Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 59
Dứt duyên cũ, Ngụy Chương quyết chí đầu quân
Mở liên hoành, Trương Nghi tiến binh đường Thục

❊ ❊ ❊

Đúng vào lúc Khai Minh Vương ban chiếu phế bỏ phong hiệu Thư Hầu, khởi binh toàn quốc, sát khí đằng đằng tiến về đất Thư, ứng cứu vương phi, thì Tần đô Hàm Dương vẫn giống như ngày thường, không thấy bất cứ điều gì khác lạ.

Trong những người đang ở thành Hàm Dương, người chán chường nhất chính là công tử Ngang. Từ sau khi Trần Chẩn ra đi, công tử Ngang nghe theo lời ông ta, đổi tên thành Ngụy Chương, mấy lần mang thư cầu kiến Tử Vân công chúa, nhưng đều bị chặn ngay ngoài cổng. Không còn cách nào khác, công tử Ngang đành phải đến phủ thái phó cầu kiến Doanh Kiền.

Từ sau khi Trần Chẩn ra đi, chứng nghễnh ngãng của Doanh Kiền càng thêm trầm trọng, người cũng lú lẫn hơn nhiều. Trước đây Trần Chẩn từng dẫn công tử Ngang đến phủ thái phó, theo lý mà nói đã là người quen, nhưng lão thái phó lúc này lại nghe không rõ công tử Ngang nói những gì, cũng chẳng nhớ hắn là ai. Công tử Ngang uổng công giải thích một thôi một hồi, cuối cùng chỉ biết cười gượng một tiếng, từ biệt quản gia, sượng sùng ra về.

Trở về đến phủ, công tử Ngang nghĩ trước nghĩ sau, càng nghĩ càng thấy thê lương chán nản. Nhìn khắp nước Tần, không có lấy một ai để trò chuyện. Là hàng tướng nước Ngụy, đám đại phu nước Tần dường như chẳng ai coi hắn ra gì, chỉ có Sư Lý Tật thi thoảng đến ngó hắn một cái, song gặp mặt cũng chẳng có gì để chuyện trò. Tần vương dường như đã quên bẵng hắn, cho đến nay vẫn chưa cho hắn một danh phận. Mọi người ai cũng bận rộn với việc của mình, chỉ có hắn cả ngày từ sáng đến tối ngồi không, chẳng có việc gì làm. Mặc dù nói Trần Chẩn đã để lại nền móng dầy dặn, tạm thời không phải lo chuyện ăn mặc, nhưng với một kẻ bản tính hiếu động như hắn mà giờ đây, thậm chí không cả được lên triều, khiến hắn buồn bực khôn tả. Có khi khổ sở đến cực độ, công tử Ngang thậm chí đã nghĩ đến chuyện vung kiếm tự vẫn. Song lại vì thời đã qua thế đã đổi, huyết khí giờ đã tiêu tan, lúc này, cho dù hắn vẫn có thể kề kiếm lên cổ, nhưng lại không khởi lên được cái dũng khí để nhắm mắt vung tay.

Cứ thế trầm uất liền mấy ngày trời, hôm nay trên phố, công tử Ngang ngẫu nhiên gặp Trương Nghi đang trên xe về phủ, bỗng sực nhớ đến lời Trần Chẩn, lập tức tinh thần phấn chấn, bám theo phía sau.

“Chúa công, Ngụy Chương cầu kiến!” Tiểu Thuận bước vào bẩm báo.

“Ngụy Chương?” Trương Nghi ngạc nhiên. “Người này là ai?”

“Chính là cái tên tướng quân bị thịt đó, công tử Ngang, bị người của chúng ta bắt sống bên bờ Lạc Thủy, sau đó đầu hàng, hiện ở trong phủ của Trần Chẩn, vì sợ mất mặt nên đã đổi tên, gọi là Ngụy Chương.”

Đôi mày của Trương Nghi chau tít lại.

“Chúa công, nhớ năm xưa, chính là kẻ này đã đánh mất Hà Tây. Hắn chính là nguồn gốc gây ra tai họa cho nhà chúng ta. Giờ hắn tìm đến cửa, chúng ta không thể bỏ qua được, phải cho hắn nhục mặt một phen.”

“Ngươi muốn làm nhục hắn thế nào?”

“Chỉ cần chúa công gật đầu là được, còn làm nhục như thế nào, Tiểu Thuận tự có cách!”

“Đừng úp mở nữa, nói đi!”

“Chúa công!” Tiểu Thuận xích lại gần, hạ thấp giọng. “Nghe nói kẻ này năm xưa đã cưới Tử Vân công chúa, sau khi Hà Tây thất thủ, hắn không màng đến công chúa, một mình lo chạy tháo thân. Giờ này hắn thất bại đầu hàng, mới lại nhớ tới công chúa, mấy lần đến cửa, muốn hàn gắn duyên xưa, nhưng công chúa còn không cho phép hắn bước qua cánh cổng. Tiểu Thuận đã nghĩ kỹ rồi, hãy lấy việc này ra để làm nhục hắn, xem hắn biết giấu mặt vào đâu!”

Nghe thấy bốn chữ “Tử Vân công chúa”, Trương Nghi mừng thầm trong bụng, rồi lừ mắt nhìn Tiểu Thuận một cái, cốc vào đầu gã mà mắng: “Tiểu tử thối, chỉ giỏi nghĩ ra mấy trò quái đản, chắc ngươi không cần cái đầu này nữa ư?”

“Chúa công!” Tiểu Thuận cuống quýt.

“Chúa cái đầu nhà ngươi! Đi mau, vương thân quốc thích giá lâm, phải tiếp đãi trọng hậu. Trước tiên hãy mời đến phòng khách, giờ chúa công ngươi sẽ đi thay y phục để tiếp khách!”

Thấy Trương Nghi nói muốn thay y phục để tiếp đón, Tiểu Thuận không còn dám nhiều lời, chỉ tặc lưỡi vài cái rồi vội vàng chạy đi.

Trương Nghi vào nhà sau, thay triều phục ra, mặc vào trang phục thường ngày, nhanh chóng đi đến phòng khách. Công tử Ngang khom lưng chào đón, rồi vòng tay nói: “Tại hạ Ngụy Chương xin chào tướng quốc đại nhân.”

“Trương Nghi xin chào An Quốc Quân!” Trương Nghi cũng vái đáp lễ.

Công tử Ngang mặt đỏ bừng: “An Quốc Quân đã chết trận từ lâu rồi, giờ tại hạ là kẻ thất chí Ngụy Chương.”

“Than ôi!” Trương Nghi thở dài một tiếng, rồi khẽ gật đầu, chỉ tay vào chiếu dành cho khách. “Ngụy Chương huynh, mời!”

“Tạ ơn đại nhân đã ban ngồi!” Công tử Ngang ngồi xuống, Trương Nghi cũng ngồi vào chiếu chủ. Tiểu Thuận rót trà xong, thấy Trương Nghi ra hiệu, liền lặng lẽ lui ra.

“Ngụy huynh, mời dùng trà!” Trương Nghi nâng chén trà lên, cung kính mời.

Công tử Ngang nhìn chén trà, rồi bật ra một tiếng thở dài.

“Nhìn khí sắc của Ngụy huynh, dường như có tâm sự. Dám hỏi Ngụy huynh, tại hạ có thể giúp được gì chăng?”

“Đa tạ đại nhân hậu ái!” Công tử Ngang vòng tay đáp. “Không giấu đại nhân, lần này tại hạ đến đây, thực sự là vì đã đến bước đường cùng!”

“Ồ?” Trương Nghi ngả người về trước, ánh mắt ân cần.

Công tử Ngang cũng không khách sáo, kể lại cặn kẽ về tình cảnh khốn quẫn gần đây, rồi đưa ánh mắt khẩn cầu nhìn chằm chằm vào Trương Nghi.

Trương Nghi bật cười mấy tiếng: “Ngụy huynh đã lo nghĩ thái quá rồi. Chỉ mới hôm qua, Sư Lý huynh vẫn còn nói chuyện với tại hạ về Ngụy huynh đấy!”

“Than ôi!” công tử Ngang lại thở dài sườn sượt. “Kẻ vô dụng này không đáng để nhắc tới.”

“Ngụy huynh sai rồi!” Trương Nghi lắc đầu. “Nghe Sư Lý huynh nói, lần này sáu nước phạt Tần, mấy lộ kỳ binh của Bàng Quyên đều quăng giáp bỏ mũ mà tháo chạy, riêng chỉ có Ngụy huynh là quét ngang Hà Tây, đánh cho Ngô Thanh không còn hơi sức chống đỡ. Nhìn khắp trận chiến Hà Tây, cho dù về chiến lược hay chiến thuật, Ngụy huynh cũng đều không có chỗ nào sơ hở, nếu không phải là Bàng Quyên bại ở phía bắc, Ngụy huynh chắc chắn sẽ thu phục được Hà Tây, lưu danh sử sách!”

Đây là lời nói ấm lòng duy nhất mà công tử Ngang được nghe trong những ngày này, hơn nữa lại được nói ra từ miệng sĩ tử Quỷ Cốc nức tiếng thiên hạ Trương Nghi, khiến công tử Ngang vô cùng cảm động, vòng tay bật khóc mà nói: “Tướng bại trận, không còn lời nào để nói, đa tạ đại nhân đã an ủi!”

“Không phải tại hạ an ủi!” Trương Nghi cất giọng chân thành. “Ngụy huynh có biết, từ Ninh Tần đến Lạc Thủy, Ngụy huynh thân đi trước sĩ tốt, xung phong trận tiền, nhưng tại sao lại không tổn thương đến một sợi tóc? Trên cầu băng ở Lạc Thủy, cả hai mươi tráng sĩ đều trúng tên tử nạn, tại sao chỉ có một mình Ngụy huynh hiên ngang đứng vững? Ngụy huynh dùng sức một người, cầm thương xông thẳng vào trận quân Tần, tả xung hữu đột, khiến người Tần kẻ chết người bị thương la liệt, tại sao không một ai chạm đến người Ngụy huynh? Ngụy huynh rút kiếm tự vẫn, xả thân vì nghĩa, tại sao lại…”

“Là bởi tại hạ nghe thấy lời của Sư Lý đại nhân, nhất thời phân tâm, nên bị người Tần tập kích…”

“Không đúng, không đúng!” Trương Nghi lại lắc đầu. “Theo lời kể của Sư Lý huynh, không phải tại Ngụy huynh nhất thời phân tâm, mà là vì Tần vương có chỉ, kẻ nào làm tổn thương đến Ngụy huynh, kẻ nào ngăn chặn Ngụy huynh sẽ bị chém đầu!”

Công tử Ngang hít vào một hơi dài.

“Ngụy huynh có biết tại sao Tần vương lại không muốn Ngụy huynh tuẫn thân vì nước không?”

“Ông ta muốn làm nhục tại hạ!”

“Không đúng, không đúng!” Trương Nghi liên tiếp xua tay. “Tần vương hạ chỉ ý này, có hai nguyên nhân. Thứ nhất, do Ngụy huynh là tướng tài, điều này huynh có thể không tin. Thứ hai, Ngụy huynh vốn là quốc thích của nước Tần, đại vương thực không nhẫn tâm thấy em gái mình còn trẻ tuổi mà đã phải sống đời goá bụa!”

Câu phía sau đã đánh trúng chỗ đau, công tử Ngang cúi gằm mặt, hồi lâu vẫn không lên tiếng.

“Ngụy huynh?”

“Không giấu đại nhân,” Công tử Ngang ngẩng đầu lên, nước mắt đầm đìa, “tại hạ đã khẩn cầu công chúa, nhưng nàng ấy… từ chối không gặp.”

“Than ôi!” Trương Nghi cố tình thở dài một tiếng. “Chuyện này cũng không thể trách công chúa. Lúc đầu, công chúa bị coi là món hàng mà gả cho Ngụy huynh, chứ không phải do công chúa tình nguyện. Hơn nữa, Ngụy huynh bại trận ở Hà Tây, công chúa lạc giữa loạn quân, suýt chút nữa thì uổng mạng, trong thời khắc quan trọng ấy, Ngụy huynh lại chẳng ta tay ứng cứu, công chúa đương nhiên cũng thấy oán hận trong lòng.”

“Đúng vậy!” Công tử Ngang gật đầu. “Tại hạ có lỗi với nàng ấy, thế nhưng hiện giờ…”

“Ngụy huynh đừng buồn. Thường có câu, xuất giá tòng phu, công chúa và Ngụy huynh đã nên nghĩa phu thê, công chúa không thể không thừa nhận. Liệt quốc thiên hạ đều biết công chúa là phu nhân của Ngụy huynh, Ngụy huynh lại ở bên cạnh công chúa, công chúa càng không thể không thừa nhận. Nhìn thái độ của công chúa hiện giờ, lại cho thấy công chúa vẫn nhớ đến Ngụy huynh, chỉ là vẫn còn sĩ diện mà thôi. Chỉ cần Ngụy huynh thành tâm với công chúa, thiết nghĩ công chúa sẽ…”

“Không giấu Trương huynh,” công tử Ngang trầm tư hồi lâu, rồi chuyển sang chuyện khác, “chuyện giữa tại hạ và Tử Vân, người khác dù sao cũng chỉ là suy đoán. Từ khi nàng ấy được gả cho tại hạ, chưa từng có một ngày vui vẻ. Tại hạ phong hoa tuyết nguyệt quen thói, bên cạnh chẳng thiếu đàn bà, lấy nàng ấy chẳng qua cũng chỉ là lấy vì danh phận. Tử Vân có thái độ đó, tại hạ không hề trách nàng. Tử Vân không yêu tại hạ, tại hạ cũng chẳng bận tâm.”

“Vậy…” Trương Nghi trong lòng giật thột. “Ngụy huynh đã không bận tâm đến điều này, vậy thì bận tâm đến điều gì?”

“Than ôi!” Công tử Ngang thở dài một tiếng. “Điều tại hạ bận tâm là đời này sống uổng sống hoài, chưa từng thoả nguyện, sống thật tủi nhục!”

“Ồ?” Trương Nghi kinh ngạc. “Dám hỏi Ngụy huynh, cớ sao lại nói là sống tủi nhục?”

“Tại hạ từ nhỏ đã đọc binh thư, sớm rèn võ nghệ, đời này sảng khoái nhất chính là chém giết nơi sa trường. Tuy nhiên, tại hạ xuất thân từ cung thất, được phụ vương nuông chiều, vậy nên kiêu căng tự phụ, đã vô dụng lại hám hư danh. Giao chiến với Tần, đánh mất Hà Tây; giao chiến với Tề, ba trận đều bại, tướng sĩ quay lưng, may mà gặp được Bàng tướng quân xoay làn sóng dữ, khiến tại hạ có chút tỉnh ngộ. Sau lại theo Tô Tần hợp tung, học được thêm nhiều kiến thức, quay đầu nhìn lại những ngày trước đây, tựa như đã cách một đời. Đáng tiếc, trời không thương người, khó khăn lắm mới có được cơ duyên sửa chữa sai lầm, vậy mà…” Công tử Ngang nói đến đây, lại nghẹn ngào rơi lệ.

Trương Nghi không thể ngờ được công tử Ngang lại có tâm sự này, nhìn sững vào hắn một lúc, rồi vòng tay nói: “Lần này Ngụy huynh đến, là muốn tại hạ làm việc gì?”

“Tại hạ chí tại chém giết chốn sa trường, mong đại nhân tác thành!”

Trương Nghi do dự một lát: “Mong cầu của Ngụy huynh, tại hạ e rằng có lòng mà không giúp được.”

“Trương huynh?” Công tử Ngang hốt hoảng.

“Tuy nhiên, tại hạ có một kế, may ra có thể giúp được Ngụy huynh!”

“Trương huynh mau nói!”

“Ngày mai tại hạ sẽ dẫn Ngụy huynh đến yết kiến đại vương, Ngụy huynh hãy bày tỏ nỗi nhớ thương của mình đối với công chúa trước mặt đại vương, khẩn cầu đại vương tác thành. Tại hạ sẽ lựa tình hình mà nói giúp. Nếu đại vương ra mặt, Ngụy huynh chắc chắn sẽ được như ý. Chỉ cần Ngụy huynh có được một danh phận trong triều, với sức của nước Tần, Ngụy huynh ắt sẽ có chỗ để thi triển tài lược, tung hoành liệt quốc, lưu danh sử xanh!”

“Đa tạ đại nhân tác thành!”

Ngày hôm sau, Trương Nghi y theo lời hẹn, dẫn công tử Ngang vào cung yết kiến.

Nghe nói công tử Ngang yết kiến, Tần vương ra tận ngoài điện nghênh đón, ngắm nghía hồi lâu, rồi khẽ gật đầu nói: “Nhìn gần, tướng quân quả nhiên là anh tuấn uy vũ. Nghe Trương ái khanh nói, tướng quân đã đổi tên thành Ngụy Chương, thật là việc tốt.”

“Ngụy Chương đa tạ đại vương định tên!” Công tử Ngang vòng tay nói.

Tần vương chỉ vào Trương Nghi: “Trương ái khanh có thể gọi là đại vương,” lại chỉ tay vào công tử Ngang, “nhưng khanh thì không được!”

“Ồ…” Công tử Ngang thoáng ngẩn người. “Ngụy Chương phải xưng hô thế nào cho đúng?”

“Hãy gọi là vương huynh!”

Vừa gặp mặt đã được thừa nhận, công tử Ngang cảm động vạn phần, hai mắt đỏ hoe, nghẹn ngào mấy tiếng, rồi hạ giọng gọi: “Vương huynh…”

“Em rể!” Tần vương xích lại gần thêm một bước, hai tay nắm chặt lấy tay công tử Ngang. “Doanh Tứ gần đây trăm việc rối bời, đã không chu đáo với em rể, hôm nay xin được tạ tội!” Rồi nắm tay công tử Ngang, đi vào chính điện.

Trương Nghi thở phào nhẹ nhõm, đi sát theo sau.

Vua tôi ba người vừa kịp ngồi xuống, công tử Hoa đã tiến vào, bẩm báo: “Vương huynh, lão thái hậu có chỉ, truyền tướng quốc Trương Nghi đến hậu cung bái kiến!”

Thình lình nghe thấy lão thái hậu có chỉ, Trương Nghi, Huệ Vương đều giật nảy mình.

Lão thái hậu tuổi đã quá bát tuần, đừng nói là việc ngoài cung, ngay cả việc trong cung, cũng đã sớm buông tay. Giờ đột nhiên lại truyền ý chỉ này, lại còn bỏ qua Tần vương, trực tiếp truyền tướng quốc Trương Nghi, thực sự là điều không thể ngờ tới.

“Tiểu Hoa!” Huệ Vương kinh ngạc mất một thoáng, rồi hỏi công tử Hoa. “Tướng quốc vừa đến, sao lão thái hậu đã biết?”

“Chuyện này…” Công tử Hoa liếc nhìn công tử Ngang, ấp úng, “thần đệ không biết. Lúc nãy thần đệ thay mặt gia phụ đến vấn an lão thái hậu, lão thái hậu tiện miệng truyền ý chỉ này, nên thần đệ…”

“Đại vương?” Dường như Trương Nghi đã đoán ra được nguyên do, bèn quay sang nhìn Huệ Vương, ánh mắt khẩn thiết.

“Đã là ý chỉ của lão thái hậu, ái khanh hãy cứ đi đi!” Huệ Vương trầm tư một lát, rồi quay sang nội tể. “Dẫn Trương ái khanh tới yết kiến lão thái hậu!”

Nội tể lĩnh chỉ, cùng Trương Nghi đi đến hậu cung.

Công tử Ngang thấy công tử Hoa có ý đề phòng mình, nên cũng đứng dậy cáo từ.

“Lão thái hậu triệu kiến Trương Nghi có việc gì?” Công tử Ngang vừa đi, Huệ Vương đã sốt ruột hỏi.

Công tử Hoa tiến lại gần, ghé sát tai Huệ Vương thì thầm mấy câu.

Huệ Vương há hốc miệng, trợn trừng hai mắt.

Trương Nghi đi theo nội tể đến gặp lão thái hậu, song nằm ngoài dự liệu của Trương Nghi, lão thái hậu không hề đả động đến hôn sự, thậm chí cũng chẳng nói gì nhiều, chỉ hỏi han dăm câu vô thưởng vô phạt, bàn về mấy chuyện hoa lá cỏ cây, sau đó liền xua tay bảo hắn đi.

Tiễn Trương Nghi đi rồi, lão thái hậu lập tức triệu kiến Tần vương, đồng thời gọi cả thái hậu, tức là phu nhân của Hiếu Công, mẹ đẻ của Huệ Vương đến, nói thẳng vào chuyện: “Tứ Nhi, mụ già này đã nhắm được một người, đang muốn kết đôi cho Tử Vân, hãy tác thành đi!”

“Tổ hậu ưng ý người nào vậy?” Huệ Vương khấu đầu dưới đất, giả bộ không biết.

“Chính là vị tướng quốc kia, tên gọi Trương Nghi!” Lão thái hậu cất giọng rành rọt.

Lão thái hậu mặc dù tuổi đã quá bát tuần, nhưng tai không điếc, mắt không hoa, răng miệng vẫn tốt, chỉ thiếu hai chiếc răng nanh, không ảnh hưởng nhiều đến lời nói.

Huệ Vương hít vào một hơi dài, đắn đo một lúc rồi khấu đầu nói: “Tổ hậu, tôn nhi có tấu.”

“Nói đi!”

“Việc tiểu muội gả chồng, liệt quốc đều biết, tiểu muội xét về danh phận vẫn là phu nhân của An Quốc Quân nước Ngụy, không những thế, An Quốc Quân hiện giờ đang ở…”

Hai chữ “Hàm Dương” còn chưa kịp nói ra, đã nghe “bịch bịch” hai tiếng, cây gậy của lão thái hậu đã đập thẳng xuống mông Huệ Vương. Lão thái hậu tay yếu, đánh đương nhiên không đau, song uy thế đó đã đủ khiến Huệ Vương không dám ho he thêm tiếng nào.

“An Quốc phu nhân cái gì?” Lão thái hậu lại giáng thêm mấy gậy nữa vào mông Huệ Vương. “Hãy nghe cho rõ, Tử Vân đã bị nghịch tặc Công Tôn Ưởng hãm hại! Hành quân đánh trận là việc của đàn ông, đàn ông không xung trận, mà lại khiến Tử Vân chịu nhục, đây gọi là thứ mưu lược gì? Tử Vân như một đoá hoa tươi, vậy mà lại bị quốc tặc cắm vào bãi phân trâu không thương tiếc, thật khiến mụ già này tức chết! Giờ mụ già này nói cho ngươi biết, Doanh Cừ Lương lú lẫn, nhưng ngươi không được phép lú lẫn! Nước Tần có lỗi với Tử Vân, tên bất tài đó không xứng với em gái ngươi…”

Lão thái hậu cứ thế mắng sa sả một hồi, rồi đẩy mạnh đầu gậy vào người Tần Huệ Vương: “Đi đi! Mụ già này không muốn nói nhiều. Mụ già này chỉ có một tâm nguyện, làm sớm thì được yên sớm. Nếu lại có gì sơ sảy, mụ già này chết không nhắm mắt!”

Thấy lão thái hậu lôi cả cái chết ra đe doạ, Huệ Vương đành phải liên miệng vâng dạ, lui ra cửa đi hỏi mẫu hậu, song mẫu hậu cũng lại tán thưởng Trương Nghi không ngớt lời. Rõ ràng, chuyện của Tử Vân đã được thái hậu, lão thái hậu định đoạt từ lâu.

Trở về tiền điện, lại suy nghĩ thêm một hồi, Huệ Vương phì cười một tiếng, cảm thấy chủ ý của lão thái hậu cũng không tồi, vậy mà mình lại không nghĩ ra. Việc này nếu thành, một là thoả nguyện cho em gái, hai là có thể khiến mẫu hậu và lão thái hậu vui lòng, ba là có thể thu phục lòng Trương Nghi, đúng là nhất cử tam tứ tiện. Để có được Trương Nghi, Huệ Vương đã phải đánh đổi bằng sự ra đi của hai bề tôi đắc lực là Công Tôn Diễn và Trần Chẩn. Nhưng cái nghĩa quân thần còn lâu mới vững chãi bằng tình máu mủ. Nếu Trương Nghi có thể trở thành em rể của mình, hẳn sẽ không sinh lòng khác, Trương Nghi có thể tận tình phò tá, còn Huệ Vương cũng có thể yên tâm sử dụng.

Hơn nữa, về phía Trương Nghi, hẳn cũng không có gì thiệt thòi, dù sao thì Tử Vân công chúa cũng tài mạo song toàn, nổi danh liệt quốc, xứng danh là kỳ nữ đương thời. Trương Nghi là một tài tử phong lưu, chắc hẳn sẽ không từ chối.

Trước mắt chỉ có hai vấn đề, một là làm thế nào để giải thích với người trong thiên hạ, hai là làm sao để an ủi công tử Ngang.

Vắt óc suy nghĩ suốt ba ngày trời, đến buổi tối ngày thứ tư, Huệ Vương bèn xa giá đến phủ Trần Chẩn, cũng chính là nơi ở của công tử Ngang.

“Thần đệ… không biết vương huynh giá đáo, đã đón tiếp chậm trễ!” Công tử Ngang được sủng ái đâm ra hoảng sợ, khấu đầu giữa sân mà nói.

“Ngụy Chương tướng quân xin hãy bình thân!” Huệ Vương đưa tay đỡ công tử Ngang dậy, dắt tay vào phòng khách, phân ngôi quân thần ngồi xuống.

“Vương huynh có chuyện gì, cứ hạ chỉ cho Ngụy Chương vào cung là được, cớ sao lại phải nhọc đến đại giá, bảo Ngụy Chương sao có thể kham nổi!” Công tử Ngang lại vòng tay tạ ân.

“Ngụy Chương tướng quân!” Huệ Vương hai mắt nhìn thẳng vào công tử Ngang. “Hai chữ ‘vương huynh’, e rằng về sau không thể gọi được nữa!”

Công tử Ngang nghe mà sững sờ.

“Lần này Doanh Tứ đến đây, chính là để hiểu dụ cho tướng quân về việc này.” Huệ Vương chậm rãi nói. “Không phải Doanh Tứ không muốn thừa nhận Ngụy huynh, mà là…” ngập ngừng một thoáng, “mà là trong lòng tiểu muội đã tổn thương sâu sắc. Tướng quân cũng biết, Tần, Ngụy kết oán quá lâu, tiểu muội từ nhỏ đã quen với chuyện báo thù rửa hận, không ngờ tuổi mới cập kê, đã bị ép gả cho nước thù, thực sự khó lòng chấp nhận. Cho dù tướng quân mọi bề xuất sắc, nhưng lại là công tử của nước Ngụy, tiểu muội thà chết cũng không chịu theo, chỉ là không thể cãi lại tiên công và Công Tôn Ưởng, nên đành phải chịu nhịn vì đất nước. Những chuyện về sau… tướng quân đã biết cả rồi. Sau trận chiến Hà Tây, tiểu muội may mắn thoát được, nhưng vẫn lẻ bóng một mình, bởi về danh phận, tiểu muội vẫn là phu nhân của tướng quân. Lần này tướng quân về Tần, Doanh Tứ rất đỗi vui mừng, vì quả thực Doanh Tứ không muốn nhìn em gái mình phải sống cô quả trong cung Tần, có ý muốn hàn gắn cho tướng quân và tiểu muội, không ngờ việc không như ý, tiểu muội thà chết không nghe. Không những thế, tiểu muội còn thuyết phục mẫu hậu và lão thái hậu, lão thái hậu đã hạ chỉ chấm dứt hôn ước với tướng quân, nên Doanh Tứ… Than ôi, lão thái hậu tuổi đã xấp xỉ cửu tuần, Doanh Tứ không dám không nghe.”

Công tử Ngang lúc này cũng đã định thần trở lại, sắc mặt ủ rũ, hồi lâu sau bèn đổi cách xưng hô, vòng tay mà nói: “Ngụy Chương đa tạ đại vương hậu ái. Xin đại vương hãy đợi cho một lát!” Rồi đi sang bên cạnh, tìm bút mực, viết liến thoắng một hồi lên thẻ tre, sau đó hai tay dâng lên. “Đại vương, đây là hưu thư của công tử Ngang trước đây. Công tử Ngang sớm đã chết trận bên bờ Lạc Thủy, Tử Vân công chúa từ lâu đã là người tự do, đại vương có thể chiếu cáo cho thiên hạ biết!”

Huệ Vương nhận lấy hưu thư, vòng tay cảm tạ: “Doanh Tứ thay mặt Tử Vân đa tạ ân đức của tướng quân! Tướng quân có nguyện vọng gì, Doanh Tứ xin dốc tận tâm lực!”

“Đa tạ đại vương hậu ái!” Công tử Ngang cười gượng một tiếng. “Ngụy Chương đã chết một lần, từ lâu đã chẳng còn mong cầu gì nữa, chỉ muốn đi khỏi Hàm Dương, nguyện làm lính bộ chạy trước đầu ngựa, tử chiến sa trường!”

“Tài năng của tướng quân, Doanh Tứ đã nhìn thấy rõ. Tướng quân muốn chinh phạt nơi đâu, có thể nói cho Doanh Tứ biết chăng?”

“Chỉ cần không phải nước Ngụy, Ngụy Chương sẵn sàng nghe theo chỉ lệnh của đại vương!”

“Được!” Huệ Vương trịnh trọng gật đầu. “Doanh Tứ nhận lời tướng quân. Nhìn vào tình thế hiện nay, không lâu nữa nước Tần sẽ có một trường ác chiến. Tướng quân chỉ cần ở yên trong phủ chờ đợi là được!” Rồi gật đầu với nội tể.

Nội tể đi ra ngoài cửa, một lát sau, dẫn vào năm thiếu nữ xinh đẹp, xếp thành một hàng khấu đầu trong sảnh.

“Ngụy tướng quân!” Huệ Vương chỉ vào năm mỹ nữ. “Năm mỹ nữ này đều giỏi ca khéo múa, tinh thông lục nghệ, do Doanh Tứ đích thân đến nhạc phường lựa chọn. Nàng đứng đầu là hoa khôi của nhạc phường, một khúc hát làm khuynh đảo cả thành Hàm Dương, đến Doanh Tứ cũng phải si mê. Giờ Doanh Tứ xin tặng toàn bộ cho tướng quân, mong tướng quân không chê!”

Công tử Ngang mặt mũi đỏ bừng: “Đại vương, thế này…”

Huệ Vương xua tay ra hiệu cho mỹ nữ lui ra, rồi quay sang cười lớn với công tử Ngang. “Anh hùng sánh với mỹ nhân, xưa nay đều vậy. Đại trượng phu có thể chết nơi sa trường, song không thể không có mỹ nhân bên cạnh, huống hồ tướng quân cũng chẳng phải con mèo ăn chay!” Lại cười mấy tiếng, hạ thấp giọng, chỉ vào mình. “Không giấu tướng quân, về mặt này, Doanh Tứ cũng không hề chịu lép tướng quân. Ba ngày không gặp mỹ nhân, trong lòng liền bứt rứt khó chịu như bị mèo cào, đêm nằm trằn trọc không yên, ăn uống cũng không thấy ngon miệng!”

Chỉ một câu này, khoảng cách giữa quân thần như đã được xích lại gần.

“Ngụy Chương…” Công tử Ngang nghẹn ngào, quỳ xuống khấu đầu, “đa tạ đại vương ban ân!”

“Còn nữa!” Tần Huệ Vương vẫn chưa tận hứng. “Có mỹ nhân, sẽ phải chi tiêu nhiều hơn. Quả nhân ban tặng cho ái khanh một trăm lượng vàng, năm mươi súc lụa, năm người tạp dịch, mong tướng quân hãy tiêu khiển thoải mái!”

Công tử Ngang lại khấu đầu: “Đa tạ đại vương ban ân!”

Sau khi lấy được hưu thư của công tử Ngang, Huệ Vương lập tức bắt tay vào bước thứ hai, nhờ Sư Lý Tật làm mối, tác thành cho hỷ sự của em gái. Tuy nhiên, trời có mưa nắng thất thường, Sư Lý Tật chưa kịp mở miệng, đất Ba, Thục đã khói lửa tứ bề, sứ thần gấp gáp phi ngựa theo con đường Thục vừa mới khai thông đến thành Hàm Dương, trong ngoài triều đường không ai còn ngồi yên được nữa.

Người nhấp nhổm bất an nhất là Trương Nghi, ba ngày liền không ở trong phủ. Đến sáng sớm ngày thứ tư, Trương Nghi từ bên ngoài “vội vàng hồi phủ”, thấy Thông Quốc và một gã trẻ tuổi thấp lùn, da đen bóng đang ngồi đợi trong sảnh. Trương Nghi đã hiểu rõ sự tình, cố tình không ngó ngàng đến kẻ kia, chỉ vòng tay nói với Thông Quốc: “Ái chà, đây chẳng phải Thông Quốc điện hạ hay sao? Điện hạ giá lâm, tại hạ không thể ra xa nghênh đón, lại còn… lại còn khiến điện hạ phải đợi lâu, hổ thẹn, hổ thẹn!”

“Tướng quốc đại nhân!” Thông Quốc vòng tay đáp lễ, nói. “Tại hạ và Ba tử đã đợi trong phủ suốt ba ngày rồi!”

“Ba tử?” Lúc này Trương Nghi mới nhìn sang người kia, ánh mắt dò xét.

Người kia vòng tay nói: “Tại hạ Tử Sưu xin chào tướng quốc đại nhân!”

“Tử Sưu?” Dường như Trương Nghi đã nhớ ra hắn là ai, bèn vòng tay cười lớn mà nói. “Đúng rồi, đúng rồi! Ngưỡng mộ đã lâu, ngưỡng mộ đã lâu! Từ lâu tại hạ đã được nghe Thông Quốc điện hạ kể về một Ba tử tên gọi Tử Sưu, khen rằng văn võ toàn tài, ở đất Ba không ai sánh kịp, xứng đáng là Ba tử trong Ba tử. Hôm nay được gặp, quả nhiên phong lưu khoáng đạt, thực vinh hạnh, vinh hạnh!”

Ba tử tức con của Ba Vương. Ba Vương có vô số vợ, Ba tử rất nhiều, nhưng cũng giống như liệt quốc Trung Nguyên, vợ của Ba Vương cũng phân thành chính thất trắc thất. Con do chính thất sinh ra, tức là Ba tử chính tông, có địa vị độc tôn trong các Ba tử. Chính thất của Ba Vương sinh được cả thảy ba nam ba nữ, con trưởng trấn thủ Bồi Lăng, con thứ trấn thủ Giang Châu, Tử Sưu là con thứ ba, cùng với em gái ruột là Bồi Di bảo vệ Ba Vương, trấn thủ đô thành Lang Trung. Kẻ địch lớn nhất của người Ba là người Sở, Bồi Lăng là tuyến đầu tiên, Giang Châu là tuyến thứ hai, Lang Trung chính là hậu phương lớn của nước Ba. Ba Vương sắp xếp như vậy, đủ thấy được mức độ sủng ái dành cho Tử Sưu, bởi vậy Trương Nghi không phải khen bừa.

Tử Sưu cười thẹn, vòng tay nói: “Đa tạ lời vàng của đại nhân!”

“Hai vị, mời!” Trương Nghi chỉ xuống chiếu, chìa tay mời xong liền ngồi vào vị trí chủ.

Hai người cũng ngồi xuống.

Trương Nghi cười mấy tiếng, chỉ vào những vết lem nhem trên y phục. “Mặc dù nói hai vị đã đợi lâu, nhưng đợi cũng xứng đáng. Không giấu hai vị, bản tướng mấy hôm nay bận bịu luôn tay chính là vì hai vị.”

Hai người đều ngạc nhiên, Thông Quốc hỏi: “Bận vì chúng tôi?”

“Đúng thế!” Trương Nghi lắc đầu, mặt nhăn nhó. “Lũ trâu thần có chuyện rồi! Nói ra thật nực cười, một con trong số đó, chính là con trâu đực đã chọn lúc đầu, sống chết cũng không chịu nghe lời, mấy ngày trước đã bỏ đi mất tích. Mục đồng tìm kiếm khắp nơi không thấy, vô cùng sợ hãi, liền qua nhiều cấp trình báo lên trên, cuối cùng mới báo đến chỗ tại hạ đây. Tại hạ vừa nghe, thật là tức chết! Không có trâu đực, trâu cái sao có thể vãi ra vàng? Nghe nói Ba tử lần này đến đây, cũng là để nhận trâu, bản tướng trong lòng cuống quýt, bèn hộc tốc lên núi, tất bật đến tận vừa rồi, mệt đến bã người.”

Thông Quốc, Tử Sưu đều bàng hoàng kinh hãi.

“Đại nhân!” Thông Quốc định thần lại, vội vàng hỏi. “Đã tìm được trâu thần chưa?”

“Ha ha ha!” Trương Nghi cười lớn mấy tiếng. “Không tìm được trâu thần, bản tướng đâu dám hồi phủ!”

“Tìm thấy ở đâu?” Thông Quốc hiếu kỳ hỏi.

“Hừm, con trâu này nổi máu hoang dã, chạy một mạch đến một khe núi không rõ tên ở tận sâu trong núi lớn, chui tọt vào hốc cây. May mà hốc cây không đủ lớn, mông của nó đã chui vào được, nhưng đuôi lại thò ra ngoài, vừa may một binh sĩ nhìn thấy. Nếu không, đến giờ chắc vẫn chưa tìm được nó.”

“Ồ!” Tử Sưu há hốc miệng. “Trâu đá cũng biết đi ư?”

“Ồ!” Trương Nghi liếc xéo Tử Sưu. “Không biết đi, sao có thể gọi là trâu thần được?”

“Nếu đúng là vậy,” Thông Quốc mừng rỡ, “chúng tôi không cần phải phí sức vận chuyển nữa, chỉ cần lùa về nhà là được!”

“Được thì có được,” Trương Nghi cố nặn ra một nụ cười, “chỉ có một điều không ổn, lũ trâu thần đều do tinh khí của nhật nguyệt ở núi Chung Nam nuôi dưỡng, do các lộ sơn thần ở núi Chung Nam cai quản, để bọn chúng nô đùa ở núi này, đương nhiên sẽ thấy vui vẻ. Nhưng đại vương lại hạ lệnh cho chúng đến Ba, Thục, chúng liền không vui nữa. Không vui nhưng lại không thể kháng chỉ, chúng liền hậm hực kháng cự, bởi vậy các vị phải dùng dây thừng trói buộc, dùng sức để kéo đi, ngày đêm còn phải canh chừng cẩn thận, không nghe lời thì dùng roi quất. Nếu không, bọn chúng một bước cũng không chịu nhúc nhích!”

“Vậy…” Thông Quốc hỏi, “tại sao trâu cái không chạy, chỉ có trâu đực chạy?”

“Than ôi!” Trương Nghi khẽ thở dài. “Nhắc đến chuyện này, quả là có điều khó nói!” Đoạn hạ thấp giọng. “Không giấu hai vị, trong núi này của chúng tôi, thông thường một con trâu đực được phối với hai con trâu cái, nhiều nhất là phối với ba con, nhưng các vị lại muốn bốn con trâu cái, khiến nó có phần kiệt sức.”

“Ồ?” Tử Sưu thoáng ngạc nhiên. “Theo lý mà nói, trâu cái nhiều, trâu đực phải vui mới đúng chứ? Ở nước Ba chúng tôi, Ba tử nào cũng vậy, càng nhiều đàn bà thì càng thích, mỗi người chí ít cũng phải đến mấy chục!”

“Điện hạ thật phi thường!” Trương Nghi tấm tắc khen ngợi. “Có điều, Ba tử là Ba tử, trâu thần là trâu thần. Tinh của trâu cái được tích tụ từ hoa của mặt trăng, tinh của trâu đực được tích tụ từ hoa của mặt trời, tinh hoa nhật nguyệt tương hợp mới có thể sinh ra vàng được. Mặt trăng có tròn khuyết, mặt trời có nắng râm. Núi Chung Nam thủy khí vượng, nếu gặp phải mưa dầm nhiều ngày, nhật hoa tất sẽ không theo kịp, trâu đực sẽ phải hao tổn nguyên tinh. Nguyên tinh tổn hao quá nhiều, trâu đực sẽ bị thận hư. Thận là cội nguồn của năng lượng, nếu thận quá hư, sức trâu đực sẽ không kham nổi. Hơn nữa, trong núi Chung Nam của chúng tôi đây, trâu đực không nhiều, rất quý hiếm, ngay cả sơn thần cũng sủng ái chúng, không nỡ trách phạt chúng, vì vậy con trâu đực này mới dám ngông cuồng. Trâu cái số lượng nhiều, không được quý trọng, không nghe lời liền bị ăn roi, không có gan bỏ trốn!”

Trương Nghi bịa tạc tràng giang đại hải, nhưng hai vị điện hạ nghe lại cảm thấy hợp tình hợp lý, tin tưởng không chút nghi ngờ.

“Hai vị điện hạ!” Trương Nghi nở một cười, dáng vẻ ung dung, vòng tay nói. “Con trâu đực mà đại vương tặng cho hai vị đã tìm được về rồi, bản tướng đã tấu lên sơn thần ở núi Chung Nam, cầu thần linh nghiêm khắc quản thúc, thiết nghĩ chắc hẳn sẽ không dám làm loạn nữa. Chỉ có điều đêm dài lắm mộng, bản tướng mong hai vị sớm ngày vận chuyển về.”

Lúc này Tử Sưu cũng đã trấn tĩnh lại, bèn khẽ chau mày, vòng tay đáp lễ: “Đại nhân có điều không biết, lần này Tử Sưu đến, không phải là để vận chuyển trâu.”

“Ồ?” Trương Nghi giả bộ kinh ngạc. “Không phải để vận chuyển trâu, vậy là vì việc gì?”

Tử Sưu nhìn Thông Quốc, Thông Quốc bèn kể lại một lượt tình thế Ba, Thục, rồi khóc mà nói: “Tướng quốc đại nhân, Khai Minh Vương phát động ngũ đinh cả nước, chinh phạt đất Thư của tại hạ, đã đánh chiếm một số quan ải, áp sát đến kinh đô đất Thư là Thổ Phí rồi. Người Sở chia quân làm hai lộ, giáp công Bồi Lăng là vùng trọng yếu tại Giang Thủy của nước Ba, Bồi Lăng đã sắp thất thủ. Nếu Bồi Lăng thất thủ, Giang Châu tất không giữ được. Giang Châu không giữ được, Lang Trung sẽ nguy mất… Đại nhân, hiện giờ quân tình nguy cấp, việc trâu thần xin hãy tạm thời gác lại, quân phụ khẩn cầu quý quốc hãy phát đại binh cứu viện, cầu mong đại nhân giúp đỡ!”

“Ồ?” Trương Nghi giả bộ kinh ngạc, trầm tư hồi lâu, rồi khẽ chau mày, lắc đầu nói. “Không phải bản tướng quở trách, mà điện hạ cũng thực quá đáng. Mấy năm trước, điện hạ vừa thấy trâu thần liền mở miệng muốn xin. Đại vương đồng ý cho trâu thần, nhưng các vị lại gác lại, đổi thành mượn binh. Không lâu trước đây, sáu nước hợp binh đánh đến cửa nhà chúng tôi, chúng tôi vừa mới dốc kiệt sức lực đánh đuổi được sáu nước, ba quân còn chưa kịp chỉnh đốn, giờ điện hạ lại… Nói đoạn, liên tục lắc đầu.”

Việc sáu nước hợp binh đánh Tần, rồi bị Tần đánh lui, thiên hạ đều biết, Thư Hầu, Ba Vương tự cũng đã hiểu. Trương Nghi nhắc tới chuyện này, chẳng khác nào tự khoe khoang. Song Thông Quốc lại không hiểu ý, chỉ cho rằng Trương Nghi thoái thác, liền quỳ phịch luôn xuống đất.

Tử Sưu thấy Thông Quốc quỳ xuống, cũng vội vàng quỳ theo, hai vị điện hạ cùng khấu đầu bình bịch.

“Không được, không được, điện hạ không được đâu!” Trương Nghi chậm rãi đứng dậy, đỡ hai người đứng lên, thở dài sườn sượt. “Than ôi, hai vị điện hạ tha thiết như vậy, thực là làm khó bản tướng. Không giấu hai vị, bản tướng chỉ là tướng quốc, việc xuất binh chinh chiến không thể chủ trương!” Rồi mỗi tay đỡ lấy một người. “Đi thôi, việc bản tướng có thể làm, chỉ là đưa hai vị điện hạ đến yết kiến đại vương, cầu xin đại vương ân chuẩn, không biết chừng lại có thể mượn được dăm trăm một nghìn cường binh tinh nhuệ cũng nên!”

“Dăm trăm một nghìn?” Thông Quốc hốt hoảng, vội dừng bước. “Tướng quốc đại nhân, một chút quân này sao có thể đánh trận? Quân Sở chưa cần nói đến, chỉ tính riêng quân Thục đã có hơn mười vạn, chuyện này, chuyện này…”

“Ồ?” Trương Nghi nhìn thẳng vào Thông Quốc, hỏi. “Điện hạ muốn mượn bao nhiêu? Lẽ nào là trên một vạn?”

“Trên một vạn cũng không đủ!”

“Nếu là trên một vạn,” Trương Nghi im lặng một lát, rồi quay về chiếu, ngồi phịch luôn xuống, “bản tướng phải tính toán lại mới được!” Rồi bấm ngón tay nhẩm tính, vừa tính vừa lẩm bẩm. “Cho mượn binh mã là để đánh trận, đánh trận thì phải có người chết, binh sĩ Tần chỉ chết để bảo vệ nước Tần, bắt họ đi đánh trận, đi bán mạng cho người ngoài không quen không biết, chuyện này… chuyện này phải định liệu thế nào đây?”

“Tướng quốc đại nhân không cần tính nữa!” Thông Quốc sốt ruột không thể ngồi yên. “Quân phụ đã hứa, chỉ cần quý quốc trợ giúp chúng tôi đẩy lui được Khai Minh Vương, quân phụ sẽ tặng cho toàn bộ Hán Trung!”

“Ồ?” Trương Nghi giả bộ vui mừng. “Câu này nghe cũng hay đấy!” Rồi nhìn thẳng vào Thông Quốc. “Tuy nhiên, binh sĩ của chúng tôi một khi đã ra sa trường thì khó nói lắm. Nghe nói Khai Minh Vương là huynh trưởng ruột thịt của quân phụ điện hạ, chẳng may làm tổn thương đến ông ta, biết phải thế nào đây?”

“Làm tổn thương đến ông ta?” Thông Quốc căm hận nghiến răng kèn kẹt. “Tên hôn vương đoạt vị này, tốt nhất các vị hãy giết chết hắn đi! Nhớ năm xưa, tiên vương, mẫu hậu vốn muốn truyền ngôi vị cho quân phụ Hà Manh, không ngờ bị hắn đoạt mất ngôi báu, đẩy quân phụ đến Thổ Phí, phong làm Thư Hầu. Quân phụ và tại hạ có nằm mơ cũng muốn trở lại Thành Đô, đó mới là quê hương của chúng tôi!”

Trương Nghi thở hắt ra một hơi, cười nói. “Nghe được lời này của điện hạ, bản tướng đã có tính toán trong lòng. Nếu bản tướng giúp cha con các vị đoạt lại quê hương, điện hạ có thể tặng thứ gì đây?”

“Đại nhân muốn thứ gì?”

“Đất Thư!”

Thông Quốc nghiến răng một chốc rồi siết chặt tay quyền: “Chỉ cần chiếm lại được đất Thục, tại hạ nhất định sẽ thuyết phục quân phụ, mang tặng đất Thư.”

“Chuyện này coi như xong!” Trương Nghi cười lớn, rồi quay sang nhìn Tử Sưu. “Còn Ba tử? Lần này đến có gì mong cầu?”

“Khẩn cầu quý quốc giúp chúng tôi đẩy lui người Sở!” Tử Sưu cất giọng rành rọt.

“Người Sở không thiện chiến, đánh bại họ không có gì khó. Có điều, phụ vương của các vị cũng không thể để chúng tôi giúp không công đấy chứ?”

“Đại nhân muốn điều gì?”

“Nghe nói nước Ba có muối tuyệt hảo, người thành Hàm Dương ai ai cũng thích.”

Đất Ba quý nhất chính là suối muối, nên lời này của Trương Nghi, Tử Sưu đã đoán được từ trước, bèn vòng tay nói: “Phụ vương có hứa, nếu quý quốc trợ giúp đẩy lui được người Sở, nước Ba nguyện tặng cho một suối muối.”

“Suối muối?” Trương Nghi giả bộ không biết, lắc đầu quầy quậy. “Ta chỉ muốn có muối, cần suối để làm gì?”

“Vậy…” Tử Sưu khựng lại, “đại nhân muốn thứ gì?”

“Chính là muối!”

“Bao nhiêu?” Tử Sưu trong lòng hồi hộp.

“Đủ ăn là được!”

Đủ ăn không phải là con số xác định, nghe qua thì không nhiều, nhưng kỳ thực lại là cái hang không đáy. Tử Sưu hiểu rõ ý này, đôi mày chau tít hồi lâu, rồi ngẩng lên nói: “Nhiều cũng được, ít cũng được, dù sao đại nhân cũng phải có con số cụ thể!”

Trương Nghi gọi Tiểu Thuận vào, hỏi: “Thuận Nhi, thử tính xem, thành Hàm Dương mỗi năm ăn hết bao nhiêu muối?”

Tiểu Thuận bấm đầu ngón tay tính toán một hồi: “Khởi bẩm chúa công, ít cũng phải dăm ba chục gánh.”

“Chỉ thế thôi ư?” Trương Nghi chau mày, rõ ràng chê Tiểu Thuận tính ít.

“Chúa công có điều không biết,” Tiểu Thuận xích lại gần một bước, “muối của nước Ba không phải thóc gạo, chỉ một chút xíu đã đủ cho một nhà ăn cả ngày. Thành Hàm Dương tổng cộng chỉ có mười mấy vạn người, bốn năm vạn hộ, không dùng hết là bao.”

“Biết rồi!” Trương Nghi xua tay đuổi Tiểu Thuận lui xuống, rồi quay sang Tử Sưu. “Mỗi năm năm mươi gánh, được chăng?”

“Được, được, được!” Tử Sưu thấy Trương Nghi trầy trật mãi mới tính ra được một chút xíu này, thấy mình đã hời lớn, bèn vội đáp liên miệng, vỗ ngực đảm bảo. “Năm mươi gánh, xin cứ giao hết cho Tử Sưu đây!”

“Đa tạ Ba tử!” Trương Nghi mỉm cười với hắn, biểu thị đã đồng ý, rồi đứng dậy chỉnh trang y phục, vòng tay với hai người. “Hai vị điện hạ hãy ở đây đợi một lát, giờ bản tướng sẽ vào cung, thỉnh cầu đại vương xuất binh.”

***

Theo lời của sứ thần nước Thư, quân Thục đã công phá được một số quan ải, tiến sát đến kinh đô đất Thư là Thổ Phí. Nếu như không ngoài dự liệu, lúc này Thổ Phí đã bị quân Thục vây đánh ráo riết. Nếu chẳng may Thổ Phí thất thủ, đường Thục bị quân Thục khống chế, thì tâm huyết mấy năm coi như đã đi tong.

Quân tình khẩn cấp, không thể trì hoãn thêm được nữa. Tần vương ngay trong buổi triều đã lập tức ban chiếu, phong Trương Nghi làm chủ tướng, Tư Mã Thác làm phó tướng, Ngụy Chương làm tiên phong, Cam Mậu trấn thủ Hán Trung tiếp tế lương thảo, khởi năm vạn binh tinh nhuệ, tiến thẳng tới đất Thư.

Vì là chinh phạt vùng đất man di, nên đây sẽ là cuộc chiến sinh tử, Hương Nữ không thể yên tâm, nhất quyết đòi tòng quân. Theo luật Tần, xuất binh chinh phạt, nếu không có đặc chỉ của quân chủ, tướng sĩ trong quân không được tuỳ tiện mang theo gia quyến. Trương Nghi mang quân luật ra để ngăn cản Hương Nữ, nhưng nàng không nói một lời, lập tức rửa sạch son phấn, cởi bỏ nữ trang, dính một nhúm râu lên cằm, buộc tóc mặc giáp, loáng cái đã anh tuấn ngời ngời đứng trước mặt Trương Nghi. Một là không thể ngăn cản được nàng, hai là nghĩ tới lần này chinh phạt đất man di, Hương Nữ không chừng có thể trợ giúp, nên Trương Nghi đành lắc đầu cười gượng một tiếng, thuận theo ý nàng, sắp xếp cho làm thị vệ bên cạnh. Người trong ba quân biết được việc này, chỉ có một mình Tư Mã Thác.

Tần dùng tướng quốc làm chủ tướng, dùng quốc uý làm phó tướng, phát động binh tốt tinh nhuệ ứng cứu, thái tử Thông Quốc, Ba tử Tử Sưu đều vô cùng cảm kích, phấn chấn dẫn theo thuộc hạ đi trước dò đường.

Mặc dù đã có mưu lược từ trước, nhưng dù sao đây cũng là lần dẫn quân đầu tiên kể từ sau khi xuống núi, Trương Nghi không dám tuỳ tiện, một mặt bám sát phía sau, một mặt tính toán kỹ lưỡng các kế sách tấn công Ba, Thục.

Tư Mã Thác đã sớm tuyển lựa xong đội quân tinh nhuệ phạt Thục, dời doanh trại đến vùng núi gần Hán Trung. Đám Trương Nghi đến Hán Trung, huy động ba quân tiến vào đường Thục. Đường Thục mặc dù mới được làm xong, nhưng vẫn còn rất nhiều chỗ khó đi. Binh tốt tinh nhuệ của nước Tần đông đến năm vạn không thể thi triển được ưu thế trên đường Thục, trước sau kéo dài gần trăm dặm, từ xa nhìn vào chẳng khác nào một con rắn lớn uốn lượn trên con đường sạn đạo lưng chừng núi. Lương thảo, thầy thuốc và đội ngũ vận chuyển phía sau không dưới ba vạn, cộng thêm quân nhu lừa ngựa, gần như đã lấp đầy con đường Thục dẫn tới Hán Trung.

Vừa bước lên đường Thục, con rắn dài này đã chẳng còn đường lui, chỉ còn cách một mạch tiến lên phía trước, thẳng tới đất Xuyên.

Đầu rắn là ba nghìn quân tinh nhuệ dưới cờ của mãnh tướng đô uý Mặc, được biên vào tả quân, do tướng quân tiên phong Ngụy Chương thống lĩnh. Theo sát phía sau tám nghìn quân tinh nhuệ là ba vạn trung quân, Trương Nghi, Tư Mã Thác đều đi phía trước đội ngũ trung quân. Tướng quân Trần Trang dẫn một vạn hai nghìn hữu quân yểm trợ phía sau.

May mắn là mấy hôm nay trời đẹp, đại quân ngày đi đêm nghỉ, suốt dọc đường hành quân suôn sẻ.

Quân tiên phong thuận lợi đi qua Thiên Môn, coi như đã tiến vào được trong lòng đất Thư.

Đám Trương Nghi trèo lên trên đỉnh Thiên Môn, phóng mắt nhìn dòng Tiềm Thủy mênh mông chảy xiết, lượn vòng như dải đai ngọc quanh co giữa các đỉnh núi chạy xuống phía nam, cuối cùng cũng đã được thở phào nhẹ nhõm.

Từ Thiên Môn đi tiếp, đường Thục uốn lượn dọc theo bờ đông Tiềm Thủy hướng về phía nam, đến tận kinh đô đất Thư là Thổ Phí. Đoạn đường Thục này, một bên là sông, một bên là núi, sông và núi lúc tách lúc hợp, đi một bước cảnh trí đã đổi khác, vẻ hùng vĩ tráng lệ của núi sông trải ra ngút ngàn trước mắt, khiến người Tần ai nấy đều nhìn mà choáng ngợp.

Dọc Tiềm Thủy xuống phía nam, tiếp tục đi hơn trăm dặm nữa là đến thành Thổ Phí.

Ngụy Chương tinh thần phấn chấn, dẫn theo thuộc hạ nhanh chóng tiến lên phía trước, đột nhiên thấy một đoàn người Thư chạy xộc đến trước mặt. Đám người Thư phần lớn mình đầy thương tích, trong đó có một người đã không thể bước đi, được hai thanh niên dìu hai bên.

Người được dìu không phải ai khác, mà chính là Thông Quốc, hai chân đều bị tên bắn trúng, một chân trúng thương trên bắp, chân kia trúng thương ở mắt cá, trong đó mũi tên cắm trên bắp chân đã xuyên thấu tận xương, mặc dù tên đã được rút ra, nhưng thương thế vẫn vô cùng nghiêm trọng.

Nhìn thấy quân Tần, Thông Quốc nước mắt đầm đìa, báo với Ngụy Chương về quân tình hoả tốc ở tiền phương: Khai Minh Vương Lư Tử dẫn theo ngũ đinh mười vạn, trải qua nhiều ngày huyết chiến, đã công phá được cung thành Thổ Phí của nước Thư, hoàn toàn khống chế hai nguồn nước. Thư Hầu Hà Manh chỉ dẫn theo hơn một nghìn người rút lui ra ngoài thành Thổ Phí, dựa vào nơi hiểm yếu tử thủ hai ngày, Thư Hầu đã bị thương, tính mạng nguy ngập, không còn cách nào khác, mấy ngày trước đã đi bè dọc Tiềm Thủy xuống phía nam, chạy đến kinh đô nước Ba là Lang Trung. Một đám đông người Thục đã vượt qua Tiềm Thủy, đang tiến về đất này, vừa hay đụng đầu với họ. Đám Thông Quốc ít không địch được nhiều, chạy trước một bước để quay về bẩm báo quân tình, những người Thư khác được Tử Sưu thống lĩnh, bố trí mai phục dọc đường, chặn từng bước một.

Ngụy Chương nghe mà giật mình. Thổ Phí đã mất, nếu quân Thục hoàn toàn khống chế được bờ đông Tiềm Thủy, xây dựng thành luỹ ở nơi khe hẹp, bày sẵn đá lăn, tiến có thể công, lui có thể thủ, người Tần sẽ bị kẹt cứng ở khe núi hẹp tại thượng lưu Tiềm Thủy, chẳng khác nào trâu rơi xuống giếng, có sức mà không thể dùng.

Quân tình khẩn cấp, Ngụy Chương không kịp nghĩ nhiều, bèn để tham tướng ở lại với thái tử Thông Quốc chờ đợi Trương Nghi, rồi cùng đô uý Mặc dẫn tám nghìn quân tinh nhuệ di chuyển như vũ bão về phía người Thục.

Chẳng mấy chốc, phía trước đã văng vẳng vọng lại tiếng chém giết. Ngụy Chương rút bảo kiếm ra, quay về phía quân sĩ vung kiếm hét lớn: “Các tướng sĩ, kiến công lập nghiệp, làm rạng danh đất nước, xông lên!” Rồi dẫn đầu lao thẳng lên phía trước.

Người Tần ai nấy hùng dũng phấn chấn, bám sát theo sau, xông thẳng về phía đang rộ lên tiếng sát phạt.

Chắn ngay trước mặt người Tần là con trai của lão tướng quốc Bách Quán, chiến tướng số một của nước Thục, Bách Thanh.

Sau khi khống chế được hai nguồn nước, Bách Thanh phụng lệnh lão tướng quốc, dẫn năm nghìn quân sĩ vượt qua Tiềm Thủy, dọc đường truy sát người Thư tháo chạy, men theo con đường núi ở bờ đông tiến thẳng lên phía bắc, muốn đoạt luôn Thiên Môn, xây dựng thành luỹ ở Thiên Môn, chặn cứng người Tần trên con đường sạn đạo dài dằng dặc thông đến Bao Hán. Không ngờ chưa đi được bao xa, họ đã đụng đầu thái tử Thông Quốc và Ba tử Tử Sưu vừa mới từ Tần trở về tại một đoạn đường hẹp. Hai bên giao chiến kịch liệt, Thông Quốc bị thương. Tử Sưu để Thông Quốc quay lại cấp báo quân tình, còn mình dẫn theo thuộc hạ, dựa vào thế núi hiểm trở, từng bước chặn địch.

Vào lúc Tử Sưu đã không thể trụ thêm được nữa, thì Ngụy Chương dẫn quân đánh thốc tới.

Quân sĩ hai bên bày thế trận trên một vùng đất rộng rãi hơn chút ít. Nơi này nam rộng bắc hẹp, nhìn từ xa trông giống như một cái đai, một bên là vách núi cao, một bên là Tiềm Thủy cuồn cuộn, chỗ rộng nhất ở phía nam khoảng chừng ba mươi trượng đổ lại, chỗ hẹp nhất ở phía bắc chừng hơn hai trượng.

Người Thục đã nhanh chân chiếm được chỗ rộng nhất, gần nghìn người dàn trận dày đặc, người cầm đao kiếm, kẻ vung giáo mác, kẻ giương cung tên, ai nấy đều trần vai lộ ngực, sát khí đằng đằng, nhưng trận hình tán loạn, chẳng theo quy củ gì. Tướng quân Bách Thanh đứng ở chính giữa trận hình.

Đô uý Mặc nhìn một lúc, lớn tiếng ra lệnh: “Bày trận thước vuông!”

Quân Tần lập tức xếp thành một trận hình chữ nhật. Do địa hình chật hẹp, mỗi hàng gắng lắm cũng chỉ đứng được sáu người, trước sau tổng cộng mười mấy hàng, giãn sang hai bên, cũng khiến phần đất bên phía họ dày đặc những người.

Nhìn thấy trận hình chữ nhật của quân Tần, Bách Thanh căng thẳng phán đoán tình thế. Rõ ràng, nếu nói về số lượng, người Thục chiếm ưu thế hơn hẳn. Quân Thục đã triển khai được thế trận, còn quân Tần lại bị gò bó tại mảnh đất bên sông chật hẹp, số có thể tham gia chiến đấu, chỉ có mấy hàng phía trước, nên tương quan lực lượng trong đánh giáp lá cà, gần như là mười đánh một. Nếu như phá được trận này, họ hoàn toàn có thể đánh lui quân Tần, thậm chí đẩy hết quân Tần xuống sông.

Bách Thanh đang suy nghĩ cách phá trận, thì tiếng trống chiến của người Tần đã vang lên dồn dập.

Cùng với tiếng trống, trận thước vuông của quân Tần từng bước từng bước tiến về phía trận quân Thục. Bước đi nhịp nhàng theo tiếng trống, không nhanh không chậm, đều đặn như một, uy lực vô song.

Cánh quân Thục chưa bao giờ được giao chiến với quân Tần, lúc này thấy quân Tần ai nấy đều giáp trụ hộ thân, vũ khí sắc bén, đặc biệt là ba hàng đầu tiên, tay trái cầm khiên, tay phải trường thương chĩa thẳng, tiến từng bước chắc nịch, thì vừa lạ lẫm, vừa kinh sợ.

Bách Thanh vừa nãy vẫn còn chút tự tin, song lúc này, đối diện với trận thước vuông vững chãi như núi của người Tần, cũng dần thấy bủn rủn trong lòng, bên tai bỗng văng vẳng tiếng nói của Trần Chẩn: “Quân Tần có ghê gớm hay không, đến khi giao chiến sẽ rõ ngay thôi”.

Quả nhiên không sai. Còn chưa giao chiến, khí thế bá đạo của quân Tần đã khiến họ phải hồn phách chấn động.

Tiếng trống trận phía quân Tần thúc dồn như sấm, thế trận thước vuông của quân Tần theo tiếng trống từng bước từng bước áp sát lại gần. Thấy quân Tần đã bước vào trong tầm tên bắn, Bách Thanh không còn do dự, lập tức phát lệnh bắn tên như thông lệ.

Quân Thục bắn tên như mưa, nhưng tên của quân Thục phần lớn là mũi đồng thân tre, chất nhẹ, mặc dù có thể bắn đi xa, nhưng thiếu lực. Toàn bộ thế trận chữ nhật của quân Tần đồng loạt giơ khiên phía trước, mũi tên đập lên mặt khiên khác nào như mưa đá rơi trên nón, leng keng chát chúa, nghe thì đáng sợ nhưng không nguy hiểm, cho dù có bắn trúng, cũng chẳng thể xuyên thủng được giáp trụ kiên cố. Quân Tần giữ vững đội hình, giương khiên lầm lì tiến lên trong trận mưa tên, tiếng chân rầm rập vẫn đều tăm tắp theo nhịp trống dồn nghe rung động tận màng nhĩ.

Quân Thục thấy tên không cản chân được kẻ địch, thảy đều bàng hoàng kinh sợ. Thấy quân Tần càng lúc càng áp sát, chỉ còn cách nửa tầm tên bắn, Bách Thanh bèn vung kiếm, truyền lệnh: “Nổi trống, tù và!”

Phía quân Thục lập tức tù và rúc lên rền rĩ, trống trận thùng thùng.

Quân Thục sớm đã thủ thế sẵn sàng, lúc này đồng thanh hô vang, cùng vung binh khí, dựa vào ưu thế số đông, ào ào lao về phía trận quân Tần như vũ bão.

Quân Thục nổi trống, quân Tần dừng trống, trận thước vuông dừng bước. Ba hàng quân Tần cầm thương đứng ở đầu tiên đột nhiên ngồi thụp xuống, giơ khiên hộ thân, đặt trường thương xuống đất, hàng quân thứ tư giương nỏ lắp tên, bắn đi vùn vụt. Bắn xong, lập tức thụp xuống, đến hàng thứ năm bắn tên, sau đó là hàng thứ sáu, hàng thứ bảy. Đến khi hàng thứ tám bắn xong, hàng thứ tư lại tiếp tục đứng lên bắn. Năm hàng cung thủ của quân Tần cứ lần lượt lên xuống như từng đợt sóng, tên bắn không ngừng. Quân Thục một là không có giáp sắt hộ thân, hai là đang ở thế xông lên, ba là khoảng cách quá gần, bốn là tên của quân Tần đều mũi đồng thân sắt, khiên của quân Thục gần như vô tác dụng. Sau mấy đợt tên bắn đi, phần lớn quân Thục đi đầu đã nằm la liệt trên mặt đất. Khó khăn lắm mới xông được đến gần, chưa kịp vung kiếm thì quân lính ở ba hàng đầu đã thình lình nhảy bật dậy, hàng thứ nhất mỗi người cầm một cây trường thương dài hơn một trượng đâm thẳng về phía trước. Thương đâm trúng người quân địch, chưa kịp rút ra, hàng quân thứ hai đã nhảy vượt qua hàng thứ nhất, sau đó là hàng thứ ba vượt qua hàng thứ hai, ai đâm việc nấy, đan xen trật tự, hoàn toàn không cho quân Thục có bất cứ cơ hội nào để phản kháng. Phần lớn quân Thục dùng binh khí ngắn, cũng có đôi người mang binh khí dài, nhưng về độ dài cũng không thể nào sánh bằng trường thương của quân Tần, thường là chưa kịp áp sát đã bị đâm trúng, tiếng kêu rú thảm thiết bất tuyệt bên tai. Chưa đầy một khắc, xác quân Thục đã chất chồng thành đống trước trận quân Tần, còn bên phía quân Tần, chỉ một số ít bị thương, không hề ảnh hưởng đến sức chiến đấu.

Đây là một trận chiến mà xét về các mặt kỹ năng, trang bị, huấn luyện và tố chất đều không cân sức, quân Tần cứ như thể thoải mái tàn sát. Quân Thục bị nếm quả đắng đầu tiên, ai nấy đều khiếp đảm, ồ ạt tháo lui. Bách Thanh không ngăn cản được, đành khua chiêng thu quân.

Tuy nhiên, trên con đường núi chỗ rộng chỗ hẹp này, một khi rút lui, hậu quả sẽ vô cùng thảm khốc, huống hồ quân Thục lúc này tâm lý đã khủng hoảng, ở chỗ rộng đã tranh giành chen chúc, đến chỗ hẹp lại tự bịt tắc đường, giẫm đạp lên nhau. Quân Tần cũng đã triển khai đội hình, tự do chém giết. Đáng thương cho năm nghìn quân Thục, ngoài một phần nhỏ chạy được vào trong rừng núi, phần lớn hoặc nhảy xuống nước, hoặc đầu hàng, hoặc thành ma dưới mũi thương của quân Tần.

Trận đối đầu này, từ lúc quân Tần nổi trống đến khi kết thúc trận chiến, trước sau không quá ba canh giờ, quân Tần toàn thắng, cơ bản đã khống chế được vùng sơn cốc hẹp ở phía đông Tiềm Thủy.

Bách Thanh bị thương nhiều chỗ, được hơn trăm tử sĩ yểm hộ, nhờ quen thuộc địa hình, bỏ chạy một mạch đến bến đò, thấy vẫn còn mấy chiếc thuyền, bèn nhanh chóng cắm sào đẩy thuyền, vội vã chèo ra giữa lòng sông.

Đúng vào lúc Bách Thanh và người Tần đang đối trận ở bờ đông Tiềm Thủy, lão tướng quốc Bách Quán, thái tử Tu Ngư, Trần Chẩn, Trang Thắng bốn người vừa hay đứng trên vách núi chỗ giao nhau giữa Tiềm Thủy và Bạch Long Thủy để quan sát địa thế.

Phóng mắt nhìn đi, Thổ Phí quả nhiên là vùng đất chiến lược tuyệt vời. Sông Bạch Long chảy từ phía tây về phía đông bắc, tại đó hợp dòng với Tiềm Thủy, hai sông giao nhau, từ đông chảy xuống phía nam, đến phía nam tiếp tục vòng sang phía tây, được mười mấy dặm lại vòng sang hướng chính nam, bao bọc thành một hình trụ lớn chừng vài chục dặm. Thành Thổ Phí nằm tại phần chóp của hình trụ này, ba mặt có sông bao quanh, phía sau là núi, trên núi có thành luỹ cửa quan, thật xứng danh là tường đồng vách sắt. Lần này người Thục đánh tới, đã phải trải qua rất nhiều gian khổ, cho dù đã huy động binh lực lớn gấp năm lần quân địch, cuối cùng cũng hạ được Thổ Phí, nhưng Thư Hầu vẫn có thể lợi dụng địa thế có lợi, dẫn tàn quân lui về quan ải ở phía sau, dựa vào nơi hiểm yếu tử thủ hai ngày.

Đối diện với địa thế trời cho kiểu này, cho dù là người không hiểu quân sự như Trần Chẩn cũng hỉ hả mừng rơn, luôn miệng xuýt xoa khen ngợi.

Lão tướng quốc vuốt chòm râu dài, cười vang mà nói: “Không giấu đặc sứ, so với Thiên Môn, sự hiểm yếu của nơi này vẫn chưa thấm vào đâu. Thiên Môn vừa hay chặn giữa con đường nối thông Thư - Hán mà người Thư mới mở, dựa vào thế núi, một người trấn thủ, vạn người khó qua. Ta đã căn dặn Bách Thanh dẫn năm nghìn tráng đinh đến đó dựng luỹ. Chỉ cần Bách Thanh chặn kín Thiên Môn, người Tần cho dù mọc cánh, cũng khó lòng bay qua!”

“Tốt lắm! Tốt lắm!” Trần Chẩn tấm tắc luôn miệng. “Nhưng lão tướng quốc cũng đừng nên coi thường sức mạnh của người Tần, chúng ta vẫn cần phải bố trí phòng bị nghiêm ngặt ở chỗ này, vạn nhất Thiên Môn thất thủ, cũng có thể ứng phó.”

“Đặc sứ yên tâm, lão hủ tự có sắp xếp!”

Lão tướng quốc vừa dứt lời, trong thành Thổ Phí bỗng rúc lên tiếng tù và rền rĩ. Một lát sau, một cung nhân thở hổn hển chạy lên, bẩm báo: “Tướng quốc đại nhân, điện hạ, mau, đại vương muốn xuất chiến, mời thượng tiên mau trở về!”

“Xuất chiến?” Mấy người bất giác đưa mắt nhìn nhau, thảy đều giật mình kinh ngạc, vội vàng đi theo cung nhân, trở về Thư Thành.

Quả không sai, trên quảng trường Thư Thành, vô số quân đinh đang tập hợp, Khai Minh Vương toàn thân giáp trụ, tay cầm trường kích, đang đi đi lại lại trước đội ngũ, duyệt đội quân của ông ta.

“Đại vương, thế này là thế nào…” Lão tướng quốc chỉ tay vào đội quân, nói không thành tiếng.

“Mau, mau lên!” Khai Minh Vương không để ý đến ông ta, tâm trạng vô cùng kích động, nói lớn với Trần Chẩn. “Thượng tiên, lúc nãy quả nhân đã nhìn thấy ái phi!”

“Nhìn thấy vương phi?” Mấy người ngơ ngác nhìn nhau.

“Nàng đang cầu cứu quả nhân, muốn quả nhân nhanh chóng cứu nàng, nói là giống quái vật kia…” Khai Minh Vương nghẹn lời, đâm mạnh mũi kích xuống đất.

Bách Quán đưa mắt nhìn Trần Chẩn.

“Giống quái vật kia làm sao?” Trần Chẩn mặt không biến sắc, chậm rãi hỏi.

“Giống quái vật kia không đợi thêm được nữa, tối nay muốn thành thân với ái phi, ái phi muốn quả nhân nhanh chóng đi cứu nàng! Thượng tiên hãy nói mau, cung điện của giống quái vật kia nằm ở đâu? Giờ đã sang chiều, nếu tiếp tục lần lữa sẽ chậm mất!”

“Đúng thế!” Trần Chẩn ngẩng đầu nhìn trời. “Dám hỏi đại vương, phải chăng đã gặp được vương phi trong mơ?”

“Không, không phải!” Khai Minh Vương vội đáp. “Quả nhân tận mắt nhìn thấy! Quả nhân lấy bức họa ra, ngắm nhìn ái phi giống như thường nhật. Ngắm được một lúc, đột nhiên cảm thấy bức họa có vẻ lạ thường, đang lúc kinh ngạc, bỗng thấy miệng ái phi khẽ mấp máy, rồi nàng… nàng cầu cứu quả nhân!” Nói đoạn, sốt sắng nhìn ra ngoài cung. “Trước mặt chính là sông Bạch Long, thượng tiên hãy mau dẫn quả nhân đi!”

Rõ ràng, Khai Minh Vương lúc này đã bị ngọn lửa tình mê muội thiêu đốt con tim.

“Đại vương chớ nên lo lắng!” Trần Chẩn khép mắt một lúc, rồi khuyên nhủ Khai Minh Vương. “Giống quái vật kia chẳng qua chỉ đe dọa Khổng Tước vương phi mà thôi, vì hiện giờ ngay cả tính mạng của nó cũng khó bảo toàn, đâu còn tâm trạng nào mà thành thân nữa?”

“Tính mạng khó bảo toàn?”

“Đại vương hãy nhìn xem!” Trần Chẩn chỉ vào đoàn quân trước mặt. “Mười vạn đại quân của đại vương áp sát biên giới, liên minh của nó là Thư Hầu đã thảm bại, thủy quái đã mất đi đại thế, liệu chừng không thể địch lại đại vương, nên giờ này đang phải cầu cứu viện binh ở khắp nơi!”

“Cầu cứu viện binh?” Khai Minh Vương vội hỏi. “Nó đã cầu được chưa?”

“Cầu được rồi!”

“Viện binh ở đâu?”

“Ở ngay bên kia!” Trần Chẩn chỉ tay về hướng đông bắc. “Người Tần!”

Lời vừa dứt, từ phía bờ đông Tiềm Thủy loáng thoáng vọng lại tiếng reo hò và tiếng kêu gào thảm thiết.

Mọi người đều giật nảy mình.

Khai Minh Vương không nói một lời, nắm lấy trường kích, lao như bay ra khỏi cung điện, xông thẳng về hướng đang dậy tiếng reo hò. Mọi người vội vã chạy sát theo sau, đuổi đến bờ sông, từ xa nhìn thấy trên bờ bên kia, quân Thục đang tháo chạy tan tác, quân Tần truy sát chém giết, cảnh tượng vô cùng thê thảm.

Mấy con thuyền từ bến đò phía bờ kia rẽ sóng tiến lại, áp sát vào bờ.

Bá Thanh toàn thân đẫm máu, bước đi loạng choạng, chạy lại gần, quỳ sụp xuống đất, chỉ gọi được một tiếng “đại vương” rồi ngất lịm.

***

Người Tần trận đầu toàn thắng.

Ở bờ đông Tiềm Thủy, nơi giao nhau giữa hai sông Bạch Long và Tiềm Thủy, có một khoảnh đất thoáng đãng rộng chừng mấy dặm, vốn là đồng ruộng của người Thư, lúc này đã bị người Tần phá hủy để làm doanh trại. Từ nơi đây phóng mắt nhìn đi, hai con sông giao nhau, cuồn cuộn chảy về nam, một dòng mênh mang xanh biếc lượn vòng bao quanh một bán đảo có hình đầu rùa ở phía bờ đối diện, kinh đô nước Thư, Thổ Phí, được đặt tại nơi hình thế hiểm trở nhất trên bán đảo.

Doanh trại trung quân của quân Tần được đặt ở trung tâm khoảnh đất rộng rãi này.

Đêm đến, trại trung quân đèn đuốc sáng trưng như ban ngày, không khí tưng bừng hoan hỷ. Một tấm bản đồ địa thế núi sông được trải lên mặt bàn rộng lớn, chủ tướng Trương Nghi ngồi ở sau bàn, hai mắt khép hờ, hai tai dỏng lên, nửa như đang quan sát bản đồ, nửa như đang tập trung suy nghĩ, lại như đang nghe ngóng điều gì. Sơ đồ không được chính xác và quy chuẩn, là do thái tử nước Thư Thông Quốc sau khi bị thương đã gắng nhịn đau phác thảo ra.

Ngồi đối diện trước bàn là Tư Mã Thác và Ngụy Chương, hai người cũng đều đang ngẫm nghĩ.

Bên ngoài đại trại, mấy tướng lĩnh tụm lại một chỗ, đang bàn tán xôn xao về trận chiến hôm nay. Đô uý Mặc kể đến đoạn cao trào, giọng nói sôi nổi, biểu cảm sinh động, quá trình tỉ mỉ, từ cảnh người Thục không biết đánh trận mà bỏ mạng, cầu xin tha chết, rồi cảnh họ xua đuổi người Thục giống như bầy sói dữ đuổi cừu non, chém đầu quân Thục giống như bổ dưa hấu, cảnh hăm hở cắt tai quân Thục… Cứ thế thao thao bất tuyệt, khơi dậy từng trận cười sảng khoái và những lời xuýt xoa khen ngợi, không khí vô cùng sôi nổi.

Trương Nghi hơi chau mày, khẽ đặng hắng một tiếng, đưa mắt liếc ra ngoài đại trại, hất hàm với Tư Mã Thác, rồi gật đầu ra hiệu.

Tư Mã Thác biết ý, đứng dậy đi ra ngoài trại, giơ tay lên nói: “Chư vị tướng quân, chủ tướng có lời mời!”

Mọi người kéo nhau vào trại, lần lượt ngồi xuống chiếu. Tất cả mọi ánh mắt đều đổ dồn vào Trương Nghi.

“Chư vị tướng quân!” Trương Nghi đưa mắt nhìn chư tướng một lượt, hạ giọng nói. “Hôm nay đánh trận đầu tiên, không thể thiếu công lao của Ngụy Chương tướng quân, đô uý Mặc và các tướng sĩ tiên phong, xứng đáng được ghi công đầu. Tuy nhiên, trong lúc mừng công, tại hạ vẫn muốn mọi người suy nghĩ về một việc: lần này chúng ta đến đây, là để giết người, hay là để chinh phạt Thục?”

Chinh phạt và giết người, hai chuyện này gắn liền với nhau, không phải có thể lựa chọn. Trương Nghi nói ra lời này, chư tướng ai nấy đều kinh ngạc, ngay cả Tư Mã Thác cũng ngẩn ra không hiểu.

“Chư vị tướng quân, xin hãy trả lời!” Trương Nghi lại giục.

“Chinh phạt Thục!” Chư tướng chần chừ một lát, sau đó đồng thanh đáp lời.

“Đúng vậy!” Trương Nghi gật đầu. “Chúng ta đến đây là để chinh phạt Thục, không phải đến để giết người. Đương nhiên, chinh phạt tất yếu phải giết người. Nhưng chư vị thử nghĩ xem, nếu chúng ta giết sạch người Thục, còn cần Thục để làm gì nữa?”

Cái “nếu như” này khó mà biến thành sự thực, các tướng ai nấy đều ngơ ngác.

“Chư vị tướng quân!” Trương Nghi khéo léo dẫn dắt. “Thời thế phân tranh, không có ranh giới đất nước. Đã không có ranh giới đất nước, lấy đâu ra phân chia Tần, Thục? Kẻ đối trận với chúng ta, hôm nay là người Thục, nhưng ngày mai sẽ trở thành người Tần!” Đoạn đưa mắt liếc nhìn đô uý Mặc. “Mặc tướng quân, người Tần đi giết người Tần, điều này có đáng để khoe khoang chăng?”

Đô uý Mặc sắc mặt đỏ bừng, lắp bắp: “Nhưng… họ không phải là người Tần, họ là người Thục, là người Thục tay cầm binh khí, Chúng ta không giết họ, họ sẽ giết chúng ta!”

“Đúng vậy!” Trương Nghi ngắt lời. “Chúng ta không giết họ, họ sẽ giết chúng ta. Tuy nhiên…” lập tức đổi giọng, ngữ điệu nghiêm khắc, “khi bản tướng đi tuần sát chiến trường, lại nhìn thấy không ít người Thục chết trong tư thế quỳ! Chư vị tướng quân, người Thục đã quỳ xuống rồi, binh khí của người Thục đã hạ rồi, nhưng họ vẫn bị giết!”

Đô uý Mặc há miệng ra, rồi lập tức ngậm ngay lại.

“Chư vị tướng quân!” Giọng Trương Nghi càng thêm trầm trọng. “Bản tướng đã biết tại sao họ lại bị giết. Tại sao? Vì tướng sĩ của chúng ta chỉ muốn cắt lấy một tai của họ!”

Xung quanh lặng phắc như tờ.

“Chư vị tướng quân!” Giọng Trương Nghi càng thêm nghiêm khắc. “Không phải bản tướng không cho các vị lập công, không cho các vị giết người, mà là bản tướng không muốn các vi giết người bừa bãi. Chư vị có điều không biết, chế độ Thục không giống với chế độ Tần, những người Thục này không phải là binh lính, họ chỉ là ngũ đinh. Ngũ đinh là gì? Ngũ đinh chính là kim đinh, mộc đinh, thổ đinh, thủy đinh và công đinh, nói trắng ra, chính là dân thường, là bách tính các ngành. Thường ngày, họ làm các nghề khác nhau, chỉ khi có chiến tranh mới tập hợp thành đội ngũ, thành binh đinh, theo Thục Vương chinh phạt. Rất nhiều người không hề biết chém giết là gì, đây chính là nguyên nhân khiến họ trang phục mỗi người một khác, và sức chiến đấu yếu kém nhường vậy.”

Nghe Trương Nghi phân tích, cái đầu đang ngẩng cao của đô uý Mặc liền cúi gằm xuống, chư tướng cũng lũ lượt cúi đầu, không ai còn dám ho he một tiếng.

“Chư vị tướng quân!” Trương Nghi lại tiếp, ngữ khí bỗng trở nên kích động. “Mọi người đã từng nghĩ đến chưa, Thục có mười vạn đại binh, núi sông hiểm trở, ta có đường Thục gian nan, tiếp tế bất tiện. Thế nhưng, tại hạ chỉ dẫn theo năm vạn binh tốt dưới cờ của các vị, đi đường núi, vào tuyệt địa, xâm phạm nước lớn, chinh phạt nước xa, quân đơn độc không có viện binh, sau lưng không có đường lui, thì dựa vào cái gì? Dựa vào sự thiện chiến của chư vị ư? Dựa vào sự dũng mãnh giết chóc của chư vị ư? Không, thứ mà tại hạ dựa vào, căn bản không phải là chư vị, mà là người Thục! Là lòng dân đất Thục. Vì tại hạ biết rõ, Thục Vương si tình khiến dân chúng lao nhọc, quan Thục xa hoa ngạo mạn, dân Thục ai ai cũng oán thán, nhưng lại không dám nói ra!”

Trương Nghi nói ra những lời này, khiến các tướng sĩ nghe mà mặt mũi nóng ran, nhưng không ai không phục.

“Chư vị tướng quân!” Trương Nghi giọng đã hoà hoãn bớt. “Chúng ta phạt Thục, đầu tiên phải phục Thục; phục Thục, trước tiên phải phục được dân; phục dân, trước tiên phải phục được tâm; phục tâm, trước tiên phải hạn chế giết chóc, biết thương lấy dân Thục. Bởi vậy, bản tướng sẽ tuyên bố ba điều quân lệnh!”

Chư tướng hoàn toàn khâm phục, ngẩng đầu đợi lệnh.

“Thứ nhất, hai quân đối trận, dùng thế bức bách, ép buộc đầu hàng. Thứ hai, những người đã xin hàng, không được sát hại, sắp xếp thoả đáng cho họ. Thứ ba, kẻ nào chống đối, giết, ngoại trừ phụ nữ, trẻ con và người già.”

“Xin tuân lệnh!” Chư tướng đồng thanh đáp.

“Còn nữa!” Trương Nghi lại cất giọng sang sảng. “Cách thức khen thưởng lập công cũng phải được thay đổi cho thích hợp. Có ba điều thay đổi: thứ nhất, cắt được hai tai, ghi công một tai. Thứ hai, bắt sống được một, ghi công hai tai. Thứ ba, bắt giết lãnh chúa, gấp đôi; vương tử công tôn, gấp năm; tướng Thục, gấp mười; thái tử hoặc Thục Vương, gấp hai mươi. Các mục thưởng phạt khác không thay đổi! Chú ý, thay đổi này chỉ áp dụng cho Thục, không dùng cho Sở. Giao chiến với Sở, vẫn theo lệ cũ.”

“Tuân lệnh!” Các tướng thảy đều hoan hỷ, giọng hô cũng vang vọng hơn nhiều.

“Chư vị tướng quân!” Truyền xong quân lệnh, Trương Nghi cũng đã yên tâm, trên mặt lại nở nụ cười. “Bản tướng triệu chư vị tới đây, tuyên bố mấy điều quân lệnh chỉ là thứ yếu, mưu tính kế hoạch tiếp theo mới là việc chính. Chư vị đều biết, bản tướng không hiểu hành quân, không rành việc quân, lần này chinh phạt, chịu ơn của đại vương mà nhận lệnh, nhưng trong lòng vô cùng lo lắng, quả thực chỉ biết nhờ vào chư vị.” Rồi chỉ vào bản đồ. “Tình thế đều hiển hiện ở đây, xin chư vị hãy cùng đưa ra kỳ mưu, chiến thắng kẻ địch!”

Chư tướng quay mặt nhìn nhau.

“Địa hình hiểm yếu của đất Thư, lúc ban ngày chư vị cũng đã nhìn thấy cả rồi!” Trương Nghi chỉ tay vào một đường kẻ màu xanh trên tấm địa đồ. “Từ đây cho đến tận chỗ này, chúng ta đã bị con sông Tiềm Thủy ngăn cách. Tiềm Thủy lòng sâu nước xiết, không thể lội qua. Ngoài ra, theo lời của người Thư, lần này Thục Vương phạt Thư, tuyên bố phát động mười vạn ngũ đinh, nhưng kỳ thực chưa đầy tám vạn, trong đó năm nghìn đã bị tan rã, còn có sáu vạn tập kết tại đây, chủ yếu phân bố ở đây!” Vạch một vòng tròn lớn men theo dòng sông ở quanh thành Thổ Phí. “Ngoài ra còn có một vạn người, phân tán tại tuyến này!” Chỉ vào một tuyến đường ngoằn nghèo từ Thư đô Thổ Phí đến Kiếm Các. “Đây là con đường núi duy nhất để đi từ Thục sang đất Thư, gọi là đường bộ.” Rồi chỉ vào hai dải màu xanh giao cắt nhau. “Đây là sông Bạch Long, đấy là sông Thanh Thủy, theo sông Bạch Long đi qua Thanh Thủy có thể đến thẳng nơi này, là lối vào của hình trụ này, gọi là đường thủy, người Thục đã từ đây vòng qua tuyến phòng thủ đường bộ của người Thư, tập kích người Thư thành công.” Rồi đưa mắt nhìn mọi người. “Chư vị hãy bàn bạc, chúng ta nên đánh thế nào mới là thượng sách?”

“Mạt tướng cho rằng,” Tư Mã Thác lên tiếng trước, “nhằm vào chỗ quân Thục không giỏi chiến đấu, chúng ta có thể đóng bè gỗ, từ đây thuận dòng nước vượt qua Tiềm Thủy, khống chế vùng bãi bồi nơi này, tiếp tục dùng đó làm bàn đạp, tấn công trực diện địch, chiếm lấy bờ đối diện, một trận đánh bại quân Thục.”

Các tướng đều cho là thượng sách, chỉ có Ngụy Chương không phản ứng, vẫn trầm ngâm suy nghĩ.

“Ngụy tướng quân?” Trương Nghi nhìn hắn.

“Khởi bẩm chủ tướng!” Ngụy Chương vòng tay nói. “Nếu như giao chiến trực diện với quân địch, mặc dù có thể giành được phần thắng, nhưng cũng có hai điểm không thoả đáng. Một là gây sát thương lớn, không hợp với bản ý của tướng quân; hai là thắng lợi không trọn vẹn, người Thục có thể ung dung rút đi, dọc đường tổ chức chống cự, ngược lại sẽ khiến cho ta sa vào thế bị động.”

Chư tướng đều giật nảy mình, vì Ngụy Chương kia dám phản đối cả phương án của quốc uý.

“Tướng quân có cao mưu gì chăng?” Trương Nghi ngả người về phía trước, hiển nhiên đã tán đồng.

“Mạt tướng cho rằng,” Ngụy Chương đứng dậy đi tới trước tấm bản đồ, lấy bút vạch theo hạ lưu Tiềm Thủy, từ nơi cách thành Thổ Phí chừng mấy chục dặm vẽ một đường về phía tây, dừng lại ở phần cuối của hình trụ. “Ta có thể vượt qua Tiềm Thủy từ chỗ này, dọc theo đường này tiến vào điểm này, cắt đứt hai đường thủy bộ của người Thục. Sau đó, chủ tướng có thể hiểu dụ về đại thế với người Thục, sau đó mới phát động tấn công trực diện. Trước có đại binh áp sát, sau lại bị cắt đứt đường lui, người Thục sẽ tự rối loạn. Ta lại dùng lời lẽ đe dọa người Thục, hoặc giả có thể không chiến mà hàng.”

Kế sách của Ngụy Chương thực quá bạo gan, chư tướng đều đổ dồn mắt nhìn hắn. Trong mắt phần lớn tướng Tần, Ngụy Chương vẫn là một tướng quân bị thịt, lần này được Tần Vương phá cách phong làm tiên phong, không ít tướng lĩnh đều tỏ ra không phục, đặc biệt là đô uý Mặc, vốn luôn coi thường Ngụy Chương. Điều này cũng khó trách, binh sĩ tinh nhuệ của tả quân tiên phong đều do một tay đô uý Mặc huấn luyện, song đến khi xuất chinh, Tần vương lại thình lình đẩy cho ông ta một viên tướng cấp trên, còn ông ta chỉ được làm phó tướng, càng khiến đô uý Mặc tích thêm một phần oán hận với Ngụy Chương.

“Ngụy tướng quân!” Đô uý Mặc có phần giễu cợt. “Con đường này không hề có lấy một chỗ cong queo, là tướng quân tiện tay vẽ ra, hay đó là con đường núi do vị thần tiên nào dùng phép thần thông khai phá ra thế?”

Các tướng đều cười toáng lên.

“Chư vị tướng quân!” Ngụy Chương liếc nhìn đô uý Mặc một cái, lần lượt vòng tay với từng người. “Là tướng tiên phong, tại hạ có vài lời, nhân cơ hội này xin được thổ lộ. Thường có câu, người có mặt, cây có vỏ, tại hạ đổi tên thành Ngụy Chương, là muốn nói cho người đời biết rằng, tên công tử nước Ngụy ngày xưa, tên tướng vô dụng công tử Ngang nước Ngụy thành công chẳng mấy, phá hoại có thừa trước đây, đã chết hẳn rồi!”

Thấy Ngụy Chương có vẻ nghiêm túc, chư tướng đều thôi cười, quay mặt nhìn nhau.

“Tại hạ trước nay cứ ngỡ mình trí dũng bất phàm, lấy giết chóc làm thú vui,” Ngụy Chương dõng dạc nói tiếp, “tuy nhiên, mấy năm gần đây gặp được một số người, đều đã khiến tại hạ tự thấy hổ thẹn. Những người này, một là Bàng Quyên, một là Tô Tần, tiếp theo chính là Trương tướng quân.” Quay sang vòng tay với Trương Nghi. “Những lời Trương tướng quân vừa nói khi nãy, khiến tại hạ trong lòng chấn động, thực xứng danh là vị tướng quân chân chính trong thiên hạ. Không giấu chư vị, lần này xuất chinh, tại hạ xin được tham gia, chỉ muốn làm một binh tốt bình thường xung phong trước trận, không ngờ đại vương lại ban ân, phong cho tại hạ làm tướng quân tiên phong. Tại hạ xin thề với chư vị, tại hạ không có ý cầu công danh, chỉ muốn được chết nơi sa trường, một là để báo đáp ơn vua, hai là để sửa lại tiếng xấu ngày trước, mong chư vị tướng quân làm chứng. Còn về con đường lúc nãy, tuyệt đối không phải do tại hạ tiện tay vẽ ra. Tại hạ nguyện lập quân lệnh trạng, dẫn theo một nghìn quân cảm tử, theo tuyến đường này cắt đứt đường lui của quân Thục!”

Rõ ràng, Ngụy Chương đã tin tưởng chắc nịch vào tuyến đường này, lại nguyện mang quân theo đó, còn dám lập cả quân lệnh trạng, chắc chắn là trong đầu đã có tính toán. Từ lúc đặt chân đến đất này, nhiều nhất cũng chưa đến nửa ngày, nhưng chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi, Ngụy Chương lại có thể tìm ra được một con đường chế thắng thần kỳ nhường đấy, cho thấy hắn chuyên chú đến mức nào. Chư tướng Tần nghe vậy, thảy đều kinh ngạc, trong lòng cảm kích, tất cả đều gật đầu bày tỏ sự kính trọng với Ngụy Chương. Ngay cả đô uý Mặc cũng vòng tay cười với Ngụy Chương, tỏ ý tạ lỗi.

Đây chính là điều Trương Nghi mong được nhìn thấy. Kỳ thực, những lời vừa nãy, đều là do Trương Nghi đã kín đáo chỉ dạy cho Ngụy Chương từ trước. Thân là hàng tướng người Ngụy, Ngụy Chương nay thống lĩnh quân Tần, tướng Tần không phục là điều đương nhiên. Còn con đường bí mật kia, là do thái tử Thông Quốc ngấm ngầm tiết lộ cho Trương Nghi biết, tuy quanh co lắt léo, nhưng người có thể đi được, thợ săn và người hái thuốc địa phương đều biết. Về kế kỳ binh này, Trương Nghi sớm đã có tính toán, chẳng qua là muốn tặng lại công lao này cho Ngụy Chương, để giúp hắn lập uy với quân, lập công cho Tần.

Thấy chư tướng đều đã tin phục Ngụy Chương, Trương Nghi bèn thuận thế phát ra mấy đạo lệnh bài. Một là lệnh cho Ngụy Chương, đô uý Mặc dẫn năm nghìn quân, bí mật di chuyển đến phía hạ lưu sông Tiềm Thủy, mang theo các dụng cụ có thể khuếch trương thanh thế như cờ hiệu, chiêng trống, do người Thư dẫn đường, trong vòng bảy ngày phải đến được địa điểm chỉ định, cắt đứt đường lui thủy bộ của quân Thục, bày nghi binh lừa địch. Hai là lệnh cho tướng quân Trương Nhược dẫn ba nghìn quân sĩ, thu gom thuyền bè, hộ tống Ba tử Tử Sưu xuôi theo Tiềm Thủy xuống hạ lưu, tới Ba đô Lang Trung, giúp Ba Vương phòng thủ. Ba là lệnh cho Tư Mã Thác dẫn theo hai vạn quân, chặt cây bắc cầu vượt qua Tiềm Thủy, chiếm lấy bến sông phía bờ bắc sông Bạch Long, chiếm lấy hai hòn đảo giữa dòng, đoạt được ưu thế thượng nguồn và tiên cơ chế địch, từ đó khiến quân Thục khiếp sợ. Các bộ còn lại vẫn đóng ở bờ đông Tiềm Thủy, quan sát diễn biến để tiếp ứng khi cần thiết.

***

Năm nghìn quân Thục ở bờ đông Tiềm Thủy vừa đánh đã tan, bị người Tần truy sát suốt dọc đường, toàn bộ cảnh tượng thê thảm này, người Thục ở bên kia sông đã chứng kiến tận mắt, cơn khủng hoảng nhanh chóng lan truyền trong người Thục hệt như bệnh dịch.

Đến khi trời tối, Bách Thanh mới mơ màng tỉnh dậy, thuật lại đầu đuôi trận chiến khủng khiếp vừa qua, khiến thái tử Tu Ngư nghe mà lạnh toát sống lưng, quay sang nhìn tướng quốc, giọng run rẩy: “Lão ái khanh, người Tần hung hãn đến vậy, giờ ta phải làm thế nào?”

“Than ôi!” Lão tướng quốc trầm ngâm hồi lâu, rồi than thở. “Là sai lầm của lão hủ, lão hủ không nên bỏ công giành giật thành Thổ Phí với người Thư, để lỡ mất hai ngày thời gian. Nếu như vừa đến đây, đã lập tức chiếm lấy Thiên Môn, xây dựng thành luỹ ở đó, lập một tuyến phòng thủ vững chãi, thì cục thế sẽ không đến nỗi thế này!”

“A…” Thấy lão tướng quốc nói vậy, Tu Ngư mặt mày biến sắc. “Hay là, chúng ta hãy giảng hoà với người Tần?”

“Điện hạ suy nghĩ quá ngây thơ rồi!” Trần Chẩn có phần châm biếm. “Người Tần hưng binh rầm rộ, xuất hàng vạn đại quân, vượt hàng ngàn dặm đường, tuyệt đối không phải đến để giảng hoà đâu!”

“Vậy…” Tu Ngư kinh hãi, “họ muốn gì?”

“Muốn thôn tính đất đai của điện hạ!”

“Cho họ đi!” Tu Ngư suy nghĩ một thoáng, rồi nghiêm túc nói. “Tặng đất Thư cho họ!”

“Đất Thư đã là của họ rồi!”

“Cho họ một nửa đất Thục, thế nào?”

Trần Chẩn cười nhăn nhó một tiếng, lắc đầu.

“Ta… ta… ta…” Tu Ngư quýnh quáng. “Chúng ta chỉ giữ lại Thành Đô, còn lại cho họ hết, thế nào?”

“Than ôi!” Thấy thái tử như vậy, Trần Chẩn lắc đầu, lại cười gượng một tiếng. “Điện hạ ơi, đây là chuyện sinh tử tồn vong, không phải là kỳ kèo mặc cả trong chợ búa! Còn nhớ lúc trước tại hạ đã nói, nước Thục đất đai màu mỡ, người Tần thèm muốn đã lâu. Người Tần đổ bao tâm lực để dụ người Thư mở thông đường núi, mục đích chỉ có một, chính là thôn tính Ba, Thục. Đất Ba tạm không nhắc đến, chỉ riêng đất Thục, thuộc về đại vương, thuộc về điện hạ. Mấy trăm năm nay, người Thục chỉ biết tận trung với đại vương, tận trung với điện hạ, nên điện hạ ơi, cho dù các vị có hai tay dâng toàn bộ đất Thục, thì người Tần cũng có chịu để đại vương và điện hạ sống trên cõi đời này không?”

Lời của Trần Chẩn câu nào cũng hữu lý, rõ ràng không phải là hù doạ. Tu Ngư mặt trắng bệch, toàn thân run lẩy bẩy, bất đồ quỳ sụp xuống đất, khấu đầu lia lịa trước lão Bách Quán, nước mắt ròng ròng: “Lão ái khanh, khanh… khanh khanh khanh… khanh hãy mau đi cầu xin phụ vương, Tu Ngư không làm thái tử nữa, Tu Ngư… Tu Ngư không muốn chết, lão ái khanh…”

Đại địch ở ngay trước mặt, nhưng thái tử lại hèn kém đến thế này, thật là mất hết thể diện của người Thục. Lão tướng quốc tức giận đến toàn thân run rẩy, tay run bần bật chỉ vào Tu Ngư: “Người… người…”

Lão tướng quốc giận đến tắc thở, mặt mũi tím tái, may sao Trang Thắng kịp chạy đến, xoa vỗ một hồi mới từ từ hồi phục lại được.

Trần Chẩn đưa tới một chén nước, lão tướng quốc uống một hớp, lại thở hổn hển mấy hơi, rồi quay ra ngoài, trầm giọng gọi: “Người đâu!”

Hai tráng đinh bước vào.

Lão tướng quốc nhìn Tu Ngư vẫn quỳ dưới đất, nói: “Điện hạ trong người khó ở, mau đưa về tẩm cung nghỉ ngơi!”

Hai tráng đinh không nói một lời, mỗi người một bên, xốc Tu Ngư dậy đi thẳng ra ngoài cửa. Tu Ngư không hề giằng co, nhưng tiếng gào thét vọng lại vẫn vô cùng thảm thiết: “Lão ái khanh, Tu Ngư cầu xin người, Tu Ngư không muốn làm thái tử, Tu Ngư không muốn chết!”

Tiếng la hét của Tu Ngư xa dần. Lão tướng quốc quay sang Trần Chẩn cười gượng một tiếng, nước mắt giàn giụa.

“Tướng quốc đại nhân!” Trần Chẩn vòng tay tạ tội. “Là vãn sinh đã nói sai, khiến điện hạ sợ hãi. Vãn sinh…”

Trong sảnh lặng ngắt như tờ.

Không biết đã trôi qua bao lâu, lão tướng quốc đưa tay lau nước mắt, rồi chợt ngẩng phắt đầu, nói với Trần Chẩn: “Đặc sứ đại nhân, không cần nói thêm gì nữa!” Dừng lại một lúc, siết chặt nắm đấm, sắc mặt cương nghị, từng tiếng sang sảng như chuông. “Mảnh đất này là do tiên vương Khai Minh để lại, tuyệt đối không được dâng cho người khác từ tay lão hủ!”

“Lão tướng quốc ơi!” Nghe thấy lời này, Trần Chẩn vừa cảm động, vừa lo lắng. “Đại vương đã thành ra như vậy, điện hạ lại như thế, Bách tướng quân nay lại thân mang trọng thương, lão tướng quốc…”

“Đây là số mệnh!” Lão tướng quốc thở dài một tiếng, tiếp lời. “Trần tiên sinh cũng đã nhìn thấy cả rồi, là trời muốn diệt Thục, trời muốn diệt Thục!” Rồi khó nhọc đứng dậy, lắc đầu mấy cái, hai chân nặng nề cất bước, lảo đảo rời đi.

Nhìn theo lão tướng quốc từ từ xa dần, Trang Thắng xích lại bên Trần Chẩn, hỏi nhỏ: “Trần đại nhân, việc đã đến nước này, giờ chúng ta phải làm thế nào?”

“Than ôi!” Trần Chẩn thở dài một tiếng, cũng đứng dậy. “Còn có thể làm thế nào được nữa? Mau đi chuẩn bị thuyền bè, chuẩn bị thêm mấy bộ trang phục người Thư để dùng khi cần thiết! Còn nữa, tốt nhất tướng quân hãy lập tức phái người về Thành Đô, đón tôn phu nhân và lệnh muội nhanh chóng rời khỏi đất Thục, nếu như tướng quân không muốn họ phải mua vui cho người Tần.”

“Đa tạ tiên sinh quan tâm!” Trang Thắng khom người vái một vái, rồi vội vàng đi ngay.

Giờ Ngọ hôm sau, một đợt tù và rúc lên hùng hồn, như muốn rạch toang cả trời xanh. Người Thục lăm lăm khí giới, tập hợp trên bãi bồi bên bờ sông Bạch Long, hàng ngũ tăm tắp, từ xa nhìn lại, thấy đen kịt như một bầy kiến khổng lồ.

Hàng nghìn hàng vạn con kiến từ từ xúm xít tiến về một đài cao.

Đài này mới được xây dựng theo mệnh lệnh của lão tướng quốc. Hai bên đài cao, mấy chục nhạc công tay cầm nhạc cụ, vài chục vu sư đang nhảy múa theo tiếng nhạc.

Trên đài treo ngang một bức màn. Dưới đài, mấy chục tướng quân, cũng chính là lãnh chúa quý tộc từ cấp thiên phu trưởng trở lên của các vùng, dẫn đầu ngũ đinh, ai nấy binh khí trong tay, ngẩng đầu ưỡn ngực, hệt như những cọc gỗ đóng thẳng trên mặt đất.

Điệu nhảy kết thúc, tiếng nhạc ngừng bặt, đám vu sư cũng trật tự lui ra. Không khí nặng nề ngưng đọng, vô số ánh mắt đều đổ dồn vào bức màn trên đài cao.

Cánh màn từ từ mở ra. Khai Minh Vương Lư Tử toàn thân giáp trụ, tay cầm trường kích, hiên ngang kiêu hãnh đứng ở giữa đài. Lão tướng quốc đứng bên trái Khai Minh Vương, cũng một thân nhung phục, tay giữ trường thương; đứng bên phải là tướng quân Bách Thanh.

Khai Minh Vương tinh thần hưng phấn, toàn thân sát khí. Lão tướng quốc râu trắng phất phơ, mắt như ánh chớp, hào khí ngút trời. Bách Thanh đầu mặt, cơ thể nhiều chỗ bị thương vẫn rỉ máu tươi, nhưng sắc mặt cương nghị, khí thế trầm tĩnh.

Nhìn thấy Khai Minh Vương, tất cả người Thục có mặt đều phấn chấn, giậm chân hô vang: “Khai Minh Vương! Khai Minh Vương! Khai Minh Vương…”

Lão tướng quốc xua tay, tiếng hô dừng lại.

“Chư vị dũng sĩ!” Khai Minh Vương bước lên trước một bước, gõ mạnh trường kích xuống đài, gằn từng chữ. “Quái vật sông Bạch Long ngầm cấu kết với Hà Manh, Hà Manh ngầm cấu kết với người Tần, hai kẻ ác tặc hợp mưu ức hiếp ái phi Khổng Tước của bản vương. Vào tối hôm qua, ái phi lại một lần nữa khóc than cầu cứu, bản vương quyết định, từ ngày hôm nay, quyết tử chiến với quái vật sông Bạch Long! Chư vị dũng sĩ, ai không sợ chết, giờ hãy theo quả nhân, xung phong đánh trận, quét sạch người Tần, bắt sống thủy quái!”

Khai Minh Vương vừa dứt lời, Bách Thanh đã giậm cán thương xuống đất, vung tay hô lớn: “Chư vị dũng sĩ, mau theo đại vương, xông vào trận địch, quét sạch người Tần, bắt sống thủy quái!”

Các dũng sĩ đều gõ binh khí xuống đất rậm rịch, hoa tay múa chân: “Đi theo đại vương, xông vào trận địch, quét sạch người Tần, bắt sống thủy quái!”

Từng đợt sóng âm vang rền dội lên muốn xé toang màng nhĩ. Khai Minh Vương hào khí ngút trời, hai tay cầm kích, khí thế hừng hực bước xuống đài, tiến thẳng về phía chiến trường của ông ta.

Lão tướng quốc ra hiệu, Bách Thanh bèn vung tay, mấy chục binh sĩ bèn hộ tống phía sau Khai Minh Vương, cùng đi xuống đài. Dưới đài, mấy chục binh lính cầm kích đã đợi sẵn, nhất tề đi theo Khai Minh Vương, ai nấy tư thế lẫm liệt, miệng hô vang dậy, thực là khí thế dậy trời, uy phong ngất ngưởng, theo con đường lớn mà đi xa dần.

Rõ ràng, đây là màn kịch mở đầu mà lão tướng quốc đã dày công sắp đặt. Trần Chẩn đứng ở dưới đài khẽ gật đầu, ánh mắt nhìn lên đài không chớp, chờ xem màn độc diễn của lão tướng quốc sẽ tiếp tục ra sao.

Bách Thanh lại quay trở về trên đài, đứng bên cạnh cha. Những vết thương của Bách Thanh đều không nguy hiểm, nghỉ ngơi một đêm, giờ đã có thể đứng vững.

“Chư vị dũng sĩ!” Lão tướng quốc trao cây thương trong tay cho Bách Thanh, nói lớn. “Quái vật sông Bạch Long ngầm cấu kết với Hà Manh, Hà Manh ngầm cấu kết với người Tần, ức hiếp Khổng Tước vương phi, chuyện này mà nhẫn nhục được, thì còn có chuyện gì không nhẫn nhục được đây? Lúc nãy, đại vương đã hạ chỉ, quyết chiến với người Tần, ứng cứu vương phi!”

Mọi người không ai lên tiếng. Không gian lặng phắc như tờ.

“Chư vị dũng sĩ!” Lão tướng quốc giọng nói chậm rãi, gần như gằn từng tiếng. “Thứ mà thủy quái sông Bạch Long muốn có, chỉ là một mình vương phi; thứ mà người Tần muốn có, lại là non sông Khai Minh ta. Theo lão hủ được biết, người Tần bịa ra chuyện trâu thần vãi phân vàng, dụ dỗ người Thư mở đường núi, mục đích chỉ có một, chính là lợi dụng con đường này, tiêu diệt người Thục ta, chiếm ruộng đất của ta, ức hiếp vợ con ta, đời đời đè đầu cưỡi cổ người Thục ta. Chư vị dũng sĩ, lão hủ già rồi, các vị vẫn còn trẻ tuổi. Lão hủ không chịu! Lão hủ thề chết cũng không đồng ý! Nay lão hủ đến đây để hỏi các vị, đồng ý, hay không đồng ý!”

“Không đồng ý!” Dưới đài khí thế sôi sục, mọi người đồng thanh hô vang.

“Chư vị dũng sĩ!” Lão tướng quốc lại vung tay. “Trận chiến hôm qua, bên ta bị động, năm nghìn dũng sĩ vì nước tuẫn thân. Theo lời của Bách tướng quân và những người tận mắt chứng kiến, người Tần không có chút tính người, hung tàn cực độ, các dũng sĩ của ta thấy thế không địch nổi, không ít người đã hạ vũ khí, nhưng vẫn bị họ tàn sát. Không những thế, hỡi các dũng sĩ, người Tần tàn bạo còn cắt tai các dũng sĩ của ta, treo trên cán thương!”

Dưới đài lặng im phăng phắc, tất cả mọi khuôn mặt đều méo xệch, một niềm bi phẫn uất ức lớn lao như ngưng đọng trong không khí.

“Chư vị dũng sĩ!” Lão tướng quốc siết chặt nắm tay, cất cao giọng. “Người Tần hung bạo, là ma quỷ, là giống ma quỷ còn đáng căm hận hơn cả thủy quái! Nhưng chúng ta không sợ chúng, vì chúng cũng như chúng ta, cũng là cơ thể máu thịt, chúng cũng sẽ phải chết. Trận chiến hôm qua, người Tần thắng vì được trang bị. Chúng có giáp trụ, thương của chúng dài hơn của ta, tên của chúng nặng hơn của ta, người của chúng nhiều hơn của ta. Tuy nhiên, người Tần không phải là không có điểm yếu. Người Tần có ba điểm yếu. Thứ nhất, không có địa lợi. Thứ hai, quân đơn độc từ xa đến. Thứ ba, lạ người lạ đất. Không có được địa lợi, ta có thể dựa vào nơi hiểm yếu để chống cự, lăn cây lăn đá đè chết họ. Quân đơn độc từ xa đến, lương thảo sẽ khó cung ứng, chúng ta chỉ cần kiên trì kháng cự, tin chắc trong vòng ba tháng, quân Tần sẽ tự tan rã. Lạ người lạ đất, người Tần là quân đơn độc tác chiến, đồng minh của người Tần là người Thư đã bại trận, còn Khai Minh Vương của ta lại được người Sở cứu viện. Mười vạn đại quân Sở đang tiến đánh người Ba, tin chắc trong vòng một tháng sẽ đến đất này, cùng quyết chiến với Tần!”

Dưới đài mọi người phấn chấn náo nức, tiếng hô vang rền như sấm động.

Nỗi sợ hãi sầu thảm sau trận chiến bại hôm qua, chỉ trong khoảnh khắc gần như đã tan biến hoàn toàn, ý chí vệ quốc của người Thục đã được những lời khảng khái của lão tướng quốc đẩy lên đến cao trào.

Trong một canh giờ sau đó, lão tướng quốc liên tiếp phát lệnh bài, bố trí ba tuyến phòng thủ. Tuyến thứ nhất, do ông ta và Khai Minh Vương đích thân dẫn bốn vạn binh sĩ, lợi dụng địa thế hiểm trở của các sông Tiềm Thủy, Bạch Long, chặn đánh người Tần ở Thư đô Thổ Phí. Tuyến thứ hai, do Cừ Thủ tướng quân dẫn một vạn quân, phân tán phòng thủ dọc theo sông Bạch Long, dựng luỹ ở nơi hiểm yếu, qua lại tiếp ứng. Tuyến thứ ba, do điện hạ Tu Ngư, tướng quân Bách Thanh dẫn hai vạn quân, bố trí phòng ngự dọc theo Thanh Thủy, dựng luỹ ở Kiếm Môn, đảm bảo cho vận chuyển được thông suốt.

Các dũng sĩ khí thế hừng hực, lần lượt nhận lệnh lên đường. Trong tình thế bất lợi đến nhường này, mà lão tướng quốc chỉ trong hai canh giờ ngắn ngủi đã xoay chuyển được sĩ khí, phân công hợp lý quân ngũ đinh hỗn tạp của nước Thục, điều động trật tự chuẩn xác, đủ để thấy được tài năng của ông. Trang Thắng là người am hiểu việc quân lại càng nhìn mà hoa mắt, khâm phục bội phần.

“Trang tướng quân!” Trần Chẩn lại hỏi. “Thuyền đã chuẩn bị xong chưa?”

“Chuẩn bị xong rồi, đang đậu ở bến sông Tiềm Thủy phía dưới cung thành đất Thư.”

“Phía phu nhân của tướng quân, đã sắp đặt xong chưa?”

“Đã xong cả!”

“Nếu tất cả đều đã ổn thoả, vậy chúng ta hãy lên thuyền thôi!” Trần Chẩn ngửa đầu nhìn trời, rồi dẫn đầu đi về phía bến đò.

“Trần đại nhân!” Trang Thắng đuổi theo mấy bước. “Hay là quan sát tình hình đã rồi hãy tính tiếp, đi chậm mấy ngày hẳn cũng không sao. Vãn sinh thấy lão tướng quốc sắp đặt rất chu toàn, thiết nghĩ người Tần hẳn là…”

“Đi chậm mấy ngày?” Trần Chẩn dừng bước, nhìn về phía người Tần đóng quân, cười nhạt một tiếng, vỗ vai Trang Thắng. “Trang tướng quân hẳn không muốn bị người ta trói nghiến lại mang đi tra khảo đấy chứ? Cho dù Trang tướng quân có muốn, tại hạ cũng không muốn nhìn thấy người Tần ở đất này, đặc biệt là tay Trương Nghi kia!”

“Không đến nỗi thế chứ?” Trang Thắng vô cùng nghi hoặc, nửa như tự nhủ, nửa như muốn hỏi. “Vãn sinh thấy người Thục sĩ khí ngút trời, đại quân đông gần tám vạn, lại có sông núi hiểm trở, vậy thì người Tần…” Giọng nói ngập ngừng, hai mắt nhìn chằm chằm vào Trần Chẩn.

“Tại hạ nói cho tướng quân hay!” Trần Chẩn gằn mạnh từng tiếng. “Tướng quân chỉ nhìn thấy trên đài, nhưng không nhìn thấy dưới đài. Tướng quân chỉ nhìn thấy những vị lãnh chúa ăn trắng mặc trơn, có quyền có thế ở trước đài, mà không nhìn thấy những thảo dân áo nâu dép cỏ, thì thào bàn tán ở đằng xa. Họ hô hào là để cho lãnh chúa nghe; họ nhảy nhót là để cho lãnh chúa nhìn.”

“Sao đại nhân lại biết được?”

“Vì trong mấy ngày hôm nay,” Trần Chẩn chỉ tay về những toán ngũ đinh đang rải rác theo sau các lãnh chúa, “ta đã nói chuyện với những người kia, cũng đã hỏi han họ. Họ đều có cha mẹ vợ con, đều phải nuôi sống gia đình. Thế nhưng, trên đến Khai Minh Vương, dưới đến các lãnh chúa, không một ai đoái hoài đến họ. Một quốc vương trong mắt chỉ có phi tử đã chết, mà không có người dân đang sống, có thể hy vọng thần dân của ông ta sẽ bán mạng vì ông ta hay chăng?”

Trang Thắng sững sờ.

Tất cả không nằm ngoài dự liệu của Trần Chẩn.

Đúng ba ngày sau khi đám Trần Chẩn, Trang Thắng cải trang thành người Thư lên thuyền theo dòng Tiềm Thủy bỏ trốn, người Tần cũng đi bè từ thượng lưu Tiềm Thủy xuôi xuống, chỉ một trận đã chiếm được bờ bắc sông Bạch Long, đoạt lấy hai bãi bồi. Người Thục trên bãi bồi khi bị người Tần đánh tới và hứa hẹn không giết, lập tức không ai kháng cự, lần lượt hạ binh khí, quỳ gối xin hàng.

Lại qua hai ngày, không biết bao nhiêu người Tần bỗng thình lình xuất hiện hệt như ma quỷ sau lưng người Thục tại quan ải tuyến Kiếm Môn, tại phần đáy của hình trụ lớn chốc lát đã khói lửa ngút trời, trống trận thùng thùng, tù và rền rĩ, đâu đâu cũng thấy cờ hiệu quân Tần, cũng nghe tiếng hò reo xung phong của người Tần. Điện hạ Tu Ngư được lão tướng quốc sắp xếp ở tuyến sau cùng sợ đến vãi cả ra quần, bất chấp tất cả bỏ chạy trối chết. Người Thục thấy điện hạ bỏ chạy, cũng tự tan rã.

Bách Thanh lúc này đang ở bên bờ Thanh Thủy quan sát địa thế, sắp xếp tuỳ tùng chọn đất dựng luỹ, đến khi nghe thấy âm thanh, cấp tốc quay lại cứu viện thì đã quá muộn, tường luỹ mà họ dựng nên đều đã bị người Tần chiếm mất, đường lui cũng bị cắt đứt, không thể đánh ra. Bách Thanh bất lực, đành phải dẫn mọi người men theo Thanh Thủy lui đến sông Bạch Long, cầu cứu lão tướng quốc.

Tuyến đường Kiếm Môn là đường lui gần nhất và cũng gần như là duy nhất để quay về Thục. Biết được đường về đã bị cắt đứt, người Thục ở tiền tuyến đều kinh hãi, không chiến mà tự loạn. Người Tần thúc trống reo hò vang dậy, chia binh làm mấy lộ đánh tới, người Thư cũng thừa cơ dùng tiếng Thục khuyên hàng. Chạy không chạy được, đánh không đánh được, người Thục, thậm chí bao gồm rất nhiều lãnh chúa, chẳng còn tâm trí nào nhớ đến lời của lão tướng quốc nữa, lũ lượt hạ binh khí xin tha mạng.

Thấy đại thế đã mất, lão tướng quốc vội vàng cùng Bách Thanh bảo vệ Khai Minh Vương men theo sông Bạch Long bỏ chạy.

“Bách tướng quân, mau nhìn xem, người Tần ở đằng kia!” Khai Minh Vương lại không chịu đi, nhìn thấy người Tần từ xa kéo đến nghìn nghịt, thì phấn khích múa may trường kích, quay đầu chạy ngược trở lại.

Bách Thanh không chặn nổi ông ta, đang lúc cấp thiết thì lão tướng quốc chạy đến, chỉ về phía thượng lưu sông Bạch Long nói với Khai Minh Vương: “Đại vương không nên mất thời gian với đám quân binh tướng cua kia! Vương phi đang gặp nạn ở phía trước, chúng ta phải gấp rút đi tìm thủy quái, ứng cứu vương phi mới phải!”

Nghe thấy hai chữ “vương phi”, Khai Minh Vương hai mắt đỏ sọc, lập tức quay người lao thẳng về phía trước.

Nhưng chỉ chùng chình một chốc này, người Thư đã nhìn thấy mũ áo của Khai Minh Vương, cùng nhau hô hoán vang trời, dẫn người Tần đuổi gấp theo sau.

Lão tướng quốc, Bách Thanh men theo bờ nam sông Bạch Long bỏ chạy thục mạng về phía tây. Chạy được hơn ba mươi dặm, việc ngoài ý muốn lại tiếp tục xảy ra. Khai Minh Vương nhìn thấy phía trước có một thác nước, dưới thác nước có một cái đầm, cảnh tượng rất giống trong bức vẽ, trước mắt liền xuất hiện ảo giác, quát lớn một tiếng: “Thủy quái chớ chạy, trả ái phi lại cho ta!” Rồi bất chấp tất cả, nhảy ùm xuống bờ sông, múa tít trường kích, xông thẳng xuống đầm nước.

Mọi việc xảy ra quá nhanh, đến khi Bách Thanh đuổi kịp, Khai Minh Vương đã lao ra giữa đầm. Mọi người chỉ còn biết hai mắt trân trân nhìn đại vương của họ chìm nghỉm xuống đầm, nhào lộn theo dòng nước xiết. Đầm nước phải sâu đến mấy trượng, nước đầm trong suốt thấu đáy, khiến họ nhìn rõ mồn một đại vương của mình vẫn vung kích loạn xạ dưới đáy nước, cho đến khi không còn động đậy nữa. Đợi đến khi những binh lính giỏi bơi lội lặn xuống đáy đầm vớt được người lên, Khai Minh Vương đã tắt thở.

Ông vua si tình Lư Tử đã chết trong mối tình si với Khổng Tước vương phi như vậy đấy!

Lão tướng quốc ngồi phịch xuống tảng đá, mắt nhìn Khai Minh Vương trân trân, lệ đục lăn dài. Đoạn chậm chạp quỳ xuống trước thi thể Khai Minh Vương.

Tất cả người Thục đều quỳ xuống.

“Thanh Nhi!” Nghe thấy tiếng truy sát càng lúc càng gần, lão tướng quốc đột nhiên choàng tỉnh, vội vàng gọi Bách Thanh.

Bách Thanh khóc mà đáp: “Phụ thân!”

“Cha đã già rồi, không thể đi tiếp được nữa, sẽ ở lại nơi này bảo vệ đại vương. Quân Tần sắp đuổi đến rồi, con hãy mau chóng dẫn các dũng sĩ chạy đi, nhất định phải trở về Thành Đô trước người Tần, tìm điện hạ, dẫn điện hạ chạy vào Tây Sơn. Chỉ cần điện hạ còn sống, lòng người chắc chắn sẽ không theo Tần. Lòng người không theo Tần, đất Thục mãi mãi vẫn là của người Thục!”

“Phụ thân…” Bách Thanh phủ phục trước mặt lão tướng quốc, bật khóc thất thanh.

“Mau… đi đi…” Lão tướng quốc đưa tay đẩy bật Bách Thanh ra, quát lớn.

Bách Thanh lại lạy lão tướng quốc và Khai Minh Vương thêm mấy lạy, rồi nuốt nước mắt dẫn mọi người chạy đi. Thấy họ đã chạy xa, người Tần cũng đuổi đến nơi, lão tướng quốc thở dài một tiếng, từ từ rút bảo kiếm ra, mắt nhắm nghiền, vung kiếm tự sát.

Đám Bách Thanh lại men theo sông Bạch Long chạy thêm mấy chục dặm, rồi men theo một lũng sông khác ngoặt sang phía nam, vòng một vòng lớn, đến nửa tháng sau mới ra khỏi được vùng núi, chạy gấp về phía Thành Đô. Chạy đến Bành Châu, Bách Thanh từ xa nhìn thấy trước mặt có một đám người Tần đang bao vây chém giết người Thục, liền xông vào giải cứu. Người Tần thấy đối phương đông hơn, liền quay đầu bỏ chạy. Bách Thanh tiến lại gần, thấy kẻ được đám người Thục liều mạng vây quanh bảo vệ chính là thái tử Tu Ngư, lúc này đã toàn thân mềm nhũn.

Bách Thanh cả mừng, sai người cõng thái tử lên, chạy về phía tây bắc, đến vùng rừng núi gần nhất.

Tuy nhiên, đám Bách Thanh đã bôn ba suốt mười mấy ngày trời, phần lớn đều mệt mỏi kiệt sức, lại thêm Bách Thanh thân mang thương tích, càng khó lòng chịu đựng. Đoàn người dìu đỡ lẫn nhau, loạng choạng bỏ trốn được hơn hai mươi dặm, khi đến núi Bạch Lộc thì quân Tần đông đảo đã đuổi kịp tới nơi. Bách Thanh thấy không còn đường trốn, đành phải dẫn mọi người lên núi, dựa vào địa thế tử thủ bốn bề.

Người Tần đuổi đến, tầng tầng lớp lớp vây chặt lấy quả núi đơn độc.

Núi Bạch Lộc mặc dù được gọi là núi, nhưng thực ra chỉ là một quả đồi trọc không lớn lắm, trên núi vừa không trữ lương thực, cũng chẳng có nhà dân. Người Tần khuyên hàng, Bách Thanh thà chết không chịu, tử thủ hai ngày, đến đêm thứ ba thì chia quân làm ba lộ phá vây. Bách Thanh bảo vệ Tu Ngư chạy chưa được bao xa, lại bị người Tần vây bủa. Bách Thanh cõng trên lưng Tu Ngư sớm đã mềm nhũn như cọng bún, quyết không đầu hàng, cuối cùng bị người Tần bắn chết.

***

Vương triều Khai Minh của Đại Thục kéo dài hơn ba trăm năm, bắt đầu từ thời Vọng Đế Biết Linh, trải qua chín đời hoàng đế, đến đời Khai Minh bị giáng xuống làm vương, lại trải qua ba đời, đến đời thứ mười hai Lư Tử kế vị, không biết tiến thủ, vì tình hại nước, đã đi gặp gỡ vương phi Khổng Tước của ông ta trong đầm sông Bạch Long. Hy vọng cuối cùng của lão tướng quốc Bách Quán đối với vương triều Khai Minh cũng đã tan thành mây khói cùng với cái chết của con trai Bách Thanh và thái tử Tu Ngư trong trận mưa tên của người Tần.

Mấy tháng sau đó, người Thục như rắn mất đầu, hoàn toàn khuất phục dưới đao thương của người Tần.

Tuy nhiên, thời gian dần dà trôi qua, người Thục cũng kinh ngạc phát hiện ra rằng, người Tần không phải là loài lang sói. Không những không phải lang sói, mà ngược lại, người Tần còn “quan tâm” đến họ hơn cả Khai Minh Vương, vừa không quấy nhiễu vợ con của họ, cũng không cướp bóc tài sản của họ. Không những thế, người Tần còn dán cáo thị khắp nơi, giải tán vĩnh viễn ngũ đinh, miễn cho người Thục mười năm thuế má, chỉ bắt phi tần, công chúa, cung nữ trong vương cung và vọng tộc tại Thành Đô, cùng với thê thiếp, tỳ nữ của những hộ quý tộc đã bỏ trốn hoặc tử chiến các nơi, thống nhất phân phát cho các doanh trại, coi như chiến lợi phẩm để ban thưởng.

Đến tháng thứ tư, người Tần đã chuyển thi thể của vương đệ Thư Hầu Hà Manh chết ở Ba đô Lang Trung, cùng với di cốt của Khai Minh Vương Lư Tử và thái tử Tu Ngư trở về, an táng họ tại lăng Khai Minh Vương theo nghi lễ quân vương. Thi thể những vương công quý tộc của Thục như lão tướng quốc, Bách Thanh… cũng được chôn cất tử tế. Đồng thời với đó, thái tử của Thư Hầu là Thông Quốc lên làm Thục Vương mới, đăng cơ tại vương cung.

Từ Thông Quốc trở xuống, người Thục dần dần đều cảm kích người Tần. Đám quý tộc nước Thục đang lẩn tránh trong rừng núi cũng lũ lượt trở về nhà.

Ngoài ba nghìn quân Tần hỗ trợ phòng ngự ở Ba đô Lang Trung, trong vòng năm tháng từ lúc tiến vào Thành Đô đến khi Thục Vương đăng cơ, Trương Nghi liên tục bận rộn trên đất Thục, hoàn toàn quên bẵng mất người Ba. Quân Tần cũng vậy, cho dù dàn binh ở ranh giới giữa Thục và Ba, nhưng cũng chỉ giương mắt đứng nhìn người Sở tàn sát người Ba mà không hề ra tay ứng cứu.

Có vẻ như người Tần lần này xuất binh, thứ muốn có được chẳng qua chỉ là đất Thư và đất Thục, còn về đất Ba, lại hoàn toàn bỏ mặc cho người Sở.

Người Sở đương nhiên vui mừng quá đỗi, Trang Kiều càng tận dụng tối đa cơ hội tốt đẹp này, sau khi liên tiếp chiếm được Bồi Lăng, Giang Châu, liền nhanh chóng dẫn quân lên phía bắc, trải qua ba tháng kịch chiến, tiếp tục chiếm được Điếm Giang, mở toang được cánh cổng phía nam của kinh đô nước Ba, dồn người Ba vào vùng khe núi hẹp chưa đến trăm dặm ở gần đô thành Lang Trung. Trong ba vị Ba tử đích tông, con trưởng Vận Yểm đã chết trận ở Bồi Lăng, con thứ Thố Cừu cũng đã bị thương ở Giang Châu, chỉ còn con thứ ba là Tử Sưu vẫn lành lặn dũng mãnh, không chút sứt mẻ.

Thấy nước Ba sắp không thể giữ được nữa, Ba Vương hốt hoảng, ba lần sai Tử Sưu đến đại doanh của quân Tần ở Thành Đô để cầu cứu. Trương Nghi lần nào cũng tiếp đãi tử tế, hứa hẹn sẽ phát binh, nhưng đến khi Tử Sưu hớn hở trở về Lang Trung ngồi đợi, thì lại mãi chẳng thấy bóng dáng viện binh đâu.

Ba Vương tức đến thổ huyết, giậm chân chửi mắng người Tần không giữ chữ tín, nhưng Tử Sưu lại đột nhiên sực tỉnh, hạ giọng hỏi: “Phụ vương, nhi thần nghĩ kỹ rồi, người Tần cứ chần chừ không phát binh, phải chăng là có nguyên nhân khác?”

Ba Vương sững người, hỏi: “Nói mau, là nguyên nhân gì?”

“Nhớ khi còn ở Hàm Dương, Thông Quốc cầu cứu, Trương Nghi đòi trao đổi, lúc đầu Thông Quốc tặng vùng đất Bao Hán, sau đó lại dâng cho toàn bộ đất Thư. Trương Nghi vô cùng hoan hỷ, thỉnh cầu Tần vương, quả nhiên đã lập tức phát binh. Thông Quốc đã dâng tặng đất Thư cho Tần, Tần cũng đã giữ lời hứa, đưa Thông Quốc lên làm Thục Vương!”

“Ồ, chẳng phải chúng ta cũng tặng họ muối tinh hay sao?” Ba Vương ngơ ngác hỏi.

“Chỉ có năm mươi gánh, đối với chúng ta khác nào nhổ một cọng lông.”

“Là mỗi năm năm mươi gánh, đây là gánh nặng rất lớn!”

“Đúng thế, có nhiều hơn nữa, chẳng qua cũng chỉ là muối, không phải là suối muối!”

“Chẳng phải con đã tặng họ cả suối muối rồi ư?”

“Lúc đó Trương Nghi không hiểu, nhưng giờ thì hẳn đã hối hận rồi.”

Ba Vương trầm ngâm suy nghĩ, hồi lâu sau mới ngẩng lên: “Suối muối thì không được. Hiện giờ chúng ta chỉ còn lại hai suối muối, tất cả những suối khác đều đã rơi vào tay người Sở. Không có suối muối, con cháu đời sau của chúng ta sẽ ăn gì, dùng gì, con đã nghĩ đến chưa?”

“Nhi thần không nói là sẽ tặng suối muối cho Trương Nghi!” Tử Sưu lắp bắp.

“Vậy… con hãy nói đi, chúng ta còn có thứ gì để tặng?”

“Dẫu sao… nếu người Sở đánh đến đây, ta sẽ chẳng còn gì nữa. Thôi thì… cứ tặng đất đai của ta cho Trương Nghi, dù sao cũng đều là núi đồi hoang dã. Nếu như người Tần giúp ta đuổi được người Sở, chúng ta sẽ cùng với họ chia sông mà trị.”

“Chia theo sông nào?”

“Chính là lấy Tiềm Thủy, Lang Trung làm ranh giới. Phía tây Tiềm Thủy, quy về Tần; phía đông Tiềm Thủy, phía nam Lang Trung, quy về chúng ta.”

Ba Vương khổ sở suy nghĩ.

Hồi lâu sau, Ba Vương mới ngẩng đầu lên hỏi: “Không có Lang Trung, phụ vương biết an thân ở đâu?”

“Về Giang Châu!” Tử Sưu đáp ngay tắp lự. “Điều kiện của chúng ta là người Tần buộc phải đánh đuổi người Sở.”

“Đuổi đến đâu?”

“Đuổi ra khỏi Bồi Lăng!”

“Nếu có thể đánh đuổi người Sở ra khỏi Bồi Lăng,” Ba Vương trầm ngâm hồi lâu, rồi tay quyền siết chặt, “ta sẽ làm theo lời con. Con hãy mang theo địa đồ, nói lại những điều này với Trương Nghi, xem hắn nói thế nào.”

Ba tử Tử Sưu nhận lệnh của Ba Vương, lại tràn đầy hy vọng tìm đến Thành Đô, vội vã cầu kiến Trương Nghi, mở tấm bản đồ lãnh thổ nước Ba ra, vạch một đường đông tây dọc theo phía nam Lang Trung, lại vạch một đường nam bắc dọc theo Tiềm Thủy, chia vùng đất ở hai phía bắc và tây đường kẻ cho Tần và Thục.

Không ngờ Trương Nghi lại không hề tỏ ý xuất binh như Tử Sưu đã dự liệu, chỉ thu tấm bản đồ lại, nói rằng cảm tạ Ba Vương đã khảng khái tặng đất, nhưng đất đai của nước Tần không thuộc về Trương Nghi, mà thuộc về Tần vương, Trương Nghi chỉ có thể làm theo trình tự, trước tiên dâng tấu lên Tần vương, chỉ cần Tần vương đồng ý, hắn sẽ lập tức xuất binh.

Nếu như tấu lên Tần vương, chí ít cũng phải mất đến cả tháng, mà trong vòng một tháng, biết bao nhiêu chuyện có thể xảy ra. Tử Sưu hốt hoảng, nhưng cũng chẳng còn cách nào khác, bỗng nảy ra một ý, bèn chạy đến cung Thục yết kiến Thục Vương Thông Quốc. Thông Quốc thoạt tiên chỉ ậm à ậm ừ, nhưng sau bị Tử Sưu bức bách dữ quá, đành phải tiết lộ nội tình, nói là mấy ngày trước Sở Vương đã phái đặc sứ đến, hiện giờ đang ở trong dịch quán.

Tử Sưu kinh hoàng thất sắc: “Vậy Trương đại nhân đã gặp đặc sứ chưa?”

“Chắc là chưa!” Thông Quốc trả lời. “Hôm qua ta đã phái người đi nghe ngóng, nghe nói từ khi vị đặc sứ đó đến Thành Đô, đến nay vẫn chưa ra khỏi cửa dịch quán, cũng không nghe nói Trương đại nhân có đến dịch quán.”

Tử Sưu không nói một lời, lập tức co cẳng chạy ra khỏi cung Thục, vội vã lộn trở về đại doanh quân Tần, tiếp tục cầu kiến Trương Nghi, nhưng bị quân sĩ chặn lại ngoài trại, nói là Trương tướng quân không có bên trong, đã ra ngoài thị sát. Tử Sưu biết Trương Nghi không muốn gặp mình, thì ruột gan như lửa đốt, lại quay trở về cung Thục, khẩn cầu Thông Quốc: “Đại vương và Trương đại nhân là chỗ quen biết, thể diện lớn hơn, hẳn là sẽ được nể tình. Ta nhất định phải gặp được Trương đại nhân càng nhanh càng tốt!”

Thấy trời đã tối, Thông Quốc bèn sắp xếp cho Tử Sưu nghỉ ngơi trong cung, hứa rằng ngày hôm sau sẽ dẫn hắn đi cầu kiến Trương Nghi.

Tử Sưu thở phào nhẹ nhõm, vào trong cung nghỉ ngơi.

Đặc sứ của Sở Vương đang đóng cửa im ỉm trong dịch quán chẳng phải ai khác, chính là Trần Chẩn.

Thật đúng là oan gia ngõ hẹp. Đối với Trần Chẩn, chuyến đi sứ lần này là công việc khổ sai nhất trong đời mà ông ta phải cáng đáng. Tuy nhiên, lệnh doãn đã tiến cử, Sở Vương lại đích thân hạ chỉ, nếu ông ta còn muốn tiếp tục ở lại nước Sở, thì không thể nào từ chối.

Đi cùng ông ta đến đây vẫn là Trang Thắng. Trải qua sứ mệnh lần này, Trang Thắng đã phục Trần Chẩn sát đất.

Sau mấy ngày trời đóng cửa liên tục, sáng sớm hôm sau, Trần Chẩn bèn đánh xe đến đại doanh quân Tần, cầu kiến Trương Nghi.

Khi Trần Chẩn đến, Thục Vương Thông Quốc và Ba tử Tử Sưu đã tới trước một bước, đang chờ ở ngoài trại. Nhìn vẻ mặt nôn nóng của họ, dường như việc cầu kiến không được thuận lợi.

Trần Chẩn sải từng bước lớn tiến lại, khi đến trước mặt hai người họ, mắt cũng chẳng thèm liếc nhìn, vẫn đi thẳng về phía trước, đến ngoài trại, trình danh thiếp, lấy danh nghĩa là đặc sứ của Sở Vương, thỉnh cầu được gặp chủ tướng nước Tần.

Chốc lát sau, có một người đi ra ngoài trại.

Trần Chẩn bất ngờ có được một niềm vui quá đỗi, vì người bước ra chẳng phải ai khác, chính là Ngụy Chương.

Ngụy Chương đi tới trước mặt Trần Chẩn, vòng tay nói: “Đặc sứ nước Sở, chủ tướng nước Tần có lời mời!”

Trần Chẩn dùng thân phận sứ thần ngoại giao để đáp lễ, đi theo Ngụy Chương trước ánh nhìn kinh hãi của Ba tử Tử Sưu, ngẩng đầu ưỡn ngực đường hoàng sải bước vào đại trại trung quân của người Tần.

Trương Nghi ngồi ngay ngắn ở vị trí chủ, thấy ông ta bước vào, cũng chẳng thèm nhúc nhích, song sắc mặt lại lộ vẻ kinh ngạc, quay sang nói với Tư Mã Thác bên cạnh: “Ồ, đây chẳng phải là Trần thượng khanh hay sao? Đều là người một nhà, cớ sao lại nói là đặc sứ của Sở Vương?”

“Trương tướng quân, Tư Mã tướng quân!” Trần Chẩn tiến lại gần, vòng tay nói. “Đặc sứ của Sở Vương Trần Chẩn xin có lời chào!”

“Khoan đã!” Trương Nghi cố tình gãi đầu gãi tai. “Cái đầu này của tại hạ lú lẫn mất rồi! Thượng khanh không phải là chưa tỉnh ngủ đấy chứ? Nếu tại hạ nhớ không nhầm, thượng khanh phải là đặc sứ của Tần vương mới đúng!”

“Trương tướng quân không hề nhớ nhầm!” Trần Chẩn hạ giọng nói. “Một năm trước, Trần Chẩn là đặc sứ của nước Tần, phụng mệnh Tần vương đi sứ nước Sở. Một tháng trước, Trần Chẩn là đặc sứ nước Sở, phụng mệnh Sở Vương đi sứ nước Tần.”

“Được lắm, được lắm!” Trương Nghi uể oải vỗ tay mấy cái. “Đặc sứ đúng là người bận rộn. Tuy nhiên, nếu như luận về danh phận…” ngả người về phía trước, cố tình tỏ ra bí hiểm, “theo tại hạ được biết, e rằng Trần đặc sứ còn bỏ sót một người!”

“Xin hãy nói rõ!”

“Mấy tháng trước, ở núi Nữ Kỷ có một thượng tiên tên Không Động Tử, nghe nói có hơi giống đặc sứ đại nhân!”

Thấy Trương Nghi vừa mở miệng đã nói ra bí mật này, Trần Chẩn giật thột một cú không hề nhẹ, cơ thể hơi chao đảo, phải gắng gượng để trụ vững. Lần trước Trần Chẩn đi sứ nước Thục, về cơ bản không để lộ với người ngoài, chỉ có vài người biết được, trong đó Khai Minh Vương, Bách Quán, Bách Thanh đều đã chết, tiếp nữa chỉ có vợ chồng Trang Thắng, nhưng họ…

“Ha ha ha!” Không để Trần Chẩn kịp suy nghĩ kỹ, Trương Nghi đã phá lên cười, rồi đẩy sự việc đến ngõ cụt. “Tại hạ cũng chỉ là nghe đồn mà thôi, nếu chỉ dựa vào đó, chưa biết chừng lại đổ oan cho Trần đặc sứ cũng nên. Đặc sứ là nhân vật tầm cỡ thế nào, những việc giả thần giả quỷ kiểu này sao có thể làm ra được?”

“Quả thực là có việc này!” Trần Chẩn không còn đường lui, bèn thẳng thắn thừa nhận.

“Ồ?” Trương Nghi mở to hai mắt, nhìn chằm chằm vào Trần Chẩn một hồi, rồi mới thu ánh mắt lại, liên tiếp vỗ đầu, tỏ ra chế giễu. “Chà chà chà, đúng là tại hạ đã hoa mắt rồi, thì ra Trần thượng khanh thực không phải tầm thường!” Rồi đứng dậy, động tác khoa trương. “Người phàm Trương Nghi không biết thượng tiên giá lâm, thất kính, thất kính!” Lại chìa tay mời. “Thượng tiên mời ngồi!”

Trần Chẩn thở dài một tiếng, ngồi xuống chiếu, sửa ngay y phục, nhắm mắt lại.

“Thượng tiên, mời dùng nước trời!” Trương Nghi tự tay nâng một chén nước trắng, đặt lên bàn của Trần Chẩn, rồi quay về ngồi xuống, ngả người về trước mà hỏi. “Nghe nói thượng tiên không những tìm được ái phi cho Khai Minh Vương Lư Tử, còn khích Khai Minh Vương dẫn mười vạn đại quân chinh phạt em ruột của ông ta là Thư Hầu Hà Manh, đại chiến với quái vật sông Bạch Long, thật là khiến người ta hởi lòng hởi dạ! Tại hạ dù là người phàm, nhưng bản tính hiếu kỳ, mong được nghe thượng tiên kể lại chi tiết đầu đuôi.”

“Tất cả đều là chuyện đã qua!” Trần Chẩn vòng tay nói. “Trần Chẩn tính hay quên, không thể nhớ nổi, mong Trương tướng quân bỏ quá cho.”

Trương Nghi vòng tay đáp lễ: “Được, được, được, nếu thượng tiên đã quên, tại hạ sẽ đợi đến khi thượng tiên nhớ lại rồi nghe cũng chưa muộn. Lần này thượng tiên đến, không biết có việc gì quan trọng?”

“Trương tướng quân!” Trần Chẩn lại vòng tay. “Trần Chẩn lần này đến, là phụng chỉ lệnh của Sở Vương, cùng bàn việc nước Ba với tướng quân.”

“Ồ?” Trương Nghi ngả người về phía trước, cố tình tỏ ra ngơ ngác. “Là việc gì của nước Ba?”

“Ba, Sở vì chuyện biên giới và suối muối, tranh chấp đã nhiều đời.” Trần Chẩn lập tức đổi giọng bang giao. “Không lâu trước đây, người Ba nhân lúc Thục, Thư tranh chấp, lại nổi lên cướp bóc, không những kiếm chuyện gây hấn ở dọc Giang Thủy, mà còn rêu rao đánh Sính. Sở Vương nổi giận, bèn hạ lệnh cho tướng quân Trang Kiều xuất binh giáo huấn người Ba. Nay tranh chấp Thục, Thư đã kết thúc, Sở Vương phái tại hạ và tướng quân thương lượng một phương án khả thi, nhằm giúp cho Xuyên Trung sớm ngày được yên bình, quay về quy củ.”

“Dám hỏi đặc sứ,” Trương Nghi không cợt nhả nữa, cũng nghiêm mặt lại, “Sở Vương đã muốn thương lượng, hẳn là đã có sẵn phương án, tại hạ xin được lắng nghe.”

“Quê gốc của người Ba là núi Ba,” Trần Chẩn lấy từ trong tay áo ra một tấm bản đồ, bày lên mặt bàn, khoanh một vòng tròn lớn trên bản đồ, “chính là vùng núi non này. Còn về đất Ba ở Xuyên Trung, vốn thuộc về người Kinh, mới bị người Ba cướp đoạt chỉ gần trăm năm nay. Ý của Sở Vương là, tất cả người Ba phải trở về quê cũ, người Ba ở vùng đất phía tây núi Ba, phía đông Giang Thủy, do Tần, Sở phân chia mà cai trị!”

“Dám hỏi phân chia như thế nào?”

“Tướng quân hãy xem!” Trần Chẩn lấy bút son ra, vẽ mấy đường màu đỏ vòng vèo trên tấm bản đồ. “Phía bắc Giang Thủy, lấy Ba Thủy làm ranh giới, phía tây Ba Thủy thuộc về Tần. Phía nam Giang Thủy, lấy Giang Châu làm ranh giới, phía đông Giang Châu, bao gồm cả Giang Châu và ba mươi dặm vuông dọc theo Giang Thủy, thuộc về Sở!”

“Tại hạ thay mặt Tần vương đa tạ ý tốt của Sở Vương!” Trương Nghi chau mày suy nghĩ một hồi, rồi vòng tay nói. “Có điều, việc bờ cõi lãnh thổ vốn là của vương hầu, thân là bề tôi không thể quyết định. Phương án này đã là do Sở Vương đề ra, đại vương nên đồng ý mới phải. Mong đặc sứ ráng chờ ít lâu, giờ tại hạ sẽ cho ngựa hoả tốc chuyển ý tốt của Sở Vương và cả tấm bản đồ này về triều, tấu lên đại vương. Khi có ý chỉ, tại hạ sẽ lập tức báo cho đặc sứ, đặc sứ thấy sao?”

“Đa tạ tướng quân!” Trần Chẩn hai tay dâng lên tấm bản đồ, rồi đứng dậy vòng tay nói. “Tướng quân bận trăm công nghìn việc, tại hạ không làm phiền nữa!”

“Cung tiễn đặc sứ!” Trương Nghi đứng dậy đáp lễ, rồi ra hiệu cho Ngụy Chương.

Ngụy Chương tiễn Trần Chẩn ra ngoài trại.

Nghe thấy Trần Chẩn đã đi xa, Trương Nghi bèn quay sang cười nói với Tư Mã Thác: “Tại hạ đã diễn kịch xong rồi, màn tiếp theo đến lượt tướng quân đấy!” Tiện tay đưa tấm bản đồ sang. “Có tấm bản đồ này, vừa hay có thể cho tên người Ba nóng vội kia xem!” Rồi quay sang tham tướng. “Mời Thục Vương, mời Ba tử!”

Tham tướng ra ngoài mời người, Trương Nghi đứng dậy, thấy trong trại không còn ai khác, chỉ có Hương Nữ cải trang thành vệ sĩ đứng bên cạnh hầu hạ trà nước, liền gọi nàng đến, rồi thình lình giơ tay ra ôm chặt lấy eo lưng thon thả của nàng, cười hì hì mà nói: “Trò này chơi xong rồi, giờ thì thị vệ đại nhân, hãy hầu bản tướng chơi đùa trên giường nhé!”

Hương Nữ vội giằng ra, liếc sang Tư Mã Thác đang nhìn họ cười, mặt đỏ bừng hổ thẹn, trách mắng Trương Nghi: “Nhìn chàng kìa, chẳng biết thế nào là hợp nơi hợp lúc, chẳng biết thế nào là đứng đắn, có chỗ nào giống chủ tướng ba quân không?”

“Ha ha ha, vậy thì không làm chủ tướng ba quân nữa, tại hạ chỉ làm chủ tướng một quân là nàng thôi!” Lời vừa dứt, Trương Nghi lại ôm chầm lấy Hương Nữ, kéo về phía cánh cửa kín đáo bên cạnh.

***

Một tháng sau đó, trong lúc Trần Chẩn y theo lời hẹn của Trương Nghi, lưu lại Thành Đô chờ đợi ý chỉ của Tần vương, một vạn quân Tần dưới sự thống lĩnh của Ngụy Chương đã lặng lẽ xuất binh từ Hà Manh, đi thuyền dọc theo Tiềm Thủy đến Lang Trung, hội hợp với ba nghìn quân Tần viện trợ Ba của Trương Nhược và ba nghìn dũng sĩ nước Ba do Tử Sưu lựa chọn kỹ càng, chuyển sang đi đường bộ, ngày nghỉ đêm đi, tiến thẳng về phía đông, băng ngang Ba Thủy, vượt qua ba dãy núi chạy theo hướng nam bắc, đi theo một khe núi hướng nam bắc nhỏ hẹp vắng người thẳng đến Bồi Lăng. Vào một đêm không trăng gió lộng, đã bất ngờ tấn công dữ dội vào doanh trại quân Sở.

Quân Sở ban đầu, cộng thêm viện quân liên tục kéo đến tiếp viện sau đó, hiện tổng số quân Sở ở Ba đã có tới hơn sáu vạn, nhưng phần lớn đồn thủ ở những vùng đất Ba mới mở mang như Giang Châu, Điếm Giang, còn Bồi Lăng lúc này đã trở thành hậu phương lớn của người Sở, chỉ có khoảng hơn một vạn quân trấn thủ, vì còn có nhiệm vụ bảo vệ lương thảo quân nhu, nên sức chiến đấu giảm sút đáng kể. Trận chiến đấu bắt đầu từ lúc hừng đông, đến khi mặt trời lên chừng một con sào đã cơ bản kết thúc, người Tần chém đầu hơn hai nghìn, bắt sống gần một vạn, một lượng lớn quân nhu mà người Sở tích trữ ở nơi này, chỉ trong vòng một ngày cũng đã trở thành vật trong túi của người Tần.

Bồi Lăng phía đông tây khống chế Giang Thủy, phía nam khống chế Ô Giang, đúng là vùng đất yết hầu và kho đụn hậu phương của người Sở. Bồi Lăng thất thủ, quân Sở lập tức hoảng loạn. Chủ tướng Trang Kiều đang trong đại trại trung quân ở Giang Châu chỉ huy tấn công người Ba, vừa nghe tin báo đã bàng hoàng kinh hãi, đang định lên kế sách phản công, lại có chiến báo truyền về, báo rằng các lộ quân Tần vốn dĩ đóng tại biên giới Ba, Thục trước đây, chỉ trong vòng một đêm đã vượt qua ranh giới đất Thục, đồng loạt áp sát doanh trại quân Sở, bày trận quyết chiến.

Phía thực sự nguy hiểm, chính là người Ba.

Ba tử Tử Sưu đã dâng tặng toàn bộ vùng đất phía tây Ba Thủy, Giang Châu cho người Tần để làm điều kiện, đổi lại người Tần sẽ xuất binh, giúp họ đánh đuổi người Sở, chiếm lại suối muối. Sau khi kết thành giao ước, cuối cùng người Tần cũng đã chịu xuất binh, người Ba vô cùng phấn chấn, Ba Vương nhanh chóng tập hợp hai vạn tướng sĩ, đích thân dẫn quân dọc theo Tiềm Thủy thuận dòng đi xuống, tấn công dữ dội vào thủy quân của quân Sở.

Người Sở bị tấn công nhiều mặt, đường lui lại bị cắt đứt, Trang Kiều bất lực, đành phải hạ lệnh lui quân.

Quân Tần theo đường bộ truy sát, người Ba theo đường thủy quấy nhiễu, người Sở đã không còn lòng dạ chiến đấu, chỉ cốt giữ lấy tính mạng, trước tiên bỏ Điếm Thủy, sau lại bỏ Giang Châu, trước sau chưa đầy một tháng, sáu vạn đại quân tiến vào đất Ba đã bị tổn thất quá năm phần, quân nhu mất trắng toàn bộ.

Người Ba ở phía trước, dọc đường đuổi giết tàn quân Sở. Người Tần ở phía sau, bốn phía chiếm lấy thành ấp đồn luỹ.

Người Ba nhờ vào thế của người Tần, vì muốn chiếm lại đất đai đã mất, trở nên dũng mãnh khác thường, suốt dọc đường đuổi cùng giết tận. Sau khi đuổi đến Bồi Lăng lại chia thành hai lộ, một lộ men theo Giang Thủy tiến về phía đông, đuổi người Sở đến tận Ngư Phục; một lộ dọc theo Ô Giang tiến về phía nam, đuổi người Sở đến tận Kiềm Trung, khí thế hừng hực, một mạch chiếm lại được ba suối muối.

Một là người Sở dần dần ổn định được trận hình, hai là có lẽ Ba Vương đã thấy đủ, nên hạ lệnh thu quân.

Dũng sĩ nước Ba khải hoàn, Trương Nghi mở tiệc tại đại doanh quân Tần ở Giang Châu, mời Ba Vương và các Ba tử, lại gồm cả tù trưởng, lãnh chúa các vùng tổng cộng hơn ba trăm người chúc mừng thắng lợi. Trong buổi tiệc mừng, người Ba sung sướng nhảy múa ca hát, Trương Nghi liên tiếp nâng chén với Ba Vương và các Ba tử, uống thật sảng khoái. Tất cả người Ba cùng uống đến say mèm. Đến sáng sớm hôm sau tỉnh lại, toàn bộ đều chết lặng, vì tất cả đều đã bị nhốt vào trong nhà lao, tay chân bị cùm chặt, còn có đông đảo quân Tần canh giữ.

Đồng thời với đó, các dũng sĩ khải hoàn đóng đồn tại quân doanh các nơi, sau khi thức giấc, dưới sự uy hiếp từ cung cứng nỏ mạnh của “viện binh Đại Tần”, kẻ thuận thì sống, kẻ chống thì chết.

***

Khúc hợp tấu hào hùng “năm nước tranh Xuyên” khiến liệt quốc thiên hạ nhìn mà lác mắt, từ khi Trần Chẩn vào Thục, cho đến ngày Trương Nghi hạ thuốc mê vào rượu rồi tống Ba Vương, Ba tử và các lãnh chúa vào nhà lao do trọng binh Tần canh giữ, chỉ trải qua khoảng mười tháng, đã kịch hết người tan, quân Tần chỉ đánh đổi một cái giá rẻ mạt là chưa đầy một vạn quân thương vong, đã trở thành chủ nhân mới của Ba, Thục.

Tại vương cung Thục ở Thành Đô, ngoài cửa cung, hai hàng quân Tần cầm kích đứng hiên ngang sừng sững.

Trong cung đang chiêu mộ cung nữ. Đám người cũ trong cung Thục, ngoài thái giám, hầu như toàn bộ cung nữ và phi tần đều bị phân chia đến các doanh trại quân Tần để uý lạo binh tướng, vương cung mới đang cần tuyển gấp cung nữ.

Hai thiếu nữ Thục mặc áo vải thô dắt nhau xin vào. Biết được họ đến xin làm cung nữ tạp dịch, quân uý Tần bèn hỏi qua loa tên tuổi chỗ ở, thấy hai người đối đáp trôi chảy, khuôn mặt tuy đầy ban bớt, nhưng chân tay nhanh nhẹn, vừa nhìn đã biết là người được việc, bèn cho gọi thái giám phường tạp dịch đến, bảo ông ta dẫn vào trong.

Thái giám dẫn hai thiếu nữ vào phường tạp dịch, đang định sắp xếp công việc thì thiếu nữ đi trước đưa cho ông ta một vật, ghé tai thì thầm mấy câu. Thái giám kinh hãi, vội cầm vật đó đi vào bẩm báo Thục Vương. Một lát sau, nội tể đích thân ra đón, đưa hai thiếu nữ vào hậu cung.

“A ca!” Thiếu nữ đi đầu vừa thấy Thông Quốc đã chạy ào lại, gục vào vai hắn bật khóc nức nở.

“Ngươi là…” Thông Quốc giật nảy mình, vội đẩy bật thiếu nữ ra, trợn mắt nhìn mà hỏi.

“Tiểu muội là Bồi Loan đây!” Cô gái vừa khóc vừa nói.

“Bồi Loan?” Thông Quốc lại săm soi cô ta một lượt, vẻ hồ nghi. “Phục sức này? Diện mạo này?”

Thiếu nữ tên gọi Bồi Loan gọi cung nhân mang vào một chậu nước sạch, hai nàng cũng rửa qua mặt mũi, chớp mắt đã biến thành hai tuyệt sắc giai nhân. Đôi mắt to tròn đẫm lệ của Bồi Loan cứ nhìn sững vào Thông Quốc.

“Bồi Loan, đúng là nàng rồi!” Lúc này Thông Quốc mới nhận ra nàng, mừng vui khôn xiết, ôm chầm lấy Bồi Loan, rồi lấy ra một vật trang sức hình chim loan bằng vàng mà thái giám vừa chuyển cho. “Vừa nhìn thấy vật này, ta đã cảm thấy rất đỗi băn khoăn. Mau nói cho ta biết, đã xảy ra chuyện gì. Bồi Loan! Phụ vương và những người khác đâu?”

Bồi Loan là con gái dòng đích tông của Ba Vương, em ruột của Ba tử Tử Sưu. Ba Vương và Thư Hầu nhiều năm về trước đã định mối lương duyên cho Bồi Loan và Thông Quốc từ khi họ còn là hai đứa trẻ, con chim loan vàng kia chính là Thông Quốc tặng cho Bồi Loan làm vật đính ước khi nàng mới mười tuổi, lúc nào nàng cũng đeo trước ngực. Thiếu nữ còn lại là sủng phi của Ba tử Tử Sưu, tên gọi Trúc Diệp, võ công cực cao thâm, có thể dùng lá trúc giết người.

Vừa nghe thấy hai chữ “phụ vương”, Bồi Loan càng khóc lóc thảm thiết, nghẹn ngào kể lại toàn bộ sự việc xảy ra ở Giang Châu trong mấy ngày nay. Thì ra, đàn ông nước Ba giao chiến với người Sở, nữ nhi cũng không kém đấng mày râu, hai nàng đều đi theo Ba Vương, Ba tử chinh chiến. Sau khi tiến vào Ô Giang, họ liền phụng mệnh của Ba Vương, đến núi Phục Ngưu liên lạc với người Ba, tiếp nhận suối muối. Trên đường trở về thì nghe được hung tin người Tần lật lọng, vô cùng kinh hoàng đau đớn, sau lúc bi thương, đã cải trang thành hai cô gái xấu xí, ngay trong đêm bỏ trốn sang đất Thục, nghe nói Thục cung đang chiêu mộ cung nữ, lập tức đến ứng tuyển.

Thông Quốc nghe tin, toàn thân cứng đờ, mặt cắt không còn giọt máu.

“Đại… đại vương?” Nội tể cũng kinh hãi chết lặng.

“Trời xanh ơi!” Thông Quốc định thần lại, ngã ngồi xuống đất, cẳng chân trái bị thương vẫn chưa lành hẳn run lên bần bật, thấy ánh mắt của Bồi Loan cứ nhìn thẳng vào mình, đột nhiên lạnh toát sống lưng. “Bồi Loan, nàng… nàng và tẩu phu nhân phải làm thế nào đây? Nếu… nếu họ…” chỉ ra ngoài cửa, “nếu họ biết được…”

“A ca!” Bồi Loan hiểu Thông Quốc đang sợ hãi điều gì, liền vung tay ngắt lời hắn, điềm tĩnh nói. “Bồi Loan đến đây không phải là để gây phiền phức cho a ca. Bồi Loan đến đây, là để trả lại loan vàng. Nước Ba mất rồi, Bồi Loan đã không còn là công chúa nước Ba. Từ nay trở đi, hai người chúng ta chỉ còn tình huynh muội, không còn ràng buộc hôn ước nữa!”

“Chuyện này…”

“Thông Quốc a ca!” Bồi Loan lại nói. “Bồi Loan và a tẩu trước mắt không còn chốn nào nương thân, muốn tạm thời lưu lại trong cung của a ca mấy ngày, xin miếng cơm ăn. Đợi khi có chỗ đi, nhất định sẽ không làm phiền thêm nữa. Khẩn cầu a ca nể tình huynh muội nhiều năm, ban cho ân huệ.”

“Ta…”

“Chúng tôi sẽ làm cung nữ bình thường, quét tước dọn dẹp, giặt giũ vá may, múa hát mua vui, Bồi Loan và a tẩu việc gì cũng sẵn lòng làm, cho dù không biết, chúng tôi cũng sẽ chăm chỉ học, mong a ca yên tâm.”

Thấy Thông Quốc vẫn chần chừ không quyết, nội tể không đành lòng, bèn lau nước mắt mà nói: “Đại vương, xin hãy giữ họ lại đi! Hiện giờ biết việc này chỉ có mấy người chúng ta, không nói với người ngoài là được!”

“Được rồi!” Thông Quốc nghiến răng, gật đầu nặng nề. “Ngươi hãy đi sắp xếp!”

Nội tể bèn dẫn hai người đi tắm gội, cho phục sức theo lối cung nữ bình thường, sắp xếp họ hầu trà ở tiền điện.

Đợi khi nội tể đi rồi, bên cạnh không còn ai nữa, Trúc Diệp mới hạ giọng hỏi khẽ: “A muội, em nói xem, chúng ta… có làm được không?”

“A tẩu!” Bồi Loan rút từ bên thắt lưng ra một thanh đoản kiếm tinh xảo, tuốt kiếm khỏi vỏ, cầm trên tay mà nói. “Sự sống chết của phụ vương và các anh trai, hoàn toàn nằm trong tay của hai người chúng ta!”

“Lỡ như…” Trúc Diệp khẽ hỏi, “tên súc sinh đó không đến đây thì sao?”

“Hắn nhất định sẽ đến!” Giọng Bồi Loan như rít qua kẽ răng. “Nước Ba đã mất, tiếp theo sẽ là nước Thục! Tên súc sinh phụ nghĩa thất tín này chắc chắn sẽ không để cho Thông Quốc được yên ổn làm Thục Vương!”

“Vậy chẳng phải chúng ta… sẽ làm hại Thông Quốc ư?”

“Hại chết hắn cũng đáng đời!” Bồi Loan căm hận. “Không có hắn, chúng ta đâu có phải sa chân vào thảm cảnh hôm nay.”

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử