên: “Chao ôi, con dê cái khoẻ mạnh là thế, còn đang chửa dê con nữa!”

Mấy người đưa mắt nhìn nhau.

“Con dê này, sói có thể ăn, ưng có thể ăn, nhưng Tề Vương không thể ăn!” Lão phu tử sắc mặt cương nghị, cất giọng dứt khoát.

Tuy nhiên, phải đòi dê từ chỗ Tề Vương thế nào, lại là chuyện nan giải. Người bán dê không ăn cắp ăn trộm, mà là bắt được ngoài đường. Cung Tề không ăn cắp ăn trộm, mà là mua từ chợ về. Mấy người bàn bạc hồi lâu, vẫn chưa nghĩ ra được cách nào khả dĩ.

Nhan Xúc vuốt râu, lại phá lên cười, liếc xéo Tâm Đô Tử: “Mấy lão già chăn dê này, chỉ giỏi khoác lác thôi!” Rồi bảo Tâm Đô Tử, “cho tại hạ mượn dê của ông!”

“Ồ, chưa tới mùa xén lông, Nhan huynh mượn dê làm gì?”

“Đi đòi dê cho ông!”

“Mượn mấy con?”

“Bao nhiêu con cũng được, nhưng nhất định phải có dê đầu đàn!”

Tâm Đô Tử hiểu ra, vui vẻ đồng ý, kéo Nhan Xúc về nhà mình, đánh cả đàn dê đi về phía vương thành.

Tuy bị lão phu tử thả chó đuổi đi, Tô Tử vẫn hào hứng khác thường, suốt dọc đường vừa đi vừa hát nghêu ngao.

“Chúa công hẳn là đã được gặp lão tiền bối?” Trâu Phi Đao hết sức băn khoăn, bèn hỏi thăm dò.

“Gặp rồi, gặp rồi,” Tô Tần vui vẻ đáp, “thấy chưa, tiền bối còn thả chó đuổi ta nữa.”

“Ồ...” Trâu Phi Đao càng thêm kinh ngạc, “lão tiền bối thả chó đuổi chúa công, chúa công còn vui nỗi gì?”

“Đúng vậy!” Tô Tần cười nói, “quan trọng là bị ai đuổi mới được!” Dừng lại một thoáng, nói tiếp, “phải rồi, Trâu huynh, vừa nãy ta được nghe kể một câu chuyện cũ liên quan tới Mặc môn, vô cùng huyền diệu!”

“Chuyện cũ gì kia?” Trâu Phi Đao lấy làm hiếu kỳ.

Tô Tần bèn kể lại đầu đuôi chuyện Cầm Tử chất vấn Dương Chu tại sao một sợi lông cũng không chịu nhổ cho Trâu Phi Đao nghe, Trâu Phi Đao vừa cảm khái lại vừa cảm động: “Cầm Tử là tiên cự tử trong môn, văn công võ lược, kỹ nghệ máy móc không gì không thông thạo, trong Mặc Môn, địa vị chỉ đứng sau tiên tổ sư Mặc Tử. Chỉ có điều, chuyện này hình như chưa được viết vào Mặc kinh, tại hạ mới lần đầu tiên nghe thấy.”

“Trâu huynh có biết vì sao Dương lão phu tử lại bảo tại hạ nhổ lông dê hai lần không?”

Trâu Phi Đao lắc đầu.

“Nhổ lần thứ nhất, là vì tư, nhổ lần thứ hai, là vì công. Thoạt tiên, tại hạ còn băn khoăn, song lúc này đã sáng tỏ rồi. Lão phu tử muốn nói với ta rằng, dê cũng giống như bách tính, bất luận thiên hạ là công hay thiên hạ là tư, chỉ cần ta muốn nhổ lông họ, thì họ đều sẽ để yên cho nhổ, bởi lẽ họ không còn sự lựa chọn nào khác. Nhổ xong lông dê, lão phu tử bảo tại hạ nhổ lông chó, con chó ấy, Trâu huynh cũng đã thấy rồi, nó dữ như thế, tại hạ nào dám chạm vào!” Tô Tần vô cùng cảm khái.

“Thế có nghĩa là gì?” Trâu Phi Đao không hiểu.

“Có nghĩa là, bất luận là người hay vật, đều có tư, cũng đều có công. Nhổ lông nghĩa là làm tổn hại kẻ khác. Con người lấy lông dê lông cừu làm áo ấm, nghĩa là hại kẻ khác để làm lợi cho mình. Dê giống như bách tính, là kẻ yếu. Kẻ yếu có tư, song kẻ yếu không có quyền lựa chọn. Cho dù ai tới nhổ lông, họ cũng không thể né tránh. Nhưng chó thì khác, lông của chó, chỉ có chủ nhân mới nhổ được. Hay nói khác đi, công tâm của chó chỉ dành cho chủ nhân. Hổ báo sài lang lại khác. Chúng chỉ có tư, không có công, cho dù là với đồng loại đi nữa.”

Trâu Phi Đao sắc mặt đăm chiêu.

Trước cổng lớn cung Tề uy nghiêm tĩnh lặng, đột nhiên ùa đến hơn trăm con dê, cảnh tượng bỗng chốc trở nên náo loạn. Mọi người chạy đi loan báo cho nhau, dân chúng gần xa đua nhau kéo lại xem náo nhiệt. Chưa đầy nửa canh giờ, cổng cung đã bị bao vây vòng trong vòng ngoài, đến quan viên nhập cung cũng phải dừng xe ngựa, đi bộ từ xa.

Do bầy dê vẫn cách cổng cung một quãng nên lính gác không thể xua đuổi, chỉ biết giương mắt đứng nhìn cảnh tượng hỗn loạn.

Cung uý tiến lại hỏi chuyện, Nhan Xúc bèn xưng danh tính, cầu kiến chủ nhân cung điện.

Cung uý bèn bẩm lên Tuyên Vương.

Tuyên Vương đang ở trong điện nghe đám tướng quốc Điền Anh, Tắc Hạ học cung lệnh Điền Văn, thái sử lệnh Doãn Sĩ tấu báo về các việc xoá bỏ bãi nuôi ngựa, “cung tiễn” Mạnh phu tử, nghe tin bẩm báo thì lấy làm lạ.

“Nhan Xúc?” Tuyên Vương nheo mắt nhìn Điền Văn.

Điền Anh cai quản Tắc cung nhiều năm, trong môn thu nạp hàng trăm hiền sĩ, toàn bộ đều do một tay Điền Văn trông nom. Sau khi Điền Anh nhậm chức tướng quốc, Điền Văn tiếp quản Tắc Hạ, tất cả hiền tài của nước Tề, hầu như không ai không biết.

“Hồi bẩm đại vương,” Điền Văn vòng tay bẩm báo, “Nhan Xúc là người nước Lỗ, tương truyền là cháu bảy đời của Nhan Hồi, học trò đắc ý nhất của Khổng Tử, nhưng không phải dòng đích truyền. Ba mươi năm trước theo cha tới Lâm Truy, học theo tổ tiên ẩn cư không ra làm quan, làm nghề xén lông dê cừu kiếm sống, gần đây kết giao với mấy lão chăn dê, có thể gọi là người an bần lạc đạo. Học giả Tắc Hạ, không ai không kính ngưỡng nhân cách của người này. Thần từng hai lần đến nhà cầu kiến, thành khẩn mời tới Tắc Hạ làm tiên sinh, song đều bị khéo léo cự tuyệt. Nay người này xua dê vây trước cổng cung, cầu kiến đại vương, là chuyện xưa nay chưa từng thấy. Đại vương có thể triệu kiến, xem ông ta tới vì việc gì?”

Tuyên Vương lấy làm hưng phấn, quay sang nội tể: “Truyền chỉ, cho mời đại hiền Nhan Xúc vào cung yết kiến!”

Nội tể truyền chỉ, dẫn Nhan Xúc vào cung.

Đi tới trước điện, Nhan Xúc ngồi bệt xuống thềm, không chịu đi nữa.

Tuyên Vương đợi một hồi lâu, vẫn không thấy Nhan Xúc lên điện, lại tiếp tục truyền chỉ: “Mời đại hiền Nhan Xúc vào cung yết kiến!”

Nội tể truyền chỉ, Nhan Xúc đáp: “Nhan Xúc mời Tề Vương xuất cung nói chuyện!”

Vừa mới trước đây, một Mạnh phu tử kiêu ngạo đã khiến Tuyên Vương phải đau đầu đối phó vái lễ của Nho gia, lúc này nghe vậy thì chau mày, nhìn sang chư thần. Điền Anh hất hàm ra hiệu cho thái sử Doãn Sĩ.

Doãn Sĩ bước ra khỏi cửa điện, lớn giọng trách móc: “Đại vương là quân chủ, phu tử là bề tôi. Đại vương mời phu tử vào cung yết kiến, phu tử lại gọi đại vương xuất cung nói chuyện, như vậy có được không? Có hợp lễ không?”

“Xin đại nhân chuyển lời lên Tề Vương,” Nhan Xúc liếc xéo hắn, thản nhiên đáp, “Nhan Xúc vào cung là mộ quyền thế, đại vương xuất cung là lễ hiền sĩ. Để cho Xúc mộ quyền thế, chi bằng để đại vương lễ hiền sĩ!”

Doãn Sĩ tấu lại, Tuyên Vương phẫn nộ ra mặt: “Đi, hỏi ông ta, vua quý hơn, hay là sĩ quý hơn?”

“Đương nhiên là sĩ quý hơn!” Nhan Xúc đáp.

“Hãy hỏi ông ta, nguyên do vì đâu?” Tuyên Vương lại truyền hỏi.

“Có đấy!” Nhan Xúc đáp, “năm xưa người Ngô giao chiến với người Sở, người Ngô đánh vào Sính Đô, chiếm cung điện của người Sở, làm nhục vợ con của vua Sở, đào mộ vua Sở, dùng roi quật xác, nhưng lại dùng lễ đối đãi với hiền thần Thân Bao Tư. Thân Bao Tư không làm quan cho Ngô, muốn sang Tần, Ngô bèn thả cho đi. Thân Bao Tư sang Tần, khóc trước cung Tần bảy ngày bảy đêm, đến cạn kiệt nước mắt, chảy máu mắt ra, cuối cùng cũng mượn được quân Tần, đánh bại quân Ngô, phục hưng nước Sở.”

Chuyện Thân Bao Tư khóc Tần có nhiều truyền bản, nhưng Nhan Xúc kể nghe rất sinh động, còn nhắc đến cả chuyện dùng roi quật xác vua, khiến Tề Vương nghe mà giận dữ, hơi thở phì phì.

Điền Anh hất hàm về phía ngự sử.

Ngự sử bước ra, vòng tay tranh luận: “Nhan lão phu tử, phu tử đã thái quá rồi! Đại vương ở ngôi cửu ngũ chí tôn, sở hữu đất rộng nghìn dặm, xe ngựa vạn cỗ, nhân nhân chí sĩ trong thiên hạ, ai cũng tìm đến nương nhờ; học giả biện sĩ, ai cũng tìm tới bày tỏ; đông tây nam bắc, không dám không phục, thực là muốn gì được nấy. Ngược lại nhìn sĩ tử, dẫu có chút danh giá đấy, nhưng chẳng qua cũng chỉ là kẻ thất phu, sống nơi ngõ hẹp quê mùa. Còn những kẻ không chút danh giá, hoặc sống nơi đồng hoang bỉ lậu, hoặc làm môn khách của hào môn, địa vị hèn hạ!”

“Đại nhân sai rồi!” Nhan Xúc nghiêm mặt nói, “theo như Xúc biết, vào thời Đại Vũ, thánh vương có vạn nước chư hầu. Vì sao kia? Là vì đại vương đức dày, cao sĩ trong thiên hạ đều tới trợ giúp. Vua Thuấn sinh ra nơi đồng hoang bỉ lậu, bốn mùa trông nom việc nông, mà vẫn có thể hiển quý đến hàng thiên tử. Cho tới thời Thang, có ba nghìn chư hầu. Còn thời thế hiện nay, quay mặt về nam xưng quả nhân, chỉ có hai mươi tư người mà thôi. Từ đó mà thấy, thánh vương xưng là thánh, là nhờ sách lược ‘đắc sĩ’, quả nhân xưng là cô, là bởi sách lược ‘thất sĩ’. Thiên hạ loạn lạc, thắng làm vua thua làm giặc, chỉ hơi sơ suất, tông miếu tan hoang. Đợi tới lúc tiêu vong diệt tộc, bậc vương tôn sang quý dù có muốn làm tay gác cổng, e là cũng khó! Thế nên trong ‘Dịch truyện’ có câu: ‘Ở ngôi cao mà không có được cái thực, là do ham thích hư danh, ắt sẽ làm việc kiêu ngạo. Kiêu căng ngạo mạn, chuyện hung sẽ đến. Cho nên kẻ không có thực mà thích hư danh sẽ bị tiêu vong, kẻ không có đức mà mong có phúc sẽ bị trói buộc, kẻ không có công mà hưởng lộc sẽ bị sỉ nhục, chắc chắn chuốc hoạ.’ Thế nên có câu, ‘khoe công thì không thành, mong hão thì không đạt’, cũng có nghĩa là, phàm là chúa kiêu ngạo, thì chỉ có hư danh, thất đạo nên ít được trợ giúp. Cho nên vua Nghiêu có chín người phò tá, vua Thuấn có bảy bề tôi thân tín, vua Vũ có năm thừa tướng, vua Thang có ba Tề phụ, tự cổ chí kim, phàm là thánh vương, đều được cao sĩ thiên hạ phò tá, không có ai chỉ nhờ xưng cô xưng quả mà được thiên hạ cả.”

“Than ôi,” Tuyên Vương nghe vậy, quay sang tả hữu cười gượng, “quân tử há có thể khinh miệt, quả nhân tự chuốc cười chê rồi!” Đoạn đứng dậy, bước ra cửa điện, đi thẳng tới trước mặt Nhan Xúc, vái dài sát đất: “Nghe lời tiên sinh, Tích Cương lấy làm hổ thẹn. Tích Cương bất tài, thành tâm hành lễ đệ tử trước tiên sinh, kể từ hôm nay, tiên sinh hãy ở bên Tích Cương, ăn có tiệc thái lao, đi ắt ngồi vương xa, thê tử đều mang áo gấm!”

“Tạ ơn đại vương hậu ái!” Nhan Xúc vẫn không đứng dậy, chỉ vòng tay đáp, đoạn chỉ xuống bậc thềm, “đại vương, mời ngồi!”

Tuyên Vương ngần ngừ một thoáng, rồi cũng ngồi xuống bậc thềm cạnh Nhan Xúc.

“Ý của đại vương tuy tốt đẹp, song không hợp với Xúc!” Nhan Xúc nói tiếp, “ngọc sinh ra từ núi, đẽo gọt thành vật sẽ vỡ. Ngọc được đẽo gọt mài giũa, sẽ thành quý giá, có điều lại khiến cho ngọc không còn toàn vẹn. Kẻ sĩ sinh ra từ nơi thôn dã, làm quan thì hưởng bổng lộc. Quan cao lộc hậu là rất tôn quý, có điều lại khiến cho kẻ sĩ hình thân ly tán. Xúc chỉ mong, ăn chậm rãi coi như ăn thịt, đi đủng đỉnh coi như đi xe, không có tội coi như là quý, thanh tĩnh chính trực để lấy làm vui. Quản chế ngôn luận là đại vương, tận trung trực ngôn là Xúc. Đại vương có thể xuất cung nghe Xúc, thì Xúc đã thoả nguyện rồi, giờ xin cáo từ!”

“Ơ hay...” Tuyên Vương ngơ ngác nhìn sững vào Nhan Xúc, “tiên sinh tới đây, chỉ là để dạy quả nhân những lời này ư?”

“Ồ, không, không phải,” Nhan Xúc khẽ lắc đầu, ‘Xúc vào bảo điện, là do bạn bè nhờ cậy!”

“Dám hỏi tiên sinh, là ai nhờ cậy? Nhờ cậy chuyện gì?” Tuyên Vương tò mò hỏi.

“Bạn Xúc là người chăn dê, nghe nói đại vương thích ăn thịt dê, mới nhờ Xúc đem toàn bộ đàn dê hơn trăm con dâng lên đại vương, để thoả sở thích miệng lưỡi cho đại vương!” Nhan Xúc giờ mới nói vào chuyện chính.

“Ồ...” Tuyên Vương lấy làm khó hiểu, “Tích Cương vốn ghét mùi hôi tanh của thịt dê, đâu có thích ăn!”

“A?” Nhan Xúc ra vẻ kinh ngạc, “đại vương không thích thịt dê, cớ sao một con dê của bạn Xúc lại bị nô bộc của đại vương dắt vào trong cung?”

“Xin tiên sinh nói rõ!” Thấy là vì chuyện này, Tuyên Vương lấy làm tò mò.

Nhan Xúc bèn kể cho Tuyên Vương nghe chuyện Tâm Đô Tử lạc mất dê thế nào, có người trông thấy con dê lạc bị người ta dắt ra chợ thế nào, rồi bị cung nhân mua lại, sau đó dắt vào vương cung ra sao.

“Là chuyện này ư,” hẳn là bởi cảm thấy thú vị, Tuyên Vương cố tình nhún vai, ra vẻ bất đắc dĩ, “nếu đã là cung nhân bỏ tiền ra mua, thì quả nhân cũng không biết phải làm sao.”

“Đại vương thực sự nghĩ như vậy ư?” Nhan Xúc nhìn thẳng vào Tuyên Vương hỏi.

“Đương nhiên rồi,” Tuyên Vương vuốt râu đáp, “dê này là do nô bộc trong cung bỏ tiền mua về, không phải ăn trộm cũng không phải ăn cướp, bảo quả nhân trả thế nào đây?”

“Đại vương sai rồi!” Nhan Xúc nghiêm mặt nói, “dê của bạn Xúc giữa ban ngày ban mặt vô duyên vô cớ bị mất, đương nhiên là mất trộm. Kẻ được dê ngồi không mà hưởng, đương nhiên là ăn cắp. Kẻ ăn cắp dắt dê ra chợ bán rẻ, chính là bán của gian. Nô bộc trong vương cung mua dê với giá rẻ hơn hẳn bình thường, chính là mua của gian, cũng là mưu lợi bất chính. Dựa theo luật pháp của đại vương, mua của gian cùng tội với bán của gian! Vả lại, bạn của Xúc sống bằng nghề chăn dê, chăn dê không phải để lấy thịt ăn, mà chỉ để lấy lông làm áo ấm. Con dê bị mất còn là dê mẹ có thai, qua một tháng nữa sẽ sinh ra vài con, đủ tiền ăn mặc cho cả một nhà già trẻ. Cung nhân chưa hỏi rõ trắng đen, vừa thấy giá rẻ đã mua ngay, thế chẳng phải là cướp đi miếng cơm manh áo của người khác đó ư? Đại vương thường nhật vẫn dung túng bề tôi như vậy đó ư?”

Tuyên Vương phá lên cười lớn, lại đưa tay vuốt râu: “Nói như vậy, xem ra vẫn là tiên sinh có lý. Người đâu!”

Đám Điền Anh đã đứng chờ sẵn bên ngoài cửa điện, vội vã tiến lại.

“Điền ái khanh, hãy điều tra xem là kẻ nào đã dắt trộm dê của bằng hữu hiền sĩ đây giữa ban ngày ban mặt, trừng trị theo luật!” Tuyên Vương lệnh cho Điền Anh.

“Thần lĩnh chỉ!” Điền Anh vái mà đáp.

“Truyền lệnh cho ngự thiện phòng,” Tuyên Vương quay sang nội tể, “xem dê mua về đã giết chưa?”

Nội tể đi truyền chỉ, một lát sau, cung nhân phụ trách mua dê đã tới bẩm báo, dê mua về trong vòng ba hôm nay đều chưa giết, vẫn đang nuôi trong chuồng, chỉ là không biết con nào là con bị mất. Nhan Xúc nói, chỉ cần nhìn thấy dê, bạn của mình sẽ nhận ra ngay. Tuyên Vương sai cung nhân đánh toàn bộ số dê trong cung ra ngoài, rồi cũng đích thân ra xem, theo Nhan Xúc đi tới trước cửa cung.

Khi con dê đầu đàn của Tâm Đô Tử “be” lên một tiếng, từ trong đàn dê lập tức có tiếng đáp lại, một con dê cái vừa “be be” luôn miệng vừa lon ton chạy ra, chui tọt vào giữa đàn dê của Tâm Đô Tử.

Tuyên Vương lấy làm thích thú, bật cười ha hả. Thấy vua vui vẻ, quần thần ai cũng hân hoan.

Dân chúng tới xem cũng vui cười hớn hở.

Trong tiếng cười nói rộn ràng, Tâm Đô Tử nhận dê, hướng về Tuyên Vương vái dài cảm tạ. Nhan Xúc cũng vòng tay từ biệt, rồi cùng Tâm Đô Tử xua đàn dê, men theo phố lớn, thủng thẳng mà đi.

Trời quang mây tạnh.

Vừa sáng sớm, mấy cụ già chăn dê đã lùa đàn dê ra khỏi cổng, dẫn đầu là lão phu tử.

Đàn dê của lão phu tử ít nhất, chưa tới sáu chục con,

dường như phó mặc hoàn toàn cho con chó. Họ lùa mấy đàn dê đi về phía nam, tới bãi sông Truy Thuỷ.

Sông Truy Thuỷ có rất nhiều bãi, song các cụ già chăn dê biết rõ bãi sông nào nhiêu cỏ nhất.

Họ bước đi chậm rãi, dê vội chó bận người đủng đỉnh, cứ thế men theo bờ bắc Truy Thuỷ đi chừng hơn chục dặm thì tới một bãi sông lớn, từ từ tản ra. Đàn dê nhởn nhơ gặm cỏ, mấy con chó xăng xái canh chừng, các cụ già mỗi người tìm một sườn đồi, nằm xuống nghỉ chân dưới nắng sớm, tận hưởng ánh trời ấm áp rọi xuống từ chín tầng mây.

Có lẽ do dẫn đầu, nên đàn dê của lão phu tử đi xa nhất. Lão phu tử hất văng giày cỏ, nằm dài xuống một sườn dốc chênh chếch quay mặt về đông, từ trên cao nhìn xuống, hai mắt lim dim, đang tận hưởng thời khắc thư thái, bỗng nghe chó sủa nhặng xị, vừa sủa vừa từ bãi sông chạy thẳng lên trên.

Chó còn chưa tới nơi, tiếng bước chân đã vang lên ngay bên cạnh.

Là Tô Tần.

Lần này, không có Trâu Phi Đao, Tô Tần đến một mình.

Tô Tần tiến lại trước mặt lão phu tử, quỳ xuống, dập đâu nói: “Vãn bối Tô Tần khấu kiến lão phu tử!”

Lão phu tử hé mắt, nheo nheo nhìn Tô Tần, thấy con chó đã lao lại gần, chực nhảy xổ vào Tô Tần. Nhưng Tô Tần vẫn tâm trầm khí định, không chút hoảng hốt. Lão phu tử bèn ho lên một tiếng, vẫy tay với chó dữ, đoạn chỉ xuống bãi sông.

Con chó “ử” lên một tiếng, thôi sủa, chạy tới bên lão phu tử, liếm chân vài cái rồi mới ve vẩy đuôi chạy xuống bãi sông canh đàn dê.

“Đệ tử Quỷ Cốc Tô Tần khấu kiến Dương lão phu tử!” Tô Tần lại dập đầu.

“Này đệ tử Quỷ Cốc, anh chắn mất ánh nắng của lão hủ rồi đấy!” Lão phu tử lúc lắc bàn chân trần, nhưng giọng nói không hề có vẻ trách móc.

Tô Tần nhìn lại, thấy cái bóng của mình vừa hay phủ trùm lên bàn chân của lão phu tử, bèn cười nói: “Vãn bối biết lỗi!” Rồi dịch sang một bên, trong đầu chợt loé lên một ý, “dám hỏi lão phu tử, vãn bối có thể nằm trên sườn đồi này sưởi nắng được chăng?”

“Nắng trời là thiên công, sườn đồi là địa mẫu, chỉ cần chớ chắn mất nắng của lão hủ, anh thích nằm đâu thì nằm!” Lão phu tử uể oải đáp.

Tô Tần nằm xuống cách lão phu tử một bước, cũng bắt chước đá văng giày cỏ, lim dim hai mắt.

Lúc này là giờ Thìn, mặt trời đã lên cao hai con sào, ấm áp mà không gay gắt, chính là lúc ánh nắng dễ chịu nhất.

Hai người nằm im sưởi nắng một hồi, lão phu tử lên tiếng trước: “Này đệ tử Quỷ Cốc, anh theo tới tận đây, hẳn không phải là để sưởi nắng. Nói đi, vừa hay lão hủ đang rảnh rỗi, có thể tán gẫu chốc lát!”

“Tạ ơn phu tử nhân từ!” Tô Tần đáp, “vãn bối tới đây, là vì hai túm lông dê mà phu tử đã khai thị!”

“Lông, là lợi. Tô Tử chạy theo lợi thế này, lẽ nào không thấy mệt?” Lão phu tử có vẻ chê trách.

“Lợi, là thứ ai ai cũng ruổi theo, là ranh giới giữa công và tư, vãn bối thực sự mệt mỏi vì đó. Không giấu phu tử, bốn chữ ‘công tư tư công’ mà Quỷ Cốc tiên sinh chỉ giáo, cũng đều liên quan tới đó, vãn bối vì thế mà dằn vặt khổ sở suốt bấy năm qua, đến ngủ cũng không ngon giấc!”

Lão phu tử phá lên cười lớn, đoạn chậm rãi nói: “Tô Tử khổ sở vì đó, là vì không biết lợi. Không biết lợi, sao có thể sống cho thấu tỏ được? Lão quỷ trong núi Vân Mộng lẽ nào chưa dạy cho đệ tử biết điều này ư?”

“Ồ...” Tô Tần ngắc ngứ.

“Than ôi!” Lão phu tử thở dài, “lão hủ thực sự không hiểu, các người đến cả bản thân còn không thể sống cho thấu tỏ, sao có thể đi giải cứu chúng sinh?”

Lời này giống như trách móc.

Tô Tần ngồi dậy, thu thần, vòng tay nói: “Chuyện này không liên quan tới tiên sinh, là do vãn bối ngu muội, kính xin phu tử chỉ giáo!”

Lão phu tử lại cười: “Nằm xuống đi, nằm xuống thư thả mà nghe.”

Tô Tần bèn nằm xuống, thân tâm buông lỏng.

“Nếu muốn sống cho thấu tỏ, trước hết cần hiểu rõ, con người là gì.” Lão phu tử mở mắt, nhìn lên bầu trời, “con người do tự nhiên sinh ra, không có gì khác vạn vật trong trời đất, tính chất ngũ thường Kim Mộc Thuỷ Hoả Thổ có sẵn trong tự nhiên, con người không thiếu thứ nào. Xét về nanh vuốt, con người không đủ để tự vệ; xét về da thịt, con người không đủ để chống đỡ; xét về đi lại, con người không đủ để trốn tránh tổn thương; xét về lông vũ, con người không đủ để chống lại nóng lạnh. Thế nhưng, tự cổ chí kim, con người vẫn được tôn vinh đứng đầu muôn loài, là dựa vào đâu? Dựa vào trí chứ không phải dựa vào lực, dùng vật để nuôi dưỡng cho mình, chỉ thế mà thôi. Trí sở dĩ quý, là để bảo toàn cho ta; lực sở dĩ tiện, là vì làm hại vật. Thân tuy không phải thuộc về ta, nhưng đã sinh ra, thì ta không thể không bảo toàn cho nó; vật tuy không phải thuộc về ta, nhưng đã có được, thì ta không thể tùy tiện vứt bỏ. Thể là chủ của sinh mệnh, vật là chủ của thân thể. Tuy việc bảo toàn sinh mạng là tối thượng, song ta không thể hoàn toàn chiếm hữu thân ta; tuy không vứt bỏ ngoại vật, song ta không thể hoàn toàn chiếm hữu ngoại vật. Nếu hoàn toàn chiếm hữu ngoại vật, hoàn toàn chiếm hữu thân thể, ta sẽ ngang tàng chiếm hữu thân của thiên hạ, ngang tàng chiếm hữu vật của thiên hạ. Nếu có thể không ngang tàng chiếm hữu thân của thiên hạ, không ngang tàng chiếm hữu vật của thiên hạ, ngoài thánh nhân, còn có ai nữa? Không đi chiếm hữu chính là công. Người có thể công thân của thiên hạ, công vật của thiên hạ, lẽ nào không phải bậc chí nhân?”

Thì ra, lão phu tử nói vòng vo qua lại, chính là đang giải thích về hai chữ “công” và “tư” cho Tô Tần!

Tô Tần gắng kìm nén cơn kích động trong lòng, nín thở ngưng thần, tập trung lắng nghe.

“Người dân không được nghỉ ngơi, chủ yếu là do bốn việc,” lão phu tử dõng dạc nói tiếp, “một là thọ, hai là danh, ba là vị, bốn là của, có thể gọi là tứ dục. Kẻ vì thọ thì sợ ma, kẻ vì danh thì sợ người, kẻ vì vị thì sợ uy, kẻ vì của thì sợ hình phạt. Phàm người có tứ dục này, đều gọi là độn dân.”

“Độn dân?” Tô Tần nghe chưa rõ, khẽ hỏi, “độn gì kia?”

“Độn là trốn, trốn đạo tự nhiên.” Lão phu tử giải thích một câu, rồi lại nói tiếp, “đối với độn dân, có thể giết có thể sống, có thể nhục có thể hình, chế mệnh tại ngoại, sinh mệnh bị chế ước bởi thứ bên ngoài, bản thân họ không thể nắm giữ.”

“Phải, lời phu tử rất hữu lý!” Tô Tần gật đầu lia lịa, “xin hỏi phu tử, làm thế nào mới có thể chế mệnh tại nội?”

“Thuận trời ứng người, phù hợp với đạo tự nhiên.” Lão phu tử cất giọng chậm rãi, như đang đọc sách, “không trái mệnh, sao phải hám thọ? Không cậy quý, sao phải hám danh? Không mộ thế, sao phải hám vị? Không tham giàu, sao phải hám của?”

“Nếu có thể làm được năm điều không này, phải chăng chính là thuận dân?”

“Chính phải.” Lão phu tử rõ ràng rất hài lòng với nhận xét của Tô Tần, cười vui vẻ, “đối với thuận dân, chế mệnh tại nội, trong thiên hạ sẽ không còn đối thủ. Thường có câu, ‘người mà không cưới gả không làm quan, dục vọng mất đi một nửa; người mà không ăn không mặc, đạo vua tôi cũng chấm dứt’, chính là nói về chuyện này.”

Phải rồi, Tô Tần buông một tiếng thở dài cảm khái. Nếu như ai ai cũng không cưới gả, không làm quan, thì đâu còn lòng tư? Nếu như ai ai cũng không cần mặc, không cần ăn, thì còn cần gì tới đạo vua tôi? Lão phu tử trước mặt thực sự đã sống thấu tỏ trần thế này! Thế nhưng, phải làm thế nào mới có thể đạt được điều đó? Dù là thời đại Thần Nông, con người có thể không cưới gả không làm quan, nhưng sao có thể không ăn không mặc cho được?

Hiển nhiên, lão phu tử đã nhìn thấu tâm tư của Tô Tần, nên tiếp tục giải thích: “Dục của con người, không gì không phải cái gốc an thân tục mệnh. Nhà ở, áo quần, có thể an thân. Ăn uống, trai gái, có thể tục mệnh.”

Tô Tần hai mắt sáng rực, nhìn xoáy vào khuôn mặt già nua của lão phu tử, chờ đợi lão phu tử giải thích về chữ “dục”. “Dục” thuộc “tư”, đây chính là vấn đề nan giải vẫn bám riết lấy tâm trí Tô Tần.

“Nhà cao áo đẹp, vị béo sắc tươi,” Dương Chu sắc mặt thản nhiên bất động, chỉ có giọng nói âm vang bật ra qua vành môi nhăn nheo, “con người ta sống ở trên đời, phàm là có được bốn thứ này, thì còn câu gì ở bên ngoài nữa? Thế nhưng, người trong thế gian, ví như đám nhân sĩ hợp tung các anh, bốn thứ này không thiếu thứ nào, mà vẫn chưa thấy đủ, vẫn bôn ba khắp chốn, vẫn lùng sục tìm kiếm thêm nữa. Là bởi vì sao? Vì tính không biết thoả, có thể gọi là tham lam. Tính không biết thoả, là thứ sâu mọt do khí âm dương hoá sinh mà ra. Phàm là người có tính này, sẽ không đủ trung để khiến cho vua an nhàn, ngược lại còn gây Nguy hại tới thân thể nhà vua; không đủ nghĩa để khiến người khác được lợi từ ngoại vật, ngược lại còn gây Nguy hại tới tính mạng người khác. Nếu như không cần phải tận trung mà vẫn khiến nhà vua được an nhàn, trên thế gian này sẽ không tồn tại chữ trung; nếu không cần phải tận nghĩa mà vẫn khiến người khác có được lợi ích từ vật, thế gian này sẽ không tồn tại chữ nghĩa. Vua và tôi đều an, vật và ta cùng lợi, danh và thực hoà hợp, đây chính là cái đạo thượng cổ. Dục Tử từng nói: ‘Người từ bỏ danh thì vô lo’. Lão Tử cũng nói: ‘Danh là vỏ của thực’. Vậy mà, từ xưa tới nay, kẻ theo danh tránh thực nườm nượp không dứt. Lẽ nào hư danh không thể vứt bỏ? Lẽ nào danh lại không phải là vỏ của thực? Người thời nay, có danh thì vinh quý, vô danh thì hèn nhục; vinh quý thì an lạc, hèn nhục thì buồn khổ. Buồn khổ, là trái ngược bản tính; an lạc, là thuận ứng bản tính, mà thuận ứng bản tính lại chính là thực tế, người thời nay dùng đạo này để xử thế, thì làm sao có thể vứt bỏ danh được? Danh làm sao có thể trở thành vỏ ngoài của thực được? Bởi vậy người người theo danh mà tránh thực, vì giữ danh mà mệt thực, đó mới là việc đáng lo! Người như vậy sớm đã đặt bản thân vào trong cảnh nguy vong mà không thể cứu chuộc, còn nói gì tới an lạc với buồn khổ nữa?”

Lão phu tử đã chỉ ra điểm yếu của nhân tính, cũng chính là điểm yếu của chính Tô Tần! Nghĩ tới Hỷ Nhi, nghĩ tới Ngọc Thiền, nghĩ tới Cơ Tuyết, nghĩ tới Chu thiên tử, nghĩ tới cầm sư, nghĩ tới quân chủ liệt quốc, nghĩ tới muôn dân thiên hạ, nghĩ tới các sư huynh đệ đồng môn Trương Nghi, Bàng Quyên, Tôn Tẫn, lại nghĩ tới tranh chấp tung hoành giữa mình và Trương Nghi, Tô Tần tràn đầy cảm thán, tâm tư muôn mối rối bời. Đúng vậy, vô vàn chuyện đã trải qua, có chuyện nào không phải vì một chữ trung? Có chuyện nào không phải vì một chữ tình? Có chuyện nào không phải vì một chữ nghĩa? Có chuyện nào không phải vì một chữ lợi? Trung, tình, nghĩa, lợi, chính bốn thứ này đã tạo nên hư danh. Trong bốn huynh đệ Quỷ Cốc, Bàng Quyên đã được giải thoát, Tôn Tẫn cũng đã giải thoát, chỉ còn lại hắn và Trương Nghi, vẫn đang vì hư danh mà lao lực.

May mà ông trời run rủi, cho Tô Tần gặp được lão phu tử nhìn thấu cổ kim, Tô Tần vẫn còn muôn vàn điều khúc mắc muốn hỏi!

“Đúng như phu tử nói,” Tô Tần không để lỡ thời cơ, “danh lợi khiến con người được vinh quý, vinh quý thì an vui, mà an vui lại là thuận trời theo tính, bởi vậy nên người thời nay theo đuổi danh lợi. Thế nhưng, thiên hạ ngày nay sớm đã không còn là công, trăm họ đều giống như con dê của phu tử, phó mặc cho kẻ mạnh nhổ lông để thu lợi bất nghĩa. Giả sử người đời đều được như phu tử nói, không tham danh, không mưu lợi, không tổn thất một sợi lông, không làm lợi cho thiên hạ, chỉ cầu danh thực hài hoà, để bảo toàn lợi ích của bản thân, vậy thì loạn lạc trong thiên hạ há chẳng phải không ngừng không nghỉ, khổ nạn của muôn dân há chẳng phải không cùng không tận?

“Than ôi, Tô Tử vẫn chưa hiểu được ý tứ thực sự của lão hủ!” Lão phu tử thở dài, “lão hủ muốn nói, khi làm lợi cho mình, không được tổn hại người. Người thời thượng cổ, vừa không chịu nhổ một sợi lông của mình để làm lợi cho thiên hạ, cũng không chịu nhổ một sợi lông của thiên hạ để làm lợi cho mình. Bá Thành Tử Cao không muốn nhổ một sợi lông của mình để lợi cho thiên hạ, bởi vậy mới bỏ nước ẩn cư cày ruộng. Đại Vũ không tiếc thân mình vì thiên hạ, cuối cùng lại bắt cả thiên hạ phụng dưỡng riêng nhà mình. Tô Tử thử nghĩ mà xem, nếu người trong thiên hạ đều vì mình, ai nấy đều theo đuổi dục vọng, ai nấy đều khư khư tư lợi, ai cũng không chịu nhổ một sợi lông, ai cũng không làm lợi cho thiên hạ, thì sẽ không xuất hiện nhà vua, cũng sẽ không xuất hiện bề tôi, thiên hạ như vậy, có thể không trị được chăng?”

Tô Tần như bừng tỉnh ngộ, khép mắt hồi lâu, rồi mở mắt hỏi: “Nếu người người đều theo tư, thì lấy đâu ra công nữa? Nếu thiên hạ không có Vũ, thì lũ lụt tràn lan biết phải làm sao? Nếu thiên hạ không có công, thì đại sự thiên hạ làm sao mới thành tựu được, thiên hạ đại trị làm sao mới đạt tới được, thiên hạ đại đồng làm sao mới thực hiện được?”

“Than ôi,” lão phu tử lại thở dài, “mấy người các anh, chỉ chăm chăm nghĩ tới đại sự thế gian. Lão hủ nói này, thế gian chỉ có một đại sự duy nhất, chính là giữ kỹ lông của mình, cũng chớ có đi nhổ lông của người khác. Người không thương tiếc thân mình, sao có thể thương tiếc thiên hạ? Người không quan tâm đến lợi ích của mình, sao có thể quan tâm đến lợi ích của thiên hạ? Vả lại, lão hủ chưa từng nói rằng không làm đại sự thiên hạ. Nếu người người đều mưu cầu tư, thì tư quyền sẽ cao hơn tất cả, công quyền sẽ không còn tồn tại. Công quyền không còn, cũng sẽ không thể có Vũ Thuấn, không thể có vua tôi. Tô Tử thử nghĩ mà xem, mưu cầu tư thì cần trục lợi, trục lợi thì cần hợp tác. Người như kiến, bản tính là sống theo đàn, sinh ra trong quần thể, trưởng thành trong quần thể, cũng chỉ có hợp tác mới có thể đạt được đại lợi!”

“Phải rồi,” Tô Tần vẫn không hiểu, “hợp tác chính là công, làm sao lại bảo công không còn tồn tại?”

“Hợp tác sao có thể là công được, lão hủ nói cho anh hay, hợp tác chưa bao giờ vì công, mà chỉ vì tư.” Lão phu tử khẳng định dứt khoát, “hợp tác ngày nay, là để mưu cầu cái tư cho một mình quân vương, chứ không phải cái tư cho người trong thiên hạ. Còn hợp tác mà lão hủ vừa nói tới, là mưu cầu tư cho người thiên hạ, chứ không phải mưu cầu tư cho một mình quân vương.”

“Hai điều này có gì khác nhau?”

“Khác nhau chỉ ở một.” Lão phu tử tóm lại một câu, “nơi lợi quy về!”

“Làm thế nào để cầu tư cho người thiên hạ, xin phu tử nói rõ!

“Tư của người thiên hạ, người thiên hạ cùng mưu cầu.” Lão phu tử cứ như đã chuẩn bị sẵn câu trả lời từ trước, “chẳng hạn như nói về trị thuỷ. Trị thuỷ là để tránh hại tìm lợi, là tránh hại cho tất cả mọi người, tìm lợi cho tất cả mọi người. Hại là trăm, lợi cũng là trăm. Khi trị thuỷ, nếu có người bỏ ra một phần trăm sức lực, thì tránh được một phần trăm hại, được một phần trăm lợi. Nếu người này bỏ ra một phần trăm sức lực, tránh được hai phần trăm hại, được ba phần trăm lợi, thì người này đã làm tổn hại tới lợi của người khác, nhổ lông của người khác. Song sự thực lại là, khi lũ lụt, vua Vũ đã bỏ ra không tới một phần trăm sức lực, nhưng lại bắt người của cả thiên hạ cung phụng nhà mình, mà người đời sau còn đua nhau ca tụng là thánh vương, đây chẳng phải là chuyện quái lạ hay sao?”

“Thế nhưng,” Tô Tần phản bác, “theo như Tần biết, Đại Vũ trị thuỷ, chính là tổn tư để lợi công, người đời ca tụng, cũng là khen việc thiện. Còn như thiên hạ cuối cùng quy về Hạ Khải, không phải là chủ ý của Vũ. Theo như phu tử nói, lẽ nào đến khen thiện cũng không thể ư?”

“Đương nhiên là không thể.” Dương Chu khẳng định dứt khoát, “làm việc thiện thì để lại danh thiện. Để lại danh thiện thì có lợi của thiện. Dù người làm việc thiện không vì danh thiện, nhưng danh thiện vẫn sẽ lan truyền. Thành tựu danh thiện dù không phải vì mưu lợi, lợi vẫn sẽ tự tới. Được lợi dù không phải nhờ tranh đoạt, tranh đoạt vẫn sẽ nảy sinh. Cho nên quân tử phải thận trọng khi làm việc thiện! Đại Vũ trị thuỷ để làm lợi cho người thiên hạ, chính là mưu cầu danh thiện, Hà Khải nhờ đó mà được thiên hạ, cuối cùng lại cướp đoạt cái lợi của người thiên hạ!”

Lời của phu tử tựa như đề hồ quán đỉnh, chạy thẳng vào trong tâm trí Tô Tần, làm đảo lộn toàn bộ suy nghĩ trước đây.

Hai người nằm trên sườn đồi, cứ thế trò chuyện suốt hai canh giờ, cho tới tận quá Ngọ, lão phu tử hẳn đã thấm mệt, cất tiếng ngáy pho pho. Tô Tần chờ một lát, thấy lão ngủ mỗi lúc một say, bèn đi xuống sườn đồi, canh đàn dê cho lão, cùng con chó dữ đổi thù thành bạn, một người một chó trông nom vài chục con dê, vui chơi thoả thích trên bãi sông Truy Thuỷ.

Đến tận khi sắc trời đã muộn, Tô Tần mới cáo biệt phu tử, trở về phủ trạch Tắc Hạ, sai Trâu Phi Đao mang tới một bàn cờ nặng trịch, bày trong trai thất.

Tô Tần ăn tối xong, tắm rửa xông hương, ngồi xuống đối diện với bàn cờ trống trải, cung kính đặt bốn câu kệ mà Quỷ Cốc Tử gửi tặng lên trên bàn, sử ra công phu tĩnh định đã luyện được cùng đại sư huynh, để soát lại một lượt tất cả những điều từng trải trong suốt mấy năm qua, đặc biệt là những điều đã nhìn thấy đã ngộ được trong những ngày gần đây, cuối cùng, đến khi trời hửng sáng, chợt bừng tỉnh ngộ. Thì ra, lời kệ của tiên sinh chính là chỉ bảo cho Tô Tần và Trương Nghi phải đối cờ ra sao. “Tung hoành thành cục, giữ lấy điều trung, thiên hạ đại ngã, công tư tư công”, chính là nói tới ván cờ thiên hạ. Tung hoành là bàn cờ, bài hạp là phương pháp đánh cờ. Không có “tung hoành” sẽ không thành cuộc cờ, không có bài hạp sẽ không thể đấu cờ. Mấu chốt của bài hạp, chính là “giữ lấy điều trung”. “Thiên hạ đại ngã” chính là kết cục cuối cùng của ván cờ, tức thế giới đại đồng. “Công tư tư công” chính là quá trình và cách thức bắt buộc để đạt được đến kết cục cuối cùng này. Quá trình này sẽ phải đi theo con đường “công - tư - tư - công”, cũng tức là loài người bắt đầu từ thế giới đại đồng, từ từ bước sang con đường tư dục của thế giới tiểu khang. Tư dục là một quá trình liên tục và kéo dài, do vậy nên hai chữ “tư” mới nối liền nhau. Sau đó, con người lại một lần nữa bước vào thế giới đại đồng, kết thúc một vòng tuần hoàn. Điểm tựa để thực hiện quá trình tuần hoàn này, chính là xử lý mối quan hệ của hai “tư” ở giữa, bởi lẽ “công” phía trước đã trở thành quá khứ, là thời Tam Thánh, chuyện cũ đã qua; “công” phía sau là mục tiêu sau rốt, tương lai chưa tới. Hiện tại, con người phải đối mặt, chỉ là “tư” và “tư”. Phải dàn xếp hai chữ “tư” này ra sao, đó mới là mấu chốt để xử trí chuyện phân tranh trong thiên hạ. Chư tử liệt quốc đã thử tìm cách giải quyết từ nhiều hướng, Nho môn dùng nhân nghĩa để ước thúc tư, Pháp môn dùng luật pháp hà khắc để cấm tư, Danh môn làm rõ hư thực để giới hạn tư, Mặc môn dùng đại ái để thay đổi tư, Nông môn bỏ cha để phế tư, Dương môn dùng thiên tính để phóng túng tư... Tóm lại, mỗi môn đều có chỗ hay, cũng đều có chỗ bất cập, song không một môn nào có thể thực thi một mình.

Vậy thì, Tô Tần nên làm thế nào đây? Liệu có thể gộp tất thảy học thuyết thành một thể, lập nên khuôn mẫu mới?

Vừa nghĩ tới việc lập nên một khuôn mẫu mới, Tô Tần chợt tràn đầy phấn chấn!

Chu Uy qua đời.

Trước khi chết một tháng, Chu Uy hai lần gửi thư cho tướng quốc nước Hàn Công Tôn Diễn, thúc giục về Lương một chuyến, mình có việc muốn bàn. Công Tôn Diễn không trở về, chỉ sai người gửi đến một tấm thẻ tre, bên trên chẳng có nội dung gì, chỉ vỏn vẹn dòng lạc khoản “Tê Thủ”.

Chu Uy hiểu, Công Tôn Diễn đã tổn thương tột cùng vì nước Ngụy.

Một ngày trước hôm Chu Uy tạ thế, Huệ Vương được tỳ nhân dìu đỡ, lần thứ năm tới bên giường bệnh thăm hỏi.

Vừa bước vào phòng, Huệ Vương đã hất tay tỳ nhân, gần như loạng choạng lao tới trước giường Chu Uy, nắm chặt lấy tay.

“Đại vương...” Nhìn thấy ánh mắt đầy mệt mỏi lo âu của Huệ Vương, Chu Uy gắng gượng nhúc nhắc vài cái, muốn ngồi dậy nhưng không được, nước mắt ứa ra, “thần... thất lễ...”

“Chu ái khanh...” Huệ Vương mắt cũng ướt đẫm, tay run run siết chặt tay Chu Uy.

Chu Uy nghẹn ngào: “Thần sắp đi rồi, thần... không thể phò tá đại vương được nữa...”

“Chu ái khanh,” Huệ Vương vuốt khẽ bàn tay gầy guộc trơ xương, “ái khanh chớ có hồ đồ, ái khanh còn ít tuổi hơn quả nhân nhiều, nếu đi, phải là quả nhân đi trước, quả nhân còn mong được ái khanh đậy giúp quan tài!”

“Đại vương... thần...” Chu Uy nói không nên lời, giọng nghẹn lại.

“Quả nhân hồ đồ mất rồi,” Huệ Vương lay bàn tay Chu Uy, “quả nhân hối hận vì đã không nghe lời Bạch tướng quốc, không nghe lời ái khanh, đuổi Huệ tướng quốc, đuổi Bạch Hổ đi mất... Quả nhân... chính quả nhân đã đẩy cơ nghiệp tổ tiên đến hồi suy kiệt. Quả nhân thật quá hồ đồ...”

“Đại vương...” Chu Uy nước mắt giàn giụa.

“Ái khanh!” Huệ Vương đưa tay áo lau nước mắt, nhìn vào Chu Uy, “chuyện cũ đã qua, có hối cũng không kịp. Kể từ hôm nay, quả nhân sẽ tuyệt đối nghe lời ái khanh, ái khanh mau nói, cục diện tan hoang hiện tại, liệu có cách nào cứu vãn?”

“Đa tạ đại vương tín nhiệm!” Chu Uy nuốt lệ, gắng nặn ra một nụ cười, “nước Ngụy vẫn là nước Ngụy, đại vương vẫn là đại vương, sao lại không có cách cứu vãn kia chứ?”

“Nói mau, là cách gì?” Huệ Vương nôn nóng hỏi.

“Đuổi Trương Nghi, tuyệt giao với Tần, hữu hảo với Hàn, Triệu, hoà mục với Tề, Sở, phòng thủ Hà Thuỷ, dốc sức chống Tần!”

“Đây chẳng phải vẫn là... kế hợp tung của Tô Tần ư?”

“Đúng vậy, đại vương,” Chu Uy đáp, “Tô Tần nói đúng, Tam Tấn vốn là một nhà, khó tránh mâu thuẫn tranh chấp; Tề, Sở tuy có bất hoà với đại vương, song cũng hiểu rõ về nhau, không làm gì được nhau. Duy có nước Tần là muốn dồn nước Ngụy vào chỗ chết!”

“Vì sao kia?”

“Tần thực thi pháp của Thương Quân, chí là ở giao chiến với bên ngoài. Nước Tần đã chinh phục Tây Nhung, Ba Thục, nếu tiếp tục đánh ra ngoài nữa, sẽ không đánh về tây, cũng không đánh lên bắc, chỉ có thể đánh sang đông. Tần nếu sang đông, cản trở đầu tiên chính là nước Ngụy ta!”

“Ái khanh nói phải lắm!” Huệ Vương trầm ngâm hồi lâu, chậm chạp gật đầu, “nhưng... nếu như đuổi Trương Nghi đi, biết lấy ai làm tướng quốc?”

“Đại vương có thể để Công Tôn Diễn làm tướng, Bạch Hổ làm khanh. Công Tôn Diễn chủ chính sự, Bạch Hổ chủ tài vật, thì đại vương có thể kê cao gối ngủ.”

“Than ôi,” Huệ Vương nhắm nghiền hai mắt, “quả nhân... đã xử tệ với hai người họ, nay họ...”

“Đại vương, theo như thần biết, Công Tôn Diễn và Bạch Hổ dù đi tới đâu, lòng vẫn hướng về nước Ngụy. Chỉ cần đại vương thành tâm vời về, giao phó quốc sự, Công Tôn Diễn và Bạch Hổ chắc chắn sẽ bỏ Hàn về Ngụy, dốc lòng phò tá đại vương!”

“Huệ tướng quốc đang ở đâu?” Huệ Vương chợt hỏi. “Nghe nói đã về quê cũ ở nước Tống.”

“Suy đi nghĩ lại, từng ấy năm qua, người hợp ý với quả nhân nhất vẫn là Huệ tướng quốc. Nếu quả nhân lại mời Huệ Tử về, thì sao?”

“Được thôi, chỉ cần đuổi Trương Nghi đi, thực thi kế sách hợp tung, đại vương dùng ai cũng được!”

“Hiền tài trị quân thì sao?” Huệ Vương lại hỏi.

“Cháu nội của Long tướng quân, Long Hổ.”

“Người này... liệu có trẻ quá không?”

“Đại vương, xông pha trận mạc vốn dĩ là việc của người trẻ tuổi, Long Hổ xứng danh là hổ tử nhà tướng, trung dũng song toàn, mấy năm qua theo Bàng tướng quân chính chiến, đã dày dạn thêm nhiều, có thể đảm đương trọng trách.” Chu Uy kiên trì tiến cử.

“Còn một việc nữa, quả nhân rất muốn nghe ý ái khanh.” Huệ Vương nhìn Chu Uy, tràn đầy trông đợi.

“Đại vương cứ nói.”

“Thái tử!” Huệ Vương khó nhọc bật ra hai tiếng.

Chu Uy nhắm mắt, hồi lâu sau mới chầm chậm mở ra: “Việc nhà của đại vương, thứ lỗi cho thần...”

Cái chết của lão thần Chu Uy chính là một đòn nặng nề, khiến trái tim vẫn hừng hực tráng chí trong thân thể không còn tráng kiện của Ngụy Huệ Vương chỉ sau một đêm đã già nua héo úa.

Huệ Vương hạ chỉ hậu táng Chu Uy theo lễ công khanh. Chu Uy là người đôn hậu, cai quản chính sự nhiều năm, một lòng vì nước, rất được dân Ngụy yêu mến. Chu Uy lại thân quen khắp với nội ngoại Ngụy thất, vào hôm an táng, dân chúng Đại Lương gần như đổ hết ra đường, đều mặc áo tang, đội ngũ tống táng nối đuôi nhau thành hàng dài hơn chục dặm, còn đông hơn nhiều so với đám tang Bàng Quyên và thái tử Thân vài tháng trước.

Ngày thứ ba sau khi mai táng Chu Uy, Huệ Vương hạ chỉ, đặc cách cất nhắc Long Hổ làm đô uý Đại Lương, đảm nhiệm chức thượng tướng quân của công tử Ngang năm xưa, phụng chỉ chỉnh đốn ba quân, tái lập võ binh Đại Ngụy. Cùng với đó, Huệ Vương sai tỳ nhân âm thầm phái sứ thần sang Tống, chuyển mật thư do Huệ Vương đích thần ngự bút tới Huệ Thi, thỉnh cầu ông ta về Ngụy. Lại phái mật sứ tới nước Hàn, thỉnh cầu Bạch Hổ quay về. Còn với Công Tôn Diễn, Ngụy Huệ Vương vẫn chưa thể buông bỏ thành kiến trong lòng.

Toàn bộ những việc này không thể thoát khỏi tầm mắt của Hắc điêu nước Tần. Khi công tử Hoa lần lượt kể ra từng chuyện, Trương Nghi vô cùng kinh ngạc, đầu mày chau tít thành một đám.

Kỳ thực, không cần Hắc điêu mật báo, Trương Nghi sớm đã cảm nhận được. Không hiểu tại sao, từ sau khi sang Ngụy, Trương Nghi luôn thấy mình không gặp may. Đuổi được Huệ Thi coi như chút thành tựu nhỏ, song phạt Triệu không thành, phạt Hàn sắp thành lại bại.

Nói thực lòng, Trương Nghi sang Ngụy liên hoành, không phải là để làm suy yếu Ngụy, mà là muốn khiến Ngụy mạnh thêm. Hợp tác với nước Tần, tuyệt đối không thể là nước yếu, nhất thiết phải là kẻ mạnh liên minh. Nào ngờ sự thể đã vượt xa khỏi dự liệu của Trương Nghi, hai lần hợp tác giữa hắn và Bàng Quyên đều kết thúc bằng thất bại, hơn nữa còn lấy luôn cả tính mạng của Bàng Quyên.

Càng khiến Trương Nghi phiền muộn, chính là nước Sở. Trương Nghi để mặc cho Sở chinh phạt Tương Lăng, với mưu đồ khiến Tề, Sở giao tranh. Chỉ cần khiến Tề, Sở giao tranh, đừng nói là một Tương Lăng, chứ mất mười Tương Lăng cũng đáng. Tuy nhiên, điều đó lại không xảy ra. Đại quân Chiêu Dương đã tiến sát biên giới Tề, lại thình lình rút quân, thực sự khiến Trương Nghi hết sức bất ngờ.

Đương nhiên, không lâu sau đó, thông qua Hắc điêu, Trương Nghi đã biết được Chiêu Dương rút quân là có liên quan tới Trần Chẩn, mà trước khi Chiêu Dương rút quân, Tô Tần đã bí mật tới Tống, hẹn gặp Trần Chẩn.

Nghĩ tới mình cùng Bàng Quyên bắt tay chống lại Tô Tần và Tôn Tẫn, hai lần chiến hai lần bại; phó mặc cho Chiêu Dương tranh Tề, lại bị Tô Tần âm thầm hoá giải, trong lòng Trương Nghi chợt dâng lên một nỗi hoang mang và đau xót khó tả. Hoang mang, là bởi kết quả đã rõ ràng, bất luận là đấu công khai hay âm thầm, Bàng Quyên cũng không đấu lại Tôn Tẫn, còn Trương Nghi hắn cũng không đấu lại Tô Tần. Đau xót, là bởi tình nghĩa huynh đệ bấy lâu, lời thề sinh tử ngày xưa, năm tháng bầu bạn trong Quỷ Cốc, giờ đều đã trở thành ký ức.

Giờ đây, Bàng Quyên chết rồi, Tôn Tẫn đi rồi, bốn người xuống núi, chỉ còn Trương Nghi độc chiến Tô Tần.

Trương Nghi hiểu rõ, ván cờ thiên hạ một khi khai cuộc, cho dù là hắn hay Tô Tần, cũng không còn đường lui nữa.

Trương Nghi lấy ra bàn cờ Quỷ Cốc Tử do mình tự chế, nhìn chằm chằm vào thế cục.

Trương Nghi cứ nhìn sững vào giữa bàn cờ hồi lâu. Ván cờ thiên hạ, kẻ được trung tâm sẽ được thiên hạ, mà thiên hạ ngày nay, chiếm giữ vị trí trung tâm, chính là Hàn Triệu Ngụy, và Ngụy nằm ở giữa!

Mấy năm lại đây, Trương Nghi đã giở hết thủ đoạn, dựa vào thế lực lớn mạnh của nước Tần để tiến thẳng vào giữa trung tâm, khó khăn lắm mới chiếm được bảo địa ở nước Ngụy, làm được một việc, mắt thấy đã sắp sửa thành công, nào ngờ...

Trương Nghi biết, nếu không hành động ngay, làm một việc khác, thì quân cờ này của hắn sẽ chết vì hết khí, bị quân cờ hợp tung của Tô Tần thôn tính toàn bộ, Ngụy Huệ Vương sẽ nhanh chóng nhập tung, mọi nỗ lực hắn đã đổ ra cho hoành cục suốt mấy năm qua sẽ thành công cốc.

May sao tình hình trước mắt chưa đến nỗi quá tệ với Trương Nghi. Tuy mất đi Bàng Quyên, song đối thủ lớn nhất là thái tử Thân không còn nữa, Chu Uy cũng đi rồi, thái tử mới lập Ngụy Tự là người của hắn, triều chính gần như đã nắm giữ trong tay, Ngụy Vương ngoài tỳ nhân bên cạnh, gần như đã trở thành cô gia quả nhân thực thụ.

Tuy nhiên, nếu như Ngụy Huệ Vương thực sự mời Huệ Thi và Bạch Hổ trở về, lại cộng thêm Long Hổ đã nắm giữ quân quyền trong tay, thì tình hình sẽ khác, cán cân sẽ nghiêng về phía Tô Tần. Chỉ cần Tô Tần quay trở lại, Triệu, Ngụy sẽ kết liên minh, nước Hàn có Công Tôn Diễn, ắt cũng nhập tung. Lúc đó, thế cờ hoành của hắn sẽ tan rã hoàn toàn ngay giữa bàn, khó lòng đi tiếp được nữa.

“Bệ hạ,” Trương Nghi không dám trì hoãn, lập tức dẫn thái tử Tự vào cung, sau khi vấn an, liền vào ngay chuyện chính, “nếu Sở Vương và Tề Vương đều ngồi ở đây, thì bệ hạ muốn đánh ai hơn?”

Trương Nghi rõ ràng rất hiểu tính khí của Ngụy Huệ Vương, cũng thấu tỏ tâm tư của Huệ Vương, vừa lên tiếng, đã cho ngay Huệ Vương cơ hội trút giận.

Ngụy Huệ Vương hai mắt trợn tròn, chiếu ra hai luồng nhãn quang sáng rực, xoáy thẳng vào Trương Nghi, thân hình to lớn rung lên bần bật theo hơi thở phì phò.

Trương Nghi sắc mặt nghiêm túc, ánh mắt khẩn thiết, như thể điều vừa nói không phải là giả sử, mà là hiện thực sắp sửa xảy ra!

Ngụy Huệ Vương nhìn chằm chằm vào Trương Nghi hồi lâu, hơi thở dần bình hoà trở lại, cơ thể không còn rung động nữa, hai mắt từ từ khép lại.

“Bệ hạ, điện hạ cùng thần đang kính cẩn chờ nghe ý chỉ!” Trương Nghi không để lỡ thời cơ, tiếp tục dấn thêm một bước.

“Vậy theo hai người, kẻ nào trong họ đáng bị đánh hơn?” Ngụy Huệ Vương đẩy lại câu hỏi, khoé miệng thấp thoáng một vẻ khinh miệt.

“Nhi thần cho rằng, Sở Vương đáng đánh nhất, đặc biệt là Chiêu Dương, kẻ nhân lúc cháy nhà hôi của!” Ngụy Tự cất giọng giận dữ.

“Ý tướng quốc thế nào?” Ngụy Huệ Vương vẫn không mở mắt, khoé miệng giữ nguyên vẻ khinh miệt.

“Thần nghe theo bệ hạ!”

“Trương Nghi, bắt đầu từ hôm nay, hãy gọi quả nhân là đại vương, hai tiếng bệ hạ là do Công Tôn Ưởng nước Tần các người gọi đầu tiên, quả nhân nghe không thuận tai!” Ngụy Huệ Vương nói thẳng thừng.

Trương Nghi thấy tim mình thót lại. Huệ Vương nói vậy là đã quy hắn và Công Tôn Ưởng vào cùng một loại, hơn nữa cũng tỏ thái độ bất mãn với Tần.

“Đại vương,” Trương Nghi im lặng một thoáng, rồi đổi cách xưng hô, “thần là thần, Công Tôn Ưởng là Công Tôn Ưởng!”

“Nói đi, khác ở chỗ nào?” Huệ Vương mở bừng mắt, nhìn chòng chọc vào Trương Nghi.

“Công Tôn Ưởng là đại lương tạo nước Tần, thần là tướng quốc nước Ngụy!” Trương Nghi nói rành rọt từng tiếng.

Huệ Vương im lặng không nói, hồi lâu sau, mới thở hắt ra: “Trương Nghi, nói đi, rốt cuộc khanh muốn làm gì?”

“Ý thần là,” Trương Nghi vòng tay, cất giọng khảng khái, “phạt Tề, đòi lại công bằng cho tiên thái tử, cho Vũ An Quân, và cho cả ba vạn liệt sĩ hổ bôn đã xả thân vì nước!”

Lý do của Trương Nghi, không thể phản bác.

Huệ Vương lại thở dài một tiếng, hỏi tiếp: “Là Trương ái khanh sẽ đi phạt ư?”

“Không phải!”

“Vậy thì... ai sẽ phạt?” Huệ Vương nhìn chằm chằm vào Trương Nghi.

“Người Tần!” Trương Nghĩ lại gằn mạnh từng tiếng.

Huệ Vương bàng hoàng chấn động, hít sâu vào một hơi, nhìn sững vào Trương Nghi, cứ ngỡ hắn đang nói đùa.

“Bệ hạ,” Trương Nghi lại đổi cách xưng hô, “thần xin đi sứ sang Tần!”

“Chuẩn tấu!” Huệ Vương vẫn nhìn sững vào Trương Nghi, rất lâu sau, mới từ từ khép mắt lại.

Trương Nghi phụng chỉ Huệ Vương, danh chính ngôn thuận đi sứ sang Tần, dẫn theo sứ đoàn rầm rộ ba trăm người, Sử Cử làm phó sứ, cờ giong trống mở đi qua ải Hào, ải Hàm Cốc, thẳng tới Hàm Dương.

Tần Huệ Vương trước tiên phái đi một đoàn nghênh đón do Sư Lý Tật dẫn đầu, bày nghi thức tiếp đón vô cùng long trọng tại đình Thập Lý cách Hàm Dương mười dặm về phía đông, tiếp đến phái công tử Hoa, Cam Mậu đánh vương xa ra cổng thành đông đón rước, mời Trương Nghi tay mang sứ tiết nước Ngụy lên xe, diễu qua phố lớn, phô bày nghi lễ bang giao long trọng nhất.

Sau khi hoàn tất một loạt nghi thức bang giao, Sư Lý Tật sắp xếp cho toàn bộ sứ thần nghỉ lại dịch quán, bày tiệc khoản đãi.

Tới khi xong xuôi mọi việc, trời đã tối mịt, Trương Nghi được công tử Hoa đưa vào trong cung, bí mật yết kiến Huệ Vương.

Đứng phía sau Trương Nghi là công tử Hoa, đứng phía sau Huệ Vương là Sư Lý Tật.

Vua tôi nhìn nhau hồi lâu, không ai thốt lên một tiếng.

“Gầy đi rồi!” Cuối cùng, Tần Huệ Vương lên tiếng trước.

“Đại vương tráng kiện hơn trước!” Trương Nghi đáp.

Tần Huệ Vương gồng tay ưỡn ngực: “Là thịt của Nghi đã chạy sang ta!”

“Là hồng phúc của đại vương, không liên quan tới Nghi!” Trương Nghi vòng tay nói.

“Gọi là Tứ huynh!” Tần Huệ Vương sửa lại.

“Tứ huynh!” Trương Nghi do dự một lát, cũng gọi theo.

“Ừm!” Huệ Vương cười nói, “hồng phúc lớn nhất của Tứ này, chính là có được em rể như Nghi!” Quay sang công tử Hoa, “Hoa đệ, lập tức quay về, mượn lấy vài bát rượu ngon của Phạm Trù lại đây, cho gã sâu rượu này thưởng vài người thức!”

Công tử Hoa cười nói: “Đã mượn rồi!”

Nói đoạn vỗ tay, vài tên tùy tùng bước vào, bày biện bàn tiệc, Phạm Trù xuất hiện, bưng theo một bình rượu.

Hương rượu thơm nức từ miệng bình toả ra ngào ngạt, thấm vào phế phủ, chốc đã tràn ngập cung thất.

Trương Nghi hít sâu một hơi, hồi lâu sau mới thốt lên: “Rượu ngon!”

Bốn người cùng ngồi xuống thưởng rượu.

Huệ Vương cầm dao, tự tay xẻo lấy một miếng thịt nướng, đưa cho Trương Nghi: “Em rể, hãy nếm thử!”

Trương Nghi nhận lấy ăn.

“Nếm ra vị gì?”

“Thịt sống lưng hươu!”

“Không phải bảo em rể nếm cái đó, là bảo em rể nếm xem là ai nướng?”

“Cái này thì khó!” Trương Nghi lắc đầu.

Huệ Vương vỗ tay, lập tức một nữ tử áo tía bưng khay bước lại, quỳ xuống, dâng lên một miếng thịt nướng khác.

“Chư vị đại nhân, xin dâng món tay gấu nướng!” Nữ tử áo tía khay nâng ngang mày, nói.

“Tử Vân?” Trương Nghi sửng sốt.

“Tạ ơn món ngon của em gái!” Công tử Hoa đỡ lấy khay, đỡ Tử Vân dậy, “lại đây, uống với tướng công nhà em một chén!”

Tử Vân thẹn thùng liếc nhìn Trương Nghi, rồi vòng tay thẽ thọt: “Chư vị cứ từ từ thưởng thức, nô tỳ cáo lui!” Đoạn xoay người, uyển chuyển bước ra.

Huệ Vương phá lên cười sảng khoái, đẩy đĩa tay gấu lại phía Trương Nghi: “Cái tay gấu này là dành riêng cho em rể đó!”

Vua tôi bốn người uống rượu ăn thịt, cười nói vui vẻ suốt non nửa canh giờ.

Qua vài tuần rượu, Tần Huệ Vương đẩy chén rượu đi, vòng tay về phía ba người: “Em rể, hai vị hiền đệ, rượu uống đủ rồi, đã tối lúc bàn vài câu chính sự!” Nhìn sang Trương Nghi, “em rể, không giấu gì em, thế cục không thật có lợi cho ta, nhất là loạn ở đất Thục, khiến lòng dạ ta rối bời!”

“Tư Mã Thác đâu rồi?”

“Đi dẹp loạn Thục.”

“Ngoài loạn nước Thục, quân huynh còn có gì phiền muộn?” Trương Nghi hỏi.

“Còn ba điều nữa. Thứ nhất, Sở được Tương Lăng.

Thứ hai, Hàn được Công Tôn Diễn. Thứ ba...” Huệ Vương dừng lại.

“Là Trần Chẩn đã thực lòng phò Sở!” Trương Nghi tiếp lời.

“Than ôi!” Huệ Vương cười buồn, than thở, “kẻ này lắm mưu nhiều kế, nếu thực lòng phò Sở, e là sẽ gây rắc rối không nhỏ cho em rể!”

“Vạn vật trên đời,” Trương Nghi khẽ cười một tiếng, “có sinh ắt có khắc. Chỉ cần quân huynh còn đây, chắc chắn hắn sẽ chẳng thể giở trò!”

“Được rồi!” Dụng ý của Huệ Vương hiển nhiên không phải ở đây, lại nhìn thẳng vào Trương Nghi, “hãy nói về nước Ngụy, bước tiếp theo nên làm gì?”

“Nghi lần này trở về, cũng vì chuyện này!” Trương Nghi vòng tay, “bước tiếp theo, thần xin quân huynh hãy xuất binh!”

“Xuất binh?” Huệ Vương sửng sốt, “phạt Ngụy ư?”

“Phạt Tề!”

Cả ba người đều bàng hoàng chấn động, đưa mắt nhìn nhau.

“Phạt thế nào?” Hồi lâu sau, Huệ Vương mới hỏi.

“Triệu hồi Tư Mã Thác, mượn đường Hàn, Ngụy, phạt Tề!”

“Vì sao?” Sư Lý Tật hỏi.

Trương Nghi khép mắt không nói.

Huệ Vương cũng từ từ khép mắt lại.

Hiển nhiên, lời thỉnh cầu của Trương Nghi đã vượt xa dự liệu của Tần Huệ Vương. Trong bàn cờ của Tần Huệ Vương, nước cờ hiện tại hoàn toàn không phải phạt Tề. Hơn nữa, để người Tần băng qua đất Hàn, Ngụy để phạt Tề, dù là ai cũng cho là chuyện hoang đường ngoài tưởng tượng. Tuy nhiên, Trương Nghi đã đề ra, chắc chắn là có chỗ diệu dụng. Diệu dụng này ở đâu? Huệ Vương cần phải suy đoán.

Đúng một khắc trôi qua, Huệ Vương mới mở mắt ngẩng đầu, nhìn Trương Nghi cười gượng: “Tứ huynh chịu thua, thực không nghĩ ra được vì sao em rể lại muốn phạt Tề vào lúc này?”

“Đại vương,” Trương Nghi nhìn thẳng vào Huệ Vương, nói rành rọt từng tiếng, “cờ đã đánh đến giữa bàn, thì không thể bỏ!”

“Ý em rể là, bỏ Thục?” Huệ Vương ngả người lại.

“Không phải!”

“Vậy... nếu điều Tư Mã Thác về...”

“Ý thần là, đại vương có thể dùng Ngụy Chương dẹp loạn Thục, dùng Tư Mã Thác chinh phạt Tề!”

Huệ Vương lại nhắm mắt hồi lâu mới lên tiếng: “Đồng thời khai chiến với hai nước, e rằng...”

“Đại vương có thể phạt Tề trước, phạt Thục sau.”

“Há chẳng phải Trần Trang sẽ ngày càng lớn mạnh?” Huệ Vương nheo mắt hỏi.

“Trần Trang không thể lớn mạnh, sẽ không được dài lâu!” Trương Nghi quả quyết.

“Vì sao?”

“Đức không xứng vị!” Trương Nghi đáp, “theo thần được biết, với tài đức của Trần Trang, trị một quận còn khó, nói gì đến trị hai nước lớn Ba, Thục? Hơn nữa, vài vạn lính Tần dưới trướng của hắn, liệu có thực sự trung thành? Những binh lính đó đều là người Tần, gia quyến của họ đa phần đang ở Quan Trung, dù họ có nguyện theo Trần Trang, liệu có thể không lo lắng tội liên đới theo luật Tần chăng? Còn người Thục và người Ba, liệu họ có thể phục tùng một tướng quân phản bội tới từ bên ngoài? Đại vương có thể giao Ba, Thục cho Ngụy Chương ở Hán Trung, hắn sẽ liên thủ với đô uý Mặc, không tới nửa năm, Ba Thục ắt loạn, sẽ bắt được Trần Trang!”

Quả nhiên là đối sách tuyệt diệu.

Huệ Vương thở phào một tiếng, nhìn sang Trương Nghi, tươi cười hỏi: “Nói đi, nước Ngụy thế nào rồi? Cớ sao lại muốn phạt Tề lúc này?”

“Chuyện của nước Ngụy, chắc hẳn đại vương đã biết cả rồi.” Trương Nghi liếc nhìn công tử Hoa, ám chỉ Hắc điêu hẳn đã báo tin. “Từ sau khi Bàng Quyên chết đi, đặc biệt là sau khi Sở chiếm mất Tương Lăng, Ngụy Vương không còn tin thần nữa, cũng không còn tin tưởng người Tần. Ngụy Vương hậu táng Chu Uy, trọng dụng cháu trai của Long Giả là Long Hổ nắm giữ binh quyền, lại bí mật sai người sang Tống, Hàn mời Huệ Thi, Bạch Hổ trở về, bước tiếp theo, hẳn sẽ là mời Công Tôn Diễn và Tô Tần! Người Ngụy vốn đã mang lòng hoài nghi với Tần, sở dĩ Ngụy Vương kiên quyết không nghe lời phản đối, là bởi tin tưởng hai người, trước là Trần Chẩn, sau là Bàng Quyên. Trần Chẩn đi rồi, Bàng Quyên chết rồi, thần e rằng...”

Tần Huệ Vương chau tít đôi mày. Những điều này, Huệ Vương đều đã biết cả, song không lường được sự tình lại nghiêm trọng đến thế.

“Nếu không ngoài dự liệu,” Trương Nghi nhìn sang ba người, “chẳng bao lâu nữa, Tô Tần sẽ về Đại Lương, nước Ngụy sẽ hợp tung trở lại. Đến lúc đó đại vương có muốn ra khỏi cửa Hàm Cốc về đông, sẽ phải đợi thêm mười, hai mươi năm nữa.”

Huệ Vương hít ngược một hơi, nhìn trân trân vào Trương Nghi.

Sư Lý Tật, công tử Hoa đã hiểu ra, sắc mặt căng thẳng.

“Chiêu phá giải của em rể, phải chăng chính là phạt Tề?” Huệ Vương hỏi thay cho đáp.

“Không phải.” Trương Nghi đáp, “phạt Tề chỉ là nước cờ đầu tiên của toàn bộ ván cờ lớn!”

“Ồ?” Tần Huệ Vương ngả người về trước.

“Nhìn về lâu dài, kẻ địch mạnh của Tần, không phải

Tề, không phải Ngụy, cũng không phải Sở.”

“Là ai?” Công tử Hoa nôn nóng hỏi.

“Là Tô Tần!” Tần Huệ Vương lập tức đáp lời.

“Đại vương thánh minh!” Trương Nghi vòng tay nói, “Tô Tần không phải chỉ hợp tung sáu nước thôi, mà còn muốn hợp tung thiên hạ. Tô Tần dùng sức của một người để tập hợp người trong toàn thiên hạ đối địch với Tần, đó mới là cường địch của đại Tần ta.”

“Mau nói đối sách!” Công tử Hoa thúc giục.

“Đối sách phá giải, vẫn là liên hoành.” Trương Nghi đáp, “Ngụy là then chốt của thiên hạ, không thể để mất. Bố cục của thần là, lần lượt liên hoành các nước hợp tung, khuấy đảo thiên hạ, phá huỷ triệt để sách lược hợp tung của Tô Tần.”

“Phá huỷ thế nào?”

“Sẽ bắt đầu từ nước Ngụy.” Trương Nghi dõng dạc tiếp lời, “Huệ Vương già rồi, uy phong đã mất. Nếu không ngoài dự đoán, kế vị Ngụy Vương sau này là thái tử Ngụy Tự. Nghi đã nắm được quyền bính nước Ngụy, bên cạnh Ngụy Tự, hầu như đều là người của chúng ta, trong thời gian tới, minh ước Tần, Ngụy vẫn được đảm bảo duy trì. Ngụy đứng đầu Tam Tấn, ta nắm được quyền bính nước Ngụy, có thể ở giữa hoà hợp Tam Tấn, hình thành một vòng tròn ở giữa. Sau đó, đại vương có thể khiến Yên tranh Tề, khiến Tề tranh Sở, khiến Sở tranh Tần, từ đó hình thành vòng tròn bên ngoài. Bất kể là vòng trong hay vòng ngoài, nước Ngụy đều ở trung tâm. Đại vương chỉ cần phát động trung tâm, có thể đồng thời xoay chuyển cả vòng trong vòng ngoài. Chỉ cần hai vòng xoay chuyển, thì cục tung do Tô Tần bố trí không tấn công cũng tự tan rã!”

Hiển nhiên, đây là kế sách mà Trương Nghi đã nghiền ngẫm từ lâu, cũng rất phù hợp với thời cục thiên hạ, xứng là thượng sách. Tần Huệ Vương hít vào một hơi thật sâu, nhắm mắt lại, từ từ thở ra, hết một hơi, lại chầm chậm hít vào hơi nữa, nhìn sang Trương Nghi: “Phạt Tề thế nào, em rể hẳn đã có tính toán?”

“Thần cho rằng,” Trương Nghi lập tức bày ra phương lược phạt Tề, “đại vương có thể lệnh cho Tư Mã Thác dẫn năm vạn quân, mượn đường nước Hàn phạt Tề. Thần sẽ thuyết phục Ngụy Vương xuất ba vạn quân. Thượng đại phu có thể yêu cầu Yên Vương xuất hai vạn quân, tổng cộng là mười vạn, chia thành ba ngả, áp sát biên giới nước Tề. Sau Tôn Tẫn, Điền Kỵ, Tề đã không còn tướng giỏi, Điền Tích Cương cũng không bằng Điền Nhân Tề, quyền cước của người Tề chưa từng giao đấu với nhuệ binh Đại Tần ta, nếu ngang sức nhau, ta sẽ nắm chắc phần thắng!”

“Bôn tập đường xa, là đại kỵ trong dụng binh.” Huệ Vương nheo mắt, giọng còn ngờ vực, “lương thảo cung ứng thế nào? Và viện binh nước Tề, em rể đã nghĩ tới chưa?”

“Thần đã suy tính cả rồi,” Trương Nghi đáp, “lương thảo có thể cung ứng tại chỗ. Lần trước Bàng Quyên phạt Hàn, đại vương chi viện cho Ngụy hàng vạn gánh lương thảo, tuy có hao tổn, song đa phần vẫn trữ trong kho, thần có thể tạm xin Ngụy Vương cho mượn dùng một ít, rồi sẽ trả dần. Ngược lại, lương thảo của người Tề phần nhiều đã bị thiêu huỷ, hiện đang thiếu thốn. Còn như viện binh, Ngụy và Yên là đồng minh của ta, có thể loại trừ. Triệu có muốn xuất binh, cũng phải đột phá người Ngụy trước đã. Tướng quốc nước Hàn Công Tôn Diễn có lẽ sẽ thỉnh cầu xuất binh, song cục diện chưa rõ ràng, Hàn Vương sẽ không dám manh động. Còn như nước Sở, Chiêu Dương vừa chiếm lợi thế ở Tương Lăng, sẽ không gây sự với Ngụy nữa. Người Tề vì chuyện Tương Lăng mà phái kỵ binh vượt đường xa tập kích Hạng Thành nước Sở, thiêu rụi kho lẫm, thương vong vài nghìn người, Chiêu Dương vẫn chưa nguôi giận. Nếu ta phạt Tề, người Sở sẽ chỉ vui vẻ đứng nhìn mà thôi.”

Phân tích của Trương Nghi, cực kỳ kín kẽ.

Tần Huệ Vương và Sư Lý Tật, công tử Hoa đưa mắt nhìn nhau, rồi không hẹn mà cùng nhìn vào Trương Nghi.

“Nếu đại vương xuất binh, còn có một lợi ích to lớn hơn nữa!” Trương Nghi nhìn thẳng vào Huệ Vương, ánh mắt hân hoan, cố tình úp mở.

“Lợi ích gì?” Huệ Vương đổ người lại, ánh mắt tràn đầy sốt sắng.

“Dám hỏi đại vương,” Trương Nghi chưa vội đáp, “đại Tần ta từ khi có sử đến nay, chinh chiến về đông xa nhất là tới đâu?”

“Thời Mục Công từng phạt nước Trịnh, có thể gọi là viễn chinh nghìn dặm.”

“Có thành không?”

“Toàn quân tận diệt.”

“Bị diệt ở đâu? Bị ai đánh bại?”

“Bị diệt ở ải Hào, bị người Tấn đánh bại.”

“Đúng vậy.” Trương Nghi bỗng chốc khí thế sục sôi, “Tần từ khi lập nước tới nay, mấy lần đông chinh, đều không thắng lợi. Mục Công phạt Trịnh, nửa đường bỏ dở, rút quân về tới ải Hào, lại bị người Tấn vây khốn, toàn quân tận diệt, ba tướng bị bắt sống. Ngày nay, đại vương nếu có thể xuất binh phạt Tề, bất luận có thành hay không, cũng là tráng cử xưa nay chưa từng có, sẽ khích lệ ý chí của người Tần. Đường đông chinh của Tần, nguy hiểm ở Hàm Cốc, ải Hào. Hàm Cốc ở trong tay ta, ải Hào ở trong tay Ngụy, mà Ngụy là đồng minh của ta. Đánh trên đồng bằng, trọng ở thực lực, dựa vào thực lực của nhuệ binh Đại Tần, dù là võ binh Đại Ngụy cũng chưa chắc địch nổi, huống hồ là quân Tề vốn đã chẳng còn tướng giỏi!”

Trước một tràng khích lệ của Trương Nghi, Huệ Vương rõ ràng đã động lòng, trầm ngầm hồi lâu, cầm chén cười nói: “Em rể, đường xa vất vả, cũng nên sớm nghỉ ngơi. Nào, uống cạn chén này, xin mời hồi phủ.”

Sư Lý Tật, công tử Hoa cùng cười. Trương Nghi thoáng đỏ mặt, cũng nâng chén uống.

“Còn chuyện phạt Tề, là viễn chinh đường xa, không thể không thận trọng, hãy để quân huynh cân nhắc ít nhiều, ngày mai chúng ta lại bàn, thế nào?” Huệ Vương lại nâng chén mời.

Trương Nghi lại uống cạn, rồi nâng chén cáo biệt.

“Em rể,” công tử Hoa tiễn Trương Nghi ra cửa, vỗ vai, nháy mắt, “có một niềm vui bất ngờ đang chờ phía trước!”

Trương Nghi bước xuống bậc thềm, trông thấy một cỗ xe mui tứ mã đang đỗ trước điện.

Trong xe có một người đang ngồi ngay ngắn, chính là Tử Vân.

Về tới phủ, đêm đã khuya, cả nhà Tiểu Thuận và Tiểu Thuý vẫn đang chờ.

“Chúa công...” Vợ chồng Tiểu Thuận cùng quỳ xuống dập đầu, mừng rơi nước mắt. Phía sau họ là ba đứa trẻ quỳ thành hàng, Tiểu Thuý còn ôm một đứa trong lòng.

Không cần phải hỏi, nhà Tiểu Thuận lại vừa đón thêm nhân đinh mới.

Trương Nghi đỡ họ dậy, xoa đầu từng đứa trẻ.

Về tới phòng, Tử Vân sắc mặt hân hoan, nhìn Trương Nghi đăm đăm: “Phu quân, thiếp có một tin vui!”

Nhớ tới câu “niềm vui bất ngờ” mà công tử Hoa vừa nhắc tới, Trương Nghi cười hỏi: “Còn có tin vui gì nữa?”

“Phu quân hãy đi theo thiếp!” Tử Vân kéo Trương Nghi đi sang gian phòng bên cạnh, vén rèm, để lộ một khuê phòng nho nhỏ bên trong, mới được sửa sang thành.

Sát tường kê một chiếc giường gỗ nhỏ có thành chắn xung quanh, trên giường giăng kín màn.

“Phu quân hãy xem!” Tử Vân vén màn, bên trong là một đứa bé đang ngủ say sưa.

“Con ai thế?” Trương Nghi ngạc nhiên hỏi.

“Của phu quân đấy!” Tử Vân sắc mặt tràn trề hạnh phúc, khe khẽ vỗ về đứa trẻ.

“Của ta?” Trương Nghi kinh ngạc, nhìn sững vào nàng, “của Trương Nghi ta ư?”

“Phải.” Tử Vân bế đứa trẻ lên, “con bé đã hơn một tuổi, biết gọi cha rồi!”

Trương Nghi lúc này mới nhớ lại, mầm sống này hẳn đã được gieo khi hắn về nhà lần trước, mới đó mà thấm thoắt đã hơn hai năm.

“Bế đi!” Tử Vân trao đứa bé cho Trương Nghi.

Trương Nghi đưa tay đón lấy, sắc mặt vẫn chưa hết ngỡ ngàng.

Hiển nhiên, Trương Nghi hoàn toàn không ngờ tới sự hiện diện của đứa trẻ này, lại càng chưa bao giờ nghĩ sẽ bế trên tay đứa con của chính mình.

“Phu quân,” thấy Trương Nghi không hề có vẻ vui mừng, Tử Vân lo lắng ứa lệ, “thiếp kém cỏi, không thể sinh cho phu quân một công tử, hẳn là phu quân... không được vui lòng?

“Vui... vui...” Trương Nghi giờ mới định thần.

Đúng vậy, đây chính là con của hắn! Trương Nghi nhẹ nhàng cúi xuống hôn lên khuôn mặt bé xíu, nước mắt ứa ra.

“Phu quân, thiếp nhất định sẽ lại sinh cho chàng một công tử!” Thấy Trương Nghi chảy nước mắt, Tử Vân vô cùng xúc động, nắm chặt lấy tay hắn.

“Đặt tên là gì?” Trương Nghi hỏi.

“Vẫn chưa có tên!” Tử Vân ghé sát tai Trương Nghi, dịu dàng thì thầm, “đợi phu quân trở về!”

“Thế thì hãy gọi là Doanh Tường.” Trương Nghi suy nghĩ một thoáng, rồi đặt lại đứa trẻ xuống giường, “Doanh Tường, ngủ đi con, ngày mai cha sẽ chơi với con!”

“Phu quân,” Tử Vân sửng sốt, “chàng không để con theo họ Trương?”

“Họ Doanh vẫn tốt hơn!” Trương Nghi mỉm cười đáp.

“Vậy hãy đặt là Trương Doanh Tường, được chăng?” Tử Vân chớp mắt mấy cái, cất giọng thương lượng.

“Doanh Tường!” Trương Nghi thu lại nụ cười, đáp dứt khoát.

Hôm sau, Trương Nghi chơi với con gái suốt một ngày, sau đó bảo Tiểu Thuận đánh xe tới Trương Ấp, Hà Tây bái tế tổ tiên.

Đến khi trở lại Hàm Dương, chiếu mệnh phạt Tề của Tần Huệ Vương đã ban xuống. Chiếu mệnh ban cho bốn người. Thứ nhất, nhiệm Tư Mã Thác làm chủ tướng, dẫn năm vạn quân phạt Tề. Thứ hai, nhiệm Ngụy Chương làm chủ tướng, chuẩn bị phạt Thục. Thứ ba, nhiệm Sư Lý Tật làm đặc sứ sang Yên. Thứ tư, lệnh cho công tử Hoa điều động toàn bộ Hắc điêu, phối hợp cùng ba lộ.

Không hiểu bởi nguyên cớ gì, Trương Nghi không muốn ở lại Hàm Dương thêm một ngày nào nữa, ngay sau hôm nhận được chiếu lệnh của Tần Vương, đã lập tức dẫn đoàn sứ thần nước Ngụy quay về.

Rời khỏi Hàm Dương chừng ba mươi dặm, Trương Nghi lệnh cho phó sứ Sử Cử dẫn sứ đoàn đi trước một bước, bẩm với Ngụy Vương tin vui Tần Vương đã xuống chiếu phạt Tề, còn mình dẫn theo vài tùy tùng thân tín, lặng lẽ đi vào núi Chung Nam.

Do phải vận chuyển lương thực vào doanh trại trong núi, nên ở đây sớm đã mở một con đường lớn, chạy quanh co men theo thế núi, thẳng tới bên ngoài khe Hàn Tuyền. Xe ngựa của Trương Nghi theo đường lớn chạy tới doanh trại nơi Tư Mã Thác luyện quân năm xưa, đến khi không còn đường cho xe đi nữa, thì bảo tùy tùng dừng lại nghỉ, một mình trèo núi đi tiếp.

Băng qua hẻm núi trước mặt là đến khe Hàn Tuyền, bước chân Trương Nghi bỗng vùn vụt như bay.

Trong núi đang độ hoa xuân đua nở.

Gian nhà cỏ thoang thoảng hương hoa rừng, Hương Nữ và Lâm Tiên Cô ngồi đối diện nhau, tay chạm tay cùng luyện công.

“Sư muội,” Lâm Tiên Cô thu tay về, nhìn Hương Nữ khẽ cười, “chúc mừng sư muội, trong người khí huyết dồi dào, chất độc hàn thấp đã được trừ hết, không còn sót lại chút nào nữa!”

“Tạ ơn sư tỷ đã trợ giúp!” Hương Nữ vòng tay nói.

“Sư muội cảm ơn sai rồi, là công của chính sư muội đó!” Lâm Tiên Cô lại cười.

“Sư tỷ ngày ngày giúp đỡ, sao có thể là công của một mình sư muội được?” Hương Nữ mỉm cười.

“Là thế này,” Lâm Tiên Cô chỉ vào chậu hoa lan đang nở rộ trong phòng, “khi sư tỷ lần đầu nhìn thấy nó, nó giập nát tả tơi, lăn lóc theo dòng đá lở, rễ phơi ra ngoài, lá vùi trong đất, thoi thóp dưới nắng gắt, gần như héo khô. Sư tỷ mang nó về, chẳng làm gì cả, chỉ đặt nó vào trong chậu, thêm đất, tưới nước, sau đó, nó tự hồi sinh, tự lành thương tích, tự mọc thành thế này, nở ra những đoá hoa đẹp đẽ thơm ngát nhường này.”

“Nhưng... nếu sư tỷ không mang nó về, không đặt nó vào trong chậu, không thêm đất, không tưới nước, không che chở cho nó thì sao?” Hương Nữ nhìn Lâm Tiên Cô.

“Đây là duyên phận của nó!” Lâm Tiên Cô nhìn chậu hoa lan, “nó mọc trên một sườn dốc chắc chắn sẽ bị xói lở, đó là mệnh của nó. Nó lăn xuống theo dòng đá lở, lại gặp sư tỷ, được sư tỷ trồng vào trong chậu, đó là vận của nó. Nó nhờ có sư tỷ mà sống, sư tỷ nhờ có nó mà vui, đều do trời định. Sư tỷ và nó, không ai nợ ai, nó không cần cảm tạ sư tỷ, sư tỷ cũng không cần cảm tạ nó. Ví như sư muội, gặp gỡ Trương Nghi, rồi lại rời xa Trương Nghi, tới sơn cốc này theo sư phụ tu đạo, sau đó chúng ta mới được cùng nhau tu tập, cùng nhau luyện công. Sư muội chăm chỉ luyện công mà ép được hết hàn khí ra ngoài, sư tỷ nhờ có sư muội bầu bạn mà ngày ngày vui vẻ. Tất cả đều là vận của sư muội, là ngộ của sư muội, cũng là vận của sư tỷ, là ngộ của sư tỷ. Chúng ta không ai nợ ai, sư muội không cần cảm tạ sư tỷ, sư tỳ cũng không cần cảm tạ sư muội, phải không?”

“Hương Nữ hiểu rồi, sư tỷ!” Hương Nữ tươi cười đáp.

Bỗng nghe tiếng bước chân lướt nhẹ bên ngoài, dừng lại trước cửa, rồi tiếng Giả Xá Nhân vọng vào: “Hương Nữ, Trương Nghi vừa tới, đang ở phòng khách chờ đợi. Sư phụ cho mời Hương Nữ tới!”

Nụ cười như đông cứng trên khuôn mặt Hương Nữ.

Tiếng bước chân của Giả Xá Nhân xa dần.

Lâm Tiên Cô đứng dậy, tiến lại phía trước chậu lan, ngắm nghía những cánh hoa.

Hương Nữ chầm chậm nhìn sang Lâm Tiên Cô, giọng như run rẩy: “Sư tỷ...”

“Nó đã hoàn toàn hồi phục, nó đã nở hoa, đã đến lúc sư tỷ đưa nó quay lại khe đá bên cạnh Hàn Tuyền, cho nó được tự do tự tại!” Lâm Tiên Cô bưng chậu hoa lên, cười với Hương Nữ, đoạn bước ra khỏi nhà cỏ.

Hương Nữ đứng dậy, chầm chậm đi về phía gian nhà cỏ của sư phụ Hàn Tuyền Tử.

Hương Nữ đẩy cửa, thấy Hàn Tuyền Tử đang ngồi nghiêm trang chờ nàng.

“Sư phụ...” Hương Nữ quỳ xuống, nước mắt trào ra.

“Lại đây!” Hàn Tuyền Tử vẫy tay.

Hương Nữ dịch lại vài bước, dập đầu trước mặt Hàn Tuyền Tử: “Sư phụ, đệ tử... không muốn gặp người đó...” Nàng nói trong tiếng khóc.

Hàn Tuyền Tử mỉm cười hiền từ: “Đạo pháp tự nhiên, tự nhiên chính là tâm của con. Con muốn gặp, thì gặp. Con không muốn gặp, thì đừng gặp.”

“Tạ ơn sư phụ chỉ giáo!” Hương Nữ gạt lệ, chậm rãi đứng dậy, bước chân dứt khoát quay ra.

Hương Nữ không quay về gian nhà cỏ của mình, mà đi theo đường mòn tiến thẳng vào giữa rừng sâu.

Nàng cứ đi, đi mãi, cho đến một cánh rừng vắng dấu chân người, tới dưới một gốc cây to, vén áo ngồi xuống thảm lá rụng dày, hít sâu vài lần, điều hoà hơi thở, nhắm mắt tĩnh thần.

Bóng nắng dịch chuyển, vầng nhật xế tây, cánh rừng dần thẫm lại. Từ phía xa xăm bỗng có tiếng lạo xạo, lạo xạo vẳng tới, là tiếng bước chân giẫm trên lá rụng.

Tiếng lạo xạo cứ quanh quẩn trong rừng, mỗi lúc một gần. Rồi dừng lại, im bặt cách đó chừng hơn chục bước.

Hơi thở của Hương Nữ không còn đều đặn nữa, cơ thể nàng bất giác run lên khe khẽ.

Hương Nữ vận hết công lực tu trì suốt mấy năm nay để kiềm chế bản thân, chế ngự sóng lòng cuồng loạn.

Rồi nàng cũng trấn tĩnh trở lại, cơ thể không còn run rẩy, hơi thở không còn dồn dập, thân tâm tĩnh lặng hệt cành khô.

Tiếng lạo xạo lại vang lên, một người ngồi xuống trước mặt nàng.

Rồi tất cả lại chìm vào tĩnh lặng.

Chim trở về rừng, mặt trời xuống núi, cánh rừng âm u tịch mịch.

Hương Nữ, Trương Nghi giống như hai khúc cây khô, đều cùng bất động.

Đã gần canh một, mặt trăng nhô lên phía trời đông, từng tia sáng dìu dịu xuyên qua kẽ lá, rải đầy xuống khu rừng, lốm đốm loang lổ.

Hương Nữ khẽ cựa mình, rồi đứng dậy.

“Ngồi xuống!” Hương Nữ vừa dợm đứng lên, Trương Nghi chợt lên tiếng, giọng nói tuy ôn hoà, song ngữ điệu hệt như ra lệnh.

Hương Nữ rùng mình, lại ngồi xuống như cũ.

Lại một bầu tĩnh mịch bất tận.

Không biết đã qua bao lâu, Hương Nữ nhịn không nổi, đành lên tiếng: “Cớ sao lại tìm tới đây?”

“Nghi ở Quỷ Cốc năm năm, mỗi chiếc lá cây trong cốc, đều là bạn của Nghi.” Trương Nghi đáp.

“Trương Tử... ổn chứ?”

“Không ổn.”

“Vì sao?”

“Phu nhân Ư Thành Quân đã sinh một tiểu công chúa, biết gọi cha rồi.”

Một hồi im lặng kéo dài, rồi Hương Nữ cất giọng dịu dàng: “Tiểu nữ chúc mừng Ư Thành Quân!”

“Nghi đã đặt tên cho nó, là Doanh Tường!”

Lại một hồi im lặng, Hương Nữ mới tiếp lời: “Tên hay lắm!”

“Phu nhân Ư Thành Quân còn muốn sinh công tử!”

Hương Nữ tiếp lời nhanh hơn, giọng nói bình thản: “Có trai có gái mới tốt!”

“Ư Thành Quân sẽ không để nàng ấy sinh nữa!” Giọng Trương Nghi âm trầm lạnh lẽo đến rùng mình.

“Vì sao kia?”

Trương Nghi không đáp.

Trăng đã lên cao giữa đỉnh đầu, bị tán cây rậm rạp che khuất, tứ bề mông lung mờ ảo. Từ phía xa xa bỗng vẳng lại tiếng kêu thảm thiết, là một con thú nhỏ gặp phải thợ săn.

Hương Nữ rùng mình ớn lạnh.

“Hương Nữ...” Trương Nghi đổi ngồi thành quỳ, giọng run rẩy.

“Ư Thành Quân, có gì xin cứ nói.” Hương Nữ sửa ngay vạt áo, giọng nói càng thêm điềm tính.

“Nghi... rất nhớ nàng...” Trương Nghi cất giọng chậm rãi, gần như thì thầm, song trong đêm khuya vắng lặng, vẳng đến bên tai Hương Nữ, khác nào tiếng sấm động giữa bầu không.

Hương Nữ không dè Trương Nghi lại nói ra những lời này, bất giác run bắn, song không thốt một lời.

“Lúc nào... lúc nào cũng nhớ nàng...”

Hương Nữ càng thêm run rẩy.

“Ở Đại Lương, ở Hàm Dương, trong doanh trại, trên xe ngựa... bất cứ nơi đâu trên thế gian này...” Trương Nghi cứ như không còn thấy Hương Nữ, không còn thấy núi rừng, cứ ngồi lẩm bẩm như ngây.

Hương Nữ nghẹn ngào, cơ thể run lên từng chặp, cố kìm nén để không nấc lên thành tiếng.

“Không biết bao đêm, ta tỉnh giấc, song không còn ngửi thấy mùi hương... Ta ngồi ngây dại, trên chiếc giường trống trải, ta nhớ nàng... nhớ đến người con gái chỉ yêu một mình ta, gửi gắm tất cả cho ta...” Trương Nghi vẫn thì thầm.

Hương Nữ bật khóc.

“Ta cứ ngồi ngây dại cho tới tận sáng, nhìn đăm đăm vào khoảng trống bên cạnh, không còn chút hương thơm...”

Hương Nữ thân tâm tê dại.

“Phu quân...” Nàng gọi lên một tiếng, ngã vào lòng Trương Nghi, bật khóc thành tiếng.

Trương Nghi ôm ghì lấy nàng, thật chặt. Hương Nữ cũng đáp lại tình ý nồng nàn. Hương thơm trong hồi ức như thấm khắp một khoảng rừng khuya.

Bóng trăng dần xế về tây, lặn xuống sau đỉnh núi.

A black and white photo of a sign Description automatically generated

GẶP LƯƠNG VƯƠNG, MẠNH KHA GIẢNG NGHĨAGIỮ HOÀNH CỤC, TRƯƠNG NGHI TÍNH MƯU

Ba cỗ xe mui thủng thẳng đi trên con đường cái từ Tuy Châu dẫn tới Đại Lương, Vạn Chương cùng hơn chục đệ tử khác hoặc đánh xe, hoặc đi theo sau xe, hoặc đi ở bên xe, tay đặt lên xe đẩy đỡ. Trong ba cỗ xe, có hai cỗ mới mua, một cỗ chở hành lý, một cộ chở toàn thẻ tre.

Khi mặt trời sắp sửa chạm xuống chân trời, đoàn xe đột nhiên dừng lại. Trần Trăn đang mải miết đi bên cạnh cỗ xe cuối cùng ngẩng đầu lên, mới biết sắp phải qua mương lớn.

Trên mương có một nhịp cầu gỗ bắc ngang, song mặt cầu chỉ đủ cho một cỗ xe qua, bên kia cầu vừa hay cũng có vài cỗ xe đi tới. Hai bên đều dừng lại ở đầu cầu chờ đợi, rõ ràng có ý nhường đối phương qua trước.

“Chà chà,” Nhạc Chính Tử đi ở bên kia xe rõ ràng không nhìn thấy tình cảnh trên cầu, vỗ vào thân xe tấm khắc khen, “thực là xe tốt, càng nhìn càng thấy ưng bụng, cả ngựa nữa, thật tráng kiện! Không hiểu lão phu tử nghĩ thế nào mà xe tốt ngựa tốt không ngồi, lại cứ thích ngồi cỗ xe cũ rích, đã thế còn đi trước chắn đường, không tài nào đi nhanh được! Nếu để cỗ xe này dẫn đầu, hẳn đã tới Đại Lương từ hôm qua rồi!”

Trần Trăn nhìn cỗ xe. Xe là xe mới, ngựa là ngựa khoẻ, trên xe chở toàn thẻ tre đã phơi khô, còn nhẹ hơn cả xe hành lý phía trước, lại thêm đi không nhanh, hai con tuấn mã chẳng hề có vẻ chở nặng đường xa, mà giống như tản bộ đồng bằng.

“Có một chuyện tại hạ nghĩ mãi không ra!” Thấy Trần Trăn im lặng, Nhạc Chính Tử lại nói tiếp, ‘Trần huynh thử nói xem, khi ở Lâm Truy, Tề Vương ban cho một trăm dật vàng, cớ sao phu tử không nhận?”

“Phu tử không phải là người tham tiền, sao có thể nhận?” Trần Trăn thuận miệng đáp liền.

“Đã không tham tiền, cớ sao lại nhận bảy mươi dật vàng Tống Vương ban tặng?” Nhạc Chính Tử nhìn sang Trần Trăn.

“Ờ...” Trần Trăn không biết trả lời ra sao, đang ngẫm nghĩ thì hai cỗ xe bên kia đã qua cầu, xe của họ cũng bắt đầu rục rịch.

Xe qua mương lớn, đi thêm vài dặm, tới một trạm dịch.

Trời đã tối mịt. Trông thấy có gian nhà trống, Vạn Chương bẩm lên Mạnh phu tử, rồi sai bảo mọi người tháo ngựa nghỉ ngơi.

Trong các đệ tử, Trần Trăn là người nôn nóng nhất, trong lúc chờ cơm, liền kéo Nhạc Chính Tử đi cùng, đến trước Mạnh phu tử vái mà nói: “Phu tử, Nhạc Chính Tử và đệ tử có một khúc mắc!”

“Khúc mắc gì kia?” Mạnh phu tử sắc mặt tươi cười, không hề thấy vẻ mệt mỏi.

“Khúc mắc về đúng sai.”

“Vậy ư?” Mạnh phu tử cười hỏi.

“Phu tử từng dạy, mọi việc đều có đúng sai.” Trần Trăn vòng tay nói, “khi ở Tề, Tề Vương ban tặng trăm dật vàng, phu tử cự tuyệt không nhận. Tới đất Tống, Tống Vương ban tặng bảy mươi dật vàng, phu tử lại vui vẻ nhận lấy. Trước đó ở đất Đằng, phu tử cũng từng nhận bốn mươi dật vàng của Đằng Quân. Hai đệ tử lấy làm thắc mắc, nếu không nhận vàng của Tề Vương là đúng, thì nhận vàng của Tống Vương, Đằng Quân là sai ư? Nếu nhận vàng của Tống Vương, Đằng Quân là đúng, thì không nhận vàng của Tề Vương là sai ư? Hai điều này không thể lựa chọn, vậy duyên cớ vì đâu phu tử nhận vàng của Tống Vương, Đằng Công mà lại từ chối Tề Vương?”

Rõ ràng, đây là một khúc mắc lớn, cũng là mối băn khoăn vẫn canh cánh trong lòng chúng đệ tử.

Mọi ánh mắt đều đổ dồn lại.

Mạnh phu tử vuốt râu, phá lên cười vài tiếng: “Là vì lựa chọn, bởi lẽ cả hai điều này đều là đúng!”

“Đúng ở chỗ nào?” Nhạc Chính Tử nôn nóng hỏi.

“Đúng ở nghĩa.” Mạnh phu tử đưa mắt nhìn khắp lượt đệ tử, rồi cất giọng rành rọt, “khi ở Tống, chúng ta sắp sửa đi xa. Với khách đi xa, chủ nhân đương nhiên sẽ tặng tiền lộ phí, bởi vậy Tống Vương ban tặng bảy mươi dật vàng khi từ biệt, nói rằng ‘tạm dùng làm lộ phí’. Ý tốt thế này, thầy làm sao có thể từ chối? Còn khi ở Đằng, gặp lúc người Sở đánh đất Tiết, Đằng Quân nghe nói thầy có ý dè chừng, bèn tặng cho bốn mươi dật vàng, khi từ biệt, nói rằng ‘để phòng bất trắc’. Ý tốt thế này, thầy làm sao có thể từ chối?”

“Vậy còn... vàng của Tề Vương?”

“Khi Tề Vương tặng vàng, thầy vẫn đang ở nước Tề, đã không phải dè chừng, cũng không có ý đi xa, Tề Vương lại vô duyên vô cớ tặng cho một trăm dật vàng. Vô duyên vô cớ tặng vàng, thế gọi là mua chuộc. Quân tử đường đường, sao có thể bị mua chuộc được?”

Việc hóc búa nhường này, Mạnh phu tử vẫn có thể giảng được đại đạo quân tử, chúng đệ tử thảy đều thụ giáo, vòng tay bái phục.

Bên ngoài chợt vang lên tiếng xe ngựa lóc cóc, Công Đô Tử đầy mình bụi bặm từ bên ngoài bước vào.

“Công Đô,” đợi Công Đô Tử hành lễ xong xuôi, Mạnh phu tử tươi cười hỏi, “nhìn sắc mặt trò, hẳn có tin vui?”

“Thưa có,” Công Đô Tử vòng tay, “quán trọ đã đặt xong, là quán trọ tốt nhất trong thành Đại Lương, không những gần vương cung, trần thiết cũng rất tốt, có nước nóng để tắm rửa, rất đắt khách. Lúc đệ tử mới hỏi, tiểu nhị bảo hết phòng, đệ tử bảo hắn kiểm tra lại xem, tiểu nhị đi xem một vòng quay lại, vẫn nói hết phòng. Đệ tử thất vọng định đi thì ông chủ bước ra, hỏi đệ tử thuê phòng cho ai, đệ tử mới nói ra đại danh của phu tử. Vừa nghe là phu tử, ông chủ không nhiều lời, lập tức sai tiểu nhị sắp xếp nhã phòng. Tiểu nhị nói, phòng đó đã có người đặt rồi, là một lái buôn da ở nước Trung Sơn. Ông chủ mới mắng tiểu nhị té tát, đích thần dẫn đệ tử vào nhã phòng, giao luôn chìa khoá, còn không thu tiền đặt cọc!”

Chúng đệ tử đều đưa ánh mắt sùng kính nhìn sang Mạnh phu tử.

Mạnh phu tử cười, hỏi sang chuyện khác: “Nước Ngụy hẳn có đại sự?”

“Tướng quốc nước Ngụy Trương Nghi đi sứ sang Tần, nghe nói đã trở về.” Công Đô Tử bẩm báo.

Vừa nghe thấy hai tiếng “Trương Nghi”, Mạnh phu tử lập tức chau mày.

Trong thành Đại Lương, vào cung tấu báo sứ mệnh lại không phải là Trương Nghi, mà là phó sứ Sử Cử.

“Doanh Tứ chịu xuất bao nhiêu binh?” Ngụy Huệ Vương ngả người về trước, ánh mắt như đuốc.

“Năm vạn!” Sử Cử đáp lời.

“Năm vạn thì làm được gì!” Ngụy Huệ Vương cười nhạt một tiếng, ngồi thẳng dậy.

“Năm xưa chinh phạt Ba Thục, cũng là viễn chinh, người Tần cũng xuất binh năm vạn, một trận mà đại thắng.” Sử Cử khẽ giọng biện bạch.

Ngụy Huệ Vương hừ mũi một tiếng: “Hắn cho rằng nước Tề là Ba Thục ư?”

Sử Cử không dám lên tiếng nữa, cúi đầu đứng ngây tại chỗ.

“Ồ,” Huệ Vương lúc này mới nhớ ra Sử Cử tới đây chỉ là để bẩm báo sự việc, đưa tay trỏ vào hắn hỏi, “còn gì nữa?”

“Bảo ta cung ứng lương thảo!”

“Gì kia?” Huệ Vương trợn tròn hai mắt, đập bàn, “hắn xuất binh, cớ sao lại bắt quả nhân cung ứng lương thảo?”

“Là tướng quốc nhận lời.”

“Trương Nghi bao giờ về?”

“Thần không rõ. Rời khỏi Hàm Dương chưa bao xa, tướng quốc đã đi vào trong núi Chung Nam, nói rằng vài ngày nữa sẽ về.”

“Núi Chung Nam?” Huệ Vương khép mắt một lát, rồi phẩy tay, “vất vả cho khanh rồi, hãy về nhà nghỉ ngơi ba ngày!”

“Tạ ơn đại vương!” Sử Cử khấu đầu lui ra.

Đợi Sử Cử đi xa, Huệ Vương nhìn sang tỳ nhân hỏi: “Ngươi thử nói xem, họ Doanh kia đang toan tính điều gì?”

Tỳ nhân cười nói: “Kẻ này toan tính điều gì, có thể qua mắt được đại vương ư?”

“Năm vạn quân? Không quản đường xa phạt Tề?” Huệ Vương tay phải chống cằm, nghiêng đầu nhìn ra cửa cung, giọng đầy bực bội, “Doanh Tứ muốn lừa phỉnh quả nhân ư!

Tỳ nhân cười nói: “Dù có lừa phỉnh hay không, năm vạn quân cũng được coi là hưng binh động chúng, ngộ nhỡ đúng như Sử Cử nói, họ thực sự đánh bại được Tề thì sao?”

“Hừm, nếu có thể đánh bại, quả nhân sẽ xưng thần trước Doanh Tứ!”

Tỳ nhân bật cười: “Vậy thì chắc chắn họ sẽ không thể đánh bại!”

Đang lúc trò chuyện, có người của phủ Vũ An Quân tới báo tin mừng, nói rằng Thụy Liên đã lâm bồn, hạ sinh quý tử.

Huệ Vương mừng rỡ, lập tức khởi giá đến thăm.

Khi tỳ nhân đỡ lấy đứa bé đỏ hỏn từ tay nhũ mẫu trao cho Huệ Vương, hai tay Huệ Vương chợt run rẩy.

Huệ Vương chăm chú nhìn đứa trẻ sơ sinh hồi lâu, giống như đang nhìn Bàng Quyên vậy, kìm lòng không nổi, nước mắt ứa ra.

“Phụ vương...” Thụy Liên thấy Huệ Vương khóc, thì cũng nghẹn ngào.

“Nhìn khuôn mặt này, thật giống Quyên Nhi!” Huệ Vương nâng đứa trẻ trên tay đưa ra xa để nhìn cho rõ hơn.

“Miệng, mũi, tai, cả cằm nữa, không chỗ nào không giống Vũ An Quân!” Tỳ nhân ngắm nghía thật kỹ.

“Phụ vương,” Thụy Liên nhìn Huệ Vương, “cháu ngoại đang chờ người ban tên đấy!”

“Được được được,” Huệ Vương lau nước mắt, ngẫm nghĩ một lát rồi nói, “hãy gọi là Bàng Thao.”

“Bàng Thao!” Thụy Liên nhắc lại, mỉm cười.

“Tên hay lắm!” Tỳ nhân khen ngợi, “cha là Quyên, con là Thao, Quyên là dòng nước nhỏ, Thao là dòng nước cuồn cuộn, nhiều dòng nước nhỏ gộp lại thành dòng nước lớn, tiểu nhân dám nói, hai mươi năm nữa, võ binh Đại Ngụy sẽ lại xuất hiện một đại tướng quân danh chấn liệt quốc!”

“Phụ vương, con không muốn Thao Nhi làm đại tướng quân!” Thụy Liên vội nói.

“Ồ?” Huệ Vương nhìn nàng, “vậy con muốn nó làm gì?”

“Làm con trai của con, làm cháu ngoại của phụ vương!” Thụy Liên cất giọng rành rọt.

“Được...” Huệ Vương ôm lấy đứa bé, đáp một tiếng.

Bất luận thế nào, nước Tần xuất binh phạt Tề và đứa con côi của Bàng Quyên chào đời đều là hỷ sự, khiến Huệ Vương trong lòng phấn chấn. Bước ra khỏi phủ Vũ An Quân, trên mặt Huệ Vương đã lại thấy nụ cười lâu ngày vắng bóng. Huệ Vương gọi tỳ nhân cùng lên vương xa, dạo một vòng quanh phố lớn vương thành.

Đại Lương vẫn là Đại Lương, cuộc sống vẫn diễn ra như thế. Hai bên phố lớn, hàng quán san sát, cờ màu phấp phới, vẫn bừng bừng phong khí của thời thịnh. Thấy vương xa đi tuần, dân chúng vẫn tránh đường và khấu đầu nghênh đón. Huệ Vương không thể nhìn thấy vẻ lo âu của thần dân, thần dân cũng không có cơ may nhìn thấy niềm hưng phấn của Huệ Vương.

Quay về cung, Huệ Vương sắc mặt hân hoan, không chút mệt mỏi, kéo tỳ nhân cùng dạo bộ men theo dòng nước trong hậu hoa viên. Có hai con sông chảy qua Đại Lương, trong đó một dòng lượn mấy khúc trong hậu hoa viên cung Ngụy, từ trên cao nhìn xuống, trông hệt như con rồng đang uốn mình bay lên, Huệ Vương đặt tên cho quãng sông này là Long Thuỷ.

Đầu rồng là khoảnh đất nhô cao chừng vài trượng. Huệ Vương đứng trên đầu rồng, nhìn xuống mình rồng sóng gợn lăn tăn, trầm ngâm hồi lâu không nói.

“Đại vương nhìn thấy gì ư?” Tỳ nhân nhìn theo ánh mắt của Huệ Vương, thấy không có gì khác so với ngày thường, bèn khẽ giọng hỏi.

“Nhìn thấy rồng!” Huệ Vương chỉ vào dòng sông.

“Phải, phải,” tỳ nhân vâng dạ luôn miệng, “nhìn vào hình dáng, hẳn là sắp cất mình bay lên!”

“Than ôi...” Huệ Vương thở dài thườn thượt.

“Đại vương cớ sao lại than thở?” Tỳ nhân thu ánh mắt lại, nhìn sang Huệ Vương.

“Than thở vì một người.”

“Là ai kia?”

“Ngô Khởi!”

“Đại vương hẳn lại nhớ tới Bàng tướng quân? Bàng tướng quân tự ví mình với Ngô Khởi, tiểu nhân thoạt tiên cứ ngỡ Bàng tướng quân tự cao tự đại, sau mới nhận ra, so với Ngô Khởi, Bàng tướng quân thực sự không hề thua kém! Tiểu nhân đang nghĩ, chưa biết chừng Bàng tướng quân chính là Ngô Khởi tái sinh! Đại vương hãy xem, Ngô Khởi yêu quân như con, Bàng tướng quân cũng yêu quân như con. Ngô Khởi sáng lập võ binh, Bàng Quyên xây dựng quân hổ bôn. Ngô Khởi nam chinh bắc chiến, chiến công hiển hách, Bàng tướng quân cũng vậy. Ngô Khởi chết bởi vạn tên xuyên tâm, Bàng tướng quân cũng...” Tỳ nhân khựng lại nửa chừng.

Lời của tỳ nhân khiến Huệ Vương nghe mà đau xót trong lòng. Than thở một hồi, Huệ Vương lại nói: “Tỳ nhân, cả nghìn lần ngươi luôn hiểu quả nhân, nhưng lần này thì sai rồi, bởi lẽ khiến quả nhân than thở, lại không phải chuyện này!”

“Vậy đại vương than thở chuyện gì kia?” Tỳ nhân hỏi.

“Than thở một câu nói của Ngô Khởi!” Huệ Vương lấy làm cảm khái, “năm xưa quả nhân theo tiên quân Vũ Hầu đi thuyền trên Tây Hà, Ngô Khởi bồi giá. Thuyền tới giữa dòng, tiên quân nhìn dòng nước Tây Hà cuồn cuộn tuôn trào, mà cảm thán rằng, ‘đẹp thay núi sông hiểm trở, là báu vật của nước Ngụy ta!’”

“Đúng vậy, nếu không nhờ Hà Thuỷ hiểm yếu, thì người Tần há chẳng...” Tỳ nhân đáp.

“Ngươi có biết Ngô Khởi tướng quân đã nói gì chăng?”

“Tướng quân đã nói gì?”

“Ngô Khởi tướng quân nói: ‘Báu vật hộ quốc, tại đức không tại hiểm. Nơi ở của Tam Miêu, bên trái có hồ Động Đình, bên phải có hồ Bành Lãi, thế nhưng chính sự bất nghĩa, cuối cùng bị Đại Vũ tiêu diệt. Nơi ở của Hạ Kiệt, bên trái có Hà Thuỷ, Tế Thuỷ, bên phải có Thái Sơn, Hoa Sơn, núi Y Khuyết ở phía nam, dốc Dương Tràng ở phía bắc, thế nhưng chính sự bất nhân, cuối cùng bị Thương Thang lưu đày. Nước của An Trụ, bên trái có Mạnh Môn, bên phải có Thái Hàng, núi Thường Sơn ở phía bắc, sông Hà Thuỷ chắn phía nam, thế nhưng chính sự bất đức, cuối cùng bị Vũ Vương tiêu diệt. Từ đó có thể thấy, sự vững chãi của nước lớn, tại đức không tại hiểm. Nếu quân vương không tu đức hạnh, người cùng thuyền đều sẽ là kẻ thù.”

“Chà chà,” tỳ nhân tấm tắc khen ngợi, “lời Ngô Khởi tướng quân thực là tuyệt diệu!”

“Suy đi nghĩ lại,” Huệ Vương chỉ vào Long Thuỷ, rầu rĩ thở dài, “quả nhân hôm nay sở dĩ suy vi, là bởi chưa tu đức chính!”

“Đại vương...” Tỳ nhân ứa nước mắt.

“Tiên quân có Ngô Khởi, Ngô Khởi đi rồi. Quả nhân có Vệ ưởng, Vệ ưởng đi rồi. Quả nhân có Bạch Khuê, Bạch Khuê đi rồi. Quả nhân có Công Tôn Diễn, Công Tôn Diễn đi rồi. Quả nhân có Huệ ái khanh, Huệ ái khanh đi rồi. Quả nhân có Bàng tướng quân, Tôn tướng quân... họ... cũng đi cả rồi...” Huệ Vương không nói nữa, nhắm nghiền mắt lại, thở dài não nề, “than ôi, quả nhân... đã trở thành quả nhân thực thụ.”

“Đại vương chớ lo buồn,” tỳ nhân khẽ nói, “tiểu nhân hiểu Công Tôn Diễn, trái tim người này vẫn luôn ở Ngụy. Còn Huệ Thi, tiểu nhân đã nhận được tin, Huệ Thi rất muốn về Ngụy, dốc lòng vì đại vương, chỉ ngặt vì...”

“Trương Nghi!”

“Phải!”

Tất cả đúng như Công Đô Tử đã nói, quán trọ trần thiết rất tốt, có thể nói là quán trọ tốt nhất mà Mạnh phu tử đã ở kể từ lúc xuất du đến nay, tiền phòng cũng không đắt. Quán trọ tên là Phượng Minh, hẳn là có liên quan tới chuyện phượng hót rồng ngâm mà Trần Chẩn đã thêu dệt năm xưa. Chủ quán họ Quyền tên Thư, tuổi xấp xỉ Mạnh phu tử, thời trẻ đã từng theo một đệ tử đời sau của Tử Cống học đạo Nho vài năm, cũng coi như người của Nho môn. Quyền Thư sớm đã nghe nói đến Mạnh phu tử ở đất Trâu, hết lòng ngưỡng mộ, nay được gặp mặt, bèn cung kính giữ lễ đệ tử tiếp đón long trọng, không những tiệc rượu thịnh soạn, mà còn dành riêng một khu nhà lịch sự làm thư phòng cho phu tử.

Có số vàng của Tống Vương ban tặng, có chỉ dẫn của Tô Tần trong tâm, lại bất ngờ có được sự trợ giúp của quý nhân Quyền Thư vốn không hề quen biết, Mạnh phu tử tràn đầy phấn chấn, ngay ngày hôm sau, đợi buổi đại triều kết thúc, bèn đánh xe vào cung, trình bái thiếp lên cung vệ, xin được yết kiến Ngụy Huệ Vương.

“Mạnh Kha người Trâu?” Ngụy Huệ Vương đang nằm trên võng trong đình hóng mát, nheo mắt nhìn chăm chăm vào bái thiếp, khẽ lẩm bẩm, “nhớ ra rồi, chính là gã Nho sinh đã nói câu ‘dân quý nhất, thứ đến là xã tắc, vua nhẹ hơn’, tin đồn về người này không hề ít!”

“Ồ?” Tỳ nhân sửng sốt, “sao có thể được? Nho sinh sùng chuộng lễ nhạc, sao người này lại nói năng trái khoáy như thế? Vua quý dân tiện, là điều bất di bất dịch xưa nay! Đại vương, theo ý lão nô, phu tử này không nên gặp là hơn!”

“Cứ gặp xem sao, phu tử này dù gì cũng là danh sĩ, chưa biết chừng còn là đại tài trị quốc!” Huệ Vương đặt bái thiếp xuống, “truyền vào yết kiến!”

“Yết kiến ở đâu?” Tỳ nhân đưa mắt nhìn ngôi đình, như muốn nói nơi này không phù hợp để đón khách.

“Vào thư phòng.” Huệ Vương vừa dứt lời, lập tức sửa lại, “thay y phục, gặp ở chính điện!” Đoạn chìa tay cho phi tử đang đưa võng.

Phi tử đỡ Huệ Vương dậy, đưa đi thay trang phục, rồi thẳng tới chính điện.

Để tỏ rõ sự long trọng, Huệ Vương còn sai cung nhân trải chiếu ngoài cửa điện, xuống tận bậc thềm nghênh đón. Hành lễ xong xuôi, vua tôi dắt tay nhau vào chính điện, chia ngôi chủ khách ngồi xuống.

Sau vài câu khách sáo, Huệ Vương vào ngay chuyện chính: “Phu tử không quản nghìn dặm xa xôi tới vùng đất hẻo lánh này, ắt có điều lợi cho nước ta. Quả nhân vốn tính nôn nóng, kính xin phu tử ban lời chỉ giáo!”

“Đại vương cớ sao nhất định phải nói đến lợi?” Mạnh phu tử vòng tay đáp, “Mạnh Kha không có gì khác, chỉ có nhân nghĩa mà thôi.”

“Ồ...” Vừa mở lời đã bị phản bác, Huệ Vương nét mặt sượng sùng, lúng túng nhìn sang tỳ nhân.

Không để tỳ nhân kịp lên tiếng, Mạnh phu tử đã lập tức đưa ra lời giải thích: “Lợi tuy tốt, song không phải thứ quan trọng hàng đầu. Nếu như đại vương hỏi ‘có lợi gì cho nước ta’, đại phu sẽ hỏi ‘có lợi gì cho nhà ta’, sĩ tử và thứ dân sẽ hỏi ‘có lợi gì cho thân ta’. Trên dưới đua nhau tranh lợi, nước ắt sẽ lâm nguy.”

“Trên dưới đều có lợi, chính là chuyện tốt, sao có thể khiến nước lâm nguy được?” Huệ Vương băn khoăn hỏi lại.

“Nguy đến tính mệnh!” Mạnh phu tử đáp rành rọt, “với nước vạn cỗ xe, kẻ giết vua ắt là nhà có nghìn cỗ xe. Với nước nghìn cỗ xe, kẻ giết vua ắt là nhà có trăm cỗ xe!”

Huệ Vương hít ngược vào một hơi, lát sau, mới nheo mắt hỏi: “Vì sao?”

“Vì tham lợi.” Mạnh phu tử dõng dạc đáp, “kẻ sở hữu nghìn cỗ xe trong một nước có vạn cỗ xe, kẻ sở hữu trăm cỗ xe trong một nước có nghìn cỗ xe, những kẻ này sở hữu không phải là ít. Sở dĩ họ nảy sinh ý đồ giết vua, là bởi tham lợi, nếu không giảng nghĩa mà chỉ giảng lợi, tất yếu sẽ dẫn đến điều này. Tham thì không biết chán, có lợi mà không đoạt thì ăn không thấy ngon. Tuy nhiên, nhìn khắp cổ kim, chưa từng nghe nói có người nhân vứt bỏ người thân, cũng chưa từng nghe nói có người nghĩa không phụng sự quân vương. Bởi vậy Kha mới nói, đại vương bất tất phải nói lợi, chỉ nói nhân nghĩa là được rồi.”

“Lời hay của phu tử, quả nhân thụ giáo!” Huệ Vương cung kính nể phục, sửa áo ngồi ngay, vòng tay với Mạnh phu tử.

“Tạ ơn đại vương lắng nghe!” Mạnh phu tử vòng tay đáp lễ.

“Than ôi!” Huệ Vương bỗng thở dài thườn thượt.

“Đại vương vì chuyện gì mà phải thở dài?” Mạnh phu tử hỏi.

“Mới có bao lâu,” Huệ Vương nhắm mắt hồi lâu, mới rầu rĩ nói, “liệt quốc thiên hạ không ai mạnh hơn Ngụy, phu tử hẳn cũng biết. Đến đời quả nhân, đông bại trước Tề, trưởng tử chết trận; tây bại trước Tần, mất bảy trăm dặm đất; nam nhục trước Sở, mất tám ấp Tương Lăng. Còn binh sĩ bỏ thân vì nước, đã hàng chục vạn. Quả nhân... than ôi, quả nhân thực sự lấy làm sỉ nhục! Quả nhân có lòng rửa hận cho những người đã chết, song lực bất tòng tâm. May sao phu tử tới đây, quả nhân nên báo thù thế nào, kính xin phu tử chỉ giáo đôi điều!” Nói đoạn, ánh mắt khẩn thiết nhìn vào Mạnh phu tử.

“Đại vương cớ sao lại nói tới báo thù?” Mạnh phu tử lại phản bác.

“Ồ...” Huệ Vương chau mày, “Ngụy có mối huyết thù nhường ấy, quả nhân không nói chuyện báo thù, thì nói chuyện gì đây?”

“Có thể nói về thi hành nhân chính.

Huệ Vương ngạc nhiên nhìn Mạnh phu tử: “Nhân chính có thể báo thù chăng?”

“Nhân chính không những có thể giúp đại vương báo thù, mà còn khiến cho người trong khắp thiên hạ thần phục đại vương!”

“Với sức của quả nhân, có thể thi hành nhân chính?”

“Chỉ cần thi hành nhân chính, mảnh đất trăm dặm vuông cũng đủ để làm vua thiên hạ. Đại vương đất rộng nghìn dặm vuông, cớ sao lại không thể?” Mạnh phu tử tràn đầy tự tin, nhìn thẳng vào Huệ Vương, “xin hỏi đại vương, nếu người thiên hạ đều thần phục đại vương, đại vương còn muốn nói đến báo thù nữa không?”

“Được!” Huệ Vương lùi một bước, “quả nhân vô tri, thỉnh cầu phu tử chỉ giáo, làm thế nào mới có thể thi hành nhân chính?”

“Đại vương nếu muốn thi hành nhân chính với dân, cẩn phải giảm bớt hình phạt, giảm nhẹ sưu thuế, coi trọng mùa màng, chăm lo đồng ruộng, khiến người cường tráng có thời gian rảnh rỗi để tu đức, chính khí, khích lệ ý chí, phát dương hiếu đễ trung tín, ở nhà phụng sự cha anh, ra ngoài phụng sự bề trên. Nếu có người cường tráng như vậy tới phụng sự đại vương, cho dù đại vương chỉ phát cho họ cây gậy gỗ, họ vẫn có thể chống trả người Tần, người Sở mang giáp trụ binh khí. Trong khi vua Tần, vua Sở tước đoạt mùa màng, chinh chiến triền miên, khiến thần dân không còn rảnh rang cày cấy, cha mẹ đói rét, anh em, vợ con ly tán, tiếng oán thán đầy đường. Với những nước vô đạo đẩy dân đen vào cảnh nước sôi lửa bỏng như vậy, đại vương giương cờ đại nghĩa chinh phạt, có ai địch nổi?”

Huệ Vương nhắm mắt lại, thở hắt ra.

“Người nhân thì không ai địch nổi, đại vương!” Mạnh phu tử càng nhấn mạnh, sắc mặt khẩn thiết, “đây là đạo thiên cổ, kính mong đại vương chớ hồ nghi!”

Huệ Vương khép mắt hồi lâu, cuối cùng mở mắt, liếc nhìn đồng hồ nước bên cạnh, rồi vòng tay với Mạnh phu tử: “Phu tử học vấn uyên thâm, giáo huấn sáng tỏ, quả nhân như nghe thấy lời thánh hiền.” Lại vòng tay lần nữa, “quả nhân còn một vài việc vặt, đã hẹn từ trước, nên hôm nay không thể giữ phu tử.”

Mạnh phu tử vừa mới vào đề, đang tràn đầy hào hứng, nào ngờ lại nhận ngay lệnh đuổi khách, khó tránh hụt hẫng, cũng vòng tay nói: “Mạnh Kha cáo lui!”

Huệ Vương tiễn Mạnh phu tử về, đứng trên bậc thềm trước cổng điện, nhìn theo bóng phu tử xa dần.

“Đại vương,” tỳ nhân khẽ giọng hỏi, “phu tử này hẳn là đại tài?”

“Là đại tài!” Huệ Vương đáp.

“Tốt quá!” Tỳ nhân cười nói, “hiện tại triều đường vắng bóng nhân tài, phu tử đã là đại tài, đại vương cớ sao không hạ chỉ, để phò tá đại vương thành tựu sự nghiệp?”

“Than ôi!” Huệ Vương thở dài.

“Đại vương cớ sao lại than thở?”

“Phu tử tuy là bậc đại tài, song quá hủ lậu!” Huệ Vương nhìn theo bóng Mạnh phu tử, thấy đã sắp ra tới cửa cung, chân bước như bay.

“Ồ?” Tỳ nhân kinh ngạc, “phu tử hủ lậu chỗ nào, tỳ nhân mắt kém, không thể nhìn ra!”

“Ngươi ư,” Huệ Vương cười gượng, “nếu người cũng có thể nhìn ra, thì đã không phải là tỳ nhân của quả nhân nữa!”

Tỳ nhân cười nói: “Đại vương nói chí phải, vậy đại vương có thể giải thích đôi lời chăng?”

“Theo như lời phu tử vừa giảng giải,” Huệ Vương giải thích, “câu nào cũng không rời nhân chính, xét về cao thì không bằng Trang Chu, xét về nhã thì không bằng Huệ Thi, xét về dụng thì không bằng Công Tôn Diễn, xét về thực thì không bằng Trần Chẩn. Quả nhân tuy kiến thức nông cạn, song cũng coi như đọc đủ thi thư, sao lại không hiểu thế nào là nhân chính? Trong thời đại tranh này, sinh tử chỉ trong sớm tối, mà vẫn rao giảng nhân chính, chẳng phải là hủ lậu lắm ư? Trăm họ nếu đều cơm no áo ấm, tri thư đạt lễ, thì còn chịu ra trận vì quả nhân chăng?”

Thấy Huệ Vương khúc mắc điểm này, tỳ nhân trong lòng sửng sốt.

“Đại vương,” tỳ nhân dừng lại một lát, cười nói, “nghe nói năm xưa khi Vệ Ưởng tới Tần, tiên Tần Công gặp Vệ ưởng ba lần, lần thứ nhất nghe giảng về đạo vương, lần thứ hai nghe giảng về đạo bá, cho tới lần thứ ba, Vệ ưởng mới giảng về đạo khiến Tần hùng cường.”

“Ngươi nói phải lắm!” Huệ Vương trầm ngâm chốc lát, “quả nhân muộn phiền đã lâu, mấy hôm nay trời trong nắng đẹp, quả nhân bỗng nổi hứng du ngoạn. Ngươi hãy chuyển lời cho phu tử, nếu như rảnh rỗi, hãy cùng quả nhân cùng tới vườn Lương Hựu, thế nào?”

“Thần lĩnh chỉ.”

Ba ngày sau, Mạnh phu tử theo Huệ Vương cùng tới vườn Lương Hựu.

Lương Hựu còn có tên là đầm Phố Điền, là một trong những vườn săn sớm nhất của Ngụy thất, cách Đại Lương vài chục dặm về phía tây, đi chưa tới một ngày là đến. Trong vườn có đầm có núi, cây cối tốt tươi, hoa thơm cỏ đẹp, là thắng địa săn bắn mà thời trẻ Huệ Vương rất yêu thích, mấy năm gần đây do tuổi cao sức yếu, sức lực khó kham, mới đổi sang đi câu. Sau khi định đô ở Đại Lương, thú vui ưa chuộng nhất của Huệ Vương khi nhàn rỗi là cùng Huệ Thi tới đây câu cá. Sau khi Huệ Thi bỏ đi, Huệ Vương mất bạn câu, nên cũng hiếm khi du ngoạn tới đây.

Nhưng hôm nay, Huệ Vương lại không có hứng câu cá, nên dẫn Mạnh phu tử leo lên một gò đất, đứng trên đỉnh gò, phóng mắt nhìn ngắm rừng gần đầm xa.

Trong rừng, vô số binh sĩ đang lùa hươu nai từ bốn phương tám hướng vào trong tầm mắt của Huệ Vương. Các loài chim thú kinh hãi bay chạy tán loạn, một con hươu cái cuống quýt chạy bổ vào trong tầm tên bắn của Huệ Vương.

“Nghe nói phu tử xạ nghệ vô song, có thể bắn trúng con hươu kia chăng?” Huệ Vương chỉ vào con hươu cái.

“Không thể.”

“Ồ?” Huệ Vương nhìn sang Mạnh phu tử.

“Giờ không phải lúc để săn bắn.” Mạnh phu tử chỉ vào con hươu đáp, “mùa xuân ấm áp, cảnh sắc tươi đẹp, sinh vật cũng vào mùa thai nghén sinh nở, tổn thương một mà hại cả đàn, đại vương nhẫn tâm ư?”

“Phu tử nói đúng lắm,” Huệ Vương bật cười vài tiếng, “quả nhân sao có thể nhẫn tâm, chẳng qua chỉ muốn ngắm nghía chúng làm vui mà thôi!” Quay sang tỳ nhân, “truyền chỉ, không xua đuổi nữa, để chúng quay về chỗ của mình.”

Tỳ nhân bèn đi truyền chỉ.

Mạnh phu tử mỉm cười, vòng tay với Huệ Vương: “Kha chúc mừng đại vương!”

“Ồ, mừng vì đâu kia?” Huệ Vương sửng sốt hỏi.

“Mừng vì nhân!” Mạnh phu tử chỉ vào đám muông thú, sắc mặt hân hoan, “đại vương có thể nhân từ với cả loài muông thú, ắt cũng sẽ nhân từ với thần dân, đây chính là nhân chính!”

Huệ Vương lại như không nghe thấy, bật cười, ngoảnh nhìn đám chim thú vẫn hớt hải bay chạy, tán loạn tứ bề, “xin hỏi phu tử, kẻ hiền cũng vui vì điều này chăng?”

“Chỉ có kẻ hiền mới vui vì điều này,” Mạnh phu tử đáp lời, rồi tiếp, “kẻ bất hiền tuy có vườn này, cũng không thấy vui đâu!”

“Ồ, phải giải thích thế nào?”

“‘Thi’ có câu: ‘Muốn dựng Linh Đài, trù hoạch xây đắp; muôn dân làm cùng; chẳng mấy mà xong. Xây chớ có gấp, dân đến như con. Vua trong vườn lớn, hươu nai phục tùng. Hươu nai béo tốt, chim muông trắng muốt. Vua đến bên ao, cá nhảy lao xao. (1)’ Chính là kể chuyện Văn Vương năm xưa huy động sức dân dựng đài xây hồ, muôn dân hân hoan, gọi đài ấy là Linh Đài, gọi hồ ấy là Linh Chiểu, vui mừng ngắm hươu nai, cá rùa trong đó. Vì sao lại thế? Bởi lẽ thánh vương dựng đài xây hồ là để cùng vui với dân, đương nhiên dân cũng hân hoan. Ngược lại, trong ‘Thang thệ’ lại viết: ‘Mặt trời sao chưa rụng, ta thà chết cùng ngươi. (2) ’ Nếu bách tính muốn sống mà không được, thà chết chung với đại vương, dẫu rằng có đài hồ muông thú, đại vương có vui được chăng?”

(1)Trích từ bài “Linh đài” phần “Đại Nhã” sách “Kinh Thi”.

(2)Trích trong chương “Thang thệ”sách “Thượng Thư”.

“Phu tử quả là thầy giỏi mà trời cao ban tặng cho quả nhân!” Huệ Vương lấy làm cảm khái, vòng tay khen.

“Tạ ơn đại vương khen ngợi!” Mạnh phu tử đáp lễ.

“Đi, theo quả nhân tới biệt cung trò chuyện!” Huệ Vương dắt tay Mạnh phu tử men theo sườn dốc tiến về phía biệt cung cách đó không xa, cùng ngồi xuống chiếu, lại vòng tay nói, “nay được thầy hay, quả là thoả nguyện!”

“Tạ ơn đại vương tán thưởng!” Mạnh phu tử lại cảm tạ.

“Than ôi, không giấu phu tử,” Lương Huệ Vương khẽ thở dài, “với đất nước này, quả nhân coi như đã tận tâm rồi. Hà Tây mất mùa, quả nhân chuyển dân chúng Hà Tây tới Hà Đông, chở thóc gạo tới Hà Tây cứu chẩn. Hà Đông mất mùa, cũng làm như vậy. Ngược lại, hãy xem chính sự của các nước lân bang, đâu có vị quân chủ nào tận tâm được như quả nhân. Song quả nhân suy nghĩ mãi vẫn không hiểu nổi, dân chúng nước khác không thấy ít đi, dân chúng của quả nhân cũng không thấy nhiều lên, nguyên do là vì đâu?”

“Đại vương hỏi rất hay!” Mạnh phu tử cảm khái đáp, “đại vương thích chiến tranh, Kha xin lấy chiến tranh làm tỷ dụ. Hai quân đối trận, trống chiến vang rền, binh khí va chạm, một bên chiến bại, quăng mũ bỏ giáp mà chạy. Binh lính chạy trốn, có kẻ chạy một trăm bước thì dừng lại, có kẻ chạy năm mươi bước thì dừng lại. Kẻ chạy năm mươi bước cười chê kẻ chạy một trăm bước, đại vương thấy sao?”

“Nếu là trăm năm trước, giao chiến theo nhân nghĩa, thì cười là đúng. Bởi hai quân giao chiến, chiếu theo quy củ, kẻ thắng đuổi theo không được quá năm mươi bước. Đã chạy được năm mươi bước rồi thì đâu còn gì phải lo lắng nữa, chạy thêm năm mươi bước nữa là dư thừa!” Huệ Vương đáp.

Thường thức này, người chưa kinh qua chiến trận sẽ không hiểu được.

Tuy nhiên, Mạnh phu tử vẫn là Mạnh phu tử, khẽ đảo con ngươi một vòng, nói tiếp: “Kha đang hỏi chuyện hiện tại, chứ không phải hơn trăm năm trước!”

“Nếu là hiện tại, thì không thể.” Huệ Vương tiếp lời,

“dù không chạy đến trăm bước, thì vẫn là chạy.”

“Đại vương đã hiểu được điều này, cớ sao lại còn kỳ vọng con dân nước mình nhiều hơn lân bang được?”

“Ồ...” Huệ Vương ngắc ngứ, không biết phải nói gì.

“Nếu không làm trái thời vụ, ngũ cốc sẽ ăn không hết. Nếu không quăng lưới mau xuống ao hồ, cá rùa sẽ ăn không hết. Nếu tiều phu theo kỳ vào rừng đốn củi, cây gỗ sẽ dùng không hết. Nếu như ngũ cốc, cá rùa ăn không hết, cây gỗ dùng không hết, con dân sống được nuôi dưỡng, chết được chôn cất, thì sẽ không còn gì hối tiếc. Đại vương nếu có thể khiến cho con dân sống được nuôi dưỡng, chết được chôn cất, không còn điều hối tiếc, chính là đã mở mang nên nhân chính của bậc vương giả!” Mạnh phu tử ánh mắt tha thiết nhìn vào Huệ Vương.

Huệ Vương cũng chăm chú nhìn lại, rõ ràng là nghe đã lọt tai.

“Đại vương,” Mạnh phu tử chớp lấy thời cơ, sang sảng tiếp lời, “nhà rộng năm mẫu, chỉ cần trồng dâu xung quanh, người năm mươi tuổi có quần áo mặc; gia súc gà chó lợn, chỉ cần sinh sôi đúng thời, người bảy mươi tuổi có thịt ăn; ruộng rộng trăm mẫu, chỉ cần không lỡ vụ mùa, nhà nhiều nhân khẩu có đủ cơm ăn. Khi đó, chỉ cần lập trường học ở xóm làng, dạy cho biết hiếu đễ lễ nghĩa, trên đường sẽ không còn thấy cảnh cụ già tóc bạc vất vả gánh gồng. Thiết nghĩ, người già nếu có áo mặc có thịt ăn, dân đen nếu không ăn đói mặc rét, đại vương dù không muốn làm vua thiên hạ, cũng khó!”

Huệ Vương nghe mà nhiệt huyết dâng trào, hơi thở dồn dập, hai mắt sáng rỡ.

“Thế nhưng hiện thực thì sao?” Mạnh phu tử ánh mắt bức bách, “con dân đã phải ăn thức ăn của chó lợn, mà vua vẫn không hay biết; ngoài đường đã có người đói rét, mà vua vẫn không cứu chẩn. Đến khi con dân đói rét đến chết, vua mới nói, là do mùa màng thất bát, không thể trách ta. Nói ra câu này, so với cầm vũ khí giết người, có gì khác nhau? Cầm vũ khí giết người, sau đó lại nói, là vũ khí giết, không thể trách ta. Như vậy có được chăng?”

Mạnh phu tử khẩu khí hừng hực, thế như cầu vồng, nhắm đúng chỗ hiểm, Huệ Vương trán vã mồ hôi.

“Nhìn vào đó,” Mạnh phu tử dịu giọng trở lại, nhìn sang Huệ Vương, “đại vương chớ nên oán thán, nếu như gặp lúc mất mùa đói kém mà không đổ tội cho trời, thì dân thiên hạ sẽ sánh vai nối gót, kéo nhau mà tới.”

Lương Huệ Vương rút khăn lụa ra lau mồ hôi, rồi lại cất vào tay áo, vòng tay nói: “Phu tử dạy chí phải, quả nhân thụ giáo.”

“Còn nữa,” Mạnh phu tử đang đà giáo huấn, thừa thế tiếp lời, “giết người đến chết, giết bằng gậy hay giết bằng dao, có gì khác nhau chăng?”

Huệ Vương không đoán ra được ẩn ý của phu tử, im lặng một chốc mới đáp: “Đều là chết, đâu có gì khác.”

“Vậy giết người bằng dao và giết người bằng chính có gì khác nhau chăng?” Mạnh phu tử hỏi tiếp.

Huệ Vương chau mày: “Không có gì khác.”

“Đại vương thánh minh!” Mạnh phu tử vòng tay nói, “có một vị vua, ở trong cung, bếp có thịt ngon, chuồng có ngựa béo, còn ở ngoài đồng, dân đói gầy rộc, xác chết đói nằm phơi ngoài đường, thì có khác gì dẫn thú ăn người? Thú dữ ăn thịt lẫn nhau, người ta còn căm ghét. Là cha mẹ dân, không thực thi nhân chính, cũng như dẫn thú ăn người. Vua như thế, sao có thể là cha mẹ dân được? Trọng Ni từng nói: ‘Kẻ khởi xướng làm tượng tuẫn táng, sẽ không có con nối dõi!’ Vì sao Trọng Ni lại nói vậy? Bởi lẽ tượng cũng mang hình người, dùng tượng gốm để tùy táng cho người chết, xét về ý nghĩa, không có gì khác so với tùy táng người sống. Là cha mẹ dân, mà sao có thể thi hành ác chính, chỉ biết bản thân ăn no mặc ấm, mà không ngó ngàng đến con dân chết đói chết rét thế ư?”

“Hay lắm!” Huệ Vương trán lại rịn đẫm mổ hôi, song lần này thì mặc kệ, lập tức đứng dậy, vòng tay khom lưng vái dài mà nói, “lời của phu tử, sâu sắc thấm nhuần, quả là thầy ta! Kể từ hôm nay, quả nhân xin được tôn kính phu tử theo lễ với thầy!”

Mạnh phu tử cũng vội đứng dậy, vòng tay vái Huệ Vương.

“Người đâu, bày tiệc, chuẩn bị món ngon, ca vũ tiếp đãi sư tôn!”

“Thần lĩnh chỉ!” Tỳ nhân vội vã đi thu xếp.

Trong tiệc, Mạnh phu tử sôi nổi bàn về nhân chính, lời lời nhắc đến thánh hiền, từ tam hoàng ngũ đế cho tới Ngụy Văn Hầu cải chế cường quốc, lại đến Bạch Khuê trị Ngụy, dẫn chứng phong phú, trong hư có thực, Huệ Vương nghe mà như si như ngây, cùng Mạnh phu tử chạm gối đàm đạo cho tới tận nửa đêm mới nghỉ.

Sáng hôm sau, Huệ Vương không còn tâm trí nào để du ngoạn nữa, cũng chẳng thiết câu cá, truyền chỉ khởi giá hồi cung, muốn cáo tế thái miếu, chọn ngày lành bái Mạnh phu tử làm quốc sư, lấy nhân chính làm nền tảng lập quốc.

Về tới cung thành, đã sắp hoàng hôn, Huệ Vương vẫn không thấy mệt, lại bày yến tiệc, cho tấu nhạc Bát Dật khoản đãi Mạnh phu tử, còn gọi thái tử Tự đến bồi tiếp.

Dẫn đầu đội ca vũ là Triệu Cơ. Hơn chục năm trước, khi Huệ Vương nạp gái Triệu làm phi, nàng này theo bồi giá (1) . Địa vị tuy hèn, song dung nhan kiểu diễm, có tài hát múa, sau khi nhập cung, không chịu ngồi yên, bái nhạc quan làm thầy, ngày đêm khổ luyện, đến độ múa uyển chuyển như tiên bay, hát réo rắt tựa oanh vàng, đến nhạc nữ trong cung cũng không sánh kịp, chẳng mấy mà được Huệ Vương để mắt đến, tấn phong làm phi. Phàm trong cung có ca vũ quan trọng, Huệ Vương đều chỉ định Triệu Cơ múa hầu.

(1)Một phong tục cưới hỏi thời cổ đại. Quý tộc cưới vợ, thường một lần cưới nhiều người, ngoài cô dâu là chính thất, còn kèm thêm em gái, cháu gái bồi giá, sau trở thành trắc thất, địa vị kém hơn một bậc.

Điệu ca vũ tên gọi “Phượng hót”, song lại diễn tả sự tích phượng hót ở Phùng Trạch, chứ không phải ở Kỳ Sơn. Vũ điệu này còn một nửa nữa, gọi là “Rồng ngâm”, song Huệ Vương đã cho cắt bỏ, có lẽ bởi cảm thấy quá ngông cuồng, không thích hợp để biểu diễn cho sư tôn Mạnh phu tử.

Tiếng nhạc du dương, điệu vũ uyển chuyển, giọng ca thánh thót, Mạnh phu tử hai mắt khép hờ, như đắm chìm trong tiếng nhạc.

Triệu Cơ lĩnh vũ, múa lượn phấp phới, giọng ca thánh thót, tuyệt mỹ vô song. Ngụy Tự như si như ngây, hai mắt đờ dại, dục quang chiếu ngùn ngụt, từ đầu đến cuối, không rời thân thể Triệu Cơ lấy một chốc, như thể mới lần đầu tiên nhìn thấy nàng múa, lần đầu tiên nghe thấy nàng hát.

“Phượng hót” có ba khúc cả thảy. Khúc đầu đã dứt, nhạc dừng người nghỉ.

Mạnh phu tử vẫn ngồi bất động, Ngụy Tự đã vỗ tay đôm đốp.

Mạnh phu tử hé mắt, liếc xéo sang Ngụy Tự, nhìn thấy hai luồng nhãn quan hừng hực dục vọng, khoé miệng thoáng hiện nét cười, rồi lại khép mắt như cũ.

Huệ Vương thấy mất mặt, ho lên một tiếng thật mạnh.

Song Ngụy Tự như thể bị Triệu Cơ hút mất hồn, đã không trông thấy phản ứng của Mạnh phu tử, cũng không nghe thấy tiếng ho của Huệ Vương, mắt vẫn dán chặt vào Triệu Cơ, si mê nhìn nàng dừng lại trong thế múa mỹ miều, cất tiếng chào trong vắt rồi dìu dặt lui về phía sau.

Khúc thứ hai vừa bắt đầu, tỳ nhân đã hối hả bước lại, tới sát bên Huệ Vương khẽ giọng bẩm báo: “Đại vương, Trương tướng quốc đi sứ sang Tần đã trở về, đang ở ngoài cửa cầu kiến.”

Huệ Vương đang hằm hằm nén giận, nghe vậy liền thuận nước xuống thang, truyền chỉ: “Ồ, Trương tướng quốc đã trở về rồi ư?” Khoát tay, “vũ nhạc tạm dừng, hãy mời Trương tướng quốc vào yết kiến!”

Tỳ nhân lệnh cho toàn bộ đội nhạc lui ra, truyền Trương Nghi vào yết kiến.

Trương Nghi sớm đã hay tin về Mạnh phu tử, lúc này tới cầu kiến, cũng là sẵn có ý đồ.

Hành lễ xong xuôi, Trương Nghi liền nhìn chằm chằm vào Mạnh phu tử.

Mạnh phu tử ngồi thẳng, mắt không nhìn nghiêng, thậm chí chẳng buồn liếc qua Trương Nghi.

Trương Nghi nhìn sang Huệ Vương: “Vị này là...”

“Quả nhân cũng đang định giới thiệu,” Huệ Vương chỉ vào Mạnh phu tử, nói, “vị này là Mạnh Kha người Trâu, học vấn uyên thâm lẫy lừng thiên hạ!” Lại chỉ vào Trương Nghi, “phu tử, vị này chính là Trương Nghi, tướng quốc của quả nhân!”

Mạnh phu tử lúc này mới mở to mắt, nhìn sang Trương Nghi, khẽ vòng tay: “Mạnh Kha người Trâu có lễ!”

Trương Nghi lại không đáp lễ, hai mắt như đuốc, nhìn trừng trừng vào Mạnh phu tử.

Mạnh phu tử tuy có định lực, song vẫn bị ánh mắt đó khiến cho lúng túng, khẽ nhúc nhích, lắc người vài cái, để ngồi ngay ngắn hơn nữa, đoạn khép hai mắt lại, chỉ hé một khe hẹp bên mắt phải.

“Ha ha ha ha...” Trương Nghi chợt phá lên cười lớn vài tiếng nghe rất khoa trương.

Những người có mặt thảy đều ngỡ ngàng, đặc biệt là Mạnh phu tử, hiểu rõ tiếng cười này chính là nhằm vào mình, nên khép nốt khe hẹp bên mắt phải, tập trung tinh thần nghĩ cách ứng phó.

“Tướng quốc cười gì thế?” Huệ Vương ngạc nhiên hỏi.

“Nghi cười những kẻ tục tử lỗ mãng chưa từng thấy sự đời!” Trương Nghi tiến gần thêm một bước, vòng tay hướng vào Mạnh phu tử, dõng dạc mà nói, “Trương Nghi người Ngụy bái kiến phu tử!” Hành lễ xong, phăm phăm bước tới chỗ ngồi mà tỳ nhân vừa chuẩn bị, ngồi phịch luôn xuống.

“Tục tử lỗ mãng gì kia?” Huệ Vương lấy làm khó hiểu.

“Khi còn trong núi Quỷ Cốc, Nghi thường tới cửa Túc Tư mua hàng, sớm đã nghe thấy đám quê mùa bỉ lậu đồn rằng đất Trâu có một vị Mạnh phu tử, là dị nhân dị tướng, có ba tai ba mắt, trên trán mọc sừng...” Trương Nghi thao thao như thật.

“Ồ...” Huệ Vương sửng sốt, “sao lại có tin đồn như thế được?”

“Đúng vậy,” Trương Nghi lắc đầu, “Nghi cũng không tin, nên tranh cãi với họ rất hăng, còn thượng cẳng chân hạ cẳng tay nữa.” Lại phá lên cười một hồi, “hôm nay chân nhân lộ diện, thấy đâu có khác người thường, thế là Nghi được rửa oan, trong lòng sảng khoái, đại vương nói xem, có nên cười vài tiếng hay không?”

Ngụy Tự cười sặc sụa: “Nực cười quá, nực cười quá!”

Huệ Vương cũng bật cười, chỉ vào Trương Nghi: “Chao ôi Trương ái khanh, hẳn không phải ái khanh cũng tin là thực đấy chứ?”

“Thần tin thực, tin thực!” Trương Nghi nhìn sang Mạnh phu tử, “phu tử, đất Trâu các vị hẳn cũng có tin đồn như thế?”

Mạnh phu tử toàn thân căng cứng, dàn trận chờ sẵn, nào ngờ Trương Nghi lại kể ra câu chuyện trời ơi đất hỡi thế này, đầu óc căng thẳng lập tức buông chùng. Song bất luận thế nào, Mạnh phu tử cũng không cười nổi, trong lòng đủ mùi lẫn lộn, ho khan vài tiếng, trịnh trọng phản kích: “Người Trâu đều bận rộn với lễ nhạc hiếu đễ, không có thời gian dựng chuyện. Có điều, khi Mạnh Kha ở Tống, cũng có nghe không ít lời đồn.”

“Ồ?” Huệ Vương nôn nóng hỏi, “lời đồn gì?”

“Đồn rằng Trương tướng quốc lưỡi dài ba thước, đủ quấn một vòng quanh cổ!”

“Ha?” Ngụy Tự lấy làm phấn khích, hai mắt trợn tròn, “sao ta lại không biết nhỉ?”

Trương Nghi cười nhạt một tiếng, rồi thè lưỡi hết cỡ ra ngoài. Lưỡi Trương Nghi quả là dài khác thường, thè xuống phía dưới, che hết cả cằm, thè lên phía trên, che hết sống mũi, đầu lưỡi chạm tận ấn đường.

“Cha chả,” Huệ Vương trợn mắt kinh ngạc, “đúng là dài thực!”

“Kha còn nghe thấy một tin đồn nữa,” mục đích của Mạnh phu tử rõ ràng không chỉ có vậy.

“Phu tử hãy nói mau!” Huệ Vương sốt sắng giục.

“Đồn rằng Trương tướng quốc rất giỏi ẩn thuật, giữa ban ngày ban mặt, trước bao nhiêu con mắt, mà hoá phép hô biến chí bảo của nước Sở Hoà thị bích, cho tới nay vẫn chưa thấy tăm hơi!” Mạnh phu tử cất giọng thản nhiên.

Trương Nghi vì Hoà thị bích mà chịu nhục ở Sở, người thiên hạ không ai không biết. Mạnh phu tử lúc này lại lôi chuyện đó ra, là bởi đã bị dồn vào thế bí.

Trương Nghi quả nhiên sắc mặt đỏ gay, song loáng cái đã thản nhiên như cũ, phá lên cười vang một tràng dài, đoạn hạ thấp giọng, ngữ điệu lên trầm xuống bổng: “Phu tử có điều không biết, đó không gọi là ẩn thuật, mà gọi là trộm. Phu tử hẳn chưa từng nhìn thấy Hoà thị bích?”

Mạnh phu tử sững sờ kinh ngạc. Hiển nhiên, Mạnh phu tử hoàn toàn không thể ngờ được Trương Nghi lại trả lời như vậy.

“Hoà thị bích to bằng này!” Trương Nghi dang rộng hai tay ra hiệu, “toàn bộ màu lục pha trắng, trong trắng ánh đỏ, trong đỏ ánh tím, trong tím ánh đen, trong đen ánh lục, quả là một bảo bối tuyệt thế!”

“Nhưng...” không đợi Mạnh phu tử lên tiếng, Ngụy Tự đã chen vào, “viên ngọc to như thế, tướng quốc trộm bằng cách nào?”

“Phải đấy,” Huệ Vương cũng băn khoăn, “hãy nói xem ái khanh đã trộm thế nào?”

“Hồi bẩm đại vương, nếu như trộm được, Chiêu Dương còn tống Nghi vào ngục làm gì?” Trương Nghi hỏi vặn lại.

“Nói như vậy, viên ngọc đó vẫn ở nước Sở?”

“Có ở nước Sở hay không, Nghi không biết được. Nghi chỉ biết rằng, theo lời phu tử vừa nói, thiên hạ đều đồn rằng đó là ẩn thuật. Duy có một điều Nghi không hiểu nổi,” Trương Nghi chau tít đôi mày, ánh mắt sắc lạnh, “với trí của phu tử, với tín của Khổng môn, mà vẫn tin lời đồn nhảm, còn rêu rao khắp liệt quốc, thì quả là chuyện lạ!”

Thấy Trương Nghi trả đòn mình, lại công kích đến cả Nho môn, Mạnh phu tử giận đến nghẹn họng.

“Ha ha ha!” Huệ Vương lập tức cứu nguy, bật cười vài tiếng, “phu tử chớ nghe miệng lưỡi của Trương Tử. Cái gì mà Hoà thị bích, chẳng qua chỉ là một cục đá mà thôi! Phải rồi,” nhìn thẳng vào Trương Nghi, chuyển sang chuyện khác, “Trương tướng quốc, lần này đi sứ sang Tần, Tần Quân không nhắn nhủ gì ư?”

“Hồi bẩm đại vương,” Trương Nghi cũng thấy đủ thì dừng, “thần gấp rút vào cung, cũng là để tấu báo sứ mệnh lên đại vương!”

“Nói đi!” Huệ Vương khoát tay.

Trương Nghi nhìn sang Mạnh phu tử: “Đại sự quân quốc...”

Huệ Vương lúc này cũng nhớ tới Mạnh phu tử, bèn nhìn sang.

Hiển nhiên, Trương Nghi tấu báo sứ mệnh, người ngoài ở đây không thích hợp.

Hứng liền hai đòn bức bách, Mạnh phu tử coi như đã triệt để lĩnh giáo sự ghê gớm của Trương Nghi, bèn đứng phắt dậy, không buồn nhìn Trương Nghi, chỉ vòng tay với Huệ Vương: “Mạnh Kha cáo lui!” Đoạn quay người, sải bước khỏi cửa.

Rõ ràng, Mạnh phu tử có phần kích động.

Đây cũng chính là điều Trương Nghi mong muốn, bèn nhịp khẽ ngón tay xuống mặt án, kéo dài giọng châm chọc: “Chà chà, đây chính là lễ nghi của Nho môn, ôn lương cung khiêm nhượng đó sao!” Rồi cố tình nhìn sang Ngụy Tự.

Vừa rồi, Mạnh phu tử chẳng buồn chào thái tử điện hạ lấy một tiếng.

“Phụ vương,” Ngụy Tự nổi giận đùng đùng, “lão thất phu...”

Ngụy Tự lời còn chưa dứt, Huệ Vương đã quát lên chặn họng: “Tự Nhi?”

Ngụy Tự hậm hực nhìn đi chỗ khác.

“Nói đi!” Huệ Vương nhìn sang Trương Nghi, “có tin gì hay?”

Trương Nghi bẩm báo một lượt những điều thu hoạch trong chuyến đi sứ sang Tần. Nhưng khác với phó sứ Sử Cử ở chỗ, Trương Nghi thêm vào quá trình “mặc cả” với Tần Vương cùng sự trăn trở của Tần Vương khi quyết sách phạt Tề.

“Hắn chỉ xuất năm vạn quân, chẳng phải là trò đùa ư?” Huệ Vương khinh khỉnh.

“Năm vạn quân đều là quân tinh nhuệ,” Trương Nghi đáp, “tuy không sánh được với quân hổ bôn của Bàng tướng quân, song cũng đủ sức một chọi với mười. Vả lại, dụng binh cốt ở tướng, Tần Vương đã đặc biệt triệu hồi Tư Mã Thác từ Ba Thục về. Ngược lại, hãy xem người Tề, sau Tôn Tẫn, Điền Kỵ, còn ai có thể cầm quân nữa?”

“Điền Anh!” Huệ Vương buột miệng.

“Thứ nhất, người này không phải đối thủ của Tư Mã Thác. Thứ hai, thần đoán rằng, người này sẽ không chịu cầm quân!”

“Vì sao?”

“Bởi Điền Anh là kẻ khôn ngoan lanh lợi, biết tùy thời thế. Đã là tướng quốc, ông ta sẽ không chịu mạo hiểm khi không nắm chắc phần thắng!”

“Nếu Tề Vương cầu viện binh thì sao?”

“Đại vương hãy gập ngón tay tính thử, còn ai có thể cứu người Tề?” Trương Nghi xoè tay ra tính, “người Triệu chăng? Trước hết họ phải vượt qua Chương Thuỷ, đánh bại võ binh Đại Ngụy, sau đó tiếp tục vượt qua Hà Thuỷ, phải không? Người Hàn chăng? Hàn Hầu nếu dám hành động, người Tần ở ải Hàm Cốc sẽ xuất quân tới Nghi Dương, người Tần từ lâu đã thèm nhỏ dãi vàng đen của Nghi Dương rồi. Người Sở chăng? Người Tề thình lình tập kích Hạng Thành, sát phạt vô số nhân mạng, thiêu huỷ hàng loạt kho lẫm, Chiêu Dương tức muốn thổ huyết, xuất binh phạt Tề, nếu không phải kiêng dè Điền Kỵ và Tôn Tẫn, e là sớm đã đánh tới tận Lâm Truy rồi. Người Yên chăng? Giờ đây Yên Vương đã là con rể của Tần Vương, con rể có thể đánh bố vợ được ư? Có thể cứu Tề, chỉ còn một người, chính là đại vương. Dám hỏi đại vương, người có muốn cứu Tề chăng?”

Trương Nghi khua môi múa mép một tràng, nghe rất hợp tình hợp lý, hoàn toàn xua tan mọi mối hồ nghi trong lòng Huệ Vương.

“Rầm” một tiếng, Huệ Vương giáng thẳng nắm đấm xuống bàn, gầm lên như sấm: “Đừng hòng!”

“Phụ vương,” Ngụy Tự tiếp lời, “chúng ta hãy cũng xuất binh, việc tốt không thể để người Tần độc chiếm!”

“Xuất thế nào?” Huệ Vương nhìn sang hắn.

“Theo ý nhi thần, chúng ta cũng xuất năm vạn quân. Người Tần đánh trận của người Tần, chúng ta đánh trận của chúng ta. Ồ không, không phải, chúng ta hãy làm hậu thuẫn cho người Tần, người Tần đánh trận trước, chúng ta đánh trận sau. Nếu người Tần đánh thắng, chúng ta sẽ tiếp quản thành trì mà người Tần chiếm được. Nếu người Tần đánh thua, chúng ta cũng dễ bề tiếp ứng”. Ngụy Tự bày kế.

Huệ Vương nhắm mắt một lát, nhìn sang Trương Nghi: “Trương ái khanh, ý khanh thế nào?”

“Thần xin nghe theo đại vương!” Trương Nghi đẩy lại cho Huệ Vương.

Huệ Vương lại ngẫm nghĩ một lát, nhìn sang Ngụy Tự, quả quyết bật ra hai tiếng: “Không được!”

“Vì sao kia?” Ngụy Tự cuống lên.

“Người Tần xuất binh thì cứ việc xuất binh, có ích lợi gì, đương nhiên cũng dành cho họ!” Ngụy Vương quay sang Trương Nghi, ý đã quyết, “Trương ái khanh, người Tần đường xa tới đây, cũng nên uý lạo chút ít, song nhất thiết không được ân cần thái quá, mà gây thêm phiền toái cho người ta!” Nói đoạn, ngáp một tiếng rõ to, tỏ ý đã muốn nghỉ ngơi.

“Thần cáo lui!” Trương Nghi, Ngụy Tự đứng dậy, vòng tay lui ra.

Sau khi rời khỏi cung, Ngụy Tự sắc mặt buồn bực.

“Trương tướng quốc,” Ngụy Tự cất tiếng gọi Trương Nghi đang đi ở phía trước, “tướng quốc nói xem, cớ sao phụ vương lại từ chối xuất binh, nhường lại hết lợi ích cho người Tần?”

Trương Nghi dừng bước, ngoảnh đầu nhìn chằm chằm vào Ngụy Tự, hồi lâu, mới cười gượng một tiếng, chẳng nói một lời, lại quay đi, tiếp tục sải bước.

“Trương tướng quốc...” Ngụy Tự đuổi theo hai bước, thấy Trương Nghi không có ý dừng lại, đành đi chậm lại, ủ rũ quay trở về Đông cung.

Đông cung vốn là của thái tử Thân. Sau khi thái tử chết trận, tất cả mọi thứ trong Đông cung, ngoại trừ phu nhân và vài phi tử đã có con với thái tử, toàn bộ đều được chuyển sang tay Ngụy Tự.

Người trông nom Đông cung lại không phải là chính thất của Ngụy Tự, mà là Thiên Hương. Từ sau khi cùng Ngụy Tự ngửi mùi xác thối suốt dọc đường về, địa vị của Thiên Hương từ tỳ thiếp thăng lên vùn vụt, chỉ còn thiếu nước được chính thức thụ mệnh làm phu nhân.

“Điện hạ,” Thiên Hương xiêm y mong manh bước ra đón, giọng như hờn dỗi, “sao muộn thế này điện hạ mới về, bắt người ta chờ đợi mãi!”

“Nàng nói xem,” Ngụy Tự bừng bừng phẫn nộ, “cớ sao phụ vương không chịu nghe lời thành thực của ta?”

“Phụ vương làm sao kia?” Thiên Hương tiến lại gần, cười tươi như hoa, giúp hắn tháo đai cởi áo.

Ngụy Tự đem chuyện trong cung kể tường tận một lượt cho Thiên Hương nghe.

“Chao ôi điện hạ,” Thiên Hương cười nói, “xét về tính toán, xem ra chẳng bao giờ có thể qua nổi phụ vương!”

“Ồ?” Ngụy Tự ngạc nhiên nhìn nàng.

Thiên Hương dịu dàng kéo Ngụy Tự vào trong phòng tắm, ấn vào trong bồn nước nóng: “Thiếp hỏi điện hạ, Tần giao chiến với Tề, kết quả sẽ thế nào?”

“Còn phải nói, người Tần thắng chắc!” Ngụy Tự đáp.

“Được,” Thiên Hương dừng tay, “nếu như người Tần thắng, sẽ có được lợi gì?”

“Ồ...” Ngụy Tự vẫn chưa nghĩ tới chuyện này.

“Chiến lợi phẩm của người Tần, chỉ có thể là vàng bạc của cải, đất đai mỹ nữ.” Thiên Hương chỉ rõ, “người Tề nếu chiến bại, liệu có chịu bỏ lại vàng bạc của cải cho người Tần? Họ hoặc là sẽ giấu đi, hoặc là sẽ phá huỷ, chứ nhất quyết không chịu để lại cho kẻ địch. Sản vật chính của Tề, là lương thực và muối. Người Tần thiếu lương chăng? Quan Trung chính là kho lương, còn có nguồn lương tiếp ứng từ Thục. Ngược lại, hãy nhìn người Tề, lúc này cơm còn không đủ ăn. Còn về muối, Tần có muối của đất Ba, tốt hơn hẳn muối của đất Tề. Đàn bà có thể sinh đẻ, nước Tần đâu có thiếu, nước Tần chỉ thiếu đàn ông, là đàn ông biết cày ruộng biết đánh trận! Song đàn ông nước Tề, nước Tần có dám lấy không? Thứ duy nhất nước Tần dám lấy, cũng rất muốn lấy, chính là đất đai. Song Tề và Tần cách xa muôn núi nghìn sông, người Tần có thể cõng đất về không?”

Ngụy Tự trợn tròn hai mắt.

“Người Tần nếu thắng, đất đai, đàn bà, muối... phụ vương đã tính toán rồi, toàn bộ ích lợi, chẳng thể mang đi, toàn bộ đều sẽ là của Ngụy. Nếu đã đều là của Ngụy, thì phụ vương việc gì phải vội?”

Ngụy Tự hít sâu vào một hơi.

“Còn nữa, tính toán của phụ vương, không chỉ dừng lại ở đó.”

“Còn gì nữa?” Ngụy Tự nôn nóng hỏi.

“Còn có các nước lưu vực sông Tứ, đặc biệt là nước Tống. Nếu người Tần đánh bại người Tề, nước Tống cũng sẽ là của cha con điện hạ, nước Tần không thể lấy đi dù một tấc đất!”

“Phải rồi!” Ngụy Tự đập thẳng tay xuống bồn, khiến nước tắm bắn lên tung toé, ướt cả xiêm y Thiên Hương.

“Vả lại,” Thiên Hương lườm hắn một cái, “nếu Tần bại trận thì sao?”

Nhận được chỉ lệnh, Tư Mã Thác giao lại mọi việc ở Ba Thục cho Ngụy Chương, gấp rút lên đường, đi suốt ngày đêm không nghỉ, từ Hán Trung qua sạn đạo núi Chung Nam, về đến Hàm Dương, vào thẳng cung thành.

Huệ Vương đang cùng Sư Lý Tật, công tử Hoa, Cam Mậu, Xa Vệ Quốc bàn chuyện viễn chinh. Mấy năm không gặp, Xa Vệ Quốc càng thêm tráng kiện dạn dày, thụ mệnh cầm quân một phương.

“Đại vương,” Tư Mã Thác đi thẳng vào chuyện, “là đại vương muốn viễn chinh nước Tề ư?”

Tần Huệ Vương không đáp.

Tư Mã Thác không nhận được câu trả lời, nhìn sang Sư Lý Tật, thấy hắn cũng im lặng, lại nhìn sang Cam Mậu. Cam Mậu nhún vai cười gượng.

“Là tướng quốc!” Công tử Hoa nhịn không nổi, lên tiếng.

Nghe thấy là ý của Trương Nghi, Tư Mã Thác trong lòng giật thột, hít sâu vào một hơi. Trong những năm qua, người khiến Tư Mã Thác thực lòng khâm phục chỉ có hai, một là Thương Quân, một là Trương Nghi. Còn như đám Tô Tần, Công Tôn Diễn, trong mắt Tư Mã Thác tuy cũng là nhân tài đấy, nhưng chỉ vậy mà thôi.

“Tướng quốc đại nhân?” Tư Mã Thác nhìn công tử Hoa, hết sức băn khoăn, “cớ sao tướng quốc lại muốn phạt Tề?”

Công tử Hoa ngoảnh mặt sang Huệ Vương.

Tư Mã Thác nhìn sang Huệ Vương.

“Tư Mã tướng quân,” Huệ Vương lúc này mới lên tiếng, “hãy nói thử xem, cớ sao không thể phạt Tề?”

Tư Mã Thác mặt mũi méo xệch: “Đại vương...”

“Phải chăng tướng quân muốn nói, cớ sao ta lại bỏ Ba Thục để vượt ải Hào, băng qua Hàn, Ngụy, các nước sông Tứ, bất chấp Sở, Triệu rình rập, để viễn chinh nước Tề vốn xưa nay không động chạm tới ta?” Huệ Vương nghiêng đầu, nheo mắt cười hỏi.

“Chính phải, chính phải!” Tư Mã Thác đáp lời, “chúng ta chưa từng đông chinh!”

“Tư Mã tướng quân,” Huệ Vương thu lại nụ cười, nghiêm mặt nhìn thẳng vào Tư Mã Thác, tiếp đó lại nhìn sang đám công tử Hoa, giọng nói trịnh trọng, “chính vì chưa từng đông chinh, nên chúng ta mới phải phạt Tề!” Đoạn siết chặt bàn tay, “nắm đấm của Đại Tần, cũng tới lúc nên vươn tới Sơn Đông rồi!”

Nhưng đám bề tôi không hề cảm thấy phấn khích, ngược lại đều kinh hãi, đưa mắt nhìn nhau.

“Tư Mã tướng quân,” Huệ Vương giơ chân, đạp chiếc án sang một bên, rồi đặt mấy cuộn thẻ tre xuống khoảng trống trước mặt, tiện tay tháo bội kiếm đeo bên hông đặt ra xa, đoạn chỉ vào thẻ tre, “đây là liệt quốc Sơn Đông.” Chỉ vào kiếm, “đây là nước Tần ta.” Lại chỉ vào thẻ tre, “mấy trăm năm qua, liệt quốc Sơn Đông tự cho mình là văn minh, xem ta...” nhìn thanh kiếm, “là nước man di sài lang!” Lại tháo thắt lưng, quây quanh đám thẻ tre, tạo thành một vòng tròn. “Nay có Tô Tần người Chu hợp tung liệt quốc, hình thành một vòng tròn kín mít nước vẩy không lọt, cùng đối địch với Đại Tần ta!” Lại rút ra một thanh đoản đao, “sột” một tiếng đâm xuyên đai lưng, cắm vào một bó thẻ tre, “tướng quốc Trương Nghi quên thân vì nước, một mình liên hoành Ngụy thất, giống như lưỡi dao sắc đâm vào trong vòng tròn này!” Đưa mắt nhìn khắp lượt chúng thần, “tuy nhiên, trước là Quế Lăng, sau là Mã Lăng, cuối cùng là Tương Lăng, nước Ngụy thất bại nối tiếp thất bại,” đưa mũi đoản đao cứa đứt dây xâu thẻ tre, “Ngụy thất rệu rã, Ngụy Vương nhụt chí, Trương tướng quốc khó lòng chống đỡ, nếu ta lại không ra tay,” thu đoản đao về, nối lại đai lưng như cũ, “Tô Tần sẽ lại tìm tới, nước Ngụy sẽ quay về với tung thân, Sơn Đông sẽ lại trở thành một vòng tròn, tâm huyết bao năm của Trương tướng quốc sẽ tan tành trong một sớm.” Chỉ vào trường kiếm, “Đại Tần ta nếu muốn tiến vào Sơn Đông lần nữa, e sẽ thành chuyện xa vời!”

Bầu không khí bỗng trở nên trầm nặng.

“Sẽ thành chuyện xa vời, chư ái khanh...” Huệ Vương lặp lại lần nữa, mỗi tiếng như nặng ngàn cân.

Mọi người đưa mắt nhìn nhau, hơi thở gấp gáp.

Tư Mã Thác phá tan bầu không khí nặng nề: “Đại vương có thể cho thần bao nhiêu binh mã, bao nhiêu lương thảo?”

“Tướng quân muốn bao nhiêu?” Huệ Vương hỏi lại.

“Hai mươi vạn nhuệ binh, lương thảo đủ dùng một năm!” Huệ Vương lắc đầu.

“Mười vạn quân, tám tháng lương thảo!”

Huệ Vương lại lắc đâu.

Tư Mã Thác sửng sốt: “Đại vương, con số ấy đã là ít nhất rồi!”

“Quả nhân chỉ có thể cho tướng quân năm vạn nhuệ binh, ba tháng lương thảo, vả lại, phần lớn chỗ lương thảo này sẽ được vận chuyển tới sau ba tháng!” Huệ Vương bình thản nói.

“Đại vương?” Tư Mã Thác không dám tin vào tai mình, miệng há hốc.

“Ha ha ha,” Huệ Vương bật cười vài tiếng, “tướng quân kinh hãi đến thế ư?” Đưa tay kéo án về chỗ cũ, chỉnh sửa ngay ngắn, thắt đai vào lưng, “khanh nghĩ quả nhân thực sự muốn khanh đi đánh ư? Chỉ là diễn cho liệt quốc xem mà thôi!”

“A?” Tư Mã Thác miệng càng há hốc.

“Tư Mã tướng quân,” Huệ Vương nhìn thẳng vào Tư Mã Thác, “một binh một tốt của Tần, đều là gan ruột của quả nhân, quả nhân sẽ không tùy tiện mạo hiểm. Tuy nhiên, như quả nhân vừa nói, là do tình thế bức bách, quả nhân đã không còn đường lui, duy có viễn chinh. Xưa Mục Công không chịu nghe quần thần can gián, một mực viễn chinh nước Trịnh, kết quả toàn quân tận diệt. Nay quả nhân lại viễn chinh, quả thực vì bất đắc dĩ. May sao nay đã khác xưa, có Ngụy mạnh bên cạnh, ải Hào không còn phải lo lắng, Triệu không dám vọng động. Có Hàm Cốc, Thiểm, Tiêu trong tay, ta có thể tiến thẳng tới Nghi Dương, Hàn không dám vọng động. Sở có mối thù Hạng Thành, ắt cũng không chịu chi viện cho Tề. Đối thủ duy nhất của tướng quân, chỉ có người Tề, mà nước Tề sau Tôn Tẫn, Điền Kỵ, đã không còn tướng giỏi. Tướng quân hãy cứ an tâm dụng binh, vượt đường xa đánh thẳng tới, chỉ cần thắng một trận nhỏ dưới thành Lâm Truy, Tề Vương ắt sẽ xuống nước. Lúc đó, tướng quân hãy phái người giảng hoà, cắt mấy thành trì để vỗ về Ngụy Vương là được.”

“Nếu Tề Vương không chịu xuống nước thì sao?” Tư Mã Thác hỏi.

“Thì cũng thấy đủ là dừng!” Huệ Vương rõ ràng đã suy tính tới điều này, “tóm lại, tướng quân lần này xuất chinh, không phải để diệt Tề, không phải để chiến thắng, chỉ là để ra oai, khiến Ngụy thất phấn chấn, hù doạ Tề Vương, nhân tiện thăm dò thực lực của liệt quốc Sơn Đông, có thể gọi là đánh thử!”

Tư Mã Thác nhắm mắt suy nghĩ hồi lâu, rồi mở mắt, nhìn thẳng vào Tần Huệ Vương, nói rành rọt từng tiếng: “Đại vương, thần cho rằng không được!”

“Ồ?” Huệ Vương ngả người lại, ánh mắt xoáy tới.

“Vua không nói chơi, quân không đánh thử. Chiến tranh không phải là diễn kịch, xuất chinh ắt cầu chiến thắng. Đại vương hoặc là chớ xuất binh, hoặc là phải chiến thắng, nếu không,” Tư Mã Thác tiến lên trước, quỳ xuống dập đầu, giọng sang sảng, “thần thà chịu tội chết, thỉnh cầu đại vương chọn tướng khác để đánh thử!”

Chiếu theo Tần pháp, không tuân lệnh vua tức là tội chết, hơn nữa, còn phải tru di cửu tộc. Tư Mã Thác bất chấp tội chết kháng mệnh, quả thực nằm ngoài dự liệu của Huệ Vương.

Huệ Vương nhắm mắt lại.

Bầu không khí nặng nề bao phủ, chỉ còn nghe thấy những tiếng thở mạnh đang cố gắng kìm nén.

“Tư Mã Thác!” Huệ Vương chợt mở choàng mắt, nhìn trừng trừng vào Tư Mã Thác, nghiêm giọng quát lớn.

Mọi người đều giật nảy mình, nhìn vào Huệ Vương. “Có thần!” Tư Mã Thác lại dập đầu, trầm giọng đáp. “Doanh Tật, Doanh Hoa, Cam Mậu nghe lệnh!”

Cả ba người cùng đứng dậy, dập đầu: “Thần nghe lệnh!”

“Soạn chỉ,” Huệ Vương quay sang nội tể, “Tề Vương vô duyên vô cớ khởi binh phạt nước kết minh của ta, dùng mưu độc sát hại thái tử Ngụy, lại ỷ thế cướp đoạt mười thành nước Yên vốn là thân bang của ta, đó là bất nghĩa. Quả nhân nhận lời thỉnh cầu của minh quốc Ngụy Vương, thân quốc Yên Vương, xuất năm vạn nhuệ binh, thay trời hành đạo, thảo phạt bất nghĩa. Nay chiếu mệnh Tư Mã Thác làm chủ tướng đông chinh, Doanh Hoa, Xa Vệ Quốc làm phó tướng, chọn ngày lành dẫn quân đông chinh, quyết chiến với Tề!”

Tư Mã Thác, công tử Hoa, Xa Vệ Quốc cùng dập đầu hô: “Thần tuân mệnh!”

“Chiếu mệnh cho Cam Mậu cai quản lương thảo, chuẩn bị năm vạn quân chờ sẵn ở ải Hàm Cốc, thứ nhất tiếp ứng tiền phương, thứ hai trù bị phạt Hàn, nếu như nước Hàn viện Tề, lập tức xuất binh Nghi Dương, chiếm lấy!”

Xa Vệ Quân dập đầu hô: “Thần tuân mệnh!”

“Tật đệ,” Huệ Vương nhìn sang Sư Lý Tật, “phiền đệ tới nước Yên một chuyến, tiện đường ngang qua Trịnh Thành, chuyển lời tới Hàn Vương, nói rằng ngự muội từ khi thành phu nhân nước Tần, vẫn thường tưởng nhớ vương huynh, trong mơ cũng thấy gọi tên!”

Sư Lý Tật dập đâu: “Thần tuân mệnh!”

Nước Tần phạt Tề, việc tuy rầm rộ, song lại không có việc gì cho Ngụy Tự. Đại sự trong triều vẫn do Ngụy Huệ Vương quyết đoán, việc tiếp ứng quân Tần là của Trương Nghi, ba quân cũng đã có tướng soái. Chỉ có một việc cần Ngụy Tự cai quản, đó là hơn chục phi tần của hắn, trong đó có mấy người vốn dĩ trước đây là của thái tử Thân.

Ngụy Tự vốn là kẻ đa dâm, dương khí sung mãn, ngày nào cũng phải hành phòng với vài người, Thiên Hương tuy thành thạo thuật phòng trung cũng chịu không thấu, nên để mặc cho hắn phóng túng, thậm chí đôi lúc còn cho đám cung nữ thân tín, đa phần là Hắc điêu, thay mình hầu hạ Ngụy Tự.

Đàn ông luôn thích của lạ, Ngụy Tự dần cũng thấy chán đám đàn bà bên cạnh, trong đầu thi thoảng lại hiện lên hình bóng Triệu Cơ.

Song Triệu Cơ lại không phải là của hắn.

Hôm đó, thái tử nước Vệ lên điện thăm hỏi, Ngụy Tự sai nội tể truyền nhạc phường lệnh cho ca múa khoản đãi, chỉ đích danh Triệu Cơ lĩnh vũ, kết quả là người khác tới, không phải Triệu Cơ. Ngụy Tự hỏi tội, nhạc phường lệnh mới bẩm rằng, Triệu Cơ là phi tần của đại vương, muốn Triệu Cơ lĩnh vũ, phải báo lên tỳ nhân tấu thỉnh Huệ Vương ân chuẩn. Nhạc phường lệnh đã bẩm lên tỳ nhân, song tỳ nhân cho rằng không hợp nghi lễ trong cung, không chịu tấu báo.

Ngụy Tự hận tỳ nhân tới nghiến răng nghiến lợi, dục hoả trong lòng lại càng thêm cuồn cuộn. Được biết Triệu Cơ mỗi sáng đều tới hậu hoa viên luyện giọng trước mặt hồ, Ngụy Tự mừng thầm, sai cung nhân thân tín mời nàng tới một cung thất vắng vẻ.

Hậu cung dưới sự cai quản của tỳ nhân xưa nay rất đỗi bình yên, Triệu Cơ cứ ngỡ đại vương triệu vào, không chút hồ nghi, đi thẳng vào trong cung thất.

Ngồi chờ bên trong, lại là Ngụy Tự.

Không để Triệu Cơ kịp phản ứng, cung nhân đi mời lập tức xô ngay nàng vào, đóng sập cổng cửa lại.

Triệu Cơ vô cùng kinh hãi. Trước mặt Ngụy Tự, thái tử hôm nay, Ngụy Vương tương lai, Triệu Cơ không dám phản kháng, cũng không thể bỏ chạy, chỉ biết quỳ sụp xuống, không thốt nổi một lời.

“Đứng lên, múa một điệu xem!” Ngụy Tự nâng chén rượu trên án, ra lệnh.

Triệu Cơ không dám đứng dậy.

“Để bản cung đỡ nàng!” Ngụy Tự đứng dậy, tiến lại trước mặt Triệu Cơ, ôm ngang lưng nàng, bế bổng lên.

Triệu Cơ giãy ra, giọng như tiếng oanh thánh thót, khóc lóc van xin: “Điện... điện hạ... đừng... không được...”

Ngụy Tự mặc kệ nàng giãy giụa, mặc kệ nàng kêu khóc, bế luôn vào phòng bên, đặt xuống giường êm đã trải sẵn.

Hay tin nước Tần xuất quân phạt Tề, học cung lệnh Điền Văn cười mãi không thôi.

Tin tức bắt đầu lan truyền từ đám Tiểu thuyết môn đang nương nhờ trong Tắc Hạ. Tiểu thuyết môn xứng danh là môn phái đưa tin nhạy bén nhất Tắc Hạ, tiên sinh họ Phong, trước khi tới Tắc Hạ gọi là Phong Tử, sau khi lập môn gọi là Phong tiên sinh. Phong tiên sinh môn đồ đông đảo, chỉ tính riêng bên mình đã có bảy mươi hai người, còn số phân tán trong liệt quốc thì nhiều không kể xiết, đa phần là nghệ nhân thuyết xướng, tai mắt tính tường, chuyên kiếm sống nhờ thu thập tin sốt dẻo trong thiên hạ, thi thoảng cũng thi triển vài thuật âm dương, như bói cát hung, xem phong thuỷ, có thể nói là nhóm người được chào đón rộng rãi nhất trong liệt quốc.

Đương nhiên, Phong tiên sinh cũng là khách thường xuyên trong phủ học cung lệnh Điền Văn.

Khi Phong tiên sinh giọng như chém đinh chặt sắt kể chuyện nước Tần mài dao xoèn xoẹt, chuẩn bị viễn chinh nước Tề, Điền Văn phá lên cười ngặt nghẽo, dứt khoát không tin.

Tối hôm đó, về nhà dùng cơm, Điền Văn vừa cười vừa kể lại lời Phong tiên sinh cho cha là Điền Anh nghe.

Song Điền Anh lại không dám coi đó là chuyện cười.

“Tô Tử hẳn còn ở đây?” Điền Anh hỏi Điền Văn.

Điền Văn lắc đầu.

“Tô Tử đi đâu rồi?” Điền Văn sửng sốt.

“Đã đi Hàm Đan. Quản gia cho người tới gọi, hình như có việc gấp.”

Điền Anh gần như nhảy dựng khỏi chỗ: “Đi lúc nào?”

“Ba ngày trước.”

“Phái kỵ mã tức tốc tới Triệu, ngay bây giờ, mời Tô Tử về gấp!” Điền Anh hạ lệnh.

Điền Văn vội vã đi sắp xếp ngay.

Điền Anh ngồi xuống chiếu, lấy từ trong ống tay áo ra một bức mật hàm, mở ra, chăm chú đọc, trán vã mổ hôi.

“Người đâu!” Điền Anh cất lại mật hàm vào trong tay áo, quay ra ngoài gọi lớn.

Quản gia bước vào.

“Chuẩn bị xe, vào cung!”

Tề Tuyên Vương nhìn sững vào bức mật hàm hồi lâu, trên thư không thấy đề tên.

Tuyên Vương đặt mật hàm xuống, ngẩng đầu hỏi: “Là ai viết?”

“Một môn khách của thần, hai tháng trước, thần sai hắn cải trang thành lái buôn muối, sang Tần buôn bán. Mật thư này là do hắn nhờ người mang về.” Điền Anh đáp, “thần vừa nhận được, chưa kịp suy ngẫm kỹ, đã nghe thấy tin đồn từ Tiểu thuyết môn trong Tắc Hạ, nên không dám chậm trễ, tức tốc vào cung tấu báo!”

Tuyên Vương lại cầm mật hàm lên, nhìn chăm chú.

“Thần xem kỹ rồi, là chữ của hắn, quyết không sai!” Điền Anh khẳng định.

Bàn tay Tuyên Vương khẽ run lên.

“Chúng ta hai lần xuất binh, đánh cho Ngụy thảm bại tan tác. Tướng quốc nước Ngụy là Trương Nghi, nghe nói cách đây không lâu, kẻ này phụng mệnh đi sứ sang Tần, có lẽ quân Tần là do kẻ này điều tới!” Điền Anh nói tiếp.

“Anh đệ hẳn có kế hay?” Tuyên Vương nhìn thẳng vào Điền Anh.

“Về ngoại vụ, không phải Tô Tần không thể giải quyết. Thần đệ sau khi biết được sự việc, đã sai người đi tìm, nào ngờ ba ngày trước, Tô Tử đã sang nước Triệu. Thần đệ đã tức tốc phái kỵ mã đuổi theo, có lẽ sẽ đuổi kịp trước khi qua sông. Nếu không ngoài dự liệu, trong vòng mười ngày có thể quay về.”

“Trở về cũng có ích gì?” Tuyên Vương sắc mặt tràn đầy lo lắng, hai tay ôm trán, “có câu nói, quân tới tướng ngăn, giờ đây, thứ ta thiếu là tướng giỏi ngự địch!”

“Thần đệ lo lắng, chính là chuyện này!” Điền Anh đáp, “Nếu Tôn tướng quân không bỏ đi, thì tốt biết mấy!”

“Than ôi, còn nhắc tới chuyện này làm gì?” Tuyên Vương khẽ thở dài, “theo ý đệ, ai có thể cầm quân?”

Điền Anh đưa ra ba cái tên, đều bị Tuyên Vương gạt đi.

“Hay là, để học cung lệnh Điền Văn cầm quân?” Điền Anh thăm dò.

Tuyên Vương không đáp, làm như không nghe thấy.

“Điền Văn tuy chưa từng cầm quân, song cũng đã theo Tôn quân sư, Điền tướng quân tôi luyện khá lâu. Hơn nữa lại kết giao rộng khắp, Tắc Hạ nhân tài như mây, đều qua lại thân thiết, nếu để cầm quân, chí ít cũng biết nhìn người để dùng.” Điền Anh kiên trì tiến cử.

Thấy Điền Anh quanh đi quẩn lại, vẫn chỉ một mực tiến cử con trai mình, Tuyên Vương không nhịn nổi nữa, giọng điệu có phần chế giễu: “Tướng quốc cho là phạt Đằng đấy ư? Phạt Tống đấy ư?” Đoạn cao giọng, “đều không phải, mà là nước Tần lang sói đang xông tới tận cửa đấy!”

“Thần...” Điền Anh sắc mặt sượng sùng, “thực không nghĩ ra người nào thích hợp hơn.”

“Có một người,” Tuyên Vương đáp ngay, “Điền Kỵ!”

Điền Anh cười gượng một tiếng, nhìn ra phía xa.

“Nếu quả nhân đoán không nhầm,” Tuyên Vương nhìn chằm chằm vào Điền Anh, “Tần Vương phạt ta, ắt dùng Tư Mã Thác làm chủ tướng. Trong lòng quả nhân, chỉ một người có thể địch lại Tư Mã Thác, chính là Điền Kỵ.”

“Thần đệ cũng đã nghĩ tới Điền tướng quân,” Điền Anh tiếp lời, “có điều, sau hai lần bị Trâu tướng quốc ám hại, Điền tướng quân đã quá đau lòng, hẳn sẽ không chịu quay về nữa!”

“Người đâu!” Tuyên Vương gọi. Nội tể bước vào. “Phái người sang Sở, bất luận Điền Kỵ đang ở đâu, đều phải đưa về bằng được cho quả nhân! Hãy bẩm lại với Điền tướng quân, bất luận tướng quân có yêu cầu gì, quả nhân cũng đồng ý hết, đổi lại, tướng quân nhất định phải quay về!” Tuyên Vương hạ chỉ, ngữ khí trầm nặng.

Nhận lời mời của tướng Triệu Phì Nghĩa, cũng bởi đã ở Tề quá lâu, Tô Tần thấy hơi nhớ Hàm Đan, nên lệnh cho phu xe ra roi đi gấp, chưa tới ba ngày đã đến cửa Túc Tư.

Thực khéo trùng hợp, hôm đó, cửa Túc Tư lại nổi sóng lớn, thuyền bè đều dừng chở khách. Tô Tần muốn đi gấp, Trâu Phi Đao nói khó mãi, lại trả giá cao mới thuê được một nhà thuyền, vừa bước chân lên thuyền, gió càng thổi dữ, cuốn sóng lớn tung trời. Đã thế còn ngược gió, nhà thuyền chèo được vài trượng, con thuyền chòng chành dữ dội, xoay tròn trên mặt nước, ngựa kinh sợ hí lên ầm ĩ. Nhà thuyền dứt khoát không muốn mạo hiểm, chèo trở lại bờ, Tô Tần cũng không dám liều, đành tìm quán trọ nghỉ lại cửa Túc Tư.

Gió vẫn thổi ù ù, chợt to chợt nhỏ, hôm sau trời lại đổ mưa như trút. Mưa gió vần vũ suốt ba ngày trời, tới ngày thứ tư mới chịu ngớt. Đám Tô Tần đang chuẩn bị sang sông, thì gia nhân của Điền Văn phi ngựa đuổi tới nơi. Gia nhân trình lên bức thư do đích thân Điền Văn viết, nói là tình thế Nguy cấp, chúa công mời Tô Tần về Lâm Truy gấp.

Tô Tần thấy tim mình thắt lại, đôi mày chau tít thành một đám.

Lại nghĩ cửa Túc Tư là nơi thu thập thông tin tốt nhất, Tô Tần bảo gia nhân của Điền Văn quay về trước phục mệnh, nói rằng mình sẽ về ngay. Sau đó, Tô Tần về quán trọ, sai Trâu Phi Đao đi nghe ngóng tình hình, còn mình đóng chặt cửa phòng, tĩnh tâm nghiền ngẫm đối sách.

Tới chập tối, Mặc giả liên tục truyền tin tới, nói rằng năm vạn quân Tần đã qua ải Hổ Lao, đang tiến vào biên giới Ngụy.

Không nghi ngờ gì nữa, người Tần không quản xa xôi đông chinh phạt Tề, đây quả là một nước cờ hiểm ngoài tưởng tượng, hơn nữa, chắc chắn là mưu của Trương Nghi.

Cớ sao Trương Nghi lại đi nước cờ hiểm này? Lẽ nào hắn không còn quân để đi nữa?

E là đúng vậy.

Sau khi liên hoành nước Ngụy, Trương Nghi cấu kết với Bàng Quyên hai lần sinh sự, trước phạt Triệu sau đánh Hàn, nào ngờ thất bại theo nhau, hơn nữa, đều là bại trước nước Tề. Sau khi Tương Lăng thất thủ, nước Ngụy hoàn toàn không còn cơ hội để báo thù nước Tề nữa, Ngụy Vương hẳn cũng sinh lòng ngờ vực với Trương Nghi. Trương Nghi thỉnh cầu nước Tần ra mặt, phần nhiều là để bảo vệ địa vị của mình ở Ngụy.

Hiển nhiên, Trương Nghi đã lựa chọn được một thời cơ tuyệt diệu, cung Tề đổi chủ, quyền thần nội loạn, ba quân như rắn mất đầu, lương thảo thiếu thốn, quốc khố cũng gần như cạn kiệt sau hai cuộc đại chiến với Ngụy. Nói cách khác, nước Tề không thể giao tranh, nước Tề cũng không đủ sức giao tranh nữa. Nhìn từ đó, nếu một đối một, nước Tần nắm chắc phần thắng, bởi võ thuật của nước Tề vốn không phải là đối thủ của nhuệ binh Đại Tần, hơn nữa lại không có tướng giỏi bày mưu tính kế.

Đối với người Tề, cơ hội duy nhất là chờ quân chi viện. Ai sẽ là viện binh của Tề? Liệt quốc hợp tung! Trong các nước hợp tung, người Ngụy chắc chắn không chịu. Bốn nước còn lại là Sở, Hàn, Triệu, Yên. Là người Sở? Hay là người Hàn, người Triệu, người Yên? Tô Tần nhắm mắt, suy xét từng nước một, rồi lại loại trừ từng nước một.

Suy đi tính lại, nước Tề thực sự không có trợ thủ thích hợp, dù có, Trương Nghi chắc chắn sẽ có kế chặn đứng từ trước, bằng không, đời nào hắn dám đi nước cờ hiểm này.

Cứ nhìn vào tình thế hiện tại mà suy, Trương Nghi hoàn toàn có thể làm vậy. Người Sở ghi hận Hạng Thành, ắt sẽ hả hê nhìn Tề lâm nạn, không có chuyện ra tay trợ giúp. Nước Tề đã từng cứu Triệu, người Triệu về lý mà nói rất nên tương trợ. Song Trương Nghi sớm đã kết thân Trung Sơn, bị Ngụy và Trung Sơn kẹp chặt hai mặt nam bắc, nước Triệu đâu dám động cựa.

Có thể cứu viện, cũng nên cứu viện, chỉ còn lại nước Hàn đang nợ Tề một ân tình lớn, hơn nữa, nước Hàn lại vừa hay nằm ở vị trí xung yếu trên đường đông chinh của người Tần.

Mấu chốt là, Hàn Vương có dám không?

Trời vừa hửng sáng, một suy nghĩ chợt loé lên trong trí não. Trương Nghi đã dám đi nước cờ hiểm, Tô Tần cớ sao không dám?

Tô Tần viết liền mấy bức mật thư, dặn Trâu Phi Đao giao cho Mặc giả lần lượt chuyển tới Công Tôn Diễn nước Hàn, Phì Nghĩa nước Triệu, Trần Chẩn nước Sở, rồi quay ngược đầu xe trở về Lâm Truy.

Sau khi nhận mệnh, Tư Mã Thác, Xa Vệ Quốc gấp rút điều binh khiển tướng, chuẩn bị xuất chinh. Sư Lý Tật, công tử Hoa đi trước một bước. Công tử Hoa lệnh cho toàn bộ Hắc điêu phân tán khắp liệt quốc, chia thành sáu cánh, cùng hỗ trợ đông chinh, còn mình đích thân sang Ngụy gặp Thiên Hương, thiết lập phân đài Hắc điêu ngay trong thành Đại Lương, ở giữa chỉ huy.

Cùng lúc đó, Sư Lý Tật dẫn theo sứ đoàn hơn trăm người, cờ xí rợp trời băng qua đất Chu, tiến thẳng tới Hàn, yết kiến Hàn Tuyên Vương.

Sau khi trình lên quốc thư và lễ vật, Sư Lý Tật truyền lại y nguyên khẩu dụ của Tần Huệ Vương cho Hàn Tuyên Vương nghe, rồi thỉnh cầu Hàn Vương cho quân Tần mượn đường phạt Tề.

Hàn Tuyên Vương nhận lấy quốc thư, sắp xếp cho sứ đoàn đến dịch quán nghỉ ngơi, rồi khẩn cấp triệu Công Tôn Diễn và Công Trọng vào cung nghị sự.

Hai người đều đã hiểu rõ chuyện gì, nhất là Công Tôn Diễn mấy hôm trước đã nhận được mật thư của Tô Tần.

“Đại vương,” Công Trọng nói thẳng, “không hiểu sao, vừa nghe nói chuyện mượn đường chinh phạt, thần đã nghĩ ngay tới chuyện nước Ngu nước Quắc. Môi hở thì răng lạnh, Ngu Công cho mượn đường diệt Quắc, cuối cùng chính mình cũng rơi vào kết cục nước mất nhà tan, thần mỗi khi nghĩ tới, lại thấy lạnh toát sống lưng!”

Công Trọng không nói thẳng là phản đối, song ẩn ý đã rất rõ ràng.

Hàn Tuyên Vương nhìn sang Công Tôn Diễn.

“Đại vương có thể cho mượn đường.” Công Tôn Diễn nhấc bầu rượu uống một ngụm, chép miệng vài cái rồi thủng thẳng đáp.

Đã là tướng quốc, song Công Tôn Diễn vẫn tay không rời bầu rượu.

“Ồ?” Hàn Tuyên Vương ngả người về trước.

“Đại vương có biết không cho mượn đường sẽ nguy thế nào chăng?” Công Tôn Diễn lại dốc một ngụm rượu nữa, mới đặt bầu xuống, nhìn thẳng vào Tuyên Vương.

“Xin ái khanh hãy giải thích rõ!”

“Nếu không cho mượn đường, đại vương sẽ có ba mối nguy lớn!” Công Tôn Diễn đáp rành rọt, “thứ nhất, mượn đường chinh phạt, từ xưa đã có. Sự việc đã chẳng liên quan tới mình, đại vương có lý do gì mà không cho mượn? Thứ hai, Hàn và Tề cách núi ngăn sông, song Hàn và Tần lại tiếp giáp. Phía nam Nghi Dương chính là vùng núi Thương Ư, Nghi Dương lại nằm kề Lạc Thuỷ, thượng nguồn Lạc Thuỷ là Thượng Lạc, nay đã là của người Tần; phía bắc Nghi Dương là Tiêu, Thiểm, Khúc Ốc, phía tây Tiêu, Thiểm, Khúc Ốc là đường Hàm Cốc. Đường Hàm Cốc ở trong tay người Tần, còn Tiêu, Thiểm ở trong tay nước Ngụy liên minh với Tần. Thứ ba, người Tần sớm đã thèm thuồng sắt của Nghi Dương, ngặt nỗi chưa tìm được lý do công chiếm!”

Hàn Tuyên Vương rùng mình ớn lạnh, nhìn sang Công Trọng.

Công Trọng cũng run bắn. Hiển nhiên, Công Trọng không nghĩ được nhiều như thế.

“Đại vương nếu chịu cho mượn đường, lại cũng có ba điều lợi lớn.”

“Là lợi gì?” Tuyên Vương mở to mắt, sốt sắng hỏi dồn.

“Thứ nhất, tác thành cho người Tần, bịt miệng họ. Thứ hai, không đắc tội với người Ngụy. Thứ ba, toạ sơn quan hổ đấu, chưa biết chừng còn nhặt được báu vật cũng nên.”

“Báu vật gì kia?” Tuyên Vương truy hỏi.

“Lớn thì là đuôi hổ, chân hổ, nhỏ thì là vài cái răng hổ, tệ nhất cũng có thể nhặt được vài sợi lông hổ!”

Tuyên Vương hít sâu vào một hơi, chầm chậm thở ra. “Dám hỏi tướng quốc,” Công Trọng băn khoăn, “Tần, Tề nếu giao tranh, ai sẽ chiến thắng?”

“Chuyện này ư,” Công Tôn Diễn nhấc bầu, chỉ lên trời, “phải hỏi ông trời mới được!” Rồi uống liền ba ngụm, “nếu như giao chiến, không nằm ngoài ba kết cục, thứ nhất Tần thắng, thứ hai Tề thắng, thứ ba là hoà.” Nhìn sang Tuyên Vương, “nhìn vào ba kết cục này, không kết cục nào là không có lợi cho Hàn!”

“Tần thắng cũng lợi?” Tuyên Vương không hiểu. “Lợi chứ!” Công Tôn Diễn đáp, “đường xa bôn tập, sẽ phải kéo dài. Chiến trận kéo dài, binh khí lương thảo ắt thiếu thốn, chỉ riêng việc kinh doanh quân nhu, đại vương dù muốn không thu lợi cũng khó.”

“Nếu họ không đánh thì sao?” Tuyên Vương chau mày.

“Không đánh lại càng hay!” Công Tôn Diễn cười nói, “người dân thiên hạ bớt được khổ nạn, đại vương há lại không vui?”

Hàn Tuyên Vương phá lên cười lớn, gật gù tấm tắc: “Nghe tướng quốc bàn luận, thực là sảng khoái!”

Tới tận sau khi quân Tần vượt qua ải Hổ Lao, Chiêu Dương mới hay tin nước Tần phạt Tề từ miệng người Hàn.

Chiêu Dương thoạt đầu không tin, cho rằng người Hàn đồn nhảm. Đến khi quân trinh thám về báo tin năm vạn nhuệ binh, nghìn cỗ xe chiến mang theo vô khối vũ khí quân nhu của người Tần đã rầm rập băng qua Trịnh Thành, tiến về Đại Lương, Chiêu Dương mới biết tin này không giả, bèn phá lên cười vài tiếng, sai người gọi Trần Chẩn tới bàn bạc.

“Dám hỏi đại nhân ứng phó thế nào?” Trần Chẩn nghe xong sự tình, bèn hỏi Chiêu Dương.

“Ồ...” Chiêu Dương chép miệng, “chẳng phải đang bàn với Trần huynh đấy ư?”

“Chẩn biết đại nhân đã có kế sách, xin hãy nói ra.” Trần Chẩn như đi guốc trong bụng Chiêu Dương.

“Được lắm.” Chiêu Dương lấy ra tấm bản đồ liệt quốc, vừa chỉ vừa giải thích, “nước Tần đông chinh, đường xa tập kích, ắt dốc toàn lực, cho dù chỉ xuất năm vạn quân, nhưng riêng quân nhu đã cần thêm năm vạn người nữa. Tề không có tướng giỏi, không dám quyết chiến, kế sách sáng suốt nhất là củng cố thành trì, đóng cửa không chiến, chờ người Tần sức tận. Nếu vậy, Tần, Tề ắt ở thế giằng co. Tần, Tề giằng co, sẽ rất bất lợi cho Tần. Tần ắt phải công thành. Công thành phải dựa vào sức mạnh, bởi vậy, Tần Vương sẽ phải tăng quân củng cố tiền phương. Tiền tuyến càng vững chãi, hậu phương càng lỏng lẻo. Mưu của tại hạ là, nhân lúc hậu phương Tần lỏng lẻo, ta hãy xuất trọng binh, một trận thu phục Thương Ư!”

Trần Chẩn vỗ vay vài cái, khoé miệng nhếch một nét cười khó đoán.

“Trần huynh?” Chiêu Dương ngạc nhiên nhìn Trần Chẩn.

“Có vẻ đại nhân đã quyết chí muốn giúp người Tề!” Trần Chẩn chuyển cái nhếch mép thành một nụ cười.

“Tại hạ sao có thể giúp Tề?” Chiêu Dương hằm hằm giận dữ, “mối hận Hạng Thành, đâu đã nguôi ngoai!”

“Người Tần nghìn dặm viễn chinh, phải dốc tận lực, không thể vẹn toàn cả đầu lẫn đuôi. Đại nhân nhân lúc người khác sơ hở, đánh thọc sau lưng, thế chẳng phải là trợ giúp người Tề đó ư?”

“Người Tề thì Liên quan gì đến việc của ta!” Chiêu Dương phân trần, “người Tần chiếm Thương Ư của ta, bức bách Sính Đô của ta, khiến tại hạ ngủ không ngon giấc! Nay ta có được cơ hội này, quả là nghìn năm khó gặp!”

“Người ngủ không ngon giấc phải là Sở Vương, cớ sao lại là đại nhân kia?”

“Trần huynh...” Chiêu Dương không hiểu, ngơ ngác nhìn sững vào Trần Chẩn.

“Chẩn cho rằng,” Trần Chẩn lúc này mới chịu nói ra suy tính trong lòng, “Thương Ư là mảnh đất xung yếu, với Sở, nhất định phải thu hồi. Dựa vào sức mạnh của Đại Sở, dựa vào uy thế của đại nhân, nếu đại nhân thực lòng muốn thu hồi, cũng không phải là chuyện khó. Có điều, thu hồi vào lúc nào, thu hồi như thế nào, do ai thu hồi, đối với đại nhân, đối với Chiêu môn, lại có liên quan mật thiết.”

Vừa nghe nhắc đến Chiêu môn, Chiêu Dương liền sốt sắng hỏi dồn: “Nói mau, liên quan thế nào?”

“Các ấp ở đất Thương là lễ vật do tiên Sở Vương tặng cho Tần thất, các ấp ở đất Ư là do Thương Quân đoạt lấy từ họ Cảnh, chẳng liên quan gì tới đại nhân và cả họ Chiêu của đại nhân. Đại nhân tâm tâm niệm niệm thu hồi Thương Ư, thu hồi được rồi thì cũng là địa bàn của họ Cảnh người ta. Đã là địa bàn của họ Cảnh, hãy để họ Cảnh đi mà thu hồi, đại nhân sốt sắng thế để làm gì?” Trần Chẩn bưng chung trà lên, chậm rãi nhấp một ngụm.

‘Ý Trần huynh là...” Chiêu Dương ném ngói dụ ngọc, nhìn chăm chăm vào Trần Chẩn, chờ ông ta nói tiếp.

“Theo đại thế trước mắt, nước Tần xứng danh là hổ dữ phía tây, còn nước Tề là sư tử phía đông. Một hổ một sư tử, trước là Hà Tây, sau là Mã Lăng, thay nhau ra đòn vật ngã con trâu ngu ngốc là Ngụy. Than ôi, con trâu già Ngụy Vương quả là ngu đần, mang trong mình một quả tim lợn, vết thương chưa khỏi đã quên ngay đau đớn, nay lại tin theo lời lừa phỉnh của gã lưỡi dài Trương Nghi, chắp cánh cho hổ, gầy ra màn kịch lớn của thiên hạ, sư hổ giao tranh. Đã là màn kịch lớn của thiên hạ, cớ sao đại nhân lại không giống như tại hạ, mang theo một tấm đệm êm, tìm lấy một vị trí tốt, bày sẵn một chén trà, phẩy quạt ba tiêu, khểnh chân ngồi xem náo nhiệt?” Trần Chẩn nói đoạn, lại nhấp một ngụm trà nữa.

Lời của Trần Chẩn, hợp tình hợp lý, Chiêu Dương nghe đã lọt tai, trầm ngâm hồi lâu, rồi cười nói: “Trần huynh nhàn nhã ngồi xem thì hay đấy, chứ bảo kẻ võ biền thô lỗ chỉ quen múa thương đánh gậy như tại hạ đây ngồi xem diễn kịch, thì thật là bứt rứt lắm.” Đoạn nhoài người về trước, hạ thấp giọng hỏi, “Trần huynh, theo như huynh đoán, kết cục của màn kịch ồn ào này sẽ là hổ cắn sư hay sư cắn hổ?”

“Chuyện này phải xem ý trời!” Trần Chẩn chỉ lên trời, cười bí hiểm, “đại nhân có thể mời đại vu gieo một quẻ.”

Chiêu Dương bật cười, ngồi thẳng dậy: “Nếu mời đại vu, thì không tới lượt tại hạ. Có điều, không phải Trần huynh cứ bắt tại hạ ngồi xem kịch mãi chứ? Hơn nữa, chuyện lớn thế này, đại vương sẽ nghĩ thế nào? Nếu đại vương hỏi đến...”

“Nếu không ngoài dự đoán, suy nghĩ của Sở Vương cũng giống như tướng quân, muốn thu hồi Thương Ư!”

“Nếu là vậy, tại hạ sẽ phải ứng phó ra sao?”

“Chẩn đã nói rõ rồi, bình tâm tĩnh khí, xem sư hổ giao tranh. Nếu hổ thắng, người Sở sẽ trút được mối hận Hạng Thành; nếu sư tử thắng, đại vương có thể khởi quân tinh nhuệ, cắn vào sau lưng hổ, thu hồi Thương Ư.”

Chiêu Dương lấy làm phấn chấn, nhìn thẳng vào Trần Chẩn: “Nếu đều không thắng thì sao?”

“Thì sẽ thưởng thức một màn kịch không có kẻ thắng.”

Chiêu Dương phá lên cười ha hả.

“Nghe nói Sính Đô vừa xảy ra một chuyện lớn, e rằng đại nhân sắp cười không nổi!” Trần Chẩn liếc Chiêu Dương một cái, rồi lại uống trà.

“Chuyện gì?” Chiêu Dương giật mình, thu lại cười, trợn mắt nhìn Trần Chẩn.

“Con gái Trịnh Khắc là Trịnh Tụ đã được Ngận Thượng dâng lên đại vương, nghe nói với đại vương đã như hình với bóng!”

“Thế thì có sao?” Chiêu Dương hiển nhiên đã biết chuyện này, cười nhạt, “một đứa con gái, có thể làm gì được ta?”

“Được rồi,” Trần Chẩn rót trà, đẩy một chén cho Chiêu Dương, “nào, chúng ta cùng thưởng trà.”

Ngày thứ ba sau khi hỏi han Trần Chẩn kế sách, Chiêu Dương nhận được chiếu của Hoài Vương, từ Hạng Thành về thẳng Sính Đô.

Do đã được Trần Chẩn nhắc nhở, Chiêu Dương không vội vã vào cung ngay, mà về phủ trước, triệu tập người nhà lại hỏi thăm mọi chuyện trong cung, đặc biệt là chuyện về Trịnh Tụ. Hậu cung nước Sở quá rộng, chỉ riêng biệt cung đã có hơn chục chỗ, dường như ngày nào cũng có con gái thường dân được tuyển vào cung, do vậy người nhà họ Chiêu chẳng ai để ý tới đám thiếu nữ nhập cung cả. Chiêu Dương hỏi thăm một chốc, thấy mọi chuyện đều bình thường, lấy làm yên tâm, buổi sáng hôm sau dậy sớm vào cung yết kiến.

Khi Chiêu Dương cầu kiến, Hoài Vương đang nghe đàn, chính là do Trịnh Tụ gảy, tiếng đàn bi thiết thê lương.

Số phận quả thực trêu ngươi, Chiêu Dương đã chọn đúng một ngày không nên nhất, chính là ngày thành Tương Lăng thất thủ tròn một năm, cũng là ngày giỗ đầu của cha con Trịnh Khắc.

Ngày này, người khác không ai nhớ, ngay Chiêu Dương cũng sớm đã quên rồi, song Trịnh Tụ nhớ rõ. Không những nhớ, mà còn khắc cốt ghi tâm.

Ngay từ sớm tinh mơ, gà còn chưa gáy, Trịnh Tụ đã nằm khóc trong chăn. Hoài Vương nghe thấy tiếng khóc mà tỉnh giấc, quay sang nhìn, thấy nàng vẫn đang nhắm mắt ngủ, nghĩ rằng hẳn là nàng đang gặp phải giấc mộng thương tâm.

Hoài Vương có ý trêu đùa, cố tình không gọi nàng dậy, chỉ nằm im mà nhìn, chờ xem nàng có nói mơ không. Song Trịnh Tụ chỉ khóc, nước mắt thấm ướt nửa bên gối, mà không thốt một câu nào.

Hoài Vương lấy làm cụt hứng, bèn ngồi dậy mặc áo, ra ngoài luyện kiếm.

Hoài Vương luyện kiếm nửa canh giờ, mồ hôi nhễ nhại quay vào, thấy Trịnh Tụ vẫn nằm, khoé mắt đẫm lệ. Hoài Vương mới lấy làm lạ, nhấc đầu nàng dậy, cho gối lên đùi mình.

Hiển nhiên, Trịnh Tụ sớm đã tỉnh dậy.

Biết là Hoài Vương, Trịnh Tụ trở mình, úp mặt vào đùi Hoài Vương.

“Tụ Nhi,” Hoài Vương khe khẽ vỗ về nàng, “hãy nói xem, nàng mơ thấy gì mà thương tâm làm vậy?”

“Thiếp quên rồi.” Trịnh Tụ khẽ đáp.

“Nhớ được bao nhiêu, cứ kể cho quả nhân nghe!” Hoài Vương khích lệ.

“Thần thiếp thực sự quên rồi!” Trịnh Tụ đáp.

“Vậy... hãy cười cho quả nhân xem nào.” Hoài Vương xoay người nàng lại, để mặt đối mặt với mình.

Trịnh Tụ không cười nổi, nước mắt lại đầm đìa.

“Tụ Nhi?” Hoài Vương bắt đầu lo lắng.

“Đại vương,” Trịnh Tụ ngồi dậy bước xuống, nhấc lấy hộp đàn mà nàng đã mang theo vào cung, “thần thiếp đàn cho đại vương một khúc, được chăng?”

“Đàn đi!” Hoài Vương nhìn nàng đăm đăm.

Trịnh Tụ bước tới trước giá đàn, ngồi ngay ngắn, tay đặt trên đàn bất động, nhìn sang Hoài Vương. Hoài Vương tiến lại bên chiếu, sửa ngay vạt áo ngồi xuống, sai cung nữ châm vài cây hương, khép mắt ngưng thần.

Trịnh Tụ bắt đầu đưa tay gảy, chính là khúc nhạc mà nàng đã đàn trên lầu cổng thành Tương Lăng ngày này năm trước. Trịnh Tụ vừa gảy vừa nhỏ lệ, nước mắt rơi xuống, từng giọt từng giọt, rớt xuống dây đàn, theo nhịp ngân nga mà bắn tung vụn vỡ.

Hoài Vương càng nghe lại càng chấn động. Hoài Vương là người hiểu nhạc, song điệu nhạc Trịnh Tụ đang gảy lại hoàn toàn không có khúc điệu, chỉ có đau thương và tuyệt vọng. Hoài Vương nghe rồi, bất giác cũng ứa lệ.

Trịnh Tụ vẫn gảy, tiếng này tiếp tiếng kia, khúc này nối khúc khác, từ lúc mặt trời mọc cho đến khi lên cao ba con sào, ngón tay không dừng lấy một chốc.

Hoài Vương cũng ngồi bất động, nước mắt đầm đìa, nghiêm trang lắng nghe.

Đã tới giờ vào chầu buổi sáng.

Đã quá giờ vào chầu buổi sáng.

Quần thần đợi mãi không thấy Hoài Vương, bèn sai Ngận Thượng đi mời.

Ngận Thượng đi theo nội thần tới hậu cung, từ xa đã nghe thấy tiếng đàn bi thiết ai oán, biết ngay người đàn là Trịnh Tụ, cũng nhớ ngay hôm nay là ngày gì.

Ngận Thượng rảo bước tiến lại gần.

Trịnh Tụ vẫn đàn, Hoài Vương vẫn nghe. Ngận Thượng khẽ thở dài, sai nội thần truyền cho triều thần nghỉ chầu, còn mình đứng ở ngoài cửa chờ, một là đề phòng người ngoài quấy rầy, hai là đề phòng Trịnh Tụ quá đỗi đau thương mà nói lộ ra chuyện Tương Lăng, làm lỡ đại sự.

Image

TRANH CAO THẤP, H ĐỐI TRẬNQUYẾT THẮNG BẠI, ANH HÙNG ĐẤU MƯU

Quân Tần thuận lợi đi qua nước Hàn, tiến vào nước Ngụy, hạ trại tại nơi đã được chỉ định ngoài thành Đại Lương. Trương Nghi lấy danh nghĩa Ngụy Vương khao thưởng quân Tần ba trăm con lợn sống, ba trăm con dê sống, một trăm gánh cá tươi, một nghìn thạch thóc, ba trăm xe cỏ ngựa, một nghìn thạch thức ăn cho ngựa. Trương Nghi lại lấy danh nghĩa tướng quốc, cho quân Tần mượn năm nghìn thạch thóc, cộng thêm cỏ ngựa. Gộp hai khoản này lại, nếu dùng tiết kiệm, cũng đủ cho ba quân cầm cự khoảng một tháng.

Huệ Vương và Ngụy Tự tuy xót ruột, song cũng không thể nói gì. Thứ nhất, người Tần vì Ngụy mới viễn chinh, thứ hai, số quân nhu này chỉ là cho nước Tần “vay” mà thôi.

Khao quân xong xuôi, Trương Nghi đã được rảnh rỗi, bèn sai những người Ngụy đi cùng về trước, còn mình và chủ tướng quân Tần Tư Mã Thác dắt tay nhau vào đại trướng trung quân nước Tần, uống rượu bàn việc quân. Bồi tiếp còn có hai viên phó tướng, công tử Hoa và Xa Vệ Quốc.

Qua ba tuần rượu, Tư Mã Thác đặt chén xuống, nhìn Trương Nghi cười nhăn nhó: “Tướng quốc đại nhân, đại nhân đang đặt tại hạ lên lửa nướng rồi đấy!”

“Cớ sao tướng quân lại nói vậy?” Trương Nghi vòng tay hỏi.

“Không giấu tướng quốc, lần viễn chinh này, tại hạ quả thực tâm tư nặng trĩu.”

“Tướng quân sợ bại trận ư?”

“Không phải. Tuy rằng tại hạ vô tri, song cũng hiểu được, trên đời này vốn không có tướng quân trăm trận trăm thắng.”

“Nếu là vậy, tướng quân cớ sao phải tâm tư nặng trĩu?”

“Than ôi,” Tư Mã Thác thở dài đánh sượt, “tại hạ có ba tâm sự. Thứ nhất là lần này xuất chinh, đại vương không có ý tử chiến. Thứ hai, cô quân viễn chinh, trong khi đối thủ là quân năm đô nước Tề đã hai lần đánh bại võ binh Đại Ngụy, giết chết Bàng Quyên, ba quân tướng sĩ tuy không nói ra, nhưng trong lòng vẫn e dè. Thứ ba, năm vạn hán tử mà tại hạ dẫn theo, đều là nhuệ binh hạng nhất, tại hạ không thể thua được!”

Trương Nghi bật cười, ngả người về trước, nhìn thẳng vào Tư Mã Thác: “Nghe lời này của tướng quân, hẳn là muốn toàn thắng người Tề!”

“Đã xuất chinh, ắt phải toàn thắng!” Tư Mã Thác thu lại tâm tư, ôm quyền thật chặt, cất giọng kiên định.

Trương Nghi lại bật cười vài tiếng, ngôi thẳng người dậy, lắc đầu.

“Ồ?” Tư Mã Thác thấp thỏm.

“Tướng quân không được thắng!”

“A...” Tư Mã Thác trợn mắt há miệng, nhìn sang công tử Hoa và Xa Vệ Quốc, thấy hai người cũng ngẩn tò te, thì lại quay nhìn Trương Nghi, “tướng quốc đại nhân lẽ nào lại... muốn... muốn tại hạ thua?”

“Cũng không được thua!” Trương Nghi lại lắc đầu.

Ba người Tư Mã Thác lại một phen ngơ ngác, đưa mắt nhìn nhau.

Nhìn bộ dạng của ba người, Trương Nghi phá lên cười lớn, rồi chầm chậm nâng chén rượu lên, “chư vị tướng quân, vì nhuệ binh Đại Tần viễn chinh nước Tề không thắng, không bại, cạn chén!”

Nói đoạn, một hơi uống cạn.

Ba người không ai nâng chén, đến công tử Hoa vốn hiểu rõ nội tình cũng như lạc trong sương mù.

“Uống đi chứ!” Trương Nghi đưa mắt nhìn, vừa như khích lệ vừa như thúc giục, bộ dạng tràn đầy tự tin.

Công tử Hoa, Xa Vệ Quốc cạn chén trong hồ nghi, chỉ có Tư Mã Thác vẫn cầm chén bất động.

“Tư Mã tướng quân?” Trương Nghi chìa chén rỗng về phía Tư Mã Thác.

“Trước khi tướng quốc đại nhân chịu nói ra diệu kế viễn chinh, chén rượu này, tại hạ không dám uống!” Tư Mã Thác dứt khoát đặt lại chén rượu xuống án.

“Được thôi,” Trương Nghi đặt chén không xuống, nhìn thẳng vào Tư Mã Thác, “tại hạ hỏi tướng quân, liệt quốc phương đông không ai không coi Tần là sài lang, mà giờ đây, đội quân lang sói vượt đường xa chinh phạt Tề, tướng quân có dám chiến thắng?”

“Nếu tướng quân chiến thắng, không những không thu được chút lợi ích nào từ chiến thắng, mà tiếng xấu của tướng quân sẽ truyền khắp liệt quốc, liệt quốc vốn đã coi Tần là lang sói, giờ thấy quân Tần hung hãn nhường vậy, đánh bại cả đại quân Tề đã từng chiến thắng Bàng Quyên, sẽ khiếp hãi mà co thành một đám, chạy cả về dưới lá cờ hợp tung của Tô Tần, cùng chung mối thù. Lúc đó, chuyện khác không nói, riêng việc năm vạn nhuệ binh của tướng quân muốn quay về quê hương, e là cũng khó!”

Tư Mã Thác hít ngược một hơi khí lạnh.

“Còn vì sao tướng quân cũng không được thua, tại hạ không cần phải nói nữa!” Trương Nghi khép mắt lại.

Tư Mã Thác đã phục, ôm quyền nói: “Tạ ơn đại nhân chỉ rõ mối ngờ!”

“Chư vị tướng quân,” Trương Nghi mở mắt, nhìn sang ba người, “lần này phạt Tề, không phải đánh thật, chỉ để làm vì. Tại hạ không cần chư vị phải quyết sống mái với người Tề, mà chỉ cần hù doạ người Tề một phen, để khích lệ người Ngụy, nhất là khích lệ Ngụy Vương. Nếu không...” chỉ vào mũi mình, “tại hạ sẽ khó bề yên ổn.” Nói đoạn, rót rượu vào chén cho mọi người, “đã khiến chư vị phải vất vả để trợ giúp tại hạ, cạn!”

Mấy người đã giải toả được mối hồ nghi, đều nâng chén uống cạn.

“Hãy nói xem, phải giúp tướng quốc như thế nào?” Tư Mã Thác đặt chén rượu xuống, cười hỏi.

“Chư vị hãy xem,” Trương Nghi lấy từ trong ngực áo ra một tấm bản đồ vẽ trên vải gai, trải lên mặt án, chỉ vào một đường màu đen, “ba quân có thể hành quân theo đường này, qua nước Tống, men theo con đường mà Chiêu Dương nước Sở đã tiến quân đông chinh trước đây, tiến thẳng tới biên giới Tề. Có điều, không phải là vây Tiết, mà là từ chỗ này,” chỉ vào đất Lỗ, “vờ như muốn tiến lên phía bắc, thẳng tới Lâm Truy. Người Tề ắt khởi ba quân nghênh chiến, hai bên có thể dàn trận tại nước Lỗ.”

“Vì sao lại chọn đất Lỗ?” Xa Vệ Quốc băn khoăn.

“Có bốn nguyên do.” Trương Nghi nhìn sang Xa Vệ Quốc, “thứ nhất, để cho kẻ bỏ cuộc giữa chừng là người Sở xem, cho họ chứng kiến nhuệ binh Đại Tần phạt Tề ra sao; thứ hai, để cho người Tề xem, cho họ thấy rõ quân Đại Tần tuy nói là phạt Tề, song lại không hề đặt chân vào lãnh thổ của họ; thứ ba, để cho thiên hạ xem, nước Lỗ là đất lễ nghi, quân Đại Tần xuất binh qua Lỗ là chinh phạt kẻ bất nghĩa bất lễ; thứ tư, để đảm bảo hậu phương. Tại hạ đã bàn với Tống Vương, biến đất Tống thành phúc địa của ta. Hai bên dàn trận ở đất Lỗ, ta tiến có thể công Tề, lùi có thể vào Tống, còn người Tề nếu đuổi theo vào Tống, sẽ phải kiêng dè người Tống.”

“Ồ,” Xa Vệ Quốc càng lấy làm khó hiểu, “nước Lỗ đã là đất lễ nghi, chúng ta lại lựa chọn giao chiến ở đất lễ nghi, sao lại nói là chinh phạt bất nghĩa được?”

Trương Nghi cười vang: “Đây chính là điều mà tại hạ muốn chư vị phải làm.” Tự rót một chén uống cạn, “lần này xuất binh, khác với bình thường, cho dù là qua nước Tống hay qua nước Lỗ, chư vị đều phải kỷ cương nghiêm minh, tỏ rõ uy nghi của Đại Tần. Liệt quốc Sơn Đông đều coi nước Tần là nước sài lang, coi quân Tần là quân sài lang, lần này xuất chinh, vừa hay là cơ hội tự chứng tỏ mình, các vị cần phải làm cho tốt, để họ thế nào là đội quân chính nghĩa, thế nào là đội quân lễ nghi! Cụ thể, chư vị không được quấy nhiễu dân, không được thất lễ, không được thất nghĩa, hành quân bố trận, đều phải tuân theo quy củ, ra ngoài doanh trại, phải nghiêm trang chỉnh tề. Tống Quân, Lỗ Quân, tại hạ đều đã nói trước cả rồi. Các nước lưu vực sông Tứ xưa nay luôn bị người Tề ức hiếp, không ai không oán hận người Tề, cũng đều hiểu rõ người Tần không cần đất đai cây cỏ của họ. Ngược lại, với nhu cầu cung ứng quân nhu, chính là nguồn lợi hiếm có cho buôn bán, bởi vậy, chắc chắn họ sẽ không làm khó chư vị.”

Thấy Trương Nghi tính toán chu toàn, ba người vô cùng thán phục, ôm quyền mà nói: “Tướng quốc cao mưu, mạt tướng cung kính tuân mệnh!”

“Hàn Vương thực đáng hận!” Hay tin người Tần đã thuận lợi băng qua đất Hàn vào tới đất Ngụy, Tề Tuyên Vương vô cùng giận dữ, đấm mạnh xuống án, “người Ngụy phạt hắn, quả nhân quyết tử ứng cứu. Mà nay người Tần phạt ta, hắn đã không cứu thì chớ, lại còn cho mượn đường.”

“Than ôi,” Điền Anh vừa như than thở, vừa như biện bạch cho Hàn Vương, “người Tần muốn mượn, Hàn Vương đâu dám không cho mượn. Chuyện quan trọng bây giờ là, chúng ta phải ngự địch thế nào?”

“Than ôi,” Tuyên Vương cũng thở dài, “nếu như biết được phải ngự địch thế nào, thì quả nhân đã...”

“Điền Kỵ tướng quân có tin tức gì chăng?”

“Ái khanh đoán đúng, Điền Kỵ không chịu quay về!” Tuyên Vương rầu rĩ đáp, “đã được Sở Vương phong quân, đang ở Kiềm Tây. Khi sứ thân vào gặp, ông ta đang chuẩn bị lên đường. Sứ thân nói hết nước hết cái, song ông ta dứt khoát không chịu!”

“Phải rồi,” Điền Anh tiếp lời, nhìn sang Tuyên Vương, “thần phụng vương mệnh, lệnh cho trưng dụng hơn mười vạn quân năm đô ứng chiến, sáu vạn tới đại doanh tại A Thành, sáu vạn tới Lâm Truy, đợi vương mệnh để ngự địch! Song, thần nghe nói, binh sĩ tìm đủ mọi lý do thoái thác, thậm chí không tiếc tiền bạc mua chuộc phủ tư đồ, không muốn trưng binh!”

“Ồ?” Tuyên Vương ngỡ ngàng, “vì sao kia?”

“Nghe đồn quân Tần là quân lang sói, hễ lâm trận là bất chấp sống chết xông lên, chạm mặt là cắt tai!”

“Há có lý này?” Tuyên Vương giận dữ, “ra trận chính là lao vào chỗ chết, thì còn sợ gì cắt tai?”

“Đúng thế. Nhưng tin đồn không chỉ có vậy. Nghe nói, người Tần không giống võ binh Đại Ngụy, tai của ai cũng cắt hết, tai người chết cũng cắt, tai người sống cũng cắt, tai người cầm thương cũng cắt, tai người không cầm thương cũng cắt, tai người tử trận cũng cắt, đến tai người đầu hàng cũng cắt... Họ không cần gì hết, chỉ cần có tai!”

“A... tin đồn này ở đâu ra?” Tuyên Vương sửng sốt.

“Là người Ngụy đồn như vậy. Trong trận chiến Hà Tây, không ít người Ngụy đã vứt bỏ binh khí, quỳ xuống đầu hàng, nhưng người Tần mặc kệ, vẫn một tay đâm người, một tay cắt tai trái. Số ít may mắn sống sót, cũng chỉ còn lại một bên tai phải mà thôi!”

“Cầm thú!” Tuyên Vương ghê sợ, siết chặt nắm tay, một chốc sau, nhìn sang Điền Anh, “Anh đệ, chúng ta không còn đường lui nữa. Việc cấp bách hiện tại là chọn ra chủ tướng. Tắc Hạ quy tụ anh tài thiên hạ, có thể đề bảng tìm hiền tài.”

“Thần tuân mệnh!”

Điền Anh về phủ, sai người viết cáo thị, dâng lên Tuyên Vương đóng ấn tỷ, rồi mang treo ở Tắc Hạ.

Tắc Hạ trên dưới sục sôi.

Ngày thứ ba sau khi Tuyên Vương yết bảng, Tô Tần về tới Tắc Hạ.

Tô Tần đứng lẫn trong đám đông vây quanh cáo thị.

Hịch văn là một tấm gỗ được đẽo tạc công phu, đại khái viết rằng, phàm là nhân tài có sách lược trị quân, có thể làm chủ tướng ba quân chống lại cường Tần, sẽ phong tướng ban hầu.

Bảng yết đã ba ngày, vô số người đến đọc, song không một ai dám gỡ. Không phải Tắc Hạ không có người, mà là làm chủ tướng ba quân chống lại cường Tần là việc quá ư trọng đại. Cái đầu của mình là việc nhỏ, mà ba quân vài vạn binh mã đều trông cả vào một người, không ai dám khinh suất gánh lấy trọng trách đó. Các học giả dù có tài biện thiên luận địa, song muốn họ gánh vác tính mạng của vài vạn sinh linh, quả là quá sức.

Đứng nhìn một hồi, Tô Tần chưa trở về trạch phủ ngay, mà bảo Trâu Phi Đao đánh xe thẳng tới trạch phủ của Khuông Chương nằm tận ngoại ô.

Trạch phủ của Khuông Chương nằm kề bên bờ Truy Thuỷ, rộng hơn chục mẫu, cây cối tốt tươi, thanh u an tĩnh.

Tô Tần men theo đường mòn đi tới tận cùng, thấy phía trước có một khu nhà ba dãy, đều là nhà tranh vách đất.

Cổng gỗ khép chặt.

Tô Tần gõ cửa, phu xe kiêm nô bộc của Khuông Chương bước ra, thấy là Tô Tần, liền đón vào, dẫn tới thư phòng của Khuông Chương.

Thư phòng ở dãy sau cùng, qua cửa sổ có thể nhìn thấy sông Truy Thuỷ. Cửa phòng mở toang, Tô Tần phẩy tay ra hiệu cho nô bộc, rồi tự mình bước vào.

Khuông Chương vẫn ngồi im trước án, hai bó thẻ tre bày trước mặt. Tô Tần vừa nhìn đã biết ngay là của Tôn Tẫn. Thẻ tre đều đang cuộn lại.

Khuông Chương đang chìm trong suy tư, như thế không nhìn thấy người mới tới. Tô Tần ngồi xuống trước mặt Khuông Chương, hồi lâu sau, mới khẽ ho lên một tiếng.

Khuông Chương mở choàng mắt, thấy là Tô Tần, vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ: “Tô đại nhân!”

Tô Tần vòng tay cười nói: “Quấy quả Khuông Tử rồi!”

Khuông Chương đáp lễ, cười ngượng nghịu: “Tại hạ... cứ ngỡ là nô bộc đưa trà nước tới, nên đón tiếp chậm trễ!”

Tô Tần nhìn vào hai bó thẻ tre: “Xem ra Khuông Tử đã thuộc nằm lòng!”

“Lời lời châu ngọc!” Khuông Chuơng cảm khái, “chỉ tiếc tại hạ ngu độn, ngày ngày nghiền ngẫm, chẳng qua mới chỉ ghi nhớ được câu từ, còn lâu mới có thể nhập tâm, hội ý như Tô đại nhân yêu cầu!”

“Nghe Khuông Tử nói vậy, tại hạ đã yên tâm rồi!” Tô Tần cầm lấy thẻ tre, trải ra, rồi lại cuộn vào, mỉm cười nhìn Khuông Chương chăm chú.

“Tô Tử tới đây, hẳn vì nước Tần?” Khuông Chương đi thẳng vào đề.

“Chính phải.” Tô Tần ánh mắt cương nghị, “trận chiến này, ta buộc phải thắng!”

“Phải!” Khuông Chương gật đầu, “lúc Tô Tử bước vào, tại hạ cũng đang nghĩ cách chống Tần.”

“Đã nghĩ ra chưa?”

“Chưa được kỹ lưỡng.”

“Nói thử xem.”

“Theo lời quân sư nói, dụng binh cốt ở kỳ, cốt ở động, cốt ở đánh vào chỗ buộc phải cứu. Dù là Tôn Vũ Tử phạt Sở, hay quân sư đánh Ngụy, cũng đều dùng sách lược này.” Khuông Chương nhìn vào hai cuốn binh thư.

“Khuông Tử muốn chống Tần theo sách lược này ư?” Tô Tần hỏi.

“Không phải.” Khuông Chương lắc đầu, “nếu tại hạ chống Tần, chính là làm trái với đạo của quân sư.”

“Ồ?” Tô Tần nhìn thẳng vào Khuông Chương.

“Bởi tình thế khác nhau.” Khuông Chương khép mắt, giống như đang đọc thuộc lòng, “khi Tôn Vũ Tử phạt Sở, Sở mạnh Ngô yếu; khi quân sư đánh Ngụy, Ngụy mạnh Tề yếu. Quân Ngô tập kích Sở, dùng đến xe nhẹ, di chuyển mau lẹ, có lợi cho bôn tập đường xa. Quân sư đánh Ngụy, dùng đến kỵ binh, xuất quỷ nhập thần, có lợi cho tạo thế. Bất luận là Tôn Vũ đánh Sở hay quân sư đánh Ngụy, đều là viễn chinh nước khác, chiến trường ở ngoài biên giới. Quân viễn chinh, nên động không nên tĩnh. Nay đánh Tần, tình thế khác hẳn, là người Tần viễn chinh phạt ta, chiến trường trong nước ta, sách lược của quân sư, sẽ hợp cho người Tần.” Nói đến đây thì dừng lại, dường như đang cân nhắc câu từ.

“Nói tiếp đi!” Tô Tần đang nghe nhập tâm, sốt sắng thúc giục.

“Sách lược của tại hạ là, hai bên đối trận, kìm chân người Tần!”

“Kìm chân thế nào?”

“Theo như lời quân sư, hai bên giao chiến, kẻ mạnh sẽ tĩnh, kẻ yếu sẽ động. Tĩnh thì dàn trận, động thì bôn tẩu; mạnh thì dùng chính; yếu thì dùng kỳ; chính thì đánh; kỳ thì lánh. Người Tần đánh bại quân Ngụy ở Hà Tây, chỉ một trận mà chinh phục Ba Thục, đánh lui sáu nước ở Hàm Hào, chế ngự Sở ở Thương Ư, nay lại viễn chinh phạt ta, tất ỷ mạnh. Ý mạnh ắt sẽ tĩnh, ắt sẽ dùng chính, ắt sẽ dàn trận, ắt sẽ đánh. Người Tần nếu dàn trận, nếu dùng chính, sẽ hợp với mưu của ta. Ta có thể bày trận kiên cố, kéo dài thời gian khiến họ mệt mỏi. Người Tần xa lìa quê hương, ta càng kéo dài, người Tần càng nôn nóng bất an. Nôn nóng sẽ vội vàng, vội vàng sẽ khó chu toàn, khó chu toàn sẽ sơ hở, sơ hở sẽ nguy.”

Tô Tần kính phục, vòng tay nói: “Nghe lời này của Khuông Tử, biết rằng đã nắm được yếu lĩnh của quân sư, Tề đã chắc thắng rồi!” Đoạn đứng ngay dậy, “sự việc cấp bách, xin Khuông Tử hãy theo tại hạ tới gặp đại vương!”

‘Tạ ơn đại nhân cất nhắc!” Khuông Chương vòng tay nói.

“Mang theo thứ kia!” Tô Tần chỉ vào hai bó thẻ tre.

“Khuông Chương?” Tề Tuyên Vương nheo mắt lại, nhìn chằm chằm vào Tô Tần, “viễn chinh bôn tập Hạng Thành, đánh rất hay, thế nhưng... thống lĩnh ba quân, đối trận với tướng Tần Tư Mã Thác...” Dừng lại nửa chừng, lại nheo mắt hỏi, “Tô Tử cớ sao lại tiến cử người này?”

Điền Anh cũng đầy vẻ hồ nghi, nhìn sang Tô Tần.

‘Theo Tần biết,” Tô Tần cất giọng điềm tĩnh, “trong thiên hạ ngày nay, người có thể đối địch với Tư Mã Thác và năm vạn quân Tần, ngoài Tôn Tẫn ra, chỉ còn Khuông Tử! Tôn Tẫn đã không thể cầu, chỉ còn Khuông Tử mà thôi, không còn ai khác!”

Tô Tần ngữ điệu bình thản, song lời nói hết sức khoa trương, tiến cử một vị tướng mới chỉ làm phó tướng ba quân có một lần, hơn nữa còn bị đàm tiếu khắp trong triều ngoài nội, thống lĩnh một trận chiến không tiền khoáng hậu quyết định vận mệnh tương lai của nước Tề, thực khiến Tuyên Vương và Điền Anh bàng hoàng sửng sốt.

Đổi là bất cứ ai khác tiến cử, dù có là Điền Anh, Tuyên Vương cũng sẽ không chút đắn đo mà từ chối thẳng thừng. Tuy nhiên, người tiến cử lại là Tô Tần, hơn nữa ngữ khí lại kiên định nhường kia!

Tề Tuyên Vương hai tay ôm đầu, vò thật mạnh, từ đỉnh đầu vò xuống tận trán, đến mặt, đến tai, cuối cùng nắm chặt vành tai, ngẩng đầu nhìn sang Tô Tần, không thốt một lời, chỉ dùng ánh mắt để cật vấn.

“Sở dĩ thần tiến cử, bởi Khuông Chương là đệ tử của Tôn Tẫn, đã nhận được chân truyền của Tôn Tẫn!” Tô Tần nói ra nguyên do.

Tuyên Vương hai mắt sáng rực, song Điền Anh rõ ràng không tin.

“Đệ tử của Tôn tướng quân?” Điền Anh giọng đầy hồ nghi, “thế thì lạ quá, theo Anh được biết, trong trận chiến cứu Triệu, Khuông Chương chỉ là viên tướng bình thường. Trong trận chiến cứu Hàn, Khuông Chương tuy đã thăng làm phó tướng, nhưng cũng chỉ là đợi mệnh ngoài trướng, quân sư chưa từng dạy gì cho Khuông Chương, cũng rất ít trò chuyện với người này, chỉ bàn việc quân với Điền tướng quân mà thôi, tất cả mệnh lệnh cũng đều do Điền tướng quân ban bố, nếu nói là đệ tử, thì...” Điền Anh rõ ràng không tin.

Tề Tuyên Vương nhìn sang Tô Tần.

“Có phải hay không, đại vương cớ sao không gọi Khuông Tử đến hỏi?” Tô Tần đáp.

“Khuông Tử đang ở đâu?” Tề Tuyên Vương nhìn sang Điền Anh.

“Khuông Tử đang ở ngoài điện, trong phòng chờ chỉ!” Tô Tần đáp lời.

“Có lời mời Khuông Tử!” Tuyên Vương tuyên triệu.

Nội thần đi ra, quả nhiên đến ngoài cửa cung, thấy Khuông Chương đang ở đó chờ chỉ, bèn dẫn vào yết kiến.

Khuông Chương xách theo một tay nải, khi quỳ xuống khấu đầu, còn cẩn thận đặt tay nải sang bên cạnh.

“Khuông tướng quân, trong kia đựng gì?” Tề Tuyên Vương không nén nổi tò mò, chưa kịp mời ngồi, đã chỉ ngay vào tay nải hỏi.

Khuông Chương mở tay nải, rút ra hai bó thẻ tre, trải ra, trên tấm thẻ tre đầu tiên của bó thứ nhất, rành rành bốn chữ “Tôn Tử binh pháp”; trên bó còn lại là bốn chữ “Tẫn nhân thuyết chiến”.

“Tôn Tử binh pháp’? Tẫn nhân thuyết chiến’?” Tề Tuyên Vương nửa như tự nhủ, nửa như muốn hỏi, “hẳn do quân sư viết?”

“Chính phải!” Khuông Chương đáp, “quân sư đã đúc kết yếu quyết dụng binh mà viết ra hai cuốn sách này, nhờ Tô đại nhân trao lại cho mạt tướng, căn dặn mạt tướng nghiền ngẫm cho kỹ, dốc sức vì nước.” Đoạn hai tay nâng hai cuốn thẻ tre trình lên, “đây chính là thủ bút của quân sư, xin đại vương ngự lãm!”

Nội thần đón lấy, dâng lên Tuyên Vương. Tuyên Vương vô cùng kích động, đọc lướt qua một lượt, nhìn sang Khuông Chương: “Khuông tướng quân hẳn đã nghiền ngẫm kỹ?”

“Mạt tướng lo sợ phụ lời uỷ thác của quân sư, từ lúc có sách, ngày đêm miệt mài nghiên cứu, không dám xao nhãng chốc lát.”

“Đại vương,” Điền Anh cười, “hãy mời tướng quân ngồi đã!”

“Phải, phải!” Tề Tuyên Vương lúc này mới nhớ ra lễ tiết, vội vã đứng dậy, bước lại bên Khuông Chương, đỡ dậy, dẫn đến chỗ ngồi, đưa tay ấn xuống vai, giọng đầy cảm kích, “không giấu tướng quân, suốt ba ngày nay, quả nhân ăn không ngon, ngủ không yên, ngày đêm cầu khấn trời xanh,” quay lại chỗ ngồi, “giờ thì, trời xanh đã rủ lòng thương xót, đưa tướng quân tặng cho quả nhân!”

Mọi người có mặt đều cười.

Khuông Chương vòng tay nói: “Đại vương hậu ái, mạt tướng dù thịt nát xương tan, cũng không đủ báo đáp!”

Tuyên Vương phá lên cười lớn, đưa mắt nhìn khắp lượt quần thần, “quả nhân văn có Tô ái khanh, Điền ái khanh, võ có Khuông tướng quân, còn gì phải ưu phiền nữa?” Lại kéo dài giọng, “còn gì phải ưu phiền nữa?”

Vua tôi bốn người lại cười, rồi bắt đầu bàn chuyện dùng binh, chuyện lương thảo, trù hoạch mưu tính suốt hai canh giờ, trước tài thao lược mà Khuông Chương chứng tỏ trong khi ứng đối, Tuyên Vương, Điền Anh không còn nghi ngờ gì nữa. Thấy sắc trời đã muộn, Tuyên Vương bày tiệc, vua tôi đều hân hoan.

Qua ba tuần rượu, Tuyên Vương nhìn chăm chú vào Khuông Chương: “Khuông tướng quân, để tướng quân cầm quân chống Tần, mười vạn nhuệ binh được chăng?”

“Nghe nói người Tần có năm vạn, nếu thần xuất quân đông hơn, há chẳng phải cậy đông hiếp ít ư?” Khuông Chương đáp.

“Ồ!” Tuyên Vương kinh ngạc nhìn sững vào Khuông Chương.

“Trước đánh bại người Ngụy ở Hà Tây, sau đẩy lui quân hợp tung ở Hàm Cốc, tướng quân không thể xem thường!” Thấy Khuông Chương quá tự tin, Điền Anh lo lắng ra mặt, “người Tần không phải là người Ngụy, nghe nói họ vì muốn cắt tai mà bất chấp cả sống chết!”

“Chuyện này không đáng tin,” Khuông Chương nhìn sang Điền Anh, “trên thế gian này, không ai là không sợ chết, chỉ có tìm lợi tránh hại mà thôi. Mạt tướng đã tìm hiểu kỹ hai trận Hà Tây, Hàm Cốc. Trận Hà Tây, Tần thắng nhờ mưu gian; trận Hàm Cốc, Tần thắng nhờ may mắn. Nếu người Tần không phát hiện ra cầu băng của Trương Mãnh, rồi dùng lửa đốt cháy, thì đường Hàm Cốc đã là của Ngụy rồi. Người Ngụy có đường Hàm Cốc, Am Tấn ắt phá được, quân Tam Tấn cộng thêm quân Ngụy đã đột phá Hà Tây, người Tần tuyệt đối không có cơ thủ thắng! Còn cánh quân của Tư Mã Thác tập kích đột phá ải Hào, đối với Bàng Quyên mà nói, không đáng bận tâm!”

“Nói như vậy, tướng quân muốn dùng năm vạn nhuệ binh để đối trận với năm vạn quân Tần?” Anh mắt Tề Tuyên Vương đầy vẻ hồ nghi.

“Chính phải,” Khuông Chương đáp, “có điều, tại hạ có ba thinh cầu, mong đại vương ân chuẩn!”

“Tướng quân cứ nói!”

“Thứ nhất, năm vạn nhuệ binh phải do mạt tướng đích thân tuyển chọn, tướng soái ba quân phải do mạt tướng đích thần điều động, mạt tướng có quyền thưởng phạt!” Khuông Chương nhìn thẳng vào Tuyên Vương, dừng lại chờ đợi.

“Việc này, cứ theo tướng quân!” Tuyên Vương ân chuẩn.

“Thứ hai,” Khuông Chương nhìn vào cuộn thẻ tre trên án, “trong ‘Tôn Tử binh pháp’ viết rằng: ‘có những thành không nên đánh, có những đất không nên tranh, có lệnh vua không nên theo’. Mạt tướng trong khi dụng binh, nếu có chỗ nào làm trái vương mệnh, khẩn cầu đại vương chớ nghi ngờ!”

“Làm trái vương mệnh là sao kia?” Tuyên Vương nheo mắt hỏi.

“Thần cũng chưa biết. Tình thế nơi chiến trường, chớp mắt vạn biến, thần phải tùy cơ ứng biến, nếu việc nào cũng tấu thỉnh vương mệnh, e là lỡ mất thời cơ!”

“Cứ theo tướng quân!” Tuyên Vương dõng dạc đáp, nhìn sang nội thần, “soạn chỉ, Khuông Chương tướng quân trong lúc dụng binh, có quyền tùy cơ ứng biến, không nhất thiết việc gì cũng phải tấu thỉnh!”

“Thần tuân chỉ!” Nội thần bắt đầu soạn chỉ.

“Tạ ơn đại vương hậu ái!” Khuông Chương vòng tay nói, “thứ ba, cũng là điều quan trọng nhất, quân bị quân nhu như binh khí, lương thảo, cần điều tới đâu phải điều tới đó, cung ứng phải đầy đủ!”

“Điền tướng quốc?” Tuyên Vương nhìn sang Điền Anh, nhấn mạnh từng tiếng.

“Thần bảo đảm!” Điền Anh vòng tay đáp.

“Khuông tướng quân, tướng quân còn cần gì nữa chăng?” Tề Tuyên Vương nhịp ngón tay lên mặt án.

“Mạt tướng không cần gì nữa!” Khuông Chương dõng dạc đáp.

“Được lắm!” Tề Tuyên Vương nhấc ngón tay lên, nhìn thẳng vào Khuông Chương, “phải rồi, nghe nói tiên mẫu tướng quân cho tới nay vẫn chôn trong chuồng ngựa, có chuyện này chăng?”

“Thưa phải!” Khuông Chương trong lòng giật thột, gật đầu đáp.

“Chuyện này sao có thể?” Tề Tuyên Vương nhìn sang Điền Anh, cao giọng, “Điền ái khanh, hãy chọn một khoảnh đất đẹp, đợi tướng quân khải hoàn trở về, quả nhân sẽ làm chủ tế, dời mộ cải táng cho tiên mẫu tướng quân!”

“Thần tuân mệnh!” Điền Anh vòng tay.

“Đa tạ đại vương ban ơn!” Khuông Chương dập đâu nói, “mạt tướng khẩn cầu đại vương thu hồi mệnh lệnh!”

“Sao kia?” Tuyên Vương sửng sốt.

“Không phải mạt tướng không thể dời mộ cho tiên mẫu, mà là tiên phụ trước khi tạ thế chưa cho phép mạt tướng dời mộ. Mạt tướng chưa được lệnh của tiên phụ mà dời mộ tiên mẫu, chính là khinh thường tiên phụ. Mạt tướng không dám!”

“Thì ra là vậy!” Tuyên Vương nhìn sang Điền Anh, cảm khái mà nói, “than ôi, lời người đời quả là đáng sợ, lời đồn thổi của kẻ không rõ nội tình, càng không đáng tin!”

Hôm sau, trong buổi đại triều, Tuyên Vương tinh thần phấn chấn, ban chiếu nhiệm Khuông Chương làm chủ tướng, Điền Văn làm phó tướng, thái tử Địa làm giám quân, Điền Anh cai quản lương thảo, tuyển lựa năm vạn nhuệ binh của năm đô, xuất chinh ngự địch.

Theo cắt đặt của Trương Nghi, Tư Mã Thác dẫn ba quân men theo tuyến đường quân Sở đã đi qua khi phạt Tề lần trước, băng qua nước Tống về đông. Chính vào lúc người Tề, người Sở đều cho rằng người Tần muốn chiếm đất Tiết, thì quân Tần lại đột nhiên đổi hướng tiến lên phía bắc, áp sát đất Lỗ. Lỗ Công hiển nhiên đã có giao ước từ trước, không những không kháng cự, mà còn sai người mang lợn dê gà vịt tới khao quân.

Cùng lúc này, Khuông Chương sớm đã nhận được tin báo, cũng lệnh cho năm vạn quân chia đường tiến về phía bờ nam sông Tứ. Tả quân Tề gồm ba nghìn võ binh đụng độ với ba trăm nhuệ binh Tần đi trước dò đường tại phía tây bắc Khúc Phụ, kinh đô nước Lỗ, một trận giao tranh trực diện đã nổ ra tại Tang Khâu.

Thấy người Tần chỉ có ba trăm, trong khi quân mình đông gấp mười lần, tướng Tề cả mừng, truyền lệnh bao vây tiêu diệt. Quân Tần không còn đường thoát, chỉ biết dàn trận vòng tròn, liều chết kháng cự. Cuộc chiến bắt đầu từ giờ Ngọ, kéo dài suốt gần một canh giờ, quân Tề lần đầu tiên lĩnh giáo sự lợi hại của quân Tần, luân phiên tấn công năm đợt, vẫn không thể khiến trận quân Tần lay động mảy may. Mắt thấy viện binh của người Tần sắp tới, tướng Tề đành khua chiêng thu quân, kiểm đếm số thương vong, chết mất cả trăm, bị thương không dưới hai trăm.

Tướng Tề bẩm lại tình hình, Khuông Chương thất kinh, truyền lệnh ba quân hạ trại ở phía bắc Tang Khâu. Ba quân dựng ba cụm doanh trại hình vuông, giữa các cụm doanh trại cách nhau chừng hai tầm tên bắn, nhìn từ xa trông giống hình chữ phẩm.

Tư Mã Thác cũng lệnh cho quân Tần hạ trại ở phía nam Tang Khâu, ba quân cũng dựng ba cụm doanh trại, song không tách rời nhau, hình dạng giống như chim điêu dang cánh, đầu vươn về phía trước, đuôi xoè ra, hô ứng với hai cánh nam bắc.

Doanh trại hai bên cách nhau vài dặm, cờ quạt đối diện, kèn lệnh cùng nghe, thậm chí đến tiếng hô tiếng gọi của nhau cũng nghe thấy rõ. Tướng soái hai bên đều phái công binh san phẳng đồng ruộng trước trại thành bình địa, biến thành sa trường rộng đến vài dặm, xe chiến có thể mặc sức tung hoành.

Để tránh tái diễn bi kịch thiêu huỷ lương thảo giống như trận vây Lương cứu Hàn hồi trước, Tề Tuyên Vương bố trí phòng ngự dày đặc, tuần tra nghiêm ngặt trên tuyến đường cung ứng lương thảo quân nhu.

Sau lưng là đất Tống, có các nước sông Tứ làm kho lương, có thêm người Ngụy tiếp ứng, Tư Mã Thác lại mang theo đủ vàng, chẳng có gì phải lo lắng.

Trận đầu đã tỏ oai phong, dù không thể kiểm đếm số tai, Tư Mã Thác vẫn trọng thưởng cho ba trăm tướng sĩ tham chiến, mỗi người đều được tấn tước một bậc, quan đại phu cầm quân tăng liền hai bậc, vượt qua công đại phu, lên thẳng hàng công thừa. Tử sĩ được đưa vào hàng liệt sĩ, tấn tước ba cấp, dâng biểu tấu lên Tần Vương truy phong và phát tiền phủ tuất.

Việc trọng thưởng quá hậu này đã khiến chư tướng sĩ hết sức phấn chấn, chốc lát ba quân sĩ khí sục sôi, tiếng cầu chiến không ngớt bên tai. Tư Mã Thác phái quân úy đi gửi chiến thư, kể lể các tội thất nghĩa loạn lễ của người Tề, nhất là chuyện người Tề dùng thủ đoạn đê hèn âm độc sát hại thái tử Thân nước Ngụy, vô đạo bất nhân, không thể nhẫn nhịn, Tần Vương không thể dung thứ, mới nhận lời thỉnh cầu của Ngụy Vương, báo thù cho thái tử Thân, đòi người Tề hoặc là dâng lễ tạ lỗi trước Ngụy Vương, hoặc là ba ngày sau dàn trận quyết chiến.

Khuông Chương lịch thiệp hồi âm, chỉ hỏi han vài câu, không nói chuyện ứng chiến.

Thấy người Tề không nhận lời ứng chiến, chư tướng lại đua nhau cầu chiến, Tư Mã Thác lệnh cho tướng quân tiên phong đánh xe lên khiêu chiến.

Tướng quân tiên phong khiêu chiến suốt ba ngày, cổng trại quân Tề vẫn đóng im ỉm, không một ai xuất hiện. Tướng quân tiên phong nóng lòng lập công, định dẫn tử sĩ xông vào trong trại, song bị Tư Mã Thác ngăn lại.

Hay tin Khuông Chương trở thành chủ tướng nước Tề, Mạnh phu tử dứt khoát bỏ Ngụy về Tề.

Hiển nhiên, Ngụy không phải là nơi thực thi nhân chính. Ngụy Huệ Vương không có ý hành nhân chính, thái tử cũng không phải là nhân tài đáng để phò tá. Qua những lời bàn tán nơi đầu đường xó chợ, Mạnh phu tử đã biết được sự tàn bạo của quân Tần trên chiến trường Hà Tây, còn đích thân tìm gặp vài lão binh kinh qua chiến trận để hỏi han, biết rằng tất cả đều là sự thật. Tận trung sa trường là do Nho môn đề xướng, giết kẻ đầu hàng cắt tai là chuyện vô sỉ. Người Tần không những giết kẻ đầu hàng cắt tai, mà lần này lại băng sông vượt núi, đưa năm vạn giáp binh băng qua ngay trước mắt mình đi chinh phạt một nước lớn tít tận phương đông vốn chẳng chút liên quan tới họ, lý do khiên cưỡng, càng khiến Mạnh phu tử trong lòng căm giận, nghĩa khí sục sôi, lệnh cho chúng đệ tử lập tức khởi hành, bỏ Ngụy về Tề.

Để đề phòng bất trắc, thầy trò Mạnh phu tử không vào đất Tống theo con đường hành quân của người Tần, mà lên phía bắc vượt qua Tế Thuỷ, qua đất Vệ tới thẳng A Thành nước Tề, mong gặp được Khuông Chương, trợ giúp ngự địch.

Trên đường tới A Thành, Mạnh phu tử hay tin quân Tần, quân Tề đều đã vào đất Lỗ, thì giật mình kinh hãi. Lỗ là thánh địa của Nho môn, quân hai nước lớn vào Lỗ giao tranh sát phạt, quả là kiếp nạn của Lỗ. Mạnh phu tử vô cùng lo lắng, lệnh cho chúng đệ tử đi suốt ngày đêm, gấp rút tới Lỗ.

Dọc đường đi, gặp xe ngựa của người Tề vận lương nườm nượp. Thấy họ thiếu xe, Mạnh phu tử bèn xuống xe đi bộ, bảo đệ tử chuyển toàn bộ đồ đạc lên một cỗ xe, để trống hai xe còn lại, giúp người Tề một tay. Chúng đệ tử lập tức xắn tay vào làm, đi theo đoàn xe quân nhu của người Tề thủng thẳng tiến về tiền tuyến đất Lỗ.

Vừa vào đất Lỗ, một cỗ xe nhẹ từ phía sau vượt lên, lướt qua bên cạnh xe chở quân nhu của thầy trò Mạnh phu tử, nhìn vào tốc độ đánh xe, đoán rằng đang có việc cấp bách.

Xe nhẹ băng qua chừng trăm bước, đột nhiên dừng khựng lại, từ trên xe nhảy xuống một người, chạy ngược trở về.

Vạn Chương tinh mắt, kinh ngạc kêu lên: “Phu tử, người đang đi lại là Tô đại nhân đấy!”

Mạnh phu tử bước lên đón, còn cách chừng mười bước thì dừng lại, vòng tay chào: “Tô đại nhân, lâu rồi không gặp!”

Tô Tần đáp lễ, nhìn vào ba cỗ xe chở nặng quân nhu, lại nhìn chúng đệ tử đi bộ hai bên xe vịn tay đẩy đỡ, bất giác trong lòng kính phục, vái một vái thật sâu trước Mạnh phu tử, đoạn nắm chặt tay, muôn phần cảm khái: “Phu tử...”

“Đại nhân đang bận việc, hãy mau đi!” Mạnh phu tử chỉ vào cỗ xe phía trước.

“Mời phu tử lên xe tại hạ, tới gặp Khuông tướng quân, cùng bàn kế phá Tần!” Tô Tần chìa tay mời.

Mạnh phu tử quay sang Vạn Chương: “Vạn Chương, thầy lên xe của Tô đại nhân đi trước một bước, các trò đợi chở xong quân nhu, hãy tới đại trướng trung quân của Khuông tướng quân tìm thầy!”

Mạnh phu tử theo Tô Tần lên xe, hai người ngồi đối diện nhau trong mui.

Trâu Phi Đao ra roi thúc ngựa, cỗ xe lộc cộc lên đường.

Mạnh phu tử nhìn thẳng vào Tô Tần: “Thực khéo trùng hợp, Kha đang có việc muốn thỉnh cầu đại nhân!”

“Phu tử cứ nói!”

“Lần trước nghe Tô đại nhân nhắc tới một cuốn sách tên gọi ‘Thương Quân thư’, Kha muốn đọc, không biết đại nhân chịu cho mượn chăng?”

Tô Tần mở chiếc rương bên mình, lấy ra một cuốn sách, hai tay đưa lại: “Mời phu tử xem!”

Mạnh phu tử sốt sắng giở cuộn thẻ tre, đọc luôn trên xe, mặc kệ chòng chành nghiêng ngả. Chưa đầy một khắc, Mạnh phu tử đã mặt mày biến sắc, hơi thở gấp gáp.

Tô Tần khí trầm tâm định, hai mắt khép hờ, quan sát Mạnh phu tử qua kẽ mắt.

Mạnh phu tử tay không rời sách, sắc mặt liên tục thay đổi, người ngả nghiêng theo nhịp xe lắc lư. Đọc một mạch suốt hai canh giờ, khi cỗ xe tới gần cổng trại trung quân nước Tề, Mạnh phu tử mới buông cuộn sách xuống, dụi mắt vài cái, nhìn sang Tô Tần.

“Phu tử đã đọc xong rồi đấy ư?” Tô Tần mở mắt, cất tiếng hỏi.

“Đã xong.” Mạnh phu tử gật đầu.

“Phu tử đã đọc được gì?”

“Chính trị hà khắc.”

“Chính trị hà khắc thế nào?”

“Than ôi,” Mạnh phu tử thở hắt ra, siết chặt nắm tay, “ghê gớm hơn cả hổ dữ.”

“Con hổ đó đang nhe nanh hướng vào nước Lỗ.”

“Làm nhiều việc bất nghĩa ắt tự diệt vong, hãy chờ mà xem.” Mạnh phu tử chau tít đôi mày, lặp lại câu nói của Trịnh Trang Công trong “Tả truyện”.

“Chỉ đáng tiếc, Thúc Đoạn không phải là tự diệt vong!” Tô Tần khẽ cười, “không nhờ Trang Công bày mưu tính kế, đưa nhuệ binh đánh dẹp, Thúc Đoạn có lẽ đã thành công, cái bất nghĩa của hắn đã biến thành chính nghĩa rồi. Nay Tần cũng vậy. Chính trị hà khắc, pháp chế nghiệt ngã, bắt ép dân lành biến thành hổ sói, lang sói kết bầy, bạo ngược thành tính, coi kẻ yếu trong thiên hạ làm con mồi, đó là bất nghĩa. Nếu ta tụ thủ bàng quan, ngồi chờ người Tần tự diệt vong, với trí của phu tử, thấy có được chăng?”

Mạnh phu tử hít vào một hơi thật sâu, vòng tay nói: “Tô đại nhân lao tâm khổ tứ, tại hạ nay đã hiểu rồi. Ngự địch thế nào, đại nhân hẳn đã có diệu kế?”

Cỗ xe dừng lại, đã tới cổng trại trung quân nước Tề.

Tô Tần chỉ vào cổng trại: “Tại hạ mời phu tử đi chung xe, chính là để tới đây bàn diệu kế với Khuông tướng quân!”

“Xin cung kính nghe theo!”

Khuông Chương nhận được tin báo, vội sắp xếp nghi lễ nghênh đón khách quý, long trọng rước Tô Tần và Mạnh phu tử vào trong đại trướng trung quân.

“Nghe nói khai cục không mấy thuận lợi!” Tô Tần hỏi.

“Phải,” Khuông Chương gật đầu, “Tần là nhuệ binh, ta cũng là nhuệ binh. Ta đông gấp mười địch, bao vây mà đánh, kịch chiến suốt một canh giờ, lại không làm gì được địch! Từ đó mà thấy, sức chiến đấu của quân Tần không hề thua kém quân hổ bôn của Bàng Quyên!”

“Trận đầu không thuận lợi cũng tốt!” Tô Tần an ủi, “thứ nhất, có thể khiến tướng sĩ hiểu được sức mạnh của quân Tần; thứ hai, có thể khiến địch kiêu ngạo khinh suất!”

“Chỉ có điều,” Khuông Chương lộ vẻ lo âu, “chư tướng sĩ vốn đã sợ Tần, trận này lẽ ra phải thắng mà không thắng nổi, thương vong còn nhiều hơn cả quân Tần, càng khiến nỗi e sợ tăng thêm. Không giấu hai vị,” sắc mặt càng thêm lo lắng, “ba quân tướng sĩ đều đang nơm nớp trước trận này, cho rằng người Tần không thể thắng nổi. Việc cấp bách trước mắt, là làm sao để khích lệ sĩ khí, dẹp tan thành kiến người Tần bất khả chiến bại!”

“Hừm,” Mạnh phu tử cười nhạt, “đạo quân bất nghĩa, lý nào có thể chiến thắng?”

“Phu tử hẳn có diệu kế?” Khuông Chương nhìn sang.

“Diệu kế chỉ có một chữ!” Mạnh phu tử cất giọng sang sảng, nhưng bỗng im bặt nửa chừng.

Thấy Mạnh phu tử không chịu nói tiếp, Khuông Chương sốt ruột hỏi dồn: “Dám hỏi phu tử, chữ gì?”

“Nhân!” Mạnh phu tử siết chặt nắm tay, nghiến răng trèo trẹo, dư âm kéo dài, giọng nói hùng hồn quyết liệt, như tiếng sấm rền ở chân trời.

Hiển nhiên, đây không phải là điều Khuông Chương trông đợi, song lời của ân sư nặng tựa đỉnh đồng, Khuông Chương không dám tỏ ra bất kính, bèn ôm quyền dõng dạc đáp: “Tạ ơn phu tử chỉ dạy!”

“Khuông tướng quân,” Mạnh phu tử hai mắt như đuốc, nhìn thẳng vào Khuông Chương, “hãy triệu tập chư tướng lại đây, Kha có lời muốn nói!”

“Ồ...” Khuông Chương bối rối, nhìn sang Tô Tần.

“Phu tử muốn khích lệ sĩ khí của chư tướng đấy!” Tô Tần cười nói.

Khuông Chương lại nhìn Mạnh phu tử.

“Tướng sĩ sợ xung trận, là thiếu nhân nghĩa.” Mạnh phu tử nhìn trừng trừng vào Khuông Chương, “tướng quân hãy triệu tập toàn bộ tướng lĩnh lại đây, thầy sẽ giảng cho họ nghe về nhân nghĩa. Đạo quân nhân nghĩa, sẽ không bao giờ sợ giao chiến!”

“Đệ tử thay mặt chư tướng sĩ tạ ơn phu tử!” Khuông Chương vòng tay nói, “có điều, phu tử ngồi xe suốt đường

dài mệt nhọc, không nên quá lao lực.” Quay sang quân uý, “bày tiệc khoản đãi Mạnh phu tử và Tô đại nhân!”

Hôm sau, Khuông Chương quả nhiên triệu tập hơn hai chục tướng quân tới, nghe phu tử giảng đạo nhân nghĩa.

Đợi Mạnh phu tử bắt đầu giảng giải rồi, Khuông Chương chóp thời cơ lui ra, cười nói với Tô Tần: “Giờ tới lượt chúng ta bàn mưu kế.”

Tô Tần không cười, chỉ nhìn chằm chằm vào Khuông Chương, giọng nói trầm trọng: “Khuông tướng quân, tại hạ không hiểu việc quân, chỉ biết một điều, cuộc chiến này, tướng quân không có đường lui, dứt khoát phải toàn thắng, bằng không, đây không chỉ là họa của người Tề, mà liệt quốc Sơn Đông cũng không còn có ngày bình yên nữa!”

Nụ cười cứng dơ trên mặt, Khuông Chương hít ngược vào một hơi dài, hồi lâu sau mới nói: “Chương hiểu rồi!”

“Về kế ngự Tần,” Tô Tần tiếp lời, “tại hạ suy đi nghĩ lại, sách lược tướng quân đã vạch ra hôm trước chính là thượng thượng sách. Bước đầu tiên, kìm chân quân Tần, né tránh giao chiến. Bước thứ hai, tùy theo địch mà ứng biến, tìm kiếm sơ hở. Bước thứ ba, nắm lấy sơ hở, một đòn chế địch!”

“Chương kính cẩn nghe theo đại nhân!” Khuông Chương đáp.

“Đợi phu tử giảng giải nhân nghĩa xong, tướng quân hãy mời phu tử dạy ba quân xạ nghệ. Phu tử là bậc thần xạ, bách phát bách trúng. Để phu tử dạy xạ nghệ, thứ nhất là giúp phu tử được tận tâm, thứ lai là giúp phu tử được tận lực, thứ ba là để khích lệ lòng quân. Tại hạ đã bố trí ổn thoả, trong vòng ba ngày, chắc chắn Mặc giả sẽ tới đây, giúp tướng quân gấp rút chế tạo vũ khí phòng ngự. Có vũ khí này trong tay, lòng quân sẽ ổn định. Lòng quân ổn định, có thể chờ đợi thời cơ.” Tô Tần vòng tay, “tin rằng tướng quân sẽ đánh thắng trận này, tại hạ cáo từ!”

“Đại nhân muốn đi đâu?” Khuông Chương vội hỏi. “Sang Hàn.”

Chiến sự đã dây dưa nửa tháng, Trương Nghi bước vào đại trướng quân Tần.

“Thế nào rồi?” Trương Nghi cười hỏi Tư Mã Thác.

“Chịu không nổi nữa,” Tư Mã Thác mặt nhăn như bị, “tướng sĩ không quản gian nan lặn lội tới tận đây là vì muốn kiến công lập nghiệp, chỉ mong dốc sức đánh một trận thật sảng khoái với người Tề, mà kế sách lâu dài của tướng quốc đại nhân, tại hạ lại không thể nói ra, thực là khó xử.”

“Đây là chiếu lệnh của đại vương, tướng quân hãy dán ở nơi dễ thấy nhất, truyền đạt đến ba quân!” Trương Nghi lấy từ trong ống tay áo ra một tờ chiếu lệnh, đưa lại.

Tư Mã Thác mở ra, quả nhiên là hai đạo chiếu lệnh của Tần Huệ Vương.

Chiếu lệnh thứ nhất: “Ai dám hái củi trong vòng năm mươi bước quanh mộ Liễu Hạ Quý, xử tử không tha!”

Chiếu lệnh thứ hai: “Ai lấy được thủ cấp Tề Vương, phong vạn hộ hầu, thưởng nghìn dật vàng!”

Tư Mã Thác ngơ ngác nhìn Trương Nghi: “Mộ Liễu Hạ Quý? Nghĩa là sao?”

“Tướng quân không biết Liễu Hạ Quý?” Trương Nghi cười hỏi.

Tư Mã Thác lắc đầu.

“Vậy tướng quân có biết Liễu Hạ Huệ?” Trương Nghi lại hỏi.

“Người này thì tại hạ biết chứ. Chính là cái ông gái ngồi trong lòng không loạn mà người ta vẫn kể đấy! Cha mẹ ôi, để gái ngồi trong lòng cả đêm mà không loạn, đáng phục!” Tư Mã Thác chặc lưỡi.

Trương Nghi cười: “Liễu Hạ Huệ họ Triển tên Hoạch, tự Tử Cầm, sống ở vùng Liễu Hạ nước Lỗ, tên Thụy là Huệ, nên người đời sau gọi là Liễu Hạ Huệ. Do đứng thứ ba trong nhà nên còn gọi là Liễu Hạ Quý.”

“Ồ...” Tư Mã Thác kinh ngạc, “nếu nhổ cỏ trên mộ Liễu Hạ Huệ sẽ bị chém đầu?”

“Tướng quân đọc cho kỹ đi, không phải chỉ nhổ cỏ trên mộ không đâu, mà là nhổ cỏ trong vòng năm mươi bước quanh mộ!”

Tư Mã Thác kêu lên: “Nếu nhổ cỏ trên mộ, hẳn là tru di tam tộc!”

“Theo Tần pháp, còn liên đới mười nhà!”

“Mộ người này ở đâu?” Tư Mã Thác hớt hải.

“Ấp Liễu Hạ.”

“Ấp Liễu Hạ ở đâu?” Tư Mã Thác với lấy bản đồ địa thế, trải ra, lấy một viên đá phấn, lăm lăm đánh dấu.

Trương Nghi chỉ vào một chỗ.

“Ớ đây ư...” Tư Mã Thác sửng sốt, “chỗ này cách ta hơn trăm dặm, vả lại ở trong địa bàn người Tề chiếm cứ, đừng nói là đi nhổ cỏ, dù muốn đến đó hóng mát, e là cũng phải hỏi xem người Tề có đồng ý hay không đã!”

Trương Nghi phá lên cười: “Mới đó mà tướng quân đã quên bẵng mất chiếu lệnh còn lại của đại vương rồi ư?” Rồi hất hàm về phía chiếu lệnh thứ hai.

Tư Mã Thác nhìn sang, lát sau, lại nhìn Trương Nghi, ánh mắt kinh ngạc: “Ý tướng quốc là, chúng ta phải đi đánh Lâm Truy thực?”

“Ồ?” Trương Nghi trợn mắt nhìn Tư Mã Thác, “chư tướng sĩ rời xa quê hương, hành quân đường trường, không đánh Lâm Truy thì để làm gì?”

“Ờ...” Tư Mã Thác càng thêm hoang mang, “lần trước ở Đại Lương, tướng quốc chẳng phải đã nói...” Lại vò đầu bứt tai.

“Tư Mã tướng quân,” Trương Nghi nháy mắt, nở nụ cười ranh mãnh, “không giấu tướng quân, đại vương hạ hai chiếu lệnh này, là để cho người trong thiên hạ xem, chứ không phải để tướng quân và chư tướng sĩ xem!”

“Ồ?”

“Là thế này,” Trương Nghi nhịp ngón tay xuống án, “Liễu Hạ Huệ là đại hiền trong thiên hạ, còn Tề Vương là vua bội nghĩa, nay vương lệnh ban xuống, tướng sĩ tuân theo, ý vị trong đó, tướng quân phải nếm ra được rồi mới phải chứ!” Nói đoạn, chu môi huýt sáo hoà nhịp cùng tiếng gõ án.

“Tại hạ hiểu rồi.” Tư Mã Thác vò đầu suy nghĩ một hồi, mới ngẩng lên, “thứ nhất, để tỏ rõ đức của Đại Tần ta; thứ hai, để tỏ rõ uy của Đại Tần ta!”

“Ái chà chà!” Trương Nghi dựng hai ngón cái lên, “thực không hổ danh là đệ nhất danh tướng của Đại Tần!”

“Thế nhưng...” Tư Mã Thác nhìn sang Trương Nghi, “tướng quốc đại nhân phải nói cho rõ ràng mới được, rốt cuộc mạt tướng phải đánh thật hay đánh giả đây?”

“Tại hạ cho tướng quân bốn chữ,” Trương Nghi lại nhịp tay xuống bàn, “ngồi yên xem biến!”

“Nếu người Tề bất biến thì sao?” Tư Mã Thác hỏi.

“Khuông Chương là kẻ tầm thường, Tề Vương sai kẻ này cầm quân, đủ biết là Tề hết người rồi. Kẻ tầm thường dụng binh, sẽ không có chuyện bất biến. Hơn nữa,” Trương Nghi cười nhạt một tiếng, “nếu tướng quân đánh không lại hắn, phía công tử Hoa chẳng phải vẫn còn Hắc điêu ư? Thử nghĩ mà xem, Điền Kỵ cớ sao phải chạy sang Sở?”

“Đánh không lại hắn?” Tư Mã Thác cười khẩy, giáng thẳng nắm đấm xuống án, “hừm, tướng quốc đại nhân hãy chờ xem, ngày mai tại hạ sẽ đánh cho hắn không còn manh giáp!”

Trương Nghi phá lên cười: “Tư Mã đại tướng quân, chớ nóng vội, chớ nóng vội!”

“Vậy thì...” Tư Mã Thác lại nhìn Trương Nghi, “tướng quân muốn mạt tướng phá địch lúc nào?”

“Chờ hắn kiệt quệ!”

Khi xe của Tô Tần xuất hiện trước cổng phủ tướng quốc nước Hàn, Công Tôn Diễn vô cùng kinh ngạc.

Hành lễ xong xuôi, Công Tôn Diễn dẫn Tô Tần tới vườn hoa trong phủ, ngồi xuống đối diện với mặt hồ, tiện tay đưa bầu rượu cho Tô Tần. Tô Tần cảm tạ, rút từ bên hông ra một ống trúc, rút nút, ngửa cổ mà uống.

Nghe thấy tiếng ừng ực, Công Tôn Diễn biết là nước, mỉm cười, uống một ngụm rượu: “Tô Tử bận trăm công nghìn việc, tới đây hẳn là vì chuyện Tang Khâu?”

“Đúng vậy.”

“Muốn nước Hàn xuất binh?”

“Không phải.”

“Ồ?” Công Tôn Diễn có vẻ bất ngờ, nhìn chằm chằm vào Tô Tần.

“Chuyện ở Tang Khâu, có Khuông Tử là đủ rồi. Tại hạ tới đây, chỉ vì hợp tung.”

“Hợp tung?” Công Tôn Diễn lẩm bẩm, rồi lại uống một ngụm rượu.

“Sáu nước ngay từ ngày đầu hợp tung, rạn nứt đã xuất hiện, đến lúc liên quân phạt Tần, mâu thuẫn càng thêm nghiêm trọng. Trọng tâm của tung thần là Tam Tấn. Phạt Tần thất bại, Trương Nghi sang Ngụy, cấu kết Bàng Quyên bỏ tung kết hoành, theo về với Tần, trước phạt Triệu, sau phạt Hàn, trọng tâm bị phá, hợp tung đã thành hữu danh vô thực.”

“Đúng vậy.” Công Tôn Diễn thừa nhận, “Tô Tử muốn tái lập tung thân?”

“Khôi phục thì đúng hơn,” Tô Tần sửa lại, “trọng tâm của hợp tung là ở Tam Tấn, trọng tâm của Tam Tấn là ở Ngụy, chế ngự được Ngụy, duy có Hàn, Triệu. Tại hạ có Triệu, Công Tôn huynh có Hàn. Tại hạ tới đây, là muôn liên thủ với huynh, đuổi Trương Nghi đi, ép Ngụy quay lại với hợp tung. Ngụy nhập tung, Tam Tấn hội tụ, liệt quốc có thể khôi phục tung thân, sẽ chế được Tần.”

“Phải chăng Tô Tử muốn nói, chúng ta liên thủ, diệt trừ Trương Nghi?” Công Tôn Diễn hỏi thẳng.

“Cứ cho là vậy.” Tô Tần cười gượng.

“Được, tại hạ đồng ý.” Công Tôn Diễn vừa dứt lời, ngự sử của phủ tướng quốc hối hả bước vào, trình lên một bức mật thư.

Công Tôn Diễn mở ra xem.

“Ồ, đã trở thành đội quân nhân nghĩa đường hoàng rồi đấy!” Công Tôn Diễn phì cười, đưa mật thư cho Tô Tần.

Tô Tần đón lấy xem, là hai chiếu lệnh của Tần Vương đã được Tư Mã Thác dán khắp nơi.

Tô Tần chau tít đôi mày, hồi lâu, mới ngẩng đầu lên: “Công Tôn huynh hẳn đã có đối sách?”

“Chẳng phải đã có Khuông Tử rồi ư?” Công Tôn Diễn hỏi ngược lại, “đối sách phải do người này đề ra mới đúng!”

“Ý tại hạ là, sau khi người Tần tan rã thoái lui, vào biên giới Hàn của tướng quân kia!” Tô Tần nheo mắt.

“Chà!” Công Tôn Diễn nhìn chằm chằm vào Tô Tần, “lời này của Tô Tử, ý nói Khuông Chương chắc thắng?”

Tiền tuyến Tang Khâu, doanh trại quân Tần trật tự chỉnh tề. Người Tần chuộng màu đen, từ cờ xí mũ giáp đến lều trại trang bị, tuyền một màu đen, nghiêm ngặt nhất quán, từ xa nhìn lại, cả vạt doanh trại rộng lớn giống hệt như một con chim ưng khổng lồ đen trũi đang sải cánh chực bay. Quân luật nước Tần cực kỳ nghiêm khắc, không một lính Tần nào dám ra ngoài quấy nhiễu dân chúng. Dù lính Tần rời trại đi tuần, cũng phải đi thành hàng ngũ, trang phục tề chỉnh, khí giới đủ đầy.

Không giống như những lần viễn chinh khác, quân nhu do nước Tần cung cấp, lần xuất chinh này, Tư Mã Thác mang theo rất nhiều vàng, lập hẳn một ti quân nhu, chuyên thu mua quân nhu của liệt quốc sông Tứ với giá cao hơn bình thường một đến hai phần, hơn nữa giao dịch bằng vàng, mua bán sòng phẳng. Để kiếm chác chút chênh lệch, lái buôn các nước sông Tứ ganh đua kịch liệt, nhao nhao muốn bán cho Tần.

Cách đó vài dặm, ở doanh trại Tề đối diện với Tần, cảnh tượng lại khác hẳn. Khi mới bắt đầu đối luỹ giằng co với Tần, quân Tề vô cùng căng thẳng, tới khi chiến luỹ dựng xong, người Tần không còn tới khiêu chiến nữa, quân Tề bắt đầu thở phào nhẹ nhõm. Sau khi giằng co kéo dài, thấy người Tần cũng đóng cửa không ra như họ, quân Tề bắt đầu chểnh mảng.

Quân Tề đến từ năm đô, thứ khác chưa nói, chỉ riêng quân kỳ, mỗi đô đều có màu sắc của riêng mình, tướng mỗi đô cũng có cách phục sức riêng, đủ màu đủ vẻ. Giáp trụ phần nhiều là tước đoạt từ võ binh Ngụy nên khá thống nhất, song lều trại cũng như cờ xí, mỗi đô một cách. Đáng lo nhất là, Khuông Chương danh tiếng không tốt, lúc Trâu Kỵ còn ở Tề, thường xuyên bị chèn ép, chỉ nhờ mang huyết thống vương tộc, do Khuông Chương vốn mang họ Điền, mới có thể trở thành một trong chư tướng ngũ đô. Lần trước trong trận chiến cứu Hàn được thăng làm phó tướng, trong quân đã có nhiều người lời ra tiếng vào. Lần này lại được thăng chủ tướng, lại càng không ai chịu phục, chỉ bởi vương mệnh khâm định, lại ban cho đại quyền sinh sát, nên chư tướng chỉ biết kìm nén nỗi bất mãn trong lòng, ngoài miệng vâng vâng dạ dạ, song thực chất vẫn ý mình mình làm, cho nên trong doanh trại, chỗ nào cũng thấy cảnh uể oải xao nhãng, Khuông Chương nhiều lần hạ lệnh, song vẫn không thay đổi được bao nhiêu. Giám quân thái tử Địa thấy quân tình như vậy, lấy làm lo lắng, yêu cầu Khuông Chương phải giữ quân kỷ nghiêm minh, ai không phục, chém không tha, Khuông Chương chỉ cười, dường như chẳng hề bận tâm tới chuyện này.

Ngày tháng thoi đưa, chóp mắt đã qua hai tháng, doanh trại Tần ngày càng nghiêm chỉnh bao nhiêu thì doanh trại Tề ngày càng tán loạn bấy nhiêu. Tư Mã Thác thăm dò biết được, đang định bẩm báo Trương Nghi, thỉnh cầu khai chiến, bỗng nhận được mật báo của Hắc điêu, nói rằng người Tề gần đây chế tạo được hơn chục loại binh khí phòng vệ tân kỳ, hôm qua bắt đầu vận chuyển tới doanh trại, những binh khí này có tác dụng ra sao, họ vẫn chưa hiểu, chỉ nghe nói có loại vũ khí bay, bên trên có lưỡi xoay, có thể chao liệng trên bầu trời như chim, chém lấy thủ cấp trong trận vạn quân. Tư Mã Thác thất kinh, một mặt lệnh cho Hắc điêu thăm dò kỹ lưỡng về binh khí mới, mặt khác phái hy mã gấp rút bẩm báo lên Trương Nghi và Tần Vương.

Trương Nghi từ Đại Lương phi ngựa như bay thẳng tới doanh trại.

“Tại hạ đã điều tra rõ,” Trương Nghi không xem, đẩy mật thư sang một bên, “là Mặc giả. Tô Tần đã mời không ít Mặc giả tới trợ giúp.”

“Đánh thôi!” Tư Mã Thác siết chặt nắm tay, “đừng nói là tướng sĩ, hết ngày này qua ngày khác chẳng có việc gì làm, tại hạ cũng sắp phát rồ lên rồi. Tại hạ đang muốn xem thử món vũ khí bay kia sẽ lấy thủ cấp trong trận vạn quân như thế nào đây!”

Trương Nghi phá lên cười vài tiếng, rồi giọng thản nhiên: “Tướng quân yên tâm, người Tề chẳng qua chỉ là hư trương thanh thế mà thôi, chứ chẳng có gì ghê gớm!” Thu lại nụ cười, nhìn thẳng vào Tư Mã Thác, “Tư Mã tướng quân, nếu tướng quân thực sự muốn đánh, cần phải làm được ba điều. Thứ nhất, toàn thắng, đánh cho người Tề không ngóc đầu dậy nổi!”

“Chà chà!” Tư Mã Thác lấy làm phấn chấn, hoa tay múa chân, “đã đánh thì phải toàn thắng, nếu không, chúng ta vất vả lặn lội đường xa tới đây, để làm gì kia?”

“Thứ hai, biết dừng đúng lúc, thấy đủ là lui, tuyệt đối không được truy cùng đuổi tận, không được cắt tai địch thủ, cùng lắm chỉ đuổi tới biên giới Lỗ Tề, toàn bộ lính Tần, không ai được phép đặt chân vào biên giới Tề!”

“Việc này thì dễ thôi, trước hết, tại hạ sẽ cho người tìm đến biên giới Tề Lỗ, đánh dấu làm mốc, kẻ nào dám bước qua biên giới Tề dù chỉ một bước, chặt chân không tha! Còn về tai, không được cắt lấy một cái, chư tướng sĩ mỗi người tự nhớ số địch chém được, tin chắc không kẻ nào dám báo khống!”

“Còn điều thứ ba, tướng quân nhất thiết phải làm được tiên lễ hậu binh!” Trương Nghi nhìn thẳng vào Tư Mã Thác, “hạ chiến thư theo bút pháp Xuân Thu, hiểu dụ quân địch, chúng ta sẽ đánh. Nếu Khuông Chương biết điều nhận thua xin hàng, giữ thể diện cho đại vương ta, thế là tốt nhất. Nếu Khuông Chương không chịu hàng, tướng quân hãy dùng binh cũng không muộn!”

“Được!”

Tư Mã Thác lập tức cho gọi tham tướng lại, thảo một bức chiến thư, lời lẽ nho nhã khoan hoà, cho tham tướng làm giả, chuyển tới doanh trại Tề.

Khi tham tướng chuẩn bị lên đường, Trương Nghi mang ra một rương lễ vật, bảo hắn sau khi tới doanh trại Tề hãy để ở chỗ thật bắt mắt, lấy danh nghĩa tướng quân Tư Mã Thác tặng cho tướng quân Khuông Chương.

Tư Mã Thác ngơ ngác không hiểu, thấy Trương Nghi nháy mắt với mình, bèn phẩy tay bảo đi.

Tham tướng trình chiến thư, tặng lễ vật, được Khuông Chương đón tiếp chu đáo. Hôm sau, doanh trại Tề đánh tới một cỗ xe, tham tướng nước Tề hồi đáp một bức thư, cũng tặng lại Tư Mã tướng quân một rương lễ vật.

Tư Mã Thác mở thư, nhưng không phải chiến thư, mà toàn là lời lẽ thân tình hữu hảo.

Một tháng tiếp theo, giữa hai doanh trại, trước tiên là sứ thần qua lại, tiếp đến là tướng quân qua lại, cuối cùng là binh sĩ qua lại. Lính Tần ra ngoài ngày một nhiều hơn, binh sĩ hai bên thậm chí còn gặp gỡ trên đồng trống đáng lẽ ra phải trở thành chiến trường giữa hai doanh trại, trao đổi vật phẩm, không khí chan hoà. Thương nhân các nước sông Tứ vốn nhạy bén, nhanh chóng chớp lấy thời cơ, mở hàng quán cửa hiệu la liệt xung quanh, khiến sa trường chẳng mấy chốc biến thành khu chợ.

Cùng lúc này, các cánh Hắc điêu nước Tần bắt đầu hành động, tung tin đồn khắp liệt quốc sông Tứ cùng nước Tề, đều nói rằng Khuông Chương cấu kết với Tần. Quan lại triều đình và địa phương cùng Chư tướng năm đô vốn bất mãn với Khuông Chương cũng đua nhau dâng tấu báo, tấu chương đàn hặc Khuông Chương tới tấp bay về Lâm Truy tựa tuyết sa, hoặc là tới phủ Điền Anh, hoặc là trực tiếp vào cung, tất thảy đều yêu cầu cách chức Khuông Chương, trị tội thông đồng với địch.

Điền Anh không thể ngồi yên được nữa, ôm theo cả chồng tấu chương vào thẳng trong cung, bày trước mặt Tuyên Vương.

Tuyên Vương cũng sai nội thần ôm tới một chồng, đặt ở bên cạnh chồng của Điền Anh.

Hai chông tấu chương cao đến vài thước, không dưới vài chục cuốn.

“Đại vương,” Điền Anh rầu rĩ, “hẳn Tô Tử đã tiến cử nhầm người mất rồi!”

“Ồ?” Ánh mắt của Tuyên Vương dịch chuyển khỏi hai chồng tấu chương, nhìn thẳng vào Điền Anh.

“Thần đi Tang Khâu hai lần, một là để đôn đốc vận lương, hai là để giám sát quân tình. Chuyện khác chưa nói, chỉ nhìn doanh trại quân Tần chỉnh tề như một, còn doanh trại của Khuông tướng quân lộn xộn bát nháo. Thần đã từng ở trong quân doanh, bất luận là Điền Kỵ tướng quân hay Tôn quân sư dụng binh, cũng chẳng ai giống như Khuông tướng quân cả.” Điền Anh lấy từ trong tay áo ra một bức mật thư, “đây là tấu chương của phó tướng Điền Văn, nhờ thần tấu giúp!”

Tuyên Vương nhận lấy, mở ra đọc, hai mắt nheo lại như hai đường kẻ chỉ.

“Xem ra, giữa Khuông Chương và tướng Tần đã có điều khuất tất!” Điền Anh hạ thấp giọng, gần như thì thào.

Tuyên Vương không ngẩng đâu: “Theo ý ái khanh, nên làm thế nào?”

“Thần cũng không biết,” Điền Anh cười nhăn nhó, “chỉ có điều, trận chiến này vô cùng trọng đại, ngộ nhỡ Khuông tướng quân thực sự thông đồng với địch...” Ngập ngừng không dám nói tiếp.

Anh mắt Tuyên Vương vẫn dán chặt vào tấu chương của Điền Văn, đột nhiên hai mắt mở choàng: “Ồ, Mạnh phu tử cũng ở trong quân?”

“Phải!”

“Đây là đại sự, Khuông Chương cớ sao không tấu?” Tuyên Vương có vẻ rất quan tâm đến chuyện này.

“Nói rằng phu tử không cho loan tin ra ngoài, hẳn là e ngại làm nhục đến sự văn nhã của Nho môn. Có điều, theo thần biết, việc phu tử dạy bắn tên trong quân, quả là hết sức nực cười!”

“Nực cười thế nào?” Tuyên Vương tò mò hỏi.

“Điền Văn chọn ra ba nghìn quân theo phu tử học xạ nghệ, phu tử không dạy bắn, chỉ dạy họ trai tâm dưỡng khí, ngưng thần quan sát, hết ngày này qua ngày khác, nửa tháng đầu, chư tướng sĩ còn chịu được, tới một tháng sau, phu tử vẫn không cho họ cầm cung lắp tên, muốn huấn luyện họ trở thành xạ thủ thần tiên giống như Hậu Nghệ, thật khiến người ta sốt ruột. Chư tướng sĩ đua nhau tố khổ, không ai chịu nghe Mạnh phu tử nữa. Phu tử giận tím mặt, báo lại với Khuông tướng quân. Khuông tướng quân chiếu theo quân pháp, phạt roi ba mươi người, mới tạm yên chuyện được.”

“Than ôi,” Tuyên Vương khẽ thở dài, “lão phu tử này cứ ngồi yên ở Tắc Hạ nghiên cứu học vấn là được rồi, lại đùng đùng chạy vào doanh trại người ta nhiễu sự làm gì không biết!”

“Đại vương, cuộc chiến này, chúng ta không thể thua được!”

“Theo ý khanh, nên làm thế nào?” Tuyên Vương nhìn Điền Anh.

“Theo ý thần, nên giảng hoà với Tần, lui binh!”

“Giảng hoà thế nào?” Tuyên Vương chau tít đôi mày, “bảo quả nhân cách qua muôn núi nghìn sông, cúi đầu xưng thần với một nước man di tận phương tây ư?”

Điền Anh hít vào một hơi, nhìn chăm chăm vào hai chồng tấu chương: “Thần còn một ý, cách chức Khuông Chương, xử tội thông đồng với địch!”

Tuyên Vương nhắm mắt lại.

Rất lâu sau, Tuyên Vương mới chậm rãi cho tay vào trong ống tay áo, lấy ra một vật, đặt lên mặt án.

Điền Anh đưa mắt nhìn, chính là lời hứa “dụng binh chớ nghi ngờ” mà Tuyên Vương đã nhận lời vào hôm Tô Tần đưa Khuông Chương tới yết kiến, do nội thần ghi chép lại. Lúc đó, Điền Anh cũng có mặt.

Điền Anh không còn gì để nói, đành cáo lui.

Thấy quân Tần thắng lợi trong tầm tay, còn người Tề lòng quân phân tán, Ngụy Tự vội vàng vào yết kiến Huệ Vương, bẩm báo tình hình, thỉnh cầu xuất binh.

Huệ Vương hỏi han cặn kẽ, vuốt râu hồi lâu, nhìn sang Ngụy Tự: “Trương tướng quốc đâu?”

“Tướng quốc vừa từ doanh trại Tần trở về, nói rằng tẩy trần xong sẽ vào yết kiến. Nhi thần sốt ruột không chờ thêm được, nên đi trước một bước!” Ngụy Tự đáp.

“Con sốt ruột cái gì?” Huệ Vương nghiêng đầu nhìn Ngụy Tự.

“Phụ vương,” Ngụy Tự giọng khẩn thiết, “ta không thể chờ thêm được nữa, hẳn cũng nên xuất kích rồi. Nếu không, bao nhiêu lợi ích sẽ vào tay người Tần cả, chúng ta sẽ lỡ mất thời cơ!”

“Đánh như thế nào? Lợi ích gì?” Huệ Vương hỏi vặn lại, “ta có thể cách qua Vệ, Tống để thu lấy một mảnh đất nào của người Tề không?”

“Tương Lăng!” Ngụy Tự đáp liên, “hãy để người Tần giúp chúng ta thu hồi Tương Lăng!”

“Ừm, chuyện này thì được!” Huệ Vương vuốt râu một hồi, đoạn quay sang tỳ nhân, “truyền chỉ, mời Trương tướng quốc yết kiến!”

Chỉ còn chưa kịp truyền, Trương Nghi đã tới, quả nhiên là vừa mới tắm gội tẩy trần, cả người sạch sẽ tinh tươm.

Huệ Vương nhìn thẳng vào Trương Nghi, tươi cười phấn chấn: “Nghe nói người Tề và người Tần không những không khai chiến, ngược lại còn một nhà hoà thuận!” Rồi vỗ tay một cách khoa trương.

“Đúng vậy.” Trương Nghi đáp, “có điều, theo Nghi biết, không phải là thân thật!”

“Ồ?”

“Là kế chế địch của Tư Mã tướng quân! Việc binh không nề dối trá.”

“Phải, phải,” Huệ Vương đáp liền hai tiếng, lại vuốt rầu, “kế hay!” Rồi ngả người về trước, “nói như vậy, là sẽ đánh ư?”

“Đương nhiên phải đánh,” Trương Nghi siết chặt nắm tay, “Tư Mã tướng quân đã nói, mũi tên bắn đi, không thể thu lại, người Tần lặn lội đường xa tìm tới, không thể ra về tay không!”

“Nếu nói như vậy,” Huệ Vương nhìn chằm chằm vào Trương Nghi, “phiền tướng quốc chuyển lời tới Tư Mã tướng quân, nói rằng quả nhân có một yêu cầu nho nhỏ, đợi khi tướng quân khải hoàn đi qua Tương Lăng, hãy tiện tay thu hồi luôn tám ấp Tương Lăng. Đương nhiên, quả nhân sẽ không để người Tần vất vả không công, bảy trăm dặm Hà Tây, quả nhân sẽ tặng lại toàn bộ cho Tần Vương, cũng tức là, quả nhân sẽ hai tay tặng quận Hà Tây cho Tần thất. Hẳn là một cuộc trao đổi công bằng!”

“Rất công bằng hợp lý, có điều...” Trương Nghi úp mở. “Có điều gì kia?” Cơ thể to lớn của Huệ Vương ngả về phía trước.

“Chẳng lẽ đại vương không nghĩ tới vụ trao đổi tốt hơn nữa?” Trương Nghi đưa đẩy.

“Ái khanh hãy nói mau!” Huệ Vương nôn nóng.

“Ý thần là,” Trương Nghi liền nói ra kế sách của mình, “tám ấp Tương Lăng, sẽ do đại vương phái nhuệ binh thu hồi, bởi Tương Lăng vốn là của Ngụy, để người Tần thu hồi, khác nào tặng không cho họ một món nợ ân tình. Đương nhiên, người Tần cũng phải được dùng đến, chính là trên đường khải hoàn, hạ trại ở gần Tương Lăng, trông chừng Chiêu Dương. Có đại quân Tần vừa đánh bại quân Tề ở đó, Chiêu Dương ắt không dám vọng động, mà võ binh Đại Ngụy của ta cũng sĩ khí lên cao. Còn quận Hà Tây...”

“Ý ái khanh là, quả nhân không cần phải nhượng lại!” Huệ Vương dài giọng tiếp lời.

“Theo như ý thần, đại vương tốt nhất nên nhượng lại,” Trương Nghi tiếp tục giải thích, “quận Hà Tây cô lập ở ngoài, sớm muộn cũng về tay người Tần, cho muộn không bằng cho sớm.”

“Nhưng... quả nhân cũng đâu thể tặng không cho họ!”

“Đại vương có thể dùng quận này đổi lấy toàn bộ lợi ích mà người Tần thu được sau khi đánh thắng người Tề. Người Tần vốn vì đại vương mới xuất binh, thu hoạch từ chiến thắng giao lại cho đại vương, hẳn Tần Vương cũng không dị nghị.” Trương Nghi dừng lại một chốc, “hơn nữa, chẳng phải họ đã có được quận Hà Tây đó ư?”

“Có những lợi ích gì?” Ngụy Tự hỏi chen vào.

“Điện hạ muốn điều lợi gì, hãy cứ nói ra. Là nước chiến bại, họ Điền không dám từ chối!”

“Được!” Ngụy Tự lớn giọng, “tại hạ không cần thứ khác, chỉ cần Điền Tích Cương cúi đầu xưng thần!”

Huệ Vương khẽ hừm một tiếng, liếc xéo Ngụy Tự, đoạn khép mắt, vuốt râu vài lượt, mới từ từ mở mắt, phẩy tay về phía Trương Nghi: “Cứ theo lời ái khanh!”

“Thần tuân mệnh!” Trương Nghi vòng tay.

Chính vào lúc Trương Nghi đang điều binh khiển tướng, trù hoạch đoạt lại tám ấp Tương Lăng, chiến trường giữa Tần, Tề đã xảy ra một màn kịch tính. Ba ngày liền, ngày nào cũng có một tướng Tề dẫn thuộc hạ thân tín phản Tề, số lượng khác nhau.

Tất cả họ đều là người của chủ tướng Điền Kỵ trước đây, do phản đối Khuông Chương trị quân không nghiêm mà phải chịu phạt, có người suýt mất đầu, tự thấy tố cáo lên trên cũng vô ích, trong cơn giận dữ, đã quyết định bỏ sang đầu quân cho Tần.

Cùng lúc đó, Hắc điêu cùng các gian tế nước Tần cũng đã chứng thực chuyện họ bị phạt. Tư Mã Thác bèn triệu tập những kẻ đầu hàng tới đại trướng, đích thân thẩm vấn, từ đó biết được quân năm đô có không ít kẻ bất mãn với Khuông Chương, đến quỷ thần cũng không thể hiểu nổi cớ sao Tề Vương lại nhiệm một kẻ thế này làm tướng; còn biết Khuông Chương là người cổ quái, phản nghịch cha ruột, từ bỏ vợ con, mẹ bị cha giết chết, chôn trong chuồng ngựa; còn biết thường ngày Khuông Chương hoặc ở trong doanh trại, hoặc ở một mình ngoài thành Lâm Truy, không có bạn bè nào ở Tề... Nhìn vào thế giằng co suốt mấy tháng qua, đủ thấy Khuông Chương đích xác không biết dụng binh, cũng không đủ sức trị lý quân năm đô. Tư Mã Thác đã tin là thực, nhưng để đề phòng bất trắc, vẫn sắp xếp cho đám hàng quân tản mát khắp doanh trại, hứa rằng sau khi thắng Tề, sẽ tấu thỉnh Tần Vương phong thưởng.

Vài ngày sau đó, Tư Mã Thác phái kỵ mã về bẩm báo lên Trương Nghi, thỉnh cầu đánh Tề. Trương Nghi cho chim điêu chuyển thư, chấp thuận kế sách của Tư Mã Thác, lại một lần nữa nhấn mạnh “thấy đủ thì dừng”.

Tư Mã Thác nhận được mật thư của Trương Nghi, truyền lệnh ba quân sau ba ngày nữa quyết chiến với Tề. Đêm hôm đó, mây đen che kín mặt trăng, gió đông bắc thổi lồng lộng, gần tới bình minh, khi quân Tần đều đang ngon giấc, doanh trại thình lình bốc cháy khắp nơi, tiếng hô giết gần xa vang lên dậy đất. Quân Tần gặp lại thảm họa bị Công Tôn Diễn nửa đêm tập kích ngoài khe Hồ Lô ngày trước, ngàn vạn quân Tề bốn bề ập lại, sát phạt các ngả. Quân Tần choàng tỉnh khỏi giấc ngủ say, cuống cuồng ứng chiến, trong cơn hốt hoảng, không nhìn rõ thứ gì với thứ gì, hoặc bị giết chết, hoặc chém giết nhầm nhau, hỗn loạn trong biển lửa. Quân Tề đã chuẩn bị kỹ càng, đều mang giáp trụ, trong khi lính Tần trở tay không kịp, đa phần đều mình trần ứng chiến, có kẻ đến thương còn chưa kịp với, toàn bộ chiến trường gần như một trận đồ sát thẳng tay không hề cân sức.

Đại trướng trung quân nằm ở chính giữa doanh trại quân Tần, người Tề nhất thời vẫn chưa đánh tới. Tư Mã Thác hoàn toàn không ngờ được quân Tề sẽ đột kích, cuống quýt mang giáp đội trụ, cầm thương xông ra ngoài trướng, phóng mắt nhìn đi, xa gần đều thấy lửa bốc rừng rực, đặc biệt là khu trại phía sau.

Lúc này, Tư Mã Thác mới hiểu đã mắc lừa Khuông Chương. Kẻ phóng hoả, chắc chắn là đám lính Tề “phản bội” chạy sang hàng Tần. Tuy nhiên, cục diện lúc này đã không thể vãn hồi. Tư Mã Thác không chút trù trừ, lập tức truyền lệnh triệu tập ba quân, rút lui về Tống.

Vài nghìn lính Tần kết thành một đội, bảo vệ kín mít quanh Tư Mã Thác, mở đường máu xông khỏi vòng vây, chạy về phía biên giới Tống, vừa đi vừa hô hào thét gọi để triệu tập quân Tần. Lính Tần nghe thấy tiếng hô, liên tục gia nhập, khiến cánh quân mỗi lúc một đông, dần dần hình thành trận thế. Quân Tề rõ ràng cũng không có ý định bao vây tận diệt quân Tần, cũng không chặn kín ngả đường tới Tống, chỉ hô giết vang trời ở ba bể, như thể cố tình xua quân Tần chạy sang đất Tống.

Quân Tần tháo chạy khoảng sáu mươi dặm, tới biên giới Tống, trời đã hửng sáng. Tư Mã Thác ổn định thế trận, kiểm lại binh mã, năm vạn đại quân tổn thất quá nửa, quân nhu hao tổn gần hết.

Đúng vào lúc này, Hắc điêu báo tin, một cánh quân Tề đông hơn nữa đã tới biên giới Tề Tống, bày sẵn thế trận chờ đợi, song lại không có ý đuổi cùng giết tận, thậm chí còn có ý thả cho lính Tần thương tàn chạy đi, tức là họ đang “thấy đủ thì dừng”. Tư Mã Thác thở dài rầu rĩ, truyền lệnh hạ trại chờ đợi ba ngày, tìm kiếm binh lính tứ tán, gom kẻ bị thương về chữa trị, lại được thêm gần vạn. Mắt thấy quân nhu, trang bị, thậm chí cả cờ quạt, binh khí đều mất sạch trong lúc tháo chạy, Tư Mã Thác hiểu rõ đã không còn sức mà đánh nữa, bèn cấp báo về Hàm Dương, thuật lại tường tận, thỉnh cầu tăng viện.

Tần Huệ Vương sớm đã nhận được tin dữ do Hắc điêu báo về, nên cấp báo cầu viện của Tư Mã Thác vừa mới phát đi, đã lập tức nhận được chỉ lệnh thu quân về nước.

Tư Mã Thác dẫn tàn quân chậm chạp băng qua đất Tống, tiến về đất Ngụy, đồng thời xin Trương Nghi tiếp tế.

Cuộc chiến giữa hai nước lớn đông tây sau bốn tháng trời giằng co, đã kết thúc chóng vánh bằng sự toàn bại của quân Tần.

Khuông Chương lần đầu làm chủ tướng, trận đầu đại thắng, chém gần vạn địch, đả thương vô số.

Tin thắng trận về tới Lâm Truy, Tuyên Vương cả mừng, cười không khép nổi miệng, nói với Điền Anh: “Thế nào, quả nhân dùng đúng người chứ?”

“Đại vương thực khéo dùng người!” Điền Anh thực lòng thán phục, nhìn sang Tuyên Vương, “tuy nhiên, thần vẫn còn một mối hồ nghi, dám xin đại vương giải thích!”

“Nói đi.” Tuyên Vương cười nói.

“Hai mươi hôm trước, cả nước sục sôi, đua nhau dâng tấu, đàn hặc Khuông tướng quân, đến thần đệ cũng không thể ngồi im, tấu thỉnh trị tội Khuông tướng quân, duy có vương huynh tâm trầm khí ổn, vẫn tin tưởng Khuông tướng quân như lúc ban đầu, đưa ra lời hứa hôm xưa chặn lời thần đệ. Thần muốn biết, an nguy của năm vạn nhuệ binh, an nguy của toàn bộ Tề thất, đều nằm trong tay một người, không hiểu vì đâu vương huynh lại tin tưởng Khuông tướng quân đến thế?” Điền Anh nửa tâng bốc, nửa băn khoăn hỏi.

Tuyên Vương phá lên cười sảng khoái, đoạn nói: “Lòng tin của quả nhân, một nửa đến từ sự tiến cử của Tô Tần, còn một nửa, đến từ một người đàn bà!”

“Đàn bà?” Điên Anh sửng sốt tới trợn trừng hai mắt.

“Một người đàn bà đã chết, bị chôn trong chuồng ngựa, tên là Khải.”

“Mẹ đẻ của Khuông tướng quân?”

“Chính phải,” Tuyên Vương tiếp lời, “còn nhớ chuyện trước khi Khuông tướng quân xuất chinh, quả nhân có nói sau khi khải hoàn, sẽ dời mộ cho tiên mẫu chứ?”

“Thần có nhớ, nhưng Khuông tướng quân không chịu!”

“Đúng vậy,” Tuyên Vương thực lòng cảm khái, “một người, không chịu trái lời ngay cả người cha đã chết mà mình oán hận, thì làm sao có thể phụ lòng quả nhân?” Nói đoạn, cầm tiệp báo của Khuông Chương lên, ngắm nghía hồi lâu, cảm thán mà rằng, “có được tướng giỏi nhường này trong triều, quả nhân còn gì lo lắng nữa!”

“Thần đệ có một thỉnh cầu, kính mong vương huynh ân chuẩn!” Điền Anh vòng tay.

“Nói đi.”

“Thần xin dời mộ cho tiên mẫu Khuông tướng quân!”

“Nhưng...” Tuyên Vương do dự.

“Khuông tướng quân không chịu dời mộ cho tiên mẫu, là do tiên phụ tướng quân chưa cho phép mà đã qua đời. Thân làm bề tôi, tiên phụ tướng quân tất phải tuân mệnh đại vương. Nếu đại vương hạ chỉ dời mộ, anh linh tiên phụ tướng quân trên trời cao đâu dám không nghe? Tiên phụ Khuông tướng quân đã tuân chỉ, Khuông tướng quân cũng không thể trái lời tiên phụ, đương nhiên sẽ có thể dời mộ cho mẹ!”

“Được,” Tuyên Vương vuốt râu đáp, “chuyện này giao cho khanh. Có điều, tiên phụ và tiên mẫu của Khuông tướng quân vốn dĩ bất hoà, không nên chôn cùng một chỗ. Khanh hãy chọn lấy một phúc địa khác, cải táng cho tiên mẫu Khuông tướng quân, rồi lập từ đường, tỏ rõ lòng hiếu thảo của Khuông tướng quân!”

“Thần lĩnh chỉ!”

Quân Tần hoàn toàn không lường trước được sẽ đại bại thê thảm nhường này, nên lui quân vô cùng hỗn loạn, không những toàn bộ lương thảo, quân nhu, trang bị đổi lấy bằng vàng gần như mất sạch, khá nhiều tướng sĩ thậm chí còn không kịp mang giáp đội trụ, trong cơn hoảng hốt, chỉ kịp cuống cuồng vớ lấy binh khí ngắn tháo chạy thục mạng. Kẻ chết trận không kịp lấy xác, toàn bộ vứt lại cho người Tề, song vài nghìn kẻ bị thương thì không thể bỏ mặc. Thấy người Tề không có ý đuổi cùng giết tận, người Tần cũng thấy yên tâm, dìu đỡ nhau lũ lượt tháo chạy trên con đường cái thông tới biên giới Tống, nhìn từ xa, chẳng khác nào dân đói dắt dìu nhau lánh nạn vào lúc mất mùa.

Trước kia vàng bạc ngồn ngộn, thương dân vùng sông Tứ tranh nhau cung ứng, mà nay trắng tay mất hết, thương nhân lại lẩn sạch trơn. Suốt dọc đường đi, dân chúng xung quanh sợ bị quân lính đói khát cướp bóc, hè nhau mang thức ăn giấu kín, không ai dám ra mặt tiếp tế. Trương Nghi tìm đủ mọi cách, một mặt sai thuộc hạ ứng cứu, một mặt vào cung cầu cứu Ngụy Huệ Vương.

Nghe nói là Trương Nghi, Ngụy Huệ Vương truyền chỉ đóng cổng không tiếp.

Nhìn thấy cổng cung đóng sập, nghe tiếng then chốt khô khốc, Trương Nghi cười gượng lắc đâu, quay bước trở ra, đi tìm Ngụy Tự.

“Trương Tử vẫn còn mặt mũi tới ư?” Ngụy Tự vừa mở miệng đã trách móc phủ đầu, “phụ vương cùng bản cung nghe lời Trương Tử ba hoa, điều động năm vạn dũng sĩ, vũ khí công thành cũng đã sẵn sàng, chỉ chờ người Tần khải hoàn về tới, hạ trại bên bờ Tuy Thuỷ, xem cảnh võ binh Đại Ngụy thu hồi tám ấp Tương Lăng. Giờ thì sao, người Tần không được xem trận, ngược lại còn thành kẻ bị xem rồi đấy.” Hai mắt trợn trừng, lỗ mũi hếch lên, khoé miệng nhếch một nụ cười khinh khỉnh, “cái gì mà nhuệ binh Đại Tần, cái gì mà đánh đâu thắng đó, Trương đại tướng quốc, sao còn chưa đi xem bộ dạng hùng dũng của họ?”

Trương Nghi hoả bốc ngùn ngụt, chỉ muốn xông tới giáng ngay một đấm vào giữa mũi hắn, song lại chỉ siết chặt tay quyền, rồi từ từ thả ra.

Cả một ván cờ hay đã tan tành, Trương Nghi hối hận không kịp.

Đúng vậy, tất cả đều là lỗi của Trương Nghi. Kế sách phạt Tề do hắn khởi xướng, tuyến đường tấn công cũng do hắn vạch ra, cả sách lược đối trận với Tề, cũng do hắn từng bước trù hoạch.

Thế nhưng, hắn đã sai.

Rốt cuộc, sai ở chỗ nào?

Trương Nghi về phủ, quyết tìm nguyên do, nhắm mắt ngưng thần, suy ngẫm kỹ lưỡng từng chi tiết trong kế sách. Không thể trách Tư Mã Thác, theo tính khí của Tư Mã Thác, chắc chắn vừa tới Tề sẽ lập tức xông qua biên giới, đánh một trận một mất một còn. Lúc đó, thế Tần hừng hực như lửa, còn quân Tề mới vội vã tập hợp, Khuông Chương chưa được ai tin phục, quân Tần có cơ thủ thắng. Song Trương Nghi đã không cho Tư Mã Thác đánh, không những không cho đánh, còn bắt quân Tần đang hăng hái cầu chiến phải thận trọng chỉn chu, ôn tồn đạt lễ, tỏ cho thiên hạ thấy phong thái của vương sư!

Tư Mã Thác đã làm được, quân Tần đã làm được, tuy nhiên...

Nhìn vào cuộc chiến giằng co này, người Tề thắng lợi hoàn mỹ, không chút sơ sảy, toàn bộ quá trình trước sau, chẳng khác nào một trận Mã Lăng thứ hai: trước tiên bày ra tượng giả, tiếp đó bày ra thế vụng, sau nữa là thế quẫn, vào lúc hoàn toàn không thể ngờ tới, mới tuyệt địa phản kích, hơn nữa, còn chọn đúng thời cơ chuẩn xác nhất.

Khuông Chương kia quả là bậc kỳ tài! Nhưng cớ sao Trương Nghi hắn lại không suy đoán ra được? Nhìn vào xuất thân của Khuông Chương, chắc chắn kẻ đó không thể có được tài này. Sau lưng hắn là ai? Tô Tần ư? Tô Tần đâu biết dụng binh? Nếu như biết dụng binh, Tô Tần đã chẳng phải bám riết lấy Tôn Tẫn! Hơn nữa, trong toàn bộ quá trình, theo Trương Nghi được biết, Tô Tần không ở trong trướng Khuông Chương, kẻ ở trong trướng, chính là Mạnh phu tử. Lẽ nào là Mạnh phu tử? Hừm, nếu quả thực là lão phu tử hủ lậu đó dụng binh, trước hết phải hỏi đầu gối Trương Nghi xem có chịu tin không đã!

Trương Nghi suy đi nghĩ lại, vẫn hoàn toàn không thể nghĩ ra ván cờ này thua bởi đâu. Đang vắt óc nghĩ ngợi, thì công tử Hoa vào gặp, nói rằng tình thế Nguy cấp, quân Tần hành quân rất chậm, cần viện trợ gấp một lượng lớn quân nhu, đặc biệt là lương thảo và thuốc men.

“Tống Vương Yén đâu?” Trương Nghi hỏi.

“Rụt đầu rồi.” Công tử Hoa căm phẫn, “tại hạ hai lần vào cung, lão đều né tránh không gặp. Không chỉ có thế, lão còn cho quân Tống canh chừng dọc đường, sợ chúng ta cướp bóc của dân!”

“Lương thảo tại hạ gửi đi còn đủ cầm cự mấy ngày?”

“Gần cạn rồi. Tháo chạy hỗn loạn, nhiều tướng sĩ còn chẳng kịp mang nồi, người Tống đều chạy trốn sạch. Mấy hôm nay thu gom khắp nơi, song số lượng có hạn, nước xa không cứu được khát gần.”

“Đại vương nói sao?”

“Đại vương đã thu xếp tiền bạc lương thảo, chở qua ải Hàm Cốc tiếp ứng. Thế nhưng hiện tại, với tốc độ này, vượt qua nước Tống đã mất ba ngày, qua nước Ngụy ít nhất cũng mất ba ngày. Khó khăn nhất là nước Hàn, chỗ người Hàn, e phải phiền Trương huynh đi một chuyến.”

“Công Tôn Diễn ở đó, nếu tại hạ đi, e là hỏng chuyện!” Trương Nghi chau mày, lát sau, nhìn sang công tử Hoa, “vẫn là huynh đi thì hơn. Khi hắn ngộ nạn, chính huynh đã đưa hắn sang Tần!”

“Được!”

“Còn nữa,” Trương Nghi nhìn thẳng vào công tử Hoa, “chuyển lời với Tư Mã tướng quân, càng quẫn bách, càng phải điềm tĩnh khắc chế, lệnh cho ba quân không được phép làm bừa, nếu không, bao nhiêu công lao trước đây sẽ đổ sông đổ bể!”

Công tử Hoa cười méo xệch, đứng dậy lên đường.

Tình thế nguy ngập, công tử Hoa gấp rút đánh ngựa tới Tân Trịnh, đến phủ tướng quốc nước Hàn, trình bái thiếp cầu kiến.

Lính gác mang bái thiếp vào trong, chừng một khắc sau, quản gia bước ra, rối rít tạ lỗi, nói rằng Công Tôn Diễn không ở trong phủ. Công tử Hoa hiểu rằng Công Tôn Diễn không muốn gặp mình, nên đành cáo từ, đi thẳng đến cung thành, lấy danh nghĩa đặc sứ của Tần Vương hỏi vay lương Hàn Tuyên Vương.

Hàn Tuyên Vương không dám chậm trễ, sắp xếp cho công tử Hoa nghỉ trong dịch quán, triệu Công Tôn Diễn vào bàn. Song Công Tôn Diễn không phụng chỉ nhập cung, chỉ sai người gửi đến Hàn Vương một bức mật thư.

Hàn Vương đọc thư xong, chờ ba ngày, đợi công tử Hoa lại vào cung thúc giục, bèn triệu thượng khanh Công Trọng và đại phu tư nông lại, để họ thay nhau kể khổ. Tư nông than thở vùng Thượng Đảng đất Hàn hạn hán liền ba năm, nhiều nơi thóc lúa mất trắng, lương thực trong phủ dốc hết ra cứu chẩn mà vẫn không đủ, mười ngày trước còn phải phái sứ sang Sở hỏi mua lương.

Thượng Đảng quả thực hạn hán liền hai năm, dân đói thậm chí còn phải kéo nhau chạy sang đất Tần mưu sinh, sự thực này, công tử Hoa có nghe, nên cũng chẳng biết phải nói gì.

“Than ôi,” Hàn Tuyên Vương rầu rĩ thở dài, vòng tay vái công tử Hoa, “thực là hổ thẹn. Quả nhân vốn dĩ nghe nói Quan Trung có lương, đang định mặt dày tới hỏi xin Tần Vương chút ít, nào ngờ Tư Mã tướng quân phạt Tề, cung ứng lương thảo là việc lớn, quả nhân không dám quấy rầy, đành quay sang cầu cứu Sở Vương. Sở Vương đồng ý đổi thóc gạo lấy binh khí, quả nhân cũng đã nhận lời. Chuyến lương đầu tiên của Sở đang trên đường vận chuyển, nghe nói ít ngày nữa sẽ tới nơi. Nếu đặc sứ muốn chờ, đợi lương của người Sở chuyển đến, quả nhân sẽ tạm dừng phát chẩn, giao lại toàn bộ cho đặc sứ, được chăng?”

“Tạ ơn lòng hào sảng của đại vương!” Công tử Hoa vòng tay nói, “đại quân sắp tới đất Hàn, lương của Sở, e không tới kịp. Doanh Hoa khẩn cầu đại vương nể tình láng giềng hoà mục giữa Tần và Hàn, mà trích lấy chút ít lương thảo hiện còn trong kho lương, cứu tế trong lúc ngặt nghèo. Doanh Hoa hứa rằng, nếu qua được cơn Nguy cấp trước mắt, nước Tần sẽ bù đắp gấp mười lần!”

“Xin hỏi đặc sứ,” Hàn Tuyên Vương nhìn thẳng vào công tử Hoa, “chút ít lương thảo như lời đặc sứ, là bao nhiêu?”

Công tử Hoa trầm ngâm chốc lát, rồi vòng tay đáp lời: “Một nghìn thạch thóc gạo là đủ!”

“Vương thúc,” Hàn Tuyên Vương nhìn sang Công Trọng, “trong kho phủ còn lại bao nhiêu lương?”

“Hồi bẩm đại vương,” Công Trọng vòng tay đáp, “kho lương do tư đồ cai quản, thần không rõ!”

“Triệu tư đồ!” Hàn Tuyên Vương nhìn sang nội tể.

Nội tể truyền chỉ, chờ đúng gần nửa canh giờ mới thấy quan tư đồ lật đật tới nơi.

“Tư đồ đại nhân,” Hàn Tuyên Vương sốt sắng hỏi liền, “trong kho phủ còn bao nhiêu lương?”

“Hồi bẩm đại vương,” tư đồ đáp lời, “kho phủ đã trơ nền đất!”

“A?” Hàn Tuyên Vương kêu lên thất kinh, giận dữ đập bàn, “bao nhiêu thóc lúa, tư đồ đã mang đi đâu?”

Tư đồ giật nảy mình, kinh hãi quỳ sụp xuống dập đầu lia lịa, lắp bắp: “Thần... mấy tháng gần đây ba lần phụng chỉ cứu chẩn thiên tai, đã đem toàn... toàn bộ thóc lúa... trong kho phủ điều... điều tới Thượng Đảng cả rồi!”

“Vậy ư?” Hàn Tuyên Vương thu lại ánh nhìn, thở dài ảo não, mặt mũi nhăn nhó quay sang công tử Hoa.

Không còn gì để nói thêm nữa, công tử Hoa vòng tay cáo biệt, bước ra khỏi điện, đi xuống bậc thềm, ngoảnh đầu nhìn về cửa điện, hú lên một tiếng thật dài như tiếng điêu kêu, rồi hậm hực bỏ đi.

Vài ngày sau, đại quân Tần như một con rết khổng lồ đã bị trọng thương, chậm chạp di chuyển qua đất Ngụy, rồi ì ạch trườn qua biên giới Hàn.

Nhìn từ xa, tàn quân vẫn cờ xí chỉnh tề, gắng gượng duy trì sự tôn nghiêm của quân thiết giáp Đại Tần. Đi trước mở đường là quân bộ, giương cao lá cờ mang chữ “Tần”, song bước đi rất chậm. Tiếp đến là xe chiến, tất cả đều chở theo người bị thương nặng, nằm ngồi ngổn ngang. Tiếp nữa là binh lính bị thương nhẹ, vịn vào xe mà đi. Cuối cùng là binh lính khoẻ mạnh.

Đi sau rốt là Tư Mã Thác, không ngồi xe, tự vác thương mà đi. Hộ tống bên cạnh là mấy tên lính cầm cờ hiệu, luân phiên nhau vác cờ chủ tướng.

“Con rết” chỉnh tề này tiếp tục uể oải trườn đi thêm ba ngày nữa, càng đi càng chậm, cuối cùng cứng đờ, không nhúc nhích nổi nữa.

Mấy người dáng vẻ tướng quân đi xuống cuối đội hình, cùng Tư Mã Thác ngồi vòng quanh trên một bãi đất trống ven đường.

“Tướng quân, nếu vẫn không cho phép tự kiếm thức ăn, quả thực không cầm cự thêm được nữa!” Một vị lão tướng lên tiếng đầu tiên.

Tư Mã Thác hiểu rõ chữ “kiếm” này nghĩa là gì. Suốt dọc đường đi, Tư Mã Thác năm lần bảy lượt hạ lệnh nghiêm cấm, cũng là bởi chữ “kiếm” này.

“Còn có thể cầm cự bao lâu?” Tư Mã Thác nhìn sang một viên thiên tướng ngồi ở ngoài cùng. Là người phụ trách quân nhu.

“Hồi bẩm tướng quân,” người này vòng tay đáp, “tuyệt lương đã hai ngày. Từ tối hôm qua, tướng sĩ chỉ uống nước cầm hơi. Chỗ thóc lúa mà Trương tướng quốc gửi cho, chỉ còn sót lại chút ít, đều nhường cho thương binh cả. Đến mai, e là đến thương binh cũng phải uống nước suông!”

“Đã đi đến đâu rồi?” Tư Mã Thác ngoảnh sang nhìn viên tướng đi trước mở đường là Xa Vệ Quốc.

“Đi thêm ba mươi dặm nữa là tới Tỵ Thuỷ và ải Hổ Lao!

Qua ải Hổ Lao sẽ tới đất Củng và Yển Sư, tiếp giáp với địa phận của Đông Chu Công.” Xa Vệ Quốc vòng tay đáp.

“Ba mươi dặm?” Tư Mã Thác khẽ lẩm bẩm.

“Tướng sĩ không đi nổi nữa, theo như tốc độ trước mắt, cũng phải mất ba ngày mới tới ải Hổ Lao, không có gì ăn, e là...” Lão tướng kia đầy vẻ lo âu.

Tư Mã Thác đưa mắt nhìn sang.

“E là không còn mấy người cầm cự được đến khi qua ải!” Viên tướng kia nghiến răng nói thẳng.

Tư Mã Thác lừ mắt, đoạn ngồi thụp xuống, hai tay bưng mặt.

“Tướng quân, cho kiếm thức ăn thôi. Tướng quân không phải nói gì, cứ gật đầu là được!” Viên tướng kia khẩn khoản, rồi lại hạ thấp giọng, nói thêm một câu, “nếu đại vương quở trách, tướng quân cứ... cứ đổ hết cho mạt tướng!”

“Xằng bậy!” Tư Mã Thác trợn trừng hai mắt, giận dữ quát lên.

Người kia chép miệng vài cái, ngoảnh đầu nhìn ra xa. Tư Mã Thác nằm vật xuống đất, hai mắt nhắm nghiền.

Bên tai Tư Mã Thác lại vẳng lên giọng nói của Trương Nghi: “Càng quẫn bách, càng phải điềm tĩnh khắc chế, lệnh cho ba quân không được phép làm bừa, nếu không, bao nhiêu công lao trước đây sẽ đổ sông đổ bể!”

Tư Mã Thác mở mắt, nhìn sang Xa Vệ Quốc: “Xa tướng quân, Cam Mậu tướng quân hẳn có tiếp tế?”

“Hôm qua đã bẩm báo với tướng quân rồi, lương thảo tiếp tế đã tới ải Hào, có lẽ hôm nay sẽ đến Lạc Dương.”

“Nếu đi cả ngày lẫn đêm, ngày kia có thể tới ải Hổ Lao!” Tư Mã Thác ngồi bật dậy, hai mắt vụt sáng.

“Tướng quân,” lão tướng kia lại không có vẻ vui mừng, “nhưng khó là ở chỗ, làm thế nào cầm cự được tới ngày kia?”

“Được rồi,” Tư Mã Thác thở hắt ra, “truyền lệnh các bộ, vay lương của dân chúng xung quanh! Nhớ kỹ, là vay, không phải cướp! Còn nữa, cho các tướng sĩ tháo vát xuống sông hồ lân cận bủa lưới đánh cá săn thú!” Quay sang Xa Vệ Quốc, “Xa tướng quân, đi tìm các thầy lang quanh vùng, xin thảo dược chữa trị cho tướng sĩ bị thương!”

Chư tướng dạ ran, hào hứng tản đi truyền lệnh.

Quân Tần được lệnh, không còn giữ kẽ nữa, chưa đầy một khắc, tất cả những ai còn đi lại được đều hổ hởi ra mặt, như một bây sói đói ùa qua đường lớn, chạy bủa về phía các xóm làng lân cận. Khắp một vùng đồng rộng mười mấy dặm vuông, đâu đâu cũng thấy hình bóng lính Tần nhấp nhô “vay” lương.

Làng xóm của người Hàn đều có thóc gạo. Song mặc cho người Tần nói bã bọt mép, dân Hàn cũng khăng khăng không chịu cho vay. Lính Tần chẳng biết làm sao, đành phải dùng bạo lực, bất chấp tất cả, cứ thế xông vào khiêng thóc gạo đi luôn. Thế là cả đám ông già bà cả, phụ nữ trẻ con gào khóc om sòm, kẻ lôi người kéo, tìm đủ mọi cách giằng giật lại, hoặc túm tay hoặc níu áo, hoặc ôm chân hoặc lạy lục van xin, đeo bám nhằng nhẵng cầu khẩn người Tần chớ “cướp” “chút gạo sống còn” của họ.

Quân Tần quẫn quá, xô đẩy, đạp ngã thôn dân, vội vã chạy đi.

Tất cả cảnh tượng này đều được vài chục thợ vẽ nấp sẵn trong cánh rừng lân cận phác họa lại vô cùng chi tiết.

Từng tấm lụa vẽ được chuyển vào phủ tướng quốc nước Hàn, trình lên Công Tôn Diễn đang ngồi thưởng rượu trong nhã thất.

Công Tôn Diễn giở xem vài tấm, lại đưa bầu lên miệng, uống ực một ngụm lớn, đoạn đẩy xấp lụa về phía Tô Tần đang ngồi đối diện.

Tô Tần xem xong, khẽ cười một tiếng, đẩy trở lại.

“Hãy trình lên đại vương, để đại vương xem con dân của mình bị đạo quân nhân nghĩa giày vò ra sao.” Công Tôn Diễn phẩy tay.

Một người tiến vào, bưng chồng lụa lên, sải bước đi ra.

Công Tôn Diễn bật cười vài tiếng, nhìn sang Tô Tần: “Thực không ngờ Tô huynh cũng độc địa ra trò!”

“Chao ôi!” Tô Tần thở dài, “cũng là bất đắc dĩ mà thôi!” Rồi đưa ánh mắt tràn đầy khâm phục nhìn về phía Đại Lương, “đích xác là một ván cờ tuyệt diệu của Trương huynh! Đại quân Tần tuy thảm bại thất thểu, song vẫn có thể Tề chỉnh lui quân về Hàm Dương, quả thực đã khiến danh tiếng về đạo quân chính nghĩa, bang quốc lễ nghi vang khắp thiên hạ. Ngược lại nhìn người Tề, thắng nhưng không đường hoàng! Người Tần tuy bại mà vinh, người Tề tuy thắng mà bại. Một chính một phản, người Tần không thắng cũng là thắng rồi.”

Công Tôn Diễn phá lên cười lớn: “Tô huynh và Trương Nghi, thực đúng là kỳ phùng địch thủ. Nếu Trương Nghi nhìn thấy những bức họa này, lại chẳng tức uất!”

“Nói tới chuyện này, đã cho tại hạ một gợi ý!” Tô Tần nhìn thẳng vào Công Tôn Diễn “tướng quốc đại nhân có thể gửi toàn bộ những bức họa này tới Ngụy thất, coi như quốc thư, để Ngụy Vương và Trương huynh cùng xem!”

“Được!” Công Tôn Diễn lập tức nhận lời.

“Công Tôn huynh,” Tô Tần đứng dậy, vòng tay, “tại hạ phải cáo từ rồi!”

“Tô huynh định đi đâu?”

“Sang Sở!”

“Hẳn là đi tìm Trần Chẩn?”

“Còn cả Huệ Thi.”

Công Tôn Diễn phá lên cười lớn: “Tô huynh lần này muốn xé xác Trương Nghi, thu hồi đất đai đã mất đấy ư?” Cầm bầu rượu lên, nhấp hai ngụm nhỏ, rồi thủng thẳng nói, “Tô huynh, muốn khiến Trương Nghi khốn đốn, chỉ cần tại hạ và Bạch Hổ huynh đệ là đã đủ rồi!”.

Image

LOẠN NỘI CUNG, NGỤY VƯƠNG PHTỰMƯU TUNG CỤC, QUẦN ANH ĐUỔI NGHI

Tư Mã Thác dẫn tàn quân về đến Hàm Dương, tự trói quặt hai tay, quỳ gối lê vào cung yết kiến Huệ Văn Vương.

Huệ Văn Vương bước lại gần, đỡ Tư Mã Thác dậy, tự tay cởi trói, nắm tay dẫn vào trong cung thất.

Bên trong, yến tiệc đã bày sẵn, hai tấm chiếu, vài món dân dã, một bình rượu ấm. Huệ Văn Vương ấn Tư Mã Thác ngồi xuống chiếu khách, rồi quay về chiếu chủ, cầm bình rót rượu, đưa cho Tư Mã Thác một chén.

“Đại vương,” Tư Mã Thác nhận chén rượu, đổi ngồi thành quỳ, bật khóc mà nói, “tội thần... không dám uống!”

“Không phải bảo khanh uống!” Huệ Văn Vương hất rượu trong chén lên không trung, “chén thứ nhất là rượu tế, kính tế tướng sĩ tử trận phương xa!”

Tư Mã Thác cũng hất chén rượu lên không trung.

Huệ Văn Vương tự rót một chén, nâng lên: “Chén thứ hai là rượu phạt, quả nhân xin uống!” Rồi một hơi uống cạn.

Tư Mã Thác cũng rót một chén, nâng lên định uống, nhưng lại bị Huệ Văn Vương ngăn lại: “Chén này không có phần của tướng quân. Là quả nhân không nghe tướng quân, khăng khăng phạt Tề, mới thành ra kết cục này. Không giấu tướng quân, Doanh Tứ đã tới thái miếu nhận tội, tự phạt mình ba tháng không gần tửu sắc. Hôm nay, chỉ là để tiếp đón tướng quân mà thôi.” Chỉ vào hai đĩa thịt, “đây là dành riêng cho tướng quân.” Chỉ vào hai đĩa rau phía mình, “còn đây là của quả nhân!”

“Đại vương...” Tư Mã Thác nước mắt giàn giụa, dập đầu sát đất.

“Tướng quân hãy ngồi dậy!” Huệ Văn Vương nâng chén rượu lên, “chén này là để tiễn biệt tướng quân, tướng quân và quả nhân đều phải uống!”

“Tiễn biệt?” Tư Mã Thác thoáng sững sờ, rồi ngồi thẳng dậy, nhìn sang Huệ Văn Vương.

“Tướng quân hãy về phủ nghỉ ngơi ba ngày, ngày thứ tư lên đường, tới Hán Trung, hợp sức với Ngụy Chương thu phục Ba Thục!” Huệ Văn Vương uống xong, chìa chén rỗng về phía Tư Mã Thác.

“Ba Thục thế nào rồi?” Tư Mã Thác không uống, nhìn trân trân vào Huệ Văn Vương.

“Tất cả đúng như Trương Nghi dự liệu, quân Tần ở Thục không phục Trần Trang, nhiều nơi làm phản, Ngụy Chương không động một binh một tốt, đã ung dung thu về đất Thư và Lang Trung, bóp chặt yết hầu Ba Thục, Giang Châu đã trong tầm tay. Chỉ có điều, quân Tần ở Thục đa phần không phục Ngụy Chương, chỉ chờ tướng quân tới Thục, đất Thục sẽ không đánh mà bình định!”

“Ngay ngày mai thần sẽ khởi hành!” Tư Mã Thác nâng chén, một hơi uống cạn.

“Hãy nhớ, bắt sống Trần Trang, quả nhân muốn đích thân thẩm vấn!”

“Thần lĩnh chỉ!”

Khi Ngụy Huệ Vương xem những bức họa mô tả cảnh lính Tần cướp bóc thóc gạo do đặc sứ của Hàn Vương gửi tới, trong lòng không vui, không buồn, nhưng có thể nói là lẫn lộn đủ mùi chua cay mặn đắng.

Trong đó, nhiều nhất là vị đắng.

Không phải đắng vì người Tần, mà là đắng cho bản thân. Mới có bao lâu, hồi mới lên ngôi kế vị, Huệ Vương đã từng uy phong lừng lẫy một thời, giàu có nhờ đất đai trù phú, uy chấn bởi võ binh, bắc đánh bại Triệu, nam uy hiếp Sở, đông chế ngự Tề, tây trấn áp Tần, đặc biệt là trận Thiếu Lương, không chỉ giữ được bảy trăm dặm Hà Tây, mà còn khiến Tần Hiến Công vong mạng, người Tần suốt mười sáu năm không dám dõi mắt về đông, Huệ Vương một cái hắt hơi, đủ khiến công hầu thiên hạ run rẩy.

Từ lúc Tây Tần trỗi dậy, từ khi Bạch Khuê tạ thế, Huệ Vương bắt đầu trượt dài xuống dốc. Trước tiên để mất Hà Tây vào tay người Tần, tiếp đến lại mất Hình Sơn vào tay người Sở, sau đó hai lần đại bại trước người Tề, cuối cùng đánh mất tám ấp Tương Lăng. Trong suốt thời gian ấy, Huệ Vương từng dựa vào Trần Chẩn, từng dựa vào Huệ Thi, từng dựa vào Tô Tần, từng dựa vào Bàng Quyên, từng dựa vào Trương Nghi, cuối cùng dựa vào người Tần. Tuy nhiên, sự thực xương máu đã mở mắt cho Huệ Vương thấy, toàn bộ những người đã từng dựa dẫm, đều không đáng tin cậy. Việc tới hôm nay, tất cả những gì từng có đã mất cả rồi, tất cả những gì trôi qua đã thành quá khứ.

Càng cay đắng hơn nữa, là Huệ Vương thực sự cảm thấy mình đã già rồi, già thực rồi.

Ngụy Huệ Vương than thở một hồi, chợt muốn ra ngoài tản bộ cho vơi cơn trầm uất, bèn chống tay xuống đất, dợm đứng dậy.

Huệ Vương gắng gượng mấy lần, vẫn không nhấc mình dậy được.

“Tỳ nhân?” Huệ Vương khẽ gọi.

Tỳ nhân nghe thấy, vội vã chạy lại, đỡ Huệ Vương dậy. Vua tôi hai người bước ra khỏi thư phòng, bước lên con đường rải sỏi.

Giờ đã cuối thu, gió bắc vi vút, lá cây rụng lả tả, xoáy tròn dưới đất. Mới đi được vài bước, chợt trông thấy cung chính ở hậu cung từ phía trước tiến lại, sắc mặt hốt hoảng, hiển nhiên là đang định tới ngự thư phòng tìm tỳ nhân, nào ngờ lại gặp ngay Huệ Vương ở đây, vội quỳ sụp xuống, lắp bắp không thành câu: “Đại... đại vương...”

“Ngươi sao thế?” Huệ Vương ngạc nhiên hỏi.

Cung chính càng lắp bắp: “Nội... nội...”

Tỳ nhân biết cung chính tới để tìm mình, vả lại nhìn bộ dạng hốt hoảng của ông ta, đoán chắc trong cung đã xảy ra chuyện lớn, bèn chỉ về phía đình hóng mát, điềm đạm nói: “Hãy lên đình, ta hầu đại vương đi dạo mát một lát rồi tới!”

Tỳ nhân cùng Ngụy Huệ Vương đi dạo quanh hồ hai vòng, rồi đưa về thư phòng, sau đó vội vã trở ra, hộc tốc đi tới đình hóng mát, vừa đến đã hỏi phủ đầu: “Chuyện gì?”

“Triệu Cơ chết rồi!” Cung chính sớm đã định thần trở lại, vội vòng tay đáp.

“Triệu Cơ?” Tỳ nhân kinh hãi, “cớ sao lại chết?”

“Treo cổ tự vẫn!” Cung chính thì thào, “có cái này!” Đưa tay chỉ vào bụng.

Tỳ nhân hít ngược một hơi khí lạnh: “Sao ngươi biết là có thai?”

“Sau khi chuyện xảy ra, chính tiểu nhân đã hạ Triệu Cơ xuống, rồi khám người một lượt. Triệu Cơ là... là vũ cơ kia mà!” Cung chính lại chỉ vào bụng.

Đúng vậy, vũ cơ ai cũng vóc dáng mảnh mai, đặc biệt là Triệu Cơ, nổi tiếng vì thân hình uyển chuyển, trong cung khó ai sánh bằng.

“Người khác có biết không?”

Cung chính lắc đầu: “Tiểu nhân biết là chuyện lớn, không dám hé răng, bảo họ ở nguyên trong viện, không được vào trong, rồi lập tức tới bẩm báo ngay.”

Tỳ nhân ngẫm nghĩ chốc lát, rồi rảo bước xuống đình, cùng cung chính hối hả đi tới nơi xảy ra chuyện.

Đó là tẩm cung của Triệu Cơ, một viện nhỏ một cổng. Trong viện chật kín người, đều đứng lặng phắc, đa phần là cung nữ và cung nhân thân thiết với Triệu Cơ, mặt ai cũng đầy vẻ hoang mang.

Triệu Cơ treo cổ trên xà ngang tẩm cung, không để lại một chữ. Tỳ nhân vén chăn, đưa tay sờ xuống bụng Triệu Cơ, quả nhiên thấy đã lùm lùm.

“Gọi ngự y tới đây!” Tỳ nhân khẽ ra lệnh, “còn nữa, bảo họ ra ngoài hết, chỉ giữ lại mấy thị nữ của Triệu Cơ!”

Cung chính vội vã đi ra, một lúc sau, đã dẫn theo ngự y bước vào.

Ngự y vén chăn, nới xiêm y của Triệu Cơ, khám thi thể một lượt, rồi ra khỏi buồng, khẽ giọng bẩm báo: “Là tự vẫn. Nhìn vào vết bầm trên thi thể, có lẽ đã chết khoảng ba canh giờ, long thai đã mang chừng sáu tháng. Trước khi tự vẫn còn được lâm hạnh, trong hạ bộ còn lưu long tinh!”

Tỳ nhân nghe vậy, trán toát mồ hôi. Tỳ nhân biết chắc, do sức khoẻ sa sút, tâm trạng buồn bực, Huệ Vương lâu nay không hề lâm hạnh bất cứ phi tần nào, đương nhiên cũng không có Triệu Cơ. Lệnh cấm chốn hậu cung cực kỳ nghiêm ngặt, được phép ra vào tự do, chỉ có mấy vị vương tử. Hơn nữa các vương tử ra vào lúc nào, đều có người ghi chép chi tiết, cũng phải có cung nhân đi theo.

Hiển nhiên, kẻ khiến Triệu Cơ mang thai, chắc chắn là người được phép tự do ra vào hậu cung.

Triệu Cơ là vũ cơ được Ngụy Huệ Vương sủng ái nhất, chuyện này kiểu gì cũng không thể che giấu được. Tỳ nhân đuổi ngự y và cung chính ra, cho gọi ba thị nữ chuyên hầu hạ bên Triệu Cơ vào.

Ba thị nữ quỳ mọp xuống, dập đầu sát đất.

“Nói đi,” tỳ nhân nhìn trừng trừng vào bọn họ “mấy tháng lại đây, là ai đã gần gũi với Triệu Cơ?”

Ba thị nữ đưa mắt nhìn nhau, cùng run lên cầm cập.

Tỳ nhân ánh mắt tựa kiếm, xuyên thấu tâm can. Ba thị nữ không dám nhìn thẳng vào tỳ nhân, đều cúi gằm mặt xuống.

Tỳ nhân chỉ vào thị nữ ở giữa, nghiêm giọng quát lớn: “Người ở giữa ở lại, còn lại đi ra!”

Hai thị nữ ở hai bên đứng lên, lui ra ngoài.

“Nói đi, là ai đã gần gũi với Triệu Cơ?” Tỳ nhân lặp lại câu hỏi.

“Nô... nô tỳ không biết...” Thị nữ lắp bắp.

“Bản Tề đang hỏi thay đại vương đó, ngươi nói không biết, nếu bản té điều tra ra không phải ngươi không biết, tức là phạm tội khi quân, đáng tru di gia tộc, ngươi hãy suy nghĩ cho kỹ!” Tỳ nhân ánh mắt bức bách.

“Nô... nô... nô tỳ... đó là... đó là... là... điện hạ...” Thị nữ lắp bắp một chốc, rồi nghiến chặt răng bật ra hai tiếng.

“Tốt lắm. Nói xem, điện hạ đã làm những gì?”

“Nô... nô tỳ... không... không biết. Hôm đó, nô tỳ nhìn thấy điện hạ... tới tận đây tìm Triệu Cơ, gọi ra ngoài... Triệu Cơ không chịu đi, chỉ khóc. Điện hạ... điện hạ... liền... liền lồi Triệu Cơ... lên giường...”

“Ngươi nhìn thấy?” Tỳ nhân lại hỏi.

“Vâng. Cả ba người chúng nô tỳ đều ở đó, ai cũng kinh hãi rụng rời, nô tỳ... nô tỳ...” Nói rồi ôm mặt khóc.

“Được rồi,” tỳ nhân khép mắt một lát, đoạn mở mắt ra, nhìn sang thị nữ, “nói với hai kẻ còn lại, chuyện này kết thúc ở đây, không ai được phép hé lộ, ở đây trông nom thi thể Triệu Cơ cho cẩn thận, cho tới lúc nhập liệm!”

Thị nữ vâng dạ rồi lui ra.

Tỳ nhân gọi cung chính vào, căn dặn chuẩn bị quan tài cho Triệu Cơ, nhập liệm theo nghi lễ, sau đó quay về ngự thư phòng.

Do liên quan tới điện hạ, tỳ nhân không muốn làm to chuyện. Sự việc vốn dĩ đã sóng yên biển lặng, nào ngờ phía Đông cung lại tự làm rối chuyện.

Người gây rối chính là Thiên Hương. Ngụy Tự dan díu với Triệu Cơ, Thiên Hương từ đầu đã biết. Nàng hiểu rõ con người Ngụy Tự, vốn dĩ cũng chẳng yêu thương gì hắn, nên cũng chẳng buồn bận tâm, cứ lờ đi như không biết, cho tới khi Triệu Cơ bụng ngày một to.

Hay tin Triệu Cơ tự vẫn, tỳ nhân tới xem xét, thẩm vấn cung nữ của Triệu Cơ, Thiên Hương lúc này mới cuống lên, tóm lấy Ngụy Tự làm ầm ĩ một phen. Ngụy Tự ăn vụng gây hoạ, biết mình đuối lý, mặc cho Thiên Hương nổi cơn thịnh nộ, chỉ cúi đầu lặng câm.

“Nói mau, rốt cuộc là thế nào?” Thiên Hương truy vấn tới cùng.

Ngụy Tự thoạt tiên không nói, bị nàng dồn tới đường cùng, đành phải kể rõ đầu đuôi, cả chuyện hôm đó xông vào tẩm cung của Triệu Cơ, cưỡng bức nàng ta ngay trước mặt thị nữ.

“Kẻ thối tha này, sao có thể làm ra chuyện dâm loạn nhường ấy?” Thiên Hương tức uất.

Sáng sớm hôm sau, trong tẩm cung của Triệu Cơ lại xảy ra chuyện lớn, ba thị nữ được lệnh trông nom linh cữu cho Triệu Cơ đều theo gót nàng, dùng lụa trắng thắt cổ tự vẫn ngay trước linh cữu Triệu Cơ, còn thi thể Triệu Cơ đã nhập liệm chờ chôn bỗng không cánh mà bay.

Sự việc trở nên ầm ĩ, tỳ nhân không dám giấu giếm, đành phải bẩm báo sự tình lên Huệ Vương. Huệ Vương nổi giận đùng đùng, lệnh cho cung uý cùng phủ tư đồ điều tra kỹ lưỡng, tỳ nhân giám sát.

Điểm ly kỳ nhất của vụ án, là thi thể của Triệu Cơ. Qua vài ngày lục soát khắp trong ngoài, có người tìm thấy một cái xác nữ không đầu dưới sông Biện Thuỷ cách Đại Lương hơn chục dặm, bụng bị mổ toang, khoét mất tử cung.

Tỳ nhân hay tin, tóc gáy dựng ngược, sai ngự y từng chẩn đoán Triệu Cơ mang thai tới nghiệm xác. Do tiết trời giá lạnh, thi thể chưa thối rữa, chỉ trương phểnh do ngâm nước quá lâu.

“Chính là Triệu Cơ!” Ngự y khám xong, khẳng định chắc nịch.

“Dựa vào đâu mà đoán?” Tỳ nhân hỏi.

“Ồ...” ngự y do dự một lát, nói khẽ, “mặt trong đùi trái có một nốt ruồi đen, nằm sát chỗ kín, to bằng hạt gạo, không thể nhầm được.”

Tỳ nhân không hỏi nữa, sai đặt thi thể vào quan tài, đổ đầy băng vào, đặt trong một gian nhà vắng ở ngoại ô, phái binh lính cầm thương canh gác, lệnh cho ngự y viết tấu chương nghiệm xác, trình lên Huệ Vương.

Huệ Vương đọc xong, toàn thân run lên bần bật, miệng lắp bắp: “Nói mau, là... là... là... giống súc sinh nào?”

Tỳ nhân quỳ xuống, dập đầu, bật khóc, không nói gì.

“Quả nhân biết là ai rồi!” Huệ Vương thở dốc một chốc, rồi gằn mạnh từng tiếng, “truyền chỉ, gọi Ngụy Tự tới!”

Vào đúng thời khắc này, nghe là Huệ Vương truyền chỉ, Ngụy Tự mặt cắt không còn hạt máu.

Sự việc đã tới nước này, không chỉ ngôi thái tử lung lay, mà còn có cơ mất mạng. Ngụy Tự nhìn sang Thiên Hương, ánh mắt cầu cứu.

Có lẽ do sợ hãi quá độ, Thiên Hương hai mắt trợn trừng, hai con ngươi như đông cứng trong hốc mắt.

“Nói mau, ta lo sắp chết rồi đây!” Ngụy Tự quýnh quáng.

“Chỉ còn một con đường!” Thiên Hương nhìn trân trân vào Ngụy Tự, cất giọng rành rọt, “chết không nhận tội!” Dừng lại một chốc, nói tiếp, “những kẻ biết rõ nội tình đều đã chết cả, không còn ai đối chất, chỉ cần điện hạ không nhận tội, sẽ chẳng ai làm gì được. Hơn nữa, điện hạ là thái tử, là đại vương tương lai, ngoài phụ vương ra, ai dám to gan đối địch với chàng?”

“Vẫn còn mấy kẻ biết nội tình đấy!” Ngụy Tự lẩm bẩm.

“Ai?”

“Mấy cung nhân bên cạnh ta, chính họ dẫn ta đi.”

“Tống cổ họ đi!”

“Tống cổ đi đâu?”

“Tạm thời tới An Ấp lánh mặt. Những việc còn lại, không cần bận tâm.”

“Tùy nàng.”

“Còn nữa,” Thiên Hương nói tiếp, “nếu phụ vương dùng tới cực hình, điện hạ không những quyết không được nhận, mà còn phải kêu oan ầm ĩ, gào khóc thật lớn, đừng sợ làm to chuyện. Đây là chuyện xấu trong nhà, điện hạ càng làm ồn ào càng tốt. Dù sao cũng không thể tra ra chứng cứ, chẳng ai làm gì nổi điện hạ.”

“Tỳ nhân chắc chắn đã biết!” Ngụy Tự lại lẩm bẩm, “cả ngự y nữa!”

“Thiếp biết là tỳ nhân đã biết, nhưng ông ta không có bằng cứ. Còn ngự y, cứ để thiếp lo!”

“Không phải nàng... lại...” Ngụy Tự ngập ngừng dò hỏi.

“Yên tầm, thiếp sẽ không giết ông ta.” Thiên Hương liếc xéo Ngụy Tự, “chẳng phải ông ta còn có gia đình vợ con? Doạ dẫm vài câu, còn dám nói bừa?”

Ngụy Tự lúc này mới vững tâm trở lại, nghiến ràng tới yết kiến Huệ Vương.

Cung nhân không dẫn Ngụy Tự tới ngự thư phòng, mà đưa thẳng tới thiên điện trong tiền viện vương cung. Ngụy Huệ Vương ngồi ngay ngắn trên ngai cao giữa điện, ánh mắt lạnh lẽo. Tỳ nhân đứng cạnh. Hai bên điện, mỗi bên lừng lững bốn gã vệ sĩ cao to lực lưỡng, mặt mũi lâm lì.

Nhìn thấy trận thế này, hai chân Ngụy Tự bất giác run lên lẩy bẩy. Ngụy Tự không dám lại gần, quỳ sụp xuống ngay bên cửa.

“Lại đây!” Ngụy Huệ Vương cất giọng lạnh lẽo.

Ngụy Tự lê gối lên vài bước, dập đầu.

“Kéo lại đây!” Huệ Vương trầm giọng ra lệnh.

Hai tên vệ sĩ tiến lại, mỗi kẻ xốc một bên nách, lôi xềnh xệch Ngụy Tự lại gần.

Ngụy Tự giọng run bần bật, miệng méo xệch như khóc: “Phụ vương... có... có chuyện... gì ư?”

“Hừm,” Ngụy Huệ Vương cười nhạt, “chuyện do ngươi làm, lại còn dám hỏi?”

Ngụy Tự hiểu rằng đã không còn đường lui, bỗng chốc lại thêm vài phần gan góc, giọng nói tự dưng cũng hết run rẩy: “Phụ vương, nhi thần đã làm sai chuyện gì, nhi thần quả tình không biết!”

“Triệu Cơ!”

“Triệu Cơ sao kia?” Ngụy Tự ngơ ngác ra vẻ vô can.

“Triệu Cơ làm sao, ngươi biết rõ nhất!” Ngụy Huệ Vương đập mạnh xuống án.

“Nhi thần... thực sự không biết!” Ngụy Tự cãi cố.

“Quả nhân sẽ cho ngươi chết được rõ ràng!” Huệ Vương nhìn sang tỳ nhân, “đưa cho hắn xem!”

Tỳ nhân bước lại, đưa cuộn thẻ tre cho Ngụy Tự.

Ngụy Tự mở xem vài thẻ, dập đầu cồm cộp, gào lên thật lớn: “Phụ vương, nhi thần bị oan, nhi thần bị oan...”

“Nói, ngươi oan uổng chỗ nào?” Huệ Vương cười nhạt.

“Nhi thần và Triệu Cơ xưa nay không hề qua lại, thi thoảng chỉ chạm mặt trong cung, làm sao có thể... Nhi thần bị oan, nhi thần bị oan...” Ngụy Tự vừa nói vừa gào khóc ông ổng.

“Xem ra, không dùng hình, hẳn ngươi không chịu nói!” Huệ Vương lại đập mạnh xuống án, “người đâu, dùng trượng hình!”

Hai tráng hán lập tức ấn Ngụy Tự nằm sấp xuống đất, lột bỏ áo bào, một người vung trượng, nhè mông trân mà quật. Do là điện hạ, tráng hán hành hình tự biết nặng nhẹ, tuy đánh rất mạnh, song cố tình để đầu trượng nện xuống nền gạch, chỉ có thân trượng sượt qua trên mông.

Dù là vậy, Ngụy Tự vẫn không chịu nổi, gào thét ầm ĩ như lợn chọc tiết, luôn miệng kêu oan.

Đến trượng thứ bốn mươi, mặc dù chỉ là thân trượng sượt qua, song từ xa nhìn lại, mông Ngụy Tự đã thịt da lẫn lộn. Ngụy Tự vờ chết ngất đi, không gào khóc rên la gì nữa.

“Đại vương,” tỳ nhân khẽ nói, “đã bốn mươi trượng rồi, nếu còn đánh nữa...”

Huệ Vương hô dừng tay, vệ sĩ bèn kéo áo bào, phủ lên mông Ngụy Tự.

Ngụy Tự nằm bẹp dưới đất bất động, như con lợn chết.

“Hắt nước!” Huệ Vương ra lệnh.

Một vệ sĩ bưng chậu nước lạnh tới hắt thẳng vào mặt, Ngụy Tự nảy bật dậy.

“Nghiệt tử, còn không mau nhận tội!” Huệ Vương rít qua kẽ răng.

“Phụ vương,” Ngụy Tự gắng gượng nhấc mình dậy, quỳ xuống, nước mắt đầm đìa, “nhi thần thực tình không hề qua lại với Triệu Cơ, phụ vương muốn nhi thần nhận tội gì?”

“Ngươi... ngươi... nghiệt tử...” Huệ Vương càng thêm giận dữ, chỉ vào Ngụy Tự, toàn thân run lên bần bật, “lôi hắn ra ngoài, tống vào tử lao!”

Mấy vệ sĩ bèn lôi Ngụy Tự dậy, kéo ra ngoài điện, hắn vẫn không ngớt kêu gào thảm thiết.

“Đại vương?” Tỳ nhân nhìn sang Huệ Vương, sắc mặt lo lắng.

“Không phải nhiều lời, hãy tống giam loài nghiệt súc ấy vào tử lao!” Huệ Vương phẩy tay, phì phò đứng dậy, mới đi được hai bước, bỗng hai chân loạng choạng, trước mắt tối sầm, thân hình đường bệ đổ vật xuống đất.

Hay tin Ngụy Tự bị tống vào tử lao, Thiên Hương lúc này mới lo cuống lên, vội vã tới chỗ Trương Nghi, bẩm báo chi tiết sự việc. Tuy chuyện này cũng ầm ĩ om sòm, song suy cho cùng là chuyện xấu trong cung, ngoài số ít người trong cuộc, không ai dám đưa chuyện, dù là Trương Nghi, cũng đến giờ mới biết.

“Than ôi,” Trương Nghi than thở, “các ngươi chỉ biết gây phiền toái cho ta!”

“Đại nhân, đều tại nô tỳ hành sự nóng vội...” Thiên Hương dập đầu.

“Việc gấp trước mắt,” Trương Nghi ngẫm nghĩ chốc lát, “là cứu Ngụy Tự ra!”

“Cứu thế nào đây?” Thiên Hương vội hỏi.

“Đương nhiên là ta đây phải ra tay rồi!” Trương Nghi đứng dậy, chẳng buồn nhìn tới Thiên Hương, huỳnh huỵch đi sang phòng bên, thay quan phục, rồi nghênh ngang bước ra khỏi cửa.

Huệ Vương quả là mình đồng da sắt, sau khi được ngự y châm vài mũi kim, đã bình phục như thường, nằm trên giường gặm nhấm bầu tâm sự.

Tâm sự của Ngụy Vương, không phải là cái chết của Triệu Cơ, mà là lựa chọn ai làm thái tử nước Ngụy.

Huệ Vương suy nghĩ suốt nửa ngày trời, vẫn chưa thể nghĩ thông. Đang lúc tâm tư nặng trĩu thì Trương Nghi cầu kiến.

Từ sau khi quân Tần bại trận, trong đám triều thân, người Huệ Vương không muốn gặp nhất chính là Trương Nghi, song lúc này lại khác.

“Nói đi, có chuyện gấp gì?” Huệ Vương liếc xéo Trương Nghi, rồi khép mắt lại.

“Đại vương,” Trương Nghi vòng tay, ngập ngừng, “thần nghe nói điện hạ...”

“Nếu đã nhắc tới hắn,” Huệ Vương mở mắt, nhìn chằm chằm vào Trương Nghi, “quả nhân cũng muốn hỏi khanh, trong các vương tử, ai có thể đảm đương đại sự?”

“Điện hạ!” Trương Nghi trả lời dứt khoát.

“Khanh...” Huệ Vương sầm mặt, ngoảnh sang chỗ khác, “ý quả nhân là, ngoài Tự Nhi, còn có ai khác?”

“Không có!” Trương Nghi khẳng định.

Huệ Vương hoả khí bốc lên, bật người ngồi dậy, đập tay xuống mép giường: “Dưới gối quả nhân có mười mấy vương tử, lẽ nào không có một ai vừa mắt khanh?”

“Đại vương nếu không tin, hãy triệu các vương tử lại đây, để thần nhìn qua một lượt!” Trương Nghi thản nhiên nói.

“Truyền chỉ cho toàn bộ vương tử, lập tức tới đây!” Huệ Vương quay sang tỳ nhân.

Chừng nửa canh giờ sau, hơn chục vương tử đều đã tới nơi, chiếu theo độ tuổi xếp thành một hàng, quỳ trước giường vấn an Huệ Vương. Hẳn là bởi không hiểu đã xảy ra chuyện gì, cũng có lẽ lo sợ chuyện của Triệu Cơ liên luỵ tới mình, các vương tử ai cũng mặt mày căng thẳng.

Huệ Vương đưa mắt nhìn suốt lượt.

Do từ nhỏ ăn trắng mặc trơn, hơn chục vương tử ai cũng trắng trẻo hồng hào, vài người có lẽ tới quá gấp gáp, mũ áo xộc xệch, mặt mũi hớt hải.

Huệ Vương khép mắt lại.

Tỳ nhân nhìn sang Trương Nghi.

Trương Nghi xua tay, hất hàm ra ngoài.

Tỳ nhân truyền các vương tử lui ra, rồi quay trở vào đứng hầu trước giường Huệ Vương.

“Đại vương thấy ai khả dĩ?” Trương Nghi nhìn Huệ Vương, ánh mắt dò hỏi.

“Ai cũng hơn nghiệt tử kia!” Giọng Huệ Vương như rít qua kẽ răng.

“Than ôi,” Trương Nghi than thở, “đại vương cớ gì cứ phải gọi điện hạ là nghiệt tử? Chuyện của Triệu Cơ, thần có nghe nói sơ qua. Nhìn vào vụ án, thần cho rằng, đại vương trừng phạt điện hạ như vậy có ba điều không thoả đáng, xin đại vương nghĩ lại!”

“Điều gì không thoả đáng?”

“Thứ nhất, theo Nghi biết, chuyện Triệu Cơ tư thông với điện hạ, tới nay vẫn chưa có bằng chứng xác thực, tất cả chỉ là đồn thổi. Dựa vào tin đồn thổi mà xét đoán, rất dễ oan uổng cho người, hại đến sự anh minh của đại vương. Thứ hai, thái tử là tương lai của Ngụy thất, có liên quan tới xã tắc. Thời thế hiện nay, nước lớn tranh bá chủ, nước nhỏ cầu tồn tại, dù là nước vạn cỗ xe, một trận chiến sẽ suy yếu, ba trận chiến sẽ lâm nguy, chắc hẳn đại vương lại càng hiểu rõ. Ngụy ở giữa thiên hạ, ở giữa ắt xung đột tứ bề, nếu thái tử tương lai văn không thể an bang, võ không thể mở cõi, thần thực không dám tưởng tượng. Thứ ba, khi đại vương lập điện hạ làm thái tử, đã tế cáo tông miếu, ban chiếu thiên hạ, nếu chỉ vì nghe theo lời đồn thổi mà tống giam, mà phế truất, không chỉ điện hạ không phục, mà người Ngụy cũng không phục, thiên hạ ắt cũng không phục.” Trương Nghi dõng dạc nói ra ba Nguyên do, rồi im lặng chờ đợi.

“Theo ý khanh, nên làm thế nào?” Huệ Vương không nghĩ ra lời nào để phản bác, bèn trầm giọng hỏi.

“Theo ý thần,” Trương Nghi đáp lời, “đại vương hãy tạm thả điện hạ, rồi lệnh cho người điều tra. Nếu xác thực điện hạ có tư thông với Triệu Cơ, náo loạn hậu cung, làm trái luân thường, tới lúc đó, đại vương trị tội điện hạ theo vương pháp cũng không muộn!”

Huệ Vương trầm ngâm hồi lâu, quay sang tỳ nhân: “Được, cứ làm theo lời tướng quốc, tạm thời thả nghiệt tử ra, đợi điều tra rõ ràng, để cho hắn tâm phục khẩu phục!”

Sau khi Trương Nghi ra về, Huệ Vương càng nghĩ càng đau xót, nhất là khi Trương Nghi đòi triệu toàn bộ các vương tử, trong mười mấy người con, Ngụy Vương thực sự không thể tìm ra một ai có thể đảm đương trọng nhiệm. Vả lại, Ngụy Vương nhận ra sắc mặt và ánh mắt của Trương Nghi khi ấy, toát lên vẻ khinh miệt rất bề trên.

“Tỳ nhân!” Huệ Vương ngẩn ngơ suốt nửa canh giờ, mới rầu rĩ lên tiếng gọi, “suy đi nghĩ lại, ngoài ngươi ra, bên cạnh quả nhân, thực sự không còn lấy một người hợp ý!”

“Đại vương...” Tỳ nhân gạt nước mắt.

“Than ôi,” Huệ Vương rớm lệ, “vẫn có câu nói, đi ở trong rừng không thấy cây, sống ở trong phúc không biết phúc. Nhớ năm xưa, quả nhân có Bạch Khuê bên cạnh, lại ghét Bạch Khuê nhiều lời. Có Chu Uy bên cạnh, lại ghét Chu Uy nói thẳng. Có Thân Nhi bên cạnh, lại ghét Thân Nhi trì độn. Có Huệ Thi bên cạnh, lại ghét Huệ Thi trầm mặc, chẳng hài lòng với ai cả. Khiến quả nhân hài lòng, chỉ có Trần Chẩn, chỉ có Bàng Quyên, nhưng Trần Chẩn và Bàng Quyên lại như nước với lửa. Vì sao họ lại thù địch nhau đến vậy? Nếu như hai người họ... Than ôi!” Lại thở ngắn than dài một hồi, mới như sực nhớ ra, nhìn sang tỳ nhân, “phải rồi, nhắc tới họ, quả nhân lại muốn hỏi, Huệ ái khanh, Trần thượng khanh, và cả Bạch Hổ, hẳn đã có tin?”

“Đã có tin!”

“Nói mau!”

“Huệ tướng quốc vẫn đang ở đất Tống, Công Tôn Diễn, Bạch Hổ vẫn đang ở nước Hàn, họ đều đã hồi âm, nói rằng...” tỳ nhân ngập ngừng chốc lát, mới tiếp, “nói rằng nếu Trương tướng quốc còn ở Ngụy, họ sẽ không về!”

“Than ôi!” Huệ Vương lại thở dài, “quả nhân sớm đã biết họ sẽ nói vậy.”

“Hay là,” tỳ nhân hạ giọng, “bệ hạ hãy dứt khoát... để Trương tướng quốc... quay trở về Tần?”

“Không được!” Huệ Vương cười rầu rĩ, “quả nhân đã đắc tội với Triệu, Tề, Sở, gây thù chuốc oán khắp lượt, không thể không có nước Tần!” Thở dài não nề, “than ôi, năm xưa là kẻ thù không đội trời chung, mà nay lại thành bằng hữu; năm xưa là bằng hữu thân thiết như môi với răng, mà nay lại thành kẻ thù. Thế gian có bao nhiêu chuyện hoang đường, đều dành hết cho quả nhân, hỡi ôi, một đời quả nhân...” Hai tay nắm chặt, đấm bồm bộp vào hai bên thái dương.

“Đại vương...” Tỳ nhân lòng như dao cắt, lại bật khóc.

“Ồ,” Huệ Vương lại sực nhớ ra, ngẩng đầu nhìn thẳng vào tỳ nhân, “vừa nãy ngươi chỉ nhắc tới Huệ tướng quốc, Công Tôn Diễn và Bạch Hổ, không nhắc tới Trần Chẩn! Trần Chẩn ở đâu? Hắn nói thế nào? Hắn... hắn cũng không...”

“Trần Chẩn đang ở nước Sở, từ sáng tới tối ở lì trong phủ Chiêu Dương.” Tỳ nhân ngẫm nghĩ một hồi, lại thêm một câu, “Chiêu Dương kia chính là kẻ dùng mưu gian trá đánh lén Tương Lăng của ta!”

“Đi, gửi thư cho Trần Chẩn, nói rằng quả nhân... đang tưởng nhớ!” Huệ Vương khép mắt lại, “nói với Trần Chẩn, Bàng Quyên đi rồi, quả nhân xá miễn cho mọi sai lầm của hắn, chỉ mong hắn quay về, tiếp chuyện với quả nhân!”

“Thần... tuân chỉ...”

Được biết Trần Chẩn đang trú tạm ở Hạng Thành, Tô Tần đánh một cỗ xe rời khỏi Trịnh Thành, lao băng băng về phía đông nam. Đi tới An Lăng, trời chợt trở lạnh, gió bắc ù ù, không lâu sau đổ xuống một cơn mưa lạnh lẽo.

Do không quá gấp gáp, Trâu Phi Đao bèn đánh xe rẽ vào trong thành, tìm lữ điếm nghỉ chân.

Mưa rét kéo dài tới tận nửa đêm về sáng, trước khi gà gáy thì tạnh hẳn. Đến lúc trời sáng, mây đen tản hết, ráng sớm rực rỡ phía chân trời.

Tô Tần dùng xong bữa sáng, thấy trời đẹp gió êm, ấm áp trở lại, thì tâm tư nhẹ nhõm, hạ lệnh lên đường, Trâu Phi Đao bẩm báo: “Mưa rơi thấm đất, lúc này lên đường, e là tốn sức ngựa, chi bằng chúng ta cứ ở đây ngắm cảnh, đợi mặt trời lên, nắng khô mặt đất, đến chiều lên đường cũng không muộn.”

“Cũng được.” Tô Tần gật đầu, đưa mắt dò hỏi, “nơi này có phong cảnh gì?”

“Phong cảnh cũng bình thường thôi,” Trâu Phi Đao đáp, “nhưng có một nhà đang làm tang sự, chúa công có muốn tới thăm viếng?”

Tô Tần hiểu rõ Mặc giả luôn ngầm bảo vệ quanh mình, lúc này nghe ra ẩn ý của Trâu Phi Đao, thì ngẫm nghĩ chốc lát, rồi chỉ ra ngoài cửa: “Đi!”

Trâu Phi Đao mở rương, lấy ra cuốn “Thương Quân thư” đưa cho Tô Tần.

“Ồ...” Tô Tần ngạc nhiên, không cầm.

“Chúa công cứ mang theo, có lẽ cần dùng đến!” Trâu Phi Đao lại nói.

Tô Tần bèn cất vào trong áo, rồi sải bước khỏi cửa.

Đã đi viếng đám tang, không thể tay không mà đến. Trâu Phi Đao và Tô Tần sắm sửa chút đồ cúng, hỏi đường tới nhà đó, song lại thấy cửa nẻo đóng kín, trong nhà không một bóng người. Nhìn quanh sân, không có dấu hiệu nào cho thấy nhà này có đám tang.

Trâu Phi Đao ngỡ mình đến nhầm nhà, hỏi thăm hàng xóm, mới biết chính là nhà này. Chủ nhà họ Lãnh, vốn là hộ giàu có, tới thời ông bố thì gia cảnh lụn bại, cả nhà không biết đi đâu. Hơn chục năm trước, gia chủ dẫn bà mẹ già mù loà trở về, sửa sang lại trạch viện rồi ở đó. Bà mẹ mù mất cách đây ba hôm, tối qua đã chôn cất xong. Do chủ nhà không qua lại với ai, nên tang sự cũng không rình rang, chỉ nhờ mấy người hàng xóm khiêng giúp quan tài, còn trả cho không ít tiền công. Trâu Phi Đao lại hỏi chôn ở đâu, người hàng xóm bèn chỉ đường cho.

Hai người bèn tìm tới nơi, đưa mắt nhìn, thấy đó là một khu mộ hoang sơ, đìu hiu vắng lặng, xung quanh tùng, bách rậm rạp, bên lối đi dựng một tấm bia, trên khắc dòng chữ: “Họ Lãnh An Lăng”.

Hai người bước vào khu mộ, vòng qua vài gốc cây to, nhìn thấy một ngôi mộ mới nằm trơ trọi sau một thân cây, bên mộ có một người đang quỳ, mình khoác áo tơi. Hiển nhiên, người này đã quỳ ở đây suốt đêm, bất chấp mưa dầm gió rét.

“Người này là Lãnh Hướng, quản gia của phủ Thương Quân.” Trâu Phi Đao hạ giọng giải thích. “Nghe sư tôn nói, ‘Thương Quân thư’ chính là do người này giao cho tiên cự tử. Tiên cự tử sao chép thành nhiều bản, rồi mang bản gốc vào núi, giao cho Quỷ Cốc tiên sinh, sư tôn của chúa công đó!”

Nghe thấy xuất xứ của “Thương Quân thư”, Tô Tần không chỉ ngạc nhiên, mà còn bàng hoàng chấn động.

Tô Tần tiến lại gần, quỳ xuống bên cạnh Lãnh Hướng.

Án thờ được dựng sơ sài bằng mấy tảng đá, bên trên trống trơn, không có lấy một món đồ cúng. Trước mộ không dựng bia, cũng không có một dòng chữ nào cho thấy đang cúng tế.

Trâu Phi Đao bước lại, lần lượt bày đồ cúng lên án. Bày xong, hướng vào ngôi mộ vái một vái dài, rồi lui lại phía sau chừng một trượng, đứng im chờ đợi.

Lãnh Hướng cởi áo tơi, để lộ mái tóc bạc trắng, quay sang nhìn Tô Tần: “Khách nhân đây là...” Lãnh Hướng ánh mắt dò hỏi.

“Tại hạ Tô Tần, hay tin lệnh đường quy tiên, nên tới điếu viếng!” Tô Tần nói đoạn, dập đầu trước mộ.

“Tô Tần?” Lãnh Hưởng kinh ngạc nhìn Tô Tần như không dám tin vào mắt, “là tướng quốc sáu nước Tô Tần Tô đại nhân đó ư?”

“Chính là tại hạ.”

“Tại hạ ở đây đã chục năm có lẻ, hầu như không qua lại với ai, đại nhân cớ sao lại biết tại hạ?”

“Tại hạ có bằng hữu là Mặc giả, họ đã cho tại hạ biết!”

Lãnh Hướng bừng hiểu, vòng tay về phía Tô Tần: “Tạ ơn Tô Tử có lòng!”

“Người cần tạ ơn, phải là tiên sinh mới đúng!” Tô Tần đáp lễ, rồi lấy từ trong áo ra cuốn “Thương Quân thư”, “nhờ có tiên sinh, sách này mới được lưu truyền trong thiên hạ!”

“Than ôi, có lẽ tại hạ đã sai rồi!” Lãnh Hướng cảm khái than thở.

“Nếu tiên sinh làm sai, thì thiên hạ này không còn đường cứu!” Tô Tần nhìn vào cuốn “Thương Quân thư”, “không giấu tiên sinh, tại hạ bởi sách này mới sang Tần, lại bởi sách này mà rời Tần, cũng bởi sách này mới ngộ ra sách lược hợp tung để ngăn chặn bạo Tần!”

“Tại hạ đã thấy.” Lãnh Hướng khẽ cười, “sự đệ của đại nhân ngộ ra kế sách liên hoành, e là cũng bởi sách này!”

“Đúng vậy.” Tô Tần buồn bã đáp, “vì cuốn sách này mà thiên hạ mới tranh giành xâu xé, dù là Mặc giả cũng vậy!”

Lãnh Hướng lấy làm kinh ngạc: “Mặc giả sao cũng tranh giành xâu xé?”

“Tiên cự tử Tùy Sào tiền bối để lại bản sao của sách này cho Mặc giả nghiên cứu, nhưng các phái Mặc giả giải thích khác nhau, không thể nhất trí. Một số Mặc giả theo sách lược hợp tung của tại hạ, một số khác lại sang Tần, thực thi sách lược liên hoành.” Tô Tần cười gượng, “chuyện này, e là tiên sinh chưa từng ngờ tới.”

“Hợp tung cũng thế, mà liên hoành cũng vậy,” Lãnh Hướng ngửa cổ nhìn trời, thở dài một tiếng, “đều là chuyện của người trẻ tuổi. Tại hạ... già rồi...” Nhìn hút về phía trời tây, hồi lâu sau mới quay sang Tô Tần, “chỉ có điều, nếu Thương Quân ở đây, biết rằng Tô Tử vì sách này mà hợp sức toàn thiên hạ chống lại đại nghiệp nhất thống của Tần, không biết sẽ nghĩ thế nào?”

“Nhìn vào sách này,” Tô Tần đáp, “điều Thương Quân muốn, đều là lấy bạo chế bạo, dùng lực chế lực, dùng cách ấy để trấn áp loạn thế, hoặc giả có thể nhất thống thiên hạ. Còn điều tại hạ muốn, lại là ở sau khi nhất thống.”

“Sau khi nhất thống, Tô Tử muốn gì?” “Thiên hạ cộng sinh!”

“Thế nào là cộng sinh?”

“Cộng sinh, tức là sự sống của chúng sinh, không phải sự sống của một người.” Tô Tần dõng dạc giải thích. “Trong thời cộng sinh, vua làm việc của vua, tôi làm việc của tôi, thông nhau ở đạo, tỏ tường ở lý, ai cũng theo cái đúng của người đấy, ai cũng kiên trì lý tưởng của người đấy, giao thương qua lại, thảy đều thuận hoà.”

“Được thôi,” Lãnh Hướng khẽ cười, “Tô Tử nghĩ được thông suốt như vậy là tốt. Có điều, tính người vốn ác, lòng tham không cùng. Nếu Thương Quân ở đây, hẳn sẽ thấy nực cười.”

Tô Tần hiểu rõ giữa mình và Lãnh Hướng vẫn còn khoảng cách, bèn mỉm cười, vòng tay mà nói: “Tạ ơn tiên sinh chỉ điểm.” Rồi nhìn vào ngôi mộ mới, “tại hạ hiếu kỳ, dám hỏi tiên sinh, mộ phần của lệnh đường, cớ sao lại nằm trơ trọi chốn này, cớ sao cũng không thấy dựng bia?”

“Chôn ở chỗ này, tuy là mẹ của tại hạ, song lại không phải tiên tỷ.” Lãnh Hướng bình thản đáp.

“Ồ...” Tô Tần ngơ ngác không hiểu.

“Chuyện là thế này.” Lãnh Hướng nhìn vào ngôi mộ, “nằm dưới đất kia là thân mẫu của Thương Quân, cũng tức phi tần của tiên Vệ Quân Vệ Thích thị. Thương Quân sau khi sang Tần, e sợ sự bại thân nguy, liên luỵ tới người thân, bèn kết nghĩa với tại hạ, uỷ thác mẫu thân cho tại hạ. Sau đó, Thương Quân vong mạng, mới giao ‘Thương Quân thư’ và cả mẫu thân cho tại hạ, thỉnh cầu Tần Công xá miễn cho tại hạ. Tại hạ dâng sách này lên Tần Công, mới thoát được họa liên đới, tận hiếu với nghĩa mẫu, cho tới khi người nhắm mắt xuôi tay vài hôm trước. Tại hạ biết Thương Quân không muốn để lộ chuyện này ra ngoài, nên mới không lập văn bia. Do Tô Tử đã hỏi, tại hạ không dám dối, mới kể rõ sự tình, mong Tô Tử giữ kín cho.”

“Than ôi,” Tô Tần thở dài, “người ta đều nói Thương Quân bạc tình bạc nghĩa, kỳ thực không phải vậy!”

Đoạn Tô Tần quỳ xuống, lạy trước ngôi mộ, sau đó bái biệt Lãnh Hướng, cùng Trâu Phi Đao quay trở về thành, đánh xe sang Sở.

Do chuyện của Triệu Cơ, Ngụy Tự không những ăn một trận no đòn, còn bị tống giam vào tử lao, mất hết mặt mũi trước vương thất, nên sau khi ra khỏi nhà lao, đã không lên triều, cũng không vào cung tạ ân.

Huệ Vương đợi vài ngày, thấy Ngụy Tự vẫn cố chấp như vậy, lại nổi cơn thịnh nộ.

“Tỳ nhân,” Huệ Vương hạ chỉ, “quả nhân thấy nhớ các cháu, hãy cho gọi vài đứa tới, cùng dùng bữa với quả nhân!”

Huệ Vương có hơn hai mươi đứa cháu, song đủ chín chắn và có thể kế ngôi, tức dòng đích của chính thất, lại chỉ có ba, lần lượt là trưởng tử của thái tử Thân công tôn Trĩ, trưởng tử của công tử Ngang công tôn Thôi và trưởng tử của công tử Tự công tôn Sắc.

Nghe nói chỉ cho gọi “vài đứa”, tỳ nhân hiểu rõ Huệ Vương quyết tâm phế bỏ thái tử, lựa chọn cháu trai thay thế, bèn truyền chỉ cho gọi ba vị công tôn vào cung. Ông cháu dùng bữa vui vẻ, ba vị công tôn đều không hiểu rõ nội tình, được Huệ Vương khích lệ, đều mạnh dạn bày tỏ suy nghĩ về quốc sự. Sau bữa trưa, Huệ Vương còn bảo họ thi thố xạ nghệ, phần thưởng là một cây ngọc như ý và hai viên ngọc bội. Kết quả, công tôn Trĩ ba phát trúng cả ba, được ngọc như ý; công tôn Thôi và công tôn Sắc mỗi người trượt một mũi, đều được thưởng ngọc bội.

Ngay tối hôm đó, Thiên Hương đã biết chuyện này.

“Phụ vương quyết ý phế chàng rồi đấy!” Thiên Hương lo lắng báo tin cho Ngụy Tự.

“Vậy cứ để phụ vương phế đi!” Ngụy Tự hoả bốc đùng đùng, “ngôi ấy không dễ ngồi!”

“Điện hạ!” Thiên Hương lừ mắt với Ngụy Tự, “ngồi hay không, không phải là việc của một mình chàng, nô gia cũng muốn...” hạ thấp giọng, “muốn thử xem, hầu hạ đại vương sẽ thế nào!”

“Vẫn thế cả thôi!” Ngụy Tự hậm hực. “Khác đấy!” Thiên Hương phản bác.

“Hừm, thế thì ta cho nàng thử!” Ngụy Tự bế bổng Thiên Hương lên, ấn ngay xuống án, đưa tay giật tung thắt lưng.

Thiên Hương thuận thế ôm lấy cổ Ngụy Tự, lấy đà bật người dậy, một cú xoay mình, thoắt cái đã nhảy ra sau lưng Ngụy Tự, vờ mắng: “Không được!”

Ngụy Tự đưa tay bắt nàng, hai người cứ thế như mèo vờn chuột trong điện, Ngụy Tự mấy lần suýt bắt được, song lần nào cũng hụt trong gang tấc. Mấy thị nữ đứng hầu trong điện, vốn đều là Hắc điêu, đều bưng miệng cười.

“Nàng... dám...” Ngụy Tự đuổi đã mệt, mặt đỏ phừng phừng, hơi thở hổn hển.

“Nếu điện hạ chịu nghe thiếp một việc, thiếp sẽ chiều ý điện hạ!” Thiên Hương cất giọng nũng nịu.

“Nghe nàng việc gì?”

“Làm điện hạ, kế thừa vương vị!”

“Nhưng phụ vương...”

“Phía phụ vương, hãy để thiếp thỉnh cầu!”

“Nàng... thỉnh cầu thế nào?” Ngụy Tự sửng sốt.

“Tìm Trương Nghi chứ sao,” Thiên Hương chạy trở lại, sà vào lòng hắn, “nếu không nhờ tướng quốc đại nhân, giờ này điện hạ e là vẫn ở trong tử lao nuôi rận!”

Nói đoạn vùng ra đi luôn, song lại không tới cầu cứu Trương Nghi, mà viết cấp báo, buộc vào chân chim điêu, bẩm báo lên Kim điêu.

Công tử Hoa kinh hãi, lập tức vào cung tấu báo Huệ Văn Vương.

“Nếu để mặc Ngụy Vương phế vị, công sức bao nhiêu năm qua của Điêu đài, coi như vô ích. Công tôn Trĩ khác với Ngụy Tự, có đôi phần khí phách của cha, không nhiều lời, song rất có chủ kiến. Nếu như để người này kế vị, chúng ta sẽ phải làm lại từ đầu. Bất luận thế nào, cho tới hiện tại, Ngụy Tự vẫn đang nằm trong tay Thiên Hương!” Công tử Hoa bẩm báo.

Huệ Văn Vương rời mắt rời khỏi tờ cấp báo, nhìn sang công tử Hoa: “Thiên Hương tấu thỉnh, dùng kế sách cuối cùng, có thoả đáng chăng?”

“Thần đệ đã suy nghĩ rất lâu, không còn cách nào khả dĩ hơn.” Công tử Hoa đáp, “lão Ngụy Vương vốn không yên tâm với bất cứ ai, vốn dĩ đã không hài lòng với Ngụy Tự, chuyện Triệu Cơ lần này, càng khiến lão thất vọng. Ngụy Vương sớm đã không ưa Trương Nghi, lần này ta phạt Tề thất bại, Trương Nghi cũng sẽ không thể ở Ngụy được lâu. Nếu Trương Nghi rời đi, Ngụy Vương lại lập thái tử mới, sẽ không thể kiểm soát được nước Ngụy nữa.”

Huệ Văn Vương khép mắt suy nghĩ hồi lâu, mới nói: “Chuyện nước Ngụy, các khanh cứ quyết định đi. Việc này, quả nhân không biết!”

“Thần đệ tuân chỉ!”

Trong một trạch viện sang trọng giữa phố lớn Hạng Thành, khắp nơi giăng đèn kết hoa, hỷ khí tràn trề.

Cổng chính mở rộng, Trần Chẩn áo mũ chỉnh tề đứng trên bậc thềm, đôi mắt ti hí dõi về phía xa. Nơi đó, một cỗ xe mui kín đang từ từ chạy lại.

Cỗ xe dần dần tới gần, rồi dừng lại trước cổng. Trần Chẩn bước xuống bậc thềm, tiến lại bên xe.

Đã có người hầu kê sẵn ghế, kéo mở rèm che. Một thiếu nữ mạng che kín mặt từ trong mui xe bước xuống, đôi mắt mở to nhìn hút vào Trần Chẩn qua lớp the mỏng.

Trần Chẩn nhìn sững vào nàng. Thiếu nữ chầm chậm vén tấm mạng lên.

Chính là Y Na, ngàng bạch cơ Tây Vực mà Trần Chẩn đã dâng lên đài Chương Hoa mấy năm về trước!

Y Na buông tấm mạng xuống, chìa một tay về phía Trần Chẩn. Trần Chẩn đỡ nàng xuống xe.

Y Na cúi đầu, bật khóc. Trần Chẩn đỡ lấy tay nàng, bước từng bước lên bậc thềm, đi vào trong sân. Cánh cổng nhanh chóng đóng lại sau lưng.

Xung quanh Trần Chẩn không thiếu mỹ nữ, chỉ thiếu Y Na. Từ sau khi dâng nàng lên đài Chương Hoa, Trần Chẩn bắt đầu hối hận, luôn tưởng nhớ những ngày tháng có Y Na kề cận. Sau khi Uy Vương băng hà, mỹ nữ ở đài Chương Hoa không còn được ngó ngàng đến. Trần Chẩn bỏ ra ba chục hoàn vàng, nhờ cậy vào mối quen biết giữa quản gia Hình Tài phủ Chiêu Dương với nội tể của đài Chương Hoa mới chuộc được nàng ra, rồi đưa nàng vượt đường xa ròng rã nửa tháng trời, về tới phủ trạch của Trần Chẩn ở Hạng Thành.

Y Na khóc suốt từ ngoài cổng vào tới sảnh đường, lại khóc tới tận khuê phòng trong hậu viện.

“Nàng hận ta chứ?” Trần Chẩn dìu nàng ngồi xuống bên giường, vỗ về an ủi.

“Kể từ hôm nay, tiểu nữ không hận đại nhân nữa, tiểu nữ chỉ cảm tạ đại nhân!” Y Na nghẹn ngào đáp.

“Vì sao?”

“Bởi vì đại nhân không quên tiểu nữ, bởi vì đại nhân chịu bỏ ra một khoản tiền lớn để chuộc tiểu nữ, tức đại nhân vẫn còn quan tâm đến tiểu nữ. Trên đời này, tiểu nữ không còn ai thân thích, cớ sao lại phải hận người duy còn quan tâm đến mình?”

‘Y Na!” Trần Chẩn rơm rớm nước mắt.

“Chủ nhân!” Y Na quỳ xuống mà nói: “Kể từ hôm nay, Y Na sẽ chỉ ca múa vì chủ nhân, sẽ làm bất cứ chuyện gì vì chủ nhân, chỉ cầu xin chủ nhân một việc!”

“Nàng cứ nói!”

“Không được tặng Y Na cho ai khác!”

“Ta thề sẽ không bao giờ tặng nàng cho ai nữa!” Trần Chẩn nói chắc

Hai người đang rủ rỉ tâm sự, thì một tỳ nữ bước vào, khẽ giọng bẩm báo: “Có một khách nhân từ xa tới cầu kiến, gia lão bảo nô tỳ chuyển thứ này cho chủ nhân!”

Trần Chẩn cầm lấy đọc, chính là bái thiếp của Tô Tần.

Trần Chẩn buông Y Na ra: “Có người bằng hữu cũ tới thăm, nàng mau đi tẩy trần, chuẩn bị ca múa đón khách, ta sẽ cho gọi đội nhạc!” Rồi quay ra ngoài gọi lớn, “người đâu!”

Mấy tỳ nữ nhanh nhẹn bước vào.

“Từ hôm nay,” Trần Chẩn chỉ vào Y Na, “nàng ấy chính là nữ chủ nhân của các ngươi, hãy hầu hạ cho chu đáo!”

Chúng tỳ nữ luôn miệng vâng dạ.

Trần Chẩn chỉnh trang áo mũ, sải bước ra nhà ngoài đón khách.

“Tô đại nhân quả là khách quý, tới không sớm cũng không muộn, vừa vặn đúng lúc!” Trần Chẩn vòng tay chào.

“Vừa đúng lúc?” Tô Tần đáp lễ, ngơ ngác không hiểu.

“Tô đại nhân hãy xem!” Trần Chẩn chỉ vào đèn hoa rực rỡ trong sân, “hôm nay là ngày đại hỷ của tại hạ, đại nhân là vị khách duy nhất, chẳng phải là vừa đúng lúc ư?”

Tô Tần theo Trần Chẩn bước vào sân, quả nhiên nhìn thấy hỷ khí tràn trề, bèn quay sang Trần Chẩn vòng tay: “Chúc mừng Trần huynh!” Rồi hạ giọng, “dám hỏi Trần huynh, là mừng sinh quý tử, hay là...”

Trần Chẩn khẽ cười, mời Tô Tần ngồi vào chiếu khách: “Chúng ta bàn chính sự trước, còn hỷ sự này, đợi lát nữa uống rượu hỷ, sẽ nói sau!” Đoạn ngồi xuống chiếu chủ, nhìn thẳng vào Tô Tần, “tại hạ biết Tô đại nhân tới đây không phải để mừng hỷ sự, nói đi, là vì việc gì?”

“Vì Trương Nghi.”

“Trương Nghi là bạn đồng môn của Tô đại nhân, hiểu nhau đến chân tơ kẽ tóc, đại nhân còn tới đây tìm tại hạ...” Trần Chẩn nhìn xoáy vào Tô Tần.

“Chính vì quá hiểu nhau, tại hạ mới không tiện ra mặt, nên đặc biệt tới đây thỉnh cầu Trần huynh xuất thủ!”

Trần Chẩn cười nói: “Vậy là Tô đại nhân muốn tại hạ làm kẻ ác rồi! Nói đi, đại nhân muốn Trần Chẩn làm việc ác gì?

“Đuổi Trương Nghi đi, ép Ngụy quay lại hợp tung!”

“Than ôi,” Trần Chẩn thở dài, “nếu là hơn chục năm về trước, tại hạ nhất định sẽ nhận lời đại nhân, nhưng giờ thì không được nữa! Từ khi Bàng Quyên vào Ngụy, Ngụy Vương thành ra căm hận tại hạ! Vả lại, hiện tại Ngụy Vương đã làm bạn với thù, càng không thể rời khỏi Trương Nghi!”

“Bàng Quyên đã chết, Chu Uy đã chết, Huệ Thi đã đi, Bạch Hổ cũng đã đi, Ngụy Vương không còn ai thân tín bên mình, cô đơn trơ trọi, tin rằng đang tưởng nhớ Trần huynh, chỉ mong Trần huynh mau chóng quay về!”

“Có Trương Nghi ở bên, Ngụy Vương sẽ không cần tới Chẩn!”

“Trần huynh bởi Trương Nghi mới phải ra đi, nếu không có hắn bên cạnh, há chẳng vô vị lắm ư?”

Trần Chẩn đưa tay chỉ vào Tô Tần, phá lên cười, rồi quay ra ngoài gọi lớn: “Người đâu!”

Quản gia bước vào.

“Tiệc hỷ chuẩn bị xong chưa?”

Quản gia gật đầu.

“Tô đại nhân,” Trần Chẩn quay sang Tô Tần, “hôm nay, sẽ mời đại nhân thưởng thức một màn hiếm có!” Đoạn quay sang quản gia, “gọi nhạc!”

Chốc sau, yến tiệc đã bày biện xong xuôi. Trần Chẩn vỗ tay, nhạc công xếp thành hàng dài bước vào, yên vị, rồi tấu lên một giai điệu lạ lùng của vùng Tây Vực.

Trong tiếng nhạc, Y Na mình mang kỳ trang dị phục, sắc mặt hân hoan, uyển chuyển bước vào, cất cao giọng hát, múa theo tiếng nhạc, mắt liếc sinh tình.

Vũ điệu kết thúc, Tô Tần vỗ tay, Y Na và các nhạc công lui ra.

“Tô đại nhân, thấy gái này thế nào?” Trần Chẩn tươi cười hỏi.

“Báu vật nhân gian!” Tô Tần khen ngợi.

“Đại nhân có biết lai lịch của gái này?”

Tô Tần lắc đầu.

“Gái này tên gọi Trát Y Na, là vũ cơ Tây Vực được nước Tây Nhung tặng cho Tần Công mười mấy năm về trước, sau Tân Công tặng lại cho tại hạ, tại hạ ghét chữ Trát’ khó nghe, nên bỏ đi, gọi nàng là Y Na. Khi tại hạ phụng mệnh Tần Công đi sứ sang Sở, đã đưa nàng theo, để thực thi sứ mệnh đuổi Trương Nghi khỏi Sở, tại hạ đã dâng nàng lên đài Chương Hoa, ca múa mua vui cho tiên Sở Vương. Sau khi tiên Sở Vương băng hà, đài Chương Hoa hoang phế, tại hạ nghe nói nàng bị lạnh nhạt, mới bỏ ra ba trăm hoàn vàng để chuộc nàng ra. Nàng vượt nghìn dặm xa xôi, vừa tới hàn xá đúng một canh giờ trước, vâng lời tại hạ tới ca múa hầu Tô đại nhân!”

Tô Tần nghe vậy, xuýt xoa tấm tắc, nhìn vào Trần Chẩn: “Hỷ sự mà Trần huynh vừa nói, hẳn là kỳ nữ này?”

Trần Chẩn bật cười sảng khoái, vui vẻ nói: “Đại nhân đã gọi tại hạ là huynh, tại hạ cũng xin nói thẳng. Kể từ hôm nay, nàng ấy sẽ thành tẩu phu nhân của đại nhân đó!”

“Tần chúc mừng tẩu phu nhân!” Tô Tần vòng tay nói.

“Ồ, đại nhân không chúc mừng tại hạ, lại chỉ chúc mừng Y Na, hẳn có nguyên do?”

“Nghe lời Trần huynh vừa kể, tẩu phu nhân quả thực vận mệnh trắc trở, thân như bèo dạt, khi sắp lụi tàn, lại được Trần huynh ra tay cứu giúp, Trần huynh không chấp nê sang hèn, cưới làm phu nhân, há chẳng phải đáng được chúc mừng hơn ư?”

“Y Na!” Trần Chẩn vỗ tay gọi.

Y Na đang ngồi chờ sau rèm, nghe tiếng liền bước ra, quỳ xuống trước mặt Trần Chẩn.

“Y Na,” Trần Chẩn chỉ vào Tô Tần, “vị này là tướng quốc sáu nước lừng danh thiên hạ Tô Tần Tô đại nhân, cũng là hiền đệ của ta và nàng. Hãy lại kính rượu hiền đệ!”

Y Na rũ ống tay áo, nở nụ cười mê hồn, nâng bình rót rượu, đặt chén vào khay, bưng khay nâng lên ngang mày.

Tô Tần uống xong, cầm bình rượu lên, rót đầy ba chén, một chén đưa cho Y Na: “Chúc mừng Trần huynh, chúc mừng tẩu phu nhân! Chúc Trần huynh, tẩu phu nhân trăm năm hoà hợp, sớm sinh quý tử!”

Trần Chẩn phá lên cười sung sướng: “Hay, hay lắm, sớm sinh quý tử!”

Ba người đều cười, nâng chén uống cạn.

Ngụy Huệ Vương không hỏi ý Trương Nghi nữa, quyết phế thái tử Tự, lập công tôn Trĩ. Vài ngày sau đó, Huệ Vương bất chấp long thể già nua, xa giá đến thái miếu, gieo quẻ định ngày đẹp, lại bảo tỳ nhân soạn sẵn chiếu thư phế vị, đóng ấn phong kín cất đi, chỉ chờ ngày đẹp, sẽ bày đại lễ, chiếu cáo thiên hạ.

Sự việc cấp bách, Thiên Hương quyết định xuống tay.

Có lẽ bởi tuổi tác đã cao, thận tinh suy yếu, nên hai năm lại đây, Huệ Vương không còn hứng thú với mỹ nữ hậu cung nữa, tối đến thường ngủ trong tẩm thất bên cạnh thư phòng, tới giờ Tý đã lên giường.

Trước khi đi ngủ, Huệ vương thường uống một chén canh. Canh này hầm từ ba mươi sáu loại thuốc bổ, là bài thuốc bí truyền do lão ngự y đặc biệt điều chế.

Đêm nay cũng như thường lệ, lão ngự y hầm xong canh, sai thị nữ bưng vào ngự thư phòng. Tỳ nhân cầm thìa, múc lấy một ít, đưa lên miệng nếm thử, thấy vừa ấm, bèn dâng lên Huệ Vương. Huệ Vương đang ngồi trước án giở xem tấu chương, tiện tay đón lấy, uống liền một hơi, rồi lại cắm cúi xem tiếp.

Chưa đầy một khắc sau, Huệ Vương đau bụng dữ dội, lưỡi cứng đờ, miệng há hốc, song không thốt nổi lời nào. Tỳ nhân thất kinh, vội gọi lão ngự y lại, song không thấy bóng dáng lão đâu cả. Tỳ nhân linh cảm thấy chuyện chẳng lành, vội truyền gọi ngự y khác.

Thế nhưng, ngự y còn chưa kịp tới, thân hình to béo của Huệ Vương đã co giật rùng rùng, rồi tắt thở, toàn bộ sự việc, trước sau chưa đầy một khắc.

Trước lúc trút hơi thở cuối cùng, Huệ Vương không thốt nổi một lời, chỉ gắng gượng giơ tay trỏ vào bát canh.

Tỳ nhân ngồi nhũn dưới đất, lưỡi cũng tê dại sưng phù giống như Huệ Vương, miệng há to nhưng không thể thốt thành lời.

Tỳ nhân đã hiểu, bèn cắn rách ngón tay, trải khăn lụa gượng viết vài chữ: “Canh có thuốc độc, Ngụy Tự giết vua, tỳ nhân”, đoạn giao cho một cung nhân, chỉ ra ngoài, phẩy tay ra hiệu hãy chạy đi ngay, giao cho cung uý Long Hổ.

Cung nhân mang theo thư lụa, vội vã chạy đi, nhưng lại đụng đầu với đám Hắc điêu cải trang cung nhân do Thiên Hương dẫn đến, lập tức bị bắt lại.

Thiên Hương lục được huyết thư của tỳ nhân trong người cung nhân, lôi theo cung nhân vào trong thư phòng, sai bắt giữ tỳ nhân và hai cung nhân còn lại, lục lấy chiếu thư phế vị của Huệ Vương, đoạn châm lửa đốt cả chiếu thư và huyết thư ra tro ngay trước mặt họ.

Thiên Hương sai người giải ba cung nhân đi, chỉ để lại tỳ nhân rũ rượi trong tuyệt vọng, rồi vắt dải lụa trắng qua xà ngang, tròng vào cổ tỳ nhân.

Xong xuôi mọi việc, Thiên Hương lệnh cho đám người dọn dẹp gọn gàng, tắt đèn, đóng cửa, lui ra.

Tất cả diễn ra trong lặng lẽ.

Hôm sau là buổi đại triều.

Trời đã hửng sáng, gà gáy râm ran, chim chuyền ríu rít. Quần thần lũ lượt vào cung như thường lệ, đang định lên điện, thình lình một hồi chuông báo tang ngân lên rền rĩ.

Quần thần sửng sốt, bao nhiêu ánh mắt đồng loạt đổ dồn vào Trương Nghi. Trương Nghi hiển nhiên cũng không rõ chuyện gì, hết sức ngỡ ngàng.

Nội tể chủ sự Đông cung thân mang hiếu phục bước ra đón, dẫn quần thần vào chính điện. Ngụy Tự mình mặc áo sô, đã ngồi ngay ngắn trên ngai vàng của Huệ Vương, đám công tử công tôn trong vương thất, gồm cả công tôn Trĩ, tất cả đều áo sô trắng toát, quỳ ở trong điện. Lão ngự y của Huệ Vương nghẹn ngào báo tin dữ, Huệ Vương đêm qua trúng gió băng hà, tỳ nhân cũng thắt cổ tự vẫn theo.

Chiếu theo lệ thường, đại vu chúc chủ trì lễ kế vị cho Ngụy Tự. Tần Vương Ngụy thất đăng cơ, nhận lễ triều bái của quần thần.

Tần Vương này, sử gọi là Ngụy Tương Vương.

Sau lễ đăng cơ, Ngụy Tương Vương xuống chiếu cả nước để tang, chọn cát địa tại Phùng Trạch để xây lăng mộ cho tiên vương, Thụy hiệu là Huệ, đồng thời phong tỳ nhân là Phùng Trạch Quân, táng ở bên lăng Huệ Vương.

Hôm đó, gió bắc gào rít, hơi lạnh căm căm, đất trời băng giá.

Huệ Vương băng hà, Tương Vương kế vị, mọi việc quá ư đường đột, ngay cả Tương Vương Ngụy Tự cũng không kịp thích ứng. Ngụy Tự nhìn khắp xung quanh, thấy bên mình không có ai dùng được, cũng không có ai tin được, chỉ có thể dựa vào Trương Nghi, bèn lệnh cho hắn chủ trì đại tang.

Khi làm lễ chính thi(1), Trương Nghi giở tấm vải che trên mặt Huệ Vương, lập tức rùng mình kinh hãi, đưa tay sờ lên mặt tử thi một cái, rồi đậy ngay lại, lập tức hồi phủ, sai người cho gọi Thiên Hương tới.

(1)Một nghi thức trong tang lễ của quân chủ thời xưa, tức di chuyển thi thể đến trước cửa sổ hướng bắc, đầu quay về phương nam.

Thấy Trương Nghi mặt đầy giận dữ, Thiên Hương đã hiểu nguyên do, cúi đầu im lặng.

“Nói, tiên vương đã chết thế nào?” Trương Nghi hỏi phủ đầu.

Thiên Hương ấp úng không đáp.

“Sao các ngươi lại làm như vậy?” Trương Nghi giơ tay vỗ mạnh xuống án, “chuyện lớn nhường này, ngay trước mặt ta, cớ sao không bẩm báo một tiếng? Các ngươi coi ta là ai kia?”

Thiên Hương kinh hãi, quỳ sụp xuống đất.

Trương Nghi chỉ vào Thiên Hương, ngón tay run rẩy: “Các ngươi đang đẩy Trương Nghi ta vào chỗ chết đấy!”

Thiên Hương dập đầu dưới đất, bật khóc.

“Than ôi, các ngươi...” Trương Nghi cũng hiểu, chuyện này không thể do Thiên Hương tự quyết, nên gắng kìm cơn thịnh nộ, thở hắt ra, nhìn thẳng vào Thiên Hương, “dù có dùng độc, cũng phải chọn thứ độc dược nào khiến thần không biết quỷ không hay chứ. Giờ thì tốt rồi, khắp mình mấy Huệ Vương đều tím bầm cả.”

“Tiểu nữ... sai rồi...” Thiên Hương lắp bắp, “họ nói... đây là... độc dược tinh luyện từ hơn chục loại dịch độc... ở núi Chung Nam, một giọt trí mạng, tiểu nữ sợ bất trắc, nên mới thêm vài giọt nữa, nào ngờ...”

“Làm giả cũng quá cẩu thả, phấn bôi không kỹ, sơ hở khắp nơi, chất phấn cũng quá tệ, vừa chạm đã rơi, còn ngón tay, còn móng tay...” Trương Nghi giận dữ trách móc.

“Tiểu nữ bất cẩn, thời gian quá gấp,” Thiên Hương chớp mắt, “nhưng đại nhân yên tâm, ngay đêm nay, tiểu nữ sẽ sai người giỏi nghề tới tô điểm lại, dám chắc không thể nhìn ra.”

“Đi mau,” Trương Nghi phẩy tay, “còn sơ sảy nữa, thì không lấp liếm nổi đâu!”

Thiên Hương vội vã cáo từ, đêm khuya hôm ấy, kiếm cớ xua hết người canh linh cữu ra ngoài, chuyển thi thể Huệ Vương sang phòng khác, đem phấn đặc chế xoa lên khắp người Huệ Vương, chỉ nhìn thoáng qua, chẳng khác gì khi còn sống.

Chiếu theo vương chế Chu thất, thiên tử băng hà, bảy ngày nhập quan, bảy ngày nữa đưa tang, bảy tháng sau mới táng vào lăng mộ.

Vì lo sợ đêm dài lắm mộng, Trương Nghi cực lực khuyên Ngụy Tự thay đổi lễ chế nhà Chu, tự lập ra lễ chế của Ngụy, ba ngày nhập quan, ba ngày đưa tang, ba tháng táng vào lăng mộ, viện cớ là để giảm bớt nghi lễ rườm rà. Ngụy Tự tuy không hề hay biết Thiên Hương vì mình mà đầu độc chết tiên vương, song cũng loáng thoáng cảm thấy bên trong có điều uẩn khúc, nên cũng thuận nước đẩy thuyền, chấp thuận tấu thỉnh của Trương Nghi.

Bất luận là đại tang hay tức vị, đều là đại sự trong thiên hạ. Theo thông lệ, Tần Vương nước Ngụy cũng chiếu cáo thiên hạ, mời liệt quốc tới đưa tang.

Tin tức còn chưa truyền đến liệt quốc, ba người Công Tôn Diễn, Trần Chẩn, Bạch Hổ đã hưởng ứng lời hẹn “về Ngụy đuổi Nghi” của Tô Tần mà tới, hơn nữa, còn cùng đến Đại Lương một ngày, ở chung một dịch quán.

Từng là oan gia đối địch năm xưa, nay Trần Chẩn, Công Tôn Diễn và Bạch Hổ nhận lời hẹn của cùng một người, tìm đến vì cùng một việc, trọ lại cùng một dịch quán trong cùng một ngày, tuyệt đối không phải là trùng hợp ngẫu nhiên. Trần Chẩn, Công Tôn Diễn, Bạch Hổ, ba người nhìn nhau hồi lâu, rồi cùng mỉm cười. Trần Chẩn chìa tay, mời Công Tôn Diễn tới phòng mình thưởng rượu. Ba người uống rượu, ôn lại chuyện cũ, nhớ tới Ngụy Vương, nhớ tới Bạch gia, nhớ tới Thích Quang, lầu Nguyên Hanh, Bàng Quyên cùng sòng bạc năm xưa, ai nấy đều bâng khuâng cảm khái, như thể đã xa cách cả đời người.

Sáng hôm sau, Công Tôn Diễn, Trần Chẩn, Bạch Hổ lần lượt lấy thân phận sứ thần của Hàn Vương, Sở Vương vào cung yết kiến, thỉnh cầu vào viếng tiên vương, đều được chấp thuận.

Đầy đã là ngày thứ năm sau khi Ngụy Vương băng hà, gió bắc gào rít, giá rét cắt da, cho đến khi mặt trời mọc thì tuyết rơi mù mịt.

Thi thể Ngụy Vương hai ngày trước đã được chuyển vào trong cỗ quan tài gỗ lim to lớn, tuy chưa đóng đinh, song đã đậy nắp.

Họ là những tân khách ngoại bang đầu tiên tới đưa tang, cũng đều từng là bề tôi thân cận của Ngụy Huệ Vương, đặc biệt là Trần Chẩn, vừa nhìn thấy quan tài, nước mắt đã giàn giụa, gần như đổ nhào lại, kêu khóc thảm thiết.

Trần Chẩn là khóc thật, khóc rất thương tâm, khiến toàn bộ người có mặt, gồm cả Ngụy Tự, cũng đều thấy mủi lòng mà bật khóc theo.

Trương Nghi không khóc, chỉ đứng bên cạnh, đưa mắt nhìn lạnh lẽo.

Trần Chẩn khóc chừng nửa canh giờ mới đứng dậy, bước lại trước mặt Ngụy Tương Vương, quỳ xuống dập đầu mà nói: “Thần có một thỉnh cầu, dám mong đại vương ân chuẩn!”

“Sứ Sở có thỉnh cầu gì?” Tương Vương hỏi.

“Thần có được đại ân tri ngộ của tiên vương, được tiên vương ân sủng sâu dày, thần ghi tạc trong tâm, chết không dám quên. Từ khi rời khỏi Đại Lương, thân không còn được một lần diện kiến long nhan, mười ba năm qua, thần...” Trần Chẩn lại nghẹn ngào, đưa tay áo lên lau nước mắt, “thần vẫn hằng tưởng nhớ tiên vương, song chỉ gặp được trong giấc mộng! Lần này đi sứ sang Ngụy, là được Sở Vương uỷ thác, cứ ngỡ cuối cùng cũng được diện kiến tiên vương. Nào ngờ... nào ngờ thần lại tới chậm một bước. Thần trong lòng đau xót quá đỗi. Nên câu xin đại vương ân chuẩn, cho mở nắp quan tài, để được nhìn thấy long nhan của tiên vương lần cuối.” Nói đoạn dập đầu bình bịch, “được vậy, thần có chết cũng không hối hận!”

“Ồ...” Tương Vương trong lòng xúc động, gạt lệ nhìn sang Trương Nghi.

“Bảo quan của tiên vương, có thể tùy tiện mở được ư?” Trương Nghi lạnh lùng đáp.

“Trần đại nhân đây là sứ nước Sở, cùng với tiên vương vốn là...” Tương Vương như thể thỉnh cầu.

“Đại vương,” Trương Nghi dấn lên một bước, “theo lời vu sư, sau khi tạ thế, trong vòng bảy ngày, hồn xác lúc nhập lúc tách, chớ nên quấy rầy, kẻo làm kinh động. Mở quan tài sẽ quấy nhiễu vong hồn tiên vương, sứ Sở câu nào cũng nhắc tới ơn tri ngộ của tiên vương mà lại khăng khăng đòi mở quan tài, khiến thần thực không hiểu nổi! Hơn nữa, nếu ai tới viếng cũng đòi mở nắp áo quan, nhìn mặt lần cuối, dám hỏi đại vương, có nên ân chuẩn hay không?”

“Ờ...” Tương Vương do dự một lát, nhìn sang Trần Chẩn, sắc mặt thoáng vẻ sượng sùng, “sứ Sở, quan tài đã đóng, không nên mở ra, nếu không, sẽ làm kinh động tới vong hồn tiên vương.”

“Sứ Sở cáo lui!” Trần Chẩn lại liếc nhìn cỗ quan tài, dập đầu, rồi đứng dậy, sải bước đi ra.

Công Tôn Diễn, Bạch Hổ đứng im quan sát, không bỏ qua một tiểu tiết nào.

Chiếu theo tang chế mới của nước Ngụy do Trương Nghi định ra, qua một ngày nữa sẽ đưa tang, chuyển quan tài của Huệ Vương tới lăng viên tận Phùng Trạch xa xôi.

Huệ Vương là vị vương đầu tiên của nước Ngụy, nên mọi nghi lễ đương nhiên đều tuân theo vương chế. Đây là đại sự của nước Ngụy, quan lại các quận huyện, phong ấp trong cả nước đều hối hả đi suốt ngày đêm, thẳng tới Đại Lương để đưa tang tiên vương.

Tuy nhiên, ông trời lại không thuận lòng người.

Một trận tuyết lớn chưa từng có trong suốt trăm năm qua bắt đầu đổ xuống sau khi Huệ Vương băng hà được năm ngày, từ sáng sớm tới đêm khuya không ngớt, càng lúc càng thêm mù mịt. Đến khi trời sáng, tuyết đã lấp cả cửa sổ, cao đến ngang hông, trên phố tuyết đọng dày hơn ba thước, có nơi còn hơn năm thước.

Kèm theo tuyết lớn là cái lạnh ghê gớm, hơi giá như cứa vào da thịt, châm vào xương tuỷ.

Song ngày đưa tang lại không thể đổi. Chỉ lệnh của Ngụy Tương Vương ban xuống, bách tính Đại Lương đều trân mình trong gió rét, mang theo đủ loại dụng cụ xúc tuyết ra phố, cố gắng mở ra một con đường thông tới lăng viên.

Bách tính xa gần mệt mỏi khốn đốn không sao tả xiết.

Khốn khổ hơn nữa là những quan lại phụ trách việc này. Phải nhanh chóng đào ra một con đường lớn đủ cho hàng vạn người đưa tang trong tuyết dày nhiều thước, rõ ràng là bất khả thi. Quần thần đua nhau tới phủ Trương Nghi trách móc kêu than, hoặc vào thẳng trong cung can gián, thỉnh cầu thay đổi ngày đưa tang. Ngụy Tương Vương cũng lấy làm khó xử, bèn cho gọi Trương Nghi vào bàn.

“Đại vương,” Trương Nghi bình thản đáp, “đây là chiếu lệnh đầu tiên sau khi đại vương kế thừa đại nghiệp, nếu lại tự mình thay đổi, thần cho rằng không thoả đáng, xin đại vương suy xét thận trọng!”

Tương Vương bèn hạ chỉ: “Ngày xuất tẫn của tiên vương, ý trời đã quyết, kẻ nào còn dám vọng ngôn, đòi đổi ngày khác, chém đầu không tha!”

Chiếu lệnh ban xuống, quần thần đều kinh sợ, chỉ biết cực lực lùa hết thần dân trong thành ra ngoài xúc tuyết mở đường, đến đàn bà con trẻ, người già sức yếu cũng không tha. Tuy nhiên, do tuyết quá dày, nên cũng chẳng khả quan hơn là mấy. Hàng chục vạn dân đen cào xúc cật lực suốt một ngày trời, chỉ mở ra được một con đường chưa tới năm dặm, rộng cũng chỉ chừng sáu thước, đủ cho một cỗ xe đi qua. Tuyết xúc ra đắp đống bên đường, chất ngất như hai bức tường cao. Xe đi trên đường, cùng lắm chỉ lộ nóc mui nhấp nhô, người đứng bên ngoài nhìn vào, gần như không thấy.

Mắt thấy việc xúc tuyết mở đường không thể hoàn thành đúng hạn, Trương Nghi nảy ra một ý, nhớ đến sạn đạo mở trong núi Chung Nam và Thục Sơn khi phạt Thục năm xưa, bèn sai mọi người dùng gỗ tấm lót xuống tuyết, rồi đánh xe đi qua.

Đúng là hữu dụng.

Trương Nghi cả mừng, tấu báo lên Tương Vương, hạ chỉ thần dân toàn thành góp gỗ, bất luận là cánh cửa, quan tài, vách gỗ, ván sàn, phàm có thể khiến người ngựa đi qua, đều phải mang góp hết. Chốc lát, toàn thành chó chạy gà bay, một bầu hỗn loạn, đâu đâu cũng chan chát tiếng dỡ gỗ, chuyển gỗ. Nhất là gỗ ván quan mà người già cất giữ trong nhà, được quan lại ưa thích nhất.

Chập tối hôm nay, một đoàn ba người bước thấp bước cao trên con đường ngập tuyết ở Đại Lương. Giống như những người dân Đại Lương khác, cả ba đều mình mặc áo sô, đầu đội mũ da thú, quanh cổ quấn kín khăn.

Nhìn vào trang phục, đoán là chủ tớ một nhà, người đi trước mở đường là nô bộc, lưng đeo tay nải. Chủ nhân trông rất mệt mỏi, được nô bộc còn lại dìu đi theo sau.

Ba người đi trên phố tìm quán trọ, cứ vào một nhà hỏi, rồi lại quay ra, bởi lẽ hầu như toàn bộ quán trọ đều đã chật kín người từ các ấp tìm tới đưa tang. Ba người tìm khắp lượt con phố, cuối cùng cũng hỏi được hai gian phòng trống tại một quán trọ nhỏ trong ngõ hẹp.

Trong phòng trọ than lửa ấm sực. Chủ nhân tháo khăn quấn cổ, bỏ mũ da, để lộ khuôn mặt.

Chính là Huệ Thi.

Còn hai nô bộc, người dìu Huệ Thi là Tô Tần, người đeo tay nải là Trâu Phi Đao.

Đêm xuống, Trần Chẩn nằm trên giường gỗ, trong lòng trĩu nặng, đang trằn trọc trở mình, chợt ngửi thấy mùi thịt nướng thoang thoảng bay lại. Trần Chẩn ngồi dậy mặc áo, lần theo mùi thơm mà tìm, tiến thẳng đến trước phòng Công Tôn Diễn.

Trần Chẩn không gõ cửa, cứ thế đẩy cửa bước vào, thấy Công Tôn Diễn và Bạch Hổ đang ăn thịt uống rượu, miệng ai cũng bóng nhẫy những mỡ dưới ánh lửa lò.

Công Tôn Diễn một tay cầm đùi gà nướng, một tay cầm bầu rượu đồng, cứ cắn một miếng thịt lại kèm một ngụm rượu, miệng nhai chóp chép trông rất ngon lành, thấy người bước vào là Trần Chẩn, lại càng cố tình chóp chép to hơn.

“Hai vị vui vẻ quá nhỉ!” Trần Chẩn chép miệng vài cái, ngồi xuống đất, mắt liếc vào đĩa gà nướng bày trên án.

Trong đĩa chỉ còn lại một khúc cổ gà dính với đầu và miếng phao câu.

Công Tôn Diễn hất hàm về phía đĩa thịt: “Bạch huynh đệ nướng để đưa rượu đấy, Trần huynh đã chậm chân rồi!” Đoạn đưa bầu rượu lại.

Trần Chẩn bật cười, thò tay nhặt lấy phao câu, cắn một miếng rồi bỏ xuống, lại với khúc cổ gà, tay kia đón lấy bầu rượu của Công Tôn Diễn, “cứ chiếm hết đã rồi tính!”

Công Tôn Diễn và Bạch Hổ đều phá lên cười.

“Đừng cười,” Trần Chẩn cắm cúi gặm cổ gà một chốc, mới rảnh miệng lên tiếng, “hai người đúng là không biết ăn!” Rồi chép miệng rõ to ra chiều khoái chá lắm.

“Nói vậy nghĩa là sao?” Công Tôn Diễn nhìn sang hỏi.

“Trong con gà, ngon nhất là phao câu, tiếp đến là cổ, sau đó là đầu!” Trần Chẩn lại gặm một miếng cổ, ve vẩy cái đầu gà, mắt liếc vào miếng phao câu trên đĩa, “giờ thì, cả ba thứ đó đều đã vào miệng tại hạ cả rồi!”

Công Tôn Diễn, Bạch Hổ lại cười lớn.

“Bạch huynh đệ, Công Tôn huynh,” Trần Chẩn không cười, nhìn thẳng vào hai người, “hai vị không cảm thấy chuyện ngày hôm nay rất quái lạ ư?”

“Quái lạ ở đâu, xin Trần huynh chỉ giáo!”

“Ờ tế bái!” Trần Chẩn dài giọng, “tại hạ tưởng nhớ tiên quân, thỉnh cầu được nhìn tôn nhan lần cuối, vốn không có gì quá đáng. Thế nhưng Trương Nghi kia, hắn dựa vào đâu mà không cho phép? Chiếu theo lệ cũ, thiên tử bảy ngày mới đưa tang, bảy tháng mới táng. Tiên quân đã xưng vương, cũng phải tuân theo vương chế, cớ sao mới ba ngày đã đưa tang? Đến công hầu cũng phải năm ngày mới đưa tang, làm như vậy, chẳng phải là quá bất kính đối với tiên quân ư!”

“Trần huynh nói phải!” Công Tôn Diễn lấy lại bầu rượu trong tay Trần Chẩn, dốc một ngụm lớn, “còn nữa, tuyết lớn thế này, về lý mà nói nên đổi ngày đưa tang, song Trương Nghi kia khăng khăng không chịu, nhất định muốn hao tốn của dân, lao nhọc sức dân, làm sạn đạo trên băng tuyết, quả là chuyện khó tưởng tượng!”

“Không biết hai vị có nhận ra không,” Trần Chắn tiếp lời, “khi tại hạ thỉnh cầu, nhìn sắc mặt đại vương, hẳn cũng có ý chấp thuận, chỉ Trương Nghi kia nhất quyết không chịu. Hắn dựa vào đâu mà không chịu? Chuyện này, nhất quyết phải làm rõ trắng đen!”

“Làm rõ thế nào?” Bạch Hổ hỏi.

“Thằng cha kia chẳng phải đang nôn nóng đưa tang đấy ư?” Trần Chẩn nở nụ cười âm hiểm, “chúng ta sẽ không cho hắn toại nguyện!”

“Nhưng... nhưng phải làm thế nào mới ngăn hắn được?” Bạch Hổ gãi đầu hỏi.

“Việc này, e là cần Công Tôn huynh ra mặt!” Trần Chẩn nhìn sang Công Tôn Diễn, “theo tại hạ được biết, tiên vương dẫu có thành kiến, nhưng đương kim đại vương lại rất kính phục Công Tôn huynh đây!”

“Trọng trách này, tại hạ không đủ sức đảm đương, có điều,” Công Tôn Diễn khẽ cười, lại nhấp một ngụm rượu, “có một người làm được!”

“Ai kia?”

“Huệ Công!”

Huệ Công chính là Huệ Thi. Trần Chẩn sốt ruột kêu lên: “Ông ta đâu có ở đây!”

Công Tôn Diễn ngửa cổ tu ừng ực một hơi dài, cười nói: “Lúc này thì đến rồi đấy!”

Có lẽ cảm thấy năm xưa đuổi Huệ Thi đi là việc thất đạo, nên khi Huệ Thi mình mặc áo sô vào yết kiến Tương Vương, Trương Nghi cố tình lánh mặt.

Hơn chục năm ở Ngụy, Huệ Thi không đắc tội với bất kỳ ai, đương nhiên cũng không đắc tội với công tử vương thất. Đặc biệt là Ngụy Tự, vốn rất kính trọng Huệ Thi, nên đón tiếp vô cùng cung kính.

Thi lễ xong, Huệ Thi thở dài buồn bã, cất giọng chậm rãi giống hệt khi xưa: “Than ôi, sự việc trên đời, quả thực khó lường. Mới vài hôm trước, trong lúc ngủ trưa, lão thần còn mộng thấy tiên vương, tiên vương trông rất vui vẻ, nói rằng tưởng nhớ Trang Chu, bảo lão thần đi tìm Trang Chu lại. Lão thần đáp, Trang Chu đang tiêu dao khắp chốn, không biết ở đâu, tiên vương trăm việc bộn bề, nước Ngụy càng không thể thiếu tiên vương được, đâu thể chơi đùa như hắn. Tiên vương nói, quả nhân già rồi, việc của nước Ngụy, sớm muộn cũng phải trao lại người sau, trao muộn chi bằng trao sớm. Thấy tiên vương nghĩ vậy, lão thần lấy làm mừng lắm, đang định dẫn tiên vương đi tìm Trang Chu, bỗng có tiếng ngáy vang lên làm giật mình tỉnh giấc. Lão thần đưa mắt nhìn sang, chẳng phải Trang Chu đó ư, đang dựa lưng vào thân cây xiêu vẹo ngủ ngon lành. Lão thần xách tai hắn lôi dậy, kể lại giấc mơ vừa nãy. Trang Chu mới bảo, ông hãy tới Đại Lương ngay để gặp đại vương đi. Lão thần bèn nói, trời lạnh thế này, đường sá khó đi, hơn nữa, chỉ là giấc mộng mà thôi. Trang Chu lại nói, nếu ông không đi, chỉ e đời này không còn gặp được đại vương của ông nữa. Nói xong, Trang Chu lại nằm xuống ngủ tiếp. Lão thần không thể chợp mắt, cứ suy nghĩ mãi lời nói của Trang Chu, càng nghĩ càng thấy trong lòng thắc thỏm. Thế là đứng dậy về nhà, gọi nô bộc, chuẩn bị xe, lên đường lập tức, đi suốt ngày đêm không nghỉ. Sắp tới Đại Lương thì trời đổ tuyết mịt mù, xe ngựa không thể nhúc nhích, đành vào nhà người ta xin trọ lại, mới bàng hoàng nghe tin tiên vương băng hà. Than ôi!” Nói rồi đưa tay gạt lệ, “lão thần mới gửi lại xe ngựa, cùng hai nô bộc đội tuyết mà đi, không ngờ tuyết lúc một lớn, phủ lấp kín đường, suýt nữa thân già này cũng chôn vùi nơi đồng hoang mất...”

Huệ Thi vốn dĩ kiệm lời, nay vừa gặp mặt đã kể lể ngắn dài, ý tình tha thiết, khiến Tương Vương nghe mà đau xót, bất giác nước mắt ứa ra.

“Nghe nói ngày đưa tang đã định,” Huệ Thi ngoảnh nhìn Tương Vương, “là ngày nào vậy?”

“Phải, đã định rồi, ngày mai.”

“Là đại vu chúc gieo quẻ định ngày ư?” Huệ Thi lại hỏi.

“Là... là tướng quốc định ngày.”

“Than ôi...” Huệ Thi thở dài sườn sượt.

“Tiên sinh?” Tương Vương nhìn Huệ Thi.

“Nước Ngụy hết người thật rồi!” Huệ Thi lắc đầu.

“Ồ?”

Tương Vương ngả người lại.

“Tướng quốc muốn đẩy đại vương đến chỗ đại bất nhân, đại bất nghĩa, mà nước Ngụy không có một người nhắc nhở đại vương, lẽ nào không phải hết người?”

Tương Vương hạ giọng: “Dám hỏi tiên sinh, lời này có nghĩa là gì?”

“Chí nguyện bình sinh của tiên vương, là xưng vương, hiệu lệnh thiên hạ. Tiên vương đã xưng vương rồi, lý ra cũng phải chiếu theo vương chế, bảy ngày đưa tang, vậy mà tướng quốc lại bảo đại vương ba ngày đưa tang, há chẳng phải đẩy đại vương vào chỗ đại bất nhân ư? Ba ngày đưa tang, là tang chế cho kẻ sĩ. Năm ngày đưa tang, là tang chế cho công hầu. Đại tang của vua, là bảy ngày đưa tang. Ngày đưa tang, lại càng phải lựa chọn nghiêm ngặt. Vua là con của trời, con của trời thì phải nghe trời ban mệnh, thay trời hành nghĩa, cho nên ngày đưa tang của vua, phải do đại vu chúc gieo quẻ định đoạt, để phụng mệnh trời. Tướng quốc lại bảo đại vương độc đoán triều cương, làm trái mệnh trời, há chẳng phải đẩy đại vương vào chỗ đại bất nghĩa ư?”

Tương Vương nghe mà trong lòng ớn lạnh, đôi mày nhíu chặt.

“Hơn nữa, đại vương rồi cũng đến lúc trăm năm, đợi tới ngày đại hạn, thử hỏi Tần Vương tương lai sẽ học theo cách với tiên vương mà dùng lễ thứ dân cho đại vương, hay tuân theo vương chế Đại Chu mà dùng lễ thiên tử cho đại vương đây?”

Tương Vương khí huyết nhộn nhạo, mồ hôi rịn đầy trên trán.

“Lão thần khẩn thiết thỉnh cầu đại vương đổi ngày đưa tang, để sửa chính vương mệnh!” Huệ Thi cầu khẩn.

“Thế nhưng...” Tương Vương nhớ tới lời Trương Nghi, ấp úng, “đây là chiếu lệnh đầu tiên của quả nhân sau khi đăng cơ, nếu như thay đổi...”

“Chuyện này dễ thôi,” Huệ Thi không cần suy nghĩ, lập tức đáp liền, “năm xưa Chu Vương Quý Lịch băng hà, táng dưới chân Sở Sơn, nước lớn xói mòn lăng mộ, để lộ quan tài. Văn Vương hay tin, đích thân tới xem, nói với quần thần: ‘Hẳn là tiên quân muốn gặp mặt thần tử của người!’ Nên lệnh cho đào quan tài lên, xây dựng linh đường, để thần dân cùng tới triều kiến. Sau ba ngày đại triều, Văn Vương hạ chỉ, dời mộ đổi lăng, thành tựu đại nghĩa đất trời! Nay tiên vương băng hà, vào hôm đưa tang, trời giáng tuyết lớn, ngập đường bít cửa, cao tày mắt trâu, là chuyện hết sức bất thường, hẳn là tiên vương không nỡ rời xa bách tính, muốn từ biệt quần thần, nên mới thỉnh cầu trời cao thành toàn. Đại vương cớ sao lại không thuận theo ý trời, dựng linh đường, lệnh cho quần thần bách tính tới triều kiến, đợi khi tuyết lớn tan đi, đại vương hãy lệnh cho đại vu chúc chọn ngày lành đưa tang, trên không phụ tiên vương, không trái mệnh trời, dưới không lao nhọc bách tính, không tổn hao kho phủ, ban bố đại nghĩa của Văn Vương khắp thiên hạ?”

“Hay lắm!” Tương Vương siết chặt nắm tay, quay sang nội tể, “truyền chỉ, thuận theo ý trời, đổi ngày đưa tang, phàm là cựu thần của tiên vương, đều có thể vào thái miếu, triều bái linh cữu tiên vương!”

Huệ Thi vòng tay: “Lão thần còn một thỉnh cầu!” “Tiên sinh cứ nói!”

“Đại vương với lão thần, có ơn tri ngộ, trước khi lên đường, còn hạ cố hiện về báo mộng, nên lão thần mới vội vã đội tuyết mà tới, chỉ mong được yết kiến long nhan, nói lời vĩnh biệt! Lão thần thỉnh cầu được nhìn mặt tiên vương lần cuối!”

“An chuẩn cho tiên sinh!” Tương Vương chìa tay, “tiên sinh, mời!”

Tương Vương dẫn Huệ Thi vào trong linh đường của Huệ Vương. Huệ Thi hành xong đại lễ, đứng dậy bước tới trước quan tài, đoạn đưa mắt nhìn Tương Vương.

Tương Vương sai vệ sĩ canh linh cữu dịch mở nắp quan tài. Huệ Thi bước lên đôn cao, nhìn vào bên trong, nước mắt giàn giụa.

Huệ Thi đưa tay vào trong quan tài, lần tìm bàn tay Huệ Vương. Do trời giá rét, thi thể Huệ Vương đã đông cứng tựa băng. Huệ Thi nắm chặt bàn tay Huệ Vương, nước mắt lã chã.

Hồi lâu, Huệ Thi mới buông bàn tay Huệ Vương ra, rút khỏi quan tài. Đúng vào khoảnh khắc này, Huệ Thi bỗng rụng rời kinh hãi.

Trong lòng bàn tay Huệ Thi, toàn là phấn trắng!

Huệ Thi nhìn xuống tay mình, lại nhìn vào tay Huệ Vương, rồi vội đưa tay vào trong quan, nắm tay Huệ Vương gắng hết sức kéo ra, cúi gập lưng, ghé mắt lại gần để nhìn cho kỹ.

Tại nơi lớp phấn vừa bong ra, làn da hiện màu tím ngắt.

Huệ Thi mặt cắt không còn hạt máu, đứng ngây như khúc gỗ.

“Tiên sinh sao thế?” Tương Vương cảm thấy bất thường, vội lên tiếng hỏi.

Huệ Thi buông tay Huệ Vương ra, quệt vội bàn tay vào áo, rồi lại đưa tay đặt lên trán Huệ Vương.

Vẫn toàn phấn trắng.

Huệ Thi bất chợt gào lên khóc lớn, bi phẫn tột cùng.

“Tiên sinh?” Thấy Huệ Thi đột nhiên khóc lớn, Tương Vương cứ ngỡ do buồn thương quá độ, bèn đưa tay đỡ Huệ Thi xuống.

Huệ Thi nhảy xuống khỏi đôn, cả người lảo đảo, may nhờ Tương Vương đỡ kịp, nếu không đã ngã nhào.

“Tiên sinh... có sao không?” Tương Vương lo lắng hỏi.

“Đậy... đậy nắp quan!” Huệ Thi chỉ vào cỗ quan tài.

Tương Vương sai vệ sĩ đóng quan tài lại, đỡ Huệ Thi ra ngoài.

Huệ Thi chẳng nói chẳng rằng, thậm chí không cả từ biệt Tương Vương, giống như người say, bước chân loạng choạng rời khỏi linh đường.

Trong lữ điếm nhỏ nơi Huệ Thi ở trọ, bầu không khí vô cùng ngột ngạt.

Huệ Thi ngồi ở chiếu chủ, hai mắt khép hờ. Trần Chẩn, Công Tôn Diễn, Bạch Hổ ngồi quây vòng tròn ở chiếu khách trước mặt, sắc mặt ai nấy đều tràn đầy bi phẫn, nhất là Bạch Hổ, toàn thân vận kình, tay quyền siết chặt, đến nỗi các khớp ngón kêu lên răng rắc.

“Huệ tướng quốc,” Trần Chẩn nhìn trân trân vào Huệ Thi, “ông hẳn đã nhìn rõ?”

“Rõ mồn một!” Huệ Thi bật ra ba chữ.

“Gã khốn Trương Nghi, chính hắn... hắn dám giết vua!” Bạch Hổ đứng phắt dậy, nộ hoả ngùn ngụt, “chúng ta hãy vào yết kiến đại vương, nói rõ mọi chuyện, khép hắn vào tội tru di cửu tộc!”

Công Tôn Diễn khẽ đặng hắng một tiếng, Bạch Hổ giậm chân thật mạnh, rồi ngồi trở xuống.

“Tiên sinh!” Công Tôn Diễn nhìn sang Huệ Thi, “khi tiên sinh nhận ra sự bất thường, thái độ của Ngụy Vương thế nào?”

“Ngụy Vương dường như không biết sự tình, nếu không, hẳn đã không để cho lão hủ nhìn mặt tiên vương!”

“Lẽ nào đúng là do Trương Nghi làm?” Công Tôn Diễn nheo mắt lại, đưa bầu rượu lên môi, nhấp một ngụm, lầm bầm như tự nhủ, “theo tính cách của Trương Nghi, hẳn không thể làm ra chuyện này!”

“Công Tôn huynh,” Trần Chẩn lấy làm tò mò, nhìn sang Công Tôn Diễn, “huynh thử nói xem, tính cách của Trương Nghi thế nào?”

“Theo như tại hạ biết,” Công Tôn Diễn chậm rãi đáp lời, “Trương Nghi là người có đạo, mưu sự có chừng mực, mánh khoé hạ lưu thâm độc nhường này, người có đạo không bao giờ chịu làm!”

Trần Chẩn phá lên cười: “Người có đạo! Dạng như Trương Nghi mà cũng là người có đạo ư? Ha ha ha ha...”

Trần Chẩn thình lình bật cười thật lớn, may sao đang giữa ban ngày, trong quán trọ đông người huyên náo, sảnh phía trước còn có người kể chuyện ồn ào, nên tiếng cười của Trần Chẩn mau chóng chìm nghỉm.

“Công Tôn huynh, Trần thượng khanh,” Bạch Hổ hạ giọng hỏi, “nếu tại hạ điều tra ra thủ phạm chính là Trương Nghi, nên xử trí thế nào?”

“Bạch huynh đệ định điều tra thế nào?” Trần Chẩn hỏi.

“Tại hạ từng làm việc trong hình ngục, quen việc tư hình, cũng từng nghiệm xác, có cả trăm cách để khám xét tử thi, tìm ra chân tướng!” Bạch Hổ tràn đầy tự tin.

“Nếu quả đúng vậy, chính là tội diệt môn, chiếu theo vương pháp mà tru di!” Trần Chẩn trả lời, rồi quay sang Công Tôn Diễn, “Công Tôn huynh, kẻ dùng thủ đoạn giết vua, không thể dung thứ, đúng không?”

“Nếu quả là vậy, kẻ này chết chắc!” Công Tôn Diễn đáp.

“Được,” Bạch Hổ đứng dậy, “tại hạ lập tức điều tra!” Rồi sải bước ra ngoài, mở cổng định đi.

“Bạch huynh đệ, không đi được!” Từ trong một góc bỗng vọng ra tiếng gọi.

Bạch Hổ giật mình, ngoảnh đầu nhìn lại.

Công Tôn Diễn, Trần Chẩn cũng cả kinh, đều nhìn về phía đó.

Một người từ từ đứng lên, tiến lại gần.

Mọi người định thần nhìn kỹ, thì ra là nô bộc của Huệ Thi.

Nô bộc gỡ bộ râu quai nón xuống, tháo mũ da đội đầu, để lộ ra khuôn mặt.

“Tô Tần!” Mấy người đồng thanh kêu lên, vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ.

Tô Tần tiến lại trước mặt Huệ Thi, ngồi xuống, khẽ giọng nói: “Huệ tiên sinh, Trần huynh, Công Tôn huynh, Bạch huynh đệ, theo như tại hạ biết, tiên Ngụy Vương quả thực đã bị hạ độc, nhưng cũng đúng như Công Tôn huynh đã nói, kẻ hạ độc không phải Trương Nghi!”

“Vậy là... là thái tử nước Ngụy?” Giọng Trần Chẩn gần như thì thào, hơn nữa không gọi đại vương, mà đổi thành thái tử.

“Theo như lời Huệ tiên sinh,” Tô Tần đáp, “hẳn cũng không phải là thái tử!”

“Là ai?” Bạch Hổ nôn nóng.

Đã không phải Ngụy Vương, cũng không phải Trương Nghi, thích khách là ai, đã quá rõ ràng, không cần nói cũng biết. Trần Chẩn, Công Tôn Diễn thừa hiểu, song không ai lên tiếng đáp lời.

“Tiên Ngụy Vương đã băng hà, là ai hạ sát, không quan trọng nữa!” Tô Tần nhìn sang Bạch Hổ, chậm rãi giải thích. “Đối với chúng ta, chỉ có một điều hệ trọng, nước Ngụy không thể loạn!”

“Ý Tô Tử là, bỏ qua chuyện này?” Công Tôn Diễn hỏi.

“Không hoàn toàn là vậy.” Tô Tần nhìn sang Công Tôn Diễn, “ý tại hạ là, chúng ta hãy nhân chuyện này để đuổi Trương Nghi đi, sau đó hiểu dụ đương kim Ngụy Vương, ép Ngụy Vương quay lại tung thân. Còn tiên Ngụy Vương, gặp phải kiếp nạn này, cũng coi như số mệnh an bài. Nước Ngụy đã xảy ra quá nhiều biến cố, không thể sinh thêm loạn nữa!”

Mọi người đưa mắt nhìn nhau.

Thế nhưng, thứ nhất là do Tô Tần đề nghị, thứ hai là họ đã nhất trí từ trước, lần này tới đây, chỉ là để đuổi Trương Nghi, không phải để giết Trương Nghi, vì thế, không ai nói thêm lời nào.

“Công Tôn huynh,” Tô Tần nhìn sang Công Tôn Diễn, vòng tay, “để cho huynh làm người ác là phù hợp nhất!”

“Xin thụ mệnh!” Công Tôn Diễn đáp lễ.

Khi Công Tôn Diễn vừa dốc bầu rượu vừa bước vào phủ tướng quốc, Trương Nghi vẫn ngồi bên án, không đứng dậy đón. Công Tôn Diễn cũng không khách sáo, ngồi phịch xuống ngay chiếu khách.

“Công Tôn huynh!” Trương Nghi cười gượng, “tại hạ chờ đã lâu rồi!”

Công Tôn Diễn giơ bình rượu lên: “Uống chứ?” Đoạn ném sang.

Trương Nghi đưa tay bắt lấy, khen ngợi: “Chà chà, cái bầu này danh tiếng lẫy lừng, tại hạ phải thưởng thức một lần mới được!” Ngắm nghía một hồi, nhấp một ngụm nhỏ, “bầu thì đẹp đấy, mà rượu chẳng ra sao!” Đoạn ngẩng đầu, nhìn Công Tôn Diễn, “ngụm rượu nhạt thếch này là tiệc tiễn đưa của Công Tôn huynh đấy ư?”

Công Tôn Diễn vỗ tay khe khẽ: “Xem ra Trương huynh sớm đã sắp đặt cả rồi!”

Trương Nghi đưa tay nhấc lấy một bọc nhỏ, đặt lên trên án, đưa tay chỉ mà nói: “Phiền Công Tôn huynh giao lại vật này cho Ngụy Vương bệ hạ. Còn những thứ tạp nhạp khác trong phủ, đều do quản gia trông coi, Công Tôn huynh cần gì cứ hỏi!” Rồi vỗ tay.

Quản gia bước vào.

“Xe ngựa chuẩn bị xong chưa?” Trương Nghi hỏi. “Thưa, xong cả rồi.”

Trương Nghi chỉ vào Công Tôn Diễn: “Toàn bộ sự vụ và đồ đạc trong phủ, hãy giao hết cho vị đại nhân này!” Quay sang Công Tôn Diễn, “Công Tôn huynh, nhọc sức rồi!” Nói đoạn đứng dậy, sải bước khỏi phòng, băng qua sân, đi thẳng ra khỏi cổng, nhảy lên cỗ xe tứ mã đã đóng sẵn, cuốn bụi mà đi.

Công Tôn Diễn mở bọc vải ra xem, là ấn tướng quốc của Đại Ngụy.

Trong cung Tần ở Hàm Dương, tuyết trắng bao phủ, giá lạnh thấu xương.

Trương Nghi mình mặc áo cừu, bước từng bước lên thềm trước điện.

Trước điện lặng phắc như tờ, chỉ có nội tể đứng hầu ngoài cổng, thấy Trương Nghi bước lên, liền khom lưng nghênh đón, dẫn Trương Nghi qua cửa, tiến vào trong điện.

Tần Huệ Vương ngồi nghiêm trang trên chiếu chủ, trên án bày đầy thức ngon rượu ngọt.

Trương Nghi quỳ xuống, dập đầu hô: “Tội thần Trương Nghi khấu kiến đại vương!”

“Ngồi đi!” Huệ Vương không đáp, chỉ vào chỗ ngồi trước án, giọng lạnh như băng.

Trương Nghi trong lòng ớn lạnh, bất giác rùng mình, lại dập đầu: “Tội thần không dám ngồi!”

“Được!” Tần Huệ Vương nhìn chằm chằm vào Trương Nghi, giọng vẫn lạnh tanh, “nói đi, khanh đã phạm tội gì?”

“Thần...” Trương Nghi dừng lại một chốc, rồi bắt đầu tự kể tội mình, “thứ nhất, không nên khởi xướng phạt Tề, lao nhọc tướng sĩ viễn chinh. Thứ hai, không nên can dự việc quân, trói chân Tư Mã tướng quân. Thứ ba, không nên...”

“Tướng quốc đại nhân,” Huệ Vương xua tay ngăn lại, tiếp lời, “những cái không nên tiếp theo, cứ để quả nhân nói thay ái khanh, ái khanh hãy nghe cho kỹ.” Đoạn đằng hắng lấy giọng, gập từng ngón tay mà đếm. “Thứ ba, không nên chế định sách lược liên hoành, một mình tới Đại Lương kết hoành với Ngụy, đuổi hiền tướng Ngụy là Huệ Thi đi, kích động Bàng Quyên phạt Triệu, dẫn tới đại chiến Trung Nguyên, khiến Triệu, Ngụy tranh đấu, Ngụy phá Hàm Đan, Tề Ngụy đại chiến Quế Lăng, Điền Kỵ suýt nữa bắt sống Bàng Quyên. Thứ tư, không nên dùng kế ly gián, khiến người Tề bất hoà, Tôn Tẫn giả chết, Điền Kỵ bỏ đi. Thứ năm, không nên xúi giục Bàng Quyên phạt Hàn, khiến Tô Tần bôn ba giải cứu, khiến Tề Ngụy lại khai chiến Mã Lăng, Bàng Quyên tự tận. Thứ sáu, không nên để mặc người Sở phạt Ngụy, tập kích chiếm lấy tám ấp Tương Lăng, khiến Sở Ngụy bất hoà, Tề Sở giao tranh, Chiêu Dương suýt nữa đánh tới Lâm Truy. Thứ bảy, không nên thuyết phục quả nhân, phạt Tề giúp Ngụy, dùng sức một người để giữ vững mũi dao duy nhất của Đại Tần ta tiếp tục thọc sâu vào Trung Nguyên. Thứ tám, không nên...”

“Đại vương...” Nghe thấy Huệ Vương nói ra một tràng những điều không nên như thế, từng sự từng việc, đều có lợi cho Tần, đều là công lao của Trương Nghi kể từ sau khi làm tướng quốc Ngụy, khiến Trương Nghi cảm kích khôn xiết, không nói nên lời.

“Ha ha ha ha!” Huệ Vương bỏ giọng lạnh lùng, bật cười thật lớn, “em rể, phải gọi ta là Tứ huynh!”

“Tứ huynh...” Trương Nghi vòng tay gọi.

Huệ Vương đưa tay lấy ra một chiếc hộp, đặt đánh “cạch” xuống mặt án: “An tướng quốc của em rể, vật về chủ cũ!” Đoạn quay ra ngoài vỗ tay.

Công tử Hoa bước vào, ngồi xuống cạnh Trương Nghi.

“Hoa đệ, rót rượu!” Huệ Vương nhìn hai người, rồi đẩy ba chiếc chén rỗng về phía công tử Hoa, “đêm nay là đêm đẹp, giờ này là giờ lành, huynh đệ chúng ta ba người một lòng, không say không về!”

            Hết Tập 09

NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC

ĐỊa chỉ: 18 Nguyễn Trường Tộ - Ba Đình - Hà Nội Điện thoại: 0243.716.1518 - 0243.716.3409 Fax: 0243.829.4781 Website: www.nxbvanhoc.com;www.nxbvanhoc.com.vn E-mail: info@nxbvanhoc.com.vn

Chi nhánh tại Tp. Hô chí Minh 290/20 Nam Kỳ Khởi Nghĩa - Quân 3

Điện thoại: 028.38469858, Fax: 028.38483481

* Văn phòng đại diện tại thành phô' Đà Nang

344 đường Trưng Nữ Vương - thành phố Đà Nấng Điện thoại - Fax: 0236 3888333

Giới Thiệu Tác Giả

Tác giả Hàn Xuyên Tử, tên thật Vương Nguyệt Thụy, là nhà văn, nhà biên kịch kiêm dịch giả.

Từ năm 2003, Hàn Xuyên Tử bắt đầu chấp bút sáng tác bộ tiểu thuyết trường thiên chiến Quốc tung hoành – Thế cục Quỷ Cốc Tử. Sau nhiều năm miệt mài sáng tác, liên tục chỉnh sửa, đến năm 2012 mới cho ra mắt tập đầu tiên.

Bổi cảnh hoành tráng, dung lượng đồ sộ, tình tiết sinh dộng, nội dung kịch tính cùng với von tri thức lịch sử phong phú, giàu triết lý nhân sinh thế sự, cuốn sách ngay lập tức tạo nên tiếng vang lớn trên thị trường, được ca ngợi là cuốn tiểu thuyết lịch sử xuất sắc nhất trong nhiều năm trở lại đây.

MỤC LỤC

Chương 111 Vì ngôi tướng, Trần chẩn thương tâm

Tới Nghiết Tang, Tô Trương giao thủ      7

Chương 112 Yên Dịch vương phế lập sinh loạn

Tung Ước trưởng bôn tẩu lo toan      77

Chương 113 Mưu ô kim, Trương Nghi sang sở

Lời bất chính, vương thân kết đoàn      136

Chương 114 Loạn cung Yên, Tử chi quyết tuyệt

Bát đắc dĩ, Thiên Hương xuống tay      191

Chương 115 Luận linh nhục, tiên sinh giải nghi

Chém ve ngọc, si nữ dứt tình      249

Chương 116 Thu hồi đất cũ, cảnh Thuý đánh Thương ư

Nuốt lệ biệt ly, Thu Quả về cố quốc      295

Chương 117 Đóng vu dương, Khuất Nguyên chiêu hồn

Tra ô kim, Hoài vương thịnh nộ      349

Chương 118 Gánh vác trọng nhiệm, tả đồ bày kế

Thực thi thương ước, vương thân làm liều      406

Chương 119 Cầu mây mưa, Hoài vương thoả nguyện

Chỉnh vương pháp, triều sở tin thần      461

Chương 120 Gặp vương thúc, Bạch Vân thương cảm

Đánh trận muối, sở vương vi hành      512

A black and white logo Description automatically generated

VÌ NGÔI TƯNG, TRẦN CHẨN THƯƠNG TÂMTỚI NGHIẾT TANG, NGÔ TRƯƠNG GIAO THỦ

Nhìn theo cỗ xe mui của Trương Nghi từ từ rời xa cổng phủ, mất hút trên con đường tuyết trắng mà người Đại Lương đào ra để đưa linh cữu Huệ Vương, Công Tôn Diễn khẽ thở dài một tiếng, quay vào trong phủ, sai quản gia nhận lấy ấn tướng, giao lại cho Ngụy Vương, đoạn giẫm tuyết trở về dịch trạm.

Bốn người Tô Tần, Huệ Thi, Trần Chẩn, Bạch Hổ hay tin Trương Nghi đã đi rồi, ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm.

Cảm khái nhất vẫn là Tô Tần. Nhìn ngoài cửa tuyết rơi ngập gối, lại nhớ đến mùa tuyết năm xưa, phong phanh áo mỏng bỏ trốn khỏi Hàm Dương, suýt nữa chết cóng trên đường Hàm Cốc, Tô Tần bất giác rầu rĩ bùi ngùi.

Tô Tần buồn bã một hồi, bỗng sực nhớ tới Bàng Quyên, bèn vào gian bếp của quán trọ, tự tay nấu một nồi cháo giống như năm xưa vẫn thường ăn trong Quỷ Cốc, xào vài món rau, không một miếng thịt, sai chủ quán chuẩn bị giỏ đựng, lại sắp bảy chiếc bát sành, bảy đôi đũa, xếp gọn vào trong, sau đó tới phủ Bàng Quyên, trình lên bái thiếp.

Bàng Thông, giờ đã được thăng làm quan tư khố (1) của ba quân Đại Ngụy, bước ra đón Tô Tần vào phủ. Nhìn cung cách của Tô Tần, biết hắn tới đây để cúng tế Bàng Quyên, bèn dẫn thẳng vào gia miếu, mở cửa rồi bước lại trước linh đường của Bàng Quyên, quỳ xuống mà nói: “Đại ca, Tô huynh tới thăm anh đây!”

Tô Tần bước tới trước linh đường, nhìn sững vào bài vị, chẳng nói chẳng rằng, cũng không nhỏ lệ, cứ đứng lặng im nhìn đăm đăm vào bài vị đến tận hai khắc (2).

(1)Chức quan coi kho.

(2)Một khắc tương đương 15 phút.

Linh đường lặng phắc như tờ.

Tô Tần mở giỏ thức ăn, bày biện đũa bát, đoạn quay sang Bàng Thông: “Thông đệ, hãy mang rượu ngon lại đây, rượu của quán trọ không đủ mạnh!”

Bàng Thông vâng dạ, rảo bước đi ngay. Chưa đầy một khắc, đã dẫn mấy gia đinh bưng theo vài đĩa thức ăn mặn, một hũ rượu, cùng bảy cái chén chân cao tinh xảo bằng đồng.

“Đổi chén gốm đen, bảy chiếc!” Tô Tần chỉ vào chén đồng, rồi lại chỉ vào mấy đĩa thức mặn, “mấy thứ này, dọn cả đi!”

Cùng là đồ đựng rượu, nhưng chén gốm và chén đồng khác hẳn nhau. Chén đồng, tức là chén tước, tượng trưng cho tôn quý, với địa vị thừa tướng sáu nước của Tô Tần, tôn vị Vũ An Quân của Bàng Quyên, dùng chén tước cũng là thoả đáng, còn chén thường chỉ là đồ đựng rượu của sĩ đại phu bình thường. Thời nay lễ băng nhạc hoại, bất kể tước vị ra sao, chỉ cần có tiền, đều có thể dùng chén tước. Tô Tần dứt khoát dùng chén thường chứ không dùng chén tước, lại nhất quyết đòi chén gốm đen, khiến Bàng Thông băn khoăn không hiểu. Có điều, Tô Tần đã muốn vậy, chắc chắn là có lý do. Bàng Thông bèn sai gia đinh dẹp bỏ món mặn, đổi bảy chén gốm đen, kính cẩn đặt ở trước mặt Tô Tần, rồi lui ra ngoài cửa.

Bày biện xong xuôi, Tô Tần trỏ vào mấy món ăn nói: “Bàng huynh, mấy món này do tại hạ tự tay xào nấu, đều là hương vị trong Quỷ Cốc, có điều nhiều năm không nấu nướng, đã kém đi nhiều, xin huynh dùng tạm.” Đoạn lần lượt rót đẩy bảy chén rượu, giống như hồi tiễn biệt Tôn Tẫn năm xưa, bưng một chén lên: “Chén đầu tiên là tiên sinh tặng cho huynh. Nghe nói sau khi Bàng huynh đi rồi, tiên sinh một tháng không ăn uống! Chén rượu của tiên sinh, Bàng huynh phải uống!” Rồi hất rượu lên trời, bưng chén thứ hai, “chén thứ hai là sư tỷ tặng cho huynh, có một lần tại hạ trở về Quỷ Cốc, sư tỷ có hỏi thăm Bàng huynh, trong lòng sư tỷ vẫn nhớ tới huynh! Giờ Bàng huynh đi xa, sư tỷ hẳn đau lòng lắm.” Hất rượu đi, lại bưng lên một chén, “chén thứ ba là đại sư huynh tặng cho huynh, đại sư huynh xưa nay không uống rượu, cũng không tặng rượu cho ai, song là rượu tặng Bàng huynh, hẳn đại sư huynh sẽ không cự tuyệt.” Hất rượu đi, lại bưng lên một chén, “chén này là Tôn huynh tặng cho huynh, Bàng huynh ra đi, người đau buồn nhất, chính là Tôn huynh, Bàng huynh đi rồi, Tôn huynh đã... dẫn theo gia quyến, ra ngoài biển rộng, không biết Tôn huynh lúc này...” Khoé mắt Tô Tần đã ướt nhoà, nhắm mắt hồi lâu, “theo tại hạ thấy, Tôn huynh hiểu Bàng huynh, song Bàng huynh lại chưa hiểu hết Tôn huynh...

Thôi, không nói nữa, giờ Bàng huynh đã siêu phàm thoát tục, hẳn đã thấu tỏ mọi điều.” Hất rượu đi, lại bưng lên một chén, “chén này là Trương huynh tặng cho huynh, đến nay xem ra, người hiểu Bàng huynh, không ai hơn được Trương huynh. Chén này là rượu tương tri, mời Bàng huynh uống.”

Trên án còn lại hai chén cuối cùng, đều đựng đầy rượu.

Tô Tần không nói thêm lời nào nữa, mỗi tay một chén, chạm chén vào nhau, ngửa cổ uống cạn một chén, dốc ngược lên, không còn một giọt. Tô Tần hất chén còn lại lên không, đoạn xếp lại các chén cho ngay ngắn, đứng dậy, vái một vái thật sâu trước linh vị, rồi sải bước đi ra.

Bàng Thông đang đứng đợi bên ngoài bèn tiến lại đón, thấy Tô Tần như muốn đi ngay, bèn khẽ giọng hỏi: “Tô huynh, có muốn gặp cháu trai không?”

“Cháu trai?” Tô Tần sửng sốt.

“Tên là Bàng Thao, do tiên vương đặt cho cháu ngoại!”

“Bàng huynh...” Tô Tần giờ mới biết Bàng Quyên đã có con nối dõi, mừng vui khôn xiết.

“Tiểu đệ vừa bẩm báo với chị dâu, chị dâu đã bế con tới phủ đường đợi Tô huynh!”

Tô Tần vội tới phủ đường, bái kiến công chúa Thụy Liên, rồi bế Bàng Thao, ngắm nghía một hồi, bất giác nhớ tới con gái Cơ Tô Phi Phi không biết giờ đang ở đâu, chợt ứa nước mắt.

Tô Tần đang trò chuyện với công chúa Thụy Liên, trong cung bỗng truyền chỉ tới, rằng Tương Vương có lời mời Tô Tần.

Thì ra, Tương Vương nhận được tin báo Trương Nghi từ ấn, cũng nghe phong thanh Tô Tần quay về, bèn sai cung nhân tới nhà trọ mời, cứ thế hỏi thăm tới tận phủ Vũ An Quân.

Khi vào cung, đã là giờ Thân buổi chiều.

Hành lễ xong xuôi, Tô Tần ngước mắt nhìn vị Tần Vương Đại Ngụy vẫn còn lạ lẫm.

Ngụy Tự cơ thể cường tráng, song sắc mặt lại lộ vẻ mệt mỏi. Gần đây xảy ra quá nhiều biến cố, đặc biệt chuyện Triệu phi tự vẫn và Huệ Vương băng hà, khiến Ngụy Vương nhặt được phúc lớn từ trong kinh hoảng. Vốn đang mệt mỏi, nhưng bỗng chốc được tự do, Ngụy Tự bất chấp cấm kỵ đại tang, lập tức triệu ngay mấy phi tần đã ưng bụng từ trước tới ngự thư phòng của tiên vương, lâm hạnh liên tiếp, nên chút tinh lực còn sót lại đều đã bị vắt kiệt.

Có điều những chuyện kín đáo này, Tô Tần không hề hay biết. Tô Tần nhìn chăm chăm vào Ngụy Tự. Đây là thói quen hình thành trong những năm qua, mỗi khi gặp một nhân vật trọng yếu, trước tiên sẽ phải thi triển “nhãn chiến”.

“Tô Tử!” Tương Vương không chịu nổi ánh nhìn sắc bén của Tô Tần, gượng cười rồi lên tiếng, “Tô Tử đến thật đúng lúc, quả nhân vừa nghe Tô Tử tới, liền bỏ hết mọi việc, lập tức cho triệu vào ngay.”

Tô Tần thu lại ánh mắt, vòng tay đáp: “Tạ ơn đại vương yêu mến!”

“Quả nhân cho vời Tô Tử, là có đại sự muốn bàn!” Tương Vương chỉ vào ấn tướng quốc đặt trên án, “Trương tướng quốc đi rồi, theo ý Tô Tử, vật này nên giao cho ai nắm giữ?”

Tô Tần đoán trước Ngụy Tự sẽ không vòng vo, nhưng không ngờ lại thẳng thừng đến vậy, đắn đo một lát rồi đáp: “Công Tôn Diễn thế nào?”

“Quả nhân cũng có ý này!” Tương Vương cười, đẩy ấn tướng sang một bên, nhìn vào Tô Tần, “cứ quyết định vậy đi. Tô Tử xin hãy đến báo trước một tiếng, rằng quả nhân rất ngưỡng mộ người này, ngày mai sẽ triệu kiến, ba ngày sau bái tướng. Ngoài ra còn hai việc nữa, thứ nhất là chuyện hợp tung, quả nhân quyết định gia nhập, còn như cách thức thế nào, hãy do Tô Tử quyết định. Giao nước Ngụy cho Tô Tử, quả nhân đã an tâm rồi. Nước Tần thực chẳng ra gì, nhất là Trương Nghi kia, quả nhân sớm đã không ưa hắn, cứ nghĩ tới là lại bực bội trong lòng!”

“Tạ ơn đại vương tin tưởng!” Tô Tần vòng tay đáp.

“Thứ hai là đại lễ của tiên vương, xin giao phó cho Tô Tử!” Tương Vương vòng tay, đoạn ngáp dài.

“Đại lễ của tiên vương là nội sự,” Tô Tần ngẫm nghĩ một lát rồi đáp, “đại vương vẫn nên giao cho tướng quốc là hơn!”

“Cũng phải.” Tương Vương lại ngáp.

Thấy Tương Vương ngáp liên hồi, Tô Tần bèn vòng tay cáo lui.

Tương Vương chìa tay tiễn khách, rồi quay trở vào ngự thư phòng, vừa nằm xuống giường, Thiên Hương đã không mời mà tới.

“Đại vương!” Thiên Hương tươi cười gọi.

“Ồ, ái phi đấy ư!” Tương Vương vẫn không mở mắt.

“Đại vương,” Thiên Hương ngồi xuống bên cạnh, đặt tay lên trán Tương Vương vuốt ve, “sao tự dưng lại đi nằm giữa ban ngày thế?”

“Quả nhân ngả lưng một chốc cũng không được sao?” Ngụy Tự bực bội vặc lại.

Thiên Hương cười khúc khích, cởi xiêm y, chui vào trong chăn, ôm lấy Tương Vương, thì thầm bên tai, “thiếp biết đại vương đang muốn ngả lưng, nhưng mà...”

Tương Vương khẽ chau mày, dịch vào phía trong, chừa ra một chỗ trống: “Nói đi, là chuyện gì?”

“Nghe nói đại vương muốn phong tướng quốc, phong ai vậy?”

“Công Tôn Diễn!”

“Thần thiếp cho rằng không thoả đáng.” Thiên Hương vẫn tươi cười nói.

“Ồ?” Tương Vương ngạc nhiên, nhìn sững vào nàng.

“Nhớ năm xưa, Công Tôn Diễn tìm đủ mọi cách để bước lên ngôi tướng quốc, đại vương có biết cớ sao tiên vương không cho ông ta làm không?”

“Biết chứ!” Tương Vương đáp, “bởi ông ta chỉ là môn khách của phủ tướng quốc.”

“Đúng vậy,” Thiên Hương đáp, “tiên vương di hài còn chưa lạnh, đại vương đã bái kẻ bị tiên vương nhiều lần vứt bỏ làm tướng quốc, người thiên hạ sẽ nghĩ thế nào? Vong linh tiên vương trên trời còn chưa đi xa. Huống hồ, ông ta chỉ là một môn...”

“Môn khách thì đã sao?” Tương Vương cắt lời, “người Tần còn cho ông ta làm đại lương tạo đấy thôi!”

“Thế tại sao người Tần lại không cho ông ta làm nữa?” “Chuyện này...” Tương Vương ngắc ngứ một chốc, “người Hàn chẳng phải cũng cho ông ta làm đấy thôi?”

“Người Hàn ư,” Thiên Hương bật cười, “lẽ nào đại vương chỉ muốn ngang hàng với Hàn Vương?”

“Vậy...” Tương Vương ngồi bật dậy, nhìn chằm chằm vào Thiên Hương, “nàng nói xem, nên để ai làm tướng quốc?”

“Huệ Thi!” Thiên Hương lập tức tiến cử, “chẳng phải tiên vương vẫn trọng dụng ông ta ư? Chỉ vì Trương tướng quốc đuổi ông ta đi! Đại vương nếu trọng dụng Huệ Thi, thứ nhất khiến tiên vương vui lòng, thứ hai khiến dân chúng khâm phục!”

“Huệ Thi?” Tương Vương chép miệng, “ồ, quả nhân thực sự...” Lại nằm xuống.

“Người vừa nãy vào yết kiến...” Giọng Thiên Hương lại càng êm dịu, dẩu môi về phía tiền điện, ánh mắt dò hỏi.

“Tô Tần.” Tương Vương lẩm bẩm, rồi cất tiếng ngáy pho pho.

Thiên Hương hít ngược một hơi khí lạnh.

Tô Tần quay trở về quán trọ, tới thẳng phòng Công Tôn Diễn, kể lại vắn tắt những lời Tương Vương vừa nói, báo tin ngày mai đại vương sẽ triệu ông ta vào Cung yết kiến. Công Tôn Diễn trầm ngâm hồi lâu, khẽ gật đầu coi như đồng ý.

Bất luận thế nào, đối với nước Ngụy, Công Tôn Diễn vẫn không nỡ dứt tình.

Tuy nhiên, ngày hôm sau, Tô Tần, Công Tôn Diễn ngồi chờ suốt từ sáng sớm tới tận tối mịt, cũng không thấy cung nhân đến mời. Công Tôn Diễn vốn là người tinh tế, thấy tình cảnh này, sắc mặt dần sầm xuống. Tô Tần không tiện nói gì, cũng không tiện vào cung dò hỏi, lại tiếp tục đợi thêm một ngày nữa. Sáng sớm ngày kế tiếp, Công Tôn Diễn bất chấp tuyết ngoài đường đang tan, cùng Bạch Hổ lên xe quay về nước Hàn.

Thực khéo trùng hợp, Công Tôn Diễn vừa đi khỏi, trong cung đã phái người tới mời, song người được mời vào cung lại là Tô Tần và Huệ Thi, chứ không phải là Công Tôn Diễn.

“Nghe nói tướng quốc nước Hàn đi rồi?” Tương Vương nhìn Tô Tần, cố tình gọi “tướng quốc nước Hàn”.

“Đi rồi!” Tô Tần bình thản đáp.

“Than ôi,” Tương Vương khẽ thở dài, “quả nhân đang định tới quán trọ thăm hỏi, vậy mà... vướng chuyện của tiên vương, không dứt ra nổi.”

Tô Tần thở dài không đáp.

“Huệ tướng quốc!” Tương Vương quay sang Huệ Thi, vòng tay.

“Bẩm đại vương,” Huệ Thi đáp lễ, chậm rãi nói, “thảo dân Huệ Thi không dám nhận cao vị tướng quốc!”

Tương Vương phẩy tay cười lớn: “Huệ tướng quốc vốn là tướng quốc nước Ngụy, khi tiên vương tại thế, nhiều lần khen ngợi tướng quốc trước mặt quả nhân. Quả nhân tuy đức mỏng, cũng không dám phụ lòng tiên vương, lẫn này mời khanh tới đây, chính là muốn bái khanh làm tướng quốc, mong tướng quốc chớ nên từ chối!”

Huệ Thi rõ ràng rất bất ngờ, ngây ra chốc lát, rồi nhắm mắt lại, trong tâm trí lại hiện lên thân thể tím đen của Huệ Vương, hồi lâu sau mới từ từ hé mắt, vòng tay nói: “Tạ ơn đại vương hậu ái! Chỉ vì...” Khẽ ho một tiếng, rồi cất giọng rành mạch, “thứ nhất, thảo dân già rồi, không cáng đáng nổi nữa, lần này tìm tới, là để vĩnh biệt tiên vương, chứ không vì chuyện gì khác; thứ hai, lúc thảo dân sắp lên đường, bạn thân Trang Chu đã hẹn cùng tới phương nam ấm áp tiêu dao một chuyến, thảo dân đã đồng ý, không thể nuốt lời. Thảo dân chỉ có một ước nguyện cỏn con, khẩn cầu đại vương đoái thương, thu hồi vương lệnh!”

Lại có người từ chối ấn tướng Đại Ngụy, Tương Vương hết sức bất ngờ, nhất thời ngây sững, nhìn sang Tô Tần.

Tô Tần nhắm mắt không đáp.

“Đại vương, nếu không có việc gì nữa, thảo dân cáo lui!” Huệ Thi vòng tay đứng dậy, chầm chậm lui ra.

Tương Vương sắc mặt ngơ ngác nhìn theo Huệ Thi từng bước lùi khỏi tầm mắt, ra tới cửa điện, chậm chạp quay mình, bước xuống bậc thềm.

“Đại vương,” nghe tiếng bước chân Huệ Thi đã biến mất ngoài điện, Tô Tần vòng tay đứng dậy, “thần cũng...”

Lời vừa thốt ra, Tương Vương đã hốt hoảng chìa tay: “Tô Tử hãy khoan!”

Tô Tần ngồi thẳng trở lại, nhìn Tương Vương.

Tương Vương đã định thần trở lại, cười gượng một tiếng: “Quả nhân vốn định nghe lời Tô Tử, giao ấn tướng cho Công Tôn Diễn, nào ngờ ông ta... lại đi mất rồi. Quả nhân mới mời Huệ Thi, nào ngờ ông ta cũng... Trăm quan không thể thiếu người cai quản, chọn ai làm tướng quốc, vẫn mong Tô Tử tiến cử giúp!”

“Thần tiến cử một người nữa, xin đại vương minh xét!” Tô Tần vòng tay nói.

“Ai kia?” Tương Vương nhổm người lại.

“Trần Chẩn!” Tô Tần đáp, “người am hiểu nước Ngụy, ngoài Công Tôn Diễn, chỉ còn Trần Chẩn!”

“Trần Chẩn!” Tương Vương cánh mũi phập phồng vài cái, “nếu là người này, hãy để quả nhân cân nhắc đôi chút.”

Đối với Trần Chẩn, ngôi vị tướng quốc Đại Ngụy ngày đêm ao ước dường như đã trong tầm tay, gần hơn bao giờ hết. Bàng Quyên, Trương Nghi lần lượt rời Ngụy, Chu Uy đã chết, nước Ngụy bé nhỏ không giữ nổi Tô Tần, Công Tôn Diễn, Huệ Thi cũng đã bỏ đi... Suy đi tính lại, ngoài ông ta ra, nước Ngụy quả thực không còn ai thích hợp với ngôi tướng quốc nữa.

Tiễn Huệ Thi đi rồi, Trần Chẩn càng nghĩ càng thư thái, mặt mày giãn nở, trong miệng ngâm nga một khúc hát quê nhà, thân hình phốp pháp cũng lắc lư theo nhịp điệu:

“Trăng lên vằng vặc,

Soi người yêu kiều.

Vóc hình yểu điệu,

Thương nhớ bao nhiêu.

Trăng lên vằng vặc,

Soi người xinh tươi.

Vóc hình duyên dáng,

Thương nhớ khôn nguôi.

Trăng lên vằng vặc,

Soi người mĩ miều.

Vóc hình diễm lệ,

Sầu khổ bao nhiêu.”

(1)Bài thơ Nguyệt xuất, thuộc phần Trần phong, Quốc phong, Kinh Thi.

Trần Chẩn cứ vui vẻ lại ngâm nga khúc hát này ba lượt. Lần này, Trần Chẩn vừa ngâm xong lượt thứ hai, đã thấy Tô Tần bước vào.

Tô Tần cười nói: “Trần huynh đang nhớ chị dâu đấy ư?”

“Ồ,” Trần Chẩn vội vòng tay, chỉ vào chiếu đối diện, “đúng là đang nhớ nàng thật!” Hạ giọng thì thầm, “chị dâu muốn sinh cho Tô Tử một đứa cháu đấy!”

“Sinh chưa?” Tô Tần cười hỏi.

“Sắp rồi!”

“Chúc mừng, chúc mừng!” Tô Tần vòng tay nói, “được mấy tháng rồi?”

“Chưa nhanh đến thế,” Trần Chẩn cười ha hả, “không giấu Tô Tử, chị dâu chú lo lắng quá, đã mời thầy lang tới bắt mạch cho cả nàng và tại hạ, thầy lang căn dặn tại hạ uống ít rượu thôi. Thế là Trần huynh này đã thể phải cai rượu. Kiểu gì cũng phải có được một hạt nảy mầm!”

Tô Tần biết Trần Chẩn đang đùa, thì bật cười: “Chuyện hay không thể vội được!”

Trần Chẩn thu lại nụ cười, nhìn thẳng vào Tô Tần, lời đầy ẩn ý: “Nghe nói Ngụy Vương mời Tô Tử vào cung, hẳn là có chuyện tốt đẹp?”

“Chuyện không tốt cũng không xấu.” Tô Tần nói thẳng vào đề, “Ngụy Vương muốn mời Huệ Thi làm tướng quốc, nhưng Huệ tướng quốc đã từ chối.”

“Ồ...” Trần Chẩn sửng sốt, “sao Huệ tướng quốc... lại từ chối làm tướng quốc?”

“Nói là muốn cùng bạn thân Trang Chu tiêu dao một chuyến.”

“Ồ,” Trần Chẩn gật đầu ha lịa, “tại hạ từng may mắn được gặp Trang Tử, chà, quả là một thần nhân! Phu nhân của ông ta chết, ông ta không khóc thì chớ, còn gõ chậu hát nghêu ngao. Huệ tướng quốc trách móc ông ta, nào ngờ lại bị ông ta phản bác cứng họng, không nói được gì!” Rồi quay về chuyện chính, “Huệ tướng quốc đã cự tuyệt, vậy Ngụy Vương sẽ mời ai?”

“Ngụy Vương bảo tại hạ tiến cử, tại hạ đã tiến cử Trần huynh đây!”

“Chao ôi,” Trần Chẩn đứng dậy, kính cẩn vái dài, “quả là anh em tốt của tại hạ, thế này chẳng phải muốn nướng Trần huynh này trên lửa hay sao?”

“Không giấu Trần huynh,” Tô Tần ngữ khí trịnh trọng, ra hiệu cho Trần Chẩn ngồi xuống, “ngoài Trần huynh, tại hạ thực sự không tìm được ai thích hợp để tiến cử.” Sắc mặt bỗng trở nên nghiêm túc, “chúng ta khó khăn lắm mới đuổi được Trương Nghi đi, khiến nước Ngụy quay về với tung thân. Thế nhưng... con đường trước mặt gập ghềnh, thiên hạ hoà giải, mấu chốt là ở Tam Tấn, Ngụy lại nằm ở chính giữa Tam Tấn. Ở giữa là then chốt, nước Ngụy chính là then chốt của thiên hạ, nước Tần sẽ không dễ dàng từ bỏ, Trương Nghi dứt khoát lại càng không. Trọng trách trên vai Trần huynh, nặng hơn bất kỳ ai khác!”

Nghe Tô Tần nói những lời này, Trần Chẩn nhiệt huyết dâng trào, trên mặt thoáng hiện vẻ sượng sùng. Đúng vậy, điều Tô Tần nghĩ đến, là đại cục tung thân, trong khi Trần Chẩn lại chỉ nghĩ tới một chức tướng quốc mỏn mọn.

“Tô Tử yên tâm!” Trần Chẩn bất giác sinh lòng cung kính, trịnh trọng vòng tay, “thượng sách hợp tung của Tô Tử, tâm nguyện sâu xa của Tô Tử, Chẩn vô cùng cảm kích. Chỉ cần Chẩn còn ở Ngụy, nước Ngụy là của Tô Tử! Tô Tử có gì sai bảo, Chẩn nguyện tận lực!”

“Có lời này của Trần huynh, Tần không còn gì lo lắng nữa!” Tô Tần chìa tay lại, Trần Chẩn đưa hai tay nắm chặt.

Thế nhưng, sự tình lại không diễn ra như dự tính của hai người. Chuyện Trần Chẩn hãm hại cả nhà Bàng Quyên, người Ngụy ai ai cũng biết, Tương Vương vốn làm phó tướng cho Bàng Quyên nhiều năm, tự đáy lòng luôn có ác cảm với Trần Chẩn.

Quan trọng hơn nữa là Thiên Hương. Với nước Tần, Trần Chẩn đã biết quá nhiều. Cơ mưu trí trá của Trần Chẩn, đặc biệt là lần bày mưu hãm hại Trương Nghi ở Sở, Thiên Hương vốn có thứ bậc cao trong Hắc Điêu đài, sao lại không biết. Có thể nói, đối với nước Tần, Trần Chẩn khó đối phó hơn nhiều so với Công Tôn Diễn, không chỉ vì Trần Chẩn gian mưu quỷ kế, mà còn vì sau lưng ông ta có Chiêu Dương, lệnh doãn của Đại Sở. Vì thế, Ngụy Tự vừa nhắc tới Trần Chẩn, Thiên Hương đã giãy nảy, đưa liền một mạch bốn năm lý do phản đối.

“Người này không được, người kia cũng không được,” Ngụy Tự vò đầu bứt tai, “vậy theo nàng, ngôi tướng quốc này ai làm mới được?”

“Tô Tần,” Thiên Hương đáp ngay không do dự, “dù sao người này trước đây đã là tướng quốc nước Ngụy rồi!”

“Nhưng chỉ là ngoại tướng, là trên danh nghĩa mà thôi, phải lo chuyện chung của sáu nước, còn thời gian đâu để xử lý chính sự của ta?”

“Cớ sao đại vương không để Tô Tử tạm giữ quyền tướng quốc, rồi từ từ tìm người thích hợp? Sau khi Bạch Khuê qua đời, tiên vương nhiều năm không lập tướng, mà triều chính vẫn bình thường đấy thôi. Huống hồ đại vương còn có Tô Tần, nhân tài hàng đầu thiên hạ!”

“Nhưng Tô Tần không chịu!”

“Dựa vào đâu mà không chịu? Chẳng phải Tô Tần cũng kiêm chức tướng quốc nước Triệu đấy ư? Trong thành Hàm Đan vẫn có phủ tướng quốc của hắn! Đại vương cũng ban cho Tô Tần một phủ tướng quốc, nếu không chịu nhận, tức là ưu ái Triệu mà khinh thường Ngụy!”

Tương Vương thấy nàng ta nói câu nào nghe cũng hữu lý, nên không hỏi ý Tô Tần nữa, cứ thế ban bố chiếu mệnh, mang ấn tướng quốc của Trương Nghi ấn vào tay Tô Tần, ép hắn tiếp quản chính sự, ngay lập tức dọn vào phủ tướng quốc của Trương Nghi.

Tô Tần biết ý Tương Vương đã quyết. Nhìn vào cục diện trước mắt, quả thực cũng không thể thoái thác được nữa, đành phải tạ ơn rồi lên vương xa, chuyển tới phủ đệ của Trương Nghi.

Sau khi tiếp quản phủ trạch từ quản gia cũ, Tô Tần ngồi trong thư phòng của Trương Nghi, sai quản gia mang tới một ấm trà, đóng chặt cửa phòng, cho Trâu Phi Đao canh ngoài cửa, vận công phu tĩnh toạ, chìm vào suy ngẫm.

Đúng vậy, thế cờ đã tới nước này, chắc chắn là có chuyện ở đâu đó.

Nhưng là ở đâu?

Rõ ràng, tất cả đều bắt nguồn từ Tần Vương Đại Ngụy, Ngụy Tự!

Đối với nước Ngụy, Công Tôn Diễn chính là nhân tài thích hợp nhất cho ngôi tướng quốc, cũng là lựa chọn có lợi nhất cho Tần Vương, Tần Vương vốn đã đồng ý, nhưng rồi lại đổi ý ngay, chuyển sang Huệ Thi. Huệ Thi từ chối, Ngụy Tự lại nhờ Tô Tần tiến cử tiếp, hắn tiến cử Trần Chẩn, vốn là lựa chọn duy nhất ngoài Công Tôn Diễn. Thế nhưng lại một lần nữa...

Mạch suy nghĩ của Tô Tần chuyển sang thái tử Thân, chuyển sang Huệ Vương. Thái tử cầm quân, thuộc hạ đều ở Ngoại Hoàng, tại sao thái tử lại chết ở gần doanh trại quân Tề tít tận Mã Lăng? Theo lời tiền bối Khuất Tương Tử, thái tử bị bắn chết ở đất Tống. Nhưng kẻ bắn chết thái tử là ai? Là Ngụy Tự ư? Còn cái chết của Huệ Vương, là do trúng độc. Ai dám hạ độc Huệ Vương? Tuyệt đối không phải Trương Nghi! Truy tận ngọn nguồn, chỉ có thể là kẻ đang đắc lợi lúc này, Ngụy Tự!

Tuy nhiên, nhìn vào Ngụy Tự, một kẻ võ biền, đầu óc đơn giản, không có chí lớn, khi còn dưới trướng Bàng Quyên, bảo gì nghe nấy, chẳng lập được mấy công tích, duy chỉ có chuyện dâm loạn cung phi trong cung Triệu ở Hàm Đan là đồn đại khắp thiên hạ.

Đàn bà? Phải, chắc chắn là đàn bà!

Tô Tần trong lòng giật thột, dừng mạch suy nghĩ, chầm chậm hạ nước cờ này, chuyển sang nước tiếp theo.

Nước tiếp theo là gì?

Là Trương Nghi.

Tô Tần đã quá hiểu Trương Nghi, và cả Tần Vương.

Theo tính cách của hai người này, chắc chắn sẽ không chịu để yên.

Tô Tần lại nhớ tới Thương Quân thư, trước mặt bỗng hiện lên hai chữ, “sát lực”!

Phải, nước Tần đang “sát lực”.

Nước Tần dùng hình pháp hà khắc bắt dân chúng phải nhất tâm, bắt triệu dân một ý, từ đó hợp thành sức mạnh vô địch; từ đó tụ thành một dòng dời non lấp biển!

Lực mạnh là thế, hoặc là để giết người, hoặc là bị người giết, bất kể thế nào, lực đó cũng dùng để giết! Hơn nữa, Tần Vương chắc chắn không để giết chóc xảy ra bên trong nước Tần! Trong những năm qua, Tần Vương và Trương Nghi đã điều khiển lực này sát phạt nước Ngụy, nước Triệu, nước Hàn, và cả nước Tề, dẫu hết lần này tới lần khác đều gãy cánh giữa chừng, nhưng lực ấy vẫn không hao tổn là bao, vẫn tích tụ ở Tần, vẫn tìm kiếm lỗ hổng đột phá, để tiếp tục sát phạt lần nữa!

Mấu chốt ở chỗ, lỗ hổng đột phá tiếp theo, nằm ở đâu?

Nước Sở!

Phải, chắc chắn là nước Sở!

Nghĩ đến nước Sở, người đầu tiên Tô Tần nhớ tới là Khuất Bình. Năm xưa khi tới Sở hợp tung, Khuất Bình tuổi trẻ là thế mà đã nhận ra sát khí tới từ nước Tần, quả là bậc thông minh duệ trí!

Suy nghĩ của Tô Tần cứ quanh quẩn với nước Sở suốt hai canh giờ, tới lúc chập tối, cơ mưu đã định, bèn đứng dậy quay lại quán trọ.

Còn chưa tới cửa, Tô Tần đã ngửi thấy hơi rượu nổng nặc phả ra qua khe cửa phòng Trần Chẩn.

Tô Tần gõ cửa. Từ bên trong vọng ra giọng Trần Chẩn: “Mời vào, cửa không cài then!”

Tô Tần đẩy cửa, thấy Trần Chẩn ngồi một mình bên án, trước mặt bày vài đĩa thức ăn và một bình rượu, đang uống tì tì. Tô Tần chẳng nói chẳng rằng, tìm lấy một cái chén, ngồi xuống đối diện, nhấc bình tự rót đầy, nâng chén hướng vào Trấn Chẩn nói: “Trần huynh, đã phá giới rồi, thì cứ uống cho tận hứng. Cạn chén!”

Trần Chẩn đã uống tới mặt đỏ phừng phừng, cười gượng với Tô Tần, cũng nâng chén lên, chẳng buồn thi lễ, cố ý duỗi dài cần cổ, một hơi uống cạn.

Tô Tần uống rồi, cầm bình định rót nữa, Trần Chẩn bịt miệng chén nói: “Tô tướng quốc, Tô đại nhân, đã là huynh đệ, uống rượu cũng phải uống cho rõ ràng. Là rượu đại nhân tiễn chân tại hạ, hay là rượu tại hạ chúc mừng đại nhân thêm một ấn tướng?”

“Than ôi!” Tô Tần biết Trần Chẩn đã hiểu lầm mình, bèn đặt bình rượu xuống, thở dài sườn sượt.

“Tướng quốc đại nhân vui mừng còn không hết, cớ sao lại thở dài?” Trần Chẩn cất giọng chua chát.

“Trần huynh đã hỏi, tại hạ xin được nói thực!” Tô Tần bèn đem chuyện trong cung kể tường tận một lượt, gồm cả chuyện mình tiến cử Công Tôn Diễn trước đó.

Trần Chẩn nghe xong, biết lời này không giả, bao nhiêu chua chát trong lòng bỗng hoá thành một tiếng cười, vòng tay nói: “Nếu đã là vậy, tại hạ thực lòng chúc mừng tướng quốc!” Đưa tay nhấc bình rượu, rót đây hai chén, “xin chúc mừng đại nhân!”

“Than ôi!” Tô Tần khẽ lắc đầu, lại thở dài một tiếng.

“Tô đại nhân lại than thở gì vậy?” Trần Chẩn nâng chén, một hơi cạn sạch, “người nên than thở là tại hạ mới phải. Than ôi...” Cười buồn rồi thở dài một tiếng còn não nề hơn cả Tô Tần, “ngôi tướng quốc này, đúng là một cái tròng, Tô đại nhân sợ bị nó tròng vào cổ, còn tại hạ lại cứ thích chui đầu vào. Mấy năm trước, dưới triều tiên vương Đại Ngụy, tại hạ lao tâm khổ tứ, vươn cổ hết cỡ, mà nó nhất quyết không chịu tròng vào, cứ đung đưa qua lại trước mắt, tại hạ buộc phải đung đưa đầu theo. Tại hạ cứ đung đưa mãi mà nó vẫn chưa chịu tròng vào. Đến khi tại hạ đung đưa đến hoa mắt chóng mặt, nó mới rơi xuống, nhưng lại rơi xuống trúng cổ lão Huệ Thi. Rồi sau đó, Bàng Quyên xuất hiện, tại hạ chạy về tây sang Tần, chạy xuống nam đến Sở, không còn nghĩ đến nó nữa. Nhưng rồi lần này, nó lại đung đưa trước mặt tại hạ, khiến tại hạ lại muốn có nó. Than ôi, lần này tại hạ không phải là nhất quyết muốn chui đầu vào tròng, mà là muốn hợp sức cùng huynh đệ làm đại sự, để cả thiên hạ nhìn vào...”

Tô Tần ngẩng nhìn Trần Chẩn.

“Than ôi,” Trần Chẩn chỉ vào hành trang đã gói ghém xong xuôi, xếp sẵn bên cạnh, “là số mệnh, tại hạ sinh ra đã mang kiếp phiêu bạt...”

“Trần huynh,” Tô Tần nhìn thẳng vào Trần Chẩn, “tại hạ suy đi nghĩ lại, chức tướng quốc nước Ngụy, Trần huynh không làm cũng hay. Tần Vương không phải là tiên vương, thời nay không phải là thời trước, với trí tuệ của Trần huynh, hẳn là thừa biết, nếu vua tôi không hiểu nhau, triều thần đố kỵ nhau, cái tròng mà Trần huynh nói, sẽ thành cái tròng thực đấy.”

“Người anh em nói phải!” Trần Chẩn đã xoá sạch hiềm khích, rót rượu, nâng chén, “mừng vì tại hạ chưa vào tròng, cạn chén!”

Tô Tần tay giữ chén rượu, nhìn thẳng vào Trần Chẩn, ánh mắt kiên định: “Trần huynh, chúng ta liên thủ, làm việc trọng đại hơn nữa, thế nào?”

“Liên thủ thế nào?” Trần Chẩn cười gượng một tiếng, buông thõng hai tay, “Tô Tử mình mang bảy ấn, ánh vàng chói lọi, còn tại hạ đây...” vỗ vào cái bụng to phệ, giọng đầy chua chát, “chỉ có bị thịt này thôi!”

“Trần huynh có cái này!” Tô Tần chỉ vào tim, lại chỉ vào miệng, “tại hạ nghĩ kỹ rồi, nhiệm vụ cấp bách trước mắt, không phải ở Ngụy, cũng không phải ở Tam Tấn, mà là ở Tề và Sở.”

“Tề, Sở làm sao?”

“Nếu không ngoài dự liệu của tại hạ, Trương Nghi về Tần, bước tiếp theo, dứt khoát là mưu Sở. Sở Vương chắc hẳn cũng đang mưu Tần. Tần, Sở giao tranh, chắc chắn là ở Thương Ư. Mà nếu Sở giao tranh với Tần, Sở ắt nguy mất!”

“Ý Tô Tử là, Sở không địch được Tần?”

“Theo tại hạ biết, nếu một chọi một, không nước nào địch nổi nước Tần!”

“Tại hạ thấy chưa hẳn.” Trần Chẩn cười nhạt, “người Sở không phải người Ngụy, bất luận tốt xấu, dân Sở đông gấp bốn người Tần, đất Sở rộng gấp sáu đất Tần, lạc đà gầy chết vẫn to hơn ngựa...”

“To đến mấy cũng chỉ là lạc đà. Động vật mạnh yếu, không phải nhìn vào kích cỡ; đất nước mạnh yếu, cũng không phải nhìn vào nhân khẩu. Như Trần huynh đây, một người có thể địch nổi mười vạn!”

Trần Chẩn phá lên cười lớn: “Câu này, tại hạ thích nghe! Nói đi, Tô Tử muốn tại hạ làm gì?”

“Chúng ta hợp sức, mở một hội thề liệt quốc, để người Tần phải kiêng dè!”

“Hội thề sáu nước?” Trần Chẩn mắt sáng rỡ.

“Chính phải.” Tô Tần gật đầu, “kỳ thực, chủ yếu là hội thề giữa Tề và Sở. Mấy năm gần đây, Tam Tấn tàn sát lẫn nhau, thực lực đều bị tiêu hao, nước Tần không còn sợ nữa. Giờ khiến Tần e dè, chỉ còn Tề, Sở. Tề ở quá xa, nước Tần roi dài khó với, vì thế chỉ có thể nhòm ngó Sở.

Tần đã có được Ba Thục, Hán Trung và Thương Ư, hình thành thế bao vây Sở, tiến có thể tấn công, lùi có thể phòng ngự. Ngược lại hãy nhìn người Sở, cường địch rình mò, mà không hề hay biết, vẫn cứ lăm le miếng thịt béo Tứ Hạ. Có thể giúp Sở an lành vô sự, chỉ có kế sách hợp tung, nhất là liên minh Tề, Sở. Nếu kết minh với Tề, Sở không còn phải lo lắng phía đông, sẽ dốc lòng đối phó cường Tần. Người Tần thấy Sở dốc sức ứng chiến, cũng không dám vọng động, thiên hạ sẽ tạm bình yên! Đến khi thiên hạ bình yên, huynh đệ chúng ta lại thực thi kế sách lâu dài, để thiên hạ quy về một mối.”

“Tô Tử suy nghĩ sâu xa, tại hạ lực bất tòng tâm. Hội thề trước mắt, Tô Tử muốn tại hạ làm gì, xin cứ nói!”

“Tại hạ biết cách liên minh năm nước Tề, Ngụy, Hàn, Triệu, Yên, còn lại nước Sở, xin giao cho Trần huynh. Chúng ta sẽ hẹn với tướng quốc sáu nước, sáu tướng gặp mặt, cùng bàn đại kế hợp tung, kết minh ước mới.”

“Tất cả đều là tướng quốc,” Trần Chẩn lại như dao chích trong lòng, “nhưng còn tại hạ...”

“Tại hạ đã tính rồi, hội thề lần này, sẽ do Trần huynh làm minh chủ. Tại hạ làm tư nghi cho Trần huynh!”

Trần Chẩn cười gượng: “Nếu là vậy, hãy để tại hạ làm tư nghi, bằng không, e là đại nhân liên minh bất thành.”

“Được!” Tô Tần cười đáp, “theo ý Trần huynh, hội thề nên mở vào lúc nào, và ở đâu?”

“Thời gian, Tô Tử hãy tự quyết định, còn địa điểm, tại hạ cho là nên ở đất Tống. Đó là nơi khiến Tề, Sở đau đầu nhất.”

“Nơi nào nước Tống?”

“Nghiết Tang.” Trần Chẩn hạ giọng ra vẻ bí hiểm, nói ra một địa danh.

“Nghiết Tang?” Tô Tần không biết nơi này.

Trần Chẩn bật cười, sắc mặt đã giãn ra, vui vẻ bật ngón tay đánh tách, “chị dâu chú thích ăn vịt quay, tại hạ nghe nói, vịt ở đất đó ngon nhất thiên hạ!”

“Được thôi, vậy thì Nghiết Tang!” Tô Tần mỉm cười đồng ý, “thời gian là ngày 3 tháng Ba, tiết xuân ấm áp, cỏ tốt oanh bay, cũng là mùa vịt đẻ trứng!”

Trận chiến Tang Khâu giữa Tần và Tề, Chiêu Dương chứng kiến mà kinh tâm táng đởm, lấy làm may mắn vì đã nghe lời Trần Chẩn, không khai chiến với Tề. Do vậy, khi Trần Chẩn trình lên thư của Tô Tần, hẹn ngày 3 tháng Ba tới Nghiết Tang, hội thề cùng Điền Anh và tướng quốc các nước lớn, Chiêu Dương vui vẻ nhận lời.

“Trần huynh tới thật đúng lúc!” Chiêu Dương xếp thư của Tô Tần lại, nhìn Trần Chẩn, “tại hạ đang có đại sự muốn thỉnh giáo!”

“Đại sự gì kia?” Trần Chẩn cười hỏi.

“Đúng như Trần huynh dự liệu, nước Tần vừa chiến bại, đại vương đã muốn thu phục Thương Ư, hỏi ý tại hạ, tại hạ y theo lời Trần huynh, chủ trương dụng binh với Tần, vừa hay rất hợp ý Sở Vương. Gần đây đại vương hạ mật chỉ gọi Cảnh Thuý, Khuất Cái về Sính Đô bàn tính việc này.”

“Quả là chuyện tốt lành. Đại nhân dự định thế nào?”

“Giao chiến với Tần, không đánh thì thôi, đã đánh thì phải đánh cho ra trò, thu hồi toàn bộ Thương Ư, khoá chặt người Tần trong Quan Trung.”

“Đã đánh, tất phải thắng,” Trần Chẩn gật đầu, “có điều, thu phục Thương Ư là công lớn, trong mắt Chẩn, công này chẳng hề thua kém tiêu diệt Việt Vương Vô Cương. Dám hỏi đại nhân, muốn để nhà nào đoạt công lớn ấy?”

“Tại hạ cũng đang muốn bàn chuyện này với Trần huynh đây!”

“Ư Thành vốn là địa bàn của họ Cảnh, công này cũng nên dành cho họ Cảnh!”

“Ồ...” Chiêu Dương hít vào một hơi, im bặt.

“Đại nhân đang lo lắng họ Cảnh không thể đánh thắng người Tần ư?” Trần Chẩn cười hỏi.

“Nếu đúng là đánh không lại, vậy thì...” Chiêu Dương ngập ngừng.

Trần Chẩn cười lớn: “Xem ra đại nhân đang lo họ Cảnh đánh thắng trận này đấy!”

“Không phải!” Chiêu Dương cố nặn ra một câu, “tại hạ thực lòng muốn đánh bại Tần, thu hồi Thương Ư, khiến Đại Sở an định lâu dài, trừ bỏ mối họa phía tây. Thung lũng Thương Ư, nhất là các ấp Ư Thành, Tích Thành, Niết Dương, giờ nằm trong tay người Tần, tại hạ như mắc xương trong họng!”

“Chà chà,” Trần Chẩn chặc lưỡi, “không hổ là tướng Đại Sở!” Đoạn ngả người lại, hạ thấp giọng, “nếu đã nói vậy, tại hạ lại có một kế.”

“Là kế gì?”

“Đại nhân có thể tiến cử họ Cảnh lên đại vương, cho Cảnh Thuý làm chủ tướng. Nếu họ Cảnh chiến thắng, thu hồi được Thương Ư, đại nhân thứ nhất có công tiến cử, thứ hai ban ơn cho họ Cảnh, để tính kế lâu dài! Còn ngộ nhỡ họ Cảnh chiến bại...” Trần Chẩn dừng lại nửa chừng.

Chiêu Dương hiểu ý, vòng tay vái Trần Chẩn.

Trong cung Tần tại Hàm Dương, Huệ Vương đã nhiều ngày liền ngủ không ngon giấc, thường một mình ngồi lặng lẽ trong tịnh thất.

Có quá nhiều sự việc phiền lòng, trong đó, khiến Huệ Vương phiền lòng nhất chính là Trương Nghi, bởi lẽ bày trên án trước mặt Huệ Vương lúc này đều là tấu báo từ khắp nơi gửi về chờ phê duyệt. Thông thường, những tấu báo này sẽ được phủ tướng quốc thẩm duyệt, cái nào khó quyết đoán mới trình lên Huệ Vương. Nhưng lúc này, tất cả đều chồng chất trên án.

Tấu báo của nước Tần chia thành mấy loại, chỉ một phần nhỏ được chuyển thẳng tới chỗ Huệ Vương, hầu hết là mật báo. Còn phần lớn là tấu báo về chính sự do các địa phương gửi về, đưa đến án của Huệ Vương, chỉ còn một số việc lớn cần quyết đoán. Khi Trương Nghi ở Ngụy, những việc này đa phần do Cam Mậu đảm trách. Sau khi Trương Nghi trở về, Cam Mậu bị Huệ Vương điều đi Ba Thục, trợ giúp Tư Mã Thác dẹp loạn, thì biểu tấu các nơi liền chất cao như núi ở chỗ Huệ Vương.

Cũng may, đa phần đều là chính sự vặt vãnh, Huệ Vương chọn những việc hệ trọng giữ lại, còn việc lặt vặt thì giao lại cho Sư Lý Tật.

Trước mắt, chủ yếu có ba việc lớn. Thứ nhất là loạn Ba Thục, Tư Mã Thác hầu như cứ cách ba ngày lại gửi về một tấu báo, tình thế tuy trong tầm kiểm soát, nhưng phản tướng quân Thục là Trần Trang vẫn liều chết kháng cự, cũng bởi vậy nên Huệ Vương mới phải điều Cam Mậu đến trợ giúp; thứ hai là các bộ tộc Tây Nhung tác loạn. Nhung Vương vốn đã quy phục Tần bị mưu sát, mấy người con trai tranh giành ngôi vị, khiến cục diện rối ren; thứ ba, đất Sở mật báo, quân Sở đóng ở các nơi Uyển, Tương, Thượng Dung đang được điều động, muốn đánh Thương Ư.

Huệ Vương đang vắt óc suy nghĩ đối sách, thì công tử Hoa vào yết kiến.

Công tử Hoa lấy từ trong áo ra một mật hàm, trình lên Huệ Vương.

Là cấp báo của hắc điêu.

Huệ Vương mở ra, cặp lồng mày vốn đang chau tít, lại càng nhíu thành một đám.

“Ngày 3 tháng Ba, ở Nghiết Tang nước Tống. Theo tình hình trước mắt, có lẽ tướng quốc bốn nước Tề, Sở, Triệu, Hàn sẽ đến, tính cả tướng Hàn là Tô Tần, gồm năm nước lớn. Nước Yên chưa có hồi âm, có lẽ Yên Vương không tới.” Công tử Hoa nói.

Huệ Vương cười gượng một tiếng, lắc đầu.

Ngoài cửa điện bỗng vọng vào tiếng người huyên náo, còn có tiếng trẻ nhỏ kêu khóc. Nghe tiếng, thì ra là công chúa Tử Vân, đang ầm ĩ đòi yết kiến Huệ Vương.

Hai người nhìn nhau. Huệ Vương hất hàm, công tử Hoa bèn bước ra đón. Chốc sau, bế một đứa trẻ bước vào, theo sau là công chúa Tử Vân.

“Vương huynh...” Tử Vân vừa khóc vừa gọi.

“Sao vậy?” Huệ Vương nhìn vào Tử Vân.

“Trương Nghi... chàng không cần mẹ con em nữa...” Tử Vân khóc thảm thiết.

Đứa trẻ giãy ra khỏi tay công tử Hoa, nhào vào lòng mẹ, khóc toáng lên. Huệ Vương khép mắt lại.

“Vương huynh,” công tử Hoa hạ giọng, “Nghi đệ vào núi hơn một tháng rồi, bỏ mặc tất cả mọi chuyện!” Càng thấp giọng thì thào, “vì Hương Nữ!”

Huệ Vương ngẩng phắt lên: “Người đâu!”

Nội thần đáp: “Có thần!”

“Truyền chỉ, gọi Trương Nghi về ngay!” Huệ Vương nghiêm giọng hạ lệnh.

“Thần lĩnh chỉ!” Nội thần đáp rồi lui ra.

“Khoan!” Huệ Vương dừng lại một thoáng, ngữ khí cũng dịu lại, quay sang công tử Hoa, “Hoa đệ, hãy đi một chuyến, mời tướng quốc đại nhân mau chóng trở về, có việc hệ trọng cần bàn!”

“Thần đệ lĩnh chỉ!”

Hàn Tuyền cốc trắng xoá một màu. Trong núi lạnh giá, tuyết rơi tích tụ, chưa tới tháng Ba, thì chưa chịu tan.

Bên ngoài những dãy nhà cỏ san sát, giá lạnh thấu xương, tuyết phủ dày hơn hai thước. Giữa các gian nhà, người ta đào tuyết thành đường, giao cắt chồng chéo, thông đến từng cánh cửa.

Tại góc tây bắc của dãy nhà cỏ sau cùng, cửa phòng khép chặt. Trong cửa có hai gian phòng, gian ngoài là nơi tiếp khách, gian trong là buồng ngủ của Hương Nữ. Giữa hai gian ngăn cách bởi liếp cỏ tranh, vừa thoáng khí, lại thông nhiệt, nên chỉ cần đốt một chậu than, ánh lửa đã đủ ấm sực cả hai gian phòng.

Hương Nữ nằm trên giường ở phòng trong, đắp kín chăn. Trương Nghi ngồi bên cạnh nàng, hai mắt nhìn nàng đăm đăm, đôi con ngươi hoàn toàn bất động.

“Sao chàng cứ nhìn mãi thế?” Hương Nữ phì cười.

“Vẫn không đủ!” Trương Nghi cười đáp, ánh mắt vẫn không dịch chuyển, mí mắt cũng không hề chớp.

“Sao chàng không chớp mắt?” Hương Nữ hỏi.

“Chớp mắt thì thua mất!” Trương Nghi đáp.

“Ồ, thiếp cứ tưởng chàng đang nhìn thiếp, hoá ra là đang luyện mắt!” Hương Nữ giận dỗi.

“Là luyện tâm!” Mắt Trương Nghi vẫn nhìn trân trân.

“Được rồi, chàng vẫn thường nói, mắt là cửa sổ tâm linh!” Hương Nữ lại cười.

“Trong cửa sổ vốn dĩ chỉ có một người, còn giờ là hai người!” Trương Nghi không cười, vẫn nhìn chăm chú.

“Cho nên chàng mới nhìn mãi vậy!”

“Ta muốn nhìn xem nó trông thế nào.” Giọng Trương Nghi rất đỗi dịu dàng, “tiên cô nói, tính ngày tính tháng, đã sắp chào đời!”

“Suốt ngày quẫy đạp, đêm qua càng ghê gớm, chắc là muốn ra rồi!” Sắc mặt Hương Nữ tràn đầy mãn nguyện.

Bên ngoài bỗng vọng lại tiếng bước chân, Lâm tiên cô đẩy cửa bước vào.

“Trương đại nhân,” Lâm tiên cô đứng giữa phòng khách, gọi lớn, “bên ngoài có người đến tìm đại nhân, hãy để tôi trông nom Hương Nữ!”

“Ai thế?” Trương Nghi vẫn ngồi yên, nhưng sắc mặt hơi sầm xuống.

“Công tử Hoa, nói có việc gấp!”

Trương Nghi vẫn không nhúc nhích.

“Đi đi!” Hương Nữ giục, “chàng tới đây hơn một tháng rồi, chẳng màng đến chuyện gì bên ngoài cả!”

Trương Nghi cầm tay Hương Nữ, nắm chặt một chốc, rồi quay người bước ra ngoài, vái Lâm tiên cô một vái thật sâu, đoạn mở cửa, sải bước đi ra.

Trương Nghi ra tới nhà trước, quả nhiên công tử Hoa đang ngồi đó đợi. Tiếp chuyện công tử Hoa là người bạn cũ Giả Xá Nhân.

Rõ ràng, qua Giả Xá Nhân, công tử Hoa đã hay tin Hương Nữ sắp đến kỳ sinh nở, vừa gặp mặt đã chúc mừng luôn miệng. Hai người hàn huyên một chốc, Xá Nhân biết họ có việc lớn cần bàn, nên lui ra ngoài.

“Việc gấp gì vậy?” Trương Nghi hỏi.

Công tử Hoa kể lại vắn tắt ba đại sự đang khiến Huệ Vương lo lắng, đặc biệt là hội thề Nghiết Tang.

“Ý đại vương thế nào?” Trương Nghi hỏi.

“Vương huynh không biết ứng phó thế nào, nên bảo tại hạ phải mời đại nhân quay về. Chao ôi, đường đi tuyết phủ, vốn dĩ đi chỉ mất hai ngày mà tại hạ phải lặn lội những bốn ngày trời, mấy lần suýt lăn xuống vực thẳm!”

“Chị dâu của chú, chỉ trong vài ngày tới thôi!” Trương Nghi điềm đạm nói.

“Tại hạ đã hiểu.” Công tử Hoa đáp lời, “nhưng sự việc quá ư cấp bách, giờ đã sang tháng Hai, chẳng mấy ngày nữa hội thề sẽ mở. Cho dù ứng phó thế nào, cũng phải kịp trước lúc đó mới được, bằng không...”

Vừa nói tới đây, phía nhà sau bỗng rộn lên tiếng ồn ào. Hương Nữ đã trở dạ. Trương Nghi bật dậy như lò xo, lao vụt khỏi cửa, cắm đầu cắm cổ chạy về hậu viện. Công tử Hoa bám theo vài bước, nhưng rồi lại lộn về, quay vào phòng ngồi đợi.

Hương Nữ sinh con đầu lòng, lại thêm tuổi không còn trẻ, nên đau đớn tới chết đi sống lại. Cứ thế vật vã tới tận sáng hôm sau, nhờ có sư phụ Hàn Tuyền Tử châm cứu và sư tỷ Lâm tiên cô trợ giúp, khó khăn lắm mới hạ sinh được một bé trai. May sao được trời phù hộ, vẫn mẹ tròn con vuông. Trương Nghi lo lắng thắc thỏm suốt cả đêm, đến lúc gà gáy, trái tim treo ngược mới từ từ hạ xuống.

Trương Nghi vui mừng khôn xiết, không bế con mà ôm lấy Hương Nữ bật khóc.

“Sao chàng lại khóc, mau đặt tên cho con đi!” Hương Nữ trách.

“Nghĩ xong lâu rồi!” Trương Nghi đổi khóc thành cười, bế lấy đứa trẻ, nhìn đăm đăm vào mắt nó, “nhóc con, hãy nhớ kỹ, kể từ hôm nay, con họ Trương, tên Khai Địa!”

“Khai Địa?” Hương Nữ không hiểu, khẽ chau mày, “tên này nghĩa là thế nào?”

“Khai thiên, lập địa!” Trương Nghi rành rọt.

“Ôi trời!” Hương Nữ phì cười, “chàng muốn con cũng phải bôn ba khắp cùng trời cuối đất như chàng sao?”

“Ai bảo nó mang họ Trương kia chứ?” Trương Nghi đặt đứa bé xuống bên Hương Nữ, ghé vào tai nàng thì thầm, “thằng nhóc chào đời, ta đã yên tâm rồi, giờ phải về cung một chuyến. Tô huynh gần đây lại khuấy động một chuyện lớn, ta phải tới góp vui mới được!”

“Vậy chàng mau đi đi!”

Trương Nghi vừa tới Hàm Dương, liền cùng công tử Hoa đi thẳng vào cung.

Huệ Vương sớm đã nhận được tin báo, bèn cùng đám Sư Lý Tật và nội tể ra cửa điện đón. Hai bên thi lễ xong xuôi, Huệ Vương dắt tay Trương Nghi, bước vào nội điện.

“Em rể,” Huệ Vương ấn Trương Nghi ngồi xuống chiếu, sắc mặt rầu rĩ, “em mà không về, chắc anh rể đây phải lên núi mất.”

Trương Nghi phá lên cười lớn, trông rất vui vẻ: “Nghi lên núi để trông nom Hương Nữ, còn vương huynh lên núi làm gì?”

“Trông nom Nghi!” Huệ Vương ngồi xuống chiếu chủ, ra hiệu những người khác vào chỗ, rồi nhìn sang Trương Nghi, “anh rể sẽ kè kè bên em không rời một bước, xem em có chịu về không.”

Mọi người đều cười rộ lên.

Trương Nghi chặc lưỡi: “Nói về nhẫn tâm, không ai hơn được vương huynh, thần đệ phục rồi!”

Mọi người lại cười, duy chỉ Huệ Vương sắc mặt buồn bã. Thấy Huệ Vương không cười, mọi người cũng vội ngưng bặt, nhìn sang Huệ Vương.

“Các khanh cứ cười đi!” Huệ Vương nhìn sang công tử Hoa và Sư Lý Tật, “Tứ huynh đây cười không nổi, vì ta đã nghĩ thế thật. Nếu Hoa đệ không mời được em rể về, Tứ huynh đây đã sẵn sàng gói ghém hành lý lên núi!”

“Nghi... đã phụ lòng đại vương... Nghi thỉnh tội!” Trương Nghi vòng tay nói.

“Vương huynh có điều không biết,” công tử Hoa tiếp lời, “em rể vào núi, là vì có chuyện đại hỉ!”

“Ồ?” Huệ Vương nhìn sang công tử Hoa.

“Hương phu nhân của Nghi đệ có tin vui, sáng sớm hôm trước đã hạ sinh con trai. Hoa đệ may mắn được cùng Nghi đệ trải qua một đêm không ngủ, chờ cho mẹ tròn con vuông, Nghi đệ lập tức bỏ lại phu nhân và con nhỏ, lội tuyết mạo hiểm rời sơn cốc, đi thâu đêm, suốt đường ngựa không dừng vó!”

“Chà,” biết là chuyện này, Huệ Vương mừng ra mặt, cười lớn mà nói, “đại hỉ, đại hỉ, đây là tin vui duy nhất Tứ huynh nghe được trong một tháng nay!” Quay sang Trương Nghi, “Tứ huynh không biết có chuyện đại hỉ này, nếu không, dù gấp đến chết, cũng sẽ không sai Hoa đệ...”

“Vương huynh, không nói chuyện này nữa.” Trương Nghi nhìn thẳng vào Huệ Vương, cất giọng nghiêm nghị, “vương huynh có chuyện gì buồn phiền?”

“Được.” Huệ Vương thu lại nụ cười, “ở đây không có người ngoài, Tứ huynh không quanh co nữa. Không giấu các vị,” ánh mắt lướt qua khắp lượt mọi người, “nước Tần đang phải đối mặt với chuyện phiền hà lớn nhất kể từ khi Tứ huynh kế vị. Thứ nhất là Ba Thục, chuyện này tại ta, ta hối hận vì không nghe lời em rể, cứ để Trần Trang làm tướng quốc, quả nhiên kẻ này đã sinh sự, bức chết Thục Hầu Thông Quốc, đóng cửa ải tự lập làm vua. Quả nhân chinh phạt hơn năm, tuy đã khống chế được, song hắn vẫn liều mạng phản kháng. Do có không ít người Ba theo hắn, nên hắn rút sâu vào trong núi Ba Sơn, không dễ tiễu trừ. Theo tin thám báo gửi về, hắn đang liên lạc với người Sở, nếu dựa vào Sở để chống lại ta, quả là chuyện lớn! Quả nhân đã phái Cam Mậu tới Thục,” đưa mắt nhìn sang Trương Nghi, “nhưng nếu cấp bách quá, vẫn phải nhờ tới em rể! Bất kể thế nào, cũng không thể mất Thục!”

Trương Nghi khẽ cười, lại hỏi: “Còn chuyện thứ hai?”

“Nhung Địch.” Huệ Vương đáp, “tức là Khương Nhung. Khương Nhung nội loạn, bởi Nghĩa Cừ xúi giục sau lưng. Tuy các bộ tộc không có nhà nào công khai phản ta, nhưng cũng không có nhà nào nghe lệnh của ta! Thứ ba là người Sở, thấy ta chiến bại ở Tề, bắt đầu rục rịch khởi binh.”

“Dám hỏi đại vương, chính là ba việc này ư?” Trương Nghi lại cười.

“Than ôi,” Huệ Vương khẽ thở dài, “đừng nói là ba, dù chỉ một cũng khiến người ta đau đầu nhức óc. Ba Thục là kho lương của ta, quyết không thể mất. Tây Nhung là kho ngựa của ta, quyết không thể loạn. Thương Ư quan trọng thế nào, Tứ huynh không cần nói nữa.”

“Trong mắt Nghi,” Trương Nghi nhìn chằm chằm vào Huệ Vương, “cả ba đều chẳng phải chuyện gì to tát!”

Mọi người thảy đều sửng sốt.

Đây là lần đầu tiên Trương Nghi thẳng thừng phản bác Huệ Vương với ngữ điệu ngạo mạn đến vậy.

“Vậy đâu mới là chuyện to tát?” Huệ Vương nhìn xoáy vào Trương Nghi.

“Chính là chuyện cuối cùng mà Hoa đệ đã nói trong Hàn Tuyền cốc!” Trương Nghi nhìn sang công tử Hoa.

Rất rõ ràng, chính là Nghiết Tang.

Mọi người đều bàng hoàng chấn động, ánh mắt đổ dồn vào Trương Nghi. Nhất là Huệ Vương, toàn thần chuyên chú, đôi mắt nheo lại.

Nghiết Tang, quả thực là chuyện lớn, có điều...

“Đại vương,” Trương Nghi thay đổi cách xưng hô, nghiêm sắc mặt mà nói, “theo Nghi được biết, chuyện Ba Thục, nửa năm nữa có thể dẹp; loạn Khương Nhung, đại vương đã có thượng sách, vài ngày nữa có thể bình; chuyện Thương Ư, chỉ ở Nghiết Tang!”

Công tử Hoa, Sư Lý Tật vẻ như vẫn chưa hiểu được lời Trương Nghi, đưa mắt nhìn nhau, rồi lại nhìn sang Huệ Vương.

Huệ Vương khép mắt lại. Hồi lâu sau, mới mở mắt nhìn Trương Nghi: “Em rể nói xem, chuyện Ba Thục, sao lại nói nửa năm nữa có thể dẹp được?”

“Đại vương có biết một người tên gọi Thi Giảo?”

“Thi Giảo?” Huệ Vương khẽ lẩm bẩm, đoạn nhắm mắt cố lục tìm cái tên này trong trí nhớ.

“Có phải là Thi Tử trong phủ Thương Quân đó không?” Sư Lý Tật hỏi.

“Chính là người này.”

“Lùn tịt, xấu xí, mặt có bớt đen, mắt xếch ngược, cực kỳ ngạo mạn.” Sư Lý Tật miêu tả sơ qua, “trong các môn nhân của Thương Quân, kẻ này là khó ưa nhất, ngoài Thương Quân, ông ta chẳng buồn đếm xỉa đến ai. Thần đệ mới chỉ gặp có một lần, còn chưa tới gần, ông ta đã bỏ đi thẳng. Nghe Lãnh Hướng nói, ngay năm thứ hai sau khi Thương Quân tới Tần, ông ta đã tìm đến nương nhờ, cũng là môn khách lâu năm nhất trong phủ Thương Quân, trước cả Lãnh Hướng.”

“Các vị hẳn có biết, sau khi Thương Quân chết, Thi Giảo đã đi đâu?” Trương Nghi hỏi.

Không cần suy nghĩ, nghe giọng điệu của Trương Nghi, đã biết là tới Ba Thục.

“Tướng quốc đã gặp người này rồi ư?” Huệ Vương lấy làm phấn chấn.

“Thưa vâng.” Trương Nghi bình thản đáp, “ông ta trốn ở đất Ba, qua lại thân thiết với Ba Vương. Khi thần chinh phạt đất Ba, nghe nói thần là học trò của Quỷ Cốc tiên sinh, ông ta có tìm đến thăm viếng. Thần và Thi Tử trò chuyện rất hợp, đàm đạo suốt ba ngày, chính ông ta đã bày kế giúp thần diệt Ba.”

Trương Nghi kể lại câu chuyện cũ chưa ai hay biết, khiến mọi người đều sửng sốt, đưa mắt nhìn nhau.

“Hắn đã qua lại thân thiết với người Ba, cớ sao còn giúp ta diệt Ba?” Huệ Vương lấy làm khó hiểu.

“Bởi ông ta là sư phụ của Thương Quân!”

Lời này nói ra, lại càng khiến mọi người kinh ngạc.

“Than ôi!” Trương Nghi khẽ thở dài, “Thi Tử quả thực là người trí tuệ, chỉ tiếc Thương Quân không phải lúc nào cũng nghe theo ông ta!”

Huệ Vương cố kìm nhịp tim đập loạn, hạ giọng thật thấp: “Thương Quân không nghe ông ta chuyện gì?”

“Sau cuộc chiến Hà Tây,” Trương Nghi dõng dạc kể lại, “ông ta đã khuyên Thương Quân nhận đất Hán Trung, mưu lấy Ba Thục, cắt Ba Thục tự lập làm vương, chớ nên nhận đất Thương Ư, Thương Quân không nghe. Sau khi Thương Quân nhận Thương Ư, ông ta lại khuyên Thương Quân chớ nên lưu luyến Hàm Dương, mà hãy lập tức quay về đất phong an hưởng tuổi già, Thương Quân cũng không nghe. Tiếp đến, ông ta lại khuyên Thương Quân chớ nghe lời Hàn Tuyền Tử thoả hiệp với cựu đảng, mà nên tiên phát chế nhân, tìm sơ hở tận diệt cựu đảng, Thương Quân cũng không nghe. Tiên quân băng hà, ông ta lại khuyên Thương Quân hãy nhân lúc rối loạn mà bỏ đi, cắt đất tự lập, chớ nên nảy sinh ý khác, Thương Quân cũng không nghe. Sau khi được phong đất Thương Ư, ông ta lại khuyên Thương quân hãy dùng Lãnh Hướng chứ chớ dùng Tư Mã Thác và Sư Lý Tật bảo vệ Thương Ư, Thương Quân cũng không nghe. Thi Tử vô cùng phiền muộn, đã đoán trước được kết cục sắp tới của Thương Quân, nên sau khi tiên quân băng hà được ba ngày, đã lặng lẽ bỏ đi, theo sạn đạo tìm tới Ba Thục, nhờ thế mà tránh được họa liên đới!”

Giữa mùa đông rét buốt, mà trán Huệ Vương rịn đầy mô hôi, vội rút khăn lụa ra lau. Đúng vậy, những lời khuyên đó, Thương Quân chỉ cần nghe lấy một, thì cục diện có lẽ đã vuột khỏi tay Doanh Tứ mất rồi.

“Vậy Thương Quân đã nghe ông ta chuyện gì?” Công tử Hoa tò mò hỏi.

“Biến pháp!” Trương Nghi nói tiếp, “pháp của Thương Quân, quá nửa là từ Thi Tử. Hồi đó, Thương Quân nhất nhất nghe theo mưu kế của ông ta. Cho đến sau trận chiến Hà Tây, Thương Quân mới không nghe nữa.”

Quả là tiếng sét giữa trời quang!

Pháp của Thương Quân, nhưng té ra, Thương Quân chỉ là con rối!

Trong điện lặng phắc như tờ.

“Sự việc hệ trọng nhường này, vậy mà em rể cũng kín tiếng thực!” Huệ Vương mỉm cười trách móc.

“Thần không kín tiếng,” Trương Nghi chậm rãi đáp, “chỉ là vâng lời Thi Tử căn dặn mà thôi.”

“Sao hôm nay lại không nghe nữa?” Huệ Vương vặn hỏi.

“Vẫn là vâng lời Thi Tử căn dặn. Vào hôm thần rời Ba Thục, có đến từ biệt Thi Tử, Thi Tử dặn thần giữ kín chuyện này cho tới khi loạn Thục kết thúc. Thần lấy làm kinh ngạc, mới hỏi Ba Thục loạn từ đâu ra, ông ta đáp rằng, Thục loạn vì Trang.”

“Người này xứng đáng làm quốc sư, Tứ muốn được gặp!” Huệ Vương vô cùng sốt sắng.

“Thi Tử sẽ không chịu gặp đại vương, cũng sẽ không gặp bất kỳ quân vương nào khác. Ông ta đã ở tuổi gần đất xa trời, chỉ muốn tìm một nơi không ai biết đến, sống nốt ngày tàn!”

“Chuyện này thì dễ, quả nhân sẽ sắp xếp cho ông ta!”

“Ông ta đã tự sắp xếp ổn thoả cho mình, ở sâu thẳm trong Ba Sơn, đến thần cũng không hay biết! Có điều, năm ngoái sau khi Trần Trang nổi loạn, ông ta có nhờ người đem tới cho thần một mật thư, chỉ cách trị loạn. Thần đã mật lệnh cho Ngụy Chương, đô uý Mặc theo kế mà làm, loạn Thục chẳng mấy sẽ yên!” Trương Nghi khẽ cười một tiếng, nhìn sang Huệ Vương, “còn loạn Khuyển Nhung, đại vương sớm đã có kế sách, hẳn đã tới lúc dùng đến những quân cờ đó rồi!”

“Chà chà,” Nghe Trương Nghi nói một hồi, Huệ Vương đã thấy trong lòng nhẹ nhõm, trên mặt lại hiện nét cười, vòng tay nói, “tướng quốc quả nhiên là tướng quốc, chân không ra khỏi cửa, quyết thắng ngoài nghìn dặm!” Lại quay sang công tử Hoa, Sư Lý Tật, “tướng quốc nói đúng lắm, Tứ huynh đã quyết định sẽ dùng đám Đỗ Dũng, con trai Đỗ Chí.” Lấy ra một bức mật hàm, “đây là huyết thư bày tỏ lòng trung của đám Đỗ Dũng, Khuyển Nhung không còn đáng lo!”

Sư Lý Tật, công tử Hoa lúc này mới hiểu ra, năm xưa Huệ Vương xử trảm Cam Long, Đỗ Chí, Công Tôn Giả, rồi lưu đày bè đảng và con cháu họ tới biên thuỳ Tây Nhung, té ra đều là có mưu lược cả, thì lấy làm thán phục.

“Tướng quốc hiền đệ,” Huệ Vương nhìn sang Trương Nghi, “giờ hãy nói chuyện Nghiết Tang. Đã xảy ra rồi, chúng ta cũng nên có đối sách mới phải.”

“Nghiết Tang, chỉ là gặp mặt thôi mà!” Trương Nghi hiển nhiên đã có tính toán, “dù gì thần cũng là tướng quốc, cớ gì không tới góp vui?”

“Ồ...” Sư Lý Tật sửng sốt, “nhưng họ đâu có mời!”

Huệ Vương bừng hiểu, cả cười: “Vậy thì cứ làm vị khách không mời! Quả nhân sẽ bày tiệc tiễn tướng quốc!

“Nếu là vậy,” Sư Lý Tật nói, “thần sẽ lập tức báo với Tống Vương, nước Tần tới dự!”

“Không cần,” Trương Nghi xua tay nói, “đã là khách không mời, tại hạ sẽ không cần mời! Chúng ta sẽ lập một thương đoàn, tới Tứ Hạ buôn bán một phen, thế nào?”

“Được!” Huệ Vương nói lớn, quay sang công tử Hoa, “Hoa đệ, việc chọn người cho thương đoàn, và cả hàng hoá, giao hết cho đệ. Nhất thiết phải làm được hai điều, thứ nhất, không được sơ hở, thứ hai, đảm bảo an toàn cho tướng quốc!”

“Tuân mệnh!” Công tử Hoa đáp.

“Còn nữa,” Trương Nghi nhìn sang Huệ Vương, “nếu thần nhớ không lầm, cháu ngoại của đại vương ở đất Yên, hẳn đã đến lúc dùng đến!”

Huệ Vương nhìn sang Sư Lý Tật: “Tật đệ, hãy đi sứ sang Yên!”

Sư Lý Tật dõng dạc đáp: “Thần đệ tuân lệnh!”

“Em rể,” Huệ Vương quay sang Trương Nghi, tươi cười nói, “phu nhân kia của em rể, và cả con gái yêu, hay tin em rể trở về, đang chờ trong phủ. Em rể đi đường vất vả, hẳn cũng mệt rồi. Hãy về phủ nghỉ ngơi hai ngày, quả nhân lại mời em rể tới uống rượu, coi như tiễn biệt.”

Trương Nghi đứng dậy vòng tay: “Thần cáo lui.”

Trương Nghi về tới phủ, quả nhiên thấy Tử Vân và con gái Doanh Tường đã ngồi trong phòng khách chờ sẵn. Do ít gặp cha, nên Doanh Tường cứ tròn mắt nhìn Trương Nghi, e sợ không dám lại gần.

Trương Nghi ngồi xuống, chìa hai tay lại.

“Con mau gọi cha đi!” Tử Vân sốt ruột, đẩy vào con gái. Nhưng Doanh Tường lại khóc oà lên.

“Tường Nhi, lại đây với cha!” Trương Nghi gọi. Nhưng Doanh Tường vẫn đứng im tại chỗ. Trương Nghi bèn lấy từ trong ống tay áo ra một thứ, toả hương thơm phức. Doanh Tường ngửi thấy hương thơm thì nín ngay.

“Có thích không?” Trương Nghi tung hứng trên tay, hỏi. Ánh mắt Doanh Tường cũng xoay tròn theo. Tử Vân lúc này đã nhận ra, đó là một cái túi thơm.

Trương Nghi vẫy tay. Doanh Tường tiến lại hai bước, chợt đưa tay giật phắt lấy túi thơm, rồi chạy ào về chúi vào lòng Tử Vân.

Trương Nghi khẽ cười, nói với Tử Vân: “Tường Nhi sợ người lạ đấy!”

Tử Vân đưa tay lau nước mắt.

“Cảm tạ nàng đã chăm sóc Tường Nhi. Dù gì đi nữa, Tường Nhi cũng là con gái của Trương Nghi.”

Tử Vân nghe vậy thì ôm chặt con gái, bật khóc nức nở. Doanh Tường sợ quá, ném luôn túi thơm, cũng ôm lấy mẹ khóc toáng lên. Trương Nghi không nói gì, chỉ nhìn đăm đăm vào hai mẹ con.

“Phu quân,” Tử Vân nức nở một hồi, rồi đưa đôi mắt đẫm lệ nhìn Trương Nghi, “thiếp... mừng vui quá đấy...” Đoạn lau nước mắt, nhặt túi thơm lên, khẽ ngửi rồi hỏi, “đây là chị Hương thêu ư?”

“Phải!” Trương Nghi đáp, “là nàng ấy thêu tặng Doanh Tường!”

“Vâng.” Tử Vân đeo túi thơm lên cổ Doanh Tường, rồi đẩy cô bé vào tay Trương Nghi, “Tường Nhi, đừng khóc nữa, đây là cha con, là người thân nhất của con đấy!”

Doanh Tường không khóc nữa, để yên cho Trương Nghi bế.

“Phu quân,” Tử Vân êm giọng nói, “đợi tuyết ngừng rơi, thiếp muốn sai người đón chị Hương về, chị ấy là chị, thiếp là em, để Tường Nhi cùng chơi với em, được chứ?”

Trương Nghi thả Doanh Tường xuống, chậm chạp đứng dậy: “Nàng ấy... không về đâu!” Rồi cất từng bước nặng nề, tiến về phía thư phòng.

Sắp đặt xong mọi chuyện nước Ngụy, vừa sang tháng Hai, Tô Tần liền sang Tống, yết kiến Tống Vương Yển.

Hay tin tướng quốc sáu nước lớn muốn mở hội thề trên địa hạt của mình, Tống Vương Yển nào dám chậm trễ, lập tức lệnh cho hai viên đại phu đến cho Tô Tần sai bảo, điều động vật tư, huy động năm nghìn nhuệ binh để canh gác cho hội thề.

Nửa tháng trước ngày hội thề, Tô Tần tới Nghiết Tang.

Sau khi tới Nghiết Tang, Tô Tần mới nhận thấy Trần Chẩn lựa chọn ấp này, tuyệt đối không phải chỉ vì thịt vịt.

Nghiết Tang là một ấp nhỏ, cách đất Tiết nước Tề không xa, nhân khẩu chưa quá ba nghìn, kề bên Tứ Thuỷ, nên có thể coi là thuộc về Bành Thành nước Tống, là ấp bên ngoài của Bành Thành. Do địa thế trũng thấp, nhiều hồ đầm ao chuôm, nên lúa gạo, cá tôm phong phú, thuỷ cầm béo tốt. Hai con đường cái quan giao cắt với nhau tại ấp này, lại thêm đường sông chằng chịt, thông suốt mọi ngả, khiến cho ấp này trở thành một vùng trù phú, sản vật phồn thịnh, giao thông nhộn nhịp.

Nhưng những điều này vẫn chưa phải là trọng điểm. Quan trọng hơn nữa, trước đó không lâu, bên bờ Tứ Thuỷ đã diễn ra hai đại sự liên quan tới liệt quốc thiên hạ. Chuyện thứ nhất là Chiêu Dương nước Sở bôn tập Tiết Thành, chuyện thứ hai là nước Tần viễn chinh nước Tề, đều cách đất này không xa.

Trần Chẩn lựa chọn nơi này, rõ ràng là đón ý Tô Tần, thôi thúc Sở, Tề kết minh.

Quả nhiên.

Trần Chẩn vừa đưa phu nhân tới Nghiết Tang, đã gạt phắt ngay dự định mở hội thề bên bờ Tứ Thuỷ của Tô Tần, rồi không nề mệt nhọc, dẫn Tô Tần đi tìm kiếm khắp nơi, cuối cùng chọn ra một chỗ, vẽ xuống đất một vòng tròn lớn, nói: “Tô đại nhân, nơi này có thể lập hội thề.”

Tô Tần nhìn quanh vùng đất chẳng có gì đặc biệt này, không hiểu Trần Chẩn đang mưu tính điều gì. Trần Chẩn cười lớn, chỉ vào vòng tròn: “Chính là ở đây, tại hạ đã kể câu chuyện vẽ rắn thêm chân cho Chiêu Dương nghe. Thế rồi, ông ta rút quân lập tức!”

“Vẽ rắn thêm chân?” Tô Tần ngẩn ra nhìn Trần Chẩn. Trần Chẩn bèn đem câu chuyện đó kể lại một lượt cho Tô Tần nghe.

Tô Tần muôn phần cảm khái, vái dài sát đất: “Miệng lưỡi của Trần huynh, đã cứu nguy cho Tề, Sở một phen đổ máu!”

“Than ôi,” Trần Chẩn vái đáp lễ, thở dài mà nói, “nếu bàn về miệng lưỡi, tại hạ sao bằng được Tô huynh đệ và Trương Nghi! Miệng lưỡi của hai vị, mới xứng là tài tung hoành thiên hạ, thao túng liệt quốc. Miệng lưỡi của tại hạ, chỉ là kiếm miếng cơm ăn mà thôi!” Lại thở dài, “nửa đời còn lại của tại hạ, có lẽ phải học theo lão trọc Thuần Vu Khôn thôi. Tại hạ không khoát đạt được bằng lão trọc, rất nhiều chuyện không thể buông bỏ!”

“Phải rồi,” Tô Tần tiếp lời, “tiền bối Thuần Vu đúng là một người khoát đạt. Than ôi, nhắc tới Thuần Vu Tử, mới nhớ vẫn còn nợ mấy thỏi vàng, lần sau gặp mặt, phải trả mới được!”

“Vàng gì kia?” Trần Chẩn lấy làm tò mò.

“Thì là vàng chứ còn gì nữa, một món nợ cũ.” Tô Tần lấp liếm, khẽ mỉm cười, rồi quay lại với chuyện hội thề, bàn bạc hồi lâu về các việc cụ thể, đến lúc xong xuôi, bèn nói, “Trần huynh, hội thề lần này, vô cùng trọng đại, bất luận thế nào, cũng phải dĩ hoà vi quý, không được căng thẳng, mà cần hài hoà. Việc này, cậy nhờ cả vào Trần huynh đấy.”

Trần Chẩn vỗ ngực cười vang: “Tung ước trưởng yên tâm, tại hạ sẽ học theo lão trọc, được chứ?”

Cũng vào lúc này, trong nội điện cung Tề ở Lâm Truy, Tề Tuyên Vương đang đọc mật thư do Điền Anh trình lên, được gửi về từ đất Yên.

“Yên Vương cho Tử Khoái tới trấn thủ Tạo Dương?” Tề Tuyên Vương nheo mắt, nhìn sang Điền Anh, “tại sao?”

“Để phòng ngự người Hồ. Nghe nói Yên Vương ngày càng không hài lòng về Tử Khoái, nên muốn tôi rèn thêm.”

“Tử Khoái thì sao?”

“Tử Khoái là người tốt, đại vương biết đấy...” Điền Anh ngập ngừng một chốc, hạ giọng thì thào, “có lẽ lại muốn phế trưởng lập thứ rồi. Vương hậu hiện tại là công chúa nước Tần, lại chỉ sinh một con trai, Yên Vương sớm đã không ưa Tử Khoái, kiếm cớ phế thái tử, cũng không phải là không thể. Nếu Yên Vương phế Tử Khoái, lập Tử Chức thật, vậy thì nước Yên sẽ biến thành cây gậy của nước Tần. Người Tần dám vượt qua Tam Tấn phạt ta, lại có thêm cây gậy là nước Yên,” cười nhăn nhó, “thì nước Tề không có ngày bình yên.”

“Ồ!”

“Trận chiến Tang Khâu, Khuông tướng quân tuy thắng, nhưng chỉ nhờ may mắn. Thần đã tìm hiểu kỹ lưỡng trước sau, cũng thẩm tra tù binh nước Tần. Nếu theo như tính khí của Tư Mã Thác, đã dàn trận là đánh, e rằng Lâm Truy giờ đã là của họ mất rồi!”

“Khanh có kế sách nào chăng?”

“So với Sở, nước Yên mới là mối nguy lớn nhất của ta. Theo ý của thần, có thể hưởng ứng hội thề Nghiết Tang của Tô Tần, kết minh với Sở. Sở không còn lo lắng phía đông, ắt giao chiến với Tần ở phía tây. Ta không phải lo Sở, có thể dốc toàn lực mưu đồ Yên. Nếu Yên Vương khăng khăng phế lập thái tử, Yên ắt sẽ loạn. Nếu Yên loạn, đại vương cứ lấy danh nghĩa cậu cháu để khởi quân chính nghĩa, diệt trừ hậu hoạ!”

“Cứ theo kế của khanh!”

Ngày hẹn đã tới. Người đến đầu tiên là tướng quốc nước Hàn Công Tôn Diễn, tiếp đến là tướng quốc nước Tề Điền Anh; người tới cuối cùng là lệnh doãn nước Sở Chiêu Dương. Tướng quốc nước Ngụy là Tô Tần. Nước Triệu không ai đến dự, chỉ phái tới một viên đặc sứ, mang theo quốc thư của Triệu Vương, uỷ thác Tô Tần toàn quyền quyết định chuyện nước Triệu. Như vậy, Tô Tần một thân kiêm hai tướng quốc Ngụy và Triệu. Tính ra trong sáu nước hợp tung, chỉ có Yên là không phái người tới. Yên Vương cũng không gửi thư uỷ thác cho Tô Tần.

Song đối với Tô Tần, hai tướng Tề, Sở mới là quan trọng nhất, các tướng quốc khác đến, chỉ là góp vui mà thôi.

Tướng Sở Chiêu Dương và Tống Vương Yển tới cùng một lúc, nói rằng “vô tình” gặp nhau trên đường. Lần này, liệt quốc hợp tung tụ hội trên địa bàn của mình, nên Tống Vương Yển tới đây để bày tỏ thịnh tình của chủ nhà, và dự tiệc mừng sau khi đã kết minh xong. Do Tống Vương là vua, mà tướng quốc nước Tống lại không được mời, nên chiếu theo lễ tiết, hội thề không thể bày trại cho Tống Vương, nên Tống Vương đành phải đi tiếp tới Bành Thành, ở trong biệt cung của mình.

Mỗi khi quý khách tới nơi, đội nghi trượng hùng hậu sẽ dàn hàng diễn tấu chào mừng, rồi Tô Tần, Trần Chẩn sánh vai bước ra nghênh đón. Hành lễ, hàn huyên xong rồi, Trần Chẩn sẽ dẫn từng vị vào đại trại đã sắp xếp sẵn.

Theo như sắp đặt của Trần Chẩn, nghi thức mở hội thề sẽ cử hành vào giờ Thìn ngày 3 tháng Ba, sau đó cùng bàn chuyện minh ước. Đến giờ Thân buổi chiều là lễ ăn thề. Buổi tối sẽ mở tiệc mừng. Ba ngày sau, nếu không có chuyện gì bất thường, mọi người sẽ cùng đi săn trong vườn của Tống thất tại Bành Thành, sau đó khởi hành quay về.

Đêm trước nghi thức mở hội, tức đêm ngày 2 tháng Ba, Tô Tần bày tiệc tẩy trần tại đại trại của mình. Người được mời có lệnh doãn nước Sở Chiêu Dương, văn học thị tùng nước Sở Khuất Bình, tướng quốc nước Hàn Công Tôn Diễn, đại phu nước Hàn Chung Long Hải, tướng quốc nước Tề Điền Anh, Tắc Hạ lệnh Điền Văn. Bàn tiệc vẫn xếp theo vòng tròn như trước, không phân chủ thứ. Chủ tiệc Tô Tần sau khi chờ toàn bộ tân khách đã vào trong trướng, liền chủ động ngồi xuống vị trí dưới cùng theo lệ thường, tức ngay sát cửa trại, đoạn chìa tay với mọi người: “Sáu nước hợp tung, theo như lệ cũ, không phân chủ thứ, không phân tôn ti, mỗi người một chỗ, xin cứ tùy tiện cho!”

Mọi người đưa mắt nhìn nhau.

Tô Tần cười lớn, nói: “Năm xưa ở Mạnh Tân, sáu vị vương kết minh tung thân, cũng ngồi như vậy cả!”

Mọi người nghe vậy, mới hiểu dụng ý của Tô Tần. Chiêu Dương bước lên đầu tiên, ngồi xuống ngay cạnh Tô Tần. Điền Anh ngồi xuống bên kia Tô Tần, Công Tôn Diễn ngồi xuống cạnh Điền Anh. Những người khác cũng tự tìm chỗ cho mình, lần lượt ngồi xuống.

Đến cuối cùng, chỉ còn lại một chiếu, chính là chiếu chủ theo thông lệ, đối diện thẳng với cửa trại. Mọi ánh mắt đều đổ dồn vào Trần Chẩn, vốn nãy giờ chỉ đứng hầu bên cạnh.

“Ồ?” Trần Chẩn dài giọng kêu lên, “chỗ này ngồi bỏng đít lắm sao?” Đoạn phịch mông ngồi luôn xuống, rồi nhảy bật dậy như phải bỏng, níu lấy Khuất Bình ngồi kế bên kéo dậy, “ối, đúng là bỏng thật đấy, mông người già chịu không nổi, thôi để thanh niên ngồi đi.”

Thấy Trần Chẩn bắt chước đúng điệu bộ của Thuần Vu Khôn, mọi người đều phá lên cười ngặt nghẽo. Khuất Bình đã quen với các kiểu nghi lễ cung đình, chưa từng chứng kiến tình thế này bao giờ, bị Trần Chẩn lôi phắt một cái rồi ấn xuống, chưa hiểu chuyện gì đã thấy mình đang ngồi trên chiếu chủ ngay ngắn nhất, còn Trần Chẩn đã thế ngay vào chỗ mình mất rồi.

Khuất Bình rõ ràng không biết ứng phó ra sao, nhất thời luống cuống, mặt đỏ bừng đến tận cổ, không thốt được lời nào, chỉ biết sửa lại vạt áo, ngồi thẳng nghiêm trang.

Tô Tần thấy Khuất Bình có vẻ thiếu tự nhiên, thì phá lên cười lớn nói: “Mấy năm không gặp, Khuất Tử đã cao hơn nhiều rồi, quả là một thiếu niên anh tuấn!”

Khuất Bình chỉ cười đáp lại.

“Trần tư nghi,” Tô Tần quay sang Trần Chẩn, “rượu này phải uống thế nào, xin tư nghi giải thích giúp cho!”

“Uống từng ngụm một!” Trần Chẩn bưng chén, nâng lên cao, “chư vị bằng hữu cũ mới, xin hãy nhìn kỹ, uống như thế này!” Nói rồi, ngửa thẳng cái cổ béo núc, há to miệng, đưa một góc chén tước vào trong miệng, nhắm mắt lại, dốc rượu uống ừng ực nghe rất khoa trương, cho tới khi rượu trong cốc đã cạn nhẵn, rồi khà một tiếng cũng khoa trương không kém, khoe ra đáy chén.

Trước màn thị phạm lạ lùng này, mọi người đều phá lên cười, không khí thoải mái hơn hẳn. Ngay cả Khuất Bình cũng đã hết sượng sùng, miệng cười tủm tỉm.

Một yến tiệc cao quý nhường này, mà lại được mở màn như vậy, đã không kính thiên, cũng không tế địa, thậm chí không có lấy một nghi lễ thông thường, hoàn toàn phóng khoáng, theo lý mà nói, là rất không nên, những nghĩ lại, đây chỉ là tiệc riêng đãi khách, gặp gỡ thân bằng, cũng không có gì đáng trách.

Trong không khí vui vẻ và thư thái, mọi người đều trở nên cởi mở, đều bắt chước Trần Chẩn, thoải mái mà uống.

Rượu qua ba tuần, Điền Anh đứng dậy, cầm bình rượu bước lại bên Chiêu Dương, ngồi xuống bên cạnh, rót rượu đầy chén, rồi nhìn thẳng vào Chiêu Dương: “Chiêu tướng quân, tại hạ kính tướng quân một chén!”

“Rượu này...” Chiêu Dương nâng chén, nhìn sang Điền Anh, “Điền đại nhân hẳn có nguyên do?”

“Chỉ có một nguyên do,” Điền Anh cất giọng chân thành, “đất Tiết là đất phong của tại hạ. Lần trước Sở Vương phạt Tề, nếu không nhờ tướng quân nể tình nương tay, hẳn lúc này, tại hạ đến một cái ổ dưỡng già cũng không còn.”

Chiêu Dương cười lớn: “Rượu này nên kính, có điều, không phải kính tại hạ, mà phải kính...” chỉ vào Trần Chẩn, “người này! Nếu không có người này, đừng nói là đất Tiết, e là tại hạ sắp đánh tới Lâm Truy mất rồi!”

“Ồ?” Điền Anh nhìn sang Trần Chẩn, nâng chén, “chao ôi, Trần đại nhân, thực không ngờ, đại nhân quả là có đức lớn mà không nói năng!”

“Chuyện này ư,” Trần Chẩn vuốt râu, “Điền đại nhân nên kính người này!” Lại chỉ sang Tô Tần.

Vòng vèo qua lại, cuối cùng lại vòng tới Tô Tần. Điền Anh, Chiêu Dương, Công Tôn Diễn thảy đều kinh ngạc.

Tô Tần khẽ đặng hắng hai tiếng, bắt chước Trần Chẩn, đưa tay vuốt chòm râu đen mới nuôi chưa được bao lâu, “bất luận là Chiêu đại nhân lui binh, hay là trận chiến Tang Khâu, nếu muốn cảm tạ, đều nên cảm tạ một người này. Tại hạ xin chư vị hãy cùng kính người đó!” Đoạn nâng chén rượu lên trước.

Mọi người cùng cầm chén lên theo, nhưng không biết Tô Tần muốn kính ai, tất cả mọi ánh mắt đều đổ dồn vào Tô Tần.

“Tôn Tẫn!” Tô Tần chậm rãi thốt ra một cái tên.

Chiêu Dương, Điền Anh lập tức bừng tỏ, đua nhau nâng chén.

Tô Tần chậm rãi kể lại, sau khi hay tin người Sở phạt Tề, đã đi tìm Trần Chẩn thế nào, rồi thuật lại chi tiết trận chiến Mã Lăng, tiếp đến nói về mối nguy của Tề Sở nếu hai nước giao tranh. Cuối cùng, Tô Tần nói: “Thật may Chiêu tướng quân thấu hiểu đại nghĩa, dẫn quân lui trước, bằng không, hai nước Tề, Sở nếu như khai chiến, bất kể ai thắng ai thua, đều là tai họa của cả đôi bên!”

Trận chiến Mã Lăng, Tô Tần tham gia từ đầu tới cuối, nên lúc này kể lại, không ai không tin. Nhất là Chiêu Dương, càng nghe càng tâm phục khẩu phục, thực lòng cảm thán: “Không giấu chư vị, tại hạ rút quân, không phải vì đại nghĩa, cũng không phải vì chuyện gì khác, mà chỉ vì Trần huynh nói với tại hạ, Tôn Tẫn còn sống. Người Tần không phục, kết quả chính là Tang Khâu!” Nâng chén, hướng vào mọi người, “chúng ta hãy cạn chén vì Tôn tướng quân còn sống!”

Mọi người cùng cạn.

Tại ấp cổ Nghiết Tang, chỉ cách doanh trại hội thề năm dặm, cả ba quán trọ đều được một thương đoàn bao trọn. Họ đã đặt phòng từ năm ngày trước, nhưng tới tận tối nay, khi Tô Tần mở tiệc tẩy trần, mới thấy khách tới ở.

Đêm xuống, công tử Hoa trong trang phục thương nhân đẩy mở một cửa phòng, bước lại gần một người đang ngồi ngay ngắn trên chiếu, ngồi xuống đối diện trước án.

“Khách hàng đã tới đông đủ cả!” Công tử Hoa khẽ giọng bẩm báo, “giờ này đang yến ẩm trong đại trại của tung ước trưởng. Người Tống canh phòng khá nghiêm ngặt, người của ta không thể lại gần!”

“Lái buôn nước Sở có bao nhiêu?”

“Ba nghìn, hạ trại cách đó hai mươi dặm, Chiêu Dương chỉ dẫn theo vài người ở trong trại do tung ước trưởng sắp xếp.” Công tử Hoa rút ra một bức mật báo, “đây là nội dung của hội thề, tư nghi là Trần Chẩn, khó khăn lắm mới lấy được.”

“Chiêu Dương, Công Tôn Diễn, Trần Chẩn,” Trương Nghi cười gượng, “nếu Huệ Thi cũng có mặt, thì oan gia của ta coi như hội đủ!” Đoạn mở mật báo ra đọc.

“Tiếp theo, nên buôn bán thế nào đây?” Công tử Hoa đưa mắt dò hỏi.

Trương Nghi đặt mật báo xuống, lấy ra một hộp gỗ, đẩy ra trước án: “Nếu hội thề diễn ra vào giờ Thìn ngày mai, vậy thì vào giờ Thìn ba khắc, Hoa đệ hãy lấy thân phận sứ Tần trình quốc thư này lên tung ước trưởng, nói rằng tướng quốc nước Tần Trương Nghi phụng mệnh Tần Vương tới dự hội thề, nhưng vì đường sá xa xôi, tới trễ một bước, phái Hoa đệ đến trước báo tin!”

“Thế còn... tướng quốc?”

“Chờ trong quán trọ.”

“Ồ...” Công tử Hoa sửng sốt, “Nếu tung ước trưởng có lời mời, tại hạ biết nói sao?”

“Nên nói thế nào, Hoa đệ cứ nói thế ấy.”

Giờ Thìn hôm sau, hội thề Nghiết Tang cử hành nghi thức đúng như đã hẹn. Địa điểm hội thề, chính là chỗ Trần Chẩn đã vẽ vòng tròn hôm trước.

Không dựng trại, không dựng hàng rào, tất cả đều lộ thiên, thấy rõ mồn một.

Không có cờ quạt, không có nhạc đội, không có vệ sĩ, cứ như thể Tô Tần đang mời bằng hữu đến du ngoạn thưởng cảnh xuân.

Bầu không yên ả, chim hót hoa thơm, hương thơm dìu dịu lan toả. Khắp nơi, đâu đâu cũng thấy cảnh gió xuân ấm áp, dương liễu thướt tha, không một chút kiếm quang đao ảnh.

Tô Tần, Trần Chẩn đi trước dẫn đường, tướng quốc ba nước Sở, Tề, Hàn cùng các phó sứ tùy tùng cười nói vui vẻ, cùng tiến lại từ phía bãi cỏ chênh chếch phía tây bắc.

Ở chính giữa bãi cỏ, cũng chính là địa điểm hội thề, bày biện chỉnh tề tám chiếc án. Trên án không bày món ăn, cũng không bày rượu, chỉ dựng một tấm thẻ gỗ tinh xảo, bên trên viết tên các nước. Tám chiếc án xếp thành một hình vuông. Lần lượt là sứ Sở hai án, ở hướng nam; sứ Tề hai án, ở hướng đông, sứ Hàn hai án, ở hướng tây, còn lại hai án hướng bắc, một án viết chữ Triệu, Ngụy, Tô Tần ngồi đó; một án viết chữ tư nghi, Trần Chẩn ngồi đó.

Tư nghi Trần Chẩn mở màn nghi lễ, nhưng hoàn toàn không nhắc tới một chữ hội thề, mà lại kể lể về thịt vịt Nghiết Tang, thao thao bất tuyệt món vịt ở đây ngon lành ra sao. Mọi người nghe mà chẳng hiểu đầu cua tai nheo thế nào, thoạt tiên ngẩn ra ngơ ngác, tiếp đến cười rộ lên, rồi cũng bắt đầu bình phẩm rôm rả. Chỉ có Khuất Bình đôi mày nhíu chặt, rất không hài lòng nhìn sang Tô Tần, thấy Tô Tần cũng vui cười hớn hở, nhất thời không hiểu ra làm sao, cứ ngồi ngây tại chỗ.

Dông dài về thịt vịt một hồi, Trần Chẩn hoan hỉ lắc lư cái đâu: “Chư vị đại nhân, tại hạ có một câu đố, nếu ai đoán đúng, thì trong yến tiệc tối nay, Bạch phu nhân của tại hạ sẽ tự tay quay một con vịt Nghiết Tang dâng mời người đó!”

“Nói mau!” Điền Văn sốt sắng giục giã.

Trần Chẩn chỉ vào chỗ chính giữa tám chiếc án: “Chính là chỗ này, ai có thể đoán ra có điểm gì đặc biệt?” Nói xong, quay sang nháy mắt với Tô Tần.

Tô Tần hiểu ý, hai mắt mở to, nhìn chằm chằm vào bãi cỏ ở giữa, cứ như ở đó đang chôn giấu một bí mật tuyệt thế.

Mọi người cũng đua nhau nhìn về phía đó, ngay cả Khuất Bình cũng tò mò mở to mắt nhìn. Thế nhưng, bãi cỏ chỉ là bãi cỏ, chẳng có điểm gì đặc biệt. Mọi người nhìn một lúc lâu, vẫn không ai lên tiếng. Nhìn sắc mặt ngơ ngác của những nhân vật thông tuệ bậc nhất thiên hạ, Trần Chẩn vô cùng đắc ý, khe khẽ nhịp ngón tay xuống án.

Chính vào lúc mọi người nặn óc không thể nghĩ ra, Trần Chẩn đưa mắt nhìn khắp lượt, rồi dừng lại ở Chiêu Dương: “Chiêu đại nhân, xem ra con vịt của chuyết thê, chỉ có thể dành cho đại nhân mà thôi!”

“Tại hạ?” Chiêu Dương chỉ vào mũi mình, mặt mày ngơ ngác, nhìn chằm chằm vào bãi cỏ, “bãi... bãi cỏ này...” Vò đâu bứt tai một hồi, khiến mọi người lại được một phen cười nghiêng ngả.

“Đại nhân nhở kỹ lại đi, rồi thử nhìn ra xung quanh, xem có phải rất quen không?” Trần Chẩn gợi ý.

Chiêu Dương vẫn không nhớ ra.

“Có nhớ con rắn, con rắn có chân...” Trần Chân nheo mắt lại thành một đường kẻ chỉ.

“Ôi trời,” Chiêu Dương choàng tỉnh, “tư nghi muốn nói, đây chính là nơi tại hạ từng hạ trại?”

“Chính phải!” Trần Chẩn bật tay đánh tách, “chư vị nghe rõ rồi chứ, Chiêu đại nhân đã đoán đúng, chư vị đã vuột mất con vịt quay của chuyết thê rồi, ha ha ha ha!”

Mọi người lại phá lên cười.

“Rắn có chân, là thế nào kia?” Khuất Bình tò mò nhìn sang Trần Chẩn.

“Ồ, chuyện này ư,” Trần Chẩn thủng thẳng đáp, “Khuất đại nhân nếu rảnh, có thể thỉnh giáo Chiêu đại nhân!” Chỉ vào bãi cỏ, nhìn sang Điền Anh, “Điền đại nhân, khi đó người Sở chinh phạt đất Tiết, Chiêu đại nhân đã hạ trại ngay tại chỗ chúng ta đang ngồi. Còn bãi cỏ ở giữa kia, chính là nơi Chiêu đại nhân kê án của chủ tướng!”

“Chà chà, trí nhớ của Trần tư nghi tốt thật!” Điền Anh tấm tắc.

“Thật không ngờ,” Tô Tần tiếp lời, không giấu nổi niềm cảm khái, “đất này lại chính là phúc địa khiến Tề, Sở chấm dứt giao tranh!” Đoạn cao giọng, “chư vị đại nhân, nhìn vào đây, tại hạ có một ý này,” vòng tay hướng vào Chiêu Dương và Điền Anh, “hãy mời lệnh doãn nước Sở Chiêu đại nhân và tướng quốc nước Tề Điền đại nhân đến phúc địa này kính thiên tế địa, lấy rượu làm hoà!”

Mọi người đều hoan hô.

“Được lắm!” Chiêu Dương đứng lên trước, cầm lấy chén rượu, tiến ra bãi cỏ. Điền Anh cũng tươi cười bước lên. Hai người bước ra giữa bãi cỏ, quỳ xuống đối diện với nhau, nâng cao chén rượu.

Tô Tần hất hàm với Trần Chẩn. Trần Chẩn bèn đứng dậy, cũng tiến vào bãi cỏ, tay cầm bình rượu, cao giọng ngân nga: “Trời xanh trên cao, đất dày dưới thấp, thần linh bốn phương, thảy đều chứng giám. Nay có lệnh doãn nước Sở Chiêu Dương đại nhân, tướng quốc nước Tề Điền Anh đại nhân, tại phúc địa này, trịnh trọng thề ước, kể từ hôm nay, hai nước Sở, Tề chấm dứt binh đao, kết tình hữu hảo, đời đời hoà mục, cùng chống thù chung! Chén thứ nhất, kính trời!”

Hai người hất rượu lên không trung. Trần Chẩn rót rượu: “Chén thứ hai, tế đất!”

Hai người hất rượu xuống đất.

“Chén thứ ba, kính thần linh bốn phương!”

Hai người hất rượu ra xung quanh.

“Chén cuối cùng, Sở, Tề cùng uống!” Trần Chẩn rót rượu, giọng càng vang vọng.

Chiêu Dương, Điền Anh kính cẩn mời nhau, cùng ngửa cổ uống cạn, rồi vui vẻ ai về chỗ nấy.

“Tô đại nhân,” Trần Chẩn nhìn sang Tô Tần, “chức trách của tại hạ, coi như đã xong, giờ tới lượt đại nhân!”

Tô Tần không hề đưa đẩy, lập tức đưa tay xuống dưới án lấy ra tám bó thẻ tre, lần lượt đặt từng bó lên trên án, vòng tay với mọi người: “Chư vị đại nhân, trước khi bàn về minh ước Nghiết Tang, tại hạ kính mời chư vị thưởng lãm một bộ kỳ thư!” Nói rồi đứng dậy, ôm lấy các bó thẻ tre, đặt xuống mỗi án một cuốn, giữ lại cho mình một cuốn.

Mọi người mở ra xem, thấy là Thương Quân thư của Công Tôn Ưởng, thì đều nghiêm sắc mặt, chăm chú giở đọc.

Chính vào lúc này, quân uý canh gác bên ngoài hối hả bước vào thi lễ, cất giọng sang sảng: “Báo, có sứ Tần thỉnh cầu dự hội!”

Lời vừa nói ra, khác nào sét đánh giữa trời quang, mọi người kinh ngạc đưa mắt nhìn nhau.

Hội thề Nghiết Tang, là nhằm ứng phó người Tần, sao người Tần lại...

Mọi ánh mắt đổ dồn vào Tô Tần. Tô Tần cũng sững sờ một chốc, hít vào một hơi dài, rồi từ từ thở ra, nhìn sang Trần Chẩn: ‘Tư nghi đại nhân, có lời mời sứ Tần!”

Trần Chẩn đứng dậy, sải bước theo quân uý đi ra.

Thấy Trần Chẩn đã đi xa, Tô Tần khẽ đặng hắng một tiếng, chỉ xuống án, rồi cắm cúi nhìn bó thẻ tre. Mọi người hiểu ý, đều cúi đầu tiếp tục đọc.

Chốc lát sau, Trần Chẩn dẫn theo công tử Hoa bước vào. Lúc này, vầng dương đã lên cao, toả nắng rực rỡ. Trần Chẩn dẫn sứ Tần băng qua bãi cỏ bước lại, vừa hay tới sau lưng Tô Tần, đối diện với Chiêu Dương. Chiêu Dương như thể không nhìn thấy, vẫn cắm cúi đọc sách.

Hội thề vốn là việc cực kỳ nghiêm trang trọng đại, nên khi nhìn thấy cảnh tượng thế này, công tử Hoa rõ ràng hết sức bất ngờ. Càng bất ngờ hơn nữa là người dự hội ai nấy đều chúi mũi đọc sách, không một ai ngẩng lên nhìn mình, như thể mình không hề tồn tại.

Trần Chẩn bước lại trước mặt Tô Tần, nói: “Tung ước trưởng đại nhân, sứ Tần đã tới!”

Tô Tần mới rời mắt khỏi cuốn thẻ tre, đứng dậy, vòng tay nói: “Tô Tần người Lạc Dương bái kiến công tử!”

Lời này của Tô Tần, hiển nhiên là lời chào hỏi thường nhật, càng muốn nói mình và mọi người ở đây chỉ là bạn bè gặp gỡ mà thôi.

Công tử Hoa vòng tay đáp: “Sứ Tần Doanh Hoa bái kiến tung ước trưởng đại nhân!” Khoé mắt liếc khắp mọi người, thấy họ vẫn vùi đầu đọc thẻ tre, thì hiểu rằng họ cố tình làm vậy cho mình thấy.

Khoé mắt công tử Hoa liếc tới mặt án của Trần Chẩn ở ngay phía trước, nhìn thấy tấm thẻ tre đầu tiên rành rành ba chữ “ Thương Quân thư’, bất giác rùng mình ớn lạnh.

Trước mắt họ đều là Thương Quân thư, sách này ở nước Tần, được Tần Vương coi như báu vật, tôn kính như thân, ngay cả công tử Hoa cũng chưa từng được đọc!

“Tại hạ cùng mấy vị hiền hữu hẹn gặp ở đây để thưởng lãm cảnh xuân, công tử bận trăm công nghìn việc, lại không quản đường xa tìm tới, dám hỏi có điều gì chỉ giáo?” Tô Tần nhìn xoáy vào công tử Hoa, ánh mắt như kiếm.

“Chỉ giáo thì không dám!” Công tử Hoa vòng tay, “nghe nói tung ước trưởng đại nhân mời tướng quốc liệt quốc tới đây tụ hội, cùng bàn đại sự thiên hạ, đại vương tại hạ lấy làm cảm khái, nên đặc phái tướng quốc Trương Nghi tới dự, ngặt vì đường sá xa xôi, nên tới hơi muộn, mong tung ước trưởng đại nhân lượng thứ!” Đoạn lấy từ trong tay áo ra bức quốc thư của Tần Vương, hai tay trình lên, “đây là quốc thư nước Tần, kính mời tung ước trưởng hãy đọc!”

Tô Tần nhận lấy, cất vào trong ống tay áo, vòng tay đáp: “Đa tạ Tần Vương hậu ái! Có lời mời Trương tướng quốc!”

“Trương tướng quốc vẫn đang trên đường, chưa tới ngay được, tại hạ sẽ đi đón tướng quốc!” Doanh Hoa vòng tay, quay người, đủng đỉnh bước đi.

Bóng dáng công tử Hoa vừa khuất hẳn, trong hội lập tức ồn lên như chợ vỡ.

“Há có lý này!” Chiêu Dương đập án, quay sang Tô Tần, “tung ước trưởng, hội thề tung thân, lại có cả nước Tần, là chuyện thế nào?”

“Đúng vậy, tại sao lại có cả nước Tần nữa?” Điền Anh, Điền Văn cũng nhao nhao hùa theo hỏi.

Tô Tần khép chặt hai mắt, như đang gắng gượng kìm nén cơn kích động.

“Cha chả!” Trần Chẩn hào hứng ra mặt, xoa tay vài cái, hết cuộn tay áo vào lại vẩy tay áo ra, cười toe toét, “quả là khách quý! Tiếp đãi khách không mời, quả là một việc thú vị với tư nghi tại hạ !” Đưa mắt nhìn khắp lượt mọi người, ôm quyền nói, “chư vị đại nhân cứ đọc từ từ, tại hạ đi đón khách đã!” Rồi miệng nghêu ngao, bước chân thoăn thoắt giẫm lên bãi cỏ mà đi.

Trong những người có mặt, không muốn gặp Trương Nghi nhất chính là Chiêu Dương. Dù thế nào, năm xưa Chiêu Dương đã từng hãm hại Trương Nghi để tranh ngôi lệnh doãn, chuyện này đã trở thành nỗi ám ảnh trong lòng ông ta. Lần này tướng quốc liệt quốc tung thân hội tụ, ông ta tuyệt không ngờ được Trương Nghi sẽ không mời mà đến, bằng không, có chết ông ta cũng không tới dự.

“Tung ước trưởng,” Chiêu Dương hậm hực một hồi, cuối cùng vòng tay nói, “tướng quốc nước Tần Trương Nghi đến đây để hẹn gặp tung ước trưởng, Chiêu mỗ ở đây, sẽ phá hỏng nhã hứng, xin cáo từ trước!” Đoạn đứng dậy, cầm thẻ tre trên án lên, “thẻ này của Tô đại nhân, tại hạ xin mang về trại, thưởng thức từ từ!”

“Cũng được,” Tô Tần đứng dậy, vòng tay từ biệt, “tại hạ sẽ gặp lại đại nhân sau!”

“Khoan đã!” Điền Anh đứng dậy, vẫy tay, “Chiêu đại nhân, chúng ta cùng đi câu cá, được chứ?”

“Được, được,” Chiêu Dương đáp, “chúng ta vừa câu cá, vừa đọc sách, chẳng vui lắm ư?”

Hai người cùng nhau đi rồi, Công Tôn Diễn cũng đứng dậy, tiện tay vơ lấy cuộn thẻ tre, chìa về phía Tô Tần, rồi cứ thế đi luôn.

Lúc này, chỉ còn lại Khuất Bình, Điền Văn và ba vị phó sứ đại phu nước Hàn, đưa mắt nhìn nhau, đi cũng dở mà không đi cũng dở. Tô Tần hiểu ý họ, dặn họ hãy tiếp tục đọc sách, chờ tướng quốc nước Tần Trương Nghi tới.

Tuy nhiên, chờ mãi mà vẫn không thấy Trương Nghi đâu, sứ Tần Doanh Hoa cũng lặn mất tăm. Chừng một canh giờ sau, Trần Chẩn quay lại, lắc đầu nói với Tô Tần: “Thằng ranh Trương Nghi lại giở trò gì không biết, báo hại tại hạ chờ suốt một canh giờ bên đường toi công.”

“Chư vị bằng hữu,” Tô Tần cười gượng một tiếng, nhìn vào những người còn ở lại, “tướng quốc Tần đã tới, hội thề này không thể vội vã được. Mời chư vị hãy quay về trại, rồi tư nghi sẽ có sắp xếp!”

Mọi người bèn đứng dậy, ai về trại người nấy.

Tới tận đêm khuya, Trương Nghi chưa tới.

Tô Tần lại chờ thêm một ngày nữa, Trương Nghi vẫn chưa tới.

Đến ngày thứ ba, ba người Chiêu Dương, Điền Anh, Công Tôn Diễn từ biệt Tô Tần về nước, uỷ thác phó sứ lo chuyện minh ước.

Vào lúc này, Tô Tần cũng đã thăm dò biết được Trương Nghi đang ở trong một quán trọ tại Nghiết Tang, rõ ràng có ý chờ Tô Tần tìm tới.

Sáng ngày thứ tư, Trâu Phi Đao đánh xe đưa Tô Tần tới quán trọ ở Nghiết Tang, trình lên bái thiếp, được công tử Hoa dẫn vào phòng khách.

Vừa tới phòng khách, công tử Hoa đã quay ra ngay. Đây là một khu khách xá yên tĩnh, vắng tanh vắng ngắt, không một bóng người. Dù là Trâu Phi Đao cũng không được phép đứng canh trước cửa như thường lệ, mà bị công tử Hoa lịch thiệp mời sang khu nhà bên cạnh.

Toàn bộ khu khách xá rộng lớn này, chỉ còn lại hai người, Tô Tần và Trương Nghi.

Phòng khách trống trải, chỉ có hai chiếc án, một trái một phải, bày ở giữa phòng.

Trương Nghi ngồi ngay ngắn trước án bên trái, lặng im phăng phắc, hệt như pho tượng.

Nhìn chiếc án bên phải, Tô Tần biết là để dành cho mình. Bên phải là bề trên, là chủ nhân, nhưng Trương Nghi lại không phân chủ khách, để dành chiếu chủ cho mình, tức vẫn coi hắn là huynh.

Tô Tần bước lại, nghiêm trang ngồi xuống.

Trương Nghi nhìn sang, ánh mắt xoáy thẳng vào Tô Tần. Tô Tần cũng đưa mắt nhìn lại. Bốn luồng nhãn quang va chạm, nhưng không toé lửa, cũng không lảng tránh, mà giống như hai bàn tay cùng chìa ra, chầm chậm đặt lên nhau, để yên ở đó. Hai trái tim nối liền bởi ánh mắt, cảm nhận về cảm nhận của nhau.

Một khắc trôi qua.

Hai khắc trôi qua. Ba khắc trôi qua.

Cả Tô Tần và Trương Nghi, vẫn ngồi nghiêm trang ngay ngắn, không hề nhúc nhích, như thể vẫn đang luyện công phu tĩnh tư giữa núi rừng Quỷ Cốc cùng với đại sư huynh. Chỉ khác ở chỗ, hai người lúc này đều mở mắt, con ngươi nhìn chăm chú, tâm thần giao tiếp cùng nhau.

Chừng qua khắc thứ tư, Tô Tần thu ánh mắt lại trước, vòng tay.

Trương Nghi cũng vòng tay đáp lễ.

Tô Tần lên tiếng: “Tần ở trong trướng đợi Nghi đệ đã ba ngày.”

Trương Nghi nói: “Nghi cũng vậy.”

Tô Tần nói: “Không ngờ Nghi đệ lại tới Nghiết Tang.”

Trương Nghi nói: “Không ngờ Tô huynh lại mở đại hội tại đây.”

Tô Tần khẽ cười: “Không nói chuyện trước mắt nữa, hãy nói chuyện đã qua.”

Trương Nghi cũng cười: “Nghi đệ cung kính lắng nghe.”

Tô Tần nói: “Cho một bình rượu, được chứ?”

Trương Nghi vỗ tay ba cái.

Hai người hầu gái từ bên ngoài bước vào, bưng theo giỏ đựng thức ăn, mỗi người một bên, mở giỏ, lấy ra một bình rượu, hai món ăn và ba cái chén. Tô Tần liếc nhìn, thấy thức ăn và chén rượu gần như giống hệt với hồi còn trong Quỷ Cốc.

Hai hầu gái bày biện rượu và thức ăn xong, chầm chậm lui ra. Không gian lại chìm vào tĩnh lặng.

Tô Tần nhìn xuống án, cảm khái mà rằng: “Những gì tại hạ nghĩ, Nghi đệ cũng đều nghĩ đến cả rồi.”

Trương Nghi khẽ cười một tiếng: “Cũng có lúc không thể nghĩ ra.” Đoạn xua tay, nhấc bình, ra hiệu rót rượu.

Hai người đều rót đầy ba chén rượu ở trước mặt, mỗi bên trái phải bày một chén.

Tô Tần bưng chén rượu bên trái lên: “Trước hết hãy kính Bàng huynh!”

Trương Nghi gật đầu, cầm chén. Hai người cùng nâng chén, vòng tay, rồi đồng thời hất rượu xuống nền đất trước án, lại cùng ném chén rỗng xuống.

Trương Nghi nhìn thẳng vào Tô Tần: “Nói đi, là chuyện đã qua gì thế?”

Tô Tần nhìn hai cái chén không dưới đất: “Chuyện của Bàng huynh.”

Rồi Tô Tần bắt đầu kể về trận chiến cuối cùng, về tình cảnh của quân Tề sau khi lương thảo bị thiêu rụi, về tâm trạng tuyệt vọng của mình và Điền Kỵ lúc đó, về việc Tôn Tẫn bất đắc dĩ phải bày trận trên đường Mã Lăng, về chuyện mình và Tôn Tẫn đợi ở cuối đường Mã Lăng chờ Bàng Quyên xuất hiện, và chuyện Bàng Quyên tự vẫn...

Tô Tần nhìn vào chén rượu bên phải, lại kể chuyện Tôn Tẫn đã đau khổ thế nào sau khi Bàng Quyên tự sát, rồi chuyện Tôn Tẫn bỏ đi, rồi chuyện mình đuổi theo Tôn Tẫn, lại chờ suốt bảy ngày bên bờ biển mong Tôn Tẫn quay về, và hai bộ binh thư Tôn Tẫn để lại cho Khuông Chương...

Tô Tần giọng nói điềm đạm, rất mực chân tình. Trương Nghi nước mắt giàn giụa, lặng lẽ tuôn rơi.

Tô Tần dịch chuyển ánh mắt tới chén rượu chính giữa, nâng lên, chìa về phía Trương Nghi: “Hiền đệ, chén này là của hai ta, hãy cạn!”

Trương Nghi cũng nâng chén rượu ở giữa lên, hai bên cùng thi lễ, cùng uống cạn, lại nâng bình rót đầy.

“Sau khi sáu nước hợp tung,” Tô Tần chậm rãi nói tiếp, “liệt quốc tung thân không hiểu ý tại hạ, không nghe lời tại hạ, tìm cách đẩy tại hạ đi, quyết ý phạt Tần, đến nỗi thất bại mà tan vỡ. Tại hạ không còn cách nào, đành quay về Triệu, khi ngang qua cửa Túc Tư, trong lúc chán nản, chợt nhớ tới tiên sinh, bèn quay về núi thăm thầy, thỉnh cầu tiên sinh chỉ điểm bến mê. Tiên sinh không chịu gặp mặt, nhưng ban cho một túi gấm, uỷ thác đại sư huynh giao cho tại hạ.” Lần trong ngực áo, lấy ra một túi gấm, “đây là lời dạy của tiên sinh, tại hạ không dám giữ riêng, kính mời hiền đệ cùng đọc!” Rồi từ từ đứng dậy, bước tới trước mặt Trương Nghi, hai tay đưa lại.

Trương Nghi hai tay đón lấy, đặt xuống án, vái tạ tiên sinh, rồi mới mở túi lấy ra mảnh lụa.

Đúng vậy, chính là nét chữ của tiên sinh. Trương Nghi đọc xong, áp lên trước ngực, lẩm nhẩm vài câu, rồi gấp mảnh lụa lại, cất vào túi gấm như cũ, đưa trả Tô Tần.

“Dám hỏi hiền đệ,” Tô Tần cất lại túi gấm, trở về chỗ ngồi, nhìn Trương Nghi chăm chú, “lời tiên sinh chỉ bảo, hẳn là đã hiểu?”

Trương Nghi nhìn Tô Tần: “Tô huynh nghiền ngẫm nhiều năm, hẳn đã có điều lĩnh ngộ, tại hạ ngu độn, vẫn xin Tô huynh chỉ giáo!”

“Chỉ giáo thì không dám!” Tô Tần khẽ cười, “có điều, hiền đệ nói đúng, quả thực là tại hạ khổ sở nghiền ngẫm nhiều năm.”

“Đã có cảm ngộ gì?”

“Ba câu đầu khá dễ giải thích, duy chỉ câu cuối, công tư tư công, tại hạ mãi không hiểu được, thỉnh giáo khắp nơi, cho tới vài tháng trước, nhờ một kỳ nhân Tắc Hạ chỉ giáo, mới có điều vỡ lẽ!”

“Ồ?” Trương Nghi khẽ ngả người về phía trước, “là kỳ nhân nào vậy?”

“Dương Tử.”

“Là Dương Chu một sợi lông cũng không nhổ đó ư?” Trương Nghi lấy làm phấn chấn.

“Chính phải.” Tô Tần khẽ cười đáp.

“Ông ta còn sống?” Trương Nghi hai mắt sáng rực.

“Phải.” Tô Tần gật đầu, “tại hạ suýt nữa còn bị Dương Tử thả chó ra cắn!” Rồi rót một chén rượu, một hơi uống cạn, đoạn chậm rãi kể lại những chuyện ở Tắc Hạ, rằng đã thỉnh giáo Mạnh Tử thế nào, thỉnh giáo Hứa Tử Nông gia ra sao, rồi gặp Dương Tử, bị Dương Tử chê trách, nói chuyện nhổ lông dê, nhổ lông chó, rồi theo Dương Tử đi chăn dê, lắng nghe giáo huấn ra sao. Cứ thế kể lại chi tiết từng chuyện, Trương Nghi nghe mà hai mắt trợn tròn, hận không thể một bước tới ngay Lâm Truy để tìm gặp Dương Tử.

“Nghi đệ,” kể xong chuyện Dương Tử, Tô Tần lại quay về việc chính, “nhờ có Dương Tử chỉ giáo, tại hạ coi như đã ít nhiều hiểu được lời dạy của tiên sinh.”

“Tiên sinh dạy thế nào?”

“Lời dạy của tiên sinh, tổng cộng bốn câu, ‘tung hoành thành cục, giữ lấy điều trung, thiên hạ đại ngã, công tư tư công’. ‘Tung hoành thành cục’, tức là việc mà hiền đệ và ta nên làm; ‘giữ lấy điều trung’ là đức mà hiền đệ và ta nên có; ‘thiên hạ đại ngã’ là phương hướng mà hiền đệ và ta nên theo; còn câu cuối cùng, ‘công tư tư công’, chính là con đường để đạt được ‘thiên hạ đại ngã’ mà tiên sinh đã chỉ ra!” Tô Tần chậm rãi giải thích.

Trương Nghi khép mắt một lát, rồi hỏi: “Theo cảm ngộ của Tô huynh, con đường này phải làm thế nào mới đạt được?”

“Thiên hạ đại ngã, là thế giới đại đồng.” Tô Tần giải thích, “khi loài người mới xuất hiện, tính tình chất phác, chung vợ chung con, thiên hạ là công, gọi là đại đồng. Sau đó có nhà, tư dục sinh ra, trời ban vương quyền, vợ con hưởng phúc, thiên hạ mới có phân tranh. Tuy nhiên, một khi tư dục như dòng nước lũ chảy xuống khe sâu, càng chảy càng xói rộng, càng rộng càng chảy xiết, đến nỗi tràn trề thành tai hoạ, mới hình thành thế cục đại tranh ngày nay.”

“Ý Tô huynh là, mục tiêu cuối cùng, là quay trở về công?” Trương Nghi nheo mắt hỏi.

“Chính phải.” Tô Tần gật đầu, “thiên hạ đại ngã mà tiên sinh nói đến, chính là thiên hạ là công.” Hai mắt bỗng sáng rực, “Dương Tử nói đúng, người trong thiên hạ hầu như ai cũng mưu tư, tư tư là công. Nếu người trong thiên hạ đều cùng chăm lo cho cái tư của mình, thì cái lợi có được từ đó, cả thiên hạ sẽ cùng được hưởng. Không ai tổn thất một sợi lông, cũng không ai tham lam một sợi lông, vậy thì thiên hạ sẽ trở thành đại công!”

“Vậy tại hạ muốn biết, Tô huynh sẽ làm thế nào để khiến cho người trong thiên hạ cùng hưởng được cái lợi do người trong thiên hạ chăm lo cho cái tư của mình?”

“Cộng sinh.”

“Cộng sinh?” Trương Nghi càng nheo tít đôi mắt.

“Cộng sinh, tức cùng nhau sinh tồn. Tấc có sở trường, thước có sở đoản. Mọi người lấy sở trường của mình bù đắp cho sở đoản của người khác; lấy sở trường của người khác bù đắp cho sở đoản của mình; cùng nhau mưu sinh, tôn kính lẫn nhau, công bằng bình đẳng, tương thân tương trợ, hợp tác cùng nhau...” Tô Tần thao thao một mạch về đạo cộng sinh mà mình đã lĩnh ngộ được.

Hai mắt Trương Nghi đã khép lại hoàn toàn, đôi mày chau tít.

Tô Tần thấy vậy, thì im lặng không nói nữa.

Trương Nghi hồi lâu vẫn không mở mắt, rõ ràng đang mải suy ngẫm về cảm ngộ của Tô Tần.

Tô Tần không quấy rầy Trương Nghi nữa, cũng hai mắt khép hờ, chờ Trương Nghi phản ứng.

Không biết đã bao lâu trôi qua, Trương Nghi từ từ hé mắt, thấy Tô Tần vẫn nhắm mắt ngồi đó, thì khẽ đặng hắng một tiếng, quay ra phía cửa gọi: “Người đâu!”

Hai người hầu gái nghe tiếng bước vào, đã thay y phục, một người áo đen, một người áo trắng.

“Bày cờ!”

Hai người bèn khiêng một bàn cờ vào, bày ở giữa hai chiếc án của Tô Tần và Trương Nghi. Tô Tần ngước mắt nhìn, bàn cờ này giống hệt như bàn cờ mà Quỷ Cốc tiên sinh đã bày trước khi họ xuống núi, ba chân, mặt tròn, bàn cờ hình vuông, ngang dọc đều mười chín đường, nối với vòng tròn sáu mươi tư quẻ. Hiển nhiên, là Trương Nghi đã cho chế tạo theo trí nhớ.

Hai hầu gái bày xong bàn cờ, mỗi người cầm một hộp cờ, quỳ xuống ngay ngắn, một người quay lưng ra cửa, một người quay lưng vào trong, cùng Tô Tần và Trương Nghi ở hai bên trái phải, vừa hay tạo thành một hình vuông.

Bàn cờ trống trơn, không có một quân.

“Bày cục!” Trương Nghi lại hô to một tiếng.

Cô hầu gái áo trắng đi nước đầu tiên, xếp liền sáu quân trắng ở sáu vị trí trọng yếu trên bàn cờ, lúc này cô hầu gái áo đen mới đặt xuống một quân đen tại mé phía tây.

Hiển nhiên, đây là một thế cờ đã đã đi xong, hai cô hầu chỉ bày lại theo thế cục có sẵn.

Tô Tần bừng hiểu, thế cờ vừa mới bày ra, kỳ thực chính là cuộc chiến tung hoành giữa mình và Trương Nghi.

Sáu trắng một đen là thế. Sau khi bày thế xong, cô gái áo trắng tập hợp thế của sáu quân cờ trắng, tiếp tục bày quân trắng tấn công vào quân đen duy nhất. Cô gái áo đen cũng xuất quân đen chống cự, ngụ ý cuộc chiến sáu nước phạt Tần tại Hàm Cốc. Cô gái áo trắng thêm quân ở phía sau, ngụ ý Tô Tần hoá giải tranh chấp Yên, Tề; cô gái áo đen thêm quân ở bên cạnh, ngụ ý Tần chinh phạt Ba Thục. Cô gái áo trắng lại thêm quân ở phía sau, ngụ ý Yên, Tề lại sinh xích mích; cô gái áo đen tấn công vào một góc của quân trắng, ngụ ý Tần Vương gả con gái cho Yên, khuấy đảo đại bản doanh quân trắng. Cô gái áo trắng xuất quân ứng chiến, liên kết Tề, Triệu trấn áp Yên. Hai bên sát phạt vài hiệp, quân đen khó khăn lắm mới có được sinh khí, tạo thành thế, trong khi quân trắng bố trí phòng ngự tầng tầng, triệt tiêu thế bên ngoài, ngụ ý Tần vào Yên thành công, nhưng bị cản trở bởi ngoại lực từ Tề, Triệu phía Tô Tần. Cô gái áo đen lại dựa vào thế quân đen ở mé tây để tấn công vào giữa bàn, ngụ ý Trương Nghi trợ giúp nước Ngụy; cô gái áo trắng bao vây nghênh chiến, sát phạt vài phen, ngụ ý Ngụy chinh phạt Triệu, Ngụy thảo phạt Hàn, cùng các trận Quế Lăng, Mã Lăng, rồng lớn quân đen mất khí nghiêm trọng, rơi vào thế nguy. Cô gái áo đen quyết liều một phen, dốc quân tấn công vào hậu phương trận quân trắng, ngụ ý Tần phạt Tề; quân trắng ứng chiến, bao vây tận diệt quân đen.

Hai cô hầu gái bày cờ tới đây thì dừng cả lại, nhìn sang Trương Nghi.

Nhìn vào cục diện hiện tại, con rồng của quân đen, hoặc bị cắt rời, hoặc bị diệt mất quân, hoặc bị bao vây mất khí, căn bản đã vào thế bại; ngược lại, nhìn vào quân trắng, phủ kín khắp bàn, khí thế hừng hực.

Trương Nghi phẩy tay, hai hầu gái bèn vái mà lui ra.

Ánh mắt Trương Nghi chậm rãi dịch chuyển tới Tô Tần: “Tô huynh, con đường để đạt đến ‘thiên hạ đại ngã’ như tiên sinh nói, nếu đã là ‘tung hoành thành cục’, vậy thì sẽ phải bắt đầu từ bàn cờ này. Cái đức cộng sinh mà Tô huynh nói, nếu đã là ‘giữ lấy điều trung’, vậy thì cũng cần thực hiện trong đấu cờ.” Chỉ vào bàn cờ, “Tô huynh nước hay liên tiếp, nay đã nắm chắc thế thắng; tại hạ thất bại khắp nơi, chỉ còn một góc cầm cự. Tuy nhiên, cái đạo đấu cờ, thiên biến vạn hoá, giữa hai chúng ta, vẫn chưa tới hồi kết, phải không?”

“Nghi đệ?” Trong lòng Tô Tần bỗng trào dâng một nỗi kinh hãi và bi thương vô cùng tận, bởi lẽ đây là những lời Tô Tần không muốn nghe thấy nhất, và cũng cố sức né tránh để khỏi phải nghe thấy nhất.

Trương Nghi chìa tay, khẽ cười một tiếng: “Tô huynh, mời hạ cờ!”

Tô Tần rút từ trong ống tay áo ra một tấm thẻ tre, đứng dậy, bước tới trước mặt Trương Nghi, đưa cho hắn: “Vật này là của Tôn huynh để lại cho Nghi đệ, mong Nghi đệ giữ lấy!” Rồi quay về chỗ.

Trương Nghi cầm lên đọc, nước mắt chợt ứa ra. Trương Nghi gạt lệ cất tấm thẻ tre của Tôn Tẫn vào trong tay áo, rồi lại đưa tay mời: “Tô huynh, xin hãy hạ cờ!”

Tô Tần buộc phải đưa ra chiêu bài cuối cùng, lại lấy từ trong tay áo ra một cuốn Thương Quân thư, giọng đầy ẩn ý: “Nghi đệ, nếu thiên hạ đi theo con đường của sách này, chắc chắn sẽ dẫn tới cảnh máu chảy trôi chày, dân chúng lầm than khổ nạn!”

Trương Nghi cũng rút từ trong ống tay áo ra cuốn Thương Quân thư của mình, trải lên mặt án: “Hồi trong sơn cốc, tiên sinh từng nói, vạn vật đều sinh ra ở đạo, cũng kết thúc ở đạo. Đạo chính là âm dương xoay vần, sống chết luân phiên, không có chết thì không có sống, không có sống thì không có chết, đúng không? Tô huynh, xin hãy hạ cờ.”

“Than ôi,” Tô Tần thở dài, “Nghi đệ không quản nghìn dặm xa xôi tới đây, chính là để bày ra thế cờ này cho tại hạ ư?”

“Đúng vậy.” Trương Nghi ngữ khí trịnh trọng, “tung hoành thành cục là do tiên sinh chỉ ra, Nghi không dám trái! Hơn nữa, cách cục này chính là Tô huynh khai cục, tại hạ sang Tần, cũng là do một nước cờ của Tô huynh. Từ đầu tới cuối, tại hạ chẳng qua chỉ biết ứng phó, chỉ chơi hầu Tô huynh mà thôi. Tại hạ khó khăn lắm mới đánh đến chỗ hào hứng, sao lại bỏ ngang được? Người hiểu Tô huynh, không ai hơn tại hạ. Tô huynh hành sự, xưa nay đều có thuỷ có chung, giờ cờ đã đánh tới giữa bàn, sao lại có thể tùy tiện nói là bỏ cuộc? Hai chúng ta, đã là quân cờ tung hoành của tiên sinh, cớ sao lại không đánh tiếp, để chứng kiến chung cục huy hoàng?”

“Nghi đệ,” Tô Tần giọng khẩn thiết, “không phải tại hạ bỏ cuộc, mà là muốn bàn cùng Nghi đệ...”

“Nếu đã là đánh cờ, thì không cần bàn!” Trương Nghi lại chìa tay, chỉ vào bàn cờ, ánh mắt như đuốc, thế như cầu vồng, giọng dứt khoát, “Tô huynh, mời xuất quân!”

A black and white logo Description automatically generated

YÊN DỊCH VƯƠNG PHẾ LẬP SINH LOẠNTUNG ƯỚC TRƯỞNG BÔN TẨU LO TOAN

Tâm ý bao năm của Tô Tần, chỉ một thế cờ của Trương Nghi, đã tan vỡ hoàn toàn.

Hiển nhiên, Trương Nghi không muốn nghe Tô Tần giải thích, không muốn bàn luận cùng Tô Tần. Điều Trương Nghi quan tâm, chính là kết cục của ván cờ tung hoành, trong khi đó lại chính là điều Tô Tần muốn tránh.

Trong mắt Tô Tần, bất kể là tung hay hoành, không có kết cục, có lẽ chính là kết cục tốt đẹp nhất.

Buồn bã quay trở về trại, Tô Tần ngồi ngay ngắn trước án, nhắm mắt suy tư.

Suy nghĩ hồi lâu, trong lòng Tô Tần từ từ sáng tỏ. Đúng vậy, ngay từ lúc họ xuống núi, tiên sinh đã bày ra cho họ một ván cờ. Thiên hạ như bàn cờ, trị thiên hạ, đương nhiên cũng giống như đánh cờ. Đạo cờ có dọc có ngang, đạo trời có tung có hoành, đạo người cũng có tung có hoành, tất cả đều là thế cờ. Người bày cờ là tiên sinh, Tô Tần và Trương Nghi, đều là bàn tay cầm quân của tiên sinh, vì ván cờ này mới quen biết nhau, vì ván cờ này mới lên núi, càng vì ván cờ này mới xuống núi.

Là tiên sinh muốn đánh ván cờ này ư?

Đương nhiên cũng không phải, vì chí của tiên sinh không ở đánh cờ. Chí của tiên sinh, ở trời đất, ở ngộ đạo. Đối với tiên sinh, ván cờ của thế tục, là bất đắc dĩ phải đánh mà thôi.

Nghĩ tới Khổng Tử, Mạnh Tử, nghĩ tới Lão Tử, Trang Tử, nghĩ tới Thương Quân, nghĩ tới Mặc Tử, Tùy Sào Tử, nghĩ tới Dương Tử, Tâm Đô Tử, nghĩ tới Huệ Tử, Công Tôn Tử, nghĩ tới Hứa Hành, Trần Tương, nghĩ tới đông đảo các tiên sinh đủ mọi môn phái cùng vô số học tử trong Tắc Hạ, tâm tư Tô Tần mỗi lúc càng thêm sáng tỏ.

Đúng vậy, tất cả mọi người, bất kể là thánh hay hiền, trước tiên đều phải sống trong trần thế, trước tiên đều phải đối mặt với trị và loạn. Từ khi U Vương thất đạo, Bình Vương dời đô sang đông, thiên hạ chiến loạn không ngừng. Trị loạn thế nào, các lộ hiền tài đã dốc kiệt tài năng, phô bày thao lược, tuy nhiên, thế đạo không những không thấy tốt đẹp lên, mà lại càng trị càng loạn. Tiên sinh ngộ ra đạo trời, mới chỉ dẫn “tung hoành thành cục”, chọn Tô Tần và Trương Nghi bày cục tung hoành, dẫn dắt chúng sinh, cân bằng thế lực, đạt tới cộng sinh. Thế nhưng, đúng như Trương Nghi đã nói, tung và hoành đã là hai đối thủ trong cuộc cờ, thì sao Tô Tần có thể bàn mưu cùng đối thủ? Nếu tung hoành có thể bàn mưu, thì có khác nào đạo trời có thể sắp đặt? Nếu đạo trời có thể sắp đặt, thì tự nhiên sao có thể thực thi phép tắc được nữa?

Bên tai Tô Tần lại vẳng lên lời nói của Trương Nghi: “Cách cục này chính là Tô huynh khai cục, tại hạ sang Tần, cũng là do một nước cờ của Tô huynh. Từ đầu tới cuối, tại hạ chẳng qua chỉ biết ứng phó, chỉ chơi hầu Tô huynh mà thôi. Tại hạ khó khăn lắm mới đánh đến chỗ hào hứng, sao lại bỏ ngang được? Hai chúng ta, đã là quân cờ tung hoành của tiên sinh, cớ sao lại không đánh tiếp, để chứng kiến chung cục huy hoàng?”

Nhớ tới Bàng Quyên đã chết, nhớ tới Tôn Tẫn đã bỏ đi, Tô Tần lại thấy tâm can quặn thắt. Tô Tần quỳ xuống, quay sang bốn phía hành đại lễ ba lạy chín dập đầu rồi trịnh trọng thề rằng: “Trời đất chứng giám, thần linh bốn phương xin hãy lắng nghe, nếu có một ngày, giữa Tần và Nghi đệ buộc phải có một người ôm nỗi khổ thất bại, chịu nỗi đau chết chóc, thì người đó, sẽ là Tô Tần!”

Tô Tần thề xong, tâm tư đã nhẹ nhõm hơn nhiều, bất chợt thấy đói, đang định gọi người mang đồ ăn, bỗng nghe bên ngoài có tiếng bước chân tiến lại, sau đó là tiếng bước chân của Trâu Phi Đao ra đón.

Lát sau, Trâu Phi Đao quay lại, đứng bên ngoài khẽ giọng bẩm báo: “Chúa công, sứ Sở Khuất Bình cầu kiến!”

“Có lời mời sứ Sở!” Lời vừa dứt, Tô Tần đứng bật ngay dậy, sải bước ra cửa trại, dặn dò Trâu Phi Đao chuẩn bị rượu thịt, muốn được uống cùng Khuất Bình.

Hai bên hành lễ xong xuôi, Khuất Bình truyền lại khẩu dụ của Sở Hoài Vương, chủ yếu là cảm tạ, cùng những câu từ văn vẻ, như hợp tung chế Tần là kế sách lâu dài của Sở, bất luận thiên hạ thay đổi ra sao, nước Sở vẫn giữ vững minh ước hợp tung vân vân.

Tô Tần vòng tay cảm tạ Hoài Vương, rồi nhìn Khuất Bình chăm chú. Mấy ngày qua, người Tô Tần muốn gặp nhất chính là Khuất Bình, không chỉ bởi mấy năm trước Khuất Bình đã theo hắn hợp tung, giúp hắn soạn minh ước tung thân, hai người sớm đã kết tình thâm giao, mà hơn nữa, là vì nước Sở và tương lai của đại nghiệp tung thân.

Khuất Bình cũng vậy, mấy hôm trước đã muốn tới bái kiến, nhưng ngặt vì còn có Chiêu Dương, là tùy tùng, Khuất Bình không thể qua mặt Chiêu Dương để tỏ ra thân thiết với tung ước trưởng. Hơn nữa, Hoài Vương cho Khuất Bình đến dự hội tung thân, thực chất cũng là để chế ngự Chiêu Dương. Là cận thần thân tín của Hoài Vương, Khuất Bình hiểu rõ Hoài Vương và Chiêu Dương thiếu tin tưởng lẫn nhau. Hôm qua Chiêu Dương quay về, để Khuất Bình ở lại bàn chuyện minh ước với Tề, Khuất Bình mới có thời gian tới bái kiến Tô Tần. Từ sáng tới giờ, trước khi Tô Tần trở về, Khuất Bình đã tới tìm những ba lần.

“Khuất Tử, hãy nói chuyện nước Sở.” Sau vài câu hàn huyên, Tô Tần vào ngay chuyện chính, “về nước Sở, không ai hiểu rõ hơn Khuất Tử!”

“Tạ ơn đại nhân tưởng nhớ!” Khuất Bình vòng tay, sắc mặt đầy hưng phấn, “sau trận chiến Tang Khâu, nước Sở trong triều ngoài nội đều vô cùng phấn chấn, nhất là đại vương, lúc nào cũng tâm niệm chuyện thu hồi Thương Ư. Lệnh doãn đại nhân cũng toàn lực ủng hộ. Nếu thu hồi được Thương Ư, chính là đại chiến với Tần, nước Sở sẽ phải dốc toàn lực. Đại nhân lần này khiến sáu nước hợp tung lần nữa, phía bắc không còn mối lo Ngụy, Hàn, lại có được Tề làm hậu thuẫn, đại vương lấy làm vui sướng, năm lần bảy lượt căn dặn tại hạ, nhất định phải kết thành minh ước với Tề.”

“Khuất Tử,” Tô Tần nhìn thẳng vào Khuất Bình, “nếu Sở khai chiến với Tần, theo ý Khuất Tử, nước Sở có thắng được chăng?”

“Được!” Khuất Bình quả quyết.

“Khuất Tử nói xem, dựa vào đâu mà thắng?”

“Có ba nguyên do,” Khuất Bình dõng dạc, “thứ nhất, nước Tần đánh lén Thương Ư, người Sở đều cho đó là quốc nhục, thu hồi đất cũ, là tâm nguyện chung của người Sở; thứ hai, từ cuộc chiến Tang Khâu, có thể thấy người Tần không phải không thể thắng; thứ ba, Tề Sở kết minh, sáu nước lại hợp tung, người Sở không còn lo lắng sau lưng, có thể dốc toàn lực đánh Tần, mà nước Sở bất luận về nhân lực hay tài lực, đều gấp bội nước Tần!”

“Than ôi!” Tô Tần khẽ thở dài.

“Tô đại nhân?” Khuất Bình ngạc nhiên, “đại nhân không tin người Sở?”

“Không phải không tin, mà là Khuất Tử không hiểu người Tần, cũng không hiểu trận Tang Khâu!”

“Ồ...” Khuất Bình sửng sốt, ánh mắt khẩn thiết chờ đợi lời giải thích.

“Thế này,” Tô Tần trầm ngâm một lát, nhìn sang Khuất Bình, “có một tử tù bỏ trốn, bị mười tên lính bao vây. Nếu kẻ đào vong này bị bắt, chỉ còn đường chết. Trong khi mười tên lính, ai nấy đều cuộc sống đủ đầy, đèo bòng vợ con, giữa họ còn có chuyện bất hoà. Nay hai bên gặp nhau, kẻ bỏ trốn trong tay có dao sắc, Khuất Tử cho rằng ai thắng?”

Khuất Bình cụt hứng, nhưng sắc mặt vẫn không phục.

“Lại nữa,” Tô Tần chìa hai tay ra, một tay xoè rộng, năm ngón toẽ ra, một tay nắm chặt thành nắm đấm, “theo Khuất Tử, bàn tay và nắm đấm nếu va chạm nhau, bên nào sẽ thắng?”

Khuất Bình hít sâu vào một hơi, đôi mày chau tít.

“Vừa nãy nhắc tới trận Tang Khâu, Khuất Tử hẳn có biết, nước Tần bại ở đâu, còn nước Tề thắng ở đâu?”

“Nguyên không biết, xin Tô đại nhân chỉ giáo!” Khuất Bình vòng tay nói. Nguyên chính là tên tự của Khuất Bình.

“Tại hạ đích thân trải qua trận chiến này,” Tô Tần khẽ nheo mắt, hồi ức như quay ngược trở lại với cảnh chiến trường, “nước Tần bại là bởi không dám đánh, nước Tề thắng là nhờ mưu kế. Nếu nước Tần vừa đến đã đánh, không giằng co với người Tề quá lâu, thì dù có mưu kế, cũng không cứu nổi người Tề!” Dừng lại một chốc, nhắm mắt lại như đang suy tưởng, “dù là Quế Lăng, hay là Mã Lăng, nước Tề đều không thắng bằng sức, mà là thắng nhờ Tôn Tẫn!” Hơi hé mắt, nhìn sang Khuất Bình, “Khuất Tử nói xem, nước Sở có ai?”

“Có Điền Kỵ!” Khuất Bình sực nhớ tới Điền Kỵ, phấn chấn reo lên, “Nguyên quay về sẽ khuyên đại vương trọng dụng Điền Kỵ!”

“Điền Kỵ già rồi, lại chưa quen thuỷ thổ của Sở! Hơn nữa, nói về mưu kế, Điền Kỵ còn xa mới là đối thủ của Trương Nghi!”

‘Ý đại nhân là, Trương Nghi sẽ sang Sở?”

“Nước cờ tiếp theo của Trương Nghi, chắc chắn là Sở!” Tô Tần dừng lại, nhìn sang Khuất Bình, “cuốn Thương Quân thư đưa cho Khuất Tử mấy hôm trước, Khuất Tử hẳn đã đọc xong. Biến pháp của người Tần, mục đích chỉ để nhất dân, nhất dân chỉ để cày ruộng và đánh trận; cày ruộng và đánh trận, chỉ để sát lực. Dù là Tam Tấn hay nước Tề, đều bị hại bởi kế liên hoành của Trương Nghi, khốn đốn nhiều năm, mệt mỏi rã rời. Trong mắt Trương Nghi, nước duy nhất có thể ngăn cản đại nghiệp nhất thống của Tần, chỉ còn lại Sở, nên ắt sẽ mưu Sở!”

“Theo ý Tô Tử, nên ứng phó thế nào?” Khuất Bình vội hỏi.

“Nước Sở tuy lớn, song bốn phía chia năm xẻ bảy, khác nào bàn tay xoè năm ngón. Còn nước Tần, sau biến pháp của Thương Quân, đã biến thành một nắm đấm sắt. Dùng nắm đấm sắt chọi với bàn tay xoè, nước Sở ắt bại. Nếu muốn chống Tần, Sở có thể thực thi ba kế sách. Thứ nhất là biến pháp, cải cách chế độ, biến bàn tay thành nắm đấm; thứ hai là kiên trì hợp tung, kết minh với Tề, trợ giúp lẫn nhau; thứ ba là dùng người hiền tài, chỉnh đốn quân đội, sẵn sàng nghênh chiến!” Hiển nhiên, Tô Tần sớm đã suy nghĩ thấu đáo về chuyện nước Sở.

“Nguyên xin ghi nhớ!” Khuất Bình trịnh trọng gật đầu, lại nhìn thẳng vào Tô Tần, “Nguyên đã đọc kỹ Thương Quân thư, sách này chắc chắn không thể thi hành ở Sở. Nếu Sở thực thi biến pháp, Tô đại nhân hẳn có kế hay?”

“Khuất Tử có thể làm theo pháp của Ngô Tử.” Tô Tần lập tức đáp ngay, “Ngô Khởi ở Ngụy nhiều năm, am hiểu Ngụy pháp. Sau khi rời Ngụy sang Sở, lại dựa theo tình hình nước Sở mà cải cách Ngụy pháp, biến pháp ở Sở, khiến Sở đại trị. Tiếc là Điệu Vương băng hà quá sớm, Ngô Khởi sắp thành lại bại, pháp của Ngô Tử cũng bị vứt bỏ. Khuất Tử nếu có lòng, có thể nghiên cứu pháp của Ngô Tử, dựa theo tình hình của Sở mà bỏ cũ theo mới, gạn đục khơi trong, dốc lòng cải chế, vừa có lợi cho Sở, cũng có lợi cho thiên hạ.”

Khuất Bình ôm quyền cảm tạ.

Lúc này, Trâu Phi Đao dọn bàn rượu lên, Tô Tần bèn sai đi mời Điền Văn, ba người cùng uống. Sau khi bàn kỹ về minh ước Tề Sở, cũng như trình tự thực thi, Tô Tần lại nói đến nguyện vọng thực thi “thiên hạ cộng sinh” sau khi tung thân thành công. Ba người bàn luận say sưa, vô cùng hào hứng, cho đến khi lời tận ý, rượu tận hứng mới thôi.

Sáng sớm hôm sau, Khuất Bình sao chép bản minh ước năm nước thành sáu bản, đóng ấn tướng quốc do Chiêu Dương, Điền Anh, Công Tôn Diễn để lại. Tô Tần cũng đóng ấn tướng quốc hai nước Ngụy, Triệu lên. Sau đó lại sao bản minh ước hoà mục giữa Tề, Sở thành ba bản, cũng đóng ấn tỷ, chia ra bảo quản. Hai bản minh ước, Tô Tần giữ lại mỗi thứ một bản, giao cho Trâu Phi Đao cất giữ.

Minh ước lập xong, sứ thần liệt quốc thảy đều vui vẻ, cùng lên đường trở về.

Tô Tần quay lại Đại Lương, đem tình hình hội thề Nghiết Tang tâu lên Ngụy Tương Vương, lại chuẩn bị chu đáo việc phòng thủ người Tần suốt tuyến Hà Tây và Hào Sơn, sau đó mới từ chức tướng quốc Ngụy, đánh xe tới Hàm Đan.

Thoạt tiên, Sư Lý Tật đi cùng Trương Nghi, công tử Hoa rời khỏi Hàm Dương.

Khi ra khỏi biên giới Hàn, Sư Lý Tật chia tay Trương Nghi, đám Trương Nghi thẳng đường tới Nghiết Tang, còn Sư Lý Tật đi lên phía bắc, qua Triệu, Trung Sơn, tới thẳng kinh đô Kế Thành nước Yên.

Sau khi Trương Nghi bất lợi ở Ngụy, nước Yên đã trở thành quân đen duy nhất mà nước Tần có thể đưa vào trung tâm của tung thân. Sư Lý Tật hiểu rõ nhiệm vụ nặng nề, không chỉ phải làm sống lại quân cờ nước Yên, mà quan trọng hơn nữa, cần phải mở rộng thành quả, khiến cho quân cờ đen này biến thành một mũi đinh cắm thẳng vào hậu phương của trận quân trắng. Nước Yên tuy yếu, song phía bắc nước Yên là người Hồ, đất đai rộng lớn, nhiều ngựa chiến, không chỉ có vậy, người Yên cũng nhiễm sát khí của người Hồ đất bắc, sức chiến đấu không thể xem thường. Chí ít, có người Yên ở bên, Tề, Triệu không thể không kiêng dè.

Yên Dịch Vương tuy lập gái Tần làm vương hậu, nhưng thái tử vẫn là Tử Khoái, mà Tử Khoái lại là cháu ngoại của Tề Uy Vương, cháu gọi Tề Tuyên Vương là cậu, nếu như Yên Vương có mệnh hệ nào, Tử Khoái đương nhiên kế vị. Chỉ cần Tử Khoái kế vị, nhìn vào quan hệ giữa Tử Khoái và Tô Tần, Yên Vương sẽ hoàn toàn bị Tô Tần chi phối, mưu đồ gả con xa của Tần Vương sẽ thất bại, quân cờ đen cắm vào trận quân trắng sẽ lại chết yểu lần nữa, đây chính là kết cục Trương Nghi không hề mong muốn. Vì thế, từ trước lúc hai bên chia tay, Trương Nghi đã căn dặn Sư Lý Tật kỹ lưỡng về cách thức để bắt thóp Dịch Vương.

Sau khi tới Kế Thành, Sư Lý Tật được đón tiếp trọng thể với thân phận sứ Tần, được Dịch Vương đón vào hậu điện. Thấy chú họ đằng ngoại tới, vương hậu mừng vui khôn xiết, bèn dẫn theo Tử Chức vào gặp.

Mấy năm không gặp, Tử Chức đã cao bằng nửa người lớn, nhưng rất gầy gò.

“Gọi ông đi!” Vương hậu đẩy công tử Chức lên trước.

“Cơ Chức khấu kiến ông!” Công tử Chức lùi lại một bước, rồi lại tiến lên trước, quỳ xuống dập đâu, hành lễ rất cung kính và thành thục.

Sư Lý Tật tươi cười, đỡ cậu bé dậy, nhìn sang Dịch Vương: “Không ngờ Chức Nhi đã hiểu lễ nghi rồi!”

“Còn biết theo phụ vương lên triều nữa!” Vương hậu giọng đầy ẩn ý.

“Vậy ư?” Sư Lý Tật vỗ khẽ lên đâu công tử Chức, “tốt lắm, quả là tiền đồ xán lạn, có thể thành đại sự!”

Hàn huyên một chốc, Dịch Vương bảo vương hậu và công tử Chức ra ngoài, rồi hỏi ngay vào chuyện chính: “Vương thúc tới đây, hẳn có việc quan trọng?”

Dịch Vương lớn hơn Sư Lý Tật hơn chục tuổi, nhưng xét theo thứ bậc phía vương hậu, thì Sư Lý Tật vẫn là bậc chú. Dịch Vương trên triều đường là vua, có thể gọi thẳng là sứ Tần, nhưng ở đây không có người ngoài, nên buộc phải gọi là vương thúc.

Kỳ thực, đường đường là một vị vương, tiếng “chú” này gọi nghe khá miễn cưỡng. Năm xưa kết thân với Tần thất, vì muốn dựa vào thế lực của Tần, đặc biệt sau trận Hà Tây đánh bại Ngụy mạnh, thế lực của Tần đã đứng đầu liệt quốc. Tô Tần hợp sức sáu nước chống Tần, kết quả liên quân sáu nước lại bị người Tần đánh tan tác. Người Tần sau đó thừa thắng diệt luôn hai nước lớn Ba, Thục, đúng là khí thế ngút trời. Do vậy, khi Tần Vương sai Tư Mã Thác xuất binh phạt Tề, Dịch Vương phấn chấn vô cùng. Ông ta tính toán, chỉ cần Tần đánh bại Tề, bao nhiêu ấm ức phải chịu đựng suốt những năm qua đã có thể trút bỏ. Khi đó, sẽ không cần bận tâm tới Tô Tần nữa, lập tức phế bỏ Tử Khoái, diệt trừ Tử Chi và những triều thần thân Tề khiến ông ta bất mãn bấy lâu, lấy đoạn Nam Hà Thuỷ phân chia ranh giới với Tề, xây trường thành men theo Nam Hà Thuỷ, chiếm toàn bộ đất Hà Gián. Quan trọng hơn nữa, Dịch Vương có thể kiến thiết nước Yên theo như ý nguyện của mình, đặc biệt là tùy nghi xử trí thái hậu Cơ Tuyết ở Vũ Dương xa xôi.

Ở đất Yên, người đàn bà duy nhất dám cả gan phản kháng Dịch Vương, chỉ có Cơ Tuyết, bởi sau lưng nàng ta là Tô Tần, mà sau lưng Tô Tần lại là liệt quốc tung thân, đặc biệt là Tề và Triệu. Bất luận thế nào, Dịch Vương vẫn luôn ghi hận Cơ Tuyết, chưa lúc nào nguôi.

Khiến Dịch Vương không thể ngờ tới, chính là cuộc chiến Tang Khâu. Thiết binh Đại Tần xưa nay không ai địch nổi, rốt cuộc lại thất bại trước quân năm đô nước Tề, Tư Mã Thác danh tiếng lẫy lừng lại bại trong tay một viên tướng vô danh, khiến Dịch Vương không khỏi bàng hoàng chấn động.

Dịch Vương đã buồn bực nhiều ngày, cuối cùng cũng chờ được Sư Lý Tật tới, bèn truy hỏi cặn kẽ chuyện này.

“Thần Tật tới đây, là có ba việc muốn bẩm lên Yên Vương!” Sư Lý Tật vòng tay, ngữ khí điềm đạm, “việc thứ nhất, Tô Tần hẹn tướng quốc sáu nước tụ hội tại Nghiết Tang vào ngày 3 tháng Ba, hôm nay đã là ngày 7, hội này có lẽ đã kết thúc rồi. Về hội Nghiết Tang, đại vương hẳn là đã biết.”

“Quả nhân biết.” Dịch Vương gật đầu, “Tô Tần có sai người tấu báo. Hội này thế nào rồi?”

“Tô Tần triệu tập hội này, chỉ nhằm một mục đích, chính là kết minh Tề, Sở. Tề Sở kết minh, cũng sẽ chỉ dẫn đến một chuyện, chính là chuyện thứ hai thần Tật muốn bẩm lên đại vương...” Sư Lý Tật cố tình dừng lại nửa chừng.

“Chuyện gì?” Dịch Vương nghiêng người lại hỏi.

“Mười thành Hà Gián.” Sư Lý Tật gằn từng tiếng.

Hà Thuỷ chảy đến cửa Túc Tư thì chia làm ba nhánh đổ vào Bột Hải, vùng đất rộng lớn giữa ba nhánh Hà Thuỷ này được gọi là Hà Gián. Bởi Hà Thuỷ thường đổi dòng, đặc biệt là nhánh sông ở giữa, thường xuyên dịch chuyển qua lại, khiến đất Hà Gián cũng lúc to lúc nhỏ, song bất kể thế nào, mảnh đất này cũng là vùng đệm giữa hai nước Tề, Yên. Mấy trăm năm qua, nước Yên sở hữu trọn nhánh Hà Thuỷ phía bắc, nước Tề sở hữu trọn nhánh Hà Thuỷ phía nam, mấu chốt là nhánh ở giữa, ai sở hữu được, sẽ chiếm thế thượng phong trong cuộc tranh chấp đất Hà Gián. Đất Hà Gián do nước sông dâng cao, nước biển chảy ngược, nên dân cư thưa thớt, đa phần là đầm lầy, chỉ có khoảng hơn hai mươi thành ấp nhỏ, cũng là nơi cá tôm, thuỷ cầm phong phú. Do có vị thế xung yếu, hơn trăm năm qua, Tề, Yên vẫn giằng co nhau mãi.

Mấy năm trước, khi sáu nước phạt Tần, tướng Tề Điền Kỵ lấy cớ nước Yên phế bỏ thái tử, đã cướp mất mười thành của nước Yên, sau đó đã bị Tô Tần đòi lại, nhưng Dịch Vương hiểu, người Tề vẫn luôn lăm le mười thành này.

“Còn chuyện thứ ba?” Dịch Vương hít vào một hơi, nhìn thẳng vào Sư Lý Tật.

“Chuyện thứ ba là tin vui,” Sư Lý Tật tiếp lời, “khi thần Tật sắp sửa lên đường, Tần Vương đặc biệt căn dặn, chỉ cần Yên Vương đồng ý một chuyện, Tần sẽ tuyển lựa năm mươi thợ khéo, năm mươi quân uý tới dạy người Yên chế tạo binh khí nước Tần, huấn luyện ba quân rèn tập theo Tần pháp. Yên có vũ khí trong tay, có tướng sĩ thiện chiến, nam có thể phòng Tề, bắc có thể ngự Hồ, Yên thất lo gì không bảo vệ được cơ nghiệp muôn đời!”

“Chế tạo binh khí nước Tần?” Yên Dịch Vương nheo mắt, lộ vẻ coi thường, “lẽ nào muốn nói binh khí nước Yên không bằng binh khí nước Tần ư?”

“Đại vương nếu không tin, cớ sao không thử?”

“Được!” Dịch Vương siết chặt nắm tay, “thử thế nào?”

“Xin đại vương hãy mang tấm khiên chắc chắn nhất của nước Yên lại đây!”

Yên Dịch Vương truyền lệnh cho cấm quân, mang vài chiếc khiên tốt nhất lại, thử ngay trên điện. Sư Lý Tật lệnh cho quân uý cầm thương đâm, mũi thương lập tức xuyên thủng khiên của nước Yên. Nhưng nếu đổi sang thương của nước Yên, thì không thể đâm xuyên qua được. Yên Dịch Vương cho là có điều gian dối, sai quân uý nước Yên cầm hai mũi thương thử lại, kết quả vẫn như vậy.

“Ồ...” Yên Dịch Vương sửng sốt, chỉ vào mũi thương, “vũ khí sắc nhọn nhường này được chế tạo như thế nào?”

“Đây là việc của thợ, thần Tật không biết!” Sư Lý Tật khẽ cười, “đợi năm mươi thợ khéo tới đây, đại vương có thể hỏi họ!”

“Đã có vũ khí sắc bén nhường này, cớ sao trong cuộc chiến Tang Khâu, quân Tần lại bại trước người Tề?” Yên Dịch Vương giờ mới nói ra khúc mắc trong lòng.

“Bởi đại vương thần vốn không muốn thắng!” Sư Lý Tật đưa ra một lý do hết sức bất ngờ.

“Ồ...” Yên Dịch Vương hai mắt trợn tròn, “nghìn dặm viễn chinh, há lại cầu bại?”.

Sư Lý Tật phá lên cười lớn, rồi hạ thấp giọng, nhìn thẳng vào Dịch Vương: “Xin hỏi đại vương, nước Tần vì sao nhất định phải thắng?”

“Ồ...” Yên Dịch Vương lại càng sửng sốt, ngẩn ra hồi lâu, mới nặn ra một câu, “đã không muốn thắng, cớ sao lại xuất binh?”

“Bởi vì muốn diễn một vở kịch cùng Tề Vương!”

“Kịch gì?”

“Kịch cho người thiên hạ xem!” Sư Lý Tật giọng đầy bí hiểm, thủng thẳng nói, “đại vương hãy nghĩ kỹ xem, người Tề có giỏi hơn được võ binh Đại Ngụy chăng? Người Tề có giỏi hơn được quân hợp tung sáu nước chăng? Người Tề có giỏi hơn được người Sở chăng? Người Tề có giỏi hơn được người Ba Thục chăng?”

“Nhưng người Tề đã hai lần thắng Ngụy!”

“Đó là vì có Tôn Tẫn.” Sư Lý Tật nói thẳng, “trước khi Tôn Tẫn xuất hiện, Bàng Quyên chỉ với ba vạn quân mệt mỏi, đã đánh tan tám vạn quân Tề, bắt sống Điền Kỵ.

Với tài trí của Bàng Quyên, dẫn quân sáu nước về tây đánh ải Hàm Cốc, mà vẫn thất bại trước quân Đại Tần của thần. Sau đó Bàng Quyên phạt Triệu, đánh chiếm Hàm Đan, nào ngờ Tôn Tẫn lại dẫn quân Tề cứu viện, dùng trí chiến thắng Bàng Quyên. Sau đó, Tôn Tẫn chết, Bàng Quyên cứ ngỡ Tôn Tẫn không còn nữa, mới dẫn quân phạt Hàn, nào ngờ Tôn Tẫn chỉ là giả chết, tiếp tục bày mưu, Bàng Quyên mới bị vây khốn mà phải tự sát. Sau nữa, Điền Kỵ chạy sang Sở, Tôn Tẫn ra biển, nước Tề vua tôi nghi kỵ lẫn nhau, tướng sĩ sinh lòng oán thán, cả nước chán cảnh chiến chinh, triều đình không có kế hay, đất nước không còn tướng giỏi. Tần Vương của thần vào lúc này dẫn quân tinh nhuệ phạt Tề, cớ sao lại bại? Đại vương lẽ nào chưa từng nghĩ tới nguyên do?”

Sư Lý Tật lời lời hữu lý, mạch lạc rõ ràng, Dịch Vương nghe mà hoang mang, chớp mắt vài cái, mới vò đầu nói: “Phải, phải, quả nhân luôn thấy khó hiểu. Không giấu gì chú, người Tần phạt Tề, quả nhân rất đỗi phấn chấn, nào ngờ đâu...” Nhìn thẳng vào Sư Lý Tật, “quả nhân ngu độn, xin được chỉ giáo!”

“Bởi vì,” Sư Lý Tật hạ thấp giọng, “đại vương của thần sớm đã bàn bạc với Tề Vương, hai bên sẽ diễn một vở kịch lớn tại Tang Khâu, cho người Sở xem, cho người Ngụy xem, để cho họ hiểu, không thể thắng được người Tề!”

“Vì sao kia?” Yên Dịch Vương sửng sốt.

“Như vậy sẽ có lợi cho Tần!” Sư Lý Tật khẽ cười, “chuyện không có lợi, đại vương thân sẽ không làm đâu!”

“Lợi gì kia?” Dịch Vương nôn nóng.

“Có nước Tề không thể chiến thắng ở phía đông, nước Ngụy sẽ không dám dốc toàn lực đối phó Tần, nước Sở cũng không dám về tây đánh Tần!”

Dịch Vương bừng tỉnh, song ngay lập tức, giọng lại méo đi: “Nhưng... nếu người Tề đắc chí, sẽ tranh giành đất Yên mất!”

“Than ôi,” Sư Lý Tật thở dài, “kế này của đại vương thần, quả nhiên hữu hiệu, người Sở vừa thấy nước Tề ghê gớm, không dám tranh giành, đã phái Chiêu Dương cùng tướng Tề Điền Anh gặp gỡ ở Nghiết Tang. Tô Tần hay tin, cũng chớp thời cơ báo cho tướng Hàn Công Tôn Diễn tới dự, Ngụy Vương và Triệu Vương đều uỷ thác Tô Tần thay mặt dự hội. Đại vương thần cũng nhận được lời mời của Tô Tần, phái tướng quốc Trương Nghi tới dự. Nước lớn trong thiên hạ, duy chỉ đại vương không phái người tới mà thôi.”

“Trời ơi,” Yên Dịch Vương túa mồ hôi lạnh, “Trương Nghi cũng đến dự ư?”

“Phải,” Sư Lý Tật nhìn ra ngoài điện, “lúc này hẳn đang trên đường về rồi!”

Yên Dịch Vương lấy làm hối hận, mặt mày biến sắc, nhìn trừng trừng vào Sư Lý Tật: “Chú không quản nghìn dặm xa xôi tới đất Yên, hẳn không phải chỉ để khiến Cơ Tô kinh sợ đấy chứ?”

“Đương nhiên là không phải,” Sư Lý Tật ngồi thẳng dậy, “Tật thay mặt vương huynh tới thăm công chúa và cháu ngoại Tử Chức, thực không ngờ Tử Chức đã lớn đến vậy, còn biết hành đại lễ nữa!”

Sư Lý Tật cố tình nhấn nhá hai chữ “đại lễ”.

Dịch Vương bừng hiểu, khẽ thở dài một tiếng: “Than ôi, Cơ Tô không phải không muốn phế cũ lập mới, mà là bởi Tô Tần và người Tề. Người Tần phạt Tề, Cơ Tô vô cùng phấn chấn, vốn định sau khi Tề bại, sẽ lập tức phế cũ lập mới, nào ngờ... lại là diễn kịch!”

“Không diễn thì biết làm sao?” Sư Lý Tật nói thẳng, “vương huynh nghìn dặm kết thân, gả trưởng nữ cho Yên thất, công chúa cũng đâu có kém, ngay thai đầu đã sinh Tử Chức. Nhưng đại vương trên dưới có đến hơn chục con trai, nếu cháu ngoại vẫn chỉ là một công tử nước Yên, sau khi đại vương trăm tuổi, ngộ nhỡ có một người con nào sinh sự, Tử Chức e là muốn giữ tính mạng cũng khó. Nên đại vương của thần... than ôi, thực sự lấy làm thương xót cho con gái!”

“Nhưng nếu phế cũ lập mới, người Tề, và cả Tô Tần, sẽ...” Dịch Vương băn khoăn lo lắng.

“Than ôi, đại vương,” Sư Lý Tật lại thở dài, “nước Yên là của người Tề ư? Nước Yên là của Tô Tần ư?” Đoạn gằn giọng, lời lời rành rọt, “nước Yên không phải của bất kỳ ai khác, nước Yên chỉ là của đại vương! Tử Khoái là cốt nhục của đại vương, Tử Chức cũng là cốt nhục của đại vương. Khi Tử Khoái chào đời, mẹ Tử Khoái chỉ là thái tử phi; khi Tử Chức chào đời, mẹ Tử Chức đã là vương hậu nước Yên! Lẽ nào con trai trưởng do vương hậu sinh ra lại không bằng con trai trưởng do một phi tử đã chết sinh ra?”

“Ồ...” Dịch Vương trán rịn mồ hôi, vội đưa ống tay áo lên lau.

Sư Lý Tật nhắm mắt, lặng im không nói. Trong điện tĩnh lặng như tờ.

Chí ít đã một khắc trôi qua, thấy Sư Lý Tật vẫn khép mắt ngồi im, Dịch Vương bèn nghiến răng dứt khoát: “Sẽ theo lời chú, quả nhân phế lập!”

Sư Lý Tật mở mắt, vòng tay nói: “Thần Tật chúc mừng đại vương! Chúc mừng thái tử mới của nước Yên!”

“Có điều,” Dịch Vương nhìn thẳng vào Sư Lý Tật, “quả nhân lập thái tử mới, lỡ người Tề chinh phạt, thì phải làm sao?”

“Chỉ cần đại vương lập thái tử mới,” Sư Lý Tật cất giọng rành rọt, “Đại Tần đảm bảo Yên thất không mất một tấc đất!”

“Đảm bảo thế nào?”

“Thần Tật đã bẩm báo rồi,” Sư Lý Tật chậm rãi, “đại vương của thần sẽ giúp đại vương trong chỉnh đốn giáp binh, ngoài cung ứng viện binh. Nước Yên ở nơi xa xôi, có thể xâm phạm Yên, duy chỉ có ba nước Trung Sơn, Triệu, Tề. Triệu nếu khiêu chiến, đại vương của thần có đủ lý do xuất quân phạt Triệu. Trung Sơn nước nhỏ sức yếu, không dám liều lĩnh. Còn như người Tề, đại vương của thần chỉ cần gửi đi một bức mật thư, chắc chắn Tề Vương sẽ phải nể mặt. Bằng không, đại vương của thần mà xuất binh lần nữa, sẽ không chỉ là diễn kịch thôi đâu!”

“Được!” Dịch Vương vỗ mạnh xuống án, “quả nhân sẽ phế cũ lập mới!”

Sau khi Tô Tần rời khỏi nước Yên không bao lâu, Dịch Vương liền kiếm cớ thu hồi phủ tướng quốc của Tô Tần. Cả nhà Tô Đại đang ở nhờ trong phủ không còn chỗ nương thân, đành phải cầu cứu tướng quân Tử Chi đang nhàn rỗi ở nhà.

Nhờ Tử Chi giúp đỡ, Tô Đại “mua” được một toà trạch viện ba dãy tại một nơi khá yên tĩnh trong Kế Thành, giá chỉ bằng một phần ba bình thường. “Người bán” chỉ lấy có ba mươi lượng vàng. Càng hời hơn nữa, đó là đồ đạc trong nhà đều có sẵn cả, chủ cũ tặng lại toàn bộ, thực đúng là soi đèn lồng cũng không tìm được mối nào tốt đến thế.

Khi Tô Đại rời khỏi nhà, vốn có mang theo ba mươi lượng vàng, khi Tô Tần rời khỏi phủ, cũng để lại cho Tô Đại ba mươi lượng nữa. Tô Đại chỉ phải bỏ ra một nửa số vàng trong túi đã mua đứt được cả toà trạch viện rộng lớn, nên vô cùng cảm kích Tử Chi. Lại cũng thực khéo, trạch viện này chỉ cách nhà tranh của Tử Chi đúng một con phố, đi bộ mất chừng một khắc là tới, hai nhà vẫn thường xuyên qua lại với nhau.

Đêm nay, vào khoảng canh hai, người nhà đều đã say giấc, Tô Đại vẫn ngồi trong thư phòng tại dãy nhà trước, miệt mài đọc kinh thư mà Tô Tần để lại. Mấy năm dùi mài, Tô Đại đã học được khá nhiều chữ, càng đọc càng mê thích, cũng có ít nhiều lĩnh ngộ.

Tô Đại đang đọc chăm chú, bên ngoài chợt vọng vào tiếng gõ cửa. Tiếng gõ rất khẽ, phải lưu tâm mới nghe thấy.

Tô Đại ra mở cửa, người bước vào là Tử Chi.

“Tướng quân?” Tô Đại vừa lên tiếng, Tử Chi đã suỵt khẽ, đưa tay ra sau đóng cửa lại.

Tử Chi xưa nay ngủ sớm dậy sớm, giờ này tới đây, Tô Đại biết là có việc hệ trọng, bèn cài chặt then, dẫn Tử Chi vào thẳng thư phòng.

Vào đến thư phòng, Tử Chi vẫn chưa yên tâm, lại rón rén quay trở ra, tới trước cổng, nghiêng tai nghe ngóng một hồi, rồi mới trở vào, cài then cửa phòng lại.

“Chuyện gì?” Tô Đại hạ giọng hỏi.

Tử Chi cũng hạ giọng thì thào, kể sơ qua chuyện Yên Vương đổi thái tử cho Tô Đại nghe.

Tô Đại nghe xong, trong lòng giãn nở, nhưng sắc mặt vẫn cố tỏ ra bình thản. Từ lúc Tô Tần áo gấm về quê, Tô Đại trong lòng kích động, cái gì cũng bắt chước Tô Tần, đến cả đi đứng nói năng, cũng gắng học theo, lâu dần thành quen, lại thêm là anh em ruột vốn giống nhau, nên nhìn bề ngoài, người không quen rất dễ nhầm lẫn.

Đúng vậy, thời cơ mà Tô Đại mong chờ bấy lâu, cuối cùng đã tới. Từ trong kinh sách, Tô Đại đã hiểu, vương thất đổi thái tử, là đại sự trong đại sự, mà vào thời khắc này, đại sự ấy đã sắp sửa diễn ra. Hiếm có hơn nữa, tướng quân Tử Chi có chung dòng máu với vương thất, danh tiếng lừng lẫy một thời, sau khi hay tin đã bàn với Tô Đại đầu tiên...

Tô Đại hít sâu một hơi, ngồi ngay ngắn lại, khép mắt thu thần, làm ra vẻ suy ngẫm.

Tử Chi nhìn Tô Đại chăm chú. Rõ ràng, Tử Chi không hiểu Tô Tần, cũng không hiểu Tô Đại. Trong mắt Tử Chi, Tô Đại cũng giống Tô Tần, là người sâu sắc khôn lường.

Qua chừng một khắc, Tô Đại từ từ mở mắt.

“Tô Tử,” Tử Chi nôn nóng, “nên làm thế nào?”

“Tử Chi tướng quân,” Tô Đại cố gắng bắt chước cách nói năng của Tô Tần, “đây là việc nhà của vương thất, tại hạ là người ngoài...”

“Việc nhà của vương thất, cũng chính là việc nước đấy!”

“Vậy ư,” Tô Đại khẽ cười, “cũng phải, tướng quân và Yên Vương vốn là người một nhà. Đã là người một nhà, tại hạ lại muốn hỏi, theo ý của tướng quân, chuyện này nên xử trí ra sao?”

“Theo ý tại hạ, Tử Khoái không thể phế!”

“Ồ?”

“Bởi vì, nếu đại vương phế Tử Khoái, sẽ dẫn tới đại chiến Tề Yên!”

“A?” Tô Đại nhìn sững vào Tử Chi, “phế Tử Khoái, sao lại dẫn tới đại chiến Tề Yên?”

“Than ôi,” Tử Chi khẽ thở dài, “Tô Tử mới tới, còn chưa hiểu rõ Yên thất. Mẫu thân của thái tử là công chúa của tiên Tề Vương, là em gái của Tề Vương hiện tại. Nếu đại vương phế thái tử, Tề Vương có thể không giận được sao? Mấy năm trước, khi Tử Chức mới sinh ra, đại vương đã đòi lập thái tử mới, kết quả thế nào? Nước Tề lập tức khởi binh chiếm mất mười thành Hà Gián, còn muốn đánh đến tận Kế Thành. Đều nhờ tướng quốc đại nhân dẫn Tử Khoái tới cung Tề thuyết phục, Tề Vương nể tình Tử Khoái và tướng quốc đại nhân, mới đưa ra điều kiện lui binh, chính là Yên Vương không được phế thái tử. Yên Vương nhận lời không phế lập nữa, nước Tề mới chịu lui binh. Giờ đây Yên Vương lại đòi phế lập, thì người Tề há chẳng...”

“Thế thì lớn chuyện rồi!” Tô Đại đã hiểu, khẽ gật đầu, “Tử Khoái không thể phế, nhưng Yên Vương cứ nhất quyết muốn phế, theo ý tướng quân, nên làm thế nào đây?”

“Chỉ một người ngăn cản được, chính là Tô tướng quốc!”

Tô Đại nheo mắt: “Chuyết huynh gần đây không thư từ gì, không biết đang ở đâu?”

“Đại Lương.”

“Được, tại hạ sẽ viết thư bảo anh ấy về ngay!”

“Không được viết thư!” Tử Chi nói, “người mà Yên Vương đề phòng chính là huynh trưởng của Tô Tử. Nếu Tô Tử viết thư, để họ bắt được, sẽ lớn chuyện đấy.”

“Vậy phải làm sao?”

“Sáng sớm mai, Tô Tử hãy lên đường sang Triệu, càng nhanh càng tốt. Tô đại nhân có phủ tướng quốc ở nước Triệu, Tô Tử hãy gặp Viên Báo, kể lại chuyện này cho hắn là được. Nhớ kỹ, chỉ được kể với một mình Viên Báo, sau đó, Tô Tử hãy sang nước Tống ngay, ít nhiều cũng phải mua lấy chút hàng hoá, loan tin ra ngoài là đi buôn. Kiểu gì cũng phải kiếm kế sinh nhai kia mà.” Tử Chi lần trong ngực áo lấy ra một túi tiền, “đây là mười dật vàng, Tô Tử hãy cầm lấy mà mua hàng, buôn bán dù lỗ hay lãi, đều tính là của hai chúng ta!”

“Vâng!” Tô Đại nhận lấy túi tiền, đặt lên trên án.

“Còn một việc nữa,” Tử Chi càng hạ thấp giọng, “người Tần đã tới, là Doanh Tật, Yên Vương đột nhiên phế thái tử, chắc chắn có liên quan tới người này!”

“Đã hiểu.”

Trao đổi thêm dăm ba câu, Tử Chi quay trở ra sân, lại quan sát động tĩnh xung quanh một hồi, chắc chắn không có ai bám theo, mới đẩy mở cổng, vội vã đi ngay.

Sáng sớm hôm sau, Tô Đại từ biệt vợ, chỉ nói là có mối làm ăn cần tới Định Đào nước Tống, rồi đánh xe ngựa đi về phía nam.

Mang trọng trách trên vai, Tô Đại ngày nào cũng đi mải miết từ sáng sớm đến tận tối mịt, chập tối ngày thứ năm thì tới Hàm Đan, gõ cửa phủ Tô Tần. Quản gia Viên Báo vốn đã biết Tô Đại từ trước, liền sắp xếp chỗ nghỉ ngơi. Tắm rửa xong xuôi, Viên Báo bày rượu khoản đãi Tô Đại.

Uống đến nửa chừng, thấy trong nhà không còn ai khác, Tô Đại mới thì thào kể lại một lượt chuyện nước Yên cho Viên Báo nghe. Hôm sau trời vừa sáng sớm, Tô Đại đã lập tức lên đường, thẳng tới đất Tống.

Viên Báo vốn là người Yên, đặc biệt quan tâm tới chuyện nước Yên, nên ngay trong đêm đó đã lệnh cho gia nhân tâm phúc tới ngay nước Ngụy. Kết quả là, gia nhân còn chưa kịp tới nơi, Tô Tần đã về phủ. Viên Báo kể lại vắn tắt sự tình, Tô Tần kinh hãi, không kịp tắm gội, lập tức lệnh cho Trâu Phi Đao đổi ngựa lên đường.

Tô Tần đi rồi, Viên Báo càng nghĩ càng không yên tâm, bèn giao việc nhà cho Thu Quả, đánh xe đuổi theo.

Ba người hai xe, tính toán thời gian, vào lúc nhập nhoạng thì tới Vũ Dương, tìm một quán trọ nghỉ lại. Trâu Phi Đao ra ngoài, vào lúc canh một, dẫn theo một người áo đen quay lại.

Là Cơ Tuyết.

Cửu biệt trùng phùng, Tô Tần và Cơ Tuyết đều xúc động khôn xiết. Hàn huyên một hồi, Tô Tần đem chuyện sứ Tần tới Yên, Dịch Vương ban chiếu phế lập thái tử kể lại một lượt. Cơ Tuyết nghe mà thất kinh.

“Tử Khoái mà bị phế, vậy thì nước Yên...” Cơ Tuyết kêu lên.

“Đúng vậy,” Tô Tần đáp, “hội thề Nghiết Tang, Nghi đệ cũng tới. Nếu không ngoài dự liệu, lần phế lập này hẳn là một nước cờ mà Nghi đệ tung ra.” Cười buồn, “xem ra, giữa Tần và Nghi đệ, đúng là phải quyết chiến một phen rồi.”

“Than ôi,” Cơ Tuyết khẽ thở dài, “sao tiên sinh lại dạy ra hai đệ tử như vậy chứ?” Rồi nhìn sang hắn, sắc mặt lo âu, “phải làm thế nào đây? Nếu Cơ Tô lập thái tử mới, nước Tề ắt sẽ khởi binh phạt Yên, Yên Tề giao chiến, trăm họ khốn khổ đã đành, đại nghiệp hợp tung của Tô Tử cũng sẽ gặp trở ngại!”

“Điều Tần lo lắng, lại không phải là nước Tề chinh phạt, mà là nội loạn.”

“Nội loạn?” Cơ Tuyết thoáng kinh ngạc, “Tô Tử muốn nói tới Tử Khoái?”

“Không phải. Là tướng quân Tử Chi.” “Tử Chi...” Cơ Tuyết đưa mắt dò hỏi.

“Chuyện Yên Vương phế lập thái tử, là do Tử Chi kể với Tô Đại,” Tô Tần suy đoán, “nghe Viên Báo nói, Yên Vương vừa ra chiếu thư, Tử Chi ngay trong đêm ấy đã âm thầm tới gặp Tô Đại, bảo chú ấy sáng sớm hôm sau lên đường, tới tìm tại hạ. Điều này cho thấy, Tử Chi đã có tai mắt trong cung, hơn nữa tai mắt ấy còn là thân tín bên cạnh Yên Vương. Yên Vương không thích Tử Chi, song cũng không thể không kiêng dè Tử Chi. Thứ nhất, Tử Chi thống lĩnh ba quân đã lâu, không ít tướng quân vẫn nghe theo Tử Chi. Thứ hai, phu nhân của Tử Chi là gái Hồ, sau lưng còn có người Hồ. Trong các vương thân ở Kế Thành, qua nhiều năm gây dựng, Tử Chi cũng có không ít thế lực. Đây cũng chính là nguyên do khiến Yên Vương tuy đã tước đoạt binh quyền của Tử Chi, nhưng vẫn không dám động tới ông ta. Tử Chi và Tử Khoái giao tình thân thiết, Tử Chi cam tâm sống nhàn, là để chờ Tử Khoái kế vị. Yên Vương hiểu rõ điều này, nên không những giám sát nghiêm ngặt Tử Chi, còn điều Tử Khoái tới Tạo Dương, tách đôi hai người hai chỗ. Nếu Yên Vương lập thái tử mới, Tử Chi không còn hi vọng, ắt sẽ sinh loạn!”

Cơ Tuyết kinh hãi kêu lên: “Tử Chi không phải là Cơ Ngư, nếu người này gây loạn, vậy thì nước Yên...”

“Đúng vậy,” Tô Tần gật đầu, “bất luận thế nào, nước Yên cũng không thể loạn, dứt khoát phải ngăn Yên Vương phế lập thái tử!”

“Ngăn thế nào?”

“Minh ước!” Tô Tần đáp, “Yên Vương tuy ngông cuồng đấy, nhưng bên trong lại nhu nhược, lần này chắc chắn đã bị sứ Tần xúi giục. Chỉ cần tại hạ nói rõ lợi hại, hẳn Yên Vương sẽ không dám quay lưng lại với thiên hạ!” Dừng lại, nhìn Cơ Tuyết chăm chú, “Tuyết Nhi, việc dặn dò nàng lần trước, đều xong cả rồi chứ?”

“Đều xong cả rồi.” Nhớ tới “tổ ấm” của hai người, Cơ Tuyết sắc mặt ửng hồng, “chỉ chừa lại một lỗ hổng đủ cho một người chui qua, đêm nay, Mộc Hoa đã vào qua lỗ hổng đó, để báo tin Tô Tử trở về!”

“Ngay ngày mai, hãy nhờ Mộc Thực bịt kín lối đó lại, không được để sót một chút sơ hở. Linh đường của tiên quân cũng phải bố trí ổn thoả. Nếu không ngoài dự liệu, trong cung sắp sửa phái người tới kiểm tra!”

Cơ Tuyết khẽ “vâng” một tiếng, rồi ghé lại gần...

Đã sang canh năm, đất trời một màu đen kịt. Cơ Tuyết được Trâu Phi Đao hộ tống, quay trở về biệt cung.

Tô Tần chợp mắt được một lúc, ánh nắng đã chiếu vào tận giường, vội trở dậy ruổi ngựa tới Kế Thành.

Sợ ma, ma tới tận cửa.

Khi Tô Tần đến trước cổng Yên cung cầu kiến, Yên Dịch Vương bàng hoàng chết lặng.

“A...” Yên Dịch Vương nhìn sang Kỷ Cửu Nhi, “nhanh thế ư?”

Kỷ Cửu Nhi cũng vô cùng kinh ngạc.

“Mau, có lời mời sứ Tần, vào lối cổng Tây!”

Kỷ Cửu Nhi lập tức sai người chạy ra theo lối cổng Tây, mời Sư Lý Tật vào.

“Tô Tần trở về, chắc chắn là vì chuyện phế lập thái tử!” Sư Lý Tật khẳng định.

“Chẳng phải hắn đang ở Nghiết Tang ư, còn chưa tới hai mươi ngày?” Yên Dịch Vương đầy bụng ngờ vực.

“E là có người tiết lộ phong thanh!”

Yên Dịch Vương nhìn sang Kỷ Cửu Nhi.

“Không thể nào!” Kỷ Cửu Nhi lập tức gạt đi, “người làm được chuyện này, duy chỉ có Tử Chi, nhưng theo thần biết, từ lúc hạ chiếu thư tới nay, Tử Chi chưa ra khỏi cổng nhà một bước, chỉ ở lì trong nhà đọc sách, ngày hai bận vào lúc mặt trời mọc và giờ Thân, đều thấy luyện thương trong sân. Đó là thói quen lâu ngày, mưa gió cũng không đổi. Trong thời gian này, cũng không thấy có ai ra vào nhà hắn. Hơn nữa, dù tin tức có bị tiết lộ đi chăng nữa, tính thử thời gian, còn chưa tới mười ngày, từ Đại Lương tới Kế Thành, đừng nói là cả đi lẫn về, dù chỉ tính một chiều, e là cũng phải đi gấp không nghỉ!”

“Ở nước Tần,” Sư Lý Tật bình thản đáp, “khoảng cách cỏn con này, thư khẩn một ngày là tới, ngựa khoẻ năm ngày là đủ.”

Kỷ Cửu Nhi bỗng vỗ trán đánh đét: “Thần sực nhớ ra một chuyện, em ruột Tô Tần là Tô Đại gần đây không có nhà, thần có sai người tới dò hỏi, nghe nói là tới Tống mua hàng. Tô Đại từ lúc tới Yên, chưa từng buôn bán gì, sao lại tới đất Tống vào lúc này? ”

“Chuyện lớn là thế, sao không báo sớm?” Yên Dịch Vương quát.

“Thần biết tội!” Kỷ Cửu Nhi vội dập đầu biện bạch, “thần cũng chỉ mới hay tin, thần chỉ chú tâm theo dõi Tử Chi, cho nên...”

Yên Dịch Vương quay sang Sư Lý Tật, vòng tay nói: “Tô Tần đã quay về, chúng ta cần phải ứng phó. Ứng phó thế nào, vẫn xin chú chỉ giáo!”

“Quay ngược lại, chính là cái động của đạo.” Sư Lý Tật lập tức đưa liền vài chiêu, “Tô Tử đang nóng vội, đại vương có thể làm ngược lại, không vội. Đại vương có thể tìm lý do thoái thác, làm bộ tức giận, kéo dài vài ngày, xem hắn phản ứng ra sao. Lại sai người theo dõi Tử Chi và Tô Tử, xem họ có cấu kết với nhau không. Nếu như có, họ không thể không gặp nhau. Đợi tới lúc đó, đại vương hãy bắt lấy Tử Chi, triệu kiến Tô Tần, xem hắn còn lời nào để nói.”

Dịch Vương nhắm mắt, ngẫm nghĩ một lát, vòng tay cảm tạ Sư Lý Tật, rồi quay sang Kỷ Cửu Nhi: “Truyền chỉ Tô Tử, rằng có người nói hắn thất tín bội nghĩa, bất lợi cho Yên, quả nhân không muốn gặp hắn nữa!”

“Ồ...” Kỷ Cửu Nhi chớp mắt vài cái, rồi ghé lại gần Dịch Vương, khẽ giọng thì thầm vài câu. Dịch Vương gật đầu, “được, nghe theo ngươi, cứ làm như thế.”

Tô Tần chờ bên ngoài cổng cung Yên đúng hai canh giờ, vẫn không thấy Yên Vương triệu kiến. Nhìn sắc trời sắp tối, Tô Tần đang định ra về, bỗng một cỗ xe ngựa lao đến, dừng ngay trước cổng, trong xe bước ra một người, là ngự sử nước Yên Lộc Mao Thọ.

Nhìn thấy Tô Tần, Lộc Mao Thọ bước lại: “Ái chà, chẳng phải là Tô đại nhân đấy ư?”

Tô Tần vòng tay: “Tô Tần bái kiến Lộc đại nhân!”

“Đại nhân...” Lộc Mao Thọ nhìn sững vào Tô Tần, “sao lại đứng đây?”

Tô Tần cười gượng một tiếng, nói rằng mình đang chờ Yên Vương triệu kiến.

Biết được Tô Tần đã chờ hai canh giờ rồi, Lộc Mao Thọ khẽ thở dài, hạ giọng nói: “Tô đại nhân, hạ quan có lời này đáng lẽ không nên nói, nhưng... nói ra rồi đại nhân chớ lấy làm kinh ngạc, đại nhân tốt nhất đừng có chờ nữa!”

“Tại sao?” Tô Tần hỏi.

“Đại vương không biết nghe ai gièm pha, nói là đại nhân cấu kết với người Tề, thất tín với nước Yên. Đại nhân biết đấy, vì chuyện chín thành Hà Gián và cả chuyện tiên vương phi, đại vương có thành kiến với người Tề. Vốn cứ ngỡ đại nhân đòi được chín thành là lập công, nhưng vừa nghe người đó nói, đại vương đã...” Lộc Mao Thọ lắc đầu ngao ngán.

“Nếu là vậy,” Tô Tần vòng tay, “Tô Tần càng cần yết kiến đại vương, kể rõ ngọn nguồn! Làm phiền đại nhân tâu giúp lên đại vương, nói rằng có Tô Tần thỉnh tội ngoài cửa cung, đã đợi hai canh giờ rồi!”

“Than ôi,” Lộc Mao Thọ lại thở dài, “đại nhân thử nghĩ mà xem, nếu như thường ngày, hay tin đại nhân quay về, đại vương lại chẳng chân trần ra tận cửa cung nghênh đón? Nhưng lúc này, đại nhân đã chờ ở đây hai canh giờ mà đại vương vẫn không truyền gặp. Nếu đại nhân khăng khăng đòi yết kiến, há chẳng phải tự làm mất thể diện hay sao?” Dừng lại một chốc, hạ giọng thì thào, “ba tháng trước, trong cơn thịnh nộ, đến phủ trạch của đại nhân, đại vương còn tịch thu mất. Theo ý hạ quan, Tô đại nhân hãy tạm tìm một dịch quán nghỉ lại vài ngày. Đại vương đã biết đại nhân trở về, chờ đại vương nguôi giận, đại nhân lại tới yết kiến, không chừng...”

Lộc Mao Thọ là cận thần của Yên Vương, nói ra lời này, dứt khoát phải có nguyên do.

“Tạ ơn Lộc đại nhân quan tâm!” Tô Tần vòng tay cảm tạ, rồi từ biệt Lộc Mao Thọ, đánh xe về phía dịch quán, bảo Viên Báo tìm một quán trọ ở lại.

Cùng lúc này, một đoàn vương xa bốn ngựa kéo lặng lẽ ra khỏi cổng Tây cung Yên, tiến về phía Hạ Đô Vũ Dương.

Đoàn xe đi suốt đêm, đến giờ Ngọ hôm sau thì tới Vũ Dương, thẳng tiến tới biệt cung nơi đặt lăng mộ Văn Công.

Biệt cung chia làm hai điện nội ngoại, ngoại điện có ba mươi lính Yên canh giữ, do một viên quân uý chỉ huy, danh nghĩa là bảo vệ thái hậu, thực chất là giám sát theo lệnh của Yên Vương. Nội điện lại chia thành nội viện và ngoại viện. Ngoại viện là nơi ở của tùy tùng, chủ yếu là thị nữ và thái giám, do Kỷ Cửu Nhi cai quản. Nội viện là chốn riêng tư của Cơ Tuyết, do Xuân Mai cai quản, qua nhiều năm sàng lọc, hiện tại tất cả đều là người đáng tin cậy. Kỷ Cửu Nhi không nhúng tay vào được, nhưng cũng không lấy làm lo lắng, suy cho cùng nội viện giống như nằm trong đáy hũ, có tường cao bao bọc, ngoài tường là Yên lăng, cũng đặt trạm canh gác, Cơ Tuyết có lắp cánh cũng khó mà bay qua nổi.

Thấy chủ nhân tới, quân uý bèn nghênh đón vào trong, bẩm báo thái hậu.

Cơ Tuyết sớm đã có chuẩn bị, bèn truyền cho vào. Xuân Mai bước ra, dẫn Kỷ Cửu Nhi vào nội viện yết kiến.

Kỷ Cửu Nhi lần này tìm đến, đã chắc mẩm Cơ Tuyết và Tô Tần có qua lại, nội viện chắc chắn có ẩn tình. Trước kia sở dĩ chưa vạch trần, là vì Dịch Vương cho rằng, vẫn chưa phải thời cơ tốt nhất. Cũng có thể nói rằng, Cơ Tuyết chính là điểm yếu để khống chế Tô Tần. Tô Tần là tung ước trưởng của sáu nước, khống chế được Tô Tần, Dịch Vương có thể khống chế được sáu nước.

Thời cơ tốt nhất, cuối cùng cũng đã tới. Đối với Dịch Vương, phế bỏ thái tử hiện tại là nước cờ bắt buộc phải đi khi còn tại vị. Tử Khoái mềm yếu do dự, lại quá tốt bụng, làm người như thế thì được, chứ không hợp để làm vua. Năm xưa Tử Khoái và Tử Ngư tranh giành ngôi vị, nếu Dịch Vương không ra chiêu tàn độc, hẳn đã bị tiên vương phế bỏ để lập Tử Ngư rồi. Nhưng lý do quan trọng hơn nữa không phải là bản thân Tử Khoái, mà chính là nước Tề đứng sau lưng Tử Khoái.

Đối với Dịch Vương, từ khi bức chết Điền phi, mối bang giao với Tề coi như cũng chết theo, có thể nói nước Tần đã trở thành lựa chọn duy nhất. Bởi đối thủ của nước Yên là Tề, Triệu, đối thủ của nước Triệu là Hàn, Ngụy, Tần. Tề, Hàn, Ngụy đã hợp tung, tung thân ở trong tay Tô Tần, Tô Tần lại vì mối quan hệ với Cơ Tuyết mà bất hoà với Dịch Vương, hay chí ít, Dịch Vương cho rằng Tô Tần đã hiểu quá nhiều về mình, có Tô Tần, Dịch Vương không thể ngồi thẳng lưng được. Có thể ngăn chặn Tô Tần hợp tung, duy có nước Tần. Đây cũng chính là nguyên do khiến Dịch Vương muốn kết minh với Tần và nạp gái Tần làm vương hậu.

Nhưng thật không thể ngờ, ở đây Dịch Vương vừa đòi phế lập thái tử, bên kia nước Tề đã đánh tới, không những cướp liền mười thành, còn lăm le đánh tới Kế Thành. Địch nổi Điền Kỵ, duy có Tử Chi, mà Tử Chi lại cùng phe với Tử Khoái, Tô Tần. Vạn bất đắc dĩ, Dịch Vương chỉ có thể cầu cứu Tô Tần, thu hồi mệnh lệnh.

Thấm thoắt đã vài năm trôi qua, Dịch Vương không thể chờ thêm nữa. Nhưng nào ngờ vừa ra chiếu mệnh, Tô Tần đã lại thù lù dẫn xác tới.

Lần này, Dịch Vương quyết không lùi bước, sẽ phải tung ra độc chiêu cuối cùng, tức tìm ra chứng cứ thông gian giữa Tô Tần và Cơ Tuyết, nắm chặt Tô Tần trong tay.

Kỷ Cửu Nhi hành lễ xong xuôi, tuyên chỉ dụ của Dịch Vương, rằng tiên quân đêm trước hiện về báo mộng, nói trong nội viện của thái hậu có dị quỷ ra vào. Dịch Vương lấy làm kinh sợ, nên đặc phái Kỷ Cửu Nhi tới kiểm tra xem sao.

“Quả là có ma quỷ thật,” Cơ Tuyết cười nhạt, quay sang Xuân Mai, “các ngươi lui ra, để người của đại vương dễ bề khám xét!”

Cung nhân dẫn đám Xuân Mai quay ra trung viện, phái người trông coi cẩn thận.

Còn lại Cơ Tuyết ngồi nghiêm trang bất động.

Một cung nhân tiến lại toan đỡ lấy nàng, nào ngờ bị Cơ Tuyết vung tay tát thẳng vào miệng. Cơ Tuyết từng luyện võ công, cái tát này vận lực dứt khoát, cung nhân không kịp đề phòng, ngã nhào xuống đất, miệng trào máu tươi, song không dám ho he, chỉ biết ôm mặt nhìn sang Kỷ Cửu Nhi.

Kỷ Cửu Nhi phẩy tay một cái, đám tùy tùng lập tức túa ra tứ phía tìm kiếm, cứ như lùng tìm bảo bối.

Hiển nhiên, Kỷ Cửu Nhi sớm đã căn dặn từ trước, đám cung nhân lập tức chia nhau ập vào các phòng, bới tủ đồ rương, lục lọi tanh bành, nhưng không phát hiện ra bất cứ điều gì khả nghi.

Gần nửa canh giờ trôi qua, từ phía tẩm cung của Cơ Tuyết bỗng có người gọi lớn: “Kỷ đại nhân, mau lại đây!”

Kỷ Cửu Nhi lật đật chạy lại. Hai cung nhân liền chỉ cho Kỷ Cửu Nhi xem một tấm gương đồng lớn. Gương đồng có giá đỡ, dựa vào tường, về lý thì có thể di chuyển được, nhưng chúng nhấc kiểu gì cũng không thể xê dịch.

Kỷ Cửu Nhi quan sát kỹ lưỡng tấm gương đồng, ánh mắt tinh ranh của hắn cuối cùng cũng đã nhận ra, bèn đưa tay ấn vào một cái nút.

Lạch cạch mấy tiếng, tấm gương đồng bật ra. Kỷ Cửu Nhi kéo mạnh một cái, té ra gương đồng chính là một cánh cửa ngầm, bên kia có chốt cửa giấu kín.

Hai cung nhân bèn xoay chuyển tấm gương đồng. Quả nhiên, trước mặt hiện ra một ám thất, bên trong tối đen, không có ánh đèn.

“Chầm đuốc!” Kỷ Cửu Nhi vừa hạ lệnh, vừa đưa mắt với cung nhân, hất hàm về phía Cơ Tuyết. Hai cung nhân có võ công liền tiến lại, mỗi người đứng kèm một bên Cơ Tuyết, đề phòng có chuyện bất trắc.

Cung nhân châm đuốc, soi sáng trưng ám thất, lúc này mới nhìn rõ đây là một căn phòng kín mít, bốn phía đều là vách tường, chỉ trên bức tường chính diện có một tấm bài vị, dưới bài vị còn có án thờ. Bài vị là của tiên quân, trên án thờ bày đồ cúng còn mới, rõ ràng vừa cúng hôm nay, cũng tức là đồ cúng được thay đổi hàng ngày.

“Gõ tường!” Kỷ Cửu Nhi ra lệnh.

Đám cung nhân cầm búa gỗ, gõ tứ tung trên mặt tường, tiếng vọng trầm đục, nghe là biết đúng là tường thực.

Đang lúc hồ nghi, một cung nhân đột nhiên kêu toáng lên: “Nghe xem, chỗ này!”

Là một chỗ trên mặt đất, búa gỗ gõ xuống, phát ra tiếng bồm bộp, cho thấy phía dưới trống rỗng. Tất cả các bó đuốc đều chụm lại soi. Mặt sàn trong ám thất đều lát đá, mỗi viên chừng hai thước vuông, nơi vừa phát ra âm thanh trống rỗng chính là tấm đá nằm trong một góc.

Tất cả cung nhân đều phấn chấn ra mặt, nhất là Kỷ Cửu Nhi. Dưới ánh đuốc sáng rực, chúng dễ dàng tìm thấy nút lẫy, lật viên đá lên, lộ ra một đường hầm, có bậc thang dẫn xuống.

Đi xuống dưới chừng hơn trượng, không gian đột nhiên mở rộng, có thể chứa được vài người. Ba cung nhân mỗi người cầm một bó đuốc, theo nhau nhảy xuống.

Vừa soi đuốc về phía trước, cung nhân đi đầu bỗng rú lên thất thanh, bó đuốc rơi luôn xuống đất. Hai cung nhân kia sợ quá, vội kéo hắn lại. Cung nhân chỉ xuống dưới đất, run lên bần bật. Mấy người xúm lại xem, thấy trên mặt đất lăn lóc hai cái sọ người. Lại soi đuốc ra xung quanh, thấy trên một mặt tường treo chình ình một cái đầu lâu, hai con mắt xanh lét lập loè trông vô cùng ghê rợn.

Ba cung nhân chạy trối chết ra phía cửa, leo lên bậc thang bỏ chạy.

Kỷ Cửu Nhi hỏi rõ sự tình, cười nhạt một tiếng, quay sang một cung nhân: “Có lời mời thái hậu!”

Cung nhân chạy tới chỗ Cơ Tuyết, giọng chưa hết run: “Bẩm... bẩm thái hậu, Kỷ... Kỷ đại nhân... có lời mời!”

Cơ Tuyết đứng lên, tiến lại phía đó. Kỷ Cửu Nhi chỉ vào ám thất phía sau tấm gương đồng, hỏi: “Thái hậu, đây là gì vậy?”

“Kỷ Cửu Nhi,” Cơ Tuyết giọng lạnh như băng, “ngươi thực sự muốn biết?”

“Không phải tiểu nhân muốn biết, mà là đại vương muốn biết.”

“Được thôi,” Cơ Tuyết bình thản nói, “ngươi hãy bẩm với đại vương, đây là nơi gặp gỡ bí mật giữa bản cung và tiên quân!”

Kỷ Cửu Nhi trong lòng chắc mẩm, khẽ vòng tay nói: “Kỷ Cửu Nhi vốn không dám quấy rầy tiên quân, chỉ vì tiên quân về báo mộng với đại vương, đại vương lệnh cho tiểu nhân tới kiểm tra, tiểu nhân không dám trái lệnh!” Dừng lại một chốc, nhìn thẳng vào Cơ Tuyết, “ám thất này nếu đã là nơi thái hậu gặp gỡ tiên quân, tiểu nhân bạo gan thỉnh cầu thái hậu dẫn đường, cho tiểu nhân nhìn qua một lượt, để tiện quay về phục mệnh với đại vương.”

“Gọi thị nữ Xuân Mai của bản cung lại đây, Xuân Mai sẽ dẫn các ngươi vào!”

“Ồ...” Kỷ Cửu Nhi băn khoăn, “thái hậu không vào ư?”

“Đây là chốn riêng tư của bản cung và tiên quân, đám người ngoài các ngươi tự tiện xông vào, chính là đã khinh nhờn bản cung. Lẽ nào các ngươi còn muốn khinh nhờn tiên quân nữa?” Cơ Tuyến lời lời như dao.

Kỷ Cửu Nhi rùng mình ớn lạnh, quay sang cung nhân: “Đi, có lời mời thị nữ Xuân Mai!”

Lát sau, cung nhân dẫn Xuân Mai vào. Xuân Mai nhìn Cơ Tuyết.

“Xuân Mai,” Cơ Tuyết điềm đạm nói, “tiên quân về báo mộng với đại vương, nói là có dị quỷ xâm nhập cung này, sai người khám xét. Kỷ Cửu Nhi nghi ngờ chốn riêng tư của bản cung và tiên quân có ma quỷ xuất hiện, ngươi hãy dẫn họ vào kiểm tra. Nếu đúng là có dị quỷ thật, vừa hay có thể mời Kỷ đại nhân đuổi giúp!”

“Vâng!” Xuân Mai đáp, rồi chìa tay về phía Kỷ Cửu Nhi, “họ Kỷ kia, mời!” Đoạn cất bước thong dong tiến về phía ám thất.

Do có Xuân Mai, đám cung nhân mạnh dạn hơn hẳn. Kỳ Cửu Nhi đi trước, từng người nối đuôi nhau tiến vào.

Vào trong ám thất dưới lòng đất, Xuân Mai chỉ vào chiếc đầu lâu treo trên tường, tươi cười mà nói: “Chư vị nhìn kỹ đi, đây không phải là ma quỷ gì, mà là người phụng mệnh tiên quân tới canh cửa. Lúc còn sống, hắn tên là Trách Mãnh, không biết họ gì, nghe nói sức khoẻ vô địch. Nếu có người ngoài xông vào, tới trước mặt hắn, hắn sẽ vặn cổ đối phương nhanh như chớp. Khi hắn vặn cổ ai, trong mắt sẽ loé lên ánh sáng xanh lét, giống như ánh kiếm.” Quay sang đám cung nhân, chỉ vào đầu lâu, “vị nào không tin, có thể thử xem!”

Đám cung nhân nghe nàng nói rành mạch như vậy, đều kinh hãi lùi cả lại.

“Kỷ đại nhân nếu không tin, có thể đích thân lại thử.” Xuân Mai nhìn sang Kỷ Cửu Nhi, giọng đầy thách thức.

Kỷ Cửu Nhi nhìn chiếc đầu lâu, nhất là hai con ngươi xanh lét trong hốc mắt, bất giác cũng giật lùi một bước.

“Chư vị lùi lại là đúng đấy.” Xuân Mai lại chỉ vào hai chiếc đầu lâu dưới đất, “hai kẻ này đói quá mà ăn vụng, bị chủ nhân bắt giải lên quan, xử tội chém đầu, vì thế mà thành ma đói. Hễ ai lại gần, sẽ há miệng cắn luôn. Dù có đi ủng da, cũng bị cắn thủng như thường. Trách Mãnh mời họ tới đây, là để ăn những xác chết do Trách Mãnh giết, đến xương cũng chẳng chừa.”

Xuân Mai chỉ sơ qua vài lời, mà đám cung nhân đã sởn tóc gáy, muốn đi mà không dám, muốn tiến mà không được, đua nhau nhìn sang Kỷ Cửu Nhi.

“Xuân Mai cô nương,” Kỷ Cửu Nhi vòng tay về phía Xuân Mai, “chúng ta phụng mệnh đại vương tới tìm ma quỷ, nhờ cô hãy xin Trách Mãnh mở cửa giúp cho.”

Xuân Mai quay người, hướng về phía cái đầu lâu, giơ tay vạch vẽ một hồi, miệng lầm rầm vài câu bí hiểm, sau đó chìa tay ra, vuốt khẽ lên đầu lâu một cái. Một cánh cửa cót két mở ra, để lộ một đường hầm đào trong đất.

“Chư vị cẩn thận,” Xuân Mai chỉ vào đường hầm, “con đường này là tiên quân dành riêng cho thái hậu, người ngoài không được phép vào. Nếu chư vị vẫn khăng khăng đòi xem, thái hậu đã cho phép rồi, hẳn cũng không có chuyện gì nguy hiểm. Có điều, các vị phải nghe kỹ lời Xuân Mai mới được. Thứ nhất, phải đi theo Xuân Mai, nhấc chân phải trước, nhấc chân trái sau, mắt nửa mở nửa nhắm, không được liếc sang hai bên; thứ hai, bất kể giẫm trúng thứ gì, đều không được lên tiếng, càng không được gào rú; thứ ba, trong đầu không được có tạp niệm, chỉ được nghĩ tới tiên quân, nghĩ tới ân huệ mà tiên quân đã ban cho. Nếu như từng làm việc gì đáng hổ thẹn, hãy thầm thỉnh cầu tiên quân lượng thứ! Nếu như tạp niệm rối ren, không tưởng nhớ tiên quân, hoặc từng gây lỗi lầm mà không biết cầu tiên quân dung thứ, lỡ xảy ra chuyện gì, chớ trách Xuân Mai không nói trước!”

Xuân Mai vừa dứt lời, đám cung nhân gồm cả Kỷ Cửu Nhi đều đưa mắt nhìn nhau. Một cung nhân quỳ sụp xuống, dập đầu bình bịch. Đám cung nhân còn lại thấy vậy, đua nhau quỳ lạy theo, Kỷ Cửu Nhi cũng quỳ xuống.

Xuân Mai cầm lấy ngọn đuốc từ trong tay một cung nhân, bảo những người khác bỏ hết đuốc lại, rồi dẫn đầu bước vào đường hầm. Kỷ Cửu Nhi bám sát theo sau, hai mắt không dám nhìn sang bên cạnh, chỉ nhìn thẳng vào gáy Xuân Mai.

Những kẻ khác lục tục bám theo sau Kỷ Cửu Nhi, ai nấy đều thấp thỏm kinh hãi.

Đường hầm quanh co lắt léo, thi thoảng lại có gió lạnh lùa vào, rít lên u u. Mặt đất gồ ghề nhấp nhô, dưới chân chốc chốc lại vấp phải thứ gì đó, có cứng có mềm. Trong lúc đang đi, một cung nhân chợt giẫm phải vật gì, có lẽ kinh hãi quá độ nên rú lên thành tiếng, ngã vật xuống đất không thấy đứng dậy nữa. Xuân Mai như không nghe thấy, tiếp tục bước đi.

Tiếng rú kia khiến Kỷ Cửu Nhi muốn vỡ mật, không dám ho he gì nữa, túm chặt lấy vạt áo sau lưng Xuân Mai, tay run bần bật. Xuân Mai cũng không nói không rằng, để mặc cho hắn túm.

Đi chừng trăm bước, Xuân Mai dừng lại, nói: “Họ Kỷ kia, buông vạt áo ta ra, hãy mở to mắt mà nhìn.”

Kỷ Cửu Nhi bèn buông tay, mở mắt ra. Xuân Mai chìa ngọn đuốc trong tay, lần lượt châm vào tám ngọn đèn đồng. Xung quanh lập tức sáng bừng như ban ngày.

Đập vào mắt đám cung nhân là một địa cung rộng đến vài trượng vuông, bày biện ở đây, hầu như đều là vật dụng tiên quân đã dùng lúc sinh tiền. Chính giữa phòng kê một chiếc án, trên án đặt vài bó thẻ tre, đa phần là tấu chương của triều thần mà tiên quân từng phê duyệt. Phía sau án chừng ba bước là một tấm mành châu màu tím.

Kỷ Cửu Nhi quét mắt nhìn về phía tấm mành châu.

Xuân Mai bước lên, vén mở mành châu, phía sau là một chiếc giường lớn, mặt giường để trống một nửa, một nửa có người đang nằm, trên mình đắp chăn, dưới đầu kê gối, trên mặt phủ tấm khăn lụa.

Kỷ Cửu Nhi sởn tóc gáy, chỉ lên trên giường lập bập:

“Là... là ai?”

Xuân Mai khẽ “suỵt” một tiếng: “Là tiên quân đấy, các vị chẳng phải tới để bái vọng tiên quân ư?”

Vừa nghe thấy hai chữ “tiên quân”, Kỷ Cửu Nhi kinh hãi rụng rời, hai chân mềm nhũn, quỳ sụp xuống đất, khấu đầu như giã tỏi. Đám cung nhân cũng đua nhau quỳ xuống.

“Đại vương,” Xuân Mai bước tới trước giường, khẽ giọng bẩm báo, “cung lệnh Kỷ Cửu Nhi phụng chỉ thái tử tới đây tìm dị quỷ, phu nhân đã chấp thuận, sai Xuân Mai dẫn họ vào đây yết kiến.” Quay sang Kỷ Cửu Nhi, “họ Kỷ kia, tiên quân ở đây, có vương mệnh gì, hãy tấu báo đi!”

“Tiên... tiên...” Kỷ Cửu Nhi lắp bắp hồi lâu, vẫn chưa thể thốt nổi tiếng “quân”.

“Họ Kỷ kia,” Xuân Mai nói, “nếu có việc gì, không phải nói thành tiếng, cứ khấn thầm là được! Anh linh của tiên quân ở đây, lời khấn trong lòng, tiên quân nghe thấy cả!”

Kỷ Cửu Nhi vội im bặt, khấu đầu sát đất, khấn thầm hồi lâu.

“Kỷ đại nhân, đã tấu báo xong chưa?” Xuân Mai lại hỏi.

“Xong... xong rồi!” Kỷ Cửu Nhi run rẩy đáp.

“Ngài có thể đứng dậy đi tìm dị quỷ được rồi!” Xuân Mai bình thản nói.

Kỷ Cửu Nhi muốn đứng lên, song hai chân mềm nhũn, dợm liền vài lần vẫn không nhổm dậy được. Xuân Mai tiến lại, lôi hắn dậy. Đám cung nhân cũng lục tục đứng lên theo.

Sau đó, Xuân Mai dẫn Kỷ Cửu Nhi đi xem một lượt các đồ vật xung quanh, đa phần là những thứ trong cung Cam Đường của Cơ Tuyết ở Kế Thành hồi trước. Tiếp đến, lại dẫn đi xem bốn vách tường địa cung, trên tường treo nhiều tranh chân dung, có nam có nữ, đa phần là dũng sĩ tử chiến hoặc triều thần đã mất dưới thời Văn Công. Xếp ở trên cùng là nội thần thân tín của Văn Công.

Xuân Mai giới thiệu một lượt, rồi nhìn sang Kỷ Cửu Nhi: “Kỷ cung lệnh, ở đây đều là ma quỷ cả, ngài xem đâu là dị quỷ ngài cần tìm?”

Kỷ Cửu Nhi lắp bắp: “Họ đều không... không phải!” Bất giác liếc nhìn người nằm trên giường.

Xuân Mai hiểu ý, bèn tiến lại trước giường, chỉ lên trên giường: “Họ Kỷ kia, đây là tượng gỗ tạc hình tiên quân, chính tay thái hậu đã đẽo gọt suốt mấy năm qua, mỗi khi tưởng nhớ tiên quân, thái hậu sẽ tới đây ngủ lại!” Rồi vén mở khăn lụa phủ trên mặt tượng gỗ, quả nhiên là khuôn mặt Văn Công, giống hệt như người thật.

Kỷ Cửu Nhi khẽ thở hắt ra một tiếng, lại quỳ xuống, bái lạy tượng tiên quân, đoạn quay sang Xuân Mai: “Chúng ta kiểm tra xong rồi, quả là không có ma quái gì cả, giờ sẽ về cung phục mệnh!”

“Đại nhân xin đi theo tiểu nữ!” Xuân Mai vòng tay nói, “trên đường trở về, chư vị có thể mở to mắt được rồi!”

Xuân Mai cầm đuốc, dẫn đầu đoàn người quay trở ra. Đi một chốc, bỗng vấp một cái, cúi xuống nhìn, thì ra là cung nhân vừa kêu rú khi nãy. Xuân Mai lúc này mới nhớ tới hắn, bèn giơ chân đá vài cái, hắn vẫn nằm bất động. Đưa tay lại bên mũi, thấy đã ngừng thở, đoán là hắn sợ quá mà chết, bèn quay sang Kỷ Cửu Nhi: “Kỷ đại nhân, người này hẳn không nghe lời khuyên của tiểu nữ, tâm sinh tạp niệm, bị ma núi moi tim mất rồi. Hãy khiêng ra!”

Kỷ Cửu Nhi sắc mặt trắng bệch, sai cung nhân khiêng xác chết, theo Xuân Mai ra khỏi đường hầm, leo lên cầu thang gỗ, rồi hớt hải đi luôn.

Nhìn cả đám sấp ngửa tháo chạy, Xuân Mai không kìm nổi nụ cười, nói với Cơ Tuyết: “Thật đáng đời, Xuân Mai sống đến hôm nay, cuối cùng đã được hả giận!”

Cơ Tuyết quay mặt về phía bắc, đổi ngồi thành quỳ, niệm thầm trong dạ: “Tô Tử, sự bình an của nước Yên, Cơ Tuyết trông cậy cả vào chàng!”

Sâu trong Yên cung, màn đêm buông kín.

Kỷ Cửu Nhi vốn chắc mẩm lập công, nào ngờ một phen khiếp hãi, suýt nữa vỡ mật giữa địa cung. Về tới cung Yên, hồi tưởng lại cảnh tượng dưới địa cung, Kỷ Cửu Nhi vẫn chưa hết kinh hoảng.

Kỷ Cửu Nhi không dám khinh suất, lập tức vào yết kiến Dịch Vương, bẩm báo toàn bộ những gì mắt thấy tai nghe dưới địa cung, nói rằng không phát hiện lấy một nửa manh mối.

Nghe hắn bẩm báo xong, Dịch Vương toát mồ hôi lạnh, lông tóc dựng ngược, sắc mặt hoang mang nhìn chằm chằm vào Kỷ Cửu Nhi.

Hiển nhiên, nếu chuyện Kỷ Cửu Nhi kể là sự thật, thì những gì họ đoán chừng trước đó đều đã sai, thái hậu quả thực trung trinh với tiên quân, không hề có quan hệ mờ ám gì với Tô Tần cả. Dịch Vương lặng đi một hồi, bất giác cũng thấy khâm phục phẩm hạnh của đệ nhất công chúa của Chu vương thất.

Tuy nhiên, vẫn có một chuyện, Dịch Vương càng nghĩ càng thấy khó hiểu.

“Một địa cung rộng lớn như vậy, thái hậu xây bằng cách nào?” Dịch Vương nhìn sang Lộc Mao Thọ, nửa như tự nhủ, nửa như chất vấn.

“Theo thần được biết,” Lộc Mao Thọ suy đoán, “địa cung là do tiên quân xây từ lúc sinh thời. Tiên quân rất thích vùng đất đó, nên đầu tiên là dựng biệt cung, sau mới xây thành lăng mộ. Lăng mộ xây xong chưa được bao lâu, tiên quân đã khuất núi, cũng là ý trời. Người trông nom việc xây lăng là công tử Ngư, người tiếp quản là Chử Mẫn. Đại vương nếu có nghi ngờ, có thể triệu Chử Mẫn đến hỏi.”

Vừa nghe thấy cái tên Tử Ngư, Dịch Vương trong lòng giật thột, không dám hỏi thêm nữa, chỉ gật gù lẩm bẩm: “Phải, đúng vậy! Đầu tiên bà ta muốn tuẫn táng, sau lại khăng khăng đòi chuyển đến biệt cung, hẳn là đã biết ở đó có địa cung, quả thực rất chung tình với tiên quân.” Khẽ thở dài một tiếng, “than ôi, có người đàn bà này túc trực bên mình, tiên quân không còn gì phải hối tiếc nữa!”

“Phải,” Kỷ Cửu Nhi tiếp lời, “nghe thị nữ nói, thái hậu mỗi khi nhớ tới tiên quân, sẽ xuống địa cung, ôm tượng gỗ mà ngủ. Tượng gỗ được đẽo rất khéo, thoạt nhìn, tiểu nhân cứ ngỡ đó là tiên quân!”

“Mao Thọ,” Dịch Vương quay sang Lộc Mao Thọ, “mấy ngày nay, Tô Tần làm những gì?”

“Cả ngày ở lì trong quán trọ, chẳng làm gì cả.” Lộc Mao Thọ đáp.

“Ồ?” Dịch Vương lấy làm ngạc nhiên, “cũng không tới thăm em trai hắn?”

“Không tới.” Lộc Mao Thọ đáp, “em trai hắn không ở nhà, nghe nói đã sang nước Tống mua hàng, buôn bán gì đó, vẫn chưa thấy trở về.”

“Buôn bán?”

“Cả nhà Tô Đại vốn ở trong phủ Tô Tần, lâu nay sống an nhàn không phải lo chuyện ăn mặc. Lần trước đại vương thu hồi trạch viện của Tô Tần, Tô Đại không còn chỗ nương thân, đành phải tự mua lấy một căn nhà, hẳn là vì sinh kế nên muốn buôn bán chút ít!”

“Tử Chi thì sao?”

“Vẫn thế, không ra khỏi nhà, cũng không ai tới nhà ông ta cả.”

“Ồ!” Dịch Vương nhìn chăm chăm vào Lộc Mao Thọ, “kể cũng lạ thật đấy. Quả nhân cứ ngỡ họ sẽ làm chuyện gì đó, nhưng tại sao lại gió yên sóng lặng thế này? Tử Khoái thì đã đành, nhưng tay Tử Chi kia, sao vẫn bình chân như vại thế?”

“Có lẽ ông ta chưa biết tin.” Lộc Mao Thọ đoán, “đại vương không ban chiếu cáo, Tử Khoái tuy đã nhận tin báo, song không nói gì, bởi từ lâu đã không muốn làm thái tử rồi, nên như vậy cũng là hợp với ý hắn. Còn như Tô Tần, lần này trở về Kế Thành, chưa biết chừng còn có việc gấp gì khác. Nếu vì chuyện phế lập thái tử, vậy thì từ ba mươi ngày trước, hắn đã đoán ra được rồi ư? Nếu không, đại vương ban chiếu chưa tới vài ngày, vả lại vẫn chưa chiếu cáo thiên hạ, sao hắn biết được mà kịp trở về? Ngày 3 tháng Ba, hắn còn ở Nghiết Tang. Nước lớn tụ hội, đến Trương Nghi cũng tới dự, quả đúng là đại sự thiên hạ thực!”

“Than ôi,” nhớ tới lời Sư Lý Tật, Dịch Vương rùng mình ớn lạnh, khẽ thở dài, “không phái người đến dự, quả nhân sai rồi! Quả nhân không ngờ các nước lớn đều tới cả.” Chau mày, “Tô Tần kia... than ôi.” Rồi nhìn sang Lộc Mao Thọ, “có kế hay nào không?”

“Theo ý thần,” Lộc Mao Thọ đáp, “đại vương có thể triệu kiến Tô Tần, hỏi thử xem hắn vội về Kế Thành là có chuyện gì. Nếu vì chuyện phế lập thái tử, đại vương vừa hay có thể nói thẳng, để xem người này phản ứng ra sao, dù gì chuyện này sớm muộn cũng sẽ phải công khai. Nếu không phải vì chuyện này, mà vì chuyện Nghiết Tang, đại vương không triệu kiến, há chẳng phải...”

“Truyền chỉ,” Dịch Vương vội quay sang Kỷ Cửu Nhi, “giờ Thìn ngày mai, có lời mời Tô Tử tới chính điện yết kiến!”

Giờ Thìn hôm sau, Tô Tần theo ngự sử Lộc Mao Thọ vào cung yết kiến.

Dịch Vương không chân trần ra tận ngoài cổng nghênh đón như mọi bận, mà ngồi nghiêm trang trên chiếu chủ, mặt nặng như chì.

Hành lễ xong xuôi, Tô Tần ngồi xuống chiếu khách.

“Thân là tung ước trưởng,” Dịch Vương nói thẳng vào đề, “Tô Tử lo chuyện sáu nước, quả là trăm công nghìn việc. Nghe nói mồng 3 tháng Ba, Tô Tử còn ở đất Tống mở hội thề với các nước lớn, trước sau mới hơn hai mươi ngày, Tô Tử đã lại bỏ mặc đại sự thiên hạ, vội vã tới đất Yên hẻo lánh, hẳn có đại sự muốn chỉ giáo quả nhân?”

“Tạ ơn đại vương tưởng nhớ!” Tô Tần vòng tay, “sau hội thề Nghiết Tang, thần đúng là có đại sự phải làm. Trước tiên trở về kinh đô Đại Lương nước Ngụy, bố trí phòng ngự Tây Hà, sau đó sang Triệu, muốn tấu báo lên Triệu Vương về hội thề Nghiết Tang.”

Dịch Vương hỏi: “Tô Tử hẳn đã gặp Triệu Vương rồi?”

“Vẫn chưa!”

“Ồ?” Dịch Vương ngả người về trước, mắt nhìn thẳng vào Tô Tần, “cớ sao Tô Tử chưa gặp Triệu Vương đã vội tới Kế Thành?”

“Vì trên đường đi, thần nghe thấy một chuyện!”

Dịch Vương hít ngược một hơi khí lạnh, giọng gấp gáp: “Chuyện gì?”

“Nghe nói hai tháng trước, phủ trạch của thần bị đại vương thu hồi. Thần sợ là tin đồn nhảm, nên mới mặc kệ Triệu Vương, trở về Kế Thành trước, xem thực hư thế nào.

Về tới phủ, quả nhiên thấy đã đổi chủ mới! Thần hoang mang sợ hãi, vội vào cung thỉnh tội, thế nhưng đại vương...”

“Ôi!” Dịch Vương thở phào một tiếng, sắc mặt hơi dịu xuống, “không ngờ Tô Tử mang cả thiên hạ trong lòng, mà vẫn bận tâm tới ngôi nhà hẻo lánh này ư?”

“Không phải thần bận tâm tới phủ trạch này, mà là bận tâm tới đại vương!”

“Ồ?” Dịch Vương lại ngả người về trước, “quả nhân làm sao?”

“Phủ trạch này là do tiên quân ban tặng, có ghi trong sổ sách của phủ tư đồ. Sau khi đại vương kế vị, cũng không ban chỉ thu hồi, cho thấy đại vương cũng đồng tình với tiên quân. Hai tháng trước lại đột nhiên hạ chỉ thu hồi, nên thần mới...” Tô Tần dừng lại nửa chừng.

“À,” Dịch Vương chép miệng vài cái, “theo quả nhân biết, Tô Tử đã hơn hai năm chưa tới đất Yên. Nếu Tô Tử đã không ở đó...”

“Nhà dù có để không, cũng là ân Điền của tiên quân, là của riêng của thần, thần có nhà này, trong lòng sẽ luôn tưởng nhớ tới tiên quân và ân huệ của đại vương. Hơn nữa, nhà này thần lại chưa từng để không, có em trai thần thay mặt trông nom sớm tối. Đại vương đã hạ chỉ thu hồi, chắc hẳn bởi thần đã gây ra tội lỗi, thân hoang mang lo lắng, mới vội vã trở về, xin vào yết kiến, chỉ là để thỉnh tội!”

“Ồ,” thấy sự tình té ra là thế này, Dịch Vương dù sao cũng đã nhẹ lòng, chớp mắt vài cái, liền nghĩ ngay ra cách ứng phó, “không giấu Tô Tử, quả nhân đúng là đã nghe thấy một số lời không hay về Tô Tử, nên nhất thời giận dữ, mới thu hồi phủ trạch của Tô Tử!”

Tô Tần đứng dậy, quỳ xuống dập đầu: “Tô Tần đã phạm phải tội gì, dám mong đại vương nói rõ, để Tô Tần được chết minh bạch!”

Dịch Vương bật cười vài tiếng: “Tô Tử hãy đứng dậy.

Cũng không có gì nghiêm trọng, chỉ vì có người kể lể với quả nhân rằng, Tô Tử là người bất tín.”

“Dám hỏi đại vương, Tô Tần bất tín chỗ nào?”

“Ờ...” Dịch Vương cười gượng một tiếng, “nghe nói Tô Tử lúc bày mưu cho Tề, lúc bày mưu cho Triệu, lúc bày mưu cho Hàn, lúc lại bày mưu cho Sở, làm mất cái đạo trung tín. Tô Tử như vậy, rốt cuộc là vì ai, quả nhân thực sự không thể biết được!”

“Than ôi!” Tô Tần rầu rĩ thở dài, không khấu đầu nhận tội nữa, mà phủi tay tự đứng dậy, ngồi lại vào chỗ.

“Tô Tử cớ sao lại thở dài?” Dịch Vương nghiêng người lại hỏi.

“Chính vì hai chữ trung và tín này!” Tô Tần cất giọng rành rọt.

“Trung và tín sao kia?”

“Trung, là hiếu, là liêm; tín, là thành, là nghĩa.” Tô Tần nhìn thẳng vào Dịch Vương, “thần cho rằng, xét về phẩm hạnh, tự cổ chí kim, trong thiên hạ này, về tín không ai bằng được Vĩ Sinh, về liêm không ai bằng được Bá Di, về hiếu không ai bằng được Tăng Sâm, đại vương nghĩ sao?”

“Quả nhân đồng ý.”

“Nếu có người tín như Vĩ Sinh, liêm như Bá Di, hiếu như Tăng Sâm, tới đây phụng sự đại vương, đại vương có từ chối không?”

“Đương nhiên sẽ không từ chối. Quả nhân còn sợ không có được cái phúc ấy!”

“Thần xin nói về Tăng Sâm trước. Tăng Sâm phụng sự song thân, không dám ở ngoài dù chỉ một đêm. Nếu người đó hiếu như Tăng Sâm, thì liệu có chịu nghe lệnh đại vương, vì đại vương mà đi sứ sang Tề, tối ngày bôn ba dặm trường hay không?” Tô Tần nhìn thẳng vào Dịch Vương.

“Ồ...” Dịch Vương ngẩn ra không đáp.

“Lại nói về Bá Di. Bá Di là con trai trưởng của nước Cô Trúc, chư hầu của nhà Thương, kiên trì đạo nghĩa, cự tuyệt ngôi vua nước Cô Trúc. Sau khi Chu Vũ Vương có được thiên hạ, không thần phục Chu thất đã đành, đến thóc gạo của nhà Chu cũng không chịu ăn, cuối cùng chết đói trên núi Thú Dương. Nếu người đó liêm như Bá Di, thì sao chịu bỏ Chu thất, bôn ba vài nghìn dặm tới phò tá nước Yên xa xôi đây?”

“Ồ...” Dịch Vương im bặt.

“Còn có Vĩ Sinh. Vĩ Sinh rất trọng chữ tín, hẹn gặp bạn dưới chân cầu, bạn chưa tới, nước sông dâng cao, Vĩ Sinh ôm chân cầu mà chết. Nếu người đó tín như Vĩ Sinh, liệu có chịu đứng giữa triều đường cường Tề mà tán tụng uy thế của Yên, Tần, từ đó uy hiếp Tề Vương, đòi về mười thành Hà Gián cho đại vương chăng?”

Dịch Vương không thốt nổi lời nào.

“Đại vương,” Tô Tần chậm rãi nói, “thần vốn là thường dân Đông Chu, khi gặp tiên quân, chưa có được chút công danh, vậy mà tiên quân đối đãi với thần như khách quý, trọng dụng thần trong triều đình, ban cho phủ trạch, của cải. Thần không có gì báo đáp, chỉ biết nguyện chết vì Yên. Đến khi đại vương kế vị, vẫn không khinh thần là phường bỉ lậu, hay tin thần quay về, đi chân trần ra đón, ngồi chạm gối tâm tình. Thần không có gì báo đáp, hay tin cường Tề đoạt mười thành của ta, mới liều mình nhận mệnh, giữ vững nước Yên trong cơn nguy cấp...” Dừng lại một chốc, giọng nói chợt nghẹn ngào, “nào ngờ đại vương lại tin lời gièm pha của kẻ khác, trách thần bất tín.” Nói đến đây, đưa tay áo lau nước mắt.

Phần vì cảm động trước lời lẽ của Tô Tần, phần vì hổ thẹn mình luôn hoài nghi Tô Tần và thái hậu có tư tình, cuối cùng mới vỡ lẽ là không phải, Dịch Vương thở dài rầu rĩ: “Tô Tử, quả nhân thật là...!”

“Đại vương có điều không biết,” Tô Tần cứ như đang diễn kịch, bàn tay đang gạt lệ bỗng vung lên, giọng nói chợt sang sảng hùng hồn, “phàm người hành sự theo trung tín, đều là vì bản thân, chứ không phải vì người khác. Trung và tín là thuật tự che. Tự che tức là che đậy bản thân, cũng tức là quay về với bản thân. Cũng có nghĩa là, kẻ nêu cao trung tín, chỉ biết chăm lo giữ mình tốt đẹp, chứ không phải vì mưu cầu tiến thủ, lập công dựng nghiệp. Cho dù là tam vương hay ngũ bá, có ai không phải quân vương cầu tiến thủ? Có ai chỉ biết chăm lo cho bản thân mình? Lẽ nào đại vương lại theo cái thuật tự che đậy? Nếu theo thuật đó, thì người Tề đã không vượt qua ranh giới Hà Thuỷ, người Yên cũng không nhòm ngó đất ngoài biên cương.”

Dịch Vương hiển nhiên vẫn chưa hiểu hết ý tứ trong lời nói của Tô Tần, nheo mắt trầm ngâm.

“Ồ, phải rồi.” Tô Tần bỗng vỗ đầu đánh bốp, làm như vừa sực nhớ ra, “đại vương vốn là một nhà vua tự che, nên không hợp với chí hướng của thần!”

“Có chỗ nào không hợp?” Dịch Vương nhìn sững vào Tô Tần.

“Thần từ biệt mẹ già ở đất Chu, vượt đường xa vạn dặm tới phụng sự đại vương, chỉ vì một mục đích duy nhất, trừ bỏ thuật tự che đậy, tìm kiếm đạo tiến thủ. Nào ngờ chí của thần lại không hợp với chí đại vương, bởi đại vương là vị vua tự che, chỉ mong bề tôi giữ đạo trung tín, chứ không cần bề tôi lập công dựng nghiệp!”

“Ồ...” Dịch Vương nghe mà rối bời, “lẽ nào trung, tín không tốt ư?” Ngả người về trước, nhìn xoáy vào Tô Tần, “theo Tô Tử nói, thì trung, tín lại có tội ư?”

“Đại vương có muốn nghe một câu chuyện cũ chăng?”

“Xin hãy kể.”

“Thần có một người hàng xóm làm sứ thần ở ngoại bang, lâu không về thăm nhà. Vợ hắn chán cảnh vò võ, bèn tư thông với kẻ khác. Hay tin người hàng xóm sắp trở về, gian phu lo chuyện gian dâm không còn tiếp tục được nữa. Người vợ bèn nói: ‘Chàng chớ lo, thiếp đã chuẩn bị sẵn rượu độc cho hắn rồi.’ Hai ngày sau, người hàng xóm trở về, vợ liền sai người thiếp dâng rượu tẩy trần. Người thiếp biết rõ trong rượu có độc, dâng rượu thì người chồng sẽ chết,

mà nói ra thì người vợ sẽ bị đuổi, bèn giả vờ bị ngã làm đổ rượu. Người hàng xóm nổi giận, lấy roi đánh người thiếp. Người thiếp giả vờ ngã làm đổ rượu, trên cứu sống chồng, dưới giữ được vợ, trung thành đến vậy, mà vẫn phải hứng chịu đòn roi oan ức. Đại vương, đây chính là vì trung, tín mà phải chịu tội!” Tô Tần thở dài, “than ôi, cảnh ngộ của thần lúc này, nào có khác gì người thiếp kia. Thần phụng sự đại vương, tận trung, tận tín, không hao tổn một binh một tốt, một đồng một hào của đại vương, chỉ dựa vào sức của một người mà đẩy lùi vài vạn quân Tề, hoàn trả mười thành cho đại vương. Thần lập công với nước, song lại đắc tội với đại vương...” Nói đoạn, ngoảnh đầu sang chỗ khác.

Dịch Vương cười gượng mấy tiếng, vòng tay: “Để Tô Tử chịu oan rồi, quả nhân xin tạ lỗi!” Quay sang Kỷ Cửu Nhi, “soạn chỉ, trả lại Tô Tử phủ trạch vốn có, ban tặng mười dật vàng, mười súc lụa, mười nô bộc!”

“Thần lĩnh chỉ!” Kỷ Cửu Nhi đáp.

“Thần khấu tạ đại vương!” Tô Tần quỳ xuống, dập đầu.

“Tô Tử xin hãy đứng dậy!” Dịch Vương vội chìa tay, tươi cười nói.

Vẻ tươi cười của Dịch Vương không phải là giả tạo, bởi vì có hai mối hiềm nghi đã hoàn toàn được giải toả. Thứ nhất, Dịch Vương xưa nay luôn hồ nghi Tô Tần và thái hậu có quan hệ mờ ám, giờ xem ra đã quá đa nghi. Thứ hai, Tô Tần lần này gấp gáp quay về, chỉ vì chuyện gia tài, chứ không phải chuyện phế truất thái tử. Dịch Vương thật không ngờ Tô Tần cũng ham tài đến vậy. Nếu đã có nhược điểm này, Dịch Vương sẽ dễ bề đối phó. Nước Yên có nghèo đến mấy, thì vương thất cũng không thiếu tiền.

Nếu có tiền mà mua chuộc được Tô Tần, liệt quốc thiên hạ rồi sẽ nằm trong tay. Dù là Tần hay Tề, chỉ một mình Tô Tần là đủ để đối kháng.

Dịch Vương đang chìm đắm trong suy nghĩ, lại chợt nghe Tô Tần lên tiếng: “Thần còn có một thỉnh cầu!”

“Xin cứ nói.” Dịch Vương tươi cười vui vẻ, thấy Tô Tần lại khấu đầu, bèn vòng tay đáp lễ.

“Trong hội thề Nghiết Tang,” Tô Tần chậm rãi nói, “lệnh doãn nước Sở Chiêu Dương, tướng Tề Điền Anh và tướng Hàn Công Tôn Diễn đã bàn luận rất tâm đầu ý hợp, Triệu Vương, Ngụy Vương đều uỷ thác thần xử lý việc của Triệu, Ngụy, năm nước đã kết minh ước, cùng làm việc lớn, việc lớn này chính là hợp tung. Nước khởi xưởng hợp tung, chính là nước Yên, nên thần mới nói, không thể bỏ lại nước Yên, các nước đều tán đồng. Sau khi hội thề kết thúc, mỗi nước đều cử ra một người, phụ trách việc hợp tung. Sở là Chiêu Dương, Tề là Điền Anh, Hàn là Công Tôn Diễn. Thần là tung ước trưởng, nên không thích hợp thay mặt Triệu, Ngụy, sau khi về Ngụy, thần đã từ chức tướng quốc nước Ngụy, cho Ngụy lựa chọn người thích hợp. Ngụy Vương nhờ thần tiến cử, thần đã chọn thái tử. Còn nước Triệu, hẳn sẽ chọn Phì Nghĩa, do dạo trước Phì Nghĩa có bệnh, không thích hợp bôn ba, người khác lại không ai đủ sức đảm đương, Triệu Vương mới phái người tuyên chiếu, uỷ thác cho thần xử lý việc nước Triệu. Lần này về Kế Thành, vừa hay thần cũng muốn thỉnh cầu đại vương, hãy chọn ra một người thích hợp, thực thi việc lớn của thiên hạ!

“Tốt lắm!” Dịch Vương phấn chấn ra mặt, nhắm mắt ngẫm nghĩ chốc lát, rồi mở mắt nhìn thẳng vào Tô Tần, “theo ý Tô Tử, ai có thể đảm đương?”

“Nếu hỏi ý thần, thần xin tiến cử thái tử!” Tô Tần vòng tay, “vì với nước Yên, đây là sự việc trọng đại, có thể kết giao sáu nước, hoà hợp thiên hạ, không phải thái tử, không ai có thể đảm đương.”

Vừa nghe thấy hai tiếng “thái tử”, tim Dịch Vương bỗng nảy lên một cái, sắc mặt lập tức tối sầm.

“Vả lại,” Tô Tần như không nhìn thấy, lại nói tiếp, “lần trước sáu nước hợp tung, thái tử là phó sứ nước Yên, theo thần bôn ba vạn dặm, lưu lại tiếng thơm khắp liệt quốc, bất luận là Triệu, Ngụy, Hàn, Tề hay Đại Sở, đều khen ngợi thái tử hết lời, có thể nói là tiếng lành đồn xa.”

“Liệt quốc khen ngợi thái tử thế nào?” Dịch Vương nhìn xoáy vào Tô Tần.

“Khen thái tử ngoài nhu trong cương, việc nhỏ không câu nệ, việc lớn có quyết đoán, không hổ danh là người kế vương nghiệp!”

Dịch Vương cười gượng, nhìn sang Lộc Mao Thọ và Kỷ Cửu Nhi: “Kế vương nghiệp?”

“Đại vương,” Tô Tần vẫn làm ra vẻ không hay biết, “rèn giũa thái tử, là lo cho tương lai, bằng không, đại vương sau khi trăm năm, nếu thái tử đức không xứng vị, thần lấy làm lo ngại cho tương lai của nước Yên.”

Rõ ràng, Tô Tần lúc này đang dùng mồi nhử là vương vị, để bức ép Dịch Vương phải tự nói ra chuyện phế truất thái tử, bởi đến lúc này, chuyện phế lập vẫn chưa chiếu cáo thiên hạ, chỉ có những người thân tín mới biết tin. Dù rằng Tử Khoái ở tận Tạo Dương đã nhận được chiếu lệnh, cũng không thể tiết lộ thông tin ra ngoài, bởi xung quanh Tử Khoái hầu hết đều là người của Dịch Vương. Là người ngoài, hơn nữa còn đứng về thế lực đối địch, Tô Tần hiểu rõ, nếu sơ hở tiết lộ một lời, sẽ chuốc lấy tai họa khôn lường.

Dịch Vương lúc này đã bị dồn tới góc tường, nhìn sang Lộc Mao Thọ và Kỷ Cửu Nhi, thấy hai người không ra ám hiệu gì, biết là cũng không nặn ra được kế hay, chỉ còn cách thú thực sự tình, quay sang Tô Tần, cười nói: “Nếu là vậy, quả nhân muốn đổi một người khác, được chứ?”

“Đổi người nào kia?” Tô Tần mặt không biến sắc.

“Tử Chức.”

“Dám hỏi đại vương, sao lại đổi thành Tử Chức?”

“Ờ,” Dịch Vương nghiến răng, “Tử Khoái nhu nhược thiếu quyết đoán, không đủ sức cai trị nước Yên. Quả nhân suy nghĩ nát óc, quyết ý thay bằng Tử Chức, đã chọn ngày đẹp để tế cáo thiên địa xã tắc, hành đại lễ lập thái tử mới.”

“Than ôi!” Tô Tần buông một tiếng thở dài não nề, tiếp đến bật khóc hu hu ngay giữa triều đình, “ô hô, thương thay...”

Tô Tần khóc rất bi thiết, như thể mất cha mất mẹ.

“Sao Tô Tử lại khóc thương tâm làm vậy?” Dịch Vương cắt ngang.

“Vì nước Yên, cũng vì đại vương!” Tô Tần hai tay giơ lên trời, đổi khóc thành hú, “ô hô, thương thay...”

Dịch Vương sầm ngay sắc mặt: “Nước Yên làm sao? Quả nhân làm sao?”

“Đại vương nếu như phế lập thái tử, nước Yên nguy mất, đại vương nguy mất, thân là người ngoài, thần chẳng còn cách nào khác, chỉ có thể khóc mà thôi!”

“Tô Tử nói thử xem, nước Yên nguy thế nào? Quả nhân nguy thế nào?”

“Dám hỏi đại vương,” Tô Tần nhìn thẳng vào Dịch Vương, “với sức của Yên, có thể chống lại cường Tề không?”

“Người Tề có gì ghê gớm!” Dịch Vương cười nhạt.

“Đại vương,” Tô Tần khẽ thở dài, “người Tề không có gì ghê gớm, chỉ là hai lần đánh bại võ binh Đại Ngụy, bức chết Bàng Quyên, khiến tướng Sở Chiêu Dương khiếp vía mà lui khỏi đất Tiết, khiến quân Tần thảm bại ở Tang Khâu mà thôi! Còn như đại vương, sao lại có thể vừa lành sẹo đã quên đau? Khi người Tề chiếm đoạt mười thành Hà Gián, đại vương có đêm nào ngon giấc? Đại vương đã triệu thần về, phái thần sang Tề cầu hoà. Đại vương chỉ biết Tề Vương nghe theo lời thần, hoàn trả mười thành, mà lại không biết cớ sao Tề Vương chịu nghe lời thần, rút quân trả thành!”

“Vì sao kia?”

“Thân xin nói rõ,” Tô Tần dõng dạc, “khi tung thân mới thành, Bàng Quyên mê muội phạt Tần, bất chấp lời thần khuyên can, dẫn quân sáu nước đánh vào ải Hàm Cốc. Đúng vào lúc này, đại vương nghe lời sứ Tần, phế truất thái tử, tiên Tề Vương bèn bỏ bẵng đại sự sáu nước phạt Tần, phải Điền Kỵ dẫn ba quân quay về, chinh phạt đại vương, cướp lấy mười thành Hà Gián nước Yên, còn định thừa thắng tiến đánh Kế Đô. Đại vương lo lắng không yên, triệu gấp thần tới bàn đối sách. Thần dẫn Tử Khoái sang Tề, Tử Khoái ôm chặt hai chân tiên Tề Vương, khóc lóc suốt hai canh giờ! Tử Khoái là cháu ngoại dòng đích của tiên Tề Vương, cháu ngoại khóc than, ông ngoại lòng đau như cắt! Tiên Tề Vương mới triệu thần tới, đồng ý lui binh, trả thành, song đưa ra một điều kiện, chính là đại vương không thể phế truất thái tử. Đại vương không những đồng ý, còn kết minh ước với tiên Tề Vương. Nay minh ước vẫn còn, đại vương đã lại phế truất thái tử, chính là huỷ ước. Đại vương huỷ ước, Tề Vương hiện tại là cậu của Tử Khoái. Cháu ngoại bị phế truất, cậu có bỏ mặc được chăng? Nếu Tề khởi binh phạt Yên, Yên lấy gì chống đỡ?”

Dịch Vương thở phì phò một chốc, mới đấm xuống án mà nói: “Quân tới tướng chặn, quả nhân lẽ nào lại sợ?”

“Đại vương,” Tô Tần lại thở dài, “quân tới tướng chặn, thế nhưng, Tề có đại tướng Khuông Chương, còn đại vương có dũng tướng nào đây? Tướng quân Tử Chi chăng? Đại vương có tin Tử Chi không? Mà dù có tin, tướng quân Tử Chi liệu có chống được Khuông Chương vừa mới đánh bại quân Tần? Đại vương có biết, người thống lĩnh quân Tần không phải ai khác, chính là đệ nhất danh tướng liệt quốc Tư Mã Thác!”

“Quả nhân...” Dịch Vương ngập ngừng một thoáng, “quả nhân nghe nói, là quân Tần cố tình thất bại trước người Tề!”

Tô Tần phá lên cười một tràng dài, rồi lấy từ trong ống tay áo ra một tấm da dê: “Đại vương hãy xem cái này, là biết ngay người Tần có cố tình hay không!”

Kỷ Cửu Nhi đón lấy, đưa cho Dịch Vương.

Dịch Vương mở ra xem, là bức tranh vẽ cảnh người Tần cướp bóc lương thực ở nước Hàn.

“Cái gì... cái gì thế này?” Dịch Vương không hiểu.

“Chính là những binh lính Tần đã cố tình bại trận đó!” Tô Tần lại phì cười, “họ vờ bại trận, cố tình tử thương hai vạn người, vứt bỏ toàn bộ quân nhu, suốt dọc đường về không có cơm ăn, đòi vay lương người Tống, người Tống không cho; đòi vay lương người Ngụy, người Ngụy không cho; đòi vay lương người Hàn, người Hàn không cho, lính Tần đói khát quá độ, phải cướp bóc lương thực khắp đất Hàn. Đây đều là cảnh tượng do bách tính nước Hàn vẽ lại. Đại quân uy vũ giả bại của Đại Tần là đây, thê thảm đến độ phải cướp miếng ăn của dân thường.”

Dịch Vương kinh ngạc không để đâu cho hết: “Chuyện này không thể!”

“Có thể hay không,” Tô Tần điềm tĩnh đáp, “muốn kiểm tra không khó, đại vương chỉ cần phái người thân tín tới đất Tống, đất Ngụy, đất Hàn dò hỏi dân chúng một lượt, sẽ rõ ngay thôi! Biết người biết ta, trăm trận bất bại. Quốc gia đại sự, sinh tử tồn vong, không phải chuyện thường, đại vương nhất thiết không thể ngồi trong cung mà ức đoán chuyện thiên hạ, rồi đến cuối cùng, lại nghe theo lời gièm pha của tiểu nhân!”

Tô Tần nói xong, Dịch Vương toát mồ hôi lạnh, hồi lâu không nói được câu nào.

“Đại vương,” Tô Tần thừa cơ lấn tới, “nước Yên không phải của thần, đất Yên không phải của thần, Tử Khoái, Tử Chức cũng không phải thân thích của thần. Thần vốn là thứ dân Đại Chu, chịu ân trạch của tiên quân, nên nay mới có được vinh hạnh kết thân sáu nước, ra vào triều đình. Là một thảo dân, thần đã mãn nguyện lắm rồi. Vàng bạc của thần, đã đủ tiêu xài, nhà ở của thần, đã đủ dung thân, nô bộc của thần, đã đủ sai khiến, xe ngựa của thần, đã đủ bôn ba. Điều thần lo lắng, chỉ là đại vương!” Thở dài thườn thượt, “than ôi, đại vương hãy nghĩ mà xem, nếu đại vương khăng khăng phế lập thái tử, Tề Vương ắt sẽ phái Khuông Chương khởi binh chinh phạt. Đại vương thất nghĩa trước, phế trưởng lập thứ, dân Yên chắc gì tâm phục, chắc gì chịu ứng chiến. Lúc đó, đại vương cầu cứu ai đây? Cầu cứu người Triệu ư? Cầu cứu người Hồ ư? Cầu cứu Trung Sơn ư? Cầu cứu người Hàn ư? Cầu cứu người Sở ư? Thất nghĩa là thất đạo, thất đạo thì ít được trợ giúp. Đại vương chẳng còn cách khác, chỉ có thể cầu cứu người Tần. Cho dù người Tần chưa hề chiến bại ở Tang Khâu, chưa từng thảm hại trên đường về, dẫu người Tần chịu xuất binh, cũng khó đấy. Đại vương nghĩ xem, người Tần làm thế nào để đưa quân cứu Yên? Tần cách Yên vạn dặm, người Tần nếu muốn cứu Yên, buộc phải đi qua Tam Tấn, Tam Tấn có chịu cho mượn đường không? Dù Tam Tấn chịu cho mượn đường, người Tần xuất binh, bất luận thắng thua, đều phải trở về, đường về vạn dặm, núi non trùng điệp, sông ngòi chắn lối, đường dài thì nhiều hiểm nạn, tai ương khó lường! Năm xưa Mục Công mượn đường phạt Trịnh, kết quả Trịnh chưa phạt được, đã bại ở ải Hào, toàn quân tận diệt, ba tướng bị bắt, mối nhục này vẫn còn ám ảnh người Tần đến tận bây giờ!”

Lời của Tô Tần, đều là sự thực.

“Tung ước trưởng,” Dịch Vương đứng dậy, khom lưng trước Tô Tần, “mọi chuyện trước đây, đều là lỗi của quả nhân, quả nhân... có chỗ nào đắc tội, mong tung ước trưởng lượng thứ!”

“Đại lễ của đại vương, thần không dám nhận!” Tô Tần dập đầu nói.

“Tung ước trưởng hãy đứng dậy,” Dịch Vương bước tới đỡ Tô Tần dậy, ấn ngồi xuống chiếu, rồi quay về chỗ, nhìn sang Kỷ Cửu Nhi, “soạn chỉ, thu hồi chiếu mệnh, kể từ hôm nay, không ai được phép nhắc tới chuyện phế lập thái tử nữa!”

“Thần lĩnh chỉ!” Kỷ Cửu Nhi đáp.

“Tạ ơn đại vương lắng nghe!” Tô Tần lại đứng lên bái lạy, rồi nói, “thân thỉnh cầu đại vương hãy cho thái tử làm đặc sứ nước Yên, trợ giúp đại nghiệp tung thân!”

“Quả nhân chuẩn tấu!” Dịch Vương quay sang Lộc Mao Thọ, “soạn chỉ, lệnh cho thái tử Khoái làm sứ thần tung thân nước Yên, giúp tung ước trưởng, tương trợ đại sự liệt quốc!”

“Thần lĩnh chỉ!” Lộc Mao Thọ vòng tay nói.

Dịch Vương mặt mày hớn hở, cười lớn vài tiếng: “Kỷ Cửu Nhi, mau đi bày rượu, đêm nay trời đẹp, quả nhân muốn uống thoả thích cùng Tô Tử tại đình Tùng hồ Nguyệt, không say không về!”

A black and white sign Description automatically generated

MƯU Ô KIM, TRƯƠNG NGHI SANG SỞLỜI BẤT CHÍNH, VƯƠNG THÂN KẾT ĐOÀN

Trong quán trọ tại Nghiết Tang, khi xe ngựa của Tô Tần đã khuất khỏi tầm mắt, Trương Nghi sắc mặt thất thần.

Trương Nghi loạng choạng quay về khách xá, đóng chặt cửa phòng, mặc cho nước mắt trào ra giàn giụa, giờ mới lấy làm hối hận vì mình đã quá tuyệt tình. Đúng vậy, sao hắn lại không thử lắng nghe xem Tô Tần muốn nói gì? Hắn không quản nghìn dặm xa xôi tới đây, lẽ nào chỉ để bày một ván cờ? Dọc đường đi, Trương Nghi đã suy nghĩ không biết bao nhiêu lần rằng sẽ làm gì khi gặp Tô Tần. Trêu chọc nhau ư? Hay là ôm chầm lấy nhau... Nhưng đến khi Tô Tần bằng xương bằng thịt ngồi ngay trước mặt, tại sao hắn lại không tỏ thái độ gì? Tại sao lại chỉ giương mắt nhìn nhau? Tô Tần có thù gì với hắn chăng? Chẳng phải là Tô Tần vẫn luôn trợ giúp Trương Nghi hắn?

Phải rồi, cớ sao hắn lại không hỏi, khi Tô Tần quay về Quỷ Cốc, sư tỷ đã nói những gì với hắn? Sư tỷ ái mộ Tô Tần, cũng nên được đáp lại chứ? Tô Tần có yêu sư tỷ không? Tô Tần và Tuyết công chúa không thể đến được với nhau, Tô Tần với sư tỷ mới là một cặp. Tô Tần vào núi, là vì sư tỷ ư? Lẽ nào không phải vì sư tỷ? Nếu không phải, thì Tô Tần vào núi làm gì? Trương Nghi thực lòng cầu phúc cho hai người họ! Hắn không xứng với sư tỷ, hắn chỉ hợp với Hương Nữ mà thôi.

Vừa nghĩ tới sư tỷ và Hương Nữ, trong lòng Trương Nghi bỗng dưng chua xót. Hắn yêu sư tỷ là thế, sư tỷ lại yêu Tô Tần. Hương Nữ yêu hắn là thế, mà hắn...

Tuy nhiên...

Tô Tần đã nói những gì? Chuyện hợp tung, chuyện tung hoành đối kháng, đều là chuyện quyết đoán thịnh suy, song mục tiêu cộng sinh mà Tô Tần đã phải khổ sở không ít mới lĩnh ngộ được, là chuyện thế nào? Cộng sinh là gì? Người có thể cộng sinh ư? Vạn vật có thể cộng sinh ư? Đạo trời là cộng sinh ư? Nếu đạo trời là cộng sinh, thì vạn vật đã không tương khắc tương sát, sâu bọ sẽ không ăn lá cây, dê cừu sẽ không gặm cỏ, chó sói sẽ không ăn thịt cừu, chim ưng sẽ không bắt thỏ, mèo sẽ không vồ chuột... Than ôi, Tô huynh, sao lại không hiểu lời dạy của tiên sinh? “Thiên hạ đại ngã, công tư tư công”, sao lại có thể giải thích là cộng sinh được? Trước khi xuống núi, tiên sinh đã chỉ rõ thiên hạ chỉ có hai con đường để sống bình an, một là thiên hạ nhất thống, hai là liệt quốc cùng trị. Liệt quốc cùng trị sao có thể là thiên hạ cộng sinh? Thiên hạ cộng sinh, thì con người có ăn thịt nữa không? Nếu vẫn ăn thịt, thì ăn xác chết ư, hay là sát sinh để ăn?

Thế nhưng, câu kệ của tiên sinh, không hiểu là cộng sinh, thì phải hiểu thế nào đây? Đúng là cần phải suy ngẫm cho thật kỹ, đợi hắn bình tâm lại, sẽ vào núi Chung Nam, đóng cửa nghiền ngẫm ba ngày, không gặp ai hết, ngoại trừ Hương Nữ...

Trương Nghi cứ thế dằn vặt suy nghĩ suốt một đêm, tới sáng hôm sau thì truyền lệnh quay về.

Sau khi xe qua ải Hàm Cốc, Trương Nghi nhớ tới Hương Nữ và con trai Khai Địa, bèn bảo công tử Hoa về cung bẩm báo, còn mình đánh xe rẽ vào khe Hàn Tuyền, ở chơi với con trai ba ngày, Hương Nữ hối thúc mãi mới chịu quay về Hàm Dương.

Trương Nghi trở về, cũng khéo trùng hợp, đúng lúc Ngụy Chương từ Hán Trung vừa về đến.

Hay tin Trương Nghi hồi phủ, Ngụy Chương tìm đến thăm hỏi, tới bên ngoài cổng, mới sực nhớ ra công chúa Tử Vân, đành phải quay về, để lại thiếp mời Trương Nghi tới phủ, nói rằng có chuyện quan trọng cần bẩm báo.

Trương Nghi vốn dĩ không muốn nấn ná lâu trong phủ, bèn sai Tiểu Thuận đánh xe tới nhà Ngụy Chương ngay.

Ngụy Chương vẫn sống trong phủ trạch mà Tần Huệ Vương ban cho Trần Chẩn, do lâu không về, mạng nhện giăng kín. Ngụy Chương đang sai người quét dọn thì thấy Trương Nghi tới cửa, bèn tươi cười tạ lỗi, dẫn ra hậu hoa viên, cùng ngồi xuống ghế đá.

“Hãy nói về Ba Thục trước!” Trương Nghi vào ngay chuyện chính.

“Đất Ba cơ bản bình yên, Trần Trang bỏ chạy vào Ba Sơn, đã ở trong tay người Ba rồi,” Ngụy Chương đáp, “người Ba đối đãi với hắn rất tốt, xem như khách quý. Nếu đại vương muốn lấy đầu hắn, e rằng sẽ phải trả giá đắt.”

“Thi Tử hẳn có tin tức?”

“Thi Tử nói, người Ba chọn vua mới, nguyện thần phục Tần, song Tần Vương phải hoàn trả vĩnh viễn suối muối và vùng núi ở phía đông Ba Thuỷ, Ô Thuỷ cho người Ba, người Tần không được can dự vào. Để đền đáp, người Ba hứa rằng lượng muối khai thác được sẽ cống nạp một phần năm cho người Tần, bán hai phần năm cho người Tần, hai phần năm còn lại, người Ba được tùy ý sử dụng.”

“Đã tấu báo lên đại vương chưa?” Trương Nghi hỏi.

“Tại hạ vừa về, đang định vào cung yết kiến, hay tin tướng quốc hồi phủ, nên muốn hỏi ý tướng quốc trước rồi mới tấu báo.”

“Hãy tấu báo y theo sự thực, nghe theo ý chỉ của đại vương. Hán Trung thì sao?”

“Vẫn thế, nhưng người Sở đã đổi chủ tướng, ở Thượng Dung, người Sở cũng có hành động bất thường.”

Trương Nghi gật đầu, rồi hỏi: “Nếu khai chiến với người Sở, để tướng quân làm chủ tướng, nắm chắc bao nhiêu phần thắng?”

“Binh lực một chọi một, toàn thắng; binh lực hai chọi một, bảy phần thắng; binh lực ba chọi một, sáu phần thắng.”

“Xem ra tướng quân đã mười phần tự tin!” Trương Nghi cười nói.

“Tại hạ tự tin, là có căn cứ...” Ngụy Chương đáp.

“Căn cứ gì?”

“Binh khí.” Ngụy Chương đứng dậy, quay vào phòng, lấy ra một mũi mâu và vài mũi tên, bày lên mặt bàn đá, “chính là những thứ này. Tại hạ quay về, chủ yếu là vì chúng.”

Trương Nghi ngắm nghía mũi mâu và mũi tên, ánh mắt dừng lại ở mũi tên, cầm trên tay mân mê một chốc rồi nhìn sang Ngụy Chương: “Lạ thật, trước đây tại hạ chỉ nhìn thấy mũi tên hai lông vũ, nhưng những mũi tên này đều là ba lông vũ.”

Ngụy Chương lại rút từ trong tay áo ra một mũi tên, đưa cho Trương Nghi: “Đây là loại hai lông vũ.”

“Phải rồi.” Trương Nghi liếc nhìn, “hẳn là có chỗ khác biệt?”

“Mũi tên hai lông vũ sắc nhọn hơn, song không đủ chuẩn xác. Mũi tên ba lông vũ đường bay ổn định, dễ bắn trúng hơn, có thể nói là bắn đâu trúng đấy. Hai quân giao trận, tên là vũ khí tầm xa, tên bắn có chuẩn hay không, vô cùng quan trọng. Nếu bắn không trúng, lãng phí mũi tên đã đành, còn lỡ thời cơ. Thời cơ vụt đến rồi đi, nếu bắn không trúng, đợi lắp thêm mũi tên khác thì đã muộn rồi. Trên chiến trường, muộn một khoảnh khắc cũng là trí mạng.”

“Nói rất phải.” Trương Nghi gật đầu, nhìn thẳng vào Ngụy Chương, “binh khí sao rồi?”

“Số lượng không đủ.” Ngụy Chương đáp, “tại hạ tính rồi, nước Sở người đông, nếu như đọ bằng số lượng, cho dù toàn bộ đàn ông cả nước đều ra chiến trường, cũng không bằng một phần ba người Sở, vì thế cần cải tiến binh khí. Nếu có binh khí sắc bén trong tay, sĩ khí sẽ dâng cao, binh sĩ sẽ càng thêm dũng mãnh, càng thêm tự tin, có thể lấy ít chọi nhiều.”

“Thiếu bao nhiêu?”

“Nhiều lắm.” Ngụy Chương chỉ vào mũi mâu, “mũi mâu này khác với bình thường, được làm từ ô kim, pha trộn với thiếc, kền, cứng rắn vô địch, binh khí đồng bình thường không thể chống lại, xứng danh là binh khí bén nhọn nhất thiên hạ ngày nay, tiếc là số lượng quá ít, tại hạ chỉ có thể trang bị cho hai vạn lính tinh nhuệ. Nếu như có thể trang bị đủ cho năm vạn nhuệ binh, dù quân Sở có đông đến mười lăm vạn đi nữa, cũng không có gì đáng sự.”

“Chuyện này dễ thôi, cho công xưởng làm gấp là được!” Trương Nghi đáp.

“Làm gấp không khó,” Ngụy Chương khẽ thở dài, “khó ở chỗ thiếu ô kim.” Cầm mũi mâu lên, “hãy nói về mũi mâu này, là vũ khí thông thường của binh sĩ, nặng hai cân ba lạng, chín phần là ô kim. Đồng, kền, thiếc còn dễ kiếm, duy có ô kim...”

Trương Nghi cũng biết chuyện này. Ô kim, hay sắt trong thiên hạ, chủ yếu được khai thác tại Sở, Hàn và Triệu, đặc biệt là ở Nghi Dương đất Hàn, Uyển Thành đất Sở và Hàm Đan đất Triệu. Đất Triệu xa xôi, chuyện khác chưa nói, chỉ riêng chi phí vận chuyển đã khó mà kham nổi. Sắt ở Nghi Dương đất Hàn lại đa phần cung cấp cho Dương Địch, nơi sản xuất vũ khí lớn nhất nước Hàn, chỉ bán cho Tần một lượng rất ít ỏi, hơn nữa còn phải vận chuyển qua đất Ngụy, chịu thuế rất nặng. Bực mình hơn nữa, đó là từ sau khi Tô Tần hợp tung, nước Hàn vốn khá coi trọng tung thân lại càng cảnh giác cao độ với Tần, nhất là hai năm gần đây, bởi sự can thiệp của Công Tôn Diễn và Bạch Hổ, lượng sắt cung ứng từ Nghi Dương ngày càng ít, có dạo còn đứt hẳn, Tần đành phải chuyển sang mua sắt từ nước Sở. Song nước Sở xưa nay luôn coi ngũ kim và da là mặt hàng trọng yếu, do vương thất kiểm soát, nghiêm cấm bán ra ngoài. Nước Tần muốn có được một lượng sắt lớn, là rất khó khăn.

“Thế này đi, Ngụy huynh,” Trương Nghi đứng dậy, “hai ta cùng đi yết kiến đại vương!”

Hai người vào cung, Huệ Vương đang tiếp đón sứ thần Nghĩa Cừ, bèn bảo hai người chờ ở điện bên. Chừng một khắc sau, sải bước đi vào, trước hết vỗ vai Ngụy Chương một cái, rồi hành lễ cùng Trương Nghi.

Ngụy Chương bẩm báo sơ qua tình hình Ba Thục, rồi chuyển sang việc cải tiến binh khí, lại bày ra mũi mâu và mũi tên kiểu mới cho Huệ Vương xem, rồi nói: “Đại vương, binh khí ngắn đánh giáp lá cà, sức mạnh tương đương, thắng bại quyết định ở đầu mũi, chỉ cần sắc nhọn hơn đối thủ chút ít, sống chết đã khác hẳn nhau. Quặng sắt qua tôi luyện, sẽ thành thép tinh, sắc bén vô song. Mũi mâu và mũi tên này, mạt tướng chỉ cần chuẩn bị đủ cho năm vạn nhuệ binh, thì có thể đánh thắng quân Sở!”

“Than ôi,” Huệ Vương không hề nhìn kỹ mũi mâu và mũi tên, hiển nhiên đã hiểu rõ, chỉ khẽ thở dài, “không giấu hai vị, quả nhân cũng đang đau đầu vì chuyện này. Quặng sắt của Nghi Dương, trước kia thì bị người Ngụy làm khó dễ, nay lại đến Công Tôn Diễn, hắn đã nắm được thóp của chúng ta, cũng đã kiểm soát được chúng ta rồi.”

“Đại vương,” Trương Nghi vòng tay nói, “thần có một thỉnh cầu, mong được ân chuẩn!”

“Chớ nói thỉnh cầu, Trương Tử cứ nói.” Huệ Vương nhìn Trương Nghi mỉm cười.

“Thần muốn tới Ư Thành ở ít ngày.”

“Được, muốn ở bao lâu?”

“Cụ thể chưa biết, ít thì hai ba tháng, nhiều thì hai ba năm.”

“Ồ...” Huệ Vương cứ ngỡ mình nghe nhầm, thu lại nụ cười, nhìn xoáy vào Trương Nghi, “Trương Tử định ở hai, ba năm?”

“Vâng, nếu thời gian quá ngắn, e là không đủ.”

“Trương Tử định làm gì?”

“Giữ nhà!” Trương Nghi khẽ thở dài, “than ôi, nghe nói người Sở đang lăm le mảnh đất mà đại vương phong cho thần, hiện đang điều binh khiển tướng. Nếu người Sở đánh tới, cướp đi mảnh đất sáu dặm của thần, chẳng phải thần thành tay trắng ư?”

Huệ Vương lập tức hiểu ra dụng ý của Trương Nghi, sắc mặt đang căng thẳng liền giãn ra ngay, trầm ngâm một lát, vòng tay đáp lễ, cười nói: “Quả nhân ân chuẩn. Bất kể thế nào, sào huyệt cũng không thể mất được, phải không?” Dừng lại một chốc, nhìn thẳng vào Trương Nghi, “đi lâu như vậy, hẳn là phải dẫn theo phu nhân Ư Thành Quân và tiểu công chúa?”

“Thần muốn dẫn theo, song lại không nỡ!”

“Vì sao?”

“Ngộ nhỡ người Sở đánh tới, hai mẹ con bị bắt đi, thần há chẳng thiệt đơn thiệt kép?”

Huệ Vương phá lên cười lớn: “Được, chuyện nhà của Trương Tử, quả nhân không hỏi đến nữa. Định lúc nào lên đường?”

“Thần còn một thỉnh cầu nữa!”

“Cứ nói.”

“Thần muốn buôn bán chút đỉnh, thỉnh cầu đại vương ứng giúp tiền vốn.”

“Trương Tử muốn buôn bán?” Mắt Huệ Vương nheo lại như hai đường kẻ chỉ.

“Không buôn bán thì biết làm gì?” Trương Nghi nhún vai, mặt mày nhăn nhó, “mảnh đất đại vương phong cho, đã bé tí bé tẹo, lại khô cằn sỏi đá, thần còn không nuôi nổi bản thân mình, lấy gì nuôi vợ nuôi con?”

“Nói đi,” Huệ Vương nhìn Trương Nghi chăm chăm, ngả người về trước, “cần quả nhân ứng bao nhiêu vốn?”

Trương Nghi nhắm mắt, gập ngón tay tính toán một hồi, rồi ngẩng đầu lên: “Đại khái là con số này!” Chìa năm ngón tay ra.

“Năm mươi lượng vàng?”

Trương Nghi lắc đẫu.

“Năm trăm lượng?”

Trương Nghi vẫn lắc đầu.

“Hẳn không phải là năm nghìn lượng đấy chứ?” Huệ Vương lộ vẻ kinh hãi.

“Năm nghìn dật.” Trương Nghi bình thản buông ra một câu.

Một dật bằng hai mươi lượng, đừng nói là Huệ Vương, đến Ngụy Chương cũng sửng sốt há hốc miệng.

Huệ Vương ngây ra một chốc, rồi buông thõng hai tay: “Tiền vốn thế thì lớn quá, có róc thịt lột da quả nhân cũng chẳng đào đâu ra được.”

“Đại vương có thể cho vay từng phần. Trước tiên hãy cho thần vay hai nghìn năm trăm dật. ”

“Ồ,” Huệ Vương trợn mắt nhìn Trương Nghi, “dốc toàn bộ kho lẫm của quả nhân cũng chỉ vừa đủ hai nghìn năm trăm dật, bị Trương Tử đoán trúng rồi!”

“Để trong kho chỉ tổ mốc thôi,” Trương Nghi nghiêm trang nói, “nếu đại vương cho thần vay, chờ thần kiếm được lời, sẽ trả lãi cao cho đại vương. Đại vương nhận được tiền, lại cho thần vay, thần lại trả lãi cao cho đại vương, cứ thế quay vòng vài lần, thần chẳng qua chỉ là kiếm chút tiền củi gạo, còn người phát tài thực sự, chính là đại vương đó!”

“Ồ,” Huệ Vương làm bộ làm tịch vuốt râu một hồi, rồi nhìn sang Trương Nghi, “cũng phải xem Trương Tử định buôn bán gì chứ?”

“Lưỡi cày.”

Lưỡi cày được đúc bằng ô kim, người Sở dùng để cày ruộng, cũng bán ra ngoài, là vật dụng thường ngày, không bị quản chế. Do vậy, Trương Nghi vừa bật ra hai chữ này, Huệ Vương và Ngụy Chương lập tức phấn chấn ra mặt. Một lưỡi cày nặng chừng ba cân, suýt soát một mũi thương. Đúng là chỉ Trương Nghi mới nghĩ ra cách buôn bán này.

“Món hàng này được đấy.” Huệ Vương vỗ đùi đánh đét, “có lưỡi cày nước Sở trong tay, từ Quan Trung cho đến đất Thục e là không đủ trâu để cày ruộng mất!”

“Có thể dùng ngựa!” Ngụy Chương đáp ngay, lời đầy ẩn ý.

“Ha ha ha, nếu đã là vậy, thương vụ này, quả nhân đồng ý.” Huệ Vương cười vang, nhìn sang Trương Nghi, “khi nào Ư Thành Quân lên đường, quả nhân sẽ tiễn chân!”

“Thần còn một thỉnh cầu nữa!” Trương Nghi vẫn chưa hết.

“Cứ nói.”

“Người này,” Trương Nghi chỉ vào Ngụy Chương, “thần muốn thỉnh cầu người này đến canh cửa cho Ư Thành Quân!”

“Được.”

Tại cung Sở ở Sính Đô, vào giờ Mùi buổi chiều, Hoài Vương xử lý xong việc triều chính ở tiền điện, ung dung sải bước về phía hậu cung, bước chân gần như thói quen tiến thẳng tới cung viện của Trịnh Tụ.

Trong hậu cung của Hoài Vương, ngoài mấy vương hậu và quý phi, được ban cung viện riêng chỉ có hai trường hợp, thứ nhất là phi tử được sủng ái, thứ hai là phi tử sinh được vương tử.

Trịnh Tụ vừa vào cung đã rất được Hoài Vương sủng ái, một năm sau lại sinh con trai, vì thế mà được ban cho một toà cung viện ba dãy, tương đương với đãi ngộ dành cho quý phi, vị thế cũng rất cao quý, quả là át cả rừng hoa.

Vào hôm Trịnh Tụ sinh con trai, Hoài Vương nhận tin vui đúng lúc văn học thị tùng Khuất Nguyên ở bên, bèn bảo Khuất Nguyên đặt tên. Khuất Nguyên vốn thích hoa lan, thuận miệng nói ra một chữ “lan”, Hoài Vương dựa vào đó mà đặt tên cho con trai là Mị Lan.

Thời gian thấm thoắt, chớp mắt Tử Lan đã hơn một tuổi, thông minh xuất chúng, lại mồm miệng nhanh nhảu, rất quấn Hoài Vương. Hôm nào Hoài Vương không tới là khóc lóc ầm ĩ. Có một hôm, Tử Lan chờ đến tối vẫn không thấy Hoài Vương đâu, bèn lẳng lặng chạy ra ngoài tìm, bị lạc trong vương cung rộng lớn. Toàn bộ cung nhân sợ hãi xách đèn lồng tìm kiếm khắp nơi, gần như xới tung cả cung thành, mãi tận canh hai mới tìm thấy Tử Lan trong một góc khuất ngay bên cạnh tường bao, đang ngủ ngon lành.

Khi cung nhân bế Tử Lan vẫn ngủ mê mệt về giao cho Hoài Vương, bẩm báo chỗ mình tìm thấy, Hoài Vương ứa nước mắt thương xót, suốt đêm ấy ôm con trai ngủ. Kể từ hôm đó, dù bận rộn cách mấy, Hoài Vương mỗi ngày đều tới cung viện của Trịnh Tụ, chơi với Tử Lan một lúc. Trong số những người con của Hoài Vương, duy chỉ vương tử này được đối đãi đặc biệt đến vậy.

Hôm nay, Hoài Vương còn chưa tới nơi, Tử Lan đã lon ton chạy lại, sà vào lòng Hoài Vương. Cha con cùng vào trong cung, đang lúc thân thiết vui vầy, thì cung nhân tiến vào bẩm báo, rằng Khuất Bình đi sứ đã về, đang ở tiền điện chờ chỉ.

Hoài Vương đứng dậy định đi, nhưng Tử Lan cứ bám chặt không rời. Trịnh Tụ cười nói: “Từ lâu đã nghe tiếng Khuất đại phu văn chương xuất chúng, tiện thiếp có thể diện kiến một lần chăng?”

“Cũng được,” Hoài Vương cười nói, “ái phi hẳn không biết, tên của Tử Lan chính là do Khuất đại phu đặt giúp!”

Rồi Hoài Vương truyền chỉ, cho cung nhân dẫn Khuất Bình vào.

Hoài Vương tay bế Tử Lan, tới phòng khách ở tiền viện chờ Khuất Bình.

Vua tôi hành lễ xong, Khuất Bình tấu báo chi tiết mọi việc trong chuyến đi sứ lần này, nhất là minh ước với Tề.

Được biết tướng quốc nước Tần Trương Nghi cũng tới, Hoài Vương kinh ngạc hỏi: “Chẳng phải đây là hội thề giữa các nước tung thân sao, hắn tới làm gì?”

“Thần cũng không biết.” Khuất Bình đáp, “nhìn phản ứng của Tô Tử, dường như cũng không hay, hẳn Trương Nghi kia là khách không mời. Biết tin người này tới, Chiêu đại nhân bèn kéo Điền tướng quốc và Công Tôn tướng quốc cùng đi săn. Song Trương Nghi mãi không thấy đến, khiến Tô Tử chờ mãi, tới ngày thứ tư, phải đích thân tìm tới quán trọ của hắn trong trấn Nghiết Tang, đến chiều mới về, liền gọi thần tới bàn về chuyện nước Sở.”

“Chuyện gì của nước Sở?”

“Là chuyện liên quan tới nước Tần. Tô đại nhân nói, nước cờ tiếp theo của Trương Nghi, chắn chắn là mưu Sở, Tần, Sở ắt phải đại chiến ở Thương Ư, hơn nữa, Sở sẽ không thể chiếm thế thượng phong!”

Hoài Vương hít ngược một hơi khí lạnh: “Hắn còn nói gì nữa?”

“Tô đại nhân nói,” Khuất Bình mô phỏng ngữ khí của Tô Tần, “nước Sở tuy lớn, song bốn phía chia năm xẻ bảy, khác nào bàn tay xoè năm ngón. Còn nước Tần, sau biến pháp của Thương Quân, đã trở thành một nắm đấm sắt. Dùng nắm đấm sắt chọi với bàn tay xoè, nước Sở ắt bại. Nếu muốn chống Tần, Sở có thể thực thi ba kế sách. Thứ nhất là biến pháp, cải cách chế độ, biến bàn tay thành nắm đấm; thứ hai là kiên trì hợp tung, kết minh với Tề, trợ giúp lẫn nhau; thứ ba là dùng người hiền tài, chỉnh đốn quân đội, sẵn sàng nghênh chiến!”

“Tô Tử quả đã nhìn thấu nước Sở,” Hoài Vương trầm ngâm chốc lát, nhìn sang Khuất Bình, “xem ra trận chiến với Tần, không thể lạc quan được!”

Khuất Bình đang định tiếp lời, Trịnh Tụ liền bưng một khay điểm tâm uyển chuyển bước vào. Khuất Nguyên vội vã lui ra định tránh, song không kịp nữa, bèn quỳ xuống khấu lạy, không dám ngẩng lên.

Hoài Vương phá lên cười lớn, chỉ vào Trịnh Tụ: “Ái khanh, người này chính là Trịnh phi, thân mẫu của Tử Lan!” Rồi quay sang Trịnh Tụ, “đây chính là Khuất Tử mà nàng đã biết tiếng, đệ nhất tài tử của nước Sở!”

“Thần bái kiến Trịnh nương nương!” Khuất Bình dập đầu hô.

“Khuất Tử, mời đứng dậy!” Trịnh Tụ đĩnh đạc nói, “đây là điểm tâm do bản cung tự tay chuẩn bị, xin mời Khuất Tử!”

Khuất Bình lại khấu đầu, không biết nói gì.

“Bình thân!” Hoài Vương mỉm cười chìa tay, “quả nhân vốn định triệu kiến Khuất Tử tại tiền điện, là Trịnh phi hay tin Khuất Tử tới, biết Khuất Tử là danh tài, muốn được diện kiến, nên quả nhân mới mời Khuất Tử đến đây.”

“Tạ ơn Trịnh nương nương!” Khuất Bình lại dập đầu rồi mới đứng dậy, ngồi xuống chiếu khách.

“Khuất Tử hãy ngâm một bài thơ cho Trịnh phi nghe, để nàng chứng kiến phong thái của đệ nhất tài tử Đại Sở!” Hoài Vương nói.

“Ồ...” Khuất Bình ngẩn ra chốc lát, khép mắt suy nghĩ một thoáng, rồi vòng tay nói, “thần xin ngâm một bài thơ cổ hầu nương nương!” Đoạn ngồi nghiêm trang, chỉnh lại vạt áo, cao giọng ngâm một điệu dân ca nước Trịnh:

“Ngoài đồng cỏ tốt,

Sương đọng lung linh.

Có cô gái đẹp,

Mắt sáng mày xinh.

Tình cờ gặp gỡ,

Thoả nguyện bình sinh.”

Khuất Bình vừa ngâm một đoạn, Trịnh Tụ đã nước mắt tràn mi, nghẹn ngào ngâm tiếp:

“Ngoài đồng cỏ rậm,

Sương đọng rung rinh.

Có cô gái đẹp,

Mắt sáng mày xinh.

Tình cờ gặp gỡ,

Cùng nàng tâm tình.”(1)

(1)Trích từ bài thơ Dã hữu man thảo, Trịnh phong, Kinh Thi.

“Ồ?” Hoài Vương sửng sốt, nhìn sang Trịnh Tụ, “Ái phi, thế này là...”

“Đại vương,” Trịnh Tụ nâng áo tay lên chấm nước mắt, “Khuất Tử vừa ngâm khúc điệu quê nhà của thần thiếp, thần thiếp nghe khúc ấy, bỗng nhớ tới cha anh, nhớ tới người Trịnh, bất giác không thể kìm lòng...”

Rồi TrịnhTụ chậm rãi đứng dậy, nhấc lấy đàn cầm, gảy lên hai tiếng, quay sang Khuất Bình nói: “Khuất đại nhân, xin ngâm thêm lần nữa, tiểu nữ sẽ tấu cùng đại nhân!”

Khuất Bình vốn biết Trịnh Tụ là gái Trịnh, nên mới ngâm một khúc Trịnh phong, không ngờ lại khiến Trịnh Tụ xúc động đến vậy, cũng cảm động lây, thế là trong tiếng đàn cầm của Trịnh Tụ, lại ngâm liền ba lượt.

Khuất Bình, Trịnh Tụ kẻ ngâm người đàn, khiến Hoài Vương nhã hứng dâng trào, bèn triệu cung doãn lại soạn chỉ, ban tên cho cung của Trịnh Tụ là Nam cung, đích thân đề bốn chữ “Nam Cung Lan Đình”, dặn dò cung doãn làm thành biển ngạch, treo trước cửa cung.

Hậu cung của Sở Vương đặt bốn cung Đông, Nam, Tây, Bắc, được vào bốn cung này, đều được lập làm hậu. Xét về thứ bậc, Nam cung chỉ đứng sau Đông cung.

Trịnh Tụ cả mừng, kéo Tử Lan lại, cùng quỳ xuống khấu tạ ơn vua.

Đang lúc vui mừng, bỗng bên ngoài cửa có tiếng ồn ào, rồi cung doãn tiến vào bẩm báo, có Ngạc Quân cầu kiến.

Ngạc Quân đã đến tuổi đội mũ(1), là con trưởng dòng thứ của Hoài Vương, tên là Mị Khải, cũng là con trai lớn nhất của Hoài Vương. Thân mẫu là Tào phi, do sinh Ngạc Quân mà được tấn phong Tây cung, lập làm vương hậu.

(1) Theo lễ chế thời xưa, con trai tròn hai mươi tuổi thì đội mũ.

Hoài Vương truyền gọi, Ngạc Quân Tử Khải lập tức ào vào như gió lốc, quỳ xuống dập đầu: “Nhi thần khấu kiến phụ vương, khấu kiến nương nương!”

Hoài Vương phẩy tay ra hiệu cho Tử Khải đứng dậy. “Về lúc nào vậy?” Hoài Vương hỏi.

“Bẩm phụ vương, nhi thần vừa mới về!” Tử Khải vẫy tay ra phía ngoài. Hai cung nhân liền khiêng một rương lễ vật lặc lè vào, đặt trước mặt Tử Khải. Tử Khải mở rương, lấy từ bên trong ra một chiếc áo lông hải ly, hai tay dâng lên Trịnh Tụ: “Món quà này, Tử Khải muốn hiếu kính nương nương, xin người xem thử.”

Trịnh Tụ đón lấy áo lông, ngắm nghía vuốt ve một chốc, rồi khoác lên người, nhìn sang Hoài Vương: “Đại vương thấy thế nào?”

Hoài Vương cười vang, đáp: “Đẹp lắm!”

Giờ đã là cuối xuân, phương nam ấm áp, Trịnh Tụ đi lại vài bước, đã thấy toát mồ hôi, bèn cởi áo ra, cảm tạ Tử Khải. Tử Khải lại lấy từ trong rương lớn ra một rương nhỏ, đựng toàn đồ chơi, đưa từng thứ cho Tử Lan xem. Tử Lan thích mê, nhảy nhót cười khanh khách, khiến Hoài Vương, Trịnh Tụ cũng vui lây.

Thấy Hoài Vương cùng thân quyến vui vẻ đầm ấm, Khuất Bình đi cũng ngại mà ở cũng ngại, đang lúng túng không biết phải làm sao, thì Tử Khải liếc thấy bốn chữ “Nam Cung Lan Đình” Hoài Vương vừa viết, thì nhìn sang Hoài Vương hỏi: “Phụ vương, chữ này là tặng cho nương nương đấy ư?”

“Đúng vậy.” Hoài Vương cười đáp, “Từ hôm nay, Nam cung chính là cung của vương hậu!”

Tử Khải lập tức quay sang Trịnh Tụ: “Nhi thần chúc mừng mẫu hậu đại nhân!”

Lần đầu nghe gọi là “mẫu hậu”, Trịnh Tụ khúc khích cười mãi, rồi nói: “Ngạc Quân, nghe phụ vương nói, con sắp quay về đất phong. Hãy kể thử xem, đất phong của Ngạc Quân có gì thú vị, để bản cung được mở rộng tầm mắt.”

Tử Khải liền kể về những chuyện ở đất phong, đều là truyền thuyết và chuyện lạ li kỳ, Trịnh Tụ nghe rất say sưa. Khuất Bình thì nhấp nhổm như ngồi trên bàn chông, bắt gặp ánh mắt của Hoài Vương nhìn tới, thì vội đứng dậy.

Khuất Bình vốn định cáo từ, Hoài Vương lúc này cũng sực nhớ chuyện Nghiết Tang còn chưa nói hết, bèn tiến lại gần, cười nói: “Tử Khải cắt ngang mất chuyện hệ trọng của chúng ta rồi. Hãy cùng tới tiền điện bàn tiếp.”

Thấy Hoài Vương định đi, Tử Khải vội nói: “Phụ vương, nhi thần còn một chuyện!”

“Chuyện gì?” Hoài Vương ngoảnh đầu lại.

“Khi nhi thần quay về, đúng lúc gặp vương thúc cũng từ đất phong trở về, nói là phụ vương triệu hồi. Thấy nhi thần vào cung, vương thúc bèn đi cùng, hiện đang chờ ở tiền điện!”

“Ôi chao, sao con không nói sớm?” Hoài Vương trách móc, rồi vội vã đi ngay. Tử Khải cũng chào Trịnh phi, rồi cùng Khuất Bình đi theo.

Ba người đi tới tiền viện, Khuất Bình vòng tay nói: “Đại vương hãy triệu kiến vương thúc, thần...”

“Cũng được,” Hoài Vương cười nói, “chuyện Nghiết Tang, quả nhân hôm khác sẽ hỏi khanh sau!” Rồi theo Tử Khải sải bước vào trong điện.

Vương thúc chính là Kỷ Lăng Quân, em ruột của Hoài Vương, tên Thu, tự Phác Hoa, cùng với Hoài Vương Hùng Hoè đều do vương hậu của Uy Vương sinh ra. Tử Thu từ nhỏ đã lanh lợi, được lòng Uy Vương hơn huynh trưởng, nghe đồn Uy Vương khi chọn thái tử, đã nghĩ tới Tử Thu đầu tiên. Có điều, Tử Thu không phải trưởng tử, lập thứ mà không lập trưởng sẽ gây hậu hoạ. Tử Thu cũng hiểu đạo lý này, nhiều lần bộc bạch cùng mẫu hậu, nói mình chí ở kinh thương, không muốn làm thái tử, chỉ mong phò tá huynh trưởng. Uy Vương cũng lo nội loạn nên cuối cùng vẫn lập Tử Hoè làm thái tử, phong Tử Thu là Kỷ Lăng Quân, cai quản thợ thuyền, nông tang, kinh thương.

Kỷ Lăng nằm ở phía bắc Sính Đô, cách Sính Đô chưa đầy vài chục dặm. Uy Vương phong cho Tử Thu đất này là vì không muốn xa con. Chuyện Kỷ Lăng Quân nhường ngôi thái tử đã được mẫu hậu kể lại với thái tử Hoè, khiến thái tử vô cùng cảm động, luôn luôn nhường nhịn em trai. Kỷ Lăng Quân giữ chức nhiều năm, càng được vua yêu mến, đương nhiên có uy danh hàng đầu trong đám vương thân. Nước Sở bất luận xảy ra việc gì, các vương thân cũ mới đều nhất nhất nghe theo Kỷ Lăng Quân.

Sau khi Uy Vương băng hà, Hùng Hoè kế vị, Kỷ Lăng Quân càng dốc sức phò tá vương huynh, bất luận Hoài Vương có mệnh lệnh gì, Kỷ Lăng Quân đều hiệu triệu các vương thân và phong quân xung quanh cùng trợ giúp. Hoài Vương vì thế lại càng trọng vọng em trai, phàm là quốc gia đại sự, đều hỏi ý kiến Kỷ Lăng Quân trước tiên. Đặc biệt là cuộc chinh phạt Thương Ư lần này, do chinh phạt Thương Ư chính là khai chiến với Tần. Không ít vương thân, phong quân xung quanh Kỷ Lăng Quân, gồm cả Ngạc Quân Tử Khải, đất phong đều là Kinh, Tương, Uyển, Đặng, Thượng Dung, Phương Thành, Đan Dương. Nếu khai chiến với Tần, bất luận là xuất binh hay xuất nhân lực vật lực, những vùng đất phong đó đều là tuyến đầu, phải đứng mũi chịu sào. Hoài Vương đã nhiều lần hỏi ý Kỷ Lăng Quân về chuyện này, lần này còn triệu về cung, là muốn bàn bạc lần cuối trước khi quyết sách.

Sau khi hành lễ qua loa, Hoài Vương vào ngay chuyện chính: “Hiền đệ, hiện có hai tin vui. Thứ nhất, Chiêu Dương đã kết minh ước với tướng Tề Điền Anh tại Nghiết Tang, nước Ngụy mất liền Bàng Quyên và Trương Nghi, không còn sức mạnh. Ta không còn phải lo lắng nữa, đã có thể dốc sức ứng phó với Tần.”

“Thần đệ chúc mừng vương huynh!” Kỷ Lăng Quân vòng tay nói.

“Còn một tin nữa,” Hoài Vương vòng tay đáp lễ, nói tiếp, “tướng Thục Trần Trang đã vào đất Ba, qua lại thân thiết với người Ba, đã bí mật phái người tới Sính, có ý muốn nương nhờ ta, giúp ta đoạt lại Ba, Thục.”

“Thần đệ chúc mừng vương huynh!” Kỷ Lăng Quân lại chúc mừng lần nữa.

“Thời cơ không thể lỡ,” Hoài Vương nắm chặt tay, “đông có thất bại Tang Khâu, nam có phản loạn Ba Thục, thời thịnh trị của Thương Ưởng đã qua, nước Tần hiện đang suy bại. Trong khi ta phía đông thu Ngô Sở, phía nam lấy Kiềm Điền, phía bắc được Tương Lăng, khí thế đương thịnh. Lúc này thu hồi Thương Ư, là cơ hội tốt trời ban!”

“Vương huynh định để ai làm tướng?” Kỷ Lăng Quân hỏi.

“Chiêu Dương tiến cử Cảnh Thuý, ý hiền đệ thế nào?” Hoài Vương hỏi.

“Được.” Kỷ Lăng Quân gật đầu, “Cảnh tướng quân có dũng có mưu, lại luôn canh cánh trong lòng chuyện Thương Ư thất thủ, để người này làm tướng, ắt sẽ tận lực. Hai năm trước, Cảnh tướng quân có tới phủ thần đệ, bàn chuyện thu phục Thương Ư.” Dừng lại một chốc, “thần đệ đã truyền đạt dụ chỉ của vương huynh tới chúng vương thân, không ai có ý khác, đều đang ráo riết chuẩn bị. Ấp phong của thần đệ tuy nhỏ, cũng nguyện xuất hai nghìn dũng sĩ. Kinh thương trong mấy năm qua, ít nhiều cũng tích luỹ được chút ít, nguyện xuất năm trăm dật vàng. Chúng thân vương thấy thần đệ góp tiền góp của, cũng đều hăng hái đóng góp.” Rồi lấy từ trong ống tay áo ra một bó thẻ tre nhỏ, “danh sách này đều là mọi người tự nguyện đưa ra, mời vương huynh ngự lãm! Nếu không đủ, thần đệ sẽ tìm thêm chỗ khác.”

Hoài Vương cầm lấy xem, thấy quân lính đã gom được năm vạn, tiền vàng đã hơn ba nghìn dật, thì vòng tay vái lia lịa: “Có năm vạn quân này, cộng thêm sáu vạn quân của Cảnh Thuý, ba vạn quân vương sư, Chiêu Dương lại điều động năm vạn nhuệ binh từ biên giới Tống, Tề, tổng cộng là mười chín vạn, đủ để quyết chiến với người Tần rồi.”

“Không giấu vương huynh,” Kỷ Lăng Quân cảm khái, “chừng nào Thương Ư còn ở trong tay người Tần, thần đệ ngủ không ngon giấc. Nhất là Ư Thành, nếu người Tần xuất quân từ đó, đi bè men theo Tích Thuỷ, Đan Thuỷ thẳng xuống cửa sông, vào Hán Thuỷ, thì Sính Đô không còn chỗ an toàn, ta muốn phòng cũng phòng không xuể!”

“Hiền đệ nói đúng.” Hoài Vương cũng lấy làm cảm khái, “mười lăm ấp Ư Thành mất trong tay tiên vương, sau khi tiên vương băng hà, mãi vẫn không nhắm mắt, quả nhân biết phụ vương mong mỏi điều gì, mới thể rằng sẽ thu hồi Thương Ư, đuổi người Tần khỏi Lam Điền, khoá kín tại Quan Trung, tiên vương mới chịu nhắm mắt. Từ khi quả nhân lên ngôi, vẫn luôn đau đáu lời thề, giờ thì cơ hội cuối cùng cũng tới!”

“Mối nhục Thương Ư là mối nhục chung của Đại Sở ta, lời thề của vương huynh, cũng là lời thề chung của chúng vương thân!” Kỷ Lăng Quân đáp.

“Tạ ơn hiền đệ cùng chúng vương thân!” Hoài Vương lại vòng tay.

“Nhắc tới chúng vương thân,” Kỷ Lăng Quân vòng tay đáp lễ, “thần đệ có một lời thỉnh cầu, dám mong vương huynh ân chuẩn!”

“Hiền đệ cứ nói!”

“Đất Sở rộng lớn, đầu đâu cũng có ấp phong, mỗi ấp lại có luật lệ riêng. Thần đệ cai quản thợ thuyền, kinh thương, lâu nay để tầm quan sát, thấy rõ giao thông bất tiện, vận chuyển khó khăn, hàng hoá các nơi không thể điều động kịp thời. Để khắc phục sự ách tắc này, gần đây, thần đệ đã cùng Tử Khải, An Cao Quân, Dương Quân cùng lập thương đoàn, nhằm thống nhất xe thuyền trong nước, cân bằng vật giá, tiện cho vương huynh điều động!” Rồi quay sang Tử Khải, “cháu hãy trình tấu chương cho đại vương ngự lãm!”

Tử Khải bèn hai tay trình tấu chương lên. Hoài Vương đón lấy, lật giở xem qua, rồi đặt lên án: “Đã là tấu chương của hiền đệ, thì cứ thế mà làm.”

“Phụ vương,” Tử Khải lên tiếng, “ý vương thúc muốn nói, thương đoàn này là dành riêng cho vương thất, nên đặc biệt tấu thỉnh phụ vương ban cho một vài kim bài, chiếu cáo đến các ấp phong, bất luận xe thuyền đi qua ấp của nhà nào, hoặc cửa ải biên cương nào, đều không được kiểm tra hay thu thuế. Việc vận chuyển xe thuyền, tạm thời cho quan công doãn đảm trách!”

“Cần bao nhiêu kim bài?” Hoài Vương hỏi.

Tử Khải nhìn sang Kỷ Lăng Quân, ánh mắt dò hỏi: “Vương thúc cần bao nhiêu?”

“Xin vương huynh trước hết ban cho mười kim bài, có thể chia thành xa bài và thuyền bài, mỗi kim bài dùng cho mười lăm thuyền, mười lăm xe. Nếu không đủ dùng, sẽ xin vương huynh ban thêm sau.” Kỷ Lăng Quân đáp.

“Chuẩn tấu, giao cho công doãn chiếu theo luật Sở chế tạo.” Hoài Vương lập tức chấp thuận.

Trong chính đường phủ Chiêu, một đám họ hàng hơn chục người đang vây quanh trước án Chiêu Dương, bày trên án là chiếu lệnh về xe thuyền vừa được Hoài Vương ban bố.

“Muốn độc chiếm hết ư?” Hạng Lôi hằm hằm giận dữ, đấm mạnh xuống mặt án.

“Thế này thì,” Chiêu Ngư vô cùng lo lắng, “sau này khó làm ăn đây.”

Mọi ánh mắt đều đổ dồn vào Chiêu Dương.

“Than ôi,” Chiêu Dương khẽ thở dài, quay sang Chiêu Tuy, “Trần thượng khanh nói mấy ngày này sẽ trở về, đã về tới chưa?”

“Thưa, đã về tới. Sáng nay đi ngang qua nhà thượng khanh, nghe môn nhân nói, thượng khanh đã về tối qua, tắm gội xong thì đã tới nửa đêm.”

“Hãy mau đi mời Trần thượng khanh.”

Chiêu Tuy vội vã đi ngay, chừng non nửa canh giờ sau, dẫn Trần Chẩn tới.

Còn chưa bước chân vào cửa, đã nghe thấy tiếng cười ha hả của Trần Chẩn: “Người hiểu Chẩn, không ai hơn Chiêu đại nhân, đêm qua Chẩn vừa về, sáng nay đã nhận được tin vui, đang định tới báo lên đại nhân, đã thấy Chiêu Tuy tới cửa.”

“Ồ?” Đợi Trần Chẩn vào tới nơi, Chiêu Dương mời vào chỗ, vòng tay thi lễ rồi vội hỏi, “nói xem, là tin vui gì?”

“An được món vịt Nghiết Tang, chao ôi,” Trần Chẩn hạ giọng thì thào, niềm vui lồ lộ trên nét mặt, “Bạch phu nhân nhà tại hạ đã có tin vui thực rồi!”

“Ái chà, đại hỉ, đúng là đại hỉ!” Chiêu Dương ôm quyền vái lia lịa.

“Than ôi,” Trần Chẩn lại thở dài, “không giấu đại nhân, tại hạ lăn lộn nửa đời người, thăng trâm đã nhiều, hiểm nạn không ít, cuối cùng chẳng thành được việc gì. Nay đã xấp xỉ ngũ tuần, đến một mụn con cũng chưa có.” Chép miệng vài cái, “giờ tại hạ có người nối dõi, có chết cũng mãn nguyện!”

Chiêu Dương cười lớn: “Nếu là vậy, tại hạ có ý này. Đợi vài năm nữa, Chiêu mỗ đánh tới Tống, chiếm được Từ Châu, sẽ tâu lên đại vương, phong cho thượng khanh đất Nghiết Tang, cho thượng khanh thưởng vịt thoả thích. Tại hạ cũng sẽ tấu thỉnh đại vương, ban cho thượng khanh chục mĩ nữ, sinh cho thượng khanh cả đàn con, thế nào?”

Trần Chẩn cũng cười vang, vòng tay lia lịa: “Chẩn tạ ơn đại nhân!”

“Than ôi,” Chiêu Dương thu lại nụ cười, thở dài một tiếng, “thượng khanh gặp đại hỉ, nhưng Chiêu môn lại gặp đại bi đấy!”

“Ồ?” Trần Chẩn nhìn sang.

Chiêu Dương đưa tờ chiếu lệnh trên án cho Trần Chẩn xem. Xem xong, Trần Chẩn trả lại cho Chiêu Dương, thủng thẳng hỏi: “Dám hỏi đại nhân, bi ở chỗ nào?”

Chiêu Dương ngẩn người: “Có chiếu lệnh này, các vương thân sẽ độc chiếm mối lợi giao thông, chúng ta sao có thể tranh được nữa!”

“Tranh gì kia?” Trần Chẩn nhìn thẳng vào Chiêu Dương hỏi.

“Ngoài lợi, còn có gì đáng để tranh nữa?” Chiêu Dương cười nhăn nhó, “xe thuyền của chúng ta phải nộp thuế, xe thuyền của họ miễn thuế, vậy còn ai muốn thuê xe thuyền của ta? Chỉ riêng chuyện này, vương thân đã bóp chết chúng ta rồi!”

“Dám hỏi đại nhân,” Trần Chẩn nhìn xoáy vào Chiêu Dương, “nếu không có chiếu lệnh này, đại nhân dám tự tung tự tác khắp nước Sở giống như vương thân được chăng?”

“Ồ...” Chiêu Dương lại ngẩn ra hồi lâu, mới lẩm bẩm, “Chiêu Dương không dám!”

“Vậy thì đúng rồi.” Trần Chẩn nhịp xuống án, “thời Vũ Vương, thiên hạ đều là của Đại Chu, còn thời nay, thiên hạ là của chư hầu. Ở đất Sở của đại nhân, thiên hạ đều là của Sở Vương. Đã là của Sở Vương, Sở Vương muốn làm gì thì làm. Chiêu đại nhân, việc gì cũng phải suy nghĩ cho khoáng đạt. Tiền thì kiếm không hết, đất thì chiếm không hết, mà đời người lại hữu hạn, còn vui được thì cứ vui, hà tất cứ phải tranh giành hơn thiệt mãi.”

“Thượng khanh nói vậy, cũng có lý đấy, nhưng mà...” Chiêu Dương cười nhăn nhó, “thượng khanh có điều không biết, đám vương thân kia lòng tham vô đáy, chỉ mong vét hết của cải thiên hạ vào túi mình, gom hết đàn bà thiên hạ vào nhà mình, chiếm hết núi sông thiên hạ vào tay mình!”

“Than ôi,” Trần Chẩn thở dài, “đại nhân vẫn chưa nghĩ thông sao?”

“Tại hạ có chỗ nào chưa thông?”

“Khi Chẩn còn trẻ tuổi, cũng từng cuồng vọng, tối nào cũng ngửa mặt nhìn trời sao, suy nghĩ mông lung, chỉ hận không thể thâu tóm hết quyền thế trong thiên hạ, không thể tận hưởng hết mĩ nữ trong thiên hạ. Sau đó vào Ngụy sang Tần, lộng quyền lộng thế, mới biết tất cả đều là phù du. Đừng nói là mĩ nữ thiên hạ, đến một nàng Bạch Cơ, Chẩn cũng khiến nàng thất vọng.”

“Đây là hai chuyện khác nhau!” Chiêu Dương phản bác, “ở nước Sở, có vương thân, có tông thân. Vương thân và tông thân, đều có cách sống riêng, xưa nay nước sông không phạm nước giếng. Vương thân sống nhờ đất phong, tông thân sống nhờ lương bổng. Lương bổng từ đâu mà có? Từ quan ải, giao thông, sưu thuế. Đại vương ban chiếu này, tức là cắt xén bổng lộc của tông thân, để mặc vương thân cướp lấy miếng ăn trong miệng tông thân, tông thân không cam chịu, Sở ắt sinh loạn!”

“Loạn rồi thì phải cầu trị. Đại nhân thử nghĩ xem, ở đất Sở của đại nhân, ai giỏi trị? Chẳng phải chính là các tông thân như đại nhân ư?” Trần Chẩn nở nụ cười ranh mãnh.

Chiêu Dương hít vào một hơi dài.

“Ha ha ha,” Trần Chẩn cười lớn, “Này Chiêu đại nhân, Chiêu huynh, chớ có so đo tính toán nữa, thiên hạ vốn dĩ là của vương thân. Ví như nói Chiêu đại nhân ngài đây, có thê có thiếp, có con trai con gái, Chiêu môn nếu có mối lợi, đại nhân sẽ phân chia thế nào? Chẳng phải cũng căn cứ theo thân sơ xa gần hay sao? Con của vợ và con của thiếp, con của thiếp và con của nô tỳ, con trưởng và con út, con thông minh và con ngờ nghệch, đại nhân liệu có cào bằng tất cả hay không? Ngoài ra lại còn con của đại nhân và con của anh em đại nhân, con của anh em họ, phải chăng cũng đều như vậy cả?”

“Người anh em nói phải lắm!” Chiêu Dương nghe vậy, cũng thấy nhẹ lòng, vòng tay nói, “về chiếu thư này, tại hạ nên ứng phó thế nào, vẫn xin được chỉ giáo!”

“Cái đại nhân cần ứng phó, lại không phải chiếu thư này, mà là chuyện Thương Ư.”

“Chuyện Thương Ư hiện đã định rồi, tại hạ kính cẩn nghe theo lời thượng khanh, tiến cử Cảnh Thuý làm tướng. Được đại vương phê chuẩn, Cảnh tướng quân đang gấp rút chuẩn bị binh mã, hoạch định sách lược. Thượng khanh còn có điều gì dặn dò?”

“Tốt lắm, tốt lắm,” Trần Chẩn khen liền hai tiếng, đoạn hạ giọng thì thào, “theo Chẩn biết, tướng Tần Trương Nghi đã tới Thương Ư rồi!”

Chiêu Dương bàng hoàng chấn động.

Đất Sở tuy rộng lớn, song phần đất thực chất thuộc về Sở Vương lại không nhiều. Tới thời Hoài Vương, nước Sở vẫn theo chế độ phân phong giống như đầu thời Chu, trong quá trình thôn tính sau thời Xuân Thu, cứ chiếm được một vùng đất mới, Sở Vương sẽ phong ngay cho con cái hoặc công thần. Chưa tính đến số công hầu đã phong trước đó, chỉ tính từ thời Sở Văn Vương cho tới Sở Điệu Vương, công hầu được phân phong không dưới hai trăm. Những chư hầu này mỗi người đều lập chế độ riêng, nuôi binh mã riêng, cũng chinh phạt lẫn nhau, dần dần lớn mạnh, cản trở nghiêm trọng đến việc thực thi vương quyền. Do vậy, Điệu Vương mới trọng dụng Ngô Khởi, cải cách chế độ, dùng pháp nước Ngụy để khống chế quyền lực của các phong quân, nước Sở từ đó trở nên hùng hậu chưa từng có, chinh phạt bốn phương, mở rộng lãnh thổ hơn hai nghìn dặm. Tuy nhiên, sau khi Điệu Vương băng hà, Ngô Khởi lại bị phong quân các nơi liên thủ giết chết, pháp của Ngô Khởi bị phế hầu hết, thế lực phong quân bành trướng trở lại. Tới thời Hoài Vương đã là “đuôi to khó vẫy”.

Các phong quân đại thể chia làm hai loại, loại thứ nhất là con cháu dòng đích của mấy đời Sở Vương gần đây, gọi là vương thần; loại thứ hai là con cháu dòng đích của các Sở Vương từ ba đến năm đời về trước, đa phần lấy đất phong làm họ, như ba dòng họ Khuất, Cảnh, Chiêu, gọi là tông thân. Bất luận vương thân hay tông thân, thực tế đều chung dòng máu với tiên tổ họ Hùng, cũng đều có đất phong riêng. Phong quân về già lại chia đất cho con trai, khiến đất phong của họ ngày càng thu nhỏ, cuối cùng sẽ chia thành nhiều nhà. Nếu nhà nào cháu con kém cỏi, thì nhánh đó sẽ từ từ tiêu biến. Do vậy, trong đất Sở rộng lớn, phong quân càng mới, thế lực càng mạnh, đặc biệt là những người mới được phong trong vòng ba mươi tới sáu mươi năm gần đây, địa bàn và thế lực thường lớn mạnh nhất, xét về địa vị trong triều đình, các phong quân cũ khó mà địch nổi.

Phong quân cũ mới đa phần đều lập phủ đệ ở Sính Đô, thường chiếm chỗ đất tốt nhất. Do được Sở Uy Vương sủng ái, phủ đệ của Kỷ Lăng Quân cũng Ngụy nga nhất trong số các phong quân ở Sính Đô, vị trí cũng tốt nhất. Kỷ Lăng Quân vốn hiếu khách, lại hay giúp người, nên phủ đệ lúc nào cũng nhộn nhịp người ra kẻ vào, được người ta gọi là vương thúc. Vương thân của Sở thất, bất luận cũ mới, muốn biết địa vị ở Sính Đô thế nào, cứ xem số lần qua lại cùng thứ tự chỗ ngồi trong phủ vương thúc là biết ngay. Đây cũng là một trong những nguyên do khiến Hoài Vương không thể không coi trọng Kỷ Lăng Quân.

Năng qua lại nhất, lại được ngồi chiếu trên nhất trong phủ Kỷ Lăng Quân có khoảng năm phong quân, một là Ngạc Quân Tử Khải, hai là Bành Quân Tử Chính, ba là Xạ Cao Quân Tử Nghiêm, bốn là Tân Dã Quân Tử Do, năm là Kỷ Thư Quân Tử Hạ. Trong đó Ngạc Quân Tử Khải ít tuổi nhất, cũng năng qua lại nhất, quan hệ với Kỷ Lăng Quân cũng thân mật nhất.

Nhờ có thân phận đặc biệt, Kỷ Lăng Quân đã giao toàn bộ kim bài xe, thuyền cho Tử Khải quản lý. Tử Khải vốn có địa vị hiển hách trong đám vương thân, lúc này lại càng như buồm gặp gió, vượt qua cả Bành Quân, trở thành nhân vật số hai trong đám vương thân, chỉ sau Kỷ Lăng Quân.

Đối với các vương thân, xe thuyền chỉ là thứ để chuyên chở, sản nghiệp thực sự của họ phải là những nghề có thể kiếm ra tiền, như thủ công, khoáng sản, nông, thương, đồ da, phục sức...

Mười kim bài được thợ khéo của vương cung chế tác từ đồng thau, khảm vàng nạm bạc, cực kỳ tinh xảo.

Ngày kim bài được chuyển tới, trước phủ Kỷ Lăng Quân ngựa xe nhộn nhịp, bao nhiêu vương thân ở Sính Đô đều đổ dồn về đây cả, phần để chúc mừng, phần để bàn chuyện làm ăn, người thì ký khế ước chở hàng, người thì mang vàng bạc tới góp vốn cùng vương thúc, người thì đưa con trai con gái tới học nghề học mưu.

Tất cả đang ồn ào bận rộn, bỗng thấy Xạ Cao Quân hối hả bước tới, kéo Kỷ Lăng Quân sang một bên, thì thầm vào tai.

“Tiểu tử nhà họ Xa đặt mua lưỡi cày?” Kỷ Lăng Quân nheo mắt, đôi mày chau tít, “bao nhiêu?”

“Mười vạn chiếc.”

“Mười vạn chiếc?” Kỷ Lăng Quân trợn tròn mắt, “Xạ Cao Quân không nghe lầm đấy chứ?”

“Theo lời hắn nói, đây mới chỉ là số lượng của năm nay.” Xạ Cao Quân đáp, “chở tới Quan Trung và đất Thục, nói là kiếm lợi không ít.” Lại hạ thấp giọng, “kẻ đó là con trai của nguyên quốc uý Xa Hi Hiền, nghe hắn nói, Thương Quân rủ Xa Hi Hiền mưu phản, Xa Hi Hiền chẳng còn cách nào, đành phải tuẫn thân theo tiên Tần Công. Tần Vương hiện tại cảm kích lòng trung thành của ông ta, nên rất ưu ái cho nhà họ Xa. Tiểu tử kia có lẽ chán ghét triều chính nước Tần, chỉ muốn làm thương nhân, mấy năm nay làm ăn ở nước ta rất tốt, chuyện giao thương của ta với Tần, đa phần đều qua hắn. Hắn cũng rất biết giữ chữ tín, chưa từng nợ nần chúng ta, cũng là một mối làm ăn tốt.”

“Không nói gì tới giá cả sao?” Kỷ Lăng Quân đã trấn tĩnh trở lại.

“Nói rồi, giá cả muốn bàn bạc với đại nhân.”

“Một thằng ranh con, để Tử Khải đi là được rồi.”

“Đặt mua hàng này, lại không phải họ Xa.”

“Lẽ nào là Cam Mậu?” Kỷ Lăng Quân nhìn sang, “nghe nói hắn đang giữ chức của Doanh Kiền!”

“Có lẽ không phải.” Xạ Cao Quân đáp, “tiểu tử đó nói, Cam Mậu còn đang dẹp loạn ở Ba Thục. Bất kể thế nào, đây cũng là một mối làm ăn lớn.”

“Được.” Kỷ Lăng Quân gật đầu, “chuyển lời tới hắn, mười ngày nữa, ta sẽ chờ tại đất phong.”

Đất phong của Kỷ Lăng Quân nằm cách Sính Đô chưa đầy trăm dặm về phía bắc, rộng chừng hai trăm dặm vuông, trong lãnh thổ có hai con đường bộ, đều là đường cái trọng yếu, một đường thông nam bắc, một đường hướng đông tây, đường thuỷ lại càng thông suốt tám hướng, xứng danh là đầu mối giao thông và đại ấp phòng ngự ở phía bắc Sính Đô. Khách đi nam về bắc, hàng hoá vận chuyển các phương, đa phần đều phải đi qua địa bàn của Kỷ Lăng Quân.

Chuyện này tạm chưa nói tới, mà di cốt của vài đời tiên vương đều mai táng ở đây, nên mới gọi là Kỷ Lăng. Tổ miếu tiên vương đặt ở đây, gặp ngày tế lễ trọng đại, Sở Vương cũng phải giá lâm lễ bái.

Phủ đệ của Kỷ Lăng Quân là một ấp lớn, gọi là Kỷ Lăng, nằm ở giữa đất phong, hơi chếch sang tây bắc, vừa hay là chỗ giao nhau của hai đường cái, lại có hai dòng sông bao quanh, nhân khẩu trong ấp hơn ba vạn, đa phần là nô bộc và binh lính của Kỷ Lăng Quân.

Tầm chục ngày sau, có hai cỗ xe tứ mã lộng lẫy chầm chậm tiến vào ấp Kỷ Lăng, dừng lại trước cổng phủ Kỷ Lăng Quân.

Xạ Cao Quân từ trên cỗ xe đi đầu nhảy xuống, vào trong thông báo. Chốc sau, ba người Kỷ Lăng Quân, Ngạc Quân, Bành Quân bước ra nghênh đón. Khách buôn nước Tần trên cỗ xe thứ hai đã cung kính chờ sẵn trước xe.

Cả hai người đều phục sức quý phái, kẻ trước người sau đứng chờ, nhìn qua đã biết là thương nhân tầm cỡ.

Người đứng phía trước là Xa Vệ Tần.

“Vương thúc,” Xạ Cao Quân chỉ vào Xa Vệ Tần, “vị này chính là Xa đại nhân, đại thương nhân đến từ Hàm Dương, có mở cửa hiệu ở Sính Đô!”

Xa Vệ Tần khom lưng với Kỷ Lăng Quân: “Vãn bối Xa Vệ Tần bái kiến vương thúc!”

Kỷ Lăng Quân vòng tay đáp lễ, quan sát kỹ lưỡng một lượt, khẽ gật gù: “Sớm đã nghe danh Xa đại nhân, nghe nói rất thạo buôn bán!”

“Tạ ơn vương thúc quá khen!” Xa Vệ Tần lại khom lưng cảm tạ, lùi sang một bên. Kỷ Lăng Quân lúc này mới nhìn thấy rõ ông chủ thực sự đứng sau lưng Xa Vệ Tần. Rõ ràng, đây mới là người đặt hàng tới từ Hàm Dương, đến để bàn bạc giá cả.

Ánh mắt người đó chiếu thẳng tới, xoáy vào Kỷ Lăng Quân.

Kỷ Lăng Quân đang định chào hỏi, bỗng thấy một luồng sát khí ập thẳng vào trước mặt, vội vã thu thần hộ thể, đáp lại bằng ánh mắt tương tự.

Hai bên cùng nhìn nhau.

Qua chừng hai hơi thở, Xa Vệ Tần vòng tay lên tiếng: “Vương thúc, vị này chính là chúa công của vãn bối, tới từ Hàm Dương!”

“Mị Thu cung nghênh khách quý phương xa!” Kỷ Lăng Quân thu lại ánh mắt, tiến lên một bước, vòng tay chào.

Trương Nghi mỉm cười vòng tay: “Trương Nghi người Hàm Dương bái kiến vương thúc!”

Vừa nghe thấy hai tiếng “Trương Nghi”, tất cả những người có mặt thảy đều bàng hoàng chấn động, ngay cả kẻ mối lái Xạ Cao Quân cũng đứng chết trân. Những năm qua, đám đệ tử Quỷ Cốc Trương Nghi, Tô Tần khuấy đảo liệt quốc, tung hoành thiên hạ, danh tiếng lẫy lừng. Nhất là Trương Nghi, trước có truyền kỳ diệt Việt, sau có mê án trộm ngọc Hoà Thị Bích của Chiêu môn, tiếp đến lại diệt Ba Thục chỉ trong mười tháng, làm tướng Ngụy nhiều năm, liên thủ Bàng Quyên phạt Triệu công Hàn, hai lần giao chiến với Tề, có thể nói là toàn chuyện kinh thiên động địa.

Vậy mà, một người quyền thế hiển hách khắp liệt quốc, lúc này lại hạ mình tới Sở, chỉ để mặc cả giá tiền của một phi vụ buôn bán với vương thúc Đại Sở!

Kỷ Lăng Quân hít vào một hơi dài, lại vòng tay: “Mị Thu không biết Trương tướng quốc giá đáo để nghênh đón từ xa, thất lễ!”

“Vương thúc khách khí quá!” Trương Nghi đáp lễ, “Nghi mạo muội tìm tới, đã quấy quả vương thúc. Nghe nói vương thúc bảo địa thanh tĩnh, nhân phẩm thanh cao, Nghi vẫn hằng ngưỡng mộ, nay được gặp tận mắt, thực lấy làm vinh hạnh!”

Kỷ Lăng Quân và Trương Nghi khách sáo vài câu, rồi dắt tay nhau bước vào trong phủ, phân ngôi chủ khách ngồi xuống.

“Tướng quốc bận trăm công nghìn việc,” lại thăm hỏi thêm một hồi, Kỷ Lăng Quân mới đi vào chuyện chính, “nay không quản nghìn dặm xa xôi tới thăm hàn xá, hẳn có điều gì chỉ giáo?”

“Than ôi,” Trương Nghi thở dài, “Nghi chẳng qua chỉ là một hàn sĩ quèn, được Tần Vương yêu mến, cho quản việc tướng. Tướng là trợ giúp; trợ giúp việc nước; mà nước là dần; mà dân là sống. Đất Tần núi nhiều ruộng ít, thiếu thốn lương thực, dân sinh khốn khó, Nghi muốn khai khẩn đất hoang, giúp dân thoát khổ, song ngặt nỗi sức dân không đủ.” Chỉ vào Xa Vệ Tần, “gần đây, được Xa huynh cho biết một tin vui, nói rằng dân Sở làm ruộng bằng lưỡi cày, có thể mượn sức gia súc, kiệm sức mà hiệu quả gấp bội. Nghi lấy làm phấn khởi, lập tức tấu lên Tần Vương, tới đây đặt mua lưỡi cày, trợ giúp cho dân. Mong vương thúc thương cho nỗi khổ của dân Tần mà phát từ tâm!”

“Tướng quốc có lòng thương xót dân chúng, quả là phúc cho Tần. Dám hỏi tướng quốc, muốn đặt mua bao nhiêu lưỡi cày?”

“Đất Tần có hơn trăm vạn hộ, lại thêm đất Thục hơn ba mươi vạn hộ, cộng hai nơi lại, là trăm ba mươi vạn hộ, mỗi hộ tạm tính một lưỡi cày, nước Tần cũng cần đến trăm ba mươi vạn chiếc. Đây là thương vụ không hề nhỏ!” Trương Nghi đưa ra con số.

Kỷ Lăng Quân lại hít vào một hơi, nhìn sang đám Ngạc Quân, thấy mắt ai cũng sáng rỡ.

“Đúng là một thương vụ không nhỏ,” Kỷ Lăng Quân gật gù, “có điều đất Sở sản lượng có hạn, e rằng cung không đủ cầu. Hơn nữa, dân Sở cũng cần đến lưỡi cày. Tướng quốc yêu dân Tân, Mị Thu tuy vô đức, song cũng không thể không thương dân Sở!”

“Ồ...” Trương Nghi đảo con ngươi một vòng, phá lên cười lớn, “vương thúc quả là người thẳng thắn. Tại hạ lần này tới đây chỉ để bàn chuyện mua bán, giá cả!” Nói rồi ngả người về phía trước, nhìn chằm chằm vào Kỷ Lăng Quân, “vương thúc hãy ra giá đi! Tại hạ xin đặt trước đợt hàng đầu tiên, mười vạn chiếc!”

Kỷ Lăng Quân nhìn sang đám Ngạc Quân, Bành Quân: “Trong kho của hai người liệu có đủ mười vạn chiếc?”

Bành Quân lắc đầu.

“Bẩm vương thúc,” Ngạc Quân tiếp lời, “kho ở đất Uyển có khoảng ba vạn, cửa hàng các nơi gộp lại, được khoảng ba vạn nữa. Bốn vạn còn lại, nếu lò rèn các nơi rèn hết sức, trong vòng ba tháng có thể làm đủ!”

“Vậy ư?” Kỷ Lăng Quân khép mắt suy nghĩ một chốc, “Trương tướng quốc đã nghe thấy rồi đấy. Nếu tướng quốc muốn đặt mua mười vạn chiếc, ta sẽ phải điều động kho lẫm khắp nơi. Thứ nhất, vận chuyển chậm; thứ hai, phí vận chuyển đắt đỏ; thứ ba mới là phiền phức, người Sở nếu muốn mua lưỡi cày, thì không còn hàng nữa.”

“Vương thúc,” Trương Nghi vẫn tươi cười như cũ, “tại hạ đã đến đây rồi, thì không thể tay trắng trở về được. Thế này vậy, mọi phí tổn hãy tính cả vào giá, xin vương thúc cứ ra giá đi!”

“Chà,” Kỷ Lăng Quân thở hắt ra, “Trương đại nhân tha thiết đến vậy, Mị Thu dù không muốn giúp cũng không được.” Nhìn sang Ngạc Quân, “Tử Khải, hãy theo lời Trương đại nhân, cùng tính toán thử xem, nên bán giá bao nhiêu?”

Ngạc Quân vâng lệnh, cùng Bành Quân, Xạ Cao Quân đi sang phòng bên, chừng một khắc sau, ba người trở ra.

“Bẩm vương thúc,” Ngạc Quân Khải vòng tay, “hiện nay, giá bán ở cửa hàng, một lưỡi cày là mười thù (1) vàng, nếu tính thêm các phí tổn theo lời Trương tướng quốc, mỗi chiếc giá mười sáu thù.”

(1)Đơn vị cân nặng thời xưa, 24 thù tương đương với 1 lượng cũ.

“Trương đại nhân,” Kỷ Lăng Quân nhìn sang Trương Nghi, “giá này thế nào?”

“Xa huynh,” Trương Nghi nhìn sang Xa Vệ Tần, “việc kinh doanh buôn bán, bản tướng không rành, công tử đã ra giá như vậy, Xa huynh cũng tính thử xem, vận chuyển về Hàm Dương liệu có lãi hay không? Kiểu gì cũng không thể buôn bán lỗ vốn được!”

“Bẩm chúa công,” Xa Vệ Tần đáp, “Vệ Tần đã tính thử, nếu mỗi chiếc giá mười sáu thù, lời thì vẫn có đấy, song không nhiều.”

Trương Nghi bật cười vài tiếng, nhìn sang Ngạc Quân: “Chư vị, lợi nhuận, mọi người cùng chia sẻ, nên chăng? Tại hạ đưa ra một con số, mỗi chiếc mười lăm thù, thế nào?”

“Được, được, được,” Ngạc Quân rối rít đáp liền, “mười vạn lưỡi cày, ba tháng...”

Kỷ Lăng Quân khẽ đặng hắng một tiếng, cắt ngang lời Ngạc Quân Khải.

“Vương thúc, tại hạ xin nghe lời ngài!” Trương Nghi nhìn sang Kỷ Lăng Quân, sắc mặt tươi cười.

Kỷ Lăng Quân bật cười vài tiếng, nói: “Trương tướng quốc đã mở miệng vàng, Mị Thu còn nói được gì nữa, vậy quyết định là mười lăm thù. Nhưng còn thời hạn...”

“Thế này vậy,” Trương Nghi đáp, “theo lời như công tử Khải, tháng đầu giao ba vạn chiếc, tháng thứ ba giao ba vạn chiếc, tháng thứ sáu giao nốt bốn vạn chiếc, được chăng?”

“Thế nào?” Kỷ Lăng Quân nhìn sang Ngạc Quân.

“Được được được.” Ngạc Quân Khải gật đầu lia lịa.

“Cứ theo lời Trương tướng quốc.” Kỷ Lăng Quân nhìn xoáy vào Trương Nghi, “đã là buôn bán, cũng cần định ra cách trả tiền...”

“Khế ước lập xong, trả trước ba phần, vào ngày giao hàng, trả tiếp ba phần. Bốn phần còn lại, đợi khi hàng tới biên giới Tần, kiểm đếm xong xuôi, một lần trả hết, được chăng?”

“Được.” Kỷ Lăng Quân quay sang Ngạc Quân, “Tử Khải, hãy đi lập khế ước.” Quay sang Trương Nghi, “giờ đang chớm hạ, hoa cỏ tốt tươi, Trương tướng quốc có muốn cùng tại hạ ra hậu hoa viên ngắm cảnh chốc lát chăng?”

“Nghi tuân lệnh!” Trương Nghi vòng tay đáp.

Thời hạn phạt Tần đã ngay trước mắt.

Trên thao trường phủ Kỷ Lăng Quân, hai nghìn dũng sĩ chuẩn bị xuất chinh đang tập trận, người phát hiệu lệnh, chính là tướng quân Trang Kiều.

Trang Kiều gia thế hiển hách, tổ tiên là Sở Trang Vương, một trong ngũ bá thời Xuân Thu. Do không phải dòng đích, nên đất phong rất nhỏ hẹp, bởi vậy sau khi Trang Vương băng hà, tổ tiên vì muốn khuếch trương thanh thế nên đã dùng Thụy hiệu của Trang Vương làm họ. Tuy nhiên, Thụy hiệu ấy không thể giúp con cháu đời sau thăng tiến, mà thế lực lại ngày càng suy yếu. Cho đến đời Trang Kiều, nhờ võ công mà lọt vào mắt Kỷ Lăng Quân, trở thành hộ vệ thân tín, lại lập đại công trong trận chiến phạt Ba. Sau đó, Kỷ Lăng Quân tiến cử người này làm chủ tướng, thống lĩnh quân Sở giao chiến với người Tần tại Ba Thục. Sau khi chiến bại, Trang Kiều lại trở về đất phong của Kỷ Lăng Quân.

Hai nghìn dũng sĩ do Trang Kiều đích thân chọn lựa từ trong vài vạn dũng binh và môn khách khắp nơi mộ danh Kỷ Lăng Quân mà tới đầu quân. Trang Kiều tinh thông binh pháp, rành rẽ việc quân, sau khi chiến bại trước Tần lại suy ngẫm phản tỉnh rất nhiều, đã thận trọng hơn, việc huấn luyện binh sĩ cũng càng thêm nghiêm ngặt.

Mấy ngày này chủ yếu là rèn tập về biến trận, hai nghìn binh lính đang thao diễn các kiểu trận hình trên bãi đất trống, từ trận tròn tới trận vuông, trận góc cạnh, từ thu trận tới dàn trận, từ tấn công tới phòng thủ, từ truy kích tới thoái lui.

Trên một đỉnh núi nhỏ cách thao trường không xa, có hai thiếu niên đang đứng lặng lẽ ở đó, độ tuổi xấp xỉ, chừng mười lăm mười sáu, đều phục sức sang trọng, lưng mang bảo kiếm, vừa nhìn đã biết là công tử nhà quyền quý.

Từ trên đỉnh núi nhìn xuống, toàn bộ thao trường thu cả vào tầm mắt. Trang Kiều đứng trên đài chủ tướng, trên đầu phấp phới một lá cờ lớn thêu một chữ “Trang”, xung quanh là thị vệ và lính gõ trống, lính phất cờ, lính thổi tù và truyền lệnh, ngoài nữa là lính cầm kích, lính bắn tên. Trang Kiều liên tục phát lệnh, trống chiêng, tù và, cờ xí đủ màu theo nhau truyền hiệu lệnh tới hai nghìn tướng sĩ. Chư tướng sĩ y theo hiệu lệnh, hoặc tiến hoặc lùi, hoặc sang trái hoặc sang phải, hoặc đâm hoặc đỡ, hết sức nhịp nhàng.

Hai thiếu niên rõ ràng đã có sự phân công, một người chăm chú theo dõi diễn tập, vừa xem vừa giải thích, người còn lại dùng đá sỏi, que gỗ bày ra thế trận trên mặt đất.

Lại một thế trận diễn tập xong. Trang Kiều truyền khẩu lệnh, cho chư tướng sĩ nghỉ ngơi tại chỗ. Hai nghìn tướng sĩ lập tức nằm xuống theo cùng một hướng đều tăm tắp, binh khí xếp ngay ngắn chỉnh tề, vẫn không rời tay.

Hai thiếu niên cảm thán một hồi, lại ngồi xuống, tập trung nghiên cứu trận đồ, rồi di chuyển sỏi, gỗ, tái hiện cảnh diễn tập trên thao trường vừa nãy.

Có lẽ do quá tập trung nên họ không nhận thấy có một thiếu nữ xinh đẹp đang tiến lại gần. Thiếu nữ rón rén bước lại sau lưng hai người, rồi đột nhiên “hù” lên một tiếng.

Hai thiếu niên giật bắn mình, cùng chúi về phía trước, tay chống xuống trận đồ, khiến đồ hình vỡ tan tành cả. Thiếu nữ phá lên cười khanh khách.

“Chị?” Hai thiếu niên lúc này mới nhận ra nàng, bèn lồm cồm bò dậy, phủi bụi trên mình, mặt đỏ phừng phừng, bực bội kêu toáng lên.

Thiếu nữ mà họ vừa gọi là “chị” chính là Mị Nguyệt, tuổi vừa cập kê. Hai thiếu niên kia, một người tên Mị Nhung, một người tên Ngụy Nhiễm, mặt còn búng ra sữa, vẫn chưa đến tuổi trưởng thành.

“Nhát gan thật đấy!” Mị Nguyệt ngồi xuống trước mặt hai người, lắc đầu chê bai.

“Này chị,” Mị Nhung hậm hực, “chị thế này là tập kích, là thừa cơ người khác không đề phòng!”

Mị Nguyệt lắc đầu: “Cậu đúng là chết vẫn chưa hiểu!”

“Không hiểu chỗ nào?” Mị Nhung cãi lại.

“Tôi hỏi cậu,” Mị Nguyệt nhìn sang Mị Nhung, “nếu cậu đụng đầu đối thủ, quyết trận sống mái, thì ai sẽ thắng?”

“Thế cũng phải hỏi,” Mị Nhung đáp lời, “ai đánh thắng thì sẽ thắng!”

“Không phải.” Mị Nguyệt lại lắc đầu.

Mị Nhung trợn mắt: “Lẽ nào là người chiến bại?”

“Cậu Nhiễm, nói thử xem.” Mị Nguyệt nhìn sang Ngụy Nhiễm.

“Là người còn sống tới thời khắc cuối cùng!” Ngụy Nhiễm đáp.

“Nghe thấy chưa?” Mị Nguyệt đắc ý nhìn Mị Nhung.

“Chiến bại thì chết chắc chứ còn gì nữa!” Mị Nhung ngơ ngác.

“Chiến bại sao lại chết?” Mị Nguyệt giải thích, “Chiến bại là chiến bại, chết là chết.” Rồi chỉ vào hai người, “chẳng hạn như hai cậu, vốn là anh em thân thiết, đến một ngày mỗi người thờ một chủ, ngõ hẹp gặp nhau, cậu Nhiễm đánh bại cậu Nhung, nhưng niệm tình anh em trước đây, mới lại gần nâng đỡ. Nào ngờ cậu Nhung thình lình rút đoản đao, đâm một nhát trúng tim cậu Nhiễm. Thế là người chết sẽ là cậu Nhiễm.”

“Này chị,...” Mị Nhung nghe mà nổi khùng, sắc mặt từ đỏ bừng chuyển sang trắng bệch, “chị coi tôi là giống súc sinh chắc? Tôi không bao giờ làm vậy!”

“Tôi biết cậu không bao giờ làm như vậy, tôi chỉ giả dụ thôi mà!” Mị Nguyệt cười đáp, “vậy thì giả dụ kiểu khác nhé. Hai tướng giao tranh, cậu Nhung đối trận với một lão tướng đầu tóc bạc phơ. Lão tướng không đánh lại cậu Nhung, bị thương nặng, đau đớn lăn lộn dưới đất rên la. Cậu Nhung động lòng trắc ẩn, bước lại muốn giúp, nào ngờ người kia nhân lúc cậu Nhung sơ ý, rút đoản đao đâm ngay tim. Thế là cậu Nhung thắng mà vẫn chết.”

Mị Nhung hít ngược một hơi.

“Chị!” Ngụy Nhiễm nhìn sững vào nàng.

“Muốn nói gì sao?” Mị Nguyệt nhìn sang Ngụy Nhiễm.

“Xin chị một việc!” Ngụy Nhiễm di chuyển ánh mắt về phía thao trường, ngồi bất động hồi lâu.

“Nói đi!” Mị Nguyệt lấy làm sốt ruột.

“Chị hãy xin cậu, cho phép tôi...” Ngụy Nhiễm chỉ xuống thao trường, “đứng vào giữa những người kia!”

“Cả tôi nữa!” Mị Nhung cũng vội vàng lên tiếng.

Mị Nguyệt phì cười: “Hai đứa bay vắt mũi còn chưa sạch đấy!”

Mị Nhung trề môi: “Chị chớ coi thường người khác thế! Chẳng phải cậu mười tám tuổi đã dẫn quân chinh phạt nước Ba đấy thôi!”

“Bấm đốt ngón tay đếm thử xem, cậu bao nhiêu tuổi?” Mị Nguyệt vừa gập từng ngón tay vừa cố tình dài giọng, “cộng thêm cả tuổi trong bụng mẹ, mới có mười lăm!”

“Mười lăm thì sao?” Ngụy Nhiễm vặc lại, chỉ xuống Trang Kiều phía dưới, “khi Trang tướng quân theo cậu đánh nước Ba, chỉ mới mười ba!”

“Phải đấy, phải đấy,” Mị Nhung phấn chấn ra mặt, “nghe cậu kể, Trang tướng quân mười ba tuổi đã theo cậu chinh chiến, trận đầu tiên đã hạ được ba người Ba!”

“Ái chà,” Mị Nguyệt nhìn lướt qua hai người, “hai cậu mà cũng đòi so sánh với Trang tướng quân! Tối hôm kia, là ai nửa đêm không ngủ được, phải mò sang phòng tôi xin hương đốt thế?”

Mị Nhung gân cổ cãi: “Tại muỗi đốt ghê quá đấy chứ! Chị thì ngủ màn, sao lại không cho hai đứa tôi giăng màn?”

Mị Nguyệt phá lên cười khanh khách: “Cậu đi hỏi xem, trên dưới phủ này có người đàn ông nào ngủ màn không hả? Muỗi đốt còn không chịu được, từ đây ra chiến trường, không chỉ gặp muỗi thôi đâu! Mật thì có bằng này...”

“Chị cứ đợi đấy,” Mị Nhung đứng bật dậy, xăm xăm bước đi.

“Khoan đã khoan đã,” Mị Nguyệt dài giọng, thủng thẳng nói, “tôi tới đây không phải nói chuyện ruồi muỗi với các cậu. Có muốn nghe một chuyện trọng đại? Vừa xảy ra ngay trước mắt không?” Mị Nguyệt hạ giọng úp mở.

“Muốn muốn muốn,” Mị Nhung khấp khởi ghé lại gần, “kể mau đi!”

“Ngay lúc này,” Mị Nguyệt nhìn về phía phủ trạch của Kỷ Lăng Quân phía xa xa, gần như thì thào, “cậu đang tiếp một vị khách quý cực kỳ quan trọng, quan trọng bậc nhất thiên hạ!”

“Ai thế?” Mị Nhung sốt sắng.

Mị Nguyệt lại càng ra vẻ bí hiểm: “Tôi mà nói ra, khéo hai cậu chết ngất tại chỗ đấy!”

“Nói mau lên nào!” Mị Nhung gần như nài nỉ.

“Là một người nước Tần!” Mị Nguyệt vẫn dềnh dàng, đưa mắt nhìn từng người, “hai cậu đoán thử là ai.”

“Người Tần!” Mị Nhung đứng phắt dậy, “đang muốn thảo phạt hắn kia mà, hãy xem tôi giết hắn!”

Mị Nguyệt bĩu môi: “Nhìn lại mình đi, ai giết ai chứ!”

“Lẽ nào là... Tần Công?” Ngụy Nhiễm hỏi.

“Tần Công là người cao quý, đâu có thể tùy tiện xuất cung?” Mị Nguyệt khích lệ, “đoán lại đi.”

“Lẽ nào là Trương Nghi?” Ngụy Nhiễm ngẫm nghĩ một chốc, ánh mắt bỗng trầm xuống, “hẳn là người này!”

Trương Nghi tới đây, không đơn giản chỉ vì ô kim, mà kết giao với Kỷ Lăng Quân, Ngạc Quân và các vương thân khác mới là việc chính.

Yến tiệc thịnh soạn, Trương Nghi hơi quá chén, khi choàng tỉnh dậy, đã là chập tối. Kỷ Lăng Quân sắp xếp phòng khách cho Trương Nghi nghỉ lại, bởi là chuyện cơ mật, nên nghiêm cấm lọt tin ra ngoài.

Sáng hôm sau, Kỷ Lăng Quân bồi tiếp Trương Nghi dùng bữa sáng. Đang trò chuyện, chợt có tiếng chân líu ríu lại gần, rồi Mị Nguyệt chạy ào vào như một cơn gió.

“Mị Nguyệt?” Kỷ Lăng Quân chau mày.

“Thưa cậu!” Mị Nguyệt miệng chào, mắt liếc sang

Trương Nghi. Trương Nghi cũng nhìn lại nàng.

Mị Nguyệt tiến lên một bước, lại sát trước mặt Trương Nghi, khom lưng xuống, đôi mắt mở tròn, như muốn đếm xem người này có bao nhiêu sợi râu.

“Mị Nguyệt?” Kỷ Lăng Quân cao giọng.

“Này, ông chính là Trương Nghi đấy ư?” Mị Nguyệt cứ như không nghe tiếng Kỷ Lăng Quân, hai mắt dán chặt vào Trương Nghi.

Lúc nãy nghe thấy tiếng “cậu”, Trương Nghi đã biết ngay thiếu nữ này là ai, bèn chỉ vào mặt mình, tươi cười nói: “Tại hạ Trương Nghi, bản mặt này ưa nhìn chứ?”

“Có thể thè lưỡi xem thử không?” Mị Nguyệt lại hỏi.

Kỷ Lăng Quân ngượng quá, sầm mặt xuống, ho lên một tiếng: “Mị Nguyệt, ra ngoài mau, đừng có phá phách!”

Mị Nguyệt còn chưa kịp phản ứng, Trương Nghi đã thè lưỡi ra dài hết cỡ.

Nhìn thấy cái lưỡi dài của Trương Nghi, Mị Nguyệt kinh ngạc trợn tròn mắt, hồi lâu sau mối chặc lưỡi vài cái.

“Có muốn lấy thước đo không?” Trương Nghi rụt lưỡi lại, cười hỏi.

“Có!” Mị Nguyệt lại chạy vụt đi như một cơn gió.

“Con ranh này...” Kỷ Lăng Quân vòng tay vái lia lịa, “thực vô phép quá!”

Trương Nghi vòng tay đáp lễ, hạ giọng nói: “Không giấu vương thúc, tại hạ khi bằng tuổi cô đây, còn bắt khách há miệng để đếm răng nữa kia!”

Kỷ Lăng Quân cười sượng sùng: “Vậy thì tướng quốc cũng hợp duyên với con ranh ngang ngược này thực!”

Lời vừa dứt, Mị Nguyệt lại chạy ào vào, tay cầm theo cây thước, ngồi thụp xuống trước mặt Trương Nghi: “Này ông, tiểu nữ đo được thật chứ!”

Trương Nghi lại thè lưỡi thật dài. Mị Nguyệt cầm thước đo chừng, rồi vừa tấm tắc vừa đánh dấu trên thước.

“Dài bao nhiêu?” Trương Nghi lấy làm tò mò, “tại hạ chưa đo bao giờ cả!”

Mị Nguyệt ghé thước lại, đếm các vạch khắc, lẩm bẩm: “Chao ôi, ba tấc ba!”

“Ngắn thế thôi ư?” Trương Nghi ra vẻ thất vọng, “tại hạ cứ ngỡ phải bốn tấc kia!”

“Đấy là mới đo đoạn thò ra ngoài thôi, nếu cộng cả phần bên trong nữa...” Mị Nguyệt nói.

“Phải đấy!” Trương Nghi tiện tay cầm một chiếc đũa lên, há miệng, thọc đũa vào trong, cho tới khi chạm vào cuống lưỡi, tay kia kéo đầu lưỡi ra ngoài hết cỡ, đánh dấu trên đũa, rồi cười nói: “Đo thử xem!”

Mị Nguyệt đo chiếc đũa, kinh ngạc kêu lên: “Năm tấc bảy, quả là phi phàm!”

Trương Nghi phá lên cười: “Không giấu gì cô, Trương Nghi chẳng có tài cán gì, chỉ nhờ cái lưỡi này kiếm cơm, không dài sao được?”

“Mị Nguyệt, ra ngoài mau, cậu đang có việc cần bàn với khách!” Kỷ Lăng Quân chỉ tay ra ngoài cửa.

“Vâng!” Mị Nguyệt nhặt lấy cây đũa, chạy biến.

Trương Nghi nhìn theo bóng nàng, hồi lâu mới thu ánh mắt lại: “Cô ấy là cháu đằng ngoại của vương thúc ư?”

“Phải,” Kỷ Lăng Quân cười buồn, “than ôi, vốn là đứa trẻ mệnh khổ, có điều, con bé lại đã biến khổ thành vui, lúc nào cũng thấy cười.”

“Xin hãy kể qua,” Trương Nghi lấy làm tò mò, “mệnh khổ thế nào?”

“Kể ra thì dài lắm,” Kỷ Lăng Quân đặt đũa xuống, nhìn sang Trương Nghi, “mẹ của con bé là chị gái của ta, tên là Mị Yên. Chị em chúng ta đều lớn lên trong cung, chị rất yêu thương ta. Sau này, chị ta gả sang nước Ngụy, làm phu nhân của thượng tướng quân công tử Ngang, sinh ra con bé và em trai nó. Chuyện sau này, Trương đại nhân hẳn cũng biết rồi. An Quốc Quân vì muốn cưới công chúa Tần, đã phế bỏ danh phận phu nhân của chị ta. Sau đó trong trận Hà Tây, công tử Ngang bại trận, công chúa Tần bỏ về Tần. Công tử Ngang thất trận lại được phong An Quốc Quân, song vẫn không khôi phục danh vị cho chị ta. Về sau Bàng Quyên tập kích chiếm Hình Sơn, Ngụy Sở trở mặt, chị ta u uất thành bệnh mà qua đời, lúc lâm chung dặn hai chị em chúng nó gắng tìm về nương nhờ ta. Sau đó công tử Ngang tử trận tại Hà Tây, các thê thiếp khác ức hiếp hai chị em chúng quá lắm, nên Ngụy Nguyệt và Ngụy Nhung, còn thêm một người em nữa là Ngụy Nhiễm, đã dắt díu nhau bỏ Ngụy sang Sở nương nhờ ta. Ta đổi họ của hai chị em sang họ mẹ, nhưng mẹ đẻ của Ngụy Nhiễm là công chúa Tống thất, không muốn đổi họ, nên vẫn giữ họ Ngụy.”

Vừa nghe ba chữ “công tử Ngang”, Trương Nghi sực nhở đến Ngụy Chương đang chờ mình ở Ư Thành, thì trong lòng mừng rỡ. Trương Nghi cố gắng kìm nén niềm vui sướng, cũng thở dài một tiếng: “Thời loạn nhiều hoạn nạn, ba đứa trẻ ấy thực đáng thương.” Dừng lại một chốc, nói tiếp, “dám hỏi vương thúc, công chúa đã bao nhiêu xuân xanh rồi?”

“Mười tám.”

“Hẳn đã có hôn ước?”

“Than ôi,” Kỷ Lăng Quân lại thở dài, “đại nhân cũng thấy rồi đấy, con bé này số mệnh trắc trở, nên tính khí gan góc ngang tàng, vô phép vô tắc, thân thế phiêu linh mà vẫn cứ cao ngạo, thiếu niên tầm thường không lọt vào mắt nó, cũng khó mà ước thúc nổi nó. Thời gian thấm thoắt, đã quá tuổi cập kê ba năm, giờ thành bà cô mất rồi, mà không có cha mẹ sắp đặt, chỉ còn lại ông cậu này, dù sốt ruột đến mấy cũng bó tay hết cách. Con bé này không thể bức ép được!”

Trương Nghi cười nói: “Gái giỏi không lo ế, vương thúc bất tất phải lo lắng. Phải rồi, tại hạ chợt nhớ ra một chuyện, nghe nói bảo địa của vương thúc có một toà bảo sơn, phong cảnh đẹp nức tiếng?”

“Ta sẽ sắp xếp, chừng nửa canh giờ nữa, chúng ta sẽ ngồi xe tới đó.”

“Tại hạ muốn mời ba chị em công chúa Mị Nguyệt cùng đi, không biết vương thúc có sẵn lòng?” Trương Nghi nhìn thẳng vào Kỷ Lăng Quân.

Kỷ Lăng Quân khẽ cười một tiếng: “Nếu là vậy, Mị Thu sẽ không đi cùng nữa!”

“Tạ ơn vương thúc!”

Chừng nửa canh giờ sau, hai cỗ xe chở Trương Nghi và ba chị em Mị Nguyệt lóc cóc chạy về phía Kỷ Sơn. Người đánh xe là Xa Vệ Tần và phu xe của Kỷ Lăng Quân.

Nhìn theo xe ngựa cuốn bụi đi xa, Ngạc Quân cười cười hỏi: “Vương thúc, lẽ nào chị họ đã lọt vào mắt xanh của Trương tướng quốc?”

“Nếu quả là vậy, ý cháu thế nào?” Kỷ Lăng Quân hỏi.

Ngạc Quân Khải lấy làm hào hứng, cười đáp: “Nghe nói hồi sáng, chị họ còn lấy thước đo lưỡi Trương Nghi, có chuyện này chăng?”

Kỷ Lăng Quân mỉm cười.

“Theo cháu thấy,” Ngạc Quân tiếp lời, “khéo chị họ đã ưng Trương tướng quốc rồi. Nồi nào vung nấy, còn phải nói nữa ư, hai người họ ưng nhau rồi!”

“Tay Trương Nghi này,” Kỷ Lăng Quân khẽ gật gù, “quả là bậc kỳ tài! Chuyện này nếu là thật, không chỉ phúc cho chị họ cháu, mà còn là phúc cho nước Sở ta! Chỉ tiếc là,” khẽ thở dài, “nhiều năm trước, Chiêu Dương gây chuyện, e rằng đã khiến lòng Trương Nghi nguội lạnh. Bằng không, vương thúc đã tiến cử hắn với vương huynh, cho hắn làm lệnh doãn nước Sở, chẳng phải tốt đẹp lắm ư?”

“Con chó già Chiêu Dương,” Ngạc Quân Khải hậm hực, “phụ vương sớm đã gai mắt với lão rồi. Vương thúc, Khải đã suy nghĩ kỹ, tới đây sẽ tấu lên phụ vương, mời Trương Nghi về, phong làm lệnh doãn, đạp lão Chiêu Dương xuống dưới chân!”

“Ôi chao, này cháu!” Kỷ Lăng Quân lắc đầu.

“Vương thúc, không phải cháu nhất thời tức giận đâu!” Ngạc Quân siết chặt nắm tay, “đúng là lão ta giành được Tương Lăng thật, nhưng sao lại có chuyện chỉ mình họ Chiêu được mở cửa hiệu buôn bán? Cách đây không lâu, cháu phái người tới Tương Lăng, định mở hàng muối trên phố, tốn không biết bao nhiêu công sức mới mở được một cửa hàng nhỏ, họ Chiêu giữ ngặt tới mức mũi kim cũng không lách lọt. Tám ấp Tương Lăng, những mười vạn dân, chỉ riêng cái lợi từ sắt và muối, chà chà...”

Kỷ Lăng Quân bật cười vài tiếng: “Nhóc con, vẫn còn non lắm. Cá bơi lên trước, cua bò sang ngang, còn tôm thì bơi giật lùi.”

“Vương thúc?” Ngạc Quân ngơ ngác.

“Tiền đặt cọc của Trương tướng quốc, bao giờ thì tới?” Kỷ Lăng Quân đổi giọng.

“Trong vòng ba ngày, Xa Vệ Tần sẽ giao tới,” Ngạc Quân đáp, “cháu sẽ bảo hắn chở thẳng tới phủ trạch của vương thúc ở Sính Đô.”

“Hãy chở tới phủ trạch của Xạ Cao!”

“Tuân lệnh!” Ngạc Quân dừng lại một chốc, rồi hạ giọng thì thào, “không giấu vương thúc, lần này lời to rồi. Lưỡi cày giá tại lò chỉ năm thù, mười thù là giá bán tại cửa hàng. Vương thúc ra giá mười lăm thù, là lời gấp đôi! Cháu đã cho tính toán kỹ, chỉ một đợt mười vạn lưỡi cày lần này, đã thu được năm vạn lượng vàng ròng, tức hai nghìn năm trăm dật. Chà chà, trước sau chưa đầy sáu tháng, nếu như làm gấp, chỉ cần ba tháng là có thể giao toàn bộ, lời lãi chuyến này, còn nhiều hơn toàn bộ các thương vụ của cả năm trước gộp lại! Quả là tiền của trời ban, không muốn phất cũng không được!”

Kỷ Lăng Quân phá lên cười lớn: “Trương tướng quốc cũng là một con cáo già đấy. Họ chở lưỡi cày tới Hàm Dương, chỉ mình họ có để bán, muốn hét giá bao nhiêu chẳng được? Người Tần sống dựa vào nghề nông, có lưỡi cày này hay không, khác biệt trời vực đấy.”

“Vâng.” Ngạc Quân đáp, “đợi đến khi họ thóc lúa dư dật, ăn không hết, cháu sẽ sang Tần buôn lương thực của họ về, lại thêm một món lời nữa!”

Hai bên lại trò chuyện một hồi, thì Bành Quân và Xạ Cao Quân tới. Bốn người vào trong phòng khách, Bành Quân dâng lên Kỷ Lăng Quân bản khế ước hai bên đã điểm chỉ xong xuôi. Kỷ Lăng Quân liếc nhìn, thấy người điểm chỉ phía Tần là Xa Vệ Tần, phía Sở là Bành Quân, thì mỉm cười, trả lại khế ước cho Bành Quân, rồi lại bàn bạc trù tính một chặp nữa.

Cho đến quá Ngọ, đám Trương Nghi mới từ Kỷ Sơn vui vẻ trở về. Kỷ Lăng Quân cho bày tiệc, mấy vị phong quân và anh em Mị Nhung cùng dự.

Thoạt tiên, Trương Nghi chỉ kể lể về thắng cảnh Kỷ Sơn, rượu qua ba tuần, mới vào chuyện chính, nhìn sang Kỷ Lăng Quân, vòng tay nói: “Vương thúc, tại hạ có một thỉnh cầu, nhân lúc chưa say, muốn nói cùng vương thúc trước!”

“Tướng quốc đại nhân chớ nên khách sáo.” Kỷ Lăng Quân vòng tay đáp lễ, nhìn thẳng vào Trương Nghi hỏi.

“Tại hạ thỉnh cầu, là vì hai vị công tử,” Trương Nghi nhìn sang hai anh em Mị Nhung, Ngụy Nhiễm, “hai Công tử tuy tuổi còn nhỏ, song ôm chí lớn, khao khát lập công sa trường, nghe công tử nói, gần đây vương thúc đang thao luyện hùng binh, họ rất muốn gia nhập, song vì tuổi nhỏ nên không được chấp thuận, bởi vậy mới nhờ tại hạ thỉnh cầu lên vương thúc!”

Kỷ Lăng Quân nhìn sang hai người, quả nhiên thấy ánh mắt tràn đầy mong đợi, bèn khẽ thở dài, quay sang Trương Nghi: “Không giấu tướng quốc, không phải Thu không chịu, mà nước Sở quả có vương chế, chưa tới tuổi đội mũ, không thể đầu quân. Luật do tiên quân định ra, Mị Thu không dám trái!”

“Cậu!” Mị Nhung đang định cãi, Trương Nghi đã bật cười, cắt ngang lời, “hai vị công tử chẳng qua chỉ thỉnh cầu được tham gia thao diễn, chứ chưa phải nhập quân tịch, đâu thể coi là làm trái vương chế.”

“Ồ...” Kỷ Lăng Quân nhắm mắt ngẫm nghĩ chốc lát, “nếu là vậy, cũng có thể được.” Nhìn sang Mị Nhung, “hãy theo lời Trương tướng quốc, hai cháu hãy tới gặp Trang tướng quân, tham gia thao diễn!”

“Tạ ơn cậu!” Mị Nhung, Ngụy Nhiễm cùng quỳ xuống dập đầu, lại quay sang Trương Nghi vái tạ. Rồi đứng bật dậy, kéo tay nhau chạy như bay ra ngoài.

Nhìn bộ dạng hân hoan của hai đứa trẻ, mọi người đều cười rộ lên. Trương Nghi nhìn theo, tấm tắc khen ngợi, “tự cổ anh hùng xuất thiếu niên, nhìn họ, tại hạ lại nhớ năm xưa, khi Hà Tây vẫn chưa về Tần, Long tướng quân chiêu mộ binh lính, tại hạ đã ghi danh đầu quân, muốn lập công sa trường, nhưng tiên mẫu... lại nhất quyết đưa tại hạ tới Lạc Dương, nếu không phải vậy...” Chợt nhớ tới mẹ, Trương Nghi bỗng nước mắt lã chã.

“Mẫu thân của Trương đại nhân quả là nhìn xa trông rộng!” Kỷ Lăng Quân tiếp lời, “nếu không làm thế, không chừng Trương đại nhân đã máu đổ Hà Tây, thì có đâu công nghiệp như ngày nay được!”

“Tạ ơn vương thúc đã khen tiên mẫu!” Trương Nghi vòng tay cảm tạ, rồi nói, “lần này tới Sở, tại hạ vô cùng cảm khái. Hiện tại đang giữa thời bình, mà Nghi đi đến đâu, cũng thấy người Sở dàn binh diễn trận giữa trời nắng nóng, vận lương phòng bị sẵn sàng. Nước vũ dũng như vậy, dân vũ dũng như vậy, thực khiến người Tần toát mồ hôi hột.”

“Ồ?” Ngạc Quân Khải hỏi, “người Tần cớ sao lại toát mồ hôi?”

“Than ôi,” Trương Nghi thở dài, “người Tần ư, trên tới Tần Vương, dưới tới thần dân, không một ai muốn đánh trận cả.”

“Ồ?” Ngạc Quân Khải dài giọng, hai mắt mở tròn, “vì sao kia?”

“Người Tần chịu nỗi khổ chiến loạn đã nhiều năm. Trước là Thương Quân, không thương xót dân, liền năm chinh phạt, khai chiến với Ngụy ở Hà Tây, rồi lại giao chiến với quý quốc ở Thương Ư. Tới khi vua mới kế vị, trước có Tô Tần tung thân sáu nước phạt Tần, sau đến tại hạ viễn chinh Ba Thục, rồi Tư Mã Thác viễn chinh nước Tề, nên từ vương thất cho đến thần dân, không ai không mệt mỏi vì chinh chiến. Không giấu vương thúc,” Trương Nghi dừng lại một chốc lại tiếp, “từ sau thảm bại Tang Khâu, rồi phản loạn Ba Thục, người Tần đều đã chán ghét chiến tranh tận cổ, chỉ muốn yên ổn cày cấy trồng trọt, mong đủ cái ăn. Vương thúc thấy đấy, vừa nghe lưỡi cày của Sở cày ruộng dễ dàng, Tần Vương đã lập tức phái tại hạ tới bàn cùng vương thúc, dù phải dốc cả quốc khố, cũng phải lo cho dân Tần có đủ lưỡi cày!”

Nghe Trương Nghi nói rõ nguyên do, mấy vị vương thần đều đưa mắt nhìn nhau.

“Thấy người Sở biết lo xa thế này, tại hạ lấy làm cảm khái, lần này trở về, chắc phải khuyên Tần Vương nhân lúc nông nhàn, cũng không nên xao nhãng luyện binh! Cách đây không lâu, Tô Tần hẹn sáu nước hội tại Nghiết Tang, tại hạ hay tin, lập tức lên đường, muốn tới đó cùng tướng quốc sáu nước bàn chuyện thiên hạ thái bình, ngờ đâu đi gấp lắm rồi mà vẫn đến chậm một bước, than ôi...” Trương Nghi lại thở dài, “nếu không ngoài dự liệu của tại hạ, hội thề sáu tướng lần này, vẫn là vì nước Tần. Xem ra, nước Tần tại hạ,” lắc đầu, cười buồn, “quả là cây muốn lặng mà gió chẳng dừng!”

Lời của Trương Nghi, chân thành tha thiết, khiến mấy vị vương thân đều lấy làm cảm động.

“Trương đại nhân,” Kỷ Lăng Quân vòng tay nói, “không ngờ Tần Vương lại có tấm lòng như vậy. Chuyện lưỡi cày, Trương đại nhân cứ yên tâm, sáng nay đã bàn bạc xong rồi, chắc chắn sẽ giao hàng đúng hạn. Còn như việc quân quốc đại sự, là chuyện của triều đình, Thu không thể can thiệp. Có điều, nếu như có dịp, Thu sẽ mang tâm ý của Tần Vương và Trương đại nhân tấu lên đại vương. Bất luận thế nào, Sở, Tần đều là nước lớn, hoà thì hai bên cùng lợi, tranh thì hai bên cùng thiệt.”

“Hoà lại không khó,” Xạ Cao Quân tiếp lời, “gốc rễ là ở Thương Ư. Công Tôn ưởng tập kích chiếm mất mười lăm ấp Ư Thành, nước Sở trên dưới đều coi là quốc nhục, Trương đại nhân nếu có thể khuyên Tần Vương hoàn trả thành ấp đã chiếm, vậy thì Tần, Sở hoà mục là chuyện trong tầm tay!”

“Xạ Cao Quân nói phải,” Trương Nghi vòng tay, đưa mắt nhìn khắp lượt các vương thân, “chuyện Thương Ư, tại hạ cũng hiểu rõ rồi. Thương Ư vốn là đất Sở, Thương Thành là do tiên Sở Vương tặng cho Tần Công để tỏ tình giao hảo, song mười lăm ấp Ư Thành, quả thực Thương Quân không nên tham chiếm. Đợi tại hạ quay về Hàm Dương, sẽ giảng giải đại nghĩa với Tần Vương, để sớm hoàn trả mười lăm ấp Ư Thành. Còn như các ấp Thương Thành, là do tiên Sở Vương ban tặng, vẫn cần phải bàn thêm.”

Lời của Trương Nghi, vừa hữu lý lại cũng khả thi, các vị vương thân ai cũng gật gù.

Kỷ Lăng Quân vòng tay: “Làm phiền Trương đại nhân!” “Nói tới đây,” Trương Nghi nhìn sang Kỷ Lăng Quân, “tại hạ còn có một chuyện, khẩn cầu vương thúc ân chuẩn!”

“Trương đại nhân cứ nói!”

“Nghi thấy công chúa Mị Nguyệt phẩm hạnh đoan trang, dung mạo kiều diễm, thông minh lanh lợi, khác hẳn người phàm. Nghi có ý mai mối cho công chúa, không biết ý vương thúc thế nào?”

“Ồ!” Thấy ý của Trương Nghi không phải cầu hôn mà là mai mối, Kỷ Lăng Quân thất vọng ra mặt, nhìn sang Trương Nghi, “dám hỏi Trương đại nhân, định mai mối cho công tử nào?”

“Không phải công tử.”

“Ồ?” Kỷ Lăng Quân ngạc nhiên, ngả người lại hỏi, “vậy là ai kia?”

Trương Nghi khẽ vòng tay hướng về phía tây bắc, cất giọng rành rọt, bật ra một cái tên khiến tất cả các vương thân có mặt đều há hốc miệng sửng sốt: “Tần Vương Doanh Tứ!”

A black and white photo of a sign Description automatically generated

LOẠN CUNG YÊN, TỬ CHI QUYẾT TUYỆTBẤT ĐẮC DĨ, THIÊN HƯƠNG XUỐNG TAY

Vào ngày thứ ba sau khi Dịch Vương trả lại phủ trạch cho Tô Tần, Tử Khoái phụng mệnh Yên Vương trở về Kế Thành, ở trong cung thái tử.

Tử Khoái vào cung tạ ơn, chờ đúng một canh giờ ngoài cổng mới có cung nhân ra báo lại, rằng Dịch Vương đang nghỉ ngơi, chưa cần yết kiến. Tử Khoái hiểu phụ vương không muốn gặp mình, rầu rĩ quay trở về cung, nào ngờ lại thấy có người đang đứng đợi.

Định thần nhìn kỹ, chính là cung uý Viên Báo của phụ vương thời còn làm thái tử ở Đông cung, vốn cũng là bạn cũ của Tử Khoái.

Viên Báo cung kính trình lên thiếp mời, là thủ bút của Tô Tần. Tử Khoái theo Viên Báo tới phủ Tô Tần, thấy tiệc rượu đã bày sẵn, Tô Tần đang cung kính đứng chờ.

Bàn tiệc rất đơn giản, chỉ vài món ăn và một hũ rượu, cũng không có ai bồi tiếp.

Có lẽ bởi nhiều năm không gặp Tô Tần, cũng có lẽ mấy năm gần đây sống khổ cực quá, Tử Khoái rượu còn chưa nhấp, hai hàng nước mắt đã tuôn lã chã.

Trong lúc Tô Tần đang an ủi Tử Khoái, thì Yên vương hậu phái hắc điêu thân tín lặng lẽ rời khỏi hậu cung, tìm đến dịch quán của sứ Tần, kể lại toàn bộ diễn biến vừa rồi với Sư Lý Tật.

Kỳ thực, tất cả những chuyện này, Sư Lý Tật sớm đã biết cả, lập tức dặn vương hậu bóng gió xa xôi với Yên Dịch Vương, rằng sứ Tần thất vọng bởi Yên Vương nói một đằng làm một nẻo, nên đã dứt áo rời khỏi Kế Thành.

Sáng sớm hôm sau, Sư Lý Tật rời dịch quán, cả đoàn trống dong cờ mở ra khỏi Kế Thành, song sau khi ra khỏi thành chừng hơn chục dặm, nhân lúc vắng người, lại rẽ vào một con đường nhỏ, ẩn náu tại một cứ điểm bí mật của hắc điêu, ém mình chờ đợi.

Nhận mệnh Dịch Vương giám sát Tử Chi có cả thảy mười người, sáu người là tâm phúc của Kỷ Cửu Nhi, tổng quản nội cung của Dịch Vương, bốn người còn lại là do ngự sử đại phu Lộc Mao Thọ đưa vào. Sau khi từ Vũ Dương trở về, có lẽ bởi ám ảnh về địa cung, nên Kỷ Cửu Nhi đêm nào cũng gặp ác mộng, không còn tâm trí đâu để lo toan việc trong cung nữa, chuyện giám sát Tử Chi thường đẩy sang cho Lộc Mao Thọ, phó mặc ông ta xử lý.

Lộc Mao Thọ lại giám sát rất cần mẫn, tối nào cũng đích thân đi tuần tra một vòng, khích lệ những cung nhân làm việc chăm chỉ, thường săm soi lỗi lầm của những người của mình, rồi trách mắng rất nghiêm, phạt canh gác suốt đêm; lại ban thưởng cho tâm phúc của Kỷ Cửu Nhi, khuyến khích chúng tới sòng bạc ở Kế Thành tiêu khiển. Mấy cung nhân này biết rõ Lộc Mao Thọ là sủng thần của Dịch Vương, nên cũng yên tâm mà vui chơi thoả thích.

Vào buổi tối hôm sứ Tần bỏ đi, Lộc Mao Thọ lại đến giám sát, sau một hồi trách mắng nên thân, thì bắt ba kẻ “làm ăn tắc trách” nhất ở lại canh đêm, còn sắp xếp cho một kẻ “mẫn cán” mang theo ngân lượng rủng rỉnh, rủ đám cung nhân còn lại đi đánh bạc.

Đợi họ đi khỏi, Lộc Mao Thọ cắt đặt chu đáo cho ba người kia xong, cũng nhân lúc tối trời, lẻn vào trong sân nhà Tử Chi.

Lộc Mao Thọ gõ cửa phòng. Tử Chi mở cửa, dẫn vào trong, cùng xuống dưới một tầng hầm. Dưới hầm, đèn thắp sáng trưng, trên bàn bày món đùi cừu nướng kiểu người Hồ do phu nhân của Tử Chi tự tay chế biến, hương thơm sực nức, bên cạnh là một hũ rượu và hai cái chén.

Hai người ngồi đối diện nhau, Tử Chi mỉm cười, dùng dao Hồ cắt lấy một miếng thịt lớn, đưa cho Lộc Mao Thọ, rót đầy rượu vào chén.

“Chúa công,” Lộc Mao Thọ đỡ lấy chén rượu, “hai hôm nay xảy ra ba chuyện. Thứ nhất, điện hạ hôm qua đã trở về, vào cung yết kiến, nhưng đại vương không gặp, tối qua được Tô Tần mời đến phủ. Thứ hai, hôm nay vương hậu khóc lóc, nói rằng người thân bên ngoại đã bỏ về rồi. Thứ ba, sau khi từ Vũ Dương trở về, Kỷ Cửu Nhi bỗng dưng khác hẳn, cứ như mất hồn.”

“Thị Bị thế nào rồi?” Tử Chi hỏi.

“Đã được Yên Vương tin tưởng, hiện là Tây môn uý, cai quản cổng Tây vương cung.”

“Tốt lắm.” Tử Chi khẽ gật gầu, nâng chén, “bốn cổng cung thành, có được một cổng đã đủ lắm rồi.”

“Quan trọng là điện hạ,” Lộc Mao Thọ sắc mặt lo âu, “dường như thực sự không muốn làm thái tử.”

“Kệ thái tử thôi!” Tử Chi nói rồi, cảm thấy không thoả, lại tiếp, “theo như lời thái hậu, điện hạ là do tiên quân lựa chọn, vốn định truyền ngôi thẳng cho điện hạ, nào ngờ...”

“Phải,” Lộc Mao Thọ tiếp lời, “đợi điện hạ kế vị, chúa công cai quản bên trong, Tô Tần lo liệu bên ngoài, nước Yên hẳn sẽ đến ngày khởi sắc!”

Tử Chi khẽ cười một tiếng: “Phải rồi, Tô Đại về chưa?”

“Vẫn chưa.”

“Ông thấy Tô Đại là người thế nào?” Tử Chi nhìn thẳng vào Lộc Mao Thọ.

“Qua lại không nhiều, thấy rất giống anh trai hắn, khá thâm thuý.”

“Khi nào người này về, hãy báo với ta một tiếng, ta và hắn cùng góp vốn làm ăn, phải hỏi xem lời lỗ thế nào.”

“Vâng, thưa chúa công, Mao Thọ đã biết.”

Thấy nước Yên cơ bản đã an định, Tô Tần nhớ tới nước Triệu, bèn treo tấm biển “Phủ tung ước sáu nước tại Yên quốc” trên cổng phủ trạch, giao cho thái tử Khoái cai quản, để lại Viên Báo trợ giúp, sau đó cùng Trâu Phi Đao đánh xe tới Hàm Đan.

Hay tin Tô Tần đã rời khỏi Kế Thành, Sư Lý Tật lại bí mật quay về, trình bái thiếp lên Dịch Vương.

Thấy sứ Tần vẫn ở Kế Thành, Dịch Vương lấy làm sửng sốt, truyền chỉ vào thiên điện yết kiến.

“Nghe nói vương thúc muốn quay về Tần, quả nhân lấy làm lưu luyến, muốn bày tiệc tiễn vương thúc, sai người đi mời, nào ngờ lại chậm chân, để vương thúc đi mất. Suốt mấy ngày qua, quả nhân sớm tối nghĩ đến, lại thấy buồn bực trong lòng. Ngờ đâu vương thúc lại quay về, quả nhân mừng lắm.” Dịch Vương nở một nụ cười gượng gạo.

“Than ôi,” Sư Lý Tật thở dài, “nghe nói đại vương chỉ trong một đêm đã thay đổi chỉ lệnh, không phế cũ lập mới nữa, thần Tật có cố nán lại Kế Thành, cũng chỉ là tự chuốc nhục mà thôi. Thần Tật vốn muốn tới từ biệt đại vương, nhưng suy đi nghĩ lại, có gặp đại vương, cũng không biết ăn nói thế nào, lại thêm đại vương đã nghe Tô Tử, thần và Tô Tử là chỗ giao tình cũ, nay oan gia ngõ hẹp, ngộ nhỡ lại gặp Tô Tử giữa triều đường, cũng thật khó xử.”

“Vương thúc giờ lại quay về, hẳn là...” Dịch Vương ánh mắt dò hỏi.

“Sở dĩ thần Tật quay về, là có chuyện muốn hỏi lại đại vương cho chắc chắn, bằng không thần về Hàm Dương, khó mà phục mệnh với vương huynh!” Sư Lý Tật mắt sắc như kiếm, chiếu thẳng vào Dịch Vương.

“Vương thúc muốn hỏi chuyện gì, xin cứ nói!”

“Thần Tật không hỏi chuyện khác, chỉ muốn tận tai nghe đại vương nói về chuyện phế lập thái tử, để trở về Hàm Dương, dễ bề tấu báo với vương huynh. Bằng không, lỡ thần Tật hồi tấu vương huynh, rằng Yên Vương đã hạ chỉ phế thái tử, lập Tử Chức, rồi sau lại lật lọng, vạn nhất khiến vương huynh nổi cơn thịnh nộ, dẫn tới hai nước giao tranh, rồi mới nói tại thần Tật hiểu lầm ý của đại vương, thì thần Tật há chẳng phải tội lớn rồi ư?” Sư Lý Tật hai mắt như đuốc, nhìn xoáy vào Dịch Vương.

Dịch Vương không thốt được lời nào, nhìn sang Kỷ Cửu Nhi.

Kỷ Cửu Nhi cũng đang bàng hoàng chấn động, đứng ngây tại chỗ.

“Yên Vương,” Sư Lý Tật đổi cách xưng hô, “sứ Tần Doanh Tật chỉ muốn nghe một lời dứt khoát, do chính miệng Yên Vương nói ra mà thôi!”

“Quả... quả nhân...” Dịch Vương ấp úng hồi lâu, lại nhìn sang Kỷ Cửu Nhi.

Kỷ Cửu Nhi nảy ra một ý, bèn chạy sang bên cạnh, cầm lấy bức tranh vẽ cảnh lính Tần cướp thóc gạo ở Hàn ra, trình lên Dịch Vương, khẽ giọng: “Đại vương, cái này?”

Dịch Vương mừng rỡ, nhận lấy bức tranh, nhìn sang Sư Lý Tật: “Than ôi, không giấu vương thúc, quả nhân vốn đã nghe lời vương thúc, đổi lập Tử Chức. Nào ngờ Tô Tần trở về, cho quả nhân xem cái này.” Đưa lại cho Kỷ Cửu Nhi, “hãy trình vương thúc xem!”

Kỷ Cửu Nhi đưa bức tranh cho Sư Lý Tật.

Sư Lý Tật giở ra, xem kỹ hồi lâu, chợt phá lên cười lớn.

“Vương thúc cười gì?” Dịch Vương ngạc nhiên hỏi.

“Cười tranh này!” Sư Lý Tật giũ tấm da dê trong tay, lại cười ha hả.

“Tranh này có gì đáng cười?” Dịch Vương ngả người lại hỏi.

“Thần Tật dám hỏi đại vương, tranh này vẽ gì?”

“Nghe Tô Tử nói, là người Hàn vẽ cảnh lính Tần cướp bóc lương thực. Vương thúc hãy nhìn cờ hiệu, đều đề là ‘Tần’, Tư Mã’ cả đấy!”

“Ồ?” Sư Lý Tật lại ngắm nghía kỹ một lượt, rồi ngẩng lên nói, “dám hỏi đại vương, là lính Tần nào cướp bóc lương thảo ở đâu?”

Dịch Vương nhìn sững vào Sư Lý Tật: “Chính là lần trước Tư Mã Thác dẫn quân đại chiến với Tề ở Tang Khâu, người Tần bại trận, vứt lại quân nhu cho người Tề mà chạy, không còn gì ăn, lui về tới đất Hàn, đói không chịu nổi, mới cướp lương của dân Hàn, bị người Hàn vẽ lại đấy thôi!”

Sư Lý Tật phá lên cười lớn một tràng.

“Vương thúc lại cười gì thế?”

“Lần này là cười đại vương!”

“Ồ?” Dịch Vương ngồi thẳng người dậy, thu thân hỏi, “quả nhân có gì đáng cười?”

“Thần Tật vốn nghĩ đại vương là người thông minh, hôm nay mới biết, đại vương có thông mà lại không có minh!”

“Thế nào là có thông mà không có minh?” Dịch Vương sầm mặt xuống.

“Thông là tai nghe thấy rõ, minh là tâm biện biệt rõ.”

“Dám hỏi vương thúc, quả nhân có chỗ nào chưa biện biệt rõ?”

“Xin đại vương hãy nhìn kỹ,” Sư Lý Tật trả lại bức tranh cho Kỷ Cửu Nhi, “tranh này được vẽ trên da dê tốt, cắt xén phẳng phiu, gia công tinh xảo, không có mùi lạ. Thử hỏi đại vương, thường dân biên giới nước Hàn có được thứ da dê thượng phẩm thế này không?”

“Ồ...” Dịch Vương lúc này mới nhìn kỹ tấm da dê.

“Lại nhìn tranh vẽ,” Sư Lý Tật tiếp lời, “đường nét trơn tru, bố cục khéo léo, kỹ xảo tinh vi, dám hỏi đại vương, tài vẽ nhường này, thường dân biên giới nước Hàn có làm được không?”

Dịch Vương lại nhìn kỹ hình vẽ.

“Than ôi,” Sư Lý Tật khẽ thở dài, “đại vương, tai thông là chuyện tốt, nhưng tâm cũng phải minh mới được, nếu không, bề tôi đông thì miệng tạp, đại vương nghe gì tin nấy, nếu không chịu dùng tâm suy ngẫm, không biết sẽ phải chết oan bao nhiêu thần dân đây!”

Dịch Vương sắc mặt sượng sùng.

“Đại vương thử nghĩ mà xem,” Sư Lý Tật chỉ vào bức tranh, “nếu lính Tần phải đi cướp lương, tức là đã đói tới cùng cực, thấy thóc gạo khác nào hổ đói thấy mồi, chuyện quá gấp gáp, cướp rồi chạy ngay, làm gì có chuyện còn đứng đó cho người ta vẽ? Còn nữa, thường dân biên giới, thì có mấy người biết vẽ? Người tinh mắt vừa nhìn đã biết đây là họa sư triều đình vẽ ra. Da dê thượng đẳng thế này, cũng chỉ họa sư cung đình mới có. Theo thần Tật biết, một tấm da dê thế này, bán ngoài cửa hiệu tại Trịnh Thành, cũng phải hai chục đồng tiền đao, đủ mua ba đấu thóc. Làm gì có thường dân biên giới nào lại phung phí những hai chục đồng tiền đao để mua tấm da dê, lại tìm họa sư đến tận nơi để vẽ lại cảnh lính Tần cướp lương kia chứ?”

Dịch Vương hít vào một hơi dài, chau tít đôi mày.

“Trong cung của đại vương cũng có họa sư, nếu đại vương không tin, có thể gọi họ tới xem, là biết ngay do thường dân vẽ, hay là do họa sư Tô Tần mời tới vẽ?”

Dịch Vương hiểu rõ những gì Sư Lý Tật vừa nói đều là thường thức, không cần phải gọi họa sư xác nhận. Dịch Vương chỉ đang bực bội, sao lúc Tô Tần mang tranh đến, mình lại không nghĩ được như vậy? Dịch Vương lại càng chau mày nhăn nhó.

“Đại vương,” Sư Lý Tật được đà lấn tới, “Tô Tần vốn là người không đáng tin, lời nói của người không đáng tin, sao có thể nghe được? Người khác không biết, nhưng năm xưa khi Tô Tần sang Tần, thần Tật đã qua lại với hắn thường xuyên. Vương huynh kế vị, Thương Quân mưu phản, bị vương huynh xử năm xe phanh thây. Thương Quân chết rồi, nước không có đại tài, vương huynh mới yết bảng mời anh tài thiên hạ, Tô Tần ngựa khoẻ xe sang, thẳng tới Hàm Dương, thao thao bàn luận về đạo đế ngay giữa thành Hàm Dương, rặt những lời phản nghịch, nào là thiên hạ phải nhất thống ở Tần, bảo vương huynh hãy làm đế của thiên hạ, thôn tính bang quốc lớn nhỏ, gồm cả nước Yên của đại vương. Sự việc rầm rĩ nhường này, thiên hạ không ai không biết, bởi hắn khai đàn luận đạo, sĩ tử tới nghe không dưới vài trăm.

Vương huynh là quân chủ có nghĩa, đầu tiên còn không chịu xưng vương, vẫn giữ phận thần tử nhà Chu, hay tin sĩ tử tới từ nước Chu lại dám bàn chuyện phản nghịch công khai trước đại chúng, thì nổi cơn thịnh nộ, muốn giết bằng được. Nhưng đại vương cũng biết đấy, Tần Vương vốn mến tài, mà Tô Tần kia tự xưng là đệ tử Quỷ Cốc, danh tiếng ngang hàng Bàng Quyên, Tôn Tẫn, Trương Nghi. Hơn nữa, Tô Tần là vì vương huynh yết bảng mời hiền tài nên mới đánh xe sang Tần, vương huynh sao có thể giết một người mà làm nguội lòng sĩ tử thiên hạ? Cuối cùng, vương huynh vẫn thả cho hắn đi. Kết quả thì sao? Người này sau khi rời Tần, đã không cảm kích ơn không giết, mà lại oán hận nước Tần, kích động lòng dân thiên hạ, miệt thị Tần là nước sài lang, rầm rộ hợp tung sáu nước. Kết quả thì sao? Sáu nước hợp sức phạt Tần, song đại bại trước ải Hàm Cốc. Rồi sau đó nữa? Tam Tấn kết minh, Tề Yên giao chiến, duy có nước Tần tránh xa phân tranh Trung Nguyên, nhắm tới Ba Thục hoang vu cằn cỗi. Còn chuyện Tư Mã Thác dẫn quân viễn chinh nước Tề, thần Tật sớm đã giải thích với đại vương, chỉ là vương huynh bí mật giao hẹn với Tề Vương, cùng diễn một vở kịch cho thiên hạ xem. Ấy vậy mà đại vương vẫn cứ dứt khoát không tin. Hiện nay, vua sáu nước còn ai chịu tin kẻ bất tín Tô Tần? Ấy vậy mà đại vương vẫn cứ khăng khăng tin hắn! Đại vương thân là rể hiền của Tần Vương, lại không nghe lời vương thúc nhà ngoại, mà đi tin một kẻ ngông cuồng bất tín từng ức hiếp cha vợ mình, há chẳng đáng cười lắm sao?”

Sư Lý Tật thao thao một tràng như thác đổ, lời lời như dao cứa vào tim gan, khiến Dịch Vương nghe mà kinh hãi, mồ hôi đẫm trán, ngực tức mắt hoa.

“Tuy là vậy,” không biết bao lâu sau, Dịch Vương mới định thần lại được, vòng tay hướng vào Sư Lý Tật, “quả nhân vẫn còn một khúc mắc, xin vương thúc giải đáp giúp cho.”

“Đại vương chớ khách sáo,” Sư Lý Tật đáp lễ, “Tật nếu biết sẽ không dám giấu.”

“Nước Tề.”

“Nước Tề làm sao?”

“Về lý mà nói, Tô Tần hợp tung, đối với Tề có trăm lợi mà không có một hại, cớ sao Tề Vương vẫn muốn hợp mưu với người Tần?”

“Thần Tật dám hỏi đại vương, Tô Tần hợp tung có lợi gì với Tề?”

“Ờ...” Dịch Vương im bặt.

“Than ôi,” Sư Lý Tật thở dài, “đại vương, giả sử người là Tề Vương, hãy thử nói xem, hợp tung có lợi gì với Tề?”

Dịch Vương im thin thít.

“Tương lai không nói,” Sư Lý Tật bắt đầu hoa tay múa chân, “hãy nhìn những chuyện xảy ra ngay trước mắt đại vương trong mấy năm gần đây, thần sẽ giúp đại vương phân tích về ‘cái lợi’ của hợp tung đối với Tề!”

“Quả nhân muốn nghe.” Dịch Vương ngả người về phía trước.

“Khi sáu nước mới tung thân, Ngụy Vương đã muốn phạt Tần, đoạt lại Hà Tây vốn dĩ là đất của Tần nhưng sau bị Ngô Khởi cướp mất. Tề đã tham gia tung thân, không thể không xuất binh. Nhưng Tề Vương vốn không muốn phạt Tần, vì Tần và Tề vốn chẳng dính dáng tới nhau, đối thủ thực sự của Tề là Ngụy, nên Tần, Ngụy giao tranh chỉ có lợi cho Tề. Thế mà, Tô Tần lại lấy danh nghĩa hợp tung để bắt nước Tề trợ giúp kẻ địch của mình đi đánh nước Tần vốn không có dây mơ rễ má gì với mình, chẳng phải là vô ích sao? Quả nhiên, Tề Vương kiếm cớ đại vương phế truất thái tử, đã rút quân về để đánh Hà Gián. Kỳ thực, đánh Hà Gián là giả, không chịu đánh Tần mới là thực.” Sư Lý Tật dõng dạc giải thích, “đại vương, Tề Vương mới là người tình tường. Tiếp đó, tung thân phân rã, Ngụy Vương phái Bàng Quyên phạt Triệu, Tô Tần cầu cứu Tề, Tề và Ngụy mới là địch thủ thực sự, thế là Tề Vương quay ngoắt sang đánh Ngụy, thực là tàn độc! Sau nữa, người Ngụy phạt Hàn, Tô Tần lại cầu cứu Tề, người Tề lại đánh Ngụy lần nữa, giết chết Bàng Quyên. Kết quả thế nào? Người Tề hai lần xuất binh vì tung thân, đã có được ích lợi gì? Chỉ có một ích lợi duy nhất, chính là tử chiến vài vạn, lương thảo bị thiêu rụi, nước Tề từ giàu có biến thành nghèo đói, ích lợi để ai hưởng đây? Người Sở! Nhân lúc Tề, Ngụy đại chiến, người Sở gần như gươm không dính máu đã có được Tương Lăng! Đại vương, nếu người là Tề Vương, người sẽ nghĩ gì? Người vẫn tin Tô Tần ư?”

Dịch Vương càng nghe càng thấy hữu lý, lại hít sâu một hơi.

“Còn nữa,” Sư Lý Tật tiếp tục, “thứ Tô Tần hợp, là tung. Thế nào gọi là tung? Tung là dọc, theo chiều nam bắc là tung. Liệt quốc thiên hạ, nước vạn cỗ xe chỉ có bảy. Trong bảy nước này, nước nào là tung? Từ nam tới bắc, lần lượt là năm nước Sở, Hàn, Ngụy, Triệu, Yên. Theo chiều đông tây là hoành. Nước nào là hoành? Là ba nước Tề, Ngụy, Tần. Trong ba nước này, chỉ có Tề và Ngụy vì trận chiến Hoàng Trì mà thành thù địch, không ai nhường ai, dẫn tới đại chiến triền miên. Để hoá giải mối thù này, vương huynh đã phái Trương Nghi sang Ngụy, giữ chức tướng quốc, giao hảo với Tề, chỉ phạt Triệu, Hàn. Nào ngờ Tô Tần lại lăng xăng qua lại, hai lần sang Tề cầu cứu. Tề Vương nhớ lại mối thù Hoàng Trì, hai lần ứng cứu, giết chết thái tử Ngụy và Bàng Quyên. Ngụy Vương giận dữ khó kham, nhất quyết phục thù, hiềm vì lực bất tòng tâm, do các nước tung thân đều thù địch với Ngụy Vương, không ai chịu giúp. Ngụy Vương chẳng còn cách nào khác, đành phải cầu cứu người Tần xuất binh. Trương Nghi từng là tướng quốc Tần, cũng bất đắc dĩ xin vương huynh điều binh. Trương Nghi là em rể của vương huynh, vương huynh nể mặt em gái, đồng ý xuất binh, song chỉ là để cho Ngụy Vương xem, bởi giữa vương huynh và Tề Vương đâu có thù oán gì? Vì thế, trước khi xuất binh, vương huynh đã bí mật gửi thư tới Tề Vương, giao ước diễn một màn kịch, cho Ngụy Vương xem, cũng để cho thiên hạ xem.”

“Vậy còn chuyện... tử thương hai vạn người? Và vứt bỏ quân nhu tháo chạy?”

“ở đâu ra tử thương hai vạn người vậy?” Sư Lý Tật phì cười, “đại vương cớ sao không phái người tới tận nơi xem xét, mà chỉ một mực nghe theo lời Tô Tần? Đại vương thử nghĩ mà xem, nếu vương huynh thực sự muốn phạt Tề, vài nghìn dặm chinh chiến, sao lại chỉ điều có năm vạn binh? Lại không chở theo lương thảo? Đại vương thử nghĩ mà xem, năm vạn quân viễn chinh, hoàn toàn không có dân binh vận lương theo cùng! Toàn bộ lương thảo tiếp ứng, một nửa là người Ngụy cho, một nửa là mua tại chỗ. Đã muốn diễn kịch, thì phải bỏ tiền, quốc khố Đại Tần, thứ khác có thiếu, song vàng không thiếu, bởi đất Thục có một con sông tên gọi Kim Sa, cát dưới sông là vàng cả. Người Tần chỉ cần múc cát vàng đó lên, cho vào lò luyện, tự khắc có vàng ròng. Người Tần sẵn vàng, các nước Tứ Hạ sẵn thóc gạo. Quân Tần giả bại, rút lui về nước, những thóc gạo đó, còn cần làm gì? Vừa hay thuận nước đẩy thuyền, tặng lại cho Tề Vương, do kho lương Tề đã bị Bàng Quyên thiêu rụi, vừa hay đang thiếu lương!”

“Nhưng... tại sao người Tần nhất định phải chiến bại?”

“Bởi nếu người Tần không bại, nước Ngụy sẽ không chịu theo!” Sư Lý Tật thở dài, “than ôi, đại vương, người thử nghĩ xem, nếu người là Tần Vương, Ngụy Vương cầu người xuất binh, người muốn chiến thắng, hay là muốn chiến bại?”

“Đương nhiên là muốn chiến thắng!”

“Vậy thì sau khi chiến thắng, người sẽ được lợi lộc gì?” “Ồ...” Dịch Vương vò đầu bứt tai.

“Đất đai ư? Quá xa xôi, Tề Vương dù có chịu cho, nước Tần cũng đâu thể cai quản? Thóc gạo ư? Người Tần có thừa. Vàng ư? Người Tần có thừa. Dân chúng ư? Người Tề vừa lười vừa tham, lại ưa phô trương! Muối ư? Người Tần có thừa muối đất Ba. Cá tôm ư? Chưa chở kịp tới Tần đã thiu thối cả rồi. Buộc người Tề nhận thua ư? Thắng thua chỉ là hư danh, vương huynh nhà thần xưa nay luôn là người vụ thực.” Sư Lý Tật phủ định một hồi, rồi tiếp, “còn ngược lại, nếu quân Tần không thắng, Ngụy Vương lại có thể nở mày nở mặt!”

“Ồ...” Dịch Vương không hiểu, “quân cứu viện do mình mời tới bị thất bại, Ngụy Vương sao lại nở mày nở mặt?”

“Đại vương, người hãy nghĩ mà xem, võ binh Đại Ngụy hai lần thảm bại trước Tề, đến cả Bàng Quyên là mãnh tướng vô địch cũng tử chiến trong tay người Tề, vậy thì vương huynh của thần liệu có thể để người Tần đánh thắng hay chăng? Nếu người Tần đánh thắng, khác nào muốn nói võ binh Đại Ngụy vô dụng? Ngược lại, nếu Tư Mã tướng quân chiến bại, Ngụy Vương sẽ nghĩ, chao ôi, người Tề quả là ghê gớm thực, thảo nào mà Bàng tướng quân cũng phải thảm bại... Thế là sẽ tâm phục khẩu phục!”

Sư Lý Tật còn viện dẫn cả chuyện này, lập luận chắc nịch cứ y như thực.

“Than ôi,” Yên Dịch Vương nghe đã lọt tai, hối hận không kịp, ủ rũ thở dài, “nói như vậy, Tô Tần quả thực không đáng tin... Nếu không nhờ vương thúc, quả nhân lại bị hắn lừa gạt nữa rồi!”

“Đại vương,” Sư Lý Tật lại giở chiêu bài tình thân, “bất kể thế nào, người cũng là rể hiền của vương huynh, thần Tật đây cũng coi là vương thúc, đều là tình thân thực thụ không có mảy may giả dối. Vương thúc có hồ đồ lỗ mãng đến đâu chăng nữa, cũng không thể gây tổn hại tới nước Yên của rể hiền. Nước Yên phải yên lành, giàu mạnh, thì công chúa Tần mới được bình an. Công chúa bình an, cha của công chúa mới vui được, vương thúc của công chúa mới vui được. Đại vương thử nghĩ mà xem, Tề Vương kia chỉ vì một đứa cháu ngoại mà sẵn sàng làm lớn chuyện, hưng binh rầm rộ phạt Yên, cướp lấy mười thành mới chịu. Vậy thì giả sử Tử Chức và ái nữ của vương huynh, cũng chính là vương hậu của đại vương, quả thực có gì bất trắc, vương huynh sẽ phản ứng ra sao? Vương huynh mà nổi cơn thịnh nộ, dù vương thúc đây cũng không dám lường, bởi vương huynh là người quyết liệt đến bất chấp tất cả. Trong mấy năm qua, đại vương đã thấy cả rồi. Sáu nước hợp sức, vẫn không khiến quân Tần lay chuyển; Ba Thục cơ nghiệp vài trăm năm, lại thêm đường Thục hiểm trở, nhưng quân Tần chỉ mất có mười tháng, đã trước diệt Thục, sau diệt Ba, bờ cõi mở mang vài nghìn dặm, nhân khẩu tăng thêm gần trăm vạn. Thóc gạo của Thục, muối của Ba, giờ đã là vật trong túi vương huynh rồi!”

Sư Lý Tật dẫn chứng hùng hồn, cao đàm khoát luận, lúc cương lúc nhu, Dịch Vương nghe mà phục sát đất, không còn biện bạch nửa lời, liền vòng tay đáp: “Cơ Tô ngu si, tạ ơn vương thúc chỉ điểm bến mê. Cơ Tô nên làm thế nào, vẫn mong vương thúc chỉ giáo!”

“Đại vương chỉ cần làm một việc, phế thái tử Khoái, lập Tử Chức!”

“Cơ Tô kính cẩn theo lời vương thúc!” Dịch Vương quay sang Kỷ Cửu Nhi, “truyền Lộc Mao Thọ!”

Đêm xuống.

Sau khi nghe Lộc Mao Thọ bẩm báo đầu đuôi biến cố kinh động này, Tử Chi bàng hoàng chết lặng.

Tử Chi hai tay bưng mặt, hai ngón cái ấn vào sau tai, day thật mạnh. Không biết đã day như thế bao lâu, Tử Chi chợt ngẩng phắt lên, gọi rất khẽ: “Mao Thọ!”

“Chúa công?” Lộc Mao Thọ cũng thì thào đáp.

“Làm đi.”

“Muốn Mao Thọ làm gì?”

Tử Chi đứng dậy, bước vào trong góc khuất, lát sau trở ra, đưa cho Lộc Mao Thọ một bình đồng nhỏ. Lộc Mao Thọ nhận lấy, nâng lên ngắm nghía.

“Chớ mở nút!” Tử Chi dặn dò.

Lộc Mao Thọ “vâng” một tiếng, rồi nhìn vào nút bình. Là một nút bấc, đóng rất chặt.

“Đoán thử xem trong bình đựng gì?” Tử Chi hỏi.

Lộc Mao Thọ nhấc thử mấy cái, đoạn lắc đầu.

“Ông hẳn có biết, tiên quân băng hà ra sao?” Tử Chi hỏi.

Lộc Mao Thọ ngập ngừng: “Mao Thọ không biết, chỉ biết rằng, sau khi tiên quân từ đại hội tung thân Mạnh Tân trở về, thì đột nhiên...”

“Chính bởi thứ trong bình.” Tử Chi lạnh lùng đưa ra lời giải đáp.

Lộc Mao Thọ hít ngược một hơi khí lạnh.

“Trong bình này đựng một loại khí độc, do thầy mo ở Đông Hồ bào chế ra, không có tên, cũng không biết bào chế từ vật gì, không màu, không mùi, không dấu vết, hễ ai hít phải, lập tức ra ma.”

Lộc Mao Thọ thất kinh: “Ý chúa công là, tiên quân đã...” Ánh mắt sững sờ nhìn vào bình đồng.

“Chính phải.” Tử Chi thở dài, “tiên quân anh hùng một thuở, mà cuối đời lại bi thảm đến vậy!”

“Là ai?” Lời vừa buột ra khỏi miệng, Lộc Mao Thọ đã vội chau mày, “chao ôi, Mao Thọ toàn hỏi những lời thừa thãi!”

“Ông hẳn có biết, tiên quân tại sao lại ngửi phải khí này?” Tử Chi hỏi.

“Mao Thọ không biết.”

“Bởi tiên quân muốn phế thái tử, để truyền ngôi cho Tử Khoái!”

“Mao Thọ đã hiểu.” Lộc Mao Thọ gật đầu, “chúa công cũng muốn kẻ giết cha phải chịu quả báo tương tự!”

“Chính phải.” Tử Chi bình thản đáp.

“Mao Thọ vẫn còn một chuyện chưa rõ.” Lộc Mao Thọ nhìn thẳng vào Tử Chi, “sự việc tuyệt mật nhường này, sao lại truyền ra ngoài được?”

“Là Tử Khoái kể cho ta.”

“Ồ?”

“Sau khi Cơ Tô giết cha xưng vương, lần chần mãi không chịu phong hậu cho phu nhân là Điền Phi, mà lại cưới gái Tần, muốn lập gái Tần làm hậu. Điền Phi sớm đã có hiềm khích với Cơ Tô, nên theo dõi Cơ Tô rất sát sao, khí độc mà Cơ Tô dùng để sát hại tiên quân, Điền Phi cũng có một bình. Điền Phi muốn hạ độc Cơ Tô, lập Tử Khoái làm vua, nhưng khi mưu sự cùng Tử Khoái, Tử Khoái không những nhất quyết không nghe, mà còn ném bình thuốc độc duy nhất của mẫu thân xuống sông. Kết cục sau đó thế nào, ông cũng biết rồi đấy. Khi Tần Vương lập gái Tần làm vương hậu, người Tề uy hiếp, Điền Phi đã bị ban chết.”

“Than ôi,” Lộc Mao Thọ thở dài, “điện hạ cái gì cũng tốt, duy chỉ trái tim quá yếu mềm. Nếu không phải vậy, nước Yên đã không gặp quá nhiều kiếp nạn.”

“Phải.” Tử Chi cũng thở hắt ra, “chuyện khó trước mắt, đó là nước Yên không thể giao vào tay Tử Khoái, song lại càng không thể không giao vào tay Tử Khoái.”

“Làm thế nào đây, chúa công?”

“Còn làm thế nào được nữa?” Tử Chi buông thõng hai tay, “đuổi vua ác, lập Tử Khoái!” Chỉ vào bình đồng, “ông hãy cất bình này vào trong tay áo, tìm cách dụ ác vương tới chỗ không người, lén mở nắp, ném bình này xuống dưới chân ác vương. Khí độc bốc ra, ác vương hít phải, chỉ có nước chết, hơn nữa hoàn toàn không có dấu vết, cơ thể trông vẫn bình thường.”

“Nhưng...” Lộc Mao Thọ nhìn trân trân vào bình đồng trên tay.

“Khi mở nút bình,” Tử Chi lẩn trong ống tay áo lấy ra một vật, “hãy bịt thứ này vào mũi rồi lập tức tránh ra xa. Đợi xong xuôi rồi, hãy quay vào nhặt bình, kín đáo bỏ đi. Mọi việc tiếp theo, cứ để ta sắp xếp!”

“Mao Thọ tuân lệnh!” Lộc Mao Thọ nhận lấy vật này, thấy là một nhúm sợi nhung, bèn nhìn thật kỹ, như sợ có gì sơ suất.

“Thứ này để giải độc, cũng là do thầy mo bào chế khí độc làm ra!”

Lộc Mao Thọ lúc này mới an tâm, cẩn thận cất vật này cùng bình đồng đi: “Chúa công, lúc nào thì hành động?”

“Không chậm trễ được nữa, ngay đêm nay, chính là lúc này!” Tử Chi siết chặt nắm tay, “ông hãy lập tức vào cung, nói có việc gấp cần mật tấu ác vương. Tới lúc yết kiến, hãy nói rằng ta bỏ trốn rồi. Ác vương chắc chắn sẽ thất kinh, nổi cơn thịnh nộ, nhân lúc ác vương nổi giận, hãy ném thứ này ra.” Rồi đứng dậy, “đi thôi, hôm nay, bản công muốn rời khỏi căn nhà này rồi!”

Hai người rảo bước ra ngoài, nhờ vào bóng tối che giấu, đi thẳng tới cung thành, gặp Thị Bị tại cổng Tây. Ba người bàn bạc kế hoạch kỹ lưỡng. Rồi Lộc Mao Thọ vào cung, Thị Bị cắt cử vài võ sĩ tâm phúc, thay trang phục đi đêm, bám theo Lộc Mao Thọ từ xa.

Với Dịch Vương, chuyện phế lập đã định, cũng không thể chậm trễ.

Dịch Vương cho mời lão thái sư cùng hai vương thân tới, sai Kỷ Cửu Nhi tuyên chiếu mệnh phế lập thái tử, nêu rõ nguyên do, đồng thời bàn các chuyện liên quan đến nghi lễ lập thái tử mới.

Đúng lúc đó, cung nhân đương trực rón rén bước vào, hạ giọng bẩm tấu: “Đại vương, Lộc ngự sử nói có việc gấp cần bẩm báo!”

“Việc gấp?” Dịch Vương sửng sốt, nhìn sang Kỷ Cửu Nhi, “hỏi thử, là việc gấp gì?”

Kỷ Cửu Nhi đi ra, chốc sau hối hả quay vào bẩm báo: “Nguy rồi, là chuyện lớn!”

“Chuyện lớn gì?” Dịch Vương giật nảy.

“Rất nghiêm trọng!”

“Mau, truyền vào!” Dịch Vương cuống lên.

“Đại vương...” Lộc Mao Thọ vừa tới cửa đã quỳ sụp xuống.

“Làm sao?” Dịch Vương hỏi dồn.

“Tử Chi tướng quân...” Lộc Mao Thọ ngập ngừng.

“Tử Chi làm sao?” Tử Chi là người khiến Dịch Vương kiêng dè nhất, nhất là vào thời khắc trọng đại này.

“Trốn rồi!”

Thái sư và hai vị vương thân đưa mắt nhìn nhau.

Dịch Vương hít ngược vào một hơi, nhìn sang Kỷ Cửu Nhi: “Hắn trốn đi đâu?”

Kỷ Cửu Nhi cũng bàng hoàng kinh hãi.

Chiếu thư đã soạn, ngày mai sẽ ban bố trên triều, Tử Chi lại bỏ trốn vào đúng lúc này, quả là chuyện động trời!

“Thần cũng không biết,” Lộc Mao Thọ sắc mặt hoảng hốt, “không giấu đại vương, trong triều ngoài nội nước Yên, thần lo lắng nhất chính là Tử Chi tướng quân, tối nào cũng phải đích thân đi tuần tra. Vừa lúc nãy, khi đi tuần quanh đó, gọi mãi không thấy người đâu, mới vào tìm kiếm một vòng, thì thấy ba cái xác nằm cạnh bức tường liền kề phố lớn, đều là... cung nhân canh gác. Thần kinh hãi rụng rời, rút kiếm xông vào trong nhà, thấy cổng cửa mở toang, trong phòng không một bóng người, cũng không thấy ánh đèn. Thần gọi một chốc, không thấy ai cả, đang định quay ra, chẳng may vấp phải một vật ngã nhào!”

“Vật gì?”

“Thần cũng không biết,” Lộc Mao Thọ rút lấy bình đồng từ trong ống tay áo, “chính là vật này!” Rồi nhanh tay mở nắp, ném xuống dưới chân Dịch Vương, tay còn lại cầm túm sợi nhung nút vào trong mũi, quay người đi luôn.

Sự việc quá ư thần tốc, Dịch Vương đang lúc bàng hoàng, chưa kịp phản ứng, cũng chưa kịp kêu lên, đã thấy tức ngực khó thở, vội đưa tay bịt mũi, nhưng đã muộn rồi.

Kỷ Cửu Nhi thoạt tiên cũng ngây ra, sau đó mới định thần, vội giơ chân đá vào bình đồng, nhưng mũi chân còn chưa chạm tới, người đã đổ nhào.

Khí độc mau chóng lan ra khắp phòng, lão thái sư, hai vương thân cùng đám cung nhân có mặt, tất cả đều trúng độc, theo nhau đổ vật xuống đất.

Qua chừng ba hơi thở, trong cung đã lặng phắc như tờ.

Lộc Mao Thọ vẫn giữ nắm sợi nhung bịt mũi, quay trở vào trong, thấy tất cả đều đã nằm ngổn ngang bất động, mới tiến lại bên Dịch Vương, nhặt lấy bình đồng, nhìn thấy chiếu thư phế lập do Kỷ Cửu Nhi soạn đang bày trên án của Dịch Vương, tiện tay thu luôn lấy, nhét vào ống tay áo, lẳng lặng đi ra, đóng cửa điện như cũ, lẩn vào bóng đêm.

Đêm đó, Tử Chức được lập làm thái tử, vương hậu sung sướng vô ngần, từ sớm đã tắm gội thơm tho, sắp xếp bày biện lại hậu cung một lượt, rảy nước thơm khắp nơi, chờ Dịch Vương tới.

Cứ thế chờ tới tận canh hai, vẫn không thấy Dịch Vương đâu. Vương hậu biết Dịch Vương đang triệu tập thái sư cùng vương thân bàn chuyện phế lập, nên cũng không lấy làm lo lắng. Lại chờ thêm một canh giờ nữa, canh ba đã điểm. Vương hậu buồn ngủ rũ mắt, sợ Dịch Vương tới đúng lúc mình ngủ say thì thất lễ, bèn sai cung chính tới tiền điện thăm dò.

Cung chính đi tới tiền điện, thấy cổng đóng im ỉm, nhưng bên ngoài lại không thấy ai canh gác. Cung chính lấy làm lạ, bèn bước lại gần, khẽ khàng đẩy mở cánh cổng hở ra một khe hẹp, hé mắt nhìn vào, thấy cửa chính điện khép hờ, có ánh sáng hắt ra, song trong sân lại không một bóng người.

Rõ ràng, Dịch Vương vẫn ở trong. Cung chính đoán rằng họ vẫn đang nghị sự, bèn đứng chờ ngoài cổng.

Cung chính đợi rất đâu, mà không hề nghe thấy một động tĩnh gì. Cung chính hết sức băn khoăn. Bình thường, nếu Dịch Vương ở trong, ngoài cổng điện kiểu gì cũng có hai lính đứng canh, trong thiên điện cũng sẽ có vài cung nhân hầu hạ trà nước. Tuy nhiên lúc này, ngoài cổng không có lính canh, trong thiên điện cũng không thấy thắp đèn, không có bóng người, thậm chí đến một cung nhân truyền chỉ cũng không thấy. Bên trong im lìm tuyệt đối, không có một chút hơi người.

Cung chính đắn đo một chốc, rồi bước tới trước cửa chính điện, lắng tai nghe ngóng một hồi, vẫn không thấy động tĩnh gì, bèn khẽ giọng gọi: “Đại vương?”

Không nghe tiếng đáp.

Cung chính bèn cao giọng: “Đại vương!”

Vẫn không nghe tiếng đáp.

Cung chính trong lòng thấp thỏm, đẩy hé cửa ra xem, lập tức chết lặng.

Trong điện, hơn chục xác chết nằm ngổn ngang.

“A!” Cung chính muốn chạy, song hai chân mềm nhũn, chỉ có thể run bần bật lết từng bước ra ngoài cổng điện, vẫn không thấy một bóng người xuất hiện. Cung chính không dám to tiếng, lúc này chân đã đỡ run đôi chút, bèn co cẳng chạy thục mạng về phía hậu cung.

Nghe bẩm báo xong, vương hậu mặt cắt không còn hạt máu. Vương hậu hiểu rõ, đã có biến cố lớn xảy ra, và biến cố ấy, chính là do đối thủ của mình sắp đặt.

“Nương nương, làm sao bây giờ?” Cung chính cuống quýt hỏi.

“Mau... mau đi gọi vương thúc!” Vương hậu gắng trấn tĩnh lại, sai cung nữ thân tín đến giúp một tay, run rẩy mặc lại xiêm y, vừa mặc vừa dặn cung chính, “truyền Lộc Mao Thọ tới, không được loan tin!”

Khi Sư Lý Tật chạy vào trong cung nhanh như chớp xẹt, vương hậu và các cung nhân đang canh chừng ngoài cửa nội điện, tất cả đều im thin thít.

Sư Lý Tật đẩy cửa bước vào, chỉ vài bước chân đã tới trước mặt Dịch Vương, đưa tay đặt trước mũi, không thấy hơi thở nữa. Lại kiểm tra những người khác, không còn một ai sống sót.

Sư Lý Tật chạy sang thiên điện kiểm tra, không thấy một bóng người.

“Vương thúc?” Vương hậu bật khóc nức nở.

“Chiếu thư đâu?” Sư Lý Tật lục lọi khắp trong điện, không tìm thấy chiếu thư, cuống lên hỏi.

“Không biết!” Vương hậu đáp, “hay là ở chỗ Lộc ngự sử, nghe đại vương nói, chiếu thư do người này viết, đã cho gọi rồi.

“Truyền cung uý, giới nghiêm cung thành!”

Cung uý đương trực lập tức tới các cổng thành truyền chỉ, song người tới lại chỉ có môn uý cổng Tây Thị Bị, bởi môn uý của ba cổng còn lại đều đã bị Thị Bị khống chế.

Đi đầu là ngự sử Lộc Mao Thọ, theo sau là Thị Bị và vài trăm giáp sĩ. Vương hậu vội bước lên đón, nói với Lộc Mao Thọ: “Lộc đại nhân, mau lên, có chuyện lớn rồi!”

“Chuyện lớn gì kia?” Lộc Mao Thọ ra bộ giật mình.

“Đại... đại vương...” Vương hậu chỉ vào cửa điện.

Lộc Mao Thọ và Thị Bị vội bước vào trong cửa, liếc mắt nhìn, rồi lập tức lui ra.

Thị Bị quay sang toán giáp sĩ, hô lớn: “Nghe lệnh!”

Tất thảy giáp sĩ đều nhìn vào Thị Bị.

Thị Bị đưa tay trỏ vào vương hậu, toàn bộ cung nhân, gồm cả Sư Lý Tật: “Bắt tất cả lại!”

Chúng giáp sĩ chẳng nói chẳng rằng, nhất tề xông lên, trong tiếng la hét inh ỏi của đám cung nhân, bắt hết toàn bộ những người có mặt, không lọt một ai.

“Lộc Mao Thọ?” Vương hậu kinh hãi kêu lên.

“Có thần!” Lộc Mao Thọ tiến lại trước mặt vương hậu đã bị giữ chặt.

“Có... có... có người giết... giết vua...” Vương hậu lắp bắp không nên lời.

“Vâng, thưa nương nương,” Lộc Mao Thọ sắc mặt bình thản, “trước khi bắt được hung thủ, nương nương hãy chịu khó một chút!” Rồi quay sang Thị Bị, “Thị tướng quân, đưa nương nương về phòng, hầu hạ tử tế, cung thành giới nghiêm, truy tìm hung thủ!”

“Tuân lệnh!” Thị Bị phẩy tay, quay sang chúng giáp sĩ, “đưa tất cả vào trong cung của nương nương, canh gác nghiêm ngặt.”

“Lộc đại nhân!” Trước khi bị giáp sĩ giải đi, vương hậu vẫn cố ngoảnh đầu gọi Lộc Mao Thọ, “chiếu mệnh của đại vương, hẳn ở chỗ đại nhân?”

“Chiếu mệnh?” Lộc Mao Thọ làm ra vẻ ngơ ngác, “Chiếu mệnh nào?”

“Chiếu mệnh phế lập chiều nay đại vương bảo đại nhân soạn, đã đóng ấn tỷ rồi!”

“Phế ai, lập ai kia?” Lộc Mao Thọ vờ như không biết.

“Phế thái tử Khoái, lập công tử Chức!”

“Hồi tấu nương nương,” Lộc Mao Thọ khẽ vòng tay, “thần chưa từng thụ mệnh, cũng chưa từng soạn chiếu thư nào như vậy!”

“Lộc Mao Thọ, ngươi...” Vương hậu nghẹn lời. “Giải đi!” Lộc Mao Thọ nhìn sang Thị Bị.

Vương hậu tuyệt vọng gào khóc thảm thiết. Sư Lý Tật từ đầu tới cuối không nói một lời, sớm đã nhìn ra chân tướng, hiểu rằng đại thế đã mất, thở dài một tiếng, quay sang vương hậu: “Công chúa, chớ phí lời với họ nữa!”

Kế Thành trải qua một đêm bận rộn, khắp phố phường đâu đâu cũng rậm rịch tiếng bước chân, tiếng vó ngựa, tiếng bánh xe, tiếng hồ hoán. Bách tính đều hiểu đã xảy ra chuyện lớn, song không rõ là chuyện gì, ai nấy lo lắng thấp thỏm, không dám chợp mắt.

Tới khi trời sáng, mọi việc đã định, hai vạn binh mã thân cận của Tử Chi chia làm bốn ngả, tiến vào cổng thành, thái tử Khoái được Tử Chi và các đại phu theo phe Tử Chi hộ tống, bước vào cổng cung. Vương hậu, công tử Chức và Sư Lý Tật đều bị khống chế, đám tùy tùng của Sư Lý Tật phần lớn đã bị bắt giữ, hắc điêu tản ra lẩn trốn, hậu cung và bá quan đều không hiểu đã xảy ra chuyện gì, ai nấy đều hoang mang hốt hoảng.

Mặt trời vừa mọc, thái tử Khoái vẫn chưa hết ngơ ngác bàng hoàng, dưới sự chủ trì của Tử Chi, đã đăng cơ tại chính điện cung Yên. Tử Chi rất thông minh, không hề nhắc tới nguyên nhân cái chết của Dịch Vương, chỉ tuyên bố với quần thần, tiên vương trở bệnh thình lình, đã băng hà lúc nửa đêm, theo cựu chế của cung Yên, thái tử Khoái lập tức kế vị.

Dù là Tử Chi hay Tử Khoái, đều rất được lòng trên dưới nước Yên. Tiên vương băng hà, mọi chuyện đã thành quá khứ, quần thần cũng từ từ bình tâm trở lại, tuần tự khấu bái Tân Vương.

Chỉ lệnh đầu tiên của Tử Khoái sau khi đăng cơ là đặt Thụy hiệu cho tiên vương là “Dịch”, ban bố đại tang. Nghĩ cũng phải, “dịch” là biến, khởi đầu và kết cục của tiên vương, quả thực đầy rẫy biến cố.

Ba ngày tiếp theo, Tử Khoái liên tiếp ban bố vài chỉ lệnh, bái Tử Chi làm tướng quốc, chưởng quản trăm quan và ba quân; bái Lộc Mao Thọ làm thượng khanh, nhiệm Thị Bị làm cung uý, đồng thời chiếu theo danh sách mà Tử Chi dâng lên, sắp xếp lại toàn bộ chức quan. Mấy đại thần tận trung với Dịch Vương, phủ trạch ở Kế Thành đều bị tịch biên cả. Toàn bộ biến cố diễn ra trong lặng lẽ, không chút gió tanh mưa máu.

Sau ba ngày, Kế Thành dỡ bỏ giới nghiêm, quan viên mới lập vào chầu. Trăm họ nước Yên đều biết Tử Khoái là người nhân từ, hay tin Tử Khoái lên ngôi, ai nấy vui cười hớn hở. Tử Khoái ban lệnh đại xá thiên hạ, nước Yên đổi diện mạo mới.

Cũng ngày thứ ba sau khi Tử Khoái kế vị, Tử Chi và Tử Khoái đã cãi vã kịch liệt.

Nguyên do dẫn đến cãi vã, là phải xử trí thế nào với vương hậu và công tử Chức. Tử Chi kết tội sứ Tần và vương hậu mưu hại tiên vương, rắp tâm lập Tử Chức làm thái tử, cần phải lặng lẽ khép vương hậu, Tử Chức và sứ Tần vào tội giết vua mà xử tử. Nhưng Tử Khoái kiên quyết phản đối. Sau khi xem kỹ các thi thể, Tử Khoái đã biết họ chết vì chất độc gì, mà khí độc đó, duy chỉ Tử Chi kiếm được, tuyệt đối không phải do vương hậu và sứ Tần.

Giết người vô tội, sẽ bị trời phạt.

Tranh cãi tới cuối cùng, Tử Khoái dứt khoát đòi bỏ ngôi Yên Vương nếu Tử Chi quyết làm như vậy. Tử Chi bất lực, đành thở dài mà nói: “Đại vương, sẽ có một ngày, người phải trả giá cho lòng nhân từ hôm nay, đó cũng là lúc nước Yên sa vào tuyệt lộ!”

Rồi Tử Chi truyền lệnh thả vương hậu và Tử Chức ra, đày tới Vũ Dương. Đám sứ Tần Sư Lý Tật cũng được phóng thích.

Sau khi thân tín của Tử Chi áp tải đoàn xe ngựa của vương hậu rời khỏi Kế Thành, Tử Khoái lập tức cho phu nhân của mình đích thân đánh vương xa tới Vũ Dương, cung kính mời thái hậu Cơ Tuyết hồi cung, chủ trì hậu cung nước Yên.

Cơ Tuyết không chịu trở về, người trở về là Tô Tần.

Trong sáu nước tung thân, Tô Tần không muốn nhìn thấy nhất là nước Yên nội loạn. Tâm tư này đã ăn sâu tận đáy lòng Tô Tần, một phần là bởi mối tình với Cơ Tuyết, một phần là bởi lòng biết ơn lão Yên Công đã ủng hộ Tô Tần hợp tung. Khi biến cố xảy ra, Viên Báo ra roi thúc ngựa chạy miết, đuổi kịp Tô Tần ở Trung Sơn, không nói cũng biết Tô Tần kinh hãi đến nhường nào.

Tô Tần lập tức trở đầu xe, vòng về Kế Thành, dọc đường liên tục đổi ngựa, đi suốt cả ngày lẫn đêm, chưa tới ba ngày đã vào cổng Nam Kế Thành.

Cổng thành đã bỏ lệnh cấm, trăm họ sinh hoạt như thường, cảnh hỗn loạn mà Tô Tần lo lắng không hề xảy ra.

Tô Tần thở hắt ra một tiếng, ghìm xe chậm lại, đi vào cung thành.

Thấy Tô Tần trở về, Tử Khoái mừng phát khóc, cùng với Tử Chi ra đón vào thiên điện, kể lại vắn tắt một lượt toàn bộ sự việc xảy ra.

Tô Tần đuổi hết người ngoài, rồi hỏi về nguyên nhân cái chết của Dịch Vương. Tử Chi biết không giấu được, bèn thú thực chuyện hạ độc Dịch Vương. Năm xưa Văn Công đột ngột băng hà, nguyên nhân vẫn luôn là bí ẩn. Cơ Tuyết vốn dốc sức điều tra chân tướng, nhưng sở dĩ Tô Tần khuyên nàng chớ làm lớn chuyện, một phần vì muốn ổn định chính cục nước Yên, một phần là do chưa tìm được bằng cứ tin cậy, bởi tiên vương Văn Công lúc còn sống và sau khi chết hầu như không có gì bất thường, không có vết thương ngoài da, cũng không khám ra độc tố, hoàn toàn giống như ngã bệnh đột tử.

“Than ôi,” Tô Tần thở dài buồn bã, nói với Tử Chi, “tất cả đều là mệnh trời. Năm xưa Tử Tô bức chết Tử Ngư, dùng độc thuật này hại chết tiên quân, nay chịu quả báo này, cũng là tự làm tự chịu. Tuy nhiên, Tử Tô dù sao cũng là vua nước Yên, cha ruột của đại vương hiện tại, hậu sự không thể qua loa được.”

“Đương nhiên,” Tử Chi gật đầu, “tại hạ đã bàn với đại vương, sẽ hậu táng cho tiên vương.”

Trước kết cục nhường này, Tô Tần cũng không biết phải nói gì.

Dù sao chăng nữa, Tử Khoái kế vị cũng là một kết cục tốt, chí ít cũng đã dập tắt hoàn toàn mưu đồ của người Tần, Tô Tần đã có thể tạm gác chuyện tranh chấp giữa Tề, Yên sang một bên để xử lý chuyện Tam Tấn và nước Sở. Nhất là chuyện nước Sở, đã cấp bách lắm rồi. Mục tiêu sắp tới của Trương Nghi, chắc chắn là Sở, mà Sở nếu không có Tô Tần, sẽ không còn ai là đối thủ của Trương Nghi. Khuất Nguyên tuy thông tuệ, song dù sao vẫn trẻ người non dạ. Trần Chẩn tuy lão luyện, song không có nền móng sâu dày ở Sở, nhất là Sở Vương vẫn canh cánh chuyện Trần Chẩn năm xưa từng dốc sức phò Tần. Ở nước Sở, chỉ có một người giúp được Trần Chẩn, chính là Chiêu Dương, nhưng Chiêu Dương tuổi tác đã cao, như tên bay hết tầm, hơn nữa lại không được lòng Sở Vương.

Tô Tần lại ở nước Yên thêm vài ngày, giúp Tử Khoái lập con trưởng Cơ Bình làm thái tử, lập thân mẫu Cơ Bình là Triệu Phi làm vương hậu, chưởng quản hậu cung. Tô Tần quan sát mười ngày, thấy Kế Thành bình yên vô sự, Tử Chi hành sự cũng đáng tin cậy, trong lòng cũng đã yên tâm, bèn rời Kế Thành, lại lên đường tới Hàm Đan.

Đoàn xe của Dịch vương hậu, công tử Chức sau khi ra khỏi Kế Thành, được thuộc hạ thân tín của Tử Chi hộ tống tới Vũ Dương, giao cho tướng trấn thủ Vũ Dương là Chử Mẫn. Tuy nhiên, ngay sáng sớm hôm sau, hai người đã thay trang phục đổi xe ngựa, cùng với Sư Lý Tật ra khỏi cổng Nam thành Vũ Dương, vượt qua Dịch Thuỷ, rẽ vào lãnh thổ Trung Sơn.

Do Sư Lý Tật lúc này giương cao cờ hiệu sứ Tần, lại đúng lúc cả nước Yên thay cũ đổi mới, mọi thứ chưa vào khuôn phép, biên ải nước Yên chưa nhận được vương mệnh, nên đoàn xe sứ Tần ung dung băng qua biên giới vào lãnh thổ Trung Sơn mà không gặp trở ngại nào.

Công chúa đã gả đi thì không nên quay về, hơn nữa lại lủi thủi trốn về thế này, cả vương hậu và Sư Lý Tật đều không cam tâm. Sau khi cân nhắc, Sư Lý Tật quyết định đưa vương hậu và công tử Chức sang nước Triệu, thứ nhất là nước Triệu ngăn cách với nước Yên bởi Trung Sơn, thứ hai là người Tần có thể qua Hà Tây lên phía bắc tiến vào Tấn Dương chế Triệu, thứ ba là nước Triệu giữ công tử nước Yên trong tay, phía đông chế Tề, phía bắc chế Yên, phía tây kết giao với Tần, có thể nói là nhất cử tam tiện, cũng coi là diệu kế.

Quyết định là vậy, Sư Lý Tật dẫn đoàn xe băng qua Trung Sơn, vào thẳng Hàm Đan.

Khi vương hậu lên đường, đã kịp mang theo không ít vàng bạc châu báu. Sư Lý Tật tìm chỗ thích hợp, mua cho họ một trạch viện, để lại hai hắc điêu đắc lực bảo vệ, căn dặn hãy mai danh ẩn tính, tạm thời chớ để lộ thân phận, rồi mới lên đường về Tần.

Cung Yên đại biến, lại khiến Cơ Tuyết được tự do hoàn toàn, bởi đám vệ sĩ vốn canh gác ở biệt cung Vũ Dương bị giải tán hết. Cuối cùng, nàng đã có thể tùy ý ra vào biệt cung.

Tuy nhiên, thái hậu vẫn cứ là thái hậu. Vì nghĩ cho danh dự của Cơ Tuyết, nên khi Tô Tần trở về Vũ Dương, vẫn không qua lại biệt cung, mà chỉ thuê nguyên một khách điếm kín đáo tại Vũ Dương rồi ở lại. Đến chập tối, Trâu Phi Đao đưa Cơ Tuyết tới, hai người mới được bên nhau. Cơ Tuyết giờ không còn phải nơm nớp kiêng dè. Trước mặt Tô Tần, nàng lại vui tươi như một đứa trẻ, nàng dạo đàn cho Tô Tần nghe, ánh mắt tha thiết nhìn hắn, lắng nghe hắn chậm rãi kể lại toàn bộ biến cố tại Kế Thành, dường như không phải đang nghe kể về một trường chính biến kinh thiên động địa, mà chỉ là vài chuyện vụn vặt của hàng xóm láng giềng chẳng liên quan gì tới nàng.

Cũng là ý trời muốn giữ người, đêm đó, bỗng dưng trời đổ mưa lớn, kéo dài lê thê suốt mấy ngày. Tô Tần cũng không vội lên đường nữa, mà ở lại với Cơ Tuyết bảy ngày.

Dù là Cơ Tuyết hay Tô Tần, bảy ngày đó chính là những ngày vui vẻ nhất, nhẹ nhõm nhất đời, trong khách điếm vắng vẻ ở Vũ Dương này, trong vòng canh gác cẩn mật của Trâu Phi Đao và Xuân Mai.

Tới ngày thứ tám, trời bừng nắng đẹp, đường đi đã khô ráo. Tô Tần nhớ tới nước Triệu, bèn từ giã Cơ Tuyết, lên đường viễn hành.

Việc của nước Triệu, là ở Thượng Đảng. Kinh đô mới Hàm Đan và kinh đô cũ Tấn Dương của nước Triệu ngăn cách với nhau bởi núi Thái Hàng. Mạch núi Thái Hàng chạy theo hướng nam bắc, vừa hay cắt đứt giao thông đông tây, may sao có vài con sông cắt qua mạch núi, hình thành nên vài con đường tự nhiên từ nam qua bắc, gọi là Thái Hàng bát hình.

Trong bát hình, tức là tám chỗ đứt đoạn của mạch núi, chỉ có hai con đường nối liền hai kinh đô cũ mới của nước Triệu là Hàm Đan và Tấn Dương, một là Tỉnh Hình, ở trong lãnh thổ Trung Sơn, nên người Triệu bắt buộc phải mượn đường Trung Sơn. Đương nhiên, Trung Sơn cũng không phải không chịu cho mượn đường, trên thực tế, phần lớn người và hàng hoá của Triệu đều qua lại theo đường Tỉnh Hình, bởi đường núi ở đây ngắn nhất, nên chi phí cũng rẻ nhất. Một con đường nữa ở phía tây nam Hàm Đan, gọi là Phẫu Khẩu Hình, men theo lòng sông Phẫu Thuỷ thông tới Vũ An. Ấp Vũ An là địa bàn của nước Triệu, do vậy, đoạn Phẫu Khẩu Hình ở phía đông Vũ An hoàn toàn thuộc về nước Triệu. Tuy nhiên, khu vực rộng lớn phía tây Vũ An lại thuộc về quận Thượng Đảng của nước Hàn, nước Triệu bắt buộc phải đi qua lãnh thổ nước Hàn, tiến lên phía bắc, tới các thành ấp Cảm Dương, Yên Dữ nước Hàn, sau đó mới vào được lãnh thổ nước Triệu, thẳng tới Tấn Dương. Con đường này người nước Triệu rất không muốn đi, không những xa xôi vòng vèo, mà còn phảĩ nhìn mặt người Hàn. Nhưng nhiều khi, ví như những lúc căng thẳng với Trung Sơn, người Triệu lại không thể không đi đường này.

Người Hàn hiểu rõ sự khó xử của người Triệu, nên cũng cố gắng hết sức để trợ giúp, thậm chí còn không lập cửa ải, hoặc có lập nhưng không thu thuế quan của người Triệu. Tuy nhiên, suy cho cùng, cổ của mình bị kẹp trong tay kẻ khác, người Triệu dù muốn không bực bội cũng khó.

Vì thế, hơn trăm năm qua, người Triệu dùng đủ mọi cách hết mềm lại cứng, hết công khai lại ngấm ngầm, để cố giành lại quyên kiểm soát Cảm Dương, Yên Dữ từ tay người Hàn, song người Hàn không chịu. Hai nước đã mấy lần giao tranh vì hai ấp này, song suy cho cùng, người Hàn vừa danh chính ngôn thuận, thực lực lại nhỉnh hơn, nên dù người Triệu có tạm thời đoạt được, thì rồi người Hàn vẫn cứ đòi được về.

Mấy năm gần đây, hai nước Triệu, Hàn lần lượt bị cường Ngụy bức bách, hai ấp này cũng đổi chủ xoành xoạch. Khi Bàng Quyên bao vây Hàm Đan, Cảm Dương, Yên Dữ ở trong tay người Hàn. Khi Bàng Quyên bao vây Tân Trịnh, trọng ấp Cảm Dương bị người Triệu chiếm mất. Giờ đây, nước Ngụy sa sút, Hàn, Triệu cũng đều không có đại sự, thế là người Hàn thề đoạt lại Cảm Dương, rục rịch điều binh khiển tướng. Người Triệu cũng không chịu lép, một mặt củng cố phòng bị, một mặt tăng viện binh mã.

Về việc Hàn, Triệu tranh giành hai ấp, Tô Tần trong lòng hiểu rõ, song chuyện ở phía đông núi Thái Hàng quá bận bịu, quá phức tạp, hết việc này đến việc khác, khiến Tô Tần không còn rảnh rang để nhìn đến chuyện tranh chấp hai ấp Thượng Đảng. Nhưng lúc này, hai nước tung thân đã sắp sửa xung đột binh đao, Tô Tần không thể ngồi yên mặc kệ được nữa.

Tô Tần về tới Hàm Đan, không kịp tắm rửa, đã vào cung yết kiến Triệu Ung ngay.

Ra ngoài cổng điện nghênh đón lại là một người Hồ, đứng ở phía sau cũng là một người vận trang phục người Hồ, là Phì Nghĩa.

Tô Tần sửng sốt, định thần nhìn kỹ, mới nhận ra chính là Triệu Vương, vội vòng tay thi lễ: “Thần Tô Tần khấu kiến đại vương!”

Triệu Ung cười lớn, bước lại nắm tay Tô Tần: “Quả nhân biết Tô Tử kinh ngạc lắm! Đi, hãy vào trong nói chuyện!”

So với vài năm trước, Triệu Ung nay đã trưởng thành, anh khí ngời ngời.

Sau khi vua tôi an vị, Tô Tần nhìn thẳng vào Triệu Ung: “Dám hỏi đại vương, chuyện này là thế nào?”

“Tô Tử trở về đúng lúc lắm.” Triệu Ung cười nói, “quả nhân đang định xuất hành, chỉ chậm thêm nửa canh giờ, là không gặp mặt được nữa!”

“Đại vương,...” Tô Tần ngập ngừng, “không phải chuẩn bị tới Thượng Đảng đấy chứ?”

“Ha ha, suýt nữa thì đúng đấy!” Triệu Ung có vẻ rất phấn chấn, “có điều, quả nhân còn có chỗ khác tốt hơn, việc Thượng Đảng đành để lần sau.”

“Chỗ khác tốt hơn?” Tô Tần nhìn thẳng vào Triệu Ung, “là bảo địa nào vậy?”

“Còn quý hơn cả bảo địa!” Triệu Ung hào hứng ra mặt, “quả nhân không muốn để lỡ dù một khắc, chỉ mong có thể mọc cánh bay ngay tại đó!”

“Chúc mừng đại vương có được bảo địa!” Tô Tần vòng tay, nhìn vào trang phục Hồ trên người Triệu Ung.

Triệu Ung nhìn sang Phì Nghĩa: “Hãy nói cho Tô Tử biết. Tô Tử không phải người ngoài, mà là tướng quốc nước Triệu!”

“Hồi bẩm tướng quốc,” Phì Nghĩa vòng tay nói, “thần theo đại vương giả làm người Hồ, định băng qua Trung Sơn tới Yên, rồi theo Bồ Âm Hình vào núi, tuần tra một mảnh đất biên cương mới khai phá!”

“Đất biên cương mới khai phá?” Tô Tần sửng sốt, “Bồ Âm Hình?”

“Nằm ở phía cuối Bồ Âm Hình.”

“Lẽ nào là Lai Nguyên?” Tô Tần hỏi.

Đoạn cuối Bồ Âm Hình là bồn địa Lai Nguyên. Bồ Âm Hình là con đường núi thứ hai nối liền bắc nam cắt ngang đoạn phía đông của mạch núi Thái Hàng. Bồn địa Lai Nguyên diện tích vài chục dặm vuông, thóc lúa và lâm sản dồi dào.

Tô Tần chưa từng tới Lai Nguyên, song cũng biết đến mảnh đất này, bởi đã nghe Tử Chi nhắc đến không chỉ một lần. Theo lời Tử Chi, ba nước Triệu, Trung Sơn và Yên, nước nào có được Lai Nguyên, nước đó sẽ khống chế được yếu địa phía bắc Thái Hàng. Nhìn vào vị trí của Lai Nguyên trên bản đồ của Tử Chi, có thể thấy từ nơi này lên phía bắc là Phi Hồ Hình, dẫn thẳng tới thảo nguyên đất Hồ ngoài biên ải, lúc này đã là quận Đại của nước Triệu. Phía tây Lai Nguyên dẫn thẳng tới Linh Khâu, lúc này cũng đã thuộc về nước Triệu. Linh Khâu là một đầu mối quan trọng khác, từ đây lên phía bắc sẽ tới quận Đại, xuống phía nam sẽ thông tới Tấn Dương và Thượng Đảng. Từ Lai Nguyên sang đông, có thể theo Bồ Âm Hình băng qua phía đông núi Thái Hàng, thẳng tới nước Yên và Trung Sơn.

Đường Bồ Âm men theo lòng sông Dịch Thuỷ. Dịch Thuỷ chia thành ba nhánh, lần lượt là Nam Dịch Thuỷ, Trung Dịch Thuỷ và Bắc Dịch Thuỷ, Bắc Dịch Thuỷ, Trung Dịch Thuỷ đều nằm trong lãnh thổ nước Yên, Nam Dịch Thuỷ lại thuộc lãnh thổ Trung Sơn, do vậy, dù là đối với Trung Sơn hay với Yên, Bồ Âm Hình cũng là trục giao thông cực kỳ trọng yếu. Mà bồn địa Lai Nguyên lại nối liền Linh Khâu với đất Đại, cũng là trạm trung chuyển của trục đường Bồ Âm, nên xưa nay luôn là mảnh đất tranh giành giữa Trung Sơn, Yên và Triệu.

“Ồ,” Triệu Ung lấy làm kinh ngạc, “thật không hổ danh là Tô Tử, đến cả mảnh đất nhỏ bé là vậy mà cũng biết rõ!”

“Thần chúc mừng đại vương!” Tô Tần lại vòng tay nói.

Triệu Ung cười lớn: “Không giấu Tô Tử, đó quả thực là một mảnh đất quý! Có bảo địa này trong tay, toàn bộ Phi Hồ Hình, tây tới bồn địa Linh Khâu, bắc tới đất Đại, đã hoàn toàn thông suốt. Còn như Bồ Âm Hình, hiện vẫn ở trong tay người Yên, quả nhân có được Lai Nguyên, mượn đường người Yên, sẽ có thể giáp công nam bắc, phá tan Trung Sơn!”

Tô Tần hít sâu vào một hơi.

Xem ra, mục tiêu của Triệu Ung đã không còn ở Thượng Đảng nữa, mà chuyển sang Trung Sơn rồi.

Quả nhiên.

“Tô Tử tới thật đúng lúc,” Triệu Ung đổi giọng, nhìn thẳng vào Tô Tần, “quả nhân tuần du chuyến này, có lẽ sẽ mất chút thời gian, việc của Thượng Đảng, xin cậy nhờ vào Tô Tử!”

“Dám hỏi đại vương,” Tô Tần khẽ hỏi, “việc của Thượng Đảng, thần nên xử trí thế nào?”

“Cứ theo pháp tung thân,” Triệu Ung đáp ngắn gọn, “dĩ hoà vi quý!”

“Đại vương anh minh!” Tô Tần vòng tay vái, “nếu là vậy, thần lại có một kế!”

“Tô Tử cứ nói.”

“Lần trước thần tới Trịnh Thành, được biết Hàn thất có một công chúa, tuổi chừng mười sáu, hiền thục thông tuệ, mĩ mạo như hoa, tư dung yểu điệu. Nếu đại vương có ý, có thể cho mai mối tới cầu thân. Đại vương nếu kết duyên trăm năm cùng công chúa, không chừng Hàn Vương sẽ dùng hai ấp Thượng Đảng làm của hồi môn cũng nên.”

Triệu Ung phá lên cười sảng khoái: “Hậu cung của quả nhân đúng là đang thiếu một nàng con gái Hàn hiền đức. Vậy phải nhọc công Tô Tử đi giúp một chuyến, tác thành hỉ sự!” Vòng tay về phía Tô Tần.

“Thần ra mặt không tiện cho lắm!” Tô Tần đáp lễ, “đại vương có thể cử Lâu Hoãn!”

“Truyền chỉ, có lời mời Lâu Hoãn!” Triệu Ung lập tức quay sang hạ lệnh cho nội thần, rồi quay sang Phì Nghĩa, “quả nhân lâu rồi không có dịp hàn huyên cùng Tô Tử, có rất nhiều đại sự cần thỉnh giáo. Việc tuần hành, hãy tạm lùi lại vài ngày.”

“Thần tuân chỉ.” Phì Nghĩa đáp.

Tô Tần cùng vua tôi Triệu Vương bàn bạc về các việc nước Triệu, khi về tới phủ trạch đã sang canh một. Trong phủ đèn đuốc sáng trưng, Thu Quả bước ra đón, nói rằng có khách quý đang chờ trong sảnh.

Tô Tần sải bước vào, thấy là tôn giả Mặc gia Khuất Tương Tử.

Hành lễ xong xuôi, Tô Tần xua Thu Quả đi chuẩn bị trà nước, rồi đóng chặt cửa phòng, vòng tay cười nói: “Vừa thấy tiền bối, đã biết ngay là có đại sự.”

“Quả là có một đại sự,” Khuất Tương Tử đáp, “Tô đại nhân lần trước dặn lão hủ điều tra về cái chết của Ngụy Vương, qua vài tháng, cuối cùng đã biết được rồi.”

“Ồ?” Tô Tần ngả người về phía trước, hạ giọng hỏi, “Là ai?”

“Hắc điêu.”

“Hắc điêu?” Tô Tần rõ ràng còn xa lạ với cái tên này, “là người Tần?”

“Phải!” Khuất Tương Tử nói, “Tần Vương cho dựng một nơi bí mật trong núi Chung Nam, gọi là Hắc Điêu đài, huấn luyện rất nhiều người, rồi tung ra khắp liệt quốc, dùng chim ưng chim điêu liên lạc với nhau, nên truyền tin cực kỳ thần tốc.”

Tô Tần trong lòng giật thột, lập tức nhớ đến công tử Hoa. Hồi còn ở Hàm Dương, người này đã từng kể cho Tô Tần nghe chuyện nuôi dưỡng huấn luyện chim điêu.

“Đám người Tần này có nam có nữ, mỗi người có tuyệt kỹ riêng, đều là kẻ cảm tử cả. Trong đó có một nữ tên là Thiên Hương, hồi còn ở An Ấp đã là đệ nhất kỹ nữ tại lầu Miên Hương, từng khiến thái tử Ngụy Thân mê mẩn tâm thần. Cái chết của thái tử Thân, có liên quan tới người này.” Khuất Tương Tử chậm rãi nói.

“Trời ơi!” Tô Tần đưa tay bưng mặt.

“Sau đó, do dính dáng tới vụ án Công Tôn Diễn mà lầu Miên Hương đã bị thảm sát. Ai cũng nghĩ toàn bộ kỹ nữ trong lầu đều đã chết hết, nhưng thực chất, vẫn có hai người trốn thoát được, một là Thiên Hương, hai là Địa Hương. Hai người đều trốn sang Tần, Thiên Hương vào Hắc Điêu đài, sau đó trở thành hắc điêu có cấp bậc cao nhất trong các nữ điêu; còn Địa Hương, hiện đã là phu nhân của Công Tôn Diễn.

“Nói như vậy là... Thiên Hương đã quay về nước Ngụy?”

“Đúng vậy,” Khuất Tương Tử nói tiếp, “nàng ta đã sang nước Ngụy. Khi Bàng Quyên chinh phạt Hàm Đan, nàng ta đã chạy sang Triệu, cấu kết với phó tướng nước Ngụy là Ngụy Tự. Thiên Hương nhan sắc diễm lệ, lại giỏi thuật quyến rũ, Ngụy Tự dễ dàng bị nàng ta khiến cho mê muội. Từ đó, nàng ta luôn ở bên Ngụy Tự. Trong trận Mã Lăng, nàng ta đã viết thư cho thái tử Thân, hẹn gặp ở đất Tống. Thiên Hương bỗng dưng mất tích khiến thái tử nhớ nhung vô cùng, vừa nhận được thư, lập tức tới ngay nơi hẹn, nào ngờ lại bị sát hại. Nàng ta giết thái tử Thân, chỉ nhằm một mục đích, giúp Ngụy Tự lên ngôi. Ngụy Tự được làm thái tử đúng như mong muốn, song hắn bản tính trăng hoa, gian dâm với vũ cơ Triệu Phi của Ngụy Vương đến nỗi mang thai. Triệu Phi biết rõ gây chuyện dâm loạn trong cung là tội chết, thấy không thể giấu được nữa, nên đã treo cổ tự vẫn. Nội tể điều tra vụ án, Thiên Hương mới sai người trộm lấy thi thể, giết chết toàn bộ nhân chứng. Thế là sự việc vỡ lở, kinh động tới Ngụy Vương, khiến Ngụy Tự lộ mặt. Ngụy Vương nổi cơn thịnh nộ, muốn phế thái tử, lập con của thái tử Thân. Thiên Hương quyết định ra tay trước, đầu độc Ngụy Vương, nào ngờ độc dược quá lộ liễu, liên luỵ tới cả Trương Nghi. Ngụy Tự kế vị, những chuyện sau đó, đại nhân cũng biết cả rồi. Nếu không ngoài dự liệu, chẳng bao lâu nữa, Thiên Hương hẳn sẽ trở thành vương hậu của Ngụy, nếu như sinh con, sẽ thành người kế tự của Ngụy thất.”

Tô Tần không ngớt rùng mình ớn lạnh: “Tiền bối hẳn có chứng cứ?”

“Đại nhân xin hãy xem cái này!” Khuất Tương Tử lấy ra một tấm điêu bài, đưa cho Tô Tần.

Tô Tần cầm lên, nhìn thật kỹ.

“Lão hủ bắt được một cung nữ thân tín của nàng ta, tìm thấy thứ này trong người. Đây là một tấm điêu bài, hắc điêu nước Tần rải khắp liệt quốc, mỗi người có một tấm, dùng để liên lạc với nhau. Hắc điêu không nhận người, chỉ nhận thẻ.”

“Cung nữ ấy... đâu rồi?”

“Chết rồi.” Khuất Tương Tử đáp, “ả là kẻ truyền tin tình báo cho Thiên Hương, sau khi bị bắt, không chịu khai gì.

Về sau, người của lão hủ dùng thuật thôi miên, ả không còn tự chủ được nữa, mới khai ra mọi chuyện. Theo như lời ả, sau khi Thiên Hương trở thành Ngụy vương phi đã được thăng cấp kim điêu, tức cấp bậc cao nhất trong Hắc Điêu đài. Sau khi tỉnh táo trở lại, cung nữ này nhân lúc Mặc giả canh gác lơ là, kiếm cớ đi ngoài, thừa lúc dây trói được nới lỏng, đã nuốt thuốc độc mà chết.” Chỉ vào điêu bài, “thuốc độc giấu trong thẻ này.” Rồi nhấc điêu bài lên, bấm vào nút ngầm, chỉ vào chút bột còn sót lại, “vẫn sót một ít ở đây, là chất kịch độc, giết người trong nháy mắt.”

“Quả là chuyện động trời,” Tô Tần cất điêu bài vào trong ống tay áo, rồi vòng tay vái Khuất Tương Tử, “tại hạ thay mặt Ngụy Vương, thay mặt nước Ngụy, thay mặt liệt quốc tung thân, tạ ơn tiền bối!”

Khuất Tương Tử vội đáp lễ.

“Còn nước Sở thế nào rồi?”

“Mười ngày trước, lão hủ nghe nói, Trương Nghi đã tới Thương Ư.”

Hai người lại bàn chuyện nước Sở. Đang lúc bàn bạc, từ bên ngoài cửa vọng vào tiếng bước chân khẽ khàng, sau đó là một tiếng đặng hắng nhỏ. Thu Quả đẩy cửa bước vào, bày trà bánh lên trên án, vái chào rồi lui ra.

Thu Quả mau chóng trở về phòng mình, cài chặt then cửa, cố gắng kìm chế nhịp tim đang đập thình thịch. Lúc nãy Khuất Tương Tử kể chuyện Thiên Hương, nàng đã nghe thấy cả. Số là sau khi ra khỏi phòng khách, thấy cánh cửa đóng ngay lại sau lưng, gần như là phản ứng bản năng, nàng lập tức rón chân lộn trở lại, nép trong chỗ khuất ở gần cánh cửa, dỏng tai nghe trộm.

Cứ thế nghe hết chuyện của Thiên Hương, Thu Quả mới lặng lẽ rời đi, chuẩn bị trà bánh, mang vào phòng khách, rồi mới như kẻ mất hồn, thẫn thờ quay trở về phòng.

Chắc họ đang nói về nàng ta, người đã rèn tập cho nàng mấy tháng trời trong núi, là người cai quản và huấn luyện toàn bộ nữ điêu. Thu Quả chỉ không thể ngờ, Thiên Hương hiện đã thăng cấp kim điêu, cũng tức là đã ngang hàng với công tử Hoa.

Đêm đó, Thu Quả thức trắng.

Nàng rút tấm điêu bài vẫn giấu kỹ bên mình ra, bất giác rùng mình ớn lạnh. Hiện giờ, Tô Tần đã biết chuyện Hắc Điêu đài, tấm thẻ này nhất thiết không được để lộ, bằng không, nàng sẽ chết.

Nàng không sợ chết, song nàng không thể chết như vậy ở trong tay Tô Tần, người luôn coi nàng là con gái.

Tới khi trời sáng, Thu Quả lén ra ngoài, lẳng lặng tới trạm liên lạc của hắc điêu tại Hàm Đan, kể lại vắn tắt sự việc, cho họ viết thành mật báo, cấp tốc truyền tới Đại Lương.

Thiên Hương nhận được mật báo, kinh hãi rụng rời. Bàng hoàng đến nửa canh giờ, mới từ từ hoàn hồn lại được, suy nghĩ sách lược ứng phó.

Hiển nhiên, trước mắt Thiên Hương hiện giờ, chỉ có hai con đường. Một là vứt bỏ mọi thứ nơi đây, trốn về Tần, hai là trừ khử Tô Tần.

Thiên Hương hiểu rõ Mặc giả đáng gờm. Đừng nói là nàng, dù có điều động toàn bộ Hắc Điêu đài, cũng không dám tùy tiện khai chiến với Mặc giả. Song điểm yếu của Mặc giả là ảnh hưởng của họ chỉ ở tầng thấp, ở thứ dân, còn với triều đình, họ xưa nay không can dự, cũng không buồn để tâm.

Người thực sự gây nguy hiểm cho địa vị của Thiên Hương lúc này, chỉ có Tô Tần, bởi chứng cứ đang ở trong tay Tô Tần, hắn cũng đủ sức để thuyết phục Ngụy Tự tin theo. Mấy năm gần đây, Thiên Hương đủ tinh ý để phát giác ra, bất luận là trong phòng the hay trên triều đường, Ngụy Tự đều đã bắt đầu chán mình. Thiên Hương càng phô bày tuyệt kỹ, Ngụy Tự lại càng tránh né. Chuyện này cũng khó trách, trong hậu cung mĩ nữ như mây, Ngụy Tự vốn không quan tâm tới đạo dưỡng sinh, tinh khí chẳng mấy nỗi đã bị vắt kiệt. Còn trên triều đường, Ngụy Tự sớm đã không chịu nổi sự can thiệp quá đà của Thiên Hương, chỉ bởi sức ép của nàng ta quá lớn, nên không dám không nghe. Do vậy, chỉ cần Tô Tần nói ra chuyện này, bất kể có chứng cứ hay không, Ngụy Tự cũng sẽ nghe theo ngay, rồi thuận thế đổ hết mọi tội lỗi cho nàng ta, nhanh chóng xé xác nàng ta cho hả giận.

Tuy nhiên, có trừ khử Tô Tần hay không, đây là quốc gia đại sự, Thiên Hương không thể tự ý quyết định.

Thiên Hương suy nghĩ kỹ, rồi soạn một bản cấp báo, kể rõ thế nguy trước mắt, đích thân buộc vào chim điêu quý của mình rồi thả đi. Chim điêu chỉ nửa ngày đã bay hơn nghìn dặm, đáp xuống Hắc Điêu đài trên núi Chung Nam.

Công tử Hoa chưa kịp đọc hết, đã lập tức sai chuẩn bị xe, phóng như bay vào trong cung.

Lúc này, Sư Lý Tật cũng vừa hay từ Triệu về đến, đang bẩm báo Huệ Vương về biến cố cung Yên.

Từ lúc bước vào yết kiến cho tới lúc này, Sư Lý Tật lúc khoan lúc nhặt, lúc nói lúc dừng, đã kể lể suốt ba canh giờ. Từ đầu tới cuối, Huệ Vương không nói một lời. Khi Sư Lý Tật kể tới chuyện đưa mẹ con Yên hậu tháo chạy khỏi nước Yên, qua đến Trung Sơn, Huệ Vương mới thấy nhẹ nhõm phần nào, nước mắt ứa ra.

Với Huệ Vương, so với chuyện hai mẹ con phải đào vong, thì chuyện đáng chua xót hơn nữa chính là cánh quân đen mà Huệ Vương và Trương Nghi đã khổ công gây dựng gần chục năm qua, vốn cứ ngỡ sẽ trở thành một mũi dao nhọn đâm vào sau lưng tung thân, nhưng giờ lại đột ngột bị dồn vào nước chết một cách bất ngờ thế này.

Theo như lời kể của Sư Lý Tật, có thể thấy biến cố của nước Yên dường như không liên quan gì tới Tô Tần. Tuy nhiên, không liên quan nhưng vẫn có liên quan, nếu Tô Tần không năm lần bảy lượt phản đối việc phế lập thái tử, thì đâu có chuyện xảy ra sau đó?

Hai người đang ngồi râu rĩ thì công tử Hoa chạy xộc vào. “Vương huynh,” công tử Hoa trình lên cấp báo của Thiên Hương, “cung Ngụy cấp báo!”

Huệ Vương đọc xong, đưa tay bưng mặt, để mặc tờ cấp báo rơi tuột xuống đất.

Công tử Hoa nhặt lên, đưa cho Sư Lý Tật: “Huynh cũng đọc đi!”

Sư Lý Tật đọc xong, cười như mếu: “Quả đúng là họa vô đơn chí!”

Công tử Hoa sớm cũng đã biết chuyện nước Yên, từ từ siết chặt nắm tay, hồi lâu sau mới nhìn sang Huệ Vương: “Vương huynh, làm thế nào đây?”

“Còn làm gì được nữa?” Huệ Vương buông tay, “gọi nàng ta về!”

Công tử Hoa lo lắng: “Nếu Thiên Hương trở về, thì bao nhiêu...”

“Nếu không gọi về, thì phải làm thế nào?” Huệ Vương nhìn thẳng vào công tử Hoa.

“Hay là, cứ theo cách của Thiên Hương!” Công tử Hoa mắt loé hung quang, “người này mà còn, Đại Tần ta sẽ khó có ngày trỗi dậy!”

“Quả nhân đã nói rồi, nếu giết Tô Tần, đã không đợi tới lúc này! Chỉ tiếc là...” Huệ Vương dừng lại nửa chừng, nhìn sang hai người.

Đúng vậy, trong cái đêm gió tuyết năm đó, người thả Tô Tần đi chính là công tử Hoa, còn người thuyết phục công tử Hoa tha mạng, lại là Sư Lý Tật. Giờ đây, sự tồn tại của Tô Tần đã khiến cả hai phải nếm mùi đau khổ.

Sư Lý Tật, công tử Hoa đưa mắt nhìn nhau, đều cúi gằm mặt xuống.

“Hơn nữa, nếu Tô Tần chết đi như vậy, người khác không nói, em rể của hai người nếu như biết được, chẳng thí mạng với hai người ư?”

Sư Lý Tật, công tử Hoa lại quay sang nhìn nhau.

“Còn nữa, thiên hạ nếu không có Tô Tần, quả nhân cũng thấy...” Huệ Vương nhìn mông lung ra phía xa xăm, rồi từ từ khép mắt lại.

Ba người không ai nói gì nữa.

“Thử nghĩ kỹ đi,” không biết đã qua bao lâu, Huệ Vương mới lên tiếng phá tan bầu tĩnh lặng, “xem còn cách nào khác không.” Đoạn chậm chạp đứng dậy, “hai người về đi, quả nhân mệt rồi!”

Sư Lý Tật, công tử Hoa vòng tay từ biệt, rồi quay bước rời đi.

“Hoa đệ, hãy cầm lấy thứ này!” Đúng vào lúc hai người bước ra tới cửa, Huệ Vương lại gọi với theo.

Công tử Hoa ngoảnh đầu lại. Huệ Vương chỉ vào cấp báo mà Sư Lý Tật vừa đặt lại trên án, “quả nhân chưa đọc. Sự tình nước Ngụy, quả nhân không hề hay biết!”

Công tử Hoa lập tức hiểu ý, bèn quay vào cầm lấy cấp báo, vội vã lui ra.

Bước ra khỏi cổng cung, công tử Hoa kéo Sư Lý Tật lại, nói khẽ: “Tật huynh, hãy nói xem, nên làm thế nào đây? Giống như năm xưa, vương huynh không chịu đưa ra quyết định! Hoa đệ sẽ nghe theo Tật huynh!”

Sư Lý Tật nhún vai: “Hoa đệ nói gì thế? Ta đã đọc đâu, ta chẳng biết gì cả!” Rồi quay người, bước đi như gió.

Nhìn theo bóng Sư Lý Tật xa dần, công tử Hoa từ từ ngồi phịch xuống bậc tam cấp trước cổng cung.

Công tử Hoa khổ sở suy nghĩ suốt một đêm trường, vẫn không nghĩ ra cách nào khả dĩ hơn của Thiên Hương. Song công tử Hoa thực sự không muốn giết Tô Tần.

Bất luận thế nào, công tử Hoa đã từng cứu Tô Tần một mạng, cũng rất kính trọng nhân cách của Tô Tần. Có thể nói, Tô Tần và Công tử Hoa, vừa là đối thủ, lại vừa là bằng hữu. Hơn nữa, ngay cả vương huynh và huynh trưởng đều không muốn nhúng tay vào, thì sao hắn có thể ra tay?

Chuyện này tạm chưa nói đến, nếu để Trương Nghi biết được, sẽ thế nào đây? Trương Nghi sẽ căm hận hắn đến chết, thậm chí... Công tử Hoa không dám nghĩ tiếp nữa. Lần trước tới Nghiết Tang, công tử Hoa đã tận mắt chứng kiến tình nghĩa của các huynh đệ Quỷ Cốc, Tô Tần và Trương Nghi còn thân thiết hơn anh em ruột, cho dù sát phạt lẫn nhau...

Song họ sát phạt lẫn nhau, không phải là kiểu mưu sát ngấm ngầm thế này!

Bên tai công tử Hoa lại văng vẳng giọng nói của Huệ Vương: “Còn nữa, thiên hạ nếu không có Tô Tần, quả nhân cũng thấy...”

Phải, thiên hạ nếu không có Tô Tần, còn ý nghĩa gì nữa? Trương Nghi sẽ không còn đối thủ, vương huynh sẽ thấy vô vị, bản thân công tử Hoa, cũng thấy thiếu thiếu điều gì. Chọi dế hay đánh cờ, cũng phải có đối thủ xứng tầm mới thú vị. Đối với mấy anh em hắn, chỉ có người như Tô Tần mới là đối thủ, mới xứng là đối thủ.

Tuy nhiên...

Tới tận lúc gà gáy, trong đầu công tử Hoa vụt loé lên một tia sáng.

Công tử Hoa lập tức nhấc bút soạn thư hồi âm: “Hương Điêu, đã báo lên trên, trên đáp không biết chuyện Ngụy. Điêu đài không quyết đoán. Nếu không có kế hay, thì về tổ. Kim điêu.”

Đây là một mệnh lệnh hết sức mơ hồ.

Thiên Hương nhận được thư, đóng cửa trong phòng, nghiền ngẫm kỹ lưỡng từng câu chữ, dần dần sáng tỏ.

Đúng vậy, đại vương không đưa ra quyết đoán, chính là quyết đoán. Kim điêu không đưa ra quyết đoán, cũng chính là quyết đoán. Đặc biệt là câu cuối cùng, “nếu không có kế hay, thì về tổ”. Câu này đã quá rõ ràng, chỉ cần nàng có “kế hay”, thì cứ theo kế mà hành sự.

Thế nào là kế hay? Hay, nghĩa là gì? Hay, là một thứ rất mơ hồ, có hàng vạn cách giải thích. Nói cách khác, chỉ lệnh này đang nói với nàng, nàng có thể tùy nghi quyết định.

Tuy nhiên, tự ý quyết định là vô cùng mạo hiểm. Ý của nàng là trừ khử Tô Tần. Nhưng nếu trừ khử rồi, lỡ thiên hạ trở nên hỗn loạn, Tần Vương không thể an định thế cục, nàng rất có thể sẽ trở thành con dê thế tội. Nàng không sợ chết, nhưng nàng không thể chết như vậy. Còn lý tưởng của nàng, còn cuộc đời của nàng, và cả...

Đúng vậy, nàng cần tìm một “kế hay”, một kế vẹn toàn vừa hợp ý bề trên, vừa có thể thoát khỏi tình huống nguy cấp trước mắt.

Tình huống nguy cấp trước mắt, chỉ bởi một mình Tô Tần. Tô Tần không thể sống, song ý của đại vương, lại là không muốn làm lớn chuyện, cũng tức là Tô Tần không thể chết, hay chính là Tô Tần bắt buộc phải chết một cách âm thầm lặng lẽ, chí ít cũng không thể để thiên hạ ngờ rằng có liên quan tới Tần.

Tuy nhiên, phải làm thế nào mới có thể khiến Tô Tần chết trong lặng lẽ? Ám sát thì không thể. Nàng biết, bên cạnh Tô Tần không thiếu cao thủ Mặc gia. Những Mặc giả này không những bảo vệ Tô Tần, mà đến cả nàng cũng nằm trong tầm theo dõi của họ. Nếu không phải thế, sao họ lại bắt được tiểu điêu thân tín của nàng, biết rõ thân phận thực sự của nàng?

Chợt nghĩ không biết chừng ngay bên cạnh mình lại có người của Mặc giả, Thiên Hương không rét mà run. Không còn yên tâm với bất kỳ ai, Thiên Hương quyết định đích thân hành động

Hôm sau, để đề phòng Mặc giả, nhân lúc trời chưa tối hẳn, Thiên Hương cùng trợ thủ thân tín của mình cải trang thành cung nhân, ung dung đi qua cổng phụ của hậu hoa viên ra phố lớn, vòng vèo hồi lâu, đổi trang phục mấy lần, cuối cùng bước vào một hiệu thuốc treo biển “Hoa Sơn thần y, diệu thủ hồi xuân”.

Ra đón họ là một thầy lang tuổi trung niên. Thầy lang này nhà mấy đời sống trong núi Chung Nam, rất rành thảo dược, phương thuật và thuật cổ trùng, khá có danh tiếng. Về sau cả nhà được công tử Hoa “mời” vào Hắc Điêu đài, cha của ông ta chuyên bào chế kỳ dược, còn ông ta được đưa tới Đại Lương, danh nghĩa là mở hiệu thuốc khám bệnh, thực chất là trợ giúp Thiên Hương. Thuốc cho Ngụy Huệ Vương, chính là do ông ta bào chế, chỉ có điều Thiên Hương đã tự ý tăng gấp đôi liều lượng.

Thấy Thiên Hương đích thân tới, thầy lang bèn vái lạy. Thiên Hương đỡ thầy lang dậy, kể lại đầu đuôi chuyện nguy cấp cho ông ta nghe.

Thầy lang lấy ra một lọ nhỏ: “Chủ nhân có thể thử thứ này.”

Thiên Hương cầm lấy cái lọ, xem xét kỹ lưỡng.

“Lần trước sau khi xảy ra chuyện, gia phụ đã tuân theo lời dặn của kim điêu, đặc biệt chế ra phương thuốc này, làm từ mười hai loại rắn, trùng và hai mươi loại thảo mộc trong núi Chung Nam, vừa mới chế thành.”

“Kỳ ở chỗ nào?”

“Kỳ ở chỗ sau khi hoà vào trong nước, không màu không mùi, y như nước thường. Khi độc phát, cũng không cảm giác thấy, không có chuyện đứt gan quặn ruột, hộc máu miệng trào máu mũi như độc dược thông thường.”

“Không giống như Ngụy Vương chứ?” Thiên Hương lại hỏi.

“Không hề. Sắc da vẫn như bình thường, chỉ có điều toàn thân tê bại, không còn cảm giác, tri giác, không thể cử động, giống như đang ngủ say, cho tới chết vẫn không hề vật vã đau đớn. Hơn nữa, độc ở sâu bên trong, thầy lang bình thường không thể phát giác, sẽ cho rằng phát bệnh đột ngột mà chết.”

“Độc lực thế nào?”

“Cực mạnh. Gia phụ đã kiểm tra,” thầy lang chỉ vào cái lọ, “thứ trong lọ này, ba giọt đủ để giết trâu, hai giọt đủ để giết lừa, một giọt đủ để giết dê.”

“Người thì sao?”

“Một giọt là đủ.”

“Bao lâu thì chết?”

“Còn tùy liều lượng. Nếu người uống ba giọt, chết sau ba hơi thở. Uống hai giọt, cầm cự được ba ngày. Uống một giọt, cầm cự được nửa tháng.”

“Chế cho ta thuốc này, hai giọt.”

Thầy lang lấy ra một cái lọ không, nhỏ vào trong đó hai giọt, đổ thêm ít nước rồi nút chặt, giao cho Thiên Hương.

Thiên Hương viết một bức mật thư, bỏ cùng lọ thuốc vào trong túi gấm, giao cho tâm phúc mang đi, được vài hắc điêu đắc lực hộ tống, gấp rút tới Hàm Đan.

Tâm phúc của Thiên Hương chính là người phụ nữ đã dạy dỗ Thu Quả khi mới gia nhập Điêu đài, mấy năm qua chiến công hiển hách, giờ đã mang ưng bài. Nàng ta cải trang thành người bán kim chỉ, được Thu Quả dẫn vào trong phòng. Nàng ta trình ra ưng bài, giao túi gấm cho Thu Quả, bảo mở ra xem tại chỗ.

Thu Quả mở túi gấm, lấy ra một lọ nhỏ. Thu Quả không biết trong lọ đựng gì, vừa định mở nút thì bị người kia ngăn lại, nói rằng trong túi gấm vẫn còn thứ nữa. Thu Quả lại đưa ngón tay vào, lấy ra một mảnh lụa, bên trên là nét chữ của Thiên Hương.

Trong Điêu đài, Thiên Hương đã cùng ăn cùng ngủ với Thu Quả ba tháng trời, truyền thụ cho Thu Quả rất nhiều tuyệt kỹ, dẫu rằng đến giờ vẫn chưa có cơ hội thực thi. Song bất luận thế nào, Thiên Hương cũng là sư phụ của nàng, cũng là người mà nàng khâm phục nhất trong Điêu đài.

Đọc xong thư, Thu Quả ôm mặt khóc.

Người kia ho khẽ, sắc mặt nghiêm nghị.

Thu Quả dừng khóc, hỏi: “Chị ơi, thuốc này không lấy mạng chàng đấy chứ?”

“Không đâu!” Người kia an ủi, “chỉ để hắn ngủ một giấc dài mà thôi.”

“Sẽ ngủ bao lâu?”

“Mãi mãi.”

Thu Quả nhắm mắt lại, nước mắt ứa ra ròng ròng.

“Thu Quả!” Người kia nhìn chằm chằm vào nàng, giọng rất khẽ, song rành mạch nghiêm nghị, “còn nhớ lời thề hồi ngươi mới gia nhập Điêu đài chứ?”

Thu Quả gật đầu.

“Hãy nhắc lại xem!”

Thu Quả gạt lệ, rành rọt nhắc lại lời thề : “Mang áo điêu, cài lông đen, lắp răng sói, đội sao Tần! Tuyệt thất tình, dứt lục dục, cười mà chết, không sống thừa! Chín trời bát ngát, nơi ta vẫy vùng; mặt đất mênh mông, nơi ta săn bắn; nụ cười giấu dao, kim ẩn trong gấm; giàu nghèo không đổi, yêu ghét không kinh; bất động như chuông, động như gió lốc; không giết thì thôi, giết ắt đoạt mệnh; ban ngày sáng rỡ, đi giữa thị thành; dưới ánh trăng thanh, càng thêm rực rỡ; đầm rồng hang hổ, nhàn nhã dạo quanh; biển lửa ngùn ngụt, vẫn hát tung hoành; cha mẹ sinh ta, Tần Công nuôi ta; ta dùng thân mình, hiến tế Tần linh; Suốt một đời này, quyết không phản Tần; nếu như phản bội, kim điêu moi tim!”

“Thu Quả, đây là mệnh lệnh của kim điêu, đã tới lúc để ngươi đền ơn nước, đền ơn Tần Công rồi!” Người kia lấy lại cái lọ, giảng giải kỹ lưỡng cách dùng thuốc cho Thu Quả nghe, sau đó thiêu huỷ túi gấm và mật thư, để lại cho Thu Quả ít kim chỉ, rồi lớn tiếng từ biệt.

Khi Thu Quả tiễn nàng ta ra ngoài cổng, nàng ta khẽ nói: “Thu Quả, ta không đi xa đâu, ta vẫn ở trong thành Hàm Đan này, mong rằng trong vòng mười ngày, sẽ nhận được tin tốt lành...”

Đêm ấy, Thu Quả lại một đêm mất ngủ, thẫn thờ nhìn lọ thuốc.

Một bên là người đàn ông nàng quan tâm nhất trên cõi đời này, người nàng từng cứu mạng, người nàng xem như phu quân nhưng lại chỉ coi nàng như con gái, người nàng muốn yêu không được, muốn hận không xong, người nàng ngày càng yêu, ngày càng không thể rời xa, nhưng cũng ngày càng không dám đối mặt. Còn một bên là liều độc dược để giết chết người đàn ông đó.

Cái gì mà ngủ một giấc dài? Thu Quả hoàn toàn không tin, bởi họ đều đã được rèn tập kỹ lưỡng trong Hắc Điêu đài, họ đều là những người không hề sợ chết. Trên đời này, không ai độc địa bằng được họ. Chắc chắn là họ muốn Tô Tần phải chết. Họ hiểu rõ Thu Quả không muốn Tô Tần chết, nên mới nói tránh là ngủ một giấc dài. Giấc dài là thế nào? Chẳng phải là chết ư?

Đến khi gần sáng, Thu Quả tìm lấy một mảnh gỗ, gọt thành hình tròn như chiếc bánh, một mặt vẽ hình người lớn, một mặt vẽ hình người nhỏ, rồi nâng lên ngang ngực, quỳ xuống khấn rằng: “Trời xanh trên cao, Thu Quả sẽ tung mảnh gỗ này lên. Nếu đại nhân ở trên, thuốc này sẽ để Tô đại nhân uống. Nếu tiểu nhân ở trên, thuốc này tiểu nữ sẽ tự uống.”

Khấn xong, Thu Quả tung mảnh gỗ lên, rồi nắm chặt mắt lại.

Hồi lâu sau, Thu Quả mới dám mở mắt nhìn, là đại nhân phía trên.

Thu Quả ứa lệ, lại lầm rầm cầu khấn một hồi, rồi tung lên lần nữa.

Vẫn là đại nhân.

Tung liền ba lần, Thu Quả tự nhủ, hạ độc Tô Tần, đã là ý của trời xanh. Đã là ý trời, Thu Quả không còn lựa chọn nào nữa.

Việc đã tới nước này, Thu Quả thực sự đã hết cách. Chuyện sống chết của bản thân là chuyện nhỏ, sự hưng suy của quốc gia mới là chuyện lớn. Là một hắc điêu, nàng đã thề xả thân vì Tần.

Ý trời đã muốn Tô Tần phải chết, để tác thành cho nước Tần của nàng!

Tiễn Triệu Vương về rồi, Tô Tần vẫn canh cánh chuyện nước Ngụy, bèn quyết định tới Đại Lương trước, xử lý xong Thiên Hương, rồi sẽ rời Đại Lương tới Sính, quyết chiến với Trương Nghi ở Sở.

Trời vừa hửng sáng, Trâu Phi Đao và hai nô bộc chuẩn bị xe ngựa, Thu Quả sắp xếp hành lý cho Tô Tần như thường lệ. Hành lý đều là vật dụng cần thiết cho chuyến đi đường trường, những thứ này lần nào cũng do Thu Quả tự tay chuẩn bị.

Trước án của Thu Quả bày ba món đồ, một là ống tre Tô Tần vẫn dùng để uống nước, một là bình thuốc mà người tới từ Đại Lương đã giao cho nàng, một là chiếc bát sứ đựng đầy nước.

Thu Quả mở nút bình, đổ độc dược vào trong bát nước. Quả như người kia nói, thuốc này không màu, không vị, trong bát nước chỉ gợn lên chút lăn tăn. Thu Quả lấy đũa khuấy thuốc tan đều trong bát, rồi cẩn thận đổ bát nước vào trong ống tre, đầy quá nửa ống. Nàng lắc khẽ ống tre, nghe tiếng nước vang róc rách.

Thu Quả đặt ống tre xuống, nhìn trân trân hồi lâu, rồi nhắm nghiền mắt lại, nước mắt ứa ra giàn giụa.

Đột nhiên, Thu Quả hai mắt mở choàng, động tác cực kỳ dứt khoát, dốc hết nước trong ống tre ra bát, lại lấy một bát không, sớt bát nước thuốc làm đôi, một nửa đổ lại vào trong ống, một nửa tìm chiếc lọ rỗng đổ vào. Rồi nàng nút chặt cả lọ và ống tre lại.

Thu Quả áp ống tre lên trước ngực, thầm thề rằng: “Tô Tần quan nhân, Thu Quả chỉ có thể làm được đến thế thôi! Ngài hãy uống đi. Nếu ngài chết, nửa phần còn lại chính là của Thu Quả, Thu Quả sẽ đi cùng ngài. Còn nếu đúng như họ nói, ngài chỉ ngủ một giấc dài, Thu Quả thề cùng trời đất, bất kể quan nhân ngủ bao lâu, Thu Quả... đều sẽ ở bên ngài, hầu hạ cho ngài. Cho tới khi ngài không còn ăn nữa, không còn uống nữa, không còn thở nữa, Thu Quả mới uống lọ thuốc này để đi theo ngài!”

Thu Quả thề xong, vẫn quỳ đó hồi lâu, rồi lại lẩm nhẩm: “Tô quan nhân, ngài đừng uống, dứt khoát đừng uống! Dù có khát đến mấy, ngài cũng đừng uống... Thu Quả... cầu xin ngài...”

Lúc này, từ ngoài sân bỗng vọng vào tiếng trò chuyện của Tô Tần và Trâu Phi Đao. Thu Quả giật nảy mình, nhét vội ống tre vào trong hành lý, xách túi lên, mở cửa bước ra. Không thấy Trâu Phi Đao ở đó, đứng chờ trong sân là hai nô bộc.

Thu Quả bèn đặt hành lý lên xe.

Đúng lúc này, Tô Tần bước ra khỏi phòng ngủ, Trâu Phi Đao theo sau, hai tay xách hai rương lớn, đều là sách đọc hàng ngày của Tô Tần và những đồ đạc liên quan tới công vụ các nước.

Tô Tần vòng tay từ biệt những người ra tiễn.

Nhìn theo chiếc xe lộc cộc lăn bánh rời khỏi sân, Thu Quả bật khóc.

Xe ra khỏi cổng Nam thành Hàm Đan, đi chừng hai canh giờ, Tô Tần thấy khát, bèn lần tìm trong hành lý, lấy ra ống tre, thấy nhẹ bẫng. Lắc khẽ, thấy nước trong ống chỉ chừng non nửa, nghĩ là Thu Quả quên không thêm nước, khẽ cười một tiếng, ngửa cổ uống liền vài ngụm, rồi nhìn sang bên đường, hỏi: “Trâu huynh, còn cách Chương Thuỷ bao xa?”

“Trước mặt chính là cầu bắc qua sông, không tới hai dặm!” Trâu Phi Đao vung roi chỉ về một triền đê nhô cao.

“Hay quá!” Tô Tần đáp, rồi ngửa cổ uống hết chỗ nước trong ống tre, cất lại ống vào trong túi, “lúc nào qua Chương Thuỷ, hãy dừng chân nghỉ, múc lấy ít nước, Thu Quả quên thêm nước rồi!”

“Vâng!” Trâu Phi Đao đáp, rồi quát ngựa lên dốc.

Chưa đầy năm hơi thở, Tô Tần bỗng thấy trong bụng khó chịu, lưỡi tê dại, thở gấp, muốn bảo Trâu Phi Đao dừng xe, song không thể thốt nổi nên lời. Tiếp đó, hai mắt bỗng tối sầm, rồi ngã nghiêng xuống sàn xe.

Trâu Phi Đao đánh xe lên mặt đê, tới đầu cầu thì quát ngựa dừng lại, nhảy xuống cười nói: “Chúa công, tới cầu rồi, ống tre đâu, để tại hạ xuống múc nước!”

Không nghe Tô Tần đáp.

Trâu Phi Đao nhìn vào trong xe, thấy Tô Tần ngồi nghiêng, hai mắt nhắm nghiền, ngỡ là Tô Tần thiếp đi rồi nên không gọi nữa. Trâu Phi Đao tìm lấy ống tre, đi xuống dưới sông Chương Thuỷ, thấy nước sông trong veo, thì vốc vài vốc lên uống. Rồi lấy nước vào ống tre, súc rửa một hồi, sau đó mới múc đầy nước sạch, mau chóng leo lên đê.

“Chúa công, có nước rồi đây!” Trâu Phi Đao đưa ống tre cho Tô Tần.

Tô Tần vẫn không nói gì.

“Chúa công?” Trâu Phi Đao lúc này mới cảm thấy bất thường, khẽ lay Tô Tần, mới phát hiện ra hắn đã bất tỉnh nhân sự.

Trâu Phi Đao đưa tay trước mũi, vẫn còn hơi thở; lại bắt mạch, vẫn còn đập. Quan sát xung quanh, trên con đường cái, nhìn hút tầm mắt cũng chỉ có mỗi cỗ xe của mình; thấp thoáng thấy mấy khách bộ hành ở ngoài hai dặm và vài nông phu đang lúi húi trên cánh đồng tít phía xa. Ở gần, tuyệt không có một ai khả nghi.

Trâu Phi Đao cho rằng có lẽ Tô Tần mắc phải bệnh gấp, không nghĩ thêm gì nữa, lập tức quay đầu xe, theo đường cũ vội vã quay về.

A black and white logo Description automatically generated

LUẬN LINH NHỤC, TIÊN SINH GIẢI NGHICHÉM VE NGỌC, SI NỮ DỨT TÌNH

Trong khe Quỷ Cốc núi Vân Mộng, sớm hè trong mát.

Mặt trời đã mọc, song bị Đồng Sơn cao lớn che chắn chưa thấy hình bóng. Sơn cốc thâm u bởi thế vẫn chìm trong bóng đổ uy nghi của ngọn Đông Sơn.

Lũ chim dậy sớm hoặc nhảy nhót kiếm ăn, hoặc nô đùa lích chích, không con nào chịu lặng im. Song sơn cốc vẫn chìm trong tĩnh mịch.

Trong hang núi vẫn sáng đèn, ánh lửa không lớn, song đã cháy suốt một đêm, hắt sáng lên một tấm rèm vải che ở góc rẽ. Tấm rèm vải ngăn cách ngách hang với hang chính. Phía trong rèm vải, một chiếc giường gỗ kê sát vách đá bên trái, trên giường trải chiếu mềm, trên chiếu phủ một tấm chăn cũ kỹ song sạch sẽ. Người nằm dưới chăn, chính là Ngọc Thiền.

Ánh đèn yếu ớt xuyên qua rèm vải, hắt lên dung mạo kiểu diễm của Ngọc Thiền.

Đột nhiên, khuôn mặt Ngọc Thiền bỗng trở nên căng thẳng, đôi môi mấp máy, muốn mở miệng song không tài nào mở được; hai cánh tay nhúc nhích muốn giơ lên, nhưng cũng không giơ nổi, dường như có một sức ép khủng khiếp đang ập xuống người nàng, muốn giãy không được, muốn hét không xong.

Vầng trán Ngọc Thiền đã rịn mồ hôi, tay chân bắt đầu run lên dữ dội, mồ hôi đọng thành giọt lớn, mí mắt cũng giật lên nhay nháy.

Cuối cùng, Ngọc Thiền cũng bật được thành tiếng: “Mau... mau lên... A!”

Trong tiếng hét gấp gáp, Ngọc Thiền ngồi bật dậy, thở hổn hển, hai mắt hớt hải nhìn khắp xung quanh.

Từ trong hang vọng lại tiếng bước chân vội vã. Rồi một người chạy vào, vén mở rèm vải, gần như đâm bổ vào trong hang, gọi giật: “Chị Thiền Nhi!”

“Sư... sư huynh...” Ngọc Thiền vẫn chưa hết hổn hển. Tiểu đồng ngồi xuống, kéo tay nàng, nắm chặt. Ngọc Thiền lúc này mới từ từ trấn tĩnh lại.

Lại có tiếng bước chân lại gần, rồi Quỷ Cốc Tử ung dung bước vào, đứng bên tấm rèm.

“Tiên sinh...” Ngọc Thiền đổi ngồi thành quỳ, vái lạy.

Quỷ Cốc Tử nhìn nàng một chốc rồi nói: “Các con hãy đi theo ta!” Rồi bước ra ngoài cửa hang.

Tiểu đồng kéo Ngọc Thiền dậy, đi theo Quỷ Cốc Tử, ra khỏi cửa hang, bước vào thảo đường. Lúc này, trời đã sáng hơn, ánh nắng chiếu qua hai ô cửa sổ vào phòng, sáng bừng cả thảo đường.

Quỷ Cốc Tử ngồi vào chỗ. Tiểu đồng, Ngọc Thiền đưa mắt nhìn nhau, rồi cũng tự ngồi xuống.

“Thiền Nhi,” Quỷ Cốc Tử nhìn sang Ngọc Thiền, “nói xem, đã nhìn thấy gì?”

“Rắn ạ!” Ngọc Thiền đã trấn tĩnh trở lại, khẽ đáp.

“Bao nhiêu con?”

“Mười hai con.”

“Là những loài nào?”

“Con không rõ, chỉ biết đen có, vằn vện có, xanh có, tím có, trắng có, đỏ cũng có...”

“Còn gì nữa?” Quỷ Cốc Tử nhắm mắt lại, hồi lâu mới lên tiếng hỏi.

“Còn có những cây cỏ kỳ lạ, con chưa nhìn thấy bao giờ.”

“Chúng làm gì?”

“Chúng đều đang truy sát... Tô Tần!”

Thảo đường chìm trong im lặng.

“Cây cối cũng biết truy sát ư?” Tiểu đồng hỏi.

“Phải! Bầy rắn, và cả những cỏ cây quái dị, tất cả vây quanh Tô Tần. Tô Tần không thể thoát ra, bị chúng quấn chặt lấy...” Trước mắt Ngọc Thiền lại hiện lên cảnh tượng trong mơ, nước mắt bất giác ứa ra.

“Chị Thiền Nhi,” tiểu đồng cười hỏi, “hẳn là nhớ Tô sư đệ quá rồi?”

“Sư huynh nói gì vậy...” Ngọc Thiền thoáng đỏ mặt, giận dỗi lườm tiểu đồng một cái, đang định trách móc, tiểu đồng khẽ suỵt một tiếng, đưa mắt về phía Quỷ Cốc Tử, rồi cũng thu thần, chìm vào suy nghĩ.

Quỷ Cốc Tử ngồi bất động, hai mắt khép chặt, như đang thần du tận cõi nào, song đôi mày chau tít.

Ngọc Thiền hiểu rằng Quỷ Cốc Tử đã chìm trong mặc tưởng, thì ngồi ngay ngắn lại, cũng học theo tiên sinh, ngồi im suy ngẫm.

Trong phủ tướng quốc tại Hàm Đan, Tô Tần nằm im trên giường trong buồng ngủ, sắc mặt lúc đỏ, lúc trắng, miệng hé mở, hơi thở yếu ớt.

Vài Mặc giả vây quanh giường, Khuất Tương Tử vừa vội vã tới nơi, đang bắt mạch cho Tô Tần. Ngoài phòng khách, vài ngự y đang ngồi, nhìn vẻ mệt mỏi của họ, biết rằng vừa trải qua một đêm không ngủ.

Trâu Phi Đao lo lắng dán mắt vào tay Khuất Tương Tử.

Thu Quả quỳ ở bên giường, hai tay níu chặt lấy vạt áo Tô Tần rủ bên mép giường, khóc lóc thảm thiết, đôi vai nhỏ run lên lẩy bẩy.

Khuất Tương Tử dừng bắt mạch, lật mở mí mắt Tô Tần nhìn một hồi, còn muốn cậy miệng xem lưỡi, song không tài nào làm được. Môi Tô Tần mím rất chặt, như thể đang ra sức cắn lấy thứ gì đó.

Khuất Tương Tử lại bắt mạch một hồi nữa mới dừng lại, từ từ bước ra ngoài, ngồi xuống chiếu trong phòng khách. Mấy Mặc giả cũng theo ra.

Trâu Phi Đao cũng bước theo sau, khẽ giọng hỏi: “Sư phụ, thế nào rồi?”

Khuất Tương Tử lắc đầu.

“Sư phụ?” Trâu Phi Đao hốt hoảng.

“Lạ thật!” Khuất Tương Tử không trả lời Trâu Phi Đao, mà nhìn sang mấy Mặc giả bên cạnh, “lão hủ đã bắt không biết bao nhiêu loại mạch, nhưng chưa bắt phải mạch thế này bao giờ, không phải là mạch chết, cũng không phải là mạch sống.” Nhìn sang Trâu Phi Đao, “Tô đại nhân trước khi phát bệnh, có triệu chứng gì chăng?”

“Không có.” Trâu Phi Đao đáp lời, “sáng sớm nay vẫn rất bình thường. Dọc đường cũng không có gì khác lạ. Xe gần tới Chương Thuỷ, chúa công mới gọi đệ tử, hỏi đã sắp tới sông chưa. Đệ tử trả lời, Chương Thuỷ ở ngay trước mặt. Chúa công mới nói, tới đó thì dừng xe, lấy nước uống. Khi tới Chương Thuỳ, đệ tử dừng xe, thấy chúa công ngồi nghiêng trong xe, đệ tử cứ tưởng chúa công ngủ rồi, mới cầm ống tre xuống dưới chân câu múc nước. Khi quay về xe, lại gọi chúa công, vẫn không thấy đáp, nhìn kỹ, thì chúa công đã hôn mê rồi. Đệ tử kinh hãi rụng rời, sờ vào mũi thấy vẫn còn hơi thở, lập tức quay lại đây ngay...”

“Khi Tô đại nhân gọi ngươi, đã uống nước chưa?” Khuất Tương Tử như đã nhận thấy điều gì.

“Ồ...” Trâu Phi Đao ngẫm nghĩ một hồi, “đệ tử không biết, là xe tứ mã, ngăn cách bởi mui xe, lúc đó đang chạy nhanh, tiếng vó ngựa, tiếng bánh xe rất ồn, chúa công có uống nước cũng không nghe thấy được.”

“Mang Ống tre đựng nước của Tô đại nhân lại đây.”

Trâu Phi Đao lấy ống tre lại, trong ống vẫn đựng đầy nước. Khuất Tương Tử xem kỹ ống tre một lát, rồi nói với Trâu Phi Đao: “Bắt một con gà lại đây!”

Trâu Phi Đao đi ra, lát sau quay trở lại, xách theo một con gà. Khuất Tương Tử cậy mỏ gà, đổ nước vào, giữ một lúc rồi thả con gà ra. Con gà kinh hãi, vỗ cánh phành phạch chạy mất.

Khuất Tương Tử theo sau con gà một lúc, thấy nó vẫn chạy nhảy bình thường, thì chau mày nghĩ ngợi.

“Sư phụ,” Trâu Phi Đao dường như đã đoán ra, “lúc đó... đệ tử thấy bên ngoài ống tre dính bẩn, đã ngâm xuống Chương Thuỷ súc rửa kỹ lưỡng rồi!”

“Than ôi,” Khuất Tương Tử thở dài, giao ống tre cho một Mặc giả, “cất đi.” Đoạn quay sang các Mặc giả khác, “hãy kiểm tra trong xe, và tất cả những đồ vật có ở trên xe!”

Trong gian thảo đường núi Vân Mộng, Quỷ Cốc Tử thần du quay về, thở ra một tiếng.

Nghe thấy tiếng thở, tiểu đồng và Ngọc Thiền cũng dừng suy tư, nhìn sang sư phụ. Quỷ Cốc Tử sắc mặt đã dịu lại nhiều, thậm chí còn mỉm cười, nhìn sang tiểu đồng, cất giọng ôn tồn: “Tiểu tử, đã vào trong núi bao năm rồi?”

“Hồi bẩm tiên sinh, tiểu đồng không nhớ nữa.” Tiểu đồng cười đáp, “chỉ cảm thấy, hình như đã không còn là một tiểu tử nữa rồi!”

Quỷ Cốc Tử bật cười sảng khoái, nhìn tiểu đồng chăm chú, rồi gật gù: “Phải, phải, nhìn vóc dáng thế này, lão hủ nên gọi ngươi là đại tử mới phải.”

“Tiểu tử tức là tiểu tử, không dám xưng là đại tử!” Tiểu đồng vòng tay.

“Ồ, ngươi cảm thấy không còn là tiểu tử, nhưng lại không dám xưng đại tử, bảo lão hủ gọi ngươi thế nào đây?”

“Tiên sinh muốn gọi thế nào thì gọi, muốn kêu thế nào thì kêu, bất luận là gì, chỉ cần tiên sinh gọi một tiếng, tiểu tử này sẽ tới!” Tiểu đồng nháy mắt tinh nghịch.

“Được được được,” Quỷ Cốc Tử đáp liền ba tiếng, “tiểu tử được lắm, chỉ với một câu nói này, ngươi đã có thể xuất sơn được rồi!”

“Tiên sinh?” Tiểu đồng nụ cười vụt tắt, ngỡ ngàng nhìn sững vào Quỷ Cốc Tử, rồi lại nhìn sang Ngọc Thiền.

Quỷ Cốc Tử lại cười vài tiếng: “Gọi tiểu tử e là không thoả đáng cho lắm. Về sau, lão hủ sẽ gọi ngươi là đại tử.”

“Ồ... đại tử?” Tiểu đồng le lưỡi.

“Thiền Nhi,” Quỷ Cốc Tử nhìn sang Ngọc Thiền, “còn con, đã vào núi bao năm rồi?”

“Thiền Nhi cũng không nhớ,” Ngọc Thiền vòng tay, “chỉ biết đông qua hè tới, sớm tối luân phiên.”

“Nói hay lắm,” Quỷ Cốc Tử lấy làm cảm khái, khẽ nhắc lại, “đông qua hè tới, sớm tối luân phiên.” Rồi nhìn hai người một chốc, “lão hủ gọi hai con tới đây, là muốn hỏi vài câu.”

“Đệ tử cung kính lắng nghe!” Ngọc Thiền, tiểu đồng đổi ngồi thành quỳ, khấu đầu sát đất.

“Mau ngồi dậy!” Quỷ Cốc Tử phẩy tay, “hai con cứ quỳ thế, bảo lão hủ biết hỏi thế nào?”

Ngọc Thiền, tiểu đồng đưa mắt nhìn nhau, đoạn cùng mỉm cười ngồi dậy.

“Nếu lão hủ nhớ không nhầm,” Quỷ Cốc Tử nhìn sang Ngọc Thiền, “Thiền Nhi nhập môn, ý muốn nhập đạo từ y.”

“Vâng, thưa tiên sinh, đệ tử lập chí, nhập đạo từ y.”

“Hãy thử nói về chữ ‘y’ này xem?” Quỷ Cốc Tử giọng ôn tồn.

Ngọc Thiền ngơ ngác.

Câu hỏi này xem ra rất giản đơn, song thực chất lại vô cùng rộng lớn, nhất thời khó mà trả lời ngay được.

“Hãy giải thích chữ này.” Quỷ Cốc Tử tươi cười nói.

“Theo đệ tử biết, chữ y có hai cách viết,” Ngọc Thiền vạch ra hai chữ y xuống đất, một chữ đơn và một chữ phức. Chữ y đơn(1) gồm chữ phương nghĩa là cái sọt và chữ thỉ nghĩa là mũi tên, tức mũi tên để trong sọt, hay cái hộp đựng tên. Chữ y phức(2) gồm chữ y đơn, chữ thù, chữ dậu. Thù có nghĩa là vũ khí, dậu có nghĩa là rượu. Nhìn vào mặt chữ, có thể hiểu, chữ y đơn là cứu chữa người bị thương bởi tên bắn; chữ y phức là phương pháp cứu chữa cụ thể, tức dùng rượu rửa sạch, rồi lại dùng những vũ khí như mũi dao để chữa trị cho người bị thương.” Nói rồi khẽ cười, vòng tay, “đệ tử chỉ nhìn hình chữ đoán nghĩa mà thôi!”

“Còn một cách viết nữa,” Quỷ Cốc Tử khẽ gật đầu, cười nói, “phía dưới không phải chữ tửu mà là chữ vu, tức vu thuật(3) .”

(1)      Chữ y viết theo lối giản thể, trong chữ Hán là ■, gồm bộ phương ■ bên ngoài có nghĩa là cái sọt, và chữ thỉ ■ bên trong có nghĩa là mũi tên.

(2) Chữ y viết theo lối phồn thể, trong chữ Hán là ■, gồm chữ y ■ giản thể , bộ thù ■ có nghĩa là vũ khí, bộ dậu ■ nghĩa cổ có nghĩa là rượu.

(3)      Một dị thể của chữ y, trong chữ Hán là ■, phần bên dưới là chữ vu ■., tức vu thuật, phép thuật của thầy mo, thầy phù thuỷ.

“Dùng vu thuật trị bệnh ư?”

“Y không trị bệnh, chỉ trị thương.”

“Phải rồi, phải rồi,” Ngọc Thiền gật đầu, “bệnh ở nội, thương ở ngoại.”

“Con nói bệnh ở nội, vậy nội là nội ở đâu?” Quỷ Cốc Tử vẫn mỉm cười.

“Nội ở...” Ngọc Thiền đắn đo chốc lát, nói tiếp, “ở trong da thịt, cũng chính là, bệnh từ trong mà ra. Ví như trong gan, trong thịt, trong xương khớp.”

Quỷ Cốc Tử bật cười vài tiếng: “Xem ra, Thiền Nhi chỉ có thể trị vết thương bên ngoài mà thôi.”

“Tiên sinh?” Ngọc Thiền mở to mắt hỏi.

“Được!” Quỷ Cốc Tử thu lại nụ cười, “con đã muốn nhập đạo từ y, vậy lão hủ lại hỏi con, nói vậy nghĩa là gì?”

Ngọc Thiền trầm ngâm suy nghĩ rất lâu. Nàng hiểu, cách trả lời tầm thường sẽ không thể ứng đối với tiên sinh.

“Con vẫn có thể dùng cách chiết tự(1).”

“Nếu là chiết tự đơn thuần,” Ngọc Thiền vạch ra một chữ “đạo” xuống đất, “hồi còn ở trong cung, đệ tử từng hỏi sư phụ, nghe sư phụ giảng, chữ này giải thích ra rất thú vị.” Ngọc Thiền dừng lại chốc lát như hồi tưởng, “chữ này gồm bộ xước và bộ thủ(2). Xước, là ba đi ba dừng, thủ, là lúc đầu, chữ này nghĩa là người bộ hành sau khi xuất phát, phải qua ba lần đi ba lần dừng mới tới được đích.” Nàng chợt cười, “đương nhiên, đây dứt khoát không phải là đạo của tiên thánh. Đạo của tiên thánh, kính xin tiên sinh chỉ dạy cho.”

(1)Cách giải nghĩa chữ Hán bằng cách tách thành từng phần nhỏ để giải thích.(2) Chữđạo■ trong chữ Hán gồm bộ xước ■ bộ thủ ■.

“Nói hay đấy,” Quỷ Cốc Tử gật đầu mỉm cười, “con vào sơn cốc này, là muốn nhập đạo từ y. Thời vận xoay chuyển, tập tục biến hoá, y ngày nay đã không chỉ chuyên trị vết thương do tên bắn nữa, mà còn trị cả nội bệnh. Đạo ngày nay đã không còn chỉ người đi trên đường nữa, mà còn chỉ pháp lý của trời đất. Mập mờ thấp thoáng, đạo ở trong đó; mập mờ thấp thoáng, lý ở trong đó. Con nhìn thấy trời, nhìn thấy đất, nhưng lại không nhìn thấy cái lý. Song đạo của trời đất không đâu không có, lý của trời đất không đâu không tồn tại, phải không?”

“Vâng, thưa tiên sinh.” Ngọc Thiền đáp lời, “đệ tử đã có điều lĩnh ngộ.”

“Đã lĩnh ngộ được gì?”

“Đạo của y.”

“Ồ?” Quỷ Cốc Tử ánh mắt khích lệ.

“Đạo của y, không ở trị thương, không ở đoán bệnh, mà là ở phá giải khúc mắc về thương, về bệnh, cảm ngộ cái lý của sinh mệnh, rồi lại từ cái lý của sinh mệnh cảm thụ đạo của sinh mệnh, từ đó cảm thụ đại đạo của trời đất...”

Quỷ Cốc Tử nở một nụ cười, khẽ gật đầu.

“Tiên sinh,” Ngọc Thiền, giọng nói đã tự tin hơn, song sắc mặt lại lộ vẻ râu rĩ, “những năm qua, đệ tử thường cùng sư huynh tìm hiểu về thương bệnh, mày mò châm cứu thuốc thang, nghiền ngẫm về kinh lạc, lĩnh ngộ cái lý của sinh mệnh, y thuật tuy có tiến bộ, song vẫn cảm thấy còn một bức màn ngăn cách. Đệ tử giống như đang đi tìm một con sóc trong một khu rừng rậm vô biên, có lúc, còn chưa thấy bóng dáng con sóc đó đâu, bản thân đã lạc đường, chạy bừa tứ phía, hoang mang không biết hướng nào với hướng nào. Đôi lúc, đệ tử dường như đã nhìn thấy nó, nhưng khi tiến lại gần, vừa thò tay ra định bắt, thì thoắt cái lại không thấy nó đâu nữa. Nỗi buồn bực của đệ tử, dám mong được tiên sinh tháo gỡ!” Nói rồi vòng tay về phía Quỷ Cốc Tử.

“Con đã đi vào chỗ núi sâu rừng thẳm rồi.” Quỷ Cốc Tử nhìn sang tiểu đồng, “đại tử, nếu lạc đường trong núi sâu rừng thẳm, con sẽ làm gì?”

“Con leo lên cao.” Tiểu đồng đáp.

Quỷ Cốc Tử quay sang Ngọc Thiền.

“Xin tiên sinh chỉ cho đệ tử đường leo lên cao!” Ngọc Thiền lại vòng tay.

Quỷ Cốc Tử bật cười: “Đường ở dưới chân con. Con không cần nhọc sức, chỉ vài ba bước nhảy, sẽ lên tới đỉnh cao.”

“Tiên sinh, phải lên bằng cách nào?”

“Lão hủ hỏi con, lúc này, con ở chỗ nào?” Quỷ Cốc Tử dừng một chốc, lại nói thêm, “hay nói cách khác, con lạc đường ở chỗ nào?”

“Ở gan, mọc một cái u.”

“Cớ sao gan lại mọc u?”

“Can khí ứ trệ.”

“Cớ sao can khí lại ứ trệ?”

“Thận khí không thông.”

“Hãy suy tiếp.”

“Thận khí không thông, bởi phế khí không đủ; phế khí không đủ; bởi tì khí không tốt; tì khí không tốt, bởi tâm khí quá thịnh...”

Quỷ Cốc Tử phá lên cười lớn: “Nếu con suy tiếp, sẽ là tâm khí quá thịnh là bởi can khí ứ trệ đấy!”

“Vâng, vâng,” Ngọc Thiền đáp, “khiến đệ tử buồn phiền, chính là điều này, quanh đi quẩn lại, vẫn ở trong vòng tròn đó, không thể thoát ra được!”

“Lão hủ hỏi con, khí này khí kia mà con vừa nói, là từ đâu ra?”

Ngọc Thiền ngẫm nghĩ một hồi: “Khí từ mũi vào.”

‘Trong mũi sinh khí ư?”

“Mũi hít vào khí của trời, khí của trời vào phổi, sinh ra phế khí; phế khí vào thận, sinh ra thận khí; thận khí vào gan, sinh ra can khí; can khí vào tim, sinh ra tâm khí; tâm khí vào tì, sinh ra tì khí; tì khí vào phổi, sinh...” Ngọc Thiền bỗng im bặt.

“Điều con vừa nói, chính là hít và thở ư?”

“Là ngũ khí quay ngược trở lại ư?”

“Quay ngược trở lại, chính là khí ngược.”

“Thế... tì khí vào phổi, nếu không quay ngược trở lại, thì... thì cứ thế đi ra ngoài ư?”

Quỷ Cốc Tử bật cười: “Không đi ra, lẽ nào phải nín hơi khư khư đến chết?”

“Ý tiên sinh là,” Ngọc Thiền như đã hiểu ra, “hít thở chính là ngũ khí của trời đi qua mũi, di chuyển một vòng trong cơ thể người, rồi lại đi ra?”

Quỷ Cốc Tử lại cười: “Con nhảy lên được rồi đấy thôi?”

Ngọc Thiền hít vào một hơi dài, chìm vào suy nghĩ.

“Đại tử, và cả Thiền Nhi,” Quỷ Cốc Tử hiền hoà nhìn hai đệ tử, tươi cười giảng giải, “muốn biết bệnh tật, cần biết sinh mệnh. Thế nào là sinh mệnh? Sinh là vật sống trên đất, mệnh là mệnh lệnh của trời. Vậy thì đã biết thế nào là sinh mệnh rồi chứ?”

“Theo như lời tiên sinh, thì sinh mệnh chính là toàn bộ vật sống do mệnh của trời sinh ra.” Ngọc Thiền đáp.

“Sinh mệnh là sinh linh trời đất tiếp tục hoá sinh thêm lần nữa.” Quỷ Cốc Tử giải thích.

“Hoá sinh thế nào kia?” Ngọc Thiền không muốn bỏ sót một chút hồ nghi.

“Hoá sinh từ mệnh.” Quỷ Cốc Tử lại vuốt râu đáp, “vạn vật đều sinh ra từ một. Nếu muốn hiểu quá trình sinh hoá này, cần phải bắt đầu từ một. Một là khí, vạn vật đều sinh ra từ khí. Trời người hợp nhất, cái để hợp ấy chính là khí. Bốn mùa tám tiết, tiết là khí. Hít vào thở ra, đều là khí cả. Khí hoá thành hai khí âm dương, là hai. Hai khí âm dương xung nhau, sinh ra hoà khí, gọi là ba. Khí hoà hợp thì vật sinh ra.”

“Vật là hình thể, hình thể là âm. Hoà khí thành hình, phải chăng muốn nói hoà khí cũng giống như khí âm?” Ngọc Thiền thắc mắc.

“Không hề giống,” Quỷ Cốc Tử đáp, “hoà khí là khí âm và khí dương xung nhau, hoà trộn với nhau, có thể gọi hoà khí là ba, tức là trong thể của nó bao gồm cả khí âm và khí dương. Khí âm lắng đọng, hình thành hình thể, khí dương bay lên, hình thành tinh linh, hình thể và tinh linh tiếp nhận mệnh trời khác nhau, hợp thành một thể, gọi là sinh mệnh.”

“Có nghĩa là,” Ngọc Thiền ngẫm nghĩ một chốc, rồi ngẩng đầu lên tiếp lời, “sinh mệnh có hai thể, một là hình thể, một là linh thể. Hình thể hoá sinh từ khí âm, linh thể hoá sinh từ khí dương.”

“Phải!” Quỷ Cốc Tử gật đầu, “như ở người, chính là do hai thể kết hợp thành, một là thể của hình, một là thể của khí. Thể của hình là do khí âm hoá sinh, gọi là nhục thể. Thể của khí là do khí dương hoá sinh, gọi là linh thể. Thể của hình có thể nhìn thấy, nên gọi là hình tượng. Thể của khí không thể nhìn thấy, nên gọi là tàng tượng...”

“Tiên sinh!” Ngọc Thiền lại hấp tấp cắt ngang, “Đệ tử mơ hồ, chính là ở chỗ này, tiên sinh có thể giảng giải về tàng tượng được chăng?”

“Muốn giải thích về tàng tượng, cần phải hiểu sinh tử.”

“Sinh tử?” Ngọc Thiền mở to mắt ngỡ ngàng.

“Phải!” Quỷ Cốc Tử giải thích, “không biết sống, sẽ không biết chết. Không biết chết, cũng sẽ không biết sống. Đời người là một quá trình từ đầu tới cuối, từ sống tới chết. Trình tự này bắt đầu từ không, kết thúc ở không, đây gọi là bắt nguồn từ cát bụi, lại trở về cát bụi. Khởi đầu của sinh mệnh, cha mang tinh của khí dương, mẹ mang tinh của khí âm, cha mẹ giao hợp, hai tinh cảm thụ mệnh trời, kết thành một thể, thai nghén nên sinh mệnh mới. Sinh mệnh mới này, từ lúc hình thành đã mang sẵn hai thể âm dương, một là nhục thể, một là linh thể. Hai thể hài hoà, khiến sinh mệnh được thai nghén, lớn lên, trưởng thành, chín muồi, già yếu, rồi tới một ngày, hai thể không còn hài hoà nữa, linh thể rời khỏi nhục thể, tách rời khỏi nhau, và thế là, sinh mệnh này sẽ không còn nữa. Nhục thể phân rã, trở về cát bụi, hoà vào khí âm của đại địa; linh khí bay lên, về với hư không, hoà vào khí dương của trời đất.”

“Nếu nói vậy,” Ngọc Thiền chớp mắt, “thể âm và thể dương, hay nhục thể và linh thể, hoà hợp thì sống, tách rời thì chết, có phải vậy chăng?”

“Đúng vậy.” Quỷ Cốc Tử đáp.

“Sống, là hai tinh hoà hợp; chết, là hai tinh phần ly, vậy thể âm và thể dương phải chăng là vừa ly lại vừa hợp?”

“Không phải.” Quỷ Cốc Tử lắc đầu, “hai thể âm dương, hợp thì sống, ly thì chết. Từ lúc bắt đầu hoà hợp cho đến khi kết thúc phân ly, hai thể từ không tới có, từ sinh tới trưởng, từ trưởng tới thành, từ thành tới suy, từ suy tới kiệt, kiệt thì tử. Thể dương là nguyên khí tiên thiên, thể âm là thai nghén hậu thiên, ở con người, sự hợp và ly của hai thể có thể chia thành ba kiểu. Thứ nhất cùng sống cùng chết, thứ hai là dương mất âm còn, thứ ba là âm mất dương còn.”

“Thế nào là cùng sinh cùng tử?”

“Dương của tiên thiên, trời phú cho tuổi thọ một trăm hai mươi năm, gọi là tuổi trời. Âm của hậu thiên, trời phú cho tuổi thọ cũng một trăm hai mươi năm. Cùng sống cùng chết nghĩa là cả hai đều sống hết tuổi trời, sống chết bình thường.”

“Vậy dương mất âm còn là thế nào?”

“Dương mất nghĩa là dương của tiên thiên đã kiệt quệ, nhưng nhờ người ấy tu luyện đúng phép, nên âm của hậu thiên được nuôi dưỡng đầy đủ, vẫn sống được đến trăm hai mươi tuổi, nên gọi là dương mất âm còn. Thậm chí dương phân ly nhiều năm mà nhục thể vẫn không tan rã, vẫn tươi tắn mềm mại.”

“Thiền Nhi hiểu rồi,” Ngọc Thiền nói tiếp, “còn âm mất dương còn, chính là nhục thể không được nuôi dưỡng đúng cách, chưa hết tuổi trời đã kiệt quệ, trong khi dương thể vẫn còn.”

“Phải!” Quỷ Cốc Tử gật đầu, “Phàm là sinh mệnh, cùng sống cùng chết là cực hiếm hoi, dương mất âm còn ít ỏi, đa phẩn là âm mất dương còn. Vì sao lại thế? Vì không biết tiếc mệnh trời. Hoặc quá lao lực, hoặc quá tham dục, hoặc ăn uống thái quá, hoặc đói khát thái quá, hoặc không hiểu mệnh trời mà làm sai cách, hoặc chịu ngoại lực mà chết yểu, hoặc âm dương bất hoà mà tự huỷ, hoặc tới bước đường cùng mà tự sát...”

“Nếu nhục thể mất đi, thể dương sẽ không còn chỗ dựa, phải chăng sẽ trở thành du hồn?” Ngọc Thiền hỏi.

“Có thể nói vậy. Giống như thể âm, thể dương cũng rất phức tạp, thống soái của thể dương gọi là Nguyên thần. Thể âm phân rã, trở về cát bụi, nếu Nguyên thần không còn chỗ dựa, sẽ trở thành du hồn.”

“Vậy thì nhập định thần du, chính là nguyên thần rời thể xác ư?”

“Cũng có thể nói là vậy.” Quỷ Cốc Tử đáp, “người qua tu luyện, có thể điều khiển Nguyên thần rời thể xác, vân du bốn phương, không bị cản trở, nhìn thấy những điều mà người thường không thể nhìn thấy.”

“Thảo nào tiên sinh chân không rời sơn cốc, mà chuyện thiên hạ đều rõ như lòng bàn tay!”

“Hai con nếu dốc lòng tĩnh tu, cũng sẽ thành tựu được thuật này.”

“Tạ ơn tiên sinh khích lệ!” Ngọc Thiền vòng tay nói.

Quỷ Cốc Tử lại giảng tiếp: “Đại khí của vũ trụ, qua mũi vào phổi, tinh của nó hoá sinh ra phế khí, nuôi dưỡng cho phách; phách khí vào thận, tinh của nó hoá sinh ra thận khí, nuôi dưỡng cho chí; chí khí vào gan, tinh của nó hoá sinh ra can khí, nuôi dưỡng cho hồn; hồn khí vào tim, tinh của nó hoá sinh ra tâm khí, nuôi dưỡng cho thân; thần khí vào tì, tinh của nó hoá sinh ra tì khí, nuôi dưỡng cho ý. Thần, hồn, phách, chí, ý được nuôi dưỡng bởi năm loại tinh khí vũ trụ do ngũ tạng hoá sinh ra, gọi là các thần ngũ tạng. Ngũ tạng có hình, nên gọi là ngũ tạng; ngũ thần vô hình, nên gọi là ngũ tàng.” Quỷ Cốc Tử dừng lại, thong thả vuốt râu.

“Vâng, tiên sinh, xin hãy nói tiếp.” Ngọc Thiền giục.

Quỷ Cốc Tử bật cười, rồi nói: “Tinh khí ngũ tàng, vận hành qua kinh lạc, tới chỗ này,” vỗ vào đầu não, “chính là nơi con vừa xoa đó, thì hoá sinh thành suy nghĩ, tình chí, sản sinh ra ngũ tình vui, giận, buồn, lo, sợ.”

“Suy nghĩ, tình chí?” Ngọc Thiền khẽ nhắc lại.

“Các thần ngũ tàng, lấy tâm tạng làm chủ, bốn tạng còn lại, đều chịu sự điều khiển của tâm. Chí là hướng của tâm, tư là suy nghĩ của tâm, thần là chỗ đến của tâm, đức là để chế tâm, bốn thứ này đều sinh ra từ tâm, nên mới gọi là bốn thuật của tâm.” Quỷ Cốc Tử dừng lại một chốc, lại nói tiếp, “còn như bốn thuật không ở trong tim mà ở trong đầu, bởi chúng là do tâm phái sinh ra, tâm sẽ sai khiến chúng thực thi sứ mệnh.”

“Sứ mệnh gì kia?” “Điều khiển nhục thể.”

“Ồ?” Ngọc Thiền mở to mắt, “Nhục thể không phải do thần ngũ tàng điều khiển ư?”

“Không phải,” Quỷ Cốc Tử đáp, “nhục thể là do đầu não điều khiển. Đầu não sinh ra thể ý thức, thể ý thức sẽ điều khiển hành vi của nhục thể.”

“Thế... còn cần thần ngũ tàng làm gì?”

Quỷ Cốc Tử vuốt râu, phá lên cười lớn: “Thần ngũ tàng ra lệnh cho đầu não!” Quỷ Cốc Tử thong thả giải thích, “như con đã biết, con người chỉ có hai thể, một là nhục thể và một là linh thể. Linh thể và nhục thể độc lập với nhau, không thể giao tiếp, thế nên cần có một thứ để nối chúng với nhau, đó chính là não, hay là thể ý thức. Linh thể muốn làm gì, cần phải truyền lệnh cho thể ý thức, thể ý thức sẽ truyền lệnh lại cho nhục thể, để rồi nhục thể căn cứ vào mệnh lệnh do thể ý thức truyền đạt để hành động.”

“Ồ?” Ngọc Thiền hai mắt càng mở tròn, “vì sao linh thể không trực tiếp truyền lệnh cho nhục thể?”

“Bởi lẽ linh thể là cái thể đầu tiên của tiên thiên, có trực giác mà không có cảm giác, mọi cơ quan cảm giác đều nối liền với não, nên đa phần đều nằm gần não nhất. Chẳng hạn như mắt, tai, mũi, lưỡi, đều mọc trên đầu mà không mọc trên bụng.”

“Nhưng... vì sao kia?”

“Bởi lẽ linh thể là thể của ngũ tàng, là thể trung tâm và hệ trọng nhất của sinh vật, cần phải giấu kỹ, cần phải bảo vệ tầng tầng lớp lớp. Đây chính là nguyên nhân tại sao chúng phải nằm ở giữa cơ thể người, bên ngoài lại có xương sống và nhiều xương sườn rắn chắc che chở.”

“Con đã hiểu rồi,” Ngọc Thiền hào hứng nói tiếp, “linh thể không có cảm giác, không biết bên ngoài nhục thể đã xảy ra chuyện gì, do vậy không thể phán đoán và ứng phó, cũng không thể ra lệnh cho nhục thể. Trong khi thể ý thức nối liền với cơ quan cảm giác, hiểu rõ mọi biến đổi bên ngoài, nên có thể đưa ra mệnh lệnh bất cứ lúc nào, có phải vậy không?”

Quỷ Cốc Tử cười lớn, gật gù tâm đắc: “Thiền Nhi quả là Thiền Nhi.”

“Nếu nói là vậy, tức linh thể sống ở bên ngoài ý thức?” Ngọc Thiền lại hỏi.

“Đúng vậy, linh thể sống ở bên ngoài ý thức, điều khiển ý thức trong mơ hồ.”

“Đệ tử hiểu rồi,” Ngọc Thiền bừng tỉnh, “thứ mơ hồ ấy, giống như trong mơ, khi con người ngủ say, sẽ mất đi ý thức, nên những gì nhìn thấy, nghe thấy trong mơ, hẳn là linh thể?”

“Đúng vậy, linh thể chỉ có thể giao tiếp với trời vào lúc ý thức rời vị trí, ví như trong giấc mộng, khi rượu say, hành vu thuật, hoặc lúc mụ mị bởi vu thuật, mới hiện thân.”

“Phải rồi,” Ngọc Thiền đã hiểu, “cho nên, con người ta càng suy nghĩ nhiều, càng suy nghĩ rõ ràng, càng suy nghĩ kỹ lưỡng, càng suy nghĩ chu toàn, lại càng xa rời linh thể, cũng tức là càng xa rời trời. Cái gọi là phản phác quy chân, kỳ thực chính là khiến bản thân đến gần linh thể, giải phóng linh thể, kết nối với trời.”

Quỷ Cốc Tử cười lớn, chỉ vào tiểu đồng: “Ví như đại tử trước mặt đây, thực sự là chất phác!”

“Ồ, sao lại lôi tiểu đồng vào thế?” Tiểu đồng trể môi.

Quỷ Cốc Tử, Ngọc Thiền đều bật cười.

“Tiên sinh,” Ngọc Thiền cười xong, lại hỏi tiếp, “vậy bệnh và tật có gì khác nhau không?”

Quỷ Cốc Tử lại cười sảng khoái: “Con cũng biết hỏi thật đấy. Hãy viết hai chữ đó ra.”

Ngọc Thiền bèn tìm một tấm gỗ, viết hai chữ bệnh và tật lên đó.

“Hãy nhìn vào chữ ‘bệnh’ này, là một người nằm trên giường, mồ hôi đầm đìa, tức là đang sốt. Lại nhìn vào chữ ‘tật’, không những nằm trên giường, mà trên người còn cắm một mũi tên, tức là đã bị trúng tên. Thử nghĩ xem, giữa chúng có gì khác nhau?”

“Tức là,” Ngọc Thiền nhìn chăm chú vào hai chữ, “bệnh tới từ nội thương, tật tới từ ngoại thương ư?”

“Chính phải,” Quỷ Cốc Tử đáp, “đương nhiên, ngoại thương không chỉ là bởi mũi tên, toàn bộ ngoại thương đều gọi là tật. Tật tới rất nhanh, rất đau đớn, khiến người ta ghét nhất. Tật cần tới y, bởi vậy chữ ‘tật’ và chữ và ‘y’ đều có chứa mũi tên(1). Còn bệnh, thì chậm chạp hơn, phải nằm trên giường, từ từ vã mồ hôi, từ từ phát sốt.”

“Nếu nói như vậy, tật đáng sợ hơn bệnh ư?”

Quỷ Cốc Tử cười đáp: “Con lại thử nghĩ xem, tật gây tổn thương đến nhục thể, cũng chính là thể ầm, còn bệnh thì sao?”

(1) Chữ tật trong chữ Hán chứa chữ thỉ ■ có nghĩa là mũi tên.

“Ồ,” Ngọc Thiền vỗ trán, bừng tỉnh, “vậy là bệnh gây tổn thượng đến linh thể ư?”

Quỷ Cốc Tử vuốt râu cười thay cho lời câu trả lời.

Ngọc Thiền như thể thình lình đốn ngộ, mở to mắt nhìn Quỷ Cốc Tử: “Vậy đệ tử có thể nói thế này không? Ngoài ngoại thương ra, tất cả mọi bệnh đều liên quan tới linh thể, đều do thần ngũ tàng bị tổn hại. Thần ngũ tàng truyền dẫn những tổn hại này đến não, do não chuyển hoá thành ý thức, rồi ý thức ấy sẽ ra lệnh cho nhục thể tìm cách loại trừ những tổn hại đó, có đúng vậy không?”

Quỷ Cốc Tử gật gù, vuốt râu mỉm cười.

“Lại suy luận tiếp, bốn mùa gió mưa nóng lạnh, không phải quấy nhiễu đến nhục thể, mà là quấy nhiễu đến linh thể, thế nên mới truyền dẫn tới ý thức, rồi lại do ý thức ra lệnh cho nhục thể biết thêm bớt trang phục, chắn gió che nắng, có phải vậy không? ”

Quỷ Cốc Tử lại vuốt râu, ánh mắt hiền từ nhìn đệ tử.

“Nếu sự quấy nhiễu đến từ ngoại giới quá mạnh, nhục thể không thể hoàn tất mệnh lệnh của đầu não, thì người ta sẽ phải nằm liệt giường, hoặc lạnh hoặc nóng. Linh thể bất đắc dĩ, đành phải ra lệnh cho não, khiến nhục thể rơi vào trạng thái sinh bệnh. Lúc này, người nhà của bệnh nhân sẽ phải cầu cứu thầy mo, thầy lang, dùng các cách như châm chích, thuốc thang để tác động từ bên ngoài. Những tác động này nhìn thì có vẻ nhằm vào nhục thể, song thực chất là linh thể, có đúng vậy không?”

“Đúng, song cũng không đúng hoàn toàn.” Quỷ Cốc Tử giải thích, “khi nhục thể hết cách, linh thể sẽ bắt đầu quá trình tự phục hồi, đây cũng là nguyên nhân khiến phần lớn bệnh tật có thể tự khỏi nhờ tĩnh dưỡng. Bệnh càng nặng, càng mất nhiều thời gian để hồi phục. Còn như tác động từ bên ngoài như châm chích, thuốc thang, chỉ có thể trợ giúp cho linh thể, hỗ trợ linh thể hồi phục nhanh hơn. Nếu chẳng may gặp phải thầy lang kém cỏi, dùng thuốc không đúng bệnh, dùng thuật không đúng cách, không những không thể trợ giúp linh thể, ngược lại còn cản trở linh thể tự phục hồi. Bởi đó, thầy lang kém cỏi sẽ gây hại cho người, nên người học y cần học đức trước, người học thuật cần học hạnh trước.”

“Tạ ơn tiên sinh chỉ giáo!” Ngọc Thiền vòng tay nói.

“Cũng có lúc linh thể không thể tự phục hồi.” Quỷ Cốc Tử nói thêm, “giả như một khí trong ngũ khí bị bế tắc, tạo thành u nhọt. Một khí bế tắc, chỗ nào cũng tắc, linh thể có vận hết sức lực, cũng không thể tự phục hồi, cũng không có ngoại lực nào trợ giúp được.”

“Vậy phải làm thế nào?”

“Còn làm thế nào nữa?” Quỷ Cốc Tử khẽ cười buồn bã, “trên thế gian này, đại đa số người ta đều như vậy cả, gọi là chết không đúng số. Cũng tức là, mệnh trời chưa tới, tuổi thọ vẫn còn, song thể âm hoặc bởi dâm dục quá độ, hoặc bởi làm lụng quá sức, hoặc bởi chăm chút không khéo, nên phải phân tách với thể dương quá sớm.”

“Khi đó, thể dương không còn thể âm để dựa vào, nên sẽ biến hành hồn ma ư?”

“Phải,” Quỷ Cốc Tử gật đầu, “còn có một tình trạng nữa, ví dụ như gặp phải tai họa bất ngờ, tức bị ngoại lực va đập gây tổn thương đến linh thể, linh thể không kịp phòng ngừa, không có thời gian và cũng không kịp tự hồi phục, hoặc nằm ngoài khả năng tự hồi phục...” Nói đến đây, đưa mắt nhìn sang Ngọc Thiền.

“Vậy thì linh thể sẽ truyền tin để cầu cứu?”

“Cứu được thì đã cứu rồi.”

“Vậy... lúc đó sẽ phải làm thế nào?” Ngọc Thiền sốt sắng hỏi.

“Sẽ cầu cứu người thân xa hơn.”

“Cầu cứu... thế nào?”

“Báo mộng, cầu cứu với linh thể của người thân ở trong cõi mộng.”

Vừa nghe hai chữ “báo mộng”, Ngọc Thiền sực nhớ lại giấc mơ vừa rồi, rùng mình ớn lạnh, giọng bất giác run lên: “Vậy, Tô sư đệ... đã bị rắn độc cắn thật sao?”

“Phải, Tô Tần có chuyện rồi.” Quỷ Cốc Tử khẳng định.

Ngọc Thiền nước mắt tràn mi, quỳ sụp ngay xuống: “Tiên sinh, xin hãy cứu Tô Tần!”

“Đại tử?” Quỷ Cốc Tử quay sang tiểu đồng.

“Tiên sinh hãy cứ gọi là tiểu tử.” Tiểu đồng dẩu môi, “gọi đại tử nghe thật chối tai!”

“Thế thì gọi là đại tiểu tử vậy.” Quỷ Cốc Tử cười nói, “đại tiểu tử, viên thuốc đó còn chứ?”

“Viên thuốc mà Tùy Sào tiền bối chưa uống ư?” “Phải!”

“Thưa còn.” Tiểu đồng vào trong hang đá, lấy ra viên thuốc đã được gói ghém cẩn thận, đặt lên án trước mặt Quỷ Cốc Tử.

“Hãy giao cho Thiền Nhi.”

Tiểu đồng đưa viên thuốc cho Ngọc Thiền.

“Thiền Nhi,” Quỷ Cốc Tử nhìn sang Ngọc Thiền, “lấy kim của con ra đây.”

Ngọc Thiền lấy ra một bộ kim.

“Hãy ôn luyện toàn bộ các phép châm cứu trừ độc phục ma, cải tử hoàn sinh của con!” Quỷ Cốc Tử nói rồi chậm rãi cởi áo.

“Tiên sinh?” Ngọc Thiền ngơ ngác nhìn sững vào Quỷ Cốc Tử, rồi lại nhìn cơ thể dày dạn phong sương của ông.

“Hãy châm đi, trước tiên dùng kim nhỏ, vào từ Ngoại Quan, xuyên qua Nội Quan, nhấc cắm về xoay, mỗi chỗ ba hơi thở.’ 'Quỷ Cốc Tử khép hờ hai mắt, duỗi thẳng cánh tay, để lộ huyệt Ngoại Quan.

“Tiên sinh...” Ngọc Thiền hiểu rằng Quỷ Cốc Tử đang dạy mình cách cứu Tô Tần, thì nước mắt trào ra giàn giụa.

“Chị Thiền Nhi,” tiểu đồng cũng thong thả cởi áo, duỗi thẳng cánh tay, mỉm cười mà nói, “hãy châm tiểu đồng, tiểu đồng da non thịt chắc, chứ đâu như tiên sinh da dai thịt nhão, châm vào rất khó cảm giác.”

“Này, tiểu tử, ngươi coi thường sư phụ đấy phỏng!” Quỷ Cốc Tử hé một bên mắt liếc nhìn tiểu đồng, rồi chỉ về phía đỉnh Hầu Vọng, “lên đó, hái mười hai thứ cỏ.”

“Là những cỏ gì?”

“Mang bút lại đây.”

Tiểu đồng mang bút lại. Quỷ Cốc Tử viết ra mười hai cái tên thảo dược. Tiểu đồng nhận lấy, xách giỏ rảo bước đi ngay, tiến thẳng về phía đỉnh Hầu Vọng.

Đợi tiểu đồng đi khuất, Ngọc Thiền khẽ nói: “Tiên sinh, mười hai thứ cỏ đó đều có độc...”

“Trời đất ngũ hành, có sinh có khắc, vạn vật đều như vậy cả.” Quỷ Cốc Tử lại khép mắt, “Thiền Nhi, hãy châm đi.”

Khuất Tương Tử cẩn thận kiểm tra cỗ xe Tô Tần đã ngôi, không bỏ sót một tiểu tiết nào. Tuy nhiên, các Mặc giả tìm kiếm khắp lượt suốt một canh giờ, vẫn không phát hiện ra một dấu vết khả nghi.

Thứ đáng ngờ duy nhất, chính là ống tre đựng nước của Tô Tần.

Ánh mắt Khuất Tương Tử một lần nữa dừng lại trên ống tre. Trâu Phi Đao, Mộc Thực cũng đều đưa mắt nhìn.

“Hãy kể lại một lẩn nữa, từ lúc hai người xuất phát cho đến khi Tô Tử phát bệnh bên Chương Thuỷ!” Khuất Tương Tử nhìn sang Trâu Phi Đao.

Trâu Phi Đao lại kể một lượt từ đầu đến cuối, rồi nói: “Đệ tử dám chắc, trên đường không có gì bất thường, thứ bất thường duy nhất, chính là nước.” Nhìn trân trân vào ống tre, “song toàn bộ chứng cứ, đã bị đệ tử rửa sạch dưới sông mất rồi.”

“Than ôi,” Khuất Tương Tử thở dài, “đều trách lão hủ, không nên để một mình ngươi hộ tống Tô Tử.”

“Mộc Thực vốn muốn đi cùng đệ tử, nhưng chúa công không cho.” Trâu Phi Đao đáp, “hẳn là chúa công không muốn làm phiền người khác. Mấy năm qua, đệ tử bôn ba theo chúa công, đã đi qua bao nhiêu nơi, đều bình yên vô sự, nên cũng không đề phòng, thực quá sơ suất.” Dừng lại một chốc, lại hỏi, “sư phụ, hay chúa công đã mắc phải tật bệnh nguy cấp gì?”

“Nhìn vào tình trạng và triệu chứng, có lẽ là trúng độc.” Khuất Tương Tử suy đoán.

“Trúng độc?” Trâu Phi Đao lấy làm khó hiểu, “không phải chứ? Từ lúc xuất phát, dọc đường đi còn chưa dừng lại nghỉ chân lúc nào, cũng không giao tiếp với bất cứ ai, sao có thể trúng độc được?”

“Nếu là bệnh cấp,” Khuất Tương Tử giải thích, “chỉ có thể là trúng gió. Tô Tử trúng gió đột ngột thế này, chỉ có hai khả năng, một là tâm trúng gió, hai là não trúng gió. Nếu là tâm trúng gió, sẽ chết tức khắc, nhưng Tô Tử vẫn cầm cự được tới lúc này. Nếu là não trúng gió, sẽ không nhanh đến vậy, cũng sẽ không nghiêm trọng đến vậy. Nên lão hủ mới đoán là trúng độc.”

“Độc gì kia?” Trâu Phi Đao hỏi dồn.

“Nếu biết được thì tốt quá.” Khuất Tương Tử lại nhìn vào ống tre, đó là chứng cứ duy nhất, nhưng đã không còn cách kiểm tra.

Trâu Phi Đao ngồi thụp xuống, vò đầu bứt tóc hồi lâu, nhưng vẫn không thể nghĩ ra sơ suất ở chỗ nào. Trâu Phi Đao lại cầm ống tre lên, nhìn trừng trừng vào nó, bên tai lại như văng vẳng giọng nói của Tô Tần: “Trâu huynh, còn cách Chương Thuỷ bao xa... Lúc nào qua Chương Thuỷ, hãy dừng chân nghỉ, múc lấy ít nước, Thu Quả quên thêm nước rồi!”

“Thu Quả quên thêm nước!” Nói đến đây, Trâu Phi Đao bỗng giật thột, suy nghĩ một thoáng rồi đứng bật dậy, vội vã chạy vào trong buồng ngủ của Tô Tần, thấy Thu Quả vẫn quỳ ở trước giường, đầu gục xuống bên giường, đã ngủ thiếp đi. Trên mặt vẫn in vệt nước mắt.

Thu Quả rất đau buồn. Nàng khóc lóc suốt cả đêm qua, giờ hẳn đã thấm mệt.

Tô Tần vẫn hôn mê. Trâu Phi Đao đưa tay lại bên mũi Tô Tần, vẫn có hơi thở. Nhìn kỹ sắc mặt, không có gì bất thường. Trâu Phi Đao rón rén lui ra, quay lại nhà trước.

“Là ai rót nước vào ống tre?” Khuất Tương Tử hỏi.

“Không biết nữa,” Trâu Phi Đao đáp, “trước khi lên đường, mọi sinh hoạt của chúa công đều do Thu Quả quán xuyến, nhất là nước, vốn rất cần thiết, lần nào Thu Quả cũng rót sẵn đầy ống, không hiểu sao, lần này Thu Quả lại quên mất. Trên đường, chúa công lấy nước ra uống, thấy nước vơi quá nên mới hỏi đệ tử Chương Thuỷ còn cách bao xa, rồi căn dặn tới Chương Thuỷ thì dừng lại múc nước. Sau đó chưa đầy hai khắc thì tới Chương Thuỷ, đệ tử thấy chúa công ngồi nghẹo đầu trong xe, cứ ngỡ ngủ gật, nên không làm phiền, tự xuống sông múc nước. Lúc lên mới phát hiện thấy chúa công đã...” Dừng lại một lát, nói tiếp, “hẳn là chúa công nghe thấy sắp tới Chương Thuỷ, nên mới uống hết chỗ nước còn lại trong ống mà trúng độc.”

“Nếu nói là vậy, nước này có lẽ liên quan tới Thu Quả!” Khuất Tương Tử trầm ngâm hồi lâu, rồi khẽ nói.

“Nhưng...” Trâu Phi Đao thoáng do dự, “nàng ấy không thể làm hại chúa công. Đệ tử biết, bên cạnh chúa công, đáng tin cậy nhất chỉ có bốn người, một là Tuyết công chúa, hai là đệ tử, ba là Viên Báo, bốn là Thu Quả.”

“Thu Quả đâu rồi?” Khuất Tương Tử nhìn về phía phòng ngủ.

“Đệ tử vừa vào xem, nàng ấy vẫn túc trực bên chúa công, đã ngủ thiếp đi, mặt đẫm nước mắt.”

“Hãy kể về nàng ta,” Khuất Tương Tử khẽ thở hắt ra một tiếng, “vì sao nàng ta lại ở bên chúa công?”

Trâu Phi Đao kể lại vắn tắt một lượt những gì mình biết về Thu Quả, cùng tình nghĩa giữa Thu Quả và Tô Tần.

“Nước Tần? Hán tử cụt tay?” Khuất Tương Tử ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi quay sang Mộc Hoa, “Mộc Hoa, hãy thay Thu Quả trông nom Tô đại nhân cẩn thận, bất cứ ai cũng không được bước vào buồng ngủ Tô của đại nhân.” Lại nhìn sang Mộc Thực, “có hai việc, một là gửi thư cho Tuyết công chúa, mời công chúa tới ngay; hai là cử người tới Nghiêu Sơn, đón Phi Phi về, đã đến lúc nhận cha mẹ ruột rồi.”

Mộc Hoa, Mộc Thực nhận lệnh đi ngay.

“Trong phủ giới nghiêm, bất cứ người nào,” Khuất Tương Tử quay sang Trâu Phi Đao, “nếu chưa được phép, đều không thể bước vào trong phủ trạch, đặc biệt là buồng ngủ của Tô Tử!”

Tiểu đồng lên đỉnh Hầu Vọng hái thuốc, đến tối mịt vẫn chưa thấy về. Ngọc Thiền sốt ruột, định vào núi tìm, nhưng bị Quỷ Cốc Tử ngăn lại.

Đến giờ Ngọ hôm sau, tiểu đồng trở về, mồ hôi nhễ nhại, giao giỏ tre cho Ngọc Thiền, cười nói: “Chao ôi, mười hai loại cỏ mà tiên sinh dặn, thực không dễ tìm, suýt nữa thì bỏ mạng dưới vực sâu.”

Quỷ Cốc Tử nghe tiếng bước ra, kiểm tra chỗ thảo dược, thấy đều đúng cả, bèn chọn lấy một ít, chia làm ba phần, bỏ vào ba túi, đưa cho Ngọc Thiền, rồi chậm rãi nói: “Tô Tần mệnh chưa đến lúc tuyệt, tuy trúng kịch độc, song do người hạ độc không hạ đủ liều lượng, trong cái rủi vẫn có cái may. Con có mười ngày để cứu hắn, bất tất phải quá lo lắng.”

“Tạ ơn tiên sinh chỉ giáo!” Ngọc Thiền đỡ lấy túi thuốc, cất vào trong tay nải đã chuẩn bị sẵn sàng, buộc lại cẩn thận.

“Phải rồi, lão hủ suýt thì quên mất, còn cần có thang dẫn nữa!” Quỷ Cốc Tử nhìn thẳng vào Ngọc Thiền, sắc mặt nửa cười nửa không.

“Thang dẫn gì kia?” Ngọc Thiền vội hỏi.

“Nước mắt.”

“Nước mắt?” Ngọc Thiền sửng sốt.

“Nước mắt của Thiền Nhi.’ ’Quỷ Cốc Tử khép hờ hai mắt, “trong lúc sắc thuốc, con hãy tự mình gia giảm.”

“Con?” Ngọc Thiền mặt thoáng ửng hồng, rồi lí nhí hỏi, “vậy bao nhiêu... là đủ?”

“Hãy tự cân nhắc, tùy vào tâm con.” Quỷ Cốc Tử khẽ cười, “Thiền Nhi, đi đi. Thần ngũ tàng của Tô Tần đang chờ con giải cứu.”

Ngọc Thiền “vâng” một tiếng, bái lạy sư phụ và tiểu đồng, đội nón lên đầu, đi ra khỏi cửa, tiến vào trong ánh nắng chiều rực rỡ.

Ngọc Thiền men theo con đường mòn bên bờ suối, rảo bước mà đi. Quỷ Cốc Tử chậm rãi bước ra khỏi thảo đường, đứng trên một tảng đá lớn, cứ nhìn theo mãi hình bóng Ngọc Thiền, cho đến khi biến mất cuối tầm nhìn.

Ánh mắt Quỷ Cốc Tử vẫn không dịch chuyển, cứ nhìn chăm chăm về phía đó.

“Tiên sinh,” tiểu đồng bước ra theo, đứng dưới chân tảng đá, “nắng gắt quá!”

“Phải, nắng gắt quá.” Quỷ Cốc Tử nhắc lại, song cơ thể vẫn không mảy may xê dịch, ánh mắt vẫn nhìn hút về phía Ngọc Thiền vừa đi khuất.

“Chị Thiền Nhi... sẽ trở về!” Tiểu đồng nói.

“Phải!” Quỷ Cốc Tử thong thả nhắc lại, “Thiền Nhi sẽ trở ve.

“Thế... tiên sinh còn nhìn gì?”

“Phải, lão hủ còn nhìn gì?” Quỷ Cốc Tử lại nhắc lại, rồi nhảy xuống khỏi tảng đá, đầu không ngoảnh lại, cứ thế bước thẳng vào thảo đường.

“Ồ!” Tiểu đồng nhìn theo Quỷ Cốc Tử, rồi nhảy tót lên tảng đá, sắc mặt đăm chiêu nhìn về phía xa xăm nơi Ngọc Thiền vừa khuất dạng, khẽ lẩm bẩm, “tiên sinh làm sao thế nhỉ? Nhìn sắc mặt tiên sinh, thì Tô sư đệ hẳn không gặp chuyện gì to tát. Chị Thiền Nhi tự tay cứu sống Tô sư đệ, vui mừng còn không kịp, sao còn khóc được kia chứ? Chị Thiền Nhi đã không cần phải khóc, sao tiên sinh còn bảo dùng nước mắt làm thang dẫn? Chao ôi...”

Ngọc Thiền không có xe ngựa, chỉ biết vội đi mải miết, đến chiều ngày thứ tư sau khi Tô Tần đổ bệnh thì tới Hàm Đan, tìm được đến phủ tướng, đã gần hoàng hôn.

Trước cửa phủ có vài giáp sĩ cầm kích đứng canh.

“Chư vị tráng sĩ,” Ngọc Thiền tiến lại gần, vòng tay nói, “tôi tới từ núi Vân Mộng, có việc gấp cần gặp Tô Tần, xin bẩm báo giúp!”

Thấy nàng gọi thẳng họ tên Tô Tần, mấy giáp sĩ đưa mắt nhìn nhau, rồi một người đáp: “Tướng quốc đại nhân có lệnh, mấy hôm nay không tiếp khách, khách nhân có việc gì, vài hôm nữa hãy tới!”

“Tôi không phải khách, mà là sư tỷ của tướng quốc đại nhân, phụng mệnh sư phụ tới tìm, xin tráng sĩ hãy mau vào bẩm báo giúp cho!” Ngọc Thiền vẫn điềm tĩnh nói.

Mấy giáp sĩ lại đưa mắt nhìn nhau, một người hỏi: “Hẳn có danh thiếp?”

Ngọc Thiền ngẫm nghĩ một lát rồi nói: “Thôi được, xin hãy mời quản gia của quý phủ ra đây, tôi sẽ nói với quản gia. Bằng không, để lỡ đại sự của tướng quốc, chư vị không gánh nổi tội đâu!”

Đám giáp sĩ do dự một chốc, rồi cũng cho người vào trong phủ bẩm báo Trâu Phi Đao.

Trâu Phi Đao bước ra, nhìn Ngọc Thiền: “Khách nhân đây là...”

“Tôi đến từ Quỷ Cốc, phụng mệnh Quỷ Cốc Tiên sinh đến thăm Tô Tần!”

“Quỷ Cốc tiên sinh?” Trâu Phi Đao nhìn sững vào nàng, “người là...”

“Đệ tử của Quỷ Cốc tiên sinh, sư tỷ của Tô Tần!”

“Dám hỏi tôn tính đại danh?” Bởi Thiên Hương mà Trâu Phi Đao sinh lòng ngờ vực với tất cả mĩ nữ.

“Ngọc Thiền.”

Vừa nghe hai chữ “Ngọc Thiền”, Trâu Phi Đao giật nảy, biết là không sai, vội cúi gập người xuống vái: “Người... tới thì hay quá, chúa công... đang chờ người!” Đoạn tránh sang một bên, chìa tay mời.

Trâu Phi Đao dẫn Ngọc Thiền đi thẳng vào phòng khách, bẩm báo Khuất Tương Tử. Khuất Tương Tử vẫn không yên tâm, hỏi kỹ ngọn ngành, chắc chắn nàng là đệ tử của Quỷ Cốc Tử rồi mới vòng tay hành lễ, dẫn nàng vào trong phòng Tô Tần.

Tô Tần nằm bất động trên giường, sắc mặt trắng bệch, giống như đã chết.

Ngọc Thiền tiến lại gần, nhìn sững vào con người mà trái tim nàng khôn nguôi nhung nhớ. Chốc sau, nàng mới đưa tay bắt mạch, vạch mắt, xem răng.

Xong rồi, Ngọc Thiền nhắm mắt, nhập định.

Tâm niệm của Ngọc Thiền từ từ ngưng kết, tiến vào một cảnh giới mông lung. Trong cõi mịt mờ, phía xa bỗng hiện lên một cái bóng.

Là Tô Tần.

Hình bóng của Tô Tần mỗi lúc một gần, mỗi lúc một rõ nét. Lại nhìn kỹ, trên người Tô Tần bò lúc nhúc những rắn rít, cắm chi chít gai độc cỏ lạ, đám độc vật kia đang ra sức hút lấy khí huyết của Tô Tần. Tô Tần gắng sức giãy giụa, song càng giãy, đám độc vật lại càng quấn chặt hơn.

Trong cơn tuyệt vọng, Tô Tần chợt nhìn thấy Ngọc Thiền. Tô Tần há to miệng, như thét gọi nàng, nhưng nàng lại không nghe thấy gì hết.

Tô Tần dốc hết sức tàn chạy về phía nàng, nhưng đám độc vật kia đã kết thành tấm lưới khổng lồ, trói chặt lấy Tô Tần, không thể nhúc nhích.

Ngọc Thiền chìa tay ra, hét lên vái Tô Tần: “Tô Tử, Thiền Nhi tới rồi, Thiền Nhi tới cứu Tô Tử đây...”

Bỗng dưng, Ngọc Thiền rùng mình một cái, thình lình xuất định.

Rõ ràng, ngũ tàng thần của Tô Tần đã bị tổn thương nặng nề, không còn chống chọi được nữa.

Ngọc Thiền lại bắt mạch cho Tô Tần. Qua tướng mạch, biết rằng đúng như Quỷ Cốc Tử phán đoán, Tô Tần cùng lắm chỉ cầm cự được mười ngày. Cũng có nghĩa là, nàng chỉ còn vài ngày để cứu chữa.

Ngọc Thiền không dám chậm trễ, bảo Trâu Phi Đao đỡ Tô Tần dậy, lấy ra hoàn thuốc tiểu đồng đưa cho, cạy miệng Tô Tần bỏ vào, rồi bón nước ấm cho nuốt xuống. Đoạn lấy ra bộ kim, nhờ Trâu Phi Đao cởi áo Tô Tần ra, dựa theo phép châm Quỷ Cốc Tử đã truyền cho trước khi rời cốc, lặp lại một lượt với Tô Tần.

Lượt châm đầu tiên kết thúc, đã là nửa đêm, khí sắc của Tô Tần trông đã khác hẳn. Ngọc Thiền bắt mạch, tướng mạch đã từ chết chuyển sang sống.

Ngọc Thiền thở phào một hơi. Nàng cũng đã thấm mệt, bèn ngồi tại chỗ, gục đầu xuống bên giường Tô Tần ngủ thiếp đi.

Sáng sớm hôm sau, Ngọc Thiền tỉnh dậy, thấy mạch tượng của Tô Tần đã đều đặn hơn, gương mặt bắt đầu có chút sắc hồng, biết rằng không có gì đáng lo, bèn tiếp tục lượt châm thứ hai.

Đúng vào lúc này, hẳn vì linh cảm, Ngọc Thiền châm xong một lượt, vừa quay đầu lại, vô tình liếc thấy một vật.

Một con ve vàng.

Không sai, chính là con ve vàng, do Trâu Phi Đao gỡ ra từ trên áo Tô Tần tối qua, đặt lên trên chồng y phục.

Ngọc Thiền trong lòng giật thột, đưa tay với lấy. Nàng nhấc con ve vàng, đặt vào lòng bàn tay ngắm nghía. Đúng vậy, không sai, chính là con ve vàng của chị nàng.

Ngọc Thiền gỡ ve ngọc của mình xuống, đặt ở bên cạnh. Hai con ve giống nhau y hệt, một con trắng ngà, một con vàng kim; một con bóng bẩy như mỡ, một con rực rỡ tựa sao.

Khi mặt trời lên cao một con sào, một cỗ xe tứ mã dừng lại trước phủ Tô Tần.

Xe còn chưa dừng hẳn, một nữ tử đã từ trên xe nhảy xuống, tiếp sau là một nữ tử khác.

Hai nữ tử này, chính là thái hậu nước Yên Cơ Tuyết và thị nữ Xuân Mai.

Cơ Tuyết chưa nhận được tin từ Mộc Hoa. Nhưng cũng giống như Ngọc Thiền, vào đúng đêm Tô Tần xảy ra chuyện, nàng đã mơ thấy Tô Tần. Sau khi tỉnh dậy, không tài nào chợp mắt nổi nữa, trời còn chưa sáng đã dứt khoát sai Xuân Mai chuẩn bị xe, chạy thẳng tới Hàm Đan.

Từ Vũ Dương tới Hàm Đan tuy không đến nỗi quá xa, song phải đi qua Trung Sơn, vượt mấy con sông, chẳng may đúng lúc một con sông nhỏ không có cầu bỗng dâng nước lớn, lỡ mất gần một ngày trời, lại còn phải tính đến an nguy, trên đường vẫn phải ngày đi đêm nghỉ, nên lúc tới nơi, đã sang ngày thứ năm.

Khi Cơ Tuyết bước chân loạng choạng chạy vào phòng Tô Tần, Ngọc Thiền vừa mừng rỡ, lại vừa kinh ngạc. Vui mừng, vì bất ngờ gặp lại chị gái sau bao năm xa cách; kinh ngạc, vì không ngờ chị gái lại tới đây, hơn nữa lại tới nhanh đến thế.

“Chị...” Ngọc Thiền nhào vào lòng Cơ Tuyết.

Cơ Tuyết cũng sững sờ kinh ngạc.

Suốt dọc đường đi, nàng đã suy tính đủ điều, nhưng tuyệt đối không thể ngờ được, lại có thể gặp em gái ở đây.

“Chàng... sao thế này?” Cơn kinh ngạc qua đi, Cơ Tuyết chợt quên bẵng luôn em gái, đưa tay đẩy Ngọc Thiền ra, chạy tới quỳ xuống bên giường Tô Tần.

Trên người Tô Tần vẫn cắm đầy kim bạc.

“Tô Tử...” Cơ Tuyết bật khóc, đưa tay chạm lên mặt Tô Tần. Nước mắt nàng rơi lã chã, giọt giọt theo nhau nhỏ xuống mặt Tô Tần.

Chứng kiến những hành vi không chút kiêng dè của Cơ Tuyết, Ngọc Thiền tâm tư hỗn loạn. Người trước mặt nàng... là chị gái của nàng ư? Là phu nhân của Yên Công ư? Là thái hậu của nước Yên ư?

Cũng thực may mắn, trong phòng chỉ có hai chị em nàng. Trâu Phi Đao sau khi dẫn Cơ Tuyết vào, đã đóng cửa lui ra.

Cơ Tuyết nức nở một lát, lại nắm chặt bàn tay Tô Tần, áp lên trước ngực.

Ngọc Thiền lúc này, không chỉ còn là tâm tư hỗn loạn, mà miệng há hốc, chết điếng tại chỗ, không còn dám tin vào mắt. Ánh mắt Ngọc Thiền vô thức dịch chuyển tới con ve vàng vẫn đặt trên chồng y phục.

Có lẽ lúc này mới chú ý đến đám kim bạc cắm trên người Tô Tần, mới bừng tỉnh là sau lưng mình còn em gái, Cơ Tuyết cuối cùng cũng định thần trở lại, nhìn sang Ngọc Thiền, chỉ vào kim bạc: “Là em châm đấy ư?”

Ngọc Thiền vẫn chưa hết bàng hoàng, chỉ đờ đẫn gật đầu.

“Em ơi, chị biết em làm được mà!” Cơ Tuyết ôm châm lấy nàng, giọng nghẹn ngào gấp gáp, “em hãy mau cứu lấy chàng! Chàng... làm sao vậy? Bị bệnh gì ư? Sao lại ra nông nỗi này? Xưa nay chàng khoẻ mạnh lắm kia mà, đến cảm hàn cũng rất hiếm khi, sao tự dưng... lại thành ra như vậy?” Cơ Tuyết ôm lấy Ngọc Thiền mà khóc, song lời nào cũng chỉ hỏi đến Tô Tần.

“Chị,” Ngọc Thiền lúc này mới như đã hiểu ra chuyện gì, chỉ là không dám tin, cũng không muốn tin, nàng lẩm bẩm như vô thức, “Tô Tần trúng độc... Có người hạ độc...”

Cơ Tuyết vừa nghe đã rụng rời: “Hạ độc? Là độc gì? Ai hạ độc? Em ơi, mau... mau nói cho chị biết...”

“Là độc luyện từ độc trùng, độc dược.”

“Vậy... Tô Tử có nguy cấp lắm không? Em... em phải cứu chàng, em phải cứu chàng... nhất định phải cứu sống chàng...” Cơ Tuyết do kinh sợ quá độ, lay mạnh Cơ Vũ, gần như không biết mình đang nói gì nữa.

“Chị yên tâm, Tô Tử không có gì đáng ngại, tiên sinh đã chế thuốc cho Tô Tử, tiên sinh biết Tô Tử bị trúng độc!”

“Tốt quá!” Cơ Tuyết lại ôm chầm lấy Ngọc Thiền, “tiên sinh, là Quỷ Cốc tiên sinh phải không? Phải rồi, chắc chắn là tiên sinh. Nhưng... làm sao tiên sinh biết được Tô Tử trúng độc?”

“Tiên sinh biết, chuyện gì tiên sinh cũng biết!”

“Quỷ Cốc tiên sinh,” Cơ Tuyết quỳ sụp xuống, hướng về phía Quỷ Cốc, dập đầu bái lạy, “cảm tạ tiên sinh... Cơ Tuyết cảm tạ tiên sinh đã cứu sống Tô Tử...” Rồi lại dập đầu liên hồi.

Bái lạy xong rồi, như cũng đã trấn tĩnh lại, Cơ Tuyết ngồi thẳng trên chiếu, nhìn sang Ngọc Thiền. Ngọc Thiền tiến lại bên giường, nhổ từng cây kim trên người Tô Tần ra, cất vào trong hộp, rồi cũng ngồi xuống chiếu, đối diện với Cơ Tuyết.

“Chị...” Cơ Tuyết ngập ngừng, muốn nói lại thôi.

“Em...” Cơ Tuyết nhìn đăm đăm vào Ngọc Thiền “hãy nói cho chị biết,” ánh mắt lại nhìn sang Tô Tần, “bao giờ thì chàng tỉnh lại?”

“Em không biết,” Ngọc Thiền đáp, “tiên sinh dặn em châm cứu ba lượt, đây mới là lượt thứ hai. Xem khí sắc, xem mạch tượng, thấy rằng chất độc đang tan, không còn nguy đến tính mạng. Châm thêm lượt nữa, sẽ tỉnh lại thôi!”

“Vậy em hãy châm đi!” Cơ Tuyết giục giã.

“Châm cứu, phải đúng thời gian mới được.” Ngọc Thiền đáp.

Cơ Tuyết nhìn Tô Tần, lại ứa nước mắt: “Em ơi, em không biết, Tô Tử quan trọng thế nào với chị đâu..

“Chị, chị và... hai người...” Ngọc Thiền trong lòng đau đớn, gắng gượng lắm mới bật ra được vài tiếng này, rồi nghẹn giọng, không nói thêm được gì nữa. Nàng nhắm chặt mắt lại.

Nhiều năm trong sơn cốc, Ngọc Thiền đã luyện được một thói quen, cho dù tâm tư rối bời cách mấy, chỉ cần nhắm mắt chốc lát, sẽ nhanh chóng bình tâm.

Đúng vậy, lúc này đây, việc cấp bách nhất với nàng, là phải khiến mình nhanh chóng tĩnh tâm trở lại.

Cơ Tuyết không còn lo lắng, cũng đã bình tĩnh lại, nhìn thẳng vào Ngọc Thiền: “Chị hiểu em muốn biết chuyện gì, chị sẽ kể hết cho em nghe!”

Nói rồi, Cơ Tuyết bắt đầu kể lại đầu đuôi mọi chuyện. Bắt đầu từ hôm nàng xuất giá, Tô Tần liều chết chặn xe hoa giữa trời mưa tầm tã, tặng nàng cây kiếm gỗ. Nàng ôm cây kiếm, khóc tới tận Kế Thành. Thanh kiếm đó đã theo nàng vào cung Yên, bầu bạn với nàng sống qua những ngày tháng cô đơn thảm đạm. Rồi cung Yên biến loạn, Yên Công bất lực, Tô Tần đã tới nước Yên đúng lúc nàng cần nhất, giúp Yên Công dẹp tan nội loạn. Rồi chuyện thái tử Cơ Tô lo sợ ngôi vị rơi vào tay Tử Khoái, nên mưu sát Yên Công, còn muốn cưỡng bức nàng, Tô Tần lại xuất hiện vào đúng thời khắc nguy cấp nhất, giải cứu cho nàng, ổn định chính cục nước Yên...

Bao nhiêu sự biến kinh tâm trong quá khứ, Cơ Tuyết đều dốc bầu tâm sự, kể hết cùng Ngọc Thiền.

Hồi tưởng lại chuyện đã qua, Cơ Tuyết hai mắt đẫm lệ: “Em ạ, hôm đó cung Yên sinh loạn, Yên Công ngã bệnh, chị không biết trông mong vào đâu, định tới tông miếu cầu nguyện. Vừa ra tới ngoài cung, bỗng có người chặn trước đầu xe, tự xưng là Tô Tần người Lạc Dương, vừa nghe, chị đã toàn thân run rẩy. Đó chính người chị hằng tưởng nhớ suốt bao năm qua. Ngày nào chị cũng ôm thanh kiếm của chàng, cứ ngỡ đời này không bao giờ còn gặp lại chàng nữa. Nhưng rồi... chàng đã đến. Chàng đã trở thành đệ tử của Quỷ Cốc tiên sinh. Chàng kể cho chị nghe những chuyện về Quỷ Cốc tiên sinh, về em, về Bàng Quyên, Trương Nghi, Tôn Tẫn. Mảnh khăn lụa chị tặng cho chàng ở nhà thái học Lạc Dương, chàng nói, chàng vẫn luôn mang bên người...” Nàng kể mà nước mắt tuôn rơi lã chã.

Nước mắt Ngọc Thiền cũng từ từ ứa ra, lẳng lặng rớt xuống, không một tiếng động.

“Sau đó,” Cơ Tuyết tiếp tục kể, “lão Yên Công băng hà, vì bị tên súc sinh Cơ Tô hãm hại. Tên súc sinh đó bức bách chị phải phục tùng, chị không còn cách nào, mới đòi tuẫn táng theo tiên vương. Tô Tử đã đi suốt ngày đêm không nghỉ, kịp tới Kế Thành đúng lúc chị sắp sửa tuẫn táng, giúp chị chạy tới Vũ Dương. Chị một lòng muốn trả thù cho tiên quân, nhưng Tô Tử khuyên chị, nói rằng nước Yên không thể loạn. Chàng quả là có con mắt nhìn xa trông rộng, chị tin theo chàng. Đời này, chị chỉ theo mình Tô Tử. Chị... đã là người của Tô Tử...”

Đến cuối cùng, Ngọc Thiền đã biết được điều mà nàng không muốn nghe nhất, câu nói này, khác nào sét đánh ngang tai.

Cơ Tuyết kể xong, ngồi cúi đầu im lặng. Ngọc Thiền gắng gượng bắt mình trấn tĩnh lại, nói: “Tô Tử sắp tỉnh lại rồi, em phải đi sắc thuốc.” Rồi chậm chạp đứng dậy.

“Chị sẽ trông chừng chàng, em hãy mau đi sắc thuốc!” Cơ Tuyết cũng đứng dậy.

Ngọc Thiền cất gọn kim châm, thu vén tay nải, rồi mở cửa bước ra ngoài. Cơ Tuyết tiễn nàng tới cửa, nhìn theo nàng một chốc, mới quay trở vào trong, ngồi bên mép giường Tô Tần, cầm lấy bàn tay Tô Tần, nắm thật chặt.

Ngọc Thiền tìm Trâu Phi Đao lấy ấm sắc thuốc, nhóm than, đuổi hết người khác ra ngoài, rồi lấy túi thảo dược Quỷ Cốc Tử đã soạn sửa, dốc vào trong ấm.

Vẫn còn thiếu một vị, nước mắt của nàng.

“Tiên sinh, sao chuyện gì tiên sinh cũng biết...” Nàng nhìn vào ấm thuốc, muôn vàn nỗi tủi hờn chua chát bỗng dồn dập dâng trào, lệ tuôn như suối, “tiên sinh sớm đã biết cả rồi, tại sao... lại không nói cho Thiền Nhi biết? Tiên sinh sớm đã biết, là chị...”

Ngọc Thiền tay cầm ấm thuốc, ôm vào trước ngực. Tí tách... Tí tách... Ấm sành lạnh lẽo, im lìm nhận lấy từng giọt lệ nàng nhỏ xuống...

Nước mắt Ngọc Thiền đã cạn.

Ngọc Thiền từ từ hạ ấm thuốc xuống, đặt lên chậu than.

Than lửa bốc lên nóng rực. Ngọc Thiền đã trấn tĩnh trở lại, chậm rãi đưa tay vào trong ngực áo, lấy ra con ve ngọc, đưa lên trước mắt ngắm nhìn.

“Tô Tần... Tô sư đệ...” Nhìn ngắm một hồi, Ngọc Thiền cất giọng, rành rọt từng tiếng, “hãy nhớ, nước mắt trong thuốc, không phải nhỏ vì sư đệ, mà vì chính sư tỷ, là thang dẫn mà sư tỷ thêm vào theo lệnh tiên sinh. Ngoài ra, sư tỷ sẽ cho thêm một vị nữa, để giúp sư đệ mau bình phục!”

Nói rồi, Ngọc Thiền từ từ đứng dậy, ném con ve ngọc lên không trung, nháy mắt rút ngay bảo kiếm, vào khoảnh khắc con ve rơi xuống, một kiếm chém ngang.

“Cách” một tiếng giòn tan, con ve ngọc theo nàng gần ba mươi năm đã vụn vỡ thành từng mảnh nhỏ.

Ngọc Thiền nhặt lấy từng vụn ngọc, thả vào ấm thuốc...

Đến lúc nhá nhem, Ngọc Thiền nhấc ấm thuốc ra, lấy vải the lọc qua, đựng vào trong bát, bưng vào phòng Tô Tần.

Lúc này, tâm tư Ngọc Thiền đã hoàn toàn bình lặng.

Ngọc Thiền bắt mạch, xem xét bệnh chứng, biết rằng ngũ tàng của Tô Tần đã hồi phục sinh khí, không còn trở ngại gì nữa.

Nàng tiếp tục châm lượt cuối cùng.

Kim còn chưa châm hết lượt, trong cổ họng Tô Tần đã bật ra một tiếng rên khe khẽ, tay chân bắt đầu động đậy.

Ngọc Thiền biết, ngũ tàng thần của Tô Tần đã tỉnh lại, chỉ còn ý thức vẫn đang say ngủ.

“Chị,” Ngọc Thiền vừa từ tốn nhổ từng mũi kim, vừa dặn dò Cơ Tuyết, “Tô Tử giờ đã không sao, chừng ba khắc nữa sẽ tỉnh. Lúc đó, chị hãy cho uống bát thuốc này. Ngày mai và ngày kia nữa, cũng vào giờ này,” Ngọc Thiền lấy ra hai gói thảo dược còn lại, “chị hãy sắc thuốc này, cho Tô Tử uống, sẽ giải được hết độc trong cơ thể!”

“Vậy còn em...” Cơ Tuyết sững sờ nhìn nàng, “em không ở lại đây ư?”

“Vâng,” Ngọc Thiền đáp, “tiên sinh có việc, đã gọi em về. Tô Tử ở đây, đã có chị chăm sóc.”

Nói rồi, Ngọc Thiền thu dọn kim chầm, cất vào tay nải: “Chị, còn một việc nữa, Tô Tử tổn thương ngũ tạng, cần nghỉ ngơi ít nhất một năm, trong thời gian này, không nên lao lực quá độ!”

“Em,” Cơ Tuyết nhìn nàng tha thiết, “em ở lại thêm một ngày được không?”

“Không được!” Ngọc Thiền dứt khoát, “tiên sinh có việc, em phải quay về, ngay bây giờ!”

Hai người nhìn nhau hồi lâu, rồi ôm chặt lấy nhau.

Buông Cơ Tuyết ra, Ngọc Thiền không nhìn Tô Tần nữa, khoác tay nải lên vai, mở cửa, bước thẳng ra phía cổng, không ngoảnh lại một lần.

Cơ Tuyết đi theo sau nàng, tiễn ra tới cổng, ánh mắt quyến luyến nhìn theo mãi, cho tới tận khi bóng dáng nàng hoà lẫn vào màn đêm đen đặc.

Cơ Tuyết rất muốn đuổi theo, giữ em gái lại, nàng còn một bầu tâm sự, muốn bày giãi cùng em. Nhưng nàng có linh cảm, em gái mình đã thay đổi rồi, giữa họ đã có thêm nhiều phần xa lạ.

Ngọc Thiền kiên quyết dứt áo rời khỏi phủ trạch của Tô Tần, đi thẳng tới cánh đồng hoang rộng lớn phía nam thành Hàm Đan, tĩnh toạ suốt một đêm, sáng sớm hôm sau mới lên đường trở về Quỷ Cốc.

Đường đi tới Hàm Đan, dưới chân như gió thổi. Đường trở về Quỷ Cốc, hai chân như đổ chì.

Lúc tới, đi bộ chưa đầy hai ngày; trở về, mất đúng năm ngày, Ngọc Thiền mới lê được bước chân về đến chân núi Vân Mộng.

Thấy trời đã tối sập, Ngọc Thiền không vào ở trọ tại cửa Túc Tư, mà tìm lấy một hõm núi, tĩnh toạ cả đêm dưới gốc cây lớn. Đến chiều hôm sau thì về tới Quỷ Cốc.

Đứng đợi nàng trước cửa sơn cốc, là tiểu đồng.

“Chị Thiền Nhi!” Tiểu đồng bước lại đón, gỡ tay nải trên lưng nàng xuống. Ngọc Thiền không đáp lại, cứ lầm lũi đi về trong cốc. Đến nơi, Ngọc Thiền mở cửa thảo đường, đi thẳng vào động. Nàng tiến lại phía động của Quỷ Cốc Tử, vén mở rèm, quỳ sụp xuống đất, bật khóc: “Tiên sinh...”

Trong động không có tiếng đáp.

“Tiên sinh! Tiên sinh!” Ngọc Thiền vừa khóc vừa gọi. Nàng có rất nhiều lời muốn nói cùng tiên sinh. Thế nhưng, trong động, ngoài tiếng khóc gọi của nàng, chỉ là một bầu tĩnh lặng.

“Chị Thiền Nhi!” Chốc sau, trong động chợt vang lên giọng nói của tiểu đồng, “tiên sinh không có ở trong động.”

Ngọc Thiền ngỡ ngàng, ngoảnh lại nhìn sững vào tiểu đồng: “Tiên sinh... đâu rồi?”

“Đi rồi.” Tiểu đồng khẽ đáp.

“Đi đâu?” Ngọc Thiền đứng bật dậy, chụp lấy tay tiểu đồng hỏi dồn.

“Đi tìm tiền bối Liệt Tử.” Giọng tiểu đồng vẫn bình thản như cũ.

“Tiên bối Liệt Tử?” Ngọc Thiền khẽ thở hắt ra, “ông ấy tới đây tìm ư?”

“Không phải, tiên sinh đi tìm tiền bối, nói rằng muốn cùng nhau vân du tứ hải bát hoang.”

“Tiên sinh... đi lúc nào?” Ngọc Thiền lại hỏi.

“Sáng sớm nay. Tiểu đồng muốn theo tiên sinh viễn du, nhưng tiên sinh nói, chị Thiền Nhi hôm nay sẽ trở về, muốn tiểu đồng ở lại đợi. Tiểu đồng đã đứng trước sơn cốc chờ chị đúng một ngày.” Giọng tiểu đồng bình thản tới lạ lùng, nói rồi rút từ trong ngực áo ra một túi gấm, “tiên sinh gửi cho chị cái này.”

Ngọc Thiền mở túi gấm, thấy bên trong có một mảnh vải lụa, trên viết bốn câu kệ:

Đoạn trừ duyên tục

Kết thành đạo tâm

Kim đồng ngọc nữ

Cùng cứu thế nhân.

“Tiên sinh...” Ngọc Thiền nức nở, “tiên sinh biết Thiền Nhi sẽ về, sao còn đi thế? Tiên sinh không chờ Thiền Nhi được sao?” Nghẹn ngào một lát, hai mắt tối sầm, ngã quỵ xuống đất.

Đúng lúc Ngọc Thiền ngã xuống, một đôi tay đã giữ lấy nàng.

Tiểu đồng đưa Ngọc Thiền vào trong động, đặt lên giường, đắp chăn cẩn thận. Rồi ngồi xuống bên cạnh, nhắm mắt nhập định. Đêm đó, Ngọc Thiền cuối cùng cũng ngủ được một giấc dài. Tới khi tỉnh dậy, đã là sáng hôm sau.

Thấy đại sư huynh vẫn ngồi im lìm bên giường, trong lòng Ngọc Thiền bất giác trào dâng một niềm xúc động khôn tả. Đúng vậy, trên đời này, những người gần gũi nhất với nàng đều đã lần lượt rời xa nàng, chỉ còn lại đại sư huynh hơn chục năm qua luôn ở bên nàng, từ đầu tới cuối không lúc nào rời xa nàng.

“Sư huynh...” Ngọc Thiền khẽ gọi.

“Chị Thiền Nhi?” Tiểu đồng xuất định, mở mắt nhìn nàng.

“Sư huynh,” Ngọc Thiền nhìn thẳng vào tiểu đồng, “kể từ hôm nay, đừng gọi là chị Thiền Nhi nữa.”

“Vì sao?”

“Vì con ve kia, đã chết rồi!”

Tiểu đồng rõ ràng đã biết có chuyện gì xảy ra, trầm ngâm hồi lâu mới hỏi: “Vậy... tiểu đồng phải gọi là gì đây?”

“Là đá, là cây, gọi là gì cũng được.”

“Vậy sẽ gọi là chị Tự Tại, bởi chị đã không còn vướng bận, đã tự tại rồi.”

“Tiên sinh đã nói, đoạn trừ duyên tục,” Ngọc Thiền khẽ cười, “vậy kể từ hôm nay, hãy gọi tôi là Đoạn Đoạn đi. Còn tôi, nên gọi sư huynh là gì nhỉ?”

“Trừ Trừ.” Tiểu đồng thuận miệng đáp luôn.

Ngọc Thiền bật cười khanh khách như trẻ nhỏ: “Phải, chính là hai chữ này, Trừ Trừ!” Rồi nàng bật dậy khỏi giường, đưa tay nắm lấy tay tiểu đồng, “đi, Trừ Trừ sư huynh, hãy cùng Đoạn Đoạn ra ngoài ngắm mặt trời mọc!”

Đoạn Đoạn, Trừ Trừ, cặp sư huynh sư tỷ tuổi đã xấp xỉ ba mươi nhưng vẫn được Quỷ Cốc Tử gọi là kim đồng ngọc nữ, tay dắt tay nhau bước ra khỏi động, đi vào thảo đường.

Bên cánh cổng gỗ sơ sài, hai người đứng sóng vai nhau, cùng dõi mắt nhìn về xa tít tắp.

Trong sơn cốc thâm u, muôn chim ríu rít, ráng sớm hắt ánh hồng rực rỡ, ngay trên đỉnh núi trước mặt.

A black and white photo of a sign Description automatically generated

THU HỒI ĐẤT CŨ, CẢNH THÚY ĐÁNH THƯƠNG ƯNUỐT LỆ BIỆT LY, THU QUẢ VỀ CỐ QUỐC

Ngọc Thiền đi rồi, chừng non nửa canh giờ sau, cũng tức là khoảng ba khắc theo lời dặn của Ngọc Thiền, Tô Tần dần dần hồi tỉnh.

Vừa mở mắt, nhìn sang bên cạnh, đã thấy Cơ Tuyết ngồi ngay bên giường, vẫn đang nắm chặt lấy tay Tô Tần.

“Tuyết Nhi...” Tô Tần thều thào gọi.

Cơ Tuyết không đáp, chỉ ghé sát khuôn mặt lại gần, nước mắt chầm chậm ứa ra.

“Sao nàng... Sao ta... chuyện là thế nào?” Tô Tần yếu ớt hỏi.

“Tô Tử,” Cơ Tuyết nghẹn ngào đáp, “giờ thì không sao rồi.”

Đầu óc Tô Tần từ từ tỉnh táo trở lại, bắt đầu mang máng nhớ lại chuyện đã qua. Tô Tần ngạc nhiên hỏi: “Trâu huynh đâu?”

Ở ngoài cửa.

“Hãy gọi vào đây.”

Cơ Tuyết cho gọi Trâu Phi Đao vào. Trâu Phi Đao kể lại vắn tắt những chuyện xảy ra. Tô Tần từ từ nhắm mắt lại.

“Tô Tử, là em gái thiếp đã cứu chàng đó!” Cơ Tuyết nói thêm.

“Sư tỷ?” Tô Tần mở choàng mắt, muốn ngồi dậy nhưng không đủ sức, “sư tỷ đâu rồi?”

“Vũ Nhi... đi rồi.” Cơ Tuyết đáp.

“Sư tỷ...” Tô Tần sững sờ.

“Vũ Nhi nói là phụng mệnh tiên sinh tới cứu chàng, đã châm cứu cho chàng ba lượt.”

“Tiên sinh...” Tô Tần mắt ứa lệ, “đệ tử... lại khiến người phải bận lòng...”

“Tô Tử,” Cơ Tuyết bước tới bên chậu than, bưng bát thuốc gác trên thành chậu lên, “thuốc này là do Vũ Nhi sắc cho chàng, vẫn còn ấm.”

Rồi Cơ Tuyết đỡ Tô Tần ngồi dậy, ghé bát thuốc lên môi nhấp thử, thấy không nóng không nguội, mới đưa cho Tô Tần uống. Uống thuốc xong, lại mang cháo đến, Tô Tần ăn vài miếng, rồi mới nằm xuống giường.

Nghỉ ngơi ba ngày, uống xong ba thang thuốc của Quỷ Cốc Tử, Tô Tần đã thấy khoẻ hơn, đang định xuống giường, thì Cơ Tuyết ngăn lại.

“Tô Tử,” Cơ Tuyết nhìn Tô Tần, “Vũ Nhi đã dặn, ngũ tạng của chàng tổn thương quá nặng, ít nhất phải tĩnh dưỡng một năm.”

“Ồ... như thế sao được?” Tô Tần lại chật vật ngồi dậy, “hãy gọi Trâu huynh lại đây, phải chuẩn bị xe, tới Đại Lương ngay, ta sẽ tĩnh dưỡng trên đường đi!”

Cơ Tuyết đi ra, mới được vài bước, đã thấy Trâu Phi Đao và Khuất Tương Tử hối hả tiến vào.

Hỏi han xong xuôi, trong lúc Khuất Tương Tử bắt mạch cho Tô Tần, Tô Tần lại nhắc tới nước Ngụy, đòi lên đường ngay.

“Tô đại nhân,” Khuất Tương Tử bắt mạch xong, nhìn thẳng vào Tô Tần, “theo tướng mạch này, ít nhất trong ba tháng, đại nhân không được đi đâu hết.”

“Em gái ta nói, Tô đại nhân phải tĩnh dưỡng một năm.” Cơ Tuyết nói.

“Phải,” Khuất Tương Tử gật đầu, “sức khoẻ là đại sự. Thiên hạ cần Tô đại nhân, song không phải là một Tô đại nhân yếu ớt kiệt quệ, mà là một Tô đại nhân uy nghi lẫm liệt!” Dừng lại một chốc mới nói tiếp, “không giấu đại nhân, mấy ngày trước, lão hủ đã chuẩn bị sắp xếp hậu sự cho đại nhân rồi. Nếu không nhờ Quỷ Cốc tiên sinh, đại nhân tuyệt đối không thể sống sót.”

“Tô Tần tạ ơn tiền bối!” Tô Tần vòng tay nói.

“Còn nữa,” Khuất Tương Tử hạ giọng, “nơi này không thể ở lâu, lão hủ đang tìm nơi tình dưỡng khác cho đại nhân.”

“Vì sao kia?”

“Lần này đại nhân gặp nguy hiểm, có liên quan tới nước Ngụy.”

“Ồ?”

“Có người nghe thấy lão hủ bẩm báo với đại nhân về nội tình của vương phi nước Ngụy, rồi báo cho ả biết, trong lúc cấp bách, ả đã ra tay hạ độc đại nhân.”

Tô Tần bàng hoàng kinh hãi.

“Nếu đúng như lão hủ dự đoán, kẻ báo tin và kẻ hạ độc, ở ngay trong phủ của đại nhân.”

“Là ai?” Tô Tần hỏi dồn.

“Thu Quả!”

“A?” Tô Tần sửng sốt không nói nên lời, hồi lâu sau mới lẩm bẩm, “không thể nào. Thu Quả không thể hại ta được.”

“Đúng vậy, nhưng vương phi nước Ngụy kia thì có thể. Ả đã bị ép đến đường cùng, buộc phải ra chiêu hiểm.”

“Thế nhưng...” Tô Tần chau mày suy nghĩ, “từ lúc tiền bối báo tin với vãn bối, tới lúc vãn bối trúng độc, trước sau không tới chục ngày, người Tần sao có thể thần tốc đến vậy?”

“Đại nhân am hiểu chuyện cung đình, nhưng không am hiểu Hắc Điêu đài của người Tần. Kẻ đưa thư của Hắc Điêu đài là chim ưng, chim ưng sải cánh nghìn dặm đấy! Đừng nói là Hắc Điêu đài, ngay cả Mặc môn của lão hủ, nếu gặp đại sự, cũng có thể truyền tin nghìn dặm chỉ trong một ngày.”

“Tiền bối hẳn có bằng chứng?” Tô Tần hỏi, “chuyện của Thu Quả.”

“Có hai bằng chứng. Thứ nhất là nước uống của đại nhân. Nghe Trâu Phi Đao nói, đại nhân sau khi uống nước trong ống tre, lập tức mất đi tri giác, nên chất độc ở trong nước. Đồ dùng của đại nhân, đều do một tay Thu Quả sắp xếp, hôm đó, Thu Quả đã chuẩn bị chu đáo tất cả mọi thứ, không có lý gì lại quên đổ đầy nước được. Là Thu Quả cố tình chỉ đổ ngần ấy nước.”

“Vì sao kia?”

“Vì nếu đổ đầy nước, đại nhân chỉ uống vài ngụm, một là độc không đủ liều, hai là sẽ để lại chứng cứ.”

“Còn bằng chứng thứ hai?”

“Thứ hai là, sau khi đại nhân trúng độc, Thu Quả luôn túc trực bên giường đại nhân, khóc lóc không ngừng, nhưng không chịu nói bất cứ điều gì. Sau đó, lão hủ bắt đầu sinh nghi, không cho nàng ấy trông nom đại nhân nữa. Thu Quả dường như cũng nhận ra gì đó, nên chập tối hôm qua, đã rời khỏi nhà, hành vi rất lén lút, giữa đường còn thay y phục mấy lần, cuối cùng lẻn vào một cửa hiệu. Lúc đó đã rất muộn, mọi hàng quán đều đã đóng cửa, duy có cửa hiệu kia vẫn mở hé một cánh. Khi Thu Quả bước vào, có ánh đèn từ bên trong chiếu ra. Thu Quả ở trong đó rất lâu mới trở ra, lang thang cả đêm ngoài phố, đến sáng mới quay về phủ, lúc này đang ở trong phòng, hẳn là đã ngủ rồi.”

Tô Tần nhắm mắt lại.

Rõ ràng, những gì vừa nghe thấy, Tô Tần thực sự không muốn tin.

“Tạ ơn tiền bối yêu mến!” Hồi lâu sau, Tô Tần mới mở mắt, vòng tay với Khuất Tương Tử, “bất luận thế nào, vãn bối vẫn khẩn cầu tiền bối, chớ làm tổn thương đến Thu Quả.” Lại trầm ngâm một hồi, mới khẽ lẩm bẩm như tự nhủ, “nếu Tô Tần bắt buộc phải chết, Tô Tần thà chết trong tay con bé.”

“Tô Tử...” Cơ Tuyết vừa nghe, đã bật khóc thành tiếng.

“Tuyết Nhi,” Tô Tần khẽ cười, “Tô Tần... vẫn còn sống đây mà!”

Hay tin Tô Tần được Quỷ Cốc Tử cứu sống, Thu Quả bị Mặc gia nghi ngờ, Thiên Hương kinh hãi rụng rời, cấp báo toàn bộ sự tình với công tử Hoa, thỉnh cầu chỉ dẫn hành động tiếp theo. Công tử Hoa không tấu báo lên Tần Vương, mà lệnh cho Thiên Hương và Thu Quả lập tức về Tần.

Vào hôm Thu Quả nhận được mệnh lệnh về Tần, vừa hay trong phủ Tô Tần xảy ra hai chuyện lớn. Thứ nhất, Khuất Tương Tử đã sắp xếp xong nơi tĩnh dưỡng cho Tô Tần, chuẩn bị dọn đi; thứ hai, Mộc Thực dẫn theo một bé gái quay về.

Thu Quả vịn vào cánh cửa, lén nhìn qua khe cửa ra ngoài. Bên ngoài khe cửa, không khí trong sân có vẻ rất vui. Cơ Tuyết mấy hôm nay lúc nào cũng túc trực bên Tô Tần không rời nửa bước, lúc này từ trong phòng chạy vụt ra, dừng lại trước mặt bé gái, hai mắt sững sờ.

Bé gái đã cao ngang vai Mộc Thực, mình mặc trang phục Mặc gia, lưng đeo đoản kiếm, gọn gàng sáng sủa, vừa nhìn là biết từ nhỏ đã luyện võ công.

Bé gái cũng nhìn Cơ Tuyết chăm chăm.

“Gọi mẹ đi, Phi Phi,” Mộc Thực chỉ vào Cơ Tuyết, nói với bé gái, “đây chính là mẹ con đó, chẳng phải ngày nào con cũng nhắc tới ư?”

Phi Phi vẫn đứng ngây tại chỗ, chỉ có đôi mắt mở to nhìn sững vào quý phụ xiêm y hoa lệ, đoan trang kiều diễm trước mặt.

“Gọi đi, Phi Phi, chẳng phải con luôn mong được gặp mẹ sao?”

Cơ Tuyết từ từ ngồi xuống, mắt nhìn bé gái đăm đắm. “Gọi mẹ đi, Phi Phi!” Mộc Hoa cũng tiến lại bên bé gái, giục giã.

“Mẹ...” Phi Phi cất giọng lí nhí.

“Phi Phi...” Cơ Tuyết quỳ sụp xuống đất, hai tay dang rộng, ôm chầm lấy con gái vào lòng.

Phía sau khe cửa, Thu Quả cũng nước mắt tuôn trào, hai chân mềm nhũn, ngã khuỵu xuống đất.

Có tiếng bước chân líu ríu vọng tới bên tai Thu Quả. Tiếng bước chân xa dần, rồi biến mất trong buồng ngủ của Tô Tần. Thu Quả cứ ngồi bất động như vậy, mặc cho nước mắt tuôn rơi.

Bóng nắng dịch chuyển từng chút một.

Cuối cùng, Thu Quả cũng nhấc mình đứng dậy, quệt nước mắt, quay trở vào phòng tắm, múc từng gáo nước trong thùng, chầm chậm đổ lên người...

Tắm gội kỹ lưỡng rồi, Thu Quả trở vào phòng, ngồi xuống trước gương đồng, tự ngắm mình trong gương. Ngắm rất kỹ. Mái tóc óng ả, khuôn mặt thanh tú, ánh mắt trong veo, đôi môi tươi tắn, làn da trắng mịn, thân thể nuột nà... Càng nhìn, Thu Quả càng bàng hoàng. Xưa nay, Thu Quả chưa bao giờ nghĩ, mình lại xinh đẹp đến vậy.

Thu Quả bắt đầu búi tóc, cài trâm, kẻ mày, thoa phấn. Rồi nàng mở hộp trang sức, lần lượt cài tất cả những trâm thoa nàng có lên trên tóc.

Rồi nàng lại đờ đẫn bước tới bên tủ, mặc từng chiếc áo lên người. Lúc này đang là cuối hè, vẫn khá nóng nực, song Thu Quả không hề cảm giác thấy. Nàng lần lượt khoác lên người tất cả những y phục đẹp đẽ mà bình thường hầu như không hề đụng tới, không bỏ sót một chiếc nào.

Rồi Thu Quả quay lại trước gương đồng, ngắm mình trong gương. Ngắm một lúc, trên mặt Thu Quả hé một nụ cười, nàng cười rạng rỡ, cười trong màn lệ.

Rồi nàng chầm chậm tiến tới trước giường, lấy ra bình thuốc mà nàng bớt lại, mở nút, ghé sát mũi ngửi, vẫn không có mùi gì khác lạ. Nàng từ từ quỳ xuống, ngửa đầu khẽ niệm: “Cha, mẹ, xin hãy tha thứ cho đứa con bất hiếu này...”

Niệm xong, Thu Quả lấy từ dưới gối ra tấm điêu bài, đeo ngay trước cổ áo, giấu bình thuốc vào trong tay áo, rồi đẩy mở cửa phòng, nhấc từng bước chân tiến về phía phòng Tô Tần.

Một bóng người vụt ra trước mặt. Là Mộc Hoa.

“Ồ!” Mộc Hoa kinh ngạc nhìn nàng, rồi cười hỏi, “mặc đẹp thế này, định làm gì thế?”

“Em phải đi rồi, muốn tới từ biệt cha nuôi.”

“Đi?” Mộc Hoa đảo mắt, “đi đâu?”

“Xa lắm!” Thu Quả chỉ về phía tây, nở một nụ cười thê thiết.

Mộc Hoa hiểu, nàng muốn nói tới nước Tần, nàng muốn từ biệt Tô Tần để về cố quốc. Mộc Hoa ngẫm nghĩ một lúc, rồi dẫn nàng đi về phía phòng Tô Tần. Trâu Phi Đao đang canh ngoài cửa liền bước lại đón, hai mắt trợn trừng, sửng sốt nhìn Thu Quả từ đầu đến chân.

Mộc Hoa chỉ vào Thu Quả: “Thu Quả sắp đi rồi, tới chào từ biệt chúa công!”

Thu Quả chỉ mỉm cười nhìn Trâu Phi Đao. Trâu Phi Đao nhìn một thân phục sức của nàng, không nhịn được phải hỏi: “Không thấy nóng sao?”

“Không!”

Trâu Phi Đao ngần ngừ một lát, rồi vào trong bẩm báo với Tô Tần. Tô Tần bèn cho gọi nàng vào.

Trâu Phi Đao dẫn Thu Quả vào trong phòng. Tô Tần còn yếu, ngồi dựa thành giường, lưng kê tấm đệm mềm. Cơ Tô Phi Phi ngồi ở bên giường, đứng cạnh là Cơ Tuyết. Nhìn thấy phục sức của Thu Quả, Phi Phi mở tròn mắt hiếu kỳ.

Thu Quả tiến tới giữa phòng, khi còn cách giường Tô Tần vài bước, thì chầm chậm quỳ xuống.

“Thu Quả, mau đứng dậy,” Tô Tần vui vẻ nói, rồi nhìn sang Phi Phi, “Phi Phi, đây là chị Thu Quả, con nuôi của cha.”

Cơ Tuyết đã biết chuyện của Thu Quả, hai mắt dán chặt vào nàng, cảnh giác cao độ, như thể trên người Thu Quả có ẩn giấu hung khí giết người.

Thu Quả không đáp, cũng không nhìn bất cứ ai, hai mắt chỉ nhìn chằm chằm vào Tô Tần.

“Thu Quả?” Ánh mắt Tô Tần di chuyển tới phục sức của nàng.

“Tô Tần,” Thu Quả đổi cách xưng hô, gọi thẳng tên hắn, “Thu Quả muốn nói chuyện riêng với người.”

Hết thảy những người có mặt đều sửng sốt, gồm cả Tô Tần.

Tô Tần sững lại một chốc, mới nhìn sang Cơ Tuyết và Phi Phi, “Tuyết Nhi, hãy dẫn Phi Phi ra ngoài một lát, để Tần nói chuyện với Thu Quả.”

“Tô Tử?” Cơ Tuyết lo lắng.

“Nàng hãy ra đi, Thu Quả có lời muốn nói.” Tô Tần kiên quyết.

Cơ Tuyết ngần ngừ một lát, rồi cũng kéo Phi Phi dậy đi ra phía cửa. Ngoảnh đầu lại nhìn, thấy Trâu Phi Đao và Mộc Hoa đứng kè kè hai bên Thu Quả, mới yên tâm bước ra.

“Nói đi, Thu Quả!” Tô Tần cười, “chú Trâu và chị Mộc Hoa đều không phải người ngoài.”

“Thu Quả chỉ muốn nói với một mình người.”

Trâu Phi Đao, Mộc Hoa càng thêm căng thẳng, nhìn chằm chằm vào Thu Quả.

“Hai người cũng ra cả đi.” Tô Tần dịu giọng nói.

“Chúa công?” Mộc Hoa lo lắng.

“Ra ngoài đi.” Tô Tần phẩy tay.

Hai người đành phải lui ra ngoài cửa.

“Thu Quả, giờ không còn ai nữa, con có điều gì, hãy cứ nói đi.” Tô Tần cất giọng ôn tổn.

Thu Quả hướng về phía Tô Tần, dập đầu liền ba cái, rồi nói rành rọt từng tiếng: “Tô Tần, Thu Quả muốn nói ba câu.”

“Nói đi, cha nghe đây!”

“Câu thứ nhất, Thu Quả không muốn làm con gái của Tô Tần, chưa bao giờ muốn.”

Tô Tần hiểu nàng muốn nói gì, thì mỉm cười nói: “Ồ, được thôi, vậy thì hãy làm em gái của Tần. Tần đã có sư tỷ, đang thiếu một em gái.”

“Cũng không muốn làm em gái của đại nhân.”

“Được rồi, câu đầu tiên, hãy tạm gác lại, còn câu thứ hai.”

“Thu Quả muốn cho đại nhân biết, Thu Quả là người của Hắc Điêu đài nước Tần.” Thu Quả nói rồi chỉ vào điêu bài trước ngực.

“Ta đã biết.” Tô Tần khẽ cười, “còn câu thứ ba?”

Thu Quả đưa tay vào trong ngực áo, lấy ra bình thuốc, mở nút, giọng bình thản: “Thứ trong bình này, vốn dùng để hạ độc giết chết đại nhân, bị Thu Quả bớt lại một nửa, để dành cho Thu Quả.” Rồi không nhìn Tô Tần nữa, nâng bình lên, dốc vào miệng.

“Thu...” Tô Tần hét lên một tiếng, nhào xuống khỏi giường. Còn chưa kịp gọi nốt chữ “Quả”, đã nghe “vút” một tiếng, có vật gì đó bay xẹt lại, nhanh như tia chớp, lách qua khuỷu tay Thu Quả, đập trúng vào miệng bình.

“Choang” một tiếng giòn tan, cái bình vỡ vụn, nước bắn tung toé lên người Thu Quả.

Là một cây phi đao!

Ngay sau đó, hai bóng người gần như đồng thời bay vụt vào, một trái một phải, giữ chặt lấy Thu Quả.

Thu Quả không kịp phản ứng, bàng hoàng chết lặng.

Đây là lần đầu tiên, Thu Quả được lĩnh giáo bản lĩnh của Mộc Hoa và Trâu Phi Đao. Trước mặt họ, chút công phu mèo què mà nàng học được trong núi Chung Nam thật chẳng thấm vào đâu. Thu Quả bật khóc.

Cùng lúc này, Cơ Tuyết và Phi Phi cũng chạy vào. Cơ Tuyết đỡ Tô Tần dậy, dìu lên giường.

“Thu Quả!” Tô Tần ứa nước mắt, giọng nghẹn lại, “hôm nay Tần mới biết, Tần lại nợ Thu Quả thêm một mạng!”

“Chú Trâu...” Thu Quả tuyệt vọng kêu lên, “hãy giết tôi đi, Thu Quả cầu xin chú...”

“Tuyết Nhi, Phi Phi, hãy đỡ Thu Quả lại đây.” Tô Tần nói.

Cơ Tuyết, Phi Phi cùng bước lại. Mộc Hoa gỡ điêu bài của Thu Quả xuống, lục soát Thu Quả, thấy trên người nàng không còn vật nào đáng ngờ nữa, mới thả nàng ra. Cơ Tuyết, Phi Phi mỗi người dìu một bên, đưa Thu Quả lại bên giường Tô Tần. Thu Quả quỳ xuống trước giường, nức nở trong tuyệt vọng.

“Thu Quả!” Đợi tiếng khóc của nàng dịu bớt, Tô Tần mới cất giọng ôn tồn, “chuyện lần này, Tô Tần không trách Thu Quả, không trách Thiên Hương, không trách công tử Hoa, càng không trách Tần Vương, bởi Tô Tần hiểu, bất kỳ ai trong số những người đó, đều không muốn giết Tô Tần.”

“Sao... người biết được?” Thu Quả thôi khóc, nhìn sững vào Tô Tần.

“Trước tiên hãy nói về Thu Quả.” Tô Tần chậm rãi giải thích, “Tần biết tấm lòng của Thu Quả đối với Tần trong suốt bao năm qua, sao Thu Quả có thể giết chết một người mà mình đã hai lần cứu mạng? Tiếp đến là Thiên Hương, Tần và nàng ta không thù không oán, không có dây mơ rễ má gì với nhau, sao nàng ta nhất định phải giết chết Tần?

Còn công tử Hoa và Tần Vương, nếu họ muốn giết, thì Tần đã chết từ lâu rồi.”

“Nhưng... họ nhất quyết muốn giết người!”

“Phải. Họ không thể không giết!” Tô Tần khẽ thở dài, “nhưng giờ thì không sao rồi. Thu Quả, hãy cứ yên tâm ở lại đây, sẽ không ai làm tổn thương tới con đâu. Cho dù có xảy ra chuyện gì, ta vẫn tin con. Ở đây có chú Trâu và mọi người, sẽ cùng bảo vệ cho con.”

Thu Quả lại bật khóc.

“Mộc Hoa, hãy dẫn Thu Quả về phòng, trông nom cẩn thận. Chúng ta sẽ ở lại phủ này, không phải chuyển đi nữa.”

“Tô đại nhân,” Thu Quả lau nước mắt, lại đổi cách xưng hô, “tạ ơn đại nhân tin tưởng. Trước mắt Thu Quả chỉ có hai con đường, một là chết, hai là về Tần. Điêu đài đã hạ lệnh rồi.”

“Ồ...” Tô Tần giật mình.

“Thu Quả một lòng muốn chết, nhưng chú Trâu không để Thu Quả chết. Thu Quả không còn con đường nào khác, đành phải về Tần phục mệnh!” Thu Quả dứt khoát.

“Thu Quả, hãy nghĩ kỹ, nếu như con về...” Tô Tần vội can ngăn.

“Nếu Thu Quả không về, sẽ không phải chết, nhưng Thu Quả còn cha, mẹ, các em, và rất nhiều người nữa...” Thu Quả càng khóc thảm thiết.

Đúng vậy, họ sẽ phải chết. Chiếu theo Tần pháp, nếu Thu Quả nhận lệnh mà không về, sẽ bị khép vào tội phản quốc, đừng nói là người nhà, đến cả họ hàng, láng giềng cũng sẽ phải chịu tội liên đới. Đây, chính là một nút chết.

Tô Tần trầm ngâm hồi lâu, rồi quay sang Trâu Phi Đao: “Trâu huynh, hãy chuẩn bị xe cho Thu Quả!”

Đúng lúc Tô Tần gặp nạn, Trương Nghi trong trang phục thương nhân, cùng Ngạc Quân Khải, Bành Quân và Xạ Cao Quân xuất phát từ đất phong của Kỷ Lăng Quân tiến lên phía bắc, tuần du Uyển Thành, hộ tống họ là Xa Vệ Tần.

Vào thời Tây Chu, Uyển Thành vốn là đất phong của Thân Hầu, sau bị người Sở tiêu diệt, biến thành Uyển Quận, địa hạt bắc tới Phương Thành, tây tới Ư Thành, đông tới Dạng Lăng, nam tới đất Đặng, Nhương màu mỡ, gần hai chục năm qua, quận thú vẫn luôn là Cảnh Thuý.

Uyển Thành nằm bên bờ sông Dục Thuỷ, tường thành cao dày, hình vuông, mỗi cạnh tám dặm, có mười hai cổng thành, đông tây nam bắc mỗi phía ba cổng, ở giữa là cổng chính, đủ rộng cho xe chạy qua, cổng thành kiên cố. Cách hai bên cổng chính chừng năm trăm bước có hai cổng phụ trái phải. Cổng phụ nhỏ hẹp, chỉ đủ cho xe trâu xe bò và người đi bộ ra vào, khi có chiến tranh, cổng này sẽ đóng chặt. Ngoài cổng thành có hào nước sâu và rộng, dẫn nước sông chảy vòng quanh thành. Nếu lại thêm các ấp xung quanh và Phương Thành rộng lớn phía bắc, thì về mặt phòng ngự, Uyển Thành xứng danh là thành đồng vách sắt.

Đây là lần thứ hai Trương Nghi tới Uyển Thành. Lần đầu là hơn chục năm trước, khi đó hắn chạy khỏi nước Sở, thương tích đầy mình, cùng Hương Nữ ngồi xe của Giả Xá Nhân qua đây, nghỉ lại một đêm. Khi đó, Trương Nghi chỉ một lòng nghĩ đến việc chạy khỏi đất Sở, chẳng còn tâm trí đầu mà nhìn ngắm xung quanh. Lần này thì khác, Trương Nghi trở lại đất xưa, tận mắt chứng kiến sự trù phú và phong tục của đất Uyển, không khỏi bùi ngùi xúc động.

Trương Nghi lần này tới đây với thân phận là thương nhân thu mua lưỡi cày, bởi vậy Ngạc Quân cũng không rêu rao rùm beng, mà đối đãi đúng như với thương nhân. Đến tối, mở tiệc tại một tửu lâu sang trọng trong Uyển Thành, chủ tiệc là Ngạc Quân, bốn người bồi tiếp là Ngạc Quân, Xạ Cao Quân, Bành Quân và công doãn quận Uyển là Chiêu Thử.

Đến cả Chiêu Thử cũng không hề hay biết vị thượng khách trong yến tiệc của Ngạc Quân chính là tướng quốc nước Tần danh tiếng lẫy lừng thiên hạ, mà chỉ biết đây là thần tài đến từ đất Tần, mang đến một mối làm ăn lớn.

Rượu qua ba tuần, Trương Nghi nổi hứng, chấm rượu viết lên trên án một chữ “Uyển” thật lớn, cười hỏi Ngạc Quân: “Ngạc Quân hẳn biết chữ này?”

Rõ ràng, Trương Nghi không phải muốn đọc chữ, mà là muốn giải chữ.

Ngạc Quân không biết giải thích thế nào, nhìn sang Bành Quân.

Bành Quân cũng không phải người ham đọc sách, vò đầu bứt tai một chốc thì vòng tay: “Tại hạ ngu dốt, kính xin Trương Tử chỉ giáo.”

Trương Nghi khẽ cười: “Chỉ giáo thì không dám, tại hạ chẳng qua chỉ nghĩ gì nói nấy mà thôi. Chư vị xin hãy xem chữ này, phía trên có bộ ‘miên’, nghĩa là toà nhà; phía dưới có chữ ‘uyển(1) ’ , nghĩa gốc của chữ này là cỏ trên cánh đồng phì nhiêu đổ rạp trước gió. Vậy thì chữ ‘uyển’ có nghĩa là cỏ cúi rạp trong căn nhà cỏ mọc trong nhà, không có gió thổi, sao lại cúi rạp? Bởi lẽ bên trên có mái nhà che chắn, nên ánh nắng chỉ có thể chiếu vào qua cửa và cửa sổ. Cây cỏ hướng về ánh nắng, nên chúng mới phải đổ rạp, hướng về phía cửa, đó là nghĩa của chữ ‘uyển’.”

(1) Trong chữ Hán, chữ uyển ■ gồm có bộ miên ■ ở trên và chữ uyển ■ ở dưới.

“Chà!” Tử Khải lộ vẻ kinh ngạc, vỗ tay khe khẽ, “Trương Tử không nói, tại hạ quả thực không biết chữ ‘uyển’ lại có ý nghĩa này!” Đoạn nâng chén, “Trương Tử, vì chữ ‘uyển’ này, cạn chén!”

Chúng nhân đều cười, nâng chén cùng uống.

Thấy Trương Nghi kiêu căng tự phụ, khoe khoang học vấn, lại giải thích chữ “uyển” là cỏ hướng về ánh sáng, không thể đứng thẳng lưng, mà mấy vị phong quân kiến văn thiển cận vẫn cam chịu sỉ nhục, Chiêu Thử ngồi ở ghế cuối bắt đầu ngứa mắt, từ từ đặt chén rượu xuống, thong thả lên tiếng: “Theo hạ quan biết, chữ này có một cách giải thích khác. Tương truyền năm xưa Viêm Đế đi qua nơi đây, lên chỗ cao nhìn về phía xa, thấy nơi này bốn phía đều là núi, ở giữa giống như cái sọt, nước trong chảy tràn, cỏ xanh như thảm, ruộng đồng màu mỡ, mới cảm thán rằng: ‘Đất này long khí uyển chuyển, quả là cái sọt trù phú.’ Nghe được lời tốt lành của Viêm Đế, dân chúng đua nhau tìm tới định cư, trồng trọt cấy cày, nghỉ ngơi tĩnh dưỡng. Cho tới thời tiên tổ Văn Vương, diệt nước Thân, được đất Uyển, dựng thành ấp tại đây. Thành ấp xây xong, cần tiên Văn Vương đặt tên, có người kể với tiên vương câu nói của Viêm Đế, tiên vương lấy làm thích thú, lập tức quyết định, nếu đã có long khí uyển chuyển, hãy gọi đây là Uyển Ấp. Sau đó, ấp này trải nhiều biến đổi, từ Uyển Ấp thành Uyển Thành, rồi tới Uyển Huyện, Uyển Quận, song thay đi đổi lại, chưa bao giờ bỏ đi chữ Uyển này.”

Cách giải thích của Chiêu Thử hết sức thông minh. Thứ nhất, cho rằng chữ “Uyển” là do thánh nhân thượng cổ đặt ra; thứ hai, cho rằng Uyển Thành có long khí; thứ ba, chỉ rõ đất Uyển là do tổ tiên nước Sở chinh chiến mà có được.

Chiêu Thử nhanh trí, đã vực lại thể diện cho chúng vương thân, đám Ngạc Quân Khải đều vỗ tay khen ngợi. Trương Nghi đưa mắt, nhìn chằm chằm vào Chiêu Thử.

Chiêu Thử là công doãn của Uyển Thành, do Chiêu Dương tiến cử, cai quản xưởng thủ công và lò luyện kim ở Uyển Thành. Chức quan tuy không cao, song được coi là công việc béo bở hạng nhất. Chức này trước kia luôn nằm trong tay dòng họ Cảnh, cách đây ba năm, Chiêu Dương phải hao tâm tổn trí lắm mới giành lấy được, tiến cử Chiêu Thử đảm trách. Chiêu Thử là cháu ruột của Chiêu Dương, được coi là kẻ khá có tri thức trong đám hậu bối Chiêu môn, lanh lợi hoạt bát, mới giữ chức được ba năm, quả không phụ kỳ vọng, không những bản thân thu lợi dồi dào, còn vun vén thoả đáng cho các bên, từ đó khiến thế lực họ Chiêu dần dần cắm sâu vào trong địa hạt của họ Cảnh.

“Chà chà!” Trương Nghi thu ánh mắt lại, nhấc chén lên chìa về phía Chiêu Thử, khen ngợi một cách khoa trương, “tại hạ đề nghị, chúng ta hãy cùng cạn chén vì sự uyên bác của Chiêu đại nhân đây!”

Mọi người đều nâng chén uống cạn.

“Chiêu đại nhân,” Trương Nghi nhìn sang Chiêu Thử, vòng tay, “tại hạ xin được thay mặt dân Tần ở Quan Trung, kính mời đại nhân một chén!”

“Ồ... hạ quan...” Chiêu Thử nhìn sang Ngạc Quân.

“Đây là chuyện rất nên!” Trương Nghi bật cười vài tiếng, “nghe Ngạc Quân nói, toàn bộ chuyện lưỡi cày đều do Chiêu đại nhân đây lo liệu cả!”

“Hạ quan được chư quân ưu ái mà thôi. Tạ ơn Trương đại nhân quá khen, chỉ là chén rượu này quá nặng, hạ quan không dám uống bừa!” Chiêu Thử lại nhìn sang Ngạc Quân.

“Ồ?” Trương Nghi cũng nhìn sang Ngạc Quân.

“Cứ uống đi!” Ngạc Quân phẩy tay với Chiêu Thử, “ý tốt của Trương Tử, sao có thể tùy tiện khước từ?”

“Tạ ơn tấm thịnh tình của Trương Tử!” Chiêu Thử lúc này mới nâng chén, hướng vào chư quân kính đủ một vòng, rồi mới cùng uống với Trương Nghi.

“Xin hỏi đại nhân,” Trương Nghi đích thân cầm bình, đứng dậy, bước lại trước mặt Chiêu Thử, lại rót đây chén, cười nói, “đợt hàng đầu tiên, hẳn đã có đủ?”

“Vét sạch hàng trong kho, được hơn vạn chiếc; gom hàng tồn các nơi, được một vạn nữa, tổng cộng hai vạn có dư.”

“Ồ?” Trương Nghi ngạc nhiên, “đợt hàng đầu tiên là bốn vạn, vậy thì vẫn còn thiếu hơn vạn nữa.”

“Vâng.” Chiêu Thử gật đầu.

“Công tử,” Trương Nghi nhìn sang Ngạc Quân Khải, “khế ước hẹn giao hàng trong vòng một tháng, giờ đã hơn mười ngày rồi!”

“Trương đại nhân yên tâm,” Xạ Cao Quân tiếp lời, “chúng tôi đã kiểm tra, trong kho các nhà vẫn còn ít sắt thô, sẽ đem đi đúc, không tới mười ngày nữa, có thể giao hàng!”

“Nếu nói như vậy,” Trương Nghi vỗ tay vài cái, quay sang Chiêu Thử, “mười ngày nữa là có thể giao hàng?”

“Thu gom, sắp xếp, cũng cần ba ngày, còn như lúc nào giao hàng, hạ quan kính cẩn chờ nghe mệnh lệnh của chư quân!” Chiêu Thử lại nhìn sang mấy vị phong quân.

Trương Nghi cũng nhìn sang Ngạc Quân Khải.

“Trương Tử, mười lăm ngày nữa giao hàng, thế nào?” Ngạc Quân Khải gõ tay xuống án.

“Vì mười lăm ngày nữa giao hàng, hãy cạn!” Trương Nghi nâng chén.

Sáng sớm hôm sau, Chiêu Thử đích thân đi lo chuyện thu gom lưỡi cày, còn đám phong quân mời Trương Nghi tới đất phong của Ngạc Quân thăm lò luyện.

Đất phong của Ngạc Quân rộng chừng sáu mươi dặm, gồm ấp Đô và ấp Ngạc ở hai bờ Dục Thuỷ, cách Uyển Thành năm mươi dặm về phía bắc, là ấp luyện sắt trọng yếu bậc nhất ở quận Uyển, có đến vài chục lò luyện lớn nhỏ. Rõ ràng, Tử Khải xin phong đất này, là nhắm vào những lò luyện đó. Lò luyện đa phần do các phong quân gần xa đổ tiền xây dựng, Ngạc Quân chỉ có hai lò. Song bất luận là lò luyện của nhà nào, đã nằm trên đất của Ngạc Quân, đều phải nộp một phần lợi tức. Chỉ tính riêng khoản này, đã đủ khiến người ta thèm đỏ mắt.

Thăm lò luyện xong, lại tới kho chứa sắt sống. Nhìn những khối sắt chồng xếp ngay ngắn, Trương Nghi tươi cười hoan hỉ, lại bảo Ngạc Quân dẫn đi thăm ruộng đồng gần đó, để xem nông dân dùng trâu cày ruộng thế nào. Nhìn một lúc, Trương Nghi nổi hứng, tháo luôn hia, xắn cao tay áo, túm gọn áo xống, xuống ruộng vịn cày, học theo nông dân, cày suốt non nửa canh giờ, từ lúc đường cày vẹo vọ cho tới khi thẳng băng.

Đêm đó, Trương Nghi ngủ lại ấp Ngạc. Sáng hôm sau thì rời Ngạc về Tần.

Lúc từ biệt lên đường, Trương Nghi đã lên xe rồi, lại bỗng nhảy xuống, kéo Ngạc Quân sang một bên, ghé tai thì thầm: “Nghi có lời tâm huyết, muốn nói với công tử!”

“Khải kính cẩn rửa tai lắng nghe!” Ngạc Quân đáp.

“Hẳn công tử đã biết,” Trương Nghi hạ giọng thì thào, “Tần Vương đã phong Ư Thành cho tại hạ, Ư Thành tuy chật hẹp, song cũng là gia sản của tại hạ. Công tử biết đấy, Ư Thành đất đai cằn cỗi, tại hạ vất vả nhiều năm, mà cũng không tích luỹ được là bao. Nay nhà rộng nghiệp lớn, không có tiền, không đủ sức nuôi gia quyến. Hiện có đến gần vạn miệng ăn chờ chực, tại hạ đau đầu nghĩ không ra cách, may sao hay tin Sở có lưỡi cày, mà dân Quan Trung lại canh tác vất vả quá, mới nảy ra ý buôn bán lưỡi cày, nhân tiện kiếm chút tiền mọn. Vậy nên tại hạ mới tâu lên Tần Vương, xin buôn lưỡi cày để giúp dân Tần, Tần Vương nghe cũng lọt tai, bèn ân chuẩn. Nhưng tại hạ vốn liếng không nhiều, dốc hết gia sản cũng chưa gom nổi trăm lượng. Tại hạ chẳng biết làm sao, lại phải thuyết phục mấy công tử giàu có trong Tần thất và các thế gia cùng góp tiền vàng. Họ nghe nói buôn lưỡi cày rất khá, nên đều hào hứng dốc vốn tham gia, cũng muốn nhân thể kiếm lời. Công tử biết đấy, tại hạ tuy là con rể của vương thất, song lại không có nền móng vững chãi ở Tần, vụ kinh doanh này, tại hạ chỉ có thể lời chứ không được phép lỗ. Ngộ nhỡ đổ bể, những công tử kia, ai cũng đủ sức băm vằm tại hạ thành muôn mảnh!”

Thấy Trương Nghi thú thực ẩn tình, Ngạc Quân lấy làm cảm động, trịnh trọng hứa: “Trương huynh yên tâm, có Khải ở đây, đảm bảo mọi việc sẽ tiến hành thuận lợi!”

“Nhưng suốt hành trình, tại hạ lại thấy, đại vương dường như quyết chí phạt Tần. Phạt Tần, xung đột đầu tiên, chắc chắn là Ư Thành, chính là thực ấp của tại hạ đấy...” Trương Nghi cười nhăn nhó.

“Than ôi,” Ngạc Quân giọng đầy hậm hực, “đều tại Cảnh Thuý kia cả! Chỉ có ông ta chăm chăm muốn phạt!”

“Công tử,” Trương Nghi nhìn thẳng vào Ngạc Quân, giọng nói bỗng trở nên hùng hồn, “tại hạ cũng không phải dạng ăn không ngồi rồi, sớm đã chuẩn bị ba vạn nhuệ binh chờ sẵn ở Ư Thành, tại hạ muốn nhờ công tử nhắn lại với vương thúc, tranh giành qua lại, đều vì lợi hại mà thôi. Ngày sau vô sự là tốt nhất, hai bên chúng ta cùng dốc sức kinh thương, kiếm chút tiền mọn, chia sẻ nguồn lợi. Còn ngộ nhỡ sinh chuyện, cũng xin dũng sĩ thuộc hạ của vương thúc giơ cao đánh khẽ, giữ chút thể diện cho tại hạ. Đương nhiên, tại hạ cũng sẽ bảo toàn thể diện cho vương thúc. Phàm là binh mã của vương thúc, tại hạ sẽ không để người Tần bắn ra một mũi tên! Phàm một cành cây ngọn cỏ, một thành một trì mà vương thúc nhìn tới, tại hạ sẽ lệnh cho người Tần nhường hết!”

‘Tạ ơn Trương Tử tác thành!” Ngạc Quân vòng tay nói, “ý tốt của Trương Tử, Khải nhất định sẽ chuyển tới vương thúc!”

Trương Nghi lưu luyến từ biệt Ngạc Quân lên đường, tối đó tới ấp Niết phía tây Uyển Thành. Sông Niết Thuỷ từ trên đỉnh Ngũ Đoá núi Phục Ngưu phía bắc đổ thẳng xuống, tới chân núi thì lượn một vòng lớn tại con đường cái quan từ Uyển Thành dẫn tới Ư Thành, hình thành nên hào nước tự nhiên cho thành trì này, rồi tiếp tục chảy xuống phía nam, nhập vào Hắc Thuỷ. Thành trì này ở bờ bắc vòng cung Niết Thuỷ, nên gọi là ấp Niết. Ấp Niết vốn là một ấp kinh thương nhỏ của Sở, sau khi bị Thương Ưởng đánh chiếm, mới mở rộng thành một ấp trung bình, có tám nghìn nhuệ binh trấn giữ, trở thành trận địa tuyến đầu ở phía đông nước Tần.

Sáng hôm sau, Trương Nghi tuần tra thị sát việc phòng ngự tại bốn cổng thành. Sau khi căn dặn tướng giữ thành những việc cần làm, thì đánh xe về tây, băng qua Hắc Thuỷ tới trọng trấn ấp Tích phía đông Ư Thành, tiếp tục thị sát việc phòng ngự, đến hôm sau thì trở về Ư Thành.

Trương Nghi vừa vào cổng phủ, một đoàn xe ngựa cũng rầm rập tiến vào cổng thành. Là Tần Huệ Vương từ Hàm Dương tới. Đi cùng là Sư Lý Tật và công tử Hoa.

Trương Nghi vừa hồi phủ, việc đầu tiên là tắm rửa. Khi Huệ Vương tới phủ Trương Nghi, hắn vẫn đang ngâm mình trong bồn tắm. Nghe Ngụy Chương vào bẩm báo, Trương Nghi hết sức bất ngờ, nhảy phóc ra khỏi bồn nước, vội vàng mặc quân áo, chạy ngay tới chính điện.

Chính điện do Công Tôn Ưởng xây dựng năm xưa. Sau khi Trương Nghi tới đây, không sửa sang thêm gì, chỉ thay biển phủ Thương Quân thành phủ Ư Thành Quân. Ngay cả chỗ ngồi của phong quân cũng là do Thương Quân để lại, chỉ khác những chỗ ngồi còn lại ở chỗ được trải thêm một tấm thảm gấm mềm, trước mặt kê án gỗ khắc rồng, trên án có bày ngọc khuê.

Trương Nghi vừa bước vào cửa, đã thấy Tần Vương ngồi sẵn trên chiếu khách, nhường lại chiếu chủ cho mình, thì chẳng nói chẳng rằng, lập tức kéo Tần Vương lại chiếu chủ, ấn Tần Vương ngồi xuống rồi nói: “Xin đại vương hãy ngồi tạm!” Rồi lùi lại, dập đầu hô, “thần đắc tội, không biết đại vương giá đáo!”

Huệ Vương cười lớn, phẩy tay nói: “Quả nhân đã tính toán đúng thời khắc Trương Tử quay về để tìm đến, chỉ không ngờ Trương Tử lại đang trong bồn tắm.”

Mọi người đều phá lên cười.

Hàn huyên một hồi, Trương Nghi và Ngụy Chương ngồi xuống chỗ cho bề tôi ở bên phải, nhường lại chiếu bên trái cho Sư Lý Tật và công tử Hoa, rồi vua tôi cùng vào chuyện chính.

“Trương tướng quốc,” do Ngụy Chương cũng có mặt, Huệ Vương không tiện gọi em rể như thường ngày, “không giấu tướng quốc, hơn một tháng qua, trong lòng quả nhân chỉ đau đáu một điều, nên suốt đêm trằn trọc, ngủ không ngon giấc.”

“Nếu Nghi đoán không lầm, hẳn là đại vương đang trăn trở vì mấy rương vàng kia.” Trương Nghi thong thả đáp.

“Chà,” Huệ Vương bật cười, “tướng quốc nói nghe nhẹ nhàng thật. Mấy rương ư? Những mấy chục rương đấy! Toàn bộ của cải gia tài của quả nhân đấy! Nói mau, lưỡi cày của quả nhân đâu?”

“Nếu đại vương đủ kiên nhẫn, hãy ở lại đây chừng nửa tháng, hẳn sẽ nhìn thấy bốn vạn lưỡi cày đầu tiên người Sở chuyển đến!”

“Thật sao?” Huệ Vương phấn chấn ra mặt, “nếu là vậy, quả nhân sẽ không đi nữa!”

Nửa canh giờ tiếp theo, Trương Nghi kể lại tường tận mọi chuyện cho Huệ Vương nghe, từ khi tới Kỷ Lăng gặp vương thúc, tới lúc đến Uyển Thành xem hàng, quyết định thời gian giao hàng. Huệ Vương càng nghe càng hân hoan vui sướng.

Nghe xong, Huệ Vương phá lên cười sảng khoái: “Cuộc giao dịch này, xem ra quả nhân muốn lỗ cũng không được.” Dừng lại một lúc, thu lại nụ cười, đưa mắt nhìn Trương Nghi và Ngụy Chương, “Trương tướng quốc, Ngụy tướng quân, khiến quả nhân ngủ không ngon, lại không phải bởi hai nghìn dật vàng ấy, mà là vì Thương Ư. Đã nhiều ngày qua, cứ khi gần sáng, quả nhân lại mơ thấy Man Sở mài dao, nên trong lòng lo lắng, mới lên đường tìm tới tận đây.” Lại nhìn Ngụy Chương, “Ngụy tướng quân, quân tới tướng chặn, Man Sở nếu tới, quả nhân muốn nghe thử, tướng quân định ngăn cản thế nào?”

Ngụy Chương sớm đã chuấn bị kỹ lưỡng, bèn dẫn mọi người sang bên cạnh, vén mở tấm rèm, lộ ra một sa bàn, là do Ngụy Chương làm ra dựa theo cách của Bàng Quyên. Trên sa bàn tái hiện một địa hình rộng lớn, tây tới Hàm Dương, đông tới Uyển Thành, bắc tới Lạc Dương, nam tới Sính Đô, núi non trùng điệp, đường sá sông ngòi chằng chịt, thành trì thôn ấp, doanh trại cửa ải, kho tàng lương thảo, đều hiện rõ mồn một.

“Hồi bẩm đại vương,” Ngụy Chương chỉ vào doanh trại cắm cờ Sở trên sa bàn, “theo mạt tướng điều tra, người Sở đã điều động ba cánh đại quân khoảng hai mươi mốt vạn đến gần Thương Ư. Trong đó, cánh quân vương thất gồm ba vạn, cánh quân thủ thành của họ Cảnh gồm sáu vạn, cánh quân của họ Khuất gồm sáu vạn, cánh quân của vương thân phong quân gồm sáu vạn, cuộc chiến đã gần kề.” Chỉ vào thung lũng Thương Ư, “nếu mạt tướng đoán không lầm, người Sở tập kích ta, hẳn có ba phương án. Thứ nhất, chia quân hai ngả, một ngả từ Uyển Thành, men theo đường cái quan Thương Ư tiến về phía tây, cướp lấy ấp Niết, ấp Tích, chiếm cứ cửa ải Đông Vũ; một ngả từ Đan Dương, men theo sông Tích Thuỷ lên phía bắc, đoạt lấy Ư Thành. Thứ hai, chia quân ba ngả, hai ngả đầu giống như phương án thứ nhất, ngả thứ ba theo sông Đan Thuỷ đánh vào Thương Nam, từ sau lưng tập kích ải Tây Vũ. Thứ ba, vẫn chia quân ba ngả giống như phương án thứ hai, nhưng thêm một ngả nữa, xuất phát từ Thượng Dung, đánh vào đất Hán Trung của ta, khai chiến rộng khắp với ta.”

“Tướng quân nói rất đúng,” Huệ Vương gật gù, “thế địch hừng hực, tướng quân sẽ ứng phó thế nào?”

“Theo kế của mạt tướng,” Ngụy Chương chỉ vào sa bàn, “bất luận quân Sở tấn công vào đâu, mạt tướng cũng sẽ dẫn quân chủ lực nghênh chiến với trung quân của Sở, đối trận với Cảnh Thuý, tìm cơ hội quyết chiến. Hai cánh quân còn lại, sẽ bố trí trọng binh, dựa vào địa hình hiểm trở để phòng ngự. Chỉ cần đánh tan trung quân Sở, hai cánh quân còn lại ắt không cần đánh cũng tự lui. Còn cánh quân địch ở Thượng Dung, mạt tướng cho rằng, theo như tình hình hiện tại của Sở, Sở Vương vẫn chưa có ý đồ khai chiến rộng khắp với ta, nên có thể bỏ qua không tính.”

“Dưới cờ của tướng quân, có bao nhiêu quân sĩ có thể chiến đấu?” Huệ Vương hỏi.

“Năm vạn.”

“Với năm vạn quân, chống lại hai mươi mốt vạn nhuệ binh nước Sở, tướng quân có chắc thắng?”

“Có ba điều chắc thắng.” Ngụy Chương dõng dạc.

“Ồ?”

“Một ở thế hiểm, ta được địa lợi; hai ở khí tụ, ta được nhân hoà; ba ở vũ khí, ta được khí lợi. Địa lợi, có thể lấy ít thắng nhiều; khí tụ, có thể chung lòng đoàn kết; khí lợi, có thể dũng mãnh gấp trăm. Ngược lại, hãy nhìn người Sở, viễn chinh đánh thành, không được địa lợi; đất nước chia rẽ, không được nhân hoà; quan trọng hơn nữa là điều thứ ba, hai bên giao chiến, dũng mãnh quyết thắng dựa vào vũ khí. Hai quân cân bằng, trí dũng tương đương, kẻ cầm mâu thắng kẻ cầm gậy, kẻ bắn tên thắng kẻ ném đá.”

“Tướng quân có khí thế này, quả nhân đã an tâm rồi.” Huệ Vương lại gật đầu, “nhưng dù là vậy, vẫn phải đề phòng vạn nhất.” Quay sang Công tử Hoa, “Hoa đệ, có điều gì muốn nói chăng?”

“Theo ý của thần, không đánh thì thôi, đã đánh thì phải đánh gục người Sở.” Công tử Hoa dứt khoát.

“Phải làm sao để đánh gục?”

“Phỏng theo cách Trương tướng quốc diệt Việt năm xưa,” công tử Hoa chỉ vào bản đồ, “tăng viện mười lăm vạn nhuệ binh, hợp thành hai mươi vạn quân, để nhuệ binh nấp trong khe rãnh, sau đó mở toang cổng lớn, cố thủ thành trì, thả cho quân địch tiến thẳng vào thành. Đợi quân địch vào hết rồi, nhuệ binh của ta sẽ đóng chặt cửa ải, cắt đứt đường lương thảo của quân Sở, đóng cửa đánh chó.”

“Tốt lắm!” Huệ Vương mỉm cười, quay sang Sư Lý Tật, “Tật đệ?”

Sư Lý Tật cũng cười, nhìn sang Trương Nghi. Huệ Vương cũng nhìn sang theo.

“Ngụy tướng quân,” Trương Nghi không đáp, mà quay sang Ngụy Chương, “nếu Sở có sáu vạn trung quân, bài binh bố trận trước mặt tướng quân, tướng quân cần bao nhiêu binh mã để đối địch?”

“Thế nào gọi là đối địch?” Ngụy Chương hỏi lại.

“Chính là quyết chiến sa trường với địch, thương đao giao tiếp, tướng quân cần bao nhiêu binh lính để giữ vững thế trận?”

“Nếu chỉ cần giữ vững thế trận, hai vạn nhuệ binh là đủ.”

“Nếu để đánh bại đối phương?”

“Thêm năm nghìn nữa!”

“Đại vương,” Trương Nghi quay sang Huệ Vương, “theo ý thần, thung lũng Thương Ư không thể tăng thêm một binh một tốt, chỉ được dùng năm vạn quân hiện có để ngự địch.”

“Nói xem, tướng quốc định dùng năm vạn quân chống lại hai mươi mốt vạn quân địch như thế nào?”

“Hai vạn nhuệ binh do Ngụy tướng quân chỉ huy, nghênh đón trung quân của Cảnh Thuý, đánh cho tan rã song không truy kích. Thần chuẩn bị thêm một vạn quân tiếp ứng, nhưng không tham chiến, chỉ để đề phòng bất trắc. Thần dẫn một vạn quân, trấn thủ ấp Niết, sau khi giao chiến với địch, sẽ nhường lại ấp Niết và cửa ải Hắc Thuỷ, cố thủ cửa ải Đông Vũ. Một vạn nhuệ binh còn lại, ba nghìn cố thủ cửa ải Tây Vũ, ba nghìn bày nghi binh dọc theo đường sông Đan Thuỷ, ứng chiến với hữu quân của Sở. Thần đã cho người thám thính, lòng sông Đan Thuỷ nhiều khe sâu bãi hiểm, từ Đan Dương tới Thương Thành, dài chừng vài trăm dặm, thưa thớt bóng người, trùng trùng hiểm trở, tuy có đường mòn, song đại quân gần như không thể đi qua. Người Sở đánh ta, chỉ có thể dùng kỳ binh tập kích, đánh vào chỗ ta không phòng bị. Ta xuất nghi binh, hơn nữa dựa vào địa thế hiểm trở để dựng luỹ trên các nẻo đường mòn, người Sở thấy ta đã có đề phòng, ắt sẽ rút lui.”

“Chà,” Huệ Vương chau mày, “tướng quốc muốn bày kế không thành với mười lăm ấp Thương Thành ư?”

“Dân binh bày trận, giữ vững cổng thành là được.”

“Ồ...” Công tử Hoa lo lắng, “tướng quốc đại nhân, mười ba ấp Thương Ư, không thể để mất, chưa nói đến Thương Thành, chỉ nói đến mười lăm ấp đất Ư, người Sở thông thạo hơn chúng ta nhiều, khe rãnh sông ngòi, họ không chỗ nào không xâm nhập. Đất Ư thì không hề gì, cùng lắm thì trả cho người Sở, nhưng Thương Lạc nếu như bỏ trống, cho người Sở chiếm lấy ải Nghiêu Quan, cắt đứt đường lui, vậy thì hỏng bét!”

“Công tử nếu như rảnh rỗi, không sợ không có chỗ đánh, có thể đích thân cầm quân cố thủ Nghiêu Quan.” Trương Nghi ngữ khí kiên định.

“Dùng binh thế này, đúng là mới mẻ.” Huệ Vương nhìn sang, nheo mắt cười, “tướng quốc đại nhân hãy nói xem, có chỗ nào thú vị?”

“Thú vị ở chỗ, trong trận chiến này, chúng ta không thể đại thắng!”

“Cũng không thể đại bại?”

“Chính phải.” Trương Nghi nheo mắt bên trái, mắt bên phải khẽ nhưởng lên, nhìn vào cột trụ gần đó.

“Nếu tại hạ nhớ không nhầm,” công tử Hoa thẳng thừng, “lần trước phạt Tề, Trương huynh cũng yêu cầu Tư Mã Thác như vậy, kết quả thì sao?”

Trương Nghi không hề tức giận, bật cười vài tiếng: “Công tử cứ nhìn mà xem, kết quả sẽ khác hẳn đấy!”

“Hãy nói nguyên do!” Huệ Vương lấy làm tò mò.

“Đại vương, hai vị công tử, Ngụy tướng quân,” Trương Nghi nhìn khắp lượt, “hưng binh giao chiến, là vì cái gì?”

“Còn phải hỏi, là vì chiến thắng!” Công tử Hoa buột miệng đáp liền.

“Chiến thắng, lại là vì cái gì?”

“Diệt tông miếu, chiếm đất đai, đoạt dân chúng, lấy của cải!”

“Dám hỏi công tử,” Trương Nghi nhìn xoáy vào công tử Hoa, “theo như tình thế trước mắt, nếu là công tử dụng binh, có thể diệt tông miếu, chiếm đất đai, đoạt dân chúng, lấy của cải được chăng?” Dừng lại một chốc mới tiếp, “công tử chớ quên, là Thương Quân chiếm đoạt mười lăm ấp đất Ư của người Sở, người Sở hưng binh phạt ta, thu hồi đất đai bị mất, ta bị động ứng chiến, chứ không phải công tử dẫn quân phạt Sở, thề diệt tông miếu của họ, chiếm đất đai của họ!”

Công tử Hoa mấp máy môi vài cái, rồi im bặt.

“Nói tiếp đi!” Huệ Vương nhìn Trương Nghi chăm chú.

“Cuộc chiến trước mắt, là vì Thương Ư. Đất Thương Ư, do ta thất nghĩa trước. Trong trận chiến Hà Tây với Ngụy, ta có nghĩa; nay người Sở chinh phạt Thương Ư, Sở có nghĩa. Hai bên giao chiến, bên có nghĩa sẽ dũng. Đó là điều thứ nhất. Điều thứ hai, Hà Tây đối với Ngụy, là tham lam, là bá đạo, là dồn Tần vào chỗ chết, thắng hay bại cũng không quan trọng; còn đối với Tần lại khác, với Tần lại là chuyện sống còn. Thương Ư cũng như vậy. Tần trước có Vũ Quan, sau có Nghiêu Quan, thắng hay bại cũng không quan trọng; còn đối với Sở lại khác, với Sở cũng là chuyện sống còn!”

“Đây chính là điều ta cần!” Công tử Hoa siết chặt nắm tay.

“Công tử nếu chỉ cần điều đó,” Trương Nghi khẽ cười, “thì trong trận chiến này, phải nghe theo tại hạ!” Bày ra bộ mặt nhăn nhó, “hơn nữa, cái khác không nói, chỉ riêng Ư Thành, thân là ư Thành Quân, tại hạ lại càng không thể để mất, cũng không đành lòng để mất!”

“Nói rất phải,” Huệ Vương vẫn nhìn thẳng vào Trương Nghi, “xin hỏi tướng quốc, hôm nay không thể đại thắng, vậy hôm nào có thể?” Dừng lại một chốc, mỉm cười, “quả nhân là người nôn nóng!”

“Chờ tới lúc nội chính hỗn loạn, quý tộc sa đoạ, quân thần bất hoà, trung thần lặng tiếng.”

Ngụy Vương cười vang: “Hẳn là việc lâu dài đây!”

“Với một nước Sở rộng năm nghìn dặm, đại vương muốn một miếng nuốt trôi luôn ư?”

“Giờ thì bụng dạ quả nhân vẫn chưa lớn được đến vậy, hãy nghe theo tướng quốc.” Huệ Vương nhìn sang những người khác, “tướng quốc nói phải, trước mắt chưa nên quyết chiến với Sở, song vẫn phải tỏ được uy phong, cho người Sở nếm mùi lợi hại của dũng binh Đại Tần, không còn dám tơ tưởng đến Thương Ư nữa!” Nhìn sang Ngụy Chương, “Ngụy tướng quân, quả nhân trông cả vào khanh!”

“Mạt tướng tuân lệnh!” Ngụy Chương dõng dạc đáp.

Sáng sớm hôm sau, Trương Nghi dẫn đoàn xe ngựa của Huệ Vương tới thẳng khe núi phía bắc Ư Thành, tuần tra binh xưởng vừa mới xây xong.

Trong khe núi được bảo vệ nghiêm ngặt, mới dựng chừng một trăm lều trại, năm trăm thợ sắt đang kiểm tra công cụ tôi, rèn, những kim loại gia giảm cũng đã chuẩn bị xong xuôi, mọi thứ đều đã sẵn sàng, chỉ chờ bốn vạn lưỡi cày chuyển đến từ đất Uyển.

Trên đường quay về, Huệ Vương ngồi cùng xe với Trương Nghi. Huệ Vương phấn chấn ra mặt, hào hứng bàn mãi về uy lực của binh khí sắt trong chinh phạt sau này.

Nghe Huệ Vương thao thao bất tuyệt hồi lâu, Trương Nghi bỗng chau tít đôi mày.

“Nghi đệ, sao thế?” Huệ Vương nhận ra, bèn hỏi.

“Không giấu vương huynh, Nghi không có hứng thú với chuyện chém giết.”

“Ồ?” Huệ Vương ngạc nhiên, “không chém giết, sao có thể nhất thống thiên hạ, thực thi kế sách liên hoành của Nghi đệ?”

“Thứ Nghi liên hoành, trước tiên là kế sách, tiếp đến mới là chém giết.”

“Phải,” Huệ Vương tán thành, “chém giết không phải là hứng thú của Nghi đệ. Hãy nói xem, giờ đã nghĩ ra kế sách gì rồi?”

“Lúc này chưa có kế sách hay, chỉ có hứng thú với một người con gái.”

“Ồ?” Huệ Vương hiếu kỳ, “người con gái thế nào mà có thể khiến Nghi đệ hứng thú vậy? Hãy kể xem.”

“Đặc biệt.”

“Đặc biệt thế nào?”

“Tất cả đều đặc biệt.”

Huệ Vương phá lên cười lớn: “Đã lọt vào mắt xanh của Nghi đệ rồi ư? Quả nhân nhìn con gái, chỉ nhìn dung mạo mà thôi. Hãy nói xem, cô gái này đặc biệt ở đâu?”

“Không béo không gầy, không cao không thấp, mọi thứ đều vừa khéo, chỉ có thế, không còn gì khác.”

Huệ Vương lại cười vang: “Nói vậy, có khác gì không nói? Thôi được, đã lọt vào con mắt của hiền đệ, cô gái này hẳn không tầm thường. Đã ưng rồi, thì cưới về thôi!”

“Thần không có chỗ cho nàng.”

“Thì phong làm thiếp, Ư Thành Quân cũng đâu thể chỉ có một phu nhân?”

“Sẽ không qua nổi cửa ải của phu nhân Ư Thành Quân!”

“Ồ, Tứ huynh hiểu ý Nghi đệ rồi,” Huệ Vương vỗ ngực, “việc của em Vân, cứ để cho ta!”

“Vẫn còn Hương Nữ!”

“Hương Nữ là người thông hiểu, nếu hiền đệ thích, nàng ấy hẳn không phản đối.”

“Vẫn còn thần nữa, cũng không qua nổi.” Trương Nghi chỉ vào mũi mình, nở một nụ cười xảo trá.

“Ồ?” Huệ Vương ngạc nhiên, “nói qua nói lại nãy giờ, lại không chịu cưới, rốt cuộc hiền đệ muốn gì?”

“Không phải thần không chịu cưới, mà không thể cưới.”

“Vì sao kia?”

“Vì thần không thể cùng đại vương tranh giành một người con gái.”

Huệ Vương ngẩn ra một chốc rồi phì cười: “Vòng vèo một hồi, lại đổ lên đầu quả nhân ư? Không giấu hiền đệ, hậu cung của quả nhân đã quá đông rồi, ganh đua tranh giành, bày mưu tính kế, phiền phức vô cùng, khiến quả nhân cứ tối đến là lại thấy đau đầu. Có lúc, quả nhân chỉ muốn tống hết họ ra khỏi cung cho rảnh chuyện!”

“Cô gái này sẽ không gây phiền phức cho đại vương.”

“Quả nhân còn chưa gặp, sao hiền đệ đã biết?”

“Theo như Nghi biết, chỉ sợ đại vương không dám gặp nàng.”

“Ồ?” Huệ Vương kêu lên, “nàng là hổ hay là beo?”

“Còn hơn cả hổ beo.”

“Ồ?”

“Nếu khiến nàng nổi giận, nàng dám trèo lên đầu vương huynh đấy!”

Huệ Vương lớn tiếng: “Nếu dám, ta chẳng băm nàng thành mảnh vụn ư?”

Trương Nghi cười lớn: “Lời này, vương huynh chỉ có thể ra oai trước mặt thần thôi. Chứ trước mặt nàng, e rằng vương huynh đến nghĩ còn không dám, chứ đừng nói là băm thật.”

“Vì sao?”

“Bởi vì nàng là con gái nuôi của vương thúc Đại Sở!”

Sau đó, Trương Nghi bắt đầu kể về Mị Nguyệt, cùng thân phận thực sự của nàng cho Huệ Vương nghe.

Huệ Vương chau mày: “Theo lời hiền đệ, kể cũng là cuộc hôn nhân tốt đẹp. Có điều, nếu kết thân rồi, quả nhân hả chẳng biến thành con rể của Ngụy Chương ư?”

“Đại vương,” Trương Nghi cười nói, “có thể sắp xếp vai vế trong hậu cung liệt quốc được chăng? Hơn nữa, cha của Mị Nguyệt sớm đã tử chiến Hà Tây. Ngụy Ngang là Ngụy Ngang, Ngụy Chương là Ngụy Chương, Mị Nguyệt là Mị Nguyệt, họ là ba người khác nhau. Đại vương cứ làm như không biết là xong.”

“Thôi được,” Huệ Vương khẽ cười, “vì Đại Sở, quả nhân nguyện liều thân này!”

“Chính vào lúc công doãn Uyển Thành Chiêu Thử đích thân áp tải đoàn xe chở theo bốn vạn lưỡi cày tới kho ở Ư Thành, thì chủ tướng phạt Tần Cảnh Thuý cũng gấp rút tới Sính Đô, tấu báo quân tình lên Hoài Vương.

“Đại vương,” Cảnh Thuý chỉ vào địa hạt của người Tần trên bản đồ quân sự, “theo tin trinh sát báo về, người Tần vẫn chưa điều thêm quân tới thung lũng Thương Ư. Thung lũng Thương Ư vốn có năm vạn lính Tần, gần bốn vạn trấn thủ ở phía đông Vũ Quan, tại mười lăm ấp như Ô, Tích, Niết, chủ yếu phòng ta tập kích. Mười lăm ấp phía tây Vũ Quan, người Tần chỉ có một vạn rưỡi quân trấn thủ, trong đó có năm nghìn quân giữ ải Vũ Quan, các ấp Thương Lạc chỉ có một vạn, giữ thành còn không đủ. Ngoài ra, quân Tần đóng ở Hán Trung có năm vạn nhuệ binh, song thứ nhất còn vướng quân ta đóng ở Thượng Dung, thứ hai loạn Ba Thục chưa định, quân Tần ở Hán Trung không dám manh động.” Lại chỉ vào biên giới Sở, “bố trí của mạt tướng, vẫn giữ nguyên như trước, từ số binh mã sẵn có, tuyển chọn ra nhuệ binh thiện chiến, chia quân ba lộ, tả quân ba vạn là đông lộ, do Trang Kiều làm tướng, từ Uyển Thành xuất binh, một vạn vây đánh ấp Niết, hai vạn về phía tây vượt qua Hắc Thuỷ, đoạt lấy cửa sông, chiếm lấy ấp Tích, sau đó đánh thẳng vào cửa ải Đông Vũ. Hữu quân ba vạn là tây lộ, do Phùng Hầu Sửu làm tướng, men theo lòng sông Đan Thuỷ, ngày ẩn đêm đi, tập kích Thương Thành, sau khi phá được Thương Thành, tiến về phía tây đoạt lấy ải Nghiêu Quan, tiến sang phía đông đánh giáp công ải Tây Vũ. Trung quân sáu vạn do thần đích thân chỉ huy, men theo Tích Thuỷ tiến lên phía bắc, quyết chiến với chủ lực của Tần ở Ư Thành. Ba lộ đều đánh thực, hô ứng lẫn nhau, chia cắt quân địch ở Thương Ư làm ba đoạn, vây diệt từng đoạn.”

“Hay lắm!” Hoài Vương chỉ vào ải Tây Vũ, “mấu chốt ở đây. Cảnh tướng quân, chỉ cần lấy được ải Tây Vũ, các ấp Quan Đông sẽ thành ba ba trong hũ.”

“Thần tuân mệnh!” Cảnh Thuý vòng tay, dõng dạc đáp, “thần nhất quyết phải đoạt lấy ải Tây Vũ, thu phục toàn bộ Thương Ư, khoá chặt người Tần ở Quan Trung!”

Hoài Vương cười lớn: “Quả nhân không tham cầu đến thế. Lần này chinh phạt, chỉ cần tướng quân thu phục mười lăm ấp Ư Thành đã bị Công Tôn ưởng chiếm đoạt, quả nhân sẽ ra ngoài Sính Đô nghênh đón, dắt ngựa cho tướng quân, ghi công cho toàn bộ tướng sĩ tham chiến!”

“Đại vương,” Cảnh Thuý nghiến răng, “chưa thu phục được Thương Ư, thần thề không trở về!”

Quyết xong kế sách, Cảnh Thuý theo Hoài Vương tới thái miếu, gieo được một quẻ thượng cát. Hoài Vương tâm tư phấn chấn, chọn lấy ngày đẹp, tế cờ xuất chinh.

Tế cờ xong, Cảnh Thuý từ Sính Đô đi thẳng tới đại trại trung quân ở Đan Dương, triệu tập tướng lĩnh các lộ, tuyên đọc vương mệnh, phát lệnh xuất chinh.

Đan Dương nằm giữa hai sông Đan, Tích, là đất phát tích của nước Sở, tức đất phong sớm nhất của Sở. Sau tới thời Sở Vũ Vương dời đô tới Sính, thành này mới dần dần suy vi, song tiên quân Sở thất đa phần an táng tại đây, nên tiên miếu cũng được lập ở đất này để thờ cúng.

Sau khi Tần đoạt mất các ấp Ư Thành, Đan Dương trở thành ấp phòng ngự trọng yếu nhất của Sở. Người Sở đào hào sâu xây luỹ dày, đặt trọng binh phòng ngự, lính trấn thủ không dưới hai vạn, lại thêm các ấp xung quanh, đặc biệt là hai thành lớn Đặng, Tương cũng đều đồn binh trấn giữ, giữa các thành ấp có đường lớn nối liền, hô ứng với nhau, hễ một chỗ đốt lửa hiệu, quân trấn thủ các nơi chỉ hai canh giờ là kịp tới.

Nếu Sở phạt Tần, Đan Dương chính là vị trí tốt nhất để xuất quân, theo lòng sông Đan Thuỷ tiến về phía tây, có thể đánh thẳng tới Thương Thành, cắt đứt đường lui của người Tần; theo lòng sông Tích Thuỷ tiến lên phía bắc, có thể chọc thẳng vào Ư Thành.

Dù về tây hay lên bắc, đều là địa hình đồi núi, với sông ngòi uốn lượn quanh co, bất lợi cho chiến xa, do vậy, lần này phạt Tần, ngoại trừ đông lộ, còn trung lộ và tây lộ đều dùng bộ binh là chính, chỉ thêm số ít xe chiến. Cánh quân tiên phong đa phần là dũng sĩ vùng núi đất Ba, đất Việt đã qua tuyển lựa kỹ lưỡng.

Tất cả đúng như Cảnh Thuý phán đoán, Ngụy Chương chỉ dẫn hai vạn nhuệ binh nghênh chiến, không một xe chiến, chỉ toàn bộ binh.

Thấy lực lượng hai bên chênh lệch quá lớn, Cảnh Thuý truyền lệnh, đông lộ và trung lộ trống dong cờ mở, hành quân theo đường cái, trật tự mà tiến. Còn tây lộ cờ rủ trống im, lặng lẽ men theo lòng sông Đan Thuỷ, tiến về phía tây.

Trung quân tiến lên phía bắc, khi còn cách ấp Tích chừng mười dặm về phía nam, thì bị chủ lực quân Tần cản đường.

Từ trong trận quân Tần tiến ra một viên quân uý, bắn chiến thư đi. Chiến thư do chủ tướng Ngụy Chương thảo, khuyên quân Sở lui binh, bằng không quân Tần quyết sống mái trận này, bảo vệ bờ cõi. Cảnh Thuý cũng bắn thư hồi đáp, tuyên bố Sở phụng vương mệnh thu hồi đất cũ, khuyên quân Tần hãy rút về Quan Trung, để tránh thảm bại.

Hai bức thư lần lượt tới tay đối phương, đồng nghĩa với việc hai bên đều đã hạ chiến thư.

Cảnh Thuý truyền lệnh hạ trại tại chỗ, đích thân đánh xe đi thám thính, thấy người Tần đang bày trận trên một bãi trống rộng thênh thang. Nhìn vào thế trận, gần như đã bày xong.

Do vùng này là đồng bằng, không có chỗ cao, Cảnh Thuý bèn lên xe cao, dõi mắt quan sát. Đứng trên đỉnh xe cao đến chục trượng, toàn bộ thế đất thế sông, bố trí người ngựa trong vòng chục dặm vuông quanh đó đều thu vào tầm mắt.

Quân Tần bày trận ở chỗ hợp lưu giữa hai dòng sông. Một là Tích Thuỷ, sông rộng nước đầy, chảy từ bắc tới nam; hai là một nhánh sông vô danh, chi lưu của Tích Thuỷ, chảy từ tây sang đông. Hai dòng sông một to một nhỏ, hợp thành hình chữ “đinh”, trận của người Tần bày ở phía nam của chữ “đinh” này. Cũng tức là nói, mé tây và sau lưng người Tần đều là sông cả. Tuy rằng nhánh sông vô danh sau lưng không rộng, song giờ đúng lúc cuối hạ đầu thu, trước đó không lâu, Bắc Sơn mưa lớn liên tiếp, nước sông đã dâng cao. Trên nhánh sông vô danh có cây cầu bắc ngang, chỉ đủ rộng cho hai cỗ xe tránh nhau.

Cảnh Thuý thấy vậy thì mừng rỡ, bởi người Tần bày trận thế này, khác nào tự đặt mình vào chỗ chết. Nếu như bại trận, cả vạn binh mã chỉ có một cây cầu hẹp, dù cầu không bị giẫm sập, cũng sẽ tắc nghẽn, không thể chạy thoát. Còn nước sông dưới cầu, nếu cả vạn người cùng lội xuống, dù nước có nông tới mấy cũng sẽ dâng cao, huống hồ đây là chỗ dòng nhỏ nhập vào sông lớn, sâu ngập đầu người. Người Tần bày trận kiểu này, rõ ràng là muốn quyết tử.

Cảnh Thuý hiểu rõ, hai bên giao chiến, nếu đông đánh ít, mà bên ít lại đặt mình vào chỗ chết, là điều tối kỵ trong đạo dụng binh.

Cảnh Thuý bèn truyền lệnh bài binh bố trận, vây lấy quân Tần từ hai mặt nam và đông, đồng thời cử nhiều thám mã đi dò la, thám thính toàn bộ các khe rãnh gò đống trong phạm vi mười lăm dặm, thấy đều không có quân Tần mai phục, thì rất vui mừng, lại cũng lấy làm khó hiểu.

Nhưng cho dù thế nào, trước mắt chính là thời cơ. Mà thời cơ thì không thể lỡ.

Cảnh Thuý lệnh cho phó tướng Khuất Dao dẫn một vạn quân, đi đường vòng sang phía đông, đến chỗ nước nông cách đó tám dặm thì lội qua sông, vây đánh tập hậu, một là cắt đứt đường viện binh của người Tần, hai là đợi khi quân địch bại trận tháo chạy, sẽ chặn đứng đường lui.

Khuất Dao nhận lệnh, dẫn quân lên đường.

Phía quân Tần đã bày xong thế trận. Cảnh Thuý sai người đứng trên đài cao, căn cứ vào hàng ngũ phía địch để đếm kỹ số lượng, thấy bên trận quân Tần có hai vạn tướng sĩ, chia làm hai trận hình vuông bên trái và phải, mỗi trận dọc ngang trăm người. Hai trận hình vuông nằm cách nhau một con đường, chỉ rộng đủ cho một cỗ xe chiến đi qua.

Bày trận như vậy, hoàn toàn không hợp với trận pháp.

Cảnh Thuý quan sát thật kỹ, vắt óc suy nghĩ mà vẫn không hiểu tại sao người Tần lại bày ra một thế trận cùng quẫn đến vậy, rõ ràng họ là muốn liều tử chiến.

Đối diện với trận thế kiểu này, Cảnh Thuý cũng không kế khả thi. Hai trận hình vuông kết hợp với nhau, hình thành một trận hình chữ nhật. Theo như binh pháp, để phá trận hình chữ nhật, thường sẽ dùng trận hình dùi. Trận hình dùi, quan trọng nhất là ở mũi dùi, nếu mũi dùi không thể đâm vào được, thì trận dùi coi như vô tác dụng. Dùng làm mũi dùi, tốt nhất là xe chiến. Tuy nhiên, dù Cảnh Thuý có xe chiến, song liếc mắt nhìn qua, địa thế nơi này rất không thích hợp cho xe chiến xung trận. Chiến xa lâm trận, quan trọng ở tốc độ, mà đất này phần lớn là đất ruộng, dưới chân người Tần đều là mạ cao lút gối. Đất ruộng vốn tơi xốp, lại thêm mạ và mương rãnh tưới tiêu, nên ngựa và xe có tốt đến mấy cũng không thể chạy nhanh. Vả lại, thường thì nếu đối phương đã bày trận này trên trận địa không có chiến xa, kiểu gì cũng sẽ đào rất nhiều hào rãnh trước trận để ngăn cản xe chiến của kẻ địch tiến vào.

Cảnh Thuý triệu tập chư tướng, truyền lệnh dùng bộ binh bày trận mũi dùi, chuẩn bị phá trận chữ nhật của địch.

Để khiến người Tần đầu đuôi không thể tiếp ứng, Cảnh Thuý quyết định bày tổng cộng sáu trận mũi dùi từ hai mặt nam và đông, khoan vào trận địch, mỗi trận mũi dùi gồm năm nghìn nhuệ binh. Hai vạn quân còn lại, một vạn tiếp ứng cho sáu mũi dùi, một vạn phòng thủ phía sau, đề phòng bất trắc.

Chư tướng nhận lệnh về trận, nhanh chóng bày ra sáu mũi dùi. Cảnh Thuý leo lên xe cao, chỉ huy toàn cục.

Hai quân dàn trận, vạn tên chực bắn.

Đứng trên xe cao, Cảnh Thuý phóng tầm mắt nhìn khắp bốn phía, không thấy có gì bất thường. Về phía đông, nơi tận cùng tầm mắt, một vạn binh mã của Khuất Dao đã vượt sông, đang lặng lẽ khép vòng vây sau lưng người Tần.

Đã hoàn toàn chắc chắn, Cảnh Thuý truyền lệnh thúc trống.

Tiếng trống chiến của chủ tướng vừa vang lên, tiếng trống tướng trong sáu trận mũi dùi cũng đổ dồn, sáu mũi dùi khổng lồ rầm rập giẫm lên mạ non, trật tự quy củ tiến lại từ chính diện phía nam và bên sườn phía đông, ép thẳng tới trận địch.

Trận địch vẫn im lìm bất động.

Sáu mũi dùi vẫn lừ lừ tiến tới, quả nhiên gặp ngay mương rãnh đào sẵn. Song những mương rãnh chuyên dùng để ngăn cản xe chiến vốn dĩ không thể chặn bước bộ binh.

Khi trận hình mũi dùi đi đầu tiên còn cách trận quân địch chừng một tầm tên bắn, thì dừng lại không tiến nữa.

Tiếng trống trận phía quân Sở cũng đã ngừng.

Giờ thì, cả sáu trận hình mũi dùi đều đã tiến vào đúng chỗ, dừng bước chờ lệnh, những binh lính ở đầu mũi dùi đã tay khiên tay thương sẵn sàng. Lính bắn tên cũng đã lăm lăm cung tên, tản ra bên ngoài trận mũi dùi, hình thành trận thế, bắt đầu lắp tên giương cung.

Một bên là sáu mũi dùi đồ sộ do ba vạn binh mã sắp thành, một bên là hình chữ nhật khổng lồ gồm hai vạn binh mã, hai bên dàn trận cách nhau một tầm tên bắn, sáu mũi dùi chĩa thẳng vào hình chữ nhật, giống như mũi tên đã giương sẵn trên cung.

Chủ tướng hai bên không ra mặt chào hỏi, mà đều dựng xe cao ở vị trí trung tâm sau trận, quan sát đại thế, phất cờ hạ lệnh.

Một khắc trôi qua.

Quân trận hai bên vẫn sừng sững bất động, lặng phắc như tờ.

Lại một khắc nữa chậm chạp trôi qua, hai bên vẫn dàn trận im lìm.

Khi khắc thứ hai sắp sửa kết thúc, cờ hiệu của Cảnh Thuý thình lình phất lên, trống trận phía Sở thúc dồn dập. Chốc lát, từ trận quân Sở, vạn cung cùng bắn, sáu mũi dùi lao vụt đi như mũi tên rời dây cung, đâm thẳng vào trận chữ nhật.

Trận hình chữ nhật của người Tần vẫn không chút xê dịch, đã không thúc trống, cũng chẳng bắn tên, chỉ thấy khiên rào rào dựng lên trong trận, từ xa nhìn lại, cả vạn tấm khiên đồng loạt giương lên dưới ánh mặt trời, trông vô cùng tráng lệ.

Tên của người Sở, đa phần bắn trúng mặt khiên.

Từ khi người Sở bắt đầu thúc trống tới lúc quân trận hai bên giao tiếp, người Tần lại không hề bắn ra một mũi tên nào.

Chỉ qua vài hơi thở, các trận hình khổng lồ đã đổ ập vào nhau.

Ngay sau đó là một cảnh tượng cực kỳ chấn động. Sáu mũi dùi đồ sộ sau khi lao thẳng vào trận chữ nhật, đầu mũi dùi lại không thể xuyên sâu vào trận như dự kiến, mà giống như thể đâm trúng vách sắt, cả sáu mũi dùi theo nhau gãy lìa, chỉ đè bẹp được hai hàng binh tốt ngoài cùng trong trận quân Tần. Song hai hàng quân vừa ngã rạp, đã mau chóng được quân lính phía sau chạy lên thế chỗ.

Cảnh Thuý đứng trên xe cao nhìn xuống, không khỏi sững sờ.

Lính Sở vẫn bất chấp xông lên, ào ào như nước thuỷ triều, song cứ như xô trúng một con đê kiên cố. Sau khi hai bên va chạm, bên ngã xuống trước lại thường là lính Sở.

Lớp lính Sở tiên phong theo nhau ngã xuống, lớp sau lại tiếp tục xông lên. Lính Tần cũng có người ngã xuống, nhưng lập tức có kẻ phía sau chạy lên thế chỗ. Nơi hai trận giao nhau, chỉ trong khoảnh khắc, thây xác đã chồng chất như một bức tường.

Mũi dùi không thể xuyên sâu vào trận địch như dự kiến, đành phải tự động tản ra, dàn thành một mặt phẳng, tấn công vào mọi vị trí của trận chữ nhật.

Người Tần trong trận đâm trường mâu ra, lính Sở quen tay giơ khiên chắn đỡ. Nhưng thật bất ngờ, mũi mâu vẫn đâm xuyên qua tấm khiên, chọc thẳng vào ngực người Sở.

Quân Sở vẫn tiếp tục xông lên, lớp sau đè lớp trước, theo nhau ngã xuống mà vẫn không hiểu nổi tại sao người Tần có thể đâm xuyên qua khiên mà giết chết mình. Nhưng những lớp quân Sở phía sau nhìn rõ cảnh này, thảy đều khiếp đảm.

Nên khi người Tần lại đâm trường mâu lại, người Sở không dám giơ khiên đỡ nữa, mà vứt bỏ khiên, vung thương mâu đánh lại.

Hai thương giao nhau, cho dù hai bên đồng thời đâm trúng đối phương, song bên ngã xuống, thường vẫn là lính Sở.

Đáng sợ hơn nữa, trong lúc hai trận đang giằng co, thì trống chiến của người Tần lại thình lình vang lên.

Trong tiếng trống thúc dồn dập, tiếng hô sát phạt của người Tần chợt vang như sấm dậy, rung chuyển đất trời. Tiếng trống vừa giục, người Tần đồng loạt phản kích. Vừa dứt tiếng hô đầu tiên, hàng lính Tần trên cùng đồng loạt vung thương đâm vào lính Sở. Lính Sở hàng sau còn chưa kịp tiếp ứng, hàng lính Tần thứ hai đã xông lên phía trước hàng lính Tần đầu tiên, đâm thẳng vào hàng lính Sở thứ hai. Hai hàng quân lính còn đang mải giao tranh, hàng lính Tần thứ ba đã xông ra, lách qua hai hàng đối thủ đang chém giết, xông thẳng tới hàng lính Sở thứ ba. Cứ thế hàng này nối tiếp hàng kia, ào ào xông lên, so le xen kẽ mà quy củ, thế như dời non lấp biển, cuồn cuộn ập vào thế trận quân Sở, và mỗi một lính Tần chỉ nhằm vào một lính Sở mà đánh.

Mỗi một hàng lính Tần xông lên, đều đồng thanh hô vang một tiếng “giết”, khí thế chấn động, uy lực bừng bừng, khiến lính Sở nghe thôi đã khiếp vía. Quân lính phía sau rụng rời kinh hãi, không còn lòng dạ nào ứng chiến, quay đầu bỏ chạy.

Cảnh Thuý cuống lên, thúc trống tấn công, song tiếng trống chủ tướng quân Sở gần như chìm nghỉm trong tiếng hô hét chấn động của lính Tần.

Tiếng hô của người Tần mỗi lúc một vang dội, đuổi sát theo sau. Trận quân Sở rùng rùng tan vỡ, hậu quân biến thành tiền quân, quay đầu tháo chạy.

Cảnh Thuý hiểu rõ, bại cục mà mình chưa bao giờ liệu đến, đã xảy ra thật rồi. Chẳng còn lòng dạ nào mà sợ hãi, Cảnh Thuý nhảy xuống khỏi xe cao, cầm thương lao thẳng vào trận, ngược dòng xông lên, quyết tâm tử chiến sa trường, song lại bị chính cánh quân vỡ trận của mình chặn đứng đường lên.

Cảnh Thuý chìm giữa dòng bại quân hỗn loạn, bị quây chặt kín, đâm va xô đẩy túi bụi, cuốn về phía nam.

Trong lúc đó, một vạn quân của Khuất Dao đang vây đến phía sau quân Tần, thấy quân Sở bại trận thoái lui, trong lúc cấp bách, vội vàng xông đến, định đánh tập hậu người Tần. Nào ngờ người Tần đã chuẩn bị trước, mau chóng đẩy ra vài cỗ xe đao cỡ lớn chuyên dùng trong phòng ngự cổng thành, xe này nối tiếp xe kia, bịt kín đường trên cầu, tạo thành một bức tường tua tủa gai nhọn. Một vài lính Sở kịp băng qua trận xe dao, còn chưa kịp hiểu ra chuyện gì, đã bị người Tần bắn tên đâm thương, chết ngay tại chỗ.

Bên dưới chân cầu, nước sâu lút đầu người, nếu cứ liều mình bơi qua, chuyện khác không nói, riêng áo giáp xuống nước, đã hết sức vướng víu nặng nề, khó lòng ứng chiến. Không chỉ có thế, phía bờ bên kia, lại thấy người Tần giương cung tên chờ sẵn.

Do không thể bơi qua sông, lính Sở tuy đông, song trước mặt chỉ còn một cây cầu hẹp, mà muốn đột phá cây cầu này, cũng cực kỳ gian khó.

Nhìn thấy quân Sở phía trước càng chạy càng xa, người Tần đã nắm chắc phần thắng, nếu còn không rút ngay, bản thân sẽ bốn bề thọ địch, Khuất Dao đành phải hạ lệnh lui quân theo đường cũ.

Người Tần dường như không có ý định truy cùng giết tận, đuổi theo hơn chục dặm thì khua chiêng thu quân.

Cảnh Thuý lui quân ba mươi dặm, thấy người Tần không đuổi theo nữa, bèn điểm lại binh mã các lộ, ba vạn quân tiên phong đã mất non nửa, bị thương đến vài nghìn. Định hạ trại chỉnh đốn, mới phát hiện ra quân nhu mang theo gần như mất sạch, đã bỏ lại hết cho người Tần.

Cảnh Thuý thở dài một tiếng, rút kiếm toan tự vẫn, may sao đám bộ tướng Khuất Dao vừa kéo về đã kịp thời ngăn cản.

Thấy kẻ địch quá ư dũng mãnh, Cảnh Thuý bèn truyền lệnh lui quân tới Đan Dương.

Hai ngày tiếp theo, hai lộ quân khác cũng đua nhau gửi chiến báo về. Trước hết là quân tây lộ, men theo lòng sông Đan Thuỷ tiến về phía tây chưa đầy trăm dặm, loáng thoáng trông thấy người Tần ẩn nấp trên đỉnh núi hai bên, dựa vào nơi hiểm yếu dựng chướng ngại vật cản đường. Đây là lộ quân dùng để tập kích, tấn công lúc người Tần chưa kịp phòng bị, nào ngờ người Tần đã chuẩn bị sẵn sàng, những chỗ hiểm trở đều bày quân mai phục, từ trên cao đánh xuống, lăn gỗ ném đá, ngăn lối chắn đường. Nếu người Sở tấn công, người Tần cũng không nghênh chiến, mà rút tới chỗ hiểm trở khác để kháng cự.

Thềm sông Đan Thuỷ càng về tây càng hiểm trở, hơn trăm dặm đầu tiên, mới chỉ là vừa vào hiểm cảnh. Từ chỗ này đã có người Tần cản trở, mà Thương Thành còn cách đó hơn trăm dặm nữa, tiến quân đến đó đánh thành là không thể. Tướng Sở không còn cách nào, đành phải truyền lệnh lui binh.

Duy chỉ quân đông lộ của Trang Kiều là có tiệp báo truyền về. Đại quân của Trang Kiều đánh về phía tây, “thu phục” được ấp Niết, “đánh hạ” được ải Hắc Thuỷ, đang định tiến tiếp về tây tấn công ấp Tích, hay tin trung lộ chiến bại, bèn hạ trại tại ải Hắc Thuỷ chờ lệnh, phái ngựa tới hỏi ý Cảnh Thuý.

Cảnh Thuý thở dài một tiếng, truyền lệnh cho Trang Kiều cứ ở yên đó, trấn giữ ải Hắc Thuỳ và ấp Niết, cẩn thận đề phòng người Tần phản công. Đoạn soạn chiến thư, cấp báo lên Hoài Vương, thỉnh cầu chỉ lệnh.

Hoài Vương nhận được chiến báo, truyền lệnh rút về Đan Dương.

Trận chiến thu phục Thương Ư mà người Sở đã chuẩn bị ráo riết suốt mấy năm ròng, lại phải kết thúc vội vã sau khi trả giá thảm thương bằng thất bại của trung quân Cảnh Thuý và gần ba vạn người Sở tử thương. May sao vẫn còn cánh quân vương thân của Trang Kiều thu phục được ấp Niết, hạ được ải Hắc Thuỷ, ép người Tần phải rút về ấp Tích và ải Đông Vũ, ít nhiều vớt vát lại chút thể diện cho người Sở.

Cỗ xe mui hộ tống Thu Quả sau khi qua ải Hàm Cốc, lộc cộc lăn bánh đến trước ngã rẽ dẫn vào thôn Tiểu Tần.

Thu Quả hô dừng, vẫn ngồi thẫn thờ trong xe non nửa canh giờ, rồi mới lệnh cho rẽ vào trong thôn.

Thu Quả đã hơn chục năm chưa trở về nhà. Nàng hết sức kinh ngạc khi thấy thôn Tiểu Tần đã thay đổi tới mức không thể nhận ra. Nhất là nhà của nàng. Ngôi nhà xưa giờ không còn lại một chút dấu vết. Trên nền nhà cũ đã mọc lên mấy toà nhà cao lớn nguy nga. Cánh Cổng gỗ cũng biến mất, thay vào đó là cánh cổng lớn sơn đen, ngoài cổng bày hai con thú đá nhe nanh múa vuốt, mà nàng không biết là con gì.

Cỗ xe tứ mã chầm chậm dừng lại trước cổng. Có người bước ra đón, trông có vẻ là quản gia.

Thu Quả nhảy xuống xe, tiến lại gần. Quản gia không biết nàng, nhưng nhìn vào phong thái, đoán rằng không phải là người thường, bèn hỏi: “Cô nương tìm ai?”

“Đây có phải là nhà của Tần Đại Xuyên?” Thu Quả hỏi ông ta.

“Phải, phải, đó chính là lão gia nhà tôi. Cô đây là...” Quản gia tò mò nhìn nàng.

Thu Quả không đáp, cứ thế bước thẳng vào trong cổng.

Con chó ngày xưa không còn nữa, sủa ầm ĩ trước mặt nàng là hai con chó to tướng, bị xích vào một góc sân.

Nghe thấy tiếng chó sủa, Tần Đại Xuyên bước ra khỏi cửa buồng. Hán tử sững lại, dụi mắt mấy cái: “Thu Quả?”

“Cha...” Thu Quả đứng giữa sân, nhìn vào hán tử, nước mắt ứa ra.

“Chao ôi, đúng là con gái của ta rồi!” Hán tử chạy thẳng ra sân, ôm chầm lấy Thu Quả, reo ầm lên, “mẹ nó ơi, con gái chúng ta về rồi, Thu Quả của chúng ta về rồi!” Hán tử vừa ôm lấy con gái, vừa ngoảnh ra phía sau gọi lớn.

Mẹ Thu Quả chệnh choạng từ nhà sau chạy ra, trông thấy đúng là Thu Quả, thì nhũn chân ngã ngồi xuống sân, oà lên khóc nức nở.

Thu Quả tiến lại, quỳ xuống dập đầu trước mẹ một cái, rồi ôm lấy mẹ mà khóc.

Chỉ một lúc sau, toàn bộ người trong mấy dãy nhà đều ùa cả ra, có hai người thím, vợ của Nhị Xuyên, Tam Xuyên, và một đám trẻ lốc nhốc, đều vây quanh Thu Quả.

Tần Đại Xuyên dẫn Thu Quả vào một gian nhà nhỏ ở góc sân sau, là từ đường nhà họ Tần. Thu Quả nhiều lần lập công, nhà họ Tần đã thăng cấp đại phu, được xây từ đường. Thu Quả nước mắt giàn giụa dập đầu trước bài vị của ông nội.

“Con gái, hãy kể chuyện của con cho ông nội con nghe đi!” Hán tử nói.

“Bảo con kể chuyện gì đây?” Thu Quả hỏi lại.

“Hãy kể về Tô đại nhân, ông nội con muốn nghe nhất chính là chuyện này. Sao Tô đại nhân không về cùng con?”

Thu Quả cúi đầu gạt lệ.

“Cha!” Tần Đại Xuyên khấu đầu trước bài vị, “cháu gái Thu Quả đã về rồi. Nó là đại công thần của nhà chúng ta, vì đã mang tới cho nhà ta một đại quý nhân, chính là Tô đại nhân. Nhờ Tô đại nhân mà gia tộc chúng ta mới có được vinh hoa phú quý hôm nay.”

Thu Quả nghe vậy, càng thấy trong lòng đau đớn, bật khóc thành tiếng.

“Con gái, sao con lại khóc?” Hán tử chột dạ, “con và Tô đại nhân có chuyện gì ư?”

“Con và Tô đại nhân không có chuyện gì cả, đại nhân là cha nuôi của con!”

“Ồ... vậy là... đại nhân nghĩ như vậy thật sao?” Hán tử cuống lên, “vậy... Tô đại nhân đã... gả con cho ai rồi?”

“Con không gả cho ai cả, con không gả cho ai hết!”

“Chà, làm gì có cô gái nào không chịu gả chồng kia chứ? Tô đại nhân không tìm, thì cha sẽ tìm cho con một nhà chồng tử tế!”

Thu Quả im lặng, lại dập đầu trước bài vị ông nội, rồi quay sang nhìn hán tử cụt tay một chốc, mới chậm rãi nói: “Con phải đi rồi.”

“Đi đâu?” Hán tử sửng sốt.

“Hàm Dương.”

“Con đi Hàm Dương làm gì?”

“Tìm vinh hoa phú quý cho nhà ta!” Thu Quả đứng dậy, đi thẳng ra phía cổng.

“Hàm Dương, cũng tốt,” Tần Đại Xuyên hào hứng, “để cha đi cùng con!” Rồi bước theo sau Thu Quả, vừa đi vừa nói: “Con gái, ở Hàm Dương chúng ta cũng có một căn nhà, vốn em trai con ở đó. Em trai con giờ đã là thợ khéo, biết rèn binh khí ô kim, nghe nói đã tới Ư Thành, đại vương một tháng phát cho ba thạch lương, ăn không hết. Cha cũng muốn tới đó, nhưng mẹ con nhất quyết không chịu...”

“Cha đã nói hết chưa?” Thu Quả lạnh lùng cắt ngang lời hán tử, rồi bước đi như chạy, thẳng ra khỏi cổng, nhảy phắt lên xe trước ánh mắt ngỡ ngàng của hàng xóm láng giềng vừa kéo tới, quát phu xe đánh ngựa đi ngay. Rốt cuộc đến một ngụm nước trong nhà còn chưa kịp uống.

Hán tử cụt tay đứng sững sờ trước cổng, nhìn theo cỗ xe tứ mã cuốn bụi mà đi, ngơ ngác không hiểu chuyện gì.

Thu Quả đi thẳng một mạch đến Tần Xuyên, rẽ vào núi Chung Nam, tới thẳng Hắc Điêu đài.

Kiểm tra điêu bài xong, Thu Quả được dẫn vào trong núi. Ra đón nàng, chính là Thiên Hương.

“Thu Quả, cuối cùng thì ngươi đã về rồi!” Thiên Hương tươi cười nghênh đón.

Thu Quả chỉ kịp gọi một tiếng “sư phụ”, rồi muôn vạn tủi hờn lại hoá thành nước mắt, giàn giụa tuôn trào.

Những hành động của Thu Quả ở nước Triệu, nhất là vụ việc đầu độc Tô Tần, đều khiến Thiên Hương rất hài lòng, lại càng thêm tin tưởng. Thiên Hương vỗ về an ủi Thu Quả một hồi, rồi đưa vào trong phòng, hỏi han các chuyện trong những ngày qua.

Thu Quả kể lại tường tận mọi chuyện, chỉ giấu kín việc nàng bớt lại một nửa độc dược cho mình. Cuối cùng, nàng nói: “Đều do đệ tử kém cỏi, chưa thể hoàn thành nhiệm vụ sư phụ giao phó!”

Được biết Quỷ Cốc Tử đã phái đồ đệ đến cứu Tô Tần, Thiên Hương sau cơn bàng hoàng chấn động, cũng không còn hồ nghi nữa.

Nghĩ tới Tô Tần và Trương Nghi, Bàng Quyên và Tôn Tẫn, Thiên Hương lại thở dài sườn sượt, rồi nói với Thu Quả: “Chuyện này không thể trách đệ tử, là trời không diệt Tô Tần. Vả lại, đây cũng chưa hẳn không phải chuyện hay. Nói không chừng, sư phụ đây còn phải cảm ơn đệ tử đấy!”

“Chuyện hay ư?” Thu Quả ngỡ ngàng.

“Ta căm hận gã ngu si Ngụy Tự, cả ngày đắm chìm trong dâm dật, chưa từng nghĩ tới chính sự. Đúng như Khổng Trọng Ni nói, gỗ mục thì không thể chạm khắc, tường đất thì không thể trát.” Thiên Hương chợt phẩy tay, cười lớn, “giờ thì tốt rồi!”

“Nhưng chẳng phải sư phụ... đã phải bỏ ra rất nhiều công sức với hắn?”

Thiên Hương lại cười khanh khách: “Công phu của ta, dùng đâu chẳng được. Lại có nhiệm vụ mới rồi đây!”

“Lần này đi đâu?”

“Sính Đô!”

“Bao giờ đi?”

“Mấy hôm trước, kim điêu đã giục ta đi rồi. Ta còn ở đây, là chờ đệ tử.”

“Chờ đệ tử?” Thu Quả mở to mắt, “muốn đệ tử cùng điư?”

“Kể từ hôm nay,” Thiên Hương vỗ nhẹ vào vai Thu Quả, “bất kể đi đâu, ta cũng sẽ dẫn ngươi theo. Nếu có một ngày bắt buộc phải chết, chúng ta sẽ chết cùng nhau.”

“Sư phụ?” Thu Quả lại trào nước mắt.

“Kể từ hôm nay, đừng gọi ta là sư phụ nữa, hãy gọi là chị! Ta sẽ coi em như em gái ruột của ta!”

“Chị...” Thu Quả nghẹn ngào gọi một tiếng.

“Em,” Thiên Hương kéo tay nàng, “chị em ta cùng tới Man Sở, để khiến đám nam man phải chết mê chết mệt!”

“Cái gì mà chết mê chết mệt kia?” Thu Quả ngơ ngác.

“Phải, đó là việc chúng ta cần làm khi tới Sính Đô, mở lầu Miên Hương!”

“Lầu Miên Hương, là gì kia?”

“Chính là lầu xanh đó, nơi chuyên quyến rũ đàn ông, mua vui cho đàn ông! Chẳng phải đến cuối cùng, chị đã dạy cho em rồi đó thôi.” Thiên Hương nháy mắt cười, “nói thử xem, Tô Tần kia thế nào?”

“Đâu có thế nào!” Thu Quả đỏ mặt ấp úng, “hắn... em... không có gì hết...”

“Sao cơ?” Thiên Hương sửng sốt, “hắn không làm gì em ư?”

Bị chọc đúng chỗ đau, Thu Quả ngoảnh nhìn sang hướng khác, chảy nước mắt.

Thiên Hương kinh ngạc kêu lên: “Bao nhiêu thủ đoạn quyến rũ chị đã dạy, em không làm theo ư?”

“Hắn... hắn chẳng bao giờ để mắt đến em cả...” Thu Quả lí nhí.

“Gã họ Tô này...” Thiên Hương lấy làm quái lạ, “hắn là gỗ đá ư?”

“Trong lòng hắn sớm đã có người khác!”

“Là ai?”

“Thái hậu nước Yên, Tuyết công chúa!”

“Ồ,” Thiên Hương bừng tỉnh, “mấy năm trước ta cũng nghe đồn thổi giữa hai người có chuyện mờ ám, nhưng sau đó lại nghe nói chỉ là tin đồn nhảm. Giờ nghe em nói, coi như đã xác thực rồi!”

“Họ còn có một đứa con gái, chừng mười tuổi.”

Thiên Hương trợn mắt, không dám tin vào tai mình: “Trời ơi... sao họ có thể... làm ra chuyện tày trời như thế?”

“Em cũng chỉ vừa mới biết. Lúc này đây, cả nhà họ đang đoàn tụ trong trạch phủ của hắn ở Hàm Đan!”

Sau cơn kinh ngạc, Thiên Hương bỗng phá lên cười sảng khoái: “Cứ ngỡ hắn là kim thân ngọc thể kia, hoá ra chỉ là một con mèo ăn vụng. Ha ha ha, thú vị thật đấy!” Rồi quay sang Thu Quả, “vậy thì càng không thể trách em được! Nghe kim điêu nói, Tô Tần là một kẻ dị hợm, đã quyết thế nào thì sẽ kiên trì tới cùng. Đồn rằng ở nhà hắn đã có một cô vợ tên gọi Tiểu Hỉ, nghe nói do cha hắn cưới hỏi đàng hoàng, nhưng hắn chưa một lần nhìn tới nàng ta. Chuyện này xem ra cũng là thật rồi! Gặp phải một kẻ thế này, đừng nói là em, dù chị đây cũng phải bó tay hết cách!”

“Chị,” Thu Quả nghiến răng, “em quyết theo chị tới Sính Đô!”

Thiên Hương lại cười: “Hay lắm! Đem tấm thân ngọc ngà này của em tới Sính Đô, chờ xem, chị sẽ biến em thành báu vật!”

A black and white photo of a sign Description automatically generated

ĐÓNG VU DƯƠNG, KHUẤT NGUYÊN CHIÊU HỒN TRA Ô KIM, HOÀI VƯƠNG THỊNH NỘ

Trên đất Hoa Hạ, sông ngòi dọc ngang. Rộng hơn Hà Thuỷ, duy có Giang Thuỷ.

Giang Thuỷ vốn không gọi là Giang Thuỷ, mà gọi là Kim Sa Thuỷ, bởi lẽ dưới sông có nhiều cát vàng.

Kim Sa Thuỷ chảy qua đồng hoang vạn năm, đổ vào đất Thục, lại hội tụ các dòng sông ở Thục Sơn, mới được gọi là Giang Thuỷ.

Giang Thuỷ mênh mông, chầm chậm về đông, đổ vào Ba Sơn.

Ba Sơn nhiều kẽm núi, vào năm Ba Sở giao chiến, toàn bộ kẽm núi trên Giang Thuỷ tại Ba Sơn đều gọi là Vu Hiệp. Tên gọi Vu Hiệp được đặt theo tên một ngọn núi lớn, là núi Vu Hàm. Còn tên núi Vu Hàm được đặt theo tên của một ngôi miếu thần, là miếu Vu Hàm. Miếu Vu Hàm lại được đặt theo tên gọi của một thầy mo tên gọi Vu Hàm

Thầy mo này lại do phát hiện ra dòng suối muối chảy ra từ hang đá vôi của ngọn núi này, nên mới có tên Vu Hàm (1) .

(1) Trong chữ Hán, vu có nghĩa là thầy mo, hàm có nghĩa là mặn.

Tương truyền, thời thượng cổ có mười ngọn núi thiêng, trên mỗi núi thiêng có một thầy mo danh tiếng sinh sống, lần lượt là Vu Hàm, Vu Tức, Vu Phán, Vu Bành, Vu Cô, Vu Chân, Vu Lễ, Vu Để, Vu Tạ, Vu La.

Mười ngọn núi thiêng trong thiên hạ, là để kết nối giữa người và trời. Vu Hàm đứng đầu, vì con người không thể sống thiếu muối.

Vu Hàm là một bà mo. Tương truyền bà là con gái của thiên thần, cai quản mây mưa trên Ba Sơn, là chúa Tề của toàn bộ Ba Sơn. Miếu thần thuỷ tổ nằm trong một khe núi trên đỉnh Vu Phong, nhìn lên đỉnh Vu Sơn cao nhất, bao quát dòng suối muối dưới chân núi. Khe núi này sau khi được con người tu sửa, trở thành một bãi đất bằng phẳng, rộng chừng vài chục trượng vuông, tương truyền là nơi ở của Vu Hàm năm xưa.

Miếu thân xây dựa vào thế núi, không biết đã được tu sửa qua bao nhiêu đời, tới mùa hè năm người Sở chinh phạt Thương Ư, vẫn vẹn nguyên hoàn hảo.

Trong khe núi mọc đầy cây cỏ kỳ lạ, nơi nơi chim hót hoa thơm, cảnh sắc tuyệt mĩ. Một dòng suối nhỏ tuôn ra từ khe đá, đổ xuống ao nước trong vắt dưới gốc cây cổ thụ, ngưng tụ một chốc rồi lại róc rách chảy đi.

Hôm nay trời nắng đẹp, trong miếu mát rượi, quả là một ngày đầu thu trong trẻo.

Bên ao nước trong vắt, có một thiếu nữ đang châm cứu cho một ông lão người Ba, bên cạnh họ còn một ông già nữa mình bận áo bào, đầu đội mũ cắm lông trĩ, ngồi quay mặt vào sơn cốc, tùy hứng dạo đàn.

Gần đó có vài nam nữ người Ba nữa, rõ ràng vừa được trị bệnh xong, tất cả đều đang nhắm mắt lắng nghe.

Khúc nhạc vừa kết thúc, thiếu nữ bèn rút kim ra, đỡ ông lão đứng dậy, dìu ông bước đi.

Đi được vài bước, ông lão người Ba bỗng đẩy thiếu nữ ra, rảo nhanh vài bước, rồi lại đi chậm vài bước, sắc mặt tràn đầy kinh ngạc, quay sang thiếu nữ: “Thần châm! Tiểu tư tế, châm thuật của cô đã vượt qua lão đội mũ lông rồi! Cái chân già của ta, lão châm không biết bao nhiêu lần mà không hề thấy đỡ. Cô vừa châm vài cái, thế mà nó đã nghe lời hẳn!”

Thiếu nữ được gọi là tiểu tư tế kia bật cười: “Từ lâu đã nghe đồn ông giỏi nịnh lắm, mà không ngờ lại giỏi đến độ này,” vòng tay tinh nghịch, “Vân Nhi bái phục!”

Đám người Ba đều cười ồ lên. Nhưng tiếng cười lập tức bị dập tắt bởi một tiếng tù và loáng thoáng từ xa vọng lại.

Ông lão phẩy tay với đám người Ba, rồi vẫy tay với ông lão đội mũ cắm lông trĩ: “Đến giờ rồi, mau xuống ao muối. Bạch huynh đệ, hãy gảy một khúc lên đường!”

Ông lão đội mũ cắm lông trĩ mỉm cười, rồi gảy lên một khúc tiễn hành.

“Này ông ơi!” Thiếu nữ nhặt lấy cây gậy, đuổi theo đưa trả cho ông lão người Ba.

Ông lão nhận lấy, đập khẽ vào ống chân và bàn chân: “Chân ta đã khỏi rồi, còn cần cái của nợ này làm gì nữa?” Rồi tiện tay ném vào khe núi, cố tình sải bước thật nhanh, tới chỗ rẽ lại ngoảnh đầu gọi với về phía ông lão đội mũ cắm lông trĩ, “Bạch huynh đệ, cháu ngoại ông giỏi lắm!”

Thiếu nữ kia, họ Bạch tên Vân, là cháu ngoại của ông lão đội mũ cắm lông trĩ, thầy tư tế của miếu Vu Hàm.

Chờ cho đám người Ba đi xa rồi, Bạch Vân quay trở lại bên bàn đá, thu lấy những món đồ mà họ đã mang tới trả công châm cứu: ít bánh gạo khô, vài viên muối, một con chồn, cùng ít đồ dùng lặt vặt khác. Đều là những thứ tốt nhất mà họ có thể mang tới trả công.

Bạch Vân khẽ thở dài, bước tới bên cạnh thầy tư tế, ngồi xuống. Ông lão vẫn tiếp tục gảy đàn.

“Ông ngoại,” Bạch Vân cất giọng buồn bã, “họ thức khuya dậy sớm, lao lực quá độ mà sinh bệnh. Cuộc sống ngày một ngặt nghèo!”

Thầy tư tế dừng tay gảy đàn, cũng thở dài.

“Vì sao lại thế?” Bạch Vân nhìn xuống dưới núi, “nghe ông ấy nói, mới vài năm trước, họ rất giàu có.”

“Đúng vậy!” Thầy tư tế gật đầu, “lúc đó, họ là người Ba.”

“Giờ họ vẫn là người Ba đấy thôi!”

“Không phải nữa rồi!” Ông lão lắc đầu, “giờ họ là người Sở.”

“Người Ba? Người Sở?” Bạch Vân trầm ngâm suy nghĩ một lát, rồi khẽ lẩm bẩm, “là người Ba, họ có suối muối; là người Sở, họ chẳng còn gì!”

“Phải!”

“Ồng ngoại!” Bạch Vân dõi mắt nhìn về phía đông, “có một chuyện, Vân Nhi từ lâu đã rất muốn hỏi!”

“Con nói đi.”

“Vân Nhi muốn ra ngoài núi xem thử.”

“Xem gì?”

“Sính Đô.”

“Sính Đô chẳng có gì đáng xem!” Thầy tư tế lại gảy đàn.

“Ồ!” Bạch Vân giữ tay lão lại, “chẳng phải ông nói, nơi đó phồn hoa náo nhiệt lắm ư? Nơi đó người chen vai thích cánh, nhà cửa san sát, còn có cung điện, còn có Chương Hoa đài mà người ta vẫn nói là cảnh trí trên trời chứ không phải của nhân gian!”

“Than ôi,” thầy tư tế im lặng hồi lâu, rồi lại thở dài, “đó đã là chuyện của rất nhiều năm về trước!” Rồi chậm chạp đứng dậy, dẫn nàng tới bên vách núi, chỉ vào một cây to cách đó không xa, “còn giờ đây, nó chẳng khác gì cái cây kia.”

Bạch Vân nhìn theo tay lão chỉ, ngơ ngác hỏi: “Ông ngoại, cái cây kia làm sao?”

“Thoạt nhìn thì vẫn cành lá xanh tươi, nhưng chẳng bao lâu nữa sẽ trở thành cây khô!”

“Ồ?” Bạch Vân ngạc nhiên, “trông nó tươi tốt thế mà?”

“Con hãy lại gần mà xem.”

Bạch Vân tiến lại gần, quan sát một hồi rồi quay trở lại, cười nói: “Ông ngoại, ông giỏi thật đấy, cái cây đã bị sâu đục rồi.

“Phải, nó đã bị sâu đục. Trên dưới, trong ngoài, chỗ nào cũng đầy những sâu!”

Bạch Vân bật cười, chỉ lên núi: “Ông ngoại, trên khắp núi này, có cây nào mà không có sâu? Với lại, có sâu thì đã sao? Vân Nhi vẫn thường thấy chim bay đến, đậu trên cây mà bắt sâu! Sâu càng nhiều thì chim lại càng thích!”

“Phải. Chim có thể bắt sâu ở bên ngoài, nhưng còn sâu ở bên trong? Đó mới là mối nguy!”

“Vân Nhi sẽ tìm lấy vài con chim gõ kiến!” Bạch Vân gật đầu.

Thầy tư tế chỉ cười, rồi lại cúi xuống gảy đàn.

“Ông ngoại!” Bạch Vân níu lấy tay ông, giọng nũng nịu, “Vân Nhi nói thật đấy, từ lâu Vân Nhi đã muốn xuống núi xem thử thế giới bên ngoài. Chỉ một lần thôi, được không ông?”

“Không xuống núi sẽ tốt hơn cho con đấy!” Thầy tư tế trầm giọng đáp.

“Vì sao vậy ông?” Bạch Vân gặng hỏi.

“Bởi vì,” thầy tư tế cất giọng rành rọt, “ngoài núi không phải là bầu trời của con!”

“Ồ!” Bạch Vân ngạc nhiên, “chẳng phải ông ngoại đã nói, bầu trời quanh đây đều thuộc về Vu Hàm, vậy bầu trời ngoài núi lẽ nào không phải? Vậy bầu trời ngoài núi là của ai?”

“Là của Sở Vương!”

“Nhưng ông ta chỉ là vua của người Sở, không phải là vua của trời Sở!”

Thầy tư tế cười buồn: “Con bé này, con không nói, ông ngoại cũng biết vì sao con muốn xuống núi, thế nhưng...” Rồi lại cúi xuống gảy đàn. Tiếng đàn hỗn loạn.

“Ông ngoại,” Bạch Vân thu lại nụ cười, chầm chậm quỳ xuống bên cạnh, “Vân Nhi biết là ông ngoại biết!” Rồi giọng nói bỗng trở nên nghẹn ngào, mắt lệ long lanh, “nhưng... ông ngoại ơi, Vân Nhi thực sự... muốn nhìn thấy ông ấy một lần...”

Những ngón tay đàn của thầy tư tế chậm dần, tiếng đàn run rẩy.

“Vân Nhi câu xin ông!” Bạch Vân dập đầu khẩn cầu, “hãy nói cho Vân Nhi biết, người đó họ gì tên gì, nhà ở đâu?”

Ngón tay ông lão bỗng giật lên một cái, tiếng đàn im bặt.

“Ông ngoại, Vân Nhi muốn nhìn thấy một lần, để xem ông ấy là loại người thế nào, mà lại khiến mẹ Vân Nhi vì ông ấy mà...” Nước mắt nàng tuôn ra như suối, nghẹn ngào hồi lâu mới nói tiếp, “cầu xin ông hãy giúp con một lần!”

“Con bé này!” Thầy tư tế đưa tay, khẽ vuốt mái tóc dài của nàng, “con mà nhìn thấy, sẽ chỉ thất vọng mà thôi!”

“Vì sao kia?”

“Vì con sẽ thấy điều mà con không muốn thấy.”

“Vân Nhi đã liệu trước tất cả mọi điều rồi, ông ngoại! Vân Nhi chưa từng cầu xin ông việc gì, duy chỉ lần này...” Bạch Vân lại dập đầu. Rồi nàng cứ quỳ mãi trước mặt thầy tư tế, không chịu đứng dậy.

Không biết đã bao lâu sau, thầy tư tế mới thở dài sườn sượt, đứng dậy, đi về phía cửa miếu.

Bạch Vân cũng đứng lên, đi theo sau.

Miếu có ba tầng cửa. Tầng thứ nhất là tiền điện, thờ tượng thần gió Phi Liêm, thần mưa Bình Hiệu, thần mặt trời Hi Hoà, thần mặt trăng Vọng Thư. Tầng thứ hai là trung điện, thờ thần mây. Tầng thứ ba là hậu điện, cũng là điện chính, thờ chủ thần Vu Hàm.

Thầy tư tế dẫn nàng bước qua tầng cửa thứ ba, quỳ xuống trước tượng Vu Hàm. Sau một hồi khấn vái, lão gieo quẻ, rút ra một thẻ, là thẻ hạ hạ.

Thầy tư tế đưa tấm thẻ cho Bạch Vân: “Không phải ông ngoại không cho con đi, mà Vu Hàm thuỷ tổ không cho con đi!”

Bạch Vân nhận lấy tấm thẻ, gạt lệ, dập đầu trước tượng thần, cất giọng nghẹn ngào: “Thuỷ tổ ở trên, hãy cho phép Vân Nhi gieo lại quẻ khác!” Nói đoạn, tự tay gieo quẻ, rút lấy một thẻ, là thẻ trung hạ.

Bạch Vân lại thỉnh cầu lần nữa, tiếp tục gieo quẻ, bắt được thẻ trung.

“Ông ngoại!” Bạch Vân đưa thẻ trung cho thầy tư tế, “thuỷ tổ đã khai ân rồi, cho Vân Nhi một tấm thẻ trung. Thẻ trung, không tốt cũng không xấu!”

Thầy tư tế thở dài: “Đã là mệnh trời, không thể cưỡng lại, nếu con khăng khăng muốn đi, vậy thì cứ đi đi.” Nói đoạn, bước ra phía sau tượng thân, mở một ngăn tủ bí mật, lấy ra một miếng ngọc bội, đưa cho Bạch Vân, “đây là ngọc bội mẹ con để lại, hãy đeo nó lên người!”

Bạch Vân nhận lấy ngọc bội, ngắm nghía thật kỹ. Trên ngọc bội khắc hình một đôi chim phượng hoàng quấn quýt, tinh xảo vô cùng, tiếc là chỉ còn một nửa.

“Ồ, ông ngoại, đây chỉ là nửa miếng ngọc bội thôi!” Bạch Vân ngạc nhiên nhìn sang thầy tư tế.

“Nửa còn lại, đang nằm trong tay người con muốn tìm!”

Bạch Vân sửng sốt: “Ông ngoại... cũng không biết tên ông ấy ư?”

Thầy tư tế lắc đâu.

“Mẹ con chưa từng nói với ông?”

Thầy tư tế lại lắc đầu.

“Tổ sư gia ở trên,” Bạch Vân nắm ngọc bội trong tay, lại dập đầu trước linh tượng, thầm khấn trong lòng, “Vân Nhi cầu xin tổ sư gia phù hộ cho Vân Nhi sớm tìm được người đang giữ nửa miếng ngọc bội còn lại kia, vì mẹ...”

Cánh quân vương thất xuất chinh ba vạn, tử chiến hơn tám nghìn, bị thương vài nghìn, bị bắt làm tù binh vài nghìn. Cánh quân quận Uyển của Cảnh Thuý thương vong ít hơn, song cũng suýt soát con số này.

Sau khi trận chiến kết thúc, ngay ngày hôm sau, người Tần báo cho người Sở tới nhận xác. Khuất Dao dẫn người tới chiến trường, thấy người Tần đã thu gom thi thể lại một chỗ, những binh lính bị thương nặng không kịp rút chạy cũng được chữa trị cẩn thận.

Khuất Dao cảm tạ tướng Tần Ngụy Chương, bước lại xem xét, thấy xác lính Sở đều được bọc sẵn trong vải gai, toàn bộ giáp trụ và binh khí đều đã bị người Tần tước mất. Khuất Dao lệnh cho quân lính bị bắt làm tù binh chuyển các xác chết về Đan Dương. Thú doãn Đan Dương chuẩn bị quan tài, khoanh lấy một mảnh đất để mai táng. Người Tần còn cẩn thận đưa thương binh về Sở, tiếp tục chữa trị.

Sắp xếp xong xuôi mọi việc, Cảnh Thuý để con trai Cảnh Khuyết dẫn quân Phương Thành trở về đất Uyển, còn mình lê tấm thân mệt mỏi, cùng Khuất Dao dẫn quân vương thất lên đường về Sính.

Thân là chủ tướng, Cảnh Thuý dứt khoát phải về Sính Đô thỉnh tội với Hoài Vương.

Bại quân không còn khí thế, cho dù là quân vương thất. So với khí thế hào hùng, oai vệ lúc xuất chinh, đại quân hơn vạn lúc này ai nấy đều ủ rũ cúi đầu, bước đi mệt mỏi.

Toàn bộ xe chiến đều dùng để chở thương binh, gồm cả xe của Cảnh Thuý. Khuất Dao đi đầu hàng ngũ, Cảnh Thuý đi sau cùng.

Trên đường về Sính, ngày dài hơn năm. Đi chừng chục ngày, bại quân mới tới được Kinh Môn.

Kinh Môn chính là cửa ngõ vào Kinh Châu. Kinh Môn là một ấp lớn, nằm ở ngoại ô phía bắc Kinh Châu, thành cao hào sâu, là thành luỹ phòng ngự cuối cùng của người Sở ở phía bắc Sính Đô. Kinh Môn nếu bị phá, Sính Đô sẽ không giữ nổi.

Kinh Môn cũng có cổng thực, song cổng này không phải cổng thông thường, mà là hai ngọn núi. Núi không cao, song do mọc giữa đồng bằng, nên vẫn khí thế bất phàm, nhô lên ở hai bên con đường cái quan nối liền hai đô nam bắc, nam tới Sính Đô, bắc tới cố đô nước Sở là Đan Dương.

Năm xưa Vũ Vương bắc chinh tới đây, leo lên hai núi, cảm khái trước khí thế của hai đỉnh, bèn truyền chỉ xây cổng tại đây. Thế là, một bức tường đá mọc lên lừng lững, nối liền hai núi, ở giữa trổ một cổng vòm cao lớn cho đường cái quan chạy qua, giống như cổng thành, song không lắp cửa. Trên cổng, Vũ Vương tự tay đề hai chữ “Kinh Môn”, to như lưới bắt chim sẻ.

Về sau, các đời Sở Vương mỗi lần bắc chinh, đều đến đây tế cờ tuyên thệ.

Quân bắc chinh chỉ sau khi đi qua cổng này, mới được coi là xuất chinh. Quân trở về cũng chỉ sau khi đi qua cổng này, mới được coi là về đến.

Qua giờ Ngọ hôm đó, cánh quân vương thất của Cảnh Thuý về tới, người nối tiếp người, xe nối tiếp xe, lục tục kéo qua phía dưới hùng môn.

Khi cánh quân này đang lũ lượt băng qua dưới cổng, đúng lúc Bạch Vân từ núi Vu Sơn tìm đến đang đứng lặng trên đỉnh núi phía tây, ánh mắt sắc sảo có phần kinh ngạc khi nhìn xuống đoàn người kéo dài dằng dặc tưởng chừng như không bao giờ kết thúc bên dưới.

Lần đầu tiên Bạch Vân nhìn thấy nhiều binh lính đến vậy.

Ánh mắt của Bạch Vân từ từ dừng lại ở một gia đình đang đứng hai bên cổng đá. Họ gồm ba người, một thiếu phụ đứng tựa lưng vào cổng đá, tay bế một bé gái chừng bốn năm tuổi, ánh mắt đau đáu nhìn vào từng người lính đi ngang qua trước mặt. Bên kia cổng còn một thằng bé lớn hơn một chút, ngồi vắt vẻo trên cành cây, cũng đang mở căng mắt nhìn dán vào đoàn người, chỉ sợ bỏ sót mất ai đó.

Những binh lính đi ngang qua trước mặt họ đều không giấu được vẻ đau xót trong ánh mắt. Không ai bảo ai, hết thảy đều ngẩng đầu lên cho ba mẹ con nhìn rõ mặt, có lẽ tránh để họ tưởng lầm là bỏ sót.

Không biết đã qua bao lâu, đoàn quân mới đi qua hết. Người đi cuối cùng, chính là Cảnh Thuý.

Cảnh Thuý cúi rũ đầu bước đi, không dám nhìn cổng lớn, càng không dám nhìn vào hai chữ lớn đề trên cổng.

Nhưng Cảnh Thuý vẫn nhìn thấy gia đình kia. Cảnh Thuý dừng lại, rồi bước tới trước mặt thiếu phụ, từ từ cúi đầu xuống.

Thiếu phụ sửng sốt nhìn ông ta, khuôn mặt chốc đã tràn đầy tuyệt vọng.

Bé gái tuột xuống khỏi tay mẹ, tò mò nhìn vào bộ râu bạc trắng của Cảnh Thuý, ngây ngô hỏi: “Ông ơi, ông có thấy cha cháu đâu không? Có phải cha cháu vẫn ở phía sau không? Cha cháu cũng ở trong quân vương thất đấy...”

Đôi mắt đục ngầu của Cảnh Thuý từ từ ứa ra hai giọt lệ.

“Phải, cha cháu đang ở phía sau, chừng ba ngày nữa, cha cháu sẽ về...” Cảnh Thuý đưa tay vuốt mặt, chậm chạp quay đi, nặng nề lê bước qua cổng.

Cảnh Thuý đã đi xa, nhưng một nhà ba người kia chưa về, vẫn đứng chôn chân bên cổng.

Bạch Vân mắt sáng như sao, đã thấy rõ tất cả. Nàng chầm chậm bước xuống dốc núi, tiến về phía ba con người vẫn đang đứng chờ trong tuyệt vọng.

Sau khi qua Kinh Môn, vương sư chưa về Sính Đô ngay, mà hạ trại trên đồng hoang ở ngoại ô Kinh Môn, chuẩn bị cho một đại lễ.

Chính là lễ chiêu hồn tử sĩ do thái miếu nước Sở cử hành. Theo thông lệ, khi quân viễn chinh thắng trận khải hoàn, người còn sống sẽ về trước, sau khi đi qua Kinh Môn, cần phải làm lễ chiêu hồn cho tướng sĩ trận vong, để hồn thiêng chết nơi đất khách được trở về quê hương, ai về từ đường nhà nấy.

Trại vừa hạ xong, Khuất Dao dẫn theo một ngư dân đất Kinh vào trong trại trung quân. Ngư dân mặc áo ngắn vải thô, đầu đội nón lá, xách một cái giỏ đựng đầy cá tươi đang quẫy tanh tách.

Cảnh Thuý ngồi trên chiếu chủ, ánh mắt rầu rĩ nhìn ngư dân kia một chốc, rồi từ từ khép mắt lại.

Ngư dân bỏ nón xuống, bước lại gần Cảnh Thuý, ngồi xuống trước mặt, đưa tay gõ nhẹ lên mặt án, đằng hắng một tiếng.

Cảnh Thuý mở mắt, bỗng giật mình sửng sốt: “Điền tướng quân?”

Chính là Điền Kỵ.

Điền Kỵ bật cười vài tiếng: “Lão phu đã ở đây chờ tướng quân hơn chục ngày rồi!”

Cảnh Thuý không cười nổi, cúi đầu buôn bã, thở dài thườn thượt.

“Khuất tướng quân,” Điền Kỵ quay sang Khuất Dao, chỉ vào giỏ cá, “hãy làm vài món, tại hạ muốn uống cùng Cảnh tướng quân vài chén!”

Khuất Dao cho gọi tham tướng lại dặn dò, rồi đứng hầu bên cổng trại.

“Lại đây!” Điền Kỵ vẫy Khuất Dao, chỉ vào chiếu bên cạnh, “chúng ta hãy thử suy đoán về nguyên do người Tần đánh thắng!”

Khuất Dao tiến lại, ngồi xuống.

“Cảnh huynh,” Điền Kỵ nhìn sang Cảnh Thuý, “thắng bại là chuyện thường tình của binh gia, tại hạ cũng không ít lần bại trận. Thắng thì không cần phải nói, giờ bại trận rồi, cần phải suy ngẫm xem là bại ở đâu, đúng không?” Rồi quay sang Khuất Dao, “hãy mang bản đồ lại đây!”

Khuất Dao mang bản đồ lại. Rồi Cảnh Thuý, Khuất Dao lần lượt kể lại chi tiết về chiến lược phạt Tần.

“Cảnh huynh, Khuất tướng quân,” Điền Kỵ nghe xong, trầm ngâm hồi lâu, rồi chậm rãi nói, “theo như lời hai vị, chiến lược của Cảnh huynh không có gì không thoả đáng, nếu là tại hạ dụng binh, cũng chỉ như thế mà thôi. Song kỳ lạ ở chỗ, ta và Tần gần như lấy ba chọi một, tại sao người Tần lại thắng?”

“Điền tướng quân, hãy xem cái này!” Khuất Dao đứng dậy, lấy ra một bọc, mở ra, để lộ một mũi thương, “trong lúc tẩm liệm tử sĩ, mạt tướng nhổ được mũi thương gãy này từ trong người lính Sở!”

Điền Kỵ nhận lấy, lau sạch, quan sát kỹ lưỡng, chợt bàng hoàng chấn động, ngẩng đầu nhìn sang Khuất Dao: “Mang khiên lại đây!”

Khuất Dao mang một tấm khiên lại. Điền Kỵ cầm mũi thương đâm thẳng vào khiên, lập tức xuyên thủng.

“Mang áo giáp lại đây!”

Khuất Dao mang áo giáp tới, Điền Kỵ lại đâm, mũi thương cũng xuyên qua áo giáp dễ dàng.

Điền Kỵ trợn mắt há miệng, đờ ra sửng sốt, như không dám tin. Một lúc sau, Điền Kỵ rút bội kiếm đeo bên hông, đâm vào khiên rồi đâm vào áo giáp, đều không thủng.

“Than ôi, Cảnh huynh!” Điền Kỵ thở hắt ra, “tại hạ đã hiểu tại sao người Tần thắng rồi!” Đưa mũi thương cho Cảnh Thuý, “thắng ở mũi thương này! Chà, tay nghề thực tinh xảo! Không giấu Cảnh huynh, mấy năm trước tại hạ ở đất Uyển, vừa nhìn thấy ô kim của đất Uyển, đã biết ngay rằng, đây sẽ là bá chủ chiến trường ngày sau. Tại hạ ở lì trong xưởng rèn, muốn thử dùng ô kim để rèn thành binh khí, nhưng chưa làm ra được thứ gì nên hồn, đã bị Tô Tần gọi về Tề mất rồi. Lần này trở lại, tại hạ đã nguội lòng với chiến trường, chỉ tìm thú vui trong chốn sông hồ. Đến nay hay tin Cảnh huynh bại trận, tại hạ mới tìm tối, muốn làm rõ nguyên nhân, đâu ngờ lại thấy thứ này!”

Cảnh Thuý lại thở dài não nề.

“Cảnh huynh, sức lực ngang nhau, thứ quyết định thắng thua, chính là binh khí, nhất là trong cuộc chiến này!” Điền Kỵ chỉ vào bản đồ, “người Tần chỉ hai vạn quân, phải giao chiến với sáu vạn hùng binh, lại không thi ngụy kế, không đánh tập kích, không dùng bất cứ sách lược nào, chỉ bày một trận chữ nhật sơ sài nhất hạng, lại đặt mình vào chỗ chết, tức là hoàn toàn giao chiến bằng thực lực, mà cuối cùng vẫn đánh thắng, chính là nhờ vào lợi khí trong tay!”

“Điền huynh,” Cảnh Thuý ngước mắt, nhìn thẳng vào Điền Kỵ, “đổi lại là Điền huynh, sẽ ứng phó thế nào?”

“Theo tính khí của tại hạ, cũng giống như Cảnh huynh thôi, cũng sẽ chiến bại như vậy!”

“Vậy ư?” Nghe thấy lời này của Điền Kỵ, Cảnh Thuý đã thấy trong lòng dễ chịu hơn nhiều, lại thở hắt ra, hồi lâu sau mới lẩm bẩm, “lẽ nào không có cách thủ thắng ư?”

“Có lẽ có một.”

“Điền huynh mau nói!”

“Nếu có quân sư Tôn Tẫn ở bên,” Điền Kỵ chỉ vào trận đồ, “hẳn là quân sư sẽ nhắc Cảnh tướng quân ổn định thế trận, trước tiên hãy bao vây kẻ địch vốn đang dựa lưng vào tuyệt cảnh, sau đó điều quân đông lộ và tây lộ quay về, bao vây tầng tầng lớp lớp. Người Tần bày trận thế này, lương thảo chắc chắn không đủ, bắt buộc phải đánh ra để đột phá vòng vây. Thế trận của địch, có lợi cho phòng ngự, bất lợi cho tấn công, Cảnh tướng quân nếu lại đắp luỹ kiên cố để giữ chặt vòng vây, thì thương mâu của Tần có sắc bén tới đâu cũng không có chỗ thi triển. Không tới mười ngày, hai vạn cường địch bị vây khốn chặt chẽ, ngoài không có chi viện, trong thiếu thốn lương thực, lòng quân không chiến tự loạn, ắt phải tan rã.”

“Than ôi!” Cảnh Thuý than thở, hối hận thì đã muộn, đưa tay đấm thình thịch vào đầu.

Điền Kỵ cười nói: “Sau khi sự việc xảy ra mới nhìn lại, thì ai cũng thông minh hết. Nhìn vào tình thế khi đó, Cảnh huynh nắm chắc phần thắng trong tay, hạ lệnh công trận cũng là đương nhiên!” Quay sang Khuất Dao, “Khuất tướng quân, món cá hôm nay, tướng quân không kịp ăn rồi. Hãy gấp rút trở về Sính Đô, vào cung yết kiến đại vương, cho đại vương xem mũi thương này, bẩm báo rõ nguyên do bại trận. Người Sở lần này chiến bại, không phải ở thực lực, mà là ở binh khí!”

“Tuân lệnh!” Khuất Dao cất mũi thương đi, đứng dậy, vòng tay, “mạt tướng lập tức lên đường!”

Rồi Khuất Dao đánh xe, ra roi tiến về Sính Đô.

Là phó tướng của bại quân, Khuất Dao không dám đi thẳng vào cung, mà trước tiên tìm tới phủ Khuất Bình. Khuất Dao biết Hoài Vương rất sủng ái Khuất Bình, nên muốn mượn làm bình phong. Nào ngờ Khuất Bình không có nhà, nghe nói vừa cùng thái miếu doãn tới Kinh Môn, chủ trì lễ chiêu hồn.

Khuất Dao đành phải tìm tới phủ Ngận Thượng, nhờ Ngận Thượng đi cùng mình vào yết kiến.

Những ngày qua, Hoài Vương không lúc nào không ôm trong lòng mối hận bại trận Thương Ư. Hoài Vương không cách nào hiểu nổi, đường đường hai mươi mốt vạn hùng binh Đại Sở vì lẽ gì mà lại thất bại trước vẻn vẹn năm vạn quân Tần. Sáu vạn đấu với hai vạn, quân Tần có lợi hại cách mấy, thì người Sở cũng là lấy ba chọi một, hơn nữa lính Sở cũng đâu phải hạng toi cơm, ai nấy đều là dũng sĩ thiện chiến do Cảnh Thuý đích thân tuyển chọn.

Khi Khuất Dao vào yết kiến, trước mặt Hoài Vương vẫn bày chiến báo của Cảnh Thuý.

Khuất Dao tiến lại, dập đầu sát đất. Hoài Vương nhìn trừng trừng vào Khuất Dao, hồi lâu vẫn không lên tiếng.

“Đại vương, mạt tướng thỉnh tội chết!” Khuất Dao lại dập đầu hô.

“Về đúng lúc lắm!” Hoài Vương cuối cùng cũng đã cất giọng, chỉ vào chiến báo của Cảnh Thuý bày trên án, “nói đi, sáu vạn đánh hai vạn, cớ sao lại bại?”

“Mạt tướng...” Khuất Dao lại dập đầu, “không có điều gì để nói, chỉ thỉnh tội chết!”

Lửa giận của Hoài Vương vừa bùng phát, thì Ngận Thượng tiến lên trước, vòng tay hô: “Thần có tấu!”

“Nói!” Hoài Vương liếc sang.

Ngận Thượng tiến lại, đặt một chiếc hộp xuống trước mặt mình: “Vật ở trong hộp, là do Khuất tướng quân mang từ chiến trường trở về, xin đại vương thẩm xét!”

Hoài Vương đưa mắt, cung doãn bèn tiến lại, cầm lấy chiếc hộp, mang tới đặt lên trên án của Hoài Vương. Hoài Vương mở hộp, thấy bên trong có hai mũi thương màu sắc khác nhau.

Hoài Vương hai tay nhấc lấy hai mũi thương, quan sát kỹ lưỡng. Trên mũi thương màu đen còn dính vệt máu.

Ngận Thượng vỗ tay, cung nhân đứng hâu bên ngoài bèn bước vào, dâng lên một tấm khiên.

“Đại vương,” Khuất Dao ngẩng đầu, nhìn lên Hoài Vương, “mũi thương màu đen là của người Tần, được rút ra từ trong thi thể binh sĩ của ta, có lẽ bởi người Tần đâm quá mạnh làm gãy cán thương. Còn mũi thương màu nâu là của quân ta. Khiên này là của tướng sĩ ta dùng để chặn vũ khí địch. Tình hình cụ thể thế nào, đại vương có thể tự tay thử!”

Hoài Vương ngồi lặng đi một lát, rồi cầm lấy mũi thương của người Sở đâm vào tấm khiên, tấm khiên vẫn trơ trơ. Lại cầm mũi thương của người Tần lên, đâm mạnh vào khiên, “sột” một tiếng xuyên thủng.

Hoài Vương lại cầm mũi thương đen bóng sặc mùi máu lên xem thật kỹ, rồi bỗng hít ngược một hơi khí lạnh.

Không cần phải giải thích gì thêm nữa.

Hoài Vương nhìn sang Khuất Dao: “Cảnh tướng quân đang ở đâu?”

“Cảnh tướng quân...” Khuất Dao đưa tay bưng mặt, “hiện đang ở Kinh Môn, đêm nay làm lễ chiêu hồn cho tử sĩ. Đại vương, trên đường trở về, Cảnh tướng quân không nói một lời, luôn đi cuối cùng, tướng quân không còn mặt mũi nào yết kiến đại vương, e rằng làm lễ chiêu hồn xong, tướng quân cũng sẽ...” Nói đoạn, dập đầu sát đất, bật khóc thảm thiết.

Hoài Vương hiểu Khuất Dao muốn nói gì, bèn quay sang Ngận Thượng: “Khanh hãy mau cùng Khuất tướng quân tức tốc tới Kinh Môn, có lời mời Cảnh tướng quân, nói là quả nhân có chuyện muốn hỏi!”

Hôm đó trời vừa rạng sáng, Khuất Bình đã khởi hành tới Kinh Môn. Đi cùng còn có thái miếu doãn, đại vu chúc và các vu chúc khác của thái miếu.

Vương sư chiến bại, trước đó vài ngày, thái miếu doãn đã theo thông lệ tấu xin Hoài Vương ân chuẩn, làm lễ chiêu hồn cho vong linh tử sĩ. Hoài Vương đọc xong tấu báo, không triệu thái miếu doãn, mà truyền lệnh cho Khuất Bình chủ trì nghi lễ.

Trước khi xuất chinh, Hoài Vương đã đích thân tới thái miếu gieo quẻ, được thẻ thượng thượng cát, nào ngờ lại thành ra chiến bại. Thái miếu doãn biết Hoài Vương đang giận dữ vì chuyện này, nên không dám thất lễ với Khuất Bình, cung cúc lo liệu chu toàn mọi việc, chỉ sợ lại phạm phải sai sót gì.

Lễ chiêu hồn của người Sở gồm rất nhiều nghi thức phức tạp, chỉ riêng chiêu hồn đã phải cử hành ở ba cửa. Cửa thứ nhất là Kinh Môn, cửa thứ hai là cổng Bắc thành Sính Đô, cửa thứ ba là ở đền Anh Liệt trong thái miếu.

Trong ba cửa này, quan trọng nhất là cửa thứ nhất, nên nước Sở đã cho dựng đài chiêu hồn bên cạnh doanh trại ngoài thành Kinh Môn. Đài chiêu hồn là một đài vuông đắp bằng đất đá, mỗi chiều dài mười trượng, cao ba trượng, khí thế hùng vĩ.

Lễ chiêu hồn thường cử hành vào giờ Nhân định, thời khắc mặt trời lặn, mặt trăng mọc, dương tĩnh âm động.

Khi cử hành đại lễ, trên đài chiêu hồn sẽ cắm đầy phướn chiêu hồn đủ màu đủ kiểu, tương truyền khi làm lễ, nghìn vạn anh linh tử trận nơi đất khách sẽ bay về Kinh Môn, tụ lại dưới các phướn chiêu hồn. Nhờ vào sự dẫn dắt của vũ nhạc, cờ phướn, vong linh sẽ nhập vào cờ hiệu của các bộ tướng, qua cửa thứ nhất.

Tiếp đến, vu chúc sẽ dùng cờ lệnh chỉ dẫn cho vong linh bay về phía nam, tụ ở cổng Bắc thành Sính Đô, nhập vào cờ phướn ở cửa Bắc, qua cửa thứ hai.

Sau đó, vong linh sẽ bay về thái miếu, nhập vào cờ phướn trong đền Anh Liệt. Vu chúc sẽ lập danh sách các anh linh được triệu hồi, dâng lên nhà vua, thỉnh cầu phong ấn, rồi chế thành bài vị. Sau đó, danh sách sẽ được thờ trong đền, còn bài vị được phát về các hộ cho người nhà thờ cúng.

Lễ chiêu hồn lần này, thái miếu lại càng cẩn trọng, do vong hồn quá đông, hành trình trở về lại quá xa xôi, phải băng qua trùng trùng sông núi, chế phục đủ loại yêu ma cản đường, do vậy, ở chính giữa đài chiêu hồn, thái miếu doãn đã thỉnh tới toàn bộ bài vị của chư thần Thiên, Địa, Nhân quyển uy nhất của đất Sở. Thiên thần có hơn hai mươi vị, như Thượng Hoàng Thái Ất, Nhật Thần Đông Quân, thần mây, Đại Tư Mệnh, Thiếu Tư Lệnh, thần gió Phi Liêm, thần mưa Bình Hiệu, thần mặt trời Hi Hoà, thần mặt trăng Vọng Thư. Địa thần có gần trăm vị, như đại thần Vu Hàm, sơn thần và sơn quỷ bốn phương, thuỷ thần, thổ bá. Nhân thần gồm hơn trăm vị, như Chúc Dung, Chuyên Húc, Tam Hoàng cùng tiên tổ người Sở. Có thể nói đã tập hợp đội ngũ thần tiên, vu sư, ma quỷ hùng hậu nhất trên toàn cõi đất Sở mênh mông.

Hiểu rõ mối quan hệ thân mật giữa Khuất Bình và Hoài Vương, miếu doãn năm lần bảy lượt khẩn cầu Khuất Bình vào vai vu dương. Trong đại lễ chiêu hồn, vị trí quan trọng nhất chính là vu dương. Thông thường, vu dương sẽ do thái miếu doãn đích thân đảm trách, song nghi lễ lần này quá đặc biệt, nên mới tìm mọi cách để nhường lại cho Khuất Bình.

Khuất Bình năm lần bảy lượt từ chối không được, cũng cảm thấy việc này thú vị, nên cuối cùng đành phải đồng ý. Suốt mấy ngày sau đó, thái miếu doãn và đại vu chúc cùng giảng giải cho Khuất Bình biết những nghi thức cần làm, tới ngày tế lễ, cũng coi như đã thuộc nằm lòng.

Đến lúc hoàng hồn, quanh đài chiêu hồn đông nghịt những người. Gia quyến của tử sĩ tại các ấp lần cận tập trung phía trước đài chiêu hồn, cả vài nghìn người. Phía sau và hai bên là binh sĩ còn sống vừa trở về mấy hôm trước.

Đài chiêu hồn đã bày biện xong xuôi. Trên đài cắm lá cờ lớn thêu chữ Sở, bay phần phật trong gió. Trước đài đốt hai đống củi lớn, bốc cháy rừng rực, hắt ánh lửa bập bùng lên vô số phướn chiêu hồn trên đài. Hai bên đài cắm vài chục lá cờ hiệu của các bộ tướng quân Sở.

Toàn bộ người có mặt đều quỳ trước đài. Ánh lửa bập bùng hắt lên khuôn mặt trắng bệch của Cảnh Thuý.

Trong hàng đầu tiên trước đài, có ba mẹ con thiếu phụ đứng chờ ở Kinh Môn hôm trước. Ngồi bên cạnh bé gái chính là Bạch Vân. Rõ ràng, vận mệnh bi thảm của nhà họ đã khiến nàng thương xót.

Mặt trời đã lặn, vu nhạc vang lên, rền rĩ bi thiết. Hơn chục vu chúc mang kỳ trang dị phục tiến ra, bắt đầu nhảy múa một điệu trang trọng mà ma quái.

Chiếu theo trình tự, nghi thức chiêu hồn gồm ba mục. Mục thứ nhất, tấu vu nhạc, đại vu chúc đăng đài thỉnh triệu thiên địa thần linh. Mục thứ hai, vu dương đăng đài, hướng về bốn phương, hát khúc chiêu hồn để triệu hồn tử sĩ. Mục thứ ba, cho người cầm cờ bộ tướng tam quân đăng đài, vu sư ngâm đọc danh sách tướng sĩ trận vong để gọi hồn nhập về.

Vu chúc nhảy xong điệu vu vũ, chuyển sang phần của vu dương. Khuất Bình trong vai vu dương, tóc buông xoã, phục trang kỳ dị, mang mặt nạ, chậm rãi bước lên đài trong tiếng vu nhạc réo rắt. Khuất Bình đứng giữa đài, quay mặt về phía tây bắc, hai tay giơ cao.

Vu dương vừa xuất hiện, bầu không khí bỗng trở nên trầm nặng. Trong tiếng nhạc thê thiết, Khuất Bình cao giọng ngâm nga lời bi tráng:

“Hồn ơi hãy về đây,

Vào cửa Tu Môn này!

Rời khỏi thân hằng có,

Đi bốn phương chi đây?

Chốn yên vui lìa bỏ,

Mà đến chỗ đoạ đày...”

Nào ngờ, Khuất Bình vừa ngâm xong câu đầu tiên, một cơn gió dữ thình lình cuốn tới, cờ phướn đủ màu đang rủ im lìm bỗng chốc tung bay phần phật, hai đống củi cũng cháy bùng, than nổ lốp bốp, lửa bốc cao rừng rực. Mấy ngọn đèn treo trên đài chiêu hồn đung đưa theo gió, cảnh tượng vô cùng ma mị.

Mọi người thảy đều kinh hãi, đua nhau nhìn lên bầu trời. Trên không trung, mây đen đang ùn ùn kéo tới từ phương bắc, sầm sập như ép xuống đầu.

Khuất Bình trong lòng kinh sợ, hai tay giơ cao lên trời, quay mặt về phía đông, tiếp tục ngân vang khúc chiêu hồn:

“Hồn ơi hãy về đây!

Phương đông đừng dừng bước.

Người khổng lồ ngàn trượng,

Chuyên bắt linh hồn người.

Lại mọc mười mặt trời,

Nóng chảy vàng tan đá.

Người khổng lồ ở đó,

Từ lâu đã quen rồi.

Hồn nay mới tới nơi,

Sẽ bị thiêu cháy đó.

Về ngay, hãy về ngay!

Phương đông đừng nấn ná...”

Khuất Bình vừa ngâm xong, một cơn gió còn dữ dội hơn nữa ào ào cuốn tới, lửa bốc phần phật, hoa lửa bắn tứ tung, một cụm lửa bay về phía đám đông, khiến những người ngồi ở đầu hàng hốt hoảng kêu ré lên, xô nhau né tránh.

Khuất Bình sững sờ kinh hãi, lúng túng ngoảnh nhìn mấy vu nữ đang nhảy múa xung quanh, không biết phải làm gì.

Vu nhạc bỗng trở nên dồn dập, các vu nữ xoay như chong chóng, lại càng nhảy múa điên cuồng. Trong tiếng vu nhạc chói gắt, đại vu chúc đã hạ đài lại quay trở lên, nhảy múa vòng quanh Khuất Bình, rõ ràng là muốn trấn an.

“Chuyện gì thế?” Khuất Bình hạ giọng hỏi, “tại hạ đã làm sai ở đâu ư?”

“Không!” Đại vu chúc ngẩng đầu nhìn trời, “là thần mây đưa thần gió Phi Liêm, thần mưa Bình Hiệu tới. Lẽ ra miếu doãn đại nhân không nên thỉnh mấy vị này!”

Khuất Bình lúc này cũng đã nhớ ra, trên đài có bày bài vị và dựng cờ hiệu của các vị thần này.

“Giờ phải làm sao đây?” Khuất Bình lo lắng, “mau hạ xuống đi!”

“Giờ không hạ được nữa!” Đại vu chúc thì thào, “mời thần thì dễ, tiễn thần thì khó. Giờ đã mời đến, thì không thể tiễn đi, bằng không, hai vị đại thần ấy nổi cơn thịnh nộ, sẽ càng nguy hơn!”

“Vậy... giờ phải làm sao?” Khuất Bình toát mồ hôi hột. Lần này nhận mệnh vua chủ trì lễ chiêu hồn, giờ lại đang làm vu dương, trách nhiệm nặng nề, lỡ xảy ra sơ suất gì, biết phải giải thích thế nào đây?

“Khuất đại phu, xin hãy bình bĩnh, bình tĩnh!” Đại vu chúc luôn miệng trấn an, vừa nhảy múa vòng vòng xung quanh, vừa múa may lên không trung, trong miệng lầm rầm khấn vái, không biết đang làm phép gì. Có điều phép thuật đó dường như không thấu đến thần gió, thần mưa, gió dữ lại càng thêm điên cuồng, mây đen lại càng thêm cuồn cuộn.

Thình lình, một tia chớp xé toạc bầu không, kéo theo tiếng sấm kinh thiên động địa. Cờ phướn muôn màu rung lắc ngả nghiêng. “Rắc” một tiếng, một cột cờ gãy đôi, gục xuống.

Trước biến cố kinh động nhường ấy, toàn bộ những người đang quỳ dưới đài lại không có một ai bỏ chạy hay nhúc nhích, bởi với họ, nghi thức này vô cùng hệ trọng. Họ đang gọi hồn cho người thân, nếu không gọi được về, vong hồn của người thân sẽ mãi mãi lang thang nơi đất khách, không có chỗ dừng chân.

Khuất Bình quỳ xuống, ngửa cổ nhìn trời, hai tay vươn cao, cất giọng bi thiết: “Đông Hoàng Thái Nhất, xin hãy phù hộ anh linh!”

Mọi người cũng theo nhau quỳ xuống, khấu đầu sát đất, đều cao giọng hô theo vu dương: “Đông Hoàng Thái Nhất, xin hãy phù hộ anh linh!”

Mây đen sầm sập, gió lớn dập vùi, cơn mưa lớn đã sắp đổ ập xuống đầu. Đúng vào khoảnh khắc ấy, trên đài chiêu hồn bỗng hiện lên một bóng người trắng toát.

Là Bạch Vân!

Không biết từ lúc nào, Bạch Vân đã lặng lẽ rời khỏi ba mẹ con nhà kia, thay trang phục tư tế, rồi tiến lên đài chiêu hồn. Xiêm y trắng muốt mỏng như cánh ve, tung bay trong gió dữ lồng lộng, trông nàng như sắp sửa bay lên.

Song Bạch Vân chẳng hề bận tâm, hai chân như lướt, bắt đầu nhảy một vũ khúc lạ lùng, cơ thể xoay tít như con quay, từ từ tiến về phía Khuất Bình.

Khuất Bình còn chưa hiểu ra chuyện gì, Bạch Vân đã hoàn toàn đắm chìm trong pháp thuật, một tay cầm cờ lệnh, một tay cầm chuông, nhịp nhàng phất cờ lắc chuông trong điệu vũ chóng mặt.

Chúng vu nữ trên đài đều sững sờ trước vũ điệu lạ kỳ chưa từng thấy, quên cả nhảy múa, cứ đứng ngẩn ra đó nhìn một mình nàng. Khuất Bình vẫn quỳ ở chính giữa vũ đài, hai mắt nhìn nàng trân trân, kinh ngạc đến chết lặng.

Bạch Vân vừa nhảy điệu vu vũ, vừa luôn miệng tụng niệm hàng tràng thần chú lắt léo kỳ khôi mà ngay cả đại vu chúc cũng chẳng hiểu gì.

Chốc sau, kỳ tích đã xảy ra.

Gió dần dần nhỏ lại. Mây dần dần tản đi. Sấm chớp nhanh chóng đi xa, khuất khỏi tầm tai nghe mắt thấy.

Rõ ràng, những gì vừa diễn ra trên đài đã khiến thái miếu doãn và đại vu chúc kinh hãi thực sự. Đại vu chúc đoán rằng, thiếu nữ trên đài kia còn giỏi phép hô mây gọi gió hơn mình nhiều. Thậm chí ông ta còn cho rằng, sự hiện diện của thiếu nữ kia, chính là do Khuất Bình hoặc Hoài Vương âm thầm bố trí.

Bầu trời mây giăng kín, lúc này bắt đầu nứt ra từng vết rạn xanh lam.

Đại vu chúc biết điều lui xuống khỏi đài nhường chỗ, sai thuộc hạ thay cán cờ bị gió thổi gãy, sửa sang lại đống lửa và đèn treo.

Khuất Bình vẫn ngồi ngây giữa đài, hai mắt không chớp, nhìn dán vào thiếu nữ.

Bạch Vân đặt cờ lệnh cùng chuông xuống, như thể không nhìn thấy đám vu sư, vu nữ trên đài, ngoảnh nhìn Khuất Bình mỉm một nụ cười bí hiểm, rồi chìa bàn tay mảnh dẻ trước mặt Khuất Bình. Khuất Bình cũng đờ đẫn chìa tay ra.

Bạch Vân một tay kéo Khuất Bình đứng dậy, tiếp tục nhảy múa vòng quanh. Một cảm giác lạ lùng bỗng dâng lên trong Khuất Bình, như thể bị thôi miên, hai chân Khuất Bình cứ thế vô thức bước theo nhịp chân nàng, rồi cùng nàng tay nắm tay, hoà vào điệu vũ trên đài.

Vu nhạc lại vang lên thảm thiết. Nhưng Khuất Bình dường như đã quên bẵng việc chiêu hồn.

Bạch Vân buông tay Khuất Bình ra, quay mặt về phía trời nam, hú lên một tiếng dài lảnh lót, rồi cao giọng ngâm nga:

“Hồn ơi hãy về ngay,

Chớ nấn ná phương nam!

Kẻ răng đen trên trán,

Róc thịt người dâng cúng,

Băm xương người muối ăn,

Rắn độc bò tràn lan,

Ngàn cáo chồn lúc nhúc.

Chín đầu, mãng xà đực,

Tới lui nhanh như bay,

Thấy người là nuốt ngay!

Hồn ơi, đừng nấn ná...”

Khuất Bình kinh ngạc. Bạch Vân đang ngâm tiếp khúc Chiêu hồn của chính mình.

Lúc này, Khuất Bình cũng mới sực nhớ tới nhiệm vụ, thì vội quay về phía trời tây, cũng hú dài một tiếng, tiếp tục ngâm nga:

“Hồn ơi hãy về ngay!

Chớ nấn ná phương tây!

Cát chảy dài ngàn dặm,

Bị cuốn vào vực thẳm,

Thì hồn sẽ nát tan.

Dù may mắn thoát thân,

Thì ngoài kia hoang vắng!

Ong đen to như ấm,

Kiến đỏ lớn như voi.

Ngũ cốc chẳng sinh sôi,

An chỉ toàn rơm cỏ!

Đất làm người loét lở,

Không có nước, khát khô!

Hồn lang thang vật vờ,

Mênh mông không chốn đỗ!

Hồn ơi, về ngay đó!

Kẻo lại hại đến thân...”

Bạch Vân lại ngoảnh về phương bắc, tiếp lời:

“Hồn ơi, hãy về đây!

Chớ nấn ná phương bắc.

Đỉnh núi băng cao ngất,

Ngàn dặm tuyết tung bay!

Hồn ơi, hãy về đây,

Nơi đó đừng nấn ná...”

Những người hiểu biết lúc này đã nghe ra, Khuất Bình và Bạch Vân đang ngâm khúc chiêu hồn nói về những kiếp nạn và khổ ải tại bốn phương đông tây nam bắc, để khuyên các vong hồn đang phiêu bạt bên ngoài, dù là phương nào, cũng không có chỗ cho vong hồn ẩn náu.

Lúc này, mây đen đã tan biến hoàn toàn, trả lại nền trời xanh thẫm, chi chít ánh sao.

Song không một ai nhìn đến ánh sao trên đâu, mọi ánh mắt đều đổ dồn vào vu dương và vu nữ xinh đẹp thình lình xuất hiện.

Ngâm xong về bốn phương, Khuất Bình lại tiếp tục:

“Hồn ơi hãy về đây!

Trời cao không thể tới!

Chín tầng đây hổ báo,

Vồ bắt người trân gian.

Rồi một gã chín đầu,

Đốn chín ngàn cây cối.

Sài lang trừng mắt đói,

Nghìn nghịt chạy tới lui!

Treo ngược người mua vui,

Hoặc ném xuống vực thẳm!

Thiên đế đã có lệnh,

Làm xong mới nghỉ ngơi!

Hồn ơi, hãy về thôi,

Đi nữa là nguy đấy...”

Bạch Vân tiếp lời, lại ngâm về âm phủ:

“Hồn ơi hãy về ngay!

Đừng xuống nơi âm phủ!

Thổ thần mặt sừng sộ,

Sừng nhọn hoắt trên đầu,

Lưng mọc bướu dày u,

Mười ngón tay đẫm máu,

Săn đuổi người hau háu.

Ba mắt trên đầu beo,

Thân thể tựa mình trâu,

Ham bắt người ăn thịt!

Hồn ơi, hãy về gấp!

Kẻo tự hại đến mình...”

Khắp lục hợp đều không thể tới, du hồn nên đi đâu đây? Khuất Bình lại tiếp tục ngâm nga:

“Hồn ơi, hãy về đây!

Nơi tầng tầng đài gác,

Dựa bên núi cao ngất.

Cửa lưới sơn đỏ tươi,

Chạm trổ đẹp tuyệt vời.

Mùa đông thật ấm áp,

Hè đến thì gió mát.

Sông ngòi lượn vòng quanh

Suối nước chảy trong xanh...”

Quả là chốn bồng lai giữa nhân gian, xứng đáng cho vong hồn quay về. Nơi đó chính là kinh kỳ, là Sính Đô.

Khuất Bình và Bạch Vân cùng giơ tay lên trời, đồng thanh chiêu dụ:

“Hồn ơi hãy về đây!

Hai hàng tám mĩ nữ,

Trực thâu đêm hầu hạ,

Cứ cũ mới thay nhau.

Các thục nữ chư hầu,

Luôn vào ra tấp nập.

Dung mạo đều xinh đẹp,

Cũng liên tục thay nhau.

Hình dáng thực diễm kiều,

Đứng hầu trong phòng lớn.

Mày ngài xanh mơn mởn,

Mắt lấp lánh đong đưa...”

Toàn bộ vu sư đồng thanh hát: “Hồn ơi hãy về đây!”

Tiếng ngâm vừa dứt, trên bầu trời đêm bỗng vụt qua một ánh tinh quang, nháy mắt đã biến mất.

Là một ngôi sao băng loé lên từ phương bắc, lướt ngang bầu trời đêm.

“Nhìn kìa, sao băng!” Trong đám đông, có ai đó chợt hô lên. Mọi người đua nhau ngước nhìn lên bầu trời. Lại thêm nhiều vệt tinh quang nữa vụt qua, loang loáng chớp tắt.

Khuất Bình tràn trề kích động, hướng về phía tây bắc, ngửa mặt lên trời mà hô lớn: “Hồn ơi hãy về đây...”

Bạch Vân cũng dang rộng hai tay, hướng lên trời, cùng đám vu chúc đồng thanh hô gọi. Đại vu chúc truyền lệnh, khua lắc toàn bộ phướn chiêu hồn. Anh sao băng trên trời càng dày đặc, từ bốn phương tám hướng loa loá đổ về, vụt sáng rồi lại vụt biến.

Tất cả mọi người đều tin rằng, đó là vong linh phiêu bạt bốn phương, nghe tiếng hát chiêu hồn, đã vượt đường vạn dặm quay về, quy tụ dưới những lá phướn muôn màu sắc.

Chứng kiến cảnh tượng này, Cảnh Thuý nước mắt đầm đìa, lặng lẽ đứng dậy, rời khỏi đám đông, chậm chạp bước ra xa, nơi ánh lửa không còn chiếu tới.

Cảnh Thuý tiến ra cánh đồng hoang, bước đến dưới một gốc cây cổ thụ đã chọn sẵn từ trước, tháo thắt lưng, vắt lên chạc cây, thắt thành thòng lọng. Rồi bước lên một hòn đá kê sẵn phía dưới, Cảnh Thuý chui đầu qua thòng lọng, dứt khoát đá văng hòn đá đi.

Một loạt hành động, rất chóng vánh, rất dứt khoát, không chút ngập ngừng.

Thế nhưng, đúng lúc Cảnh Thuý đang giãy giụa trên chạc cây, bỗng có hai bóng đen vụt tới. Một người phóng ra một lưỡi phi đao, cứa đứt thòng lọng.

Cảnh Thuý rơi phịch xuống đất.

Lúc này, một mảnh trăng lưỡi liềm đã lơ lửng phía trời tây. Ánh trăng nhàn nhạt chiếu xuống hai khuôn mặt, là Ngận Thượng và Khuất Dao.

Trên đài chiêu hồn, một khúc chiêu hồn do chính Khuất Bình soạn ra đã ngâm xong, ánh sao băng trên trời cũng ít dần rồi tắt hẳn.

Bạch Vân một thân lụa trắng, nhảy múa như lướt, nhặt lấy cờ lệnh và quả chuông lên, lượn vòng đến bên rìa vũ đài, ẩn vào góc khuất, rồi tung người nhảy xuống.

Trên đài, thái miếu doãn bước lên, mời chư tướng và quân uý lên đài, điểm danh liệt sĩ. Không chờ chư tướng đăng đài, Khuất Bình không kịp tháo mặt nạ, vội vòng tay với thái miếu doãn, rồi chạy tới chỗ Bạch Vân vừa biến mất, cũng nhảy xuống dưới.

Khuất Bình đã nhìn thấy bóng trắng kia, nàng đang tìm gì đó. Tìm một lát, nàng xách lên một cái túi, rồi bước chân thoăn thoắt tiến vào màn đêm. Khuất Bình vội đuổi theo sau.

Hai bóng người một trắng một đen, một trước một sau, đuổi theo nhau tới cánh đồng hoang rộng lớn.

Trăng lưỡi liềm đã áp sát chân trời, ánh trăng lờ mờ chênh chếch hắt lại. Bạch Vân dừng bước, quay người, mặt đối mặt với Khuất Bình.

Khuất Bình tiến lại, đứng trước mặt nàng, dường như lúc này mới sực nhớ tới chiếc mặt nạ đang đeo, vội đưa tay tháo ra, ném luôn xuống đất. Ánh trăng mờ lập tức chiếu tràn lên khuôn mặt trẻ trung của Khuất Bình.

Bạch Vân hai mắt nhìn thẳng vào Khuất Bình. Khuất Bình chợt lúng túng, nhất thời không biết phải làm sao.

Bạch Vân phì cười: “Vu dương đuổi theo tôi làm gì?”

“Cô...” Khuất Bình hỏi ngược lại, “cớ sao lại bỏ đi?”

“Ồ!” Bạch Vân kêu lên, “phải tìm chỗ để thay trang phục này ra chứ!”

“Tại hạ sai rồi!” Khuất Bình vội quay lưng lại, nhắm mắt mà nói, “tại hạ không nên đuổi theo. Tại hạ đã nhắm mắt lại rồi, cô cứ thay đi.”

Bạch Vân liếc Khuất Bình một cái, rồi nhanh nhẹn mở tay nải, lấy bộ trang phục Ba nữ khi nãy thay ra, rồi nhìn Khuất Bình, bình thản nói: “Xong rồi.”

Khuất Bình quay người lại, thấy thiếu nữ đã đổi trang phục người Ba, thì vòng tay thi lễ mà nói: “Cảm tạ thượng tiên thi pháp xua mây, chiêu hồn anh liệt!”

“Ồ, vu dương đuổi theo là để cảm tạ tôi sao?” Bạch Vân mỉm cười, ôm quyền đáp lễ, “bản tư tế xưa nay thi pháp, đều phải có lễ vật cảm tạ. Dám hỏi vu dương, có lễ vật gì chăng?”

“Cô... là tư tế?” Khuất Bình thoạt tiên ngỡ ngàng, tiếp đến bừng tinh, “phải rồi, thượng tiên đương nhiên là tư tế đất Ba! Dám hỏi tư tế, là thờ đại thần phương nào?”

“Thờ đại thần phương nào là việc của bản tư tế. Giờ đã muộn rồi, vu dương có lễ vật gì, hãy mau lấy ra đi, bản tư tế còn phải đi.”

Khuất Bình lúng túng: “Dám hỏi tư tế, tại hạ nên dùng lễ vật gì để cảm tạ?”

“Ái chà!” Bạch Vân mở to mắt, “vu dương đùa đấy ư? Thử hỏi trong thiên hạ này có người nào đi cảm tạ lại hỏi người được cảm tạ nên dùng lễ vật gì không?”

“Phải, phải!” Khuất Bình ngượng nghịu, vội đưa tay lần trong áo, mới nhận ra mình vẫn đang mặc trang phục vu dương, không mang theo tiền bạc, thì ôm quyền nói, “tại hạ đi vội, không mang theo lễ vật, cũng không biết lấy gì báo đáp. Nếu tư tế không chê, hãy theo tại hạ quay lại đài chiêu hồn, tại hạ xin dùng trọng kim cảm tạ.”

“Trọng kim?” Bạch Vân mở to mắt, “là gì kia?”

“Là... rất nhiều vàng.”

“Ồ,” Bạch Vân nhún vai, “tưởng gì, hoá ra là vàng. Có điều, bản tư tế không cần mua nhà mua đất, cần nhiều vàng để làm gì?”

Khuất Bình ngẩn ra một lúc, rồi gãi đầu: “Dám hỏi tư tế, đã không nhận vàng, vậy muốn tại hạ cảm tạ thế nào?”

“Phải rồi,” Bạch Vân nhìn thẳng vào Khuất Bình, “vu dương nói sẽ cho tôi nhiều vàng, vậy vàng đó đều là của vu dương ư?”

“Không phải!”

“Không phải của vu dương, sao lại dùng để cảm tạ tôi?”

“Tại hạ có thể tấu thỉnh đại vương cấp cho vàng để cảm tạ tư tế!”

“Anh là ai?” Bạch Vân trong lòng giật thột.

“Tại hạ Khuất Bình, tự nguyện, văn học thị tùng trong cung Sở, nay phụng vương mệnh chiêu hồn cho tử sĩ!” Khuất Bình thực thà đáp.

“Khuất Nguyên? Văn học thị tùng?” Bạch Vân ngẩng đầu, nhìn chăm chăm vào Khuất Bình một lát, rồi khe khẽ ngâm nga:

“Cây đẹp trong trời đất,

Quất hợp đất này a.

Bản tính không thay đổi,

Sinh tại nước nam a.

Rễ sâu khôn dời chuyển,

Bởi vì một lòng a.”

Khuất Bình sửng sốt: “Tư tế... biết bài tụng này?”

“Hẳn là do vu dương viết?” Bạch Vân vẫn nhìn thẳng vào Khuất Bình.

“Hổ thẹn, hổ thẹn,” Khuất Bình ôm quyền nói, “là tại hạ tập tành hồi mười ba tuổi, hôm nay nhìn lại, thấy thật au trĩ...

Bạch Vân như không nghe thấy, lại tiếp tục khe khẽ ngâm nga:

“Lánh đời đứng cô độc,

Ngang dòng chẳng theo dòng a.

Yên tĩnh thêm cẩn trọng,

Trước sau chẳng lỗi lầm a.

Giữ đức không tư dục,

Sánh ngang đất trời a...”

“Vu dương đúng là Khuất Tử đã viết bài tụng này?” Bạch Vân ngâm xong, lại nhìn xoáy vào Khuất Bình hỏi, như thể nghi ngờ Khuất Bình đang nói dối.

“Tại hạ...” Khuất Bình khẽ cười, “phải làm thế nào để chứng minh cho mình?”

Bạch Vân cười khúc khích: “Nếu đúng là Khuất Tử, thì không cần phải chứng minh cho mình nữa. Thế này vậy, bản tư tế lần đầu xuống núi, lạ đất lạ người, Khuất Tử nếu muốn cảm tạ, hãy cho bản tư tế một chỗ ở qua đêm, cùng vài bữa ăn, được chứ?”

Khuất Bình cố gắng kìm nén vui mừng, lập tức chìa tay: “Tư tế đại nhân, mời!”

Khuất Bình dẫn Bạch Vân quay trở lại bên đài chiêu hồn, thấy trên đài, chư tướng vẫn đang ê a đọc tên từng binh sĩ tử trận.

Khuất Bình tới chỗ đại vu chúc, vừa sắp xếp xong chỗ nghỉ cho Bạch Vân, thì thấy Khuất Dao đến tìm. Hai người cùng tới đại trại của Cảnh Thuý, thấy Ngận Thượng cũng đang ở đó.

Trong trại, Cảnh Thuý đang dựng lại thế cục, kể lại toàn bộ chiến lược đã dùng, cùng các chiến báo từ hai lộ đông, tây gửi về. Thuật lại xong xuôi, thở dài não nề mà nói: “Than ôi, Thuý từ nhỏ đã ham chinh chiến, một đời nhung mã, kinh qua bao trận, phần nhiều thất bại. Nay tuổi đã xế chiều, được đại vương gia ơn, cho Thuý phụng mệnh chinh Tần, dày công chuẩn bị, dốc lòng mưu tính, thể phải thu phục Thương Ư, rửa sạch mối nhục cho Đại Sở ta, nào ngờ...” Nghẹn lại hồi lâu, mới tiếp, “Thuý muốn dùng cái chết để tạ tội, ngờ đâu Ngận đại nhân lại tới cứu sống.”

“Cảnh tướng quân chớ nên nghĩ quẩn.” Ngận Thượng vòng tay khuyên, “Khuất tướng quân đã bẩm báo lên đại vương rồi. Đại vương sai tại hạ tới đây, là có lời mời, nói rằng có đại sự cần bàn bạc cùng tướng quân!”

Sáng hôm sau, Cảnh Thuý theo Ngận Thượng, Khuất Bình rời Kinh Môn thẳng tới Sính Đô, về đến vương thành, đã là chập tối.

Bởi Khuất Bình chỉ là văn học thị tùng, không tiện bàn việc quân quốc đại sự, Ngận Thượng chỉ dẫn Cảnh Thuý, Khuất Dao vào cung yết kiến. Khuất Bình đưa Bạch Vân về tư gia ở ngoại ô phía nam, sắp xếp chỗ ở xong xuôi, rồi lại đánh xe vào cung, định hồi tạ vương mệnh về lễ chiêu hồn.

Khi Ngận Thượng vào bẩm báo, Hoài Vương mới dùng xong bữa tối, vừa ngồi trở lại trước án. Nghe báo, Hoài Vương bèn lệnh cho cung doãn: “Có lời mời Cảnh tướng quân!”

Lát sau, Cảnh Thuý đi trước, Ngận Thượng, Khuất Dao theo sau, cùng bước vào cửa cung. Cảnh Thuý tự trói quặt hai tay, mình trần, cõng cành gai, sau khi bước vào cửa cung thì quỳ xuống, lê gối tới trước vương án, dập đầu mà nói: “Tội thần Cảnh Thuý khấu thỉnh tội chết!”

“Thượng quan đại phu,” Hoài Vương liếc nhìn Cảnh Thuý, rồi quay sang Ngận Thượng, “hãy cởi trói cho Cảnh tướng quân!”

Ngận Thượng bước lại, cởi trói cho Cảnh Thuý.

Hoài Vương khẽ thở dài: “Trận này chiến bại, lỗi không phải ở tướng quân.” Chỉ vào chỗ ngồi bên cạnh, “Cảnh tướng quân, mời ngồi!”

Cảnh Thuý lại dập đầu, chảy nước mắt: “Tội thần tạ ơn không giết của đại vương!”

“Cảnh tướng quân,” Hoài Vương chỉ vào mũi thương của quân Tần vẫn đặt trên mặt án, “tướng quân hẳn biết người Tần đã dùng thứ gì để chế tạo ra binh khí này?”

“Hồi bẩm đại vương,” Cảnh Thuý đáp, “kể từ sau khi chiến bại, thần không lúc nào không suy nghĩ đến binh khí của người Tần. Theo thần được biết, binh khí của người Tần được rèn từ ô kim.”

“Ô kim?” Hoài vương khẽ nheo mắt.

“Chính là dùng ô kim làm nguyên liệu chính,” Cảnh Thuý lặp lại lời Điền Kỵ, “pha thêm các kim loại như thiếc, kền, sau khi tôi luyện, sắc nhọn không gì bằng!” Lê gối lên phía trước, chỉ vào mũi thương của người Tần, “đại vương, người Tần chỉ với hai vạn quân, đặt mình vào chỗ chết mà kháng cự với sáu vạn nhuệ binh của ta, đều là dựa vào loại binh khí này. Có binh khí nhường này, họ mới trở nên gan góc hung hãn đến thế! Ta dùng ba vạn nhuệ binh bày trận mũi dùi đánh vào trận địch, tướng sĩ không phải bại ở sức chiến đấu, mà là bại ở khí thế. Mạt tướng đứng trên đài cao, tận mắt chứng kiến dũng sĩ của ta lớp sau nối lớp trước hăng hái xông lên, nhưng đều xả thân dưới mũi thương của người Tần. Dũng sĩ của ta lăn xả bất chấp tính mạng, song đánh một hồi, mũi dùi cùn nhụt, thế trận mũi dùi biến thành thế trận chữ nhật, nhưng các dũng sĩ vẫn lớp lớp xông lên. Còn phía người Tần, hàng này nối tiếp hàng kia, tổng cộng trăm hàng, cứ hàng này sát phạt với ta, hàng phía sau lại tự động xông lên thay thế. Dũng sĩ của ta ở phía sau, trông thấy khí thế đó, gan dạ đến mấy cũng phải chùn chân...”

Hoài Vương xua tay cắt lời Cảnh Thuý, quay sang Ngận Thượng: “Thượng quan đại nhân, ô kim, thiếc, kền, chúng ta đều có cả, sao không chế tạo ra binh khí này?”

“Hồi bẩm đại vương,” Ngận Thượng đáp, “việc chế tạo binh khí, do hữu tư mã đảm trách!”

“Truyền hữu tư mã!” Hoài Vương quay sang cung doãn.

Giữ chức hữu tư mã nước Sở là Chiêu Tuy, con trai trưởng của Chiêu Dương, lúc này vừa hay đang ở trong phủ, nhận được chỉ lệnh, tức tốc vào cung, được cung nhân dẫn vào nội điện.

“Chiêu Tuy!” Hoài Vương ném mũi thương và tấm khiên của nước Sở đi, rơi loảng xoảng xuống trước mặt hữu tư mã, “thứ này có phải là do binh xưởng của khanh chế tạo?”

“Thưa phải!” Chiêu Tuy nhìn kỹ một hồi, rụt rè đáp.

“Tự mình thử xem, dùng mũi thương của khanh, đâm vào khiên của khanh!” Hoài Vương ra lệnh.

Chiêu Tuy nhất thời không hiểu chuyện gì, ngơ ngác nhìn sang Khuất Dao. Không để Khuất Dao kịp giải thích, Hoài Vương lại ném mũi thương của người Tần tới: “Xong rồi, hãy thử cái này!”

Chiêu Tuy cầm mũi thương của người Tần lên, bất giác rùng mình ớn lạnh, lại nhìn sang Khuất Dao. Khuất Dao bèn nói sơ qua về việc người Tần nhờ vào lợi khí mà thủ thắng trận này. Chiêu Tuy nghe mà mồ hôi đẫm trán, cầm mũi thương sắt đâm vào tấm khiên, lập tức xuyên thủng.

Chiêu Tuy dập đầu bình bịch, lưỡi líu lại: “Thần... thần...”

Hoài Vương cất giọng đanh thép: “Chiêu Tuy nghe chỉ, phỏng theo mũi thương của người Tần, trong vòng một năm, phải trang bị đủ cho tam quân!”

“Đại vương,” Chiêu Tuy cuống lên, “thần... thần không làm được!”

Hoài Vương chau mày, quát: “Sao không làm được?” “Thần có hai việc không làm được, thứ nhất là thiếu ô kim...”

“Thiếu ô kim?” Chiêu Tuy còn chưa kịp dứt lời, Hoài Vương đã cắt lời, rồi cười nhạt, “Uyển Thành đâu đâu cũng là lò luyện sắt, vậy ô kim của quả nhân đã đi đâu?”

Chiêu Tuy biết mình lỡ lời, ấp úng một chốc mới đáp: “Thần cũng không biết!”

“Hữu tư mã nói gì, các khanh nghe thấy cả rồi chứ?” Hoài Vương nhìn sang quần thần, vỗ mạnh xuống án, “binh khí ô kim, nước Tần không có ô kim mà vẫn rèn được, còn Đại Sở ta là nơi sản xuất ô kim, lại không thể chế ra, chuyện này nếu truyền ra ngoài, há chẳng biến thành trò cười cho thiên hạ?”

Chiêu Tuy mấp máy môi mấy cái rồi im bặt. “Nói, còn việc thứ hai?” Hoài Vương truy hỏi.

“Thiếu kỹ nghệ rèn!”

“Gì kia?” Hoài Vương càng thêm giận dữ, “đường đường Đại Sở, vài trăm năm trước đã rèn được kiếm Can Tương, kiếm Mạc Da chém sắt như bùn, sao giờ lại kêu là thiếu kỹ nghệ?”

Chiêu Tuy khấu đầu sát đất, không dám ho he thêm tiếng nào.

“Đại vương,” Cảnh Thuý đỡ lời “theo thần biết, những điều hữu tư mã vừa nói, đều là sự thực. Kiếm Can Tương, Mạc Da đều rèn từ hợp kim đồng, còn binh khí của Tần lại rèn từ hợp kim sắt, hai thứ này tính chất khác nhau, nên kỹ nghệ cũng khác biệt!”

“Phải rồi,” Hoài Vương nhìn thẳng vào Cảnh Thuý, “ô kim của Sở, đa phần đều ở Uyển Thành, khanh là thú doãn quận Uyển, quả nhân hỏi khanh, ô kim của quả nhân đã đi đâu?”

“Theo thần biết,” Cảnh Thuý đáp, “mấy tháng trước, đất Uyển không hề thiếu ô kim.”

Hoài Vương lại nhìn sang Chiêu Tuy: “Khanh hãy nói cho rõ ràng, ô kim đất Uyển, có thiếu hay không?”

“Thiếu!” Chiêu Tuy nghiến răng bật ra một chữ.

Hoài Vương xua tay: “Chiêu Tuy, hãy cầm theo mũi thương này về, cho thợ của khanh nghiên cứu kỹ nghệ rèn! Nhớ lấy, quả nhân chỉ cho khanh ba tháng, đến thời hạn mà chưa tìm ra, chớ trách quả nhân tuyệt tình!”

“Thần lĩnh chỉ!” Chiêu Tuy khấu đầu, cầm lấy mũi thương của người Tần, lui ra.

“Thượng quan đại phu,” Hoài Vương quay sang Ngận Thượng, “tức tốc điều tra tung tích của ô kim!” Quay sang Cảnh Thuý, “trận chiến này, tuy bại mà vinh, truyền chỉ, phàm tướng sĩ tử trận, mỗi người cấp tiền tử tuất một hoàn vàng, miễn thuế ba năm cho gia quyến; phàm tướng sĩ thương tật, cấp tiền phủ tuất theo lệ thường, không ghi công, không ghi tội!”

“Tội thần...” Cảnh Thuý dập đầu, bật khóc, “thay mặt ba quân tướng sĩ, khấu tạ vương ân!”

“Đại vương?” Cung doãn ghi xong chỉ lệnh, khẽ giọng nhắc nhở.

“Sao kia?” Hoài Vương nhìn sang.

“Tính sơ qua, chỉ riêng tiền phủ tuất cho quân vương thất, đã không dưới vạn hoàn, mấy hôm trước nghe lệnh doãn đại nhân nói, vàng trong kho...” Cung doãn ngập ngừng không dám nói tiếp.

“Ồ?” Hoài Vương hít vào một hơi.

Cung doãn bước lại gần, ghé tai thì thầm.

“Cứ phát đi, số còn thiếu, lấy từ khoản chi tiêu trong cung!” Hoài Vương dứt khoát.

Cảnh Thuý cùng mọi người lui ra, đến cửa cung thì gặp Khuất Bình vừa từ nhà đến.

“Khuất đại nhân,” Ngận Thượng trong lòng đã có tính toán, bèn chặn Khuất Bình lại, “giờ đã muộn rồi, đại vương đang nghỉ ngơi, đại nhân chờ tới ngày mai hãy vào yết kiến.” Quay sang mọi người, “mời chư vị theo tại hạ về hàn xá một chuyến, bàn chuyện ô kim!”

Phủ trạch của Ngận Thượng nằm gần vương cung nhất, thấy Ngận Thượng nhiệt tình mời mọc, mọi người cũng vui vẻ theo tới Ngận phủ.

Ngận Thượng sai người chuẩn bị cơm nước. Vất vả bôn ba cả ngày trời, tất cả đều đã đói meo, nên không khách khí, cùng ngồi vào chỗ ăn uống no nê.

Cơm nước xong xuôi, Ngận Thượng đuổi hết người hầu ra ngoài, đóng chặt cửa lại, sắc mặt nghiêm trang mà nói: “Chư vị đại nhân, các vị đều nghe thấy cả rồi đấy, vừa rồi đại vương muốn tại hạ điều tra về tung tích của ô kim, tại hạ biết rõ đây là việc rất khó khăn. Tại hạ cũng biết, kỳ thực chuyện ô kim, các vị đây ai cũng biết cả, chỉ là không tiện nói ra mà thôi. Lúc này, không có người ngoài, đại vương cũng không có mặt, tại hạ khẩn cầu chư vị, cứ nói hết ra những gì đã biết. Tại hạ đảm bảo, những gì chư vị nói ra tối nay, chỉ là chuyện của tối nay, tại hạ sẽ chỉ lắng nghe, cho dù có bẩm lên đại vương, cũng tuyệt đối không nói lộ ra chư vị!”

“Ngận đại nhân sao lại nói vậy?” Khuất Bình mỉm cười, giọng như trách móc, “nước Sở là của đại vương, cũng là của tại hạ, của đại nhân, của chư vị. Mấy ngày trước, tại hạ cũng đã nghe Khuất Dao nói, lần này phạt Tần, ta bại ở vũ khí. Thứ người Tần sử dụng, là binh khí ô kim, thứ chúng ta sử dụng, vẫn là binh khí đồng thau. Có câu, thợ muốn làm việc tốt, phải có đồ nghề sắc. Đồ nghề không sắc thì không thể làm tốt. Nhưng làm thế nào mới có đồ nghề tốt, tại hạ là người ngoại đạo, may mắn hôm hay đến được bảo địa của Ngận đại nhân, xin chư vị chỉ giáo cho!”

Ngận Thượng và Khuất Bình, kẻ xướng người hoạ, khiến không khí cũng bớt phần căng thẳng. Những người ở đây, đều không phải hạng tầm thường, ai nấy đều ôm chí lớn muốn thành đại nghiệp, giờ nghe Ngận Thượng, Khuất Bình mào đâu vài câu, thảy đều nhiệt huyết sôi sục, lần lượt thổ lộ hết những điều đã biết.

“Nói tới ô kim,” Chiêu Tuy nhìn sang Cảnh Thuý, “theo tại hạ biết, không ai rõ hơn Cảnh Lý đại nhân!”

Cảnh Lý là công doãn của vương thất, cai quản việc kinh thương và khai mỏ trên khắp nước Sở, qua lại khá mật thiết với Chiêu Tuy.

Cảnh Thuý lập tức phái người đi mời Cảnh Lý tới. Đến lúc này, từ miệng Cảnh Lý, ông ta mới biết chuyện người Tần mua vét cả vài vạn lưỡi cày. Bao nhiêu lưỡi cày từ các hiệu buôn, xưởng đúc trên khắp nước Sở, đều được gom hết tới Uyển Thành.

Đây là vụ việc cực kỳ nghiêm trọng, song bởi liên quan tới vương thân, đặc biệt là có dính dáng tới vương thúc và Ngạc Quân, nên ai nấy đều cứng họng.

“Sao lại thế được?” Khuất Bình bừng bừng kích động, “nếu tại hạ nhớ không nhầm, vương mệnh đã định rõ, phàm là đồ ngũ kim và da, đều không được tự ý xuất sang nước khác!”

“Khuất đại phu,” Cảnh Lý giải thích, “ngũ kim theo như quy chế, là vàng, bạc, đồng, kền, thiếc, không gồm ô kim. Ô kim gần đây mới được khai thác rầm rộ, do vậy vào năm kia, đại vương mới ban thêm một lệnh mới, cũng liệt ô kim vào hàng cấm xuất quan.”

“Thế chẳng phải đã rõ rồi ư?” Khuất Bình phẫn nộ, “họ đã phạm lệnh cấm!”

“Theo luật, lại không phạm lệnh cấm!” Cảnh Lý nói tiếp, “thứ người Tần đặt mua là lưỡi cày, mà lưỡi cày là nông cụ, không phải hàng cấm xuất quan!”

Thì ra, người Tần và vương thân đều đã lợi dụng kẽ hở này!

Mọi người bàn bạc cho tới tận lúc trời sáng bạch, mới ai trở về phủ người nấy.

Ngận Thượng ngủ một giấc trở dậy, lại sai người trong phủ đi thám thính một lượt toàn bộ các hiệu buôn ở Sính Đô và các vùng xung quanh, ghi chép lại tình hình, đến buổi chiều ngày hôm sau nữa thì vào cung, đem vụ việc lưỡi cày bẩm báo vắn tắt lên Hoài Vương, rồi nói: “Đại vương, theo như thần điều tra, thì toàn bộ số lưỡi cày tại tất cả các hiệu buôn ở Sính Đô đều đã được chở tới Uyển Thành. Nghiêm trọng hơn nữa, những vật dụng khác làm từ sắt như móng ngựa, móng trâu, đinh ba, cũng đều bị vơ vét hết chở tới Uyển Thành, nói là mang về lò đúc thành lưỡi cày!”

Hoài Vương thất kinh: “Sao họ lại làm như vậy?” “Nghe nói người Tần chịu trả giá cao gấp ba!” “To gan!” Hoài Vương đấm thẳng xuống án.

“Đại vương!” Ngận Thượng khẽ thở dài, “nếu không ngăn chặn, cứ để kéo dài tới năm sau, đừng nói là chế tạo binh khí sắt, mà đến nông dân e là cũng không mua nổi lưỡi cày để làm ruộng!”

“Truyền chỉ, bắt hết bọn họ, trị tội thật nặng!”

“Đại vương, trước mắt chưa thể trị tội được!” Ngận Thượng lại thở dài, “thần đã tra kỹ trong Điền chế, trong ngũ kim cấm xuất, không có ô kim. Đến tận năm kia, đại vương mới ban lệnh cấm xuất ô kim, song thứ vương mệnh cấm xuất là ô kim chứ không phải lưỡi cày. Tại biên ải, ô kim là ô kim, lưỡi cày là lưỡi cày, lưỡi cày là nông cụ, cũng như thóc gạo, có thể buôn bán qua lại giữa liệt quốc.”

Hoài Vương cứng họng, ngồi lặng hồi lâu, mới nhìn sang Ngận Thượng, gằn giọng hỏi: “Là ai đã bán lưỡi cày cho người Tần?”

“Thần cũng không biết.” Ngận Thượng hạ giọng, “thần mới thụ mệnh điều tra ô kim, chứ chưa được thụ mệnh điều tra lưỡi cày. Hơn nữa, xuất lưỡi cày khỏi biên giới không phải là việc phạm pháp, phải điều tra thế nào đây? Nếu đại vương muốn nghiêm cấm việc này, chỉ có thể ban bố vương mệnh mới, còn chuyện đã qua, không thể truy cứu!”

Đúng lúc này, cung doãn bước vào, tấu báo có Khuất Bình cầu kiến.

“Quả nhân biết rồi.” Hoài Vương phẩy tay với Ngận Thượng, quay sang cung doãn, “mời vào!”

Ngận Thượng định lui ra, nhưng bị Hoài Vương gọi lại.

Khuất Bình bước vào, hành lễ trước Hoài Vương, muốn tấu báo về lễ chiêu hồn: “Thần phụng mệnh chiêu hồn...”

“Chuyện chiêu hồn để sau!” Hoài Vương cắt lời, “quả nhân có việc quan trọng hơn cần tìm khanh.”

“Thần kính cẩn lắng nghe vương mệnh!”

“Lập tức soạn chỉ, à không, là vương mệnh, kể từ hôm nay, đóng cửa biên quan với Tần, nghiêm cấm xuất lưỡi cày. Không chỉ lưỡi cày, phàm là những thứ làm từ ô kim, đều không được xuất quan, người nào phạm lệnh cấm, sẽ nghiêm trị!”

“Đại vương, thần có tấu!” Khuất Bình lại không vâng mệnh ngay.

“Nói đi!”

“Dám hỏi đại vương, do đâu mà phải cấm ô kim, đóng cửa biên quan?”

“Khanh hẳn không biết, người Tần đã dùng ô kim của ta chế ra binh khí mới, khiến cho Cảnh tướng quân phạt Tần thất bại!”

“Theo như thần thấy,” Khuất Bình dõng dạc, “Cảnh tướng quân bại trận, không liên quan tới việc ta bán lưỡi cày cho Tần!”

“A?” Hoài Vương kinh ngạc không nói nên lời, nhìn trân trân vào Khuất Bình.

Ngận Thượng cũng sững sờ, không hiểu tại sao Khuất Bình lại nói ra lời này. Nếu như chiến bại này không liên quan tới binh khí, thân làm chủ tướng, Cảnh Thuý khó lòng tránh tội.

“Đại vương,” Khuất Bình thong thả giải thích, “việc buôn bán ở biên quan, xưa nay đã có, đặc biệt là giữa Tần và Sở, từ muối Ba, tơ lụa, phục sức, đến đồ dùng, đồ gốm, thóc gạo, đường mật, rượu, không thứ gì không cần trao đổi qua lại. Nếu đóng cửa biên quan, chưa nói đến chuyện khác, mà người dân biên ải sẽ mất đi chỗ dựa, huống hồ còn vô số người đang phải mưu sinh nhờ vào buôn bán giao thương.”

“Khanh lôi chuyện buôn bán giao thương vào làm gì?” Hoài Vương có vẻ sốt ruột, “quả nhân chỉ muốn biết, tại sao Cảnh Thuý bại trận?”

“Cảnh tướng quân bại trận, là bại ở trong, không phải ở ngoài.” Khuất Bình lấy từ trong tay áo ra một bản tấu, “những gì thần muốn nói, đều ở trong bản tấu này, thỉnh cầu đại vương soi xét!”

Cung doãn bước lại, đỡ lấy bản tấu, trình lên Hoài Vương. Hoài Vương mở ra, là một cuộn da dê, rất dài, nhưng chữ viết lít nhít dày đặc. Hiển nhiên, Khuất Bình đã hao tổn không ít tâm tư vào bản tấu này.

Hoài Vương lướt qua một lượt, rồi cuộn bản tấu lại, đặt lên án, đưa mắt nhìn thẳng vào Khuất Bình: “Bản tấu này của khanh, hãy để quả nhân từ từ đọc. Nguyên nhân khiến Cảnh tướng quân bại trận, khanh hãy nói rõ trước đi!”

“Theo như thần thấy,” Khuất Bình biết Hoài Vương tính khí nôn nóng, nên ôm quyền mà nói, “Cảnh tướng quân thất bại, có ba nguyên do. Nguyên do thứ nhất, như đại vương vừa nói, bại ở binh khí. Người thắng mãnh thú, không nhờ tay không, mà nhờ vũ khí trong tay. Hai kẻ mạnh đối đâu, vũ khí sắc hơn sẽ dũng. Tuy nhiên, lần này giao chiến với Tần, lại không liên quan tới việc người Tần mua lưỡi cày của ta. Theo như thần biết, lưỡi cày bán cho Tần là chuyện gần đây, trước sau chưa đầy một tháng. Trong vòng một tháng, người Tần chưa kịp dùng ô kim của Uyển Thành ta để chế ra nhiều binh khí ô kim đến vậy. Tức là, ngay từ trước cuộc chiến khá lâu, người Tần đã chế được vũ khí sắc bén nhường này, mà ta lại không hề hay biết, vẫn dùng binh khí đồng thau. Thực không may là, người Tần tuy có kỹ nghệ rèn vũ khí này, song lại thiếu ô kim, nếu đường đường chính chính hỏi mua ô kim của ta, e sẽ khiến ta nghi ngờ cảnh giác, nên mới kiếm cớ thu mua lưỡi cày, thực chất là để lấy ô kim của ta về rèn vũ khí!”

Khuất Bình phân tích hợp tình hợp lý, Hoài Vương nghe thấy đúng, lại nhìn Khuất Bình chăm chú: “Thứ hai thì sao?”

“Thứ hai, khi thần tới Kinh Môn làm lễ chiêu hồn, có gặp chư tướng sĩ hỏi về trận chiến, nghe họ kể tường tận về thế cục chiến trường hôm đó. Theo lời họ nói, từ lúc khai chiến, tới khi bại trận tan rã, quá trình có thể chia thành hai đoạn. Đoạn đầu, ta tấn công địch, binh sĩ ta đa phần trúng thương trước ngực. Đoạn sau, ta vỡ trận thoái lui, binh sĩ ta đa phần trúng thương sau lưng. Dựa theo số lượng thương vong, số quân trúng thương sau lưng nhiều hơn số quân trúng thương trước ngực. Điều này cho thấy, binh lính ta sợ chiến!” Khuất Bình dừng lại, nhìn sang Hoài Vương.

“Khanh nói phải.” Hoài Vương gật đầu, “Cảnh tướng quân có nhắc tới chuyện này. Đây là một trận chiến không cân sức. Quân ta bại ở khí thế, đã nhụt chí trước binh khí sắc bén của người Tần.”

“Thần cho rằng,” Khuất Bình tiếp lời, “tướng sĩ ta nhụt chí, không chỉ vì vũ khí không sắc!”

“Ồ?” Hoài Vương ngạc nhiên.

“Mà là ở chế lệnh.”

“Ở chế lệnh gì?”

“Chế lệnh thưởng phạt.” Khuất Bình giải thích, “người Tần dũng mãnh, thứ nhất là ở thưởng công, thứ hai là ở vũ khí. Theo luật của Tần, thưởng phạt đều đến tận bản thân binh sĩ. Bất kỳ binh sĩ nào, chỉ cần giết được địch, sẽ được ghi công, ghi công sẽ có thưởng, còn nếu tháo chạy, sẽ bị phạt nghiêm. Còn luật của Sở lại khác, theo luật Sở, thưởng phạt chỉ dùng cho tướng, không dùng cho quân, binh sĩ có công không được thưởng, tử trận không được tiền tử tuất, tháo chạy đương nhiên cũng không bị phạt.

Vương mệnh chỉ thưởng phạt tướng, nên cũng dễ hiểu, cớ sao Cảnh tướng quân vừa chiến bại đã muốn tự sát tạ tội.”

Hoài Vương nghe đã lọt tai, thở dài một tiếng, rồi hỏi: “Còn điều thứ ba?”

“Nội bộ bất hoà, có lợi cho Tần.” Khuất Bình nói rành rọt từng tiếng.

“Ồ?” Hoài Vương sửng sốt, “sao lại nói vậy?”

“Đó là cảm giác của thần, chỉ là suy đoán mà thôi.” Khuất Bình đáp, “Cảnh tướng quân chia quân ba lộ, tình hình ở hai lộ khác thế nào? Tây lộ chưa đánh đã rút, đông lộ vừa đánh đã đoạt được ấp Niết và ải Hắc Thuỷ, hoàn toàn không có thương vong! Cho nên huyết chiến thực sự, chỉ có quân trung lộ của Cảnh tướng quân, cũng chính là quân vương thất!”

Hoài Vương hít ngược một hơi khí lạnh.

“Đại vương,” Khuất Bình thở dài, nói tiếp, “ta có đại quân hai mươi mốt vạn, người Tần lại chỉ có vỏn vẹn năm vạn, là ta chiếm ưu thế tuyệt đối, cho dù trung lộ chiến bại, nhưng nếu hai lộ còn lại vẫn hăm hở tấn công, thì trận chiến Thương Ư dứt khoát sẽ không có kết cục thế này!”

Hoài Vương từ từ siết chặt tay quyền, hồi lâu sau, mới vòng tay hướng vào Khuất Bình: “Phân tích hay lắm! Khanh hãy lập tức đi soạn vương mệnh!”

Khuất Bình cảm tạ, rồi theo cung doãn trở ra thiên điện soạn vương mệnh.

Nhìn theo bóng Khuất Bình, Ngận Thượng trong lòng buồn bực, cười gượng một tiếng, lắc đầu thầm than trong lòng: “Than ôi, cái tên tiểu tử này, đúng là dạng văn sĩ thi nhân, cái gì cũng dám nghĩ, cái gì cũng dám nói!”

Suốt mấy ngày liền, Khuất Bình vắng nhà, trong toà trạch viện rộng lớn, chỉ có Bạch Vân và hai người hầu. Hai người hầu đều đã lớn tuổi, một người chăm sóc vườn hoa, một người lo liệu cơm nước, nhìn vào quan hệ, có vẻ là vợ chồng, bởi lẽ tối đến họ ở chung một gian nhà cỏ.

Do ở ngoại ô, nên phủ trạch của Khuất Bình rộng tới vài mẫu, chia làm hai khu nhà trước sau, bên trái gần sông, bên phải gần núi. Trong sân, ngoài vài gian nhà cỏ, còn lại phần lớn là vườn hoa, trồng ở trong vườn, tuyền là hoa lan.

Nghiêm túc mà nói, phủ trạch này không thể gọi là phủ trạch, mà gọi là vườn lan thì đúng hơn. Bạch Vân cả ngày rảnh rỗi, không biết làm gì, bèn đếm hết lượt các giống hoa lan trong vườn, thấy có đến hơn trăm loại. Do hoa lan đa phần sợ nắng, nên lão bộc phải bắc mái che mát cho khu vườn. Mái đan từ nan tre, công phu tinh xảo, nhìn từ xa, trông như chiếu trúc. Ngoài vườn lan, trước sau phủ trạch còn trồng vài vạt trúc, cũng được lão bộc dày công tỉa tót sửa sang, toát lên vẻ thanh tao trang nhã.

Dù lớn lên trong núi Vu Hàm, song đây là lần đầu Bạch Vân trông thấy nhiều loài lan đến thế. Nàng ngày ngày quanh quẩn bên lão bộc làm vườn, ngắm không biết chán. Qua lời lão bộc, Bạch Vân biết được, Khuất Bình còn có một trạch viện ở Sính Đô do Sở Vương ban tặng. Nhà cỏ ở đây, do Khuất Bình mua từ nhiều năm trước. Khuất Bình rất thích nơi này, hễ rảnh rỗi lại về đây ở, chăm chút hoa lan, đôi lúc nổi hứng còn mời bằng hữu đến bày tiệc, cùng ca múa yến ẩm.

“Thế... phu nhân đâu?” Bạch Vân thuận miệng hỏi.

“Chúa công vẫn chưa thành gia thất!” Lão bộc cười đáp.

“Vì sao kia?” Bạch Vân ngạc nhiên, “Khuất đại nhân cũng đâu còn nhỏ tuổi, nên lập gia thất rồi mới phải!”

Lão bộc bật cười: “Theo lão biết, cũng mai mối không ít, nhưng đại nhân chưa ưng ai cả!”

Bạch Vân cười: “Ồ, hoá ra Khuất đại nhân cũng kén chọn thật đấy!”

“Phải đấy!” Lão bộc tự hào ra mặt, “không giấu gì cô, tiểu thư khuê các khắp thành, không ai không muốn gả cho chúa công nhà ta!” Rồi hạ giọng nói, “cô may mắn lắm đấy, vì cô là cô gái đầu tiên chúa công nhà ta giữ lại trong phủ này! Nhà cỏ tuy không xa hoa tráng lệ, nhưng không biết bao nhiêu tiểu thư quyền quý muốn tới đây ở mà không được!”

Bạch Vân cười khanh khách: “Nghe lão bá khen ngợi như thế, cháu sẽ ở lại đây không đi nữa!”

“Không đi càng tốt!” Lão bộc cười đáp.

Bạch Vân vòng tay hỏi: “Nhân tiện xin hỏi, gần đây có miếu thần nào không?”

Lão bộc đáp: “Trong thành này, thứ gì cũng thiếu, duy chỉ miếu thần là nhiều, thần nào cũng có.”

“Có miếu Vu Hàm không?”

“Hình như có một ngôi đấy, nhưng đổ nát mất rồi.” “Vì sao lại đổ nát kia?” Bạch Vân ngạc nhiên hỏi.

“Bởi vì Vu Hàm là thần của người Ba, người Sở không chuộng.”

“Ở đâu?”

“Ở Hạ Lý.”

“Hạ Lý ở đâu?”

“Ở tây nam Sính Đô,” lão bộc chỉ về một hướng, “cô cứ đi theo con đường trước cổng kia, rẽ phải, đi thẳng đến khi qua cổng thành, tới ngã tư thứ hai thì rẽ trái, đi về hướng tây, qua ba ngã rẽ, sẽ tới Hạ Lý. Đến ngã tư thứ tư thì rẽ phải, đi qua một con phố bán hoa, sẽ thấy một ngõ nhỏ chạy theo hướng đông tây, miếu Vu Hàm ở trong ngõ đó. Mấy năm trước, lão tới phố đó mua hoa, có ghé vào miếu dâng hương cho đại thần Vu Hàm, thấy đã khói hương lạnh lẽo, mạng nhện giăng đầy thần tượng!”

“Cảm tạ lão bá.” Bạch Vân vòng tay, rồi đi ngay khỏi cổng. Đến tận tối mịt nàng mới về, tắm gội ăn uống qua quýt rồi lên giường ngủ ngay.

Nửa đêm, ngoài cổng bỗng vọng vào tiếng xe ngựa lộc cộc. Sau đó một chốc, trong thư phòng đối diện với phòng ngủ của Bạch Vân sáng lên ánh đèn.

Ánh đèn kia cứ sáng mãi, suốt một canh giờ sau đó. Bạch Vân hết cơn buồn ngủ, cảm thấy tò mò, bèn xuống giường, đi về phía đó. Cửa phòng không đóng, hé nhìn qua cửa, thấy Khuất Bình đang ngồi ngay ngắn trước án, cắm cúi viết gì đó.

Bạch Vân bước vào, đứng ở trước cửa. Khuất Bình vẫn cắm cúi viết.

Bạch Vân bước qua cửa, tiến lại vài bước. Khuất Bình vẫn cắm cúi viết.

Bạch Vân lại tiến thêm một bước nữa, gần như đã đứng ngay trước mặt Khuất Bình, mà Khuất Bình vẫn viết mải miết, không hề nhận ra nàng.

Bạch Vân cố tình vén xiêm y sột soạt, rồi ngồi xuống chiếu đối diện với Khuất Bình. Hẳn vì nghe thấy tiếng động, Khuất Bình mới ngẩng phắt lên, thấy Bạch Vân đã ngồi ngay trước mặt, thì giật nảy mình buột kêu lên: “Cô đấy ư?”

“Ồ, cuối cùng cũng nhìn thấy tôi rồi đấy!” Bạch Vân có vẻ trách móc.

Khuất Bình cười ngượng nghịu.

“Viết gì thế?” Bạch Vân nhìn xuống mặt án. “Tấu chương.” Khuất Bình giũ giũ tấm thẻ tre.

“Tấu chương... là gì kia?”

“Là bản tấu viết cho đại vương xem!” Khuất Bình mỉm cười, “phải rồi, gặp được cô ở đây, tại hạ vừa hay có một thỉnh cầu!”

“Thỉnh cầu gì kia?”

“Mấy hôm nay bận bịu quốc sự, không kịp tiếp đãi tư tế đại nhân.” Khuất Bình tỏ vẻ hối lỗi, “tối qua rảnh rang một chốc, tại hạ nhớ ra một việc, vội tới thái miếu, thỉnh cầu vu chúc cho mượn vài nhạc công, lát nữa trời sáng, họ sẽ tới đây.”

“Tới để làm gì?”

“Muốn thỉnh giáo tư tế đại nhân về vũ điệu trong lễ chiêu hồn hôm đó.” Khuất Bình hào hứng ra mặt, “điệu vũ tuyệt diệu nhường ấy, tại hạ chưa thấy bao giờ. Tại hạ rất muốn vu chúc của thái miếu học lấy, sau này đất Sở có hạn hán hay lũ lụt, sẽ giúp người Sở trừ tai giải nạn!”

Bạch Vân thở hắt ra: “Vậy thì Khuất đại nhân không hiểu rồi. Có câu, vào miếu nào kính thần đấy. Bản tư tế hôm đó nhảy múa để giao tiếp với thần Vu Hàm, chỉ có thần Vu Hàm mới hiểu được. Giờ đại nhân bảo vu chúc thờ các thần khác học theo, họ làm sao có thể học được? Dù có học được, nếu không tin thần Vu Hàm, thì thần cũng không chịu nghe đâu!”

“Ồ...” Khuất Bình vò đầu bứt tai, “tư tế đại nhân, nhưng tại hạ đã thỉnh cầu đại vu chúc, đại vu chúc cũng đã cử nhạc công tới rồi. Hay thế này vậy, chờ vu nữ tới, tư tế cứ tùy hứng nhảy vài khúc, coi như vui chơi vậy!”

“Khuất đại nhân,” Bạch Vân nhìn thẳng vào Khuất Bình, nghiêm mặt nói, “nhảy múa cho thần linh, sao có thể coi là vui chơi được?”

Khuất Bình im bặt.

“Khuất đại nhân,” Bạch Vân đổi sắc mặt, giọng nói tràn đầy thành kính, “đại nhân tin thần Vu Hàm chứ?”

“Tin!”

“Đại nhân hãy thề đi!”

“Thề thế nào?”

“Tùy đại nhân, miễn là cho bản tư tế thấy đại nhân tin thần Vu Hàm là được.”

Khuất Bình ngẫm nghĩ một lát, rồi quỳ xuống chiếu, ngửa mặt lên trời mà thề: “Khuất Nguyên người Sở, từ hôm nay, xin thành kính nghe theo lời dạy của đại thần Vu Hàm, tuân theo mệnh lệnh của đại thần Vu Hàm. Nếu như trái lời, sét trời đánh trúng!”

“Tạ ơn Khuất đại nhân!” Bạch Vân vòng tay, mỉm cười nói, “từ hôm nay, bản tư tế sẽ dạy đại nhân điệu vũ Vu Hàm.”

A black and white text Description automatically generated

GÁNH VÁC TRỌNG NHIỆM, TẢ ĐỒ BÀY KẾTHỰC THI THƯƠNG ƯỚC, VƯƠNG THÂN LÀM LIỀU

Mấy ngọn đèn vẫn thắp sáng trưng, từ xa vọng lại tiếng gà xao xác gáy.

Hoài Vương vẫn ngồi trong thư các, hai mắt nhắm nghiền, dường như đang ngủ, lại dường như không phải. Trên mặt án phía trước bày ba cuốn thẻ tre, hai cuốn là biểu tấu của Khuất Bình, một cuốn là Thương Quân thư do Khuất Bình mang về từ chỗ Tô Tần.

Cung doãn đứng hầu bên cạnh, hai mắt díp lại, đầu cúi gục, đã không thể chống chọi được cơn buồn ngủ nữa. Bỗng cái đầu gật mạnh một cái, suýt nữa cả người ngã nhào, mới giật nảy mình mở choàng mắt, vội vã đứng thẳng dậy.

Có lẽ động tác vừa nãy của cung doãn đã kinh động đến Hoài Vương. Hoài Vương mở mắt, liếc nhìn một cái, rồi ánh mắt lại dịch chuyển xuống mặt án.

Hoài Vương cầm biểu tấu của Khuất Bình lên, ánh mắt dừng lại ở các chữ “liên Tề kháng Tần”, “pháp của Ngô Khởi”, hồi lâu sau, lại đặt xuống.

Bên tai Hoài Vương lại văng vẳng giọng nói của Khuất Bình: “Tô Tử nói, nước Sở tuy lớn, song bốn bề cắt đất phong quốc, khác nào bàn tay xoè năm ngón. Còn nước Tần, sau biến pháp của Thương Quân, đã biến thành một nắm đấm sắt. Dùng nắm đấm sắt chọi với bàn tay xoè, nước Sở ắt bại. Nếu muốn chống Tần, Sở có thể thực thi ba kế sách. Thứ nhất là biến pháp, cải cách chế độ, biến bàn tay thành nắm đấm; thứ hai là kiên trì hợp tung, kết minh với Tề, trợ giúp lẫn nhau; thứ ba là dùng người hiền tài, chỉnh đốn quân đội, sẵn sàng nghênh chiến!”

“Nước!” Hoài Vương bỗng giơ tay.

Cung doãn vội bước lại, dâng lên chén ngọc. Hoài Vương nhận lấy, uống ừng ực một hơi. Cung doãn lại lấy thêm một chén nữa, đặt xuống án: “Gà đã gáy rồi, đại vương xin hãy giữ gìn long thể!”

Hoài Vương nhắm mắt, không buồn đếm xỉa.

“Đại vương, Trịnh nương nương... vẫn đang đợi hầu đại vương.”

“Đi, nói với nương nương, chuyển sang ngày mai.” Hoài Vương chỉ ra cửa điện.

Cung doãn tuân lệnh, vừa bước ra khỏi cửa, ngẩng đầu đã thấy Trịnh Tụ bước đến, trong tay ôm cây đàn. Cung doãn sửng sốt, chưa kịp lên tiếng, Trịnh Tụ đã đưa ngón tay lên môi ra hiệu im lặng, rồi khẽ khàng bước vào, đi thẳng tới bên cạnh Hoài Vương. Thấy Hoài Vương vẫn nhắm mắt trầm tư, bèn ngồi xuống chiếu khách, đặt đàn lên lòng, khẽ vuốt dây gảy.

Tiếng đàn vừa vang lên, Hoài Vương mở choàng mắt, ngạc nhiên khi thấy Trịnh Tụ đã ngồi đấy từ bao giờ.

“Nàng đấy ư?” Hoài Vương giọng mừng rỡ.

Trịnh Tụ nở một nụ cười, tay vẫn uyển chuyển dạo đàn. Tiếng đàn êm dịu như tơ như lụa, thánh thót tựa mưa rơi. Hoài Vương nhìn nàng, hai mắt chứa chan tình ý.

Hoài Vương đứng dậy, nhấc lấy vương kiếm bên án, cao giọng nói: “Tụ Nhi, hãy gấp lên!”

“Vâng!” Trịnh Tụ vừa dứt lời, ngón đàn lập tức đổi khác. Chốc lát, trong ngự thư các, tiếng đàn dồn dập, kiếm quang loang loáng.

Một khúc dạo xong, trời đã sáng bừng, gà trống đã gáy qua ba lượt. Cung nhân mang nước hầu Hoài Vương rửa mặt. Xong xuôi, Hoài Vương quay sang cung doãn: “Truyền chỉ, mời Ngận đại phu!”

Trời vừa sáng đã bị triệu vào cung, Ngận Thượng lấy làm khó hiểu, trong lòng thấp thỏm, vội vã vào cung ngay. Song Hoài Vương chỉ nói muốn ăn sáng cùng.

Dùng xong ngự thiện, Hoài Vương cởi bỏ vương phục, đổi sang phục sức quý tộc, sai cung doãn chuẩn bị xe nhẹ rời cung. Xe nhẹ chứ không phải vương xa, rõ ràng Hoài Vương muốn vi hành. Cung doãn sắp xếp hai cỗ xe tứ mã, Hoài Vương cùng Ngận Thượng ngồi một xe, cung doãn và thị vệ ngồi một xe.

“Đại vương muốn xa giá tới đâu?” Đi được một đoạn, Ngận Thượng không nhịn được nữa, khẽ hỏi.

“Cứ đến nơi, khanh sẽ biết.” Hoài Vương chỉ tay về phía trước.

Đến khi xe ngựa dừng lại trước cổng một phủ trạch, Ngận Thượng mới biết Hoài Vương tới tìm Khuất Bình, trong lòng giật thột, song mau chóng làm mặt tươi cười, nhảy xuống xe gọi cổng. Môn nhân bước ra, báo rằng Khuất Bình đã đến nhà cỏ ngoại ô rồi.

“Đại vương,” Ngận Thượng quay lại khẽ bẩm báo, “nhà cỏ của Khuất đại phu, thần đã tới một lần, có biết đường tới. Để thần tới đó gọi...”

Hoài Vương lại chỉ tay về phía trước: “Dẫn đường!”

Ngận Thượng tuân lệnh, nhảy lên trước xe, thế chỗ cho phu xe, đánh ngựa ra khỏi cổng nam, tiến vào một con đường nhỏ rợp bóng cây men theo bờ sông, cứ thế thẳng tới khu nhà cỏ của Khuất Bình.

“Đại vương, xin hãy đợi thần vào trong, mời Khuất đại phu nghênh giá!” Ngận Thượng nói.

Hoài Vương không nghe, dặn thị vệ chờ bên ngoài cổng, hất hàm với cung doãn, Ngận Thượng, rồi sải bước đi thẳng vào trong cổng.

Cánh cổng gỗ chỉ khép hờ, bên trong không có ai canh.

Ngận Thượng bước dấn lên, đẩy mở cánh cổng, rước Hoài Vương vào.

“Đại vương,” Ngận Thượng chỉ vào trong, tươi cười nói, “theo thần biết, trạch viện này của Khuất đại phu, hẳn là độc nhất vô nhị tại Sính Đô!”

“Nói xem,” Hoài Vương đưa mắt nhìn quanh, “độc nhất vô nhị chỗ nào?”

“Trong sân không có hoa cỏ gì khác, chỉ có bốn loài!”

“Là bốn loài gì?”

“Lan, mai, cúc, trúc!”

Hoài Vương sải bước tiến vào, thấy bên trong rất rộng, phóng mắt nhìn đi, quả nhiên như lời Ngận Thượng, bên trong đâu đâu cũng chỉ thấy trồng lan, trúc, cúc, mai. Nhiều nhất là lan, chiếm phần lớn khu vườn. Hoa cúc trồng ở hai bên lối đi, còn trúc và mai, trồng ở quanh vườn. Lối đi chạy ngang dọc khắp vườn, chỉnh tề ngay ngắn. Ngoài bốn loài kể trên, không thấy một cọng cỏ dại nào khác.

Lão bộc đang cặm cụi cuốc xới trong vườn lan, thấy có người tới, chỉ đứng thẳng dậy vòng tay chào, rồi lại cúi xuống làm việc tiếp.

Trước mặt họ là hai dãy thảo đường. Lúc này, chợt có tiếng nhạc vẳng ra. Hoài Vương dừng bước, lắng nghe một lát, cười nói: “Kẻ này cũng tiêu dao thực!” Rồi sải bước tiến lại gần.

Ba người men theo con đường lát gạch, đi qua dãy nhà đầu tiên, thì đến một bãi cỏ. Ngồi trên bãi cỏ là bảy tám nhạc công, đều mặc vu phục, trước mặt bày đủ các nhạc cụ chuông khánh đàn sáo. Có hai vu nữ đứng im một bên.

Hoài Vương cùng hai người kia liền nấp vào trong nhà cỏ.

Tiếng nhạc chợt vang lên, sau một hồi nhạc dạo hỗn loạn, dần đến chuông khánh ngân nga, cầm sắt hài hoà, cùng tấu một khúc vu nhạc của Ba Sơn.

Trong tiếng vu nhạc trầm bổng, Hoài Vương chợt thấy trước mặt sáng bừng. Một thiếu nữ mang xiêm y lụa trắng uyển chuyển nhảy múa theo tiếng nhạc, tiến vào bãi cỏ.

Chính là Bạch Vân.

Xiêm y của nàng dệt từ tơ Thục, mỏng manh như khói, tầng tầng lớp lớp tung bay như sương. Nàng dường như đã chìm trong một cảnh giới pháp thuật lạ lùng, mắt như không nhìn thấy người vật xung quanh, toàn thần chuyên chú vào vũ khúc kỳ bí mà Hoài Vương chưa thấy bao giờ.

Múa được một lúc, Bạch Vân chợt vẫy tay về một phía. Hoài Vương nhìn về hướng đó, lại càng kinh ngạc hơn nữa, khi thấy một chàng trai tiến ra, kỳ trang dị phục, đầu đội mũ lông, cổ đeo vòng hoa, tiến về phía thiếu nữ.

Chính là Khuất Bình trong trang phục Ba vu.

Bạch Vân chìa tay, nắm lấy tay Khuất Bình, dẫn ra chính giữa bãi cỏ trong tiếng vu nhạc réo rắt, rồi dừng bước, hai mắt mở to, nhìn thẳng vào Khuất Bình. Khuất Bình cũng nhìn nàng. Bốn mắt giao nhau.

Dường như ánh nhìn của Bạch Vân có một ma lực lạ kỳ, khiến Khuất Bình dần trở nên mụ mị, như thể cũng bị nàng dẫn dắt vào trong một cảnh giới khác.

Bạch Vân bắt đầu di chuyển bước chân, cất lên tiếng hát du dương. Bước chân Khuất Bình cũng vô thức di chuyển theo nàng, cũng lên tiếng hát theo nàng.

Vũ bộ của Bạch Vân mỗi lúc một nhanh, Khuất Bình như một con rối, cũng vùn vụt bước theo. Điệu múa của Bạch Vân mỗi lúc càng thêm uyển chuyển linh động, nhưng Khuất Bình cứ như thể đã luyện tập thành thục từ trước đó, cũng múa theo nàng rất mực hài hoà.

Hai người một qua một lại, một tiến một lùi, lúc tụ lúc tán, lúc xa lúc gần, không biết đã nhảy múa bao lâu. Hoài Vương ngắm nhìn đến hoa mắt, cuối cùng cũng đến lúc tiếng nhạc từ từ chậm rãi dần, rồi dừng hẳn.

Vũ điệu của hai người cũng đã kết thúc, họ đứng lại giữa bãi cỏ, vẫn giống như lúc ban đầu, bốn bàn tay nắm chặt, bốn con mắt giao nhau. Dường như, họ vẫn đang đắm chìm trong một cảnh giới siêu phàm.

Từ đầu đến cuối, hai mắt Hoài Vương không lúc nào rời khỏi Bạch Vân.

“Đại vương,” Ngận Thượng nhìn thấy rõ mồn một, ghé sát tai Hoài Vương thì thào, “thần biết thiếu nữ này!”

“Ồ?” Hoài Vương nhìn sang.

“Hôm đó thần và Khuất Dao phụng mệnh đến triệu Cảnh Thuý, vừa hay gặp đúng lúc làm lễ chiêu hồn. Thấy Cảnh Thuý cũng có mặt ở đó, thần không quấy quả ông ta, mà đứng phía sau quan sát. Khuất Nguyên vào vai vu dương, đang định chiêu hồn, thì bỗng mây đen kéo tới kín trời, sấm chớp loa loá, như sắp đổ mưa giông. Chiêu hồn kỵ nhất là mưa gió sấm chớp, vì tiếng sấm sẽ làm kinh động vong hồn, nước mưa sẽ làm ướt phướn chiêu hồn, lá phướn sẽ không thể mở rộng, vong hồn không có chỗ nương tựa. Đại vu chúc lên đài làm phép, nhưng không ích gì. Khuất Nguyên đang quỳ xuống khẩn cầu, thì bỗng thấy thiếu nữ này đăng đài thi pháp, cũng nhảy vũ điệu này. Nàng vừa nhảy thì gió lặng mây tan, bầu trời quang đãng, lễ chiêu hồn mới được tiến hành thuận lợi.”

Hoài Vương “ồ” lên một tiếng, mắt vẫn không rời khỏi Bạch Vân.

“Nghe Khuất Nguyên nói, thiếu nữ này là nữ tư tế của đất Ba.”

Hoài Vương lại “ồ” lên tiếng nữa, rồi bước ra khỏi chỗ đang đứng, tiến thẳng về phía Khuất Bình.

Khuất Bình đang đứng quay lưng lại với Hoài Vương, còn Bạch Vân vừa hay đối diện với họ. Ánh mắt Hoài Vương vẫn nhìn như hút vào Bạch Vân.

Vừa chạm phải ánh mắt đó, Bạch Vân bỗng rùng mình, bừng tỉnh khỏi cơn mụ mị nhập thần, thấy Hoài Vương đã bước tới sau lưng Khuất Bình mà Khuất Bình vẫn không hề hay biết. Rõ ràng, thân tâm Khuất Bình vẫn đang đắm chìm trong cảnh giới hư vô.

Trước mặt thình lình xuất hiện hai người đàn ông lạ mặt, hơn nữa, người đi phía trước lại nhìn như nuốt chửng lấy nàng, Bạch Vân cảm thấy khó chịu, buông tay Khuất Bình ra, quay người bỏ đi ngay, bước về phòng mình.

Khuất Bình vẫn đứng ngây tại chỗ, nhìn theo nàng.

Có vu nữ nhận ra Hoài Vương thì thất kinh, quỳ sụp ngay xuống, dập đầu sát đất, không dám ngẩng lên. Toàn bộ vu nữ, nhạc sư cũng theo nhau quỳ xuống.

Khuất Bình lúc này mới bừng tỉnh, quay người lại, chợt trông thấy Hoài Vương, thoạt tiên sửng sốt, tiếp đến luống cuống. Muốn hành lễ mà sượng sùng; muốn lên tiếng mà miệng lưỡi cứng đờ; muốn bỏ chạy mà không nhấc chân lên được.

Khoé miệng Hoài Vương từ từ hiện lên một nét cười, rồi đưa mắt cho Ngận Thượng.

Ngận Thượng bèn bước tới, nắm lấy tay Khuất Bình, kéo vào trong nhà, tháo bỏ mũ lông và vòng hoa. Lúc này, miệng lưỡi Khuất Bình mới cử động được, lắp bắp hỏi: “Ngận đại nhân... chuyện... chuyện này... là thế nào?”

Ngận Thượng hạ giọng: “Tại hạ cũng không biết. Đại vương vừa sáng sớm đã gọi tại hạ đến, muốn đi thăm Khuất đại phu. Đầu tiên tới quý phủ, sau đó mới tìm tới đây, thấy cổng nhà đại phu mở sẵn nên bước vào, đâu ngờ lại thấy...”

Khuất Bình giậm chân nhăn nhó: “Ôi, thật đáng xấu hổ!”

Ngận Thượng cười ranh mãnh: “Chuyện này không trách đại phu được. Đi nào, mau ra hành lễ.”

Hai người bước vào dãy nhà cỏ phía trước, thấy Hoài Vương đã ngồi sẵn ở chiếu chủ, cung doãn đứng hầu bên cạnh. Khuất Bình bèn tiến vào, khấu đầu: “Thần... đáng tội chết!”

Hoài Vương phá lên cười sảng khoái, sắc mặt vui vẻ: “Mau bình thân!”

“Thần... quả thực không biết đại vương giá lâm...” Khuất Bình lại dập đầu.

Hoài Vương phẩy tay: “Đứng lên, đứng lên đi, lẽ nào còn muốn quả nhân đến đỡ khanh dậy?”

Khuất Bình cảm tạ rồi đứng dậy, ngồi xuống bên cạnh Ngận Thượng.

“Khuất đại phu hôm nay đã cho quả nhân được mở rộng tầm mắt!”

Khuất Bình nghe vậy thì mặt đỏ bừng, lúng túng không biết nói gì.

Hoài Vương mỉm cười, giải vây: “Vũ khúc đó rất đẹp. Quả nhân đã xem vô số vũ nhạc, nhưng vũ điệu hôm nay, đúng là chưa từng thấy! Đó là vũ điệu gì vậy?”

“Là vũ điệu Vu Hàm.” Khuất Bình không dám giấu giếm, bẩm báo tường tận, “mấy hôm trước, khi thần đến Kinh Môn chủ trì lễ chiêu hồn, trời giáng lôi vũ, tư tế núi Vu Hàm đã giúp thần xua mây, nhờ thế mà thần mới hoàn thành vương mệnh. Thần muốn tạ ơn, tư tế nói lần đầu xuống núi, lạ nước lạ cái, chưa có chỗ ở, muốn thần sắp xếp, thần không dám không nghe. Thần biết tư tế thờ đại thần Vu Hàm, mà thần Vu Hàm cai quản các thần gió, mây, mưa, sấm, mới cầu tư tế dạy cho phép thuật giao tiếp với đại thần Vu Hàm, để khi cần kíp, có thể hô mây gọi mưa, cầu phúc cho người Sở. Tư tế thoạt tiên không chịu, nhưng thấy thần cầu xin thành khẩn, mới bảo thần phải thề sẽ tin phụng đại thần Vu Hàm, rồi mới dạy phép thuật cho thần, chính là điệu vũ mà đại vương vừa thấy!”

“Tư tế đất Ba? Đại thần Vu Hàm? Mây mưa Vu Sơn?” Hoài Vương khẽ nhắc lại, rồi vòng tay hướng vào Khuất Bình, “hãy chuyển lời với tư tế, quả nhân vô cùng cảm tạ. Nhờ nàng ấy báo lên đại thần, quả nhân sẽ chọn một ngày khác tế lễ để cảm tạ đại thần đã ban ơn, giúp cho lễ chiêu hồn của nước ta!”

“Thần thay mặt tư tế, khấu tạ ơn của đại vương!” Khuất Bình dập đầu nói.

“Nhưng quả nhân hôm nay tới đây, không phải vì điệu vũ, mà vì thứ này!” Hoài Vương ra hiệu, cung doãn lấy ra ba bó thẻ tre, đặt xuống án trước mặt Hoài Vương.

Là hai bản tấu của Khuất Bình và Thương Quân thư.

Khuất Bình sửa ngay vạt áo, vòng tay: “Thần xin kính cẩn lắng nghe!”

“Bản tấu của khanh, và cả Thương Quân thư, quả nhân đều đã đọc rồi, càng đọc, càng không ngủ được.” Hoài Vương chỉ vào cung doãn, “cứ hỏi hắn là biết, quả nhân ba ngày liền ngủ không yên giấc, đêm qua thức chong chong tới tận sáng. Trên đường tới đây, cứ gà gật mãi, may sao xem được điệu thần vũ, mới thấy tinh thần phấn chấn trở lại.”

Khuất Bình nghe vậy, lấy làm cảm kích, hai mắt ngấn lệ, vòng tay hướng lên trời: ‘Thần xin được thay mặt dân Sở, cảm tạ trời cao!”

“Ồ, vì lẽ gì mà khanh lại cảm tạ trời cao?” Hoài Vương ngạc nhiên.

“Trời giáng thánh vương nhường này, dân Sở sao không cảm tạ cho được?”

Hoài Vương thở dài: “Thánh vương gì kia! Trời giáng nhân tài cho quả nhân, nếu phải cảm tạ, người nên cảm tạ là quả nhân mới phải.” Nói đoạn, vòng tay hướng lên trời.

Khuất Bình vốn đa sầu đa cảm, vừa nghe thấy câu nói này của Hoài Vương, nước mắt đã ứa ra.

“Bản tấu của khanh hay lắm!” Hoài Vương cầm một bó thẻ tre lên, mở ra, song mắt lại không nhìn vào bản tấu, mà dán chặt vào Khuất Bình, như thể đã đọc thuộc lòng, “nước Thục và nước Ba, người Tần đã có được; đất Hán Trung, người Tần đã có được; thung lũng Thương Ư, người Tần đã có được. Nước cờ tiếp theo của người Tần, tất sẽ mưu ta, mà ta lại không có được bao nhiêu bình phong ngăn chặn. Nhất là Thương Ư, người Tần nếu xuất phát từ đó, đi bè theo Đan Thuỷ, Tích Thuỷ, thuận dòng xuôi xuống, ta sẽ không đủ sức đề phòng!” Rồi khép mắt, nói tiếp, “đây mới chỉ là bên ngoài. Địch bên ngoài, quả nhân không sợ. Thứ quả nhân sợ, chính là bản tấu này của khanh!” Cầm cuộn thẻ tre còn lại lên, mở ra, “nước đa phần mất bởi nội bất trị.”

Ngận Thượng mở to mắt nhìn, thấy bản tấu trải rộng trên án đã được Hoài Vương dùng bút son khoanh lấy hai dòng, viết rõ rành rành: “Quý tộc quan lại kết bè kéo đảng, sống đời hưởng lạc, ngày ngày yến ẩm, đêm đêm truy hoan, trên tham tiền của nước, dưới tranh lợi với dân...”

“Đại vương anh minh!” Khuất Bình cũng đã liếc thấy, bèn vòng tay hô lớn.

“Than ôi!” Hoài Vương thở dài, “thứ khanh chỉ ra, vẫn là bề ngoài, chỗ khó của quả nhân, còn rất nhiều điều khanh chưa hiểu được. Ví như lần này động binh, theo lý mà nói, quân tới tướng ngăn, song trong tay quả nhân, lại không có được bao nhiêu binh tướng. Tính sơ qua, Đại Sở hơn sáu mươi vạn quân, nhưng quả nhân chỉ cai quản sáu quân, tức là sáu vạn, chỉ một phần mười. Ai cũng nói trời Sở bao la, dưới bầu trời Sở, đều là đất của quả nhân, nhưng thực sự do quả nhân cai quản, chỉ một phần mười. Tiếp đến là thuế, thuế dân Sở nộp lên, mười phần thì phong quân đã chiếm mất bốn, lương bổng triều đình chiếm ba, còn lại đến tay quả nhân, chỉ còn được ba phần. Trong ba phần này, hai phần để nuôi dưỡng sáu quân, một phần để chi tiêu cung thất, đến một khoản tiền phòng khi khẩn cấp, quả nhân cũng không có. Không giấu ái khanh, trong lúc này đây, quả nhân đang đau đầu vì tiền tử tuất cho gần vạn tướng sĩ trận vong. Quả nhân đã hạ lệnh, nếu như thiếu hụt, sẽ lấy từ khoản chi tiêu trong cung bù vào, song khoản đó cũng không dư dả gì, chỉ có thể cắt giảm chi tiêu mà thôi. Nhưng tình hình trong cung cũng rất phức tạp, cho dù cắt giảm chi tiêu của ai, người đó cũng sẽ bất mãn!”

“Đại vương...” Khuất Bình ngập ngừng, muốn nói lại thôi.

Hoài Vương nở một nụ cười gượng gạo: “Khanh muốn nói gì, quả nhân đã biết. Bệnh này của Sở, là bệnh trầm kha, là khối u lâu ngày, muốn trị bệnh này, phải động đến dao. Mà dao này không dễ động, rạch một cái, đau đớn toàn thân. Động vào da là chạm tới thịt, động vào thịt là chạm tới gân, động vào gân là chạm tới xương, động vào xương là chạm tới tuỷ. Quả nhân suy đi nghĩ lại, vẫn chưa tính ra.” Lại cầm bản tấu lên, “nên hôm nay mới tới cửa cầu hiền!”

“Tạ ơn đại vương coi trọng!” Khuất Bình vòng tay, cất giọng khảng khái, “đã là khối u, nhất thiết phải trừ; đã là hoại tử, nhất thiết phải cắt, nếu không, cả người sẽ chết. Đại vương, cơ nghiệp mấy trăm năm của Đại Sở ta, dứt khoát không thể bị huỷ bởi một khối u được!”

Hoài Vương lại nhìn xuống bản tấu: “Theo như khanh nói trong bản tấu này, khối u đâu chỉ có một, mà là cả chuỗi. Động dao thế nào, khanh hẳn đã nghĩ tới?”

‘Thần vẫn đang suy nghĩ.” Khuất Bình đáp, “thần cho rằng, đại vương có thể nghe theo lời Tô Tử, cải chế biến pháp.”

“Tô Tử nói thế nào?”

“Ý Tô Tử là, sửa theo biến pháp mà Ngô Khởi đã từng thực thi ở Sở, để thuận ứng với tình thế hiện tại.”

Hoài Vương trầm ngâm hồi lâu, ánh mắt lại chuyển sang Thương Quân thư. “Khanh có từng nghĩ tới việc dùng Tần pháp?”

“Thần đã nghĩ tới,” Ánh mắt Khuất Bình cùng dừng lại trên Thương Quân thư, “Tô Tử năm xưa sang Tần, chính là vì cuốn sách này. Mối quan tâm của Tô Tử rộng lớn hơn, chính là thiên hạ. Tô Tử cho rằng, nếu muốn chấm dứt chiến tranh trong thiên hạ, nhất thiết phải nhất thống thiên hạ, mà nhất thống thiên hạ, duy có thi hành Tần pháp.”

“Phải! Phải!” Hoài Vương gật đầu lia lịa, “sách này, quả nhân đã đọc nhiều lần, càng đọc càng thấy tuyệt diệu.” Nói đến đây, chợt lấy làm cảm khái, “nhớ năm xưa, trước khi Thương Quân biến pháp, phàm gặp đại sự, người Tần đều phải nhìn sắc mặt của Đại Sở ta. Lúc đó, nước Ba là của người Ba, nước Thục là của người Thục, còn đất Hán Trung, do Sở, Tần, Thục chia nhau. Các ấp Thương Thành, là tiên vương tặng cho người Tần làm lễ vật khi Tần Sở kết tình giao hảo. Tần có Thương Thành, Sở có Ư Thành, hai nhà tuy có xung đột tại một vài thành ấp, song quan hệ nhìn chung vẫn khá hữu hảo. Mọi điều thay đổi, chỉ xảy ra sau khi Thương Quân biến pháp!” Trong mắt bỗng loé ra những tia sáng lạ lùng, “quả nhân thực sự không dám mường tượng, nếu Đại Sở ta cũng theo pháp này, kết quả sẽ ra sao?”

Khuất Bình trong lòng ớn lạnh, ngẩng đầu đáp: “Thần có nghĩ tới một kết quả, đại vương có muốn nghe chăng?”

“Khanh cứ nói!” Hoài Vương vội giục.

“Đại vương không còn là đại vương nữa, người Sở cũng không còn là người Sở nữa!”

“Vì sao kia?”

“Đại vương sẽ không còn là vua của nước Sở nữa, mà là vua của thiên hạ. Là vua của thiên hạ, đại vương nếu hạ lệnh, thiên hạ nào dám không nghe; đại vương nói một, thiên hạ nào dám nói hai. Người Sở không còn là người Sở nữa, người Sở cũng sẽ giống như dân trong liệt quốc, đều là người của thiên hạ.”

“Tuyệt diệu, quả nhân rất mong có được ngày này!” Hoài Vương phấn chấn ra mặt.

“Tuy nhiên, còn có một số việc khác, hẳn là đại vương chưa nghĩ tới!”

“Còn có việc gì?”

“Đại vương sẽ không còn được nghe đàn sáo, không còn được xem ca vũ, không còn được ngâm thơ phú, không còn được nếm vị ngon, không còn được thưởng mĩ tửu...”

“Ồ...” Hoài Vương chau mày, “vì sao kia?”

“Bởi lẽ theo pháp của Thương Quân, những thứ này đều bị nghiêm cấm! Theo pháp đó, toàn bộ dân Sở chỉ được phép làm hai việc, một là làm ruộng, hai là đánh trận.”

“Quả nhân đặc biệt cho phép, chẳng phải là có thể ư?”

“Nếu là vậy, đại vương sẽ là kẻ dẫn đầu phạm pháp! Theo pháp của Thương Quân, mọi người đều bình đẳng, đại vương cũng không ngoại lệ. Thương Quân lúc mới biến pháp, thái tử nước Tần phạm pháp, không chỉ bản thân phải chịu mối nhục gọt tóc, mà thái phó còn bị xẻo mũi, thầy dạy còn bị phạt roi. Chuyện này, khắp thiên hạ ai ai cũng biết!”

“Chà...” Hoài Vương chau mày. Tuy đã đọc hết toàn thư, song quả thực Hoài Vương chưa từng nghĩ tới điều này.

“Còn nữa,” Khuất Bình nói tiếp, “bất luận là ở trong cung hay là ra khỏi cửa cung, đại vương chỉ có thể nhìn thấy một màu sắc, chỉ có thể nghe thấy một âm thanh, chỉ có thể sử dụng một kiểu đo lường, chỉ có thể nghe thấy một thứ ngôn ngữ...”

“Một loại màu sắc gì?”

“Màu sắc mà đại vương thích!”

“Hay đấy,” Hoài Vương lấy làm phấn chấn, “quả nhân rất thích màu đỏ!”

“Nếu là vậy, ngoài màu đỏ ra, đại vương sẽ không nhìn thấy bất cứ màu sắc nào khác, như trắng, vàng, xanh, đen...”

Hoài Vương lúc này mới nhận ra vấn đề nghiêm trọng hơn mình tưởng, trầm ngâm hồi lâu, mới ngẩng lên nói: “Người Tần thái quá đến vậy ư?”

“Nếu đại vương không tin, có thể phái người sang Tần kiểm chứng.”

Hoài Vương hít vào một hơi thật dài.

“Còn nữa,” Khuất Bình chậm rãi nói, “nếu có người phạm pháp, ví dụ như thần, sẽ phải chịu hình chém ngang lưng. Rồi người nhà của thần, họ hàng thân thích của thần, mười hàng xóm của thần, tức là mười hộ ở gần nhà thần nhất, từ ông già tám chục đến đứa trẻ lên ba, đều bị xử hình tương tự!”

Hoài Vương kinh ngạc: “Thực là phi lý!”

“Nhưng lại hợp pháp, đây gọi là liên đới.”

“Vì sao lại liên đới?”

“Bởi họ đã giấu giếm không tố cáo!”

“Nếu họ không biết sự tình, thì sao?” Hoài Vương băn khoăn hỏi.

“Họ chẳng có cách nào để chứng minh là mình không biết.”

Hoài Vương lắc đầu: “Còn có thứ pháp thế này ư?”

“Song quan trọng là, thần lại không phạm pháp.”

“A?” Hoài Vương há hốc miệng.

“Thần bị ai đó vu cáo.”

“Cớ sao kẻ đó lại vu cáo khanh?”

“Thần không biết, thưa đại vương!” Khuất Bình nhún vai, “có lẽ bởi kẻ đó có điều lo sợ, ví dụ như lo sợ ngộ nhỡ thần phạm tội thực, mà họ không kịp tố giác trước, sẽ phải chịu tội liên đới.”

Hoài Vương vẫn không thể chấp nhận: “Khanh không phạm tội, không nhận là được!”

“Thần không thể không nhận,” Khuất Bình lắc đầu, “trong hình ngục của đại vương có đủ loại hình cụ tra khảo, thần không thể chịu được.”

“Thế này... chẳng phải là lạm pháp ư? Vậy thì tất cả mọi người sẽ nguy mất!”

“Đây là pháp của Thương Quân đấy, thưa đại vương!” Khuất Bình điềm đạm đáp.

“Há có lý này!” Hoài Vương vỗ mạnh xuống án, nhưng như vẫn chưa muốn tin, nhìn sang Ngận Thượng, “Ngận ái khanh, Tần pháp là như vậy sao?”

“Thần nghe nói Tần pháp tàn khốc, nhưng chưa từng tới đất Tần, cụ thể thế nào, thần cũng không biết.” Ngận Thượng khẽ cười, không dám khẳng định.

“Ồ?” Hoài Vương nhìn sang Khuất Bình, “Khuất ái khanh cũng chưa từng tới đất Tần, sao lại biết rõ đến vậy?”

“Thần chưa tới, nhưng Tô Tử đã tới.” Khuất Bình lái câu chuyện quay về chủ đề chính, “Tô Tử ở Tần vài tháng, tận mắt chứng kiến Tần pháp, cảm thấy Tần pháp trên không hợp đạo trời, dưới không hợp đạo đất, giữa không hợp nhân luân, mới rời Tần về nhà, khổ sở nghiền ngẫm phương pháp chế Tần, cuối cùng đã ngộ ra được thuật hợp tung, tiến hành hợp tung sáu nước. Những điều này, đại vương đều đã thấy cả rồi.”

Hoài Vương đã suy nghĩ suốt mấy hôm nay, khó khăn lắm mới hạ quyết tâm học theo Tần pháp, song lại vấp phải sự phản đối của Khuất Bình, nhất thời hoang mang, cúi đầu trầm ngâm.

“Khuất ái khanh!” Hồi lâu sau, Hoài Vương mới ngẩng lên, “Tần pháp không thể thực thi, theo ý của khanh, quả nhân nên dùng đối sách nào đây?”

“Thần suy đi tính lại, đại vương chỉ có thể thực thi một cách, chính là trường sách tung thân của Tô Tử, hợp lực sáu nước, chống lại thế Tần!” Khuất Bình thẳng thắn đáp.

“Nếu kết minh sáu nước, đường đường Đại Sở ta há chẳng phải xếp ngang hàng với những tiểu bang nhỏ bé ư?”

“Đại vương, thần có một câu hỏi.” Khuất Bình nhìn thẳng vào Hoài Vương.

“Cứ nói!”

“Đại vương muốn học theo Tam Hoàng, trở thành thánh vương của thiên hạ, hay là muốn học theo Kiệt Trụ, trở thành bạo chúa một phương?”

“Ồ...” Hoài Vương cười gượng, nhìn sang Ngận Thượng, “còn phải hỏi ư? Ai lại muốn làm bạo chúa kia chứ?”

“Thánh vương thiên hạ, đều coi người thiên hạ là ruột thịt, cùng vui với người thiên hạ, cùng chia sẻ thiên hạ với người thiên hạ. Duy có bạo chúa thiên hạ mới muốn độc chiếm thiên hạ, coi người thiên hạ như cỏ rác, bắt người thiên hạ phải cung phụng cho thú vui của riêng mình!”

“Khuất ái khanh!” Hoài Vương cứng họng, nhìn thẳng vào Khuất Bình một chốc, lấy làm cảm khái, “quả nhân luôn cho rằng khanh là người đa sầu đa cảm, chẳng qua chỉ giỏi văn từ thơ phú, nào ngờ tấm lòng của khanh lại khoáng đạt nhường này!”

“Đại vương quá khen!” Khuất Bình vòng tay, “thần chẳng qua chỉ là nghĩ cho đại vương mà thôi. Tự cổ chí kim, vạn bang thiên hạ, ai cũng dựa vào đức hạnh và thế lực. Đất Sở rộng lớn, dân Sở đông đúc, thế lực đứng đầu thiên hạ. Chỉ cần đại vương mở rộng đức ra khắp thiên hạ, ngoài theo tung sách, trong trị pháp độ, thế của Sở chắc chắn sẽ vô địch thiên hạ, vậy thì các tiểu bang nhỏ bé, liệu còn ai không thần phục đại vương? Thiên hạ đều quy phục đại vương, nước Tần có dám không nghe? Nước Tần vâng mệnh đại vương, đại vương phô bày đức tốt, bảo Tần Vương phế bỏ Tần pháp hà khắc, Tần Vương có dám không nghe? Lúc đó, liệt quốc thiên hạ đều vâng mệnh đại vương, đại vương dùng đức cảm hoá thiên hạ một cách tự nhiên, há chẳng phải là thánh vương vạn cổ?”

Hoài Vương phá lên cười lớn: “Quả nhân sợ không sống được lâu đến thế! Có điều, những lời này của khanh, quả nhân thích nghe! Hôm nay quả nhân tới đây, không phải để tính kế lâu dài.” Cầm bản tấu trên án lên, “trong này, khanh nói rất hay, nước đa phần mất bởi nội bất trị. Sự việc cấp bách hiện tại, không phải là sách lược tung thân, mà là nội trị. Quả nhân tới đây, là muốn mời khanh trị cái nội này!”

“Trị thế nào?” Khuất Bình hỏi.

“Bắt đầu trị từ ô kim!” Hoài Vương cất giọng rành rọt, “ngày mai, quả nhân sẽ ban bố vương mệnh do khanh soạn thảo hôm trước, cũng sẽ do chính khanh phụ trách thi hành.”

Khuất Bình kinh ngạc.

Là văn học thị tùng, Khuất Bình vốn không có quyền thực thi vương mệnh.

“Thượng quan đại phu!” Hoài Vương nhìn sang Ngận Thượng.

“Có thần.” Ngận Thượng vòng tay.

“Từ mai, khanh hãy bỏ hết các công việc khác, chỉ làm một việc: trợ giúp Khuất ái khanh thực thi vương mệnh!”

Ngận Thượng sững sờ.

Khuất Bình còn sững sờ hơn. Hai người đưa mắt nhìn nhau.

Chức thượng quan đại phu tương đương với thượng đại phu trong liệt quốc Trung Nguyên, đứng đầu các quan đại phu trong triều đình. Khuất Bình chẳng qua chỉ là một văn học thị tùng, về lý mà nói, là dưới quyền thượng quan đại phu. Lúc này Hoài Vương lại bảo thượng quan đại phu đi trợ giúp thuộc hạ cấp dưới, quả là một chuyện nằm ngoài tưởng tượng.

“Đại vương,” Khuất Bình vội nói, “thần chỉ là đại phu, Ngận đại nhân là thượng quan của thần, thần sao có thể...”

Hoài Vương nhìn sang cung doãn. Cung doãn bèn lấy từ trong tay áo ra một tờ chiếu mệnh, trình lên Hoài Vương.

“Khuất ái khanh, hãy xem!” Hoài Vương đưa chiếu mệnh cho Khuất Bình.

Khuất Bình đỡ lấy, mở ra xem, rồi đứng chết trân tại chỗ. Trên chiếu mệnh rành rành hai chữ “tả đồ”.

Tả đồ là chức quan quyền lực nhất trong cung Sở, trên một bậc nữa, chính là chức lệnh doãn của Chiêu Dương.

“Tả đồ đại nhân, còn không tạ ơn?” Hoài Vương mỉm cười nói.

Khuất Bình lúc này mới hoàn hồn, tay nâng chiếu mệnh, đứng lên, rồi quỳ xuống khấu đầu hô: “Thần Khuất Nguyên tạ ơn đại vương hậu ái!”

“Mau bình thân!” Hoài Vương chìa tay, “đại ấn của tả đồ, ngày mai quả nhân sẽ ban bố trước triều đường!” Đoạn đứng dậy, quay sang cung doãn, “khởi giá!”

Trong buổi đại triều, Hoài Vương thăng Khuất Bình làm tả đồ, ban bố chiếu mệnh, nghiêm cấm buôn bán các mặt hàng ô kim qua biên giới, viết rõ bất luận là hàng gì, chỉ cần có chứa ô kim, đều liệt vào hàng cấm, ai vi phạm, sẽ bị trừng trị nghiêm minh.

Chiếu mệnh vừa ban, khắp triều đình chấn động, nhất là Tử Khải.

Tử Khải sao chép lấy một bản vương mệnh, tới thẳng phủ trạch Kỷ Lăng Quân, nhìn thấy trong sảnh đường rộng lớn đã đông nghịt những người, đếm sơ qua, không dưới ba chục. Vương thúc ngồi ở chính giữa, Bành Quân, Xạ Cao Quân ngồi ở hai bên, ai cũng cầm một cuốn sổ trên tay.

Những người có mặt, trông ai cũng hoan hỉ.

Đây là một ngày đáng chúc mừng. Bành Quân, Xạ Cao Quân phụ trách sổ sách cho thương vụ lưỡi cày, đã tính toán xong xuôi bốn vạn lưỡi cày đợt đầu, đang công bố lợi nhuận.

Khi Tử Khải bước vào, Xạ Cao Quân vẫn đang công bố sổ sách. Tử Khải ngần ngừ một lát, rồi ngồi xuống hàng sau cùng.

Xạ Cao Quân đọc xong, Bành Quân phụ trách giám sát lên tiếng xác nhận các ghi chép trong sổ sách đều chính xác, rồi nhìn sang vương thúc.

“Chư vị thân hữu,” vương thúc vòng tay khắp lượt, “được mọi người coi trọng và tin tưởng, cùng góp tiền kinh thương, Mị Thu không biết làm gì để bày tỏ lòng cảm kích, chỉ biết tận tâm tận lực, cố gắng mưu phúc mưu lợi cho tất cả. Thương vụ lưỡi cày lần này, lợi nhuận của chư vị đều tăng cao, thực đáng chúc mừng. Tục ngữ có câu, sòng phẳng thân lâu, nếu có ai cảm thấy nghi ngờ về sổ sách, có thể hỏi hai người họ, để giải đáp cho rõ ràng. Kinh thương thì phải có lỗ lãi, nhưng dù lỗ dù lãi, cũng cần phải rạch ròi sòng phẳng.”

Chúng vương thân đua nhau lắc đầu, ý nói không hề có khúc mắc.

“Nếu đã không có khúc mắc,” vương thúc lại vòng tay, “hãy kết sổ tại đây. Hôm nay là ngày vui, Mị Thu đã chuẩn bị một bữa rượu nhạt, để tất cả cùng vui.” Đoạn vỗ tay.

Phủ Tề vẫy tay, đám người hầu lập tức dọn rượu thịt lên. Chúng vương thân quây quần trong sảnh đường, cùng nâng chén chúc tụng, ăn uống vui vẻ.

Tử Khải vẫy tay ra hiệu cho vương thúc. Vương thúc bèn bước ra, cùng Tử Khải đi sang phòng bên.

Tử Khải trình lên chiếu thư vừa ban bố. Vương thúc đọc xong, sắc mặt tối sầm.

Chuyện hệ trọng nhường này, mà trước đó Hoài Vương lại không hề hỏi ý vương thúc vốn cai quản kinh thương thợ thuyền, thậm chí đến một lời cũng không hé, mà đã trực tiếp ban bố vương mệnh!

Đương nhiên, Hoài Vương làm như vậy cũng không thể nói là không đúng. Vương thúc, suy cho cùng chỉ là tham vấn mà thôi. Là Tần Vương Đại Sở, Hoài Vương hoàn toàn có thể không cần hỏi ý.

Vương thúc nhắm mắt lại.

Lúc nãy khi Tử Khải vẫy tay với vương thúc, Bành Quân, Xạ Cao Quân cũng trông thấy, bèn kéo nhau đi theo vào phòng. Vương thúc không mở mắt, chỉ chìa chiếu thư ra. Hai người đọc xong, đều hít ngược vào một hơi, nhìn sững vào vương thúc.

“Là Chiêu Dương?” Vương thúc lên tiếng hỏi Tử Khải.

“Đại triều hôm nay, Chiêu Dương không tới.”

“Ồ?” Vương thúc mở choàng mắt, nhìn xoáy vào Tử Khải.

“Theo cháu biết, chuyện này không liên quan tới Chiêu Dương.”

“Không phải Chiêu Dương, thì là ai xúi giục?”

“Khuất Nguyên!”

“Một chức quan quèn chỉ biết hí lộng văn chương như hắn, thì hiểu cái gì?” Bành Quân coi thường ra mặt.

“Chú Bành,” Tử Khải cười gượng, “kể từ hôm nay, hắn không còn là quan quèn nữa, mà đã thăng làm tả đồ rồi.” Dừng lại một chốc, mới tiếp, “không chỉ có thế, phụ vương còn chuyển giao mấy trợ thủ lão luyện như Ngận Thượng, Chiêu Tuy, Cảnh Lý, Khuất Dao cho phủ tả đồ cai quản!”

“Gì kia?” Xạ Cao Quân nhảy dựng dậy, “đến cả thượng quan đại phu cũng do hắn cai quản?”

“Khuất Nguyên?” Vương thúc lẩm bẩm nhắc lại, “nghe nói hắn rất giỏi văn chương!”

“Đúng vậy.” Tử Khải đáp, “mười ba tuổi viết bài Quất tụng, mười sáu tuổi theo Tô Tần hợp tung, soạn minh ước cho sáu nước. Phụ vương rất yêu mến tài năng của người này, phong làm văn học thị tùng. Mấy hôm trước, người này phụng vương mệnh, tới Kinh Môn chủ trì lễ chiêu hồn tử sĩ, nghe nói gặp phải cuồng phong, thổi gãy cán cờ. Nhưng lại có vu nữ đất Ba hiện thân trợ giúp, không những xua tan mây gió, mà còn thi triển pháp thuật, khiến cho trên trời đổ xuống trận mưa sao băng, nói là vong hồn quay về ẩn náu vào cờ phướn. Chúng nhân ai cũng thán phục. Nay được bổ làm tả đồ, là đặc cách thăng chức, tăng liền ba cấp! Vừa nãy tan chầu, cả triều đường ầm ĩ như sôi!”

“Cháu biết rõ hắn ư?”

“Người thân cận bên phụ vương, cháu không dám không biết.”

“Người này có điểm yếu gì không?” Vương thúc nhìn sang Tử Khải, “như vàng bạc, báu vật, nô bộc, điền sản?”

“Đều không thích.”

“Mĩ nữ thì sao?”

“Theo cháu biết,” Tử Khải ngẫm nghĩ một chốc mới đáp, “người này rất có duyên với đàn bà. Mệnh phụ, tài nữ ở Sính Đô, đến cả sủng phi bên cạnh phụ vương, đều thích ngâm thơ từ của hắn, ngưỡng mộ tài năng của hắn. Khuê nữ đài các âm thầm kèn cựa lẫn nhau, ai cũng muốn gả cho hắn. Có điều, cho tới giờ, cháu vẫn chưa từng nghe nói hắn có qua lại với mĩ nữ nào!”

Vương thúc lại nhắm mắt suy nghĩ một lát, rồi nói: “Chú Bành, nghe nói Chiêu Thử có một bình gốm màu, đã nhìn thấy chưa?”

“Đã thấy một lần,” Bành Quân đáp, “Chiêu Thử xem như bảo bối, nghe nói đã phải bỏ ra một món tiền không nhỏ để mua về, cất giữ rất cẩn thận.”

“Mang nó về đây.”

Tử Khải cười lớn: “Vương thúc thích nó ư?” “Muốn nhìn tận mắt.”

Tử Khải sửng sốt: “Cái bình thô kệch ấy, cháu đã nhìn thấy nhiều lần, làm bô tiểu còn không xứng, sao có thể lọt vào mắt vương thúc được?”

Vương thúc lắc đầu: “Chao ôi, cái thằng ranh này!”

“Vâng vâng!” Tử Khải cười cầu tài, “để cháu đi lấy về là được chứ gì!”

“Vương thúc,” Xạ Cao Quân rầu rĩ, “lô hàng thứ hai, ba vạn lưỡi cày, chắc cũng sắp sửa soạn xong rồi. Có... chuyển đi không?”

“Có!” Tử Khải nghiến răng, “nếu không, còn cần kim bài làm gì?”

“Than ôi,” vương thúc thở dài, “hãy chờ đã, việc tốt thường không dễ dàng.”

“Không chờ được nữa rồi!” Xạ Cao Quân lo lắng, “theo khế ước, trong vòng ba tháng phải giao lô hàng thứ hai, tính theo thời gian, đã sắp đến hạn!”

“Than ôi,” vương thúc lại thở dài một tiếng, “vương huynh đưa ra lệnh cấm, cũng không phải không có lý do. Trận chiến Tích Thuỷ, mọi người cũng thấy cả rồi, người Tần đã dùng ô kim của ta để rèn binh khí!”

“Vương huynh!” Xạ Cao Quân vội cãi, “binh khí ô kim của người Tần nào có liên quan tới lưỡi cày của chúng ta? Từ khi ta giao lưỡi cày cho người Tần, cho tới trận chiến Tích Thuỷ, trước sau chưa đầy nửa tháng, thợ Tần dù có làm việc suốt ngày đêm không ngủ, cũng không thể rèn được nhiều binh khí đến vậy! Hai chuyện này không hề liên quan!”

“Có liên quan hay không, bản thân các vị lại không biết ư?” Vương thúc nhìn khắp lượt, “mấy năm nay, chẳng phải các vị vẫn ngấm ngầm bán ô kim cho người Tần đó sao?”

Xạ Cao Quân mấp máy môi mấy cái rồi im bặt.

“Vương thúc,” Tử Khải tiếp lời, “nhưng chúng ta đâu nhất thiết phải đánh nhau với người Tần. Chính là họ Chiêu, họ Cảnh xúi giục đại vương đánh trận này. Họ Cảnh là vì mười lăm ấp Thương Ư, còn họ Chiêu là vì dính dáng với người Tề. Chuyện này, chắc chắn có điều khuất tất!”

“Ta đang nghĩ,” vương thúc trầm ngâm một lát, “ngộ nhỡ người Tần đem lưỡi cày đúc thành mũi thương thì sao?”

“Vương thúc,” Tử Khải vội nói, “có đúc hay không, là việc của họ! Chú Bành nói phải, chúng ta không cần thiết phải đánh nhau với người Tần. Chuyện khác không nói, chỉ riêng trận chiến Tích Thuỷ, người Tần không tăng thêm quân, không dựng thành luỹ, còn nhường lại ấp Niết và ải Hắc Thuỷ cho chúng ta, chứng tỏ họ không có ý muốn đánh, chỉ có chúng ta muốn đánh mà thôi. Hơn nữa, người trong Tần thất cũng như chúng ta, chỉ mong phát tài. Trương tướng quốc còn đích thân đứng ra làm mối, việc này nếu thành, chúng ta và Tần thất sẽ thành thông gia đấy.”

“Phải, cháu hiền nói phải đấy!” Tử Khải còn chưa dứt lời, Bành Quân, Xạ Cao Quân đã luôn miệng tán đồng.

Vương thúc không nói năng gì.

Sau một hồi trầm ngâm suy nghĩ, vương thúc ngẩng đầu, nhìn sang Tử Khải: “Cháu hãy tới phủ Ngận đại nhân một chuyến.”

“Để làm gì kia?”

“Thương vụ này của chúng ta, Ngận phu nhân có xuất vốn, nhưng nay lại không tới. Cháu và chú Bành hãy thử tính toán lợi nhuận thế nào, rồi đem tới phủ cho phu nhân!”

“Vương thúc, chúng ta tính thế nào?” Bành Quân khẽ giọng hỏi.

“Lãi gấp bốn!”

“Ồ...” Bành Quân ngạc nhiên, “tính toán kỹ lưỡng, cộng thêm nhân công, chúng ta mới lãi gấp ba. Người khác chúng ta chỉ tính lãi gấp đôi. Vậy mà giờ lại tính cho Ngận phu nhân lãi gấp bốn, chưa nói chuyện thâm hụt, lỡ để lộ ra ngoài, biết giải thích thế nào đây?”

“Mau làm đi!” Vương thúc dứt khoát.

Với Ngận Thượng, từ lúc bị Hoài Vương gọi đi vào sáng sớm hôm qua, cho tới lúc này đã trở về nhà, đã mười hai canh giờ trôi qua, không một canh giờ nào không dằn vặt.

Chức tả đồ này, bất kể thế nào, đáng lẽ cũng nên thuộc về Ngận Thượng mới phải. Từ khi làm thị vệ của thái tử vào năm mười sáu tuổi cho tới nay, thấm thoắt đã hai mươi năm trời, dù chưa lập được công lao, nhưng khổ công đâu có ít. Vậy mà, chỉ trong nháy mắt, trong một nháy mắt bất ngờ nhất, chức vị đó đã đáp xuống dưới mông Khuất Bình nhẹ tênh. Khuất Bình kia thì có tài cán gì? Có chăng chỉ viết được vài bài thơ phú? Trường sách với đoản sách nỗi gì, rặt là nói càn nói bậy!

Ngận Thượng càng nghĩ càng rầu rĩ. Chiều đến, Khuất Bình mời Ngận Thượng vào phủ nghị sự, bàn chuyện chưa được bao lâu, đầu Ngận Thượng đã như muốn nổ tung, trán vã mồ hôi, vô cùng khó chịu. Khuất Bình lo lắng, mời thầy thuốc tới bắt mạch, thầy thuốc nói là hư hoả công tâm, kê cho ít thuốc hạ hoả, dặn về phủ sắc uống.

Ngận Thượng xách theo gói thuốc, đánh xe về phủ.

Quản gia bước ra đón, Ngận Thượng ném gói thuốc cho ông ta, sai mang đi sắc, rồi đi thẳng vào buồng ngủ. Lúc này, Ngận Thượng chẳng muốn suy nghĩ gì thêm, chỉ muốn đánh một giấc quên đời. Ngận Thượng biết rõ tại sao mình lại đau đầu đến vậy, bởi đã khổ sở suy nghĩ suốt đêm qua, không chợp mắt lấy một chốc.

Trời vẫn chưa tối.

Ngận Thượng bước vào trong buồng, vừa đi vừa cởi quan phục. Nghe tiếng bước chân, trong buồng bỗng vọng lên tiếng lạch cạch hỗn loạn, một bóng người nhảy dựng dậy, đóng sập thứ gì đó lại, rồi ngồi chắn lên trên. Tới khi nhận ra là Ngận Thượng, người này mới thở phào một tiếng, vỗ ngực thình thịch: “Ối cha mẹ ơi, phu quân định doạ chết thiếp đấy ư?”

Là phu nhân của Ngận Thượng.

Ngận Thượng treo quan phục lên giá, bước lại ngồi xuống bên giường, ánh nhìn đầy ngờ vực: “Ban ngày ban mặt, nàng không ở ngoài lo liệu việc nhà, lúi húi trong đây làm gì?”

“Suỵt...” Ngận phu nhân ra hiệu, rồi chỉ xuống phía dưới mông. Ngận Thượng nhìn xuống, thấy là một rương nhỏ tinh xảo.

“Ở đâu ra thế?” Ngận Thượng hỏi.

“Ông trời mang tới đấy!” Ngận phu nhân phấn chấn ra mặt, “phu quân đoán thử xem, trong rương đựng thứ gì?”

“Tơ lụa?” Ngận Thượng đá văng đôi hia, nằm phịch xuống giường, kéo góc chăn trùm lên bụng.

“Không phải.”

“Ngọc?”

“Không phải.”

“Không đoán được.”

“Chà, chàng ngốc thật. Gợi ý nhé, có màu vàng!”

“Là vàng ư?”

“Phu quân giỏi thật đấy. Vậy hãy thử đoán xem, có bao nhiêu? Thiếp gợi ý cho phu quân nhé!” Ngận phu nhân nói rồi giơ ba ngón tay lên.

“Ba hoàn?”

“Không phải!”

“Ba mươi hoàn?”

“Không phải!”

“Không phải là ba trăm hoàn đấy chứ?”

“Ái chà, phu quân giỏi thật đấy!” Ngận phu nhân hân hoan mở nắp rương, “phu quân nhìn xem, toàn là vàng ròng, vừa nãy thiếp đang đếm!”

Ba trăm hoàn vàng! Một hoàn bằng sáu lượng, ba trăm hoàn là một nghìn tám trăm lượng vàng!

Ngận Thượng nhảy bật dậy khỏi giường, một bước nhảy tới trước rương, trợn mắt nhìn vào, quả nhiên là một rương vàng đầy ắp.

“Ở đâu ra thế?” Ngận Thượng gần như nín thở.

“Là thiếp kiếm được đấy!” Ngận phu nhân không giấu vẻ tự hào, “đừng tưởng chỉ mình chàng kiếm ra tiền!”

“Nàng...” Ngận Thượng căng thẳng cao độ, “kiếm bằng cách nào?”

“Thiếp mang hết vàng dư trong nhà ta đi góp vốn buôn bán. Đây mới là tiền lãi, vốn gốc vẫn chưa thu về!”

“Tiền lãi? Ba trăm hoàn?” Ngận Thượng không dám tin vào tai mình, đờ ra một lúc mới hỏi, “tiền gốc bao nhiêu?”

“Một trăm hoàn.”

“Một trăm hoàn? Tiền lãi ba trăm hoàn?” Ngận Thượng trợn trừng hai mắt, “góp được bao lâu?”

“Ba tháng, mỗi tháng trăm hoàn!” Ngận phu nhân hạ thấp giọng hỏi, “phu quân lại đoán thử xem, thiếp đã góp vốn với ai?”

“Ai?”

“Vương thúc!” Ngận phu nhân cố kìm nén cơn hưng phấn, “ba tháng trước, phu nhân của vương thúc tới tìm thiếp, có bàn với thiếp chuyện làm ăn, nói chắc chỉ lãi mà không lỗ, hỏi thiếp có muốn góp không. Vương thúc kinh thương, có ai ngốc mà đi từ chối kia chứ? Thiếp không hỏi thêm gì, lập tức sai quản gia kiểm kê tiền vàng, gom góp hết số tiền còn dư, vừa tròn trăm hoàn, tự tay giao cho phu nhân của vương thúc. Chao ôi, thiếp còn lo lắng thấp thỏm, không dám kể với chàng, nào ngờ mới có ba tháng, mà đã lời được thế này!”

Ngận Thượng thở hắt ra: “Than ôi, phu nhân, nàng kiếm được ba trăm hoàn này thật dễ dàng, nhưng lại kéo phu quân của nàng xuống hố rồi đấy!”

“A?” Ngận phu nhân thất kinh, “hố gì kia?”

“Nói với nàng, nàng cũng không hiểu đâu, chao ôi!” Ngận Thượng lại thở dài não nề, giật lùi đến bên giường, ngã phịch xuống, kéo chăn trùm kín đầu.

Sau khi mang ba trăm hoàn vàng tới cho Ngận phu nhân, Tử Khải ôm một bụng bực bội, đi thẳng một mạch về phủ. Quản gia báo tin, có người đã chờ suốt nhiều canh giờ.

Tử Khải sải bước vào trong phòng khách. Nghe tiếng bước chân, người bên trong vội tiến ra đón, chính là Xa Vệ Tần.

Tử Khải biết Xa Vệ Tần tới đây vì việc gì, nên gượng gạo hành lễ, vòng tay cười nói: “Lần trước gặp nhau, thấm thoắt đã hơn một tháng, Mị Khải vừa nãy mới nhắc tới Xa huynh với vương thúc, nói rằng lúc rảnh rỗi muốn đi thăm Xa huynh một chuyến. Nào ngờ Xa huynh đã tới rồi!”

“Tạ ơn công tử tưởng nhớ.” Xa Vệ Tần đáp lễ, “tại hạ sớm đã muốn tới thăm công tử và vương thúc, nhưng ngặt nỗi phải chở lưỡi cày tới Hàm Dương, công việc rối bời. Khó khăn lắm mới dứt ra được, tại hạ vội tới đây ngay.” Chỉ sang một bên, “công tử hãy xem tại hạ đã mang tới thứ gì cho công tử và chư vị vương thúc?”

Tử Khải lúc này mới nhìn thấy, trong phòng khách có bốn rương lớn, kê sát cột trụ, trên nắp mỗi rương đều dán niêm phong.

Tử Khải hiểu rõ trong rương đựng gì, song vẫn vờ như không biết, nhìn sang Xa Vệ Tần.

“Bốn vạn lưỡi cày lần trước, Trương tướng quốc và mấy vị công tử trong vương thất cùng kiểm tra, đều khen hàng tốt, giá phải chăng, lại vừa kịp lúc dùng cho vụ thu. Công tử biết đấy, Quan Trung đa phần trồng lúa mạch, trước tiết Hàn lộ, việc nông quan trọng nhất của Tần là cày bừa, đây cũng là việc lao lực nhất. Năm nay có được lưỡi cày, người Tần sẽ nhàn nhã hơn nhiều.” Xa Vệ Tần chỉ vào rương, “trong rương này là một nửa tiền của đợt hàng thứ hai gồm ba vạn lưỡi cày; nửa còn lại, tại hạ đã sai người mang tới phủ Xạ Cao Quân, chủ yếu là để tránh nghi ngờ.”

“Hàng còn chưa gửi, sao có thể thu tiền được?”

“Tại hạ cũng nói như vậy, nhưng Ư Thành Quân cứ khăng khăng bắt chuyển trước.” Xa Vệ Tần ra bộ nhăn nhó, “Ư Thành Quân là người cảm tính, không hiểu gì về kinh thương cả, chỉ biết là rất quý mến công tử và các vị vương thúc. Dạo trước, đại vương xuất binh chinh phạt, Ngụy tướng quân đóng quân tại Ư Thành bất đắc dĩ mới phải xung đột với Cảnh tướng quân tại Tích Thuỷ. Dù là bất đắc dĩ, song nói cho cùng, cũng là đắc tội. Ư Thành Quân lo sợ công tử và các vị vương thúc không vui, nên cứ khăng khăng bắt tại hạ chuyển tiền trước, nhận hàng sau, để các vị an tâm. Ư Thành Quân xưa nay nhất ngôn cửu đỉnh, tại hạ không dám trái lời!” Nói đoạn, lấy từ trong ống tay áo ra một cuốn thẻ tre, “vật ở trong rương, đều có ghi chép cẩn thận, công tử hãy cho thuộc hạ mở rương kiểm tra, ngộ nhỡ thiếu hụt dăm ba lượng hoặc vàng không thuần, tại hạ sẽ bồi thường sau.” Rồi hai tay trình lên.

“Đa tạ Ư Thành Quân và Xa huynh tin tưởng!” Tử Khải đỡ lấy cuộn thẻ tre, đặt lên mặt án, vòng tay cảm tạ mà mặt mũi rầu rĩ, thở dài liên tục.

“Công tử cớ sao lại thở dài?”

“Xa huynh!” Tử Khải cười nhăn nhó, “mấy rương này, e là phải phiền Xa huynh mang về giúp cho.”

“Ồ?” Xa Vệ Tần sửng sốt.

“Xa huynh hãy xem!” Tử Khải đưa tờ chiếu mệnh ra.

Xa Vệ Tần đọc xong, trả lại chiếu mệnh, cười vang vài tiếng: “Chiếu thư này, Ư Thành Quân cũng đã lường trước rồi.”

“Ồ?” Tới lượt Tử Khải ngỡ ngàng.

“Không giấu công tử,” Xa Vệ Tần hạ giọng, “sở dĩ Ư Thành Quân gửi mấy rương này tới trước, chính vì đã nghĩ, đại vương sẽ ra chiếu mệnh thế này.”

“Nhưng chiếu mệnh đã ban, việc giao thương không thể tiếp tục được nữa!”

Xa Vệ Tần cười lớn: “Hẳn là công tử chưa từng đọc Dịch?”

“Lời này nghĩa là sao?”

“Dịch nghĩa là gì? Dịch nghĩa là biến. Thế nào là biến? Biến là thông, không biến tức là không thông. Tự cổ chí kim, trên có vương mệnh, dưới có biến thông, đây là đạo lý vạn cổ.”

“Ồ...” Tử Khải ngơ ngác, “biến thông như thê' nào?”

“Dám hỏi công tử, biên quan Đại Sở, cấm như thế nào?”

“Cấm tại quan ải!”

“Khi công tử giao hàng, không qua quan ải là được!”

“Ồ... phàm là đường lớn, đều có quan ải, không qua sao được?”

“Đường lớn đặt quan ải, đường nhỏ thì sao? Đường bộ đặt quan ải, đường thuỷ thì sao? Trong nước Sở này, dựa vào quyền thế và tài trí của công tử, công tử muốn làm gì, ai dám ngăn cản? Huống hồ còn có vương thúc, còn có bao nhiêu phong quân Đại Sở. Có câu, pháp không phạt số đông, cho dù là ai, cũng không ngốc nghếch tới mức tuyệt đường làm ăn của tất cả mọi người.” Xa Vệ Tần hạ giọng, “theo ý công tử, pháp của Tần có tàn khốc hay không? Song công tử cũng thấy rồi đấy, những người đến làm ăn cùng công tử, muốn phát tài cùng công tử lần này, là những ai?

Đều là vương thân cả. Còn như tại hạ đây, dù là hậu duệ của công thần, cũng chỉ có thể làm chân sai vặt, người ta lời lớn, còn tại hạ chỉ nhặt nhạnh chút tiền mồ hôi. Tất cả những điều này, công tử nghĩ Tần Vương không biết ư? Tần Vương thừa biết, chẳng qua chỉ là mắt nhắm mắt mở cho qua mà thôi! Bởi lẽ trong số những người kia, ai cũng là máu mủ ruột rà với Tần Vương cả!”

“Ồ...” Tử Khải ngỡ ngàng, “nhưng Khải nghe nói, Tần pháp bất vị thân, đến thái tử phạm tội, cũng đều...”

Xa Vệ Tần lại phá lên cười: “Chuyện này mà công tử cũng tin ư? Pháp là gì? Pháp là do vua ban. Vua có thể ban pháp, đương nhiên cũng có thể bỏ pháp. Hơn nữa, pháp của vua, từ đâu mà có? Là do đại thần soạn ra. Có vị đại thần nào lại ngu xuẩn tới mức soạn ra một thứ pháp mà ngay cả bản thân mình cũng bị khuôn vào luật cấm? Không hề! Có vị vua nào lại ban hành một thứ pháp mà ngay cả tông thất vi phạm cũng bị chém đầu? Không hề. Tự cổ chí kim, pháp đều chỉ là ban bố cho bách tính xem, đều chỉ là để doạ dẫm bách tính mà thôi! Hãy nói chuyện thái tử phạm pháp năm xưa, công tử nghĩ là trừng phạt thực sự ư? Chỉ là phạt cho người thiên hạ xem mà thôi! xẻo mũi Doanh Kiền, gọt tóc thái tử, đánh đòn Công Tôn Giả, đều là đã bàn sẵn từ trước, muốn làm cho người thiên hạ xem, để họ sợ mà noi theo pháp! Pháp của Tần là do Thương Quân làm ra, hồi tiên quân còn sống, Thương Quân lẽ nào chưa bao giờ phạm pháp? Nhưng Thương Quân đã bao giờ bị trừng phạt chưa? Toàn bộ những người chấp hành pháp của Thương Quân đã bao giờ bị trừng phạt chưa? Chưa hề. Cái chết của Thương Quân, là sau khi tiên quân băng hà, Thương Quân công cao át chủ, mưu đồ phản loạn, nên mới bị Tần Vương trừ bỏ!”

Xa Vệ Tần nói liền một mạch, khiến công tử Khải nghe như sấm động bên tai.

“Xin thụ giáo!” Tử Khải ôm quyền, nhìn sang bốn chiếc rương, “tại hạ tin Xa huynh. Những rương này, tại hạ sẽ tạm giữ lại, số lượng không cần phải kiểm, Xa huynh chớ có trả hơn là được!”

Xa Vệ Tần cười lớn: “Tại hạ đâu phải là Ư Thành Quân, trả hơn một hoàn, phải đền một hoàn đấy!”

Hai người cười nói một lát, sắc trời đã tối. Tử Khải định bày tiệc rượu, nhưng Xa Vệ Tần ngăn lại.

“Công tử,” Xa Vệ Tần cười nói, “tại hạ tới đây, thứ nhất phụng mệnh Ư Thành Quân, thứ hai, còn có một mối làm ăn, muốn bàn cùng công tử.”

“Hay quá.” Tử Khải vỗ tay, “Khải chuyện gì cũng không giỏi, chỉ hào hứng với kiếm tiền!” Rồi ngả người lại, “là mối gì thế?”

“Công tử nếu có nhã hứng, hãy theo tại hạ một chuyến!” Xa Vệ Tần vòng tay mời.

Tử Khải cho gọi quản gia lại, căn dặn mang danh sách và bốn chiếc rương cất kỹ vào kho, đoạn nhảy lên xe của Xa Vệ Tần, tới một chốn kín đáo ở ngoại ô.

Ra nghênh tiếp hai người, chính là Thiên Hương.

Ngồi vào bàn tiệc chưa được bao lâu, Xa Vệ Tần kiếm cớ ra về. Thiên Hương nhân dịp, trổ hết tài nghệ quyến rũ, chẳng mấy đã khiến Tử Khải thần hồn điên đảo, uống đến say mèm. Tối ngủ lại đó, Thiên Hương lại mang tuyệt kỹ phòng the ra cung phụng.

Sáng hôm sau, Xa Vệ Tần đánh xe quay lại, dẫn Thu Quả đi cùng. Cùng dùng bữa sáng xong, Thiên Hương và Thu Quả dắt tay nhau ra về.

“Công tử,” Xa Vệ Tần cười hỏi, “đêm qua ngủ ngon chứ?”

Tử Khải tấm tắc khen ngợi: “Quả là kỳ nữ!” Rồi hạ giọng thì thào, “không giấu Xa huynh, tại hạ cũng được coi là kẻ dày dạn tình trường, nhưng công phu nhường ấy, tại hạ chưa bao giờ gặp. Quả là kỳ diệu phi thường!”

Xa Vệ Tần cười lớn: “Công tử quả là sành sỏi!” Rồi hạ giọng hỏi, “công tử có biết đến nước Thiên Trúc?”

Tử Khải lắc đầu.

“Đàn bà nước đó, rất giỏi thuật phòng the. Người hầu hạ công tử đêm qua, tên gọi Thiên Hương, thuở nhỏ lưu lạc sang Tây Nhung, gặp một thầy mo đến từ Thiên Trúc dạy cho thuật này!”

“Chà!” Tử Khải khen ngợi, “thảo nào cao tay đến vậy!”

“Không chỉ có một mình nàng ta đâu!” Xa Vệ Tần tiếp lời, “thuộc hạ của Thiên Hương có vài chục người, nàng nào cũng đều làu thông kỹ nghệ! Nếu công tử có nhã hứng, chúng ta hãy cùng mở một lầu Hương tại Sính Đô, chắc chắn sẽ phát tài!”

“Hay lắm!” Tử Khải vỗ đùi đánh đét, coi như nhận lời.

“Cô gái đến cùng Xa huynh lúc sáng là ai thế?” Tử Khải dò hỏi.

“Vừa mắt công tử rồi ư?”

Tử Khải cười: “Không phải! Chỉ là người đi cùng Xa huynh, hẳn không phải hạng tầm thường!”

“Công tử thật tinh mắt!” Xa Vệ Tần khen ngợi, “cô gái đó sẽ là đệ nhất phẩm của lầu Hương!”

“Ồ?” Tử Khải ngạc nhiên, “nàng ta còn tài khéo hơn cả Thiên Hương ư?”

“Không có tài khéo của Thiên Hương, nhưng có tài khéo khác.”

“Ồ?” Tử Khải tò mò, “tài khéo gì mà có thể trở thành đệ nhất phẩm của lầu Hương?”

“Nàng ta từng hai lần cứu mạng một người!”

“Cứu ai?”

“Tô Tần!”

Tử Khải trợn trừng hai mắt.

“Nàng ta còn sống không dưới mười năm bên cạnh một người!”

“Không phải vẫn là Tô Tần chứ?”

“Vẫn phải.”

“Thế... nàng ta... là gì của Tô Tần?” Tử Khải ánh mắt dò hỏi.

“Nàng ta là con gái nuôi của Tô Tần. Tô Tần là cha nuôi của nàng ta!” Xa Vệ Tần đáp.

Tử Khải hít sâu vào một hơi, hồi lâu không nói năng gì.

“Để nàng ta làm đệ nhất kỹ nữ của lầu Hương, công tử thấy thế nào?”

“Không được!” Tử Khải vội đáp.

“Ồ?”

“Đây là một kỳ nữ, hãy để cho bản công tử!”

Xa Vệ Tần liền vỗ tay.

Vài ngày sau đó, Tử Khải góp vốn bằng một toà lầu xa hoa giữa Sính Đô. Trước sau chưa tới mười ngày, toà lầu đã được Xa Vệ Tần sai người bài trí lại một lượt, ngoài cổng treo tấm biển lớn đề ba chữ “Lầu Phẩm Hương” sơn son đỏ rực.

Hoa đô ngày đẹp, ánh nắng rực rỡ.

Pháo nổ vang rền, trống đàn rộn rã, Thiên Hương dẫn đâu một đoàn thiếu nữ trang điểm lộng lẫy bước ra, lầu Phẩm Hương chính thức khai trương. Trong ngoài lầu treo đèn kết hoa rực rỡ. Đứng ngoài cửa chừng ba chục bước, đã ngửi thấy hương bay sực nức, đã thấp thoáng dáng ngọc yêu kiều, muôn hình muôn vẻ.

Cũng nhờ đám công tử quyền quý như Tử Khải hết lời rêu rao khen ngợi, không đầy vài ngày, quan lại quyền quý, công tử giàu sang trong khắp Sính Đô đều đã biết tới lầu này. Bãi giữ xe ngựa cách lầu hơn trăm bước mỗi ngày một đông hơn, tiếng ngựa hí rền rĩ suốt ngày đêm không ngớt.

Nhận được lệnh khẩn của Tử Khải, Chiêu Thử không dám chậm trễ, cẩn thận bọc kỹ chiếc bình bảo bối, ngày đêm không nghỉ, chạy như điên tới Sính Đô, chẳng kịp báo quản gia, đã lao thẳng vào bái kiến.

Tử Khải ngắm nghía bình gốm, khen ngợi vài câu, rồi nói: “Chiêu đại nhân, cái bình cổ này, cho bản công tử mượn dùng vài ngày, đại nhân chớ có xót ruột đấy nhé!”

Chiêu Thử sững sờ kinh ngạc.

“Là vương thúc muốn mượn,” Tử Khải cười nói, “chứ bản công tử đâu có hứng thú gì với cái bình cổ lỗ ấy!”

Chiêu Thử hai tay ôm đầu, hồi lâu sau mới ngẩng lên hỏi: “Dám hỏi Ngạc Quân, vương thúc muốn mượn mấy ngày?”

“Ồ?” Tử Khải trợn tròn mắt, “vương thúc mượn mấy ngày, đại nhân hỏi tại hạ, tại hạ biết hỏi ai? Cái bình nát này nếu mà lọt vào mắt vương thúc thật, thì quả là có phúc cho nó! Chứ đại nhân có tặng không cho ta làm bô tiểu, ta cũng chẳng thèm!”

Chiêu Thử chép miệng một cái, từ từ đứng dậy, vòng tay: “Nếu công tử không còn việc gì sai khiến, tại hạ xin phép quay về! Đi đường gấp quá nên hơi mệt.”

“Ấy, đại nhân vội gì, vẫn còn việc nữa!” Tử Khải ngăn lại, “lưỡi cày từ các nơi đưa về, đã được bao nhiêu rồi?”

“Hai vạn rưỡi.”

“Chỗ khác thì sao?”

“Suýt soát một vạn.”

“Gộp lại là ba vạn rưỡi!” Tử Khải lẩm bẩm, lại ngẫm nghĩ một chốc mới nói, “Chiêu đại nhân cứ về phủ trước, chớ có đi đâu, nghỉ ngơi vài ngày, chờ tin của tại hạ!”

Chiêu Thử ra khỏi cổng phủ, leo lên xe rồi, còn hậm hực quay đầu nhổ toẹt một cái, mới đánh xe đi.

Chiêu Thử không về nhà, mà đi thẳng tới phủ trạch của Chiêu Dương.

Chiêu Thử không hẹn mà tới, Chiêu Dương vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ, sai Chiêu Tuy sửa soạn rượu thịt, tươi cười mà nói: “Cháu hiền, tối qua chú còn nhắc cháu với Chiêu Tuy. Chiêu Tuy nói cháu ở Uyển Thành rất ổn, vậy thì tốt quá. Chú già rồi, bọn trẻ các cháu có thể lập thân lập nghiệp, chú có chết cũng yên tâm.”

“Thưa chú,” Chiêu Thử gạt nước mắt, “công việc chú dành cho cháu, thật quá khổ cực!”

“Ồ?” Chiêu Dương sửng sốt, “nói xem, đã có chuyện gì?”

Chiêu Thử kể sơ qua chuyện bình gốm vừa rồi, giọng vẫn chưa hết giận dữ: “Ngạc Quân Khải, cùng Xạ Cao Quân và Bành Quân, ngoài vơ vét tiền của, chẳng làm được trò trống gì ra hồn. Họ cậy là vương thân, không coi ai ra gì trong mắt, kể cả họ Cảnh kia cũng vậy!”

“Phải! Phải!” Chiêu Dương cũng than thở, “người ta là vương thân, không động vào được. Cái bình kia, họ đã muốn thì cháu cứ đưa cho họ đi. Trên đời này vẫn còn nhiều món tốt kia mà. Cháu về cũng thật đúng lúc, chú cháu ta hãy nói chuyện Uyển Thành. Đại sự trong triều gần đây, đa phần có liên quan tới Uyển Thành của cháu. Từ lâu chú đã muốn hỏi cháu về chuyện ô kim.”

Chiêu Thử kể lại tường tận những chuyện liên quan tới lưỡi cày mà mình biết được.

“Mười vạn lưỡi cày,” Chiêu Dương gập ngón tay nhẩm tính, “một lưỡi cày nặng chừng ba cân, vậy tổng cộng khoảng ba mươi vạn cân ô kim. Một lò luyện một tháng luyện được ba nghìn cân, ba mươi lò luyện chín vạn cân, ba mươi vạn cân thì cần ba tháng...”

“Chú ạ,” Chiêu Thử tiếp lời, “chuyện này là không thể. Lò luyện tuy nhiều, song quặng sắt hữu hạn. Mỏ quặng ở núi Đông Nam, chí ít cũng cách đất Ngạc hơn hai trăm dặm.”

“Ồ, cớ sao không mở lò luyện ngay gần mỏ quặng?” Chiêu Dương ngạc nhiên.

“Chú không biết đấy thôi,” Chiêu Thử giải thích, “chỗ có mỏ quặng lại không có than đá, than củi thông thường không thể nung chảy quặng sắt. Mỏ than đá ở bên ngoài Lỗ Quan, tại đó có một ngọn núi đỉnh bằng, dưới chân núi có rất nhiều than đá. Than đá cho lửa rất mạnh, song nếu muốn chở tới mỏ quặng, lại rất tốn công. Đất Ngạc vừa hay nằm giữa mỏ quặng sắt và mỏ than đá, nên đặt lò luyện ở đó là thích hợp nhất. Than đá thì dễ vận chuyển, chuyển tới cũng dùng ngay được. Còn quặng sắt, khó khăn lắm mới chở được đến nơi, đập vỡ nung chảy, một xe quặng may mắn lắm mới được hai ba cân ô kim, kém may mắn hơn thì luyện được chút đỉnh coi như không lỗ, xấu nhất là chẳng luyện được chút nào. Được cái ô kim hễ đã luyện xong thì không bao giờ hư hỏng, có thể dùng đi dùng lại, cũng giống như vàng. Nếu không mất đi, sẽ ngày một nhiều thêm.”

‘Thì ra là vậy!” Chiêu Dương vuốt râu, “đúng là trong mấy năm nay, cháu hiền đã trưởng thành hơn nhiều.” Nói đến đây, bỗng ngả người về phía trước, “cháu hiền này, nhìn vào tình thế trước mắt, nếu không nằm ngoài dự liệu của lão phu, Tử Khải triệu cháu về, không chỉ đơn giản là bởi bình gốm kia đâu, mà chắc chắn bởi số lưỡi cày trong tay cháu. Cháu cứ đợi mà xem, trò vui còn ở phía sau.”

Đang nói chuyện, Chiêu Tuy vào bẩm báo, tiệc rượu đã chuẩn bị xong.

Chiêu Dương vừa ra lệnh khai tiệc, quản gia Hình Tài đã bước vào bẩm báo: “Chúa công, Trần đại nhân sai người mang thiếp báo hỉ tới, tiểu nhân đã thưởng tiền rồi!” Nói rồi trình lên hỉ thiếp.

“Hôm nay quả là ngày đẹp!” Chiêu Dương cười vang vài tiếng, chỉ vào bàn rượu: “Chiêu Thử, Trần đại nhân có hỉ sự, chú không tiếp cháu được rồi.” Nhìn sang Chiêu Tuy, “Tuy Nhi, gọi mấy anh em lại đây, bồi tiếp Chiêu Thử!”

Chiêu Tuy vâng lời, gọi mấy anh em là Chiêu Ngư, Chiêu Cái, Chiêu Tiễn, Chiêu Ung lại cùng tiếp rượu.

Chiêu Dương sai Hình Tài chuẩn bị một rương lễ vật, tới thẳng phủ trạch của Trần Chẩn cách đó không xa.

Trần Chẩn mặt tươi như hoa, ra ngoài cổng nghênh đón, dẫn Chiêu Dương vào phòng khách, rồi bế bé gái ra cho Chiêu Dương xem, hớn hở nói: “Chiêu huynh, cháu gái của huynh vừa mới chào đời, tại hạ không ưng cho ai nhìn cả, muốn Chiêu huynh nhìn thấy đầu tiên!”

Chiêu Dương đón lấy, ngắm nghía đứa bé một lát rồi trả cho Trần Chẩn, vuốt râu nói: “Trông giống Trần huynh lắm, duy có cái mũi cao hơn, nước da trắng hơn mà thôi!”

Trần Chẩn cười tít mắt: “Không chỉ thế thôi đâu, đôi mắt con bé có màu xanh lam, y như mắt mẹ nó!”

“Sau này lớn lên, chắc chắn sẽ là một trang khuynh quốc khuynh thành! Không biết công tử nhà nào có diễm phúc lọt vào mắt xanh của mĩ nhân đây!”

Trần Chẩn cười lớn: “Tại hạ đã tính toán xong xuôi cả rồi, nếu là con trai thì lấy khuê nữ nhà Chiêu huynh, nếu là con gái thì gả cho công tử nhà Chiêu huynh, Chiêu huynh có muốn chối cũng không được.”

Chiêu Dương cũng cười: “Trần huynh đặt tên cho con dâu của tại hạ là gì vậy?”

“Ngọc.”

“Ngọc gì?”

“Đương nhiên là ngọc nhà họ Trần tại hạ!” Trần Chẩn nở nụ cười ranh mãnh, “chứ không phải là ngọc bích của nhà Chiêu huynh đâu!”

Câu nói của Trần Chẩn gợi nhớ tới viên ngọc bích Hoà thị đã bị Trần Chẩn ném xuống đầm Vân Mộng năm xưa, Chiêu Dương nghe mà không khỏi đau xót, đôi mày chau tít lại.

“Than ôi,” nhận ra sắc mặt Chiêu Dương, Trần Chẩn cũng vờ ra vẻ đau khổ, “Chiêu huynh ơi, trong lòng tiểu đệ đau buồn lắm.”

“Ồ?” Chiêu Dương ngẩng lên hỏi, “Trần huynh đau buồn điều gì?”

Trần Chẩn đưa đứa trẻ cho hầu gái bế đi, lắc đầu quầy quậy: “Than ôi, Chẩn đệ khổ sở lắm mới được một đứa con, vậy mà lại tặng cho nhà họ Chiêu mất, hỏi có đáng buồn hay không?”

Chiêu Dương nghe vậy, phá lên cười sảng khoái.

Trần Chẩn nhìn Chiêu Dương chăm chú: “Trông Chiêu huynh phấn khởi thế kia, hẳn không phải chỉ vì có được con dâu đấy chứ?”

“Còn một chuyện hay nữa!” Chiêu Dương hạ giọng, kể vắn tắt một lượt chuyện lưỡi cày và lệnh cấm của Sở Vương cho Trần Chẩn nghe, cuối cùng nói: “Không giấu gì Trần huynh, tại hạ sớm đã thấy chướng tai gai mắt với đám vương thân kia lắm rồi.”

“Cớ sao Chiêu huynh lại thấy chướng tai gai mắt?”

“Tham lam!” Chiêu Dương phẫn hận, “trên đến ngũ kim, dưới đến dầu muối, khắp đất Đại Sở này, phàm là thứ có thể sinh lời, họ đều muốn độc chiếm cả!”

Trần Chẩn phá lên cười, ghé lại gần Chiêu Dương, cất giọng bí hiểm: “Tại hạ có một tin chuẩn xác, không biết Chiêu huynh có muốn nghe không?”

“Trần huynh cứ nói.”

“Trên phố lớn trước vương cung, cách phủ Chiêu huynh không xa, gần đây mới mở một lầu Hương, nghe nói hàng hoá phong phú lắm.”

“Lầu Hương? Hàng hoá?” Chiêu Dương nheo mắt, “hàng gì?”

“Gái đẹp!” Trần Chẩn thấp giọng thì thào, “tại hạ ngang qua một lần, lại sai người tới xem lần nữa, chà, bên trong đúng là hương sắc tràn trề, mĩ nữ liệt quốc muôn hình muôn vẻ, còn có vài thiếu nữ da trắng nữa kia, dù chưa thể sánh bằng chuyết thê năm xưa, song cũng là dị vực phong tình, khiến đàn ông nước Sở nhìn mà mê mẩn.”

Chiêu Dương nghe vậy, chau tít đôi mày: “Trần huynh, hôm nay là ngày đại hỉ, sao lại bàn đến những chuyện nhơ nhớp trong thanh lâu kia chứ?”

“Không phải thanh lâu, mà là hồng lâu, khắp trong ngoài lầu, đâu đâu cũng rực rỡ sắc hồng sắc đỏ. Ngay cả ba chữ trên biển hiệu ngoài cổng cũng màu son rực rỡ, nghe nói là làm từ phấn son trộn với keo, từ xa đã ngửi thấy mùi thơm sực nức!”

Trần Chẩn càng giải thích, Chiêu Dương càng không hiểu, cặp lông mày càng chau tít.

“Ái chà, Chiêu huynh vẫn chưa hiểu ư?” Trần Chẩn sốt ruột, ghé sát bên tai Chiêu Dương mà nói, “mĩ nữ trong lầu Hương, không chỉ tuyệt sắc thôi đâu, mà còn phong tình nhất hạng! Đảm bảo Chiêu huynh chưa bao giờ được thưởng thức những ngón nghề như thế! Nghe nói đều là học từ Thiên Trúc!”

Chiêu Dương nghe vậy thì sượng sùng, đặng hắng liền mấy tiếng, rồi nghiêm mặt nói: “Trần huynh này, sao hôm nay tự dưng lại nói toàn chuyện lạ lùng vậy, thực không giống Trần huynh chút nào. Trần huynh muốn gì thì cứ nói thẳng ra đi!”

Trần Chẩn cười vang: “Chiêu huynh quả là người thẳng thắn!” Rồi lại hạ giọng, “tại hạ không có gì khác, chỉ muốn bàn một mối làm ăn với Chiêu huynh!”

“Làm ăn gì?”

“Cũng dựng một lầu.”

Lầu gì?

“Lầu Nguyên Hanh!”

“Lầu Nguyên Hanh?” Chiêu Dương nheo mắt, ngẫm nghĩ một lát, rồi vỗ trán kêu lên, “tại hạ nhớ ra rồi. Nghe nói năm xưa ở An Ấp nước Ngụy cũng có một Lầu Nguyên Hanh, nghe đồn lầu này rất ma quái, toàn bộ của cải nhà Bạch tướng quốc đều bị nó hút hết, sau đó, Bàng Quyên...” Nói đến đây mới sực nhớ ra Bàng Quyên là kẻ thù của Trần Chẩn, thì im bặt.

Nhưng Trần Chẩn vẫn tươi cười: “Trí nhở của Chiêu huynh quả là hơn người. Chiêu huynh hẳn biết, lầu đó là do ai mở?”

Chiêu Dương lắc đầu.

Trần Chẩn chỉ tay vào mũi mình.

“Ồ?” Chiêu Dương trợn tròn hai mắt.

“Vậy Chiêu huynh có muốn cùng làm không?”

Chiêu Dương có phần lo lắng: “Có tiền thì cũng tốt, song chúng ta không thể kiếm tiền như vậy được! Hơn nữa, theo tại hạ biết, Trần huynh đâu có thiếu tiền!”

“Có ai không muốn nhiều tiền?” Trần Chẩn cười nói, “những vương thân kia, họ có thiếu tiền không? Tiền của họ mười đời tiêu cũng không hết. Họ còn có đất phong, chỉ cần người sống trong đất phong của họ không chết hết, thì họ sẽ chẳng bao giờ thiếu tiền. Nhưng tại sao họ vẫn muốn buôn lưỡi cày? Tại sao vẫn muốn xây lầu Phẩm Hương?”

Vòng vo một hồi, Chiêu Dương giờ mới hiểu Trần Chẩn muốn nói gì, hai mắt trợn tròn.

“Chiêu Dương huynh,” Trần Chẩn gọi thẳng tên huý của ông ta, “huynh có biết, vì sao tại hạ muốn xây Lầu Nguyên Hanh tại An Ấp không?”

Chiêu Dương lắc đầu.

“Chính bởi lầu Miên Hương!” Trần Chẩn gằn mạnh từng tiếng.

“Lầu đánh bạc và lầu xanh thì có liên quan gì đến nhau?”

“Lầu Miên Hương là do người Tần dựng lên, trong lầu có một mĩ nữ tên gọi Thiên Hương, đã hớp hồn thái tử nước Ngụy khi đó!”

Chiêu Dương lại càng thêm sửng sốt.

“Nếu hai con mắt của tại hạ nhìn không nhầm, Thiên Hương đó, lúc này đang ở Sính Đô, ngay trong lầu Phẩm Hương, hơn nữa đã hớp mất hồn vương tử hiện tại, Ngạc Quân Tử Khải! Bước tiếp theo, ả sẽ hớp hồn ai đây, tại hạ thực không dám nghĩ đến!”

Rõ ràng, sự việc vô cùng nghiêm trọng.

“Thiên Hương đến An Ấp, người Tần chiếm được Hà Tây. Giờ Thiên Hương tới Sính Đô, tại hạ có dự cảm rằng, thứ người Tần muốn có, e là không phải chỉ một mảnh đất Thương Ư cỏn con kia đâu.”

Chiêu Dương hít ngược vào một hơi dài, rồi vỗ mạnh xuống mặt án: “Chờ xem tại hạ dẹp bỏ lầu này!”

“Chiêu huynh dẹp bằng cách nào?” Trần Chẩn mỉm cười, lắc đầu, “theo vương pháp Đại Sở, không cấm kỹ viện. Có khách mua hoa thì có kẻ bán hoa, người ta đang làm ăn hợp pháp, Chiêu huynh dựa vào đâu mà đòi dẹp bỏ? Hơn nữa, toà lầu ấy vốn là của công tử Khải, chưa biết chừng vương thúc cũng góp mặt trong đó. Chiêu huynh hãy suy xét cho kỹ, có dám dẹp bỏ mối làm ăn của công tử Khải và vương thúc hay không?”

Chiêu Dương lặng im không nói gì nữa. Trong phòng tĩnh lặng như tờ.

Không biết bao lâu sau, Chiêu Dương mới ngẩng phắt lên, nhìn sang Trần Chẩn: “Hãy làm theo lời Trần huynh. Trần huynh nói xem, lầu này định mở thế nào?”

“Tại hạ đã nhắm được một toà trạch viện, nằm đối diện với lầu Phẩm Hương, nghe quản gia nói, trạch viện đó là của họ Chiêu.”

“Tại hạ sẽ tặng cho Trần huynh!”

“Không phải tặng cho tại hạ!” Trần Chẩn xua tay lia lịa, “mà là chúng ta cùng làm ăn. Chiêu huynh góp của, tức toà trạch viện và đồ đạc trần thiết, còn tại hạ xuất lực, chính là kinh doanh. Nếu làm ăn được, chúng ta lời lãi chia đôi!”

“Trần huynh đã có những người nào rồi?” Chiêu Dương hỏi.

“Chủ cũ của Lầu Nguyên Hanh, tên gọi Lâm Đông, là người tinh khôn giảo quyệt. Bên cạnh hắn còn có một cô ả tên gọi Tiểu Đào Hồng, cũng rất khôn khéo. Có hai người này, chắc chắn sẽ làm ăn suôn sẻ!”

“Họ đang ở đâu?”

“Có lẽ đang ở An Ấp.” Trần Chẩn cười nói, “hẳn là vẫn theo nghề cũ, nhưng làm ăn không thể khá được. Nếu tại hạ mời, chắc chắn họ sẽ tới!”

Chiêu Dương không đắn đo nữa, lập tức cho gọi Hình Tài tới, căn dặn hắn nhất nhất nghe theo Trần Chẩn sai bảo, mở Lầu Nguyên Hanh đối diện với lầu Phẩm Hương.

Tử Khải mang bình gốm vào gặp vương thúc, thấy Xạ Cao Quân và Bành Quân cũng đang ở đó bàn chuyện.

“Vương thúc,” Tử Khải sai thuộc hạ đưa bình gốm vào trong sảnh, rồi cười nói, “cái bình nát mà vương thúc cần, cháu đã lấy về rồi đây.”

Vương thúc vẫy tay, chỉ vào một góc. Tử Khải bảo thuộc hạ đặt cái bình vào đó, rồi tìm chỗ ngồi xuống.

“Vừa rồi sai người đi mời cháu, chắc còn chưa kịp tới phủ, thì cháu đã đến đây rồi!” Vương thúc cười nói.

“Cháu đang định tới đây, nhưng còn chưa ra khỏi cửa, Chiêu Thử đã mang cái bình này tới.”

Xạ Cao Quân nôn nóng hỏi: “Chiêu Thử có nói gì không?”

“Nói rằng đã chuẩn bị được ba vạn rưỡi, có thể chở đi bất cứ lúc nào. Còn thiếu hai vạn rưỡi nữa là đủ số, sau hai tháng nữa có thể gom đủ.” Tử Khải buột miệng khen, “quả là không nhận ra, kẻ này cũng tháo vát thực!”

“Nhưng chú luôn cảm thấy kẻ này không đáng tin cậy.

Người của Chiêu phủ, khó mà yên tâm được.” Bành Quân nhìn sang Tử Khải, “chỉ có cháu hiền...”

“Là ta muốn dùng hắn!” Vương thúc cắt ngang.

“Anh hai?” Bành Quân ngạc nhiên.

“Đất Uyển là của họ Cảnh, nay họ Chiêu muốn chen chân vào, cũng là việc tốt. Chiêu Thử tới đất Uyển, lạ nước lạ cái, các vị giúp hắn một tay, không có gì xấu cả, họ Chiêu hẳn sẽ cảm kích.” Vương thúc giải thích.

“Anh hai, anh là người tốt,” Bành Quân tiếp lời, “nhưng tôi vẫn có một câu, giữ rắn độc bên mình, thì phải đề phòng rắn cắn.”

“Cũng phải.” Vương thúc nhìn sang Tử Khải, “cháu hiền hãy lưu tâm.” Rồi nhìn lướt qua ba người, “đã tới đông đủ rồi, giờ chúng ta hãy bàn chuyện lưỡi cày. Bất kể thế nào, cũng phải có đối sách mới được.” Nhìn sang Bành Quân, “chú Bành, chú thấy thế nào?”

“Theo ý tiểu đệ, chúng ta nên biết đủ là dừng.” Bành Quân đáp, “bao nhiêu năm qua, đại vương rất chăm lo đến gia tộc chúng ta, chúng ta xin điều gì, đại vương chưa bao giờ không đồng ý. Nay đại vương đã ban vương mệnh, chúng ta không nên làm mất mặt đại vương!”

“Chúng ta làm mất mặt đại vương chỗ nào?” Xạ Cao Quân nhìn xoáy vào Bành Quân, giọng đầy giận dữ, “đại vương ban vương mệnh này, có bàn bạc câu nào với chúng ta không? Hai chúng ta thì không nói làm gì, nhưng kiểu gì đại vương cũng phải nể mặt anh hai chứ? Thủ công, khai khoáng, kinh thương, vốn đều do anh hai cai quản, đây chính là chỉ dụ của phụ vương lúc lâm chung, nhưng đại vương đã làm gì vậy?”

Bành Quân không đáp, nhìn sang chỗ khác.

“Hơn nữa,” Xạ Cao Quân nói tiếp, “chuyện nào ra chuyện ấy. Chúng ta lập khế ước bán lưỡi cày cho người Tần, là chuyện trước khi đại vương ban vương mệnh. Giao kèo đã ký, mà ta không thực hiện, thì có được không? Người Trung Nguyên miệt thị chúng ta là man di, là tại vì sao? Chính là bởi chúng ta chưa khai hoá, không giữ chữ tín. Bành huynh thử nghĩ mà xem, người ta đã lập giao kèo với ta, đã giao tiền đặt cọc bằng một phần ba tổng số, đợt hàng đầu tiên đã thanh toán sòng phẳng, đợt hàng thứ hai còn chưa giao, người ta đã trả hết tiền. Như thế gọi là gì? Gọi là tin tưởng. Họ tin tưởng ta đến vậy, còn ta thì sao? Bảo huỷ giao kèo là huỷ ngay được? Vương mệnh đương nhiên quan trọng, song vương mệnh ban bố vào lúc nào? Họ không yên tâm nên mới tìm đến tận chỗ ta để làm ăn, bởi ta là vương thất. Giờ nếu nhận tiền rồi mà huỷ ước, họ sẽ nghĩ thế nào? Sẽ đổ cho ta cấu kết với vương huynh, ăn chặn tiền của họ!”

Xạ Cao Quân tuôn ra một tràng, lời nào nghe cũng hợp tình hợp lý, Bành Quân im bặt, nhìn sang vương thúc.

“Cháu hiền?” Vương thúc quay sang Tử Khải.

“Thưa hai chú,” Tử Khải nhìn Xạ Cao Quân và Bành Quân, khoé miệng nhếch một nụ cười, “chúng ta chớ lôi chuyện khác vào, chỉ tính chuyện kiếm tiền thôi, được chứ?”

“Ồ, cái thằng ranh này!” Xạ Cao Quân bật cười. Mọi người cũng cười theo.

“Thưa các chú,” Tử Khải thu lại nụ cười, vòng tay một lượt, “theo như cháu nghĩ, thương vụ này, không thể dừng lại được! Tính sơ qua, sau khi trừ đi tiền vốn, tiền lời đã gấp ba, chúng ta chẳng qua chỉ là mua đi bán lại mà thôi! Các chú nói đến đại nghĩa, nói đến danh dự, cháu đều không hiểu, cháu chỉ muốn nói vài câu thực tế. Chính là, chúng ta cần có tiền! Chúng ta cần nuôi gia binh, chúng ta cần nuôi gia thần, chúng ta cần nuôi gia quyến, chúng ta cần nuôi thợ thuyền, chúng ta còn cần hưng công xây dựng, du hí mùa xuân, săn bắn mùa thu, cúng tế tông miếu, trên cung phụng đại vương, dưới chăm lo bách quan, cho dù nội trị hay ngoại chiến, chúng ta đều không thể thiếu tiền! Nhưng tiền từ đâu mà có? Có thứ tiền nào đến nhanh hơn thương vụ này không?”

“Cháu hiền,” vương thúc nhìn vào Tử Khải, “không phải vương thúc không muốn kiếm tiền, mà là vương thúc có điều lo lắng. Nếu người Tần không dùng số lưỡi cày kia để cày ruộng, mà biến chúng thành mũi thương thì sao, cháu đã nghĩ tới chưa?”

“Vương thúc!” Tử Khải cuống lên, “chúng ta buôn bán thì chỉ cần biết buôn bán mà thôi. Lưỡi cày bán cho người Tần rồi, thì là của người Tần, họ dùng nó vào việc gì, ta đâu thể can thiệp? Mà ta có cần can thiệp không? Hơn nữa, không có ô kim của ta, thì người Tần sẽ không làm mũi thương bằng ô kim chắc? Người Tần sẽ tìm chỗ khác! Thiên hạ đâu chỉ mỗi đất Uyển có ô kim? Cho dù người Tần không có ô kim, nếu ta nuốt lời thất hứa, thu tiền mà không trả hàng, họ có thể không đánh ta không? Nếu họ mà đánh ta, thì dùng vũ khí gì mà chẳng đánh được? Hãy nói về cuộc chiến Tích Thuỷ lần này, ta bại ở đâu, các chú hẳn cũng đều hiểu rõ. Trước khi ta bán lưỡi cày cho người Tần, họ đã chế tạo binh khí ô kim rồi, là chúng ta không biết đấy thôi! Các chú cũng đều biết, trận chiến Tích Thuỷ, người Tần đâu có muốn đánh, là chúng ta đánh tới tận cửa nhà họ! Là bọn Cảnh Thuý hô hào đòi đánh, hùng hổ động binh, giờ chiến bại, lại đổ vấy cho ô kim, dưới gầm trời này, có chuyện nào hèn mạt đến thế không? Cháu dám nói, phụ vương đã bị mấy kẻ chuyên gây họa ấy làm cho mụ mị mất rồi. Suốt ngày ăn no rửng mỡ, hết đánh bên đông lại đánh bên tây! Tại sao họ cứ muốn đánh mãi thế? Thoạt tiên cháu còn tưởng họ muốn mở rộng biên cương cho đất nước, giờ mới nhận rõ, đều vì mưu lợi riêng tư!” Giận dữ chỉ về phía đông bắc, “chuyện Tương Lăng, chư vị vương thúc đều thấy cả rồi, tám ấp Tương Lăng, ấp nào cũng giàu có ứa mỡ, nhưng toàn bộ số mỡ ấy đều chảy hết vào nhà họ Chiêu, cứ nghĩ tới là cháu đây lại bầm gan tím ruột!”

Lời nói của Tử Khải, tuy bộc tuệch thẳng thừng, song đều là sự thực. Nghĩ cũng phải, trong số những người ở đây, ngoại trừ vương thúc, cũng chỉ có Tử Khải dám nói ra những điều đó.

Xạ Cao Quân cười lớn, gật gù với Tử Khải: “Nghe cháu hiền nói vậy, thật là sảng khoái tâm can! Vậy cháu hiền thử nói xem, giờ nên làm thế nào?”

“Theo cháu nghĩ, phụ vương đã ban vương mệnh, là bề tôi, ta kiểu gì cũng không thể làm trái. Còn làm như thế nào ư? Đường sáng không đi được, thì đi đường tối!” Tử Khải đáp ngay.

“Đường sáng không đi, đi đường tối là sao?” Bành Quân hỏi.

“Chính là không đi qua quan ải!” Tử Khải đem mưu của Xa Vệ Tần thuật lại một lượt, cuối cùng nói, “cháu đã tính kỹ rồi, mỗi lưỡi cày nặng chưa tới ba cân, ba vạn rưỡi chiếc, tổng cộng không quá mười một vạn cân. Đường xa không thể vác nặng, nếu tính bình quân mỗi người ba mươi chiếc, chỉ cần một nghìn gia đinh là chuyển được toàn bộ hàng! Điều thêm năm trăm dũng sĩ hộ tống, sẽ không còn gì lo lắng!”

Quả là một phương kế thực dụng.

Ba vị vương thúc đưa mắt nhìn nhau, sắc mặt đều giãn ra.

“Này Xạ Cao và cả cháu Khải,” vương thúc vuốt râu, nhìn sang Xạ Cao Quân và Tử Khải, “hai người nói rất đúng, buôn bán là buôn bán, không thể thất tín. Đương nhiên, chúng ta cũng có thể viện lý do đại vương ra lệnh cấm mà huỷ giao kèo. Tuy nhiên, dù có huỷ giao kèo, cũng phải được bên kia đồng ý, chứ ta không thể tự huỷ được. Nhưng bởi người Tần đi trước một bước, đã trả trước toàn bộ tiền của đợt hàng thứ hai, nên chuyện này, đúng là không dễ mở miệng. Vương thất Đại Sở ta không thể có chuyện đã hứa mà không làm, nếu không, sau này sao có thể khiến thiên hạ tin theo được nữa? Có điều, vương mệnh cũng không thể trái. Cách cháu hiền vừa nói, cũng có thể thử, làm kế tạm thời. Ta có hai đề nghị, thứ nhất, người chuyển hàng không thể dùng gia đinh, có thể chọn dân binh; thứ hai, ba người cố gắng ít lộ diện hoặc đừng lộ diện, cứ giao hết mọi việc cho Chiêu Thử.”

Lời của vương thúc, chính là quyết định.

Mấy người bàn bạc kỹ lưỡng thêm một hồi nữa, rồi chia nhau đi hành sự.

A black and white text Description automatically generated

CẦU MÂY MƯA, HOÀI VƯƠNG THỎA NGUYỆNCHỈNH VƯƠNG PHÁP, TRIỀU SỞ TIN THẦN

Nói làm là làm, sự việc không thể chậm trễ.

Tối đó, Tử Khải bày yến tiệc mời Chiêu Thử, bồi tiếp còn có Xạ Cao Quân và Bành Quân. Ba người đều hết lời tâng bốc tài cán của Chiêu Thử, còn nói vương thúc rất mến Chiêu Thử, đợi thời cơ chín muồi sẽ tiến cử hắn làm thú doãn quận Uyển thay Cảnh Thuý vân vân. Tử Khải lại nhắc đến cái bình gốm, nói rằng vương thúc chỉ là hiếu kỳ muốn xem tận mắt, đợi Chiêu Thử về Uyển, vương thúc sẽ hoàn trả đàng hoàng, bảo hắn cứ yên tâm nhanh chóng về Uyển, chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi chuyển hàng, chờ ba người họ tới Uyển sẽ bắt đầu hành động.

Chiêu Thử tạ ơn luôn miệng, rồi về nhà từ biệt vợ con, bảo người hầu chuẩn bị xe ngựa, còn mình âm thầm tìm tới phủ Chiêu Dương.

Bẩm báo xong xuôi mọi việc, Chiêu Thử mắt lệ rưng rưng mà nói: “Cháu đi chuyến này, e là dữ nhiều lành ít. Lần này tới từ biệt, thứ nhất muốn nghe lời chú chỉ giáo, thứ hai cũng thỉnh cầu chú, ngộ nhỡ cháu có mệnh hệ gì, vợ con cháu cậy nhờ cả vào chú!” Nói rồi quỳ xuống dập đầu.

“Cháu hiền,” Chiêu Dương đỡ hắn dậy, vuốt chòm râu bạc mà nói, “chuyện cháu vừa nói, chú đã hiểu rồi. Nếu người khác nói với cháu như vậy, chắc chắn chú sẽ ngăn cản. Nhưng là lời của Tử Khải, thì chú không còn gì để nói. Cứ làm theo họ đi, xong việc này, có lẽ cháu sẽ có tiền đồ rộng lớn. Vương thúc không tùy tiện hứa hẹn chuyện gì, nhưng đã hứa hẹn, thường sẽ giữ lời. Họ Cảnh cai trị đất Uyển, không chỉ Chiêu môn chúng ta bất mãn, mà phe vương thúc cũng không ít người oán hận. Không giấu gì cháu, trước kia khi bổ sung chức vị còn bỏ khuyết các nơi, công doãn quận Uyển là chức béo bở, nhà nào cũng muốn tranh, cuối cùng rơi vào tay cháu, phần lớn là nhờ vào vương thúc. Vương thúc cai quản các nghề thủ công, kinh thương, là người thẩm duyệt danh sách cuối cùng. Nếu ông ta không đồng ý, gạch luôn tên đi, thì đâu tới lượt cháu.”

“Có lời này của chú, cháu đã yên tâm rồi!” Chiêu Thử vòng tay nói.

“Có điều, chú cũng phải nhắc cháu một câu!” Chiêu Dương nhìn thẳng vào Chiêu Thử, “việc gì cũng không được làm một mình. Bất luận thế nào, cũng phải kéo Ngạc Quân theo cùng. Bành Quân, Xạ Cao Quân không được, dứt khoát phải kéo Tử Khải vào. Bằng không, việc thuận lợi thì không nói làm gì, ngộ nhỡ xảy ra chuyện, chỉ một mình chú, e là không giúp nổi cháu đâu!”

“Cháu xin kính cẩn nghe lời chú!” Chiêu Thử đứng dậy bái biệt.

Tiễn Chiêu Thử về rồi, Chiêu Dương gọi Chiêu Tuy tới, thuật lại chuyện của Chiêu Thử cho hắn nghe.

“Phải làm sao đây?” Chiêu Tuy nhìn Chiêu Dương hỏi.

“Như thế là cố chấp làm trái, ngươi có thể tiết lộ với Khuất Nguyên”

“Chiêu Thử thì sao?”

“Sẽ không có chuyện gì đâu, cùng lắm chịu khổ chút ít thôi.”

“Nghe Khuất Nguyên nói, đại vương lần này rất kiên quyết, không ai có thể phạm cấm!” Chiêu Tuy lo lắng.

“Ngạc Quân có thể!” Chiêu Dương xua tay.

Trong tuyệt cốc trên núi Vu Hàm, Khuất Bình đi trước, Hoài Vương theo sau, rẽ cây cỏ mà đi.

“Đại vương, hãy nhìn, kia là miếu Vu Hàm!” Khuất Bình leo lên một gò cao, hào hứng reo lên.

Hoài Vương thoăn thoắt trèo lên theo, phóng mắt nhìn ra, chỉ thấy xanh ngắt một màu, cỏ cây như thảm, hương thơm ngan ngát phả vào trước mũi. Nhưng không thấy miếu Vu Hàm đâu cả.

“Khuất ái khanh, miếu Vu Hàm ở chỗ nào?” Hoài Vương đưa mắt nhìn quanh, hỏi.

“Đại vương hãy xem!” Khuất Bình phẩy tay một cái, đằng xa từ từ nhô lên một toà miếu, tráng lệ Ngụy nga. Ngôi miếu cứ vươn lên mãi, đến khi lơ lửng giữa trời, ngự trên mây trắng.

“Đại vương, đại thần Vu Hàm giáng lâm rồi!” Khuất Bình quỳ xuống dập đầu.

Hoài Vương nhìn vào ngôi miếu, bỗng chốc kinh hoảng, hoá ra đó không phải là miếu, mà là đại thần Vu Hàm. Đại thần đứng trên mây trắng, đang lướt lại gần.

“Đại vương chẳng phải là tới để cầu mưa ư? Đại vương hãy cầu khấn đi.” Khuất Bình thúc giục.

“Đại thần Vu Hàm ở trên,” Hoài Vương dập đầu, nói lớn, “đất Sở hạn hán, dân Sở lầm than, nên Hùng Hoè mới tìm tới bảo sơn, thỉnh cầu đại thần hô mây gọi mưa, ban phúc cho dân Sở...” Lại bái lạy.

Chớp mắt, không thấy đại thần Vu Hàm đâu nữa. Hoài Vương kinh ngạc ngẩng đầu nhìn, lại thấy từ xa tiến lại một thiếu nữ trong trang phục lụa trắng.

Thiếu nữ vẫy tay lên không trung, lập tức xuất hiện một đoàn vu nữ, trong tay đều mang nhạc cụ, tấu lên khúc vu nhạc Ba Sơn.

Thiếu nữ áo trắng khoan thai bước lại trước mặt Hoài Vương, chìa tay ra. Hoài Vương nhìn kỹ, chính là tư tế Bạch Vân, bèn đứng bật dậy, nắm chặt lấy tay nàng. Nhìn lại mình, thấy vương phục đã biến đâu mất, thay vào đó là một bộ trang phục kỳ dị cắm đầy cành lá cây. Là trang phục vu dương trong đại lễ cầu mưa.

Trong tiếng vu nhạc réo rắt, thiếu nữ và Hoài Vương cùng nhảy một điệu vũ lạ lùng. Khuất Bình châm vài đống củi bên cạnh, lửa cháy rừng rực, hơi nóng phả hầm hập.

Hoài Vương thấy trong người nóng bừng, dần kéo Bạch Vân lại gần hơn, rồi cuối cùng ôm chặt lấy nàng.

Bạch Vân thình lình mở choàng mắt, nhìn sững vào Hoài Vương, rồi kinh hãi đẩy bật ra. Hoài Vương ngỡ ngàng nhìn nàng, không biết phải nói gì.

“Ông là ai?” Bạch Vân run run hỏi, “vu dương đâu rồi?”

“Ta chính là vu dương đây!” Hoài Vương đáp, “tư tế hãy nhìn trang phục của ta đi!”

“Không phải, ông là vua của Đại Sở!” Bạch Vân lùi lại.

“Ta... ta là vu dương đây!” Hoài Vương cố thuyết phục, “ta tới đây để cầu mưa, xin tư tế hãy ban cho mây mưa!”

“Ông không phải vu dương,” Bạch Vân tiếp tục lùi lại, “Khuất đại nhân đâu rồi? Khuất đại nhân mới là vu dương!”

“Khuất Nguyên không có ở đây, ở đây chỉ có ta, ta chính là vu dương!” Hoài Vương dang rộng hai tay, chạy lao lại.

“Ông nhìn lại mình đi, ông là vua của Đại Sở!” Bạch Vân kêu lên.

Hoài Vương nhìn lại, quả nhiên thấy trên người vẫn mặc vương phục, trên đầu vẫn đội vương miện.

“Bạch Vân,” Hoài Vương bất chấp, tiếp tục bước dấn lên, “quả nhân là vua của Đại Sở, mọi thứ của Đại Sở đều là của quả nhân, tư tế cũng là của quả nhân...”

Bạch Vân phẩy ống tay áo, phấp phới bay lên tựa như tiên nữ. Tiếng gọi của nàng vẫn ngân nga giữa trời: “Khuất đại nhân... ”

Hoài Vương sải rộng bước chân, điên cuồng đuổi theo sau, vừa đuổi vừa gọi: “Bạch Vân, Bạch Vân, Bạch Vân...”

“Đại vương? Đại vương?” Bên tai Hoài Vương chợt vang lên tiếng gọi gấp gáp. Hoài Vương bừng tỉnh, thấy mình đang nằm ôm Trịnh Tụ trên giường. Tấm chăn đã bị đạp rơi xuống đất. Trịnh Tụ bị ôm chặt tới mức gần như nghẹt thở.

Hoài Vương sượng sùng ngồi phắt dậy. Từ xa có tiếng gà gáy vẳng lại, đã thấy ánh sáng lọt vào qua khe cửa sổ.

Hoài Vương dụi mắt, ngẩn ngơ một hồi, mới chầm chậm bước xuống giường. Đám cung nữ chầu chực bên ngoài nghe động, đều tiến vào hầu Hoài Vương rửa mặt, mặc áo.

Xong xuôi, Hoài Vương bước ra hậu hoa viên luyện kiếm như thường lệ. Trịnh Tụ ôm đàn cầm lại dạo một khúc nhạc. Chúng cung nhân đứng xem trợ hứng.

Múa được nửa chừng, đường kiếm của Hoài Vương bỗng chậm lại. Rồi Hoài Vương thu kiếm, ngẩng đầu nhìn trời.

“Đại vương,” Trịnh Tụ dừng đàn, khẽ nói, “khúc này còn chưa múa xong!”

Hoài Vương như không nghe thấy, vẫn nhìn lên trời, chìm vào suy nghĩ. Trịnh Tụ thuận theo ánh mắt của Hoài Vương, cũng nhìn lên bầu trời. Trời cao trong vắt, ngàn dặm không một gợn mây.

“Đã bao lâu không có mưa rồi?” Hoài Vương lẩm bẩm như tự hỏi.

“Hình như đã khá lâu rồi!” Trịnh Tụ khẽ đáp, “hoa cỏ trong vườn héo khô, ngày nào cũng phải tưới nước!”

“Phải,” Hoài Vương vẫn nhìn chăm chú trời, “không một gỢn mây, dường như nắng hạn còn dài!”

“Đại vương, nếu hạn hán kéo dài, chẳng phải sẽ hại đến mùa màng ư?”

“Than ôi, quả nhân cũng đang lo lắng chuyện này.”

“Vậy phải làm sao đây?” Trịnh Tụ tiến lại, ánh mắt khẩn thiết nhìn Hoài Vương.

“Cúng tế thần mưa!”

“Thần thiếp muốn được chia sẻ mối lo với đại vương!” Trịnh Tụ nói, “thần thiếp có giúp được gì chăng?”

“Mưa theo mây đi, mây từ Ba Sơn tới!” Hoài Vương chỉ về phía tây, “sâu trong Ba Sơn có ngọn núi tên gọi Vu Hàm, trên núi có miếu Vu Hàm, trong miếu thờ đại thần Vu Hàm, chủ quản thần mây thần mưa.”

Trịnh Tụ khẽ chau mày: “Vậy phải tới miếu Vu Hàm đó để cúng tế ư?”

Hoài Vương khẽ cười vài tiếng, nói: “Núi Vu Hàm rất xa, lại toàn đỉnh cao vực sâu, nàng không thể tới đó được.”

“Vậy... phải làm sao?”

“Nghe nói tư tế của miếu đó đã tới Sính Đô, nàng hãy đi thỉnh cầu tư tế!”

“Vâng!” Trịnh Tụ cười đáp, “hôm nay thần thiếp sẽ tới thái miếu, thỉnh cầu thái miếu doãn đến tìm tư tế, làm lễ cầu mưa, ban phúc cho lê dân thiên hạ... ”

“Không cần tới thái miếu, tự nàng hãy đi tìm tư tế!” Hoài Vương cắt ngang lời Trịnh Tụ.

Trịnh Tụ ngỡ ngàng, vội hỏi: “Tư tế đó ở đâu? Là nam hay nữ, họ gì tên gì?”

Hoài Vương lườm nàng một cái: “Nếu là nam vu, quả nhân lại để cho nàng đi mời sao?”

Trịnh Tụ bật cười, rồi như chợt nhớ ra, lại hỏi: “Tư tế đó hẳn là họ Bạch, tên Vân?”

“Ồ, sao nàng lại biết?”

“Hồi sớm hình như đại vương mơ thấy nàng ấy, cứ gọi tên nàng ấy mãi, còn... còn ôm thần thiếp rất chặt!”

Hoài Vương luống cuống, vội đưa mắt về phía đám cung nhân đang đứng cách đó không xa, nghiêm mặt hạ giọng trách: “Sao nàng có thể khinh nhờn đại thần Vu Hàm như thế?”

Trịnh Tụ giật mình, hốt hoảng quỳ xuống, khấu đầu: “Thần thiếp biết tội!”

“Được rồi, mau đứng lên.” Hoài Vương xua tay, chậm rãi nói, “đại thần Vu Hàm đã báo mộng với quả nhân, chuyện này không thể chậm trễ, nàng lập tức sắp xếp việc tế lễ, không được phép sơ suất!”

“Thần thiếp lĩnh chỉ!”

Sau khi Hoài Vương lên triều, Trịnh Tụ suy nghĩ mãi vẫn không biết nên làm thế nào, bèn tìm gặp cung doãn thân tín của Hoài Vương dò hỏi. Cung doãn tiết lộ, có thể tìm thượng quan đại nhân để hỏi thăm.

Giữa triều đường và hậu cung được ngăn cách một bức tường cao, đại phu trong triều không được phép thì không thể vào hậu cung. Cung doãn nói vậy, tức đã đồng ý cho nàng triệu vào Ngận Thượng. Trịnh Tụ bèn yên tâm sai người đi mời Ngận Thượng tới.

Được cung lại dẫn đường, Ngận Thượng đi thẳng tới Nam cung của Trịnh Tụ.

Theo quy định của hậu cung, nếu không có mặt Sở Vương, cung phi không được phép gặp riêng quan đại phu; nếu gặp mặt, phải có thêm người khác. Khi Ngận Thượng vào yết kiến, Trịnh Tụ ăn mặc chỉnh tề, ngồi ngay ngắn trên chiếu chủ, mấy cung lại và cung nhân đứng hầu ở bên.

Ngận Thượng bước vào, khấu đầu hô: “Thần Ngận Thượng khấu kiến Nam cung nương nương, cung chúc nương nương vạn phúc!”

“Ngận đại nhân!” Trịnh Tụ trong lòng nôn nóng, đáp lễ xong lập tức hỏi ngay, “nghe nói có một tư tế tới từ núi Vu Hàm, đại nhân có biết không?”

“Hồi bẩm nương nương,” Ngận Thượng bước lại ngồi xuống chiếu khách, vòng tay đáp, “thần có biết.”

“Tốt quá!” Trịnh Tụ hỏi, “nàng ta đang ở đâu?”

“Đang ở nhà Khuất tả đồ.” Ngận Thượng ngạc nhiên, “sao nương nương lại hỏi chuyện này?”

Trịnh Tụ kể lại vắn tắt dụ chỉ của Hoài Vương, rồi nói: “Ngận đại nhân, bản cung xưa nay chưa từng làm việc này, cũng không biết gì về đại thần Vu Hàm, phải làm thế nào, bản cung quả tình không rõ. Người trong triều, bản cung cũng chẳng quen biết ai, đành phải thỉnh giáo Ngận đại nhân đây!”

“Thần nguyện tận lực vì nương nương!” Ngận Thượng vừa nghe đã hiểu ngay, vòng tay đáp, “đại thần Vu Hàm cai quản gió mưa mây sương, thấm nhuần mặt đất. Đại vương lệnh cho nương nương lo liệu việc tế lễ, là hồng phúc của nương nương. Thần có lời chúc mừng nương nương!”

“Nghe thấy lời này của đại nhân, bản cung an tâm rồi! Tế lễ thế nào, vẫn phải nhờ đại nhân lo liệu giúp!” Trịnh Tụ vòng tay nói.

“Tạ ơn nương nương tin tưởng!” Ngận Thượng lại vòng tay cảm tạ, “theo thần biết, tư tế của miếu Vu Hàm tên gọi Bạch Vân, hiện đang tá túc trong phủ tả đồ, khá thân thiết với Khuất đại nhân. Theo ngu ý của thần, nương nương hãy cho mời Khuất đại nhân tới, nhờ Khuất đại nhân thỉnh cầu tư tế, thì việc coi như xong. Còn như tế lễ thế nào, thần cũng không rõ, nương nương cứ thỉnh giáo tư tế là được!”

“Tạ ơn đại nhân!” Trịnh Tụ thở phào một tiếng, cười nói, “quả là việc khó tới đâu, hễ vào tay đại nhân cũng thành dễ dàng.” Rồi quay sang cung lại, “hãy đi truyền dụ của bản cung, có lời mời Khuất tả đồ!”

Là nha phủ quan trọng nhất chỉ sau phủ lệnh doãn, phủ tả đồ tuyệt đối không phải hữu danh vô thực. Ngay từ ngày đầu được bổ nhiệm, Khuất Bình đã chuyển vào trong phủ tả đồ do Hoài Vương ban cho. Đây là một toà phủ trạch năm dãy, nằm rất gần phủ lệnh doãn Chiêu Dương. Ngoài ra, Khuất Bình còn được ban cho ba mươi nô bộc và mười vệ sĩ. Mọi việc trong phủ, đều do một phủ doãn tháo vát quán xuyến.

Ngoài xử lý phần việc của tả đồ, để thực thi vương chỉ, Khuất Bình còn lập mới ba ti chuyên trách, gồm ti Ngũ kim, ti Diêm thiết, ti Tập tra, do Cảnh Lý, Chiêu Tuy, Khuất Dao lần lượt đảm nhiệm chức ti doãn, thượng quan đại phu Ngận Thượng cai quản chung. Bốn người đều là quan lớn, mỗi người đều có phủ trạch riêng, bình thường đều xử lý việc công trong phủ của mình, song hàng ngày vào giờ Mão đều phải tập trung tại phủ tả đồ để nghị sự.

Hôm nay, còn chưa tới giờ Mão, Chiêu Tuy đã đến, mật báo với Khuất Bình đất Uyển có thể xảy ra chuyện buôn lậu lưỡi cày. Khuất Bình hỏi han kỹ lưỡng, rồi cho mời Ngận Thượng, Cảnh Lý, Khuất Dao vào phủ bàn bạc.

Đúng lúc này Ngận Thượng lại đang được triệu vào cung, nên chỉ có Cảnh Lý và Khuất Dao tới.

Sự việc đã cực kỳ cấp bách, bởi ai cũng hiểu, người mà họ phải đối mặt, là vương thân; người mà họ phải bắt, là Ngạc Quân, Bành Quân, Xạ Cao Quân, đều là những nhân vật sừng sỏ không ai dám động tới.

“Chư vị đại nhân,” Khuất Bình giọng vẫn bình thản, “tại hạ nhận được một tin tuyệt mật, bởi hầu hết quan ải đều đã cấm, nên có người quyết đi nước hiểm, muốn vận chuyển phi pháp một lượng lớn ô kim sang Tần!”

Vì muốn bảo vệ Chiêu Tuy, nên Khuất Bình không nói rõ thông tin từ đâu mà có.

Mọi người cùng đưa mắt nhìn nhau.

Khuất Bình trải rộng bản đồ đất Uyển, chỉ vào bản đồ nói tiếp: “Chư vị hãy xem, nếu lén lút vận chuyển một lượng lớn ô kim, đối phương chỉ có thể lựa chọn con đường ngắn nhất, bởi lẽ đi thêm một dặm đường, sẽ tăng thêm một phần mạo hiểm. Từ đất Uyển tới ấp Tích, con đường ngắn nhất là đây!” Cầm bút vạch ra một đường trên bản đồ, từ Uyển Thành qua ấp Niết tới thẳng cửa ải Hắc Thuỷ.

“Trên tuyến đường này,” Khuất Bình khoanh tròn ấp Niết và cửa ải Hắc Thuỷ, “đây là hai chỗ quan trọng nhất. Sau trận chiến Tích Thuỷ, đại vương lệnh cho tả quân Trang Kiều rút về, giao việc phòng ngự hai vùng đất này cho quận Uyển, do Cảnh Khuyết tướng quân cai quản.” Trỏ vào hai ấp, “theo tại hạ biết, thú doãn ấp Niết có lẽ đã bị mua chuộc, do vậy, chúng ta chỉ có thể kiểm soát được một nơi, cửa ải Hắc Thuỷ!” Lại chỉ vào bản đồ, vẽ ra hai đường, “tại hạ đoán rằng, đối phương sẽ ngụy trang, giấu lưỡi cày vào trong những hàng hoá khác, rồi đường đường chính chính chở tới ấp Niết vào ban ngày. Sau đó, nhân lúc đêm tối, sẽ cõng hàng rời khỏi ấp Niết, men theo đường mòn vòng tránh quan ải, vượt qua Hắc Thuỷ, giao cho người Tần.”

Thấy Khuất Bình không những có được tin tình báo, mà ngay cả tuyến đường chuyển hàng cũng nắm rõ như lòng bàn tay, Khuất Dao và Cảnh Lý đều sửng sốt, cũng lấy làm kinh ngạc.

“Ngộ nhỡ đối phương không đi đường này thì sao?” Cảnh Lý chỉ vào bản đồ, “chẳng hạn, đối phương đi như thế này, đóng hàng lên thuyền, theo dòng Dục Thuỷ tới ấp Nhương, lại từ ấp Nhương vận chuyển đường bộ tới đây, rồi lại từ đây băng qua Hắc Thuỷ!”

Khuất Bình gật đầu: “Cảnh đại nhân nói phải, họ cũng có thể đi đường này, song bất luận thế nào, họ cũng phải băng qua sông Hắc Thuỷ!” Vạch một đường dọc theo Hắc Thuỷ, “theo ý tại hạ, hãy sắp xếp người dọc theo sông Hắc Thuỷ, bất kể họ đi đường nào, cũng sẽ bắt sống ngay tại bờ bên kia Hắc Thuỷ!” Nhìn sang Chiêu Tuy, “Chiêu đại nhân, ý đại nhân thế nào?”

Kỳ thực, tất cả những chuyện này đều là do Chiêu Tuy tiết lộ với Khuất Bình. Chiêu Tuy nghe từ Chiêu Dương, Chiêu Dương lại nghe từ Chiêu Thử, còn Chiêu Thử là người bày mưu tính kế với Tử Khải.

Tuy nhiên, Khuất Bình không thể để lộ điều này, bằng không, sẽ hại đến Chiêu gia.

“Tả đồ và Cảnh huynh phân tích rất hợp tình hợp lý.” Chiêu Tuy vòng tay nói, “sắp xếp canh phòng dọc theo Hắc Thuỷ còn có một lợi thế nữa, chính là bắt sống tại trận, họ sẽ không thể chối cãi, bởi vì,” chỉ vào bản đồ, “từ đây tới đây, Hắc Thuỷ là biên giới thuộc lãnh thổ của ta, nếu không vượt qua Hắc Thuỷ, dù có bắt được, họ cũng sẽ cãi bay cãi biến, rằng chỉ di chuyển chỗ cất ô kim mà thôi, Ô kim là của họ, họ muốn chở đến đâu thì chở. Tuy nhiên, nếu đã vượt qua sông Hắc Thuỷ, thì chuyện sẽ khác.”

Chiêu Tuy chỉ ra điểm này, ai nấy đều thán phục.

“Chư vị đại nhân,” thấy mọi người đều đã nhất trí, Khuất Bình vòng tay, “sự việc không thể chậm trễ. Nếu họ đã quyết vận chuyển hàng lậu, ắt sẽ thực hiện nhanh nhất có thể, khiến chúng ta trở tay không kịp. Bởi vậy, tại hạ quyết định, phải hành động ngay lúc này.” Nhìn sang Chiêu Tuy, “Chiêu huynh hãy ở lại trông nom mọi việc trong phủ.” Nhìn sang Cảnh Lý và Khuất Dao, “Cảnh huynh và Dao đệ, phiền hai vị vất vả một chuyến, cùng tại hạ lập tức lên đường tới ải Hắc Thuỷ!”

Mọi người cùng gật đầu.

Muốn điều động Cảnh Khuyết, dứt khoát phải thông qua Cảnh Thuý.

Khuất Bình và Cảnh Lý đánh xe tới phủ Cảnh Thuý, bẩm báo rõ tình hình.

“Động tới quân trấn giữ quan ải, nhất thiết phải thỉnh vương mệnh!” Cảnh Thuý nói.

Khuất Bình lập tức vào cung yết kiến Hoài Vương, tấu rõ một lượt, song không tiết lộ là đám vương thân Tử Khải.

Hoài Vương nổi giận đùng đùng, lập tức xuất hổ phù, xuống chiếu thư, nắm chặt tay Khuất Bình: “Khuất ái khanh, quả nhân đang chờ, chính là việc này!” Lại gỡ bội kiếm trao cho, “hãy mang theo vật này, cứ mạnh dạn mà bắt. Bất kể là ai, nếu dám kháng lệnh, tiền trảm hậu tấu!”

Khuất Bình quỳ xuống, trịnh trọng đỡ lấy vương kiếm, cầm theo hổ phù và vương chỉ, tức tốc đến gặp Cảnh Thuý. Cảnh Thuý đã soạn xong thư, động ấn rồi giao cho Khuất Bình.

Việc binh quý ở thần tốc. Từ lúc nhận được mật báo, đến khi lên xe khởi hành, trước sau chưa quá một canh giờ. Tuy nhiên, đúng lúc Khuất Bình nhảy lên xe định ra roi lao đi, thì một cỗ cung xa hối hả lao tới, từ trên xe nhảy xuống, là cung lại của Nam cung.

“Khuất tả đồ, hãy nhận chỉ dụ!” Cung lại ôm quyền nói với Khuất Bình.

Khuất Bình vòng tay đáp lễ: “Thần Khuất Nguyên cung kính lắng nghe!”

“Nam cung nương nương có dụ, mời Khuất tả đồ lập tức theo xe vào cung, có việc cần bàn!”

Vừa nghe mấy tiếng “Nam cung nương nương” và “có việc cần bàn”, Khuất Bình đã sững sờ. Mọi người cùng đưa mắt nhìn nhau.

“Cảnh huynh,” Khuất Bình tháo vương kiếm, giao hết hổ phù, vương chỉ và mật thư của Cảnh Thuý cho Cảnh Lý, hạ giọng nói, “Cảnh huynh và Khuất Dao cứ đi trước, tại hạ vào cung yết kiến nương nương. Nếu không phải việc lớn, tại hạ sẽ đuổi theo hai vị. Nếu là việc lớn, thì chuyện ở đó, cậy nhờ cả vào hai vị và Cảnh tướng quân, chư vị cứ toàn quyền xử lý. Có vương mệnh, vương kiếm trong tay, chư vị cứ mạnh dạn hành sự. Đại vương đã hạ quyết tâm rồi, sâu mọt của đất nước, không thể không trừ!”

Cảnh Lý nhận lấy, từ biệt Khuất Bình, cùng Khuất Dao lên xe, vội vã đi ngay.

Nhìn theo hai cỗ xe cuốn bụi đi xa, Khuất Bình thở dài, leo lên cung xa, đi tới Nam cung.

Khuất Bình hết sức ngỡ ngàng khi trông thấy người đang ngồi tại chiếu khách trong Nam cung, chính là Ngận Thượng.

“Thần Khuất Nguyên khấu kiến nương nương!” Khuất Bình dập đầu hô.

“Tả đồ đại nhân, mời đứng dậy!” Trịnh Tụ mỉm cười chìa tay mời.

“Tạ ơn nương nương!” Khuất Bình đứng dậy, ngồi xuống chỗ mà Ngận Thượng đã nhường sẵn, “nương nương gọi thần tới, hẳn có việc cần sai bảo?”

“Chuyện là thế này,” Trịnh Tụ cười nói, “gần đây đất Sở hạn hán, nhiều ngày không mưa, gây hại cho mùa màng. Sáng sớm hôm nay, đại thần Vu Hàm báo mộng cho đại vương, đại vương tuân theo thần dụ, lệnh cho bản cung làm lễ tế đại thần Vu Hàm để cầu mưa. Bản cung ở trong thâm cung, kiến văn hạn hẹp, không biết chuyện cúng tế thế nào, cũng không dám trái vương mệnh, đành phải cầu cứu thượng quan đại nhân đây. Qua thượng quan đại nhân, bản cung được biết trên núi Vu Hàm có một vị tư tế, thân quen với Khuất tả đồ, thì lấy làm mừng rỡ. Do hạn hán nghiêm trọng, vương mệnh gấp gáp, bản cung mới sai cung nhân đến mời đại nhân, phiền đại nhân thỉnh cầu tư tế vào cung, trợ giúp bản cung làm lễ tế đại thần Vu Hàm, cầu mưa cho Sở.” Rồi vòng tay, “mong Khuất đại nhân giúp cho!”

Hiển nhiên, đây là một chuyện quá đỗi bất ngờ, nhưng rất hợp tình hợp lý.

Tuy nhiên, Khuất Bình đang có vương mệnh cần thực thi, trong khi Nam cung nương nương và Ngận Thượng đều không hề biết tới vương mệnh đột xuất này. Nói ra vương mệnh để được đi trước, hay là không nói ra, cứ tuân theo mệnh lệnh của nương nương? Khuất Bình lòng dạ rối như tơ vò.

Nếu nói ra, đồng nghĩa với tiết lộ bí mật. Nương nương và Ngận Thượng tuy có thể giữ kín, song hậu cung miệng lưỡi phức tạp, tai vách mạch rừng, việc này lại liên quan tới vương thân, chỉ cần lộ chút phong thanh, hậu quả sẽ khôn lường. Nếu mà không nói, thì buộc phải tuân theo lệnh nương nương, bằng không, chính là phạm tội bất kính. Trong hậu cung, Hoài Vương sủng ái nhất là Nam cung. Bất kính với Nam cung nương nương, ngộ nhỡ khiến nương nương giận dữ, sẽ rất khó lường.

“Thần tuân mệnh!” Nghĩ tới đây, Khuất Bình vòng tay nói.

“Tả đồ đại nhân,” Khuất Bình vừa lui ra tới cửa, đang định quay bước đi, Trịnh Tụ lại nói với theo, “phải mời tư tế tới ngay, bản cung cung kính chờ tại đây!”

Khuất Bình vòng tay nhận lệnh, vội vã về phủ, bảo phủ doãn chuẩn bị hai cỗ xe, đi thẳng tới nhà cỏ ngoại ô.

Khuất Bình nhìn sắc trời, đoán đang là giờ Thân. Nếu đi nhanh, đón được Bạch Vân đưa vào cung, có lẽ đến khi trời tối, vẫn kịp tới Kinh Môn. Nếu đổi ngựa đi ngay trong đêm, có lẽ chập tối hôm sau sẽ tới được cửa ải Hắc Thuỷ.

Nhưng Bạch Vân không ở nhà. Lão bộc nói rằng trời vừa sáng sớm, nàng đã tới miếu Vu Hàm ở Hạ Lý bái đại thần. Khuất Bình biết Hạ Lý ở đâu, bèn hỏi kỹ đường đi tới miếu Vu Hàm, bảo phu xe tức tốc đi ngay.

Rẽ qua vài con phố, xe ngựa tiến vào một khu chợ ở phố Tây Sính Đô. Đây là nơi quần cư của rất nhiều thợ thủ công thuộc tầng lớp hạ lưu, nhân khẩu đông đúc, buôn bán tấp nập, cửa hiệu san sát. Phố càng đi càng hẹp, cuối cùng rẽ vào một con ngõ, xe không đi tiếp được nữa.

Khuất Bình dặn phu xe đứng chờ ngoài ngõ, còn mình hối hả chạy vào, vừa đi vừa hỏi thăm, cuối cùng tìm tới một ngôi miếu nhỏ giống như lão bộc đã tả. Trên cổng miếu đề bốn chữ “Miếu thần Vu Hàm”.

Ngôi miếu đã khá lâu đời, vừa nhìn đã biết là miếu bỏ hoang, đổ nát cũ kỹ, trông thật lạc lõng trong chốn phồn hoa đô hội này. Song biển lại là mới, chữ cũng mới viết, nét chữ thanh thoát, hẳn là thủ bút của Bạch Vân.

Càng khiến Khuất Bình ngạc nhiên hơn nữa, là ở ngoài cổng miếu có vài người đang quỳ. Nhìn vào trang phục, đoán là người Ba, dường như đang chờ đợi gì đó. Quỳ ở cuối cùng là một ông lão ăn xin áo quần rách rưới.

Khuất Bình lấy làm lạ, sải bước tới trước cổng miếu, bước lên bậc thềm, nhìn vào bên trong, lại càng kinh ngạc. Trong sân, người Ba quỳ thành hàng dài, ngoằn ngoèo chữ chi, thẳng tới cửa điện trong miếu. Thoạt nhìn, cứ ngỡ người Ba đang ngồi chật kín trong sân.

Những người Ba này đa phần bẩn thỉu hôi hám, quần áo tả tơi, song đều nghiêm trang thành khẩn, quỳ ngay ngắn dưới đất, quay mặt vào cửa điện. Khuất Bình biết, quanh đây là nơi sinh sống của người Ba, họ bị coi là những kẻ thấp kém nhất, sống dưới tầng đáy của Sính Đô, nên nơi này mới có tên Hạ Lý.

Người Ba ở đây, một số là tù binh chiến tranh không bị giết, một số là người Ba lưu lạc tới Sở vì nhiều lý do, một số khác là lái buôn muối nhiều đời sống ở đất Sính. Phần lớn họ đều có tuyệt kỹ riêng, dựa vào đó để kiếm sống. Người Sở ở Sính Đô cũng dần dần ỷ lại vào họ, nên mới dành riêng cho họ một khu để quần cư. Mới đầu người sống ở Hạ Lý đa phần là người Ba, sau đó những kẻ hạ lưu người Sở vì muốn học kỹ nghệ của người Ba, hoặc bởi nguyên nhân khác, cũng theo nhau chuyển tới đây, khiến Hạ Lý ngày càng thêm phồn tạp.

Cửa điện mở toang, giữa điện bày một pho tượng đất, hẳn là tượng đại thần Vu Hàm. Thần tượng đã được chỉnh trang, tô màu lại, trông sống động như thật.

Trước tượng đất trải một dãy năm manh chiếu tre, trên mỗi chiếu có một người đang nằm, áo xống mở phanh, đều là bệnh nhân đang chờ tư tế châm cứu. Những người Ba còn lại đều trật tự xếp hàng quỳ dưới đất, chờ tới lượt mình. Cảnh tượng trông rất nghiêm trang trật tự.

Người ngồi trong điện, chính là tư tế Bạch Vân.

Bạch Vân mang trang phục Ba vu, tóc buông xoã, đang toàn thần chuyên chú nhìn vào bệnh nhân trước mặt, trong miệng lầm rầm như niệm chú. Cứ niệm một câu, lại châm một cây kim lên mình người bệnh. Trong đám bệnh nhân, người ít thì châm một kim, người nhiều thì châm đến vài chục chiếc, nhìn từ xa chi chít cứ như lông nhím.

Sau lưng Bạch Vân có một chiếc án, trên án bày hai cái sọt đựng đầy ống tre.

Cứ châm cứu xong cho một người bệnh, vào lúc nhổ kim, Bạch Vân lại lấy từ trong sọt ra một ống tre, một tay nắm lấy, một tay vỗ mạnh vào sau ống, trước miệng ống lập tức phun ra một tia giống nước mà không phải nước, tựa như sương mù bắn vào bệnh nhân. Người được phun trúng, ai cũng rùng mình. Sau đó, họ đều hướng về đại thần Vu Hàm khấu đầu bái tạ, sau đó mới quay ra.

Đối diện với bao nhiêu thân thể phơi bày, Bạch Vân không hề tỏ ra hổ thẹn. Rõ ràng, trong mắt nàng, họ vốn không phải đàn ông, mà chỉ là người bệnh.

Nhưng Khuất Bình thì vô cùng chấn động. Những ngày qua, Khuất Bình mải mê với việc nước, nếu không phải Nam hậu nương nương nhờ đến, Khuất Bình gần như đã quên bẵng mất nàng. Thực không thể ngờ, Bạch Vân lại tìm được tới đây, làm ra chuyện bất ngờ nhường này.

Khuất Bình vừa từ trong cung ra, trên người vẫn mang nguyên áo mũ cân đai, đứng giữa đám người mạt hạng áo quần rách rưới, trông chẳng khác nào quái vật. Mọi người xung quanh đều đổ dồn ánh mắt vào Khuất Bình, nhưng không ai nói gì, càng không ai hành lễ.

Khuất Bình vội vã quay trở ra đầu ngõ, nhảy lên trên xe, ra lệnh cho phu xe: “Cởi quần áo của ngươi ra!”

Phu xe trợn mắt nhìn Khuất Bình, ngơ ngác không hiểu chuyện gì.

“Cởi mau!” Khuất Bình vừa nói vừa cởi bỏ quan phục.

Phu xe đành ngơ ngác cởi áo ra. Khuất Bình chẳng nói chẳng rằng, cầm lấy mặc vào luôn, rồi chỉ vào quan phục của mình: “Nếu thấy lạnh thì cứ lấy mà mặc.” Nói đoạn, sải bước quay vào.

Đi đến trước miếu, thấy hàng người đã ngắn lại, mấy kẻ quỳ ngoài cổng đều đã vào trong, lão ăn mày hôi hám rách rưới kia vẫn quỳ ở cuối hàng. Có lẽ tự thẹn vì nhơ nhuốc, lão ngồi cách người phía trước những ba bốn bước.

Khuất Bình tiến lại sau lão ăn mày. Lão vội đứng dậy, lùi ra tít phía sau. Bước chân của lão chệnh choạng, trông yếu ớt lắm. Khuất Bình chỉ vào trước mặt: “Chỗ của ông ở đây cơ mà!”

Ông lão lắc đầu, đưa tay chỉ lên phía trước, rồi quỳ xuống đất, nhắm mắt ngồi yên. Khuất Bình lắc đầu, tiến lại ngồi xuống bên cạnh ông ta.

Giờ Thân trôi qua, đã sang giờ Dậu. Khuất Bình ước tính, nếu cứ theo đà này, phải đến tối mới châm cứu xong cho ngần ấy người bệnh. Rồi lại phải đưa nàng đến Nam cung, đêm nay kiểu gì cũng chưa thể đi được.

Không đi được thì sao đây? Ngày mai đi ư? Ngộ nhỡ vương hậu lại có gì sai bảo, biết phải làm sao?

Khuất Bình dựa vào tường miếu, nhắm mắt suy nghĩ.

Nếu Khuất Bình không đi, họ có làm được không? Vì sao lại không thể? Và vì sao lại phải không yên tâm về họ? Trong trận Tích Thuỷ, Khuất Dao đã là phó tướng dưới trướng Cảnh Thuý, chỉ huy hơn vạn quân; Cảnh Lý vốn là công doãn Đại Sở. Còn nhìn lại mình, chẳng qua chỉ là một văn học thị tùng, cho dù đi sứ hay mưu sự, vẫn chưa một lần nào độc lập hành sự.

Đúng vậy, đất Uyển, Khuất Bình hoàn toàn có thể không tới. Sự việc trọng đại, Chiêu Tuy dứt khoát không dám nói sai. Đám người kia đã bán đi bốn vạn lưỡi cày, còn sáu vạn nữa, họ tuyệt đối không chịu từ bỏ, nhưng ngặt vì có vương mệnh, họ đành phải làm liều. Tất cả mọi chuyện đều nằm trong dự tính của Khuất Bình, Khuất Bình cũng đã sắp xếp ổn thoả mọi cách ứng phó. Cảnh Lý, Khuất Dao đều là người có tài cán có địa vị, hành sự đáng tin cậy, nhất là Cảnh Lý, xử sự lão luyện, chắc chắn không dám coi thường vương mệnh. Hơn nữa, đại vương lệnh cho phủ tả đồ điều tra ô kim, chuyện này ai ai cũng biết. Khuất Bình thân là tả đồ mà lại không ở trong phủ, đối phương ngược lại sẽ sinh nghi. Cho nên lúc này, Khuất Bình ở yên trong phủ, chưa chắc đã không phải chuyện hay.

Nghĩ là vậy, Khuất Bình thấy vững tâm hơn nhiều, không còn nhấp nhổm sốt ruột nữa. Nhìn về phía tây, thấy vầng dương đã sắp lặn. Chốc chốc, lại có người bệnh được chữa xong đi ra khỏi cổng miếu, vừa đi vừa quay đầu bái lạy. Khuất Bình bước vào trong cổng, thấy người còn lại trong sân không tới hai hàng.

Trong sần vẫn tĩnh lặng như tờ. Khuất Bình có thể nghe thấy rõ tiếng rì rầm của Bạch Vân, song lại không hiểu nàng đang ngâm những gì. Khuất Bình thầm nghĩ, chắc chắn mình còn phải thỉnh giáo nàng nhiều.

Khuất Bình đang mải suy nghĩ, đột nhiên bên tai vang lên một tiếng kêu khẽ, rồi một người đổ phịch xuống đất.

Khuất Bình ngoảnh sang, chính là ông lão ăn mày. Ông lão đã bất tỉnh nhân sự.

Khuất Bình chạy tới, cúi xuống đưa tay lại bên mũi ông lão, thấy vẫn còn hơi thở, bèn bế ông lão lên, chạy vội vào trong cổng. Song Khuất Bình không dám chen lên, vẫn lặng lẽ đứng ở cuối hàng. Khuất Bình không dám phá vỡ trật tự thiêng liêng nơi đây.

Hành động đường đột này đã khiến những người có mặt đều quay lại nhìn. Khuất Bình tuy đã đổi trang phục cho phu xe, song ở trong miếu này, vẫn là tươm tất nhất. Mà người ăn bận tươm tất nhất lại đang bế trên tay một lão ăn mày hôi hám rách rưới nhất, khiến mọi người đều lấy làm quái lạ.

Những người bệnh ở đây ai cũng biết lão ăn mày vốn dĩ xếp hàng trước họ, lúc này được người ta bế vào, rõ ràng bệnh tình không hề nhẹ, bèn theo nhau đứng dậy nhường chỗ. Khuất Bình bèn tiến vào trong.

Đúng lúc một người bệnh vừa được chữa trị xong, đứng dậy trở ra. Khuất Bình bèn đặt lão ăn mày xuống chiếu. Bạch Vân lúc này cũng đã nhìn thấy Khuất Bình, thì không khỏi ngỡ ngàng.

Khuất Bình vái Bạch Vân một cái, đoạn chỉ vào ông lão.

Bạch Vân nhắm mắt, hướng vào tượng thần Vu Hàm lầm rầm cầu khấn vài câu, rồi mới bắt mạch, chẩn bệnh cho lão ăn mày. Sau khi đoán được bệnh tình, bắt đầu lấy kim ra châm cứu. Khuất Bình lặng lẽ ngồi bên cạnh nhìn.

Đến khi bệnh nhân cuối cùng rời khỏi cổng miếu, sắc trời đã tối mịt.

Suốt một ngày trời châm cứu luôn tay, cho dù khí huyết sung mãn, Bạch Vân cũng đã thấm mệt, bụng đói mắt hoa. Khuất Bình cùng nàng ra khỏi cổng miếu, đi chừng trăm bước, Bạch Vân chỉ vào một quán cơm, cười nói: “Đại nhân mời tôi ăn cơm nhé!”

Khuất Bình cười, đưa tay vỗ bụng: “Bụng tôi cũng kêu réo rồi đây!”

Hai người liền bước vào quán, gọi chút đồ ăn. Khuất Bình đưa tay lần trong áo, không thấy đồng nào, mới nhớ ra mình đang mặc áo của phu xe, bèn cười ngượng nghịu, đứng dậy nói: “Phiền tư tế đợi cho một lát, áo tôi để trên xe, giờ phải quay ra lấy tiền!”

“Ngồi xuống đi!” Bạch Vân mỉm cười, “bản tư tế là khách quen ở đây, ông chủ sẽ cho khất thôi.”

Khuất Bình lại ngượng ngùng ngồi xuống, đưa mắt nhìn nàng. Hai người cứ thế nhìn nhau một lúc.

“Khuất đại nhân,” Bạch Vân cười hỏi, “đại nhân bận trăm công nghìn việc, sao lại có thời gian tới ngõ vắng này?”

“Để tìm tư tế.” Khuất Bình đáp.

“Ồ?” Bạch Vân hỏi, “mấy hôm nay không tìm, sao tự dưng hôm nay lại tới tìm?”

“Thật hổ thẹn!” Khuất Bình ôm quyền, không giấu được niềm xúc động, “sao tư tế lại tới nơi này?”

“Đại thần Vu Hàm gọi bản tư tế tới!”

“Tư tế... thực tốt!” Giọng Khuất Bình đầy khâm phục.

“Tốt ở chỗ nào?” Bạch Vân nghiêng đâu hỏi.

“Ở đây.” Khuất Bình chỉ vào tim.

“Vậy chỗ này của đại nhân không tốt sao?” Bạch Vân cũng chỉ vào tim Khuất Bình.

“Không tốt.” Khuất Bình đáp khẽ.

“Không tốt thế nào?” Bạch Vân mỉm cười.

“Nó... không thanh tĩnh,” Khuất Bình ấp úng, “có lúc, nó thường nghĩ ngợi linh tinh!”

Bạch Vân bật cười, rồi đứng dậy, chào từ biệt chủ quán, quay sang Khuất Bình: “Hôm nay bản tư tế mệt quá, phải phiền đại nhân đưa về rồi.”

Khuất Bình bèn dẫn Bạch Vân ra ngoài đầu ngõ, đưa tay đỡ nàng lên xe ngựa.

Phu xe đánh xe chạy thẳng tới bên ngoài cung điện, từ từ đỗ lại. Khuất Bình nhảy xuống xe, đỡ Bạch Vân xuống.

Bạch Vân ngạc nhiên nhìn vào cổng cung điện. Từ lúc tới Sính Đô, đây là lần đầu tiên nàng nhìn thấy một nơi hoa lệ đến vậy. Bạch Vân chỉ vào cổng cung hỏi: “Đây là đâu?”

“Vương cung.” Khuất Bình cười đáp.

“Ồ!” Bạch Vân kinh ngạc, “sao đại nhân lại đưa tôi tới đây?”

“Muốn thỉnh cầu tư tế giúp một việc!”

“Việc gì?”

Khuất Bình bèn kể rõ đầu đuôi: “Đất Sở đã hơn một tháng không mưa, đại vương vô cùng lo lắng, đêm qua nằm mơ thấy đại thần Vu Hàm, bèn cầu xin đại thần ban mưa. Đại thần lệnh cho đại vương làm lễ cầu mưa, đại vương giao cho vương hậu nương nương lo liệu. Nương nương hỏi ý thượng quan đại nhân, thượng quan đại nhân có biết chuyện của tư tế, nên đã tiến cử lên nương nương. Nên nương nương muốn mời tư tế vào cung.”

“Thảo nào Khuất đại nhân chiều nay lại rảnh rỗi thế!” Bạch Vân nghe xong, sầm ngay mặt xuống.

Khuất Bình cuống lên: ‘Tại hạ... khẩn cầu tư tế đại nhân!”

“Khuất đại nhân,” Bạch Vân nhìn thẳng vào Khuất Bình, “bản tư tế hỏi đại nhân, thượng quan đại nhân là ai? Tại sao lại biết bản tư tế?”

Khuất Bình vội giải thích: “Hôm ở Kinh Môn, tư tế giúp tại hạ xua mây đuổi mưa, người Sở ai ai cũng truyền tụng kỳ tích này, thượng quan đại nhân đương nhiên là biết.”

“Đã biết, sao hắn không đích thân đến mời bản tư tế?”

“Vì thượng quan đại nhân không quen tư tế đại nhân, chỉ biết tư tế sống trong phủ của tại hạ, nên mới...”

“Sao hắn lại biết bản tư tế sống trong nhà đại nhân?”

“Ồ...” Khuất Bình ngân ngừ một chốc, “hôm tư tế dạy cho tại hạ vũ điệu Vu Hàm, đúng lúc người này tới tìm, đã vô tình bắt gặp.”

Trước mắt Bạch Vân bỗng vụt lướt qua hình ảnh ba người Hoài Vương, Ngận Thượng và cung doãn. Nàng vội hỏi: “Có phải là người mặt vuông cao lớn đi đầu không?”

“Không phải!”

“Vậy người đó là ai?”

“Là...” Khuất Bình đành thú thực, “đương kim Sở Vương.”

Bạch Vân giật nảy mình chết lặng. Người đó là vua nước Sở, trước mắt nàng, chính là cung điện của người đó!

Bạch Vân từ từ khép mắt lại. Ánh mắt hau háu của Hoài Vương hôm đó, nàng vẫn nhớ như in. Dường như nàng đã lờ mờ nhận ra, tại sao người đó lại nảy ra ý định cầu mưa, và cũng hiểu được sự khó xử của Khuất Bình lúc này.

“Khuất đại nhân,” Bạch Vân nhìn xoáy vào Khuất Bình, “đại nhân thực sự muốn đưa bản tư tế vào cung?”

“Phải!” Khuất Bình đã bình tĩnh trở lại, cất giọng thành khẩn, “đúng là tại hạ đang muốn đưa tư tế vào cung!”

“Vì sao?” Bạch Vân trong lòng ớn lạnh.

“Vì đại thần Vu Hàm.” Khuất Bình nhìn về phía trời tây, chậm rãi đáp, “đại thần Vu Hàm là thần của người Ba, người Sở không thừa nhận. Nhưng nước Ba đã mất, đất Ba bị chia cắt làm đôi, phía tây Bồi Lăng là của người Tần; phía đông Bồi Lăng là của người Sở. Người Ba không còn đường nào khác, hoặc là theo Tần, hoặc là theo Sở. Theo tại hạ thấy, người Ba theo Sở sẽ tốt hơn chút ít so với theo Tần, bởi lẽ Ba, Sở tập tục tương tự, quỷ thần giống nhau. Vu Sơn mây phủ, đất Sở mưa rơi, Ba, Sở nối liền một dải. Tuy nhiên, trong vài trăm năm Ba, Sở giao tranh, hai bên đều coi thường lẫn nhau. Ví như đại thần Vu Hàm, ở đất Ba, ngài là thần linh được toàn bộ người Ba tín phụng, nhưng ở đất Sở, tại Sính Đô này, tư tế cũng thấy rồi đấy. Theo tại hạ biết, ngôi miếu kia là miếu duy nhất thờ đại thần, lại hoang phế rất nhiều năm rồi.”

Bạch Vân ngẩng đầu, nhìn chằm chằm vào Khuất Bình. Khuất Bình cũng nhìn thẳng vào nàng: “Hôm nay đại thần Vu Hàm báo mộng với đại vương, ắt có nguyên do. Nương nương cho mời tư tế tới, là để cầu mưa cho người Sở, đây là một cơ duyên hiếm có. Nếu đại vương tin thần Vu Hàm, cung phụng thần Vu Hàm, người Sở còn ai không tin phụng? Người Sở thờ cúng thần của người Ba, thì sẽ tôn trọng người Ba. Người Ba được tôn trọng, ắt sẽ theo về với Sở. Ba, Sở hợp sức, cùng nhau chống Tần, cùng hưởng thái bình!”

Thấy Khuất Bình suy nghĩ sâu xa đến thế, Bạch Vân vô cùng xúc động.

“Trái tim của đại nhân thực tốt!” Bạch Vân lại tươi cười, “nhưng đáng lẽ đại nhân nên nói sớm hơn mới phải, chứ đừng im thin thít dẫn tôi đến tận đây mới nói!”

“Tại hạ sai rồi, xin được tạ lỗi với tư tế đại nhân!” Khuất Bình lùi lại một bước, cúi mình vái một vái thật sâu.

“Tạ lỗi như vậy, chưa đủ!” Bạch Vân nghiêng đầu nhìn Khuất Bình.

“Vậy muốn tại hạ tạ lỗi thế nào?”

“Phải hứa với bản tư tế hai điều!”

“Hai điều gì?”

“Thứ nhất, nước Sở nếu muốn tế thần Vu Hàm, làm lễ cầu mưa, chính đại nhân phải làm vu dương!”

“Tại hạ nhận lời. Còn điều thứ hai?”

Bạch Vân lấy từ trong ngực áo ra nửa miếng ngọc bội: “Đây là mẫu thân để lại cho bản tư tế, nửa còn lại đang ở Sính Đô, đại nhân hãy giúp tôi tìm lại!”

Khuất Bình trịnh trọng gật đầu: “Tại hạ nhận lời!”

Bạch Vân lấy ra một cây lược, chải qua mái tóc dài, lại lấy từ trong giỏ ra một chiếc mũ lông chim đội lên đầu, rồi nhìn sang Khuất Bình: “Đi thôi, hãy dẫn bản tư tế vào cung!”

Chờ họ trong Nam cung, ngoài Trịnh Tụ và Ngận Thượng, còn có Hoài Vương.

Khuất Bình quỳ xuống dập đầu, còn Bạch Vân vẫn đứng nguyên tại chỗ, bởi nàng là tư tế của thần linh, có thể không cần quỳ lạy trước vua Sở.

“Tả đồ đại nhân,” có lẽ đã chờ quá lâu, Trịnh Tụ có vẻ không vui, liếc nhìn Bạch Vân một lát rồi lại di chuyển ánh mắt sang Khuất Bình, “bản cung thì không sao, nhưng đại vương cũng chờ ở đây đúng một canh giờ rồi đấy!”

“Thần biết tội!” Khuất Bình dập đầu nói, “thần trở về nhà cỏ, mới hay tin tư tế đã đến miếu đại thần Vu Hàm cúng tế, bèn vội tìm tới ngay, vừa hay gặp lúc đại thần hiển linh, chữa bệnh trừ tai cho dân Sở. Tư tế đại nhân đây chủ trì nghi thức, nên thần không dám quấy nhiễu, phải chờ tới khi việc chữa trị đã xong, mới truyền thánh dụ của nương nương, mời tư tế vào cung yết kiến, vì thế đã tới chậm!”

“Đại thần Vu Hàm quả là giàu lòng từ mẫn!” Hoài Vương ngửa mặt lên trời bái tạ.

“Chao ôi, nghe đại nhân nói vậy, bản cung đã trách lầm rồi!” Trịnh Tụ vội vòng tay tạ lỗi với hai người, rồi cũng hướng lên không trung bái tạ theo.

Trịnh Tụ lại nhìn Bạch Vân, ánh mắt dừng lại trên chiếc mũ lồng chim lộng lẫy đội trên mái tóc nàng. Đó là chiếc mũ chỉ dành cho vu sư đất Ba.

“Chiếc mũ quả là đẹp mắt!” Trịnh Tụ buột miệng khen. “Tạ ơn nương nương yêu thích!” Bạch Vân đáp.

“Bản cung có thể đội thử không?” Trịnh Tụ tò mò hỏi.

“Không thể!”

“Ồ?” Trịnh Tụ sầm mặt xuống.

“Nương nương, mũ này chỉ có thầy mo đất Ba mới được đội!” Khuất Bình vội giải thích.

Hoài Vương cũng cười vang vài tiếng, nhìn sang Trịnh Tụ: “Ái phi cũng muốn làm thầy mo đất Ba ư?”

Trịnh Tụ cười cười, rồi nói vào việc chính, giải thích chuyện đất Sở hạn hán, Sở vương muốn mời nàng cầu thần ban mưa.

“Đại vương, nương nương có lòng thương xót dân Sở, là phúc của dân Sở! Xin hỏi nương nương, muốn làm lễ cầu mưa ở đâu?”

“Ở thái miếu!” Trịnh Tụ đáp liền.

“Hồi bẩm nương nương,” Khuất Bình vòng tay phân trần, “trời có đạo của trời, việc có lý của việc. Quỷ thần tiên vu, mỗi vị có một chức trách riêng, mỗi vị cai quản một việc riêng. Thái miếu là nơi thờ cúng tiên thánh tiên tổ của Đại Sở, chứ không phải là nơi thờ cúng Vu Hàm! Muốn tế lễ Vu Hàm, dứt khoát phải tới miếu Vu Hàm!”

“Ồ, phải rồi,” Trịnh Tụ nói, “vừa rồi chẳng phải nghe đại nhân nói, tư tế đã tới miếu Vu Hàm? Vậy hãy tới đó tế lễ!”

“Miếu Vu Hàm ở phố Tây đã hoang phế nhiều năm, sau khi Bạch tư tế tới đây, mới bỏ công tu tạo, có thể miễn cưỡng dùng làm nơi cúng tế cho dân chúng, nhưng không thể dùng làm nơi tế lễ cho nhà vua!”

Lời của Khuất Bình, đúng là sự thực; ý của Khuất Bình, cũng đã rõ ràng.

Hoài Vương, Trịnh Tụ đưa mắt nhìn nhau, không biết phải xử trí ra sao. Ngận Thượng đảo mắt vài cái, rồi vòng tay tiếp lời: “Đại vương, thần có tấu!”

“Nói đi!” Hoài Vương nhìn sang.

“Theo như thiển ý của thần,” Ngận Thượng dõng dạc, “tả đồ nói rất đúng. Theo thần biết, ở đất Sính chỉ có một ngôi miếu Vu Hàm duy nhất, chính là nơi tả đồ vừa nhắc tới. Xung quanh miếu là nơi sinh sống của người Ba tại Hạ Lý, rặt là đày tớ thợ thuyền, không thiếu hạng côn đồ lưu manh. Thần đã từng qua đó một lần, quả là đổ nát dơ dáy vô cùng. Thần thỉnh cầu đại vương hãy chọn lấy một cát địa ở Sính Đô, xây một miếu lớn, cúng tế đại thần Vu Hàm, cho tư tế đại nhân đây làm chủ tế, chuyên cầu xin mưa thuận gió hoà cho dân Sở!”

“Chuẩn tấu!” Hoài Vương dõng dạc, “thượng quan đại phu nghe chỉ!”

“Có thần!” Ngận Thượng khẽ giũ ống tay áo đáp.

“Khanh hãy lo liệu việc này, mau chóng chọn cát địa tại Sính Đô, xây đại miếu Vu Hàm!”

“Thần lĩnh chỉ!”

Vào lúc Tử Khải và Chiêu Thử bị quân giữ ải của Cảnh Khuyết bắt ngay tại trận bên bờ tây Hắc Thuỷ vì tội chuyển lậu lưỡi cày, toàn bộ Sính Đô náo loạn.

Bị bắt cùng hai người họ, còn có một nghìn dân phu lưng cõng lưỡi cày, năm trăm giáp binh áp tải cùng ba vạn rưỡi lưỡi cày làm từ sắt ròng.

Nói đúng ra, ba vạn rưỡi lưỡi cày này là của người Tần, bởi họ đã trả toàn bộ khoản tiền mua nhiều gấp bốn lần tiền vốn.

Quá trình truy bắt, hết sức mạo hiểm, hết sức ly kỳ, hết sức căng thẳng, nhưng tất cả đều đã kết thúc. Một nghìn năm trăm người bị giam tại Đan Dương, ba vạn rưỡi lưỡi cày được chở theo sau hai xe tù, được quan tư hình của Đại Sở tức tốc tới nơi, áp giải về Sính Đô.

Sau khi sự việc vỡ lở, người lo sợ nhất chính là các vương thân đã đổ tiền vào thương vụ buôn bán này.

Trước phủ Kỷ Lăng Quân lại chộn rộn hơn hẳn ngày thường. Hai mươi mấy phong quân kẻ trước người sau lũ lượt kéo tới, ngồi lì trong đại sảnh. Bên ngoài cổng phủ, vợ Chiêu Thử cùng ba người con quỳ riết ở đó, lôi kéo thế nào cũng không chịu đứng dậy.

Ngồi ở nhà trong, vương thúc hai mắt nhắm nghiền, thần sắc ủ ê. Ngồi tại chiếu khách, là Xạ Cao Quân và Bành Quân mới từ Uyển Thành chạy thẳng về.

Hiển nhiên, vương thúc đã quá coi thường vị tả đồ trẻ tuổi. Sau khi đám Tử Khải đi rồi, vương thúc hàng ngày đều sai người đến thám thính phủ tả đồ, thấy Khuất Bình vẫn bình chân như vại ở Sính Đô, trong lòng lấy làm yên tâm. Nào ngờ, kẻ kia lại có thể trù hoạch chuyện ngoài ngàn dặm ở ngay trong màn trướng.

Trong phòng khách, chúng vương thân nhao nhao đủ giọng ngông cuồng, thậm chí có người còn đòi khởi binh thanh trừng gian thần bên cạnh nhà vua.

Vương thúc từ từ mở mắt, nhìn sang Xạ Cao Quân, khẽ thở dài một tiếng, giọng có phần trách móc: “Than ôi, đã bảo các người đừng có xuất đầu lộ diện, cứ để một mình

Chiêu Thử đứng ra, thế mà...”

“Anh hai,” Xạ Cao Quân nhăn nhó, “có phải chúng tôi muốn lộ diện đâu, chỉ bởi bất đắc dĩ mà thôi. Chiêu Thử kia hết sức ranh ma, đã đến lúc lên đường rồi, mà dứt khoát không chịu nhúc nhích, đòi phía ta phải có người đi cùng, chí ít là một người. Tôi mới nói để tôi đi, nhưng cháu Khải thương tôi tuổi cao nên đã đi thay. Nghe nói dọc đường, mọi chuyện suôn sẻ, nào ngờ vừa lội qua Hắc Thuỷ, mọi người đang mặc quần áo, thì...” Bực bội vỗ mạnh xuống án.

“Chú Bành,” vương thúc quay sang Bành Quân, “gọi người nhà Chiêu Thử vào đây!”

Bành Quân cho mời vợ con Chiêu Thử vào.

“Chiêu phu nhân hẳn là lo lắng lắm.” Vương thúc ôn tồn nói, “ta là vương thúc, ta đảm bảo với phu nhân, dù trời có sập xuống, Chiêu Thử cũng không có chuyện gì đâu, các ngươi cứ yên tâm về đi.” Rồi quay sang Xạ Cao Quân, “đưa cho Chiêu phu nhân năm mươi hoàn vàng, để tạm lo liệu!”

Xạ Cao Quân lấy ra một túi tiền lớn, đưa cho vợ Chiêu Thử. Mấy mẹ con cùng dập đầu cảm tạ, cầm túi tiền bước ra khỏi cổng.

“Anh hai, tiếp theo phải làm thế nào?” Xạ Cao Quân hỏi.

“Người Tần chưa nhận được hàng, số tiền họ đã trả, phải làm sao đây?” Bành Quân hạ giọng thì thào, “hay là, trả quách họ cho xong?”

“Anh nói xằng gì thế?” Xạ Cao Quân lừ mắt, “hàng hoá, ta đã bỏ tiền ra mua, giờ thì bị tịch thu vào quốc khố cả rồi, giờ nếu trả lại tiền, và cả khoản đặt cọc trước đó nữa, bù cả tiền vốn của ta vào cũng không đủ! Không chỉ thế, chiếu theo khế ước, còn bị phạt gấp đôi đấy.”

“Không giao hàng, không trả tiền, lỡ người Tần tìm tới tận cửa, chú sẽ ra mặt chứ?”

“Ta mà sợ họ ư!” Xạ Cao Quân gầm lên, “cứ nghĩ ta đánh không lại họ sao? Trận chiến Tích Thuỷ, là bởi mọi người chưa hợp sức mà thôi!”

Vương thúc thở hắt ra: “Thôi, hai chú đừng cãi vã nữa!” Hai người liền im bặt.

“Việc của người Tần, cứ từ từ đã. Việc cấp bách trước mắt, là cứu Tử Khải ra.” Vương thúc nhìn sang Xạ Cao Quân, “chú hãy tới nhà thượng quan đại nhân một chuyến, cứu được Tử Khải hay không, trông cậy cả vào chú!”

“Phải phải!” Xạ Cao Quân vỗ trán đánh bốp, “ba trăm hoàn vàng quẳng ra cho hắn, đã đến lúc hữu dụng rồi!” Nói đoạn, đứng dậy đi ngay.

Khi Tử Khải, Chiêu Thử bị áp giải vào hình ngục tại Sính Đô, Hoài Vương nổi trận lôi đình, cùng với Khuất Bình, Ngận Thượng xông thẳng vào nhà ngục, cho giải Tử Khải ra, lệnh cho quan tư bại chuẩn bị sẵn roi hành hình. Quan tư bại không dám đánh, chỉ quỳ mọp dưới đất dập đầu. Hoài Vương giật phắt lấy roi, nhằm thẳng lưng trần của Tử Khải, ra sức quất xuống.

Tử Khải quỳ phục dưới đất, nghiến chặt răng, không dám rên lên một tiếng.

Hoài Vương càng đánh càng giận dữ, vụt một lèo ba mươi roi. Tử Khải trên lưng máu thịt lẫn lộn, không chịu nổi nữa, ngã vật xuống đất. Hoài Vương vẫn không chịu tha, sai ngục tốt đỡ dậy, lại đánh tiếp.

Tử Khải bắt đầu rên rỉ, tiếng rên thều thào như hết hơi.

Ngận Thượng khổ sở khuyên can không được, bèn lột phắt quan phục, lao tới nằm đè lên mình Tử Khải che chắn. Hoài Vương vẫn không dừng tay, một roi quất xuống. Trên lưng Ngận Thượng lập tức hằn một vệt máu đỏ loè.

“Ngận Thượng,” Hoài Vương đùng đùng giận dữ, túm lấy Ngận Thượng lôi ra, “mau tránh ra, quả nhân phải đánh chết nó!”

Roi của Hoài Vương còn chưa vụt xuống, Ngận Thượng đã lăn xả lại, che cho Tử Khải. Bàn tay vung roi của Hoài Vương phải khựng lại giữa chừng.

“Đại vương,” Ngận Thượng nghẹn ngào, “đại vương muốn đánh, xin cứ đánh thần! Còn công tử... vẫn chưa tới tuổi đội mũ kia mà...”

Bàn tay cầm roi run lên bần bật, Hoài Vương thở hồng hộc vì giận dữ, nhìn sang Khuất Bình: “Khuất Nguyên, mau kéo Ngận Thượng ra, quả nhân phải đánh chết tên nghiệt tử này!”

Khuất Bình không nghe, chỉ từ từ quỳ xuống.

Thấy vậy, Hoài Vương lại tự tay lôi phắt Ngận Thượng ra, vung roi đánh tiếp. Ngận Thượng lại lao tới, lần này không phải để che cho Tử Khải, mà ôm chặt lấy chân Hoài Vương, gào lên với Khuất Bình: “Tả đồ, mau nói giúp công tử đi!”

Khuất Bình không nhúc nhích, cũng không lên tiếng, chỉ quỳ Nguyên tại chỗ.

“Người đâu!” Hoài Vương hét gọi. Mấy thị vệ liền chạy vào.

“Lôi Ngận Thượng ra ngoài!” Hoài Vương quát lớn. Thị vệ liền lôi Ngận Thượng đi.

Hoài Vương thở phì phò vài hơi, lại vung roi đánh tiếp. Khuất Bình bất chợt lên tiếng: “Đại vương, thần có tấu!”

“Khanh... nói...” Hoài Vương vẫn thở hổn hển.

“Tội của Ngạc Quân, nên do phủ tư bại, phủ tả đồ, phủ lệnh doãn thẩm tra, định án, rồi mới trình tấu đại vương, trừng phạt theo luật Sở. Đại vương lại làm theo gia pháp thế này, vừa tổn thương long thể, lại bất lợi cho việc thực thi hình luật!”

“Tả đồ nói phải!” Hoài Vương thở dốc, vung tay quẳng roi xuống đất, lại đưa chân đạp Tử Khải một cái, giận dữ quát lên, “hãy chờ chịu hình phạt đi, nghiệt tử!” Rồi quay lưng sầm sập bước ra.

“Mau, mau lên!” Ngận Thượng vội lệnh cho tư bại, “gọi thái y!”

Tư bại vẫy tay, thái y sớm đã chực sẵn trước cửa, hấp tấp bước vào, thoa thuốc trị thương cho Tử Khải.

Khuất Bình đang định đi, thì Ngận Thượng gọi giật lại: “Tả đồ chờ đã!”

Khuất Bình dừng bước.

Ngận Thượng căn dặn quan tư bại chăm sóc cho Ngạc Quân, còn mình theo Khuất Bình ra ngoài. Ngoài cổng hình ngục, vương xa của Hoài Vương đã đi khuất.

“Khuất đại nhân!” Ngận Thượng hạ giọng, sắc mặt trầm trọng, “đại nhân thực sự muốn giết Tử Khải?”

“Không phải tại hạ muốn giết!” Khuất Bình bình thản đáp.

“Đại nhân đã không muốn giết, hà cớ gì lại nói câu đó?” Ngận Thượng nhìn trừng trừng vào Khuất Bình.

Khuất Bình trong lòng giật thột, vội hỏi: “Tại hạ đã nói gì kia?”

“Lời chính miệng đại nhân nói ra, lẽ nào đã quên ngay được?” Ngận Thượng cười nhạt, “hãy thử nghĩ mà xem, quốc pháp cái gì? Luật Sở cái gì? Sớm không nói, muộn không nói, lại nhằm đúng thời khắc này mà nói, chẳng phải là bức bách đại vương sao? Hổ dữ còn không ăn thịt con đấy!”

Khuất Bình nhìn Ngận Thượng trân trân, ánh mắt trở nên lạnh lẽo.

“Nước Sở là của ai?” Ngận Thượng càng nói càng hùng hổ, “là của đại vương. Quốc pháp do ai ban? Do đại vương ban. Tất cả đều là của đại vương, thì cớ sao gia pháp của đại vương lại không thể thay cho quốc pháp? Đại nhân hay lắm, chỉ một câu nói, trận đòn của Tử Khải coi như hoài công! Bao nhiêu tính toán của tại hạ cũng đổ sông đổ bể!”

Khuất Bình giờ mới bừng hiểu, Hoài Vương đánh Tử Khải, lại còn kéo mình tới xem, chính là chủ ý của Ngận Thượng. Vua tôi hai người đã bàn tính từ trước, diễn màn khổ nhục kế này cốt để cho Khuất Bình xem.

“Thượng quan đại nhân,” Khuất Bình vội nhìn sang Ngận Thượng, “không dài dòng nữa, theo ý đại nhân, tại hạ nên làm thế nào?”

“Đại nhân cứ mắt nhắm mắt mở đi thôi, việc này hãy giao cho tại hạ xử lý!” Ngận Thượng dứt khoát.

“Đại vương có dụ chỉ không?”

“Không có!” Ngận Thượng do dự một thoáng, rồi khẽ giọng đáp.

“Nếu đã không có,” Khuất Bình cười nhạt, “thì thượng quan đại phu vừa nói với tả đồ cái gì vậy?” Nói đoạn phẩy tay áo, quay người sải bước đi thẳng.

Nhìn theo Khuất Bình, Ngận Thượng thoạt tiên ngỡ ngàng, hồi lâu sau, chòm râu bỗng rung lên bần bật.

Tại chính điện Nam cung, cung lại dẫn Ngận Thượng bước vào. Hai bên thi lễ xong xuôi, Trịnh Tụ vòng tay nói: “Thượng quan đại nhân, bản cung cho vời đại nhân tới, vì có hai việc lớn. Việc thứ nhất, là về miếu Vu Hàm, việc thứ hai, là về Tử Khải, do hai việc này đều có liên quan tới bản cung.”

“Hồi bẩm nương nương,” Ngận Thượng vòng tay đáp, “dựng miếu Vu Hàm, trước tiên cần tìm địa điểm. Thần và tả đồ đã bàn bạc, theo ý thần, miếu này nên xây ở trong cung, song tả đồ lại muốn xây ở ngoài cung, còn nói đó là ý của tư tế. Thần vừa hay đang định bẩm báo với nương nương việc này, xin nương nương định đoạt!”

“Ngận đại nhân,” Trịnh Tụ chau mày, “bản cung cũng đang muốn hỏi đại nhân việc này.” Chợt hạ thấp giọng, “đại vương dường như rất quan tâm đến tư tế. Bản cung nhìn tư tế đó, thấy cũng thực phong lưu, liệu nàng ta... có quyến rũ đại vương không? Nếu là vậy, mà bản cung lại đưa nàng ta vào cung, há chẳng phải... ”

“Nương nương bất tất phải lo lắng chuyện này.” Ngận Thượng cười nói, “tư tế chỉ cung phụng thần, chứ không cung phụng người. Hơn nữa, miếu này xây ở trong cung, tức là tư tế sẽ ở ngay trước mắt nương nương, nếu nàng ta có ý gì với đại vương, thì chẳng phải nương nương sẽ là người đầu tiên phát giác?”

“Phải rồi,” Trịnh Tụ bừng tỉnh, “nếu đã là vậy, miếu này nên xây ở chỗ nào trong cung?”

“Theo ngu ý của thần, nương nương có thể thỉnh tấu đại vương, dành ra một mảnh đất trống trong hậu hoa viên để xây miếu này.”

“Ồ...” Trịnh Tụ băn khoăn, “xây miếu thần ở ngay trong hậu cung ư?”

“Nương nương có điều không biết,” Ngận Thượng đáp lời, “đại thần Vu Hàm vốn là phụ nữ, chính trực vô tư, nếu có đại thần Vu Hàm trấn ở hậu cung, không những gió thuận mưa hoà, mà trong cung sẽ không còn tà khí!”

Trịnh Tụ nghe vậy thì tươi cười: “Bản cung còn không biết đại thần Vu Hàm là nữ kia đấy. Việc này coi như đã quyết, tối nay bản cung sẽ tâu lại với đại vương. Còn việc thứ hai, theo ý đại nhân, nên làm thế nào? Đại vương đêm qua tới đây, đùng đùng giận dữ, chửi mắng Tử Khải suốt nửa canh giờ, còn nói muốn vằm hắn thành muôn mảnh. Tây cung nương nương hôm nay tìm tới, quỳ trước bản cung mà van xin. Than ôi, Tử Khải thường ngày rất hiểu chuyện, gặp bản cung đều cung kính chào bằng mẹ, còn rất thường tặng quà.”

Ngận Thượng cũng thở dài: “Việc của Tử Khải, thần cũng không biết phải làm thế nào!”

“Ngận đại nhân,” Trịnh Tụ lo lắng, “sao đại nhân lại không biết được?”

“Nương nương, hổ dữ còn không ăn thịt con, đại vương sao có thể nhẫn tâm giết Tử Khải? Nhưng có một người nhất quyết muốn giết Tử Khải, đến đại vương cũng phải bó tay!”

“A?” Trịnh Tụ sửng sốt, “còn có chuyện đại vương cũng phải bó tay ư?”

“Vâng, đại vương có lúc cũng lâm vào cảnh khó xử!”

“Là ai vậy?” Trịnh Tụ nhìn sang Ngận Thượng.

“Tả đồ Khuất Nguyên!”

Trong thảo đường, một ngọn đèn đang cháy, một chậu lan nở rộ.

Đêm đã về khuya. Bạch Vân ngồi lặng trước án, đưa mắt nhìn cột trụ, xà ngang, rui mè của căn nhà, đều được làm bằng gỗ sam. Trên nóc nhà giăng một lớp phên tre, đan bằng tre mảnh, trên nữa lợp một lớp cỏ tranh dày, dùng để che gió chắn mưa, đông ấm hè mát. Vừa nhìn đã biết là tay nghề của người Ba.

Bạch Vân khép mắt lại, bắt đầu suy nghĩ về chuyện của mình. Bỗng có tiếng xe ngựa lộc cộc từ xa lại gần. Bạch Vân dỏng tai nghe, là Khuất Bình trở về.

Khuất Bình về phòng, tắm rửa thay đổi trang phục xong, chậm rãi bước ra sân. Nhìn sang dãy nhà đối diện, thấy phòng Bạch Vân vẫn sáng đèn, bèn tiến lại gõ cửa.

“Vào đi!” Bạch Vân nói vọng ra.

Khuất Bình vừa đẩy cửa bước vào, đã thấy hương thơm phảng phất. Khuất Bình hít vào một hơi, rồi nhìn Bạch Vân cười nói: “Tóc tư tế thơm quá!”

“Đại nhân ngửi nhầm rồi!” Bạch Vân cười, rồi đưa mắt liếc về phía chậu hoa lan.

Khuất Bình cũng cười, nói: “Tại hạ không ngửi nhầm đâu.” Rồi bẻ một cành lan, cài lên mái tóc Bạch Vân, sau đó mới ngồi xuống chỗ đối diện, “muộn thế này rồi, sao tư tế còn chưa ngủ?”

“Đang đợi đại nhân.”

Khuất Bình lộ vẻ áy náy, nói: “Tại hạ biết tư tế đợi gì rồi.” Nói đoạn lấy ra mảnh ngọc bội từ trong ngực áo, đặt lên mặt án, “tại hạ đã cho cung doãn xem, theo lời cung doãn, ngọc bội này là vật trong cung, nửa còn lại, chắc hẳn đang ở trong cung!”

Bạch Vân đặt bàn tay lên ngực, hỏi dồn: “ở đâu?”

Khuất Bình lắc đầu.

“Liệu có phải...” Bạch Vân thấp thỏm, “đang ở chỗ đại vương không?”

“Cung doãn hầu hạ đại vương gần ba mươi năm, nếu đại vương có ngọc bội như thế, thì không thể không biết.”

“Vậy thì... nó ở đâu được?”

“Tư tế chớ lo lắng,” Khuất Bình an ủi, “nương nương đã tấu thỉnh đại vương cho xây miếu thần Vu Hàm ở hậu cung, để tư tế chủ trì. Theo tại hạ đoán, trong vòng ba ngày tới, hẳn tư tế phải vào cung trông nom việc xây dựng, vậy thì sẽ có thời gian để điều tra về lai lịch của ngọc bội này trong cung. Tại hạ cũng sẽ dò hỏi giúp cho tư tế. Nếu ngọc bội này đã là vật trong cung, thì kiểu gì cũng sẽ tìm ra được!”

Bạch Vân ngạc nhiên: “Chẳng phải đại nhân đã nói sẽ xây miếu thần ở ngoài cung ư? Nơi tốt nhất chính là Hạ Lý, ở đó có đông người Ba, chỉ có người Ba mới tin vào đại thần Vu Hàm!”

Khuất Bình thở dài sườn sượt: “Than ôi, vì việc này mà tại hạ và thượng quan đại phu đã tranh cãi mấy ngày trời. Cuối cùng thượng quan đại phu đã thuyết phục được nương nương, nương nương lại thuyết phục được đại vương, đại vương đã ban chỉ, không thể thay đổi.”

Bạch Vân nghe vậy liền khuyên: “Miễn là miếu của đại thần Vu Hàm, xây ở đâu cũng được. Xây ở trong cung, thì ngoài cung sớm muộn cũng sẽ xây. Miếu cũ ở Hạ Lý, người Ba xung quanh cũng muốn tu bổ, đang hợp sức chuẩn bị!”

“Tư tế!” Khuất Bình nhìn thẳng vào Bạch Vân, “nàng là sứ thần do thiên thần phái tới. Nàng đến Sính Đô, là phúc của Sính Đô, cũng là phúc của tại hạ!”

“Đại nhân cũng vậy!” Bạch Vân phì cười.

“Tại hạ thì không!” Khuất Bình thở dài, “tại hạ là bề tôi của nhà vua!”

“Chẳng phải đại nhân đã từng thề trước đại thần Vu Hàm ư?”

“Phải!” Khuất Bình lại thở dài, “tại hạ đã từng thề, rằng tại hạ có một nguyện vọng lớn, đó là mong thần của người Ba cũng phù hộ cho người Sở, cho toàn bộ người trong thiên hạ! Tương tự, cũng mong thần của người Sở, thần của các nơi trong thiên hạ cùng phù hộ cho người Ba!”

Bạch Vân trong lòng xúc động, nhìn Khuất Bình đăm đăm, hồi lâu sau, lại đưa mắt nhìn mảnh ngọc bội, cảm khái mà nói: “Không giấu gì đại nhân, tôi tới Sính Đô, chẳng qua chỉ vì muốn tìm kiếm nửa còn lại của ngọc bội này. Nhưng từ khi gặp được đại nhân, tôi mới thấy được mặt đất bao la hơn, bầu trời cao rộng hơn. Tôi biết, chính đại thần Vu Hàm bảo tôi xuống núi, cho tôi được gặp đại nhân.” Nàng im lặng, ánh mắt nhìn sâu vào trong mắt Khuất Bình.

“Cảm tạ tư tế!” Khuất Bình chầm chậm đứng dậy, “đã muộn rồi, tư tế hãy nghỉ ngơi.”

“Khoan đã!” Bạch Vân vội kêu lên. Khuất Bình lại ngồi xuống.

“Vừa nãy đại nhân trở về, nghe tiếng bước chân, hẳn là có tâm sự trong lòng. Dám hỏi đại nhân, có chuyện gì phiền muộn?”

“Ngạc Quân Tử Khải!”

“Nghe nói, hắn đã phạm vào tội chết!”

“Phải,” Khuất Bình thở dài, “tội đã rõ rành rành, chiếu theo luật Sở, dứt khoát phải chết!”

“Phải chăng đại nhân không muốn để hắn chết?” Bạch Vân hỏi.

“Không phải tại hạ, mà là rất nhiều người khác!”

“Là những ai?”

“Toàn bộ triều thần dính líu tới vụ án này, còn cả Ngận Thượng, vương thúc, còn cả đại vương, vương hậu, và toàn bộ người trong vương cung!”

“Bởi vậy, đại nhân đang rất khó xử?”

Khuất Bình lại thở dài một tiếng: “Ngận Thượng nói phải, hổ dữ còn không ăn thịt con, huống hồ đại vương vốn là người nhân hậu. Tử Khải là con trai lớn nhất của đại vương, thông minh lanh lợi, ăn nói khéo léo, rất được đại vương sủng ái. Năm đó khi lập thái tử, đại vương đã mấy lần nghĩ tới việc lập Tử Khải, song Tử Khải không phải do chính cung vương hậu sinh ra, đại vương lo sinh loạn, nên mới theo quy chế tổ tiên, lập công tử Hoành làm thái tử. Để bù đắp lại, đã phong Tử Khải làm Ngạc Quân, giao cho kim bài để tiện cho việc vận chuyển quân nhu, lương thảo. Nào ngờ Tử Khải lại to gan càn rỡ, ngang nhiên làm trái vương mệnh...”

“Vậy ý của đại nhân thế nào?” Bạch Vân hỏi.

Khuất Bình lại thở dài: “Than ôi, không giết Tử Khải, luật pháp khó nghiêm, Nguy đến xã tắc. Nếu giết Tử Khải, thứ nhất đau lòng đại vương, thứ hai đau lòng quân thân. Pháp luật không phạt số đông, tự cổ chí kim, lý này đều đúng. Nếu giết Tử Khải, thì buộc phải trừng trị toàn bộ những người liên quan tới vụ án, liên luỵ tới rất nhiều gia tộc. Hơn nữa, đại vương mới kế vị vài năm, đang muốn chấn hưng, giờ nếu phải chịu nỗi đau giết con, hẳn sẽ sinh lòng chán nản. Tại hạ thực sự tiến thoái lưỡng nan!”

Bạch Vân ngẫm nghĩ một lát, rồi nói: “Tôi và đại nhân đều là người của thần. Nếu đã tiến thoái lưỡng nan, hà cá gì không thử nghe thần dụ?”

“Thần dụ?” Khuất Bình ngẩn người, lập tức hiểu ra ẩn ý của Bạch Vân, thì gật đầu lia lịa, “phải! Làm phép trước triều đình, nghe tư tế truyền đạt thần dụ của thần Vu Hàm, tuân theo mệnh trời!”

Do là vương tử phạm pháp, vụ án buôn lậu lưỡi cày ở đất Uyển không tuân theo trình tự xử án thông thường, mà được đưa thẳng tới chỗ Sở Vương.

Vài ngày sau, Sở Hoài Vương đưa vụ án này ra nghị luận ngay tại thiên điện cung Sở. Hoài Vương chủ trì, bốn người nghị án là lệnh doãn Chiêu Dương, tả đồ Khuất Bình, đình lý Công Thao, tư bại Cảnh Sửu, tham nghị là các trọng thần triều đình gồm Kỷ Lăng Quân, thái sư, thái tử Hoành, thái miếu doãn, Ngận Thượng, Cảnh Thuý, Chiêu Tuy.

Trên án của Hoài Vương bày một chồng án quyền cao ngất. Người nghị án ngồi ở bên trái, Chiêu Dương ngồi đầu hàng, tiếp đến là Khuất Bình; ở phía đối diện, thái tử Hoành ngồi chiếu đầu, tiếp đến là Kỷ Lăng Quân.

“Chư khanh đại phu,” Hoài Vương đưa mắt nhìn khắp lượt quần thần, rồi chỉ vào chồng án quyển, “vụ án ô kim, đã được các phủ tả đồ, đình lý, tư bại điều tra, chứng cứ rành rành, nhìn mà kinh hãi. Mấy ngày qua, quả nhân ăn không ngon ngủ không yên. Quả nhân thực không ngờ, Đại Sở ta lại đến nông nỗi này! Quả nhân càng không thể ngờ, kẻ cầm đầu chở ô kim cho người Tần lại chính là nghiệt tử của quả nhân! Việc đã xảy ra, xử trí thế nào, định tội ra sao, quả nhân quyết không vị tình riêng, nên giao lại vụ án này cho các khanh nghị án!” Ánh mắt dừng lại ở Chiêu Dương, “lệnh doãn, vụ án này do khanh chủ trì, xử trí ra sao, hẳn có chủ ý?”

“Hồi bẩm đại vương,” Chiêu Dương vòng tay đáp, “vụ án này liên quan tới vương tử, đã vượt khỏi khuôn khổ của hình Điền thông thường, nên do vương thất định đoạt. Lại thêm vụ án này cũng liên quan tới cháu của thần là Chiêu Thử, nên thần không thích hợp để đưa ra ý kiến!”

Chiêu Dương vừa lên tiếng đã thoái thác sạch trơn, hơn nữa lại viện đến mối quan hệ chú cháu để né tránh, quả là khôn khéo.

“Tả đồ, ý khanh thế nào?” Hoài Vương nhìn sang Khuất Bình.

“Hồi bẩm đại vương,” Khuất Bình vòng tay nói, “thần đã đọc kỹ luật của Đại Sở, vương tử phạm pháp, tội như thứ dân. Năm xưa tiên Văn Vương xuất hành, vương tử Cách, vương tử Linh phụng chỉ đi hái rau dại, đòi ông lão đưa giỏ tre để đựng, ông lão không cho, liền nổi giận giết chết, cướp lấy giỏ tre. Tiên Văn Vương y theo Sở pháp, chém đầu hai vương tử, treo ngoài nha môn để tạ tội với thiên hạ. Thời tiên Trang Vương, thái tử phạm pháp Mao môn, tuy chỉ là vô tình, cũng xin xử chết.”

Khuất Bình vừa lên tiếng, đã viện dẫn tiền lệ của các đời tiên vương, ẩn ý là gì, không nói cũng rõ.

Quần thần đưa mắt nhìn nhau. Hoài Vương khép mắt lại. Kỷ Lăng Quân từ từ đưa mắt nhìn sang Ngận Thượng.

“Thần có tấu!” Ngận Thượng vòng tay lên tiếng.

“Cứ nói!” Hoài Vương mở mắt.

“Pháp luật không phạt số đông, lệ xưa đã thế.” Ngận Thượng nói, “tiên Văn Vương trị tội, chỉ có hai con trai mình, còn thái tử phạm luật cấm, cũng chỉ có một mình thái tử. Nay vụ án Ngạc Quân, Chiêu Thử, liên quan tới một nghìn năm trăm người, há có thể phạt?”

“Luật pháp không phạt số đông, song kẻ cầm đâu, ắt phải trừng phạt!” Không để Hoài Vương kịp lên tiếng, Khuất Bình dõng dạc đáp lời, “khi vua ta mới kế thừa ngôi vị, đã hạ chỉ nêu rõ pháp lệnh của tiên vương, phàm là kim loại, hàng da, đều cấm xuất quan. Song Ngạc Quân lại lợi dụng lỗ hổng trong vương mệnh, ngang nhiên bán lưỡi cày cho người Tần. Lưỡi cày được đúc từ ô kim, bán lưỡi cày, chính là bán ô kim. Đại vương nhận ra sơ hở này, đã đặc biệt ban bố vương mệnh, chiếu cáo cả nước. Vương mệnh đã ban, pháp lệnh đã rõ, Ngạc Quân không những coi thường vương mệnh, lại còn liều lĩnh gây án, thách thức lệnh cấm, tội không thể tha!” Dừng lại một lát, lại tiếp, “theo ý vi thân, Ngạc Quân ngông cuồng to gan đến vậy, nếu không trừng trị nghiêm minh, thì pháp không ra pháp, nước không ra nước, hậu quả khó lòng tưởng tượng!”

Khuất Bình lời lời hữu lý, nghiêm trang đĩnh đạc, quần thần đưa mắt nhìn nhau, mãi hồi lâu, vẫn không một ai lên tiếng. Trong điện lặng phắc như tờ.

“Chư khanh còn có ý gì không?” Hoài Vương lại đưa mắt nhìn khắp lượt quần thần.

Mọi ánh mắt đều đổ dồn vào Kỷ Lăng Quân. Ai cũng hiểu rõ, chỉ cần vương thúc lên tiếng, hoặc giả có thể xoay chuyển cục diện.

Tuy nhiên, Kỷ Lăng Quân vẫn hai mắt khép chặt, như thể việc này chẳng hề liên quan tới mình.

“Lệnh doãn,” Hoài Vương lại nhìn sang Chiêu Dương, “tả đồ đã nói như vậy, ý khanh thế nào?”

“Thần đã tâu rõ,” Chiêu Dương vẫn thoái thác, “vụ án này liên quan tới vương thất, nên do đại vương phán quyết!”

Mọi ánh mắt lại đổ dồn vào Hoài Vương.

“Nếu đã là vậy, không cần phải bàn thêm nữa!” Hoài Vương quay sang đình lý Công Thao, “chiếu theo luật Sở, hai tội nhân Mị Khải, Chiêu Thử, nên xử thế nào?”

“Hồi bẩm đại vương,” Công Thao vòng tay nói, “chiếu theo luật Sở, Ngạc Quân Mị Khải, Chiêu Thử ngang nhiên làm trái vương mệnh, bán trộm lượng lớn hàng quốc cấm, nên chém ngang lưng giữa chợ, để cảnh cáo răn đe!”

“Soạn chỉ,” Hoài Vương quay sang quan hàm doãn, giọng khàn đi, “tội nhân Mị Khải khinh thường vương pháp, phạm luật cấm, bán trộm ô kim cho nước địch, tội không thể dung tha, y theo luật Sở, mang xử cực hình, chém ngang lưng giữa chợ, để nêu vương pháp, răn đe cả nước!”

Quần thần thất kinh.

Kỷ Lăng Quần mở mắt, nhìn sang Ngận Thượng.

Ngận Thượng từ từ nhổm dậy, lê gối lại trước án Hoài Vương, dập đầu sát đất, cất giọng thảm thiết: “Đại vương, thần cũng có tội!”

Hoài Vương nhìn sững vào Ngận Thượng: “Khanh có tội gì?”

“Hồi bẩm đại vương,” Ngận Thượng dập đầu, khóc mà nói, “dù rằng chưa viết vào án quyển, song tội thần cũng phải thú thực, phu nhân của tội thần đã giấu giếm tội thần, cũng tham gia buôn lậu lưỡi cày, góp vốn năm mươi hoàn vàng. Đại vương!”

Thấy Ngận Thượng tự động khai ra tội trạng, quần thần ai cũng bàng hoàng sửng sốt. Hoài Vương lại càng kinh ngạc không nói nên lời.

“Đại vương,” Ngận Thượng lại tiếp, “pháp lệnh Đại Sở, thưởng phạt công minh. Ngạc Quân Mị Khải phạm vào lệnh cấm, đã chịu tội thay cho chúng thần, đại vương nếu chỉ xử Ngạc Quân cực hình, tội thần không muốn sống một mình, cũng xin đại vương xử hình cả thần nữa!”

Nghe Ngận Thượng khóc lóc giãi bày, quần thần có mặt đều lấy làm cảm động.

“Đại vương,” Kỷ Lăng Quân đứng dậy đầu tiên, quỳ xuống dập đầu, “vụ án này, thần cũng có liên quan, xin đại vương hãy xử thần tội chết!”

Thấy vương thúc làm vậy, Chiêu Dương cũng đứng dậy, quỳ xuống phía sau. Tiếp đến, toàn bộ đám thái tử, thái sư, thái miếu doãn đều tiến ra quỳ xuống, chỉ còn lại một mình Khuất Bình vẫn ngồi nghiêm trang trên chiếu.

Hoài Vương ngẩn ra một chốc, rồi nhìn sang Khuất Bình: “Tội của nghiệt tử, chiếu theo pháp của tiên vương, đáng chém. Nhưng chúng khanh lại... than ôi. Khuất tả đồ, theo ý của khanh, nên làm thế nào cho phải?”

“Bẩm đại vương,” Khuất Bình dõng dạc, “tội của Ngạc Quần, theo luật thì đáng chém, theo thỉnh cầu của chư đại nhân thì đáng tha. Nên chém hay tha, thần có một cách, hoặc giả có thể phân xử!”

“Tả đồ hãy nói!”

“Nghe theo thần dụ!”

“Xin hỏi tả đồ, thần linh đất Sở rất nhiều, nên nghe theo thần linh nào mới phải?”

“Thần của người Sở được người Sở thờ cúng, có lẽ có lòng thiên vị.” Khuất Bình chậm rãi nói, “theo ý thần, đại vương có thể nghe theo thần của dị tộc, hẳn sẽ công bằng hơn!”

“Thần nào của dị tộc?”

“Đại thần Vu Hàm!”

“Chuẩn tấu!” Hoài Vương nói lớn.

Giữa phố thị phồn hoa ở Sính Đô nước Sở, một đàn tế thần được dựng lên tại bãi đất trống bình thường vẫn được dùng làm nơi hành quyết phạm nhân.

Chính giữa đàn tế bày một pho tượng lớn, là tượng đại thần Vu Hàm. Hai bên đại thần bày bốn tượng thần gió, mây, sấm, mưa, trông đều sống động như thật. Phía trước mỗi tượng thần đều bày năm món sơn hào, hương khói nghi ngút.

Nhiệm chức chủ tế, chính là Bạch Vân, tư tế của miếu Vu Hàm núi Vu Hàm, thay mặt đại thần Vu Hàm xét xử tội phạm. Tội nhân Ngạc Quân Tử Khải, công doãn quận Uyển Chiêu Thử đều đeo gông xiềng, quỳ ở trên bục. Bên cạnh mỗi người đều có đao phủ đứng sẵn, tay lăm lăm đại đao hành hình. Chỉ cần đại thần Vu Hàm truyền dụ xử chém, sẽ hành quyết ngay lập tức.

Tại chỗ dành cho người xem, ngồi dãy đầu tiên là Hoài Vương cùng vương thất, gồm Trịnh Tụ, Tây cung nương nương, thái tử Hoành, Kỷ Lăng Quân, Xạ Cao Quân, Bành Quân; hàng thứ hai là toàn bộ tông thân, gồm Chiêu Dương, Khuất Cái, Cảnh Thuý, Khuất Bình, Ngận Thượng; từ hàng thứ ba là văn võ bá quan. Cuối cùng là bách tính đất Sính tới xem xử án, đa phần là trưởng lão hoặc nhân vật có thế lực ở Sính Đô và các ấp lần cận. Canh gác ngoài cùng là hai nghìn vệ sĩ của vương cung. Tất cả đều trật tự chỉnh tề, nghiêm trang quy củ.

Trước mặt đại thần Vu Hàm, ngoại trừ quân sĩ canh gác, không một ai được phép đứng, kể cả Hoài Vương.

Do là lễ cầu thần dụ, nên người chủ trì xét xử chính là miếu doãn của thái miếu.

Theo lệ thường, thời gian hành hình định vào giờ Ngọ. Miếu doãn bước tới trước mặt Hoài Vương, dõng dạc bẩm báo: “Khởi tấu đại vương, giờ Ngọ đã tới, thần thỉnh cầu khai đàn!”

Hoài Vương truyền chỉ: “Khai đàn!”

Miếu doãn quay lại, ra lệnh khai đàn. Vu nhạc nổi lên réo rắt, hàm doãn lên đài, tuyên đọc chiếu thư của Hoài Vương, kể rõ các tội mà đám Tử Khải đã phạm, rồi thỉnh cầu đại thần Vu Hàm đưa ra lời phán quyết.

Đại vu chúc tiến ra, tuyên đọc vu lệnh của thái miếu, rồi cung kính nghênh thỉnh đại thần Vu Hàm từ miếu Vu Hàm đất Ba tới xử án, để đảm bảo nghiêm minh, trên hợp đạo trời, dưới hợp lý đất, giữa đúng vương pháp.

Tuyên xong, đại vu chúc rạp mình hô lớn: “Cung thỉnh tư tế miếu Vu Hàm núi Vu Hàm đăng đài, truyền thần dụ!”

Vu nhạc lại ngân vang, khói hương nghi ngút giăng kín đài cao. Theo cùng tiếng nhạc, Bạch Vân vẫn một thân áo trắng, uyển chuyển đăng đàn, nhảy múa vũ điệu huyền bí của đất Ba.

Mấy tiếng “tư tế núi Vu Hàm” vừa cất lên, như thể đã hút chặt lấy trái tim vương thúc. Vương thúc ngẩng đầu,

trông lên tư tế, đột nhiên hai mắt mở choàng, nhìn nàng không chớp.

Bạch Vân chìm đắm trong vũ điệu Ba vu, gần như quên mất bản thân. Điệu vũ mỗi lúc một nhanh. Tới đoạn cao trào, Bạch Vân thình lình bất động, quay mặt về tây, hai tay giơ cao, cất giọng réo rắt tuyên thần dụ: “Đại thần Vu Hàm truyền dụ, bói mai rùa, vân rạn chạy ngang, sống; vân rạn không ngang, không sống.”

Theo lời thần dụ, đường vân rạn trên mai rùa chỉ có chạy ngang mới được sống, còn chạy theo tất cả các chiều khác đều chết. Đây chính là sự công bằng nghiêm ngặt của đại thần Vu Hàm. Nghe là vậy, tất cả những người có mặt đều mướt mồ hôi hột, lo lắng cho sinh mệnh của Tử Khải.

Tử Khải, Chiêu Thử sắc mặt trắng bệch. Mẫu thân của Tử Khải, Tây cung nương nương ngã vật xuống ngất lịm.

Vu nhạc lại ngân vang rền rĩ, hai vu nữ lên đài, bày mai rùa và các đồ bốc quẻ, châm cháy chậu than. Tiếng nhạc càng thêm dồn dập, Bạch Vân xoay tít trong điệu vũ, nhịp điệu mỗi lúc một gấp gáp, tư thế mỗi lúc một huyền hoặc, y phục trắng muốt bay tung như mây khói. Đến khi vũ khúc kết thúc, Bạch Vân từ từ quỳ xuống trước tượng thần Vu Hàm, trong miệng rì rầm những câu từ không ai hiểu được.

Trong tiếng khấn nguyện như niệm chú của Bạch Vân, mai rùa nổ tách một tiếng.

Vết rạn chạy ngang!

Image

GẶP VƯƠNG THÚC, BẠCH VÂN THƯƠNG CẢMĐÁNH TRẬN MUỐI, SỞ VƯƠNG VI HÀNH

Hậu cung của Sở Vương là một hoa viên rộng lớn.

Hậu hoa viên được xây trên đầm nước, kênh ngòi chằng chịt, có dòng chảy vào, có dòng chảy ra, rộng tới hơn ba nghìn mẫu, chiếm hai phần ba toàn bộ cung thành. Nước đầm trong vắt thấu đáy, các công trình ở đây được sắp xếp rất đặc biệt, từ trên nhìn xuống, tạo thành một chữ “Mị”(1) ngay ngắn, ngang dọc rõ ràng. Trong một chữ “Mị” ấy, có nước có đất, có cầu có đường, đình đài lầu gác đan xen tinh tế, tỏ rõ tay nghề khéo léo của thợ thuyền nước Sở.

Bên ngoài đầm nước là bức tường bao cao hai trượng tám thước tám, trên đầu tường cắm chi chít những mũi mâu bằng đồng xanh dài hai thước hai, sắc nhọn như gai, khiến cho việc trèo tường nhảy vào dường như là không thể.

Bức tường không thể vượt qua này đã ngăn cách trong cung với ngoài cung. Tất cả vương hậu, phi tần, vương tử, công chúa cùng với hàng nghìn cung nhân, cung dịch đều sống bên trong chữ “Mị” to lớn này.

(1) Mị (■), vốn là họ của tổ tiên quý tộc nước Sở vào thời Xuân Thu.

Hoài Vương dẫn Khuất Bình đi tới góc tây của chữ “Mị”, chỉ vào một vườn hoa: “Khuất ái khanh hãy xem, chỗ này xây miếu thần Vu Hàm được chăng? Quả nhân đã bảo miếu doãn xem qua, theo lời miếu doãn, phong thuỷ chốn này rất tốt.”

“Chỗ này thanh tĩnh, chắc hẳn tư tế sẽ thích!” Khuất Bình đáp.

“Trịnh nương nương đã dẫn tư tế tới xem, nói rằng nàng rất thích!” Hoài Vương cười nói, “nếu khanh cũng đồng ý, quả nhân sẽ lệnh cho thượng quan đại phu thi công. Nghe nói, công sư đã bắt đầu vẽ đồ hình.”

“Chỉ cần đại vương và nương nương chấp thuận, tư tế thấy thích, thần không có ý gì khác.”

“Nếu nói là vậy, chuyện này đã quyết.” Hoài Vương nói rồi nhìn sang Khuất Bình, chuyển sang chuyện khác, “chúng ta hãy bàn tới chính sự.”

“Thần kính cẩn lắng nghe!”

“Sự việc hôm qua, quả nhân phải cảm tạ khanh. Khanh không những cứu sống được Tử Khải, còn khiến cho toàn Đại Sở, khắp trên dưới trong ngoài đều được tận mắt chứng kiến, chấn động vô cùng!” Hoài Vương muôn phần cảm khái, “khanh đã khiến mọi người hiểu được thế nào là vương pháp, và cũng khiến mọi người hiểu được điều gì có thể vượt qua vương pháp!”

“Đại vương anh minh!” Khuất Bình vòng tay đáp lễ, “tuy nhiên, thần không dám nhận công!”

“Ồ?” Hoài Vương ngạc nhiên.

“Người gợi ý cho thần nghe theo thần dụ, chính là tư tế; người xá tội cho Ngạc Quân, chính là đại thần Vu Hàm!”

Hoài Vương nghe vậy thì sững sờ. Vốn dĩ Hoài Vương cho rằng, việc hôm qua, toàn bộ là do Khuất Bình kỳ công sắp xếp, vừa cứu được Tử Khải, lại giữ được vương pháp, còn khiến cho triều đình và dân chúng được tận mắt chứng kiến nghi lễ thiêng liêng, nào ngờ câu trả lời lại là như vậy. Không phải mưu kế, mà là ý trời, thực sự cứu sống Tử Khải, chính là đại thần Vu Hàm.

“Khuất ái khanh,” Hoài Vương không nén nổi tò mò, “đám Tử Khải tham tài vong nghĩa, xúc phạm vương pháp, phạm tội khó dung, cớ sao đại thần Vu Hàm lại muốn xá tội cho chúng?”

“Theo như thần nghĩ, có ba nguyên do,” Khuất Bình giải thích. “Thứ nhất, đại thần Vu Hàm là bậc nhân từ, không chỉ khoan dung độ lượng với người Ba, mà còn khoan dung độ lượng với người Sở và toàn bộ người trong thiên hạ. Vì đại thần chủ quản mây mưa, hô mây gọi mưa là việc liên quan tới bách tính thiên hạ, chứ không phải chỉ là việc của người Ba!”

“Khanh nói phải,” Hoài Vương gật gù, “thứ hai thì sao?” “Tử Khải là cốt nhục của đại vương, vương pháp do đại vương ban bố, triều thần không dám hành pháp, người hành pháp, chỉ có thể là đại vương. Nếu đại vương hành pháp để tàn sát cốt nhục, đại thần Vu Hàm vốn mang lòng nhân từ của người mẹ sẽ thấy bất nhẫn, nên xá tội cho. Còn thứ ba, đại thần Vu Hàm lại không chỉ ân xá cho một mình Tử Khải, mà là ân xá cho nhiều người. Vụ án ô kim không chỉ dính dáng tới vô số quan lại văn võ trong triều, mà còn liên quan tới một nghìn năm trăm dân Uyển vô tội, đều là những kẻ khốn cùng, đi cõng hàng và áp tải cũng là bất đắc dĩ, vì miếng cơm manh áo mà thôi. Chiếu theo luật hiện hành, họ đều bị xử tội! Trước một nghìn năm trăm sinh mạng vô tội, một nghìn năm trăm gia đình khốn khổ, đại thần Vu Hàm không thể không ân xá!”

“Chao ôi, đại thần Vu Hàm thật nhân từ!” Hoài Vương ngẩng lên không trung vái lạy.

“Đại vương,” Khuất Bình nhìn thẳng vào Hoài Vương, “đại thần Vu Hàm là thần của người Ba, người Sở đa phần không tín phụng. Người Sở không tín phụng thần của người Ba, tức là coi thường người Ba. Người Ba không được tôn trọng, tất tâm không phục. Muốn người Ba tâm phục, trước hết cần tôn trọng thần của người Ba. Nước Ba nay tuy không còn, song người Ba vẫn còn. Tần được đất Thục, ta được Ba Sơn, nếu ta không thể khiến người Ba tâm phục, người Ba sẽ theo Tần. Nay thần của người Ba xá tội cho vương tử và các triều thần liên quan tới vụ án, là cơ hội trời cho để người Sở lấy lòng người Ba, bởi đó, thần muốn tấu thỉnh đại vương, cho cả nước thờ phụng đại thần Vu Hàm, đối đãi tử tế với người Ba, để đại thần Vu Hàm cũng ban phúc trừ họa cho dân Sở!”

“Quả nhân chuẩn tấu!” Hoài Vương chỉ về nơi chọn để dựng miếu, “quả nhân xây miếu tại đây, để làm gương mẫu.”

“Miếu này là dành cho vương thất cúng tế,” Khuất Bình lại tâu bày, “thần thỉnh cầu hãy xây thêm miếu thần ở ngoài cung, để cho dân Sở cũng được tế bái. Còn như miếu thần ở Hạ Lý, đại vương có thể cấp tiền cho sửa sang tu bổ, để người Ba có nơi thờ cúng!”

“Chuẩn tấu!”

“Thần tạ ơn đại vương!” Khuất Bình vái dài sát đất.

“Khuất ái khanh,” Hoài Vương xua tay, “việc xây miếu, là chuyện lâu dài, còn việc cấp bách trước mắt, chính là người Tần! Trận chiến Tích Thuỷ, người Tần khí thế ngùn ngụt, đất Thương Ư lại càng khó thu hồi! Thương Ư mất trong tay tiên vương, tiên vương một đời đông phạt Ngô Việt, nam được Kiềm Điền, tây trấn Ba Thục, lúc cuối đời lại để mất mười lăm ấp Thương Ư, vì chuyện này mà dằn vặt, không thể nhắm mắt. Quả nhân đã thề trước tiên vương, nhất quyết phải thu phục Thương Ư.”

“Thần có hai kế, có thể giành lại Thương Ư!”

“Cứ nói!”

“Thứ nhất là trị nội, thứ hai là trị ngoại.” Khuất Bình dõng dạc, “về trị nội, đại vương cần phải quyết chí biến pháp cải chế, khiến cho Đại Sở thay da đổi thịt, bằng không, sẽ không thể chống lại cường Tần. Về trị ngoại, đại vương cần thực thi sách lược tung thân của Tô Tần, kết minh với năm nước, nhất là nước Tề.”

“Việc có thứ tự, theo ái khanh, trị nội nên bắt đầu từ đâu?”

“Vẫn là bắt đầu từ ô kim.” Khuất Bình đáp, “đại thần Vu Hàm tuy đã miễn tội cho Ngạc Quân, song khả năng buôn lậu ô kim vẫn còn, bởi người Tần chưa có được ô kim đất Uyển sẽ không cam tâm!”

“Khanh hãy soạn một chiếu mệnh!” Hoài Vương trầm ngâm chốc lát rồi hạ lệnh, “lỗi có thể phạm lần một, lần hai, không thể tới lần ba. Nếu còn có chuyện chở lậu ô kim sang Tần, quả nhân sẽ không cầu thần dụ nữa, lập tức tru di!”

“Thần tuân lệnh.”

Hoài Vương phấn chấn cười vang: “Không giấu ái khanh, ô kim đã có, quả nhân cũng đã lệnh cho binh xưởng tìm tòi kỹ thuật rèn ô kim, đợi ba năm nữa, khi toàn bộ binh lính của ta có đủ binh khí ô kim, quả nhân lại chinh phạt Thương Ư, quyết chiến với Tần!”

“Hồng Nguyện của đại vương tuy tốt đẹp, song đã bỏ qua mất một chuyện!”

“Chuyện gì?”

“Vẫn là ô kim.” Khuất Bình đáp, “theo như thần biết, đất Uyển có sáu mỏ quặng, lò rèn lớn nhỏ không dưới ba mươi, song trong đó lại không một mỏ nào, không một lò nào nằm trong tay đại vương cả!”

Hoài Vương sững sờ.

“Thần đã điều tra rõ,” Khuất Bình nói tiếp, “toàn bộ mỏ quặng đều nằm trong tay phong quân, thế gia, là tài sản riêng của họ. Đã là tài sản riêng, đại vương không có quyền can thiệp, chỉ có thể đặt mua của họ. Thần còn chưa tính xem để trang bị cho ba quân cần bao nhiêu ô kim, nhưng chắc chắn phải bỏ ra một khoản tiền rất lớn!”

Đúng vậy, Hoài Vương chưa từng nghĩ tới chuyện này.

“Dám hỏi đại vương, một khoản tiền lớn đến vậy, lấy ở đâu ra?” Khuất Bình hỏi thẳng.

“Ái khanh hẳn có đối sách?” Hồi lâu sau, Hoài Vương mới lên tiếng.

“Đây chính là kế sách trị nội của thần.” Khuất Bình đáp, “thần thỉnh cầu đại vương hãy học theo tiên quân Điệu Vương, sửa đổi pháp chế của các đời vua trước, thu hồi độc quyền về các mặt hàng ô kim, đồng, vàng, bạc, ngọc ngà từ trong tay phong quân, thế gia, tước bỏ các đặc quyền vượt trên pháp luật, giống như kim bài. Trong các ngành kinh thương, khai khoáng, ngư nghiệp, săn bắt, khẩn hoang, cho phép dân chúng có quyền sản xuất, buôn bán tự do, công bằng, tất cả đều nằm dưới quyền quản chế của đại vương. Làm được như vậy, với đất Sở rộng lớn, sản vật phong phú, dân chúng cần cù, chẳng bao lâu nữa, dân sẽ giàu, của sẽ nhiều, kho lẫm sẽ đầy ắp, nước ắt đại trị!”

Hoài Vương ngẩng đầu nhìn trời, rất lâu sau, dường như quên bẵng mất Khuất Bình vẫn đứng bên cạnh, men theo đầm nước sải bước mà đi.

Khuất Bình cũng đi theo sau.

Hoài Vương đi được một đoạn, chợt dừng lại, ngoảnh nhìn Khuất Bình: “Kế sách trị ngoại của khanh, chính là đôn đốc tung thân, kết Tề chế Tần, có thể làm được. Khanh hãy tiến cử người thích hợp, đi sứ sang Tề! Còn nữa, chuyển lời đến Tô Tử, quả nhân muốn mời Tô Tử tới Sính Đô làm khách!”

“Thần lĩnh chỉ!”

Vụ án ô kim lần này, Tử Khải do ngựa non háu đá mà chuốc họa vào thân. Trận đòn của Hoài Vương chỉ là bị thương ngoài da, bôi chút thuốc, nghiến răng chịu đựng rồi cũng qua đi. Khủng khiếp nhất là lúc chờ thần dụ trước ánh nhìn của đông đảo văn võ bá quan và dân chúng, sự việc hôm đó đã khiến Tử Khải tổn thương nặng nề.

Do tấm lưng nát bấy, Tử Khải sau khi được khiêng về phủ, phải nằm bẹp trên giường mất mấy ngày dưỡng bệnh.

Ngoại thương đã đỡ, song nội thương lại nặng thêm. Cứ tối đến, hễ vừa chợp mắt, Tử Khải lại gặp ác mộng, mơ thấy bị người ta truy sát, chém đứt ngang lưng, giật mình tỉnh giấc, toàn thân vã mồ hôi lạnh, vết thương ở lưng lại càng thêm đau đớn.

Trong thời gian dưỡng bệnh, trước phủ Ngạc Quân ngựa xe nườm nượp, hầu như hôm nào cũng có bạn bè, thân thích kéo tới thăm hỏi. Duy chỉ có một người không tới, là vương thúc.

Tới ngày thứ mười, vương thúc mới tới, đi cùng có Xạ Cao Quân và Bành Quân.

“Vương thúc,” Tử Khải trượt xuống khỏi giường, vòng tay vái chào, “cháu bất hiếu không thể hành đại lễ!”

Vương thúc vén vạt áo hắn lên, nhìn tấm lưng bê bết những thuốc, nước mắt ứa ra.

“Vương thúc, không sao đâu, chỉ là vết thương ngoài da, thái y nói vài ngày nữa sẽ đóng vẩy. Đóng vẩy là khỏi thôi.” Tử Khải an ủi ngược lại vương thúc.

“Cháu hiền,” vương thúc gạt lệ, “vốn dĩ mấy hôm trước đã muốn tới thăm cháu, nhưng chú không đi, chỉ bởi không nỡ nhìn vết thương của cháu. Nghe Xạ Cao nói, hôm nay cháu đã đỡ nhiều, nên chú mới dám tới. Cũng vừa hay có chút việc, chú cháu ta hãy cùng bàn bạc.”

“Tạ ơn vương thúc!” Tử Khải vái tạ, “hãy tới phòng khách cùng bàn!”

Mọi người trở ra phòng khách, ba vị vương thúc ngồi trên chiếu, Tử Khải do mông cũng bị thương, không ngồi được, đành phải quỳ thẳng tại đó.

Xạ Cao Quân thấy vậy thì nhịn không nổi, vỗ mạnh xuống án: “Cháu hiền, không thể để cháu phải chịu khổ vô ích thế được!” Quay sang vương thúc, “anh hai, chỉ cần anh nói một câu, tôi lập tức sai người giết chết gã khốn kia, đòi lại công bằng cho cháu Khải.”

“Không cần chú Xạ Cao phải động thủ!” Tử Khải giọng đầy uất hận, “chờ vết thương lành lại, cháu sẽ đích thân kết liễu tên khốn đó!”

“Cháu muốn kết liễu tên khốn nào?” Vương thúc hỏi.

“Tả đồ Khuất Nguyên!”

“Than ôi,” vương thúc thở dài, “này cháu hiền, Xạ Cao, hai người mà đi giết Khuất Nguyên vào lúc này, thì Khuất Nguyên sẽ thành ma chết oan đấy!”

“Vương thúc?” Tử Khải trợn mắt.

Vương thúc chậm rãi giải thích: “Nếu không có Khuất Nguyên, e là cháu hiền sớm đã bị xử chém ngang lưng giữa chợ theo đúng vương pháp Đại Sở mất rồi!”

Cả ba người đều sửng sốt.

“Mọi người hãy nghĩ xem,” vương thúc đưa mắt nhìn khắp lượt, “chuyện lần này là chuyện lớn, một bên là pháp, một bên là tình, nếu mọi người là đại vương, sẽ làm thế nào? Ngận Thượng đưa ra một ý tồi, để đại vương thực thi gia pháp, tức là đánh đòn cháu đây, rồi kéo Khuất Nguyên tới xem. Ngận Thượng ngỡ rằng Khuất Nguyên là văn nhân, tâm địa yếu đuối, sẽ dễ mềm lòng, nếu như Khuất Nguyên đồng ý, sự việc có thể cho qua. Nào ngờ Khuất Nguyên lại không đồng ý. Vì sao lại không đồng ý? Bởi hắn không thể đồng ý. Cháu hiền đã phạm quốc pháp chứ không phải gia pháp. Sự việc ầm ĩ, khắp thiên hạ đều biết, sao có thể hành gia pháp được? Nếu một trận đòn roi mà qua chuyện, về sau sẽ thế nào đây? Cả thiên hạ đều đang dõi mắt nhìn vào. Trong cung đầu phải chỉ có một vương tử, còn những vương tử khác, những vương thân ngoại thích khác, ai mà chẳng có quan hệ máu mủ ruột rà với đại vương? Có tiền lệ này, liệu có còn ai chịu tuân theo vương mệnh? Có còn ai chịu tin phục vương pháp? Họ đều sẽ coi trời bằng vung, bởi đã có tiền lệ, cùng lắm là ăn một trận đòn roi của đại vương mà thôi! Nếu như các vương tử, các vương thân ai ai cũng coi trời bằng vung, liệu tông thất có phục không? Bá quan có phục không? Không ai tin phục, bảo đại vương về sau phải làm thế nào để hiệu lệnh Đại Sở? Chuyện mà kéo dài, nước Sở ắt sẽ tan rã!”

Vương thúc phân tích một hồi, ba người không ai không tâm phục khẩu phục.

“Chà chà!” Vương thúc tấm tắc, “suy đi nghĩ lại, thần dụ quả là mưu kế vạn toàn, trên có thể bảo toàn vương pháp, dưới có thể giữ vững tình thân. Công khai tế trời, thị chúng tại chỗ, trên tới vương thân quý tộc, dưới tới bách tính lê dân, ai ai cũng nhìn thấy rõ, ai ai cũng khâm phục!”

“Ý vương thúc là,” Tử Khải khẽ hỏi, “vết nứt ngang kia... là do họ cố ý tạo ra?”

“Chú đã xem rồi, mai rùa là của thái miếu, nghi lễ là do miếu doãn chủ trì, lửa than là do đại vu chúc đốt lên, sao có thể cố ý được? Thần thái miếu là thần của người Sở, thần Vu Hàm là thần của người Ba, vốn không được thờ cùng một chỗ!”

“Vậy thì...” Tử Khải băn khoăn, “việc này có liên quan gì tới Khuất Nguyên?”

“Hôm đó, khi nghị tội,” vương thúc kể rõ ngọn nguồn, “chính Khuất Nguyên đã tấu thỉnh xin thần dụ của Ba thần, mà tư tế của Ba thần lại đang ở ngay trong phủ của hắn!”

“Ý vương thúc là, vết nứt ngang kia là do tư tế làm phép cầu thần để tạo ra?”

“Phải!” Vương thúc giọng đầy cảm khái, “để cứu mạng cháu, tư tế kia đã bất chấp tất cả!”

Tử Khải đưa tay bưng mặt, hồi lâu sau mới ngẩng lên: “Vương thúc, cháu nên cảm tạ thế nào?”

“Trong lúc chờ bình phục, cháu hãy gửi thiếp mời tới Khuất Nguyên, thứ nhất cảm tạ ơn cứu mạng, thứ hai thay mặt vương thúc mời hắn và tư tế tới chơi đài Chương Hoa. Lâu lắm rồi chú chưa được cùng ai luận thơ đối đáp!” Vương thúc gợi ý.

“Cháu Khải tuân mệnh!”

“Còn một việc nữa,” vương thúc lại nhìn khắp ba người, “cháu hiền đã an toàn tính mạng, giờ đã tới lúc bàn chuyện của người Tần.” Nhìn sang Xạ Cao Quân, “Xạ Cao, chú hãy đi gặp tên họ Xa kia, thăm dò ý tứ hắn xem sao!”

“Anh hai,” Xạ Cao Quân đáp lời, “thăm dò là thăm dò, nhưng chúng ta vẫn cần vạch sẵn kế sách chứ?”

“Mọi người thử nói xem, nên có kế sách ra sao?”

“Tôi vẫn giữ nguyên một câu đó,” Bành Quân đáp, “trả lại tiền!”

“Nhưng trả thế nào đây?” Xạ Cao Quân nhăn nhó, “tiền thì người Tần đã trả, chỗ cần chia đều đã chia rồi, còn lại chẳng được bao nhiêu. Tiền đã chia cho mọi người, giờ thu hồi lại, liệu họ có chịu không? Chưa nói đến nhà khác, nhà anh có chịu không? Anh dù chịu, nhưng các cháu có chịu không? Chị dâu có chịu không? Anh em trong họ của anh có chịu không?”

Xạ Cao Quân tuôn ra một tràng, Bành Quân im thin thít không biết nói sao. Đúng vậy, ai cũng thế cả, miếng ngon đã nuốt xuống bụng, giờ chẳng nhẽ bắt họ móc họng nôn ra?

“Cháu đồng ý với chú Xạ Cao.” Khi vương thúc nhìn tới mình, Tử Khải đáp ngay.

“Nếu đã như vậy, thì cứ làm theo lời ta vừa nãy, trước hết hãy thăm dò xem sao.” Vương thúc quyết định, “nếu người Tần không chịu châm chước, chúng ta bàn cách ứng phó cũng chưa muộn. Nếu người Tần thấu hiểu đại nghĩa, chịu tùy cơ ứng biến, thì lại xem thử họ tùy cơ ứng biến thế nào.”

Sau khi hay tin vụ ô kim vỡ lở, Huệ Vương tức tốc triệu Trương Nghi về Hàm Dương.

“Than ôi, than ôi, than ôi!” Vừa gặp mặt, Huệ Vương đã thở dài liền ba hơi nghe rất khoa trương, mặt nhăn như bị, lắc đầu quầy quậy nghe chừng rầu rĩ lắm.

“Vương huynh, có chuyện gì sao?” Trương Nghi mặt vẫn tỉnh bơ, tươi cười hỏi, “vương huynh khó ở chỗ nào ư? Hay là bị mắc nghẹn?”

“Ở đây!” Huệ Vương chỉ vào tim mình, “đau xót!”

“Đau xót, chỉ vì chút vàng cỏn con đó ư?” Trương Nghi vẫn nhơn nhơn như không.

“Này em rể!” Huệ Vương đứng bật dậy, kêu lên, “cái gì mà chút vàng cỏn con? Hơn nghìn dật đấy! Anh rể đây cạo răng ra mới gom đủ đấy! Than ôi, kể từ khi em rể bắt tay vào thương vụ này, chỗ khác không nói, ngay cả chút tiền son phấn của hậu cung, anh rể đây cũng phải bóc lột quá nửa! Giờ thì hay rồi, lưỡi cày không có, lại lỗ chổng vó! Thế gọi là gì? Trộm gà không được mất luôn nắm thóc!” Kêu ca một hồi, lại đưa tay ôm ngực, “chao ôi, vừa nhắc tới, ruột gan của quả nhân đây lại như dao cứa...”

Trương Nghi phá lên cười khoái chá: “Nghi có một phương thuốc hay, không chừng sẽ trị được dứt bệnh cho vương huynh!”

“Là phương thuốc gì vậy, nói mau!” Huệ Vương giục.

“Là một chuyện cũ,” Trương Nghi thong thả nói, “vương huynh hẳn đã nghe chuyện tướng quốc nước Tề Quản Trọng chế phục hai vua nước Cử, nước Lai rồi chứ?”

“Quả nhân chưa từng nghe thấy.”

“Ồ, chưa từng nghe thì tốt quá!” Trương Nghi sửa ngay vạt áo, đưa tay làm bộ vuốt râu, thủng thẳng kể, “năm xưa Quản Trọng được trọng dụng ở Tề, Hoàn Công không ưa Lỗ Quân, muốn khởi binh đánh Lỗ. Quản Trọng nói, thần có một kế, không mất một binh một tốt mà vẫn khiến nước Lỗ thần phục. Hoàn Công hỏi kế gì, Quản Trọng đáp, bệ hạ chỉ việc mặc áo vải đũi là được. Vải đũi là hàng lụa dày, mặc vào rất ấm. Hoàn Công mặc vải đũi, tả hữu đều bắt chước, dân Tề từ đó đều mặc vải đũi, nên vải đũi tăng giá vùn vụt. Quản Trọng lại hạ lệnh, dân Tề không được phép dệt vải đũi. Dân Tề không có vải đũi để mặc, bèn đặt mua của người Lỗ. Lỗ Quân lấy làm phấn khởi, lệnh cho dân chúng bỏ cấy cày, chuyển sang trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải đũi, lại lệnh cho thương nhân nước Lỗ bán vải đũi cho Tề, được tiền thì mua thóc gạo chở về. Chưa đầy ba năm, dân Lỗ đều không làm ruộng. Quản Trọng lại lệnh cho dân Tề không được mặc vải đũi nữa. Thế là vải đũi của nước Lỗ không còn ai mua, mà ruộng lúa đều đã biến thành ruộng dâu, dân Lỗ bị đói, giá thóc gạo tăng vọt. Quản Trọng đặt kho lương ở biên giới Tề Lỗ, bán thóc gạo với giá rẻ, dân Lỗ đua nhau chạy tới Tề. Lỗ Quân không còn cách nào khác, đành sang Tề cầu hàng. Thế là Hoàn Công không đánh mà thu phục được Lỗ.”

“Ồ!” Huệ Vương lấy làm hào hứng, “câu chuyện này quả là thú vị. Quả nhân cũng không ưa Sở Vương lâu rồi, khanh là Quản Trọng, khanh thử nói xem, phải làm thế nào để thu phục Sở?”

“Sở không phải Lỗ, dân Sở không phải dân Lỗ, Sở Vương không phải Lỗ Công, Trương Nghi cũng không phải Quản Trọng!”

Huệ Vương phá lên cười lớn, cũng bắt chước đưa tay vuốt râu: “Quả nhân hiểu rồi, hiểu cả rồi!” Đoạn hạ giọng nói nhỏ, “nhưng Quản Trọng sao có thể sánh với em rể là đại tài Quỷ Cốc kia chứ? Hơn nữa, Tô Tần không ở Sở, cũng không lo được đến Sở, ở đất nam man, còn ai là đối thủ của em rể nữa?” Ngả người lại hỏi, “dám hỏi em rể, định dùng sách lược gì để khiến quả nhân không đánh mà thu phục được người Sở đây?”

“Mê hoặc chủ, phá huỷ chuông, ngăn trở mưu, làm rối tâm!” Trương Nghi bật ra một lèo mười hai chữ.

“Mê hoặc chủ? Phá huỷ chuông? Ngăn trở mưu? Làm rối tâm!” Huệ Vương nhắc lại một lượt, chau tít đôi mày, “phá huỷ chuông, nghĩa là gì?”

“Đại vương có biết hoàng chung đại lữ?”

“Trong phần Đại tư nhạc sách Chu lễ có viết, tấu hoàng chung, ca đại lữ, múa vân môn, để tế thiên thần, hẳn là ý này phải không?”

“Chính phải!” Trương Nghi dõng dạc đáp, “câu này nghĩa là, hoàng chung là quả chuông lớn, đứng đầu dương luật, đại lữ là ống sáo lớn, nằm giữa âm luật, hai thứ này hoà hợp, có thể cúng tế thiên thần! Đại vương, nếu thiên thần được cúng tế, tức là vận nước hưng thịnh!”

“Theo ý em rể, cái gì là hoàng chung của Sở? Phá huỷ thế nào?”

“Hoàng chung, đứng đầu dương luật, là khởi đầu của âm nhạc, cổ nhân thường dùng để ví von với báu vật của đất nước. Dám hỏi đại vương, cái gì là báu vật của đất nước? Vàng chăng?”

“Không phải.” Hoài Vương đáp ngay không cần suy nghĩ, “báu vật của đất nước, chính là nhân tài!”

“Đại vương anh minh!” Trương Nghi vòng tay.

“Được, phá huỷ chuông, đã hiểu rồi. Vậy còn ngăn trở mưu?” Huệ Vương lại hỏi.

“Muốn ngăn trở mưu, trước tiên phải biết được mưu! Dám hỏi vương huynh, nếu người là Sở Vương, trông thấy người Tần mài dao xoèn xoẹt, sẽ phải mưu tính ra sao?” Trương Nghi hỏi ngược lại.

“Nếu muốn đối phó với Trương Nghi, quả nhân sẽ theo tung sách của Tô Tần, kết minh với Tề!”

“Vậy vương huynh còn gì khúc mắc?” Trương Nghi cười hỏi.

“Câu cuối cùng, làm rối tâm. Làm rối bằng cách nào?” “Thì bằng chút vàng mà vương huynh cạo răng ra đó!”

Huệ Vương lại làm bộ đưa tay lên ngực, nhăn nhó: “Em rể, đừng nhắc tới chuyện này nữa được không?” Lại vuốt ngực vài cái, rồi nghiến răng, “nói đi, em rể định dùng nó để làm gì?”

“Đổi muối.”

“Đổi muối?” Huệ Vương trợn mắt.

Trương Nghi thở dài: “Vụ lưỡi cày không xong rồi, vàng đã vào tay đám quyền quý nước Sở, muốn đòi về cũng không được nữa. Đã không đòi được, vì sao không đổi lấy chút muối mà ăn?”

“Thế nhưng...” Huệ Vương sửng sốt, “ta đã có những hai suối muối của đất Ba, nghe nói đất Thục cũng tìm ra mỏ muối, quả nhân đang định đi bán muối đây, còn cần muối của họ để làm gì?”

“Để làm rối tâm!” Trương Nghi cất giọng rành rọt và chậm rãi, ý vị sâu xa.

Huệ Vương nhắm mắt ngẫm nghĩ chốc lát, chợt vỗ đùi đánh đét, kêu liền hai tiếng: “Tuyệt, tuyệt!”

Hai người bốn mắt giao nhau, cùng cười lớn.

“Được lắm!” Huệ Vương cười dứt, lại vòng tay, “việc của nước Sở, lại phải nhọc đến em rể rồi. À phải, còn một tin vui muốn báo với em rể, Trần Trang đã chết, đúng như em rể nói, bị người Ba giết. Gã này tham vọng quá lớn, đứng dưới hiên nhà người ta rồi mà vẫn không chịu nhún nhường, người Ba không chịu được, đã lấy đầu hắn rồi!”

Hồi lâu sau, Trương Nghi mới khẽ thở dài một tiếng.

Tội chết tuy miễn, song tội sống khôn tha. Để trừng phạt, Hoài Vương đã thu hồi đất phong Uyển Thành của Ngạc Quân, chỉ giữ lại phong hiệu hữu danh vô thực; lại bãi miễn chức công doãn quận Uyển của Chiêu Thử, chiếu cáo trên khắp nước Sở, lấy đó làm răn.

Chiếu lệnh của Hoài Vương, đương nhiên do phủ tả đồ thực thi. Sau khi Khuất Bình tới phủ Ngạc Quân và nhà Chiêu Thử tuyên chỉ, ngay chiều hôm đó, Khuất Bình lại bất ngờ nhận được thiệp mời của Tử Khải, lời lẽ vô cùng tôn kính, trước là cảm tạ ơn cứu mạng, thứ nữa là thay mặt vương thúc, mời Khuất Bình cùng tư tế tới làm khách ở đài Chương Hoa.

Khuất Bình nghĩ mãi vẫn không đoán ra ẩn ý phía sau, xử trí xong mọi việc trong phủ, bèn cất thiệp mời vào ống tay áo, quay về nhà cỏ ngoại ô.

Gần đây, Khuất Bình rất hiếm khi ngủ lại trong phủ trạch, bất kể tối muộn thế nào, cũng đánh xe về nhà cỏ.

Bởi vì, ở đó có Bạch Vân.

Một ngày không nhìn thấy nàng, Khuất Bình đã không chịu nổi. Dù chỉ một ngày.

Bạch Vân đã trở về, bước ra đón Khuất Bình, trông nàng rất vui vẻ: “Khuất đại nhân, hôm nay tôi đã tìm được một chỗ có thể lập miếu thờ!”

“Vậy ư?” Khuất Bình cười hỏi, “ở đâu kia?”

“Ở phố Đông.” Bạch Vân đáp, “là Ngận đại nhân tìm thấy, nói rằng chủ đất muốn lạc quyên. Tôi đã tới đó xem, vị trí rất đẹp, nằm gần một đầm nước, đó là một sườn dốc cao, vừa đủ rộng để lập miếu.”

“Tại hạ có lời chúc mừng!” Khuất Bình vòng tay nói, “nơi đó, tại hạ có biết, đài cao đó chính đài đúc kiếm Can Tương, Mạc Da năm xưa, là mảnh đất tốt nhất Sính Đô. Nàng có muốn đi cảm tạ người đó không?”

“Cảm tạ ai kia?”

“Chính là người đã tặng cho nàng bảo địa đó!”

“Đại nhân biết kẻ này ư?”

“Biết.” Khuất Bình lấy ra tờ thiếp mời từ trong ống tay áo, “người ta đã mời đích danh tư tế đây!”

Bạch Vân liếc nhìn, kinh ngạc kêu lên: “Ngạc Quân?”

“Phải,” Khuất Bình gật đầu, “đại thần Vu Hàm đã cứu Ngạc Quân một mạng, nên Ngạc Quân đã dâng tặng bảo địa này để báo đáp!”

Bạch Vân tươi cười: “Vậy thì cũng nên cảm tạ thật!”

Tại đài Chương Hoa bên đầm Vân Mộng, gió vờn rặng liễu, ánh nắng chan hoà.

Dưới đài Tam Hưu, khi Khuất Bình, Bạch Vân bước xuống khỏi xe, đã thấy có người chờ sẵn trước bậc thềm nghênh đón, chính là Ngạc Quân Khải và một mĩ nữ xinh đẹp phục sức lộng lẫy.

Mĩ nữ đó, không phải ai khác, chính là đệ nhất kỹ nữ của lầu Phẩm Hương, Thu Quả.

Đương nhiên, lúc này nàng không còn mang tên Thu Quả nữa, mà được gọi là nhất phẩm hương. Trong lầu Phẩm Hương, nhất phẩm hương không có tên gọi, người có tên gọi xếp ở sau nàng, là nhị phẩm hương, tam phẩm hương, tứ phẩm hương, cho tới cửu phẩm hương.

Nhất phẩm hương chỉ mình nàng, nhị phẩm hương có hai, tam phẩm hương có ba, cứ thế mà suy, đến cửu phẩm hương thì có chín người.

Nhất phẩm hương thường không lộ mặt, chỉ cung phụng một mình Ngạc Quân.

Hai bên thi lễ xong xuôi, Tử Khải dẫn Khuất Nguyên, Bạch Vân lên đài Tam Hưu. Vừa đi, Tử Khải vừa giới thiệu với hai người về các đình đài lâu gác và cảnh sắc xung quanh.

Sau khi đã thưởng lãm một vòng, Tử Khải dẫn họ tới gác Quan Ba, kể chuyện năm xưa tiên Uy Vương đã tiếp đón tướng quốc năm nước Tô Tần tại đây, cùng chuyện Tô Tần vạch trần kẻ mạo danh tiên nhân Thương Ngô Tử khiến nước Sở hợp tung thuận lợi, Thu Quả nghe mà xuýt xoa thán phục mãi không thôi.

Men theo bậc thang phía sau đình Quan Ba đi xuống, mọi người tới bên đầm Vân Mộng, lại phía bến đò. Trước bến đậu hai thuyền lớn, một mang hình rồng, một mang hình phượng. Thuyền rồng chỉ dành riêng cho Sở Vương, vương thân nếu không được Sở Vương mời, chỉ có thể ngồi thuyền phượng.

Mọi người bước lên cầu ván dẫn tới thuyền phượng. Vương thúc cùng phu nhân đứng sẵn trên thuyền, thấy vậy thì bước ra đón.

Hai bên vừa gặp mặt, một chuyện bất ngờ đã xảy ra. Vương thúc không nhìn Khuất Bình, mà hai mắt như đuốc, nhìn trừng trừng vào Bạch Vân. Và Bạch Vân, cũng đáp lại ánh nhìn tương tự.

Hai người họ như bị quỷ ám, cùng đứng bất động, cùng mắt không chớp, như thể muốn dùng ánh mắt để xuyên thấu qua đối phương.

Ánh mắt của vương thúc từ từ dịch chuyển, từ mặt xuống cổ, rồi lại từ cổ xuống ngực.

Trên cổ Bạch Vân đeo một sợi dây vàng, buông rủ xuống, khuất vào trong cổ áo. Ánh mắt vương thúc đang dừng lại trên sợi dây vàng.

Tử Khải ngỡ ngàng ra mặt, hết nhìn vương thúc lại nhìn Bạch Vân, rồi quay sang Khuất Bình, ánh mắt như muốn hỏi.

Khuất Bình cũng đang ngây người sửng sốt. Rõ ràng, cảnh tượng này hoàn toàn nằm ngoài dự liệu của Khuất Bình.

“Phu quân, khách nhân?” Thấy vương thúc hai mắt cứ dán chặt vào trước ngực thiếu nữ lạ mặt, vương thúc phu nhân cũng thấy hổ thẹn, vội huých nhẹ khuỷu tay vào vương thúc, khẽ gọi.

Vương thúc lúc này mới định thần trở lại, ánh mắt rời khỏi Bạch Vân, nhìn sang Khuất Bình.

“Khuất Nguyên khấu kiến vương thúc và vương thúc phu nhân!” Khuất Bình khom lưng vái dài mà nói.

“Khuất tả đồ!” Vương thúc nhìn Khuất Bình một hồi, rồi vòng tay đáp lễ, gật gù khen ngợi, “quả nhiên là tuổi trẻ tài cao!” Nói rồi, ánh mắt lại chuyển sang Bạch Vân.

Bạch Vân cũng tiến lên một bước, khom lưng hành lễ: “Tư tế miếu Vu Hàm núi Vu Hàm Bạch Vân khấu kiến vương thúc, khấu kiến vương thúc phu nhân!”

Không chờ vương thúc lên tiếng, vương thúc phu nhân bèn bước dấn lên, một tay kéo lấy Bạch Vân, ngắm nghía nàng thật kỹ.

“Chà!” Vương thúc phu nhân vuốt ve bàn tay mảnh dẻ của Bạch Vân, “quả là tuyệt thế giai nhân!” Quay sang Khuất Bình cười, “có giai nhân này bầu bạn, tả đồ đại nhân thực là có phúc!”

Thấy vương thúc phu nhân nói thẳng như vậy, Bạch Vân sắc mặt ngượng ngùng, đưa mắt liếc sang Khuất Bình, cúi đầu không nói.

“Tạ ơn phu nhân khen ngợi!” Khuất Bình vẫn điềm tĩnh như thường, vòng tay với vương thúc phu nhân.

Vương thúc phu nhân lại tấm tắc khen ngợi: “Một tài tử, một giai nhân, thực đúng là giai ngẫu trong thiên hạ!” Khen xong, lại nhìn sang vương thúc, “phu quân, chỗ này gió mạnh, không thích hợp làm nơi tiếp khách, xin hãy vào trong!” Rồi nắm tay Bạch Vân, dẫn vào trong thuyền.

Vương thúc nhìn Khuất Bình, chìa tay mời mà nói: “Hôm nay đã lên thuyền của vương thúc, thì chớ gọi theo chức tước nữa, ta sẽ gọi tả đồ là Khuất Tử. Khuất Tử, mời!”

Rồi cũng nắm tay Khuất Bình, cùng sánh bước vào trong khoang thuyền.

Lòng thuyền rất rộng, bên trong hệt như cung điện, trần thiết đầy đủ, không thiếu thứ gì.

Thuyền phượng bắt đầu rời bờ, êm đềm trôi đi trên đầm nước. Từ trong thuyền nhìn ra, núi xa thấp thoáng, cảnh sắc say lòng.

Tử Khải quay sang một khoang thuyền kín đáo, vỗ tay một tiếng, bỗng chốc, sáo đàn cùng tấu, chuông khánh ngân nga. Trong tiếng nhạc, cửa khoang mở ra, một đoàn tám mĩ nữ uyển chuyển bước ra, tay áo tung bay phấp phái, múa lượn yêu kiều.

Thuyền đã tới chỗ nước sâu, sóng biếc muôn dặm, trên thuyền dưới nước, đâu đâu cũng là cảnh đẹp.

Nhưng vương thúc cứ như mất hồn, không để tâm tới nhạc khúc, cũng như quên bẵng mất quý khách trước mắt, lúc thì nhắm mắt suy nghĩ, lúc lại liếc nhìn Bạch Vân.

Bạch Vân cũng vậy, từ lúc bước vào trong khoang thuyền, hai mắt liên tục nhìn sang vương thúc.

Khuất Bình trông lại rất thư thái, hai mắt lim dim, chìm đắm trong điệu nhạc.

Chỉ có vương thúc phu nhân là bồn chồn thấp thỏm, chốc thì nhìn vương thúc, chốc thì liếc Bạch Vân, chốc lại nhìn Khuất Bình, rồi lại nhìn sang Tử Khải.

Nhưng không một ai để ý tới vương thúc phu nhân.

Một khúc đã tấu xong, vương thúc vẫn không nói một lời, tâm tư như trôi tít đầu đâu. Bầu không khí bỗng chốc trở nên ngượng ngập. Tử Khải khẽ đặng hắng một tiếng, đám vũ nữ bèn tuần tự lui ra.

Vương thúc phu nhân phá tan bầu tĩnh lặng, lên tiếng hỏi Khuất Bình: “Nghe nói Khuất Tử tinh thông âm luật, hẳn biết khúc này?”

“Phu nhân quá khen!” Khuất Bình vòng tay đáp, “theo Nguyên đoán bừa, khúc này hẳn là dân ca Thiệu Nam!”

“Chà!” Vương thúc phu nhân khen ngợi, “tài của Khuất Tử, nay đã được lĩnh giáo!”

Rồi vương thúc phu nhân khe khẽ ngâm nga:

“Con châu chấu kêu,

Con cào cào nhảy.

Chưa gặp chàng ấy,

Lòng buồn khôn nguôi.

Gặp được chàng rồi,

Thấy được chàng rồi,

Lòng ta mới nguôi.”

Tử Khải tươi cười, cất giọng hào hứng: “Thơ này, từ nhỏ cháu đã đọc rồi.” Nói đoạn hắng giọng, ngâm tiếp hai khổ thơ sau:

“Trèo lên núi nam,

Nói hái rau quyết.

Chưa gặp được chàng,

Lòng buồn thảm thiết.

Gặp được chàng rồi,

Thấy được chàng rồi,

Lòng ta mới nguôi.

Trèo lên núi nam,

Nói hái rau vi.

Chưa gặp được chàng,

Lòng ta sầu bi.

Gặp được chàng rồi,

Thấy được chàng rồi,

Lòng ta mới nguôi.” (1)

(1)Bài thơ Thảo trùng thuộc phần Thiệu Nam, Kinh Thi. 

“Chà!” Vương thúc phu nhân khen ngợi, “trí nhớ của cháu cũng tốt thực!”

Tử Khải cười: “Cháu thế này, gọi là múa rìu qua mắt thợ đấy!” Rồi ra bộ kinh ngạc, nhìn sang Khuất Bình, “kể cũng lạ thật, họ chỉ tấu nhạc thôi, không hề ngâm ca từ, cớ sao Khuất Tử lại biết được đây là dân ca Thiệu Nam?”

“Hồi bẩm công tử,” Khuất Bình vòng tay, “Nguyên đoán bừa là khúc này, bởi hai nguyên do. Thứ nhất, nhạc điệu trong trẻo giản dị, cầm sắt hài hoà, nhưng lại không đánh mất vẻ đoan chính, giống như phong khí vùng Thiệu Nam. Thứ hai, vũ cơ phục sức rực rỡ, động tác uyển chuyển, cũng giống với phong khí vùng Thiệu Nam.”

Tử Khải gật gù: “Phải lắm, cầm sắt hài hoà, động tác uyển chuyển!” Nhìn sang Bạch Vân, giọng đầy ẩn ý, “Chưa gặp được chàng, lòng ta sầu bi. Gặp được chàng rồi, thấy được chàng rồi, hẳn đã đến lúc trong lòng nguôi nhớ rồi, phải không?”

Dường như họ cố tình chọn sẵn khúc nhạc tình tứ này cho Khuất Bình và Bạch Vân nghe. Trong khoang thuyền, người khác đều đã có đôi, chỉ còn lại Khuất Bình và Bạch Vân. Song Khuất Bình vẫn ngồi nghiêm trang tại chỗ, mặt không đổi sắc.

Bạch Vân nhìn vẻ nghiêm túc của Khuất Bình, phì cười một tiếng, rồi liếc mắt nhìn sang Tử Khải đầy khiêu khích, giọng điệu có phần chế nhạo: “Thương thay cho một bài thơ, bị công tử giải thích như vậy, ý nghĩa lệch lạc cả rồi!”

“A!” Tử Khải ngỡ ngàng, vội ngồi thẳng dậy, nhìn sang Kỷ Lăng Quân, “vương thúc, cháu hiểu như vậy, lẽ nào không đúng? Chẳng phải bài thơ muốn nói, phu quân đi xa, người vợ khổ sở chờ đợi mà không gặp, nên rầu rĩ âu lo, khẩn thiết mong ngóng phu quân quay về?”

Vương thúc đang nhìn sang Bạch Vân, ánh mắt ngẩn ngơ, dường như không nghe thấy.

“Khuất Tử,” Tử Khải lại quay sang Khuất Bình, vòng tay nói, “Khuất Tử là tài tử, tại hạ dốt nát, kính mong được chỉ giáo!”

Khuất Bình khẽ cười: “Nếu bàn về Thi, công tử nên thỉnh giáo vương thúc mới phải!”

Tử Khải quay sang vương thúc gọi lớn: “Vương thúc?” Vương thúc lúc này mới như choàng tỉnh, nhìn sang Tử Khải.

“Vương thúc,” Tử Khải chỉ sang Bạch Vân, “nàng ấy nói cháu đã hiểu sai khúc hát, nhờ chú phân giải giúp cho!”

“Khúc hát... Khúc hát gì kia?” Vương thúc ngơ ngác.

Vương thúc phu nhân cười: “Chính là khúc dân ca Thiệu Nam thiếp vừa ngâm lúc nãy.”

Vương thúc cười gượng gạo, nhìn sang Tử Khải: “Cháu giải thích thế nào?”

“Cháu hiểu là,” Tử Khải vui vẻ nói, “khúc hát nói về người vợ nhớ chồng, lòng như lửa đốt, ngóng chồng trở về, để được vui vầy bên nhau. Nhưng tư tế lại nói cháu hiểu sai rồi! Vương thúc thử phân giải xem, cháu có hiểu sai không, sai ở chỗ nào?”

Vương thúc vuốt râu, cất giọng thong thả: “Tư tế nói rất phải, bài thơ này không phải nói về vợ nhớ chồng, mà là vua tôi nhớ nhau. Vua tôi mỗi người một đạo, tôi xa vua thì buồn, vua xa tôi thì nhớ. Chỉ khi vua tôi hoà thuận, như cầm sắt hài hoà, thì mới có thể an bình thịnh trị!”

“Là như vậy ư?” Tử Khải vò đầu bứt tóc, “nghe vương thúc giải thích, thì đúng là cháu đã hiểu sai rồi!”

“Công tử không phải là hiểu sai, mà là suy nghĩ lệch lạc!” Bạch Vân nói thẳng.

Tử Khải bối rối nhìn sang Khuất Bình: “Khuất Tử, có đúng vậy không?”

“Với bài thơ này,” Khuất Bình ngẫm nghĩ chốc lát, rồi giải thích, “vương thúc giải thích là cầm sắt hài hoà, vua tôi hoà thuận, là cách lý giải của Nho môn. Công tử giải thích là vợ chồng nhớ nhau, mong ngày đoàn tụ, là cách lý giải của thường dân, mỗi bên đều có cái lý của mình.”

“Phải đấy, phải đấy!” Tử Khải lấy làm phấn chấn, nhìn sang Bạch Vân, “đúng như lời Khuất Tử, Mị Khải có cách giải thích riêng, chứ đâu phải là lệch lạc?”

“Theo tả đồ nói, khúc này là dân ca Thiệu Nam,” Bạch Vân liếc nhìn Khuất Bình, điềm đạm giải thích, “dân ca là để bày tỏ ý nguyện của người dân, bài thơ này là dân chúng Thiệu Nam mượn chuyện vợ nhớ chồng để châm biếm những thói tệ đương thời. Bởi công tử không biết đến nỗi thống khổ của lê dân, nên không thể hiểu được bài thơ này, mới lý giải lệch lạc.”

“Dám hỏi tư tế,” Tử Khải lại vò đầu, “thơ này châm biếm thói tệ gì? Châm biếm như thế nào?”

“Là than thở về nỗi khổ chinh chiến.” Bạch Vân nhìn về phía bắc, “nhà vua hạ lệnh chinh phạt, không xót thương dân chúng lầm than. Người chồng mùa thu tòng quân, có lẽ đã máu nhuộm sa trường, không có ngày về. Người vợ ở nhà lại không hề hay biết, vẫn cứ vò võ ngóng trông. Người vợ ngóng chồng từ mùa thu cho tới mùa đông, từ mùa đông cho tới mùa xuân, từ mùa xuân cho tới mùa hè, cứ thế năm rồi lại năm, hết hi vọng rồi lại tuyệt vọng, bất giác sinh ra ảo mộng, mộng tưởng thấy chồng mình trở về, để cầm sắt hài hoà, vui vầy đôi lứa... ” Càng nói, giọng nàng càng thêm buồn thảm, “nhưng khi ảo mộng tan rồi, công tử đã từng nghĩ tới?”

Tử Khải chưa kịp lên tiếng, Thu Quả đã ứa nước mắt thổn thức.

Khuất Bình trong lòng xúc động, hai mắt nhìn sững vào Bạch Vân. Phải, thơ này Khuất Bình đã ngâm không biết bao nhiêu lần, song chưa bao giờ hiểu được đến tầng bậc này. Xem ra, đối với nỗi thống khổ của bách tính, Bạch Vân thấu hiểu hơn nhiều.

Vương thúc đưa mắt với phu nhân, phu nhân hiểu ý, theo vương thúc bước ra khỏi cửa, đi tới trước mũi thuyền. Vương thúc phu nhân không nhịn được nữa, khẽ giọng khiển trách: “Nhìn thấy mĩ nhân, hồn vía lên mây rồi ư?”

Vương thúc trợn mắt: “Phu nhân nghĩ đi đâu thế?”

“Cái gì mà nghĩ đi đâu?” Vương thúc phu nhân vặc lại, “là ông bảo muốn mai mối cho hai người họ, nói rằng chỉ cần Khuất Nguyên thích cô gái này, sẽ ghen tức bực bội với đại vương, khiến vua tôi hiềm khích, tranh giành lẫn nhau. Nhưng theo tôi thấy, người ta còn chưa tranh nhau, ông đã tranh trước rồi!”

“Phu nhân thì chỉ tài ghen!” Vương thúc trách móc, “hãy mau nhận nàng ta làm con nuôi đi!”

“Con nuôi?” Vương thúc phu nhân đảo mắt một vòng, lập tức tươi cười, “chuyện này thì được, thiếp đi ngay đây!”

Hai người quay về khoang thuyền, ngồi vào chỗ cũ.

“Tư tế,” vương thúc phu nhân nhìn sang Bạch Vân, mỉm cười mà nói, “già này có một thỉnh cầu thái quá, không biết có nên nói ra không?”

“Phu nhân xin cứ nói!” Bạch Vân đáp.

“Già này không có con gái, vốn vẫn lấy làm buồn lòng, nay gặp tư tế, cảm giác thân thiết như ruột thịt, thực lòng muốn nhận làm nghĩa nữ, rất mong được tư tế chấp thuận!”

Khuất Bình, Bạch Vân đều hết sức ngỡ ngàng, đưa mắt nhìn nhau.

Vương thúc cũng nhìn Bạch Vân, giọng nói chân thành: “Lời phu nhân nói, cũng là tâm ý của lão phu!”

“Tạ ơn vương thúc và phu nhân yêu mến!” Bạch Vân vòng tay, “nhưng, đây là đại sự, Bạch Vân không dám tự ý quyết định, vẫn cần bẩm báo với song thân, mong vương thúc và phu nhân hiểu cho!”

“Ồ...” Vương thúc phu nhân lúng túng nhìn sang vương thúc.

Vương thúc tươi cười nói: “Đó là chuyện đương nhiên. Dám hỏi, song thân của tư tế hiện đang ở đâu?”

“Ờ...” Bạch Vân bỗng thấy đau buồn, nhắm mắt lại, quay sang Khuất Bình.

Khuất Bình bèn đưa tay chỉ ra ngoài cửa sổ, cố tình đánh lạc hướng: “Vương thúc, hòn đảo nhỏ đằng kia trông đẹp quá, có thể lại gần hơn một chút để thưởng lãm không?”

“Được chứ!” Không chờ vương thúc lên tiếng, Tử Khải vỗ tay nói lớn, “lại gần đảo nhỏ bên trái!”

Thuyền phượng chầm chậm đổi hướng, lướt về phía hòn đảo nhỏ.

Ngắm đảo xong, thấy sắc trời không còn sớm nữa, thuyền phượng bèn quay trở về.

Vương thúc nhìn sang Khuất Bình: “Nghe nói Khuất Tử học vấn uyên thâm, lão phu chợt nhớ tới một chuyện, nhân đây xin được thỉnh giáo Khuất Tử!”

“Thỉnh giáo thì không dám,” Khuất Bình vòng tay, “dám hỏi vương thúc, là chuyện gì?”

Vương thúc đưa mắt nhìn Tử Khải. Tử Khải bèn vỗ tay, cánh cửa khoang thuyền mở rộng, một người tiến vào, ôm theo một bình gốm, cẩn thận đặt lên mặt án phía trước Khuất Bình.

Bình gốm rất lớn, cao chừng nửa thân người, to hơn thùng nước, kỹ xảo có phần thô sơ, song toát lên vẻ cổ kính, trên bình có hình màu mĩ nữ, sông nước, hoa cỏ.

Trông thấy là gốm màu, Khuất Bình hai mắt vụt sáng, ngắm nhìn chăm chú, tiếp đến lại đưa hai tay nâng lên, ngắm nghía khắp lượt. Hồi lâu sau, mới khẽ khàng đặt xuống, nhìn sang Kỷ Lăng Quân.

“Thứ này, lão phu gần đây mới nhặt được,” vương thúc chỉ vào bình gốm, “nhưng chưa biết nó là vật gì, kính thỉnh Khuất Tử giám định giúp!”

“Hồi bẩm vương thúc,” Khuất Bình đáp, “nếu vãn bối nhìn không nhầm, thì bình này hẳn là bình Nữ Anh.”

“Ồ?” Vương thúc ngạc nhiên, “Khuất Tử dựa vào đâu mà biết?”

“Theo ghi chép trong Vương Vũ ký” Khuất Bình dõng dạc giải thích, “vua Thuấn đích thân chế tác một cặp bình gốm, một cái tặng cho nàng Nga Hoàng, một cái tặng cho nàng Nữ Anh, để hai bà phi này múc nước tắm.” Cầm bình lên, nghiêng bình lộ đáy, chỉ vào dòng chữ phía dưới, “ở đây có hai chữ Trùng Hoa, chính là tên của vua Thuấn.” Lại chỉ vào hình vẽ tô màu ở trên bình, “mĩ nữ vẽ trên bình, nhìn vào phục sức, hẳn là đế phi Nữ Anh.”

“Ồ!” Tử Khải chặc lưỡi, liếc sang Thu Quả, “hoá ra vật này dùng để múc nước cho thánh nữ tắm, thảo nào...”

Vương thúc cười vang, khen ngợi: “Khuất Tử quả là học vấn uyên thâm!” Nhìn sang Tử Khải, “cháu hiền, hãy cho gói lại cẩn thận, lát nữa đưa lên xe của Khuất Tử.”

“Vâng.” Tử Khải cầm lấy chiếc bình, đứng dậy toan đi.

“Công tử dừng bước!” Khuất Bình nhìn sang vương thúc, “dám hỏi vương thúc, vì sao lại đưa lên xe của Nguyên?”

Vương thúc tươi cười nói: “Số là khi lão phu nhặt được vật này, có nói trước rằng, bất kể là ai, chỉ cần nhận ra vật này, lão phu sẽ cung kính tặng cho người ấy.”

“Nguyên khấn cầu vương thúc thu lại lời này!” Khuất Bình vòng tay nói.

“Khuất Tử,” vương thúc chau mày, “lẽ nào Khuất Tử muốn lão phu nuốt lời?”

“Nguyên không dám!” Khuất Bình đáp, “chỉ là, nếu vương thúc không nuốt lời, thì Nguyên lại phải thất tín!”

“Ồ?” Vương thúc ngạc nhiên, “Khuất Tử thất tín gì kia?”

“Thần bất tài,” Khuất Bình chỉ lên trời mà nói, “năm xưa từng thề trước trời đất rằng, đời này kiếp này, không làm chuyện trái lòng, không nhận vật trái tâm. Bình này đã là do vương thúc nhặt được, chính là vật của vương thúc, vật của người khác, nếu Nguyên mà nhận, sẽ là trái tâm.”

“Ha ha, Khuất Tử quả là thanh liêm!” Vương thúc khen một câu, rồi nhìn sang Bạch Vân, “nếu đã nói vậy, lão phu xin tặng cho tư tế.”

“Tôi?” Bạch Vân không ngờ vương thúc lại chuyển sang mình, hết sức ngỡ ngàng.

“Không phải tặng, mà là quyên!” Vương thúc cười nói, “nghe Tử Khải nói, tư tế muốn xây miếu Vu Hàm ở ngoài cung, lão phu rất lấy làm mừng, ít nhiều cũng xin quyên góp chút ít.” Nói đoạn vỗ tay, “khiêng vào!”

Cửa khoang thuyền lại mở ra, hai người bước vào, khiêng theo một chiếc rương, đặt lên án trước mặt Bạch Vân rồi lui ra.

“Mời tư tế xem thử!”

Bạch Vân mở ra, trong rương đầy ắp những vàng.

“Đây là một trăm hoàn vàng, tạm góp để dựng miếu. Nếu như không đủ, tư tế có thể tới hàn xá của lão phu bất cứ lúc nào!” Vương thúc chỉ vào bình gốm, “còn chiếc bình này, lão phu cũng xin quyên tặng, dùng để tẩy trần cho thần nữ Vu Hàm!”

Nhìn hai chú cháu nhiệt tình quyên đất, quyên vàng dựng miếu, Bạch Vân lấy làm cảm động. Nàng đưa mắt nhìn sang vương thúc, vương thúc lại nhìn nàng chăm chú.

Hai người nhìn nhau một chốc, thì Bạch Vân đứng dậy, quỳ xuống, ngưng thần, ngẩng nhìn lên trời, trong miệng lầm rầm cầu khấn, hẳn là đang giao tiếp với thần linh.

Hồi lâu sau, Bạch Vân đứng dậy, khom lưng trước vương thúc và phu nhân nói: “Tư tế miếu Vu Hàm núi Vu Hàm Bạch Vân cảm tạ vương thúc, vương thúc phu nhân và Ngạc Quân quyên góp hậu hĩnh! Bạch Vân đã bẩm báo lên đại thần Vu Hàm, đại thần cho phép thu nhận. Chúc phúc cho vương thúc, phu nhân cùng Ngạc Quân!”

Vương thúc và phu nhân cùng quỳ xuống, hướng lên trời bái lạy. Tử Khải thấy vậy, cũng kéo Thu Quả quỳ xuống theo.

Dưới đài Chương Hoa, nhìn theo cỗ xe chở Khuất Bình, Bạch Vân lăn bánh xa dần, Tử Khải mới khẽ giọng hỏi: “Vương thúc, không phải là... tư tế kia đã... lọt vào mắt xanh của chú rồi đấy chứ? Hôm nay gặp mặt, cháu nể phục rồi, nghe nàng giảng nghĩa bài thơ, cháu vốn tim gan sắt đá mà cũng không nén nổi chua xót. Nói không ngoa, xét về tài nghệ, cũng không hề thua kém họ Khuất kia. Vương thúc nếu như có được...”

“Cháu nói bừa gì thế?” Vương thúc lừ mắt cắt ngang.

“Nhưng...” Tử Khải ngẩn người, “ánh mắt chú nhìn nàng ấy, cháu chưa từng thấy bao giờ!” Lại cười hì hì, “đến cả thím còn nhận ra!”

Vương thúc không nói gì, chỉ thở dài sườn sượt.

“Cớ sao chú lại thở dài?”

Vương thúc không trả lời, nhìn bụi cuốn theo xe đã tan hết, từ từ khép mắt lại, chìm vào hồi tưởng. Chốc sau, bỗng thấy nước mắt ứa ra.

“Vương thúc?” Tử Khải hết sức ngỡ ngàng.

“Chú đang nhớ tới một người!” Vương thúc chậm rãi nói.

“Ai kia?”

“Tư tế miếu Vu Hàm núi Vu Hàm!”

“Ồ!” Tử Khải kêu lên, “chính là nàng ta mà!” Lại cười hì hì, “vương thúc, hẳn là chú đã bị hớp hồn mất rồi, tay xách đèn lồng còn đi tìm đèn lồng! Bạch tư tế chính là đến từ miếu đó của núi đó!”

“Than ôi!” Vương thúc lại thở dài não nề, giọng đầy thương cảm, “tư tế mà ta nhớ tới, đã chết từ mười tám năm về trước!”

“A!” Tử Khải kinh ngạc, “sao lại chết kia?”

“Nhảy xuống vực sâu!”

“Liệu có phải là...” Tử Khải ngẫm nghĩ một lát, khẽ hỏi, “người nhảy xuống vực đã không chết, giả dụ bị mắc vào cành cây chẳng hạn?”

“Chắc chắn là chết rồi, người Ba khâm liệm nàng ấy trong quan tài đá, gác trên vách núi, nhưng nàng ấy... ” vương thúc hít vào một hơi thật sâu, giọng đầy cảm khái, “rành rành như đã tái sinh!”

“Vương thúc,” Tử Khải càng hạ giọng thì thào, “giữa vị tư tế ấy với chú, phải chăng đã...”

“Phải,” vương thúc gật đầu, “nhưng ta đã phụ nàng ấy! Ta nợ nàng ấy một mạng!” Nói đến đây, nước mắt bỗng tuôn lã chã, “đã gần hai mươi năm trôi qua, giờ hẳn là nàng tới đây đòi nợ!”

“Vương thúc,” Tử Khải nôn nóng hỏi, “ý chú là, tư tế?”

“Phải,” vương thúc lẩm bẩm, “họ giống nhau như lột, đến cả ánh mắt, giọng nói, dáng đi... ”

“Nếu nói như vậy,” Tử Khải mỉm cười, “người giống nhau trong thiên hạ này nhiều lắm. Có một hôm, cháu gặp một người trên phố Uyển Thành, nhìn thế nào cũng thấy giống y như cháu. Cháu mới bảo phu xe đánh xe bám theo, chao ôi, càng nhìn càng thấy giống, đến cả giọng nói, điệu cười, cử chỉ, đều giống không sao tả xiết. Nếu không sai người đi tra rõ danh tính, chỗ ở của hắn, cháu còn ngỡ mình gặp ma kia!”

“Không chỉ tướng mạo thôi đâu,” vương thúc nói tiếp, “còn có một tín vật!”

“Tín vật gì kia?”

“Sợi dây vàng đeo trên cổ tư tế.”

“Ồ, sợi dây vàng đó ư?” Tử Khải đáp, “vật như thế, trong cung nhiều lắm.”

“Nếu chú đoán không nhầm, cuối sợi dây đó là nửa miếng ngọc bội!”

“Ồ, vì sao lại là nửa miếng?”

“Bởi vì, nửa miếng còn lại, đang ở chỗ ta!”

“A... ” Tử Khải kinh ngạc, “nếu như chú đã nhận ra, sao không bảo tư tế lấy ra để kiểm chứng?”

Vương thúc lại thở dài thườn thượt: “Ta đâu đủ can đảm để làm như thế. Hơn nữa, còn có thím cháu bên cạnh! Việc trước kia, tốt nhất chớ để cho thím cháu biết!” Nói rồi quay sang Tử Khải, “cháu hiền, chú nhờ cháu một việc, hãy phái người thân tín tới suối muối ở núi Vu Hàm một chuyến, điều tra rõ lai lịch của tư tế hiện giờ.”

“Vâng, thưa chú!”

Đã quá nửa đêm.

Trong gian nhà cỏ của Khuất Bình, Bạch Vân vẫn ngồi lặng trước ánh đèn bên án.

Trên án, là bình gốm mà vương thúc vừa quyên tặng.

Dầu đèn đã gần cạn, ánh lửa chập chờn chực tắt.

Bỗng dưng, có tiếng bước chân vọng lại. Bước chân rất khẽ, nhưng giữa đêm khuya tĩnh mịch, lại vang động như búa gõ.

Là Khuất Bình. Nửa đêm trở dậy, thấy phòng Bạch Vân vẫn sáng ánh đèn, trong lòng băn khoăn, nên mới sang xem thử.

“Tư tế?” Khuất Bình bước vào, đứng trước mặt nàng cất tiếng gọi. Nhưng Bạch Vân dường như không nghe thấy. Khuất Bình nhìn thấy nàng đang nâng nửa miếng ngọc bội trên tay ngắm nghía, bèn hỏi, “đang nhớ nửa miếng ngọc bội kia ư?”

“Nhớ người!”

“Ồ!” Khuất Bình ngồi xuống, “nhìn vật nhớ người đấy ư? Tư tế nhớ người đeo nửa miếng ngọc bội còn lại?”

“Nhớ vương thúc!”

“Nhắc tới vương thúc, tại hạ cũng thấy lạ.” Khuất Bình nhìn sang Bạch Vân, “trước đây, hai người đã từng gặp nhau chưa?” Chợt vỗ trán, “à, đã gặp rồi, vào hôm cầu thần dụ, vương thúc cũng có mặt, ngồi bên đại vương.”

“Không phải hôm đó.”

Khuất Bình sửng sốt: “Không phải hôm đó, thì là hôm nào?”

“Trong mơ!”

“Mơ lúc nào?”

“Từ rất lâu về trước.”

“Là vương thúc ư?”

“Không biết nữa,” Bạch Vân bỗng ứa nước mắt, “nhìn không rõ mặt.”

“Sao lại không nhìn rõ?” Khuất Bình càng ngơ ngác, “hai người đứng gần thế kia mà!”

“Tôi đang nói trong mơ.” Bạch Vân thì thầm, “người đó luôn đứng rất gần, nhưng tôi không tài nào trông rõ mặt!”

“Nếu không rõ mặt, vì sao vừa gặp vương thúc, tư tế đã...” Khuất Bình hết sức băn khoăn.

“Tôi không biết.” Bạch Vân nước mắt giàn giụa, “thực sự là tôi không biết, nhưng ánh nhìn của ông ấy, và cả... dáng dấp của ông ấy... ” Nàng nghẹn ngào, không nói tiếp được nữa.

Khuất Bình đưa tay lại, cầm lấy nửa miếng ngọc bội trên tay nàng, rồi khẽ khàng nắm trong tay.

Khuất Bình về rồi, vợ chồng vương thúc và Tử Khải, Thu Quả vẫn lưu lại trên đài Chương Hoa nghỉ ngơi. Ban ngày hoặc ra bờ đầm câu cá, hoặc vào trong rừng săn bắn, tối đến vui chơi cùng đám cung nhân, coi như giúp Tử Khải xoa dịu cơn kinh hãi.

Vào ngày thứ ba, Bành Quân, Xạ Cao Quân hối hả tìm tới.

“Người Tần trả lời rồi!” Xạ Cao Quân vừa nói vừa thở hổn hển, chỉ vào Bành Quân, “chú và chú Bành đã cùng bàn bạc.”

“Thế nào?” Tử Khải nôn nóng hỏi.

“Tốt lắm. Họ đưa ra hai cách, một là trả lại tiền, nếu trả hết trong vòng ba mươi ngày, sẽ không tính lãi. Sau ba mươi ngày, cứ đếm ngày tính lãi.”

“Còn cách thứ hai?” Tử Khải hỏi.

“Đổi sang hàng khác.”

“Hàng gì?”

Muối Ba.”

“Muối Ba?” Tử Khải bật cười, “muối có ăn thay cơm được đâu, họ đã có hai suối muối, đủ dùng rồi, còn cần nhiều muối như vậy làm gì?”

“Chú cũng thắc mắc như vậy, Xa Vệ Tần mới nói, đổi muối Ba, cũng là vì bất đắc dĩ. Họ đã xem kỹ các mặt hàng bị cấm theo vương mệnh, phàm hàng hoá quý, đều bị cấm cả, hàng hoá không quý, lại không cách nào trao đổi được, bởi số tiền quá lớn, chọn đi chọn lại, chỉ còn muối Ba.”

“Là Trương Nghi muốn trả bằng muối Ba ư?” Vương thúc hỏi.

“Phải!” Xạ Cao Quân gật đầu, “sau khi sự việc vỡ lở, nước Tần nhốn nháo, ai cũng oán trách Trương đại nhân, đổ riệt tội tình cho đại nhân. Dù Trương đại nhân lưỡi dài đến mấy cũng không thể giải thích, bị bức bách đến cùng quẫn, đành phải viết cam kết, rằng không đòi được số tiền này, sẽ mang mạng ra đền. Than ôi, thực không thể ngờ, chuyện này rốt cuộc lại dồn Trương đại nhân vào tuyệt lộ!”

“Nhưng muối đâu phải là tiền?” Tử Khải vò đầu.

“Chuyện này, Trương đại nhân đã có chủ ý rồi.” Xạ Cao Quân cười đáp, “nghe Xa Vệ Tần nói, Trương đại nhân đã tính toán, sau khi muối đến tay, sẽ lập thương đoàn buôn muối sang Tây Nhung. Tây Nhung đất đai rộng lớn, rất khan hiếm muối.”

“Tây Nhung lấy đâu ra nhiều vàng đến thế?”

“Dùng muối đổi ngựa, lại dùng ngựa đổi vàng, kiếm tiền của quý tộc!”

“Chà!” Tử Khải tấm tắc, “kẻ này đúng là tinh ranh, đầu óc cũng nhạy bén thực! Nếu tài trí này mà dùng để kinh thương, chẳng phải tiền trong thiên hạ đều chảy hết vào túi hắn?”

Mọi người đều cười, không còn nghi ngại gì về chuyện đổi muối Ba nữa.

“Trao đổi thế nào?” Vương thúc hỏi.

“Anh Bành giải thích đi.” Xạ Cao Quân nhìn sang Bành Quân.

“Xa Vệ Tần đề nghị tính theo thị giá, tôi không đồng ý. Bởi nếu theo thị giá, ta sẽ lỗ to.”

“Ồ?” Tử Khải ngơ ngác, “sao lại lỗ to?”

“Lưỡi cày chúng ta bán đi, giá cao gấp ba lần,” Bành Quân bấm ngón tay tính toán, “tức là một lưỡi cày bán giá mười lăm thù, song thực tế chỉ đáng giá năm thù. Một lưỡi cày đổi được năm cân muối, tính ra một lưỡi cày theo giá người Tần mua đổi được mười lăm cân muối, há chẳng phải lỗ to?”

Nghe Bành Quân nói vậy, mọi người đều giật mình.

“Chú Bành thật là sáng suốt, vậy chú định thế nào?” Tử Khải sốt sắng hỏi.

“Theo ý của chú,” Bành Quân thủng thẳng nói, “trước kia lưỡi cày là hàng gấp, lại mua với lượng lớn, nên giá mới bị đẩy lên cao, nên không thể trao đổi căn cứ vào giá bình thường được. Chúng ta khó khăn lắm mới gom đủ lưỡi cày, giờ lại thình lình đổi sang muối. Người Tần muốn ăn muối, người Sở cũng phải ăn, chuyển một lượng muối lớn đến vậy cho người Tần, muối Sở ắt sẽ tăng giá, nếu tính theo thị giá hiện tại, thì không hợp lý!”

“Chà,” Tử Khải gật gù, “chú Bành quả là thấu đáo! Vậy Xa Vệ Tần nói sao?”

“Xa Vệ Tần bảo chú ra giá, sau đó sẽ về bàn với Trương đại nhân. Chú không dám ra giá ngay, mà tới đây cùng mọi người thương lượng.” Bành Quân nhìn sang vương thúc, “chuyện này, tùy anh hai quyết định!”

Mọi người đều nhìn vào vương thúc. Vương thúc nhắm mắt, khẽ chau mày, trầm ngâm suy nghĩ. Ba người kia đều im lặng, chờ đợi vương thúc lên tiếng.

“Thế này được không?” Vương thúc ngẩng đầu, “đổi sang muối Ba, chuyện này có thể đồng ý. Còn về giá cả, như lời người Tần, cứ theo thời giá!”

“Anh hai?” Bành Quân cuống lên, “theo như thời giá, một cân muối chỉ một thù thôi!”

“Vì sao nhất định phải là một thù?” Vương thúc vặc lại. Mọi người đều không hiểu, cứ ngây ra nhìn nhau.

Người bừng tỉnh đầu tiên chính là Tử Khải. Tử Khải vỗ mạnh xuống án: “Hay lắm!”

Bành Quân, Xạ Cao Quân đều đưa mắt nhìn sang.

“Muối là của nhà ta, hiệu muối là do ta mở, thị giá cũng là do ta định, ha ha ha ha. Giao kèo này mà ký, thì người Tần chết với ta!” Tử Khải giải thích.

Bành Quân, Xạ Cao Quân lúc này cũng đã hiểu ra, thảy đều xuýt xoa khen ngợi.

“Có thể ký giao kèo với họ rồi, nhớ phải viết rõ, tính theo thời giá. Kể từ ngày mai, tất cả các hiệu muối tạm ngừng bán muối. Còn về lý do, tự nghĩ ra đi.” Vương thúc nhìn sang Tử Khải, “cháu hiền, sức khoẻ của cháu ổn rồi chứ?”

Tử Khải vỗ ngực: “Đã khoẻ như vâm!”

“Mấy suối muối của ta, cháu hãy đi giám sát. Cần phải đốc thúc người Ba cấp tốc nấu muối. Đối đãi tử tế với họ, sắp xếp ăn ở chu đáo, có thể đưa ra chế độ thưởng phạt, chăm thì thưởng, lười thì phạt, để khích lệ họ.” Vương thúc chợt thở dài, cất giọng cảm khái, “than ôi, bao năm qua, chúng ta đã mắc nợ người Ba không ít.”

“Cháu đã hiểu!”

“Thực không thể ngờ,” Xạ Cao Quân không kìm nổi niềm hưng phấn, “đại thần Vu Hàm không những cứu sống tính mạng của cháu hiền, mà giờ còn để muối Ba giúp ta giải quyết chuyện nan giải!”

“Chú Xạ Cao nói phải lắm.” Tử Khải tiếp lời, “chúng ta nên thờ phụng đại thần Vu Hàm mới phải! Cháu có ý này, suối muối núi Vu Hàm là do đại thần Vu Hàm ban cho người Ba, nay đã chuyển qua tay người Sở. Nay đại thần còn cứu mạng cháu, xem ra đại thần không chỉ là thần của người Ba, mà còn là thần của người Sở ta. Chúng ta có thể dựng miếu Vu Hàm tại đất phong của mỗi nhà, các hiệu muối cũng lập khám thờ đại thần Vu Hàm, thỉnh cầu tư tế người Ba cúng tế đại thần Vu Hàm, để đại thần đời đời kiếp kiếp phù hộ cho người Sở ta!” Nói đoạn, nhìn sang hai phong quân, “vì chuyện này, vương thúc đã dẫn đầu quyên góp một trăm hoàn vàng, cháu cũng quyên một mảnh bảo địa ở nơi sầm uất tại phố Đông, chung sức dựng miếu Vu Hàm tại đó, cho người Sở có chỗ tế bái!”

Xạ Cao Quân, Bành Quân đều vỗ tay khen hay, cùng nhận lời sẽ cho dựng miếu đại thần tại đất phong của mình, kính cẩn thờ phụng.

Sự việc ô kim đã kết thúc, Khuất Bình viết một bức thư dài gửi cho Tô Tần, kể lại toàn bộ tình hình nước Sở cùng việc mình được Sở Vương trọng dụng, lại mời Tô Tần tới Sở, để bàn kế hợp tung chế Tần.

Thư gửi đi rồi, Khuất Bình bắt đầu suy nghĩ tới việc chọn người đi sứ sang Tề.

Theo như tình hình trước mắt, người thích hợp nhất chính là bản thân Khuất Bình, song vào lúc này, Khuất Bình thực sự không thể đi được, mà Hoài Vương cũng sẽ không để Khuất Bình đi, bằng không, đã chẳng hạ lệnh tiến cử “người thích hợp”.

Ai mới là người thích hợp đây?

Khuất Bình suy đi nghĩ lại, mãi vẫn chưa nghĩ ra ai. Văn võ bá quan trong triều, ai cũng có thể đi, song đều chưa xứng là “người thích hợp”.

Có một người “hơi hơi thích hợp” là công tử Như, song Khuất Bình lại mau chóng gạt bỏ ý nghĩ này. Thứ nhất, công tử Như ở tít tận đất phong Tương Nguyên xa xôi, cách Sính Đô hơn nghìn dặm, núi sông ngăn trở, lúc này cử người đi mời, đợi mời được về cũng phải mất vài tháng. Thứ hai, công tử Như vốn không thích bó buộc, chí không ở triều đình. Lần trước theo Tô Tần hợp tung, Tử Như tuy là sứ thần của Sở, song chẳng bao giờ đưa ra chủ kiến, là người thì tốt, song không thể là sứ thần thích hợp.

Trong lúc Khuất Bình đang căng óc suy nghĩ, một bóng người bỗng vụt hiện trong trí não.

Trần Chẩn!

Phải rồi, nhìn từ khía cạnh nào, Trần Chẩn đều xứng đáng là “người thích hợp” để tiến cử lên Hoài Vương. Kỳ thực, Khuất Bình không có ấn tượng tốt đẹp với Trần Chẩn, nhất là sau chuyện hãm hại Trương Nghi, cản trở Tô Tần hợp tung, Khuất Bình một dạo còn căm người này là đại ác. Tuy nhiên, hội thề Nghiết Tang đã thay đổi hoàn toàn ấn tượng của Khuất Bình về Trần Chẩn.

Khuất Bình lập tức đi ngay, tới thẳng phủ trạch của Trần Chẩn.

Phủ tả đồ nằm sát phủ Chiêu Dương, phủ trạch của Trần Chẩn lại gần như đối diện chéo với phủ Chiêu Dương, cung cách xây dựng và địa thế na ná như nhau, khác chăng ở chỗ, Chiêu phủ và phủ tả đồ là do Sở Vương ban cho, còn Trần phủ là do Trần Chẩn bỏ tiền ra mua.

So sánh ra thì phủ trạch của Trần Chẩn có nhỏ hẹp hơn, song ở giữa Sính Đô này, có được một toà phủ đệ như thế, cũng được coi là danh giá lắm rồi.

Trần Chẩn nhận được tin báo, vội vã ra đón, cầm tay Khuất Bình dẫn vào trong sảnh.

“Chà chà!” Trần Chẩn chăm chú nhìn Khuất Bình một hồi, cảm khái mà rằng, “thực không thể ngờ, đường đường Đại Sở, lại được an trị trong tay một người tuổi trẻ thế này!”

Rõ ràng, Trần Chẩn đánh giá rất cao tài năng của Khuất Bình.

“Lời của tiên sinh, e là quá sớm!” Khuất Bình vòng tay cảm tạ, rồi cười buồn mà nói, “nước Sở đã quá già, bệnh trầm kha quá nhiều, tích tụ lâu ngày, khó mà chữa trị!”

“Nghe được lời này của tả đồ, nước Sở hẳn còn hi vọng!” Trần Chẩn đáp lễ, rồi nói, “tả đồ thân bận trăm công nghìn việc, nay lại hạ mình tới tận hàn xá, hẳn có việc cần tới Chẩn. Tả đồ và tại hạ đều là người thẳng thắn, xin hãy nói đi!”

“Đi sứ sang Tề.”

“Kết Tề chế Tần?”

“Chính phải!”

“Là ý chỉ của đại vương ư?” Trần Chẩn nhìn thẳng vào Khuất Bình.

“Không!” Khuất Bình lắc đầu, “đại vương lệnh cho Nguyên tiến cử người thích hợp để đi sứ sang Tề, Nguyên suy đi nghĩ lại, thấy người thích hợp nhất, duy có tiên sinh!”

Trần Chẩn nhắm mắt, chìm vào suy nghĩ.

“Tiên sinh,” Khuất Bình chậm rãi nói, “trận chiến Tích Thuỷ, thất bại trước Tần, đại vương đã bừng tỉnh rồi. Đại vương đã hiểu, đại họa của ta, không phải ở Tần, mà là ở chính bản thân Sở. Đại vương đã quyết tâm chỉnh đốn, tuy nhiên, trị nội là một cuộc chiến quyết liệt, nhất là nước Sở, núi cao sông lớn, đất rộng người tạp, lỡ có chút sơ suất, hậu quả khó lòng tưởng tượng. Cho nên trước mắt, không thể ngoại chiến.”

“Ồ!” Trấn Chẩn ngạc nhiên, “tả đồ dựa vào đâu mà đoán được, nước Sở sắp có ngoại chiến?”

“Dám hỏi tiên sinh,” Khuất Bình nhìn thẳng vào Trần Chẩn, “nếu tiên sinh là Tần Vương, hay là Trương Nghi, liệu có thể bình chân như vại nhìn Đại Sở dốc lòng trị nội? Đại vương đã cắt đứt việc cung ứng ô kim cho Tần, liệu tiên sinh có cam tâm chăng?”

Trần Chẩn mỉm cười, gật đầu.

“Còn nữa,” Khuất Bình nói tiếp, “bất luận là Ngụy, Triệu, Hàn, Yên hay Tề, Tô Tử đánh trận nào thắng trận nấy, còn Trương Nghi chỉ toàn chuốc thất bại, nếu tiên sinh là Trương Nghi, liệu có cam tâm? Lần trước ở Nghiết Tang, vãn bối có gặp riêng Tô Tử, Tô Tử nói, nước cờ tiếp theo của Trương Nghi, ắt sẽ ở Sở! Vãn bối trẻ người non dạ, lời của Tô Tử, không thể không nghe!”

“Hay lắm, tả đồ đại nhân,” Trần Chẩn gật gù, “hiểu được điều này, ở nước Sở không có được mấy người đâu!”

“Tiên sinh quá khen!” Khuất Bình vòng tay.

“Tả đồ đại nhân có thể tiến cử lên đại vương,” Trần Chẩn vòng tay, “cứ nói rằng Chẩn nguyện đi một chuyến vì tả đồ!”

Dường như chỉ sau một đêm, toàn bộ các hiệu muối lớn nhỏ trong Sính Đô nhất loạt dừng bán muối.

Lúc đầu, các hiệu muối đều không chịu giải thích, sau nhiều người hỏi quá, nên mỗi nhà viện ra một lý do, nào là kiểm hàng, nào là sửa sang, cửa hiệu, nào là đang đổi người làm, nào là bán hết, nào là đang đợi hàng chở đến...

Song người Sính Đô cũng không quá để tâm, bởi một ngày không có muối cũng chẳng sao cả.

Ngày thứ hai đi mua, vẫn không có muối.

Tới ngày thứ ba, các hiệu muối đều bán trở lại, song người đến mua bàng hoàng nhận ra, giá muối đã khác, từ mỗi cân một thù biến thành hai thù. Muối bán ngoài chợ, nhất thiết phải đổi bằng vàng ròng. Hai mươi tư thù là một lượng, sáu lượng vàng ròng là một hoàn.

Mới nghỉ bán có hai ngày, muối Ba đã tăng giá gấp đôi, người Sính Đô không còn bình tĩnh được nữa, túm tụm trước các hiệu muối phản đối ầm ĩ. Dân chúng nghe phong thanh, ai nấy đều lo lắng, cũng kéo nhau tới các hiệu muối nghe ngóng, song không ai chịu mua. Dù có nhà đã hết sạch muối ăn, cũng quyết không mua giá đắt.

Còn tại sao lại tăng giá, các hiệu muối đều không giải thích nguyên do.

Lại hai ngày nữa trôi qua, người dân vẫn chỉ xem mà không mua. Tới ngày thứ ba, giá muối trong cửa hiệu lại có thay đổi, mỗi cân ba thù.

Giá muối tăng gấp ba chỉ trong năm ngày, người Sính Đô nổi giận, kết thành từng đoàn kéo tới phủ tả đồ tố cáo.

Cùng lúc này, từ cửa ải Hắc Thuỷ có cấp báo đưa về, nói rằng có nhiều cỗ xe chở đầy ắp muối qua ải vào Tần. Do muối không phải hàng cấm xuất quan, hơn nữa người chở lại trình ra kim bài của đại vương, nên họ không thể ngăn cản, thuế quan cũng không thu được.

Khuất Bình lập tức bừng hiểu, một trận đại chiến còn dữ dội hơn cả vụ ô kim đã mở màn. Và đối thủ của mình trong trận đại chiến này, chính là đội ngũ vương thân phong quân, mà nhân vật cầm đầu chính là vương thúc. Bởi lẽ ba suối muối lớn của đất Ba đều hoàn toàn nằm trong tay họ.

Khuất Bình quyết định đi nước cờ hiểm, sau khi tiến cử Trần Chẩn lên Hoài Vương, thì kéo theo Chiêu Tuy, tìm đến phủ trạch của Trần Chẩn.

“Tiên sinh,” Khuất Bình nói thẳng vào đề, “thỉnh cầu lần trước, đại vương đã phê chuẩn. Xin tiên sinh hãy nhận lấy những vật này!” Lấy ra chiếu thư và sứ tiết, đặt lên trên án của Trần Chẩn, rồi chỉ sang Chiêu Tuy, “mọi việc cần chuẩn bị cho chuyến đi sứ lần này, sẽ do Chiêu Tuy lo liệu, phiền tiên sinh vất vả một chuyến!”

“Chẩn nguyện dốc sức! ” Trần Chẩn vòng tay đáp lễ, “dám hỏi tả đồ, lúc nào lên đường?”

“Càng nhanh càng tốt, không chờ được nữa!” Khuất Bình rầu rĩ.

“Có chuyện gì mà phải gấp gáp làm vậy?”

“Muối!”

“Ý tả đồ là,” Trần Chẩn chớp mắt vài cái, “ngoài sứ mệnh, còn có...”

“Phải,” Khuất Bình vòng tay đáp, “muốn nhờ tiên sinh nhân tiện kinh thương một chuyến, chở về ít muối biển cho. Nghe nói muối biển đất Tề ngon lại rẻ, hương vị chẳng hề thua kém muối Ba.”

Trần Chẩn phá lên cười sảng khoái, giọng đầy ẩn ý: “Phải rồi, tiền thì phải cho mọi người cùng kiếm, không thể để một người độc hưởng!”

“Tiên sinh nói phải lắm!” Khuất Bình đáp, “thương vụ làm ăn này, sẽ tính phần cho tiên sinh!”

“Hay lắm!” Trần Chẩn vòng tay, “Chẩn đang chờ câu nói này! Dám hỏi tả đồ, định mua bao nhiêu?”

“Càng nhiều càng tốt.”

“Càng nhiều càng tốt, cũng phải có một con số cụ thể chứ!”

“Ba trăm xe!” Khuất Bình suy nghĩ một thoáng, nói tiếp, “chia làm ba chuyến, chuyến thứ nhất năm mươi xe, chuyến thứ hai một trăm xe, chuyến thứ ba một trăm năm mươi xe!”

“Thực lượng của tả đồ cũng lớn thực!” Trần Chẩn tiếp lời, “một xe chở đầy, ít cũng phải bốn năm gánh đấy!”

“Đất Sở rộng lớn, buôn bán cũng dễ.” Khuất Bình mỉm cười, “hơn nữa, cũng là tiện có tiên sinh!”

Trần Chẩn cười lớn: “Phải, phải, lão phu mang tới cho Tề Vương mối làm ăn lớn thế này, Tề Vương không muốn kết minh cũng khó! Nhưng nói đi cũng phải nói lại, đã là kinh doanh, giá cả thế nào, trả tiền thế nào, tả đồ hẳn đã nghĩ đến?”

“Cứ theo thị giá của Tề, chở tới biên giới Sở, phí vận chuyển người Tề chịu, giao hàng trả tiền, thế nào?”

“Tả đồ phải đặt cọc một khoản đấy. Ngộ nhỡ hàng tới không chịu nhận thì sao?”

“Tiên sinh yên tâm,” Khuất Bình đáp, “đã là buôn bán, tại hạ đương nhiên sẽ theo đúng quy tắc!” Nhìn sang Chiêu Tuy, “Chiêu huynh, theo lệ thì nên đặt cọc thế nào?”

“Cái này thì không có quy định, có người đặt một phần, có người đặt ba phần!” Chiêu Tuy đáp.

“Tiên sinh, hai phần, thế nào?” Khuất Bình nhìn sang Trần Chẩn.

“Được!”

Hai người vừa ra khỏi cửa, Chiêu Tuy đã quay sang Khuất Bình kêu lên: “Tả đồ, hai phần tiền của ba trăm xe muối, tả đồ biết là bao nhiêu chứ? Kiếm ở đâu ra?”

“Đi, giờ ta đi kiếm!” Khuất Bình kéo theo Chiêu Tuy, rẽ vào một ngõ, lại đi thẳng tới phủ trạch của chính nhà họ Chiêu.

“Mua muối của người Tề? Năm mươi xe?” Chiêu Dương nheo mắt như hai đường kẻ chỉ, hồi lâu sau mới, quay sang quản gia, “Hình Tài, tính thử xem, theo thị giá của Tề, năm mươi xe muối cần bao nhiêu hoàn vàng?”

“Đúng bảy trăm hoàn!” Hình Tài gảy bàn tính một hồi, đưa ra số tiền.

“Chuấn bị đủ bảy trăm hoàn!”

“Lão nô tuân lệnh!” Hình Tài vòng tay đáp, rồi đi ngay.

Chiêu Dương cười sảng khoái, nhìn sang Khuất Bình: “Này người trẻ tuổi, đây là một thương vụ tốt đấy, cũng nên góp một phần mới phải!”

“Tạ ơn đại nhân ủng hộ!” Khuất Bình vòng tay, “có đại nhân che chở, vãn bối đã đủ mát lòng mát dạ lắm rồi. Không chỉ một mình vãn bối, tin rằng Khuất môn, Cảnh môn cũng sẽ không bỏ qua cơ hội nghìn năm có một này! Nếu đại nhân không từ chối, không chừng đại vương, nương nương cũng sẽ góp vào một phần đấy!”

“Tốt lắm! Tốt lắm!” Chiêu Dương mừng rỡ, “có tiền, mọi người cùng kiếm.” Đoạn vòng tay, “chỗ Khuất môn, Cảnh môn, cả chỗ đại vương, nương nương, phải phiền tới tả đồ rồi!”

“Vãn bối nguyện tận lực!” Khuất Nguyên đưa mắt với Chiêu Tuy, rồi từ biệt ra về.

“Chẳng phải là ba trăm xe ư? Sao lại nói có năm mươi xe?” Chiêu Tuy không hiểu.

Khuất Bình cười bí hiểm: “Nhiều quá, khiến lệnh tôn chết khiếp thì sao? Hơn nữa, có bảy trăm hoàn này, đã dư tiền đặt cọc rồi!”

Binh quý ở thần tốc.

Đoàn sứ giả sang Tề của Trần Chẩn lên đường ngay sáng sớm hôm sau.

Xe ngựa chuẩn bị lăn bánh, Khuất Bình đến tiễn, nắm tay Trần Chẩn mà nói: “Tiên sinh, chuyện buôn muối lần này, không thể sơ suất. Mua bán dùng tiền mặt, không cần thiết phải bẩm với Tề Vương, tới đất Tề rồi, lập tức mua hàng, gấp rút chuyển về năm mươi xe trước!”

“Đã hiểu!” Trần Chẩn chỉ vào một cỗ xe ở sau lưng, “có người thạo tính toán, tính khí lại nôn nóng đang bám theo sau kìa.”

Khuất Bình ngẩng đầu nhìn, thấy sau lưng mình có một cỗ xe, trong xe thò ra một cái đầu.

Là quản gia của Chiêu phủ, Hình Tài.

Lại một đêm dài dằng dặc.

Trong nhà cỏ, Khuất Bình khép mắt ngồi nghiêm trang, sau lưng là một giá lớn dựa tường, xếp đầy thẻ tre.

Bạch Vân bước vào, bưng theo một bát chè hạt sen, khẽ khàng đặt lên án trước mặt Khuất Bình, sau đó vặn đèn, châm dầu, thêm hương. Nhưng Khuất Bình cứ như không hề hay biết.

Bạch Vân liếc nhìn Khuất Bình, lên tiếng: “Đại nhân?” “ừm!” Khuất Bình ậm ờ lơ đãng.

“Giá muối tăng tới sáu thù rồi!”

“Ừm!”

“Bách tính sục sôi oán hận!”

“Ừm!”

“Nghe nói các hiệu muối ngày mai lại đòi đóng cửa!”

“Ừm!”

“Ừm ừm ừm!” Bạch Vân trừng mắt giận dỗi nhìn Khuất Bình, “đại nhân chỉ biết có ừ hữ thôi ư? Đại nhân có nghe thấy không đấy?”

“Cứ để họ tăng.” Khuất Bình lúc này mới ngẩng đầu lên, đưa mắt nhìn nàng, mỉm cười biết lỗi, “chỉ một tháng nữa, giá muối sẽ xuống thôi!”

“Vì sao kia?” Bạch Vân ngạc nhiên hỏi.

“Bởi tại hạ đã cho người sang Tề, nếu không ngoài dự liệu, ba trăm xe muối Tề chẳng bao lâu nữa sẽ về tới!”

“Hay quá!” Bạch Vân phấn chấn reo lên, ánh mắt đây khâm phục xen lẫn tôn kính, “cứ ngỡ đại nhân chỉ là mọt sách, nào ngờ...”

Thế nhưng, Khuất Bình lại thở dài buồn bã.

Bạch Vân ngạc nhiên: “Muối sắp về tới, đại nhân nên vui mừng mới phải, cớ sao lại thở ngắn than dài vậy?”

“Muối chỉ là bề ngoài, không phải bên trong.”

“Bên trong, là ở đâu?”

“Ở chế.”

“Chế?” Bạch Vân ngơ ngác.

“Chẳng hạn nói về muối này,” Khuất Bình giải thích, “y theo vương chế, muối, sắt, kim loại, thuỷ sản hồ đầm sông suối của Sở, bề ngoài thì đều là của vương thất, song quyền kiểm soát thực tế, lại nằm trong tay các phong quân, nhất là,” liếc nhìn Bạch Vân, “nhất là vị vương thúc trong mộng của người nào đó, gần như sở hữu toàn bộ suối muối, cai quản toàn bộ hiệu muối trong cả nước!”

“Ồ?” Bạch Vân mở tròn mắt, băn khoăn, “nếu đã là của vương thất, chẳng phải đại vương hạ chỉ thu hồi là được ư?”

“Đại vương chỉ có thể thu hồi phần đại vương phong tặng, chứ không thể thu hồi toàn bộ!”

“Vì sao kia?”

“Đó chính là chế, cũng chính là chỗ khúc mắc lớn nhất!” Khuất Nguyên chỉ vào hàng bó mệnh thư vương chế đủ mọi triều đại đang bày trên án, “chế độ do tổ tiên nước Sở đặt ra, là phân phong, đất đai của cả nước thuộc về nhà vua, cũng thuộc về toàn bộ vương thất, nhà vua sẽ dựa theo công lao và quan hệ thân sơ để chia đất phong cho các thành viên trong vương thất. Từ ngày có nước Sở tới nay, đời vua nào cũng phong đất cho vương thất, đất phong sẽ thành tài sản riêng của người được phong, đời đời sở hữu, cho nên các vua đời sau cũng không thể huỷ bỏ được!”

“Ồ...” Bạch Vân chau mày, “đất đai có hạn, đời đời phân phong, chẳng phải sẽ đến lúc hết đất mà chia?”

“Hết đất phân phong, người Sở sẽ phát động chiến tranh, chinh phạt láng giềng. Nước Sở vốn ở Đan Dương, một vùng đất hẹp, tới nay dọc ngang đều vài nghìn dặm, đều là bởi thế.”

“Hết cách rồi sao?” Bạch Vân hỏi.

“Có một cách,” Khuất Bình chỉ vào số vương thư, “thay đổi pháp của tiên vương, cải cách chế độ của tiên vương!”

“Phải rồi!” Bạch Vân hỏi dồn, “sao đại nhân không khuyên can đại vương? Tiên vương là vua, đại vương cũng là vua. Tiên vương có thể lập pháp, đại vương cớ sao không thể lập pháp? Tiên vương có thể định chế, đại vương cớ sao không thể định chế?”

“Tại hạ đã từng khuyên,” Khuất Bình cười buồn, lắc đâu, “nhưng đại vương vẫn chần chừ chưa quyết!”

“Lẽ nào đại vương không muốn cải chế?”

“Nằm mơ cũng muốn. Đại vương thậm chí hiểu rõ, không đổi pháp chế, Sở ắt diệt vong!”

Bạch Vân ngẫm nghĩ một chốc, rồi ngẩng lên hỏi: “Giá muối tăng vọt gấp mấy, đại vương có biết không?”

“Biết,” Khuất Bình gật đầu, “ngày ngày tại hạ đều tấu báo!”

“Tấu báo, tấu báo,” Bạch Vân càng chau tít đôi mày, “đám bề tôi các vị thì chỉ biết có tấu báo! Đại nhân nên kéo đại vương ra chợ đi quanh một vòng, để đại vương tận mắt nhìn thấy con dân của mình mới phải!”

Khuất Bình ngẫm nghĩ chốc lát, bỗng hai mắt sáng rỡ, bưng bát chè sen lên, uống một ngụm lớn, chép miệng khen ngợi: “Chà, thơm ngọt quá!”

Tại khu vực sầm uất ở phố Tây Sính Đô, một ngày đầu đông nắng ráo.

Hoài Vương cải trang thành thương nhân, cùng Khuất Bình, Khuất Dao, cung doãn, một nhóm bốn người nói cười vui vẻ hoà lẫn giữa đám đông. Hai bên đường phố, hàng quán san sát, người mua kẻ bán tấp nập. Người qua lại trên đường, lúc tụ lúc tán, trò chuyện rôm rả, không khí vô cùng náo nhiệt.

Phố Tây là chỗ quần cư của người bình dân cùng tầng lớp hạ tiện, Hoài Vương chưa tới đây bao giờ, nên dọc đường hết sức hiếu kỳ, luôn miệng hỏi Khuất Bình và Khuất Dao hết cái này đến cái khác.

Đột nhiên, đoạn đường phía trước bị nghẽn lại bởi một toán thường dân đang kêu réo giận dữ. Họ rất đông, không dưới hai trăm người, chen vai thích cánh chật ních cả quãng phố.

Hoài Vương tò mò tiến lại gần xem thử. Thì ra ở đó có một hiệu buôn, cửa đóng im ỉm, người dân đang phẫn nộ vây quanh, đập cửa uỳnh uỳnh, chửi bới lăng mạ không tiếc lời.

“Xin hỏi lão trượng,” Hoài Vương hỏi thăm một ông lão bên cạnh, chỉ vào đám đông, “họ đang làm gì thế?”

Lão trượng liếc nhìn Hoài Vương từ đầu đến chân, rồi chỉ lên phía trên: “Nhìn đi!”

Hoài Vương ngước nhìn theo tay chỉ, thấy trên khung cửa có một tấm biển, trên đề bốn chữ “Hàng muối Bành thị”.

Hoài Vương giờ mới sực nhớ tới chuyện giá muối, trong lòng giật thột, vội hỏi lão trượng: “Muối... hôm nay mấy thù?”

“Than ôi,” lão trượng chỉ vào cửa hiệu, “chuyện hôm nay không phải là mấy thù, mà là không thèm mở cửa!”

“Ồ, cớ sao không mở cửa?”

“Nói rằng đã hết hàng.”

“Hết hàng?” Hoài Vương lấy làm khó hiểu, “hết thì nhập thêm chứ sao!”

Lão trượng liếc nhìn Hoài Vương: “Nghe giọng nói, khách nhân hẳn không phải là người từ nơi khác đến, sao lại không hiểu?” Lại chỉ vào cửa hiệu, giọng không kìm được giận dữ, “trong kho nào có thiếu hàng, hiện đang chất đống ở sân sau!”

“Thế thì lạ thật,” Hoài Vương càng thêm khó hiểu, “có hàng, cớ sao không bán?”

“Để tăng giá!” Lão trượng càng nói càng phẫn nộ, “nội trong tháng này, hiệu muối đã đóng cửa ngừng bán sáu lần, mỗi lần đóng cửa lại tăng giá muối lên một thù, giờ thì muối Ba còn đắt hơn cả đồng! Không chỉ có thế, mãi họ mới chịu mở cửa, nhưng bán ra rất dè sẻn, mỗi người chỉ được mua bốn lạng! Nhà đông người, bốn lạng thì đủ ăn mấy bữa?”

“A... lại có chuyện như vậy sao?” Hoài Vương sửng sốt, rồi lại hỏi, “nhà này đóng cửa, sao không tới nhà khác mà mua?”

“Than ôi,” Lão trượng thở hắt ra, “trong khắp Sính Đô này, toàn bộ hiệu muối đều bán cùng một giá, đóng cửa thì cùng đóng cửa, tăng giá thì cùng tăng giá, bán dè sẻn thì cùng bán dè sẻn.” Nói đoạn gạt nước mắt, “người không ăn rau còn được, không ăn muối sao được, ăn không ngon miệng đã đành, mà người cũng rệu rã không còn sức lực, thì làm việc nặng sao nổi đây!” Nói rồi lắc đầu bỏ đi.

“Hiệu muối này là của ai?” Hoài Vương nhìn sang Khuất Bình, hoả khí ngùn ngụt.

“Họ Bành,” Khuất Bình chỉ vào tấm biển, khẽ nói, “hẳn là Bành Quân, ở các khu phố, các biển hiệu đa phần đều đi kèm họ, dòng tộc, Bành thị là của Bành Quân. Phía trước còn có một cửa hiệu, là của Xạ Cao Quân. Phố kế bên có hai cửa hiệu, một là Ngạc thị, một là Kỷ thị.”

“Sính Đô rộng lớn nhường này, lẽ nào chỉ có mấy nhà đó thôi?”

“Ở Sính Đô còn có vài họ khác nữa, đều là vương thất, phong quân.” Khuất Bình chỉ về các hướng, “bên ngoài Sính Đô, có một vài cửa hiệu là của tông thân họ Khuất, họ Chiêu, họ Cảnh, nhưng muối của họ cũng phải nhập về từ suối muối, nên không dám không nghe theo mệnh lệnh từ suối muối.”

Hoài Vương sắc mặt sa sầm, sải bước đi trước.

“Không chỉ có muối,” Khuất Bình đuổi theo vài bước, nói tiếp, “đồng, ô kim, cá thịt... đại đa số các mặt hàng và cửa hiệu, thậm chí có thể nói, phàm là những thứ có thể sinh lời, đều không thoát khỏi tay mấy dòng họ đó!”

Hoài Vương dừng bước, ngoảnh đầu, ngước nhìn lên tấm biển treo trên hiệu muối, rồi lại sải bước, rẽ vào một con phố khác.

Khuất Bình hạ giọng hỏi: “Đại vương vẫn muốn xem hiệu muối ư?”

“Xem!” Hoài Vương hằm hằm giận dữ, “ta phải xem hết một lượt!”

Hoài Vương đi liền mấy con phố, đâu đâu cũng nghe thấy tiếng người mua muối chửi bới, than thở, oán hận, thậm chí có người giận quá, chửi văng đến tận quân vương nước Sở.

Hoài Vương càng đi càng giận dữ khó kham, đôi mày chau tít, bước chân mỗi lúc một nặng nề.

“Đại vương,” Khuất Bình khẽ tâu, “đã xem tám nhà rồi!”

“Than ôi, nhìn thấy mà kinh!” Hoài Vượng giọng đầy đau xót.

“Đại vương nếu muốn xem cảnh đẹp, tìm thú vị, thì phía trước có một phố hoa!” Khuất Bình chỉ về một con phố khác.

“Phố hoa?” Hoài Vương có vẻ phấn chấn, “đi!”

Rẽ qua vài khúc ngoặt, thì đến con phố bán hoa. Phố không dài, bày bán toàn hoa thơm cỏ lạ, đủ màu đủ vẻ.

Xem qua vài nhà, Hoài Vương chợt ngửi thấy một mùi hương thoang thoảng, ngẩng đâu nhìn lên, thấy một tấm biển đề “Ba Sơn lan uyển”, trong cửa hiệu khách không đông, chỉ thấy có dăm ba người đang chọn hoa.

“Ồ, ở đây có một vườn lan!” Hoài Vương nhìn sang Khuất Bình.

Khuất Bình đưa ngón tay lên môi, ra hiệu im lặng, rồi đưa mắt vào trong cửa hiệu.

Hoài Vương nhìn vào, thấy phía sau mấy chậu hoa lan có một thiếu nữ đang đứng, thân mặc Ba phục, nhìn kỹ, té ra là Bạch Vân.

“Là tư tế!” Hoài Vương lấy làm phấn chấn, lại nhìn tấm biển, “cửa hiệu này là của nàng ấy ư?”

Khuất Bình mỉm cười: “Không giấu đại vương, từ lúc tư tế tới sống ở nhà thần, vườn lan của thần đã gặp tai hoạ.

Lan liên tục mất tích, đầu tiên là mất từng cây, tiếp đó là mất từng khoảnh, thần điều tra đủ cách, cuối cùng mới phát giác ra, đã bị tư tế dọn cả tới đây rồi!”

“Suỵt...” Hoài Vương ra hiệu, rồi tiến vào trong cửa hiệu, đứng vào một góc. Khuất Dao, cung doãn định bước vào theo, thì bị Khuất Bình kéo lại.

Hai vị khách đã chọn xong hoa, trả tiền rồi bưng chậu hoa đi luôn. Trong cửa hiệu chỉ còn lại Hoài Vương và một vị khách cuối cùng.

Bạch Vân nhìn thấy Hoài Vương, vờ như không nhận ra, khom lưng hỏi: “Quý khách muốn mua hoa ư?”

Thấy Bạch Vân không nhận ra mình, Hoài Vương lấy làm phấn khởi, cũng vái đáp lễ, chỉ vào một chậu hoa hỏi: “Đây là lan gì?”

“Yến lan!” Bạch Vân đáp, “đang trổ nụ, sắp nở hoa rồi!”

“Lấy chậu này!” Hoài Vương chỉ vào một chậu khác, “đây là lan gì?”

“Lan diên vĩ!”

“Lấy chậu này.” Hoài Vương lại chỉ vào một chậu vẫn chưa nở hoa, “còn lan này?”

“Lan báo xuân!”

“Lấy chậu này.”

Hoài Vương liên tục chỉ, liên tục lấy, vị khách đang kén chọn kia có vẻ lo lắng, vội chỉ vào một chậu nói: “Chậu này... chậu này!”

Bạch Vân đưa chậu hoa cho khách. Vị khách lập tức trả tiền rồi bưng chậu hoa đi khỏi.

Hoài Vương mỉm cười, lại lần lượt chỉ vào từng chậu hoa lan còn lại trong cửa hiệu. Chỉ được một lúc, Bạch Vân không lấy nữa, cười nói: “Quý nhân, ngài định mua sạch cửa hiệu của tôi ư?”

“Cô chủ không nỡ bán sao?”

“Có người mua, sao lại không nỡ bán? Nhưng nếu quý nhân nói là mua toàn bộ, thì tôi đỡ phải bưng bê nãy giờ!”

“Xem cô chủ bưng chậu hoa, cũng rất vui mắt!”

Bạch Vân cười: “Thế thì tôi phải tính thêm tiền công cho quý khách!” Rồi đem toàn bộ chậu lan bưng lại, gom vào một chỗ, xếp thành hai hàng dài.

“Bao nhiêu tiền?” Hoài Vương vuốt râu hỏi.

Bạch Vân đếm xong, nói: “Có ba mươi ba chậu, trong đó có mười chậu mỗi chậu ba thù, mười chậu mỗi chậu hai thù, mười ba chậu còn lại, mỗi chậu một thù, vị chi là...” bấm ngón tay nhẩm tính, “sáu mươi ba thù!”

Hoài Vương vỗ tay. Ba người Khuất Bình liền bước vào.

“Khuất... Khuất đại nhân?” Bạch Vân ra bộ kinh hãi.

“Té ra là tư tế đại nhân, hôm nay bị bắt quả tang rồi nhé!” Khuất Bình chỉ vào mấy chục chậu lan, “thảo nào vườn lan của tại hạ ngày càng hao hụt!”

Mọi người cười ồ lên.

“Có đáng gì đâu?” Bạch Vân bĩu môi, “đợi tôi quay về Ba Sơn, sẽ đào cho đại nhân nguyên một thuyền lớn!”

“Được rồi, được rồi.” Khuất Bình cười, “tư tế có biết đang bán hoa lan cho ai không?”

“Bán cho quý nhân này!” Bạch Vân chỉ vào Hoài Vương.

“Có biết quý nhân này là ai không?” Khuất Bình lại hỏi.

Bạch Vân vờ như không nhận ra, quay sang nhìn Hoài Vương hỏi: “Quý nhân, ngài là ai thế?”

Khuất Bình đang định lên tiếng, Hoài Vương đã xua tay ngăn lại, rồi vòng tay với Bạch Vân mà nói: “Kinh Hoè người Sính Đô có lời chào cô chủ!”

“Bạch Vân người Ba bái kiến Kinh đại nhân!” Bạch Vân vòng tay đáp lễ.

“Không giấu cô chủ,” Hoài Vương chỉ vào những chậu lan dưới đất, “hoa lan xứng đáng là hoa khôi của muôn hoa, cao quý trang nhã, Kinh Hoè rất thích, cũng muốn trồng lấy một vườn trong hậu hoa viên, để quy tụ hoa lan trong thiên hạ, ngày ngày thưởng lãm, để tìm thú vị.”

“Nghe thấy cao luận của Kinh đại nhân đây,” Bạch Vân thu lại nụ cười, sắc mặt bỗng trở nên nghiêm túc, “tiểu nữ khuyên đại nhân đừng mua nữa!”

“Ồ?”

“Bởi chúng vừa không phải hoa khôi, cũng không cao quý.” Bạch Vân chỉ vào những chậu lan, “ở tuyệt cốc Ba Sơn, chỗ nào cũng có. Chúng sinh trên núi, mọc ngoài đồng, chứ dứt khoát không thể sống trong nhà cao cửa rộng.” Dừng lại một chốc, nói tiếp, “tiểu nữ thực sự lo lắng, quý nhân đưa về trồng, chúng sẽ chết mất!”

“Ồ...” Hoài Vương nhìn sang Khuất Bình.

“Thứ thú vị trong thiên hạ, không gì bằng con người. Nếu đại nhân muốn tìm thú vị, sao không tới chợ người xem thử!” Bạch Vân lại nói.

“Chợ người?” Hoài Vương có vẻ sượng sùng, cười gượng một tiếng, “được, được, Kinh Hoè tới đây, chính là để tìm thú vị! Dám hỏi cô chủ, chợ người ở đâu?”

“Xin mời quý nhân đi theo tiểu nữ!” Bạch Vân bước ra khỏi cửa hiệu, đi trước dẫn đường.

Chợ người chính là ở Hạ Lý, cách phố hoa ba con phố. Phố rất rộng, là chợ nô lệ duy nhất ở Sính Đô.

Từ xa tới gần, chỉ thấy cửa hiệu san sát, có điều bày bán bên trong không phải là hàng hoá, mà là những nam nữ nô bộc, trên mình cắm cọng cỏ tranh, xếp hàng đứng đó, mặc cho người ta săm soi, chê bai, sờ nắn, ngã giá.

Bạch Vân dẫn bốn người đi xem một lượt các nhà. Tận mắt chứng kiến cảnh tượng này, Hoài Vương không khỏi bàng hoàng chấn động.

Đang vừa đi vừa xem, bỗng từ phía trước vọng lại một tiếng gào khóc thảm thiết: “Mẹ... Mẹ ơi...”

Là giọng của một đứa trẻ. Bạch Vân vừa nghe, vội rảo bước về phía đó. Hoài Vương và mọi người cũng bám theo.

Trước cửa hiệu đó là một thiếu phụ sắc mặc vàng bủng, đứng cạnh một bé gái gầy gò, có hai khách mua đang ngã giá với chủ nô. Nhìn vào cách ăn mặc, thì hai khách mua đều không phải là ông chủ, một người là quản gia, một người là nô bộc. Họ đã rút lấy cọng cỏ tranh trên lưng thiếu phụ, nhưng lại không rút cọng cỏ trên người bé gái. Bé gái kia sợ quá mới khóc toáng lên.

Lúc này, quản gia đã trả tiền xong, gã nô bộc bước lại, cầm lấy đầu dây thừng trói tay thiếu phụ, toan kéo đi.

Thiếu phụ lúc này mới giật nảy mình, quay sang gã chủ, kêu lên: “Con tôi! Còn con tôi thì sao?”

Gã chủ cáu kỉnh: “Ông chủ không cần nó, chỉ cần nhà chị thôi!”

Bé gái sợ hãi, chạy lao lại, ôm chặt lấy hai chân thiếu phụ, luôn miệng gọi mẹ. Thiếu phụ quỳ sụp xuống, ôm lấy bé gái, quay sang gã chủ, hét lên lạc giọng: “Ông đã nói sẽ cho hai mẹ con tôi ở cùng nhau mà? Sao ông không giữ lời?”

Gã chủ cũng gầm lên: “Nhà chị này thôi đi, đã hai ngày qua rồi, nhà chị dắt díu theo con bé này, có ai chịu mua đâu?”

“Ông chủ,” bé gái đẩy mẹ ra, quỳ xuống trước mặt quản gia, dập đầu lia lịa, “xin ông hãy mua cháu! Cháu năm tuổi rồi, cháu biết nhổ cỏ, biết nuôi gà, biết quét dọn, biết đấm lưng rửa chân, việc gì cháu cũng làm hết, ông cho cháu đi cùng mẹ đi!”

“Biến ngay!” Gã nô bộc quát lớn, đưa tay túm lấy cổ áo bé gái, xô ngã nhào, “nhà ta có phải trại tế bần đâu, nuôi mày cho tốn cơm!”

“Con ơi!” Thiếu phụ hét lên, giật khỏi dây thừng, lao lại chỗ bé gái. Hai mẹ con ôm chặt lấy nhau, khóc lóc thảm thiết.

Nghe thấy tiếng khóc lóc ầm ĩ, người đi đường đua nhau kéo lại, vây xúm xung quanh. Thấy người ta kéo đến đông quá, gã chủ lo lắng, kéo thiếu phụ dậy, đưa đầu dây thừng cho gã nô bộc giữ lấy, rồi cầm kim và mực lên, nhìn sang quản gia: “Có cần thích chữ đánh dấu không?”

Quản gia đang do dự, gã nô bộc đã lên tiếng: “Làm đi, ngộ nhỡ chạy trốn thì sao?”

“Được, hãy xăm một chữ Chiêu.”

Gã chủ lập tức đè nghiến thiếu phụ xuống, chuẩn bị thích chữ lên trên trán.

“Thả chị ấy ra!” Bạch Vân không chịu nổi nữa, lập tức chạy lại, quát lớn. Gã chủ giật nảy mình, buông tay ra. Bạch Vân vội kéo thiếu phụ lại, nhanh tay cởi trói cho chị ta.

Gã chủ lúc này đã kịp định thần, đang định nổi khùng, chợt trông thấy Hoài Vương, Khuất Nguyên, Khuất Dao đang lừ lừ tiến lại, mặt ai cũng đằng đằng sát khí, thì không dám ho he gì, lùi lại một bước, bàn tay vô thức sờ lên chuôi kiếm.

Hoài Vương giận dữ quát hỏi quản gia: “Ngươi là người của phủ nào?”

“Này!” Quản gia trông thấy Hoài Vương ăn vận theo kiểu lái buôn, thì cất giọng hống hách, “ta là người của phủ nào, sao phải nói cho ông biết?”

Thấy Hoài Vương toan rút kiếm, Khuất Bình vội bước dấn lên, ngăn Hoài Vương lại.

Khuất Dao xông lên phía trước, giáng cho hai cú bạt tai, quản gia xây xẩm mặt mày suýt ngã. Gã nô bộc nổi khùng, vung nắm đấm nhảy bổ vào Khuất Dao. Nào ngờ nắm đấm còn chưa kịp tung ra, đã bị Khuất Dao chụp lấy tay bẻ quặt ra sau lưng.

Khuất Dao từ nhỏ luyện võ, sức khoẻ hơn người, chỉ khẽ vận lực, đã quật gã nô bộc bổ nhào xuống đất, răng gãy môi dập, máu me đầy mặt. Lại thuận thế đạp thêm một cái, gã kia văng đi cả trượng.

Mọi chuyện diễn ra trong chớp mắt, người xem ai cũng xuýt xoa. Quản gia sợ tới mặt cắt không còn hạt máu.

Khuất Dao bước lại, nhìn thẳng vào quản gia: “Nói, người của phủ nào?”

Quản gia không còn dám hống hách nữa, lí nhí: “Phủ... phủ Chiêu...”

Khuất Dao đang định hỏi tiếp, thì Khuất Bình tiến lại, chỉ vào thiếu phụ: “Ngươi trả bao nhiêu tiền để mua chị kia?”

“Một... một hoàn...”

Khuất Bình bước lại chỗ Khuất Dao, lấy một hoàn vàng, đưa cho quản gia, nghiêm giọng: “Người này, ta mua, một hoàn đây, cút mau!”

Quản gia không dám ho he, cầm lấy hoàn vàng, rẽ đám đông chạy biến. Gã nô bộc cũng gắng sức bò dậy, sấp ngửa đuổi theo, khiến đám đông cười ồ lên.

Gã chủ định lén chuồn đi, nhưng bị Khuất Dao tóm lại. Gã biết rõ Khuất Dao võ nghệ cao cường, nào còn dám hung hăng, vội quỳ sụp xuống đất.

“Đứa bé kia, định bán bao nhiêu tiền?” Khuất Dao trợn trừng mắt hỏi.

“Không... không cần tiền...” Gã lắp bắp.

Khuất Dao móc ra hai đồng bối ném vào người gã, gằn giọng: “Cút!”

Gã sợ vỡ mật, quên cả nhặt tiền, bò dậy chạy thẳng.

Người xem thấy sự việc đã giải quyết xong xuôi, thì vừa bàn tán vừa từ từ tản đi.

“Chị...” Bạch Vân nắm tay thiếu phụ, giọng nghẹn ngào, “sao lại bán thân thành tôi tớ thế này?”

Hai mẹ con thiếu phụ này, không phải ai khác, chính là hai mẹ con đã đứng chờ chồng bên cổng Kinh Môn trước đây. Thiếu phụ cũng đã nhận ra Bạch Vân, thì khóc nức nở: “Cha nó tử trận ở Tích Thuỷ, ông bà thay nhau đổ bệnh rồi qua đời. Chữa bệnh, ma chay tốn rất nhiều tiền, lại thêm khoản nợ cũ, tôi còn làm được gì đây?”

Khuất Bình bước lại hỏi: “Cha đứa trẻ vì nước tuẫn thân, chẳng phải đại vương đã phát tiền tử tuất rồi ư?”

“Có!”

“Không đủ trả nợ?”

Thiếu phụ lắc đầu: “Đại vương chinh phạt, chủ nhân xuất binh, cha nó là sai dịch, nhập ngũ vì chúa công, tiền tử tuất của đại vương phát cho chúa công, nào tới lượt đám người hèn hạ chúng tôi?”

Hoài Vương nghe rõ rành rành, sững sờ kinh ngạc: “Chúa công nhà chị là ai?”

“Bẩm ông,” thiếu phụ đáp, “là Kỷ Lăng Quân, mọi người đều gọi là vương thúc!”

Hoài Vương hít ngược vào một hơi, nhìn sang Bạch Vân, thấy nàng cũng đang đứng ngây ra.

Hoài Vương gắng gượng nén giận, lại hỏi: “Chị nợ người ta bao nhiêu tiền?”

“Vay nợ năm mươi thù, cộng thêm tiền lãi, là tám mươi thù.”

Chỉ tám mươi thù, tính theo thời giá, chẳng qua là mười cân muối, vậy mà đã bức bách gia quyến của tử sĩ đến nông nỗi này!

Mọi người đưa mắt nhìn nhau. Hồi lâu sau, Hoài Vương quay sang Khuất Dao hỏi: “Có mang tiền không? Cho ta vay ba hoàn!”

Khuất Dao lấy túi tiền ra, đổ xuống dưới đất, chỉ có hai hoàn và mấy chục đồng tiền bối, thì lấy làm ngượng nghịu: “Chỉ có ngần này thôi!”

Khuất Bình cũng lấy túi tiền ra, đưa hết cho Hoài Vương. Hoài Vương đưa cả hai túi tiền cho thiếu phụ: “Hãy cầm lấy, đây là tiền tử tuất cấp thêm cho nhà chị!”

Thiếu phụ hẳn là chưa bao giờ thấy nhiêu tiền đến vậy, lùi lại một bước, bàng hoàng nhìn sững vào Hoài Vương.

“Này chị,” Khuất Bình khuyên, “nhận đi, cha đứa trẻ xả thân vì nước, tiền này nên nhận!”

Thiếu phụ lại nhìn sang Bạch Vân. Bạch Vân gật đầu. Song chị ta vẫn không dám cầm tiền.

“Mẹ,” bé gái vội kêu lên, “mẹ mau nhận đi, thế thì chúng ta có thể chuộc anh về!”

Bạch Vân lúc này mới nhớ tới cậu con trai, bèn hỏi bé gái: “Anh trai của em đâu?”

Bé gái chỉ theo hướng gã chủ vừa bỏ chạy: “Tối qua đã bị người kia bán mất rồi! Chúng em đã hết lời cầu xin, nhưng ông ta vẫn bán...” Nói rồi đưa tay quệt nước mắt.

Khuất Dao còn chưa kịp nghe dứt, đã lập tức cắm đầu chạy đuổi theo hướng đó.

Thiếu phụ hai tay run rẩy nhận hai túi tiền, ôm lấy bé gái, hai mẹ con cùng quỳ sụp xuống, khấu đầu lạy tạ Hoài Vương, vừa lạy vừa khóc.

Hoài Vương trong lòng đã thấy an ủi chút ít, cất giọng ôn tồn: “Số tiền này là để cho nhà chị sống qua ngày, chứ không phải để chuộc con. Cứ dẫn con bé về nhà trước!” Đoạn quay sang Khuất Bình, “hãy gắng tìm đứa trẻ kia về!”

“Nhà?” Thiếu phụ đờ đẫn nhắc lại, bỗng rùng mình một cái, nhìn về xa xăm, nước mắt tuôn lã chã.

Bạch Vân quay sang, liếc Hoài Vương một cái: “Nếu mà có nhà, chị ấy còn phải đi bán thân ư?”

Khuất Bình vòng tay nói: “Này chị, nhà tôi còn phòng trống, nếu chị không chê, có thể đến ở tạm! Còn con trai chị, tôi sẽ tìm bằng được nó về!”

Thiếu phụ lại kéo tay bé gái, định dập đầu lạy nữa, nhưng Bạch Vân đã kéo chị ta dậy, một tay bế bé gái lên, lại lườm Hoài Vương cái nữa, rồi mới bước đi.

Bị Bạch Vân hết lườm lại nguýt, Hoài Vương lòng như dao cắt.

“Đại vương,” Khuất Bình bước lại gần Hoài Vương, khẽ giọng nói, “giờ không còn sớm nữa, đại vương cũng nên về cung...”

“Không về!” Hoài Vương gần như gầm lên.

Khuất Bình giật nảy, nhìn sang cung doãn.

Hoài Vương quay sang cung doãn, gằn từng tiếng: “Khởi giá, nhà cỏ của tả đồ!”

HẾT TẬP 10

Image

NHÀ XUẤT BẢN VÃN HỌC

Địa chỉ: 18 Nguyễn Trường Tộ - Ba Đình - Hà Nội Điện thoại: 0243.716.1518 - 0243.716.3409 Fax: 0243.829.4781 Website: www.nxbvanhoc.com;www.nxbvanhoc.com.vn E-mail: info@nxbvanhoc.com.vn " Chi nhánh tại ĩp. Hồ chí Minh 290/20 Nam Kỳ Khởi Nghĩa - Quận 3 Điện thoại: 028.38469858, Fax: 028.38483481 ■■■ Văn phòng đại diện tại thành phổ Đà Nâng

344 đường Trưng Nữ Vương - thành phố Đà Nẩng

Điện thoại - Fax: 0236 3888333

Chịu trách nhiệm xuất bản

Giám đốc - Tổng biên tập: TS. NGUYỄN ANH vũ

Biên tập: Chế bản:

Sửa bản in: Minh họa bìa: Thiết kế bìa:

Nguyễn Thị Dinh

An Lạc Group An Lạc Group Reiko Miorỉ Quang vinh

Image

HUYHOANG

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử