Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 53
Kịch chiến biên ải, Hàm Cốc lúc thất lúc đắc
Ly gián hợp tung, Hào Quan khi túng khi cầm

❊ ❊ ❊

Lúc này, thời gian đã qua ba cửu, gió Tây Bắc mỗi ngày một mạnh, tiếp đó tuyết bay mù mịt đầy trời, gần như phủ kín toàn bộ nhà cửa trong thành Lâm Truy.

Trong màn tuyết trắng mênh mông, Tuyết cung toạ lạc ở góc tây bắc của cung Tề trông càng nguy nga tráng lệ.

Tuyết cung là cung điện thời Khương Tề, tuy niên đại đã khá lâu, song vẫn là một trong những cung điện đặc sắc nhất của cung Tề, đặc biệt là vào mùa đông, trong những ngày tuyết lớn như hôm nay. Đây cũng là lý do duy nhất khiến nó được đặt tên là Tuyết cung.

Bên ngoài đất trời băng giá, song trong cung lại không hề thấy lạnh, bởi các khung cửa sổ rất mực khít khao, vách tường lại rỗng ở giữa, nối thông tới lò sưởi trong tường, sau khi đốt than, trong cung sẽ ấm sực như buổi cuối xuân, dù mặc áo mỏng cũng không hề thấy lạnh.

Tề Uy Vương ngồi trên tấm đệm thêu, thư thái khép hờ hai mắt, để cho hai cung nữ y phục mỏng manh đấm lưng bóp vai. Phía trước có hai bề tôi ngồi hầu, một là thái tử Tích Cương, hai là tướng quốc Trâu Kỵ. Hai người vốn đã cởi bỏ áo khoác mà vẫn thấy nóng nực, đặc biệt là Trâu Kỵ, tuổi cao sợ lạnh, nên ních đầy áo bên trong, trước mặt quân vương ngại không dám cởi thêm, vì thế chỉ một lát sau, trán đã đẫm mồ hôi, bèn nâng tay áo lên quệt liên hồi.

Tề Uy Vương dường như cũng nhận thấy sự khó xử của Trâu Kỵ, bèn mở mắt nhìn ông ta mà nói: “Lão ái khanh, không phải ngần ngại, thấy nóng thì cứ cởi ra!” Rồi quay sang cung nữ đang đấm lưng. “Mau lại cởi áo giúp tướng quốc đại nhân!”

Được cung nữ cởi áo, Trâu Kỵ lập tức nhẹ nhõm sảng khoái, bèn vòng tay cảm tạ: “Tạ ơn bệ hạ thương tình. Mấy năm qua, cái thân tàn này đúng là đã già cỗi thật rồi, lạnh không chịu nổi đã đành, đến nóng cũng không chịu nổi.”

“Than ôi!” Uy Vương than thở. “Quả nhân cũng vậy, già rồi, không chịu được gió thổi, cũng không chịu nổi dầm mưa. Lúc trước còn chưa vào đông, mà tâm tư của quả nhân đã chạy đến Tuyết cung rồi, không phải vì nguyên do nào khác, chỉ là không thể nào kham nổi.”

“Bệ hạ long thể vẫn tráng kiện lắm!”

“Than ôi!” Uy Vương lại than thở. “Tráng kiện hay không, chỉ có quả nhân hiểu rõ. Già rồi, không gánh vác nổi nữa rồi, đã tới lúc quả nhân phải thả lỏng đôi vai. Cương Nhi!”

“Có nhi thần!”

“Kể từ hôm nay, việc trong ngoài triều đều do con đảm đương, nhân lúc quả nhân và Trâu ái khanh còn có thể trợ giúp, hãy nhận lấy gánh nặng này, để quả nhân được thanh thản tận hưởng mấy ngày nhàn nhã.”

Tích Cương quỳ xuống khấu đầu: “Nhi thần non nớt, e rằng chưa đủ sức. Phụ vương!”

“Được rồi, không nhắc tới chuyện này nữa. Hãy nói về tình hình trước mắt, quả nhân già rồi, chẳng nhớ được chuyện gì.”

“Thượng đại phu Điền Anh gửi chiến báo về, nói là bên ngoài ải Hàm Cốc, quân hợp tung liệt quốc đã bày sẵn thế trận chờ đợi, Bàng Quyên vẫn chưa có động tĩnh gì, không ai có thể đoán được suy nghĩ trong lòng hắn. Quân Yên đã lui về Dịch Thuỷ, cách sông đối đầu với tướng quân Điền Kỵ. Thượng đại phu có ý rút quân hợp tung về, tấu xin ý chỉ. Tướng quân Điền Kỵ gửi chiến báo, nói rằng Hà Thuỷ đã đóng băng, đợi thêm vài ngày nữa là có thể vượt sông. Tướng quân tấu xin viện binh, dự định vượt sông thẳng xuống Vũ Dương, tiến tới Kế Thành.”

“Con thấy thế nào?” Uy Vương chậm rãi hỏi.

“Nhi thần cho rằng, Yên quân thất đạo, làm nhiều điều bất nghĩa. Ta đã khởi đội quân chính nghĩa, cũng nên thừa thắng truy kích, vượt sông phá địch, giết chết hôn quân, đòi lại công bằng cho chị!”

“Ý lão ái khanh thế nào?” Uy Vương chậm rãi hỏi.

Trâu Kỵ vòng tay bẩm tấu: “Vi thần cho rằng, điện hạ nói rất đúng. Yên quân vô đạo, nên vượt sông truy kích.”

Uy Vương nhắm mắt suy nghĩ.

Một lát sau, Uy Vương từ từ mở mắt, nhìn ra phía cửa cung, nữa như tự nhủ, nửa như trả lời: “Hãy nhìn ra ngoài cửa! Băng tuyết kín trời, chinh chiến thế nào đây?”

Chiếu theo lệ thường, ngày đông nông nhàn, chính là thời điểm để săn bắt, chinh chiến, Uy Vương có già đến mấy, có lú lẫn đến mấy cũng không thể không biết điều này.

Tích Cương, Trâu Kỵ đưa mắt nhìn nhau, đều cảm thấy ngờ vực.

“Phụ vương!” Tích Cương lo lắng, không còn để ý tới câu cú hoa mỹ, nói thẳng ra suy nghĩ trong lòng. “Ta phía đông là biển lớn, không có đất để chiếm. Phía tây là Tam Tấn, cũng không có sức để phạt. Hiện tại mưu đồ được, duy chỉ có đất Yên và lưu vực sông Tứ. Lão Yên Công băng hà, tân quân thất đạo, liệt quốc đều đang bận rộn phạt Tần, chẳng còn rảnh rỗi mà để ý tới phía đông. Quân ta xuất binh chính nghĩa, hãy nhân lúc này đánh Yên cướp đất, không thể để lỡ thời cơ.”

“Cương Nhi, vật cực tất phản, sự việc chớ nên nóng vội. Mạng của chị con đã đánh đổi được mười thành nước Yên, quả nhân thấy như vậy cũng đủ rồi!”

Tích Cương đang trầm ngâm suy nghĩ, chợt có tiếng động bên ngoài cửa cung, nội thần túc trực bước vào bẩm báo: “Tướng quốc sáu nước Tô Tần cầu kiến.”

Mọi người đều sững sờ, đặc biệt là Điền Tích Cương, ngỡ ngàng kêu lên: “Ồ, chẳng phải người này đã về quê thăm thân rồi ư, vì sao lại ở đây?”

“Than ôi!” Vẫn là Uy Vương tỉnh táo nhất, khẽ thở dài một tiếng. “Người này đã tới đây, dù là mười thành kia, e cũng khó lòng giữ nổi!”

Tích Cương, Trâu Kỵ trong lòng hồ nghi, mắt nhìn Uy Vương không chớp.

Uy Vương sắc mặt lộ vẻ bất lực, buông thõng hai tay, quay sang nói với nội thần: “Truyền chỉ tướng quốc sáu nước, sáng sớm ngày mai lên đại triều yết kiến.”

Nội thần túc trực vâng lệnh lui ra.

“Cương Nhi!” Uy Vương nhìn sang Tích Cương. “Vừa rồi nghe con nói, thượng đại phu tấu xin ý chỉ. Vậy hãy truyền chỉ cho hắn: lập tức lui quân, viện trợ Điền Kỵ!”

Đã không ân chuẩn vượt sông tấn công Yên, đến mười toà thành đã chiếm được cũng giữ không nổi, vì sao còn muốn thượng đại phu rút quân, chi viện cho Điền Kỵ? Điền Tích Cương kinh ngạc, cứ đứng sững tại chỗ, nhìn Uy Vương chằm chằm: “Phụ vương?”

“Quả nhân mệt rồi, muốn nghỉ ngơi!” Uy Vương đứng dậy, do cung nữ dìu đỡ, chầm chậm bước về phía tẩm cung.

Vào buổi đại triều trong cung Tề sáng hôm sau, do chuẩn bị triệu kiến tướng quốc sáu nước Tô Tần, Tề Uy Vương cho bài trí nghi trượng vô cùng long trọng ngoài cửa cung, trên triều đường càng là trăm quan đông đảo, không khí rất mực nghiêm trang.

Trong phòng chờ chỉ dưới điện, Tô Tần ngồi trên chiếu, thần sắc tĩnh lặng, dường như đang nhắm mắt dưỡng thần.

Công tử Khoái có vẻ sốt ruột, nhịn không nổi bèn hỏi khẽ: “Tô Tử, mười thành Hà Gián đã là miếng thịt béo trong miệng Tề Vương, Tô Tử nay đòi trả lại, Tề Vương… liệu có đồng ý không?”

Tô Tần lắc đầu: “Đương nhiên là không!”

“Ồ… Tô Tử đã biết Tề Vương không chịu, cớ sao còn tới đòi?”

“Tề Vương không đồng ý với tại hạ, song sẽ đồng ý với công tử. Đây cũng là lý do tại hạ xin công tử cùng đi.”

“Tại hạ?” Công tử Khoái thoạt tiên sửng sốt, sau đó ủ rũ buồn rầu. “Tô Tử nói đùa rồi. Tại hạ đã mất mẫu thân, giờ lại phụ thân không dung, khác nào chó mất chủ, giữ được tính mạng đã là may mắn, làm sao có thể đòi lại thành trì cho nước Yên?”

Tô Tần còn chưa kịp trả lời, đã nghe thấy giọng đại phu truyền chỉ cất lên sang sảng ngoài phòng: “Bệ hạ có chỉ, mời tướng quốc sáu nước Tô Tần lên điện yết kiến!”

Tô Tần nhận chỉ xong, đứng dậy nói với công tử Khoái: “Công tử hãy ở đây đợi tại hạ.”

Tô Tần đi theo đại phu truyền chỉ, bước vào cửa điện, thong thả tiến lên phía trước, tới chính giữa điện khấu kiến Uy Vương, lại bái lạy rồi đứng dậy, ngửa cổ cười dài ba tiếng, lại cúi đầu khóc lớn ba tiếng.

Tô Tử danh tiếng lẫy lừng lại hành sự kỳ quặc đến vậy, khiến bá quan trong triều thảy đều ngỡ ngàng.

Uy Vương từ từ nheo mắt lại: “Xin hỏi ái khanh, vì sao lại cười ba tiếng?”

Tô Tần dõng dạc đáp lời: “Thần ngửa mặt lên trời cười ba tiếng, là để chúc mừng. Tiếng cười thứ nhất chúc mừng nước Tề, tiếng cười thứ hai chúc mừng người Tề, tiếng cười thứ ba chúc mừng bệ hạ!”

“Xin hãy giải thích rõ!”

“Chúc mừng nước Tề mở rộng trăm dặm lãnh thổ, chúc mừng người Tề có thêm mười vạn nhân đinh, chúc mừng bệ hạ có được mười thành trì mới.”

Quần thần ai nấy đều nghe ra Tô Tần đang nói ngược, bèn đưa mắt nhìn nhau.

“Ái khanh khóc ba tiếng là có ý gì?” Uy Vương vẫn nheo nheo hai mắt, cơ thể hơi ngả về phía trước.

Tô Tần chậm rãi đáp lời: “Thần nhìn xuống đất khóc ba tiếng, là để kính viếng. Tiếng khóc thứ nhất là kính viếng nước Tề, tiếng khóc thứ hai là kính viếng người Tề, tiếng khóc thứ ba là kính viếng bệ hạ!”

“Hãy giải thích rõ!”

“Khóc vì nước Tề mở rộng trăm dặm lãnh thổ, khóc vì người Tề tăng thêm mười vạn nhân đinh, khóc vì bệ hạ có được mười thành trì mới.”

Quần thần đều ngơ ngác trước lời lẽ của Tô Tần, cứ đứng ngây ra sững sờ, tới lúc định thần trở lại, sắc mặt ai nấy đều lộ vẻ tức giận. Tuy nhiên, Tô Tần thân kiêm tướng quốc sáu nước, đương nhiên cũng là tướng quốc nước Tề, trên triều đường này, địa vị ngang với Trâu Kỵ, người có thể trấn áp Tô Tần, cũng chỉ có Tề Vương. Uy Vương không tỏ thái độ, còn ai dám nói bừa!

Tuy nhiên, lão tướng Trâu Kỵ đã nhịn không nổi.

Tô Tần danh tiếng lẫy lừng liệt quốc, Trâu Kỵ trong lòng vốn đã không ưa, giờ lại thấy hắn gây loạn trong triều đường, nói ra những lời phi lý, thực khó lòng nhẫn nhịn, bèn liếc nhìn Tích Cương, thấy thái tử vẫn đang trầm ngâm, bèn bước lên trước một bước, vòng tay hướng vào Tô Tần mà nói: “Tô Tử vừa chúc mừng vừa kính viếng, đều là vì mười thành, dám hỏi là vì sao?”

Tô Tần rõ ràng không muốn nhiều lời với ông ta, vòng tay vái ông ta vài vái, rồi đưa mắt nhìn sang Uy Vương.

Trâu Kỵ bị bẽ mặt, đang lúng túng không biết làm sao, thì Uy Vương bỗng từ từ mở mắt, nhìn Tô Tần mỉm cười, giải vây cho Trâu Kỵ: “Phải, Trâu Tử hỏi rất đúng! Xin hỏi Tô Tử, chúc mừng và kính viếng đều vì mười thành, tại sao hai chuyện đó lại theo nhau nhanh chóng đến vậy?”

Tô Tần vòng tay đáp lời: “Tần từng nghe nói, xưa kia có một người đói lả đến gần chết, tìm mãi mới được mười củ ấu tàu(1). Tần dám hỏi bệ hạ, người đó có ăn không?”

Uy Vương lắc đầu.

“Người đó vì sao lại không ăn?”

Uy Vương đưa mắt nhìn sang Tích Cương, tỏ ý bảo hắn trả lời.

Tích Cương bèn đáp: “Ấu tàu là độc dược, tuy ăn vào có thể no bụng, nhưng sẽ chết.”

Tô Tần quay người, vòng tay hướng vào thái tử mà nói: “Điện hạ nói rất đúng. Đói cũng chết, ăn củ ấu tàu cũng chết. Đằng nào cũng chết, dám hỏi điện hạ, người đó vì sao không chọn làm ma no?”

“Cùng là cái chết, song chết vì củ ấu tàu rất thống khổ.”

“Tạ ơn điện hạ đã giải thích!” Tô Tần vòng tay đa tạ, rồi quay sang Uy Vương và quần thần, vái khắp một lượt, dõng dạc mà nói. “Bệ hạ, điện hạ, chư vị đại nhân, mười thành của Yên chẳng khác nào mười củ ấu tàu trong tay người đói, có được thì vui mừng, mà ăn vào thì thảm thương, nên vừa rồi Tô Tần mới vừa chúc mừng đã lại kính viếng là vì vậy.”

Thấy Tô Tần so sánh như vậy, mọi người nhất thời không hiểu, thảy đều hoang mang, đưa mắt nhìn nhau. Dù là người túc trí đa mưu như Trâu Kỵ, lúc này cũng băn khoăn nghi hoặc, nhắm mắt suy ngẫm.

Uy Vương hít sâu một hơi, trong người lạnh toát, ngả người về phía trước hỏi: “Tô Tử ví mười thành như mười củ ấu tàu, dám hỏi dựa vào đâu mà ví như vậy?”

“Bệ hạ!” Tô Tần thong thả đáp lời. “Mười thành của nước Yên, chẳng khác gì mười củ ấu tàu trong tay người đói, có được thì dễ, mà ăn vào thì nguy. Thần không phải nói lời khoa trương để doạ dẫm, mà do tình thế thiên hạ thành ra như vậy.”

“Dám hỏi tình thế ra sao?”

“Thiên hạ hiện nay, có bảy nước lớn, là Tề, Sở, Tần, Yên, Hàn, Triệu, Ngụy. Từ năm ngoái tới nay, thiên hạ chia làm hai phần từ ải Hàm Cốc, sáu nước phía đông ải Hàm Cốc hợp tung, chống lại nước Tần tại Quan Trung. Minh ước hợp tung còn chưa ráo mực, đại vương lại vì một phút nóng giận, dùng sức mạnh của một nước mà đối đầu thiên hạ, thần thiết nghĩ là việc thiếu sáng suốt.”

“Tô Tử nói quá rồi!” Uy Vương ngả người ra phía sau. “Thái tử nước Yên thất đạo, dối dưới lừa trên, bức anh giết cha, mưu đồ soán vị, lạm sát người vô tội, làm nhiều điều bất nghĩa. Ái nữ của quả nhân vô duyên vô cớ bị hại, trước khi lâm nạn có gửi tới quả nhân một bức huyết thư cầu cứu. Quả nhân không thể nhẫn nhịn mới khởi binh hỏi tội, đòi lại công bằng cho ái nữ, cớ sao lại không được?”

“Lời của vi thần, dứt khoát không phải là khuếch đại để doạ dẫm. Dám hỏi bệ hạ, dựa vào thực lực hiện tại của Tề, có thể đối đầu với cả thiên hạ hay chăng?”

“Quả nhân chẳng qua chỉ là chiếm mười thành của hắn, liên quan gì tới thiên hạ?”

“Thần xin giải thích để bệ hạ thấy. Yên Công băng hà, thái tử kế ngôi, không phải là cướp ngôi, nói ‘giết cha’ là vô căn cứ. Tân quân nước Yên tức vị, được người Yên ủng hộ, cũng không phải là thất đạo. Còn như Yên lạm sát người vô tội, vi thần mới từ nước Yên tới, tận mắt chứng kiến, thấy lời này thật không đáng tin. Nay bệ hạ kiếm cớ phạt tội, chiếm đoạt mười thành trì của nước Yên, tức là đã liên quan tới thiên hạ. Như vừa rồi đã nói, thiên hạ chia đôi, không phải nước hợp tung thì là nước Tần. Nước Tề đã đồng ý hợp tung, minh ước còn chưa ráo mực, bệ hạ đã chiếm mười thành của nước hợp tung, lòng dân liệt quốc hợp tung tất nguội lạnh. Tân quân nước Yên đã cưới con gái Tần, là con rể của Tần Công. Cha vợ con rể một nhà, Tần và Yên đã kết thân, Tề cướp đất Yên, dân Tần ắt phẫn nộ. Nếu người Yên báo thù, người Tần trợ giúp, các nước hợp tung cũng hợp sức đánh Tề, bệ hạ sẽ ứng phó thế nào? Thần cho rằng, bệ hạ vì mười thành mà làm mất lòng thiên hạ, được không bù nổi mất, nên mới ví von với củ ấu tàu.”

Tô Tần vừa dứt lời, quân thần đều kinh hãi, bởi không ai có thể suy nghĩ sâu xa tới vậy.

Uy Vương ngả hẳn người về phía trước, giọng khàn đi: “Theo ý ái khanh, quả nhân nên làm thế nào?”

“Lão Đam nói, ‘hoạ là chỗ dựa của phúc, phúc là chỗ ẩn của hoạ’, phúc hoạ nương tựa lẫn nhau, người tài thời xưa giỏi chuyển hoạ thành phúc. Nếu bệ hạ chịu nghe lời thần, hãy rút quân chinh phạt về, trả lại cho nước Yên mười thành Hà Gián. Yên không phải giao chiến mà giành về được mười thành, ắt vui mừng. Các vua Ngụy, Triệu, Hàn, Sở hay tin bệ hạ vì ái nữ mà phạt Yên, giành được mười thành, song lại vì hợp tung mà rút quân, trả lại mười thành, ắt cũng hoan hỷ, tung thân càng thêm kiên cố. Tần Công biết bệ hạ vì công chúa Tần mà trả lại Yên mười thành, ắt cũng vui vẻ. Bệ hạ làm một việc mà khiến mọi người đều vui vẻ, dùng mười thành mà lấy được lòng thiên hạ, chẳng phải đáng mừng ư?”

Tề Uy Vương bật cười vang, đưa tay chỉ vào Tô Tần mà nói: “Miệng lưỡi thật sắc bén, quả nhân khâm phục!” Rồi quay sang quần thần. “Chư vị ái khanh, có ai tấu gì không?” Thấy không ai nói gì, bèn phẩy tay. “Bãi triều!”

Tô Tần vẫn sống trong phủ trạch mà Uy Vương ban tặng trong Tắc Hạ.

Ba ngày sau, Tề Vương sai người đánh vương xa tới đón Tô Tần vào Tuyết cung dự yến.

Tô Tần gọi công tử Khoái lại nói: “Đi thôi, công tử! Nước Yên có đòi lại được mười thành hay không, còn phải trông vào công tử.”

“Tại hạ?” Công tử Khoái ngẩn người, hỏi lại. “Phải làm thế nào?”

“Tới lúc gặp Tề Vương, công tử chớ coi ông ta là Tề Vương.”

“Vậy… coi là gì?”

“Là ông ngoại!”

“Ông ngoại?”

“Đúng vậy!” Tô Tần nhìn thẳng vào công tử Khoái. “Tề Vương là cha ruột của mẫu thân công tử, đương nhiên là ông ngoại của công tử.”

Công tử Khoái gật đầu, song vẫn băn khoăn: “Tại hạ nên làm thế nào?”

“Thử tưởng tượng xem, nếu công tử là một người dân bình thường, cha công tử giết mẹ công tử, ông ngoại công tử báo thù cho con gái, cho người tới cướp mất một con trâu nhà công tử. Cha công tử không chịu, sai người đi đòi trâu về. Một bên là cha, một bên là ông ngoại, đều là người thân của công tử. Công tử không muốn hai người thân của mình ẩu đả chỉ vì một con trâu, bèn chủ động đứng ra dàn xếp, tìm ông ngoại đòi trâu. Trong tình cảnh đó, công tử nên xử trí thế nào?”

“Tại hạ…” Công tử Khoái nghe Tô Tần nói mà đau đớn cõi lòng, nước mắt giàn giụa. “Tại hạ… còn biết làm gì ngoài đau đớn khóc lóc nữa?”

“Phải, công tử cứ khóc!”

“Khóc?” Công tử Khoái thôi khóc, ngẩn người kinh ngạc.

“Sau khi gặp ông ngoại, công tử đừng nói câu nào, cứ quỳ xuống đất mà khóc, khóc càng thảm thiết càng tốt. Còn con trâu kia, cứ để tại hạ đòi về.”

Công tử Khoái thở phào một tiếng, gật đầu đồng ý.

Hai người lên vương xa, tới Tuyết cung.

Hai người vào yết kiến. Công tử Khoái mình mặc hiếu phục, vừa bước vào cửa cung đã khấu đầu sát đất, kêu lên một tiếng thê lương: “Ông ngoại…” Rồi lập tức bật khóc thảm thiết.

Khi Tô Tần sang Tề hợp tung, công tử Khoái là phó sứ nước Yên, Uy Vương vốn đã gặp mặt, song giờ đây thấy công tử Khoái mình mặc áo tang, lại khóc lóc thảm thiết, nhất thời chưa thể nhận ra, chỉ vào công tử Khoái mà hỏi Tô Tần: “Người này là ai?”

Tô Tần dụi mắt mà nói: “Là cháu ngoại của bệ hạ, trưởng công tử nước Yên Cơ Khoái!”

“Khoái Nhi?” Uy Vương lấy làm kinh ngạc. “Sao cháu lại tới đây?”

Công tử Khoái dập đầu sát đất, chỉ khóc nức nở.

“Khoái Nhi!” Uy Vương vẫy tay gọi công tử Khoái. “Hãy lại đây, để ông ngoại được nhìn cháu!”

“Ông ngoại…” Công tử Khoái lê gối lên trước vài bước, gục đầu trước gối Uy Vương, hai vai rung lên bần bật, càng gào khóc thảm thương hơn nữa.

Uy Vương vỗ về công tử Khoái, thở dài một tiếng, quay sang Tô Tần: “Những lời ái khanh nói hôm trước, quả nhân thấy rất phải. Hôm nay quả nhân triệu ái khanh tới đây, cũng là muốn bàn tiếp chuyện này. Mười thành kia, quả nhân có thể hoàn trả, song Cơ Tô vô duyên vô cớ sát hại ái nữ, nỗi hận này phải giải toả thế nào đây?”

“Bệ hạ!” Tô Tần khấu đầu nói. “Người chết không thể sống lại được. Bệ hạ dù có hạ lệnh giày nát đất Yên, giết hết người Yên, cũng không thể khiến Điền phu nhân sống lại, mà sẽ chỉ càng khiến bi thương chồng chất. Điền phu nhân tuy đã ra đi, song huyết mạch vẫn còn, công tử Khoái vừa là công tử đích mạch của Yên Vương, cũng là huyết mạch của bệ hạ. Bệ hạ hoàn trả mười thành cho Yên, bề ngoài là trả cho Yên Vương, song thực chất là trả cho công tử!”

Uy Vương hai mắt vụt sáng: “Ý ái khanh là…”

“Bệ hạ sao không nhân thời cơ tốt đẹp này viết thư cho Yên Vương, bảo ông ta lập công tử làm thái tử? Nước Yên tương lai sẽ thuộc về công tử, như vậy thứ bệ hạ có được, đâu chỉ là mười thành kia?”

“Quả nhân sẽ nghe theo lời ái khanh!” Uy Vương mặt mày rạng rỡ, vỗ về công tử Khoái mà nói. “Khoái Nhi, cháu đừng khóc nữa, quả nhân vì cháu mà hoàn trả mười thành cho Yên.” Rồi quay sang Tô Tần. “Có điều, Cơ Khoái có thành thái tử hay không, còn phải nhờ vào sự giúp đỡ của ái khanh.”

“Vi thần nhất định sẽ tận lực!”

***

Đúng vào lúc hai thùng gỗ chứa đầy nước ở bên ngoài doanh trại chủ tướng sắp sửa đông cứng, thượng đại phu nước Triệu Lâu Hoãn, thượng khanh nước Ngụy Chu Uy đến cầu kiến Bàng Quyên. Theo sau họ là Viên Báo.

Viên Báo bẩm báo qua thân phận, rồi lấy ra một bức mật thư, trình lên Bàng Quyên.

Bàng Quyên thấy là thư của Tô Tần, lập tức bóc ra, thấy trong thư viết rằng: “Tại hạ một lần nữa khẩn cầu Bàng huynh tạm dừng phạt Tần. Không phải là Tần không thể phạt, mà là thời cơ chưa tới. Khi ở Quỷ Cốc, từng nghe tiên sinh và Tôn huynh luận binh, có nói rằng: ‘Nên dùng binh thượng sách là dùng mưu, thứ đến là dùng bang giao, thứ đến là đánh trận, hạ sách là đánh thành. Đánh thành là bất đắc dĩ.’ Tình thế hiện nay, dựa vào đại tài của huynh, ắt cũng thấu tỏ. Sáu nước vừa mới hợp tung, sáu tâm còn chờ quy về một mối, các tướng còn chờ hoà hợp, tiền của còn chờ tích luỹ, binh tướng vẫn còn là đám ô hợp. Dùng đoàn quân ô hợp để tấn công đất nước bốn ải khoá kín, trộm nghĩ là không thoả đáng. Thảo phạt bằng mưu là thượng sách, đại mưu là ở đạo. Hợp tung mục đích là chế Tần, không phải là phạt Tần. Sáu nước hợp tung, đã thành đại thế, Tần tự nhiên sẽ phải dè chừng. Giáo hoá bằng đại đạo, răn dạy bằng đại nghĩa, quy phạm bằng khuôn phép, Tần không dám không nghe. Nếu nghe, ta ‘không chiến mà khuất phục được người’; không nghe, huynh vẫn tiếp tục dẫn quân thảo phạt, ắt bại. Tô Tần bái thư.”

Bàng Quyên đọc xong, sắc mặt vẫn bình thản như không, vứt đánh toẹt lá thư lên mặt bàn, song dường như cảm thấy bất kính, lại với tay nhặt lên, nhét vào trong tay áo, ôm quyền hướng về phía Lâu Hoãn, Chu Uy mà nói: “Lâu đại phu, Chu thượng khanh, chinh phạt đã sắp bắt đầu, điều khiến tại hạ lo lắng nhất chính là lương thảo. Nghe nói hai vị áp tải lương thảo tới đây khao quân, thực là như nắng hạn gặp mưa lành, tại hạ thay mặt tướng sĩ ba quân, tạ ơn hai vị.”

Lâu Hoãn ôm quyền nói: “Bàng tướng quân khách sáo rồi! Chinh phạt sắp bắt đầu, tại hạ có vài lời bâng quơ, không biết có nên nói ra hay không?”

“Thượng đại phu cứ nói!”

“Từ khi theo Tô Tử hợp tung, tại hạ đã nhiều lần được nghe cao luận của Tô Tử. Trong buổi hội thề, Tô Tử lại luận bàn về hợp tung với tại hạ, sắc mặt lộ vẻ lo âu. Thiên hạ hợp tung, hoàn toàn dựa vào Tô Tử, nay đã thành công, lại thấy Tô Tử lo âu, tại hạ lấy làm quái lạ, bèn hỏi tại sao, Tô Tử nói, một khi hợp tung thành công, thiên hạ ắt sẽ phạt Tần. Tại hạ cho rằng bạo Tần đáng phạt, đã tranh luận với Tô Tử. Tô Tử bèn nói ra một đạo lý, tại hạ tầm mắt hạn hẹp, lúc đó không cho là đúng. Giờ nhìn vào tình thế hiện tại, tại hạ đã hiểu phần nào. Tần có bốn cửa ải kiên cố, Hàm Cốc hiểm trở, lấy nhàn đối nhọc, mười vạn binh lính có thể địch nổi hai mươi vạn quân. Nay đại quân ta áp sát biên giới, Tần không còn đường lui, tất trên dưới đồng lòng, tử chiến vệ quốc, hai mươi vạn có thể chống lại bốn mươi vạn. Nhìn lại quân hợp tung của ta, còn chưa bày trận, nội chiến đã nổ ra, sáu thế nay mất đi hai thế. Tuy tại hạ không am hiểu việc quân, song cũng nhận ra đại thế, nay nói thẳng lời này, mong tướng quân suy nghĩ kỹ.”

Lâu Hoãn vừa dứt lời, Bàng Quyên lập tức phá lên cười lớn, mỉa mai mà rằng: “Thượng đại phu khiêm tốn thái quá rồi! Nghe thượng đại phu giáo huấn, tại hạ thực lấy làm hổ thẹn. Thượng đại phu đã nhận ra đại thế, lại hiểu việc binh, thực là đại tài tuyệt thế, Bàng mỗ vô cùng kính phục. Tuy nhiên…” lập tức đổi giọng, ngữ khí đanh thép, “thượng đại phu chỉ biết một mà không biết hai. Thân là bề tôi, đương nhiên phải phục tùng quân chủ. Quân chủ sáu nước hội thề hợp tung, đã quyết định hợp quân diệt Tần. Không phải tại hạ không nhận ra đại thế, mà kỳ thực là tại hạ phụng chỉ phạt Tần, quân mệnh không thể trái! Lẽ nào thượng đại phu nhất định muốn tại hạ kháng chỉ của sáu vị quân vương, để nghe theo mệnh lệnh của một mình Tô Tử?”

Lâu Hoãn thành tâm khuyên nhủ, song lại nhận phải lời giễu cợt vỗ mặt, sắc mặt hết đỏ gay lại trắng bệch, cúi đầu im lặng.

“Thượng đại phu!” Bàng Quyên vẫn không chịu buông tha, giọng nói càng thêm bén nhọn. “Trận quân chưa bày, trống trận chưa nổi, thượng đại phu lại ở trước mặt chủ soái sáu quân khuếch trương uy lực của bạo Tần, hạ thấp thế của hợp tung, là có ý gì? Tại hạ muốn hỏi, là thượng đại phu sợ hãi, hay là người Triệu các vị sợ hãi?”

Lâu Hoãn tức giận: “Bàng tướng quân, tướng quân… nói vậy là có ý gì?”

Bàng Quyên cũng cảm thấy hơi quá lời, ngữ khí có phân dịu lại: “Lời thượng đại phu vừa nói, nếu chỉ là ý của thượng đại phu, tại hạ tạm coi như không nghe thấy. Còn nếu là phụng ý chỉ của quân chủ nước Triệu, xin thứ lỗi không thể phục tùng. Tại hạ là chủ soái của sáu quân, không phải chủ tướng của quân Triệu, nếu có chỗ nào bất kính, dám mong thượng đại phu lượng thứ!”

Chu Uy thấy không khí căng thẳng, đành đứng lên giảng hoà, vòng tay hướng vào Lâu Hoãn mà nói: “Thượng đại phu bất tất phải để bụng. Kỳ thực, điều thượng đại phu lo lắng, Bàng tướng quân không phải không nghĩ tới. Theo tại hạ biết, Bàng tướng quân xưa nay dụng binh thận trọng, nếu không phải vậy, đại quân đã khai chiến với người Tần từ lâu rồi, còn đóng trại vài tháng ở đây để làm gì?”

Chu Uy lời lẽ khéo léo, vừa giữ được thể diện cho Bàng Quyên, cũng lại tán thành ý của Lâu Hoãn, Bàng Quyên không còn tỏ vẻ hống hách nữa, dịu giọng mà nói: “Chu thượng khanh nói rất phải. Tuy nhiên, cung đã kéo căng, tên khó lòng thu lại. Về việc ngừng chiến, thượng đại phu chớ nên nhắc lại nữa. Tại hạ thân là chủ soái, duy chỉ biết phục tùng mệnh lệnh của tung ước trưởng mà thôi!”

Tiễn Lâu Hoãn, Chu Uy và Viên Báo đi rồi, Bàng Quyên thở hồng hộc trở vào trong trại, bực bội ngồi trước bàn chủ soái một hồi, rồi lôi bức thư của Tô Tần ra, đọc lại một lượt, hậm hực ném thẳng lên bàn, giận dữ rít lên: “Cái gì mà Tôn huynh nói, cái gì mà dùng binh thượng sách là dùng mưu? Một thằng đần chỉ biết khua môi múa mép cũng đòi bàn việc quân! Hừm, đợi ta phá Tần xong, xem hắn có thấy bẽ mặt không! Người đâu!”

Tham tướng đáp lời, bước vào.

“Gọi hai tướng quân Trương Mãnh, Ngụy Ngang tới trại chủ soái nghe lệnh!”

***

Dông tố chiến tranh đã sầm sập tới gần, nước Tần động viên toàn quốc, trên dưới sôi sục, đều quyết chí hy sinh vì nước. Huệ Văn Công phong đại lương tạo Công Tôn Diễn làm chủ tướng, quốc uý Tư Mã Thác làm phó tướng kiêm tiên phong phá địch, Cam Mậu phụ trách vận chuyển lương thảo, khởi mười lăm vạn quân tinh nhuệ nghênh địch. Huệ Văn Công ở Hàm Dương bồn chồn thắc thỏm, đứng ngồi không yên, bèn khởi giá gấp rút tới Ninh Tần, Trương Nghi đi theo hộ tống.

Ninh Tần chính là Âm Tấn, một đường nối thông với ải Hàm Cốc, là do Tư Mã Thác vài năm trước nhân lúc Tề phạt Ngụy đã cướp lấy từ tay quân Ngụy. Lần này sáu nước phạt Tần, cùng tiến quân áp sát ải Hàm Cốc. Ninh Tần phía đông thông Hàm Cốc, phía nam chế Hà Tây, phía tây tới Hàm Dương, giống như yết hầu của Tần, xứng đáng là vùng thắng địa chiến lược, tuyệt đối không thể đánh mất. Hai tháng trước, Huệ Văn Công bổ nhiệm công tử Hoa làm tướng giữ thành, tích thảo đồn lương, gia cố thành trì, đồng thời bí mật điều động ba vạn quân tinh nhuệ hạ trại trong khe núi Hoa Sơn, hô ứng với Ninh Tần.

Dù là vậy, Huệ Văn Công vẫn chưa yên tâm, bèn sai binh sĩ khiêng theo phương thiên hoạ kích và cây cung báu năm thạch của mình, dẫn theo ba nghìn vệ binh, khí thế hừng hực tiến tới Ninh Tần, chứng tỏ cho dân chúng thấy quyết tâm tử chiến.

Chính vào lúc Bàng Quyên triệu tập chư tướng nghe lệnh, Huệ Văn Công đã tới Ninh Tần. Đám Công Tôn Diễn, Tư Mã Thác, Cam Mậu, Sư Lý Tật cũng mau chóng từ các hướng khác nhau ruổi ngựa tới, tề tựu tại phủ đệ của công tử Hoa.

“Chư vị ái khanh!” Thấy quần thần đều đã yên vị, Huệ Văn Công đặng hắng khẽ một tiếng, chậm rãi nói. “Tô Tử hợp tung, Bàng Quyên hưng binh tác loạn, vài chục vạn quân hợp tung đã tập kết bên ngoài ải Hàm Cốc, nỏ giương gươm tuốt. Không phải quả nhân muốn đánh, mà là người ta đã ép tới tận cổng nhà chúng ta!” Đưa mắt nhìn quần thần, nói tiếp. “Mấy vị ái khanh đây không những là trợ thủ đắc lực của quả nhân, mà còn là đầu não và tâm phúc của nước Tần. Trận đại chiến này, quả nhân không thể bại, nước Tần cũng không thể bại. Quả nhân cho gọi chư vị tới, là muốn nghị bàn chiến lược nghênh địch sau cùng, bảo đảm phải vạn phần trọn vẹn.”

Dù giọng nói của Huệ Văn Công rất đỗi bình thản, song quần thần vẫn cảm nhận được một sức nặng ngàn cân. Không một ai lên tiếng.

Thấy quần thần sắc mặt căng thẳng, Huệ Văn Công cười nói: “Nói đi chứ, sao ai nấy cứ ngồi dài mặt ra thế kia, cứ như quả nhân đang nợ bổng lộc của các khanh vậy!” Lại đợi thêm một lát, thấy lời nói đùa chẳng có mảy may tác dụng, bèn thu lại nụ cười, chỉ đích danh. “Công Tôn ái khanh, khanh là chủ tướng ba quân, hãy nói trước đi!”

“Thần cho rằng,” Công Tôn Diễn đi thẳng vào đề, “Bàng Quyên dàn quân hợp tung liệt quốc tại hai đầu ải Hào Quan, có lẽ chỉ là nghi binh. Hàm Cốc quan đường hẹp ải hiểm, dễ phòng khó đánh, binh lực tuy nhiều cũng không thể triển khai. Dựa vào tài của Bàng Quyên, dứt khoát sẽ không suy tính nông cạn như vậy!”

“Theo ý ái khanh, Bàng Quyên sẽ tập trung tấn công từ đâu?”

“Chính là từ chỗ này!” Công Tôn Diễn trải bức bản đồ hình thế mang theo bên mình ra, chỉ vào dải Hà Thuỷ phía đông thành Thiếu Lương. “Vượt sông!”

“Vượt sông?” Hết thảy mọi người, gồm cả Huệ Văn Công đều sững sờ kinh ngạc.

“Mọi người hãy xem!” Công Tôn Diễn chỉ vào một đoạn lòng sông Hà Thuỷ. “Từ đây tới đây, dài khoảng mười dặm, địa thế tương đối bằng phẳng, lòng sông rộng bảy tám dặm, nước chảy êm đềm, hai bên bờ đều là đầm lầy, bùn ngập đến cổ, rong rêu um tùm, hiếm người qua lại, là chốn thiên đường của chim cá, người địa phương gọi là bãi Lạn Nê, cũng gọi là bãi Chết Người, không ai dám bén mảng lại gần.

Mọi người càng nghe càng không hiểu, Cam Mậu bèn lên tiếng hỏi: “Nếu như bùn ngập đến cổ, hiếm người qua lại, vậy quân hợp tung vượt sông thế nào?”

Huệ Văn Công đột nhiên bừng hiểu, mặt mày biến sắc: “Ý ái khanh là, Bàng Quyên đợi nước sông đóng băng?”

“Quân chủ thánh minh!” Công Tôn Diễn khẽ vòng tay, sắc mặt trầm trọng. “Theo vi thần được biết, đoạn sông Hà Thuỷ này nếu gặp tiết trời giá rét cực độ, sẽ đóng thành băng cứng. Bùn lầy kết thành một khối, rắn như đá tảng. Dù giữa dòng vẫn có chỗ chảy xiết khó đóng băng cứng, song với tiết trời lạnh giá thế này, chỉ là chuyện nhỏ, có thể bắc cầu phao dễ dàng. Do vậy thiên binh vạn mã vượt sông, khác nào đi trên đất bằng!”

Rõ ràng, phán đoán của Công Tôn Diễn tuyệt không phải là võ đoán.

Tư Mã Thác vỗ đùi kêu lên: “Thảo nào Bàng Quyên lề mề không hạ chiến thư, báo hại mạt tướng ngứa ngáy không yên, hoá ra hắn có kế ngầm, chỉ là đợi thời tiết!”

Huệ Văn Công đã trấn tĩnh lại, quay sang công tử Hoa: “Người Ngụy tại Hà Đông có gì bất thường chăng?”

“Hồi bẩm chúa thượng, theo vi thần dò la biết được, người Ngụy ở Hà Đông vẫn chưa có biểu hiện nào khác lạ. Tuy nhiên, quân Ngụy gần An Ấp gia tăng thấy rõ, song chưa thấy quân hợp tung của liệt quốc.”

Tình thế đã rất rõ ràng.

Huệ Văn Công khẽ gật đầu: “Phải! Quan sát mấy lần dụng binh của Bàng Quyên, không lần nào không phải xuất kỳ chế thắng, tấn công vào chỗ bất ngờ. Lần này giao chiến, hắn lại tái diễn trò xưa, cho quân hợp tung tập hợp ngoài ải Hàm Cốc, thu hút sự chú ý của ta, sau đó, nhân lúc đất trời giá lạnh, Hà Thuỷ đóng băng, cho kỳ binh vượt qua Hà Thuỷ, rồi đại binh tiến theo, vòng qua Hàm Cốc, chế ngự Hà Tây của ta.”

Quần thần nhao nhao tán đồng.

Huệ Văn Công quay sang Công Tôn Diễn: “Ái khanh đã nhìn thấu mưu kế của địch, hẳn có sách lược ứng phó?”

“Ải Hàm Cốc hiện có mười vạn tinh binh, thần thiết nghĩ hãy triệu hồi ba vạn, hỗ trợ phòng ngự Thiếu Lương, chuẩn bị vật dẫn cháy, ngấm ngầm sắp xếp chốt canh dọc bờ Hà Thuỷ, một khi phát hiện thấy người Ngụy vượt sông, lập tức ra tay ngay khi chúng vừa hành động, ép chúng phải rút lui, đốt cháy cầu phao, cách sông đối đầu với địch.”

Huệ Văn Công trầm ngâm hồi lâu, lắc đầu mà nói: “Ải Hàm Cốc đối đầu trực diện với cường địch, mười vạn đã không phải là nhiều. Hãy điều động ba vạn quân tinh nhuệ trấn thủ Ninh Tần tới Thiếu Lương!”

Trương Nghi khẽ mấp máy môi vài cái, song lại cố gắng nín nhịn.

“Ái khanh hẳn có điều muốn nói?” Ánh mắt Huệ Văn Công đã liếc thấy.

Trương Nghi ôm quyền mà nói: “Thần cho rằng, Ninh Tần là vùng yết hầu xung yếu của ta, quan trọng hơn hẳn Thiếu Lương. Hà Thuỷ chỉ cần có quân dân Hà Tây bảo vệ là đã đủ rồi. Đô uý quận Hà Tây là Ngô Thanh tướng quân nhà ở Thiếu Lương, thông thạo các ấp Hà Tây, cũng có tài chinh chiến, nếu chúa thượng giao cho trọng trách, tất có thể bảo vệ vững chắc Thiếu Lương, Hà Thuỷ không phải lo lắng.”

“Được, hãy nghe theo lời ái khanh!” Huệ Văn Công ngẫm nghĩ một lát, đoạn quay sang ngự sử đang đứng phía sau. “Soạn chỉ, thăng cấp cho đô uý Hà Tây Ngô Thanh làm quận thú Hà Tây, rút một nghìn quân tinh nhuệ từ các ấp lớn, năm trăm quân tinh nhuệ từ các ấp nhỏ trong quận Hà Tây, đảm bảo không được đánh mất Thiếu Lương, giữ vững Hà Thuỷ!”

“Thần lĩnh chỉ!”

Chư thần lại bàn bạc một hồi, rồi ai nấy lĩnh chỉ ra về.

***

Gió Tây Bắc lại nổi lên, giống như những lưỡi dao lạnh buốt chém ngang mọi sinh mạng trên mặt đất.

Trong trại trung quân, Trương Mãnh, công tử Ngang bốn mắt nhìn không chớp vào sa bàn rộng lớn. Trên sa bàn bày thù lù hai thùng gỗ lớn vừa được khiêng từ ngoài trại vào.

Bàng Quyên cầm gậy, đập vào thùng gỗ, phát ra những tiếng “bộp bộp” trầm nặng. Không cần phải nhìn, chỉ nghe âm thanh cũng biết hai thùng nước đã đóng băng hoàn toàn.

Khoé miệng Bàng Quyên nhếch khẽ một nụ cười, ánh mắt lướt sang Trương Mãnh: “Trương tướng quân, việc tại hạ giao phó, đã chuẩn bị xong chưa?”

Trương Mãnh dõng dạc đáp lời: “Mọi thứ đều đã chuẩn bị sẵn sàng theo đúng lời dặn của chủ soái, ba vạn quân tinh nhuệ đã nai nịt gọn gàng chờ lệnh!”

“Tốt!” Bàng Quyên đột ngột thu lại nụ cười, gằn mạnh từng chữ. “Hai vị tướng quân, nghe lệnh!”

Công tử Ngang, Trương Mãnh lập tức đứng nghiêm trang.

“Ngụy Ngang nghe lệnh!”

“Có mạt tướng!”

Bàng Quyên nhìn thẳng vào công tử Ngang: “Bản soái lệnh cho tướng quân làm tiên phong phạt Tần, dẫn năm vạn lính bộ trong thành An Ấp, tới chỗ này, bãi Lạn Nê,” chỉ vào đoạn sông Hà Thuỷ phía đông Thiếu Lương, “vượt sông phá địch!”

“Mạt tướng tuân lệnh!”

“Biết đánh thế nào chưa?”

“Sau khi vượt sông, đột kích Thiếu Lương, chiếm lấy Hà Tây!” Công tử Ngang lập tức trả lời, không cần suy nghĩ, rõ ràng mưu này đã ấp ủ từ lâu.

“Đúng vậy!” Bàng Quyên khen ngợi. “Công tử hãy trống giương cờ mở, chia quân thành nhiều ngả, phân tán ra đột kích các ấp Hà Tây, chỗ nào đánh được thì đánh, không đánh được thì nghi binh doạ dẫm, không nhất thiết phải đánh hạ bằng được thành trì. Ngoài ra, công tử cần cắm cờ bốn phía, đốt khói tứ tung, khiến năm vạn biến thành mười vạn, mười lăm vạn, thanh thế càng lớn càng tốt, khiến cho người Tần hoang mang không biết thực hư. Chủ lực của người Tần đều ở tuyến Hàm Cốc, Âm Tấn, còn Thiếu Lương và Hà Tây chỉ có quân phòng thủ, có thể dùng kế nghi binh.”

“Ờ…” Công tử Ngang có vẻ vẫn chưa hiểu.

“Trương tướng quân!” Bàng Quyên cũng không giải thích thêm, liền quay sang Trương Mãnh. “Tướng quân dẫn ba vạn quân tinh nhuệ, chọc thẳng vào chỗ này!” Chỉ vào vùng Phong Lăng. “Khe Phi Viên! Tại hạ từng tới tận đó quan sát, thấy nơi đó tuy nước chảy xiết, song khe nhỏ hẹp, có thể bắc cầu phao trên mặt nước. Đợi vượt sông thành công, lập tức cắt đứt đường Hàm Cốc, chia quân hai lộ, một lộ tiến về phía đông, tấn công ải Hàm Cốc từ sau lưng, chọn nơi hiểm trở dựng luỹ, chặn đứng đường rút lui của quân địch ở ải Hàm Cốc. Lộ còn lại tiến về phía tây, đánh vào Âm Tấn, chọn nơi hiểm trở dựng luỹ, cản trở viện binh của người Tần!”

Đây là phương án chế địch cực kỳ liều lĩnh, bất ngờ song hiệu quả, Bàng Quyên giữ bí mật tuyệt đối, ngoài Huệ Vương và Trương Mãnh, không hé lộ cho ai biết, tới lúc này mới ra mệnh lệnh.

Công tử Ngang nghe mà hai mắt trợn trừng, vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ.

“Hai vị xem đây!” Bàng Quyên chỉ vào sa bàn. “Ải Hàm Cốc như cái miệng của Tần, hung hãn nhe nanh, muốn cắn xé ta. Đường Hàm Cốc như cổ họng của Tần, Âm Tấn như cái bụng của Tần, Quan Trung như lục phủ ngũ tạng của Tần. Nếu ta cắt ngang họng của Tần, thì mười vạn quân tinh nhuệ của chúng ở ải Hàm Cốc trước mặt sau lưng đều có địch, lương thảo bị đứt, khác nào ba ba trong hũ, ngoài bó giáo ra hàng, sẽ chẳng còn đường lui nào khác. Trừ khử được chúng, đường Hàm Cốc đã thuộc về ta. Lúc đó, ta sẽ xua quân tiến thẳng, khuấy đảo lục phủ ngũ tạng của Tần. Tuy nhiên…” ánh mắt từ từ chuyển sang Trương Mãnh, ngữ khí càng thêm trầm trọng, “hành động của tướng quân, như miếng xương kẹt ngang cổ họng, người Tần ắt dốc toàn lực vây bủa, nhiệm vụ của tướng quân là phải trụ vững. Nếu yêu cầu tướng quân phải bám trụ trong vòng hai mươi ngày, ba vạn quân có đủ chăng?”

“Đủ!” Trương Mãnh sớm đã thuộc làu địa thế nơi này như lòng bàn tay, gật đầu đáp lời. “Chủ soái đã chọn đúng chỗ tốt. Từ đường Hàm Cốc tới khe Phi Viên lại hẹp thêm chút nữa, phía nam là núi lớn, quay lưng vào Hà Thuỷ, ít có chỗ xoay xở, binh lực có nhiều cũng khó triển khai. Cho dù là ba vạn lính bộ, chí ít nhất cũng phải kéo dài sang trái phải mỗi bên hai mươi dặm, đã đủ khiến cho người Tần phải lao đao.”

“Tại hạ sẽ điều thêm cho tướng quân một vạn viện binh, đóng ở Hà Bắc, khi tình thế nguy cấp, cũng có chỗ tiếp ứng. Tóm lại, tướng quân phải như một chiếc đinh, cắm thật chắc tại nơi đó.”

Trương Mãnh cất giọng sang sảng: “Chủ soái yên tâm, mạt tướng dù thịt nát xương tan, cũng phải chặn đứng cổ họng của kẻ địch.”

Công tử Ngang lúc mày mới hiểu ra, quỳ phịch luôn xuống đất, khóc hu hu mà nói: “Chủ soái…”

Bàng Quyên sửng sốt: “Công tử… có chuyện gì vậy?”

“Chủ soái!” Công tử Ngang lê gối lên trước vài bước, khóc lớn. “Tại hạ… tại hạ bất tài, muốn đổi chỗ cho Trương tướng quân, dẫn tinh binh tới khe Phi Viên, khẩn cầu chủ soái đồng ý!”

“Công tử!” Bàng Quyên lấy làm cảm động, kéo công tử Ngang dậy, nắm chặt tay hắn mà nói. “Không phải tại hạ không đồng ý, mà kỳ thực đây là yếu quyết dụng binh. Ngô Tử nói, ‘người có sở trường sở đoản, khí có lúc thịnh lúc suy’, chỗ cốt yếu trong dùng tướng là ở chỗ phát huy tài năng của từng người. Trương tướng quân trấn thủ Âm Tấn, cai quản ải Hàm Cốc lâu năm, thông thạo địa hình sông núi, thành luỹ, cửa ải trên đường Hàm Cốc như lòng bàn tay, trọng trách này không thể giao cho ai khác ngoài Trương tướng quân. Còn sở trường của công tử là tạo thế, nếu dẫn quân thẳng tiến vào Hà Tây, tất có thể khiến Hà Tây náo loạn, quấy nhiễu quân Tần, giảm bớt áp lực cho Trương tướng quân. Ngoài ra, để công tử tấn công Hà Tây, tại hạ còn có dụng ý khác. Hà Tây đã mất trong tay công tử, cũng nên do công tử đòi về mới phải. Bãi Lạn Nê không phải là đánh nghi binh, mà là mũi tấn công chủ lực. Sau khi công tử vượt sông, có thể chia quân thành nhiều ngả, dễ dàng đánh phá. Chủ lực của quân Tần đều ở ải Hàm Cốc, lục phủ ngũ tạng sau lưng nó sẽ do công tử tha hồ khuấy đảo. Nếu công tử dư sức, còn có thể đánh thẳng tới Âm Tấn, trợ giúp Trương tướng quân một tay. Đợi cho quân địch tại Hàm Cốc đều bị tiêu diệt, Âm Tấn bị phá, lòng quân phía Tần phân tán, lúc đó sẽ đánh thẳng vào Hàm Dương, công tử lại đang ở tuyến đầu, vị trí tiên phong ắt không phải nhường cho ai khác.”

Nghe thấy Bàng Quyên sắp đặt chu đáo đến vậy, công tử Ngang mới thôi khóc lóc, trịnh trọng gật đầu.

***

Đêm đã về khuya, trên thành Ninh Tần, đèn đuốc thưa thớt, gió lạnh ào ào.

Huệ Văn Công đứng trên lầu cổng thành, lòng nặng trĩu lo âu, phóng mắt nhìn về phía xa. Ở tận cuối tầm nhìn, là những dãy núi cao thấp trập trùng, trong màn đêm tối tăm, trông chẳng khác gì những bóng ma đen kịt. Phía sau “bóng ma” là dòng Hà Thuỷ cuồn cuộn đang bị băng giá bủa vây.

“Chúa thượng sắc mặt âu lo, vì chuyện gì vậy?” Trương Nghi đứng phía sau khẽ hỏi.

“Không giấu ái khanh, đại chiến sắp tới gần, quả nhân… lòng không chắc chắn!”

“Ha ha ha, điều chúa thượng nghĩ, khác với điều vi thần nghĩ.” Trương Nghi mỉm cười, ngữ khí rất mực nhẹ nhõm.

“Ồ?” Huệ Văn Công quay đầu lại.

“Vi thần chỉ nghĩ tới có một chữ, thắng! Vi thần muốn hỏi, chúa thượng muốn đại thắng hay tiểu thắng?”

“Tiểu thắng là thế nào?”

“Giữ vững nước nhà, không mất lấy một tấc đất.”

“Thế còn đại thắng?”

“Phá vỡ hợp tung, mở rộng lãnh thổ.”

“Quả nhân…” Huệ Văn Công hít vào một hơi thật sâu, khe khẽ lắc đầu. “Dựa vào tình hình hiện tại, tiểu thắng đã không nắm chắc, nói gì tới đại thắng?”

Trương Nghi dõng dạc nói: “Binh không ở đông, mà ở tướng. Thắng không ở thế, mà ở mưu. Khi ở Quỷ Cốc, vi thần đã hiểu rõ Bàng Quyên. Người này có tiểu tài, không có đại lược, có âm sách, không có dương mưu, có dã tâm, không có độ lượng, không đáng sợ. Đáng sợ chỉ có hai người, một là Tô Tần, hai là Tôn Tẫn. Bàng Quyên cậy thế Ngụy Vương, hại Tôn Tẫn, đuổi Tô Tần, sáu quân không có đại mưu, chưa đánh đã thất bại trước. Lại quan sát sáu nước, tuy kết tung thân, song thực chất đã lục đục. Chúa thượng gả con gái, khiến Yên Tề trở mặt. Yên đã rút quân, nếu không ngoài dự đoán của vi thần, người Tề tất cũng lui binh. Sở có Trần thượng khanh, lòng ắt nản. Sáu thế thực chất đã mất đi ba, Bàng Quyên chỉ còn trông chờ duy nhất vào Tam Tấn. Vi thần quan sát Tam Tấn, thấy cũng không phải là một khối vững chãi, không đáng sợ. Vi thần đoán rằng, trong cuộc chiến này, ta tất sẽ thắng!”

“Vậy… phá vỡ hợp tung, mở rộng lãnh thổ thế nào?”

“Chia rẽ Tam Tấn. Vi thần đã có một kế, chờ đại vương định đoạt!” Trương Nghi tiến lại gần Huệ Văn Công, ghé tai thì thầm.

“Quả là diệu kế!” Huệ Văn Công mừng rỡ ra mặt, cười lớn mà nói. “Quả nhân sẽ mật chỉ cho Công Tôn tướng quân!”

***

Ngay sau khi công tử Ngang, Trương Mãnh nhận lệnh lui ra, Bàng Quyên chính thức hạ chiến thư, hẹn hai ngày sau quyết chiến với Tần ở ải Hàm Cốc.

Chiến thư vừa hạ, chủ tướng quân Tề Điền Anh liền sai người cấp báo, nói rằng người Yên phạt Tề, biên giới nước Tề nguy cấp, Điền Anh đã phụng chỉ Tề Vương lệnh cho quân Tề lui về chi viện.

Người Tề rút lui đã nằm trong dự tính của Bàng Quyên, do vậy không lấy làm bất ngờ. Bàng Quyên sắp xếp ổn thoả, sai người lần lượt tới tam quân Sở, Hàn, Triệu, yêu cầu mỗi nước điều động ba vạn tinh binh, trong vòng hai ngày gấp rút tới Hàm Cốc quan, tập kết trước cửa ải, nghe lệnh bày trận, quyết chiến với Tần.

Thời tiết lạnh lẽo khắc nghiệt, người Sở vốn ở phương Nam ấm áp, lúc này rất nhiều binh sĩ chịu đựng không nổi, đổ bệnh ngày một nhiều, binh sĩ chờ khám bệnh xếp hàng rồng rắn, doanh trại nào cũng sực mùi thuốc.

Chiêu Dương đang lo lắng về chuyện này thì lệnh của chủ soái tới nơi. Chiêu Dương tập tức cho gọi Trần Chẩn lại bàn kế, Trần Chẩn bèn mách nước cho ông ta. Chiêu Dương y kế sắp xếp đâu ra đấy, rồi mới sai người ra đón tham tướng truyền lệnh vào, dẫn hắn đi vòng qua chỗ thầy lang. Tham tướng từ xa đã nhìn thấy binh sĩ đau ốm xếp thành mấy hàng, tiếng kêu rên khóc lóc không dứt bên tai, thì kinh hãi hỏi nguyên do, mới biết trong doanh trại Sở đang có dịch phong hàn, có đến ba phần binh sĩ đã mắc bệnh, Chiêu tướng quân cũng không tránh khỏi, đang điều trị trong đại trại. Tham tướng vội tới đại trại trung quân, quả nhiên thấy Chiêu Dương đầu quấn khăn ướt, trước giường đặt hai bát thuốc, sắc mặt mệt mỏi bơ phờ. Mấy thầy lang hoặc khám bệnh, hoặc kê đơn, bận rộn luôn tay luôn chân. Bảy tám tướng Sở đứng hầu trước giường, sắc mặt lo lắng.

Tham tướng rút lệnh bài, nói rõ mệnh lệnh.

Chiêu Dương gắng gượng ngồi dậy, miễn cưỡng nặn ra một nụ cười: “Tướng quân thấy cả rồi đấy, ba quân lòng dạ hoang mang, bản tướng lại bộ dạng thế này, muốn phục tùng soái lệnh mà lực bất tòng tâm. Xin tướng quân quay về bẩm báo chủ soái, đợi bản tướng hồi phục, ba quân yên lòng, lập tức sẽ dẫn quân tới trợ chiến, tiêu diệt người Tần!”

Dường như sực nhớ ra điều gì, bèn quay sang dặn dò một tướng. “Chu tướng quân, mấy cỗ xe mây đã chế tạo xong, hãy để tướng quân đây mang về trước, chủ soái hẳn cần dùng gấp! Cử thêm hai thợ tới bẩm rõ nguyên lý hoạt động với chủ soái, để tiện sử dụng.”

Viên tướng vâng lệnh, đi chuẩn bị xe mây. Chiêu Dương nằm lại xuống giường, nhắm nghiền hai mắt. Tham tướng cáo từ, mang theo xe mây gấp rút trở về trại chủ soái, phục mệnh Bàng Quyên.

Bàng Quyên nghiến răng uất hận: “Phong hàn cái nỗi gì? Là ông ta cố tình diễn kịch cho bản soái xem!” Lại nghĩ một hồi, khoé miệng chợt nhếch lên một nụ cười. “Ha ha ha, kẻ này không tới cũng tốt, dù sao ở đây cũng không cần tới ông ta. Có mấy cỗ xe mây, cũng coi như ông ta đã góp chút công lao. Đợi bản soái phá tan Hàm Cốc, tiêu diệt người Tần, ông ta cũng có lý do để bám theo sau, cắn cái phao câu gà mà mút mát!”

***

Trên ải Hàm Cốc, phủ quan doãn được đặt ở lưng chừng một vách núi phía sau cửa ải, cách lầu cổng thành khoảng ba tầm tên bắn.

Trong gian chính của nha phủ, chủ tướng quân Tần Công Tôn Diễn, phó tướng Tư Mã Thác ngồi đối diện nhau, ở giữa kê một chiếc bàn, trên bàn trải một tấm da dê vẽ bản đồ thế núi xung quanh. Chiến thư của Bàng Quyên tan tác vương vãi trên mặt đất, là do khi trải bản đồ, Tư Mã Thác đã tiện tay hất hết xuống.

“Tư Mã huynh!” Công Tôn Diễn thần sắc nghiêm nghị, cất giọng quyết đoán. “Chúng ta cần đi một thế cờ hiểm.”

Vừa nói dứt lời, Công Tôn Diễn tay cầm bút son, từ từ vẽ dọc theo một khe núi cách phía sau cửa ải không xa. Nét vẽ này ngoằn ngoèo uốn khúc, tiến thẳng tới Hà Thuỷ, lại dọc theo Hà Thuỷ chạy về phía đông, rẽ qua mấy khúc ngoặt lớn, men theo một khe núi phía bắc Thằng Trì quanh co chạy sang phía nam, rồi dừng lại ở một nơi, hạ một chấm thật đậm.

Tư Mã Thác trợn tròn mắt, nhìn sững vào vệt mực son, hồi lâu sau, đột nhiên bừng tỉnh, nện thẳng nắm đấm xuống tấm bản đồ: “Nước cờ tuyệt diệu!”

Công Tôn Diễn đặt cây bút son xuống: “Tư Mã huynh, hãy nói thử xem, nước cờ kỳ diệu này nên đi như thế nào?”

Tư Mã Thác chỉ vào chấm đỏ mà nói: “Đây là kho lương của quân Sở, nếu chúng ta một đòn đốt cháy, quân Sở tất loạn.”

“Chỉ thế chưa đủ!” Công Tôn Diễn lại cầm bút son, chấm liền vài chỗ. “Đây là kho lương của quân Hàn, đây là kho lương của quân Triệu, đây là kho lương của quân Ngụy.”

Tư Mã Thác phấn khởi xoa hai tay vào nhau: “Mạt tướng sẽ dẫn quân tới đó, một mồi lửa thiêu rụi toàn bộ.”

Công Tôn Diễn khẽ lắc đầu, chỉ vào kho lương của quân Triệu: “Chỗ này để lại!”

“Ồ, tại sao?” Tư Mã Thác không hiểu, hậm hực nói. “Người Triệu tiên phong hợp tung phạt ta, đáng căm hận nhất, nên thiêu rụi kho lương của họ đầu tiên mới phải!”

“Là ý chỉ của chúa thượng!” Công Tôn Diễn nhớ tới bức mật thư mà Huệ Văn Công vừa khẩn cấp gửi tới, khâm phục thốt lên. “Than ôi, chỗ tuyệt diệu của kế này chính là ở đây. Đại Tần ta có được minh quân nhường này, thực đội ơn trời. Quân chủ Ngụy không biết tự lượng sức mình, chỉ tổ làm trò cười cho thiên hạ!”

Tư Mã Thác vội hỏi: “Chúa thượng cớ sao lại bênh vực người Triệu?”

Công Tôn Diễn không trả lời, chỉ tay vào đường mực son trên bản đồ: “Tư Mã huynh, tại hạ đã chuẩn bị hai vạn lính bộ cho huynh, chập tối ngày mai, đợi khi màn đêm bao phủ, huynh hãy dẫn quân lên đường, mang đủ năm ngày lương, đi dọc theo khe núi này tới Hà Thuỷ, rồi men theo lòng sông Hà Thuỷ sang phía đông, ngày ẩn nấp đêm hành quân. Tại hạ đã cho người dò la toàn bộ tuyến đường, khe núi này bình thường không thể vượt qua, song hiện tại ông trời trợ giúp, khiến Hà Thuỷ đóng băng. Bãi Lạn Nê dọc bờ sông, thậm chí là một bộ phận Hà Thuỷ đã đóng thành băng cứng, vừa hay có thể băng qua. Nếu không nằm ngoài dự tính, tới ngày thứ ba, đội quân của huynh có thể tới đây.” Chỉ vào vùng núi phía bắc Thằng Trì. “Hãy chọn nơi cây cối rậm rạp trong khe núi này mà ẩn nấp, sét đánh cũng không ra, không kinh động đến chim muông. Vào đêm thứ năm, huynh hãy chia đường ra khỏi núi, đốt cháy ba kho lương thảo của Sở, Ngụy, Hàn, tập kích doanh trại quân Sở. Người Sở vốn không có tâm chiến đấu, tất kinh hãi mà tan rã. Huynh không được truy kích, mà phải mau chóng trở về trấn thủ ải Hào Quan trước khi trời sáng, đợi quân thất trận của Bàng Quyên tới, thì bỏ qua người Triệu, chỉ tập trung chặn binh mã Ngụy, Hàn.”

Tư Mã Thác trợn mắt kinh ngạc: “Ý chủ tướng là, người Triệu và chúng ta…”

“Cũng là ý chỉ của chúa thượng!” Công Tôn Diễn bình thản đáp lời.

***

Lần này phạt Tần đã chuẩn bị tới vài năm, dù là Huệ Vương hay Bàng Quyên cũng coi như đã đặt cược toàn bộ vốn liếng. Số võ binh cơ động của Đại Ngụy đã lên tới mười lăm vạn. Công tử Ngang dẫn năm vạn quân qua bãi Lạn Nê tấn công Hà Tây, Trương Mãnh dẫn bốn vạn quân chọc thẳng vào khe Phi Viên, sáu vạn còn lại đều tập trung vào Hàm Cốc, do Bàng Quyên đích thân chỉ huy. Trước ải Hàm Cốc, ngoài sáu vạn quân Ngụy, còn có năm vạn quân Hàn, năm vạn quân Triệu, tổng cộng mười sáu vạn đại quân, chưa cần tính số quân Sở dự bị ở Thằng Trì, số lượng cũng đã gấp đôi người Tần.

Đã áp đảo, tất phải tấn công.

Trận chiến mở màn theo đúng lễ. Trên bãi đất rộng lớn đã hẹn rõ trong chiến thư, Bàng Quyên chọn ra đội quân tinh nhuệ, bày thế trận Hổ Dực mà hắn từng dùng trong trận chiến mở màn với Điền Kỵ năm xưa, quân Ngụy ở giữa là thân hổ, quân Hàn ở bên trái là cánh trái, quân Triệu ở bên phải là cánh phải. Bàng Quyên ở vị trí đầu hổ, oai phong lẫm liệt đứng trên chiến xa, bên dưới lá cờ thêu chữ “soái”.

Công Tôn Diễn và Bàng Quyên tuy có quen biết từ trước, song giao chiến thực sự lại là lần đầu tiên. Bàng Quyên danh vang liệt quốc, Công Tôn Diễn đương nhiên không dám khinh suất, bèn leo lên cao quan sát từ xa, nhận rõ thế trận, vội dẫn sáu vạn quân tinh nhuệ ra khỏi cửa ải, phất cờ điều động, bày ra thế trận Long Đằng giống như Điền Kỵ xưa kia, khiến miệng rồng đối diện đầu hổ. Trận Long Đằng là khắc tinh của trận Hổ Dực, song Bàng Quyên cậy bên mình khí thế áp đảo, lại có ba nghìn quân hổ bôn bên cạnh, căn bản không coi trận thế bên địch ra gì.

Chính vào lúc Bàng Quyên và Công Tôn Diễn nhe nanh giương vuốt đối trận trước ải Hàm Cốc, Trương Mãnh dẫn quân tiến thẳng tới khe Phi Viên, vào lúc chập tối, đúng theo kế hoạch trước đó, dùng bè hồ lô vượt Hà Thuỷ, kết mấy đường dây thừng lơ lửng trên không, từ bờ bắc xếp các tấm ván gỗ dọc theo dây thừng, vứt rơm rạ xuống, tưới nước sông lên trên. Đêm đấy giá rét dị thường, Hà Thuỷ chốc lát đã đóng băng, không cần phải cố định, đã khiến rơm rạ, gỗ và dây thừng kết thành một khối, kiên cố không thể phá vỡ, trở thành một cầu phao tự nhiên bắc qua chỗ nước chảy xiết. Cầu phao dần được kéo dài đến giữa dòng sông, do ven bờ đã đóng băng, chỗ còn chảy xiết chỉ rộng chưa đầy năm trượng. Khi trời lờ mờ sáng, công việc đã hoàn tất, một chiếc cầu phao trắng bạc rộng khoảng một trượng đã vắt ngang trên mặt Hà Thuỷ. Ba vạn đại quân nối đuôi nhau băng qua cầu, chẳng khác gì một mũi tên bén nhọn xuyên thẳng tới đường Hàm Cốc.

Vài vạn người vượt sông, quân Ngụy dù có cẩn thận tới đâu, cũng khó tránh gây ra tiếng động. Nếu là ban ngày, âm thanh này có thể không bị phát giác, song trong màn đêm tĩnh mịch trước bình minh, dù một tiếng ho khẽ cũng vang xa vài dặm.

Đường Hàm Cốc tuy cách đấy tám dặm, song đó là tính đường khe núi ngoằn ngoèo, còn nếu tính đường chim bay thì chưa đầy bốn dặm, chỉ cần có người qua lại, là có thể nghe thấy loáng thoáng những tiếng ồn khác lạ trên sông.

Cũng thực không may mắn cho người Ngụy. Đại chiến sắp nổ ra, lương thảo đương nhiên là khẩn yếu, dù đang lúc nửa đêm, đường Hàm Cốc chốc chốc vẫn có xe lương đi qua. Hán tử cụt tay sống ở thôn Tiểu Tần phía tây Ninh Tần cùng vài tráng hán trong thôn mấy hôm trước đã tải lương tới ải Hàm Cốc, chập tối hôm qua đánh xe không trở về, lúc tờ mờ sáng, vừa hay đi tới chỗ này. Tiếng xe ngựa lóc cóc vốn có thể át đi những tạp âm trên sông, song thật tình cờ, lại có một người vào rừng đi đại tiện, mọi người đều dừng xe lại đợi anh ta. Xe vừa dừng, những tiếng lào xào lập tức loáng thoáng vọng lại, lúc có lúc không. Một người trong nhóm kêu toáng lên, nói rằng dưới sông có ma, khiến đám người sợ hãi định bỏ chạy. Song hán tử cụt tay từng có kinh nghiệm chiến đấu ở chiến trường Hà Tây, cũng từng nếm mùi đau khổ do người Ngụy tập kích đã giơ tay chặn lại, kéo theo một người gan dạ hơn cả, cùng mình leo lên sườn núi gần đó. Dưới ánh sáng lờ mờ lúc chớm bình minh, họ đứng trên cao nhìn xuống, bất giác lông tóc dựng ngược.

Hai người tức tốc chạy trở lại, hán tử cụt tay bảo đám người đẩy xe giấu vào trong lùm cây gần đó, rồi chia làm hai nhóm, một nhóm chạy thẳng tới ải Hàm Cốc, một nhóm chạy nhanh về Ninh Tần.

Huệ Văn Công nhíu chặt đôi mày.

Trương Nghi hai mắt khép hờ, dường như đang chìm vào suy nghĩ.

“Than ôi!” Huệ Văn Công thở dài thườn thượt. “Tay Bàng Quyên kia quả nhiên lợi hại!” Rồi quay sang Cam Mậu. “Nhớ ghi công cho mấy người nông dân tải lương kia, thưởng ngang với chém ba đầu địch.”

“Thần tuân chỉ!” Cam Mậu đáp lời.

Công tử Hoa hối hả bước vào bẩm báo: “Chúa thượng! Hà Tây có chiến báo, vài vạn quân Ngụy vượt sông từ bãi Lạn Nê, chủ tướng là công tử Ngang. Ngô Thanh dẫn ba vạn đại quân liều chết chống cự, hai bên đang kịch chiến tại bãi sông.”

Trương Nghi mở choàng mắt, đầu mày giãn ra, sắc mặt thư thái, thong thả tiếp lời: “Chúa thượng, địch ở Hà Tây không đáng lo. Tại hạ đã mật báo Ngô Thanh, hắn tự khắc biết cách chống cự quân địch.”

Huệ Văn Công thở phào một tiếng, tự trách bản thân: “Than ôi, điều quả nhân lo lắng không phải là Hà Tây. Chiêu này của Bàng Quyên, quả nhân thật không thể ngờ!”

“Chiêu nào?” Công tử Hoa kinh ngạc hỏi lại.

Cam Mậu hạ giọng mà nói: “Vừa rồi nhận được chiến báo, rất đông quân Ngụy lén vượt Hà Thuỷ từ khe Phi Viên, muốn cắt đứt đường Hàm Cốc.”

“Gì kia?” Công tử Hoa mặt biến sắc.

“Trương ái khanh!” Huệ Văn Công quay sang Trương Nghi. “Nhìn sắc mặt của khanh, hẳn đã có cách phá giải?”

“Chúa thượng!” Trương Nghi từ tốn đáp. “Theo như mấy người nông dân kia nhìn thấy, quân Ngụy bắc cầu phao tại khe Phi Viên vượt sông, ở đó khe sâu, nước chảy xiết, vốn không thể bắc cầu, người Ngụy bắc cầu thành công, là nhờ vào thời tiết, nhờ vào đóng băng!”

“Ý ái khanh là…”

“Người Nguỵ đã dựa vào thời tiết, cớ sao chúng ta không thể?”

Huệ Văn Công vẫn chưa hiểu, ánh mắt dò hỏi.

“Chúa thượng hãy nhìn đây!” Trương Nghi trải bản đồ, chỉ vào khe Phi Viên. “Đường Hàm Cốc là yết hầu của ta, còn cầu phao này, là yết hầu của người Ngụy vượt sông. Ngụy chặn họng ta, ta vì sao không chặn họng lại chúng?”

Huệ Văn Công hai mắt sáng bừng: “Chặn thế nào?”

Trương Nghi chỉ vào một đoạn Hà Thuỷ: “Thứ người Ngụy muốn chặn là đường Hàm Cốc, nên tại lòng sông, ắt không để phòng. Ta có thể từ đây tiến xuống theo khe núi, đốt cháy cầu phao, cắt ngang Hà Thuỷ. Công Tôn tướng quân bịt kín đường Hàm Cốc từ phía đông, còn chúng ta bịt kín từ phía tây, người Ngụy qua sông tất trở thành ba ba trong hũ, có mọc cánh cũng khó lòng thoát thân!”

Cam Mậu lo lắng hỏi: “Người Ngụy bị khốn ở đây, dựa vào địa hình hiểm trở mà cố thủ, ta cũng phải bó tay. Quân trấn giữ ải Hàm Cốc quan nếu biết đường lui bị cắt…”

Trương Nghi đáp lời: “Cam huynh bất tất phải lo lắng. Người Ngụy cậy bên mình tiếp ứng tiện lợi, hẳn không mang theo nhiều lương khô. Chúng ta dù chỉ vây không đánh, người Ngụy cũng không trụ nổi quá bảy ngày.”

Huệ Văn Công trầm ngâm hồi lâu, rồi cất giọng sang sảng: “Yết hầu của quả nhân làm sao có thể để người Ngụy chặn cứng đến bảy ngày? Trương Nghi, Doanh Hoa nghe lệnh!”

“Có thần!” Hai người đồng thanh đáp lời.

“Hai khanh dẫn hai vạn quân, đốt cháy cầu phao, vây kín lòng sông, chia đường xuất kích dọc theo khe núi, phân cắt người Ngụy thành nhiều đoạn, sau đó bao vây tiêu diệt từng đoạn, mau chóng mở thông đường Hàm Cốc.”

“Thần lĩnh chỉ!”

Huệ Văn Công quay sang Cam Mậu: “Truyền lệnh, tướng sĩ còn lại, theo quả nhân phong kín đường Hàm Cốc!”

***

Bên ngoài ải Hàm Cốc, trước hai trận quân, Bàng Quyên và Công Tôn Diễn cùng đánh xe lên trước trận chào nhau, rồi trách mắng nhau theo thông lệ, sau đó lùi về trận quân mình, mỗi bên đều cử mãnh tướng lên sa trường giao chiến, chém giết vài hiệp, hai bên đều có tử thương.

Tới buổi chiều, Bàng Quyên phất cờ hiệu lệnh, đích thân đánh trống. Thanh Ngưu xung phong đi đầu, dẫn ba nghìn dũng sĩ hổ bôn xông trận. Từ sau khi lập quân, đây là lần đầu tiên những dũng sĩ hổ bôn chứng tỏ bản lĩnh trước hai trận quân, ai nấy đều đua nhau tranh công khoe dũng, tiếng hô “giết” rền vang như sấm động, tiếng chân chạy huỳnh huỵch như búa giã, lại được trang bị giáp dày khiên cứng, nên mũi tên bình thường không thể tổn thương. Hai bên đánh giáp lá cà, quân Tần không địch nổi, tử thương vô số. Công Tôn Diễn vội hạ lệnh gióng chiêng, cùng lúc này, từ bên cánh phải thế trận quân Tần xông ra vài trăm cỗ xe chiến, liều mạng chặn đứng quân hổ bôn, nỏ liên châu trên xe bắn vào góc trận, bảo vệ ba quân rút lui.

Bàng Quyên trận mở màn thắng lợi, nhìn sắc trời đã muộn, bèn khua chiêng thu quân, sai người kiểm đếm thành quả, tổng cộng chặt đầu hơn nghìn, thu về vô số chiến xa, quân nhu, truyền lệnh ghi công biểu dương.

Sáng hôm sau, quân hợp tung lại tới trước cửa ải khiêu chiến, quân Tần đóng chặt cửa không ra. Bàng Quyên cũng không lấy làm nôn nóng, chỉ lệnh cho quân sĩ thay phiên nhau khiêu chiến. Qua một buổi sáng, Bàng Quyên từ xa nhìn thấy bờ bắc Hà Thuỷ có ba cột khói bốc cao ngùn ngụt tới trời, biết là Trương Mãnh đã thành công, đường Hàm Cốc đã bị cắt đứt, lúc này mới xuất thủ, điều động năm cỗ xe mây đồng loạt đánh vào cửa ải.

Người Tần chỉ biết dựa vào tường thành cao sừng sững. Quân hợp tung có xe mây, nên người Tần cũng mất đi lợi thế độ cao, giáo đâm tên bắn cũng vô hiệu với xe mây, trong lúc cấp bách không biết phải đối phó thế nào, chỉ biết trợn mắt nhìn xe mây lừ lừ tiến lại, áp sát tường thành.

Người Ngụy bắc cầu ván, leo lên tường thành. Người Tần dùng chiến thuật ruồi bu, thương đao kiếm kích đâm chém loạn xạ. Xe mây quá ít lại quá nhỏ, sức chứa có hạn, những người Ngụy leo lên thành đầu tiên ít không địch nổi nhiều, theo nhau tử trận, xe mây đành phải lùi lại, chuẩn bị cho đợt xung kích tiếp theo.

Công Tôn Diễn đang đứng trên lâu thành chỉ huy cách ứng phó xe mây thì Sư Lý Tật vùn vụt chạy lên, kéo ông ta sang một bên, ghé sát tai thì thầm vài câu.

Công Tôn Diễn thoạt tiên kinh hãi, sau đó trấn tĩnh lại ngay, phát liền bốn lệnh. Thứ nhất, lệnh cho Sư Lý Tật dẫn hai vạn quân quay trở về mở thông đường Hàm Cốc. Thứ hai, lập tức thông báo với toàn thể tướng sĩ rằng người Ngụy đã cắt đứt đường lui, nhằm khuấy động quyết tâm vệ quốc của người Tần, hiệu triệu họ thề chết bảo vệ cánh cổng đất nước, cùng sống chết với ải Hàm Cốc. Thứ ba, lệnh cho tướng sĩ tưới nước xuống theo tường thành, để đóng thành băng trên đất, khiến quân địch trơn trượt, không thể đi vững. Thứ tư, lệnh cho một bộ phận tướng sĩ bố trí đá tảng, gỗ súc dọc theo sườn núi hai bên đường Hàm Cốc, tích trữ lương khô, dựng tường băng và chướng ngại vật trên đường, sẵn sàng tử thủ nếu ải Hàm Cốc thất thủ.

Bốn lệnh của Công Tôn Diễn vừa phát ra, Bàng Quyên liền sai người bắn lên một bức thư, nói rằng người Tần đã không còn đường lui, trước mắt chỉ có một đường duy nhất, là dâng ải đầu hàng. Công Tôn Diễn phá lên cười lớn, giương cung bắn trả thư hồi âm.

Bàng Quyên nổi giận, đích thân đánh trống công ải.

Trước ải Hàm Cốc lại vang lên tiếng hô xung phong dậy đất.

Quân hợp tung đánh liền ba ngày, vẫn không thể phá nổi quan ải. Tới ngày thứ tư, Công Tôn Diễn đã nghĩ ra một kế đối phó với xe mây. Khi xe mây sắp tới gần, lập tức lệnh cho tướng sĩ hắt dầu sôi, sau đó ném đuốc cháy vào xe, chẳng mấy chốc đã thiêu huỷ hoàn toàn năm cỗ xe mây.

Chính vào lúc Bàng Quyên đang khổ sở không biết phải làm sao, thì tướng Hàn Công Trọng tìm được một người hái thuốc, qua người này biết được tại Nam Sơn Khúc Ốc có một khe núi sâu nối thông với một khe núi kín đáo ở phía sau ải Hàm Cốc chừng hai dặm, vào những ngày giá rét thế này, nếu có vật trợ giúp như dây thừng, có thể vượt qua. Bàng Quyên mừng rỡ, lệnh cho năm nghìn tinh binh của quân Hàn theo người hái thuốc đi theo con đường bí mật vòng xuống phía nam vài chục dặm, tới khe núi phía sau ải Hàm Cốc, đợi khi trời sáng, xông lên tập kích quan ải từ sau lưng. Lính Tần canh giữ cửa ải căng thẳng quyết chiến suốt mấy ngày trời, mệt mỏi quá độ, không kịp đề phòng, bị người Hàn đột kích từ sau lưng, cửa quan thất thủ, Công Tôn Diễn cướp đường mà chạy.

***

Trương Nghi, công tử Hoa dẫn hai vạn quân, mang theo vật dẫn lửa, âm thầm men theo bờ nam Hà Thuỷ mà xuống. Hà Thuỷ quanh co uốn lượn, hai bên bờ toàn là vách núi dựng đứng. Bờ nam Hà Thuỷ chỉ có vài khe núi kín đáo là có thể nối liền đông tây Nam Sơn, thông tới đường Hàm Cốc, người không thạo đường tuyệt đối không thể nhìn ra.

Trương Nghi bố trí nghìn quân mai phục trong mỗi khe núi ngầm, dặn họ tìm đường ra khỏi khe, đánh lên đường Hàm Cốc, rồi đích thân dẫn số quân còn lại thẳng tiến tới khe Phi Viên. Khi còn cách khe Phi Viên chỉ vài dặm, Trương Nghi cho quân dừng lại, hạ lệnh lấy hồ lô, gỗ, tre mang theo kết thành bè hồ lô ngay tại chỗ, rồi xếp đầy các vật dẫn lửa như dầu, lưu huỳnh, nhựa thông, củi nỏ cỏ khô lên trên, thả xuống nước. Vô số bè hồ lô thuận theo dòng chảy xiết, trôi về phía cầu phao của quân Ngụy. Bị cầu phao ngăn lại, đám bè tụ thành một mảng lớn đen kịt. Tới khi lính Ngụy canh cầu phát giác ra, người Tần đã đồng loạt bắn tên lửa rào rào, lửa lập tức bùng lên dữ dội dọc theo cầu phao. Cầu phao hoàn toàn do băng đá kết thành, gặp lửa lập tức tan chảy, trong chốc lát, toàn bộ cây cầu sập xuống từng mảng, chìm nghỉm vào trong dòng nước xiết lạnh giá.

Cùng lúc này, công tử Hoa dẫn quân men theo phía nam cầu phao, thuận theo khe núi leo lên sườn dốc, đánh thẳng lên đường Hàm Cốc, thế như lốc xoáy, chiếm lấy những nơi địa thế thuận lợi hai bên đường, cắt đứt đường rút lui và chi viện của quân Ngụy. Ba vạn võ binh bị khống chế cả hai ngả đông tây, đường rút lui bị cắt đứt, lại bị từng tốp quân Tần ào ra từ các bụi rậm đường mòn dọc theo thềm sông đột kích, chia cắt thành nhiều đoạn mà bao vây tiêu diệt, dần dần sa vào đường cụt. Lính Ngụy hoặc chết hoặc đầu hàng, chưa đầy hai ngày đã chẳng còn lại được bao nhiêu.

Trương Mãnh dẫn mấy bộ tướng và vài chục binh sĩ lui tới một góc chết, dựa vào đó bày ra thế trận.

Vài trăm lính Tần đông nghịt như kiến bủa vây tới.

Mũi tên sớm đã dùng hết, lính Ngụy tụ lại bên Trương Mãnh, người nào người nấy cầm chắc binh khí, sẵn sàng quyết chiến một trận cuối cùng.

“Trương tướng quân, các ngươi đã không còn đường lui nữa, mau hạ binh khí đầu hàng!” Công tử Hoa nói lớn.

Trương Mãnh ngửa cổ cười một tràng dài, khẽ lắc lư cây thương trong tay, dõng dạc nói: “Binh khí ở đây, có giỏi thì đến lấy đi!”

Công tử Hoa cười nhạt một tiếng, khẽ phẩy tay, vài chục tay nỏ lập tức kéo căng dây cung. Chư tướng sĩ liền đứng sát vào nhau, vài tấm khiên còn sót lại đều dùng để che chắn trước mặt Trương Mãnh. Trương Mãnh đẩy tướng sĩ ra, cởi bỏ áo giáp, để lộ bộ ngực trần rắn rỏi, rung cây thương trong tay vài cái, khinh miệt nhìn về phía lính Tần.

Công tử Hoa đang định hạ lệnh bắn tên, bỗng từ phía xa vọng lại một giọng nói: “Công tử dừng tay…”

Trương Nghi dẫn theo người rầm rập phi ngựa tới nơi.

Công tử Hoa phẩy tay, đám nỏ thủ liền hạ nỏ xuống.

Trương Nghi bước lên phía trước, quỳ sụp xuống đất, khấu đầu mà gọi: “Trương thúc phụ!”

Trương Mãnh nhìn kỹ một hồi, kinh ngạc kêu lên: “Ngươi… là Nghi Nhi ư?”

Trương Nghi lại dập đầu nói: “Đúng là cháu bất hiếu Trương Nghi!”

“Sao cháu lại ở phía người Tần?”

“Trương thúc phụ hãy buông binh khí xuống, để Nghi Nhi từ từ giải thích!”

“Than ôi!” Trương Mãnh thở dài một tiếng, giọng nói bỗng chốc lạnh tanh. “Nghi Nhi, lẽ nào cháu… đã quên cha mẹ mình chết như thế nào ư?”

Trương Nghi bật khóc mà nói: “Cháu vẫn khắc ghi trong tâm khảm!”

“Đã khắc ghi trong tâm khảm, sao… sao cháu có thể khoác lên mình màu áo đen của người Tần?”

“Trương thúc, xin cho cháu nói một câu!” Trương Nghi lại bái lạy, nước mắt đầm đìa mà nói. “Huyết thù của cha mẹ, kiếp nạn của Hà Tây, ân oán giữa Tần Ngụy, Nghi Nhi không bao giờ dám quên. Tuy nhiên, sống trong Quỷ Cốc nhiều năm, Nghi Nhi đã có chút lĩnh ngộ. Thù nhà hận nước, Hà Đông Hà Tây, người Ngụy người Tần, trong mắt Nghi Nhi đã không còn quan trọng nữa. Điều quan trọng chính là trật tự trong thiên hạ, thái bình cho muôn dân. Chư hầu chinh chiến, dân chúng lầm than, không có lấy một ngày yên ổn. Nếu như thiên hạ bất ổn, nếu còn chém giết lẫn nhau, sẽ càng có nhiều hơn những mối huyết hải thâm thù, càng có nhiều hơn cảnh sinh ly tử biệt. Điều Nghi Nhi muốn, chỉ là nhanh chóng kết thúc cảnh thiên hạ phân tranh, trở về với thái bình thịnh thế.”

Trương Mãnh nghe mà chấn động trong lòng, hồi lâu mới khẽ gật đầu: “Nghi Nhi… cháu đã trưởng thành rồi!”

“Trương thúc phụ, cháu cầu xin thúc hãy buông vũ khí!” Trương Nghi lại dập đầu mà nói.

Trương Mãnh quay sang các tướng sĩ thuộc hạ: “Chư vị tướng sĩ, mọi người… hãy nghe lời hiền điệt của ta, hạ binh khí xuống!”

Chư tướng đưa mắt nhìn nhau.

“Hạ xuống!” Trương Mãnh dẫn đầu vứt thanh trường thương trong tay xuống đất.

Chư tướng sĩ thấy vậy, đua nhau quẳng bỏ binh khí trong tay.

“Lại đằng kia!” Trương Mãnh lại ra lệnh.

Tướng sĩ lại nhìn nhau, rồi lũ lượt đi sang một bên.

Thấy họ đều đã đi cả, Trương Mãnh từ từ rút thanh bảo kiếm, nói với Trương Nghi: “Nghi Nhi, Trương thúc đã không còn gì để nói. Những tướng sĩ này theo thúc đã nhiều năm, đều có tài cán, cháu phải đối xử tốt với họ. Thúc có vài lời muốn nói với cha cháu, thúc đi đây, cháu hãy bảo trọng!” Nói đoạn, vung kiếm cắt ngang cổ.

“Trương thúc phụ!” Trương Nghi rú lên thảm thiết, lao vụt lại, song đã muộn rồi.

Tiêu diệt hết tàn quân địch, Huệ Văn Công hạ chỉ tức tốc chi viện Công Tôn Diễn.

Quân hợp tung phá vỡ cửa ải, chiếm hết số lương thảo quân nhu mà người Tần tích luỹ trong ải. Bàng Quyên thống lĩnh quân hợp tung ba nước Hàn, Triệu, Ngụy thừa thắng truy kích, Công Tôn Diễn chống cự không nổi, đành phải dẫn quân rút lui, tưới nước lên đá dựng thành năm bức tường băng cao chừng vài trượng, rộng chừng một trượng, sử dụng những vật liệu đã tích trữ sẵn ở hai bên vách núi chật hẹp trên con đường dài khoảng mười dặm phía tây ải Hàm Cốc, lăn đá tảng, gỗ súc liều chết ngăn cản.

Bàng Quyên một mặt lệnh cho võ binh Đại Ngụy chiếm lấy các sườn dốc hai bên đường, mặt khác sai binh lính đẩy những cỗ xe lớn chất đầy củi khô tẩm dầu lao vào những bức tường bằng đá băng. Quân Ngụy đi đầu, dũng mãnh vô địch, bất chấp sống chết, phá liền một mạch bốn bức tường băng. Quân Tần từng bước thụt lùi, chỉ còn lại một bức tường băng sau cùng, vừa hay Trương Nghi, công tử Hoa dẫn quân chi viện tới kịp.

Công tử Hoa lệnh cho người treo mũ trụ và trường thương của Trương Mãnh lên bức tường băng, cố tình cho người Ngụy nhìn thấy.

Bàng Quyên hay tin chạy tới, nhận ra đúng là di vật của Trương Mãnh, biết là mưu kế thất bại, đại thế đã mất, thất vọng rơi lệ, thở dài một tiếng, hạ lệnh khua chiêng lui quân.

Bàng Quyên vào trong đại trại trung quân, mới vừa ngồi xuống, đã thấy thám mã chạy về cấp báo, nói là người Tần không hiểu từ đâu vượt qua ải Hào Quan, đột kích chiếm lấy Thằng Trì, lương thảo liệt quốc đều bị thiêu trụi. Người Sở lui quân về Phương Thành ngay trong đêm, người Tần lại nhân lúc đêm tối, đổi trang phục quân Ngụy, trà trộn trong đám tàn binh lẩn vào trong ải Hiệp Thạch, từ phía sau tập kích cửa quan. Tướng sĩ canh gác cửa quan không nhận ra ta địch, chủ tướng tử trận, quan ải thất thủ.

Bàng Quyên bàng hoàng, hồi lâu sau mới từ từ hoàn hồn trở lại, đờ đẫn hỏi: “Tướng Tần là ai?”

“Người Tần sau khi chiếm được cửa quan, thấy giương cờ hiệu Tư Mã!” Thám mã bẩm báo.

Bàng Quyên đang đờ đẫn suy nghĩ thì tướng Triệu Lý Nghĩa Phu, tướng Hàn Công Trọng hộc tốc đi vào, thấy Bàng Quyên đôi mày chau tít, thì đưa mắt nhìn nhau, rồi đứng dạt sang hai bên.

“Than ôi!” Bàng Quyên thở dài thườn thượt, tự trách mình. “Hai vị tướng quân, là tại hạ tính sai rồi. Mấy ngày nay không thấy Tư Mã Thác đâu, tại hạ cứ ngỡ hắn tới Tây Hà, nào ngờ kẻ này…” Nhún vai bất lực, lắc đầu cười nhăn nhó. “Đúng là tình thế đảo ngược, vốn định đánh bọc sườn người Tần, nào ngờ lại bị người Tần đánh bọc sườn trở lại!”

Công bằng mà nói, kế sách tập kích Tần của Bàng Quyên, nếu chỉ tính về mặt dùng binh, quả thực xứng đáng là kỳ mưu, đừng nói là Công Trọng, dù tướng Triệu Lý Nghĩa Phu cũng tâm phục khẩu phục. Song thực không thể ngờ, ngoài núi lại có núi cao hơn, người Tần không những đánh bại Trương Mãnh, còn đưa quân đột kích, thọc sâu vào sau lưng quân hợp tung, thiêu trụi lương thảo, cắt đứt đường lui của tam quân, thực là cờ cao hơn một bậc.

“Quân tình khẩn cấp, chúng ta nên tiến hay lùi, đang chờ chủ soái quyết định!” Lý Nghĩa Phu bước lên một bước nhắc nhở.

Bàng Quyên khẽ phẩy tay sang bên cạnh, chậm chạp bước về phía sa bàn trận địa.

Nhìn vào sa bàn, trước mặt mọi người lúc này là một dải sơn cốc dài và hẹp, phía tây bắt đầu từ ải Hàm Cốc, phía đông chạy tới Hào Quan, từ đông tới tây dài khoảng sáu mươi dặm, từ nam tới bắc chỉ rộng hơn mười dặm. Dải sơn cốc này vốn thuộc lãnh thổ của người Ngụy, quân Ngụy bố trí hai thành trì ở hai đầu sơn cốc, đầu phía tây là Khúc Ốc, đầu phía đông là Thiểm Ấp, kiểm soát Hào Quan.

Lúc này, dải đất dài hẹp này đã bị đại quân hơn chục vạn của ba nước Hàn, Triệu, Ngụy phân chia đồn trú, chỗ nào cũng dày đặc doanh trại. Hơn chục vạn đại quân Tần đã bị chặn lại trên đường Hàm Cốc chật hẹp chạy dài phía tây ải Hàm Cốc, nếu như phá cửa ải mà ra, sẽ đánh thốc trực diện vào liên quân trong vùng sơn cốc.

Ai cũng hiểu rõ, ải Hàm Cốc sẽ không thể giữ nổi, bởi người Tần tấn công từ phía sau quan ải. Cửa ải Hàm Cốc do người Tần xây dựng, mặt chính hướng về phía đông, dễ phòng ngự khó tấn công, còn sau lưng là căn cứ của quân Tần. Để thuận lợi cho việc vận chuyển quân nhu, con đường dẫn lên cửa ải rộng rãi thông thoáng, đều là bậc thang, người Tần lại thông thạo địa thế, hiển nhiên dù tấn công hay phòng thủ đều chiếm lợi thế.

Không phòng ngự thì phải tấn công, tuy nhiên Trương Mãnh tập kích thất bại, việc liên quân tiếp tục theo đường Hàm Cốc tiến về phía tây đã trở nên vô nghĩa, trước mắt chỉ còn một lối thoát duy nhất, chính là từ bỏ ải Hàm Cốc, men theo sơn cốc rút quân.

Quan trọng là rút quân như thế nào?

Thông tới ải Hào Quan chỉ có hai con đường, một là đường Bắc Hào, cũng tức là con đường chính sau khi ra khỏi Hàm Cốc liền thẳng tới Lạc Dương; hai là đường Nam Hào, thông thẳng tới Nghi Dương nước Hàn. Chắn ngang hai con đường này lần lượt là hai cửa ải hiểm trở, tức là ải Hiệp Thạch trên đường Bắc Hào và ải Nhạn Linh trên đường Nam Hào. Hai cửa quan này tuy không hung hiểm bằng ải Hàm Cốc, song đều chiếm cứ địa thế hiểm trở, dễ phòng khó đánh. Cửa ải Hiệp Thạch là do người Tần lập nên, còn ải Nhạn Linh là do người Hàn xây dựng. Tư Mã Thác đã đột kích chiếm được ải Hiệp Thạch, đường rút lui hiện tại, chỉ còn lại ải Nhạn Linh.

Bàng Quyên trấn tĩnh lại, quay sang Công Trọng: “Công Trọng tướng quân, có kế hay nào chăng?”

“Hồi bẩm chủ soái!” Công Trọng chỉ vào sa bàn. “Theo thiển ý của tại hạ, có thể chia thành hai đường rút lui. Một đường ra khỏi ải Nhạn Linh, rút về Nghi Dương; một đường lên phía bắc, vượt Hà Thuỷ, rút tới An Ấp.”

Lên phía bắc vượt Hà Thuỷ, chính là vượt Hà Thuỷ từ hai bến đò là bến Thái Dương và bến Mao Tân ở phía bắc Thiểm Ấp. Hai bến này cách nhau hơn chục dặm, vốn là hai bến đò thuận tiện, có thuyền cỡ lớn, song lúc này đất trời băng giá, lòng sông nơi hai đầu bến đều đã đóng băng, giữa dòng nước chảy rất xiết, thuyền bè phải phá băng mới có thể cập bến, lại không dám đỗ lại lâu tại vùng “nước chết” gần bờ, nên cứ vào mùa đông, bến đò đều đóng cửa.

Mà liên quân Triệu, Ngụy gần mười vạn người, trong khi tổng số thuyền bè tại bến đò không quá hai chục chiếc, với số thuyền này mà phá băng vượt sông, e là một tháng cũng khó lòng chở hết. Vượt Hà Thuỷ không phải kế hay, chỉ có thể tiến về phía nam tới Nghi Dương. Mà như vậy, đối với quân Hàn là về nhà, còn đối với liên quân Triệu, Ngụy lại phải đi một quãng đường vòng lớn.

Đi đường vòng là chuyện nhỏ, mất Hào Quan là chuyện lớn, mất thể diện cũng là chuyện lớn. Hơn nữa, nếu đánh mất Hào Quan, Thằng Trì cũng sẽ không thể giữ nổi. Hào Quan, Thằng Trì nếu để người Tần chiếm được, thì con đường về đông của người Tần sẽ không còn trở ngại, có thể tiến thẳng tới vương thành Lạc Dương, uy hiếp thiên tử mà hiệu lệnh chư hầu.

Hiển nhiên, đường Nam Hào không thể đi. Mà Công Trọng vào lúc này lại nói ra lời này, có thể thấy rõ hắn muốn chia đường, mạnh ai nấy đi.

Bàng Quyên trong lòng không vui, song không thể bộc lộ, khoé miệng vẫn mỉm cười, quay sang Lý Nghĩa Phu: “Công Trọng tướng quân muốn tới Nghi Dương, Lý tướng quân có ý kiến gì chăng?”

“Mạt tướng xin nghe lời chủ soái!” Lý Nghĩa Phu dõng dạc đáp lời.

“Tốt!” Bàng Quyên siết chặt nắm đấm, quay sang Công Trọng. “Công Trọng tướng quân, tướng quân hãy dẫn quân chủ lực Hàn lui về phía ải Nhạn Linh, để lại một cánh quân hỗ trợ tại hạ bảo vệ ải Hàm Cốc, yếm hộ đại quân rút lui.

Công Trọng nhận lệnh, sải bước đi ngay.

“Lý tướng quân!” Bàng Quyên quay sang Lý Nghĩa Phu. “Người Tần chiếm đoạt Hào Quan, cắt đứt đường lui của ta, ta chỉ còn cách đánh. Tại hạ sẽ giữ chân người Tần ở ải Hàm Cốc, còn tướng quân quay về cướp lại Hào Quan, được chăng?”

“Mạt tướng tuân lệnh!”

Lý Nghĩa Phu dẫn quân quay về tấn công Hào Quan, chân vừa bước đi, ải Hàm Cốc đã lập tức thất thủ. Thanh Ngưu và các tướng giữ ải Hàm Cốc toàn thân bết máu, lê gối vào trong đại trại thỉnh tội. Bàng Quyên an ủi Thanh Ngưu, đích thân dẫn đại quân bày thế trận bên ngoài thành Khúc Ốc, nghênh chiến với quân Tần.

Lý Nghĩa Phu dẫn ba vạn quân Triệu quay lại đánh ải Hào Quan. Khi tới ải Hiệp Thạch, vốn định huyết chiến một trận, không ngờ lại thấy cửa ải mở rộng, trên dưới cửa quan không một bóng người Tần. Lý Nghĩa Phu đích thân lên cửa ải xem xét, phóng mắt nhìn đi, chỉ thấy núi non xa gần trùng điệp, tuyệt không một bóng người, song trên cửa ải vẫn còn vô số vết máu, rõ ràng nơi đây vừa trải qua một cuộc kịch chiến.

Người Tần chiếm được cửa ải mà không giữ, rõ ràng đã rút lui hết. Chư tướng quân Triệu đều thở phào nhẹ nhõm, nhìn sang chủ tướng. Lý Nghĩa Phu trầm ngâm hồi lâu, đoạn kiên định bước xuống cửa ải, phẩy tay một cái, ra hiệu cho ba quân xông thẳng vào ải Hào Quan.

Giống như ải Hiệp Thạch, trăm dặm Hào Quan cũng không một bóng người Tần. Ba vạn quân Triệu ung dung thẳng tiến, chưa đầy nửa ngày đã ra khỏi Hào Quan, thẳng tới thành Thằng Trì.

Cửa thành Thằng Trì mở toang, cũng không có lính Tần, chỉ thấy dưới cổng thành vệt máu loang lổ, trong thành hỗn loạn, đâu đâu cũng thấy dấu vết lửa thiêu. Dân chúng, binh lính trong thành hoặc cứu hoả, hoặc cứu chữa người bị thương, hoặc nhặt xác mang chôn, ai nấy đều bận rộn túi bụi.

Lý Nghĩa Phu không đếm xỉa đến mọi thứ, lập tức chạy thẳng tới kho lương thảo của quân Triệu, thấy kho lương vẫn còn nguyên vẹn, quân sĩ bảo vệ không mảy may thương tổn, dường như người Tần đã hoàn toàn quên mất ở đây còn có một kho lương.

Chư tướng đều hết sức hồ nghi.

Lý Nghĩa Phu trầm ngâm hồi lâu, rồi quyết định không đi cùng với Bàng Quyên nữa, chỉ viết một bức thư thông báo vắn tắt quân tình, nói người Tần tập kích đã rút lui cả, trăm dặm Hào Quan không thấy một bóng lính Tần, đoạn sai ngựa hoả tốc gửi cho Bàng Quyên. Sau đó, truyền lệnh lưu lại lương thảo trong kho cho người Ngụy, chỉ cho quân sĩ mang theo số lương khô đủ dùng cho bảy ngày, tiến sang phía đông, vượt Hà Thuỷ tại Mạnh Tân, quay trở về Thượng Đảng.

Hay tin người Tần tập kích đã rút lui toàn bộ, Bàng Quyên thoạt tiên sửng sốt, sau đó mới bừng tỉnh, nhủ thầm trong bụng: “Phải, hẳn là Công Tôn Diễn kia thấy ta thế mạnh, đã bày gian kế, sai Tư Mã Thác dẫn một tốp binh mã quấy rối hậu phương của ta, thiêu trụi vài đụn lương thảo của ta, công phá Hào Quan, nhằm làm ta nhụt chí. Chỉ có điều hiện tại kế của ta đã thất bại, ba quân Tề, Yên, Sở chưa chiến đã lui, Triệu, Hàn giờ đã lui quân, cứ giằng co tại đây cũng là không sáng suốt. Chi bằng tạm thời thu binh, đợi sang năm thời cơ chín muồi, tìm người Tần phục thù cũng chưa muộn.”

Nghĩ tới đây, Bàng Quyên một mặt sai hữu quân giữ vững thế trận, chống trả người Tần, mặt khác lệnh cho tả quân nhổ trại, rút về phía Hào Quan, bản thân cũng thống lĩnh trung quân, yên chí lui về ải Hào Quan.

Tiên phong của tả quân vừa tới ải Hiệp Thạch, đang lúc hành quân băng băng, thì cửa quan thình lình đóng sầm lại. Ngay sau đó, trên lầu cửa quan trống thúc vang trời, vạn nỏ cùng bắn, đá, gỗ ầm ầm quăng xuống. Quân Ngụy không kịp đề phòng, thế trận đại loạn, thương vong không đếm xuể, phải lùi liền vài dặm mới ổn định lại thế trận. Bàng Quyên hay tin thất kinh, vội nhìn quanh, thấy trên lầu cửa quan vô số cờ Tần tung bay phần phật, đập vào mắt là các chữ “Tần”, “Tư Mã”.

Nhìn cửa quan đóng chặt và cờ Tần trên lầu cửa quan, Bàng Quyên bèn lấy ra thư báo “đường quan không người” của Lý Nghĩa Phu, lại nhớ ra quân Tần đã thiêu rụi kho lương của ba nước Sở, Ngụy, Hàn, chỉ chừa lại kho lương của người Triệu, bất giác rùng mình ớn lạnh, rít qua kẽ răng: “Người Triệu bán đứng ta rồi!”

Uất hận xen lẫn thịnh nộ, Bàng Quyên vung kiếm chỉ vào lầu cửa quan, gầm lên như sấm: “Xông lên…”

Lời vừa dứt, chiến xa của Bàng Quyên như mũi tên vọt khỏi dây cung, bất chấp tất cả xông thẳng tới ải Hiệp Thạch.

Ba quân tướng sĩ cũng đều ra roi thúc ngựa, hô xung phong vang dậy, bám sát ngay sau chủ soái.

Khi còn cách cửa ải một tầm tên bắn, chiến xa của Bàng Quyên đột nhiên khựng lại.

Ba quân dừng bước, vô số cặp mắt khát máu đổ dồn vào Bàng Quyên.

Bàng Quyên nhìn trân trối vào cánh cổng hồi lâu. Đúng lúc chúng tướng đang ngong ngóng chờ lệnh, sẵn sàng cướp ải chém giết, Bàng Quyên lại hét lớn: “Lui!”

Rồi dẫn quân quay về Khúc Ốc.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử