Dặn dò Tiểu Thuận xong, Trương Nghi từ biệt mẹ con Tử Vân, cả nhà Tiểu Thuý cùng chúng nô bộc, sải bước ra sân, đang định lên xe, chợt có tiếng xe ngựa ồn ào, Tần Huệ Vương giá đáo.
Huệ Vương dắt tay Trương Nghi vào trong chính đường, đuổi hết người khác đi, kể cả nội thần, rồi ngồi xuống đối diện với Trương Nghi.
“Em rể,” Huệ Vương nhìn thẳng vào Trương Nghi, ngữ khí kiên định, “Tứ huynh tới đây, không phải để nói lời từ biệt, bởi quả nhân và em rể không thể từ biệt, cũng không được từ biệt. Em rể cứ an tâm mà đi, gan dạ mà đi. Em rể đi rồi, quả nhân cũng tới Hán Trung lập tức. Quả nhân trấn thủ Hán Trung, cả nước giới bị sẵn sàng, Hùng Hoè kia nếu dám động tới em rể, quả nhân sẽ đích thân cầm quân, dốc hết quốc lực, đánh tới Sính Đô!”
“Tạ ơn vương huynh!” Trương Nghi vòng tay nói. “Còn nữa,” Huệ Vương tiếp lời, “quả nhân đã lệnh cho Doanh Hoa, trong lúc em rể đi sứ sang Sở, Hắc Điều đài chỉ có một việc duy nhất, chính là đảm bảo an toàn cho em rể, vào lúc cần thiết, không tiếc giá nào.”
“Tạ ơn vương huynh!”
“Than ôi, không giấu em rể,” Huệ Vương buồn bã thở dài, “suốt mấy ngày qua, quả nhân ăn không ngon ngủ không yên, không thôi trăn trở chuyện em rể đi sứ sang Sở. Em rể nói phải, sau hai cuộc chiến, nước Sở đã thua đau, song nước Sở đã thức tỉnh. Một con gấu bị đau mà tỉnh, muốn quyết tử một phen, vô cùng đáng sợ. Không phải nước Tần không đánh được, mà còn sứ mệnh lớn lao hơn, dù có quốc lực, cũng không thể dốc hết vào một trận quyết tử với Sở. Bên cạnh đó, Hùng Hoè cũng sẽ không liêu mạng được nữa. Liều mạng mà thua, người chết nước mất. Liều mạng mà thắng, cũng sẽ thương tích đầy mình, sức cùng lực kiệt, trong khi Tề và Tam Tấn vẫn đang rình rập. Em rể hãy nói rõ với Hùng Hoè, nếu như không quá ngu si, hắn sẽ hiểu thôi.”
“Thần sẽ nói rõ.”
“Phải rồi,” Huệ Vương chỉ ra ngoài, “em rể có thể nói với Hùng Hoè, quả nhân không chỉ xuất binh từ Hán Trung, mà sẽ chia quân bốn ngả, một ngả Hán Trung, mười vạn quân; một ngả Kiềm Đông, tám vạn quân; một ngả Giang Châu, tám vạn quân; một ngả nữa là Ư Thành, mười vạn quân. Quả nhân đã có ba mươi sáu vạn quân quyết tử, một khi khai chiến, không ai ngoảnh đầu! Em rể hãy nói với hắn, quả nhân không muốn đánh nữa, song nếu bức bách, người Tần quyết không chùn bước! Chiến trường sẽ là nước Sở, ba mươi sáu vạn người Tần quyết tử, người Sở bỏ mạng quyết không dưới ba mươi sáu vạn!”
“Thần thụ mệnh!”
“Đương nhiên,” Huệ Vương thở hắt ra một hơi, “nếu Hùng Hoè đã nghĩ thông rồi, muốn kết bang giao hoà mục, chuyện gì quả nhân cũng có thể thương lượng! Kiểm Đông, Thương Ư, thậm chí toàn bộ Hán Trung, đều có thể bàn! Quả nhân đã hiểu, băng dày ba thước, không phải do lạnh một ngày. Em rể đã chỉ ra, thiên hạ hoành ở nhất, nhất thống lục hợp, đây là đại nghiệp trăm năm, tuyệt không phải một mình quả nhân có thể đảm đương.”
“Vương huynh nói được lời này, người Tần quả là có phúc!” Trương Nghi vòng tay đáp.
“Đi,” Huệ Vương đứng dậy, “quả nhân tiễn khanh xuất thành!”
Trương Nghi đi theo đường Thương V.
Bất luận thế nào, Ư Thành vẫn là địa bàn của Trương Nghi. Ngụy Chương đã tới trước một bước, chờ sẵn ở đó.
Đi cùng Nguỵ Chương, còn có hai nhân vật lớn, một là Xa Vệ Tần, người cai quản hắc điêu tại Sở; một là Ngụy Nhiễm, phó sứ sang Sở theo chiếu mệnh của Huệ Vương. Chuyện của nước Sở, không ai rõ hơn Xa Vệ Tần, kể cả Thiên Hương mấy năm nay vẫn cắm rễ ở Sở.
Xét về chức tước, Thiên Hương và Xa Vệ Tần vai vế ngang nhau, đều là hữu canh, cao hơn bốn bậc so với tả thứ trưởng, trên chức này một bậc là thiếu lương tạo, thêm một bậc nữa là đại lương tạo. Đại lương tạo là chức vị mà Thương Quân, Công Tôn Diễn từng đảm nhiệm, trước khi Trương Nghi làm tướng quốc nước Tần, thì đây chính là thực chức cao nhất trong triều đình Tần. Còn như Thương Quân và Trương Nghi đều được phong hầu, chỉ là tước suông. Nhất là tước Ư Thành Quân của Trương Nghi, sau khi Thương Quân ngộ nạn, có cũng như không, chẳng qua chỉ là có được một toà phủ trạch ở Ư Thành mà thôi.
Tối nay, Trương Nghi nghỉ lại toà phủ trạch thuộc về mình trên danh nghĩa.
Đợi Trương Nghi ở đây là Ngụy Chương, lớn hơn vài tuổi, tóc đã điểm sương, trước là trọng thần nước Ngụy, giờ là người duy nhất trong triều thực lòng đứng về phía Trương Nghi.
“Trương đại nhân ôi!” Ngụy Chương đi tới đi lui trong sảnh, giọng nói cấp thiết, “tại hạ thực không hiểu nổi, cớ sao đại nhân lại cứ khăng khăng đi sứ Sở? Lẽ nào đại nhân còn chưa nhìn thấu tâm tư điện hạ? Lẽ nào đại nhân còn chưa nhìn thấu Cam Mậu và Tư Mã Thác? Ở nước Tần, có ai không biết hai kẻ ấy là dạng gió chiều nào xoay chiều ấy! Nhớ năm xưa, Cam Mậu bán đứng cha hắn là Cam Long, Tư Mã Thác bán đứng chúa công là Thương Quân, này tướng quốc, thử nghĩ mà xem, loại người đến cả cha ruột, ân công mà còn bán đứng, lúc này lại chẳng nhìn điện hạ mà hành sự ư? Ba người họ đã vặn thành một sợi dây thừng, công tử Tật, công tử Hoa dù cũng nhận ra hướng gió, cũng không muốn dính dáng vào, tại hạ thực không hiểu nổi, đại nhân hiếu thắng như vậy để làm gì?
Nhún nhường một bước là xong! Theo tại hạ thấy, điện hạ là người lỗ mãng, chỉ thích đánh giết, không thích miệng lưỡi, vốn dĩ điện hạ không có ác ý với đại nhân, chẳng qua chỉ là khác đường mà thôi. Đại nhân nếu mềm mỏng, lựa lúc tới phủ điện hạ một lần, cho hắn oai phong một chốc, chẳng phải là được rồi ư!”
“Than ôi,” Trương Nghi thở dài thườn thượt, “tướng quân nào đã nhìn ra hướng gió!”
“Hướng gió?” Ngụy Chương khựng lại, nhìn sững Trương Nghi, “hướng gió nào?”
“Người muốn tại hạ đi sứ sang Sở, hoàn toàn không phải điện hạ, mà là đại vương!”
“Sao kia?” Ngụy Chương lặng người kinh hãi.
“Tướng quân không nhìn thấy ư,” Trương Nghi tiếp lời, “Doanh Tật đi sứ sang Sở trở về, Sở Vương đưa ra hai lựa chọn, hoặc là trả lại đất đai, hoặc là giao tại hạ cho Sở. Tướng quân không hiểu Sở Vương, kẻ đó vô tâm, nói ra lời này cũng là dễ hiểu. Song đại vương lại hữu tâm! Đại vương không muốn tiếp tục giao tranh với Sở, cũng không muốn hoàn trả đất đai đã chiếm, tướng quân nói xem, còn có cách nào? Chỉ có thể để tại hạ đi sứ sang Sở!”
“Không thể nào!” Ngụy Chương kêu lên, “sự việc hôm đó, rõ ràng điện hạ đã bị đại vương…”
“Than ôi,” Trương Nghi cắt lời bằng một tiếng thở dài, “nếu đại vương không nghĩ vậy, điện hạ sẽ không dám nhắc tới chuyện này. Kẻ này tuy là điện hạ, song điện hạ suy cho cùng chỉ là điện hạ, chỉ cần một chiếu chỉ của đại vương, hắn sẽ không là gì nữa. Trong mắt tướng quân, điện hạ là kẻ lỗ mãng, còn trong mắt Nghi, vừa hay ngược lại, điện hạ trong thô có tinh. Ví như trận chiến Đan Dương, hồi tưởng lại, từ đầu tới cuối, điện hạ bài bố nghiêm mật, trước sau tuần tự, tại hạ, tướng quân và chư tướng nay sĩ đều bị điện hạ thao túng trong lòng bàn tay. Nhìn lại trường đại chiến đó, chiến lược của điện hạ xứng đáng đại tài, mưu dũng song toàn, không chỉ tại hạ và tướng quân không lường trước được, mà đến đối thủ Khuất Cái cũng chẳng thể ngờ, vậy nên mới luống cuống hoang mang, đến nỗi binh bại thân tử. Còn Tư Mã Thác và Cam Mậu, cũng không hoàn toàn là tiểu nhân bợ đỡ, bởi họ đều đã nhìn thấu ý muốn của đại vương. Doanh Tật và Doanh Hoa, đều là dạng tinh ranh cả! Trong đám triều thần hôm đó, duy chỉ Ngụy huynh là người thực thà, khác nào bị bưng trong trống!”
Ngụy Chương lúc này mới thôi kích động, dần trấn tĩnh lại, ngồi xuống đối diện với Trương Nghi.
“Không giấu Ngụy huynh,” Trương Nghi nói tiếp, “tại hạ vừa từ Hàn đô quay về, Tử Vân công chúa đã giục tại hạ quay lại nước Hàn, nói rằng điện hạ muốn gây bất lợi cho tại hạ. Tại hạ thoạt nghe còn hoang mang chưa hiểu, rồi sau mới bừng hiểu ra, càng nghĩ càng thông tỏ, mới vào cung yết kiến đại vương, thỉnh cầu triều nghị, thỉnh mệnh đi sứ sang Sở!”
“Công chúa…” Ngụy Chương ngập ngừng, “cớ sao Trương huynh lại từ nàng ấy mà hiểu ra được chuyện này?”
“Bởi người hé lộ với nàng ấy chính là đại vương!”
“Sao kia?” Ngụy Chương càng thêm chấn động. “Đại vương tiết lộ với nàng, chính là muốn khiến tại hạ hiểu rõ tình thế nguy nan hiện tại, để tại hạ tự mình lựa chọn. Tại hạ còn biết chọn cách nào đây? Kẻ trù tính sách lược mưu Sở là tại hạ, kẻ vung tiền mua ô kim và muối Ba từ Sở là tại hạ, kẻ tới Sở cầu hôn kết tình hoà mục là tại hạ, kẻ khuấy đảo triều chính nước Sở là tại hạ, kẻ lấy sáu trăm dặm Thương Ư lừa Sở là tại hạ, kẻ liên hoành bốn nước vây khốn Sở cũng là tại hạ. Giờ đây, nước Tần đã thắng, bốn nước đã thắng, còn nước Sở bị đánh cho thảm bại, đại vương không những bảo toàn được đất cũ Thương Ư, lại có được thêm Hán Trung và Kiềm Đông, mở rộng lãnh thổ không dưới nghìn dặm, quả là thoả nguyện bình sinh. Có điều, việc khó lại tới. Nước Tần tuy thắng, song người Sở đã nổi điên. Đánh với người điên, tức là cùng vào chỗ chết, đại vương không còn lựa chọn nào khác, chỉ còn cách nghị hoà. Nghị hoà, song lại không nỡ từ bỏ những thứ chiếm được, vậy phải làm sao? Từ bỏ tại hạ! Song lời này, đại vương có thể nói ra miệng được chăng? Có thể nói trắng ra chăng?” Trương Nghi buồn bã thở dài, “than ôi, Ngụy huynh, kiếp nạn lần này, tại hạ không còn đường thoát! Đã không thể thoát, vậy thì tại hạ chỉ có một con đường, chính là đi sứ sang Sở, hoặc chết, hoặc sống!”
“A… thế này chẳng phải thỏ chết giết…” Ngụy Chương buột miệng kêu lên, rồi kìm được nửa chừng, nuốt lại hai chữ “chó săn”.
“Ngụy huynh,” Trương Nghi nhìn thẳng vào Nguỵ Chương, “tại hạ đi lần này, là sống hay chết, tuỳ vào mệnh trời. Trước khi lên đường, tại hạ tặng Ngụy huynh vài câu nói chơi. Thứ nhất, Ngụy huynh giờ dây tóc đã điểm bạc, đã đến lúc nên tiếc lấy thân, nếu muốn an lành sống nốt tuổi trời, cũng nên sớm tìm đường lui; thứ hai, tương lai là thời đại tranh diệt quốc, vận thế ở Tần, bởi vậy khi tại hạ thỉnh mệnh, đã dẫn theo Ngụy Nhiễm đi cùng, nguyên do của việc này, xin nói rõ với tướng quân. Tướng quân an tâm, thằng bé này mang huyết thống Sở thất, là cháu ngoại của Sở Vương và vương thúc, Sở Vương sẽ không làm hại nó. Đợi nó trở về phục mệnh, thân là phó sứ, sẽ lập đại công, có thể tìm được một chỗ trong triều đình nước Tần. Ngụy Nhiễm có vị thế, Mị Nguyệt được sủng ái, có Mị Nguyệt ở trong, Ngụy Nhiễm ở ngoài, lại thêm Mị Nhung hô ứng, sau này huyết mạch họ Ngụy của tướng quân hẳn sẽ lý thú lắm đây!”
“Trương… huynh…” Ngụy Chương nước mắt giàn giụa, đứng dậy rồi quỳ sụp xuống.
Trương Nghi không ngăn cản.
“Trương huynh,” Ngụy Chương nghẹn nào, “lẽ nào huynh không còn con đường khác?”
“Còn một đường.”
“Nói mau!”
“Hồi còn trong Quỷ Cốc,” Trương Nghi cười gượng, “có lần cùng Tôn huynh luận bàn về chuyện thoát thân trong tuyệt cảnh, Tôn huynh có buột miệng nói một câu, ‘lao vào chỗ mất mới được còn, sa vào chỗ chết mới được sống. Tại hạ mới hỏi câu này ở đâu, Tôn huynh đáp rằng, là lời của tiên tổ Tôn Vũ Từ. Quả là một câu tuyệt diệu, hôm nay đã ứng nghiệm rồi. Tại hạ giờ sa vào tử địa, chưa biết chừng lại có thể ứng với câu mới được sống chăng?”
Ngụy Chương đứng dậy, siết chặt tay quyền mà nói: “Trương huynh, tại hạ đã nhận vương mệnh, giả như tướng quốc có điều bất trắc, tại hạ sẽ dẫn quân đánh thẳng tới Sính Đô!”
Trương Nghi khẽ nhếch một nụ cười bên khoé miệng: “Vương mệnh này, Ngụy huynh cũng tin?”
“A…” Ngụy Chương sững sờ.
“Thì nghe vậy thôi. Có điều,” Trương Nghi nhìn chăm chú vào Nguỵ Chương, “Ngụy huynh nếu dàn quân nơi đây, phô trương thanh thế, kiểu gì cũng không phải chuyện vô ích với tại hạ.”
Ngụy Chương đưa tay ôm mặt.
Trương Nghi đứng dậy, bưng lại một bình rượu, từ tốn châm đầy hai chén: “Ngụy huynh, hãy uống vài chén cùng tại hạ, chưa biết chừng lại là vĩnh biệt!”
“Tại hạ…” Ngụy Chương thình lình đấm mạnh xuống án, hai chén rượu đầy văng luôn xuống đất.
Trương Nghi chậm rãi nhặt lên từng chén, tiếp tục châm đầy, đưa một chén cho Ngụy Chương, rồi nâng cao chén rượu trong tay: “Hãy cạn, vậy mới sảng khoái!”
Hai người uống cạn.
“Ngụy huynh,” Trương Nghi lại châm rượu, nâng chén, “nào, thêm một chén nữa!”
Hai người cùng uống cạn.
“Ngụy huynh,” Trương Nghi lại châm thêm rượu, cười nói, “hai ta ở đây cùng uống rượu, cùng dốc bầu tâm sự, chính là hữu duyên. Duyên ở chỗ nào, Ngụy huynh đã từng nghĩ đến?”
“Duyên ở chỗ nào?” Ngụy Chương không hiểu, nhận lấy chén rượu, nhìn Trương Nghi hỏi.
“Duyên ở chỗ, hai ta đều là người Ngụy, hai ta cùng không đội trời chung với Tần, hai ta cùng là bằng hữu của Tô Tần, Bàng Quyên, hai ta cùng bị bức phải sang Tần, hai ta cùng dốc sức vì Tần thất, và còn cùng có… một người đàn bà.”
“Than ôi,” Ngụy Chương thở dài, “vì những cùng chung này, cạn chén!”
Hai người lại uống cạn.
“Người đàn bà đó…” Ngụy Chương nhấc bình rượu, châm vào chén, lại thở dài buồn bã, “than ôi, bỏ đi, đừng nhắc tới nữa. Hãy nói tiếp chuyện nước Sở, Trương huynh.”
“Nơi có chuyện, lại không phải là nước Sở.” Trương Nghi cắt lời, cầm chén rượu lên, một mình uống cạn, “tại hạ đi chuyến này, dù sống hay chết, hai nước sắp tới cũng chưa giao tranh ngay được.”
Ngụy Chương nghe ra ẩn ý, bàn tay đang cầm bình rượu khựng lại giữa chừng, nhìn sững vào Trương Nghi: “Vậy nơi có chuyện, là ở đâu?”
“Nước Hàn.”
“Sao kia?” Ngụy Chương sửng sốt, “chẳng phải nước Hàn đã…”
“Hàn Vương đã có Nghi Dương, giờ lại cướp được Uyển Thành, hai kinh đô sắt đều nằm cả trong tay. Ô kim là của hiếm quý trong thiên hạ, Sở mất đất này, ắt sẽ cướp lại, người Tần hẳn cũng ngứa ngáy trong lòng. Bởi vậy Sở, Tần đình chiến, Hàn ắt gặp hoạ. Than ôi, Hàn Vương kia thực quá tham lam!”
“Trương huynh quả thực tinh tường,” Ngụy Chương thán phục, “chuyện gì cũng nhìn thấu tỏ!”
“Nhìn thấu, cũng có ích gì? Tại hạ còn nhìn thấu đại thể thiên hạ, vốn dĩ muốn chơi một ván cờ lớn với Tô huynh, chỉ tiếc là, ván cờ còn chưa đi xong một nửa, than ôi…” Trương Nghi lại thở dài, rồi nâng chén.
“Đại thế gì kia? Cờ lớn gì kia?” Ngụy Chương ngơ ngác, nhìn sững vào Trương Nghi.
“Được thôi,” Trương Nghi đỡ lấy bình rượu từ tay Nguỵ Chương, tự rót cho mình, “với Ngụy huynh đã là hữu duyên, tại hạ sẽ kể tường tận cho Nguỵ huynh hay. Khi còn trong núi, chúng ta có hỏi về đạo thiên hạ chung sống hoà bình, tiên sinh nhất quyết rằng, đạo chung sống hoà bình, chỉ có hai đường, một là thiên hạ nhất thống, hai là chư hầu chung sống, còn như hai con đường này hay dở ra sao, tiên sinh nghiêng về con đường thứ nhất. Trước khi xuống núi, tiên sinh giao cho hai người chúng ta mỗi người một cuốn Thương Quân thư. Tại hạ và Tô huynh nghiền ngẫm kỹ lưỡng, cho rằng nước nhất thống thiên hạ ắt sẽ là Tần. Tuy nhiên, thân là người Ngụy, tại hạ có thù nhà nợ nước với Tần. Vậy nên Tô huynh lựa chọn sang Tần, tại hạ lựa chọn tới Sở. Tô huynh sang Tần, muốn nhờ vào thế và lực từ pháp của Thương Quân, đi theo con đường nhất thống. Tại hạ tới Sở, muốn nhờ vào thế và lực của người Sở, một là diệt Tần báo thù, hai là giúp Sở nhất thống. Kết quả thế nào, Ngụy huynh đã rõ cả rồi.” Gượng cười, nâng chén ngửa cổ uống cạn, “Tô huynh rời Tần, bỏ đường thứ nhất, đổi sang đường thứ hai, còn tại hạ bị bức bỏ Sở, rồi lại bị bức sang Tần, đổi sang đường thứ nhất. Chao ôi, đúng là tạo hoá trêu ngươi!” Lại cúi đầu rót rượu.
“Dám hỏi Trương huynh,” Ngụy Chương sắc mặt mông lung, “cớ sao Trương huynh và Tô Tử đều cho rằng, người Tần ắt sẽ nhất thống?”
“Chẳng phải đã nói rồi ư, là bởi Thương Quân thư!”
“Tại sao lại là Thương Quân thư?”
Trương Nghi bước sang một bên, lấy ra một cuốn thẻ tre: “Chính là cuốn sách này, tại hạ sẽ tặng tướng quân.” Đoạn rầu rĩ nói, “đại vương giết Thương Quân mà không bỏ pháp của Thương Quân, là bởi đã hiểu rõ chỗ vi diệu trong sách này!”
Nguỵ Chương nhận lấy cuộn thẻ tre, liếc nhìn qua rồi đặt sang một bên: “Xin Trương huynh nói rõ, vi diệu ở đâu?”
“Vi diệu chỉ có một, nhất dân.” Trương Nghi nhìn xuống cuốn sách.
“Thế nào là nhất dân?”
“Ở đây bao năm, chẳng phải Nguỵ huynh đã nhìn thấy rồi sao?” Trương Nghi nhìn ra ngoài cổng, “dùng Tần pháp tàn khốc, sai khiến dân cả nước, bất kể già trẻ gái trai, nhất loạt cấy cày, nhất loạt đánh trận, hết lớp này đến lớp khác, xung trận giết địch, Ngụy huynh thử nghĩ mà xem, người nào cản nổi Sức nào địch nổi?”
Ngụy Chương khép mắt, suy ngẫm hồi lâu, mới mở choàng mắt hỏi: “Trương huynh vừa nói chơi ván cờ lớn cùng Tô Tử, ván cờ lớn đó, phải chăng chính là hợp tung liên hoành?”
“Than ôi,” Trương Nghi rầu rĩ thở dài, “tại hạ nói tới, chính là ván cờ này. Tại hạ và Tô huynh giống nhau ở chỗ, cùng cho rằng pháp của Thương Quân sẽ khiến người Tần có được thiên hạ, nhưng không thể khiến người Tần trị thiên hạ; nhưng lại khác nhau ở chỗ, Tô huynh bỏ đường thứ nhất, thiên hạ nhất thống, mà chọn đường thứ hai, chư hầu cộng sinh. Còn tại hạ tin theo dự đoán của tiên sinh, kiên quyết theo đường thứ nhất. Đạo chư hầu cộng sinh mà Tô huynh đi theo, là sáu nước hợp tung, chế ngự cường Tần, nhằm ngăn chặn pháp của Thương Quân. Còn tại hạ y theo đoán định của tiên sinh mà đi thế cờ hoành.”
“Khi theo Tô Tử hợp tung, tại hạ cũng biết chút ít về thế cờ tung của Tô Tử, dám hỏi thế cờ hoành của Trương huynh?” Ngụy Chương nhìn Trương Nghi hỏi.
“Thế cờ hoành của tại hạ, có thể chia thành hai cuộc. Cuộc đầu, nhờ vào lực lớn từ pháp của Thương Quân, dùng thuật liên hoành để càn quét, đánh tan sáu nước, khiến thiên hạ quy về một mối. Cuộc sau, sau khi thiên hạ quy về một mối, sẽ phế bỏ pháp của Thương Quân, khiến thiên hạ quy về trị an.” Trương Nghi dừng lại, cười buồn, “nhưng nay xem ra, chớ nói là cuộc sau, dù là cuộc trước, e rằng tại hạ cũng không còn cơ hội.”
“Trời xanh ôi…” Ngụy Chương ngửa cổ lên trời mà khóc lớn.
Ngận Thượng rất đỗi muộn phiền.
Chức lệnh doãn vào tay Chiêu Tuy, Ngận Thượng lại không hề hậm hực, bởi Ngận Thượng chẳng bao giờ mơ tưởng trèo cao đến thế. Khiến Ngận Thượng hậm hực, chính là chức tả đồ của Khuất Bình. Sau khi Khuất Bình thăng chức Tam Lư đại phu, Ngận Thượng ngày đêm mong ngóng, thậm chí mấy lần bóng gió xa xôi với vương thúc, song mãi vẫn chưa thấy chiếu thư vương mệnh ban ra.
Song hậm hực chỉ là hậm hực, không phải muộn phiền.
Khiến Ngận Thượng muộn phiền chính là bang giao Tần Sở ngày càng tệ hại. Năm xưa cực lực chủ trương tuyệt Tề thân Tần, ngờ đâu lại là đường cụt, hối cũng chẳng kịp. Hoài Vương hai trận thất bại cả hai, đổ bệnh liệt giường hai tháng trời, không một lần cho gọi Ngận Thượng, dứt khoát là rất giận hắn. Không những không nhìn đến Ngận Thượng, mà ngay cả phi tần được sủng ái nhất là Nam cung Trịnh Tụ cũng bị đại vương lạnh nhạt. Trịnh Tụ thất sủng, cho thấy Ngận Thượng đã mất đi chỗ dựa cuối cùng trong cung.
Đêm đã về khuya.
Cả ngày nay, Ngận Thượng đi lang thang vô định, đến lúc ủ ê quay về phủ, thấy ngồi trong phòng khách là một hán tử râu ria rậm rạp.
Trông thấy Ngận Thượng, hán tử râu rậm đứng dậy, bước ra nghênh đón.
“Khách nhân là…” Ngân Thượng nheo nheo mắt nhìn, cứ ngỡ đó là người Hồ phương Bắc.
Hán tử bèn gỡ bỏ bộ râu quai nón.
“Là… là ông…” Ngận Thượng kinh hãi giật nảy mình. Chính là Xa Vệ Tần.
“Ngận đại nhân,” Xa Vệ Tần vòng tay, “tại hạ chờ đại nhân đã một canh giờ.”
“Ông…” Ngận Thượng vẫn chưa hết kinh ngạc, “sao lại tới đây?”
“Hãy vào trong đã!” Xa Vệ Tần đeo lại bộ râu như cũ, “tại hạ là người Hồ phương Bắc, kinh thương ở đất Tống, lần này tới Sính Đô, là muốn bàn chuyện buôn bán với đại nhân.”
Ngận Thượng trấn tĩnh lại, ngồi xuống chiếu chủ, chỉ vào chiếu khách: “Nói đi, chuyện mua bán gì?”
Xa Vệ Tần ngồi xuống chiếu khách, hạ giọng thì thào: “Người Sở Vương muốn, hiện đã tới rồi.”
Ngận Thượng ngơ ngác: “Đại vương muốn ai?”
“Trương đại nhân!”
“Trương đại nhân nào?” Ngận Thượng vẫn chưa kịp định thần.
“Trương Nghi.”
“Sao kia?” Ngận Thượng nhảy dựng dậy, “hắn… tới đâu kia?”
“Tới Sở làm sứ thần.” Xa Vệ Tần chậm rãi đáp, “lần trước công tử Doanh Tật phụng vương mệnh đi sứ Sinh Đô, muốn kết tình láng giềng hoà mục, Sở Vương không chịu gặp, nhất quyết đòi Trương đại nhân phải tới, nên Trương đại nhân đã tới.”
“Ối chao!” Ngận Thượng kêu lên, “thế… thế… thế là…”
“Ngận đại nhân,” Xa Vệ Tần ngữ điệu bình thản, song đầy uy lực, “đại vương tại hạ thực lòng muốn kết minh với đại vương của đại nhân, Tần vốn không muốn làm kẻ thù của Sở. Song Sở Vương lại nghe lời gièm pha xúi giục, năm lần bảy lượt xuất binh phạt Tần, thực khiến người ta không thể hiểu nổi. Sở đã chiến bại liên hồi, lẽ nào đại vương của đại nhân vẫn muốn đánh tiếp?” Ánh mắt nhìn xoáy vào Ngận Thượng.
“Ôi chao.” Ngận Thượng cuống quýt, “không phải là chuyện đánh hay không đánh, mà là Trương Nghi, sao hắn lại tới làm gì?”
“Trương đại nhân được mời mà tới, người mời chính là Sở Vương!” Xa Vệ Tần thủng thẳng đáp.
“Trời ơi!” Ngận Thượng quay trở về chiếu, gần như là thả người đánh phịch xuống.
“Ngận đại nhân,” Xa Vệ Tần nhìn thẳng vào Ngân Thượng, cất giọng rành rọt, “tại hạ tới đây, là muốn chuyển lại y lời của đại vương tại hạ tới đại nhân. Đại vương nói rằng, Trương đại nhân là sứ thần vương mệnh, lần này đi sứ sang Sở, nếu có mảy may bất trắc, Đại Tần nhất quyết dốc sức cả nước, để đòi Sở Vương trả lại công bằng.” Đoạn hạ giọng, “Ngận đại nhân, ngài còn muốn đánh tiếp?”
“Những lời này nói với tại hạ, vô ích mà thôi!” Ngận Thượng đưa ống tay áo lên lau mồ hồi trên trán, cũng hạ giọng mà nói, “giờ ta hỏi ông, liệu có thể đừng để Trương Nghi tới?”
Xa Vệ Tần lắc đầu.
“Không có kế nào thật ư?”
Xa Vệ Tần lại lắc đầu.
“Chao ôi,” Ngận Thượng lại đưa tay áo lau mồ hôi, “đại vương hận Trương Nghi thấu xương tuỷ, ông cũng hiểu đại vương, ân oán phân minh. Trương Nghi lần này tới đây là chết chắc! Trương Nghi nếu chết, người Tần dứt khoát không chịu bỏ qua, vậy thì…”
“Vậy nên Vệ Tần mới tới phủ đại nhân, cầu một kế vẹn toàn.”
“Hết cách rồi!” Ngận Thượng dang tay bất lực.
“Vậy đại nhân hãy đưa tại hạ tới gặp vương thúc?”
“Than ôi, này ông,” Ngận Thượng cười nhăn nhó, “người muốn giết Trương Nghi cũng gồm cả vương thúc đấy! Không chỉ vương thúc, mà cả Bành Quân, Xạ Cao Quân, Ngạc Quân cùng tất thảy vương thân! Uyển Thành bị chiếm, đất phong của họ cũng mất theo, bao nhiêu căm hận, đều trút lên đầu Trương Nghi! Người muốn giết hắn, còn có tông thân, Uyển Thành, Phương Thành đều là địa bàn của họ Cảnh. Khuất Cái tử trận Đan Dương, họ Khuất lại càng thống hận người Tần. Họ Chiêu, càng không phải nói! Đại Sở giờ đây, trên dưới trong ngoài, ngoại trừ tại hạ, không một ai không muốn băm vằm Trương Nghi… Than ôi!”
"Nam cung nương nương thì sao?” Xa Vệ Tần không cam lòng, “lẽ nào cũng không thể nói giúp?”
“Tại hạ còn đang buồn thay cho nương nương đây.”
“Vì sao?”
“Trương Nghi lừa vua, bại trận liên tiếp, đại vương không biết trút giận vào đâu, tại hạ và nương nương đều phải giơ đầu chịu báng. Tại hạ thì đã đành, còn Nam cung, đại vương không còn tới nữa. Nương nương buôn bực, hôm nay sai người gọi tại hạ vào cung, kể lể vắn dài, nhờ tại hạ hiến kế. Vậy nhưng… với tình thế này, còn kế gì đây!”
“Dám hỏi đại nhân, đại vương gần đây sủng ái phi tử nào?”
“Ngụy mỹ nhân!”
“Ngụy mỹ nhân?” Xa Vệ Tần nheo mắt hỏi.
“Nghe nương nương nói, Ngụy mỹ nhân vốn do Ngụy Vương tặng cho đại vương, trong lúc đại vương lâm bệnh, được nội doãn triệu tới ngự thư phòng hầu hạ đại vương, nào ngờ sau đó được đại vương rất mực sủng ái, tặng riêng cung điện, gọi là Trung cung! Ngụy mỹ nhân ở giữa, bốn cung đều thất sắc, Nam cung cũng vậy…” Ngận Thượng khẽ cười chua chát.
Từ biệt Ngận Thượng, Xa Vệ Tần lập tức lên đường, đi suốt ngày đêm, ngựa không dừng vó, thẳng đến Ư Thành, vừa hay kịp đón đầu sứ đoàn chuẩn bị xuất phát, bẩm báo lại một lượt những chuyện thăm dò được từ chỗ Ngận Thượng cho Trương Nghi hay.
Đường lui đã tuyệt.
Trương Nghi trầm ngâm một chốc, ghé tai căn dặn một hồi, Xa Vệ Tần tức tốc đi ngay.
“Giương cờ, xuất sứ!” Trương Nghi cầm lấy sứ tiết, dõng dạc hạ lệnh.
Đoàn xe rầm rập rời khỏi Ư Thành, tiến về đất Sở.
Đoàn sứ Tần cờ xí rợp trời, thẳng tới biên ải nước Sở ngoài thành Đan Dương. Quân giữ ải kiểm tra điệp văn, cho người Tần qua, đồng thời phái người cấp tốc phi ngựa tới Sính Đô, bẩm báo Hoài Vương.
Thấy Trương Nghi lại dám tới thật, Hoài Vương hết sức kinh ngạc, ngẫm nghĩ một hồi, bèn triệu vương thúc, Chiêu Tuy tới bàn kế ứng phó.
“Sứ Tần tới rồi, lệnh doãn có đối sách chăng?” Hoài Vương nhìn sang Chiêu Tuy.
Chiêu Tuy vòng tay: “Thần xin nghe theo đại vương quyết đoán!”
Quả là một câu nói khôn ngoan, có nói cũng bằng không nói.
Hoài Vương nhìn sang vương thúc.
“Hỡi ôi,” vương thúc lấy làm cảm khái, “Trương Nghi kia ăn gan hùm rồi ư!”
“Thần cho rằng, có lẽ hắn không tới không được!” Chiêu Tuy thuận đà tiếp lời, “lần trước đại vương kiên định một lời, nhất quyết đòi Trương Nghi tới. Tần Vương hẳn không còn lựa chọn, không dám không để hắn tới!”
“Vương huynh,” vương thúc nhìn sang Hoài Vương, cười gượng mà nói, “nghe Chiêu Tuy nói, đại vương đã nhận lời người Tần. Thần cho rằng, đánh đổi một Trương Nghi lấy ba vùng Kiềm Đông, Hán Trung và Thương Ưn quả thực không đáng, kẻ này nào có giá trị đến vậy!”
“Hừm!” Hoài Vương cười nhạt, “quả nhân đầu đã nhận lời gì? Những thứ Trương Nghi nhận lời quả nhân, lẽ nào còn thiếu? Hắn dựa vào đâu mà đòi đổi một thân hắn lấy ba vùng Kiềm Đông, Hán Trung và Thương Ư của ta? Đất đai Đại Sở ta, xưa nay đều là đánh mà có được! Lần trước quả nhân bị ma xui quỷ khiến, tin vào hứa hẹn của Trương Nghi mà không đánh, liền xảy ra chuyện khôn lường. Lần này, quả nhân đã quyết ý, hẳn đã dám tới, quyết không để hắn toại nguyện, giết không tha!”
“Đại vương,” Chiêu Tuy vội đáp, “hai nước giao tranh, không chém sứ thần, đây là thông lệ. Bất luận thế nào, Trương Nghi cũng là sứ thần của Tần Vương, nếu như…” Dừng lại nửa chừng.
“Hắn là sứ thần?” Hoài Vương nhìn xoáy vào Chiêu Tuy, “lẽ nào hắn không phải là con tin Doanh Tứ đưa sang để đổi lại đất đai đã chiếm.”
“Chuyện này.” Chiêu Tuy nhìn sang vương thúc.
“Đại vương nói phải!” Vương thúc đáp lời, “đất của Đại Sở ta, xưa nay đều phải đánh mà có được, Trương Nghi là Trương Nghi, đất là đất.”
“Chiêu Tuy,” thấy vương thúc đứng về phía mình, Hoài Vương lấy làm phấn chấn, nhìn sang Chiêu Tuy, “việc trưng binh mộ dịch, làm tới đâu rồi?”
“Nhờ vào hiển lệnh đại vương ban bố, đã chiêu mộ được ba vạn, phần nhiều là người nghèo khổ, nhất là người Việt người Ba, hăng hái lập công!”
“Tiếp tục chiêu mộ!” Hoài Vương lớn giọng ra lệnh, “nội trong ba tháng, phải mộ đủ mười vạn, thứ Đại Sở ta không thiếu, là người!” Đưa mắt nhìn hai người, “phải rồi, còn có một tin tốt đẹp, quả nhân vừa nhận được thư của Tam Lư đại phu, hai vua Yên, Triệu đã đồng ý nhập tung, Tô Tần đã hẹn đặc sứ tung thân năm nước cùng tới Phùng Trạch, cùng lập minh ước tung thân. Ta cùng bốn nước kết minh, không còn hậu hoạn, trước hãy đánh Hàn, đoạt lại Uyển Thành; sau sẽ đánh Tần, đoạt lại toàn bộ đất đai đã mất!”
“Chúc mừng đại vương!” Vương thúc, Chiêu Tuy vòng tay, đồng thanh hô lớn.
Vài ngày sau, sứ Tần tới Sính.
Sáng sớm, Trương Nghi đúng hẹn vào cung, trình lên quốc thư của Tần Vương.
Trương Nghi tay cầm sứ sứ tiết, vừa bước lên bậc thêm cuối cùng của chính điện cung Sở, cung vệ sớm đã chờ sẵn hai bên, bắt ngay lấy Trương Nghi, lột bỏ trang phục sứ thần, thu lấy sứ tiết, đóng gông cùm, tống vào xe tù đã chực sẵn, do một toán vệ sĩ áp giải, lộc cộc lăn bánh thẳng vào đại lao.
Từ đầu tới cuối, Trương Nghi không phân trần, cũng không vùng vẫy.
Dù đã lường trước kết cục, phó sứ Ngụy Nhiễm chờ ở ngoài cung vẫn không khỏi hãi hùng.
Ngụy Nhiễm đánh xe tới thẳng phủ vương thúc.
Ngụy Nhiễm vốn là cháu ngoại của vương thúc, trong phủ không ai không biết, trước kia vẫn thoải mái ra vào trong phủ, dù nay thân phận đã đổi, một thân quan phục nước Tần, nhưng lính canh thấy mặt, không ai dám cản.
Ngụy Nhiễm vào thẳng phòng khách, thấy vương thúc đang bàn việc với Xạ Cao Quân cùng Bành Quân.
, “Phó sứ nước Tần Ngụy Nhiễm khấu kiến…” Ngụy Nhiễm dập đầu, thoáng ngập ngừng, liếc ba người trong phòng, hơi hạ giọng, “chư vị cữu công!”
Vương thúc thoạt tiên ngỡ ngàng, tiếp đến nhìn chằm chằm vào quan phục nước Tần trên người Nguỵ Nhiễm, hồi lâu sau mới chỉ vào một chiếu ở ngoài cùng: “Sứ Tần, mời!”
“Tạ ơn cậu!” Ngụy Nhiễm đứng dậy, bước lại ngồi xuống, ngoảnh nhìn vương thúc.
“Ừm, tốt lắm.” Vương thúc lại nhìn chăm chú một hồi, “có tiền đồ đây!”
“Thưa cậu…” Ánh mắt Ngụy Nhiễm dừng lại trên đầu vương thúc, “tóc cậu đã bạc thêm nhiều!”
“Phải, cậu già rồi. Chị cháu thế nào?”
“Rất ổn.” Ngụy Nhiễm đáp, “chị cháu được Tần Vương sủng ái, phong làm bát tử, sinh hạ Doanh Tắc, thông minh lanh lợi, khéo ăn khéo nói, ai thấy cũng yêu.”
“Doanh Tắc?” Vương thúc trầm ngâm chốc lát, khẽ gật gù, “tên rất hay! Hẳn do Tần Vương đặt?”
“Vâng, thưa cậu.” Ngụy Nhiễm nói tiếp, “Tần Vương rất yêu thằng bé, trong số các công tử, chỉ cho mình nó ra vào ngự thư phòng. Tần Vương thường chơi đùa cùng, tự tay dạy viết, kể cho nghe chuyện trong ngoài cung.”
“Cháu và Mị Nhung hãy dạy dỗ thằng bé cho chu đáo.”
“Vâng, thưa cậu.” Ngụy Nhiễm dừng lại một thoáng, đưa mắt nhìn ba người, rồi nói vào việc chính, “thưa các cậu, Nhiễm phụng vương mệnh, theo Trương tướng quốc đi sứ sang Sở, tướng quốc sáng nay thụ mệnh Sở Vương, vào cung yết kiến, song lại bị cung vệ bắt trói, giải tới đại lao. Việc quá đường đột, Nhiễm làm phó sứ, chưa từng kinh qua đại sự, bối rối không biết phải làm sao, mới tới đây xin cậu chỉ giáo đường đi nước bước!”
“Trương Nghi kia đáng tội lắm!” Xạ Cao Quân vỗ án quát lớn, “vừa hay cậu đây đang muốn tìm hắn tính sổ. Mấy năm qua, nước Hàn đang yên đang lành, với ta nước giếng không phạm nước sông, chỉ tại Trương Nghi kia bày kế, đuổi Công Tôn Diễn, xúi bẩy Hàn đánh ta, cướp lấy Uyển Thành! Mấy hôm trước vừa nghe Hàn Vương đã đổi tên Uyển Thành thành Nam Dương, thử hỏi có đáng giận không? Chuyện này mà nhịn được, thì còn chuyện nào không thể nhịn được?”
“Nhiễm Nhi,” Bành Quân tiếp lời, “cháu tuy là sứ Tần, song chớ có ngồi lệch chỗ. Chuyện khác không nói, chỉ nói Uyển Thành, đó là kinh đô ô kim của Đại Sở ta, giờ đã bị người Hàn chiếm mất. Còn nữa, đất phong của anh họ cháu Ngạc Quân, cùng với toàn bộ lò luyện, đều trên đất Uyển, lúc này đã bị người Hàn nuốt trọn! Lò luyện ở đó, quá nửa là của mấy nhà chúng ta, các cậu đây chỉ còn biết giương mắt đứng nhìn kho vàng bị người ta cướp mất!”
“Trương Nghi kia phải chết!” Xạ Cao Quân lại đấm mạnh xuống án, gần như gầm lên.
Trước mấy ông cậu đang bừng bừng thịnh nộ, Ngụy Nhiễm im bặt không nói được gì.
“Nhiễm Nhi,” vương thúc nhìn sang, ngữ điệu ôn tồn, “cậu đã nghĩ kỹ rồi. Lần này đi sứ tới đây, Trương Nghi là chính sứ, cháu là phó sứ. Trương Nghi sa cơ, sẽ chỉ có lợi cho cháu. Bất luận thế nào, cháu sẽ không có sơ sảy gì ở Sở. Chờ chuyện của Trương Nghi kết thúc, cháu vẹn toàn về Tần phục mệnh, hoặc giả sẽ được trọng dụng.”
“Thưa cậu, theo như cậu thấy, Trương tướng quốc sẽ phải xử trí thế nào?”
“Chết!”
“A…” Ngụy Nhiễm kinh hãi, “nhưng Trương tướng quốc là đặc sứ của Tần Vương, nhận vương mệnh đi sứ, là thay mặt cho Tần Vương, Sở Vương nếu xử tử người này, há chẳng…”
“Trương Nghi dựa vào đâu để nói mình là sứ thần của Tần Vương?” Vương thúc nhìn xoáy vào Nguỵ Nhiễm.
“Quốc thư vương mệnh! Và cả sứ tiết!” Ngụy Nhiễm vội đáp.
“Hai thứ này ở đâu?” Vương thúc hỏi.
“Trương tướng quốc đã mang theo lúc vào cung!”
“Quốc thư của hắn đã giao cho ai?” Vương thúc lại hỏi, “sứ tiết của hắn hiện ở nơi nào?”
“A…” Ngụy Nhiễm cuống lên, “thưa cậu?”
“Hãy nghe cậu nói đây, quốc thư, và cả sứ tiết của Trương Nghi, đều đã bị một ông cậu khác của cháu, vua của Đại Sở, một mồi lửa đốt ra tro rồi! Lúc thiêu huỷ, chính cậu đây đứng ngay bên cạnh nhìn tận mắt.”
“Ôi chao!” Ngụy Nhiễm kêu lên.
“Thiêu huỷ mất rồi, nghĩa là không có. Không có chiếu thư vương mệnh, không có sứ tiết nước Tần, Trương Nghi không còn là sứ thần của Tần Vương. Lần trước đi sứ, Trương Nghi lừa gạt vua ta ngay trước bá quan triều đình, phạm tội khi quân, chiếu theo luật pháp Đại Sở, tội khi quân, giết không tha!”
“Thưa cậu, chuyện này… sao có thể được?” Ngụy Nhiễm sắc mặt thiểu não.
“Có gì không được?” Vương thúc vặn lại, “Trương Nghi đi sứ, lấy danh nghĩa Tần Vương thề thốt giữa triều đường, hứa trả lại cho Đại Sở ta sáu trăm dặm sơn cốc Thương Ư, để đại vương ta thân Tần tuyệt Tề. Không chỉ nói suông, còn lập khế ước làm bằng, toàn bộ triều thần đều chứng kiến, lúc đó cậu đây cũng có mặt. Đến khi vua ta phải Chiêu Tuy theo hắn sang Tần nhận đất, kết quả thì sao? Trước thì giả bị thương tránh mặt, sau lại lừa Chiêu Tuy, lấy đi khế ước, để Tấn Vương thiêu huỷ, coi như không có. Giờ đây, sứ tiết và quốc thư của hắn cũng giống như vậy, không còn gì nữa, hắn lấy gì để chứng minh mình là đặc sứ của Tần Vương? Hắn đã không phải đặc sứ, tự tiện xông vào vương cung, là trọng tội, tại sao không thể tống giam vào ngục? Đây là Sinh Đô, chứ không phải Hàm Dương của hắn.”
Nghe vương thúc ung dung nói ra rặt những lời đổi trắng thay đen như vậy, Ngụy Nhiễm không thể chịu đựng nổi nữa, đưa tay ôm đầu.
“Nhiễm Nhi,” Vương thúc tiếp lời, “chuyện này không liên quan tới cháu. Lần trước Trương Nghi đi sứ, Tần Vương không thừa nhận khế ước do hắn lập, cũng tức là không thừa nhận hắn là sứ thần. Lần này lại để Trương Nghi đi sứ, tức là chấp thuận để hắn đi vào chỗ chết, bởi lẽ cách đây không lâu, Doanh Tật đi sứ Sính Đô, đại vương có sai Chiêu Tuy chuyển lời, rằng đại vương không bàn Kiềm Đông, không bàn Hán Trung, không bàn Thương Ư, chỉ cần một Trương Nghi mà thôi. Tần Vương chỉ bỏ ra một Trương Nghi mà đổi về được ba vùng đất, há đâu có chuyện không vui vẻ nhận lời?”
“Thưa cậu,” Ngụy Nhiễm ngẩng đầu, phản bác, “đại vương không cần ba vùng đất, chỉ cần Trương Nghi, như vậy là bất trí! Như vậy là nóng giận! Chỉ một cái mạng mỏn mọn của Trương Nghi, sao có thể đáng giá tới ba vùng đất đó? Là những hơn nghìn dặm lãnh thổ, những hơn vạn dân kia mà!”
“Sứ Tần Ngụy Nhiễm,” vương thúc gần mạnh từng tiếng, “đại vương có từng nói không cần ba đất đó. Đại vương chỉ nói không bàn mà thôi!” Dừng lại một chốc, dịu giọng mà tiếp, “không giấu gì cháu, cách đây mấy ngày, đại vương có nói một câu, cậu đây cho rằng rất phải. Rằng đất của thiên hạ, xưa nay đều phải đánh mà có được! Ví như sáu trăm dặm Thương Ư, phía tây Vũ Quan là do tiên vương tặng Tần, phía đông Vũ Quan là do Thương Ương đánh lấy. Còn đất Hán Trung, còn đất Kiềm Đông, có chỗ nào không phải do người Tần đánh lấy? Đất đã tặng, Đại Sở ta có thể không cần. Đất không phải tặng, người Tần có thể đánh lấy, người Sở há lại không thể đánh về? Tự cổ chí kim, kẻ mạnh là vua, đó là chân lý! Còn những điều khác, chỉ là nói nhảm mà thôi.”
“Không giấu gì cậu,” Ngụy Nhiễm nhìn thẳng vào vương thúc, “trước khi Nhiễm Nhi lên đường, Tần Vương đã ban chiếu khắp nơi, cả nước sẵn sàng xuất chiến, chính là đề phòng tướng quốc có điều bất trắc!”
“Vậy thì cùng huyết chiến!” Vương thúc cười nhạt, “cháu hãy tới tiên miếu Đại Sở xem thử, trong hàng liệt tổ liệt tông, người sống tới tầm tuổi cậu đây đã được coi là trường thọ, sống thêm một ngày là ơn huệ một ngày. Chỉ cần người Tần dám đánh tới, người Sở sẽ sẵn sàng nghênh chiến! Người Tần thích gọi mình là lão Tần nhân, người Sở lẽ nào không đủ già? Khi người Sở ta xưng vương, người Tần kia đang làm gì? Đánh xe hộ vệ cho Chu thiên tử mà thôi! Người Tần mài dao xoèn xoẹt, lẽ nào người Sở ta chịu lép? Từ một góc Đan Dương, mở mang tới năm nghìn dặm, Đại Sở có tấc đất nào do người khác tặng cho!”
“Sảng khoái lắm!” Xạ Cao Quân lại vỗ án, “Nhiễm Nhi, chớ ở đất Tần nữa, hãy quay về dốc sức cho Đại Sở!”
Mấy ông cậu thay phiên nhau nổi cơn thịnh nộ, Ngụy Nhiễm không thể đối đáp, phải chịu trận đúng hai cạnh giờ, cuộc trò chuyện đầy mục đích giữa các cậu cháu mới kết thúc không hề vui vẻ. Ngụy Nhiễm rầu rĩ trở về trạm dịch.
Đêm đó, Xa Vệ Tần cùng Thiên Hương cũng bí mật tìm tới trạm dịch, cùng Ngụy Nhiễm bàn kế giải cứu Trương Nghi.
Trong ba người, Ngụy Nhiễm ít tuổi nhất, cũng hiểu về Tần ít nhất, song lúc này, thân là phó sứ vương mệnh, dẫu chưa có chức tước thực chất trong triều, song chính sứ có chuyện, xét về sứ mệnh, không ai ngoài phó sứ có thể cáng đáng được trọng trách này. Giờ đây, Ngụy Nhiễm đang đảm đương sứ mệnh thay cho chính sứ, cũng chính là thay mặt Tần Vương, dù Xa Vệ Tần và Thiên Hương đều đã giữ tước hữu canh, nhưng giờ cũng thấp hơn Nguỵ Nhiễm một bực, nên đương nhiên chiếu chủ vẫn dành cho Nguỵ Nhiễm.
Rõ ràng, con đường vương thúc đã không thông, sự tình phiền phức hơn nhiều so với dự tính trước đó.
Người quyết định chuyện sống chết của Trương Nghi lúc này, là Hoài Vương. Có thể gây ảnh hưởng tới quyết định của Hoài Vương, có bốn người, một là vương thức, hai là Trịnh Tụ, ba là thái tử, bốn là Khuất Bình.
Trong bốn người đó, Khuất Bình đã đi sứ sang Tề, vương thúc đã không thông, hai đường đó coi như bế tắc. Giờ chỉ còn lại thái tử và Trịnh Tụ.
Con đường dẫn tới Trịnh Tụ, chính là Ngận Thượng. “Phía Ngận đại nhân hẳn đã có lời?” Nguỵ Nhiễm nhìn sang Xa Vệ Tần.
“Có đấy!” Xa Vệ Tần đáp, “Sở Vương giờ đã sủng ái Nguỵ mỹ nhân mà lạnh nhạt với Nam cung. Tại hạ theo lời tướng quốc căn dặn, đã tới gặp Ngận đại nhân, Ngận đại nhân đồng ý làm thử xem sao. Nếu như Nam cung theo mưu của tướng quốc, trừ Nguỵ mỹ nhân, lại được sủng ái, hẳn sẽ giúp được cho ta. Còn phía điện hạ,” nhìn sang Thiên Hương.
“Hồi bẩm phó sứ,” Thiên Hương vòng tay đáp, “Thiên Hương đã nhận được lệnh của kim điêu, đang cho người tiếp cận điện hạ.”
Thiên Hương nhắc tới kim điêu, ý muốn nói rõ với Nguỵ Nhiễm rằng, nàng ta chỉ nghe lệnh kim điêu.
Ở Hắc Điêu đài, kim điêu công tử Hoa là người nắm quyền cao nhất.
“Người nào?” Nguỵ Nhiễm truy hỏi.
“Một người điện hạ không thể cự tuyệt.” Thiên Hương khẽ cười tủm tỉm.
Bí mật, là quy tắc của Hắc Điêu đài.
Nguỵ Nhiễm lúc này cũng nhận ra mình hơi quá đà, bèn vòng tay, cất giọng trịnh trọng: “An nguy của tướng quốc đại nhân, xin cậy nhờ vào hai vị!”
Giống như Uy Vương năm xưa rèn dạy thái tử Hoè, Hoài Vương cũng có ý tôi luyện thái tử Mị Hoành. Như lần ốm liệt giường trước đây, Hoài Vương để thái tử chủ trì chính sự, mọi việc lớn nhỏ trong triều, đều do thái tử triệu triều thần cùng bàn bạc.
Tuy nhiên, nước suy trận bại, đưa đến tay thái tử, là một cục thế đã bị Hoài Vương tàn phá tan hoang. Thái tử càng nhìn lại càng phiền muộn, cuối cùng quyết định buông tay không nhìn đến nữa, vứt hết chính sự cho Chiêu Tuy, quân sự cho vương thúc, còn mình chẳng buồn lên triều, tối ngày ở lì trong Đông cung, hoặc ngâm thơ phú, hoặc luyện kiếm cung, hoặc hoan lạc cùng cơ thiếp.
Mị Hoành không phải người thích lao tâm, cũng không thể lao tâm. Là thái tử, Mị Hoành đương nhiên có được người thầy tài giỏi nhất nước Sở, nhận được sự rèn dạy tốt nhất, cao nhất, tinh chuyên nhất, thậm chí là hà khắc nhất dành cho quân vương tương lai. Có thể nói, thái tử Hoành đã học hết tất cả, duy chỉ chưa học được một thứ, đó là đảm đương trọng trách, và dường như cũng chưa có trọng trách gì cho hắn đảm đương, bởi trong mắt Hoài Vương, thái tử vẫn chỉ là một đứa trẻ ranh chưa đủ sức gánh vác việc gì. Mọi việc trong triều, Hoài Vương thà nghe theo Khuất Bình tuổi tác tương đương thái tử, cũng không chịu nghe lời hắn, tuy thi thoảng cũng hỏi thái tử chuyện triều chính, song đa phần là chuyện vặt vãnh, chủ yếu là để dạy dỗ, kiểm tra, bởi Hoài Vương sớm đã có chủ trương, hỏi chẳng qua vì muốn chỉ ra những chỗ hạn hẹp của thái tử.
Mị Hoành như bị trói buộc tay chân, dù khi chủ trì triều chính, cũng không có chỗ thi triển, cũng không thể thi triển, càng không dám vượt phận nửa bước.
Nhất là hiện tại, Hoài Vương đã khỏi bệnh, quay lại nắm quyền triều chính, Mị Hoành chẳng còn việc gì để làm nữa.
Chiều muộn hôm nay, sau khi dùng bữa, sắc trời còn chưa tối hẳn, thái tử thấy buồn chán, muốn dạo quanh một vòng, ra tới cổng cung, lại lộn về thư phòng, giở cuốn thi phú, đang định ngâm ngợi, chợt có cung doãn bước vào, nói rằng Ngạc Quân Tử Khải vừa tới, đang chờ ở khách đường.
Trong số các anh em, thái tử coi trọng nhất hai người, một là Tử Lan, người còn lại chính là Tử Khải, bởi sau lưng Tử Lan là Nam cung, còn Tử Khải qua lại rất mật thiết với vương thúc.
Nếu so ra, cán cân vẫn nghiêng về phía vương thúc.
Tuy nhiên, kể từ khi được trao quyền triều chính tới nay, Tử Khải chưa một lần đến thăm, nay lại đường đột tìm tới tận cửa…
Thái tử Hoành đang lúc băn khoăn, cung doãn lại khẽ giọng tiếp lời: “Đi cùng công tử, còn có một nữ nhân tuyệt sắc!”
“Nữ nhân tuyệt sắc!” Thái tử Hoành ngạc nhiên, “tuyệt sắc thế nào?”
“Ờ….” Cung doãn gần như thì thào, “thần không tiện nói, cảm giác… khác hẳn hai vị nương nương!”
Mị Hoành nghe vậy, lập tức rảo bước ra khỏi thư phòng, vội vã đi tới khách đường.
Trong khách đường đã châm mấy đĩa đèn, khắp phòng sáng trưng.
Tử Khải bước ra đón.
Đứng dưới ánh đèn, phía sau Tử Khải, quả nhiên là một tuyệt thế giai nhân, nhan sắc lộng lẫy khác thường. Chính là Thu Quả.
Thu Quả giờ đã không còn là thiếu nữ nữa, song nhờ được Thiên Hương chăm chút rèn giũa tận tình, nên trông lại càng nuột nà bóng bẩy hơn xưa, toát lên một vẻ đoan trang kiều diễm khó tả.
Mị Hoành đưa mắt liếc qua một thoáng, rồi ngoảnh sang Tử Khải, ánh mắt dò hỏi.
Tử Khải cười ranh mãnh, kéo thái tử ra ngoài sân, hất hàm vào trong, khẽ giọng: “Nghe nói Hoành huynh đang thiếu một thư đồng, hôm nay tiểu đệ dẫn nàng ấy tới, là để cho Hoành huynh xem mặt, nếu như ưng ý, xin hãy giữ lại. Nếu như không ưng, thì tiểu đệ đây…” Chỉ vào mình, “đành giữ lại cho mình vậy!”
“Chao ôi,” thái tử Hoành cười nhăn nhỏ, lắc đầu, “lòng ta lúc này, còn đang thấp thỏm không yên!”
“Hoành huynh thấp thỏm chuyện gì?”
“Gần giờ Ngọ hôm nay, cung doãn cho người tới báo tin, chuẩn bị chờ chỉ. Từ giờ Ngọ tới lúc này, đã thấp thỏm chờ mấy canh giờ, vậy mà phụ vương.” Thái tử Hoành ngoảnh nhìn về phía cổng cung, khẽ thở dài một tiếng, lại gượng cười mà tiếp, “than ôi, thật không đoán ra phụ vương triệu tới là có chuyện gì, trong lòng rất đỗi hoang mang lo lắng.”
“Nếu là như vậy,” Tử Khải mỉm cười, “tiểu đệ tới đây thực đúng lúc lắm!”
“Ồ?”
Tử Khải lại hất hàm về phía Thu Quả: “Thư đồng kia có lẽ có thể dùng đến!”
Thái tử Hoành thấy Tử Khải ẩn ý sâu xa, bèn nhìn xoáy vào Tử Khải dò hỏi.
“Hoành huynh cứ hỏi mỹ nhân ấy đi.” Tử Khải búng ngón tay đánh “tách” về phía Thu Quả, rồi không đợi nàng kịp ra, đã kéo thái tử trở vào trong sảnh, nói với nàng: “Mỹ nhân, vị này chính là điện hạ Đại Sở, còn không hành lễ?”
Thu Quả uyển chuyển tiến lên hai bước, vái sâu mà nói: “Dân nữ khấu kiến điện hạ!”
Thấy nàng tự xưng là dân nữ, song lại chỉ vái mà không quỳ lạy, thái tử Hoành âm thầm kinh ngạc, cảm giác cô gái này không phải tầm thường, bèn vái đáp lễ mà nói: “Hùng Hoành đất Sở có lời chào mỹ nhân!” Đoạn tự ngồi vào chiếu chủ, chỉ vào chiếu khách, “mỹ nhân, mời!”
Thu Quả vào chiếu, Tử Khải ngồi đối diện với nàng.
“Mỹ nhân đây là…” Thái tử Hoành nhìn nàng chăm chú, lên tiếng hỏi.
“Dân nữ tới từ đất Triệu, họ Tần, tên Thu Quả!”
“Thu Quả?” Thái tử Hoành khẽ nheo mắt, lẩm bẩm nhắc lại như thể đang lục tìm trong trí nhớ, lát sau lại nhìn sang Thu Quả, “mỹ nhân là người Triệu?”
“Dân nữ không phải người Triệu, mà là người Tần.”
Vừa nghe hai tiếng “người Tần”, thái tử Hoành đã sững sờ, vội nhìn sang Tử Khải.
“Hoành huynh,” Tử Khải mỉm cười, “có biết nàng ấy là ai?”
“Là ai?”
“Tiểu đệ nói ra, sẽ khiến huynh rụng rời tay chân đấy!”
“Nói đi!”
“Nghĩa nữ của tướng quốc sáu nước Tô Tần!”
“A?” Thái tử Hoành quả nhiên thất kinh.
“Còn nữa,” Tử Khải lại cười, “mỹ nhân tới đây, là có một đại sự, liên quan tới huynh.”
Thái tử lại một phen kinh hãi, “a” lên tiếng nữa.
“Thu Quả, nàng hãy bẩm báo với điện hạ!” Tử Khải nhìn sang Thu Quả.
… “Bẩm điện hạ,” Thu Quả vòng tay lên tiếng, “mấy hôm trước, Thu Quả còn ở Đại Lương, hôm nay tới Sở, là phụng mệnh nghĩa phụ, tới trợ giúp điện hạ!”
“Phụng mệnh Tô Tần?” Thái tử Hoành như không dám tin vào tai mình.
“Thưa phải, đó là nghĩa phụ của dân nữ!”
“Ồ,” thái tử Hoành sửng sốt, “mỹ nhân là người Tần, Tô Tử không ở Tần, sao lại có nghĩa nữ là nàng được?”
“Năm xưa nghĩa phụ sang Tần, suýt mất mạng hai lần, đều là dân nữ cứu mạng!” Thu Quả mỉm cười đáp.
“Ồ….” Thái Tử Hoành càng thêm kinh ngạc, nhìn sững vào mặt nàng, giọng đầy hồ nghị, “lúc Tô Tần sang Tần, nàng bao nhiêu tuổi?”
“Mới cao chừng này.” Thu Quả đưa tay vạch ra chiều cao của đứa bé bốn, năm tuổi, rõ ràng cố tình muốn giấu tuổi thật của mình.
“Khi đó nàng nhỏ tuổi là vậy, làm sao cứu mạng người ta được?” Thái tử Hoành càng thêm nghi hoặc.
“Nhà dân nữ ở thôn Tiểu Tần, bên đường Hàm Cốc. Khi nghĩa phụ tới Tần, xe sang ngựa đẹp, vừa hay gặp lúc tối trời, bão tuyết nổi dậy, vùi lấp đường đi, nơi đó đồng không mông quạnh, không một quán xá, người không biết trú vào đâu, vừa hay dân nữ từ nhà người thân trở về, gặp được giữa đường, bèn dẫn về nhà, trú qua đêm tuyết.” Thu Quả giải thích cặn kẽ.
“Còn lần thứ hai?”
“Hai tháng sau đó,” Thu Quả tiếp lời, “đúng vào đêm giao thừa, trời lại đổ mưa tuyết lớn, cả nhà dân nữ đang chờ đón năm mới, dân nữ chợt nghe thấy chó nhà của rộ, mới chạy ra cổng, không nhìn thấy ai, đang định quay vào, chợt thấy chó nhà dũi tuyết hít ngửi, bèn lại xem thử, thì thấy một người bị vùi kín dưới tuyết, bất tỉnh nhân sự, toàn thân lạnh ngắt, mới hốt hoảng gọi người nhà ra đưa vào, cứu chữa cả đêm, mới giữ được mạng sống cho người. Sau đó, Tổ đại nhân bèn nhận dân nữ làm nghĩa nữ!”
Hiển nhiên, chuyện này là thực, sớm đã lưu truyền khắp nước Tần, thái tử Hoành cũng từng nghe nói.
“Mỹ nhân đã làm một việc tốt!” Thái tử Hoành vòng tay với nàng, “giờ đây sáu nước có thể hợp tung, phải cảm tạ nàng!”
“Cảm tạ gì kia?” Thu Quả mỉm cười thẹn thùng, “dân nữ và nghĩa phụ là duyên trời định, mệnh của người chưa tới lúc tuyệt, còn mệnh của dân nữ, đã định là nghĩa nữ của người!”
“Nàng nói phải!” Thái tử Hoành gật gù khen phải, sắc mặt đã giãn ra nhiều, đoạn ngả người lại, nhìn nàng mà hỏi, “phải rồi, vừa rồi nàng nói, nàng phụng mệnh Tô Tử tới tìm ta, là vì chuyện gì?”
“Vì hai việc!” Thu Quả rành rọt đáp, “việc thứ nhất, cứu Trương Nghi.”
“Sao kia?” Không đợi Thu Quả dứt lời, thái tử Hoành kêu lên, “cứu Trương Nghi?”
“Phải, thưa điện hạ,” Thu Quả điềm tĩnh tiếp lời, “nghĩa phụ biết Trương Nghi đi sứ sang Sở, cũng biết Trương Nghi đã bị Sở Vương tống vào đại lao, muốn giết cho hả giận, song chuyện này là không thể. Nghĩa phụ mới cho dân nữ tới cậy nhờ điện hạ, bởi người duy nhất có thể ngăn cản Sở Vương, chính là điện hạ.”
“Tại sao không thể giết hắn?” Thái tử Hoành lập tức phản bác, “Trương Nghi lừa Đại Sở ta, khiến Đại Sở ta mất hơn nghìn dặm lãnh thổ, hi sinh hơn hai mươi vạn dũng sĩ, bách tính lâm nạn nhiều không đếm xuể, khắp nước Sở không ai không thống hận kẻ này, không giết hắn, không thể xoa dịu nỗi oán hận của muốn dân!”
“Nghĩa phụ nói rằng không thể,” Thu Quả cất giọng kiên quyết, “nghĩa phụ nói, nước Sở không thể địch lại nước Tần, nếu giờ đánh tiếp, vẫn sẽ đại bại, sẽ mất thêm đất, sẽ chết thêm người, chưa biết chừng còn diệt từ đường vong quốc!”
“Gì kia?” Thái tử Hoành trợn trừng hai mắt, “nghĩa phụ nàng dám nói vậy ư? Trong mắt ông ta, Đại Sở lại tầm thường đến vậy ư?”
“Điện hạ,” Thu Quả dừng lại một thoáng rồi tiếp, “dân nữ chỉ nhắc lại y lời nghĩa phụ, nghĩa phụ xưa nay luôn bảo vệ Đại Sở của thái tử, tuyệt không nói bừa. Đại Sở không thể tiếp tục giao chiến, hãy để bách tính được nghỉ ngơi, dân nữ suốt dọc đường tới đây, đã chứng kiến vô số người dân dắt díu nhau lên phương bắc, nói là chạy sang nước Nguỵ, chạy sang nước Hàn. Dân nữ mới hỏi cớ sao phải bỏ quê mà đi, họ nói không còn gì ăn nữa, bao nhiêu thóc lúa đều mang đi đánh trận cả rồi. Điện hạ hãy thử xuống hương thôn một chuyến, chớ nên chỉ ở trong cung, muốn gì có đó, ăn mặc phong lưu!”
Thái tử Hoành hít sâu vào một hơi dài, nhìn trân trần vào nàng dân nữ nước Tần trước mặt.
Thu Quả không còn vẻ e ấp nữa, cũng mở to mắt đón lấy ảnh nhìn của thái tử.
“Chuyện lớn nhường này, sao nghĩa phụ nàng không đích thân tìm tới?” Thái tử Hoành bất đồ hỏi vặn.
“Nghĩa phụ nói rằng còn chuyện hệ trọng hơn phải làm,” Thu Quả sớm đã chuẩn bị sẵn lời ứng đối, “năm nước chuẩn bị hợp tung, đặc sứ liệt quốc đang trên đường tới, nghĩa phụ không thể đi khỏi.”
“Nhưng… cũng không thể phái nàng tới chứ?”
“Nghĩa phụ cho dân nữ tới, là vì một việc khác, liên quan tới điện hạ.”
“Liên quan tới bản cung?” Thái tử Hoành lại một phen sững sờ, lúc này mới sực nhớ ra vừa nãy Thu Quả có nhắc, bèn vội vã hỏi, “là việc gì?”
“Chính là chuyện công tử vừa nói, làm thư đồng cho điện hạ!”
“Ồ?” Thái tử Hoành ngơ ngác, “bản cung thứ nhất không thiếu thư đồng, thứ hai chưa từng nói chuyện muốn nạp thư đồng với ai, cớ sao nghĩa phụ của nàng lại cho nàng tới làm thư đồng cho bản cung?”
“Điện hạ hiện thời không thiếu thư đồng, nhưng sắp tới sẽ thiếu đấy.”
“Vì sao kia?” Thái tử Hoành càng thêm khó hiểu.
“Bởi lẽ Sở Vương sắp đưa điện hạ tới Lâm Truy. Điện hạ ở Lâm Truy, lạ nước lạ cái, nghĩa phụ lo điện hạ nhất thời chưa quen, ngộ nhỡ xảy ra chuyện gì, sẽ ảnh hưởng tới tương lai nước Sở, cũng ảnh hưởng tới đại nghiệp hợp tung của nghĩa phụ, vậy nên mới sai dân nữ tới làm thư đồng của điện hạ, bảo vệ cho điện hạ.” Thu Quả giọng Tần rành rọt, không nhanh không chậm, ngữ điệu dứt khoát, ý tứ mạch lạc không chút sơ hở.
“Đưa bản cung tới Lâm Truy?” Thái tử Hoành bàng hoàng kinh hãi, đoạn vò đầu bứt tai, nhìn sang công tử Khải, “sao ta lại không hề biết?” Lại quay sang Thu Quả, “nghĩa phụ của nàng có nói, đại vương cho bản cung tới đó để làm gì chăng?”
“Làm con tin?”
Thái tử Hoành như thể sét đánh ngang tai, sắc mặt trắng bệch.
“Đến bản cung còn không biết, nghĩa phụ nàng. Thái tử Hoành nhìn trân trối vào Thu Quả, sắc mặt hồ nghi, “nghĩa phụ nàng làm sao biết được?”
“Là Tề Vương nói với nghĩa phụ của dân nữ.” Thu Quả giọng vẫn bình thản, “nghĩa phụ cùng đặc sứ Khuất Bình nước Sở tới yết kiến Tề Vương, muốn cùng Tề kết tình láng giềng hoà thuận. Tề Vương muốn Sở Vương đưa điện hạ sang Tề làm con tin, Khuất Bình đã gửi tấu báo về, nếu không ngoài dự liệu, e rằng chẳng bao lâu nữa, điện hạ sẽ phải lên đường sang Tề!”
Thái tử Hoành sực nhớ tới chuyện cung doãn chuyển lời đợi chỉ hôm nay, bất giác rùng mình ớn lạnh.
Đang lúc hoang mang hốt hoảng, chợt nghe có tiếng xe ngựa ồn ào, rồi cung doãn bước vào bẩm báo: “Điện hạ, là cung sứ, đại vương triệu người lập tức vào cung!”
Thái tử Hoành nhìn sững vào Thu Quả hồi lâu, mới quay sang Tử Khải: “Thư đồng này, ta sẽ nạp!”
Nói đoạn quay người toan đi, Thu Quả chợt gọi: “Điện hạ!”
Thái tử Hoành dừng bước, ngoảnh đầu nhìn nàng.
“Thái tử vào yết kiến đại vương, chớ có nhắc tới dân nữ, cũng chớ có nhắc tới nghĩa phụ!”
“Tại sao?”
“Nghĩa phụ không muốn để người khác biết dân nữ là thư đồng của điện hạ, cũng không muốn để người khác biết người không muốn Trương Nghi chết. Trương Nghi là địch thủ của nghĩa phụ, đối với địch thủ, nghĩa phụ chỉ mong Trương Nghi chết đi; nhưng đối với nước Sở, Trương Nghi không thể chết! Nghĩa phụ nói, điện hạ nếu có thể cứu Trương Nghi, chính là cứu nước Sở. Điện hạ là quân vương tương lai của Đại Sở, vậy nên cứu Sở chính là trọng trách của người!”
Thái tử Hoành hít sâu vào một hơi, vòng tay với Thu Quả, đoạn sải bước rời đi.
Đúng như Thu Quả đã nói, Hoài Vương triệu thái tử tới, là để báo với thái tử chuyện sang Tề làm con tin.
, “Hoành Nhi,” Hoài Vương nhìn đăm đăm vào thái tử hồi lâu, lâu tới mức khiến Mị Hoành ớn lạnh trong lòng, cuối cùng mới nói, “tuổi con không còn nhỏ nữa, đã đến lúc đảm đương việc lớn, cũng nên dốc sức vì nước. Giờ đây, quốc sự lớn nhất của Đại Sở ta, là báo thù Tần, là giành lại những đất đai đã bị ba giặc Tần, Hàn, Nguỵ chiếm đoạt. Mà muốn báo thù, Đại Sở ta không thể kết oán với láng giềng bốn phương. Hai năm trước, quả nhân nhất thời hồ đồ, tin lời kẻ bất tín Trương Nghi mà tuyệt giao với Tề, để cho tiểu nhân bất tín kia đắc chí, liên hoành bốn nước phạt ta, dồn ta vào tuyệt cảnh. Nay quả nhân quyết sửa lỗi lầm xưa, nối lại bang giao với Tề. Khuất Bình đi sứ sang Tề, đã giảng hoà với Tề Vương, Tề Vương chấp thuận xoá bỏ hiềm khích cũ, song yêu cầu con tới Lâm Truy làm con tin. Thái tử làm con tin, là việc hệ trọng, quả nhân đã đắn đo suốt nhiều ngày, nay mới quyết định, nên triệu con tới để báo cho con biết!”
“Tạ ơn phụ vương tin tưởng!” Thái tử Hoành do đã biết trước nên không những không tỏ ra kinh hoảng, còn vòng tay cảm tạ.
, “Hoành Nhi,” Hoài Vương thấy thái tử Hoành như vậy, lấy làm hài lòng, giọng cũng ôn hoà hơn hẳn, “con cứ an tâm tới đó, Tề Vương dứt khoát không dám gây khó dễ cho con, bởi quả nhân chắc chắn sẽ kết tình bang giao hoà thuận. Sự việc lần trước, đúng là quả nhân sai rồi, phái Trần Chẩn sang giảng hoà với Tề, còn chưa kịp trở về phục mệnh, đã lại sai Tống Di sang Tề tuyệt giao, gây chuyện xuẩn ngốc ngay giữa triều đình, tiếng thất tín lan khắp thiên hạ. Than ôi, đều do Ngận Thượng hại ta, kẻ xuẩn ngốc này, lý ra nên khép vào trọng tội!”
“Phụ vương,” Thái tử Hoành hít vào một hơi dài, chậm rãi thở ra, điều hoà hơi thở, rồi vòng tay tiếp lời, “nhi thần nguyện sang Tề làm con tin, một là để dốc sức vì nước, hai là để giải mối lo âu cho phụ vương. Nhi thần có một khẩn cầu, cũng mong phụ vương ân chuẩn!”
“Hoành Nhi, con nói đi!” Hoài Vương mỉm cười đáp. “Nhi thần khẩn cầu phụ vương, hãy thả sứ Tần Trương Nghi!” Thái tử Hoành chậm rãi thốt ra một câu.
“Gì kia?” Nụ cười vụt tắt trên mặt Hoài Vương, ánh mắt nhìn sững vào thái tử Hoành đầy kinh ngạc.
“Nhi thần khẩn cầu phụ vương thả sứ Tần Trương Nghi!” Thái tử Hoành nghiến răng, lặp lại thêm lần nữa.
“Tại sao?” Hoài Vương thở phì phò quát hỏi.
“Bởi vì, Đại Sở ta không thể tiếp tục giao chiến với người Tần.”
“Tại sao không thể?”
“Ta không thể đánh thắng được Tần, nếu lại đánh tiếp, sẽ mất thêm đất, sẽ chết thêm người, chưa biết chừng còn…” Thái tử Hoành ngập ngừng.
“Còn gì?” Hoài Vương ánh nhìn bức bách.
“Diệt từ đường, vong quốc!” Thái tử Hoành gần như lúng búng.
“Ngươi…” Hoài Vương đứng phắt dậy, ngón tay run bần bật trỏ vào thái tử, giọng cũng run lên, “đồ hèn nhát! Ngươi… ngươi…”
“Phụ vương….” Thái tử Hoành quỳ sụp xuống, bật khóc thành tiếng.
Hoài Vương thở phì phò, đi tới đi lui trong sảnh. Không biết đã đi bao lâu, Hoài Vương mới bước trở về, ngồi lại xuống chiếu, giọng nói chậm rãi, song đanh thép và đầy uy lực, gần mạnh từng tiếng: “Thái tử nghe chỉ!”
Thái tử Hoành dập đầu: “Nhi thần nghe chỉ!”
“Lập tức trở về chuẩn bị, nội trong ba ngày, lên đường sang Tề. Còn về Trương Nghi, hai mươi vạn anh linh tuẫn thân vì Đại Sở ta đang chờ hắn trong từ đường tiên tổ!”
“Nhi thần… tuân chỉ…”
Hai ngày sau, thái tử Hoành lên đường sang Tề, ngồi cùng xe, chính là thư đồng Thu Quả.
Đương nhiên, Thu Quả lúc này đã không còn gọi là Thu Quả nữa, thái tử Hoành đặt cho nàng một cái tên đầy thi vị, Mộng Sính, bởi Sính Đô đang ngày một xa dần, ngày sau có lẽ chỉ còn gặp trong giấc mộng.
Thái tử Hoành thất vọng trở về, sang Tề làm con tin, vận mệnh của Trương Nghi, giờ chỉ còn trông vào mình Trịnh Tụ.
Từ lúc được Ngận Thượng truyền cho “bí quyết”, Trịnh Tụ không còn rầu rĩ ủ ê như những ngày qua, mà đã tươi vui trở lại, cứ hễ Hoài Vương vắng mặt, là lại tìm mọi lý do để tới Trung cung, ngọt ngào chị chị em em, khen Nguỵ mỹ nhân từ đầu tới chân không sót chỗ nào. Lại còn tự tay may xiêm y, tặng đồ trang sức cho Nguỵ mỹ nhân, thậm chí còn thay nữ tỳ thân tín trang điểm cho nàng ta.
Nguỵ mỹ nhân vào cung Sở đã vài năm, hiểu rõ Hoài Vương sủng ái Trịnh Tụ ra sao. Xuất thân thị tỳ, địa vị của Nguỵ mỹ nhân trong cung Sở vốn rất thấp hèn, chức phận chỉ là hầu hạ chủ nhân, sớm tối gặp Nam cung Trịnh Tụ, đều phải quỳ xuống thỉnh an. Ngờ đâu tạo hoả trêu ngươi, Nguỵ mỹ nhân vô tình đắc sủng, Trịnh Tụ đã không ghen tuông với nàng, lại còn yêu thương che chở, khiến Nguỵ mỹ nhân lấy làm cảm kích.
Quan trọng hơn nữa, Nguỵ mỹ nhân và Trịnh Tụ đều là người Nguỵ. Khi Trịnh Tụ kể lại chuyện đau thương năm xưa, cả nhà máu nhuộm trước thành Tương Lăng, chỉ còn lại mình nàng bơ vơ côi cút, Nguỵ mỹ nhân vô cùng thương cảm, nước mắt đầm đìa, cũng tâm sự cùng Trịnh Tụ về thân thế bi thảm của mình. Trịnh Tụ nghe kể, cũng nhỏ lệ khóc thương. Từ đó, hai người lại càng thêm thân thiết. Trịnh Tụ bắt đầu tiết lộ với Nguỵ mỹ nhân Sở Vương thích gì, ghét gì, thậm chí còn mách nước nàng chuyện kỹ xảo phòng the, như Hoài Vương thích chăn đệm màu gì, trong buồng bài trí ra sao, phục sức thế nào. Nguỵ mỹ nhân vốn là người ngây thơ thuần phác, đâu từng biết tới những mánh khoé kiểu này, càng nghe lại càng thán phục, bèn làm theo y lời, quả nhiên càng được Hoài Vương yêu y thích. Để báo đáp lại, Nguỵ mỹ nhân cũng lựa những lúc Hoài Vương vui vẻ mà nói giúp cho Trịnh Tụ, một điều chị hai điều chị, khen ngợi Nam cung hết lời.
Bí quyết chính là bí quyết.
Hoài Vương biết được những việc Trịnh Tụ làm, lấy làm cảm khái, nói với cung doãn: “Than ôi, xem ra quả nhân đã xử tệ với Nam cung rồi!”
“Đại vương hành sự anh minh, lão nô ngu muội, không hiểu đại vương có chỗ nào xử tệ với Nam cung?” Cung doãn cười hỏi.
“Ngươi có biết thế nào là hiền thục?”
“Hiền là đẹp, thục là tốt, hiền thục có nghĩa là đẹp và tốt, không biết lão nô hiểu có đúng chăng?”
Hoài Vương bật cười: “Ngươi nói chung chung quá rồi. Đàn bà thờ chồng, dựa vào nhan sắc. Với người sắc đẹp hơn mình, lại đoạt mất sự sủng ái của mình, đàn bà sẽ sinh lòng đố kỵ, đó là bản tính của họ. Nhưng Trịnh Tụ thì khác, nàng ấy biết quả nhân thích người mới, nhưng không ghen tuông, lại yêu thương chăm sóc chu toàn còn hơn cả quả nhân, như thế chính là hiền thục. Nàng ấy khiến hậu cung của quả nhân hoà thuận êm ấm, để quả nhân toàn tâm toan lo triều chính. Hiếu tử thờ cha mẹ, trung thần thờ quân vương, đều nên như vậy mới phải.” Nói rồi tấm tắc khen ngợi, “Nam cung quả là hiền thục!”
Trong cung đều có tai mắt, lời khen của Hoài Vương, đương nhiên nhanh chóng truyền tới tai Nam cung không sót một chữ.
Thấy thời cơ đã chín, Trịnh Tụ bèn mang theo một bộ xiêm y, tìm tới Trung cung, giũ ra trước mặt Nguỵ mỹ nhân, tươi cười mà nói: “Xiêm y này chị mới may cho em, em hãy thử mặc xem có vừa vặn? Áo này chất tơ mềm mượt, như da trẻ nhỏ, nhớ năm xưa, chị từng mặc thứ tơ này hầu hạ đại vương, lần nào đại vương cũng mê mẩn, cứ vuốt ve mãi không nỡ rời tay.”
“Chị thực tốt quá!” Nguỵ mỹ nhân đỡ lấy xiêm y, đưa tay thử vuốt, quả nhiên trơn mềm óng ả, khác hẳn lụa thường, bèn ngạc nhiên hỏi, “đây là lụa gì?”
“Lụa the nước Lỗ, là hàng thượng đẳng, chị hiếm hoi lắm mới có được bốn súc, tiếc không nỡ dùng, giờ mới may cho em.”
Nói đoạn, dẫn Nguỵ mỹ nhân đến trước gương, tự tay thay ra cho nàng, vừa thay vừa khen ngợi không ngớt: “Chao ôi, nhan sắc nhường này, chị nhìn còn mê, nữa là đại vương. Em quả là giai nhân tuyệt sắc!”
Nguỵ mỹ nhân nghe mà ngượng nghịu, sắc mặt đỏ bừng: “Chị khen quá lời rồi, chị mới là giai nhân đó!”
“Than ôi, năm tháng vô tình,” Trịnh Tụ thở dài, “nhớ năm xưa, hồi chị mới vào cung, trẻ đẹp biết bao. Nhưng kể từ khi sinh Tử Lan, nhan sắc đã tàn, đâu thể sánh được với em nữa!” Nói đoạn, lại tươi cười ngắm nghía Nguỵ mỹ nhân từ đầu tới chân.
Nguỵ mỹ nhân cười e lệ.
Đột nhiên, Trịnh Tụ thu lại nụ cười, ánh mắt dừng lại trên mũi của Nguỵ mỹ nhân.
“Chị?” Nguỵ mỹ nhân ngơ ngác.
“Ồ, mũi em làm sao vậy?” Trịnh Tụ mở to mắt nhìn chăm chú.
“Mũi em… có làm sao đâu?” Nguỵ mỹ nhân đưa tay sờ lên mũi, ngờ vực hỏi.
Trịnh Tụ ghé sát lại nhìn, rồi lại lùi ra xa nhìn tiếp, ánh mắt trước sau không rời khỏi mũi Nguỵ mỹ nhân.
“Chị?” Nguỵ mỹ nhân thấp thỏm.
“Ôi chao, thảo nào đại vương…” Trịnh Tụ buột miệng, rồi lại im bặt.
“Đại vương… đại vương sao kia?” Nguỵ mỹ nhân cuống quýt gặng hỏi.
“Than ôi,” Trịnh Tụ khẽ thở dài ra điều thương xót, “em chỗ nào cũng đẹp, chỉ có cái mũi hơi tẹt, mới khiến đại vương chê.”
Nguỵ mỹ nhân vội đưa tay sờ lên mũi, sắc mặc hoang mang: “Mũi em tẹt ư? Nhưng em đâu có nghe đại vương nhắc tới!”
“Em sờ mũi chị mà xem!” Trịnh Tụ cầm tay Nguỵ mỹ nhân, đặt lên mũi mình, “bóp mạnh vào, rồi lại bóp mũi của em xem có gì khác!”
Nguỵ mỹ nhân làm theo lời Trịnh Tụ, thấy sống mũi mình đúng là mềm nhũn, cứ như không xương, trong khi mũi của Trịnh Tụ bóp thế nào cũng không biến dạng.
“Không giấu gì em,” Trịnh Tụ ghé sát tai nàng thì thầm, “có lần đại vương cứ vuốt mũi chị, rồi nói một câu.”
“Đại vương nói gì?”
“Đại vương nói, quả nhân rất không vừa mắt cái mũi của Nguỵ phi, giá được một nửa của nàng thôi, thì nàng ấy quả là tuyệt sắc!”
“Đại vương… nói vậy thật sao?” Nguỵ mỹ nhân cuống lên hỏi.
“Phải.” Trịnh Tụ đáp lời, “thoạt tiên chị cứ ngỡ đại vương nói vậy để cho chị vui, nay nhìn kỹ em, mới biết đại vương nói thật!”
“Chị…” Nguỵ mỹ nhân sắc mặt khẩn thiết, “vậy em phải làm sao đây?”
“Chị mách em một cách này, chưa biết chừng lại hữu dụng, em muốn thử chăng.”
“Chị hãy mau nói cho em biết!” Nguỵ mỹ nhân nên nóng giục giã.
“Lần sau gặp đại vương, nếu thấy đại vương nhìn lại, em hãy che cái mũi đi, chỉ cho đại vương nhìn thấy vẻ đẹp của em. Giống như chị đây,” Trịnh Tụ chỉ vào ngực mình, “kể từ khi sinh Tử Lan, chị dứt khoát không cởi yếm, không để người nhìn thấy vẻ phai tàn. Chiêu này thực hữu dụng!”
“Vâng vâng, em sẽ làm theo chị.” Nguỵ mỹ nhân rối rít gật đầu.
Mấy hôm sau, Hoài Vương nghỉ đêm tại Nam cung.
Mây mưa hoan lạc xong rồi, Hoài Vương nằm trên giường, nhìn sang Trịnh Tụ: “Tụ Nhi, quả nhân có một chuyện này muốn hỏi nàng.”
“Đại vương cứ nói.” Trịnh Tụ gối đầu lên tay Hoài Vương đáp.
“Mấy ngày hôm nay, Nguỵ phi hễ gặp quả nhân là lại đưa tay che mũi, trông thật lạ lùng. Nghe nói nàng và Nguỵ phi qua lại thân thiết, có biết tại sao nàng ấy lại làm như vậy?”
“Thần thiếp có nghe nàng ấy nói, nhưng…” Trịnh Tụ sắc mặt khó xử, “thôi, thần thiếp không nói là hơn.”
“Cứ nói, nàng và quả nhân, không có gì phải giấu.”
“Vậy thì, thần thiếp nói ra, đại vương chớ lấy làm giận dữ!” Trịnh Tụ giao hẹn.
“Nói đi, quả nhân không giận!”
“Nàng ấy.” Trịnh Tụ chỉ vào nách Hoài Vương, “ghét mùi ở đây!”
“Gì kia?” Hoài Vương đẩy Trịnh Tụ ra, ngồi bật dậy, ghé mũi lại ngửi, “quả nhân hôi nách ư?”
“Thần thiếp chưa từng ngửi thấy!” Trịnh Tụ cười, “có lẽ là mũi của thần thiếp khác với mũi của nàng ấy, nên thấy đại vương chỗ nào cũng thơm tho, đến cả mồ hôi cũng khiến người ta mê thích!”
"To gan!” Hoài Vương vẫn canh cánh với chuyện của Nguỵ mỹ nhân, nghiến răng ken két mà mắng.
“Đại vương, làm thiếp sợ quá!” Trịnh Tụ ôm lấy Hoài Vương, “đại vương đã nói là không giận kia mà… Xin hãy dung thứ cho nàng ấy, nàng ấy là em gái của thần thiếp!”
Hoài Vương không nói không rằng, chỉ hừ một tiếng, đẩy Trịnh Tụ ra, mặc áo, sải bước đi thẳng ra ngoài.
Lúc này đã là nửa đêm, Nguỵ mỹ nhân đang say giấc thì bị cung nhân xộc vào lôi đi, giam vào phòng cấm, ngay sáng hôm sau xử hình xẻo mũi, đày tới lãnh cung.
Nam cung Trịnh Tụ lại được sủng ái như xưa, song đây mới là bước đầu tiên trong kế sách của Xa Vệ Tần, bước tiếp theo mới là hệ trọng. Trịnh Tụ cần thủ thỉ lời đường mật bên tai để thuyết phục Hoài Vương.
Nơi duy nhất trong hậu cung mà Ngận Thượng được phép ra vào là miếu Vu Hàm, do Hoài Vương đã ban lệnh từ trước. Sau khi đại tư tế Bạch Vân rời khỏi, mọi việc tế tự trong miếu Vu Hàm hậu cung đều do Trịnh Tụ chủ trì, Trịnh Tụ nhiệm đại đệ tử của Bạch Vân làm tư tế, giao cho Ngân Thượng việc liên lạc với các miếu Vu Hàm khác ngoài cung, vậy nên Ngận Thượng mới có được tấm kim bài, được phép ra vào hậu cung, nhưng nơi đến chỉ có thể là miếu Vu Hàm.
Trong thiên điện miếu Vu Hàm, Trịnh Tụ đuổi hết thân cận ra ngoài, hân hoan kể cho Ngận Thượng nghe một lượt chuyện Nguỵ mỹ nhân trúng kế, đoạn vòng tay vái Ngận Thượng liên hồi, tỏ lòng cảm kích.
“Nương nương,” Ngân Thượng hạ giọng thì thào, “trong việc lần này, người nương nương cần cảm tạ không phải là thần!”
“Không cảm tạ ông, phải cảm tạ ai?”
“Sứ Tần Trương Nghi!”
“AP” Trịnh Tụ sửng sốt, “chẳng phải người này đã bị tống vào tử lao rồi ư?”
“Trương tướng quốc tuy đã bị giam vào tử lao, song thuộc hạ thì không! Còn nhớ thương nhân nước Tần đã tặng nương nương tấm áo cừu trắng năm xưa? Trương Nghi trước khi đi sứ, đã nhờ người này chuyển lời vấn an nương nương, thần có kể với hắn về nỗi muộn phiền của nương nương, hắn liền bẩm lại Trương tướng quốc, tướng quốc bèn nghĩ ra diệu kế này, khiến nương nương đoạt lại sủng ái từ trong tay Nguỵ mỹ nhân!”
Trịnh Tụ cúi đầu trầm ngâm một lát, rồi ngẩng lên hỏi: “Phải chăng Ngận đại nhân muốn bản cung xin đại vương tha cho Trương tướng quốc?”
“Giờ đây e rằng chỉ còn mình nương nương có thể cứu mạng người này!”
“Bản cung không cứu được!” Trịnh Tụ gượng cười, “ông cũng hiểu đại vương, vì chuyện Thương Ư, và hai trận chiến, đại vương căm hận Trương tướng quốc thấu tim gan! Bản cung mà nói đỡ cho người này, e rằng đại vương cũng…”
“Nương nương sợ gì kia?”
“Sợ rằng sẽ có kết cục như Nguỵ mỹ nhân!”
“Than ôi,” Ngận Thượng thở dài, cười rầu rĩ mà đáp, “đại vương nếu giết Trương Nghi thực, e rằng kết cục của nương nương sẽ khác hẳn Nguỵ mỹ nhân!”
"Kết cục thế nào?” Trịnh Tụ quả nhiên kinh hãi, hai mắt mở to nhìn vào Ngân Thượng.
“Nương nương biết Ngũ Tử Tư chăng?” Ngận Thượng chậm rãi tiếp lời, “năm xưa Ngũ Tử Tư dẫn quân Ngô đánh tới tận Sính Đô, tiền Chiêu Vương giữa đêm bỏ trốn, đáng thương cho con cái, phi tần rơi vào tay quân Ngô, dù không chết cũng bị làm nhục.”
“Ý ông muốn nói, người Tần…” Trịnh Tụ tái mặt.
“Không giấu nương nương,” Ngận Thượng càng hạ thấp giọng, “đại vương giận dữ tới mụ mị mất rồi, không cần Thương Ư, không cần Hán Trung, không cần Kiềm Đông, chỉ đòi người Tần giao nộp Trương Nghi. Trương Nghi là cánh tay đắc lực của Tần Vương, Tần Vương không muốn mất Trương Nghi, song Trương Nghi không muốn Tần, Sở tiếp tục giao tranh, nên mới nhận lời đại vương, đi sứ sang Sở. Tần Vương vì muốn bảo toàn cho Trương Nghi, đã tập hợp đại quân không dưới bốn chục vạn, chia làm bốn ngả Kiềm Đông, Ba Thục, Hán Trung, Thương Ư, cộng thêm người Hàn nữa là năm ngả, đang chờ sẵn trước cửa ngõ Đại Sở. Đại vương nếu giết Trương Nghi, năm lộ đại quân sẽ lập tức đánh thẳng tới Sính Đô, khi đó đại vương chỉ còn một cách, chính là dốc toàn lực đánh trả, một trận quyết thắng người Tần. Nương nương, thế nhưng vạn nhất đại vương không đánh thắng…”
Trịnh Tụ lại càng hoa dung thất sắc: “Vậy phải làm sao đây?”
“Bởi vậy, Trương Nghi không thể chết, nương nương nhất quyết phải cứu được người này bằng mọi giá, một là vì báo ơn, hai là vì kế tương lai! Nương nương, Tử Lan tuổi còn quá nhỏ, còn lâu mới có thể lập thân!”
“Nhưng… bản cung phải cứu thế này?”
Ngận Thượng chỉ chờ có thế, lập tức ghé tai thì thào một chặp, Trịnh Tụ gật đầu nhận lời.
Đêm đó, Hoài Vương lại tới Nam cung, thấy Trịnh Tụ đang ngồi khóc lóc ủ ê, thì ngạc nhiên hỏi duyên do. Trịnh Tụ không nói, chỉ hầu Hoài Vương đi ngủ. Ngủ tới nửa đêm, Trịnh Tụ lại nằm khóc sụt sùi.
Hoài Vương nghe tiếng, giật mình tỉnh giấc, ngồi dậy hỏi: “Tụ Nhi, nàng khóc gì vậy?”
“Đại vương,” Trịnh Tụ rúc vào lòng Hoài Vương, nức nở đáp, “thần thiếp… là vì Trương Nghi.”
“Trương Nghi?” Hoài Vương kinh ngạc, xô bật nàng ra, “sao nàng lại khóc vì hắn?”
“Thần thiếp.” Trịnh Tụ nghẹn ngào giải thích, “hồi chiều thần thiếp tới miếu Vu Hàm tế lễ, chợt thấy buồn ngủ, mới thiếp đi một chốc, trong lúc mơ màng, chợt thấy đại thần Vu Hàm hiển hiện, còn có Bạch tư tế đứng hầu bên cạnh. Đại thần nói rằng, ngươi không quên thờ ta, nên ta sẽ cho ngươi một lời cảnh báo. Sính Đô sắp có hoạ lớn, ngươi hãy dẫn con trai tới xứ Hạ Đông lánh nạn! Thần thiếp rụng rời kinh hãi, mới hỏi hoạ gì, đại thần đáp rằng, người Tần sắp đánh tới Sính Đô. Thần thiếp hỏi nguyên do, đại thần mới nói, bởi đại vương giết sứ Tần Trương Nghi, Trương Nghi là cánh tay của Tần Vương, Tần Vương đánh tới báo thù. Thần thiếp còn muốn hỏi nữa, thì bừng tỉnh giấc.” Rồi lại nước mắt lã chã, “đại vương, nếu Sính Đô thất thủ, sao ta có thể bảo toàn, và cả Tử Lan… Thần thiếp… thần thiếp càng nghĩ, lòng càng đau như dao cắt…”
Hoài Vương bàng hoàng chết lặng.
“Đại vương,” Trịnh Tụ đột nhiên quỳ xuống, dập đầu với Hoài Vương, “thần thiếp cả gan, cầu xin đại vương hãy thả Trương Nghi!”
Sắc diện Hoài Vương từ kinh hãi chuyển sang dữ tợn. Hoài Vương với lấy áo trùm lên người, chầm chậm xuống giường. Đoạn đi thẳng ra ngoài.
“
“Đại vương….” Trịnh Tụ thảm thiết gọi với theo.
Hoài Vương như thể không nghe, cứ thế xồng xộc bước đi.
Nghe tiếng bước chân Hoài Vương xa dần, Trịnh Tụ thôi khóc, thẫn thờ chết lặng.
Đêm khuya tĩnh mịch, Hoài Vương một mình cất từng bước chân nặng trĩu, đi về phía cổng cung thông tới tiền điện.
Ba ngày sau đó, Hoài Vương không tới Nam cung, đêm đến đều nghỉ trong ngự thư phòng, cùng với chúng vương thân, tông thất như vương thúc, Chiêu Tuy bàn đi bàn lại về giấc mơ của Trịnh Tụ. Tất cả đều khăng khăng Trương Nghi đáng giết, nguyên do chỉ có một, báo thù.
Vương thúc còn chỉ ra một món nợ lớn, hai cuộc chiến trước, Sở tuy thất bại, song Tần, Hàn đều chịu tổn thất, nhất là người Tần, con số tử thương tính kiểu gì cũng phải hơn hai chục vạn. Nếu tính quân số, người Sở có thể xuất chiến hiện tại vượt xa người Tần. Lại thêm Khuất Bình đi sứ sang Tề, năm nước sắp lập minh ước tung thân, nước Hàn không dám vọng động. Chỉ có mình Tần, Sở không hề sợ. Tần được hai đất Hán Trung, Kiềm Đông, không chỉ là phúc của Tần, mà cũng là hoạ của Tần, dân chúng hai nơi đều là người Sở, đều đang mong ngóng người Sở đánh tới. Còn như giấc mơ của Trịnh Tụ, là chuyện hoang đường, không đáng tin cậy. Vả lại, Vu Hàm là thần của đất Ba, dù có muốn cảnh báo thực, cũng phải báo mộng với Sở Vương, chứ có lý nào lại báo mộng cho một phi tử hậu cung. Vương thúc còn nhắc lại chuyện ngày trước, rằng Trịnh Tụ, Ngận Thượng luôn có ý bênh vực cho Trương Nghi, giấc mộng này không chừng do hai người họ thêu dệt nên. Hoài Vương bèn sai người đi điều tra, quả nhiên biết được vào hôm Nam cung nằm mơ, Ngận Thượng có tới miếu Vu Hàm ở hậu cung.
Hoài Vương lập tức hạ lệnh thu hồi kim bài ra vào hậu cung của Ngận Thượng, rồi vào buổi đại triều hôm sau, ban chiếu giữa triều đường kể tội Trương Nghi, tuyên bố vào ngày tế trận Đan Dương tại thái miếu Sính Đô, sẽ cử hành đại lễ, dùng Trương Nghi làm vật tế, cắt lưỡi để dâng cúng hồn trung tuẫn quốc, moi tim để tế bái liệt tổ liệt tông, rồi chém đầu bêu trên cờ tam quân, làm lễ thệ sư phạt Tần.
Khắp triều đình bừng bừng kích động, không một ai đếm xỉa tới Ngận Thượng.
Ngày tế trận đã gần kề, thái miếu nước Sở tất bật sửa soạn cho nghi lễ. Cùng lúc đó, chiếu thư của Hoài Vương cũng truyền khắp các thành ấp nước Sở, tuyên cáo rõ ràng các tội trạng của Trương Nghi. Trai tráng nước Sở, nhất là tầng lớp hạ nhân, không ai không khí thế hừng hực, đua nhau bỏ nghiệp tòng quân, đều muốn giết giặc lập công, thay đổi thân thế.
Tần, Hàn chấn động, không chỉ gấp rút điều quân bị chiến ở biên cương, mà còn tăng cường phòng thủ nghiêm ngặt những nơi mới chiếm, đề phòng người Sở nổi dậy.
Sát ngày tế trận, tư hình vào ngục, tuyên chiếu mệnh của Hoài Vương trước Trương Nghi nghe, lệnh cho ngục tốt khép gông đeo xiềng, nhốt kỹ Trương Nghi vào tử lao.
Tư hình tuyên chiếu xong, Trương Nghi không nói một lời, chỉ khẽ cười một tiếng.
Đời này của Trương Nghi, coi như đã tới hồi tận. Đêm trước ngày tế trận, tử lao tĩnh mịch rợn người. Trương Nghi khép mắt ngồi ngay ngắn, giống như hồi theo đại sư huynh học nhập định trong Quỷ Cốc.
Bỗng nhiên, có tiếng bước chân lại gần, là một ngục lại cùng hai ngục tốt. Ngục lại mở cửa tử lao, hai tên ngục tốt tiến vào, một người bưng khay thịt nướng, một người ôm hũ rượu, trên hũ xếp hai bát lớn.
“Trương đại nhân,” ngục lại vòng tay trước Trương Nghi, “theo như vương mệnh, giờ Thìn ngày mai, đại nhân sẽ phải lên đường. Đêm nay đêm lành, trăng sáng vằng vặc, tiểu nhân phụng mệnh quan tư hình, có chút rượu nhạt, tạm tiễn đại nhân lên đường.”
Nói rồi ra hiệu cho hai tên ngục tốt bày rượu thịt, mở xiềng xích, tháo gông cùm cho Trương Nghi, đưa cho một tấm khăn ướt. Trương Nghi vòng tay đáp lễ, đón lấy tấm khăn, lau mặt, lau tay.
“Trương đại nhân,” Ngục tốt chỉ vào khay thịt, “ở đây có bốn loại thịt, đều là tuyệt phẩm. Tiểu nhân nghe nói đại nhân thích rượu lâu năm, hũ rượu này mới được bảy năm, chưa đủ ngon, song tiểu nhân chỉ gắng được đến thế, mong đại nhân không chê.”
“Tại hạ có lời cảm tạ!” Trương Nghi ngồi ngay ngắn lại, nhìn vào bát rượu, “có thể lấy thêm năm cái nữa chăng?”
“Ô.” Ngục lại ngẩn người, “Trương đại nhân, chỉ một mình ngài, hai bát vẫn không đủ ư?”
“Khẩn cầu ngươi đó!” Trương Nghi khẩn khoản.
Ngục lại ra hiệu, một tên ngục tốt nhanh nhảu chạy đi, lát sau trở lại, mang theo năm cái bát lớn.
Trương Nghi bày bảy cái bát xuống đất, bưng hũ rượu, lần lượt rót vào từng bát, đoạn bưng một bát, giơ lên trời mà nói: “Tiên sinh, đệ tử đời này được bái tiên sinh làm thầy, quả là vạn hạnh, bát đầu tiên, đệ tử kính tiên sinh!” Nói xong, một hơi uống cạn, quăng bát đi, bốc một miếng thịt lên ăn, rồi bưng bát rượu thứ hai, “đại sư huynh, sư đệ Trương Nghi phục rồi, bát thứ hai này, sư đệ kính huynh!” Rồi lại uống cạn, quăng bát, ăn vài miếng thịt, tiếp tục bưng bát thứ ba, mắt nhìn đăm đăm vào bát rượu, hồi lâu sau mới lên tiếng, “sư tỷ, Trương Nghi… không còn gì để nói, kính sư tỷ…” Uống hết, lại bưng lên bát nữa, “Tôn huynh, ở Quỷ Cốc nhiều năm, Trương Nghi phục huynh!” Lại bưng bát thứ năm, “Bàng huynh, tại hạ biết huynh chờ lâu nóng ruột, hãy gắng đợi thêm chốc lát, giờ Thìn ngày mai, Trương Nghi sẽ tới tìm huynh!”
Năm bát đều đã quăng đi, Trương Nghi ngồi im, nhìn vào hai bát cuối cùng, không uống thêm, cũng không ăn thêm nữa, cứ thế bất động hồi lâu.
Cửa tử lao vẫn mở, đứng canh trước cửa là ngục lại, phía sau ngục lại là hai tên ngục tốt.
Trương Nghi cứ ngồi mãi, ngồi mãi, không biết đã qua bao lâu, dường như quên bằng hết mọi thứ quanh mình.
Ngục lại không chờ thêm được nữa, khẽ giọng nhắc: “Trương đại nhân, rượu đã nguội rồi…”
Trương Nghi hé mắt liếc nhìn, rồi mỗi tay bưng một bát, chạm mạnh vào nhau, thở dài một tiếng: “Tô huynh, tại hạ… đi trước một bước, giờ xin từ biệt huynh! Nào, hai ta cùng uống!” Nói rồi uống mỗi bát một ngụm, lại đặt xuống đất, nhắm mắt lẩm bẩm, “Tô huynh có điều không biết, tại hạ thực không muốn đi. Không phải vì sợ chết, mà là… thế cờ của hai ta nào đã chơi xong.” Lại bưng hai bát lên, uống mỗi bên một ngụm, “không giấu Tô huynh, tại hạ đã suy nghĩ rất nhiều về thế cờ tung của huynh, quả là tuyệt diệu, nhưng lại không hợp lòng người. Liệt quốc không thể chung sống, thiên hạ không thể cộng sinh. Trên trời có mặt trời, mặt trăng, song không thể có hai mặt trăng, cũng không thể có hai mặt trời, bởi lẽ đạo trời hợp ở một. Tô huynh. Liệt quốc chung sống, thiên hạ chung sống, cuối cùng không ai được sống, Tô huynh! Chớ nói thiên hạ, chớ nói liệt quốc, dù trong sơn cốc bé nhỏ của ta, nếu như không có mặt trời là tiên sinh, sớm đã rối bời canh hẹ. Còn bốn câu kệ của tiên sinh, ‘tung hoành thành cục, giữ lấy điều trung, thiên hạ đại ngã, công tư tư công. Một bài kệ tuyệt diệu, đáng tiếc đã bị Tô huynh hiểu sai mất rồi. Cũng không phải là sai toàn bộ, mà chỉ sai ở hai câu sau. Theo tại hạ thấy, thiên hạ đại ngã mà tiên sinh nói, hoàn toàn không phải thế giới đại đồng như Tô huynh giải thích, mà ý tiên sinh là thu về một mối. Đại là một, đại ngã, tức một ta, một ta tức là cô, tức là quả, là một người, là con của trời, là vua của đất.
“Thiên hạ đại ngã, tức thiên hạ quy về một ta. Quy như thế nào? Như Tô huynh nói, thông qua con đường công tư tư công. Bốn chữ công tư tư công này, Tô huynh dùng thuyết của Dương Chu, cũng là xuyên tạc nghĩa lý. Cái gì mà nếu người trong thiên hạ đều cùng chăm lo cho cái tư của mình, thì cái lợi có được từ đó, cả thiên hạ sẽ cùng được hưởng, cái gì mà không ai tổn thất một sợi lông, cũng không ai tham lam một sợi lông, vậy thì thiên hạ sẽ trở thành đại công, đây hoàn toàn không phải là ý của tiên sinh. Theo tại hạ hiểu, ý tiên sinh hẳn là muốn nói, thiên hạ tức quốc gia, thiên hạ quy về một, tức thiên hạ quy về công, quy về nước, quy về vương, hoặc giả quy về đế; công quốc, vương, đế, đều là một cả. Sau công là tư, tư tức nhà, tư tư tức nhà nhà, thiên hạ do tư tư hợp lại mà thành, tư tư thành công, quốc gia sinh ra từ đó, một ta mà thành thiên hạ.” Lại bưng hai bát rượu lên, lần lượt uống cạn, thở dài não nề, “Tô huynh, cuộc cờ hai ta đang đấu, nay tại hạ chết, coi như đã thua, nhưng Tô huynh cũng không thắng nổi. Tung hoành thành cục, không có hoành của tại hạ, cục tung của Tô huynh sao có thể thành? Than ôi, Tô huynh, tại hạ tính sai ở Sở, hoặc tính sai ở Tần, còn Tô huynh thì sao? Tô huynh tính sai ở đâu? Theo tại hạ thấy, hẳn Tô huynh đã tính sai ở hai chữ cộng sinh rồi, bởi lẽ cá lớn nuốt cá bé chính là đạo trời, đạo trời có trật tự, trật tự phân tôn ti, Tô huynh chủ trương thiên hạ cộng sinh, khiến chư hầu ngồi thành vòng tròn không phân tôn ti, đó là trái ngược đạo trời! Tô huynh, làm trái đạo trời, không thể đi xa. Lời của tại hạ, đều là lời gan ruột, nếu huynh không phục, hãy cứ chờ xem. Sau giờ Thìn ngày mai, tại hạ xuống dưới cửu tuyền sẽ bày sẵn bàn cờ chờ huynh, rồi sẽ đến lúc hai bên sáng tỏ…”
Rồi lại một hồi im lặng kéo dài.
Trương Nghi không biết nghĩ tới điều gì, bất chợt phá lên một tràng cười vang vọng.
Trong tiếng cười, hai cái bát rỗng đồng thời vỡ tan.
Đúng vào lúc Trương Nghi quăng đi bát rượu, một cỗ xe tứ mã đang lao đi như bay trên đất Kinh Sở mênh mông dưới trăng khuya. Người đánh xe, là Khuất Dao. Theo sau xe hộ vệ là hai kỵ sĩ, một là Trâu Phi Đao, một là Mộc Thực.
Trong mui xe có hai người đang ngồi, là Khuất Bình, và Tô Tần.
Ngoài trời lạnh giá, mặt đất hanh khô, trăng sáng vằng vặc, rất thích hợp để rong ruổi đường trường. Xe ngựa đi đã ba ngày hai đêm, giờ là đêm thứ ba, ngựa đã đổi vài lần tại các trạm dịch, sáu con ngựa của họ lúc này mới đổi lúc hoàng hôn, có lẽ là lần đổi sau cùng.
“Khuất Tử, còn bao xa nữa?” Tô Tần vén rèm xe, nhìn ra bầu trời đêm.
"Đã qua Kinh Môn!” Khuất Bình đáp.
“Kinh Môn? Sính Đô còn cách bao xa?”
“Cách cổng Bắc Sính Đô hai trăm ba mươi mốt dặm, đường này Bình đã qua lại nhiều lần, nhanh nhất cũng phải năm canh giờ nữa. Có điều, đường đêm dễ đi, chắc hẳn trời sáng sẽ tới.”
“Nếu là giờ Thìn, trời sáng mới tới, e là không kịp!” Tô Tần sắc diện đầy lo lắng, “chúng ta còn phải có đủ thời gian cho đại vương, bằng không…”
, “Bình đã tính toán thời gian, sẽ kịp,” Khuất Bình đáp, “tế lễ là ở tiên miếu. Đây là đại tế, đại vương cùng vương thúc đều có mặt. Ta có thể tới thẳng tiên miếu, tin chắc đại vương sẽ chịu nghe lời Tô đại nhân!” Nói đoạn, dịch lên phía đầu xe, nói với Khuất Dao, “Dao đệ hãy nghỉ một chốc, để ta đánh xe!”
" “Không sao, tiểu đệ vẫn đánh được hai canh giờ nữa.” Đoàn người đi miết không nghỉ, lúc mặt trời đã mọc, kịp tới Sính Đô.
Xe ngựa lao thẳng tới tiên miếu, chỉ thấy ngoài cổng miếu tiếng người như sôi, xe ngựa ken kín, chỗ nào cũng thấy cung vệ lăm lăm vũ khí canh chừng.
Đề phòng người Tần đến cướp, ba nghìn vệ sĩ canh gác nghiêm ngặt vòng trong vòng ngoài quanh tiên miếu, người ra vào đều bị tra xét kỹ lưỡng.
Giờ Mão sắp qua, giờ Thìn đang tới.
Tô Tần, Khuất Bình nôn nóng nhảy xuống khỏi xe, cùng tháo bội kiếm ném cho Khuất Dao, rồi đi như chạy về phía cổng miếu.
Trông coi việc giới bị ở đây là tướng quân mới nhiệm chức Chiêu Ngư.
“Tả đồ đại nhân?” Trông thấy Khuất Bình, Chiêu Ngư kinh ngạc, vẫn gọi bằng chức quan cũ, “chẳng phải đại nhân đã sang Tề ư?”
“Hay tin giết sứ Tần tế lễ, tại hạ vội trở về ngay.
“Hay lắm!” Chiêu Ngư giọng đầy phẫn hận, “kẻ xảo trá này hại Đại Sở ta quá lắm, tại hạ chỉ hận một nỗi không thể tự tay hành hình! Đã sắp tới giờ, đại nhân hãy mau vào trong!”
Chiêu Ngư cho Khuất Bình đi qua, song ngăn Tô Tần lại.
Tô Tần một thân Hồ phục, đầu đội mũ chiên của người Hồ.
“Chiêu tướng quân,” Khuất Bình vội ghé tai Chiêu Ngư nói khẽ, “vị này là khách quý do tại hạ mời tới, có việc khẩn cấp cần bẩm báo đại vương, đại nhân hãy cho qua!”
“Nếu muốn yết kiến đại vương, hạ quan buộc phải bẩm báo, xin hai vị hãy chờ một lát!”
Chiêu Ngư quay người toan đi, nhưng Khuất Bình đã lôi ngay lại: “Tướng quân, còn đợi bẩm báo thì không kịp nữa! Cùng chúng tại hạ vào yết kiến, được chăng?”
Chiêu Ngư lục soát khắp người Tô Tần một lượt, thấy không có hung khí gì, bèn dẫn hai người vào trong.
Đàn tế dựng ở giữa sân tiên miếu, Trương Nghi một thân quan phục nước Tần bị trói trên đài hành hình bên cạnh đàn tế, hai mắt nhắm lại, thần thái thản nhiên. Hai gã đao phủ đứng sừng sững hai bên trái phải.
Vu nhạc réo rắt, các đại vu chúc, tiểu vu chúc nhảy múa điên cuồng trên đàn tế.
Phía dưới đàn tế, người đứng đông nghịt, tất thảy đều mặc áo sô, như thể đang dự đại tang. Ngoài vương thân, triều thần, tới xem hành hình còn không ít gia quyến của tử sĩ, đều được tư doãn chọn lọc kỹ càng.
Chiêu Ngư dẫn hai người đi vòng qua đàn tế, tiến vào chính điện.
Trong chính điện, Hoài Vương, vương thúc, Chiêu Tuy cùng toàn bộ trọng thần đều có mặt, đang làm nghi thức tế tự trước khi cử hành đại tế lễ trong tiên miếu.
Nghi lễ đã tới bước cuối cùng, Hoài Vương bước lên để đọc văn tế trước bài vị liệt tổ liệt tông. Thời gian tính toán sít sao, văn tế đọc xong cũng vừa hay hết giờ Mão, chuyển sang giờ Thìn, sẽ do đài hành hình tiến hành tế lễ.
Chiêu Ngư ngập ngừng chốc lát, đưa mắt nhìn sang Khuất Bình.
Tình thế cấp bách như lửa.
Khuất Bình không nói một lời, tiến thẳng vào điện.
Trên đại điện, Hoài Vương mình mặc áo sô đã bước tới chính giữa dãy bài vị, nhận lấy văn tế từ trong tay đại vu chúc, đặng hắng lấy giọng. Khuất Bình vẫn mang phục sức sứ thần, lập tức rảo vài bước tiến tới, còn cách Hoài Vương ba bước liền quỳ xuống, dập đầu hô: “Đại vương, thần Khuất Bình có tấu!”
Lời này, khác nào sấm nổ bên tai, khắp đại diện đều thất kinh chấn động.
Tiên miếu tế lễ, trong lúc đại lễ đang được tiến hành, là thời khắc trang nghiêm hệ trọng, tuyệt không phải lúc để dâng tấu báo.
Người tấu báo lại là Khuất Bình, ai cũng biết Khuất Bình đã đi sứ sang Tề, vào thời khắc này không thể xuất hiện ở đây.
“Khuất Bình?” Hoài Vương quay phắt lại, nhìn sững vào Khuất Bình, không dám tin vào tai mình.
“Đại vương, thần Khuất Bình có tấu!” Khuất Bình lại dập đầu hô.
Hoài Vương hai mắt từ từ nheo lại, nhìn Khuất Bình chằm chằm: “Tam Lư đại phu muốn tấu gì?”
“Thần thỉnh cầu đại vương tạm hoãn nghi thức tế lễ, di giá thiên điện, thần có mật báo khẩn cấp.”
Khuất Bình giờ này đáng lẽ phải ở Đại Lương kết minh tung thân cùng bốn nước, vậy mà lại thình lình xuất hiện ở đây trong thời khắc bất thường này, hơn nữa còn có mật báo khẩn cấp, dứt khoát không phải chuyện nhỏ. Hoài Vương hít vào một hơi, đưa mắt nhìn sang vương thúc.
Vương thúc vòng tay với Hoài Vương, bước lại phía Khuất Bình đỡ dậy, kéo sang thiên điện.
Hoài Vương ra hiệu cho đại vu chúc dừng nghi lễ, cũng sải bước đi theo.
Trong thiên điện, Hoài Vương ngồi vào chiếu chủ, vương thúc ngồi cạnh.
Khuất Bình dập đầu: “Thần khấu kiến đại vương, khấu kiến vương thúc!”
“Mau bình thân,” Hoài Vương chỉ vào chiếu khách, nôn nóng giục giã, “có việc gì khẩn cấp làm vậy?”
“Có người muốn yết kiến đại vương, việc khẩn cấp là ở người đó!”
“Ai?”
“Một vị khách quý, cũng là thần tử của đại vương, đang ở bên ngoài.”
Khuất Bình càng không nói tên, Hoài Vương càng lấy làm tò mò, bèn chìa tay chỉ ra ngoài cửa: “Mau có lời mời khách quý!”
Khuất Bình ra khỏi điện, thấy Tô Tần, Chiêu Ngư đã theo tới, đang đứng ngay dưới bậc thềm, bèn vẫy tay gọi.
Tô Tần vòng tay với Chiêu Ngư, rồi sải bước lên thềm. Khuất Bình dẫn Tô Tần vào thiên điện, cùng quỳ xuống song song.
“Thần Tô Tần khấu kiến đại vương!” Tô Tần khấu đầu hô.
Là tướng quốc sáu nước, trong tay Tô Tần có ấn tướng do tiên Sở Vương ban tặng, đương nhiên cũng là tướng quốc của Đại Sở, bởi vậy xưng thần.
“Tô Tần?” Hoài Vương nhìn sững vào trang phục người Hồ của Tô Tần, sắc mặt bàng hoàng sửng sốt, “khanh… là Tô Tần?”
Tô Tần ngẩng đầu, bỏ mũ chiên, nhìn thẳng vào Hoài Vương, vòng tay đáp: “Thần chính là Tô Tần!”
“Chao ôi,” Hoài Vương giờ đã nhận ra, vừa kinh ngạc lại vừa mừng rỡ, đứng vụt ngay dậy, sải bước lại gần, đỡ Tô Tần dậy, nắm chặt hai tay mà ngắm nghía một lượt từ đầu tới chân, “quả nhiên là Tô Tử! Nay đã bệ vệ hơn xưa!”
“Tạ ơn đại vương quan tâm!” Tô Tần cũng ngắm nghía Hoài Vương, “còn đại vương… lại gây hơn xưa!”
“Than ôi,” Hoài Vương thở dài buồn bã, “loạn trong giặc ngoài, quả nhân… lực bất tòng tâm, không gây sao được? Quay sang vương thúc lúc này cũng đã đứng dậy, “Tô Tử, vị này là Kỷ Lăng Quân, hiền đệ của quả nhân!”
“Thần khấu kiến vương thúc!” Tô Tần vái một vái dài hướng vào vương thúc, “lần trước tới Sở, nghe nói vương thúc đi tuần đất Ba, chưa thể bái kiến, khiến thần tiếc nuối khôn nguôi!”
“Đại danh của Tô Tử, như sấm động bên tai, nay đã được gặp, quả là vạn hạnh!” Vương thúc đáp lễ, rồi chỉ luôn vào chiếu của mình, “Tô Tử mời ngồi!”
“Chỗ của vương thúc, thần không dám ngồi!” Tô Tần bước lại bên chiếu Khuất Bình chừa sẵn cho mình, thấy Hoài Vương đã ngồi vào chỗ, mới sửa vạt áo ngồi xuống.
“Mấy hôm trước,” Hoài Vương thấy mọi người đều đã yên vị, mới vòng tay hướng vào Tô Tần mà nói, “quả nhân nhận được tấu báo, rằng Tô Tử đang ở Đại Lương hội minh đặc sứ năm nước, lại kết tung thân. Nay Tô Tử bất ngờ tìm tới, thực khiến quả nhân kinh ngạc vô cùng. Dám hỏi Tô Tử, là vì chuyện gì mà phải lặn lội đường xa nghìn dặm, tới đây chỉ giáo quả nhân?”
“Là vì một người.” Tô Tần đáp lễ.
“Hẳn là người đang trên đài hành hình kia?” Hoài Vương đã đoán ra, ngoảnh nhìn ra ngoài điện.
“Đại vương anh minh!” Tô Tần lại vòng tay đáp.
“Tô Tử hợp tung, kẻ kia lại năm lần bảy lượt phá hỏng tung minh, chính là kẻ thù không đội trời chung của Tổ Tử. Nay Tô Tử tới đây, hẳn là muốn xem hắn bị hành hình, cho thoả cơn phẫn nộ.” Hoài Vương nheo mắt hỏi.
“Hồi bẩm đại vương, thần không phải tới để xem hắn bị hành hình!”
“Ồ?” Hoài Vương ngả người về trước, hai mắt nheo lại như hai đường kẻ chỉ, “dám hỏi Tô Tử, đã không phải tới để xem hành hình, vậy vì cớ gì?”
“Thần tới đây, là khẩn cầu đại vương thả người!”
“Vì sao?” Hoài Vương ngồi thẳng dậy, nhìn chằm chằm vào Tô Tần.
“Vì người này không thể giết!”
“Vì sao?” Giọng Hoài Vương trở nên lạnh lẽo.
“Vì nước Sở, vì người Sở!”
“Quả nhân giết hắn, chính là vì nước Sở, vì người Sở!” Hoài Vương gần mạnh từng tiếng.
“Hồi bẩm đại vương,” Tô Tần hai mắt như đuốc, nhìn xoáy vào Hoài Vương, “theo thần thấy, đại vương giết Trương Nghi, không phải vì nước Sở, không phải vì người Sở!”
“Nói xem, quả nhân là vì cái gì?”
“Trút hận!” Tô Tần tiếp lời, “đại vương giết hắn, là để trút hận của đại vương. Triều thần giết hắn, là để trút hận của triều thần. Bách tính giết hắn, là để trút hận của bách tính!”
“Dám hỏi Tô Tử,” Hoài Vương ánh mắt hừng hực, “quả nhân không thể trút hận? Triều thần không thể trút hận? Bách tính không thể trút hận?”
Hoài Vương dồn dập truy vấn, thế như dây cung kéo căng.
3 “Đại vương,” Tô Tần chậm rãi giải thích, “năm xưa khi thần theo học Quỷ Cốc tiên sinh trên núi, tiên sinh nhiều lần khuyên răn bốn đệ tử chúng thần, trù hoạch mưu sách, quyết đoán sự việc, dứt khoát phải kiêng dè bốn chữ, một là vui, hai là giận, ba là sợ, bốn là buồn. Cũng tức là, những lúc vui, giận, sợ, buồn cùng cực, đều không thể quyết đoán sự việc. Hận, chính là giận đến cùng cực. Nay Đại Sở trên dưới một ý, cả nước giận dữ, mà đại vương cũng quyết đoán vào lúc cực giận, thần thấy dứt khoát là không nên. Quyết đoán sự việc, nên theo lý lẽ, không nên theo cảm xúc, vậy nên thánh vương mưu sự quyết việc, đều giữ tâm tư điềm tĩnh, phân tích lý lẽ, lược bỏ chỗ hư giả bề ngoài, đạt tới bản chất bên trong, bằng không, việc chẳng nên, công chẳng thành.”
Tô Tần vừa mở lời đã nhắc tới lời dạy của Quỷ Cốc tiên sinh, quả thực đã khiến Hoài Vương chấn động. Bất kể thế nào, Hoài Vương biết rõ bốn đệ tử Quỷ Cốc Tổ Tần, Trương Nghi, Bàng Quyên, Tôn Tẫn đều là bậc đại tài lẫy lừng thiên hạ.
Đệ tử trong môn, ai nấy chọc trời khuấy nước, tung hoành thiên hạ, Quỷ Cốc tiên sinh xứng là bậc thánh trí đương thời.
Quan trọng là, nếu người khác tới cầu xin miễn tội cho Trương Nghi, Hoài Vương không lấy làm ngạc nhiên. Nhưng tới thỉnh cầu lúc này lại là Tô Tần, người chủ trương hợp tung chống Tần, trong khi Trương Nghi giúp Tần liên hoành, là địch thủ đáng gờm nhất, đáng hận nhất của Tô Tần, nên không thể không khiến Hoài Vương suy nghĩ.
“Quỷ Cốc tiên sinh dạy chí phải,” Hoài Vương đã dịu bớt cơn giận, vòng hờ tay, “Hùng Hoè bất tài, vẫn mong Tô Tử chỉ giáo, cớ sao không thể giết Trương Nghi?”
“Đại vương đã điểm tĩnh lại, Tô Tần lấy làm mừng rỡ!” Tô Tần vòng tay đáp, “quyết đoán sự việc, cần theo lý lẽ. Thần xin hỏi đại vương, ngoài trút hận ra, đại vương còn lý do nào để giết Trương Nghi?”
“Chiếu theo luật Sở, tội khi quân, đáng tru di cửu tộc!” Hoài Vương thuận miệng đáp lời.
“Khi quân là trọng tội, đáng tru di cửu tộc. Dám hỏi đại vương, Trương Nghi khi quân thế nào?”
“A…” Hoài Vương lại bừng bừng lửa giận, “hắn đã lập khế ước với quả nhân, hứa trả sáu trăm dặm Thương Ư cho Sở, nhưng rồi về sau tráo trở, đổi thành sáu dặm! Há chẳng phải lừa dối quả nhân?”
“Nếu vậy, chính là lừa dối đại vương.” Tô Tần vòng tay đáp, “Trương Nghi đã phạm vào luật Sở, đương nhiên phải trị tội theo luật Sở. Theo như thần biết, chiếu theo luật Sở, dù ai phạm phải tội gì, đều phải xét xử rõ ràng, chứng cứ phân minh. Có chứng cứ phân minh, mới được định tội, rồi mang hành hình đúng theo luật Sở. Không biết đại vương kết tội Trương Nghi khinh Sở, đã qua xét xử rõ ràng chưa? Nếu xét xử rồi, vậy chứng cứ đâu? Nếu chứng cứ là khế ước, thì khế ước đó đã bị Tần Vương đốt rụi, tức là không có. Nếu nói các triều thần nước Sở có mặt chính là nhân chứng, nhân chứng này tuy hợp với luật Sở, song lại không hợp với lẽ thường của bang giao. Lẽ thường của bang giao, đó là hai nước giao chiến, không chém sứ thần, mà Trương Nghi lại mang thân phận sứ Tần. Sứ Tần điêu ngoa gian trá, dù là đại vương kết tội hay triều thần nước Sở làm chứng, đều là lời từ một phía, người Tần hẳn không chịu phục. Không chịu phục, ắt sinh sự. Đại vương đơn phương chém sứ Tần, là không hợp lý lẽ. Đại vương không theo lý lẽ, Tần Vương hoàn toàn có thể dựa vào đó để cho rằng đại vương thất nghĩa, mà rêu rao khắp thiên hạ. Đại vương thất nghĩa với thiên hạ, sẽ mất đi sự trợ giúp của thiên hạ. Lúc đó, người Tần được giúp, đại vương thất trợ, nếu hai nước giao chiến, đại vương có chắc thắng được chăng?”
“Khanh đang nói, Đại Sở ta không đánh nổi Tần?”
“Theo như thần thấy, Tần Sở giao tranh đã mấy lần, kết cục bày ngay trước mắt, mong đại vương minh xét!”
“Tô Tử, khanh…” Hoài Vương giận tới hai tay run bắn, hơi thở phì phò, “mấy trận giao chiến với Tần, tuy Sở đều không chiếm thế thượng phong, song quả nhân điểm lại, không trận chiến nào người Tần thắng được chính đáng! Công Tồn Ưởng đánh Ư Thành, là đánh lén. Cảnh Thuỷ đánh trận Tích Thuỷ, bại ở binh khí. Khuất Cái bại trận, là do người Tần may mắn. Còn như quả nhân thân chinh, người Tần thắng là nhờ Trương Nghi liên hoành bốn nước, người Tề tập kích sau lưng. Giờ đây đã khác, Đại Sở ta trên dưới một lòng, Tô Tử lại hợp tung năm nước, ta không phải lo lắng sau lưng, người Hàn cũng không dám vọng động, quả nhân chỉ đánh với một mình Tần Vương mà thôi.” Nói đến đây, vỗ án chát chúa, “ai chết về tay ai, còn chưa biết được!”
“Đại vương,” Tô Tần nhìn thẳng vào Hoài Vương, ngữ khí bình thản, “xin chớ giận dữ, hãy bình tĩnh mà suy xét. Với tình thế trước mắt, gạt đi năm nước tung thân, gạt đi nước Hàn, chỉ còn Tần, Sở giao chiến, thần dám hỏi đại vương, dựa vào đâu mà thắng?”
“Đại Sở ta đất rộng người đông, so về số người, cũng là lấy ba chọi một, lẽ nào không thể thủ thắng?”
“Đại vương làu thông sử sách, dám hỏi giao chiến thắng thua, liệu có trông vào số người?”
“A…” Hoài Vương sững lại một chốc, “không nói đến số người, quả nhân sớm đã ban bố chiếu mệnh, thưởng phạt chỉ theo quân công, người Sở nô nức đầu quân, kẻ đủ sức đều đã tòng chinh, đang nóng lòng ra sa trường kiến công lập nghiệp!”
“Nếu quả như đại vương nói,” Tô Tần dõng dạc tiếp lời, “quân Sở đông gấp ba quân địch, đều cùng một chí căm thù, đều muốn quyết tử lập công, dám hỏi đại vương, có chắc đánh tiếp tất thắng?”
“Tại sao lại không?”
“Đại vương, ” Tô Tần đáp, “năm xưa người Ngô chỉ vẻn vẹn vài vạn quân mà đánh Sở, quân Sở đối trận, đông gấp mấy lần, kết quả thì sao? Người Sở đánh đâu thua đấy, Sính Đô thất thủ. Năm xưa người Tần chỉ vẻn vẹn năm vạn quân mà phạt Thục, quân Thục đối trận, đông gấp mấy lần, kết quả thì sao? Người Thục đánh đâu thua đẩy, Thành Đô thất thủ, đất Thục vào cả tay Tần. Người Ngô nhờ đâu mà thắng? Nhờ có Tôn Vũ Tử, Ngũ Tử Tư. Người Tần nhờ đâu mà thắng? Nhờ có Trương Nghi, Tư Mã Thác. Từ đó mới thấy, quyết thắng thua trong giao chiến không phải ở số quân nhiều ít, mà nhờ mưu của tướng quân. Nếu Tần, Sở lại giao chiến, người Tần có Tư Mã Thác, Nguỵ Chương, dám hỏi đại vương, có thể chọn ai làm tướng?”
“Quả nhân…” Hoài Vương nhất thời tắc tị, siết chặt tay quyền, “quả nhân thân chinh!”
“Đại vương thân thể ngọc vàng, cai quản bề tôi là thượng sách, điều binh khiển tướng là hạ sách. Vũ Vương phạt Trụ, là có Khương Tử Nha ở bên.”
Hoài Vương mấp máy môi vài cái, rồi lại nhìn sang vương thúc.
Vương thúc khép mắt, nãy giờ vẫn ngồi yên lắng nghe.
“Còn nữa,” Tô Tần nhìn xoáy vào Hoài Vương, “tự cổ chí kim, chiến tranh đều là để giải quyết tranh chấp, đạt được mục đích của mình. Dám hỏi đại vương, nếu lại giao chiến với Tần, là để giải quyết tranh chấp gì?”
“Phục thù!”
“Thù gì?”
“Chuyện đã rõ rành rành, người Tần trước chiếm Thương Ư, giờ lại đoạt Hán Trung, Kiềm Đông của ta!”
“Vậy đại vương phải đạt được mục đích gì, mới coi là đã phục thù?”
“Thu hồi toàn bộ đất đai đã mất, Thương Ư, Hán Trung, Kiềm Đông!”
“Đại vương,” Tô Tần lập tức tiếp lời, “hồi còn trong cốc, thần từng nghe tiên sinh giảng về đạo dụng binh của Tôn Vũ Tử, rằng hai nước giao chiến, giỏi nhất là dùng mưu, sau đó là dùng bang giao, sau đó mới đến đánh trận, sau đó là đánh thành. Nay đại vương giao chiến với Tần, chỉ là để đoạt lại đất đai đã mất, vậy cớ sao không theo lời Tôn Vũ Tử, dụng binh giỏi nhất là dùng mưu, sau đó là dùng bang giao, nhờ đó không đánh mà thắng được người?” Rồi nhìn Hoài Vương, ánh mắt chờ đợi.
Hoài Vương khép mắt ngẫm nghĩ một lát, mới hỏi: “Xin hỏi Tô Tử, dùng mưu thế nào? Bang giao thế nào?”
“Thả Trương Nghi!”
“Chuyện này…” Hoài Vương nhìn sang vương thúc. “Tô Tử,” vương thúc cuối cùng cũng lên tiếng, “nói xem, thả Trương Nghi, cớ sao lại là dụng binh bằng mưu?”
“Hồi bẩm vương thúc,” Tô Tần nhìn sang vương thúc, vòng tay đáp, “cho tới lúc này, Trương Nghi vẫn là sứ Tần. Hai nước giao tranh, giết sứ là thất nghĩa. Nếu ta nhất quyết giết Trương Nghi, chính là ép Tần Vương đánh tới.”
Ánh mắt lại dịch chuyển sang Hoài Vương, “theo thần được biết, Trương Nghi vì Tần mà bôn ba nhiều năm, Tần Vương không thể thiếu Trương Nghi. Lần này Trương Nghi nhận lời đại vương sang Sở, Tần Vương mới bất đắc dĩ để Trương Nghi đi. Đại vương nếu giết Trương Nghi, khác nào tuyến chiến với Tần lần nữa. Để phòng bất trắc, trước khi Trương Nghi xuất sứ, Tần Vương đã giới bị sẵn sàng, lập tức rời khỏi Hàm Dương, đích thân dẫn năm vạn nhuệ binh tới Hán Trung chờ sẵn, cả thái tử Đãng cùng bộ chúng, hầu như nhất loạt tòng chinh. Suốt dọc bên bờ Hán Thuỷ, quân Tần cấp tập đóng thuyền kết bè, sửa soạn vũ khí công thành. Trong sơn cốc Thương Ư, mười vạn binh mã của Nguỵ Chương cũng sẵn sàng chờ lệnh. Tại vùng Giang Châu, trai tráng Ba, Thục cũng phải xuất chinh, nếu cánh quân này men theo Giang Thuỷ về đông, hậu quả khó lòng tưởng tượng. Tiếp đến là Kiểm Đông, giờ đã ở trong tay Tần, do Tư Mã Thác thống lĩnh. Bốn lộ quân Tần, binh lính không dưới ba mươi lăm vạn, đại vương buộc phải chia quân ngự địch. Tần pháp hà khắc, quân Tần lại có nghĩa, ắt sẽ khí thế bừng bừng, hăng hái xung trận. Đại vương thưởng công, người Sở báo thù, quân Sở ắt coi cái chết tựa lông hồng. Kết quả sẽ là hai quân quyết tử giao chiến, máu chảy thành sông, song đánh xong rồi, Tần, Sở không ai thắng cả. Những trận chiến trước, đều là minh chứng! Có điều chiến trường vẫn là đất Sở, người Sở sẽ tổn thất khốc liệt hơn nhiều, đại vương!”
Hoài Vương rõ ràng đã nghe lọt tai, sắc mặt trở nên đăm chiêu.
“Vả lại,” Tô Tần rành rọt tiếp lời, “Sở giết Trương Nghi, ngoài trút hận, chẳng được lợi gì. Thứ nhất, Tần mất Trương Nghi, gần như không hề tổn thất, chẳng qua chỉ bớt đi một cái lưỡi mà thôi. Dù Tần Vương có mặc kệ Trương Nghi, không dẫn quân đánh Sở, thì theo như lời sứ Tần Doanh Tật, thứ đại vương muốn, chỉ là Trương Nghi, không phải là đất. Tần dùng một mạng Trương Nghi mà đổi được các vùng Hán Trung, Kiềm Đông rộng lớn, và cả Thương Ư, quả là một mối trao đổi quá hời. Người Tần chiếm đoạt đất đai của Sở, vốn là đuối lý, giờ chỉ cần Trương Nghi bị giết, Tần Vương sẽ có lý do để mãi mãi không cần hoàn trả, lúc đó, đại vương nếu muốn chiếm lại, Tần sẽ danh chính ngôn thuận là giữ đất nước nhà, quyết chí tử thủ! Sĩ dân cùng tử chiến, đại vương dù muốn đòi đất đó, cũng có ích gì?”
Lời của Tô Tần, thấu tình đạt lý, lại rất chân thành. “Nếu không giết Trương Nghi, ta dùng mưu thế nào?” Vương thúc lại hỏi.
“Hồi bẩm vương thúc,” Tô Tần đáp lời, “Trương Nghi đại nghiệp chưa thành, nay vào tuyệt lộ, không hề muốn chết, hễ có cơ hội sống sót, chắc chắn sẽ không từ bỏ. Đại vương có thể tạm hoãn hành hình, để cùng bàn chuyện hai nước ngưng binh, chấm dứt giao tranh, bang giao hoà mục. Mấy trận chiến vừa qua, nước Tần cũng tổn thất nặng nề, Trương Nghi ở đây, Tần Vương có thể mượn thế xuống thang.”
“Theo ý Tô Tử, ta nên bàn với Trương Nghi thế nào?” Hoài Vương ngả người lại hỏi.
“Hồi bẩm đại vương,” Tô Tần vòng tay đáp, “theo ý thần, đại vương có thể điều đình với Trương Nghi vài điều như sau. Thứ nhất, hoàn trả vùng đất phía đông Vũ Quan cho Sở, bởi phía tây Vũ Quan tiên vương đã tặng cho Tần, giờ ta cố đòi là thất nghĩa. Thứ hai, trả lại cho ta đất Kiêm Đông, biên giới Sở, Tần lại quay về như trước cuộc chiến. Thứ ba, trả lại cho ta đất Hán Trung, biên cương giữ nguyên như trước. Thứ tư, để Trương Nghi du thuyết Hàn Vương, hoàn trả Uyển Thành cho Sở, đổi lại Sở có thể cắt nhượng Diệp Thành cho Hàn, Hàn Vương vẫn được lợi.”
Hiển nhiên, đây là kế sách điều đình tốt nhất với Sở, cũng là kế sách mà Hoài Vương, vương thúc chưa từng nghĩ tới.
“Nếu Tần Vương không chịu thì sao?” Hoài Vương nôn nóng hỏi.
“Tiếp tục điều đình, đại vương có thể lui một bước, cắt nhượng một phần thành ấp cho Tần, dầu sao thì người Tần cũng đã thắng trận!”
“Nếu người Hàn không chịu thì sao?”
“Người Tần nhân nhượng phía trước, năm nước tung thân thúc ép sau lưng, Hàn Vương nào dám không chịu, cắt nhượng Diệp Thành cho họ, đã là nể mặt lắm rồi.”
“Nếu được như vậy, quả nhân chấp thuận!” Hoài Vương thở hắt ra một tiếng, nhìn sang vương thúc.
Rõ ràng, sách lược này cũng khiến vương thúc hài lòng.
“Tô Tử,” vương thúc vòng tay với Tô Tần, “liệu Tô Tử có thể ra mặt, điều đình với Trương Nghi?”
“Tạ ơn vương thúc tín nhiệm!” Tô Tần đáp lễ, “chi là, năm nước tung thân, minh ước còn chưa lập, đây mới là đại sự hàng đầu. Hơn nữa, thần và Trương Nghi khác đường, không gặp vẫn tốt hơn. Nay thần tới đây, ngoại trừ Khuất Tử, không ai biết đến, nên thần thỉnh cầu đại vương và vương thúc giữ bí mật cho, chớ nên nhắc tới thần, chỉ cần nói rằng ý trời muốn Trương Nghi sống, là được. Còn như ai sẽ điều đình với Trương Nghi, thần xin tiến cử một người.”
“Người nào?” Hoài Vương hỏi.
“Thượng Quan đại nhân, Ngận Thượng.”
Hoài Vương hít sâu một hơi, quay sang vương thúc. Vương thúc gật đầu.
“Truyền chỉ miếu doãn!” Hoài Vương quay sang nội doãn, “quả nhân vừa làm lễ cầu đảo, chư thần linh cùng chư linh liệt tổ thị dụ, lễ tế hôm nay lui tới giờ Ngọ, áp giải vật tế Trương Nghi quay lại đại lao, thay bằng tứ súc tứ cầm!”
Nội doãn lập tức đi truyền chỉ.
Tô Tần quỳ xuống dập đầu: “Khấu tạ đại vương cùng vương thúc đã ân xá Trương Nghi, cứu vớt sinh linh Tần, Sở thoát khỏi cơn đồ thán.”
“Tô Tử hãy đứng dậy, quả nhân nên cảm tạ khanh mới phải!” Hoài Vương chìa tay nói.
Tô Tần đứng dậy, vòng tay nói: “Đại vương, vương thúc, đặc sứ bốn nước đang chờ ở Đại Lương, thần cùng Khuất Tử xin cáo từ!”
Hoài Vương, vương thúc cũng đứng dậy, định tiến ra ngoài cửa, song Tô Tần ngăn lại. Hai người bái biệt Hoài Vương cùng vương thúc, sải bước khỏi cửa, đầu không ngoảnh lại, vội vã rời khỏi tiên miếu.