Bởi sự sắp đặt của Trần Chẩn, đoàn xe cầu thân của nước Tần khi tới Hào Quan đã bị lính Ngụy gây khó dễ, nên chậm mất vài ngày. Khi họ tới Lạc Dương, đoàn cầu thân của nước Ngụy cũng đã tới nơi. Có lẽ là trùng hợp, cũng có lẽ do Trần Chẩn cố ý, hai đoàn gần như tới Lạc Dương cùng một lúc. Đoàn xe cầu thân của nước Tần vào cổng tây, đoàn xe cầu thân của nước Ngụy vào cổng bắc, đều cờ quạt rợp trời, chiêng trống inh ỏi.
Mấy năm nay, do ít khi có chư hầu triều kiến, vương thành Lạc Dương gần như đã bị thiên hạ lãng quên, hôm nay không hiểu vì sao bỗng nhiên náo nhiệt bất thường. Bách tính trong thành đều đổ ra xem, nhất là sau khi biết có hai đoàn Tần, Ngụy cùng tới hỏi cưới công chúa, thì người đến xem càng đông đúc, tới mức tắc nghẽn cả hai con phố lớn ở Lạc Dương.
Chư hầu tới triều kiến, thông thường đều được sắp xếp ở tại dịch quán Vạn Bang. Dịch quán Vạn Bang phân thành hai quán là công và hầu, tọa ở hai bên Văn miếu, dùng để tiếp đãi quân thần thuộc quốc. Ngoài công quán, hầu quán, còn có vương quán, được chuẩn bị riêng cho nước Sở, bởi lẽ nước Sở không cùng gia tộc với Chu thất, cũng không phải nước phụ thuộc của Đại Chu, Chu thất sớm đã thừa nhận ngôi vương của Sở từ thời Xuân Thu.
Theo quy định triều kiến, công quốc ở bên trái Văn miếu, hầu quốc ở bên phải Văn miếu. Tần là công quốc, nên ở bên trái, Ngụy là hầu quốc, nên ở bên phải. Tuy nhiên, khi đoàn xe của Trần Chẩn tới dịch quán, lại không vào hầu quán, cũng không vào công quán, mà cho rằng mình là nước độc lập, nên đi thẳng tới vương quán.
Hành động trái quy củ của sứ Ngụy đã khiến quan đại hành nhân và tư nghi trong dịch quán sợ hãi thất thần, tròn mắt kinh ngạc, ngăn cản thì không dám, khuyên can cũng ngại, chỉ biết giương mắt nhìn họ tiến vào vương quán, rồi tất bật chuyển hành lý, sắp xếp phòng ở. Do dịch quán lâu ngày không có người ở, trong phòng lại chẳng ai quét dọn nên vô cùng bụi bặm. Trần Chẩn chia đám tuỳ tùng thành hai toán, một toán chuyển đồ, một toán quét dọn phòng ốc.
Dặn dò xong, thấy thời tiết oi bức, Trần Chẩn cầm quạt ba tiêu, vừa phe phẩy quạt, vừa bước ra khỏi phòng, tiến tới phía trước công quán, đứng tựa lưng dưới gốc cây long não, từ xa nhìn sứ đoàn nước Tần cũng đang quét dọn, chuyển đồ.
Sư Lý Tật đang luôn tay luôn chân, nhìn thấy Trần Chẩn, vội đặt rương hòm xuống, sải bước tiến lại, từ xa đã tươi cười hớn hở, vòng hai tay, cúi gập lưng xuống, cất giọng cung kính: “Sứ Tần Sư Lý Tật có lời chào thượng khanh đại phu!”
Trần Chẩn trong lòng bực bội, chẳng thèm hạ quạt xuống, chỉ khẽ vòng tay, coi như đáp lễ, giọng nói ngạo mạn: “Sứ Ngụy Trần Chẩn xin chào Sư Lý đại phu!”
Sư Lý Tật coi như không thấy, vẫn cười cười nói nói: “Lần trước tại hạ và đại lương tạo đi sứ sang Ngụy, được thượng khanh quan tâm chiếu cố, coi như đã làm tròn sứ mệnh. Đại lương tạo sau khi về Tần, lúc nào cũng tưởng nhớ tới thượng khanh, mấy lần dặn tại hạ, bất luận gặp thượng khanh ở đâu đều phải thay đại lương tạo hành lễ! Tại hạ vốn định lúc nào rảnh rỗi tới An Ấp, sẽ đến gặp thượng khanh chuyển lời thăm hỏi của đại lương tạo. Không ngờ lại được diện kiến ở đây, thật là trùng hợp!”
Sư Lý Tật lúc này bỗng nhắc tới chuyện An Ấp, chẳng khác nào bôi gio trát trấu vào mặt Trần Chẩn. Trần Chẩn nóng bừng mặt mũi, vốn định vặc lại vài câu, song nhất thời chưa tìm ra lời thích hợp. Khi Hà Tây bị đột kích, Trần Chẩn mới biết Công Tôn Ưởng đã lấy mình và công tử Ngang ra đùa giỡn trên lòng bàn tay, uất hận tới mấy ngày trời. Cũng vì chuyện này, lòng tin của Ngụy Vương đối với ông ta đã giảm đi đáng kể, vị trí tướng quốc sắp sửa đến tay giờ cũng vuột xa. May mà ông ta giỏi ứng biến, trong thời khắc then chốt đã làm thay đổi cục diện, nếu không thì bao năm vun vén khổ cực hẳn đã bị huỷ hoại trong chốc lát, chỉ có thể giương mắt nhìn Chu Uy, Công Tôn Diễn đắc chí thoả nguyện.
Trần Chẩn rốt cuộc vẫn là Trần Chẩn, lúng túng chỉ là thoảng qua, sắc mặt lại mau chóng bình thường trở lại, khoé miệng nhếch một nụ cười khẩy, đáp trả lại Sư Lý Tật: “Tại hạ cảm tạ sự quan tâm của đại lương tạo! Tại hạ cũng nhờ ngũ đại phu chuyển lời tới đại lương tạo, nói là ông ta còn mắc nợ tại hạ một cái đầu, tại hạ sớm đã quên rồi, ông ta không cần phải nhớ. Còn nữa, tại hạ nhân tiện nhắc nhở đại lương tạo một câu, cũng nhờ ngũ đại phu chuyển lời giúp, lần sau nếu lại xảy ra chuyện tương tự, tại hạ dù có lòng, e cũng không giúp nổi!”
Sư Lý Tật cười vang: “Tại hạ xin thay đại lương tạo cảm tạ ý tốt của thượng khanh. Có điều, tại hạ cũng muốn nhắc nhở thượng khanh, sự việc tương tự sẽ không bao giờ còn xảy ra nữa!” Rồi chuyển sang chuyện khác, “nghe nói thượng khanh tới đây là muốn hỏi cưới thái tử phi cho Ngụy Vương bệ hạ, tại hạ dám hỏi người này là ai?”
Trần Chẩn phe phẩy quạt trong tay, nói: “Nghe nói ngũ đại phu tới đây, cũng là hỏi cưới thái tử phi cho Tần Công, không biết người này là ai?”
“Tần Công muốn hỏi trưởng công chúa Cơ Tuyết của Chu thất về làm thái tử phi.”
Trần Chẩn bật cười ha hả, vẫn phe phẩy quạt: “Thật là trùng hợp, Đại Ngụy bệ hạ cũng đang muốn hỏi công chúa Cơ Tuyết về làm thái tử phi!”
Sư Lý Tật tuy cũng đã sớm đoán ra ý đồ của sứ Ngụy, song tim vẫn nảy lên một cái, ngay sau đó phá lên cười một tràng dài: “Đúng là anh hùng cùng chí hướng!”
Trần Chẩn cũng cười lên ha hả: “Phải, phải! Có điều, hoa rơi vào nhà nào, lại là một vở kịch hay!”
Sư Lý Tật khẽ gật đầu, cười nói: “Ồ, chắc chắn sẽ là một vở kịch hay!”
Hai nhà Tần, Ngụy sau khi ổn định chỗ nghỉ ngơi, lần lượt trình sính thư cho đại hành nhân - chức quan chuyên phụ trách việc tiếp đón khách của Chu thất. Đại hành nhân được liệt vào hàng trung đại phu, sau khi nhận thư, không dám chậm trễ, lập tức cầu kiến ngự sử.
Sự việc hai nhà Tần Ngụy cùng tới cầu thân đã lan truyền nhanh chóng, ngự sử sớm đã hay tin, đang ở trong phủ suy đoán thực hư thì đại hành nhân mang sính thư bước vào. Đại hành nhân vừa dâng sính thư, vừa bực bội kể lại tường tận sự việc sứ Ngụy làm trái quy củ, ngang nhiên vào ở trong vương quán của Sở, chẳng coi nghi lễ ra gì. Ngự sử nghe xong, khẽ chau mày, tiện tay mở sính thư ra đọc, rồi giật mình kinh ngạc, bởi lẽ cả hai nhà đều cầu hôn một người, chính là trưởng công chúa Cơ Tuyết.
Lần này thực rắc rối lớn! Ngự sử không kịp nghĩ ngợi gì thêm, lập tức rảo bước vào cung, tới tiên điện, song Chu Vương lại không có ở đó. Ngự sử suy nghĩ một lát, tới thẳng ngự thư phòng, thấy cửa chính đóng chặt, nội tể đang đợi hầu bên ngoài.
Ngự sử vòng tay nói: “Nhờ nội tể chuyển tấu lên bệ hạ, vi thần có việc gấp cần khấu kiến!”
Nội tể khẽ lắc đầu: “Bệ hạ có chỉ, không muốn gặp ai!”
Ngự sử lôi từ trong tay áo ra bức sính thư và danh mục sính lễ của sứ Tần, sứ Ngụy: “Việc này…”
Nội tể chẳng buồn nhìn, chỉ nói: “Bệ hạ có chỉ, ngoại sự hỏi thái sư, nội sự hỏi hai vị Chu Công!”
Ngự sử thở dài một tiếng, định nói gì đó, song lại im bặt.
Ngự sử bước ra khỏi cửa cung, suy nghĩ một lát, bèn đánh xe tới phủ thái sư. Môn nhân nhìn thấy ngự sử lại thấy thần sắc hốt hoảng, biết là có chuyện lớn, vội vàng vào trong bẩm báo. Một lát sau, lão quản gia ra đón.
Ngự sử vòng tay vái mà nói: “Hạ quan có việc gấp cầu kiến thái sư, làm phiền lão quản gia bẩm báo!”
Lão quản gia đáp lễ, nói: “Thái sư đang tiếp khách, xin đại nhân hôm khác lại tới!”
Ngự sử vội nói: “Chuyện này cấp bách, hạ quan xin lão quản gia…”
Không đợi ngự sử nói hết câu, lão quản gia đã đoán biết sự việc liên quan tới đại cục, bèn gật đầu nói: “Đại nhân chờ một lát, lão nô sẽ vào bẩm báo!” Nói xong quay người vào phủ, một lát sau, hấp tấp chạy ra. “Ngự sử đại nhân, thái sư mời vào.”
Ngự sử theo quản gia vào trong phủ, quả nhiên thấy trong phòng khách có một người ngồi ngay ngắn ở đó, khoảng năm mươi tuổi, đầu hói nhẵn thín. Nguyên lão tam triều Nhan thái sư đã ở tuổi thất thập cổ lai hi, râu tóc bạc trắng ngồi ở ghế chủ, đang trò chuyện với khách.
Ngự sử quỳ xuống bái lạy: “Hạ quan khấu kiến thái sư!”
“Đứng lên, mau đứng lên!” Nhan thái sư cười vang, giục ngự sử đứng dậy, chỉ vào vị khách. “Đây chính là Tắc Hạ tiên sinh nức tiếng thiên hạ Thuần Vu Khôn(1), ngự sử mau lại làm quen.”
Ngự sử đứng dậy, hướng về phía khách vái một vái dài: “Tại hạ bái kiến Thuần Vu Tử! Danh tiếng của tiên sinh, tại hạ đã nghe từ lâu!”
Thuần Vu Khôn vòng tay đáp lễ, giơ tay chỉ vào cái đầu hói của mình, cười sảng khoái mà nói: “Đúng vậy! Cái đầu hói của tại hạ, trong thiên hạ không ai không biết!”
Ngự sử chẳng còn tâm trí nào mà bông đùa, vội vã quay sang Nhan thái sư: “Khởi bẩm thái sư, hạ quan có thể nói riêng vài lời với thái sư được chăng?”
Thuần Vu Khôn nghe vậy, vội vã đứng lên: “Hai vị cứ trò chuyện tự nhiên, hôm nay trời đẹp, tại hạ muốn ra ngoài tản bộ chốc lát!” Nói xong, bước luôn ra ngoài cửa.
Quản gia nối gót theo sau, cùng Thuần Vu Khôn ra ngoài sân. Nhan thái sư nhìn thần sắc ngự sử, biết rằng đã có chuyện lớn, nín thở ngưng thần, nhìn thẳng vào ngự sử.
“Xảy ra chuyện không hay rồi!” Ngự sử bẩm báo, “Ngụy thất và Tần thất đều tới cầu thân, hạ quan tức tốc khấu kiến bệ hạ, nhưng bệ hạ… bệ hạ…”
Nhan thái sư dường như đã biết chuyện này, từ tốn nói: “Tần, Ngụy đều sai sứ thần tới cầu thân, có gì không hay?”
“Họ không phải cầu thân, mà là…”
Nhan thái sư khẽ giơ tay, chỉ vào chỗ Thuần Vu Khôn vừa ngồi, nói: “Ngự sử đại nhân, hãy ngồi xuống đã, nói cho rõ ràng!”
Ngự sử cũng nhận ra mình quá hấp tấp, vội ngồi xếp bằng vào chiếu khách, kể lại một lượt chuyện cầu thân của hai nước Tần Ngụy, sau đó lôi từ trong ống tay áo ra sính thư và danh sách sính lễ của hai nước: “Thái sư, mời xem!”
Nhan thái sư cầm lấy, chẳng buồn xem, vứt toẹt lên án, khẽ thở dài một tiếng, chậm rãi nói: “Than ôi, là do triều hội Mạnh Tân đã hại bệ hạ! Lễ mừng bảy trăm năm Vũ Vương phạt Trụ cái nỗi gì? Công hầu thiên hạ triều kiến thiên tử cái nỗi gì? Ngụy Anh kia là hạng người gì? Thiên hạ thời nay đã đến nước gì? Chư hầu nếu thật sự muốn triều kiến thiên tử, cớ sao không tới Lạc Dương? Than ôi, những việc này đều đã rõ rành rành. Lão hủ đã khuyên bệ hạ hết lời, can bệ hạ đừng đi, nhưng bệ hạ không nghe. Chuyện này bệ hạ đã không nhìn thấu suốt! Bệ hạ vẫn còn chưa chịu buông xuôi! Bệ hạ vẫn một lòng muốn chấn hưng Chu thất. Lần này thì hết rồi! Từ sau triều hội Mạnh Tân, bệ hạ bỏ bê triều chính, tiểu triều không nói, ngay cả đại triều, liệu tới được mấy lần? Lão hủ vốn muốn khuyên can, song nghĩ đi nghĩ lại, than ôi, lại chẳng biết khuyên gì?” Vừa nói, thái sư vừa nhặt sính thư và danh sách sính lễ lên, chậm rãi đút vào trong ống tay áo, lại lắc đầu, thở dài sườn sượt. “Những công đó, hầu đó, đều đã khuấy đảo giày xéo khắp thiên hạ, vậy mà họ vẫn chưa thoả mãn, đến cả vùng đất chật hẹp của thiên tử cũng không chịu buông tha!”
Ngự sử quá hiểu thái sư, nếu cứ nói chuyện dông dài, không biết thái sư còn ca thán đến lúc nào mới thôi, vội nói: “Thái sư, người đã lạc đề mất rồi… Giờ đây… nên làm thế nào?”
“Cái gì mà lạc đề?” Nhan thái sư chậm rãi đứng dậy, lẩy bẩy bước về phía cửa, lại tiếp tục cằn nhằn. “Than ôi! Thử nghĩ mà xem, đường đường là thiên quốc công chúa của ta, lại bị hai thuộc quốc sai đại phu tới tranh cướp, còn gì là thế đạo nữa đây?”
Nhan thái sư chậm chạp bước ra giữa sân, nhìn thấy lão quản gia đang đi tản bộ với Thuần Vu Khôn, bèn sai ông ta: “Chuẩn bị xe!”
Sau bữa trưa, cũng như mọi ngày, Hiển Vương lại cúi đầu bước vào ngự thư phòng, ngay cả quan nội tể cũng bị đuổi ra ngoài, sau đó đóng chặt cửa phòng, giam mình trong đó, tìm kiếm chút an tĩnh.
Mà thực ra, đối với Hiển Vương, thế gian này có lẽ vốn không có hai chữ “an tĩnh”. Đúng như Nhan thái sư đã nói, từ sau triều hội Mạnh Tân, Đại Chu thiên tử Hiển Vương Cơ Biển lúc nào cũng ôm một bụng lửa giận.
Cơ Biển chưa tới tứ tuần, chính trong độ tuổi chín muồi để làm nên đại nghiệp. Kể từ khi Cơ Biển biết nhận thức, thiên hạ của nhà Chu đã chỉ còn trên danh nghĩa. Năm hai mươi ba tuổi, Cơ Biển kế thừa ngôi vị, đã từng thề trước bài vị liệt tổ liệt tông, nhất định sẽ chấn hưng Chu thất.
Thế nhưng, chớp mắt đã mười mấy năm trôi qua, Chu thất không những không thể chấn hưng, mà ngược lại, dưới triều Hiển Vương, lại ngày càng suy yếu. Chỉ có các nước Lỗ, Vệ, Sái còn phái sứ giả tới, còn công hầu nước lớn sớm đã bỏ quên ông ngoài chín tầng mây. Vài năm đầu mới kế vị, ông vẫn ôm giấc mộng chấn hưng, song đất nhà Chu quá chật hẹp, dài rộng chưa đầy trăm dặm, còn không bằng nước Sái ở lưu vực sông Tứ. Đã thế, chút đất cỏn con này, vào thời tiên phụ của ông lại còn tiếp tục chia đôi, phong cho hai thúc công, chỉ để lại cho ông một vương thành bé nhỏ, đúng là cần tiền không có tiền, cần người không có người, biến ông thành một cô gia quả nhân đích thực.
Mười mấy năm qua, ý chí chấn hưng sục sôi đã dần dần nguội lạnh, chẳng còn lại bao nhiêu. Ngụy Hầu hẹn các công hầu triều kiến thiên tử ở Mạnh Tân, khiến Cơ Biển vô cùng phấn chấn. Nào ngờ trong triều hội Mạnh Tân, đường đường là thiên tử, lại trở thành đối tượng giễu cợt của Ngụy Hầu!
Hiển Vương ngồi thẫn thờ trước án, bất đồ nhớ lại tình cảnh hôm triều hội Mạnh Tân, hoả khí lại bốc lên ngùn ngụt. Hoả khí xộc thẳng vào tim, Hiển Vương vô cùng khó chịu, miễn cưỡng đứng dậy, đi đi lại lại trong phòng để hạ hoả. Đúng lúc này, Hiển Vương vô tình nhìn thấy thanh bảo kiếm treo trên tường, bèn tiến lại gỡ xuống, nhìn chằm chằm vào thanh kiếm.
Đập vào mắt là một hàng chữ nhỏ trên chuôi kiếm: “Sự nghiệp mà tiên vương chưa thành tựu, ta quyết đạt được bằng kiếm này!”
Hiển Vương còn nhớ như in, chính tay vương đã viết hàng chữ này vào ngày đăng cơ. Giờ đây, bảo kiếm vẫn còn, hàng chữ cũng vẫn còn. Chu Hiển Vương nhìn vật mà đau lòng, bất giác nước mắt tuôn chảy.
Hiển Vương đang lúc đau buồn, bỗng nghe có tiếng gõ cửa, vội treo kiếm lên tường, bước tới trước án ngồi xuống. Một lát sau, quan nội tể đẩy cửa bước vào, quỳ xuống khấu bái: “Khởi tấu bệ hạ, nương nương có lời mời!”
“Chuyện gì vậy?”
“Hai công chúa từ ngày theo cầm sư học đàn tới giờ, đã có nhiều tiến bộ. Hôm nay nương nương thấy vui, mời cầm sư vào cung, bình giá cầm nghệ của công chúa trong phòng học, cung kính mời bệ hạ tới nghe!”
Nghe nhắc tới nương nương và hai công chúa, sắc mặt Hiển Vương lập tức dịu lại, chan chứa yêu thương, khẽ gật đầu: “Truyền báo nương nương, quả nhân lập tức tới ngay!”
Hiển Vương vào phòng thay quần áo, chải đầu rửa mặt xong xuôi, phục sức giản dị, cùng nội tể tới phòng học đàn. Vừa tới nơi, đã nghe tiếng trò chuyện ríu rít vọng ra. Vương hậu ngồi tại ghế bên, cầm sư ngồi ở ghế khách, chính giữa phòng đặt một cây đàn cầm và một cây đàn tranh, vài thái giám và tỳ nữ đứng xếp hai hàng ngay ngắn trước mặt vương hậu và công chúa. Hai công chúa ngồi xếp bằng trên chiếu, sắc mặt thoáng ửng hồng, dường như hơi căng thẳng.
Nhìn thấy Hiển Vương bước vào, mọi người trong phòng đều đứng dậy dập đầu khấu bái. Hiển Vương tới trước mặt vương hậu, đỡ vương hậu dậy, dắt tay tới vị trí chủ, ra hiệu cho vương hậu ngồi xuống kế bên, còn mình ngồi vào chiếu chủ, đưa tay lệnh cho tất cả bình thân.
Vương hậu mỉm cười nhìn sang Hiển Vương, thấy Hiển Vương gật đầu, bèn quay sang nói với cầm sư: “Tiên sinh, bắt đầu được rồi!”
Cầm sư đưa ánh mắt hiền từ nhìn trưởng công chúa Cơ Tuyết. Cơ Tuyết xiêm y thướt tha sắc tía, khẽ gật đầu đáp lại, uyển chuyển đứng dậy, bước tới trước mặt Hiển Vương và vương hậu, vái mỗi người ba vái, rồi lại tới phía trước cầm sư, cũng vái ba vái, sau đó mới tiến lại trước cây đàn cầm, khoanh chân ngồi xuống, hai tay vuốt ve mặt đàn, nét mặt rạng rỡ tựa hoa đào, đôi mắt long lanh, hệt như tiên nữ giáng trần, đúng là giai nhân tuyệt thế. Trước ngực áo thiếu nữ đeo một con ve sầu bằng vàng ánh kim lấp lánh, càng làm tôn thêm vẻ cao quý kiêu sa.
Trong phòng tĩnh lặng như tờ, mọi ánh mắt đều đổ dồn vào Cơ Tuyết. Cơ Tuyết nhìn cầm sư, cầm sư gật đầu nói: “Công chúa, xin hãy gảy khúc Cao sơn của Du Bá Nha!”
Cơ Tuyết nhận lệnh, khép hờ hai mắt, nâng cao tay ngọc, rồi những ngón tay thon mềm nhẹ nhàng hạ xuống. Chốc lát, khắp phòng đã dìu dặt tiếng đàn, nghe như chim hót hoa nở. Cơ Tuyết tay ngọc như gió, phím đàn như thác, gảy liền một mạch chín khúc Cao sơn, không sơ sảy một nốt nào.
Tiếng đàn vừa ngưng, mọi người đồng loạt vỗ tay khen ngợi. Cơ Tuyết cười bẽn lẽn, đứng dậy cúi đầu thi lễ khắp lượt, lại bước tới trước mặt Hiển Vương, vương hậu, cầm sư, lần lượt vái mỗi người ba vái, mới khẽ khàng quay về chỗ ngồi, ngồi xếp bằng dưới chiếu.
Nhị công chúa Cơ Vũ xiêm y trắng muốt, phong thái lại khác hẳn chị mình. Cầm sư còn chưa lên tiếng đã tự đứng lên, sau khi lần lượt hành lễ với cha mẹ, cầm sư như chị gái, liền bước thoăn thoắt về phía cây đàn tranh, ngồi đánh phịch xuống chiếu, vươn thẳng lưng ngọc, đưa tay lên túm phắt lấy con ve sầu ngọc màu trắng ngà đang đung đưa trước ngực, nhét tọt vào trong cổ áo, duỗi thẳng hai cánh tay, đưa lên đưa xuống vài lần cứ như lấy đà, khiến mọi người cười ồ lên. Hiển Vương âu yếm nhìn con gái, quay sang vương hậu, vương hậu cười vui vẻ mắng yêu: “Cái con bé này…”
Cũng không đợi cầm sư lên tiếng, Cơ Vũ đã hạ luôn ngón tay xuống, tiếng đàn bắt đầu cất lên, là khúc Lưu thuỷ của Du Bá Nha. Cao sơn, Lưu thuỷ đều là những bản nhạc rất khó. Nếu chưa đạt tới trình độ điêu luyện, tuyệt đối không dám động tới, huống hồ lại ở trước mặt những người thông hiểu âm luật như Hiển Vương và vương hậu, dù một lỗi sai cũng không thể giấu.
Khi những nốt nhạc thánh thót cuối cùng ngưng bặt, tiếng vỗ tay lại nổi lên râm ran trong phòng học. Cơ Vũ cúi đầu cảm tạ, miệng cười khúc khích chạy tới bên cạnh Cơ Tuyết, ôm lấy vai chị rồi ngồi xuống bên cạnh.
Tiếp đến mới là phần quan trọng nhất, đó là nhận xét của thiên tử. Hiển Vương nãy giờ nhắm mắt lắng nghe, lúc này mới mở mắt, nhìn cầm sư, cười hiền từ mà nói: “Cầm nghệ của Tuyết Nhi, Vũ Nhi được như thế này, đều là nhờ công lao của tiên sinh đây!”
Cầm sư đứng dậy, vái lạy mà đáp: “Thảo dân khấu tạ lời khen của bệ hạ! Hai công chúa vốn sẵn tư chất thông minh, vừa học đã hiểu ngay, thảo dân nào dám nhận công?”
Hiển Vương quay sang vương hậu, vương hậu cười nói: “Bản cung đã lâu không được nghe tiên sinh nhã tấu, làm phiên tiên sinh tấu một khúc, được chăng?”
Cầm sư lại vái lạy, nói: “Thảo dân tạ ơn lòng yêu mến của nương nương! Không biết nương nương muốn nghe khúc gì?”
“Chính là khúc Tuyết Nhi và Vũ Nhi vừa tấu, tiên sinh chỉ cần tấu hai đoạn đầu và cuối!”
“Thảo dân xin được trổ chút tài nghệ kém cỏi!”
Cầm sư đứng dậy, bước tới bên cây đàn cầm, khép hai mắt lại, ngồi lặng một hồi, rồi ngón tay thình lình hạ xuống, múa lướt trên dây. Tiếng đàn ngân nga trầm bổng, quả thực không phải âm điệu tầm thường.
Đợi cầm sư tấu xong, vương hậu gật gù, quay sang nói với Cơ Tuyết, Cơ Vũ: “Tuyết Nhi, Vũ Nhi, hai con lại đây!”
Hai chị em uyển chuyển bước lại, đứng ở hai bên vương hậu. Vương hậu mỗi tay ôm lấy một cô con gái, dịu dàng nói: “Các con đã nghe thấy chưa, đây mới là Cao sơn và Lưu thuỷ. Gảy đàn ở tâm, không ở ngón tay.”
Cơ Tuyết, Cơ Vũ gật đầu.
Vương hậu đang định nói tiếp, bỗng thấy quan nội tể bước vào, khấu đầu nói: “Bệ hạ, thái sư xin cầu kiến!”
“Nhan ái khanh?” Chu Hiển Vương thoáng ngạc nhiên, rồi khẽ gật đầu. “Truyền thái sư yết kiến ở thư phòng!”
Chu Hiển Vương quay về ngự thư phòng, đã thấy Nhan thái sư quỳ trước cửa. Hiển Vương tiến lại đỡ thái sư dậy, dẫn ông vào phòng, phân ngôi quân thần ngồi xuống.
Nhìn lão thái sư mặt mày ủ rũ, Hiển Vương biết trong triều lại có chuyện gì, hẳn là chuyện không vui, thì khẽ thở dài một tiếng, hỏi: “Lão ái khanh, nói đi, có chuyện gì?”
“Muôn tâu bệ hạ, Tần Công và Ngụy Hầu đều sai sứ thần mang sính thư và danh sách sính lễ tới, xin được cầu thân với bệ hạ!”
Nghe thấy hai chữ “Ngụy Hầu”, Hiển Vương lập tức lộ vẻ giận dữ: “Cầu thân? Quả nhân chẳng có thứ gì, họ cầu cái gì đây?”
Nhan thái sư chậm rãi nói: “Muôn tâu bệ hạ, là Tần Công và Ngụy Hầu muốn xin cưới trưởng công chúa về làm thái tử phi!”
Hiển Vương sững người: “Ái khanh muốn nói… là Tuyết Nhi?”
“Đúng vậy!”
Hiển Vương lặng đi một lát, dường như vẫn chưa hiểu rõ hoàn toàn, bèn chậm rãi hỏi: “Là nhà nào?”
“Khởi bẩm bệ hạ, hai nhà!”
Hiển Vương trợn trừng hai mắt: “Hai nhà? Có phải khanh vừa nói Ngụy Hầu và Tần Công?”
Nhan thái sư thong thả đáp: “Đúng vậy! Hai nhà đều sai sứ thần mang sính thư, sính lễ tới cầu hôn công chúa Cơ Tuyết làm thái tử phi!” Nói đoạn, rút từ trong ống tay áo ra sính thư và danh sách sính lễ, đặt lên án. “Đây là sính thư và sính lễ của họ.”
Sự việc quá đỗi bất ngờ. Hiển Vương bàng hoàng chết sững, một lúc sau mới hiểu được nguồn cơn. Hiển Vương vô thức với tay, qườ quạng tìm ống ngọc cắm bút lông trên án, hơi thở mỗi lúc một thêm dồn dập, lồng ngực phập phồng dữ dội, cơ thể hơi run rẩy theo nhịp lên xuống của lồng ngực.
Nhan thái sư đã nhận ra, dù Hiển Vương đã cố gắng trấn tĩnh, song bàn tay cầm ống bút càng siết càng chặt, tựa hồ muốn bóp vụn đến nơi. Nhan thái sư cũng đoán ra tâm tư của Hiển Vương, bèn gọi khẽ: “Bệ hạ!”
Chu Hiển Vương ngồi lặng thêm một lát nữa, thần trí mới trấn tĩnh đôi chút, bàn tay từ từ buông lỏng ống ngọc, cười nhạt với Nhan thái sư: “Ồ, chư hầu hỏi cưới là chuyện đáng mừng. Có điều… hai nhà cùng xin hỏi cưới một lúc, quả nhân lại chỉ có một Tuyết Nhi, làm thế nào đây?”
Nhan thái sư trầm ngâm một lát: “Chư hầu xin hỏi cưới công chúa, tuy là việc nước, cũng là việc nhà, bệ hạ có thể gọi hai vị công thúc lại, hỏi xem có kế hay nào chăng!”
Chu Hiển Vương gật đầu: “Phải, ái khanh nói rất đúng!” Rồi quay sang nội tể. “Truyền hai vị công thúc yết kiến!”
Nội tể đáp “tuân chỉ”, rồi rảo bước ra ngoài cửa.
Hai vị công thúc của Chu Hiển Vương đều là em trai của Chu Liệt Vương Hỷ, một người là em thứ hai, một người là em thứ ba, xét về vai vế đều là chú của Hiển Vương. Trước khi Liệt Vương băng hà, phong cho em trai thứ ba ấp Hà Nam ở ngoại ô phía tây, thực ấp rộng ba mươi dặm, sử gọi là Tây Chu Công; phong cho em trai thứ hai Củng Ấp ở ngoại ô phía đông, thực ấp cũng rộng ba mươi dặm. Sau khi Liệt Vương băng hà, truyền ngôi cho Cơ Biển, căn dặn hai vị Chu Công trợ giúp việc triều chính. Chu thất vốn rộng bảy mươi dặm vuông, hai vị công thúc mỗi người đã chiếm ba mươi dặm, Vương Hiển chỉ còn lại vương thành Lạc Dương và mười dặm đất ít ỏi gần ngoại ô.
Nói về xu thế, Tây Chu Công thân Tần, Đông Chu Công thân Ngụy. Do vậy, sau khi Trần Chẩn và Sư Lý Tật mang sính thư tới, việc đầu tiên chính là tranh thủ sự trợ giúp của hai vị Chu Công. Khi Chu Hiển Vương truyền gọi họ tới, Trần Chẩn, Sư Lý Tật đều đang có mặt ở hai phủ, Đông Chu Công thậm chí còn ngồi xe của Trần Chẩn vào vương thành.
Chu Hiển Vương sắp xếp cho hai vị Chu Công yết kiến ở điện Vạn An, đồng thời mời Nhan thái sư tới, để thái sư cùng tham gia bàn bạc việc hệ trọng này.
Sau khi đã ngồi yên vị, Chu Hiển Vương bắt đầu bàn việc. Nhan thái sư thuật lại sơ qua chuyện Ngụy Hầu, Tần Công phái người tới cầu thân. Do sớm đã biết rõ sự tình, hai vị Đông, Tây Chu Công chẳng hề tỏ vẻ ngạc nhiên, chỉ khẽ vuốt râu, nhìn thẳng vào Hiển Vương.
Hiển Vương nhìn hai vị thúc công, nói thẳng: “Tần, Ngụy đều sai sứ thần mang sính lễ tới hỏi cưới Tuyết Nhi, nhưng Tuyết Nhi chỉ có một, gả cho Tần, hay cho Ngụy, quả nhân không dám quyết định tuỳ tiện, thật lòng muốn nghe ý kiến của hai thúc công.”
Đông Chu Công quyết định tiên phát chế nhân, nhấp một ngụm trà, chậm rãi nói: “Muôn tâu bệ hạ, theo ý của trọng thúc(2), Tuyết Nhi gả cho Ngụy thất là thích hợp hơn. Thiên hạ hiện nay, mạnh nhất là Ngụy. Triều hội Mạnh Tân lần trước, thiên hạ một phen chấn động. Chu thất nếu kết thông gia với Ngụy thất, chắc chắn có thể hiệu lệnh thiên hạ!”
Đông Chu Công nhắc tới triều hội Mạnh Tân, lại là phạm phải điều tối kỵ. Chu Hiển Vương tuy không biểu lộ ra nét mặt, song trong lòng lạnh ngắt, ánh mắt chuyển sang Tây Chu Công: “Ý của quý thúc thế nào?”
Tây Chu Công liếc xéo Đông Chu Công một cái, dõng dạc phản bác: “Lời này gây tổn hại cho đất nước, bệ hạ tuyệt đối không thể nghe theo! Theo ý của quý thúc, Tuyết Nhi nên gả cho Tần thất. Tần biến pháp cải chế, thế lực lớn mạnh, như mặt trời giữa trưa, thiên hạ đều thấy rõ. Chu thất phải kết thông gia với Tần thất, mới đảm bảo giữ vững được cơ nghiệp nghìn năm.”
Đông Chu Công và Tây Chu Công xưa nay vốn không hoà thuận, hai bên thường vì những chuyện vặt vãnh mà hậm hực nhau, mấy năm đầu tuy không bằng lòng nhưng còn bằng mặt, song gần đây đã thể hiện ra mặt. Người này nói đông thì người kia ắt nói tây, cứ gặp nhau là cãi vã. Nhan thái sư hiểu rõ nội tình, sở dĩ khuyên Hiển Vương hỏi ý hai người, cũng là nhìn vào điểm này. Bất luận thế nào, chỉ cần hai vị hoàng thúc cùng có mặt, kiểu gì cũng không thể nhất trí, càng không thể tìm ra kế sách giải quyết. Mà hiện tại, với sự việc nan giải trước mắt, kế sách tốt nhất là không có kế sách, cách xử trí tốt nhất là không xử trí.
Quả nhiên, Đông Chu Công vừa nghe Tây Chu Công phản bác, lập tức nổi giận đùng đùng: “Người Tần vốn là đất nước lang sói, xưa nay không quen giáo hoá của Trung Nguyên. Tần Công càng thô bạo có tiếng, thực thi nền chính trị hà khắc, hoàn toàn trái ngược với đạo trị nước khoan nhân của Đại Chu ta. Nếu Chu thất kết thông gia với người Tần, khác nào kết thân với lang sói?”
Tây Chu Công cười nhạt một tiếng, lớn giọng cãi lại: “Nếu nói tới thô bạo, Tần thất sao bằng Ngụy thất? Ngụy thất vốn là đại phu khác họ, giết vua phạm thượng, nhiễu loạn thiên hạ. Tiên vương phong cho tước hầu, những muốn Ngụy Hầu ăn năn hối cải, nào ngờ Ngụy Hầu đã không hối lỗi, ngược lại ngày càng làm già. Lần trước hẹn chư hầu tới Mạnh Tân triều kiến thiên tử là giả, mưu đồ cướp đoạt thiên hạ mới là thật! Quả nhiên là vậy, chưa tới vài tháng sau, Ngụy Hầu đã lộ nguyên hình, tự xưng làm vương, muốn ngang vai ngang vế với Đại Chu. Loạn thần tặc tử như vậy, ta nên trừng phạt mới phải, sao còn có thể kết thông gia?”
Lời của Tây Chu Công rành rọt sắc sảo, đã đánh trúng chỗ hiểm, Đông Chu Công nhất thời lắp bắp, cứng họng mãi mới nói được vài câu: “Bệ hạ, thiên hạ lễ băng nhạc hoại, lại không phải xuất phát từ Ngụy thất. Từ thời Xuân Thu đến nay, đại chiến vài trăm năm, tiêu diệt vài trăm nước, thiên hạ làm gì còn nghĩa? Làm gì còn lễ? Ngày nay lòng người đều bại hoại, sao chỉ trách một mình Ngụy thất?”
Tây Chu Công đang định phản bác, chợt thấy Chu Hiển Vương đưa hai tay lên, từ từ bịt chặt hai tai. Tây Chu Công vẫn còn biết điều, hằm hằm lừ mắt nhìn Đông Chu Công một cái, không nói gì nữa. Đông Chu Công cũng liếc trả Tây Chu Công, rồi lại quay sang Chu Hiển Vương.
Chu Hiển Vương thấy hai người không tranh luận nữa mới buông hai tay xuống, ngẩng đầu nhìn sang Nhan thái sư, chậm rãi nói: “Hai vị thúc công tranh cãi không thể nhất trí, lão ái khanh có kế lưỡng toàn chăng?”
Nhan thái sư ngẫm nghĩ một lát, chậm rãi nói: “Vi thần vô dụng, hiện chưa thể nghĩ ra kế lưỡng toàn!”
Chu Hiển Vương gật đầu, nhìn qua chư thần một lượt: “Chư vị ái khanh đã tranh cãi không ai chịu ai, chưa thể đưa ra quyết định, việc Tuyết Nhi hãy để sau bàn tiếp. Các vị có tấu gì không?”
Ba vị lão thần đưa mắt nhìn nhau, đồng loạt bái lạy: “Vi thần cáo lui!”
Ba người lui ra tới cửa, Hiển Vương chợt gọi: “Nhan ái khanh, dừng bước!”
Nhan thái sư đứng lại, bước lên khấu đầu mà nói: “Bệ hạ có gì căn dặn?”
Thấy Đông, Tây Chu Công đã đi xa, Chu Hiển Vương chỉ vào vị trí khách phía trước mặt, chậm rãi nói: “Lão ái khanh, ngồi đi!” Đợi Nhan thái sư ngồi xuống, liền cười buồn bã. “Quả nhân biết khanh sớm đã có kế hay, giờ có thể nói được rồi!”
Nhan thái sư cười gượng gạo, lắc đầu nói: “Bệ hạ, lão thần thực sự không có kế nào hay. Tần, Ngụy tới đây, cầu hôn là giả, tranh danh đoạt thế mới là thật. Lão thần cho rằng, Tần cũng thế, mà Ngụy cũng vậy, bên nào cũng là nước lang sói, Đại Chu thiên quốc của ta không thể mất lòng bên nào. Nếu hai nhà này ta đều không thể mất lòng, tại sao bệ hạ không tìm một rể hiền khác?”
Chu Hiển Vương ngẩn người: “Tìm rể hiển?”
Nhan thái sư trịnh trọng gật đầu.
Chu Hiển Vương trầm ngâm suy nghĩ, rồi khẽ lắc đầu: “Hiện tại ngoài Tần, Ngụy, chẳng có công hầu nào tới cầu hôn, quả nhân biết tìm ai đây?”
“Phu nhân nước Yên đã mất ba năm, giờ hẳn tang lễ đã hết, nghe nói Yên Công vẫn chưa lập phu nhân mới. Theo ý lão thần, nếu bệ hạ thấy khó, sao không nhân lúc này gả Tuyết công chúa cho Yên Công.”
Chu Hiển Vương lặng người, nhắm mắt suy nghĩ một lát, rồi ngẩng đầu nhìn Nhan thái sư: “Chuyện này… Yên Công liệu có đồng ý chăng?”
“Yên Công và Chu thất vốn là một họ, huyết mạch tương thông, nếu bệ hạ ban thân, Yên Công chắc chắn sẽ chấp thuận.”
“Không thể!” Chu Hiển Vương quả quyết lắc đầu, “nếu ban thân cho Yên Công, quả nhân biết ứng phó sao với phía Tần, Ngụy?”
“Chuyện này lại không hề khó!” Nhan thái sư dường như đã sớm có kế sách, thong thả đáp. “Danh sĩ thiên hạ Thuần Vu Khôn mới tới Chu, hiện đang ở trong nhà lão thần. Bệ hạ nếu có nhã ý, lão thần sẽ nhờ Thuần Vu Khôn làm người mai mối, tung tin ra ngoài rằng, Thuần Vu Tử cũng tới cầu thân. Còn về sính lễ cầu thân, lão thần sẽ lo liệu. Lão thần cũng sẽ cấp tốc phái người tới gặp Yên Công, nói rõ ngọn nguồn cho Yên Công biết. Yên Công là người thấu hiểu đại nghĩa, ắt sẽ tuân lệnh!”
Chu Hiển Vương lại cúi đầu ngẫm ngợi, một lát sau, từ từ đứng dậy, nặng nề bước về phía bình phong. Khi sắp sửa khuất vào phía sau, Hiển Vương ngoảnh đầu nhìn Nhan thái sư: “Tạm thời cho Thuần Vu Tử tới ở trong dịch quán, đối đãi theo lễ công sứ!”
“Lão thần tuân chỉ!”
Vào giờ Nhân định, dịch quán liệt quốc ở hai bên Thái miếu Lạc Dương lại một lần nữa trở nên huyên náo. Chiêng trống vang trời, pháo nổ rộn rã. Sứ đoàn cầu thân của hai nhà Tần Ngụy nghe thấy vậy, vội vã chạy ra ngoài xem. Một lát sau, dưới ánh đuốc bập bùng, mọi người thấy phía xa xa có quan tiếp đón phía Chu thất dẫn vài cỗ xe ngựa tiến vào công quán bên cạnh, trên cờ hiệu thấy đề mấy chữ “Yên”, “sính”, “Thuần Vu”.
Hơn chục “người Yên” tất bật vận chuyển sính lễ từ trên xe vào trong công quán. Thuần Vu Khôn phe phẩy cây quạt, được hai người hầu đỡ hai bên, chậm rãi bước xuống xe, vênh mặt khệnh khạng đi vào trong dịch quán.
Trần Chẩn, Sư Lý Tật nhìn thấy lại có nhà tới cầu thân, đều ngạc nhiên sửng sốt, đưa mắt nhìn nhau một chốc, không hẹn mà cùng tiến lên vài bước, chặn trước mặt Thuần Vu Khôn.
Trần Chẩn vòng tay hành lễ trước: “Sứ thần đây chẳng phải là Tắc Hạ tiên sinh Thuần Vu Tử sao? Vãn sinh Trần Chẩn xin có lời chào!”
Thuần Vu Khôn thu quạt lại, vòng tay đáp lễ: “Ồ, là Trần Chẩn ư? Lão hủ Thuần Vu Khôn xin chào!” Ánh mắt lại chuyển sang Sư Lý Tật. “Vị này là…”
Sư Lý Tật cũng vòng tay hành lễ, nói: “Sứ Tần Sư Lý Tật bái kiến Thuần Vu Tử!”
“Sư Lý Tật?” Thuần Vu Khôn đáp lễ, gật đầu nói. “Lão hủ nghe nói người Tần có họ Sư Lý, hôm nay mới được gặp! Lão hủ Thuần Vu Khôn có lời chào!”
Sư Lý Tật ngước nhìn cờ hiệu, ra vẻ băn khoăn hỏi: “Nghe nói Thuần Vu Tử đang dạy học ở Tắc Hạ, sao cũng…”
Thuần Vu Khôn bật cười vang, chặn ngang lời Sư Lý Tật: “Ha ha, lão hủ ru rú mãi trong Tắc Hạ, giờ cũng muốn ra ngoài đổi gió ít bữa. Có câu, uống rượu của người, chạy vạy giúp người, lão hủ đã tới nước Yên, uống rượu của lão Yên Công suốt mấy ngày, đành phải thay Yên Công chạy vạy một chuyến. Lần này tới đây, chính là để cầu thân giúp Yên Công.”
Sư Lý Tật ngạc nhiên hỏi: “Cầu thân giúp Yên Công? Cũng là làm thái tử phi?”
“Không phải, không phải!” Thuần Vu Khôn lắc đầu lia lịa, “nếu là để làm thái tử phi, lão Yên Công đâu phải cầu lão hủ ra mặt?”
Trần Chẩn cũng kinh ngạc: “Vậy tiên sinh…”
“Không giấu hai vị, Yên quốc phu nhân qua đời đã ba năm, Yên Công có ý cầu thân với người trong Chu thất. Lão hủ tới đây, chính là muốn tác hợp chuyện này.”
Sư Lý Tật bật cười mà nói: “Yên Công đã ngoài năm mươi, mà hùng tâm vẫn chưa già. Xin hỏi Thuần Vu Tử, người mà Yên Công muốn hỏi cưới là ai vậy?”
“Còn ai nữa?” Thuần Vu Khôn lắc lư chiếc đầu nhẵn thín, “đương nhiên là trưởng công chúa của Chu thiên tử!”
Trần Chẩn, Sư Lý Tật đều trợn mắt kinh ngạc: “Trưởng công chúa! Là Tuyết công chúa ư?”
Thuần Vu Khôn ra bộ nghĩ ngợi một lát, rồi vỗ vỗ trán: “Phải phải phải, lão hủ suýt nữa thì quên mất, chính là cô công chúa này!”
Trần Chẩn, Sư Lý Tật đều bàng hoàng chết sững, đưa mắt nhìn nhau: “Tuyết công chúa? Lão Yên Công?”
Phải một lúc sau, hai người mới trấn tĩnh trở lại, tay chỉ vào Thuần Vu Khôn, phá lên cười nghiêng ngả.
***
Lại nói về Tuỳ Sào Tử, sau khi cùng đệ tử Tống Kiển rời khỏi núi Vân Mộng, đã đi suốt ngày đêm, tầm mười ngày sau thì tới Lạc Dương. Tống Kiển lần đầu đặt chân tới kinh đô thiên tử, trong lòng rất mực hiếu kỳ, mắt nhìn không chớp, cảm thấy nhà cửa, phố sá, con người, sự vật nơi đây hoàn toàn khác biệt với chỗ mình.
Tuỳ Sào Tử dẫn Tống Kiển đi qua vài con phố, khi tới một ngã ba sầm uất ở cạnh vương thành thì dừng bước, tiến vào một quán trà. Tuỳ Sào Tử gọi hai bát nước trắng, rồi lôi từ trong tay nải khoác trên vai ra ba chiếc màn thầu khô, đưa cho Tống Kiển hai cái, còn mình giữ một cái, vừa ăn vừa uống nước.
Trong quán trà đã ngồi sẵn ba vị lái buôn. Nghe khẩu âm, thì biết một là người nước Tề, một là người nước Sở, còn một là người nước Hàn. Ba người vừa uống trà, vừa tán gẫu. Người đang nói là người nước Tề, giọng Lâm Truy đặc sệt: “Hai nhà Tần, Ngụy cùng xin hỏi cưới trưởng công chúa, hai vị thử nói xem, trưởng công chúa chỉ có một, Chu thiên tử sẽ gả con gái cho nhà nào?”
Lái buôn nước Sở nói: “Nghe nói Tần thất hỏi cưới trước, Ngụy thất hỏi cưới sau, thiên tử có lẽ sẽ chiếu theo thứ tự mà nhận lời Tần thất.”
Người nước Hàn lập tức phản bác: “Đúng là suy nghĩ hủ lậu! Thiên tử không ngốc vậy đâu! Hơn nữa, chiều hôm qua, tại hạ tận mắt nhìn thấy hai nhà cùng vào cổng thành, một người vào cổng tây, một người vào cổng bắc, ai trước ai sau, điều này khó nói lắm.”
Người nước Sở nhấp một ngụm trà, khà một tiếng rồi nói: “Theo con mắt tinh đời của nhân huynh, thiên tử nên gả công chúa cho nhà nào?”
Người nước Hàn ho một tiếng, trả lời chắc nịch: “Tại hạ cho rằng, thiên tử hẳn sẽ gả công chúa cho Ngụy thất. Ngụy vương hùng bá thiên hạ, võ binh Đại Ngụy tung hoành tứ phương. Chứ thiên tử buổi sáng gả công chúa cho Tần, buổi chiều lính Đại Ngụy sẽ tiến đánh vương thành mất!”
Người nước Sở lại cười hinh hích mà nói: “Này nhân huynh, mắt anh mù rồi hẳn? Võ binh Đại Ngụy đang ở cả Hà Tây ứng phó với người Tần, dù muốn tới hỏi tội, chỉ sợ roi dài khó với!”
“Than ôi!” Lái buôn nước Tề thở dài một tiếng, “nghĩ cũng phải, thiên tử lâm vào tình cảnh này, quả thực khó xử!”
Người nước Sở cười ha hả mà nói: “Nhân huynh đúng là lo bò trắng răng, lo nghĩ không đâu! Nhân huynh thử nghĩ xem, một khuê nữ nhà nghèo, được hai gã nhà giàu tranh nhau hỏi cưới, Chu thiên tử phen này cười không khép nổi miệng ấy chứ, có gì mà khó xử?”
Người nước Tề lại thở hắt ra: “Ồ, nhân huynh đúng là, nói suông thì thế nào chẳng được! Hãy thử đặt mình vào cảnh đấy thử xem. Thế này nhé, giả sử khuê nữ này là con gái huynh, hôm nay có hai gã nhà giàu tới cầu hôn, một gã là cường đạo chuyên giết người cướp của, trong tay lăm lăm dao sắc; còn gã kia là đạo chích, chuyên rình rập trộm cắp nhà người ta, trong tay lăm lăm thương nhọn, mà huynh chỉ có một cô con gái, biết gả cho kẻ nào đây? Gả cho kẻ này thì kẻ kia không chịu, xin hỏi nhân huynh, liệu huynh có thể cười không khép miệng nổi chăng?”
Lái buôn nước Sở mặt đỏ bừng, miệng há hốc, song không biết phải đối đáp thế nào cho phải, im lặng hồi lâu, cũng lại thở dài: “Than ôi! Này hai vị nhân huynh, không nói tới chuyện này nữa, đổi sang chuyện khác dễ nghe hơn đi, nghe nói…”
Tống Kiển có vẻ rất đói, chỉ vài miếng đã hết veo một chiếc màn thầu, đang uống nước ừng ực, vô tình nhìn sang phía Tuỳ Sào Tử, thấy ông hai mắt sáng rực, đôi lông mày từ từ chau lại, đặt chiếc màn thầu trên tay xuống, nhắm mắt, trầm ngâm suy nghĩ, dường như quên mất mình đang ăn bánh.
Tống Kiển đoán rằng hẳn Tuỳ Sào Tử đang suy tính điều gì đó, lại nghĩ lần này tới Lạc Dương, chắc chắn là có chuyện lớn, liền đặt bát nước xuống, hai mắt nhìn Tuỳ Sào Tử chăm chú, chờ đợi sai bảo.
Quả nhiên Tuỳ Sào Tử đã đặt lại chiếc màn thầu vào trong túi, bê bát nước lên uống một hơi hết sạch, sau đó đưa ống tay áo lên lau miệng, lôi ra một đồng tiền bố(3) đặt lên mặt bàn, đứng dậy nói: “Tống Kiển, đi thôi, ta muốn mua cho con một bộ y phục!”
Hai người vừa bước tới cửa, đã bị tiểu nhị gọi giật lại. Hai người dừng bước, thấy tiểu nhị hấp tấp chạy ra, cầm theo đồng tiền, nói: “Lão trượng, tiền của ông!”
Tống Kiển ngạc nhiên hỏi: “Chúng tôi uống nước, đây là tiền nước!”
Tuỳ Sào Tử cầm lấy đồng tiền, cảm tạ tiểu nhị, quay lại bảo Tống Kiển: “Đã nhìn rõ chưa? Đây chính là đất dưới chân thiên tử!”
Tống Kiển gật đầu, bước theo Tuỳ Sào Tử. Hai người đi tới một tiệm may. Tuỳ Sào Tử chọn lựa một hồi, cuối cùng nhặt lấy một bộ trang phục trông hết sức kỳ khôi, bảo thợ may sửa lại vài chỗ, sau đó đưa cho Tống Kiển bảo mặc thử. Tống Kiển miễn cưỡng mặc vào, đứng trước gương soi qua soi lại, cảm thấy rất đỗi nực cười. Tuỳ Sào Tử nhìn kỹ từ trên xuống dưới, lại bảo thợ may sửa thêm mấy chỗ nữa, rồi trả tiền, sau đó kéo Tống Kiển đi ra phố.
Tống Kiển mặc bộ trang phục kỳ quặc đi trên phố, cảm thấy hết sức khó hiểu, băn khoăn nhìn Tuỳ Sào Tử: “Tiên sinh, việc này…”
Tuỳ Sào Tử lại ngắm nghía một chặp dưới ánh nắng ban ngày rực rỡ, có vẻ rất hài lòng, gật gù nói: “Chà chà, giống người Sái lắm rồi!”
Tống Kiển kinh ngạc: “Người Sái? Nước Sái chẳng phải đã bị nước Sở tiêu diệt từ lâu rồi ư?”
“Nước Sái tuy không còn nữa, song người Sái vẫn còn. Con mặc bộ trang phục này, đã có thể đi bái kiến vương hậu thiên quốc được rồi!”
Tống Kiển càng ngơ ngác: “Vương hậu thiên quốc?”
Tuỳ Sào Tử gật đầu.
“Cự tử muốn đệ tử tới gặp vương hậu, hẳn có chuyện hệ trọng?”
“Để giúp thiên tử vượt qua cửa ải khó khăn này!”
Tống Kiển trợn tròn mắt: “Cửa ải khó khăn? Là cửa ải gì vậy?”
Tuỳ Sào Tử lôi từ trong ống tay áo ra một túi gấm, đưa cho Tống Kiển, mỉm cười nói: “Đừng hỏi nhiều! Con hãy tìm cách vào cung, đưa túi gấm này cho vương hậu!”
Tống Kiển bán tín bán nghi nhận lấy túi gấm, rồi cũng quay người bước về phía vương cung.
Chu thiên tử bước khỏi điện Vạn An, trở về ngự thư phòng, ngồi trầm ngâm suy nghĩ, càng nghĩ càng thấy đau đầu. Đường đường là thiên tử, gặp sự nan giải, lại không biết bàn bạc cùng ai. Hai vị công thúc có cũng như không, chỉ càng gây thêm phiền toái. Ý của Nhan thái sư tuy có thể thực thi, song cũng chỉ là hạ sách. Những điều khác tạm chưa tính đến, chỉ nghĩ tới chuyện gả Tuyết Nhi cho lão Yên Công già lụ khụ, trong lòng Chu thiên tử đã đau xót vô vàn. Suy đi nghĩ lại, Nhan thái sư cũng là vạn bất đắc dĩ. Thiên hạ Đại Chu hôm nay lâm vào tình cảnh này, đã đủ khiến lão thái sư đau đầu lắm rồi.
Đang lúc muộn phiền, Hiển Vương chợt nhớ tới vương hậu, lại ngồi thần ra một lát liền gọi nội tể vào, rồi bước thấp bước cao đi tới cung Tịnh An.
Hay tin thiên tử giá lâm, vương hậu và các cung nữ vội vã dập đầu nghênh đón. Chu Hiển Vương đỡ vương hậu dậy, rồi xua tay về phía nội tể, cung chính và cung nữ. Mọi người lĩnh ý, khấu đầu xong, bèn lui hết ra.
Trong cung chỉ còn lại hai người. Chu Hiển Vương băn khoăn không biết mở lời ra sao, vẻ thê lương hiện rõ trên nét mặt, cứ đi đi lại lại trong phòng. Vương hậu biết Hiển Vương có tâm sự, bèn lên tiếng hỏi: “Bệ hạ tâm tư bất an, phải chăng vì chuyện của Tuyết Nhi?”
Hiển nhiên vương hậu đã biết rõ sự tình. Bước chân của Chu Hiển Vương càng thêm nặng nề, hơi thở cũng có phần khó nhọc.
Vương hậu chậm rãi đứng dậy: “Bệ hạ, dưa chín thì cuống rụng, Tuyết Nhi đã tới tuổi cập kê, cũng nên xuất giá rồi!”
Chu Hiển Vương dừng bước, vẻ mặt giận dữ: “Tuyết Nhi đã có thể xuất giá, song hai nhà Tần, Ngụy phải đâu tới để cầu hôn? Họ… họ…” Hiển Vương càng nói càng giận, tiện tay nắm lấy chiếc bình ngọc đặt trên cửa sổ, hất mạnh xuống nền gạch, choang một tiếng vỡ tan tành.
Bình ngọc này là của hồi môn của vương hậu khi xuất giá năm xưa, cũng là đồ vật mà vương hậu vô cùng yêu quý. Trong cơn giận dữ, Hiển Vương đã biến nó thành một đống mảnh vỡ ngổn ngang. Vương hậu nhất thời cầm lòng không đặng, ruột đau như cắt, nước mắt chực ứa ra. Song vương hậu nén lòng nuốt lệ, chậm rãi bước đến bên cửa sổ, quỳ xuống đất, lặng lẽ đưa tay nhặt từng mảnh vỡ.
Lúc này, Chu Hiển Vương mới trấn tĩnh lại đôi chút, vội vã bước tới sau lưng vương hậu, đưa đôi tay run rẩy ôm lấy bà, giọng đầy bất lực: “Tử đồng(4) nàng nói đi, quả nhân là cái thứ gì? Cái thứ gì?”
Vương hậu cũng từ từ bình tâm trở lại, vừa nhặt những mảnh ngọc vỡ, vừa dịu dàng đáp lại: “Bệ hạ, bệ hạ là thiên tử, là Đại Chu thiên tử!”
Chu Hiển Vương gượng một nét cười thê thảm: “Cái gì mà Đại Chu thiên tử? Đại Chu còn đâu nữa? ‘Thi’ có câu Dưới khắp gầm trời, đâu chẳng đất vua. Men khắp bến bờ, đâu không thần tử(5), nhưng giờ đây, đất của vua ở đâu? Thần tử của vua ở đâu? Quả nhân chẳng qua chỉ là túm dây ngù nơi mũi thương, là chuỗi hạt bột trên chuôi kiếm của chúng mà thôi. Quả nhân… trong lòng quả nhân… thực là uất hận!”
Vương hậu nghe vậy, hết sức đau lòng, nhẹ nhàng thả những mảnh vỡ xuống, đưa bàn tay mềm mại nắm lấy tay Hiển Vương: “Bệ hạ, trong thiên hạ không phải chỉ có hai nhà Ngụy, Tần. Nếu bệ hạ không bằng lòng, có thể gả Tuyết Nhi cho nhà khác!”
Hiển Vương lập tức nhớ đến kế sách của Nhan thái sư, song ông khẽ lắc đầu, nói: “Chọn nhà khác ư? Công hầu trong thiên hạ, nước yếu dám giận mà không dám nói, còn nước mạnh, có nước nào biết đến lễ nghĩa liêm sỉ? Có nước nào tôn kính Chu thất? Chưa nói tới Ngụy, Tần, ngay cả người Sở xưa nay cũng không phục Chu, thời Trang Vương thậm chí còn khởi binh tranh giành vương vị. Triệu, Hàn vốn là đại phu cướp ngôi, cùng chung một giuộc với Ngụy. Còn nước Tề, sau thời Hoàn Công, đã không còn quân tử nữa. Tới khi họ Điền thay họ Khương, người Tề cũng đã chẳng còn biết trên đầu có ai. Lão Yên Công tuy vẫn còn chút chính khí, song đã già rồi, Yên thất yếu ớt lại xa xôi, chẳng thể cứu vãn được tình thế.”
Vương hậu dịu dàng an ủi: “Những việc này đâu phải mới chỉ ngày một ngày hai? Bệ hạ có chí phục hưng, cũng phải trù liệu dần dần.”
Hiển Vương rầu rĩ nói: “Nàng bảo quả nhân phục hưng thế nào đây? Trước đây, quả nhân vẫn còn chút ý chí phục hưng, sau triều hội Mạnh Tân, chút ý chí này cũng đã bay đi theo gió. Tử đồng, quả nhân giờ đây chỉ còn biết giương mắt đứng nhìn cơ nghiệp tổ tiên sụp đổ hoàn toàn mà thôi!”
Hiển Vương càng nói càng đau đớn, nước mắt bất giác chảy dài, rơi lộp độp xuống nền gạch.
Sau một hồi trầm ngâm, vương hậu khẽ thở dài một tiếng, ngẩng đầu lên nói: “Bệ hạ, nếu nhất thời không tìm được nhà nào phù hợp, vậy tại sao không tạm hoãn hôn sự của Tuyết Nhi lại?”
Chu Hiển Vương khẽ lắc đầu: “Nếu có thể hoãn được, cớ sao quả nhân còn phải phiền muộn nhường này? Giờ đây, không phải là việc gả hay không gả, mà là gả cũng không được mà không gả cũng không xong. Gả, thì gả cho nhà nào? Không gả, thì liệu có nhà nào chịu ngồi yên? Quả nhân suy đi tính lại, thấy đường nào cũng nan giải vô cùng. Vừa nãy cho mời hai vị thúc công tới bàn bạc, nhưng hai người mỗi người một ý, cãi nhau om sòm, càng khiến quả nhân phiền lòng. Than ôi, quả nhân một bụng bi ai, đường đường là thiên tử Chu thất, mà chẳng có lấy một ai để giãi bày tâm sự.”
Vương hậu vòng tay ôm lấy Hiển Vương, tựa như vỗ về một đứa trẻ đang tuyệt vọng: “Dưới gầm trời này, không có cửa ải nào không thể vượt qua, bệ hạ đừng nên lo lắng thái quá, làm tổn hại long thể… Còn về chuyện của Tuyết Nhi, xin cho phép thần thiếp suy nghĩ thử xem, biết đâu lại nghĩ được kế vẹn toàn.”
Chu Hiển Vương khép hờ hai mắt, hồi lâu mới ngẩng đầu lên hỏi: “Tuyết Nhi đã biết chuyện này chưa?”
Vương hậu gật đầu nói: “Khắp vương thành không ai không biết, sao có thể giấu được Tuyết Nhi?”
Chu Hiển Vương thở dài mà nói: “Than ôi, Tuyết Nhi không biết được, người trong vương thành cũng không biết được, trong lòng ta chua xót đến nhường nào!” Nói xong, lại thở dài thườn thượt, lắc đầu đứng dậy, lê bước chân nặng nề ra khỏi cửa cung.
Nghe tiếng bước chân của Hiển Vương xa dần, vương hậu vẫn đứng thẫn thờ tại chỗ. Vương hậu lúc này mới lờ mờ nhận ra, chuyện nan giải hiện tại, kỳ thực không phải là có gả Tuyết Nhi hay không.
Bên bờ hồ trước khuê phòng của công chúa, mặt nước trong vắt như gương, hoa sen từng cụm bồng bềnh trên sóng. Một vài bông đã nở xoè, bên cạnh những nụ nhỏ còn e ấp, tô điểm thêm vẻ yêu kiều cho mặt hồ xanh.
Cơ Tuyết trang phục gọn gàng, tư thái linh hoạt, đang múa kiếm bên hồ nước. Múa được một lát, động tác bỗng chậm dần, vẻ như có điều gì tư tự.
Rồi Cơ Tuyết dừng tay, đặt thanh bảo kiếm xuống đất, bước lại bên lan can ven hồ, tựa người vào thành lan can, nhìn đăm đăm vào cái bóng của mình in dưới nước.
Bỗng một hòn sỏi rơi tõm xuống mặt hồ, khuấy động từng vòng sóng nước, khiến cái bóng của Cơ Tuyết cũng rung rinh lay động. Cơ Tuyết ngoảnh đầu lại nhìn, thấy Cơ Vũ đã đứng ở sau lưng tự lúc nào, dựa vào một cây cột, nghiêng nghiêng đầu nhìn sang mà hỏi: “A tỷ, sao chị lại thất thần đến thế, đang suy nghĩ gì ư?”
Cơ Tuyết khẽ thở dài một tiếng, nói: “Nếu kiếp này được làm thân nam nhi, có phải tốt hơn không?”
Cơ Vũ cười khúc khích, nói liến thoắng như pháo rang: “Làm thân nam nhi? Đàn ông con trai thì có gì hay ho? Chị thử xem văn võ bá quan trong triều, có ai không phải đàn ông? Lại xem đám thiếu gia quý tộc ở Thái học, có ai không phải đàn ông? Mà nhìn xa hơn nữa, công hầu liệt quốc, và cả vô số thái tử, thế tử, công tử, có ai không phải đàn ông? Nhưng chị thử đếm xem, trong số những đấng mày râu đó, có mấy kẻ ra hồn? Nếu kẻ nào có được chút tài mọn, thì hống hách kiêu căng, tham lam vô độ; còn nếu bất tài, không phải phường giá áo túi cơm, thì cũng không bằng loài cầm thú!”
Cơ Tuyết ngẩng nhìn Cơ Vũ, lắc đầu mà nói: “Vũ Nhi, em chỉ nhìn thấy chỗ thiển cận mà thôi. Nếu như chị là nam nhi, thì chị đã…”
Cơ Vũ bắt chước giọng điệu của Cơ Tuyết, tiếp lời: “Thì chị đã chấn hưng cơ nghiệp tổ tiên, khôi phục tổ chế Đại Chu, khiến vạn dân trong thiên hạ an cư lạc nghiệp, không còn chinh chiến triền miên!”
Cơ Tuyết bực mình gắt: “Em lại giễu cợt chị ư?”
Cơ Vũ tiến lại gần Cơ Tuyết, nũng nịu dựa vào vai chị: “Vậy chị thử nói em nghe, nếu là nam nhi, chị sẽ làm gì?”
Cơ Tuyết trầm ngâm một lúc, rồi nhìn Cơ Vũ, nói: “Chị là chị, em là em, xét về lý, chị nên hỏi em trước. Vũ Nhi, nếu em là nam nhi, em muốn làm gì?”
Cơ Vũ không chút đắn đo, nói luôn: “Em vốn chẳng bao giờ muốn làm nam nhi!”
Cơ Tuyết ngạc nhiên hỏi: “Vũ Nhi không muốn làm nam nhi ư? Vậy là em thích làm phận nữ?”
Cơ Vũ khẽ lắc đầu.
Cơ Tuyết càng ngạc nhiên: “Vậy em muốn làm gì?”
Cơ Vũ kéo từ trong cổ áo ra con ve sầu bằng ngọc trắng muốt tựa mỡ dê, đưa tay vuốt khẽ rồi nói: “Em ư? Em muốn làm một con ve sầu tự do tự tại, muốn bay thì bay, muốn hót thì hót.”
Cơ Tuyết cười nói: “Nếu ai cũng như em, thiên hạ hẳn càng rối loạn!”
Cơ Vũ nghiêm túc nói: “Nếu ai cũng như Vũ Nhi, thiên hạ sẽ không còn loạn nữa!”
Cơ Tuyết lại cười: “Được rồi, được rồi, chị không tranh luận với em, chị muốn hỏi em một câu thực lòng. Vũ Nhi, theo em, thái tử nước Tần và thái tử nước Ngụy, bên nào tốt hơn?”
Cơ Vũ cười khúc khích mà nói: “Nói đi nói lại, hoá ra không phải chị muốn làm nam nhi, mà là muốn lấy chồng?”
Cơ Tuyết đỏ bừng mặt, lại mắng Cơ Vũ: “Em lại nói bừa đấy chăng?”
Cơ Vũ mím môi tủm tỉm cười: “Được rồi, được rồi. Theo Vũ Nhi, hai vị thái tử mà chị vừa nhắc tới, chẳng có ai ra hồn cả!”
Cơ Tuyết vội vàng giải thích: “Ý chị không phải là nói tới hai người họ!”
Cơ Vũ ngạc nhiên: “Thế chị muốn nói tới điều gì?”
“Chị muốn hỏi em, nước Tần và nước Ngụy, xét về lâu dài, nước nào có lợi hơn cho sự phục hưng của Đại Chu?”
Cơ Vũ sững lại, hồi lâu mới hiểu Cơ Tuyết muốn nói gì, thì khẽ thở dài một tiếng: “Chị ơi là chị, Vũ Nhi xin nói một lời đáng lẽ không nên nói, thiên hạ từ lâu đã không còn Đại Chu nữa! Chị hãy nhìn phụ vương, nhìn vào chư công rầu rĩ bên cạnh phụ vương, rồi hãy nhìn sang chư hầu liệt quốc…”
Sắc mặt Cơ Tuyết bỗng ủ ê rầu rĩ, nước mắt từ từ lăn xuống, vừa như tự nhủ, vừa như nói với Cơ Vũ: “Đại thế của thiên hạ, chị sớm đã nhìn ra. Song chị không cam lòng, chị tin Đại Chu vẫn còn hy vọng! Hy vọng này, dẫu chỉ là một tia mong manh, chị cũng sẵn sàng bám lấy. Vũ Nhi, mấy ngày qua, chị đã suy nghĩ kỹ rồi, nước Ngụy tuy ngoài mặt lớn mạnh, song vì thất đạo nên không ai ủng hộ, ắt không thể bền lâu. Người Tần tuy nói là thô bạo, hung hãn, song sức mạnh tiềm tàng. Nếu chị có thể làm thái tử phi của nước Tần, sẽ có một ngày thái tử lên ngôi, chị ít nhiều cũng nói được vài lời trước Tần Công tương lai, nhiều là chấn hưng Đại Chu, mà ít thì có thể giúp rập phụ vương!”
Cơ Vũ ứa nước mắt, bật thốt lên: “A tỷ!”
Cơ Tuyết khẽ thở dài: “Than ôi, tâm sự này của chị, biết nói với ai đây?”
Cơ Vũ lau vội nước mắt: “A tỷ, chị hãy yên tâm, Vũ Nhi đi nói với mẫu hậu đây!”
Cơ Tuyết ngạc nhiên, còn chưa kịp ngăn lại thì Cơ Vũ đã chạy biến mất. Cơ Vũ chạy thẳng một mạch tới cung Tịnh An, đang định bước vào cửa, thì từ xa đã nhìn thấy một tên quân uý dẫn theo Tống Kiển phục sức kỳ quặc đang hối hả tiến lại.
Cơ Vũ hết sức tò mò, vội nấp vào phía sau một gốc cây, đợi họ gần tới nơi thì nhảy vụt ra chắn ngang phía trước quân uý, chỉ vào Tống Kiển hỏi: “Xin hỏi quân úy, kẻ này là người nước nào?”
Quân uý giật nảy mình, lùi liền hai bước, nhận ra Vũ công chúa, vội vã vòng tay đáp: “Khởi bẩm công chúa, người này từ nước Sái tới, nói rằng có việc gấp, muốn cầu kiến nương nương.”
Cơ Vũ nhìn Tống Kiển một lượt từ trên xuống dưới, gật đầu nói: “Ồ, là trang phục của người Sái ư?” Rồi quay sang quân uý. “Hai người đứng đợi ở đây, để ta vào bẩm báo nương nương!”
Cơ Vũ bước vào trong cung, thấy vương hậu một mình quỳ trước cửa sổ, nhìn chăm chăm vào vật gì trên đất. Còn cung chính và hai cung nữ đều cúi đầu im thin thít, đứng hầu ở phía xa.
Cơ Vũ vội chạy về phía vương hậu, té ra vương hậu đang nhìn đăm đăm vào chiếc bình ngọc đã bị Hiển Vương đập vỡ.
Cơ Tuyết khẽ gọi: “Mẫu hậu!”
Vương hậu đang trầm tư, nhìn thấy Cơ Vũ, bèn chỉ vào nền gạch bên cạnh, nói: “Vũ Nhi, ngồi xuống đi.”
Cơ Vũ khuỵu hai chân xuống, quỳ bên cạnh vương hậu.
Vương hậu chỉ vào bình ngọc, nói: “Vũ Nhi, mẫu hậu hỏi con, có thứ nào hàn gắn được bình ngọc này chăng?”
Cơ Vũ nhìn vào bình ngọc. Những mảnh vỡ đã được vương hậu ghép lại đúng chỗ, song chằng chịt vệt chắp nối, chỉ là tạm thời ghép hờ với nhau, khẽ động vào sẽ lại tan tành thành từng mảnh vụn.
Cơ Vũ hiểu rõ mẫu hậu yêu quý chiếc bình ngọc này nhường nào, bèn hỏi khẽ: “Mẫu hậu… tại sao lại vỡ?”
Vương hậu khẽ thở dài một tiếng, nói: “Tại sao lại vỡ không quan trọng. Vũ Nhi, mẫu hậu hỏi con, có thứ nào hàn gắn được những mảnh vỡ này chăng?”
Cơ Vũ im lặng một lát, rồi khẽ lắc đầu. Nước mắt vương hậu trào ra đẫm mi, hậu chậm chạp đứng dậy.
Cơ Vũ sực hiểu ra, điều mẫu hậu đang ám chỉ không phải là bình ngọc vỡ. Bình ngọc tượng trưng cho vương quyền, chỉ là vật tượng trưng, nỗi đau xót trong lòng vương hậu không phải ở bình ngọc, mà ở bên ngoài bình ngọc.
Cơ Vũ chợt nhớ ra, bèn đứng dậy, thận trọng lên tiếng: “Mẫu hậu, Vũ Nhi… có việc muốn báo!”
Vương hậu dừng bước, ngoảnh đầu nhìn Cơ Vũ.
“Những mảnh vỡ này, có lẽ chị Tuyết Nhi sẽ có cách hàn gắn, mẫu hậu có muốn để chị thử chăng?”
“Thật ư?” Vương hậu suy nghĩ một lát. “Tuyết Nhi có cách gắn lại ư?”
Cơ Vũ khẽ gật đầu: “Vừa rồi, Vũ Nhi nghe chị nói, chị đã tìm được cách hàn gắn lại!”
“Tìm ở đâu?”
“Nước Tần! Chị muốn tới nước Tần, chị nói, nơi đó có lẽ sẽ có thứ keo để hàn gắn bình này!”
Vương hậu lại trầm tư một chốc, rồi ngoái đầu nhìn lại bình ngọc, khẽ thở dài: “Thôi bỏ đi, vỡ thì cũng đã vỡ rồi. Có gắn keo vào, cũng vẫn chỉ là mảnh vỡ mà thôi!”
“Nhưng chị…” Cơ Vũ sốt sắng nói.
“Vũ Nhi!” Vương hậu tỏ vẻ mệt mỏi, “nếu không có chuyện gì, mẫu hậu muốn nghỉ ngơi một lát.”
Cơ Vũ gật đầu, đang định đi ra, đột nhiên sực nhớ tới chuyện ở ngoài cửa khi nãy, vội quay lại bẩm báo: “Mẫu hậu, vừa nãy Vũ Nhi thấy quân uý dẫn một người tới, nói là muốn cầu kiến mẫu hậu!”
“Ồ!” Vương hậu thoáng ngạc nhiên, “là người nước nào vậy?”
“Con nghe nói là tới từ đất Sái, trên người mặc trang phục Sái, hẳn là…” Cơ Vũ nói tới đây thì dừng lại.
Vương hậu ngẫm nghĩ một lát, bảo cung nữ treo rèm hạt bột lên, ngồi ngay ngắn trước bàn, nói với cung chính: “Truyền cho người Sái vào gặp!”
Cung chính bước ra ngoài cửa, gọi lớn: “Nương nương có chỉ, truyền người Sái vào bái kiến!”
Tống Kiển bước vào, khấu đầu bái lạy trước rèm: “Thảo dân khấu kiến thiên quốc nương nương, chúc nương nương thiên tuế, thiên tuế, thiên thiên tuế!”
Vương hậu từ tốn nói: “Nhìn vào phục sức của ngươi, giống như người Sái, song nghe giọng nói lại không phải người Sái! Xin hỏi cao sĩ là người vùng nào?”
Tống Kiển lại bái lạy mà nói: “Nương nương anh minh! Thảo dân quả thực không phải người Sái. Bộ trang phục này là do gia sư may riêng cho thảo dân, nói là ăn mặc như vậy sẽ có thể bái kiến nương nương.”
Vương hậu thoáng ngạc nhiên, hỏi tiếp: “Gia sư phái cao sĩ tới đây là vì chuyện gì?”
“Gia sư muốn thảo dân trình lên nương nương một bức thư, mời nương nương ngự lãm!” Tống Kiển nói xong, lấy từ trong ống tay áo ra túi gấm của Tuỳ Sào Tử. Cung chính bèn nhận lấy, vén rèm bước vào, dâng lên vương hậu.
Vương hậu mở ra xem, vội hỏi: “Gia sư của cao sĩ hiện đang ở đâu?”
“Hôm qua gia sư vẫn ở trong vương thành, hôm nay không biết nơi đâu.”
“Xin hỏi quý tính đại danh của gia sư?”
“Gia sư dặn thảo dân chuyển tấu nương nương, gia sư chỉ là một lão già lang thang nay đây mai đó, nương nương bất tất phải bận tâm.”
Vương hậu trầm ngâm suy nghĩ, rồi khẽ gật đầu, quay sang cung chính: “Thưởng cho cao sĩ năm mươi lượng vàng, mười súc lụa.”
Tống Kiển vội bái tạ: “Thảo dân cảm tạ ân ban thưởng của nương nương! Thảo dân khẩn cầu nương nương thu hồi mệnh lệnh, không được sự đồng ý của gia sư, thảo dân tuyệt không dám nhận. Nương nương vạn an, thảo dân cáo từ!” Nói đoạn, vái liền ba vái, rồi chậm rãi lui ra.
Vương hậu quay sang Cơ Vũ: “Vũ Nhi, mau tiễn chân tiên sinh!”
Cơ Vũ “vâng” một tiếng, chạy ra khỏi cửa đuổi theo.
Nhìn thấy Cơ Vũ đã đi xa, vương hậu lại mở túi gấm Tống Kiển vừa dâng, đọc đi đọc lại mấy câu: “… Muốn qua cửa ải này, có thể uống xích đơn. Ngủ mê mệt nửa tháng, lại uống tiếp thanh huyền. Muốn trừ bệnh tận gốc, tới Quỷ Cốc cầu tiên…”
Vương hậu suy ngẫm một lúc, nhắm mắt lẩm nhẩm một hồi, sau đó đốt bức thư đi, lấy một mảnh da dê nhỏ, cắn rách đầu ngón tay, nặn máu vào nghiên, thảo một bức huyết thư. Thảo xong thư, đọc kỹ một lượt, tìm một chiếc túi gấm, cuộn mảnh da dê lại, nhét vào trong, rồi cẩn thận may kín miệng túi. Xong việc, khẽ gọi: “Người đâu!”
Cung chính bước vào: “Nương nương có gì sai bảo?”
Vương hậu chỉ vào túi gấm trên bàn, nói: “Ngươi mau tới núi Vân Mộng một chuyến, tìm bằng được đến Quỷ Cốc, dâng túi gấm này cho một vị tiên nhân có đôi mày trắng ở trong sơn cốc.”
“Tiên nhân có đôi mày trắng? Xin hỏi tôn danh là gì?”
“Tiên nhân mày trắng ở khe núi Quỷ Cốc, tự xưng là Quỷ Cốc Tử! Đi đi, đi nhanh lên, bất tất phải hỏi nhiều!”
Cung chính cầm lấy túi gấm, nhét vào trong ống tay áo: “Lão nô tuân chỉ!”
Cung chính đi rồi, vương hậu ngồi ủ ê một hồi, sau đó lấy hai viên thuốc trong túi gấm ra, một viên là xích đơn, một viên là thanh huyền. Rồi cầm viên xích đơn lên, lấy nước ấm uống xuống, sau đó cất viên thanh huyền đi.
Uống xong, vương hậu ngồi ngay ngắn trước bàn, khép hai mắt lại. Một lát sau, thuốc ngấm dần, vương hậu hét lớn một tiếng, ngã vật xuống nền nhà. Đám cung nữ nghe thấy tiếng hét, vội vã chạy lại, thấy vương hậu đã sùi bọt mép, hôn mê bất tỉnh, thảy đều kinh hãi kêu rú lên.
Bỗng chốc, hậu cung náo loạn.
Vương hậu đột nhiên mắc bệnh lạ, ngự y trong cung đều không thể chẩn đoán ra bệnh gì.
Chuyện này mau chóng truyền tới dịch quán, phó sứ nước Ngụy tức tốc vào phòng Trần Chẩn, bẩm báo: “Bẩm thượng khanh, Chu vương hậu đột nhiên mắc bệnh, nóng lạnh thất thường, hôn mê bất tỉnh, Chu thất đang dốc sức chữa trị. Nhan thái sư chuyển lời, xét thấy nương nương ngọc thể có bệnh, nên hôn sự của trưởng công chúa phải tạm hoãn!”
Trần Chẩn nghe xong, sắc mặt sầm xuống, suy nghĩ một hồi, dặn dò phó sứ: “Đây là kế hoãn binh của Chu thất! Bệnh không giấu được thầy thuốc, ngươi mau về An Ấp, tấu trình mọi việc lên bệ hạ, thỉnh cầu bệ hạ mau chóng phái ngự y tới thăm bệnh. Đợi rõ trắng đen, xem Chu thất còn gì để nói?”
Phó sứ vội dẫn theo hai người, mau chóng phi ngựa đi.
Nhìn theo bóng phó sứ nước Ngụy xa dần, Sư Lý Tật suy nghĩ một lát, bất giác nhếch mép cười, cũng thì thầm vài lời với phó sứ. Phó sứ gật đầu, mau chóng rời đi. Một lát sau, một kỵ sĩ lao ra khỏi Lạc Dương, thẳng tiến về tây.
Cung chính cầm theo túi gấm của vương hậu, gọi thêm một thái giám đi cùng. Hai người cải trang xong, tức tốc phi ngựa về phía núi Vân Mộng. Chưa tới năm ngày, hai người đã đến cửa Túc Tư, tìm tới Quỷ Cốc, đương nhiên cũng bị tiểu đồng chắn đường.
Hai người nói đến gãy lưỡi mà tiểu đồng vẫn không cho vào. Cung chính sốt ruột, lôi thông quan ngọc điệp của Đại Chu thiên tử từ trong ống tay áo ra, đưa cho tiểu đồng, nhờ dâng lên Quỷ Cốc tiên sinh. Tiểu đồng chưa từng nhìn thấy ngọc điệp, ngắm nghía hồi lâu, vẫn không biết là cái gì. Lại thấy người mới tới tâm trạng bất an, nghĩ là việc gấp, suy nghĩ một lát, bèn cầm ngọc điệp vào động bẩm báo.
Quỷ Cốc Tử nhìn thấy ngọc điệp, lập tức ra khỏi động gặp mặt cung chính. Cung chính nhìn thấy người bước ra có cặp lông mày dài trắng toát, biết là Quỷ Cốc Tử, hành đại lễ xong, trình túi gấm của vương hậu lên, rồi cáo từ ra khỏi động.
Quỷ Cốc Tử quay vào trong động, mở túi gấm ra, đọc qua một lượt, nhắm mắt trầm ngâm suy nghĩ. Một lát sau, lại mở mắt ra, đọc đi đọc lại vài lần bức huyết thư của vương hậu, khẽ thở dài một tiếng, nhét bức thư vào trong ống tay áo, đứng dậy bước ra khỏi cửa động.
Tiểu đồng chạy lên phía trước, nói: “Tiên sinh, hai người vừa rồi nhìn qua đã thấy rất kỳ lạ!”
“Kỳ lạ thế nào?”
“Tuổi thì rõ cao, song lại không thấy một cọng râu. Dáng dấp rõ là đàn ông, mà giọng nói lại ẽo ượt giống hệt đàn bà!”
Quỷ Cốc Tử phì cười: “Đó gọi là cung nhân!”
Tiểu đồng ngạc nhiên: “Cung nhân là thế nào?”
“Cung nhân chính là… là người trong vương cung!”
“Vương cung là thế nào?”
“Vương cung chính là…” Quỷ Cốc Tử ngừng lại một lát, tìm kiếm từ ngữ, “là rất nhiều rất nhiều ngôi nhà cao lớn nối liền với nhau.”
Tiểu đồng trợn tròn mắt: “Lẽ nào còn to hơn sơn cốc của chúng ta ư?”
“Đương nhiên rồi!” Quỷ Cốc Tử cười ha hả, “tiểu tử có muốn xuống núi mở mang tầm mắt không?”
“Xuống núi?” Tiểu đồng chớp chớp mắt, rồi cười toe toét, “nếu tiên sinh muốn xuống núi, tiểu đồng nguyện đưa tiên sinh đi một chuyến.”
Quỷ Cốc Tử lại cười vang: “Tiểu tử miệng lưỡi thực khôn khéo! Trong lòng ngươi nghĩ gì, đừng tưởng lão hủ không biết! Ở lì trong khe núi này đã vài năm, tiểu tử ngươi hẳn cũng đã cuồng chân. Lần này ta cho ngươi đi một chuyến, cho ngươi biết thế nào là trần gian dưới núi, xem ngươi có thấy phiền não hay không.”
Tiểu đồng bước lên, cười khúc khích mà nói: “Tiên sinh, dù tiên sinh có nói thế nào, tiểu đồng cũng sẽ xuống núi cùng tiên sinh. Có phải mang theo thứ gì không?”
Quỷ Cốc Tử dặn: “Trên gác có một cây phướn nhỏ, mấy năm qua không dùng tới, ngươi hãy lấy xuống, vác trên vai mà mang theo!”
Tiểu đồng chạy vào trong động, quả nhiên tìm thấy một cây phướn trên gác, bèn lấy xuống, vác trên vai, khấp khởi chạy ra, nhìn Quỷ Cốc Tử nói to: “Tiên sinh, đi nào!”
Quỷ Cốc Tử chắp tay sau lưng, nói: “Nào, đi!”
Một già một trẻ theo nhau ra khỏi Quỷ Cốc, vài canh giờ sau đã sắp xuống tới chân núi Vân Mộng. Không ngờ hai người vừa ra khỏi khe núi, đã lọt ngay vào tầm mắt của một người đang đứng trên đỉnh núi phía xa.
Chính là Tống Kiển.
Tiểu đồng vác cây phướn xem tướng trên vai đi phía trước, Quỷ Cốc Tử chắp tay sau lưng, thủng thẳng đi theo sau, hai bóng người bước đi chậm rãi vừa hay lọt vào đúng tầm mắt của Tống Kiển. Một lát sau, hai người đã tới ngã ba, tiểu đồng dừng bước, ngoảnh đầu nhìn Quỷ Cốc Tử. Quỷ Cốc Tử chỉ về phía con đường mòn hướng tới Lạc Dương, tiểu đồng bèn cất bước đi về phía tây.
Tống Kiển đã nhìn thấy rõ, vội quay lại, chạy về phía gốc cây, nơi Tuỳ Sào Tử đang ngồi nhắm mắt dưỡng thần, nói: “Bẩm tiên sinh, đúng như dự đoán, Quỷ Cốc tiên sinh đã xuất sơn rồi!”
Tuỳ Sào Tử đứng phắt dậy, hấp tấp leo lên đỉnh núi, đứng trên một tảng đá lớn, nhìn thấy rõ hai bóng người một lớn một bé đang di chuyển trong khe núi tít phía xa, một nụ cười hiếm hoi chợt nở trên khuôn mặt già nua đã phong sương dầu dãi.
Tuỳ Sào Tử vô cùng phấn khởi, song Tống Kiển lại rất đỗi băn khoăn: “Tiên sinh, đệ tử cảm thấy rất nghi hoặc!”
“Nói thử xem!” Tuỳ Sào Tử thu ánh nhìn lại, quay sang Tống Kiển, ôn tồn hỏi.
“Lần trước, tiên sinh đem cả tính mạng ra khẩn cầu mà Quỷ Cốc tiên sinh vẫn không mủi lòng. Lần này, thiên quốc nương nương mới chỉ đưa tới một bức thư mà Quỷ Cốc tiên sinh đã vội vàng xuống núi, đệ tử nghĩ mãi mà không hiểu tại sao.”
Tuỳ Sào Tử mỉm cười nói: “Mỗi chiếc chìa khoá chỉ mở được một ổ khoá mà thôi!”
Tống Kiển vẫn ngơ ngác không hiểu: “Nếu như vậy, Quỷ Cốc tiên sinh xuất sơn, lại không phải vì bách tính trong thiên hạ, mà vì thiên quốc nương nương?”
Tuỳ Sào Tử tựa như đã đoán chắc từ trước, vô cùng phấn chấn, cất giọng sang sảng: “Nương nương là nương nương của bách tính trong thiên hạ, tự nhiên cũng là bách tính trong thiên hạ. Tình cảnh hiện tại của nương nương cũng chính là tình cảnh của bách tính trong thiên hạ. Thiên hạ giống như một mớ bòng bong, nương nương chính là đầu mối của mớ bòng bong đó. Chỉ cần Quỷ Cốc Tử rút lấy đầu mối này, có muốn thoát thân, e rằng cũng khó!”
Tống Kiển hiểu rõ nỗi lao tâm khổ tứ của Tuỳ Sào Tử, không khỏi thán phục, liên tiếp gật đầu. Tuỳ Sào Tử lại ngoảnh đầu nhìn theo hai bóng người một già một trẻ, cho tới khi họ đi khuất hẳn mới quay lại, căn dặn Tống Kiển: “Sự việc đã đến lúc, chúng ta cũng nên đi thôi!”
Tống Kiển do dự một lát: “Vẫn đi Lạc Dương ư?”
“Quỷ Cốc Tử đã lên đường, Lạc Dương không cần chúng ta nữa!” Tuỳ Sào Tử bước lên phía trước, như thể đã trở về hiện thực, trên mặt lại lộ vẻ ưu tư. “Mấy ngày nay không hiểu vì sao, ta thường mơ thấy Bình Dương. Qua cơn thảm sát của người Ngụy, Bình Dương hàng vạn xác chết ngổn ngang, lại gặp đúng mùa nắng dữ, xác chết thối rữa ắt gây chuyện chẳng lành. Ngộ nhỡ hình thành dịch bệnh, người Vệ chẳng phải là đau thương chồng chất đau thương ư?”
Tống Kiển mặt đầy lo lắng, vội vã sải bước theo sau.
Hai thầy trò Quỷ Cốc Tử và tiểu đồng đi đứng thong dong, tới chập tối ngày thứ mười hai thì tới Lạc Dương. Nhìn thấy cổng thành hiện ra trước mặt, Quỷ Cốc Tử dừng bước, khẽ nói: “Tiểu tử, trời tối rồi, chúng ta hãy tìm chỗ nghỉ qua đêm!”
Tiểu đồng đưa mắt nhìn khắp bốn phía, rồi chỉ vào một căn nhà cách đó không xa: “Tiên sinh nhìn xem, đằng kia có nhà dân!” Nói dứt lời, ném ngay cây phướn xuống đất, co cẳng chạy đi, một lát sau quay lại, từ đằng xa vẫy tay rối rít, “tiên sinh mau lên, là một ngôi miếu, có thể dừng chân!”
Quỷ Cốc Tử nhặt cây phướn lên, đi về phía ngôi miếu. Tới trước cửa miếu, Quỷ Cốc Tử ngẩng đầu nhìn, thấy trên khung cửa có viết ba chữ lớn “Miếu Hiên Viên”. Cánh cửa khép hờ. Tiểu đồng gõ cửa, không thấy ai đáp, bèn đẩy cửa ngó đầu nhìn vào, thấy bên trong không một bóng người. Ngôi miếu trông hoang tàn đổ nát, xem ra bị bỏ hoang đã nhiều năm. Quỷ Cốc Tử quan sát kỹ một lượt, rồi nhấc chân bước qua ngưỡng cửa, tiểu đồng theo sát phía sau.
Trong miếu không có điện phụ, chỉ có ba gian chính điện, ở giữa không có tường ngăn, vô cùng trống trải. Hai bên trái phải có hai cột trụ, bên trên gác hai thanh xà lớn. Trong chính điện, sát với tường sau có một pho tượng đất, phía trước bày rất nhiều đồ cúng. Không cần nói cũng biết, chính là tượng Hiên Viên hoàng đế.
Quỷ Cốc Tử dẫn tiểu đồng tới trước tượng Hiên Viên hoàng đế, quỳ xuống lạy ba lạy. Khi quay đầu nhìn lại, tiểu đồng giật mình suýt kêu toáng lên; phía dưới cây cột bên trái, có một người đang ngồi xếp bằng ở đó, đầu cúi thấp. Do trời nhá nhem, lại chưa quan sát kỹ, nên tiểu đồng suýt không nhìn thấy người này. Người này cũng đang bận rộn làm gì đó, không để ý tới hai vị khách không mời mà tới.
Quỷ Cốc Tử nheo mắt nhìn, bên trái, sát với cửa sổ có rải một lớp cỏ khô, bên trên là một manh chiếu lau rách nát, hẳn là người này đã sống ở đây nhiều ngày. Quỷ Cốc Tử nhìn kỹ, thấy hắn tầm hơn hai mươi tuổi, mày rậm, mắt to, ngũ quan đoan chính, thiên đình đầy đặn, khí chính cốt trực, tuy trên mình mặc quần áo vải thô, song không che giấu được tướng quý. Quỷ Cốc Tử mắt bỗng sáng rực, khe khẽ gật gù.
Tiểu đồng nhìn kỹ một lượt, rồi dựng cây phướn phía sau cánh cửa, tìm một cây chổi, đi sang phía cột bên phải, quét sạch khoảnh đất dưới cửa sổ phía đông, nhìn thấy bên ngoài cửa miếu có một đống cỏ, bèn chạy ra ôm về vài bó, trải thành hai chiếc ổ. Quỷ Cốc Tử chậm rãi ngồi xuống lớp cỏ khô, khoanh chân lại, song khoé mắt vẫn liếc nhìn người kia.
Tiểu đồng sau một hồi bận rộn, cuối cùng đã thảnh thơi, lúc này không nén nổi tò mò, rón rén tiến lại gần người kia, ngồi xuống trước mặt hắn. Trời lúc này đã gần như tối hẳn, tiểu đồng giương mắt hết cỡ mới nhìn thấy người kia đang cầm một con dao ngắn, toàn thần chăm chú, đẽo gọt một thanh kiếm gỗ, bên cạnh còn đặt một bao kiếm bằng gỗ và một cái giũa.
Kiếm gỗ vốn là đồ chơi của trẻ nít, nên tiểu đồng trong lòng thích thú, cứ nhìn ngắm mãi, mà người kia vẫn không nói tiếng nào, chỉ chăm chú đẽo gọt. Cuối cùng, không nén được hiếu kỳ, tiểu đồng thò tay ra, với lấy bao kiếm bên cạnh.
Nói thì chậm, làm thì nhanh, người kia lập tức vung tay, thoắt cái đã chộp lấy bao kiếm kéo về, trừng mắt nhìn tiểu đồng. Chợt nhận ra là một đứa trẻ nít, thì nét mặt hơi dịu lại, đặt bao kiếm lên đầu gối, cười với tiều đồng như muốn tạ lỗi, rồi lại tiếp tục đẽo gọt thanh kiếm gỗ.
Phản ứng cực nhanh nhạy của người này khiến tiểu đồng vô cùng kinh ngạc. Thấy hắn cười, tiểu đồng biết hắn không có ác ý, đang muốn hỏi cho ra nhẽ thì ngoài cửa bỗng có tiếng bước chân vọng lại. Một lát sau, lại có người gõ cửa. Tiểu đồng ra mở cửa, nhìn thấy một gã trai hao hao giống với người kia cả về vóc dáng lẫn diện mạo. Gã trai nhìn thấy tiểu đồng, khựng lại một thoáng, nhưng rồi hỏi ngay: “Anh hai của ta đâu?”
Tiểu đồng ngạc nhiên: “Anh hai nào?”
“Có người nói, anh ấy sống ở đây, vậy người đâu rồi?”
Tiểu đồng thấy hắn nói tới tìm người, bèn chỉ vào trong điện: “Bên trong có một người, không biết có phải không.”
Gã trai sải bước tiến vào trong điện, rồi mừng rỡ reo lên: “Anh hai, em tìm anh khắp kinh thành suốt hai hôm nay, chập tối mới nghe nói anh sống ở trong miếu này!”
Người kia không trả lời, cũng chẳng buồn ngẩng đầu, vẫn chăm chú đẽo kiếm gỗ.
“Anh hai, cha gọi anh về nhà ngay! Cha nói, mấy hôm nay lúa lớn nhanh như thổi, cỏ mọc đầy ruộng, bận tối mắt tối mũi, bắt em đi tìm anh về bằng được.”
Người kia vẫn ngồi đẽo kiếm gỗ.
“Trời sắp tối rồi, chúng ta mau về thôi, phải đi hơn hai mươi dặm đấy!”
Người kia vẫn ngồi đẽo kiếm gỗ.
Gã trai tỏ vẻ sốt ruột, ra sức khuyên nhủ: “Anh hai, anh hãy từ bỏ ý nghĩ đó đi! Cha nói rồi, phú quý là tốt, song phú quý không thuộc về hạng người làm ruộng như chúng ta! Người làm ruộng như chúng ta là gì? Là bách tính lầm than, sinh ra đã chịu phận bán mặt cho đất bán lưng cho trời, sao có thể sánh với người phú quý? Cha còn nói, người phú quý từ nhỏ đã học lục nghệ, đọc thi thư, rèn lễ nghĩa. Còn chúng ta thì sao? Từ cha sinh mẹ đẻ, chỉ biết cày ruộng mà thôi!”
Thấy gã trai mới tới một điều cha, hai điều cha, người kia khó chịu ra mặt, lừ mắt nhìn gã trai. Rồi thình lình đứng bật dậy, thu dọn dao, giũa, còn cẩn thận nhét thanh kiếm gỗ vào trong bao kiếm, sải bước ra ngoài cửa.
Gã trai đứng sững một lát, cũng vội vã lao ra khỏi điện, đuổi theo.
Tiểu đồng chạy ra cửa, nhìn thấy hai người một trước một sau đã đi xa, thì quay trở vào trong, cười nói với Quỷ Cốc Tử: “Tiên sinh, quả nhiên dưới núi có lắm người quái lạ! Người kia lớn như vậy rồi mà còn chơi kiếm gỗ. Người em tới tìm, nói thao thao bất tuyệt, mà anh ta không đáp lại lấy một tiếng.”
Quỷ Cốc Tử cười cười, chỉ vào manh chiếu lau của người đó, nói: “Chiếu kia của ngươi, mau ngủ đi!”
***
Ở ngoại ô phía nam thành Lạc Dương, trên cánh đồng, nắng như thiêu đốt, bầu trời không một gợn mây. Giờ đang tháng sáu, lúa mới đâm đã xanh tốt bời bời, che khuất cả gốc rạ lúa mạch.
Trên thửa ruộng, một hàng bốn lưỡi cuốc dài đang tất bật lên xuống. Đứng ở mé trái hàng người là một hán tử tráng kiện tầm năm mươi tuổi, tên gọi Tô Hổ, tiếp đến, lần lượt là ba người con trai của ông ta. Người Chu khi làm việc cũng phân thứ tự lớn nhỏ, hán tử ngay sát Tô Hổ chưa tới ba mươi, là con trai cả của Tô Hổ, tên gọi Tô Lệ. Gã trai kỳ quặc đẽo kiếm gỗ trong miếu thổ địa đứng ở vị trí thứ ba, tên gọi Tô Tần. Còn gã trai đi tìm anh xếp ở cuối hàng, tên là Tô Đại, xem ra vẫn còn trẻ nít, chưa đến tuổi đội mũ.
Hôm nay ông trời thực tàn nhẫn quá lắm, mặt trời mỗi lúc một chói chang, không có lấy một mảy gió. Bốn cha con mồ hôi như tắm, song tám cánh tay vẫn thoăn thoắt lên xuống, hết sức khoẻ khoắn.
Trên người Tô Tần vẫn đeo cây kiếm gỗ, không biết đang nghĩ ngợi gì, thần sắc mỗi lúc một ngẩn ngơ. Bàn tay vừa hạ cuốc, nguyên một đám mạ non lập tức đổ gục, mà bản thân lại không hề hay biết.
Tô Hổ nghe thấy âm thanh khác lạ, liếc mắt nhìn sang, sắc mặt bỗng tối sầm, vội chạy thẳng tới phía sau lưng Tô Tần, cầm nắm mạ lên, vẻ đau xót vô cùng, quay phắt sang nhìn hắn trừng trừng. Tô Tần vẫn không hề phát giác, lại thêm một cuốc, vài khóm mạ non tiếp tục đổ gục.
Tô Hổ càng nhìn càng xót, quay đầu lại trông, thì trong bốn hàng Tô Tần vừa phạt cỏ, cứ cách một quãng lại có dăm cây mạ non gãy gục, trong khi hàng đám cỏ dại vẫn mọc dài trên ruộng. Tô Hổ càng thêm tức giận, cúi xuống quơ lấy vài cây mạ gãy, sầm sầm bước tới trước mặt Tô Tần, vứt toẹt xuống trước lưỡi cuốc của hắn, nghiêm giọng quát: “Tô Tần! Hồn phách bay hết vào nhà xí rồi ư? Ngươi hãy mở mắt ra xem, cỏ thì không phạt, phạt hết cả mạ là sao?”
Tô Tần giật nảy người, nhìn vào những thân mạ gãy, vội vàng đưa ống tay áo lên lau mồ hôi trên trán, vẻ mặt vừa hoảng hốt vừa ân hận. Tô Hổ không nói gì thêm, trừng mắt một cái, rồi quay ngoắt người bước đi, nhổ phì phì liền hai bãi nước bọt lên cán cuốc, tiếp tục cắm cúi cuốc đất.
Tô Tần lúc này mới định thần, chuyên chú vào việc làm cỏ.
Vừa cuốc được vài nhát, trên đường cái quan cách đó khoảng hai dặm đột nhiên cát bụi tung mù. Tô Tần ngẩng đầu nhìn về phía đó, thấy một cỗ xe ngựa đang phi lại. Phía sau xe, còn có hơn chục kỵ sĩ hộ vệ. Nhìn cảnh tượng này, có thể đoán ra, người ngồi trong xe hẳn có địa vị cao sang, chí ít cũng trên bậc đại phu.
Cổ họng Tô Tần bỗng trồi thụt lên xuống vài cái, hai mắt nhìn như hút vào cỗ xe ngựa lẫn trong cát bụi mù mịt.
Tô Đại thấy vậy, lập tức dừng cuốc, chỉ vào cỗ xe, nói với Tô Tần: “Anh hai, anh hiểu nhiều biết rộng, em hỏi anh người trên xe kia là đại phu hay là thượng khanh?”
Tô Tần như thể không nghe thấy, vẫn nhìn không chớp mắt vào con đường phía trước.
Tô Đại tặc lưỡi hai cái, định hỏi thêm nữa, song liếc thấy Tô Hổ đang sầm mặt nhìn lại, thì vội vàng cắm cúi tiếp tục làm việc. Song Tô Tần vẫn chưa hết ngẩn ngơ, tay vẫn nắm chặt cán cuốc, nhưng hai mắt thẫn thờ nhìn về cuối con đường.
Tô Hổ mặt đỏ phừng phừng, mắt nhìn xoáy vào Tô Tần, mấy lần muốn lên tiếng mắng chửi, song lại cố gắng nín nhịn.
Cỗ xe ngựa dần xa khuất, cát bụi cũng tan đi. Tô Tần mặt mày ủ dột, khẽ thở dài một tiếng, lúc này mới nhận ra mình đang nắm chặt cán cuốc trong tay, lại vội vã cắm cúi cuốc cỏ.
Cuốc vừa bổ xuống, lại thấy một đoàn người ngựa rầm rập đi tới từ hướng ngược lại, dẫn đầu là hai cỗ xe tứ mã, phía sau có rất nhiều kỵ sĩ bảo vệ, tiền hô hậu ủng. Từ xa đã nghe thấy tiếng móng ngựa lóc cóc, tiếng bánh xe lộc cộc, cát bụi mù trời, cảnh tượng vô cùng uy vũ.
Trong lòng Tô Tần cũng nhanh chóng hưng phấn theo, hai mắt nhìn không chớp về con đường cái quan, ngón tay phải nhịp lên nhịp xuống liên hồi, nhẩm đếm số kỵ sĩ tuỳ tùng. Mồ hôi ròng ròng từ trên trán chảy xuống, giọt cả vào trong mắt mà cũng chẳng buồn lau.
Mặt Tô Hổ đã tím bầm, hơi thở dồn dập. Tô Đại và Tô Lệ đưa mắt nhìn nhau, hoàng hốt lo sợ, biết rằng trận lôi đình sắp nổ. Duy có Tô Tần không hề hay biết, vẫn chìm đắm trong sự huyên náo trên con đường cái quan.
Tô Hổ sau một hồi nín nhịn, thình lình quát lên như sấm: “Nhìn nhìn nhìn, nhìn gì mà lắm thế? Chỉ là mấy ông quan lớn thôi mà! Nhìn từ nhỏ tới lớn, vẫn chưa chán mắt ư?”
Tô Tần giật bắn mình, lúc này mới nhận ra cha đang giận dữ, vội vã cúi đầu xuống tiếp tục cuốc.
Tô Hổ lại nhổ một bãi nước bọt vào lòng bàn tay, bổ xuống một nhát cuốc thực mạnh, lẩm bẩm một mình, song cũng đủ cho Tô Tần nghe thấy: “Hừm, sinh ra là nông dân, không chịu trồng trọt cấy cày, tối ngày chỉ dán mắt vào ngựa xe sang trọng của quý tộc phú gia, có ấm bụng được không?”
Bốn cha con cuốc cỏ tới tận sẩm tối, Tô Hổ sợ nếu làm nữa sẽ cuốc nhầm vào mạ non, nên mới bảo các con dừng tay ra về.
Tô gia sống ở thôn Hiên Lý tại bờ đông Y Thuỷ, đây là một thôn làng hạng trung có gần trăm hộ sinh sống. Thôn Hiên Lý vốn rất gần vương thành, song ngăn cách bởi Y Thuỷ, lại cách thêm Lạc Thuỷ, nên muốn tới vương thành, phải đi vòng tới bến đò, tính ra cũng đến hơn hai mươi dặm.
Đại viện của Tô gia ở chính giữa thôn Hiên Lý, từ đây đi ra ngoài thôn từ phía nào, khoảng cách cũng gần như nhau. Bốn người Tô Hổ vừa đặt cuốc xuống, Tô Đại đã kéo Tô Tần xuống sông Y Thuỷ tắm gội.
Tô Hổ rửa mặt xong, vừa ngồi xuống dưới gốc cây thường xuân trong viện được một lát, đã đứng bật dậy, bước vào gian chính, dọn dẹp hết các đồ vật tạp nham trên mặt bàn, sau đó xách một thùng nước lại, lấy giẻ lau chùi sạch sẽ mặt bàn. Thu dọn gian nhà chính xong xuôi, lại mang một chiếc ghế đẩu tới đặt ở giữa phòng, đứng lên ghế, với từ trên gác mái xuống một vật được bọc kín trong tấm lụa, cẩn thận gỡ ra, bên trong là một bức hoành phi đề bốn chữ đồng “Thiên đạo thù cần”(6).
Tô Hổ cẩn thận mang bức hoành phi treo lên tường nhà chính, còn lùi lại ngắm nghía chỉnh sửa cho ngay ngắn một hồi, mới gật gù hài lòng. Tiếp đó, lấy từ trong hộc bàn ra một loạt bài vị của liệt tổ liệt tông, sắp xếp đúng theo thứ tự.
Tô Hổ đang bày biện thì vợ là Tô Diêu thị bước vào trong cửa, nhìn thấy vậy thì kinh ngạc kêu lên: “Này ông, hôm nay có phải tết nhất gì đâu, sao lại bày biện như vậy?”
Tô Hổ lừ mắt nhìn vợ, gập ngón giữa lại, gõ cồng cộc xuống mặt bàn mà nói: “Là vì thằng con thứ có lớn mà không có khôn của bà đấy! Tôi đã nhìn thấu tâm tư của nó, nó chẳng hề để tâm gì tới cấy hái trồng trọt!”
Tô Diêu thị cảm thấy có chuyện bất thường, kinh ngạc hỏi: “Này ông nó, ông định làm gì thế?”
Tô Hổ thở phì phì mà nói: “Còn làm gì nữa? Chẳng lẽ lại ăn thịt nó ư? Mấy năm qua đã thử hết cách rồi, vậy mà nó có chịu tỉnh ngộ đâu, người lúc nào cũng ngơ ngơ ngẩn ngẩn. Hôm nay muốn nó quỳ trước bài vị liệt tổ liệt tông, thề độc một tiếng trước bức hoành phi mà thiên tử ban tặng!”
Tô Diêu thị thấy không phải là đánh đập gì, thì yên tâm hẳn, chỉ lẩm bẩm trong miệng: “Đều là cốt nhục nhà ta, thề độc cái gì?”
“Không bắt nó thề độc, nó sẽ không yên phận sống ở nhà này, cũng sẽ không yên phận với công việc đồng áng!”
Tô Diêu thị tán thành: “Được rồi, được rồi, chỉ cần lời thề độc hiệu nghiệm, chúng ta sẽ cảm tạ trời đất!”
Tô Hổ thấy mọi việc đã chuẩn bị hòm hòm, bèn bảo Tô Diêu thị: “Bà đi gọi thằng hai lại đây. À, nhớ bảo thằng cả, thằng ba tới luôn một thể.”
Đúng lúc này, Tô Đại tắm xong trở về, miệng hát nghêu ngao bước vào trong sân. Tô Diêu thị nghe thấy, vội vã bước ra, hỏi khẽ: “Đại Nhi, anh hai con đâu?”
Lúc này Tô Đại mới nhớ ra, khi hai anh em tắm xong, Tô Tần cứ đứng thẫn thờ ở bãi đập lúa phía bắc thôn không chịu về. Nhìn vào gian nhà chính, thấy đèn thắp sáng trưng, bài vị bày la liệt, biết là có chuyện, lập tức lắc đầu nói: “Con tắm xong, quay người lại đã không thấy anh hai đâu nữa!”
Tô Diêu thị kéo Tô Đại lại, thì thầm vào tai cậu ta mấy câu, dặn mau chóng đi gọi Tô Tần về.
Mặt trời đã xuống núi, Tô Tần ngồi xếp bằng trên bãi đập lúa, vẫn chuyên chú đẽo gọt thanh kiếm gỗ. Đẽo gọt một hồi, lại lấy giũa ra mài, sau đó cầm kiếm trên tay, ngắm nghía một lượt, nhét vào bao kiếm, rút ra rút vào mấy lượt, thấy chưa được trơn tru cho lắm, lại lôi ra cắm cúi mài giũa.
Đang chăm chú mài giũa thì Tô Đại bước lại, đứng ở bên cạnh nhìn một lúc rồi nói khẽ: “Anh hai, cha gọi anh về!”
Tô Tần không đếm xỉa tới Tô Đại, vẫn cắm cúi với công việc của mình.
“Cha bái tế tổ tiên ở nhà chính, hình như đang muốn giáo huấn anh! Mẹ dặn em bảo anh hãy nhớ nhận sai, cha nói gì thì cứ nghe thế!”
Tô Tần vẫn mải miết mài giũa, chẳng nói câu nào.
Tô Đại do dự một lúc: “Anh hai, hay là anh trốn đi đâu một thời gian?”
Nghe thấy câu này, Tô Tần giật mình kinh ngạc, rồi cất ngay cây giũa đi, vội vã đứng dậy, đút kiếm gỗ vào trong bao, khoác ngược trên vai.
Thấy Tô Tần đeo kiếm ngược, Tô Đại mấy lần định nhắc, song chẳng hiểu sao cứ thấy nghẹn lời, mãi sau mới nói khẽ: “Anh hai, anh đeo kiếm ngược rồi. Em thấy người ta đeo kiếm đều hướng chuôi lên trên.”
Tô Tần mỉm cười, quay người vái cậu em một vái thật sâu, vẫn đeo ngược kiếm trên lưng, quay người sải bước về phía bến đò. Tô Đại ngẩn ra một lát rồi vội vã đuổi theo, gọi với theo Tô Tần: “Anh hai, nếu em muốn tìm anh, biết tìm ở đâu?”
Tô Tần dừng bước, ngoái nhìn, lại vái một vái nữa, rồi quay người bước đi luôn.
Tô Đại gãi đầu, nhìn theo bóng Tô Tần xa dần, tới khi chìm hẳn vào bóng tối, mới thở dài một tiếng, đi về nhà. Tới trước gian nhà chính, Tô Đại nhìn thấy bài vị của liệt tổ liệt tông sắp xếp ngay ngắn, đồ cúng bày biện tinh tươm, hương cũng đã thắp, Tô Lệ đang quỳ phía dưới. Tô Hổ đứng nơi ngưỡng cửa, hai mắt nhìn chằm chằm ra ngoài, thấy Tô Đại về, bèn lớn giọng hỏi ngay: “Thằng kia đâu?”
Tô Đại cúi đầu đáp: “Con tìm khắp nơi, nhưng không thấy bóng dáng đâu cả!”
Tô Hổ mắt long sòng sọc, quát lớn: “Vùng đất này bé bằng mắt muỗi, nó có chạy đằng trời!” Rồi quay sang Tô Lệ, “Lệ Nhi, mau đi tìm nó về đây cho cha!”
Tô Lệ vội đứng dậy, cùng Tô Đại đi ra khỏi cửa. Hai người tìm khắp một lượt trong thôn, cũng chẳng thấy bóng dáng Tô Tần đâu. Hai người trở về nhà, báo lại với cha. Tô Hổ uất hận không nói nên lời, toàn thân run lên bần bật, giậm chân vài cái, đành phải cất dọn bài vị tổ tiên đi.
Sáng sớm hôm sau, Tô Hổ dậy đi làm đồng, vẫn không thấy Tô Tần đâu, thì hằm hằm hỏi Tô Đại: “Suốt đêm qua nó không về ư?”
Tô Đại lắc đầu nói: “Vâng. Anh hai có lẽ sợ bị mắng, trốn đi đâu ngủ rồi. Hay là chúng ta cứ ra ruộng trước, lát nữa anh hai về, chắc sẽ ra luôn thôi!”
Tô Hổ tức giận song cũng chẳng biết trút vào đâu, quay sang Tô Diêu thị dặn dò: “Đợi lát nữa thằng hai về, bảo nó vẫn ra thửa ruộng phía đông. Hôm nay phải nhanh tay một chút, may ra đến tối mới xong được.”
Tô Diêu thị đáp: “Bố nó yên tâm! Đợi thằng hai về, tôi sẽ bảo nó ra đồng ngay.”
Trên ruộng, ba người Tô Hổ đã cuốc một hồi lâu mà vẫn không thấy Tô Tần. Tô Hổ vô cùng giận dữ, thở phì phì mà nói: “Cả đêm qua trốn lão già này không về nhà, tới giờ vẫn chưa thấy ló mặt, rõ ràng muốn thách thức lão già này đây!”
Tô Đại cắm cuốc xuống, an ủi cha: “Cha ơi, anh hai có hoài bão lớn, thực sự không thích công việc đồng áng, theo con, hay là cứ kệ anh đi. Còn thửa ruộng này, cứ để con và anh cả mỗi người làm cố thêm một lúc, có được không?”
Tô Hổ mặt đằng đằng sát khí, mắt trợn trừng: “Được cái con khỉ!”
Tô Đại vội vàng cúi đầu cuốc cỏ, không dám ho he thêm nửa lời.
Tô Hổ trầm ngâm một lúc, rồi ngẩng lên hỏi: “Thằng oắt kia hẳn là lại tới vương thành rồi! Đại Nhi, mấy hôm trước con có tới vương thành phải không? Cha hỏi, mấy hôm nay trong vương thành có chuyện gì náo nhiệt không?”
Tô Đại suy nghĩ một lát, cười hì hì mà nói: “Quả là có chuyện náo nhiệt đấy. Mấy hôm trước khi ở trong thành, con thấy mọi người đều bàn tán xôn xao chuyện cầu thân công chúa.”
Mấy hôm nay, Tô Hổ chỉ chú tâm tới việc đồng áng, ngoài chuyện này ra, ông chẳng bận tâm tới điều gì khác. Nghe Tô Đại nói vậy, bèn vội vàng hỏi: “Là nhà nào muốn hỏi cưới công chúa?”
“Là Tần Công và Ngụy Hầu. Nghe nói cả hai nhà đều phái sứ thần tới hỏi cưới trưởng công chúa của thiên tử về làm thái tử phi, trong vương thành khắp nơi đều bàn tán xôn xao, đến cả đứa trẻ lên ba cũng biết.”
Tô Hổ lại trầm ngâm suy nghĩ, rồi lẩm bẩm: “Thảo nào thằng oắt kia thất thần như vậy!” Lời nói vừa dứt, trong lòng đột nhiên chùng xuống, tự nhủ thầm, “phải chăng nó đã đến tuổi biết tư tình?”
Tô Hổ suy tư khá lâu, cảm thấy nỗi bực bội như vơi đi phần nào. Nếu đúng như vậy thì hay quá. Có vợ quản, nó sẽ chí thú làm ăn hơn.
Nghĩ tới đây, trong đầu Tô Hổ lập tức loé lên một ý, bèn cắm cuốc xuống ruộng, nói: “Hai con làm tiếp đi, cha phải về nhà một lát!”
Tô Hổ cấp tập bước vào trong sân. Tô Diêu thị vẫn đang đứng đợi ở cửa, nhìn thấy chồng thì vội vàng nói: “Ông nó đấy ư? Tôi vẫn đang đợi đây, có lẽ Tần Nhi cũng sắp về rồi!”
Tô Hổ hổn hển nói: “Không phải đợi nữa. Bà vào chuồng gà vịt, bắt lấy một con gà và một con vịt ra đây!”
Tô Diêu thị ngạc nhiên: “Ông nó làm sao thế? Gà, vịt đều đang đẻ trứng mà!”
Tô Hổ trừng mắt nhìn vợ: “Bảo bà đi thì bà cứ đi, càm ràm cái gì?”
Tô Diêu thị không dám làm trái ý chồng, bèn làu bàu đi ra sân sau, một lát sau đã quay trở lại, một tay xách một con gà, tay kia xách một con vịt, mặt xị xuống tỏ vẻ không vui.
Tô Hổ tìm hai sợi dây, trói chặt chân gà và chân vịt lại, mỗi tay xách một con, đi ra khỏi cổng, loáng cái đã tới trước cánh cổng gỗ nhà bà mối Ma Cô đầu thôn phía tây.
Tô Hổ đứng ngoài cổng, gọi oang oang: “Bà chị ơi, có nhà không?”
Ma Cô nghe tiếng, mặc nguyên tạp dề từ trong bếp chui ra, nhìn thấy Tô Hổ, lập tức mồm miệng liến thoắng: “Sáng sớm nay thấy chim khách kêu ríu rít, nghĩ bụng làm gì có khách nào nhỉ? Thật không ngờ là ông anh đây tới nhà! Mau vào đi!”
Tô Hổ đẩy cửa, bước vào trong sân, đặt gà, vịt xuống đất. Ma Cô liếc mắt nhìn đôi gà vịt, đã hiểu ngay chuyện gì, song vẫn vờ hỏi: “Ông anh này, đang vào mùa bận rộn, ông anh không lo ra đồng làm việc, còn mang mấy thứ này tới chỗ tôi, không biết là có chuyện gì?”
Tô Hổ cười khà khà: “Còn chuyện gì nữa? Biếu bà chị tẩm bổ thôi!”
Ma Cô lập tức hỏi thẳng thừng: “Ông anh ơi, nói thẳng ra đi, là cậu nào?”
“Nhờ cả vào bà chị đấy! Thằng lớn đã lấy vợ rồi, giờ tới thằng hai!”
Ma Cô vừa nghe, vội đứng ngay dậy, xua tay rối rít mà nói: “Ông anh ơi, cặp gà vịt này tôi thực sự không dám nhận đâu, ông anh cứ mang về tự tẩm bổ cho mình đi!”
Tô Hổ ngạc nhiên: “Sao bà chị lại nói thế?”
“Còn sao trăng cái gì?” Ma Cô lập tức tuôn ra một tràng, “nếu là hỏi cưới giúp cậu ba nhà ông anh, tôi một câu cũng không dám chối, nhưng lại là cậu hai. Nói thực, cậu hai nhà ông anh, cả ngày cạy răng không nói một tiếng, đi đường cũng chẳng nhìn ai, từ sáng tới tối tâm trí cứ lơ lửng ngọn cây. Không giấu ông anh, tiếng tăm của cậu hai nhà ông anh đã lưu truyền mười dặm tám thôn, chẳng có cô gái nào chịu lấy đâu! Việc của ông anh lần này, dù tôi có nhận lời giúp, e rằng cũng chẳng nên cơm cháo gì!”
Tô Hổ móc từ trong túi ra vài đồng, dúi vào tay Ma Cô: “Khuê nữ chịu lấy hay không, đều nhờ vào miệng lưỡi ngọc ngà của bà chị cả. Chuyện này, tôi cũng chẳng biết nói sao, đành trông cậy cả vào bà chị!”
Ma Cô nhận tiền, khẽ thở dài một tiếng rồi nói: “Cái tính tôi đây, ngoài miệng nói cứng song lại dễ mủi lòng. Thôi được, hôm nay tôi sẽ nhận giúp ông anh chuyện này!”
Tô Hổ cúi gập người mà vái: “Nhờ cả vào bà chị!”
***
Buổi trưa hôm nay, tiểu đồng vác cây phướn trên vai đi trên phố lớn của vương thành, hai mắt tròn xoe nhìn ngang ngó dọc, ngắm nghía không chán mắt các hàng quán chạy dọc hai bên đường, một lúc lâu sau, bèn kinh ngạc nói với Quỷ Cốc Tử: “Tiên sinh, nhìn kia, chúng ta đã tới vương cung rồi!
Quỷ Cốc Tử nhìn quanh: “Đâu, vương cung ở đâu?”
Tiểu đồng chỉ vào những dãy hàng quán bên đường, hỏi: “Đây không phải là vương cung ư?”
Quỷ Cốc Tử vuốt râu cười vang: “Ha ha, đây mà là vương cung sao?”
Tiểu đồng ngạc nhiên hỏi: “Tiên sinh nhìn đi, những ngôi nhà kia cao to đẹp đẽ, dãy này tiếp dãy kia, còn dài hơn cả sơn động ở Quỷ Cốc của chúng ta, không phải là vương cung thì là cái gì?”
Quỷ Cốc Tử phá lên cười mà nói: “Tiểu tử thật là…”
Tiểu đồng đang định hỏi thêm, bỗng đứng khựng lại. Có một cỗ xe bò đỗ phía trước một cửa hàng gạo, tiểu đồng vừa nhìn thấy gã trai quái lạ từng gặp trong miếu Hiên Viên hai hôm trước đang dỡ gạo xuống khỏi xe cùng với một người khác. Chỉ thấy hắn cõng một bao to tướng trên lưng, sải bước vào trong hàng gạo, một lát sau lại thấy đi ra, tiếp tục vác một bao khác vào bên trong. Tiểu đồng bèn đưa tay chỉ vào Tô Tần, nói khẽ: “Tiên sinh, hãy nhìn con người kỳ quặc kia, anh ta ở đây!”
Quỷ Cốc Tử cũng đã nhận ra, nhìn Tô Tần một lúc, gật gật đầu, quay sang tiểu đồng: “Kỳ là không kỳ, không kỳ là kỳ. Tiểu tử mờ mắt rồi chăng?”
Nghe Quỷ Cốc Tử nói vậy, tiểu đồng càng thấy ngạc nhiên hơn. Tiểu đồng ngẫm nghĩ một lát, lẳng lặng đi sang lề đường, đứng tựa lưng vào một cây du, hai mắt dán chặt vào cửa hàng gạo, nhìn Tô Tần chăm chú, có vẻ rất tò mò với con người này.
Một lát sau, gạo đã được dỡ hết khỏi xe, gã trai kỳ quặc kia, cũng chính là Tô Tần, phủi hai tay, xách chiếc thùng, thoăn thoắt tới bên giếng, múc nước rửa mặt rửa tay, sau đó với lấy quần áo vắt trên bờ tường, mặc vào người, vòng ra trước quầy hàng. Nhìn thấy Tô Tần, ông chủ hàng gạo móc ra một đồng tiền bố, đặt lên trên mặt quầy, gật đầu với hắn. Tô Tần cười hồn hậu, cầm lấy đồng tiền, nhét vào ống tay áo, lại cầm lấy cây kiếm gỗ gác bên cạnh, vòng tay chào ông chủ, rồi chậm rãi bước ra phố.
Một cơn gió mát thổi tới, Tô Tần cảm thấy sảng khoái, bèn đưa tay lên vuốt tóc, phủi một lượt quần áo, ngẩng đầu nhìn mặt trời, đeo ngược kiếm gỗ, đi dọc theo phố lớn.
Nhìn thấy Tô Tần đeo kiếm gỗ ngược, tiểu đồng lại tròn mắt kinh ngạc, quay sang Quỷ Cốc Tử nói: “Tiên sinh, nhìn kìa!”
Quỷ Cốc Tử cười hỏi: “Tiểu tử có muốn tới xem vương cung không?”
Tiểu đồng vội gật lấy gật để, Quỷ Cốc Tử hất hàm về phía Tô Tần: “Vậy thì cứ đi theo hắn!”
Một lúc sau, họ theo Tô Tần tới một nơi, quả nhiên là cổng cao lầu lớn, sừng sững nguy nga, trên mi cửa là hai chữ lớn “Bích Ung”.
Tô Tần có vẻ rất thông thạo đường đi lối lại nơi đây, nhanh chóng xoay người, rẽ vào bên trong. Tiểu đồng vội vã đuổi theo tới cửa, thì không thấy bóng dáng hắn đâu nữa.
Trước cửa không thấy có ai canh gác, thầy trò hai người sải bước vào trong, lúc đi lúc dừng, tựa như đang du lãm.
Bích Ung là nhà Thái học của Đại Chu, được xây dựng sau khi Bình Vương dời đô tới Lạc Dương không lâu, vào thời Xuân Thu là hưng thịnh nhất. Thủ Tàng quán cực thịnh một thời cũng ở trong đây, thủ tàng sứ Lão Đam sống già nửa cuộc đời ở nơi này. Thời đó, sĩ tử, công tử, vương tôn của liệt quốc tới cầu học nhiều không kể xiết, do đông người học nên xin học cũng khó khăn, chứ đâu hoang tàn vắng lặng như hôm nay. Nhìn sâu vào trong, một học cung rộng lớn nhường đó, mà nay quạnh quẽ đìu hiu, cỏ dại um tùm, chỉ còn thấy đại viện tường cao và những toà nhà cổ xưa dãy dãy nối liền là còn gợi lại hồi ức về một thời huy hoàng quá khứ.
Tiểu đồng đã quá quen thuộc với cảnh thê lương lạnh lẽo, cỏ dại um tùm nên không có vẻ gì xót xa thương cảm, vừa bước vào cửa đã ngoảnh nhìn tứ phía, kinh ngạc thốt lên: “Tiên sinh, xem ra vương cung chẳng có gì hay ho cả!”
Quỷ Cốc Tử cười ha hả mà nói: “Tiểu tử, đây cũng không phải là vương cung!”
Tiểu đồng ngạc nhiên tròn mắt: “Không phải vương cung ư? Lại là chỗ nào thế?”
“Là Bích Ung, còn gọi là Thái học!”
“Thái học là thế nào?”
“Thái học ư, chính là nơi công tử vương tôn tu thân học nghệ.”
Tiểu đồng gãi đầu: “Tu thân học nghệ? Thế có giống như sơn cốc của chúng ta không?”
Quỷ Cốc Tử cười nói: “Thua xa!”
Tiểu đồng nghĩ ngợi một lát, gật đầu nói: “Vâng, nhìn của người ta khí thế nhường kia, sơn cốc của chúng ta còn thua xa!”
Quỷ Cốc Tử cười vang mà nói: “Tên tiểu tử này, nếu đã thích khí thế ở đây, thì ở lại đây đi!”
Tiểu đồng lắc đầu.
“Ồ, cớ sao ngươi không ở lại?”
Tiểu đồng nghĩ ngợi một lúc: “Ở đây không có hoa núi, cũng không có bướm bay.”
Quỷ Cốc Tử cười nói: “Tên tiểu tử này, cái đầu nhỏ xíu mà thay đổi cứ xoành xoạch!”
Tiểu đồng cười toe toét. Hai người nói cười một lúc, tiểu đồng chợt hỏi: “Tiên sinh vừa nói tới công tử vương tôn, sao không thấy đâu?”
Quỷ Cốc Tử chỉ tay về phía cách đó chừng trăm bước, nói: “Chính là nơi đó!”
Tiểu đồng nhìn theo hướng tay chỉ của Quỷ Cốc Tử, thấy Tô Tần đang ngồi xếp bằng dưới chân tường của một gian nhà, hai mắt nhắm lại, thần trí mê mẩn, dường như đang lắng nghe gì đó, vừa nghe vừa nâng hai tay ra trước mặt, tựa như gảy đàn, đầu còn lắc lư, trông rất nhập tâm.
Tiểu đồng chăm chú quan sát, rồi nghi hoặc hỏi: “Công tử vương tôn mà tiên sinh vừa nói tới, chính là con người kỳ quặc kia ư?”
Quỷ Cốc Tử cười cười, chỉ vào gốc cây to bên cạnh: “Ngồi xuống hóng mát đã, đợi lát nữa ngươi sẽ biết!”
Tiểu đồng “vâng” một tiếng, dựng cây phướn vào thân cây rồi ngồi xuống.
Quả nhiên, chỉ một lát sau, từ trong gian nhà mà Tô Tần đang ngồi dựa lưng vào, bỗng thấy vọng ra tiếng đàn, du dương trầm bổng, dìu dặt miên man. Tiểu đồng cũng hiểu âm luật, tiếng đàn vừa vọng lại, đã khép hờ hai mắt, chăm chú lắng nghe. Đây là khúc Cao sơn của Bá Nha, cũng là khúc nhạc mà tiểu đồng rất thông thuộc.
Khúc nhạc vừa dứt, Quỷ Cốc Tử khẽ gật đầu, lẩm bẩm như tự nhủ: “Ồ, có tiến bộ nhiều!”
Tiểu đồng ngơ ngác: “Tiên sinh, cái gì mà tiến bộ nhiều?”
“Chính là người gảy đàn! Ngươi cảm thấy người đó gảy đàn thế nào?”
“Còn thua xa tiên sinh!”
Quỷ Cốc Tử mỉm cười: “Ồ, ngươi thử nói xem, có chỗ nào không bằng ta?”
“Nghe tiếng đàn của ông ta, tiểu đồng chỉ thấy chim chóc, nước chảy, gió mát, cây cối, song không ngửi thấy hương hoa, không nhìn thấy bướm lượn!”
Quỷ Cốc Tử gật đầu: “Ngươi nói đúng đấy! Có điều, ông ta gảy đàn được như thế này đã là không hổ thẹn với ta rồi!”
Tiểu đồng có vẻ đã hiểu ra: “Tiên sinh quen người gảy đàn ư?”
“Đúng vậy!” Quỷ Cốc Tử từ tốn nói, “mấy năm về trước, ông ta đã vài lần lên núi, bái ta học cầm nghệ.”
Tiểu đồng vô cùng ngạc nhiên: “Tiên sinh không nhận ông ta làm đồ đệ ư?”
Quỷ Cốc Tử gật đầu: “Có nhận…”
“Vậy…” Tiểu đồng càng kinh ngạc, “vì sao ông ta không ở trong núi?”
“Cũng không nhận!”
Tiểu đồng sửng sốt: “Lúc thì tiên sinh bảo nhận, lúc lại bảo không nhận, chẳng phải là muốn tiểu đồng rối trí ư?”
Quỷ Cốc Tử cười vang, từ từ khép mắt lại.
Trong nhà Thái học mênh mông quạnh quẽ, cầm thất có lẽ là nơi duy nhất còn có hơi người, bởi lẽ cầm sư trong cung đình đang dạy hơn chục học trò gảy đàn. Đám học trò ngồi dưới chiếu, trước mặt mỗi người đều bày một cây đàn, trên giá đàn bày cầm phổ. Trương Nghi từ Trương Ấp, Hà Tây tới đây học nghệ, đang ngồi ở hàng cuối cùng, hai mắt dán chặt vào vị cầm sư nghe nói là thầy dạy đàn giỏi nhất trong thiên hạ.
Cầm sư đánh xong bản Cao sơn, nhẹ nhàng đẩy đàn lên phía trước, khép hai mắt lại, nói: “Người giỏi đàn thuở xưa có Bá Nha, có Tử Kỳ, có Chung Nghi, có Sư Khoáng. Khúc nhạc cổ có Cao sơn, có Dương xuân, có Bạch tuyết. Khúc lão hủ vừa gảy, chính là bản Cao sơn của Bá Nha…”
Cầm sư giảng giải một hồi, các học trò bắt đầu thấy chán, ngả ngốn xiêu vẹo, mắt lim dim buồn ngủ. Cầm sư dừng lại, đặng hắng một tiếng, thở dài thườn thượt, chậm rãi nói: “Các trò không muốn nghe thì tự tập đi! Hãy đặt cầm phổ lên giá, luyện khúc Cao sơn!”
Các học trò người lôi kẻ đẩy, theo nhau ngồi thẳng dậy, hai tay gảy đàn, mỗi người một phách, tiếng đàn rối loạn không ra thể thống gì. Chỉ có Trương Nghi ngồi ngay ngắn, im lặng không động chân tay.
Cầm sư nghe một lúc, lại thở dài thườn thượt, nói: “Trời ơi, các ngươi khác gì gỗ mục, không thể chạm khắc!”
Trương Nghi đột nhiên cười phì một tiếng.
Cầm sư kinh ngạc, nhìn về phía Trương Nghi: “Cớ sao trò lại cười?”
Trương Nghi dõng dạc nói: “Khúc Cao sơn của Bá Nha, vãn sinh năm bảy tuổi đã thuộc làu, muốn tiên sinh dạy cho nhã khúc khác!”
Đám học trò nghe vậy, thảy đều phấn chấn, đồng thanh cười rộ lên.
Cầm sư lắp bắp: “Trò… trò, trò, trò ăn nói thực quá ngông cuồng… Trò hãy thử đánh xem!”
Trương Nghi hai tay đặt xuống dây đàn, tiếng đàn lập tức ngân nga, quả nhiên âm vận đều đủ, chẳng khác chút nào so với cầm phổ, thật không có gì chê trách. Cầm sư trong lòng kinh ngạc, nghĩ ngợi một lát, lớn tiếng nói: “Để ta gảy thêm khúc nữa, trò hãy tạm nghe!”
Cầm sư gảy thêm một khúc, tiếng nhạc vừa dứt, Trương Nghi đã mở miệng nói ngay: “Đây là khúc Tưu thao, do đại nho Trọng Ni thời Xuân Thu sáng tác. Tiên sinh đổi khúc khác đi!”
Cầm sư suy nghĩ một lúc, lại gảy một khúc nhạc khác, vừa gảy được vài tiếng, Trương Nghi đã nói: “Đây là Thái Công thuỳ điếu của Chu Công Đán. Tiên sinh đổi khúc khác đi!”
Cầm sư không ngờ trong số những kẻ tầm thường kia vẫn có người tài giỏi, ngạc nhiên đến sửng sốt, thành ra cứ ngồi thần tại chỗ. Đám học trò cho rằng thầy đã hết bài, nhao nhao nói: “Tiên sinh, nghe nói tiên sinh là thiên hạ đệ nhất cầm sư, sao không gảy nữa?”
“Tiên sinh gảy tiếp đi, trò đang đợi đây!”
Cầm sư mặt đỏ bừng, đang nghĩ cách ứng phó, đột nhiên, Trương Nghi dường như nghe thấy gì đó, “suỵt” khẽ một tiếng, đưa tay ra hiệu. Đám học trò lập tức quay cả sang nhìn Trương Nghi, thấy hắn rón ra rón rén tới bên bức tường phía sau, vớ lấy một bó thẻ tre, lẹ làng đến sát cửa sổ, thình lình ném mạnh ra ngoài.
Bó thẻ tre vừa hay đập trúng đầu Tô Tần. Tô Tần bất ngờ không kịp đề phòng, ôm đầu hét toáng lên: “Ái chà!”
Có học trò nghe thấy tiếng kêu, hào hứng la lên: “Mau lại đây, bên ngoài có người!”
Đám học trò xô đổ cả giá đàn, tranh nhau chạy ra phía cửa. Tô Tần còn chưa kịp chạy, đám đông đã ào hết ra khỏi phòng. Tô Tần đứng ngây tại chỗ, đau cũng không dám kêu, chỉ biết cúi đầu ngồi yên.
Một trò có lẽ là cầm đầu, bước lên một bước, cất giọng hách dịch: “Ngươi từ đâu đến, sao dám ngồi đây nghe lén?”
Tô Tần kinh hãi lắp bắp: “Tôi… tôi… tôi…”
Đám học trò vẻ khoái chí, cười ầm lên.
Có kẻ nói: “Nhìn vẻ lam lũ quê mùa của hắn kìa! Nhìn đôi tay của hắn nữa, xù xì thô kệch thế kia, vậy mà cũng muốn học cầm nghệ!”
Lại có người chế nhạo: “Nhìn qua là biết dân làm ruộng chạy tới đây học đàn, đúng là cóc ghẻ mà đòi ăn thịt thiên nga, ha ha ha…”
Tô Tần không cam tâm chịu nhục, ngẩng đầu lên, mặt hằm hằm, gằn từng tiếng một: “Kẻ sĩ có… có thể giết… không… không thể… chịu nhục!”
Gã học trò cầm đầu vẻ như phát hiện ra điều gì thú vị, kinh ngạc kêu lên: “Nghe kìa, là một tên nói lắp!”
Có người phụ họa theo: “Đúng là tên nói lắp! Ha ha, một tên nông dân nói lắp lại đòi tự xưng là kẻ sĩ, đúng là không biết mình là ai!”
Đám học trò mồm năm miệng mười, hùa nhau chê bai dè bỉu.
“Nhìn cái bản mặt lơ ngơ của hắn kìa! Có làm thư đồng không công cho ta, ta cũng cóc thèm!”
“Tên nghèo hèn mạt rệp kia, hãy mở to mắt mà nhìn, đây là Thái học của thiên tử, không phải là nơi dành cho những kẻ mạt hạng như ngươi ra vào.”
Tô Tần cũng hiểu rõ nơi này không thể cãi liều, chỉ biết cúi gằm mặt, mặc cho đám học trò kia giễu cợt, không hé răng lấy một tiếng. Gã học trò cầm đầu nổi tính ngang tàng, chợt dạng hai chân ra, quát: “Này tên tiểu tử thối tha kia, bản thiếu gia có tiền, chỉ cần ngươi chịu chui qua đũng quần của bản thiếu gia, ta sẽ cho ngươi tiền học phí, ngươi có thể đường hoàng ngồi học trong học đường.”
Có người hùa theo: “Chui qua đi! Tiểu tử thối! Nếu ngươi chịu chui qua thì ta cũng sẽ cho ngươi một lượng vàng. Chui đi!”
Đám học trò đua nhau la ó, giục Tô Tần luồn qua đũng quần, song Tô Tần chỉ càng cúi đầu thấp hơn.
Không biết là kẻ nào cất lời xúi giục: “Tiểu tử thối không chịu nể mặt, đánh đi!”
“Phải đấy, không chui thì đánh! Nghe nhạc không mất tiền, trong thiên hạ này làm gì có chuyện cho không như vậy? Chui mau!”
Cầm sư cuống quýt đi lại quanh đám học trò, vung tay nói lớn: “Đám trò hư đốn kia, thật chẳng ra thể thống gì? Mau vào lớp!”
Trương Nghi nhìn thấy đám học trò có phần quá đáng, cũng lớn tiếng nói: “Đủ rồi đủ rồi, các vị nhân huynh, kẻ này là một tên khờ, thôi tha cho hắn lần này, để hắn cuốn xéo đi!”
Gã cầm đầu quay sang Trương Nghi nói: “Trương huynh, đừng làm mất hứng! Bản thiếu gia hứng thú đang lên, hôm nay không bắt tên tiểu tử thối kia luồn qua đũng quần, bản thiếu gia sẽ bắt Trương huynh chui qua đấy!”
Tiếng cười càng to hơn.
Cả đám công tử bột cười nhăn nhở vây kín lấy Tô Tần. Mặt Tô Tần dẫn dần chuyển từ xanh sang đỏ, môi run rẩy không nói nên lời, xấu hổ, tức giận, sợ hãi đan xen, chỉ biết co rúm người lại, nép sát vào tường.
Trương Nghi liếc thấy thanh kiếm gỗ bên chân Tô Tần, nhanh như sóc đưa tay nhặt lấy, rút kiếm khỏi bao, nói lớn: “Mọi người nhìn này, đây là thứ gì?”
Đám học trò nhìn thấy thanh kiếm gỗ, cười ồ cả lên. Có kẻ giật lấy thanh kiếm gỗ từ tay Trương Nghi, khua khoắng vài đường, kêu ré lên: “Hay quá, thú vị quá!”
Gã cầm đầu giật lấy thanh kiếm, lắc lắc trên tay rồi cười toáng lên: “Đây mà cũng gọi là kiếm sao? Khúc củi vứt đi này, tại hạ ấn khẽ là gãy đôi! Anh em nhìn đây!”
Thấy gã học trò nói muốn bẻ gãy kiếm yêu, Tô Tần lập tức lao vọt lại, xông thẳng vào hắn như con sói đói, xô hắn ngã lăn xuống đất, bẻ ngoặt cánh tay, cướp lại thanh kiếm gỗ. Gã học trò thẹn quá hoá giận, lăn đi một vòng, lật mình bật dậy, gầm lên một tiếng xông vào Tô Tần. Tô Tần không kịp né tránh, bị hắn xô ngã bổ chửng. Cả đám học trò đồng loạt ào tới, đè cứng Tô Tần dưới đất.
Loáng cái, Tô Tần đã bị chúng giữ chặt tay chân. Gã học trò cầm đầu cướp lại thanh kiếm gỗ, thở hổn hển, tung chân đá đạp Tô Tần túi bụi, miệng chửi rống lên: “Tên quê mùa thối tha, dám hỗn xược với bản thiếu gia ư? Các anh em, hôm nay thiếu gia không bắt hắn chui qua đũng quần nữa, có trò mới hay hơn nhiều!”
Có người hưởng ứng: “Nhân huynh mau nói, chúng tôi đều nghe huynh!”
“Chẳng phải hắn coi thanh kiếm giẻ rách này là bảo bối sao? Chúng ta sẽ cho hắn thoả nguyện! Anh em giữ chặt lấy hắn, xem tại hạ cho hắn đeo kiếm!”
Mấy gã học trò lập tức giữ chặt lấy Tô Tần, gã cầm đầu tháo bỏ thắt lưng trên người Tô Tần, rồi bẻ quặt hai tay Tô Tần ra phía sau, dùng thắt lưng trói chặt hai tay vào kiếm gỗ. Tô Tần đau đớn, mồ hôi vã ra đầy trán, song vẫn cắn chặt răng, mắt trợn trừng giận dữ.
Gã cầm đầu cho Tô Tần cõng kiếm, chỉ huy đám học trò đứng thành vòng tròn, miệng hô lớn, rồi đẩy Tô Tần về phía gã học trò đối diện. Mỗi tiếng hô cất lên, Tô Tần lại bị đẩy sang một người. Tô Tần hai tay bị đám học trò trói giật cánh khuỷu ra phía sau, hết đẩy sang bên này lại đẩy sang bên kia, đứng không được, ngã cũng chẳng xong. Đám học trò khoái chí, cười lên sằng sặc.
Cầm sư chưa từng nhìn thấy cảnh tượng quá quắt thế này, giận run cả người, đứng ở một bên, giậm chân quát lớn: “Đám trò hư đốn kia, thật chẳng ra thể thống gì! Chẳng ra thể thống gì! Trời ơi…”